Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Rin86

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    968
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by Rin86

  1. Rin86 tin tưởng vào khả năng của sư phụ nhưng mà nhiều người phê phán làm Rin86 buồn, nhưng nay thấy chính bác Thiên Sứ rất vững vàng, lạc quan thì thấy vui trở lại. Cháu cám ơn bác nhé!
  2. Quá tuyệt vời, cực kỳ tự tin, lúc đầu Rin86 lo người ta sẽ hạ thấp uy tín sư phụ nhưng thấy sự phụ vững vàng như vậy thì Rin86 không lo gì nữa http://www.lyhocdongphuong.org.vn/forum/public/style_emoticons/default/grin.gif
  3. Món cao lầu chứ gì http://www.lyhocdongphuong.org.vn/forum/public/style_emoticons/default/wink.gif
  4. Hum 2/9 vừa rồi RIn86 bay vào Hội An chơi, Hội An đẹp lém mọi người ạ ^^ http://www.dailymotion.com/video/xepb7i_p1050902_people
  5. Người ta bảo là các vua Hùng dùng lối thắt nút, nếu có vương quốc thứ 2 trên thế giới dùng lối chính sự thắt nút thì đó là đây: http://vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2003/07/3B9C94F0/ Chữ viết của người Inca ẩn giấu trong các nút thắt Hơn 500 năm trước khi máy tính ra đời, những người Inca sống trên dãy núi Andes (Peru) đã phát minh ra một mã nhị phân 7 bit để lưu trữ thông tin, và thể hiện chúng bằng những chiếc khipu thắt nút. Phát hiện này thách thức quan niệm lâu nay, rằng Inca là nền văn minh đồ đồng lớn duy nhất không có ngôn ngữ chữ viết. Khipu, trong tiếng Quechua (ngôn ngữ chính thức của đế chế Inca) nghĩa là “nút”. Vật trang trí này gồm một sợi dây chính, từ đó toả ra nhiều dây đối xứng nhau (có thể gắn theo các dây cấp hai hoặc cấp ba), trên có nhiều nút thắt hoặc các mấu. Năm 1923, nhà khoa học lịch sử Leland Locke đã chứng tỏ rằng khipu không chỉ là vật trang trí bình thường, mà là một loại bàn tính bằng sợi, trong đó các mấu có chức năng lưu trữ kết quả phép tính, giống như các hạt gỗ trên bàn tính của người Trung Hoa. Tuy nhiên, quy luật của Locke chỉ giải được một phần nhỏ trong số 600 khipu tìm thấy trên vùng đất này. Người Inca từng cai trị một đế chế hùng mạnh nhất thời kỳ tiền Columbus ở châu Mỹ, trước khi thực dân Tây Ban Nha tới xâm chiếm (năm 1532). Do không ai giải mã được các nút đó, nhiều học giả lập luận khipu thực chất chỉ là những đồ tự tạo ngẫu nhiên của ai đó trong cộng đồng Inca. Một số người thậm chí còn xem chúng như những “vật ghi nhớ”, với mục đích kể lại các câu chuyện cổ hoặc nhắc chủ nhân của nó phải làm việc gì đó. Tuy nhiên mới đây, Gary Urton, giáo sư chuyên nghiên cứu thời kỳ tiền Columbus tại Đại học Harvard (Mỹ) lại đưa ra một phỏng đoán có tính cách mạng trong cuốn “Signs of the Inka Khipu”. Ông cho rằng những mô hình thắt nút này không chỉ tuân theo một tiêu chuẩn thống nhất, mà còn thể hiện cho một hệ chữ viết trình độ cao, tương đương với chữ viết được phát triển bởi người Sumer (ở Lưỡng Hà), người Ai Cập, người Maya (Trung Mỹ) và người Trung Quốc. Tuy không một loại nào trong các hệ chữ viết trên linh hoạt được như hệ chữ alphabet (hệ chữ có thể biểu diễn vô hạn các âm tiết), nhưng ở thời kỳ đầu của nền văn minh nhân loại, chúng đều là những bước tiến vượt bậc trong khả năng của con người, nhằm ghi lại thế giới xung quanh một cách hiệu quả hơn so với cách thể hiện nguyên thuỷ bằng tranh. Phân tích 32 chiếc khipu được tìm thấy năm 1997 (cùng với 225 xác ướp trong một hang đá ở miền bắc Peru), Urton và cộng sự khám phá