Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Rin86

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    968
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by Rin86

  1. không ngờ link cháu dẫn lên từ điển wikipedia cũng bị dỡ xuống, có lẽ tại link đó dẫn vào blog cá nhân nên họ không chấp nhận.
  2. Cháu đã gửi bài viết của bác vào mục trả lời của BBC. Chúng ta cần phải hành động vì bài viết của ông Trương Thái Du vẫn được dùng làm liên kết ngoài cho từ điển Wikipedia cho đến tận hôm nay. Bốn năm trôi qua đã có rất nhiều lượt người đọc bài viết này. Chỉ cần gõ cụm từ Hai Bà Trung là sẽ dẫn đến trang Wikepedia tiếng Việt và cuối trang đó là đường dẫn đến bài viết của ông Trương Thái Du. Cháu đã dẫn link tới blog của bác trên wikipedia để mọi người khi tham khảo từ điển bách khoa này có thể đọc http://vi.wikipedia.org/wiki/Hai_B%C3%A0_Tr%C6%B0ng
  3. cháu xin phép được đăng lại bài của bác Thiên Sứ vào mục trả lời trên BBC
  4. Tiếng trống đồng Mê Linh Trương Thái Du Viết tại Đà Lạt, tháng Tư 2005 Đền thờ Hai Bà Trưng ở Vĩnh Phú Tìm hiểu về cổ sử Việt Nam là một đề tài phức tạp, hấp dẫn nhưng cũng gây nhiều tranh cãi. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà sưu khảo độc lập Trương Thái Du quanh vấn đề tìm lại manh mối về Hai Bà Trưng. Nội dung trong bài viết là quan điểm riêng của tác giả. Rất mong nhận được ý kiến tranh luận, phản hồi từ quý vị độc giả trong tinh thần cởi mở, tương kính và lành mạnh. Lời phi lộ: Bài viết này tiếp tục chuỗi tìm hiểu cổ sử Việt Nam của tác giả và nằm trong hệ thống các hệ quả từ một cách tiếp cận chưa được thảo luận rộng rãi. Về cơ bản cách tiếp cận này như sau: 1. Giao Chỉ nguyên nghĩa là một khái niệm nói về vùng đất phía nam vương quốc của Đường Nghiêu – Ngu Thuấn. Giao Chỉ đầu thời Chu chính là Đan Dương (nay thuộc Hồ Bắc, Trung Quốc). Sau hàng ngàn năm nam tiến của các đoàn quân đế quốc, khái niệm Giao Chỉ cũng dịch chuyển dần về phương nam. Chỉ đến thời Đông Hán, Giao Chỉ mới biến thành địa danh cố định và xác thực trên địa đồ. 2. Nhà nước Văn Lang sơ khai của người Lạc Việt được hình thành tại Động Đình Hồ (Hồ Nam, Trung Quốc) khoảng năm Nhâm Tuất 1199 TCN. Các vua Hùng cuối cùng trong số 18 vua Hùng đã chạy giặc Sở xuống đồng bằng Tây Giang, Quảng Tây, Trung Quốc và dựng lại phiên bản nhà nước sơ khai như Văn Lang Động Đình Hồ là Văn Lang Tây Giang. “Thục Vương tử” tên Phán của nước Thục (Quí Châu – Tây bắc Quảng Tây) đã thôn tính Văn Lang Tây Giang và dựng lên nước Tây Âu Lạc. Không ít cư dân Văn Lang Động Đình Hồ tiếp tục di chuyển xuống đồng bằng sông Hồng trước và sau thời điểm 179 TCN (năm Triệu Đà thôn tính Tây Âu Lạc). Ở mảnh đất Việt Nam cổ, đoàn lưu dân này vẫn tổ chức xã hội theo mô hình Văn Lang Động Đình Hồ, song các nhóm thị tộc mẫu hệ không còn liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành nhà nước sơ khai. Vua Hùng của họ chỉ còn là thủ lãnh tự trị từng khu vực nhỏ, tức là như tù trưởng, tộc trưởng mà thôi. 3. Địa bàn của người Lạc Việt cổ gồm Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam. Người Lạc Việt gọi tổ quốc mình là Đất Nước, khi ký âm bằng Hán tự nó trở thành Âu Lạc. Lạc Việt chính là Nước Việt hay Việt Thường Quốc. Người Lạc Việt ủng hộ Triệu Đà lập nên nước Nam Việt có kinh đô tại Phiên Ngung cũng gọi nơi ấy là Âu Lạc. Từ đây sinh ra từ Tây Âu Lạc tương đương với Tây Âu, nghĩa là vùng đất phía tây Phiên Ngung. Chữ Tây này tồn tại cho đến hôm nay trong trong tên gọi hiện đại của vùng đất này là Quảng Tây. Do đó không tồn tại quốc gia Âu Lạc tại đồng bằng sông Hồng trước công nguyên. Sau năm 179 TCN người Lạc Việt ở Tây Âu Lạc chạy giặc Triệu Đà xuống Bắc Việt đã dung hòa và pha trộn con người cũng như lịch sử với những người anh em cùng cội rễ Lạc Việt Động Đình Hồ. Chính cội rễ ấy đã che hết những mối nối ký ức, những khoảng trống và “mưu mô” của sử sách Trung Quốc, biến cổ sử Việt Nam thành một hệ thống vừa ít tư liệu vừa phức tạp nhưng cực kỳ mâu thuẫn. Mặc dù còn rất nhiều sai sót, nhầm lẫn và mâu thuẫn trong các bài viết đã phố biến đây đó, tác giả hy vọng cách tiếp cận cốt lõi của mình nên được các nhà sử học chuyên nghiệp tham khảo nghiêm túc. Trong khi vẫn tiếp tục chỉnh lý chiều sâu văn bản cho một tập hợp mới nhằm đi đến xuất bản chính thức, sự mở rộng phạm vi của cách tiếp cận này là cần thiết. Mùa xuân 2005, tròn 1962 năm ngày Hai Bà Trưng bỏ mình vì nước, xin được viết bài này như nén hương lòng thành kính dâng lên Hai Bà. Mong âm linh liệt mẫu giúp đỡ con cháu Việt Nam của mình làm sống dậy tiếng trống đồng bất khuất của nền văn minh Lạc Việt, để người đời có cái nhìn khác đi với hình ảnh sáo mòn vay mượn “phất cờ khởi nghĩa” của cuộc binh biến mang tên Tự Do mà Trưng Trắc là lãnh tụ, là vị Vua Bà bất tử đầu tiên và cũng là cuối cùng của mảnh đất tiền Việt Nam. 1. Thời Hai Bà Trưng, mẫu hệ hay mẫu quyền? Rất nhiều sử gia đã đồng tình rằng theo Thủy Kinh Chú, chồng bà Trưng Trắc tên Thi. Ông chẳng những không hề bị Tô Định sát hại, mà còn sát cánh bên phu nhân của mình trong cuộc nổi dậy năm 40. Khi Mã Viện tấn công, đuối sức, ông bà bỏ chạy vào Kim Khê, ba năm sau mới bị bắt. Chuyện tiếp theo như thế nào thì Thủy Kinh Chú bỏ lửng. Chỉ biết dân gian truyền tụng Hai Bà Trưng tuẫn tiết ở Hát giang. Có giả thuyết Hai Bà sau đó bị Mã Viện bắt và chém đầu rồi đem thủ cấp về Tàu báo công, cho nên trong đền thờ Hai Bà ở Hát Môn có tục kiêng màu đỏ. Hậu Hán Thư chép bà Trưng Trắc bị xử trảm. Ở đây tôi muốn trả lời câu hỏi: Tại sao sử gia phong kiến Việt Nam lại mượn tay Tô Định khai tử ông Thi? Ý kiến phổ thông của đa số học giả trong thế kỷ 20 cho rằng các nhà Nho, khi viết sử phải “giết” ông Thi, vì nếu ông còn sống mà bà Trưng Trắc làm vua thì ngược lẽ… thánh hiền Khổng – Mạnh! Họ cũng thống nhất cư dân Việt cổ hình như theo chế độ mẫu hệ - bằng chứng là thuộc tướng của Hai Bà Trưng phái nữ rất nhiều, nào là Lê Chân (thánh chân công chúa), Ngọc Lâm (thánh thiên công chúa), Vũ Thục Nương (bát nàn công chúa), Thiều Hoa (đông quân tướng quân), Diệu Tiên v.v. Giải thích như thế chưa thuyết phục lắm. Theo tôi sự bịa đặt còn ẩn chứa hàm ý sâu xa khác, nó làm người ta không chú tâm đến địa điểm của cuộc nổi dậy. Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tập hợp lực lượng và tuyên chiến với Tô Định tại Mê Linh, với sự ủng hộ mạnh mẽ của mẹ mình là bà Man Thiện. Thành công, Trưng Trắc xưng vương và đóng đô cũng tại Mê Linh, nơi chôn nhau cắt rốn của bà. Giả sử Hai Bà Trưng không có em trai. Khi chồng chết, Trưng Trắc (lúc này đang ở bên chồng) về lại quê cùng giữ quyền thế tập với em gái, rồi “Hận người tham bạo, thù chồng chẳng quên… phất cờ khởi nghĩa”. Chuỗi luận thật tròn trịa, dễ ru ngủ người đời. Thật sự nó đã ru biết bao thế hệ người Việt ngủ ngon hằng ngàn năm. Quả tình ông Thi chẳng bị ai ám hại. Ông là con Lạc tướng Châu Diên, rất “môn đăng hộ đối” với Trưng Trắc, chứ không phải một anh lực điền tứ cố vô thân được gia chủ nuôi và gửi gắm con gái rượu (theo quan điểm phụ hệ sau này). Không có ông bên cạnh Trưng Trắc đánh đuổi Tô Định, sẽ không ai thắc mắc khi lấy vợ ông đi ở rể hay rước dâu về. Nếu lúc ấy người Việt cổ đã theo chế độ phụ hệ, Trưng Trắc phải về nhà chồng. Và nếu hưng binh tất bà sẽ chọn Chu Diên chứ không phải Mê Linh. Do đó ta thấy vai trò của kẻ làm dâu trong một gia tộc danh giá thời ấy hơi khác thường. Vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất Trương Thái Du Đến đây nên mạnh dạn kết luận khi phối ngẫu với Trưng Trắc, ông Thi phải theo vợ sang Mê Linh. Vai trò của ông Thi trong cuộc binh biến và cả sau khi binh biến thành công khá mờ nhạt. Thay vào đó là hình ảnh Trưng Nhị, em gái Trưng Trắc. Đó là điều hiển nhiên, xã hội mẫu hệ cho Trưng Trắc quyền thế tập và Trưng Nhị là hàng thừa kế thứ nhất, thậm chí Trưng Nhị còn có thể thừa kế cả anh rể mình nữa, điều này hoàn toàn không có gì xa lạ với nhiều bộ tộc còn chậm tiến trên thế giới ở thế kỷ 20 vừa qua. Giả thuyết này có thể lấy chuyện hôn nhân của Mỵ Châu và Trọng Thủy trước đó hơn 200 năm làm một điểm tựa. Hình ảnh truyền thuyết An Dương Vương cưỡi ngựa mang Mỵ Châu bỏ chạy khỏi Cổ Loa, cũng mơ hồ cho thấy Mỵ Châu cần được bảo vệ như một “thái tử” trong cơn nguy cấp. Có thể tham khảo thêm bộ sử “Tam Quốc Chí” của Trần Thọ (năm 233 – 297): “Ở hai huyện Mê Linh của quận Giao Chỉ và Đô Lung của quận Cửu Chân, anh chết thì em trai lấy chị dâu”. Tôi dám khẳng định chắc nịch rằng thời Hai Bà Trưng, cư dân vùng đồng bằng sông Hồng vẫn còn theo chế độ mẫu hệ nếu không muốn nói là mẫu quyền. Khái niệm mẫu hệ và mẫu quyền có khác nhau nhưng phụ hệ và phụ quyền lại gần như là một. Chế độ mẫu hệ qui định những đứa con trong một gia đình mang họ mẹ, chỉ các con gái mới được giữ quyền thừa kế. Mẫu quyền thì đi xa hơn, quyền hành gia đình và xã hội nằm tất ở nữ giới, lãnh tụ phải là nữ giới. Do đó việc tồn tại các nam thủ lĩnh trong những bộ tộc Việt cổ không hề mâu thuẫn với nội dung mẫu hệ. Nội dung mẫu hệ này xuyên suốt trong hầu hết các văn bản huyền sử Việt Nam, mặc dù nó đã bị chế độ phụ hệ nối tiếp bóp méo, biên tập khá bài bản và công phu. Rõ nhất phải kể đến truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ với cặp khái niệm “Mẹ - Đất (núi)” và “Cha – Nước”. Trong trật tự lời văn của Lĩnh Nam Chích Quái: “Long Quân nói: Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được". Rõ ràng mẹ Âu Cơ là Dương chứ không phải Âm. Minh chứng thêm ở đây: tết Đoan Dương (ngày nóng nhất trong năm, dương khí cực thịnh) hay còn gọi là Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch cũng là ngày giỗ Âu Cơ. Chế độ phụ hệ dù có bóp méo truyền thuyết theo chiều hướng nào đi nữa vẫn không thể thay ngày giỗ mẹ bằng giỗ cha. Trong câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, cặp “Mẹ - Đất (núi)” và “Cha – Nước” trong truyện Âu Cơ, Lạc Long Quân đã bị chế độ phụ hệ hoán đổi trật tự một cách rất khéo thành “Mẹ - Nước” và “Cha – Núi (đất)”. Bản thân yếu tố “Thái sơn” rặt Tàu cũng cho thấy đâu là nguyên nhân của sự thay đổi ấy. Sẽ có người phản bác lập luận của tôi: xét theo cấu tạo của bộ phận sinh dục, nếu cho rằng mẹ là dương rất không ổn. Một cách tình cờ lưỡng nghi (hào dương và hào âm) của Kinh Dịch có thể tương đương với Linga và Yoni của người Chiêm Thành. Tuy nhiên khi so sánh ngực người nam và người nữ thì rõ ràng giống cái lại chứa dương tính. Vấn đề giờ đây thu hẹp về các góc nhìn mà thôi. 2. Một cách lý giải toàn cảnh Năm 111 TCN Lộ Bác Đức diệt Nam Việt, kết thúc gần 100 năm vương triều của họ Triệu. Tượng quận, vùng đất chưa bị xâm lăng, một tên gọi tượng trưng mang tính khái niệm theo cách của nhà Tần (nó tương đương với Giao Chỉ của nhà Chu) bắt đầu được Hán Vũ Đế mở mang. Chín quận mới liệt kê ở Hán Thư là Đạm Nhĩ, Chu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam tiếp tục là khái niệm, thứ khái niệm nói lên tính tự cao, tự đại, lòng tham và chủ nghĩa bành trướng của nhà Hán. Sau hàng trăm năm dừng lại và khai phá các vùng đất phương nam đã chiếm được và đặt quan trấn nhậm (tức 6 quận trong tổng số 9 quận thuộc Giao Chỉ bộ), đầu công nguyên nhà Tây Hán bắt đầu dòm ngó xuống ba quận ảo là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Lần đầu tiên ta thấy xuất hiện chức danh Thái thú của quận Giao Chỉ là Tích Quang (năm 1 đến năm thứ 5 sau Công Nguyên). Người này chắc chắn chỉ là lãnh đạo một sứ bộ có qui mô nhỏ, mang danh nghĩa “thông giao” đến đất mới thăm dò, thám thính và xem xét khả năng áp đặt kềm kẹp đô hộ. Công việc của Tích Quang còn dang dở thì Trung Nguyên hỗn loạn vì Vương Mãng cướp ngôi. Năm 23 Lưu Tú dẹp được Vương Mãng tiếm quyền nhưng Trường An đổ nát, hoang tàn trong máu lửa, ông dời đô về phía đông đến Lạc Dương lập nên nhà Hậu Hán. Để nối lại cuộc thám sát mảnh đất Việt cổ, năm 25 Nhâm Diên được cử sang Cửu Chân. Những chính sách mị dân mà Tích Quang và Nhâm Diên áp dụng khi ấy không ngờ còn lưu truyền tới tận thế kỷ 20, với vỏ bọc hình thức khá ngây thơ. Đến tận Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim gần đây vẫn còn viết: “Người ấy (Tích Quang) hết lòng lo việc khai hóa, dạy dân lấy điều lễ nghĩa, cho nên dân trong quận có nhiều người kính phục”. Và “Dân sự quận ấy (Cửu Chân) ái mộ Nhâm Diên, làm đền thờ.” Năm 34, có lẽ do chủ quan khi nhận định tình hình sau hai cuộc thám sát, Hán triều cử sứ đoàn do Tô Định cầm đầu xuống đồng bằng sông Hồng để tiến hành thực dân hóa quận Giao Chỉ. Nhiệm vụ của tân thái thú chắc chắn là phải xây dựng bộ máy bóc lột nhằm biến quận Giao Chỉ thành miếng bánh ngon giữa bàn tiệc thực dân, chứ không thể mãi mãi là mảnh đất ảo trang trí trên bản đồ đại Hán. Có thể Tô Định đã tiến hành vài cuộc khủng bố lẻ tẻ nhân danh thiên tử Tàu và áp Hán luật vào đời sống nhân dân sở tại. Không còn những hành động khoan hòa vờ vĩnh kiểu Tích Quang, Nhâm Diên. Tự do của người bản xứ đã bị xâm hại nghiêm trọng. Trưng Trắc, vị thủ lĩnh tự trị của vùng đất kề cận nơi Tô Định đặt bản doanh chịu sức ép thực dân nhiều nhất đã đứng lên hiệu triệu các thủ lĩnh khác cùng đoàn kết đánh đuổi thù chung. Hai Bà Trưng nổi trống đồng khởi nghĩa năm 40, dân Việt đồng tình hưởng ứng khắp nơi. Tô Định chuồn thẳng về Nam Hải (tức Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) mà không hề có một trận chiến ra trò nào để sử sách hoặc dân gian truyền lại. Chi tiết này thêm một lần nữa xác tín bối cảnh được xây dựng ở trên là hợp lý. Qui mô đội quân chiếm đóng của Tô Định rất nhỏ, chẳng thể đánh đấm gì được. Cuộc hành quân về Long Biên của Hai Bà Trưng nhanh chóng thành công. Điều này là tiền đề thuận lợi cho Hai Bà tập hợp được thêm nhiều lực lượng ủng hộ, tiến tới xưng vương rồi đóng đô tại Mê Linh. Mùa xuân năm 42 Mã Viện mang theo quân thiện chiến sang quận Giao Chỉ. Bằng kinh nghiệm lọc lõi của một tên tướng phong kiến, Mã Viện kiên nhẫn đóng quân tại Lãng Bạc và nghe ngóng tình hình. Hai Bà Trưng chủ động tấn công trước và thất bại, phải rút về Mê Linh rồi Cấm Khê (chân núi Ba Vì). Mã Viện tiếp tục truy kích và tháng giêng năm 43 đã bắt được Hai Bà Trưng. Tàn quân Việt chiến đấu được vài tháng nữa mới tan rã. Dân gian Việt Nam có hai ngày giỗ Hai Bà Trưng là 6.2.43 và 8.3.43 (năm Quý Mão, âm lịch), có lẽ ngày đầu là ngày Hai Bà Trưng bị bắt và ngày sau là ngày họ bị hành hình. Ở đây xuất hiện hai khả năng: Một là Mã Viện giữ Hai Bà để dụ hàng nhằm kêu gọi nhóm nghĩa quân chưa buông vũ khí ra trình diện. Hai là Mã Viện thuyết phục Hai Bà kêu gọi nhân dân thuần phục nhà Hán và chấp nhận luật pháp Hán. Dù sao ta cũng biết chắc một điều Hai Bà Trưng đã không chịu thỏa hiệp dù phải bỏ mình. Sự kiện Hai Bà Trưng anh dũng tấn công Mã Viện dẫn đến một liên tưởng hơi ngoài lề: Hậu Hán Thư không ghi nhận tổng quân số của Mã Viện nhưng chỉ riêng cánh tiến đánh Cửu Chân sau đó gồm hơn hai ngàn chiến thuyền và hơn hai vạn lính. Vậy ít nhất Mã Viện phải thống lĩnh lực lượng gấp rưỡi con số này cho trận đánh với Hai Bà Trưng. Cũng theo sách ấy, Mã Viện đã giết hại cả ngàn quân của Hai Bà Trưng và bắt sống hàng vạn tại Lãng Bạc. Như thế có thể đoán quân của Hai Bà Trưng cũng tròm trèm con số vài vạn, ngang ngửa với quân Mã Viện. Với lực lượng bề thế nhường ấy, nếu Cổ Loa của An Dương Vương thực sự được xây dựng tại đồng bằng sông Hồng (chứ không phải ở Quảng Tây như giả thuyết của tác giả bài này), thì tại sao Hai Bà Trưng không củng cố thành cũ để đương đầu với quân viễn chinh. Ngoài thực địa đền Cổ Loa Đông Anh chỉ cách Mê Linh trên dưới 20km đường chim bay, không hề bị sông lớn, suối rộng, núi cao, khe sâu ngăn trở, và Hai Bà Trưng có hơn 2 năm để chuẩn bị một cuộc kháng chiến dài lâu. Như vậy truyền thuyết An Dương Vương và Loa thành từng hiện hữu ở Việt Nam có thêm một nghi chứng phủ nhận. Xin tạm che giấu cảm tính dân tộc và tinh thần quốc gia (những khái niệm không thể có ở thời Hai Bà Trưng), để đứng trên bình diện văn minh mà dè dặt nói: Kết cục cuộc chiến giữa Hai Bà Trưng và Mã Viện có thể tiên liệu trước, chế độ thị tộc mẫu hệ, hay ít ra là tàn dư của nó phải bị khuất phục trước một mô hình xã hội tân tiến hơn, để giải phóng sức sản xuất xã hội, phân công lại lao động, đưa con người và lịch sử tiến lên phía trước. Sự thật là Hai Bà Trưng đã phải đương đầu với Mã Viện, một tên tướng xâm lăng nên nguyên nhân thất bại cốt lõi của Hai Bà rất khó được chấp nhận đối với hầu hết người Việt Nam, không phân biệt trình độ nhận thức. 3. Con cháu Hai Bà Trưng ngoài đảo xa Mùa xuân năm 43 Hai Bà Trưng bị xử trảm. Các tùy tướng của Hai Bà đem tàn quân rút chạy vào Cư Phong, thuộc Cửu Chân (Thanh Hóa). Mã Viện tiếp tục truy kích đến cuối năm 43 thì hoàn thành cuộc xâm lăng. Một bộ phận nữa phải hàng phục. Tuy nhiên có một bộ phận bất khuất không nhỏ đã lên thuyền ra khơi. Thời điểm cuối năm 43 hoàn toàn hợp lý và là chi tiết quan trọng, vì trên biển Đông bắt đầu vào đợt gió mùa Đông Bắc. Đây chính là đôi cánh tự do trời đất ban tặng cư dân Việt cổ, đẩy những con thuyền đưa họ đến eo Malacca. Cũng có khả năng nhiều người trốn chạy theo đường bộ, rồi hòa lẫn vào những bộ lạc sống dọc bờ biển trung bộ Việt Nam ngày nay. Họ đã góp phần xây dựng nên đế chế Chiêm Thành sau này. Hiện nay có hai cộng đồng thị tộc mẫu hệ, nguồn gốc gần gũi, sống hai bên eo biển Malacca, thuộc hai quốc gia: 1. Cộng đồng thứ nhất là người Minangkabau, sống ở đảo Sumatra, Indonesia. Họ có khoảng 4 triệu người, chiếm ¼ dân số của đảo. 2. Cộng đồng thứ hai sống ở bang Negeri Sembilan, thuộc bán đảo Peninsular, Malaysia. Họ cũng là người Minangkabau. Họ vượt eo Malacca đến đây định cư khoảng từ TK 15 đến TK 16, và ngày nay sống rải rác trên một diện tích khoảng 6,645 km2, dân số hơn 722.000 (số liệu 1991). Negeri Sembilan dịch nghĩa là “Nước (số) chín”. Chữ “nước” ở đây đồng nghĩa với chữ “Nagar - nước, xứ sở” của người Chiêm Thành và chữ “Lạc – nác, nước” của người Lạc Việt xưa. Thủ phủ của Sembilan cách Kuala Lumpur khoảng 64 km. Nền văn hóa của hai cộng đồng này mang bản sắc độc đáo và riêng biệt. Họ vẫn theo chế độ thị tộc mẫu hệ. Quyền thừa kế nằm hết ở giới nữ. Tuy nhiên trưởng tộc lại là nam giới. Lãnh thổ chung của họ chia thành những vùng tự trị có tên là Luak (Lạc?). Người đứng đầu vùng tự trị cũng là nam giới, do các trưởng thị tộc bầu lên gọi là Luak Undang. Người nữ giữ quyền thừa kế trong thị tộc gọi là Turun Cicik, các em gái bà này nằm trong hàng thừa kế thứ hai gọi là Turun Nyi (tiếng Bahasa Indonesia lần lượt đọc là t'run ch'chik và t'run nhi). Ngữ âm này, sau biết bao biến đổi qua thời gian, đọc lên vẫn thấy mơ hồ hai cái tên Trưng Trắc, Trưng Nhị [1]. Về đời sống, nam giới có trách nhiệm chính với mẹ và chị em gái của họ trong thị tộc. Nhiều nơi, nam giới chỉ ở với vợ ban đêm, ban ngày trở về với chị em gái mình và những đứa cháu. Nữ giới lập gia đình thường ở lại nhà cha mẹ họ. Những người chị đã lập gia đình luôn có mối liên hệ gần gũi với các em gái chưa lập gia đình, thậm chí họ còn ở chung với nhau. Ở Indonesia hôm nay, người Minangkabau là những nhà kinh doanh giỏi. Điều này được tạo nên một phần bởi sắc thái văn hóa Minangkabau. Nam nhi Minangkabau phải rời gia đình đi tìm tương lai. Họ buộc phải thành công. Khắp Indonesia ta gặp rất nhiều các ông chủ lớn nhỏ người Minangkalau. Họ theo đạo Hồi đã vài thế kỷ. Tuy nhiên truyền thống văn hóa và tín ngưỡng đã hòa hợp một cách đáng ngạc nhiên. Chế độ thị tộc mẫu hệ hiện tồn tại trong những cộng đồng người Minangkabau luôn lôi cuốn các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử và nhân loại học. Ngành du lịch Indonesia và Malaysia cũng khai thác triệt để tính đặc thù này để thu hút du khách. Trong rất nhiều đoạn phim quảng bá du lịch người Minangkabau đã không dưới một lần tuyên bố tổ tiên họ là người Việt và đã di cư đến Nam Dương bằng thuyền. Kiến trúc truyền thống Minangkabau cũng khiến không ít người suy tư: “Ở Indonesia, người Minangkabau có những ngôi nhà mái cong rất đẹp, nhịp điệu bay bổng, phong phú, một mặt giống ngôi nhà sàn hình thuyền, một mặt lại giống mái cong của đình chùa Việt Nam [2]”. Xin hãy tham khảo một giai thoại Minangkabau [3]: Ngày xưa có một mối bất hòa giữa người Minangkabau và người Java, thay vì giải quyết bất hòa đó bằng một cuộc chiến với máu đổ không cần thiết, họ thỏa thuận chọi trâu để phân định. Người Java có một con trâu khổng lồ, mạnh mẽ và hung dữ. Người Minangkabau chỉ có một con nghé con. Người Java rất tin tưởng con trâu của mình sẽ đè bẹp chú nghé kia. Vậy mà yếu đã thắng mạnh. Người Minangkabau bỏ đói con nghé nhiều ngày. Trước trận đấu họ buộc một con dao sắc vào đầu nghé. Vào trận nghé đói tưởng trâu là mẹ mình. Lập tức nó rúc vào bụng trâu để tìm vú. Con trâu kềnh càng đã bị chết vì dao đâm thủng bụng. Và người Minangkabau đã chiến thắng. Cũng theo giai thoại này Minang nghĩa là chiến thắng, kabau là trâu. Bất kỳ người Việt nào cũng tìm thấy ở câu chuyện trên một thứ gì đó thật gần gũi với bản sắc văn hóa đồng bằng sông Hồng. Chuyện dân gian Trạng Quỳnh dùng nghé đấu Trâu của sứ Tàu với truyện trên, có lẽ là hai biến thể của một tư duy chung, một triết lẽ giản dị nhưng nhiều giá trị: Đề cao trí tuệ và lòng yêu chuộng hòa bình, hòa hợp, lấy trí thắng lực, hóa giải mâu thuẫn bằng trái tim nhân hậu. Và tôi chợt hiểu, linh vật trâu vàng cho lễ hội thể thao khu vực Đông Nam Á đầu tiên do Việt Nam tổ chức, tức Seagame 2003, đã được chọn bằng tâm thức văn hóa, lịch sử. Phải chăng người Minangkabau ở Indonesia và Malaysia hôm nay cũng là con cháu của Hai Bà Trưng? Phải chăng cái tên mà hai ngàn năm nay người Việt tôn gọi Trưng Trắc, Trưng Nhị không phải là tên riêng mà là chức danh của hai hoặc một nhóm người phụ nữ Việt Nam bất khuất? Câu trả lời đang ở một tương lai rất gần. 4. Vua Bà và trống đồng Xưa từ Hùng ý chỉ thủ lĩnh một vùng. Tùy Thư (thế kỷ VII), thiên Địa Lý Chí Hạ còn ghi “Người man (tức người Lạc Việt) ai giàu mạnh là người hùng”. Con vua Hùng là Quan Lang cai quản địa phận trực thuộc, qui mô chắc cũng như làng xã ngày nay. Chữ “Làng” có thể xuất phát từ chữ “Lang” trong “Quan Lang”, người Mường gần đây vẫn còn Quan Lang. Vậy có thể hiểu “Hùng” là người đứng đầu thị tộc mẫu hệ. Liên minh thị tộc mẫu hệ sẽ hình thành dạng nhà nước sơ khai như Văn Lang, và Vua Hùng hẳn là lãnh tụ của nhà nước sơ khai ấy. Khi lưu vong đến Quảng Tây, các bộ tộc Lạc Việt cổ từ Động Đình Hồ vẫn còn gắn kết ở dạng nhà nước sơ khai kia, nó thể hiện trong truyền thuyết xung đột giữa “Thục vương tử” và Vua Hùng. Tuy vậy trước và sau thời điểm 179 TCN (năm Triệu Đà thôn tính Tây Âu Lạc của An Dương Vương) và 111 TCN (năm Lộ Bác Đức bình định Nam Việt), những nhóm người đi tiếp xuống đồng bằng sông Hồng có lẽ đã không thể bảo tồn hình thái xã hội Văn Lang cũ. Điều này khá dễ hiểu: Địa bàn mới hoang vu (dù chắc chắn tồn tại ít nhiều nhóm chủng tộc gốc Nam Á du canh du cư với kinh tế hái lượm, săn bắn), thổ nhưỡng ẩm thấp, mùa mưa ngập lụt chia cắt, dân số ít, giao thương trở ngại… Đến đầu công nguyên, ít nhất là tình hình dân số của các bộ tộc Lạc Việt ở đồng bằng sông Hồng đã được cải thiện. Để chống lại âm mưu nô thuộc của nhà Đông Hán, Hai Bà Trưng đã liên minh các thủ lĩnh vùng lại với nhau đánh đuổi Hán quan, xưng vương. Ở xã hội Lạc Việt cổ, trống đồng là biểu hiện quyền uy của tù trưởng, tộc trưởng. Cũng Tùy Thư nói: “Khi chiến tranh thì trống đồng được đánh, người người khắp nơi nghe lời hiệu triệu tụ họp về. Dân Lạc Việt rất phục tùng người sở hữu trống” – đây phải chăng là câu trả lời dứt khoát cho hành xử của Mã Viện với quốc bảo trống đồng. Thật vậy, Mã Viện nam chinh đã phá vỡ liên minh Văn Lang vừa được Trưng Trắc tái lập nhưng buộc phải cho phép dân Việt tự trị ở đơn vị Làng. Thế là sau khi giết hại vợ chồng bà Trưng, Mã Viện vội vàng cho quân lính đi thu gom trống đồng nhằm bẽ gãy các cuộc phản kháng tiếp theo (nếu có) từ trong trứng nước. Bản chất gốc của vấn đề xem ra rất kín kẽ, còn hiện tượng Mã Viện nấu đồng đúc ngựa cảnh để chơi và dựng trụ làm cột thiên văn quan sát bầu trời, xác định vị trí khu vực vừa chiếm được trên bản đồ đế quốc Hán, chỉ là đám lá ngọn lòa xòa che mắt sự thật lịch sử. Tôi đã gặp rất nhiều người Việt Nam không tin tổ tiên họ là chủ sở hữu của trống đồng, hoặc cho rằng đề cao trống đồng như quốc bảo của dân tộc là thiếu chứng lý. Họ bảo không như người Tráng tại khu tự trị Quảng Tây Trung Quốc (tức hậu duệ những thần dân của An Dương Vương không di cư chạy giặc Triệu Đà xuống đồng bằng sông Hồng năm 179 TCN) vẫn còn sử dụng trống cho lễ hội, trống đồng ở Việt Nam chỉ đào được nơi các vỉa đất của quá khứ. Hy vọng nguyên nhân mang tên Mã Viện tôi vừa nêu, sẽ góp phần chứng minh người Việt xưa đã phải đành đoạn chôn trống gửi đến tương lai, mong con cháu mình mãi mãi trân trọng và giữ gìn nó Cùng với việc hủy hoại trống đồng và làm tan rã hình thức nhà nước sơ khai trên mảnh đất Việt Nam cổ, Mã Viện đại diện cho nhà Đông Hán cũng chính thức khai sinh đơn vị hành chính tự trị là Làng, Xã. Do được tự trị, tinh thần độc lập và tự chủ của người Việt Nam đã luôn được nuôi dưỡng dưới các nếp nhà