ra rằng, bất kỳ một người nào được huấn luyện đều có thể dịch được mã của khipu. Trên 3 chiếc trong số đó, họ đã nhận thấy có những trình tự tương hợp có thể dùng truyền tải các dữ liệu số. “Chúng tôi đã có bằng chứng đầu tiên về một hệ thống kiểm soát và đối chiếu. Nó là dấu hiệu rõ ràng cho thấy, những người Inca không hề lưu trữ thông tin theo cách chỉ có một bản duy nhất và chỉ có một mình người lập mới hiểu được nó”, Urton nói. Ông cũng cho rằng mã nhị phân khipu có thể lưu giữ ít nhất 1.536 dữ liệu thông tin (so với dạng chữ nêm nguyên thuỷ của người Sumer chỉ có 1.300-1.500 ký tự, hay 600-800 ký tự tượng hình của người Ai Cập và Maya). Con số này là kết quả của phép tổ hợp từ 7 cách chọn lựa (như chất liệu, hướng quay, hướng thắt nút, màu sắc…) trong quá trình chế tạo khipu. Chẳng hạn, mỗi khipu chỉ có thể được làm từ bông hoặc len. Người dệt nó sẽ phải chọn một trong hai loại vật liệu này khi tạo ra chuỗi thắt nút của mình. Họ cũng sẽ phải quyết định hướng thắt hút thuận hay ngược chiều kim đồng hồ, và chọn một trong số 24 màu có thể dùng để dệt sợi... Tổng cộng những phép hoán đổi đó cho ra 1.536 cách “viết” một ký tự khipu. Nếu phát hiện của Urton là đúng, thì người Inca không chỉ đã lựa chọn bộ mã nhị phân - nền tảng toán học cho hoạt động của máy tính - ít nhất 5 thế kỷ trước khi con người thực sự phát minh ra computer, mà còn để lại cho thế giới một ngôn ngữ “chữ viết” ba chiều duy nhất được biết tới nay (các ngôn ngữ hiện tại đều được thể hiện trên một bề mặt phẳng, như giấy, tường…). So với những nền văn minh Hy Lạp hoặc La Mã cổ, Inca chỉ là tâm điểm của một số rất nhỏ các nghiên cứu, do vậy, còn nhiều bí ẩn xung quanh tộc người này chưa được khám phá. Việc tiếp tục giải mã khipu có thể phần nào làm sáng tỏ nhiều câu hỏi về nền văn minh đó, như bằng cách nào họ có thể xây dựng các bức tường với độ khớp hoàn hảo mà không hề dùng đến vật liệu gắn kết, hoặc họ đã dùng gì để xây dựng nên "thành phố mất tích" Machu Picchu. B.H. (Theo Discovery)
  6. Rin86 không biết xem tử vi nhưng với câu hỏi "Thientam có lấy được vợ không?" thì ra quẻ Thương Xích Khẩu => lấy được vợ nhưng phải đợi khá lâu đấy he he :D
  7. Ly kỳ về tiền kiếp của vua Minh Thần Tông ở nước Việt Cập nhật lúc 20 AM, 17/08/2010 Minh Thần Tông (1572-1620) tên thật là Chu Dực Quân, hoàng đế thứ 13 của triều Minh (Trung Quốc). Trong sử sách hiện lưu truyền một câu chuyện kỳ lạ về tiền kiếp của ông tại một ngôi chùa ở làng Bóng, xứ Đông của nước Đại Việt. >> Trần Thuận Tông - vị vua hư danh 4 lần bị ép >> Ông quan gàn - thầy dạy vua Trần Minh Tông Thời vua Lê Kính Tông (1599-1619) và chúa Trịnh Tùng (1570-1623), năm ấy, triều đình cử một đoàn sứ bộ sang nước Minh; Nguyễn Tự Cường (1570-?), Tiến sĩ khoa thi Giáp Thìn (1604) được bổ làm Chánh sứ. Khi ở phương Bắc, vị sứ thần nước Việt đã vô cùng kinh ngạc khi được biết một câu chuyện ly kỳ do chính vua Minh Thần Tông kể. Bấy giờ, sau khi thực hiện các nghi thức và công việc ngoại giao, lúc vào cung bái yết Hoàng đế, Minh Thần Tông bỗng hỏi sứ thần Nguyễn Tự Cường rằng: “Người ở nước Nam, vậy có biết chùa Quang Minh của nước Nam ở đâu hay không?”