sau lũy tre làng. Từ “Làng Nước” sinh ra từ đây. Làng trở thành một đất nước độc lập tự chủ thu nhỏ của những người dân Việt bất khuất. Hơn 800 năm sau, tinh thần ấy lớn mạnh rồi bùng phát để đưa cả dân tộc thoát kiếp nô lệ. Khi người Việt có quốc gia rồi, thì làng xã lại trở về thế đối lập một cách tương đối với các chính sách chính trị tổng thể của chính quyền trung ương. Để dung hòa lợi ích nhà nước và làng xã, mỗi làng đã được chính quyền chọn ra một vị thần được ưa chuộng nhất để sắc phong làm Thành Hoàng. Như vậy mâu thuẫn đã được giải quyết ở một mức độ chấp nhận được: ông vua của làng là thánh linh (hoặc một con người có thật đã được thánh hóa), được ông vua của cả nước hợp thức hóa bằng một văn kiện. 5. Kết luận Người Lạc Việt cổ bắt đầu gần một thiên niên kỷ lưu vong từ chiếc nôi Động Đình Hồ, từ châu Kinh, châu Dương bên bờ Trường Giang khi văn minh Hoa Hạ nam tiến và nước Sở được hình thành. Đến Trưng Trắc thì sức người có hạn, văn minh vật chất sơ sài trong khi sơn đã tận mà thủy thì mênh mông, đa số họ bắt buộc phải dừng lại, nhẫn nhục chấp nhận thêm tám trăm năm nô lệ nghiệt ngã. Máu lưu vong trước nghịch cảnh chính trị của tiên tổ người Việt Nam đã hơn một lần bùng phát, già ngàn năm trở lại đây nơi hậu duệ của họ: Khi nhà Trần tiếm đoạt vương quyền, một nhánh họ Lý đã chạy qua Cao Ly. Lê – Mạc đấu đá rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh, bao người phải bỏ xứ xuống khai phá đồng bằng sông Cửu Long trù phú. 1954 và 1975, hàng triệu sinh linh lại lên đường vào nam, hoặc ra biển tỏa khắp năm châu. Ai đó đã có lần so sánh người Việt Nam với dân Do Thái ở góc độ lưu vong, cũng chẳng khập khiễng chút nào. Tự đặt mình vào bối cảnh năm 40 sau Công Nguyên, tôi bỗng thấy hình ảnh sáo mòn Hai Bà Trưng “phất cờ khởi nghĩa” có vẻ không hợp lý. Nên chăng hãy hình dung những hồi trống đồng liên hoàn dưới các nếp nhà sàn hiền hòa, thôn nối thôn, làng tiếp làng, thị tộc này kêu gọi thị tộc khác cùng đoàn kết trong âm vang tự do dưới sự lãnh đạo của Trưng Trắc tiến thẳng về Long Biên, quét sạch bắc quân xâm lược. Hai Bà Trưng ra đi khép lại thuở bán khai trên đất mảnh đất tiền Việt Nam. Thời điểm này chính là hoàng hôn trước đêm dài nô lệ. Người Việt biết chấp nhận nỗi nhục thiếu tự do để học hỏi, tự hoàn thiện mình. Thỉnh thoảng một vài ngọn đuốc lại bừng sáng mang nhiều cái tên anh hùng như Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan hay Phùng Hưng. Đáng kể là hơn nửa thế kỷ độc lập của Lý Nam Đế cùng các phụ triều trong giấc mơ Vạn Xuân đầy hiện thực. Đó là những bước tiến vững chắc, không thể phủ nhận của con người và đất nước thời khởi sử, làm bệ phóng cho kỷ nguyên tự chủ bắt đầu với Khúc Thừa Dụ năm 905. Tám trăm năm tròn bắc thuộc là cái giá quá đắt nhưng không hề vô nghĩa. Dân tộc Việt Nam, văn minh Việt Nam hình thành trong gian khó và thử thách đã lớn mạnh vượt bậc. Từ đó về sau phong kiến phương bắc không lần nào hoàn toàn khống chế được họ nữa. Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đại diện thực dân châu Âu là Pháp Lang Sa, với ưu thế hơn hẳn họ về sức mạnh vũ khí được sản xuất dưới một nền khoa học kỹ thuật tân kỳ, tổ chức xã hội tư bản tiến bộ, cũng chỉ áp đặt sự đô hộ không đồng bộ của chúng trên mảnh đất này tròm trèm 80 năm mà thôi. Nếu không kể đến An Nam Chí Lược (1335) của một kẻ bán nước, từ quyển hiến sử đầu tiên còn lưu lại đến ngày này là Đại Việt Sử lược (1377 – 1388), sử gia Việt Nam vừa xem sách Tàu, vừa chấm bút lông vào nước lã để viết về ông Thi. Thậm chí họ còn sơ ý nhầm tên chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách! Năm tháng qua đi, sách sử nối nhau ra đời, Bà Trưng Trắc vẫn phải làm một quả phụ bất đắc dĩ, gồng gánh thêm bao nhiêu khái niệm không cùng thời với bà. Lối tư duy suy diễn chủ quan, nô lệ sách Tàu và kinh viện, kết hợp với truyền thống tạo dựng chính sử thiên kiến và không tôn trọng sự thật một cách có hệ thống, vô hình chung đã tô son trát phấn lên bà mẹ chân đất được Thủy Kinh Chú mô tả là “vi nhân hữu đảm dũng”. Kết quả là người mẹ vĩ đại của họ chẳng đẹp hơn tí nào. Nó chỉ khiến người đời chạnh buồn cho những đứa con vụng về, xốc nổi và đồng bóng của bà. Mảnh đất hình chữ S có tên Việt Nam ngày nay hiện hữu khoảng 200 đền thờ Hai Bà Trưng. Đó là tuyên bố rõ ràng nhất về vai trò lớn lao của Hai Bà trên non sông này. Mọi lý thuyết học thuật cổ kim đều không thể phủ nhận bản chất anh hùng và tinh thần bất khuất của Hai Bà Trưng, vị Vua Bà đầu tiên và cuối cùng của mảnh đất Việt Nam, người mẹ đáng kính của lịch sử Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Chú thích [1] Các ngữ âm dẫn theo gợi ý của Phạm Chánh Trung – Trang web viethoc.org [2] Văn ngọc: Từ những ngôi nhà hình thuyền, www.zdfree.free.fr/diendan/articles/u125vngoc.html [3] Dẫn theo Dien A. Rice: “Minangkabau Life and Culture”, www.haqq.com.au Nguồn BBC
  5. (Dân trí) - Đôi bàn tay bé xíu, vừa xúc cơm vừa đỡ đầu mẹ, bé Trường nhẹ nhàng đút từng thìa cho mẹ rất thuần thục. Một năm nay, mọi việc chăm sóc người mẹ bị bệnh nan y đang lay lắt những ngày cuối đời đều do cậu bé chưa tròn 5 tuổi này lo hết.Chối bỏ con thơ vì vợ mang căn bệnh tử thần Dưới cái nắng chói chang của miền đất Tây Ninh, chúng tôi tìm đến nơi ở của mẹ con cô giáo Võ Thị Mến ở ấp Ninh Lộc, xã Ninh Sơn, Thị xã Tây Ninh. Trong nhà căn nhà mục nát và chắp vá, đập vào mắt chúng tôi một hình ảnh nát lòng - một đứa trẻ chưa tròn 5 tuổi đang đút từng thìa cơm cho người mẹ nằm thoi thóp trên chiếc võng cũ. Thấy khách đến, đứa bé mặc bộ đồ lấm lem vội khoanh tay lễ phép cúi chào rồi quay lại tiếp tục đút cơm cho mẹ. Bé Trường đút cơm cho mẹ một cách thuần thục khi em chỉ mới gần 5 tuổi Không khí tĩnh lặng buổi trưa bị phá tan bởi tiếng khóc nghẹn ngào của cô Mến khi vô tình chúng tôi hỏi đến cha bé Trường. Do hoàn cảnh nghèo khó nên mãi đến năm 40 tuổi cô giáo Mến mới tìm cho mình được hạnh phúc với một người đàn ông góa vợ. Một năm sau (năm 2004), bé Mai Xuân Trường chào đời. Thằng bé kháu khỉnh và giống cha như đúc. Lúc ấy cô cứ tưởng số phận đã mỉm cười với mình. Nhưng thật éo le, niềm hạnh phúc đó không kéo dài được lâu. Khi bé Trường được hơn 2 tuổi cũng là lúc cô Mến phát hiện mình mang căn bệnh hiểm nghèo. Năm 2006, cô Mến thấy ngực mình đau buốt, chạy chữa khắp nơi nhưng cũng không tìm ra bệnh. Đến khi xuống bệnh viện ở TPHCM mới rụng rời, cô bị ung thư ngực đã di căn. Cũng lúc ấy, cô chịu thêm một niềm đau còn lớn hơn, người chồng lẳng lặng bỏ đi không một lời từ biệt. Khi chăm mẹ xong, chú bé háo hức moi trong tủ ra khoe với chúng tôi những tấm hình được chụp hồi đầu năm. Mân mê những tấm hình, bé Trường chỉ vào bộ quần áo mới nguyên trong tủ, khoe: "Mẹ nhờ dì mua mất tận 30.000 đồng đấy. Nhưng cũng từ đó đến nay con chưa mặc, còn để dành". Mẹ ốm. Cha bỏ đi. Bé Trường thua thiệt đủ đường. Một năm nay, khi căn bệnh của mẹ trở nên trầm trọng, không thể đi lại, thì tất cả công việc trong nhà đều đến tay bé. Ngày qua ngày, Trường dần quen với công việc nhà và trở thành trụ cột của gia đình khi chưa tròn 5 tuổi. Chúng tôi hỏi Trường thường làm gì giúp mẹ, bé nhanh nhảu trả lời: “Con biết vo gạo, nấu cơm, nhiều thứ lắm”. Người nhỏ xíu, mỗi lần bắc cơm chú bé phải trèo lên chiếc ghế rồi mới với tay tới chỗ cắm điện. “Thấy con nhỏ tiếp xúc với điện nguy hiểm nhưng cũng đành nhìn con làm vì người không thể ngồi dậy được”, cô Mến thở dài. Cậu bé 5 tuổi này mấy năm nay đều tự chăm lo cho bản thân mình: tự tắm rửa, tự ăn, tự chơi, tự học. Nhìn chúng bạn được ba mẹ đón đưa, được chơi đủ trò trong trưa nắng, thèm lắm nhưng cu cậu không dám đi chơi xa, chỉ quẩn quanh bên mẹ, “ở nhà còn xoa dầu, bóp tay cho mẹ đỡ đau”. Vừa cho mẹ ăn, bé Trường vừa bóp tay cho mẹ “Thầy thuốc nhỏ” này còn thuộc nằm lòng những bài thuốc dân gian sắc cho mẹ. Chưa ý thức được mức độ hiểm nghèo của căn bệnh mà mẹ đang mang, Trường chỉ nghĩ “có thuốc cho mẹ uống là khỏi bệnh” nên hằng ngày, khi dì rảnh, Trường lại nhờ dì dắt đi tìm lá thuốc. “Tội cháu nhất là những khi Tết hoặc Trung thu, nhìn những đứa trẻ khác được bố mẹ chở đi chơi, mua quà. Con mình chỉ biết nhìn theo các bạn...”, cô Mến nghẹn lời. Những lúc như vậy, Trường chỉ ôm mẹ mà nói: “Con không cần quà đâu. Mẹ dành tiền trị hết bệnh, mẹ đừng chết nghe mẹ!”. Dấu chấm hết cho một cô giáo có tâm với nghề Cô Võ Thị Mến, năm nay 45 tuổi, nguyên là giáo viên dạy địa trường THCS Nguyễn Tri Phương (TX Tây Ninh). Đầu năm 2007, cô Mến bị đau ở vùng ngực và tay trái, khám mới phát hiện mình bị ung thư đang di căn không thể phẫu thuật được. Các bác sĩ điều trị cũng chỉ cho thuốc uống để ngăn chặn sự phát triển của khối u, nhưng vẫn không giảm. Hiện cô và con trai, bé Mai Xuân Trường, 5 tuổi đang tá túc tại nhà người chị thứ hai ở 271/3 ấp Ninh Lộc, Ninh Sơn, TX Tây Ninh (Điện thoại: 01264902397). Mười tám năm đứng trên bục giảng, biết bao thế hệ học trò qua lớp của cô. Suốt 18 năm đi dạy, cô Mến luôn được xếp loại lao động giỏi. Nếu cô dạy thêm 2 năm nữa thì có lẽ nay đã nhận được giấy chứng nhận Nhà giáo ưu tú với 20 năm cống hiến rồi. Ấy vậy mà từ khi nghỉ dạy đến nay đã một năm, cô Mến vẫn chưa nhận được giải quyết chế độ nghỉ hưu sớm. Khẽ nén tiếng rên trong những cơn đau giằng xé trong xương trong thịt, cô Mến nghẹn ngào kể lại: Bệnh phát càng nặng, cơn đau dồn dập, chi phí thuốc men tốn kém vô cùng. Cả tháng lương giáo viên không đủ chi cho một lần xuống thành phố trị bệnh. Khối u di căn gây lở loét nên cô đành phải nghỉ dạy. Cô Mến với những tấm bằng chứng nhận lao động giỏi những năm còn đi dạy Cắn răng chịu đựng khi cơn đau hành hạ, không kiếm đâu ra tiền chữa trị, cô bấm bụng bán nền nhà nhỏ là chỗ trú mưa nắng của hai mẹ con, được tổng cộng 32 triệu. Nhưng số tiền này cũng nhanh chóng đội nón ra đi theo những đơn thuốc. Tiền không, nhà cửa không, hai mẹ con dắt díu nhau về tá túc tại nhà người chị thứ hai vốn cũng không gì khá giả hơn. Trong căn nhà chắp vá, chỗ lành ít hơn chỗ thủng, cô Mến khóc suốt trong buổi trò chuyện cùng chúng tôi. “Nỗi khổ cực, đau đớn của tôi chỉ biết kêu trời cho thấu, nhưng tôi “đi” không đặng, vì bé Trường còn bé quá”… Bữa cơm của mẹ con bé Trường chỉ có canh và nước tương Chúng tôi ra về trong nỗi day dứt “chết không đặng” của cô giáo Mến và bước chân lon ton gọi với theo của cu Trường “Lần sau xuống, cô chú… cho con… một hình siêu nhân nghen!”. Chút vòi vĩnh rụt rè của “người đàn ông trụ cột” 5 tuổi như lưỡi dao cứa vào lòng chúng tôi. Đằng sau sự can đảm của “người đàn ông trụ cột” kia, vẫn là tâm hồn của một đứa trẻ… Mọi đóng góp hảo tâm xin gửi về: 1. Cô Võ Thị Mến - 271/3 ấp Ninh Lộc, Ninh Sơn, TX Tây Ninh (Điện thoại: 01264902397). 2. Quỹ Nhân ái - Báo Khuyến học và Dân trí - Báo điện tử Dân trí (Hà Nội) Số 2/48 Giảng Võ, Đống Đa, Hà Nội (Cạnh cây xăng Kim Mã) Tel: 04. 3. 7366.491/ Fax: 04. 3. 7366.490 Email: quynhanai@dantri.com.vn * Tài khoản VNĐ: Tên TK: Báo Khuyến học & Dân trí Số TK: 10 201 0000 220 639 Tại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm * Tài khoản USD: Tên TK : Báo Khuyến học & Dân trí Số TK : 10 202 0000 004346 SWIFT Code : ICBVVNVX106 Tại : Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương thành phố Hà Nội 3. Văn phòng đại diện của báo: VP Hà Tĩnh: 46 Nguyễn Công Trứ, Phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh. Tel: 039.3.857.122 VP Đà Nẵng: 25 Nguyễn Tri Phương, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Tel: 0511.3653.725 VP HCM: 40/17/16 Nguyễn Văn Đậu, phường 6 quận Bình Thạnh. Tel: 08. 35107. 331 VP Cần Thơ: 53/13 Lý Tự Trọng, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Tel: 071.3.733.269 Lê Phương - Trung Kiên
  6. không phải người Trung Hoa quy ước như vậy mà họ đã nhìn những vòng tròn xuất hiện cách đây nhiều ngàn năm để quy ước như vậy, hơn nữa chắc gì xoáy âm dương đã do người Trung Quốc quy ước mà là do người Bách Việt Cổ nhìn những vòng tròn như vậy rồi quy ước? Có rất nhiều vòng tròn như vậy đã xuất hiện trên đồ gốm cách đây 2000 đến 3000 năm ở biên giới Mông Cổ Trung Quốc. Còn ở vùng Bách Việt thì không thấy nhưng có thể nó là thể hiện qua những hình họa tiết trên trống đồng chăng?
  7. Chữ tượng thanh là quá trình phát triển tiếp theo của chữ tượng hình, vậy trước khi có chữ khoa đẩu, ông cha ta đã có một thời gian dài sử dụng chữ tượng thanh. Chữ tượng thanh đó được sử dụng bắt đầu từ thời kỳ nào (có thể là từ trước thời Hùng Vương) không ai có thể khẳng định. Nhưng có thể kết luận, chữ khoa đẩu là thứ chữ đỉnh cao của quá trình phát triển chữ viết!
  8. cháu có xem một bộ phim khoa học của Nga nói về nền văn minh Atlantic, họ nói rằng những người sống sót kể rằng ở tam giác bec-mu-đa có một kim tự tháp bằng kim loại, họ đã nhìn thấy trong cơn bão tố. Những nhà khoa học Atlantic đã truyền lại cho những pháp sư Ai Cập cách dịch chuyển các vật nặng bằng chân không, không cần dùng đến máy móc, chính vì vậy họ đã xây dựng những kim tự tháp hoàn hảo mà không cần tốn nhiều công sức, ngày nay các nhà khoa học cũng có thể làm được điều tương tự nhưng họ chỉ có thể dịch chuyển những vật to bằng quả trứng thôi. Còn những mỏ dầu đã được hình thành cách nay hàng trăm triệu năm do xác động thực vật lắng đọng.
  9. thật đáng khâm phục cụ bà, Việt Nam tự hào vì có một con người như cụ!
  10. (Dân trí) - Lực lượng lao động miền xuôi đổ về huyện vùng cao A Lưới của tỉnh Thừa Thiên - Huế để thi công những công trình xây dựng ngày càng nhiều càng khiến lắm sơn nữ nơi đây sa vào bẫy tình rồi phải gánh chịu những hậu quả đáng thương.Không chồng mà chửa Ngôi nhà lụp xụp của gia đình ông Hồ Phiên ở thôn A Ron, xã Hồng Hạ nằm nép mình dưới chân đèo Tà Lương với những con dốc lạnh người. Đã mấy tháng nay, kể từ ngày con gái bị lừa tình rồi sinh con ở tuổi 16, ông Phiên ngã bệnh nằm liệt giường. Vợ ông, bà Hồ Thị Cúc cũng vừa qua đời sau một thời gian đổ bệnh. “Đau xót lắm! Vì quá tin vào thằng công nhân khốn nạn mà con gái tui phải gánh chịu hậu quả như ri” - Ông Phiên nằm trên giường vừa ho khùng khục vừa chỉ tay vào người con gái tên Hồ Thị N đang hát ru đứa con gần 5 tháng tuổi. Sau ngày bị lừa tình, Hồ Thị N (16 tuổi) ở thôn A Ron, xã Hồng Hạ phải nuôi con một mình. Hơn một năm trước, N gặp chàng công nhân quê Ninh Bình tên L đang thi công công trình thủy điện A Lưới trên địa bàn xã. Vẻ ngoài chải chuốt cùng với lời nói đường mật của L đã khiến N đem lòng yêu thương. Vào những buổi tối rảnh rỗi, L thường đến nhà đưa N đi chơi. Ngỡ con gái của mình đã gặp được chàng trai thật thà, bố mẹ N hết mực vun đắp cho đôi trẻ dù biết con gái chưa đến tuổi lấy chồng. Nhưng rồi niềm tin của N và gia đình cô bé đã bị xúc phạm khi L lộ nguyên hình là một gã Sở Khanh. Trong một lần cùng nhau đi chơi, L đã giở trò đồi bại với N rồi yêu cầu cô bé không kể cho ai hành vi bỉ ổi của mình. Vì quá yêu và tin L, N đã giấu bặt mọi chuyện. Nhưng đến khi cô bé phát hiện mình có bầu và kể chuyện này với L thì gã công nhân lập tức chuyển công tác đến tỉnh khác. Rồi N sinh con. Đứa con của N chào đời trong nỗi đau bị phụ bạc của mẹ. Cũng như N, sau một lần sập bẫy tình, Hồ Thị D ở thôn Pa Hy đã sinh đứa con không cha trong sự đau xót của gia đình. “Tác giả” đứa con của D là chàng công nhân giao thông tên B quê ở Thanh Hóa. Hai năm trước, khi tuyến đường qua địa bàn xã Hồng Hạ được nâng cấp, sửa chữa, D đã gặp B. Những lời tán tỉnh có cánh của chàng công nhân này đã khiến D gục ngã. Khi D mang bầu, B đã nhất quyết đòi cô gái phá bỏ giọt máu của mình nhưng cô gái không đồng ý. Không còn cách nào khác, B lập tức chuyển công tác vào Đà Nẵng, bỏ lại cô gái tội nghiệp phải nuôi con một mình trong tình cảnh sụp đổ về tinh thần và nhiều lần tìm đến cái chết nhưng không thành. Hồ Thị D ở thôn Pa Hy, xã Hồng Hạ và đứa con - kết quả của một lần bị lừa tình. Chỉ tính riêng xã Hồng Hạ đến nay đã có hơn 20 sơn nữ bị lừa tình và phải nuôi con một mình. “Số người vì tin vào lời dụ dỗ của kẻ xấu nên phải chịu hậu quả như ri ngày càng tăng mạnh” - Chị Hồ Thị Lan, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Hồng Hạ thở dài nói sau khi cung cấp cho chúng tôi một danh sách khá dài về những cô gái trong xã bị lừa tình. Theo con số thống kê chưa đầy đủ từ các xã của huyện A Lưới, mỗi năm ở huyện này có bình quân từ 40 đến 60 sơn nữ bị lừa tình, tập trung nhiều nhất ở các xã Hồng Hạ, Hồng Vân, Hồng Thủy, nơi có nhiều công trình quốc gia đang thi công. Tương ứng với con số đó, có khoảng 40 trẻ đứa trẻ không cha là kết quả của những mối tình dở dang giữa sơn nữ và trai miền xuôi chào đời mỗi năm. Cay đắng phận người Sau 8 năm chào đời, Hồ Văn K ở thôn 2 xã Hồng Thủy vẫn chưa biết đến mặt chữ. Nó là kết quả cú lừa tình của chàng công nhân giao thông người miền xuôi với mẹ nó. Sinh nó được 5 tháng, mẹ nó bỏ nó lại cho bà ngoại để đi lấy chồng tận bên Lào. “Muốn cho nó đến trường nhưng tui già yếu rồi, chỉ sống dựa vào mấy đồng tiền trợ cấp của Nhà nước thì lấy chi mà nuôi nó học. Tui đang định nhờ người gửi nó vào trại mồ côi để nó được biết đến cái chữ và để tui yên tâm khi chết đi” - Bà Hồ thị V, bà ngoại của K nói trong nước mắt. Chị Hồ Thị C ở thôn Pa Hy, xã Hồng Hạ có hai đứa con sau hai lần bị lừa tình. Đứa con đầu của chị năm nay đã 15 tuổi, đứa thứ hai đã 13 tuổi, đều học Trường THCS Hồng Hạ. Chị C đặt tên cho hai đứa con của mình là Rơi và Rớt như để ghi nhớ nỗi đau của hai lần bị lừa gạt. Hai đứa con của chị thường thắc mắc với mẹ về việc giấy khai sinh của chúng bị bỏ trống phần dành ghi tên người cha. Mỗi lần như vậy chúng đều nhận được câu trả lời từ mẹ nó là “chết rồi”. “Hai đứa nó không nên biết về những người cha đã bỏ rơi chúng và lừa dối mẹ mình. Bọn hắn đã lừa mình thì không đáng để con mình gọi bằng cha!” - Chị C gay gắt. Theo chị Hoàng Thị Loan, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện A Lưới, chuyện sơn nữ của huyện này sa vào bẫy tình của những công nhân, kỹ sư người miền xuôi lên công tác là chuyện xảy ra thường xuyên. Hội Phụ nữ huyện đã tiến hành tuyên truyền cho chị em biện pháp phòng tránh kẻ xấu nhưng vì phụ nữ ở đây hiểu biết hạn chế nên số nạn nhân vẫn cứ tăng nhanh hàng năm. “Thương nhất là những đứa trẻ không cha, chúng phải chịu thiệt thòi rất lớn về tinh thần, không gì có thể bù đắp được. Đây là những đứa trẻ thường phải chịu cảnh thất học vì hoàn cảnh gia đình ngặt nghèo do không có bàn tay người cha” - Chị Loan buồn bã. Đại Phong trai Việt Nam đểu vậy sao, thẩm nào ngày càng có nhiều cô gái lấy chồng ngoại
  11. Lại một tết Trung Thu nữa đã đến, Rin86 muốn hỏi mọi người xem có ai biết ý nghĩa và nguồn gốc thật sự của bánh Trung Thu không ạ? Theo như báo chí thì: "Theo truyền thống Trung Hoa, nhân bánh trung thu có 4 lòng đỏ trứng, tượng trưng cho 4 giai đoạn phát triển của mặt trăng." (Nguồn:"http://diemtin.com/Buon-chuyen_10/Banh-tru...y-hoa_10_43482/) Không biết nguồn gốc và ý nghĩa thật sự của bánh trung thu nên Rin86 đặt giả thiết rằng: Bánh Trung Thu tương tự như bánh chưng bánh dày, chúng là một cặp với nhau. Bánh chưng bánh dày được làm vào ngày tết để kỷ niệm một chu kỳ của trái đất còn bánh nướng bánh dẻo được làm để kỷ niệm một chu kỳ của mặt trăng (ngày trăng tròn nhất trong năm, mỗi năm có một lần). Có thể ngày xưa bánh dẻo không có nhân và hình tròn (bánh dẻo chay) và nó tương đương với bánh dày, còn bánh nướng có nhân ngũ sắc và hình vuông để tương đương với bánh chưng. có lẽ do thời gian quá lâu dài nên người ta đã thay đổi cách làm bánh theo thị hiếu người tiêu dùng chỉ còn sót lại chút ít ý nghĩa đến ngày nay. Không biết anh chị em cô bác trong diễn đàn có ai biết ý nghĩa và nguồn gốc thật sự của bánh nướng bánh dẻo không ạ? có đúng ngày Tết Trung Thu bắt nguồn từ sinh nhật của Đường Minh Hoàng không ạ? Nguồn gốc, phong tục và ý nghĩa của ngày Tết Trung Thu. Tết Trung Thu Theo phong tục người Việt chúng ta, Tết Trung Thu được tổ chức vào giữa mùa thu, tức là hôm rằm tháng tám ta. Trong dịp này người ta làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân cúng mặt trăng. Nhân dịp tết này, người lớn thì uống rượu, thưởng trăng, và hát trống quân; trẻ em thì rước đèn, đi xem múa lân, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo cùng các thứ trái cây do cha mẹ bày ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới hình thức một mâm cỗ. Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây trong đêm Trung Thu này được gọi là "phá cỗ." Nguồn Gốc Tết Trung Thu Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc. Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu. Ý Nghĩa Tết Trung Thu Tết Trung Thu của người Việt có nhiều điểm đặc biệt khác với Tết Trung Thu của người Trung Hoa. Theo phong tục người Việt, bố mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi, và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để con cái hiểu được sự săn sóc quí mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm.Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng, và các ân nhân khác. Thật là dịp tốt để con cháu tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ và để người đời tỏ lòng săn sóc lẫn nhau. Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này. Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình.” Ngày xưa trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Tết Trung Thu mới đầu là tết của người lớn để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, ăn bánh, và uống trà ngắm trăng rằm vào giữa tiết Thu. Dần dần Tết Trung Thu trở thành Tết Trẻ Em hay Tết Nhi Đồng, nhưng người lớn cũng dự phần trong đó. Trẻ em được người lớn chú ý săn sóc như các hội đoàn người Việt hải ngoại đã và đang làm. Các em có dịp vui chơi rước đèn, ca hát, phá cỗ do cha mẹ anh chị bày cho và nhất là có dịp ăn bánh kẹo thả cửa mà không sợ bị quở mắng là “ăn kẹo hư răng.” Trong dịp Tết Trung Thu, trẻ em có dịp được học bài hát “Rước Đèn Tháng Tám” một cách thích thú: “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường. Lòng vui sướng với đèn trong tay. Em múa ca trong ánh trăng rằm. Đèn kéo quân với đèn cá trắm, đèn thiên nga với đèn bươm bướm. Em rước đèn này đến cung trăng. Đèn xanh lơ với đèn tím tím, đèn xanh lam với đèn trắng trắng. Trông ánh đèn rực rỡ muôn màu.” Tết Trung Thu là một phong tục rất có ý nghĩa. Đó là ý nghĩa của săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Cần cố gắng duy trì và phát triển ý nghĩa cao đẹp này. (Theo Mummy Blog http://www.vtc.vn/303-190951/gioi-tre/nguo...t-trung-thu.htm )
  12. "Người Việt ở Đức hội nhập thành công nhất" Nhận xét về cộng đồng người Việt Nam ở Đức, báo Frankfurt Allgemeine mới đây khẳng định trong số những người nước ngoài làm việc dưới thời CHDC Đức trước đây, người Việt Nam chăm chỉ nhất. Tờ báo dẫn lời ông Karther, người được giao trách nhiệm giúp đỡ người Việt Nam ở thành phố Dresden thời CHDC Đức, nói rằng người Việt Nam quan hệ khá tốt với đồng nghiệp Đức, làm việc có kỷ luật, chăm chỉ, thậm chí làm việc cả trong những ngày nghỉ cuối tuần để có thêm thu nhập. Sinh hoạt văn hóa của người Việt tại Đức Đôi khi họ làm ra nhiều sản phẩm hơn cả đồng nghiệp Đức và "mặt hàng" quần jean do người Việt Nam may khi đó từng là thứ không thể thiếu trong đời sống của người dân Đức, thay cho những chiếc quần bò Mỹ. Sau ngày nước Đức thống nhất, số đông công nhân Việt Nam làm việc ở Đức theo diện hợp tác lao động ở Dresden và ở Đức nói chung đã về nước. Những người ở lại gặp nhiều khó khăn phải tìm cơ hội mới để sinh sống và thường mở cửa hàng ăn uống, bán hoa và rau quả, tạp phẩm rẻ tiền,... Họ thường làm việc cả tuần, không có ngày nghỉ, không nghỉ phép. Báo trên nhấn mạnh chính ý chí muốn vượt qua khó khăn để có cuộc sống ổn định nơi đất khách quê người đã đưa người Việt Nam trở thành một cộng đồng hội nhập thành công nhất trong các cộng đồng người nước ngoài ở Đức và thế hệ con cái họ đều là những học sinh có thành tích học tập xuất sắc nhất tại các trường. Họ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động kinh tế, đồng thời duy trì những nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng và giáo dục tốt thế hệ con cháu hướng về cội nguồn./. Nguyễn Xuân/Berlin nguồn: http://quehuongonline.vn/VietNam/Home/Nguo...09/04/35E217C8/
  13. Việt kiều, du học sinh đổ về Việt Nam tìm việc Chấp nhận thu nhập thấp hơn so với ở nước ngoài, nhiều Việt kiều và du học sinh đang đổ về VN tìm cơ hội làm việc. Nhiều công ty tuyển dụng trong nước cho biết hiện nay lượng hồ sơ của các ứng viên trên đang tăng nhanh. Lao động trong nước sẽ phải cạnh tranh gắt gao với các ứng viên được đào tạo từ nước ngoài Theo bà Loan Lê, Giám đốc Công ty tuyển dụng cấp cao Loan Le tại TP.HCM, số hồ sơ gửi đến công ty từ các ứng viên có bằng cấp nước ngoài gần đây đã tăng 20%. Hiện công ty đang có trong tay dữ liệu của khoảng 3.000 ứng viên Việt kiều trong số hơn 600.000 người đăng ký hồ sơ tại website của công ty. Mai Nguyễn, một chuyên viên phân tích tài chính của Citibank tại Nhật Bản 10 năm nay, đã quyết định nghỉ việc khi công ty tái cơ cấu vì khủng hoảng kinh tế và yêu cầu cô phải chuyển sang bộ phận khác. Cô cho biết đã làm việc ở Nhật lâu năm và muốn quay lại VN tìm cơ hội. Hơn nữa hiện nay tìm được việc ở Nhật là rất khó, do quốc gia này bị suy thoái kinh tế nặng nề. Với tấm bằng thạc sĩ về quản lý ngành y của trường Đại học California tại Northridge, Lộc Nguyễn vẫn quyết định quay về VN mặc dù đã được một số bệnh viện mời làm nghiên cứu sinh. Hiện nay Lộc đang làm bán thời gian tại trường Đại học Hùng Vương tại TP.HCM nhưng hy vọng sẽ tìm được công việc quản lý thích hợp trong ngành y. "Mặc dù hiện chưa tìm được công việc thích hợp nhưng tôi vẫn tin mình là một ứng viên có năng lực vì những gì tôi đã tiếp thu được ở Mỹ", Lộc nói. Bà Loan cho biết số lượng các ứng viên Việt kiều và hiện đang làm việc ở nước ngoài tăng mạnh từ sau Tết tới nay. "Có một số ứng viên là du học sinh chuẩn bị tốt nghiệp, hiện họ rất khó xin việc ở nước sở tại vì các quốc gia này đang ưu tiên thuê người bản xứ hơn trong giai đoạn suy thoái này", bà Loan nói. Ông Huỳnh Văn Thới, Tổng giám đốc một website tuyển dụng cho biết, có khoảng hơn 1.000 ứng viên Việt kiều đăng ký hồ sơ tại địa chỉ website của ông mỗi tháng. Theo ông Thới, điều này sẽ làm tăng tính cạnh tranh và chất lượng của thị trường lao động trong nước, đặc biệt là ở cấp độ quản lý và điều hành. Hầu hết các ứng viên đến từ các nước chịu ảnh hưởng mạnh nhất của suy thoái kinh tế như Mỹ, Nhật và chủ yếu thuộc các ngành IT, tài chính và ngân hàng. "Chắc chắn sẽ có nhiều Việt kiều và một số người Việt làm việc ở nước ngoài quay về nhưng xu hướng này sẽ kéo dài trong bao lâu thì chưa xác định được" - ông Thới nói. Gần đây, tạp chí Business Week của Mỹ có đăng tải một bài báo nói về chuyện ảnh hưởng của suy thoái kinh tế có thể làm nhiều lao động nhập cư tài năng rũ áo đi khỏi nước Mỹ. Theo bài báo trên thì trong một nghiên cứu gần đây của Đại học Tổng hợp California tại Berkeley và Đại học Duke thì có đến 87% người nhập cư gốc Hoa và 79% người nhập cư gốc Ấn Độ (trong tổng số 1.203 người được hỏi) nói họ đã quay về nước làm việc vì cảm thấy họ có thể cống hiến tại quê nhà nhiều hơn là tại Mỹ. Một số thì cho rằng những khó khăn về visa và giấy tờ nhập cư cũng là những lý do họ muốn quay trở lại quê hương. Theo như bà Loan thì trong thời điểm không tốt của kinh tế hiện nay thì sự chênh lệch trình độ giữa một ứng viên được coi là xuất sắc so với ứng viên giỏi sẽ lớn hơn: "Còn nhớ khi mọi người đổ xô vào thị trường bất động sản thì có thể bạn không thấy được sự khác biệt lắm khi công ty bất động sản đó được lãnh đạo bởi một ông giám đốc kinh doanh giỏi hay một ông xuất sắc. Nhưng giờ chuyện đó đã khác". Bà Loan cho biết các ứng viên Việt kiều đã tu nghiệp hoặc làm việc ở nước ngoài thường có khả năng làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp, phân tích tình huống rất tốt. Hơn nữa, hiện nay họ có thể chấp nhận mức lương thấp hơn tại VN. Theo Hương Lê Thanh Niên ShowAdLib_0();
  14. nếu hỏi 100 người đi du học thì sẽ có bao nhiêu người chọn quay về nước? Rin86 có học cùng một anh đã từng bỏ Hàn Quốc về Việt Nam vì không muốn làm việc ở nước ngoài dù được trả lương cao hơn. Anh ấy không hề thích Hàn Quốc. Rin86 cũng bỏ Hàn Quốc về Việt Nam đã học ở Hàn được 2 năm dù biết nếu bỏ về thì mất trắng 2 năm đó không được cái gì hết. Anh Phan Ngọc Minh, ở 274 Bà Triệu, tốt nghiệp đại học Havart được các công ty trả 50 ngàn đô một năm nhưng vẫn bỏ Mỹ về Việt Nam lập nghiệp. Những người vượt biên ra nước ngoài để tìm cuộc sống thiên đường như đi làm nail chẳng hạn, họ cũng chỉ đi vài năm về lấy tiền xây nhà như những người mà Rin86 gặp ở sân bay thôi, chẳng ai muốn ở lâu dài ở nước ngoài, chỉ có người chưa từng sống ở nước ngoài mới phỏng đoán là như vậy. Đa số người ta chỉ đi nước ngoài để kiếm một khoản tiền nào đó rồi về chứ sống 10 năm, 20 năm thì không. Có người bạn của Rin86 ở Đức nói rằng cái cơ ngơi của mình ở Đức rồi nên đành ở lại chứ lúc nào cũng muốn về Việt Nam và sự thực là đang chuẩn bị để về Việt Nam. Ở Việt Nam có cái tình người và nền văn hóa thấm đẫm chất nhân bản mà bất cứ con người nào đã từng xa quê đều trân trọng một khi đã thấm thía cảnh sống nơi đất khách quê người. Người nước ngoài ở Việt Nam cũng cảm nhận được chất nhân văn đó nên rất nhiều người đã chọn Việt Nam làm quê hương thứ 2 như trong topic "Việt Nam và những người bạn" của Rin86. Có thể mọi người thấy nhiều người Việt bỏ quê trốn sang Anh, sang Mỹ rồi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan rất nhiều nên nghĩ rằng người Việt thích bỏ quê đi sống ở nước ngoài vì vật chất đơn thuần! Nhưng những người đó đa số đều vỡ mộng tuy nhiên vì sản nghiệp (nhà cửa, con cái, cửa hàng...) đều ở nước ngoài rồi nên không thể về được, có khi còn không có tiền mà về. Tại sao vẫn có nhiều người thích vượt biên ư? Đơn giản là họ muốn kiếm tiền thôi chứ vì văn hóa nước ngoài mà đi thì không có đâu, họ chỉ đi vài năm rồi về thôi!
  15. Chào bạn Rin86, Bạn nói đúng lắm, không nên thêm thắt gia vị làm loãng chủ ý. Thân
  16. Chẳng nên khinh miệt những người bươn chải làm ăn, kiếm sống lại càng không nên khinh miệt người nghèo, nhất là phụ nữ. Khi những người bản xứ đó lâm vào hoàn cảnh cực kỳ nghèo túng thi sao? ở phương tây không hiếm người làm mại dâm hay buôn ma túy. Có lẽ người ta chẳng khinh miệt mà chỉ thấy lạ rồi nhìn thôi.
  17. Người Việt Nam giàu ngầm Công ty tư vấn kiểm toán KPMG mới đây công bố báo cáo mang tựa đề “Việt Nam: Mở cửa đón đầu tư” phân tích môi trường đầu tư ở Việt Nam. Trong đó, KPMG cho rằng, thị trường bán lẻ Việt Nam có nhiều cơ hội lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài, vì người Việt giàu hơn so với những gì được biết. Theo các chuyên gia của KPMG, so với ở Trung Quốc, doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam đóng một vai trò quan trọng cao hơn trong nền kinh tế. Mặt khác, trên thực tế, do có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân không được thống kê, người dân Việt Nam có thể giàu hơn những con số thống kê đã biết. Sự “giàu ngầm” này có thể đẩy thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam lên thêm 30% và con số này thậm chí còn cao hơn ở những thành phố lớn. Theo KPMG, GDP bình quân đầu người của Việt Nam hiện là 800 USD, nhưng nếu tính cả những thu nhập chưa được thống kê hết, con số này có thể đạt mức trên 1.000 USD. Tại các thành phố lớn như Hà Nội hay Tp.HCM, con số này thậm chí còn có thể cao gấp đôi. Đây chính là một phần lý do tại sao giá trị bán lẻ của Việt Nam ở mức 43,5% so với GDP, cao hơn so với của Trung Quốc (35%) và Thái Lan (33%), mặc dù Việt Nam mới chỉ có 27% dân số sống ở thành thị và là một trong những nước có tỷ lệ đô thị hóa thấp nhất ở châu Á. Hiện tại, thu nhập dành cho tiêu dùng của người Việt Nam đang tăng thêm 2 tỷ USD mỗi năm, và sẽ đạt 30 tỷ USD trong năm nay. Ralf Matheas, một chuyên gia của công ty nghiên cứu thị trường TNS tại Việt Nam nói: “Người Việt Nam giàu hơn nhiều so với phần lớn mọi người vẫn nghĩ.” Ngạc nhiên hơn, chuyên gia này cho rằng, thu nhập hộ gia đình tính theo tháng tại Tp.HCM cao ngang với mức GDP cả năm của toàn quốc tính trên mỗi hộ gia đình. Mặt khác, hiện mỗi năm có khoảng 1,2 triệu người Việt Nam tham gia vào lực lượng lao động. Tỷ lệ người lệ thuộc đang giảm mạnh từ mức 4 người phụ thuộc mỗi 5 người lao động vào năm 1987 xuống mức 2,5 người phụ thuộc mỗi 5 người lao động vào năm 2007. Nhờ thế mà trong 10 năm qua, tỷ lệ thu nhập dành cho chi tiêu trong các gia đình Việt Nam đã tăng thêm được 83%. Các sản phẩm dinh dưỡng như sữa, nước hoa quả, đồ hộp, … đang là những sản phẩm có tốc độ nhu cầu tăng trưởng mạnh, là đầu tàu thúc đẩy doanh số bán lẻ. Ngoài thực phẩm, nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất là sản phẩm chăm sóc cá nhân và đồ gia dụng. Từ năm 2000, doanh số các mặt hàng quần áo, giầy dép và mỹ phẩm tăng với tốc độ bình quân từ 11% đến 14%. Trong lĩnh vực hàng điện tử gia dụng, tốc độ tăng trưởng doanh số của các mặt hàng rất khác nhau, doanh số TV chỉ tăng có 6% mỗi năm, trong khi doanh số máy giặt lại tăng tới 11%/năm. Các sản phẩm dược phẩm cũng đạt tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm 13% kể từ năm 2000. Theo thỏa thuận gia nhập WTO của Việt Nam, thuế nhập khẩu phần đánh vào phần lớn các mặt hàng tiêu dùng sẽ giảm từ 5% đến 10% trước năm 2012. Tuy nhiên, thay đổi lớn nhất có thể sẽ diễn ra trong lĩnh vực bán lẻ trực tiếp. Sau ngày 1/1/2009, các công ty nước ngoài có thể thành lập các công ty bán lẻ 100% vốn ngoại với rất ít hạn chế về sản phẩm. Nhiều hãng bán lẻ nước ngoài đã thúc đẩy việc mở rộng sự hiện diện ở Việt Nam. Bourbon, Parkson và Metro đang mở rộng hệ thống cửa hàng tại Việt Nam, trong khi Tesco, Wal-Mart và Carrefour có khả năng sẽ đầu tư vào Việt Nam trong thời gian không xa. Hiện Metro đang có dự định mở thêm cửa hàng thứ 8 tại Việt Nam. Có nguồn tin cho biết, Parkson có dự định đạt con số 10 cửa hàng tại Việt Nam vào năm 2009. Hiện phần lớn hoạt động bán lẻ ở Việt Nam vẫn diễn ra tại các chợ ngoài trời, nhưng người tiêu dùng đang có xu hướng chuyển sang mua hàng nhiều hơn tại các siêu thị và các trung tâm bán lẻ trực tiếp. Nguồn Từ : Khoa Học Phổ Thông. Website : http://www.khoahocphothong.net 52% người dân Việt Nam khẳng định sẽ tiết kiệm chi tiêu Thứ ba, 21/4/2009, 08:50 GMT+7 Tuy được đánh giá là lạc quan nhất khu vực, nhưng 52% số người Việt được hỏi cho biết sẽ buộc phải thắt chặt chi tiêu năm 2009. Ông Ralf Matthaes, Giám đốc Điều hành của TNS Việt Nam, đã công bố như vậy chiều 20/4 tại hội thảo “Xây dựng Thương hiệu thời kỳ giảm phát” ở Hà Nội. Theo đó, chỉ trong có 4 tháng ngắn ngủi, từ tháng 9/2008 - 1/2009, sự lạc quan của người Việt về tương lai kinh tế đã giảm mạnh. Số người dự báo nền kinh tế sẽ xấu đi đã tăng từ 18% lên 35%. Đi liền với sự bi quan về kinh tế là nỗi lo thất nghiệp. Từ 9%, chỉ sau vài tháng nỗi lo này đã “phình to” gấp 4 lần, lên 46% và mau chóng trở thành “nỗi sợ hãi lớn” thứ ba của người Việt, chỉ sau sức khỏe, gia đình và bản thân. Dĩ nhiên, dự báo mức sống cá nhân của người Việt cũng đã giảm mạnh theo, xuống gần một nửa, từ 70% người được hỏi tin rằng mức sống sẽ tốt hơn tụt xuống chỉ còn 36%. Với niềm tin giảm sút như vậy, ông Ralf Matthaes cho rằng, hơn một nửa (52%) người tiêu dùng Việt sẽ thắt chặt hầu bao chi tiêu hàng tháng trong năm 2009. Khoản bị cắt giảm hàng đầu là những hoạt động vui chơi, giải trí, ăn uống ở nhà hàng… nên dự báo kinh doanh ở những nhóm ngành dịch vụ này sẽ bị ảnh hưởng mạnh. Tiếp đó là các nhóm hàng “không thiết yếu” như điện tử gia dụng (ti vi, máy giặt..), thiết bị điện tử cá nhân (điện thoại di động, laptop…), cước viễn thông, đi lại, chăm sóc cá nhân… Nhóm tiêu dùng duy trì được sự ổn định là các sản phẩm/dịch vụ y tế, thể hiện sự lo lắng của người Việt đối với sức khỏe. Tuy nhiên, ấn tượng nhất là lĩnh vực giáo dục. Đây là nhóm duy nhất đảm bảo sẽ “sống khỏe” thời suy thoái vì có vẫn sẽ tăng trưởng chi tiêu. Ông Ralf Matthaes nói, “người Việt là những người tiêu dùng khôn ngoan vì giáo dục luôn là mỏ neo vững vàng cho tương lai”. Tuy bức tranh về người tiêu dùng Việt Nam có chiều hướng kém lạc quan so với 4 tháng trước song nhìn vào chi tiết, TNS vẫn đánh giá Việt Nam là thị trường tiềm năng thuộc hàng đầu châu Á. Với GDP bình quân 1.000 USD/năm, người tiêu dùng Việt Nam được cho là ngày càng giàu có. Thậm chí, mức tăng trưởng tiêu dùng còn nhanh gấp đôi mức tăng GDP. Tiềm năng mua sắm thể hiện rất rõ ở mức độ “thắt hầu bao”. Tuy có tới 52% cho biết sẽ giảm chi tiêu nhưng 47% trong số họ chỉ “cam chịu” cắt giảm 10% nhu cầu mua sắm bình thường, vượt trội so với con số 3% ít ỏi sẽ “đóng” khoảng 30% túi tiền. Chi tiêu cho tiêu dùng nhanh được thống kê với mức tăng trưởng lạc quan đáng kinh ngạc, gần 20%, mức tăng nhanh nhất châu Á, bỏ qua Trung Quốc và Ấn Độ. Người Việt chọn các kênh mua sắm hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại cũng tăng lên. Ngày càng có nhiều người Việt chọn “hàng hiệu” để thể hiện vị thế xã hội của mình. Đặc biệt, nhóm thu nhập cao tại Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng, gấp đôi trong vòng 3 năm qua. Theo TNS, chưa bao giờ người Việt giàu như hiện tại. Ước tính số người giàu ở các đô thị lớn đã tăng từ 5% lên 30%. Họ được coi như là lối thoát của nhiều ngành hàng hiện tại, nhất là các nhóm hàng xa xỉ bởi khủng hoảng kinh tế không thể động tới thói quen mua sắm của họ. Theo ông Ralf Matthaes, hiện chính là thời cơ vàng cho hàng Việt. Thay vì chuộng hàng Trung Quốc nhờ giá rẻ, ngày nay người tiêu dùng Việt đã trở nên dè chừng với nhiều mặt hàng, nhất là thực phẩm có gốc gác “made in China” vì lo sợ không an toàn. Vì thế, không chỉ ông Ralf Matthae, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu tranh thủ được “nỗi sợ hãi” này, làm tốt chương trình đưa hàng Việt về nông thôn bằng chất lượng, chắc chắn hàng hóa Việt sẽ có đến 60% lượng khách hàng trung thành trong tương lai.(Nguồn: VNN, 20/4)
  18. Trang Phan nói đúng rồi! Mình cũng từng là du học sinh nên mình cũng cùng ý kiến với Trang Phan! Mình nói chuyện với một du học sinh Cuba về du học sinh TQ (TQ sang Cuba học tiếng Tây Ba Nha cho rẻ, nói chung TQ có mặt ở mọi nơi trên quả đất này) bạn ấy cũng có quan điểm như sau về du học sinh TQ: -Tiếng Anh kém -Không hòa đồng, tính đoàn kết cộng đồng cao nhưng khép kín Người Trung Quốc giận dữ Thời gian ở Hong Kong, tôi được tiếp xúc với nhiều người Trung Quốc và giật mình thấy rằng, đang dần hình thành một lớp người Trung Quốc mới đầy giận dữ. Tôi có một người bạn gái Hoa lục, tạm gọi là Tiểu Thanh (tất nhiên không phải tên thật). Tiểu Thanh thuộc thế hệ 7x, giỏi tiếng Anh vì đã sống ở nước ngoài nhiều năm, hiện làm việc cho công ty đa quốc gia. Tính tình cởi mở, hào phóng, Tiểu Thanh có nhiều bạn bè đủ các quốc tịch. Thu nhập tốt, lại không vướng bận gì, bạn ấy khá chịu khó đầu tư về mặt nhan sắc. Tôi cứ đùa mỗi lần Tiểu Thanh đi shopping về là y như rằng các cửa hàng hiệu ở Central (khu trung tâm Hong Kong) phải tất tả nhập kho thêm hàng. Gia đình Tiểu Thanh theo đúng quy định một con chỉ có bố mẹ, vốn là quan chức bậc trung, vẫn đang sinh sống ở một thành phố nhỏ miền bắc Trung Quốc. Tôi đã gặp ông bố, đeo kính, đạo mạo như một cán bộ nhà nước ở Việt Nam. Thế nhưng bạn Tiểu Thanh của tôi là một "người giận dữ". Lần gần đây tôi trải nghiệm sự giận dữ của bạn là khi đang ngồi uống cà phê trong Starbucks, đọc tin về cuộc bạo động Tân Cương. Bản tin Associated Press mô tả đám đông người Hán tràn ra đường trả thù người Uighur theo Hồi giáo. Tiểu Thanh đập tờ Bưu điện Hoa Nam 48 trang kể cả quảng cáo đánh sầm lên bàn nước, làm chiếc bánh muffin của tôi lộn nhào xuống sàn nhà. "Tại sao khi nói về người Hán, cái hãng AP chết tiệt này lại dùng từ 'mob' (chỉ đám đông vô tổ chức)?" "Họ không biết là chính người Uighur đã gây ra cuộc bạo loạn này và người Hán chỉ tự bảo vệ thôi sao?" Tôi len lén nhặt bánh lên, không dám hé răng bình luận vì biết rằng sẽ đổ dầu vào lửa. Cuộc nói chuyện của chúng tôi thế nào cũng sẽ chuyển sang tranh luận về "âm mưu đen tối của phương Tây" và về việc "Mỹ sợ Trung Quốc lớn mạnh". Tiểu Thanh không phải là ngoại lệ. Tôi đã gặp nhiều bạn trẻ người Hoa, có bằng cấp, có trình độ, nhiều bạn học Mỹ về, giọng nói còn thoang thoảng mùi hotdog. Để 'bôi trơn" cuộc trò chuyện với các bạn ấy, cách dễ nhất là ca ngợi sự vĩ đại của đất nước Trung Hoa, mà so với nó, Hoa Kỳ "chưa là gì". Nếu biết thêm một số trước tác của lãnh tụ Mao Trạch Đông mà trích dẫn thì càng tốt. Mới đây, có cuốn sách "Trung Quốc bất cao hứng" qua đêm thành best-seller tại Hoa lục. Nội dung sách phản ánh lòng tự tôn dân tộc chủ nghĩa của người Trung Quốc ngày nay. Một trong các tác giả của sách, ông Hoàng Kỷ Tô, nói: "Đây là cuốn sách đặt ra đại mục tiêu cho Trung Quốc và giới trí thức; các trí thức Trung Quốc phải lựa chọn." Và lựa chọn ấy không có gì khác là Trung Quốc phải đạp đổ ảnh hưởng và áp lực Tây phương, để khơi nguồn cho chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy. Những người Trung Quốc trẻ tin vào sức mạnh dân tộc và họ rất dễ bị kích thích trở nên giận dữ. Thí dụ như bạn Tiểu Thanh của tôi đây. Bạn ấy đang bừng bừng bất bình về bài báo đăng trên một tờ lá cải của Hong Kong về quan hệ với tỷ phú Israel của cô đào Chương Tử Di (章子怡). Bạn ấy ta thán: "Không thể hiểu tại sao báo tiếng Hoa lại tốn giấy bút đến vậy chứ." "Chương Tử Di ư? Có khác gì gái bán hoa đi cung phụng Tây phương đâu!" BBC Vietnamese
  19. Moonlover nói có lý đó, nhưng nếu không phải là người dịch chuyên nghiệp thì để dịch được cũng mất mấy năm!
  20. Rin86 nghĩ tinh thần dân tộc cao không có nghĩa là từ chối học tiếng Anh hay chỉ có giao tiếp bằng tiếng bản địa thì mới chiếm được cảm tình vì như vậy chỉ tự cô lập mình thôi. Rin86 có tìm hiểu sơ qua về vovinam mớ thấy tinh thần dân tộc ta tuyệt với như thế nào. Vả lại papa của Rin86 có dịp đến Nhật, người Nhật nói tiếng Anh rất tốt, người Hoa không học được tiếng Anh nên không nói được thôi! Người Việt ra nước ngoài bị săm soi là do nghèo thôi, người Tàu còn bị soi kinh khủng hơn ha ha ha
  21. "The Hung Vuong is CN 1500 years ago" Câu này Rin86 nhầm, đáng lẽ là "The Hung Vuong is 1500 years BC" thì lại để nguyên chữ CN (công nguyên). Nhờ mọi người xem lại xem có đoạn nào dịch lộn nữa không ạ? Vì dịch một trang nhiều chữ cứ bị lẫn lộn hoài :rolleyes:
  22. Vietnamese ancient clothing in Hùng King period-part 6 Restoration ancient Vietnamese clothes - Hung Kings period social Evidence on all sectors: from the ancient texts of Confucius, archaeological relics and conclusions of archeological, cultural heritage intangible..etc.. With an argument which satisfies scientific criteria by a close connection, systematic and consistent with the related phenomena logically, proved that: ethnic clothes as Hung Kings period is clothes of ethnic Vietnamese in the most civilized society in that time in Orient and far beyond the Han civilization, latest is in the VII th century BC. Thus we have completely scientific basis for restoration of these forms of clothes for the time of the Hung Kings period of ethnic Vietnamese... I - The vision of the new historical point of view on clothes at Hùng Kings period. First, we review the picture below describes the Hung King period clothes from the new historical perspective. Hùng King and Lang madanrins We compare it with the photo of a cultural and artistic troupe performing "gongs" of the peoples of the Highlands (Tây Nguyên) below We see clothes of Highlands (Tây Nguyên) ethnic costumes and the so-called clothes of "Hung Kings and Lang mandarins" almost identical. Unfortunately for the "Most scientists in the country" and "scientific community in the world": They can not prove and explain on their "scientific basis" about identical relationship between the two forms of this clothes. Of course, they can not contact the clothes of the Native Indian (in America) for the Hung Kings period which they have described. In short: They have the opinion that: "Hùng Kings period is a beginning state" and "in fact is an alliance of 15 tribes" so the inevitable consequence is: they must choose the poorest clothes that they know to illustrate the idea called "scientific basis" of them. Therefore, looking at the so-called "Hung Kings period clothes" in the new perspective, we see it looks like traditional ethnic Highland clothes such a bizarre way. Those who have negative opinions about value of traditional ethnic Vietnamese cling to their basic foundation: "there is no archaeological relics to demonstrate the history of nearly 5000 years culture". But in illustrative pictures they use to illustrate about the Hùng Kings period, they deny their argument themselves. They take the current clothes of the ethnic minorities in modern times to illustrate the past. Perhaps it is more than enough to see the "scientific basis" product, focused intelligence of "Most of the inland scientists" plus "the international scientific community". It is pitiful. II-Hùng Kings period clothing restoration relies on scientific criteria "A scientific hypothesis is only considered as true; if it is capable of explaining most logical problems and phenomena related to it consistently, complete, systematic, regularly, objectivity and the ability to prophesy. 1. Clothes of Hùng Kings and Lạc Hầu (hight ranking mandarins) Related archaeological relics : Loyal to this scientific criteria. now we review the image on the Lạc Việt bronze drum - an archaeological relics - which has dating about VII th century BC Relevant documents: "Thượng Thư (books for the Kings) - books recorded ancient time" (translation Võ Ngọc Liên, Trần Kiệt Hùng. Đồng Nai publishing house 1996, page 156): Three categories such as sun, moon, and stars were used to make flag (banner), the dragon to aim king's clothes, the tiger to aim high ranking mandarin's clothes, the distinction depend on three different types of clothes : cổn miện (crown for the king), tệ miện (hat for high ranking mandarin), tuyệt mịch (high ranking mandarin's belt). Name of three types of clothing are based on drawings on clothes to call, as "cổn" (crown) there is dragon crown, there are nine rank, "long cổn" (dragon crown) is in the lead. "Tệ" means pheasant. There are seven kind of "tệ triều" (clothes of high ranking mandarin when they attend the king's audience), the tiger is in the lead. Compared to the cultural heritage intangible traditions related - you can easily recognize the completely similarities below: Heritage related Mr.Táo's hat (Mr.Táo is a genie in Vietnamese kitchen) To worship and burn on the day Mr.Táo fly to the heaven, or worship the indigenous gods of the Vietnamese popular beliefs. Hat of the Saint at festival. (Photo taken at Thanh Hóa) Through archaeological relics, ancient surviving documents in bibliographic in Chinese, the intangible traditional cultural heritage , perhaps it has proved clothes of Hùng Kings through the image below that writers do not need to illustrate: Dress of all the saints in the "Ngũ phủ cộng đồng", is the clothes of the Hùng Kings and Lạc Hầu in the development of the country Văn Lang. With Lạc Hầu clothes, it is replaced the dragon head by the phoenix head. 2. Women clothes in Văn Lang society:a) Clothes for hight strata: We continue to compare the archaeological relics, the heritage left in the intangible folk culture proved in the article above to restore clothes for women of hight strata on the Văn Lang society - original point of Vietnamese peoples. The bronze knife staff of Hùng Kings period can not mimic clothes of Lady Sun (孫權, Sun Quan's sister). Well this is obvious. And of course traditional intangible cultural heritage of Vietnamese culture, also does not mimic clothes of Liu Bei's wives. Because it has an original point of its culture. Therefore, we can say that: The Chinese artists have been restored clothes of southern Yangtze River culture for a national occupy and rule over unchalleged in this land - Wu country in Three Kingdoms period. Therefore, we all have full evidence to restored clothes in hight strata in the ancient Văn Lang society: Lady Sun - the third century BC. Illustrations by Chinese painters Mỵ Nương (restoration made by Thiên Sứ) b )Popular women clothes in Hùng Kings period society. interested people, please compare of the human picture on the bronze knife handle with popular clothes which is relatively common in rural areas of North Vietnam. They completly have specific characteristic similarities. If you comment about characteristics, clothes on the bronze knife staff is more luxurious because it has fabric belt across the abdomen. And the fabric strip in front of the abdomen is more elaborate decoration. If we compare the bronze knife handle with a series of clothes of female puppet in the image below we see these similarities in many different types of clothes and the basic characteristics on clothes remains the same: There are a fabric strip in the front, wearing brassiere and fabric strip belt around the abdomen. Through ancient texts, archaeological relics, cultural heritage and intangible cultural phenomenon related, which the writer has demonstrated above, is the basis for a scientific conclusion that: the clothes of the water puppets and the cultural heritage which is traditional clothes for ethnic Vietnamese in the Hùng Kings period and ancient Vietnamese cultural values were Sinicization in more than 1,000 years of Chinese domination. We will continue to complete this topic to illustrate the restoration of clothes for all classes of society in an era of Văn Lang - original point of history, culture of Vietnamese peoples with nearly 5000 years culture, with related proof. This article is incomplete.
  23. Ở Gò Công mấy trăm năm qua nói đến nước chấm người ta thường nhắc một đặc sản thượng hạng, từng được dọn trong những bữa yến tiệc trong Hoàng triều từ thời Thiệu Trị nên được dân gian xưng tụng là “nước chấm của hoàng gia” dù xuất thân của món ngon này hết sức dân dã, đó là mắm tôm chà. Mắm tôm chà Gò Công xuất hiện từ bao giờ, không ai còn nhớ rõ. Nhưng theo ông Cao Văn Hổ (Năm Hổ), chủ lò mắm Kim Sa ở số 141 đường Phạm Ngũ Lão (khu phố 3 phường 2 thị xã Gò Công), mắm tôm chà chắc chắn phải có mặt trên đất Gò Công trước khi Thái hậu Từ Dũ được tiến cung. Bà đã mang theo món chấm độc đáo này, có nghĩa là tuổi đời của món mắm đặc sản đã có dư mấy trăm năm. Tới bây giờ cũng không còn ai biết bậc hiền nhân nào đã “sáng chế” ra loại nước chấm độc nhất vô nhị này, nhưng công thức sản xuất thì cả 5 lò mắm ở thị xã Gò Công hiện nay đều tuân thủ như nhau: muốn có mắm ngon thì nguyên liệu phải là tôm bạc đất chính cống quết nhuyễn với các phụ liệu là tỏi, ớt, muối, đường đem phơi 4 nắng. Sau đó chà lấy tinh chất của tôm và phụ liệu đem phơi tiếp 7 nắng nữa mắm mới thật chín, lên màu đỏ au bắt mắt. “Công thức chung là vậy nhưng các lò mắm đều có bí quyết riêng khi pha chế thịt tôm và các phụ liệu nên hương vị mắm đều khác nhau. Đặc biệt mắm tôm chà chỉ có thể phơi nắng cho chín, không thể dùng lò sấy khô”, ông Năm Hổ nói. Khác hẳn các loại mắm ngon nổi tiếng của Nam bộ như mắm lóc, mắm sặt, mắm trèn, mắm cá linh… ngoài việc ăn sống còn có thể đem kho hoặc chưng hay chế biến thành nhiều món khác (tỉ như nấu lẩu), mắm tôm chà Gò Công chỉ dùng duy nhất một mục đích: pha với tỏi, ớt, chanh, đường để được một thứ nước chấm thượng hảo hạng, ăn với bánh tráng rau sống, thịt luộc, tôm luộc thì… hết chỗ chê! Chưa từng nghe ai nói đã đem mắm tôm chà nấu lẩu hay chưng, kho như mắm linh, mắm lóc. Nhưng ở Gò Công người ta vẫn thường thấy mấy bậc kỳ lão khi nhậu vô vài ly rượu đế với món ăn có nước chấm là mắm tôm chà thì khoái chí vỗ đùi cười ha hả kể cho con cháu hậu sinh nghe rằng, thời Pháp thuộc mấy ông quan địa phương muốn lấy lòng các quan Tây nên buộc dân chúng xứ Gò phải làm mắm tôm chà để đem cống nạp. Không biết mấy ông quan bản xứ hướng dẫn quan Tây ăn mắm ra sao, chỉ thấy ông Tây bà đầm thường quệt mắm tôm chà nguyên chất vào miếng bánh mì xăng-quýt thay bơ, phó-mát vừa ăn vừa xuýt xoa khen “très bien!” rần trời, báo hại đám con dân chạy kiếm tôm bạc đất làm món ngon cống nạp không kịp thở. Cũng có người nói, giữa trưa đói bụng mà bốc một cục cơm nguội quệt chút mắm tôm chà nguyên chất bỏ vào miệng thì không còn gì tuyệt bằng. Nhưng mấy bậc bô lão cho rằng ăn như vậy thiệt phàm phu tục tử…! Mặc dù có tuổi đời mấy trăm năm nhưng mắm tôm chà Gò Công chỉ mới được dân sành ăn xa gần biết tiếng chưa đầy chục năm gần đây. Lão tiền bối Năm Hổ kể rằng, trong những câu chuyện do ông bà nhiều đời truyền lại đều có chi tiết: mắm tôm chà ngày xưa được người Gò Công xem là món quà quê trân quý, chỉ dùng để biếu tặng mỗi dịp lễ tết hoặc sử dụng vào dịp giỗ chạp, không ai làm mắm để bán. Ông Năm Hổ cũng không ngoại lệ, dù nghề làm mắm tôm chà là gia truyền nhưng cách nay 20 năm gia đình ông mỗi năm chỉ làm vài ký để biếu bà con họ hàng ăn lấy thảo, không xem nghề này là kế sinh nhai. Mãi đến khi tỉnh Tiền Giang chọn mắm tôm chà là một món ngon thuộc hàng đặc sản cần phải giữ gìn, phát triển để phục vụ du lịch và quảng bá trong thiên hạ thì nghề làm mắm tôm chà ở Gò Công mới được “thương mại hoá”. Nhưng đến nay xứ Gò Công cũng chỉ có 5 cơ sở sản xuất, mỗi năm tung ra thị trường vài ngàn ký. Ông Năm Hổ nói, năm nào Tết Nguyên đán Việt kiều cũng thuê xe xuống Gò Công đặt làm mắm tôm chà để mang đi, ăn dần cho đỡ nhớ quê. Mở được cửa hàng bán loại nước chấm thượng hảo hạng này ở nước ngoài là chuyện ông Năm Hổ luôn ao ước. “Tui đi du lịch nhiều nước rồi, đi tới đâu cũng lận theo keo mắm tôm chà để chào hàng, bà con mình chịu quá. Có điều, tới lúc mở được cửa hàng ở nước ngoài, đơn đặt hàng nhiều quá thì không biết làm sao có đủ tôm bạc đất để làm mắm à nghe”, ông Năm Hổ lo xa. Bài & ảnh: Hùng Anh nguồn: http://fdlserver.wordpress.com/2008/05/21/...%A7a-hoang-gia/
  24. cháu viết sai themselves thành themself (ở bài Hung Vuong period clothing) nhưng không sửa được, bác Thiên sứ sửa hộ cháu được ko ạ? ở dòng thứ 3 đoạn cuối cùng sau câu "The Hung Vuong is CN 1500 years ago." đấy ạ! Mà người ngoài dịch họ lấy 10 đô một trang ko biết là cỡ chữ bao nhiêu? vì chỉ cần thay cỡ chứ từ 12 thành 14 là một trang đã thành trang rưỡi rồi. Thật là nguy hiểm! mà phòng thương mai và công nghiệp Việt Nam dịch chỉ có 5 đô một trang tại sao lại có người lấy bác 10 đô một trang nhỉ?
  25. INTRODUCTION Vietnamese peoples proud of nearly 5,000 years civilized tradition. Our tradition is recorded in writing (Since 2879 BC, according to the Vietnamese history written by the imperial court) and cover thousands of years in the ethnic community to the recent. It can be affirmed that the Vietnamese nation is the only nation in the history of humanity honor the cultural values of their culture with the name “văn hiến” (the culture which towards the elevation). A complete and convincing universal unified doctrine as Âm Dương Ngũ Hành (Yin-Yang)- popular and applied to every detail in the daily activities of the Vietnamese, these knowleges has created the thickness of a culture - the foundation of the transcendent Oriental cultural values- enough to against all the destruction of time, with ups and downs of history. But for over a decade ago to recent, has a lot of researcher both in and outside the country - Almost in flat, on the name of science - made new comment about historical culture of Vietnamese peoples. They said that: Source of ethnic Vietnamese – “Hung Vuong period is only a inceptive state; formed around VII th century BC "and "in essence, it is only a coalition consisting 15 tribes." Therefore, clothing of the Vietnamese’s ancestor - as they argue – just the people who is "half-naked and wearing a loin-cloth”. Although this theoretical point is in the name of science, they never made criteria to illuminate the argument called "science". Or, put another way: The new argument of the sources of Vietnamese civilization only demonstrated the subjective look with the very limited logic and completely unscientific basis, although it is on the name of science . These theoretical points are unconnected, unsystematic and are unable to explain the phenomena related to it. the considerable thing is: there are many different hypotheses about the origin and essence of the Hung Vuong - source of Vietnamese peoples. Although they are on the name of science, but these theoretical poits have many different basic of content, disorder and very conflicting. Someone said that: "The Hung Vuong exists only about 300 years, with people who is "half-naked and wearing a loin-cloth” Someone speech: "The Hung Vuong beginning X th century BC and is an alliance of 15 communications. at the most is a initial state." Someone have ideas that: "The Hung Vuong can be 1200 years BC" Someone said: "The Hung Vuong is 1500 years BC." They argue excitingly, opponency, enthusiastic rejection, like objective opinions were criticized. Of course, because of the illogicality of it, so the arguments called new historical comment which review the history and traditional of ethnic Vietnam rejected themselves by the illogicality and contradictory in the comment of every points. All the negative comment points of historical tradition that can have only one right or all wrong. They never can complement each other because of the conflict between that comment. There is one thing, all the creator who created the negative comment about the source of Vietnamese cultural historical traditions, they have forgotten one thing that: though who they are , which academic title, individual or team, they are not eligible enough to think that: their argument is "scientific basis". Because, the knowledge of the people who is on the name of science, not a "scientific basis" to assert the scientific of a science hypotheses. Whether it is knowledge of all Academicians of forestry science welding England, it will be very jerky when they talk like this. Therefore, need to have scientific criterion to be the basis of assessment of the scientific theoretical points of Vietnamese cultural historical traditions. Can not have a hypothesis which is on the name of science can negative the scientific criteria of it. On the basis of scientific criteria for a scientific hypothesis, we say that: "A scientific hypothesis is only consider as true; if it is capable of explaining most of problems and phenomena related to it consistently, complete, systematic, logically, objectivity and ability to prophesy. Stem and in the name of scientific criteria above, I would like to presented a theoretical points which is opponent with new comments about " Hung Vuong period ethnic clothing. To start on the content of the article, you see the picture below illustrates the clothes of the ancestors of Vietnamese - who pround of 5000 year civilization - described according to the new historical concept. Really, there are no different from the Indian tribes a few hundred years ago. Hung King and Lang mandarins (the History of Vietnam by picture; set III. Trẻ Publishing 1998.)Of course, there are not any minimum scientific basis to prove for formal clothes in the picture above which they called the ancestors of Vietnamese. Because, there are not a scientific argument to prove that the clothing on the image above is the the Hung Vuong period clothes, but it is the imposition of people who have opinions deny traditional cultural values of Vietnamese. The Essay that I honor presented here, is a continuity prove on the basis of science -through the scientific criteria - about the civilization cover almost 5000 years of the Vietnamese. In my essays and books published, I have proved that: The theory Âm Dương Ngũ Hành (Yin Yang Wu Xing) - philosophical theory of the ancient Eastern cultures - belong to the Lac Viet civilization (Lac Viet is Vietnamese ancient name). Not a dynasty of China considered that this doctrine is a orthodox doctrine. But whereas, in Lac Viet civilization, the basic principle of this theory is applied to each phenomenon in the life and clothing of all peoples - it is the main subject of this article. In this topic I honor presented to you, interested people, about clothes of the ancient Vietnamese and the influence to the area nearby Lac Viet culture - including China - and ethnic clothes today. You can consider as this is the continuity prove of the theoretical point that the Âm Dương Ngũ Hành theory belongs to the Lac Viet, it is also the proof for ethnic clothes and it is the opponent answer for the new comment about Vietnamese ethnic origin. The evidence for ethnic Vietnamese clothes is the continued scientific criteria for the interpretation a reasonable system, consistency issues related to it with objectivity, as of rules and the ability to predict of the view that: Cultural history of Vietnamese traditional underwent nearly 5000 years. Hùng King period clothing part 2 Ethnic clothing and ethnic cultural identity: Ethnic clothing is one of the important factors show the cultural identity of that peoples. If it have not a cultural identity, it is hard to consider it as a peoples. Therefore, if at the time of Hung Vuong, popular clothing of our ancestor is only "half-naked and wearing a loin-cloth", as most historians today think, we could not consider that is a cultural identity. Therefore, it is hard to talk about cultures of the starting time of Hung Vuong, which can only be regarded as a stage in the natural evolution of human history. Historical concept define that: "The history of a people is only counted from the established time of that people". So, the issue of Hung Vuong period clothes particularly important and is one of necessary elements, to demonstrate the civilization of Vietnam, beginning at the era of Hung Kings. The confirmed of cultural identity through ethnic clothing, not simply expressed civilization but also asserted the independence and particular trait of that peoples. When the Manchu dynasty invaded China, one of the first thing they do is forced people to dress their ethnic clothes. Vietnam's history is recorded: Lord Nguyen - to create a cultural identity for Đàng Trong - they've forced people wear clothes adapted from China. The following text extracted from the book: "Find the cultures of Vietnam" demonstrates this: "Therefore, in the 1665, King Lê Huyền Tông must issue a royal decree to forbid women to wear skirt, to preserve national procedures. At that time, the end of XVII century, to create the opposite of the Đàng Ngoài, Lord Nguyen in the South has ordered the men and women "used North country clothes " (China) to show the transformation." Events that occurred on XVII century has demonstrated that: ethnic clothes are very important, because of the factor confirmed the cultural identity and independence of a nation. This event also showed at least 700 years after the Vietnamese national renaissance, the Vietnamese have shown a clothing culturally specific. This culturally specific - expressed in ethnic clothes (of course not only women's clothing) - has ever since? If the men at the time Hung Vuong only wear loin cloth and half naked, according to the new concept of Vietnamese history, so Vietnamese express the cultural identity through clothes in particular in which time of the history? Writer believe that the new historical concept which deny the value of traditional Vietnamese culture, will not be able to prove "specific identity of the ethnic Vietnamese clothing just start from the national renaissance- Ding; Le; Ly Tran ... ". Because, in fact clothing express national identity had existed earlier: From the time of Hung Vuong, the origin the Vietnamese culture. In other words: "People can not prove a true from a false one" But with the question above, itself is only a hypothesis on the most common issue: People in a society have created a completed world view system, it is Yin Yang Wu Xing and the comprehensive application on most issues that people care, this society has completed organization with full awareness complexion of its morphology in the humanity culture and in social relations with moral values, expressed through the rituals with human nature lie the legend of the "Betel and areca". With a society which is introduced like that but it is not Van Lang, whether we can believe that: The people in that society is very primitive living "men are half-naked and wearing a loin-cloth, women wear skirts "or not? Therefore, official clothing and popular in Van Lang society , surely must be consistently fit with what that society has. That mean it must have sufficient clothes in social activities and in leaders social class, must have enough clothing to show the solemnity of ceremonies of the country. The proof of ethnic clothes in the social of Hung Vuong period is the continued development of the comment proved 5000 years civilization of ethnic Vietnamese, demonstrated systematic, consistent and complete and available function to explain all matters related to it impartially, rules and foretell ability. To prove to the comment above, please compare the illustrative picture, images of archaeological relics and the arguments presented below. If the picture above illustrate for "the legend of Nhất Dạ lagoon", certainly it can illustrate for the activities of Chu Dong Tu when he is not an orphan yet in the story in Hùng King period. But it is copied from the book "sketch of Vietnam early 20th century" (Trẻ Publishing 1989 - Nguyen Manh Hung introduced). This is the collection of a French scholar named Joseph Henri Oger. In other words, right in the 20th century these people still in the “loin cloth and half naked”, but these clothes are not popular in social activities at this time. The big image above, which you are considering, is a famous folk paintings "making a scene of jealousy", line of folk paintings of Dong Ho village. That picture is rich of humanity, shown in the image of the kid put his hand together and prostrate himself before his parents. Two women in the picture are not in the Hùng King period, but the reader can compare with the illustrative picture of Hung King period clothes in the upper left, it is printed in the book "History of Vietnam by pictures (Trẻ Publishing 1996, volume 3th). Sure you will be surprised about the similarity of the two women in the picture. Of course the illustrative picture in the book "History of the Vietnam by picture" does not reflect the truth about popular clothes in activities of the Hung King period. Because it can not reflect the similar in the distance of nearly 2,000 years according to the new historical opinion on Hung King period clothes that they describe with the Vietnamese folk paintings. Now, we compare the bronze effigy on the knife staff with popular northern women clothes in the picture below: The picture above which you are considering is a cluster of picture, are grafted of bronze knife staff from the Hung King period - dating is determined to be 300 years BC, was found in Lang Ngam - Ha Bac - carved a women with Hung King period clothing and the picture describe the clothes of a Northern woman-draw by writer, is grafted next to this cluster of picture, it is easier for you to compare. Type of clothes in this picture is not popular, but you can still see in the elderly living in a rural town far from any city in North Vietnam, in this year 2008. It is the last generation lie down on the hammock and sing a baby to sleep, by telling ancient tales and legends of a country Van Lang - where the original of Vietnamese lived - before cede to the media mass and the wisdom researcher talk about their stories. Through the illustrative picture which was presented to the reader above, we also recognize the match entirely by the contours of the clothing on the knife staff and the modern clothing Vietnamese women still wear nowadays, but not popular. This proved a keen saying, dress of the women still wear currently in the North is a continuation of traditional clothes from Hung King period shown on the bronze knife staff. Simultaneous comparison also shows: From 2300 years back now - basically - the form of popular folk clothes have no significant change. Particularly exciting and darkest time in the history of Vietnam, it was 1000 year dominated by the Chinese with fierce assimilative conspiracy of the Chinese. Thus, we completely have bases to say that: Since the appearing of the bronze knife staff which shows clothes from Hung King period 300 years BC, there are not many change. So, we can confirm: Under the Hung King period, our ancestor had clothes which are similar with popular Vietnamese clothes before the time Trinh - Nguyen conflict (about 18th century) and similar with ethnic clothes still exist in rural Vietnam. Thereby, we also realize that: clothing for the popular strata of society Hung King period brought specific cultural characteristics of ethnic Vietnamese, ethnic Vietnamese and its society must have a developed civilization to manipulate that sophisticated clothing structures. Hùng King period clothing part 3 Clothing of upper strata in Hùng King period Of course, in a civilized society of ancient times, when the popular costumes of popular classes were complete and diverse, clothes of the upstream is also consistent with its class, for the formal and the implementation of the national ritual culture. Now, we continue to compare the image below to demonstrate clothes of high class in the social strata Van Lang and find the original point of Lac Viet clothes The image above which you are considering is the copy from the comic "The romance of three kingdoms" made by the Chinese artists, Mui Ca Mau Publishing again in 1995, full set of 30 volumes. This is the picture number 3795 set 16. Image of a man in the highlights of the picture is Sun Quan (II and III century AD). Pictures of women between clusters is Madame Sun, Sun Quan's sister, Liu Bei's wife also copy from the comic above. Please compare all the clothes of the "The romance of Three Kingdoms" characters, shown the Sinic culture in the picture above, with the the people on the handle of the bronze knife in the Hung King period which is 500 years earlier (From data in the book "Age Hung King "Social Science Publishing House, Hanoi 1995). You will see a similar in clothes. The only difference is the large sleeves of the "The romance of three kingdoms" character's shirt and the tight sleeves of the effigy on the handle of the bronze knife, the remain clothes almost entirely the same. If the clothes of "the romance of Three Kingdoms" regal is not to imitate Hung King period clothes, so the clothes of the girl on the handle of the bronze knife of Hung King period definitely can not imitate the characters in "the romance of Three Kingdoms". Because, this knife's date is earlier than "the romance of Three Kingdoms" period at least 500 years. The problem does not just stop there. About clothes of the high society of social Van Lang, I would like to present a quote in Kinh Thư (書經 Shū Jīng). Kinh Thư is a work ever be deemed to be a product of civilization of China, but there are many proven hallmarks of civilization Van Lang. The first imprint of Lạc Việt people in the Kinh Thư proven in the book "Hung King period, the legend and myth" (Nguyen Vu Tuan Anh. Publishing Culture Information 2nd edition - 2002) is a "Hồng pham cửu trù", the first constitution of the Lac Việt. The following excerpt concerning ethnic clothes Hung King period quoted in the book "Thượng Thư (books for the king) - books recorded utmost antiquity" (translation Võ Ngọc Liên, Trần Kiết Hùng. Đồng Nai publishing house 1996, page 156): Three categories such as sun, moon, and stars were used to make flag (banner), the dragon to aim king's clothes, the tiger to aim highranking madarin's clothes, the distinction depend on three different types of clothes : cổn miện (crown for the king), tệ miện (hat for high ranking mandarin), tuyệt mịch (high ranking mandarin's belt). Name of three types of clothing are based on drawings on clothes to call, as "cổn" (crown) there is dragon crown, there are nine rank, "long cổn" (dragon crown) is in the lead. "Tệ" means pheasant. There are seven kind of "tệ triều" (clothes of high ranking mandarin when they attend the king's audience), the tiger is in the lead. Through the passage, readers find that "cổn miện" (means the king's crown) has nine rank. which "long cổn" is in the lead; "tệ miện" is the pheasant-shaped hats. About the image of the dragon-shaped crowns of king and pheasant-shaped hats of highranking madarin - oddly - it was proven on the bronze drum of civilization Van Lang. Readers are easily to find, the hat of the people on this picture of the bronze drum shows the head of dragon and the phoenix which have been stylized to show status of that people, it is coincided with the Kinh Thư.In the first few chapters of Kinh Thư, the word "viết" (means "to write") was read and write like the word "Việt" (means ethnic Viet). "Viết nhược kê cổ" also is "Việt nhược kê cổ" *.The most Chinese ancient annotators, such as Mã Dung and Khổng An, explain it is prelusive saying but they don't give the reason why writers used that saying. why the word "viết" and "việt" were used in a jumble... So that there are double-meaning opening sentence "Việt nhược kê cổ". Both Mã Dung and Khổng An believe that "nhược" means "thuận" (means "to consent"), "kê" means "khảo" (means "to enumerate"). So that the sentence above means "Vietnamese consent to the king to enumerate ancient things". If it is "viết nhược kê cổ", the sentence will be lack of subject. If it is replaced by "Việt", the subject of the sentence is Vietnamese, but it is grievous if cite the Vietnamese in kinh Thư, so they believe that "Việt" and "viết" is the same... *Note: _"Viết nhược kê cổ" means "to write to enumerate ancient things" _"Việt nhược kê cổ" means "Vietnamese consent to the king to enumerate ancient things" Through the excerpt of Mr.Kim Định, that writer does not think: "Việt nhược kê cổ" means "the Vietnamese consent to the king to enumerate ancient things" and more Vietnamese people can not have the credit of copying the Kinh Thư for the civilization of China. From analyses above, completely, we have facilities to put a doubious question mark about the true origin of the Kinh Thư: Affordable the famous books is derived from Van Lang civilization? And the question can be understood as: "brief ancient stories of Vietnamese" So, with the mark of Van Lang civilized evidence in Kinh Thư; absolutely can not believe that: Clothes of the time of Kings Yao, Shun coincided randomly with a image on the bronze drum. This phenomenon can only be explained logically that: Dress of the monarch referred to the Kinh Thư, is the Van Lang monarch's clothes. The issue coerce into accepting that King Yao, Shun manipulated clothes like coerce to accepting Van Lang academic civilization to the kings of ancient China, when the images of the monarch clothes shown on the bronze drum of the Lac Viet civilization. Kinh Thư is the book "brief ancient stories of Vietnamese", this has clearly stated right from the first sentence of the book "Việt nhược kê cổ" and its contents completely coincide with archaeological relics related to Vietnamese culture presented. If according the new concept which believe that: Hùng King period existed only a few hundred years (VII century BC) and areas of Van Lang integrity only in northern Vietnam, it will not be contacted and there is close demonstration of an association between the clothes on Lac Viet bronze drum to the monarch of King Yao (about 2000 years BC according to Hanja documents) shown in Kinh Thư, by a distance of tens of thousands of miles geographical and millennia of time. Back to the clothes issues , the comparison above shows: The presence of King Yao (2253 BC) in the prescribed clothing for the monarch, in association with the image on the Lac Viet bronze drum (an archaeological relics), has proved keenly that: Van Lang civilization was manipulated not only the common clothes for people in society, but also in the high strata, there were clothes shown the solemnity in nation ceremonies and the distinctions in hierarchy. This additional demonstrates for the matters presented above and there is continued connection: * Image on the bronze drum that Professor Nguyễn Khắc Thuần said: "picture of dancing people" in fact they are pictures shows the leader of Van Lang State implementing the national ceremonies. This is evidenced by the dragon image and the phoenix bird image on hats they are wearing. *Since that we take the the question: stylized Rectangle on their hand are document which were read during the ceremony. It was demonstrates by the corrugations on the top of the rectangle. This hypothesis additional evidence for the existence of a writing system of the Lac Viet people. * The existence of images of leader of Van Lang state on the bronze drum are: King = wearing dragon-shaped hat; high ranking-mandarins = wearing phoenix bird-shaped hats, it has confirmed the existence of a close organization state in ancient times, similar to the powerful ancient countries at the same time. The clothing has existed for millennia BC in Van Lang civilization, has become a cradle for the cultures embodied in the tradition of Vietnam today. These arguments and images illustrate the clothes on Hung King period is complementary with a archaeological finding: 19.2.1.1 First, it is silk. Along with planting rice, sericulture has existed very early. In the archaeological site of the late stone about 5000 years ago (like sites Bầu Tró), has found trace of the fabric, there is terra-cotta plumb (to twine treads) . To the Dong Son period (about the 3000-2500 years ago), the people on the bronze drums evenly wear shirts, skirts, and loin-cloths. Transplanted rice and mulberry cultivation, agricultural and sericulture - it is the main task and always associated together of agriculture in Vietnam. From the ancient Han people always see they are two most typical features of Southern culture: those are the first two main features that Từ Tùng Thạch mentioned in the book Việt Giang 178 basin people (Việt Giang 178 lưu vực nhân dân) (Kim Dinh 1971a: 108 ); the word "Man", which Han people refers to allude the South people (Vietnamese) contains insectan meaning which allude silk-worm. (to Find cultures of Vietnamese character - this book has quoted above) Hùng King period clothing part 4 The intangible cultural heritage, ancient texts and archaeological related Through the presentation above we going to a comment: images of human half naked and wearing loin clothes - if it is mentioned in the relics from Hung Kinh period - then it just shows pictures of the festival, or describe working scenes .... The picture shows the folk festival titled "wrestling" in the line of Dong Ho paintings, it described participants in the the festival are half naked and wearing loin clothes, but readers will surely don't think that common clothes in social activities at the time of this painting are all loin clothes and half naked. Similar to martial artist of the modern Japanese Sumo, but sure clothes of modern Japanese is not a Sumo martial artist's clothes when they are on station, means "half naked and wearing loin clothes". One period went to legendary history, suffer the ravages of thousands years history, of conquered army by the Northern dynasties. The archaeological relics found belong to this era, not enough to prove keenly for the common clothes of human in Van Lang civilization . The cultural value of clothing found in the archaeological relics only are the bronze knife staffs (handle), represents a form of clothes in Hung King period. How can find the clothes in the ancient tomb dating back several millennia ago? Therefore, very surprised and really hurt with a dogmatic conclusion about ethnic clothes with the perception that: "There is no archaeological relics found that proved the traditional history of 5000 years Vietnamese ethnic." I do not entirely negative value of the relics archaeological found. However, it should be stated that: "archaeological relics are not the only evidence to prove a historical comment . The thoughtful of ancestors to descendants have had the opportunity to find the original point of cultures of Vietnam. It is the cultural heritage handed down in folklore as the fragile rays - but very sharp - left in the old directory is still handed down millennia, have demonstrated for the cultures of the ethnic Vietnamese experienced in 5000. The match images between ancient objects of Hung King and the cultural heritage left, the development proved more logical connection with the phenomena involved, a condition essential evidence show ability to reflect reality and is the basis of scientific theories about clothes Hung Vuong time in this article. In the book Analects, Charter Hiến Vấn , when commented on the important role of Guan Zhong to the Qi and its influence to the society of China, the Confucius has said: "If there was not Guan Zhong, we must gather our hair into a bun and set the flap to the left like Man Di people" *Guan Zhong: Prime minister of the Qi. *Man Di: the name which Chinese used to call Vietnamese in the ancient time. Readers can find a saying of Confucius has led in most of the books translated into Vietnamese language related to Analects, such as: "Analects - scripture of China. Publishing Dong Nai 1996, Ho Si Hiep compiled, Tran Kiet Hung Correction, page 208; or right in the book "History of Chinese civilization. author Witt Durant, translated by Nguyen Hien Le. Publishing Culture and Information - 1997. Page 32 ...)... Maybe the opinion of negating cultural values of traditional ethnic Vietnamese were admitted by "most scientists in the country" and the so-called "scientific community in the world", but there is not anyone see the book Analects? Guan Zhong - Prime Minister of National Qi in Spring and Autumn Period - lived in early 7th century BC, year of birth unknown, died 654 BC, who put the Qi became a powerful country, the word hegemony almost Zhou Dynasty. This is equivalent to the time period that the researchers have based on the Việt sử lược, said: "This is the first stage of the Hùng King period." Việt sử lược writed: At the time of Trang King of Zhou Dynasty (698-682 BC), in the Gia Ninh area, there is a stranger used magic to conquer tribes, claiming to be Hung King" Therefore, through the cited above we also found the closely equivalent of the date of Guan Zhong's time (d. 654 BC and the time of (Trang Vương)Zhou Zhou Dynasty: 698-682 BC) and established time of the national of Hung King under the new look - which they said: "Hung King period appear only around VII century BC. It is ridiculous when the Confucius admitted a developed civilization at the area right next to residence of Chinese peoples, able to influence and dominate the development of this civilization. Researchers already have said: "The Man Di people is in the North of China" (?). In fact, in the ancient bibliographic Hanja, there was not any time they use the "Man Di" to refer to the Northern Chinese people. Contrast, in the ancient bibliographic Hanja, "Man Di" are words used to refer to many Vietnamese people. The word "Man people" in a saying of Confucius is not a common noun to refer to the ethnic peoples have developed different levels, live in Southern Yangtze River. Here, Confucius has refers to Lac Viet civilization. To prove this, please see the picture of the cultural heritage of folk Vietnam: The picture that writer show here is copied from Heritage magazine, published at september and October of the 1996 Aviation Administration of Vietnam. Absolutely no use computer techniques to flip horizontal picture. Readers can verify this by right hands of some characters stand in the picture. Sure you will recognize immediately: this is the main character in the water puppet, an unique folk art of the Vietnamese. Readers also see flaps of these characters is in the left and little buns of these water puppet characters. Until the early 20th century, most of the ethnic Vietnamese men still gather their hair into a bun. This thing certainly does not need to prove. At this point, the question is: What is the base that the traditional water puppet craftsmen used to carve the characters which have shirt flap in the left? The phenomenon "puppets have shirt flap in the left" is a random, or derived from the fact which existed from cultural original point produced it? When thousands of years have passed, we look familiar with the right flap, what does "the flap to the left of the water puppets" contact with the question of the book Analects of Confucius: "If there was not Guan Zhong, we must gather our hair into a bun and set the flap to the left like Man Di people" Have water puppet characters handed down from generation to generation among the common people reflected the clothes of actual activities of the Hùng King period? Regretfully! Water puppets which have flaps in the left today is very rare. They've modernized it by giving it a flap on the right. But fortunately! This is not the only evidence for ethnic clothes of Hùng King period. Please continue to see the image below: Dao ethnic dress in Phu Tho Taken from the article "open the door to find each other" Ngoc Vinh & Luong Ngoc An (Tuoi Tre newspaper Saturday August 6, 2002) Of course the author of this article has no good intention to introduce ethnic Dao clothes and help to demonstrated opinion of the writer. Dao ethnic is an ethnic with a long-standing culture in the ethnic communities in Vietnam. Therefore; ethnic clothes are also still retain the traditional culture of the old Van Lang: On the clothes of the couple in the picture above, readers also found the men has a flap put in to the left, the woman has a flap put to the right. Image above is taken directly by writer on VTV3-television programs. The content described a wedding of ethnic Mong. We once again find the mark on clothes from the ancient ancestors for thousands year ago with men wear clothes with flap in the "left" and women in the "right": And yet, there is a great sign, it is famous carvings on a cave in Hunan province, in the South of Yangtze river, dating back over 2,000 years, but people living in this region still retransmit: It is the King Fu Xi and Nuwa. We find that the shirt flap of King Fu Xi is in the left and the shirt flap of Nuwa is in the right. Dao and Mong ethnic groups living in remote mountain areas, so they have little influenced by Han culture. Therefore, the phenomenon of the male shirt flap settings on the left in the clothes of the nation left till nowadays, along with materials presented above: Those are evidences in the serial culture proceeded from thousands years ago and until now in the cultures of Vietnam, an imposing legendary in the South Yangtze river. The evidence presented at that comment completely fit the criteria of science: "A scientific hypothesis is only consider as true; if it is a reasonable explaination for most matters relating to it; is objectivity; systematic, regularity and capable of prophets." The problem is pleased represented with readers, to prove an advanced culture existed in the South of Yangtze River that Confucius has mentioned. Through the contact in the previous section, demonstrates the "Hùng King period clothing" continued through the images below. Image below is a composite image, copied in the "Hùng King period" book (books has led) the bronze knife handle described clothes of Hung King period and the puppet characters in the role of "Fairy Dance". Through the image above, sure you will find a complete coincidence in form of the hat on top of the puppets and the hat on the bronze handle. Besides the coincidence of the hat, there are some other traits on the clothes of the two objects also coincided almost completely. From that, it can lead to the sensible connection for a common particular structure for overall clothes of Hung King period through water puppets. Or in other words: we completely have actually scientific base when using the selected model of the traditional water puppets to restored clothes for Hung King period. The problem also does not stop here, as we continue to compare the hat on the knife handle - was confirmed dating from Hung King period - with hats on the water puppets "Fairy Dance" and hats on two statues Tien Dung and Ngoc Hoa princess, now they are worshiped in the Hùng temple: statues of princesses in Hùng King period Documentary image taken at the Hung Temple, Phu Tho. Currently, there are many water puppet plays written nowadays, or in the previous century. But the play "Fairy dance" is a traditional play, exist long time ago in art of puppet of Vietnam, all the puppet company have that play. Therefore, the role of the puppet "Fairy Dance" certainly has appeared from time immemorial. Over a distance of more than 1,000years the Chinese domination, water puppets art had recorded in the stone stele Sùng Thi Diên Linh - Lý period - Đôi Sơn pagoda (Duy Tiên, Nam Hà province), at the beginning of the Vietnamese national renaissance, thousands of years ago. But that does not mean that the puppet appears only in this period. Temple of 18 Hung Kings period determined built (or renovated in XIV century). The bronze knife handle is about 2500 years ago and only discovered a few decades ago.First we need to confirm that: puppetry "Fairy Dance", the princess statues at Hùng Kings Temple and the bronze knife handle are products of intellectual creativity. Puppetry "Fairy Dance" and the princess statues at Hùng Kings Temple had existed before finding the bronze knife handle with distance more than 2000 years for the creation of this two objects. Therefore, it can not be considered as a copy from the handle of the knife or a random match. Form of existence of similar cultural heritage with distance more than the millennium, therefore they must have the same original point of the culture which had created them, but not determine the beginning of the form of its existence yet. But certainly not after Hung King. The match was almost entirely in the form of clothes of the cultural heritage with archaeological relics - was found before the existence of cultural heritage - affirm original point of culture and its starting point of form is the Hung King era. Hùng Kings period clothing part V All comparisons above and demonstration proved that: clothes for the Vietnamese nation in Hùng Kings period was reflected on the water puppet characters. And a saying of Confucius: "If there was not Guan Zhong, we must gather our hair into a bun and set the flap to the left like Man Di people" is a next logical contact, to show these clothes are from the VII th century BC in Lạc Việt civilization. These match contact, related phenomena were completed by a section quoted in the ancient history book: Tô Đông Pha (苏轼) has wrote: ... Nam Việt nation, from the Tam Đại period to the less, there were not any reign could quell revolts. At the Qin (246-207 BC), although we had set mandarins to rule, then they were back to barbarous status . Bị Ly defeated that country and divided into nine districts. But in the Eastern Han period, there was a girl named Trưng Trắc, raised an army for a war, had shook 60 towns. Contemporary time, ancestor King has pacify the under heaven, he saw that people were already tired and bored of using soldiers, he closed Jewel Gate from Western Regions. Nam Việt is the deserted place, not worth to upset the military of the king, if there was not Tuân Tức Hầu (Ma Yuan) took the time to suppress, the nine districts people still set flap to the left until now .* Through the above excerpt, once again we see the rationality between the phenomena and problems related to the flap set on the left of nine districts of Nam Viet . This demonstrates the uniformity of culture in the land south Yangtze River, it is completely different to Huaxia culture. This is the land: North faces Dongting Lake; South bordering Hồ Tôn (?); western borders Ba Thục (?); Eastern bordering the East Sea of old Van Lang. The existence of cultural setting clothes on the left of Nam Việt, contact to book Analects of Confucius has demonstrated that: Before the 7th century BC and farther - from the Tam Đại period (?) - Lạc Việt culture is a preeminent culture in the area. Influence of this culture is significant, because "If there was not Guan Zhong, we must gather our hair into a bun and set the flap to the left like Man Di people". Confucius do not only admitted from ancient China. Tô Đông Pha (苏轼) in medieval also continue confirm this. And the modern day, the Chinese researchers also acknowledge it . Readers please read the excerpt below: Mysterious ancient tombs discovered in China Archaeologists have unearthed one of these tombs over 2,500 years old, may belong to a king of mysterious reign Ba (Ba Kingdom) . In addition to the 500 bronze objects, in the tombs also have the skeleton of the two woman and a man, faces up towards the sky and the East. Research team suggest that this may be the entourage or vassal is buried with kings. If confirmed, this will be the archaeological findings related to the most important Ba dynasties . The tomb is in Luo Jiaba , Sichuan Province, it has characteristics typical of a tomb of the highest class among the tombs of the dynasty was found. 31 other tombs have been excavated in the area. Most of the bronze objects are weapons (such as lance, sword, dagger and axes), or objects used in worshiping corresponding to the supreme position of the tomb owner.Ba reign covers three areas of Sichuan, Hunan and elsewhere in southern China before disappearing in mysterious circumstances around 2,000 years ago. The people of this era is described as the aggressive and brave warriors . However, their origin, social structure and culture remains a mystery. Minh Thi (according to Xinhua) Thus, with all these problems proved which related to Hùng Kings period social status showed a reasonable correlation, confirmed the truthfulness and definiteness of Vietnam's ancient cultures of a nearly 5000 years of ethnic Vietnamese (from 2879 BC to 2001), an original point of the Văn Lang nation. West borders Ba Thục (?); northern borders Dongting Lake; South bordering Hồ Tôn (?); East bordering the East Sea. the time which is considered as "a mysteriously vanishing around 2000 years ago", is the time of the collapse of civilization Văn Lang. Phenomenon "setting flap on the left" is suitable to the popularity application and principles, relate to people of Eastern ancient academic theory which is Yin Yang Wu Xing doctrine. That is the principle of "male left, female right". Yin Yang Wu Xing theory concept that: Movements of Yin Yang are always metabolized to each other. Yin is in the Yang and vice versa. Males is installed in the Yang so males set shirt flap to the left of Yin, females is installed in the Yin so females set flap to the right of Yang. Phenomenon "setting flaps to the left" is an evidence proves the theory Yin Yang Wu Xing belongs to the Vietnamese and applied in detail of daily activities and social life. This phenomenon is an additional opinion about the origin of the ancient Eastern academic originating from cultures of Lac Viet. This is the evidence to confirm that: Lạc Việt civilization at the time 7th century BC has developed brilliantly in many aspects. Contact the clothes of the water puppets and the origin of Lạc Việt folk art with archaeological relics and bibliography, also led to the continuation of contact to many social and cultural issues at the time of Hung Kings, such as music, theater, art, etc.... are related organically to a water puppets stage. From arguments and cited the above, all have a basis to assert that: Hung Kings period clothing have completed and set the form in all strata of society, the hight classes have had the solemn clothes in countries ceremonies . Vietnamese completely have scientific basis to prove the original point of nearly 5000 years culture in all aspects. ----------------- * Note: An Nam chí lược; Lê Tắc; First Volume ; "Ancient Area" item. Hue University in 1961. Father Professor Cao Văn Luận.
×
×
  • Create New...