. Nguyễn Tự Cường đáp là không biết, ông băn khoăn tự hỏi không rõ vua Minh muốn biết đến ngôi chùa đó làm gì. Thấy vẻ mặt đăm chiêu của viên Chánh sứ, Minh Thần Tông nhân đó mới nói với Nguyễn Tự Cường rằng: “Lúc mới sinh ra, trên vai ta đã có hàng chữ son, nói rõ kiếp trước của ta chính là vị Thiền sư ở chùa Quang Minh. Nay, ta muốn xóa dòng chữ ấy đi mà chưa biết phải làm như thế nào”. Nguyễn Tự Cường thưa: “Thần nghe nói nhà Phật có nước công đức để tẩy trần. Nếu Bệ hạ là kiếp sau của Thiền sư Trụ trì chùa Quang Minh thì phải lấy nước giếng của chính chùa Quang Minh mới có thể rửa được”. Minh Thần Tông (1572-1620). Về nước, Nguyễn Tự Cường đem việc này tâu với triều đình. Triều đình bèn cử người đi tìm ngôi chùa mà Minh Thần Tông đã nói tới. Ngôi chùa đó chính là chùa Bóng tên chữ là Quang Minh Tự, vì xây dựng trên đất làng Bóng nên có tên dân gian như vậy; nơi đây thuộc địa phận xã Hậu Bổng, phủ Hạ Hồng, xứ Hải Dương (huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay). Theo các thư tịch cổ như Lĩnh Nam chích quái, Công dư tiệp ký, Đại Nam nhất thống chí…, chùa được khởi công xây dựng vào cuối thời Trần. Ban đầu có quy mô nhỏ, nhưng qua nhiều đời được trùng tu, mở rộng và được coi là một trong những ngôi chùa đẹp. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: “Chùa Quang Minh ở xã Hậu Bổng, huyện Gia Lộc có ngàn cây xanh biếc, bốn mặt nước trong, xa xa phía trước có đường cái chạy qua và có dòng sông bao bọc, thật xứng đáng là một thắng cảnh của thiền lâm”. Chùa Bóng không chỉ nổi tiếng về vẻ đẹp mà còn được biết đến bởi có nhiều vị cao tăng đạo hạnh, có công lao hoằng dương Phật pháp, trong đó, có Thiền sư Huyền Chân (còn gọi là Thiền sư Bật Sô). Theo Quang Minh tự sự tích cho hay, Thiền sư Huyền Chân người làng Hàm Nghi, xã Danh Hương, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc huyện Kiến Xương, Thái Bình) thế danh là Đức, sinh và mất năm nào chưa rõ. Tương truyền rằng khi đã về già, một hôm, Thiền sư Huyền Chân nằm mơ thấy Phật A Di Đà (Amitabhâ) đến nói cho biết rằng: “Ngươi dày công với Phật sự đã lâu, lòng từ bi của ngươi đã được Phật Tổ thấu hiểu, vì thế, đến kiếp sau, ngươi sẽ được làm Đại đế ở phương Bắc”. Tỉnh dậy, Thiền sư Huyền Chân liền kể lại giấc mơ với đệ tử của mình và dặn: “Sau này, lúc ta viên tịch, các con hãy lấy son viết lên vai ta mấy chữ sau: An Nam quốc, Quang Minh tự, Sa Việt Tì khưu, sau đó mới đem nhục thân của ta đi hỏa thiêu”. Các đệ tử đều lắng nghe, ghi nhớ và về sau làm theo đúng ý của Thiền sư Huyền Chân. Vậy là qua tìm kiếm, triều đình nhà Lê không chỉ biết được ngôi chùa Quang Minh mà còn khám phá ra một câu chuyện lạ về tiền kiếp của ông vua nước láng giềng phương Bắc. Sau đó, nhà Lê cho lấy nước giếng của chùa Quang Minh đem sang biếu Minh Thần Tông. Minh Thần Tông liền dùng nước ấy để rửa thì quả là rất hiệu nghiệm, lấy làm vui mừng vì thế đã sai gửi 300 lạng vàng thưởng cho Nguyễn Tự Cường. Tự Cường liền đem toàn bộ số vàng này cúng cho chùa Quang Minh để lo việc trùng tu. Sau này Nguyễn Tự Cường làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ, tước Xuân Quận công; khi mất, ông được tặng chức Thượng thư, hàm Thiếu bảo. Lê Thái Dũng http://baodatviet.vn/Home/congdongvi...108261.datviet
  8. Bức tranh có tên "người đàn ông buồn"
  9. Cám ơn bạn Tuấn Dương, đúng là Rin86 cũng có ý định đi vào tháng 11 vì lúc đó mùa bão ở Florida kết thúc nhưng Rin86 mong là bạn của mình sẽ không bị bệnh nặng hơn :D
  10. Rin86 đang xin visa vào Mỹ, xin nhờ anh Thiên Đồng, cô Wild, anh Hạt Gạo Làng, NDK, Tịnh Tâm và các bạn xem giúp, liệu đến tháng 12 dương lịch này Rin86 có lên máy bay sang Mỹ đúng như dự định không ạ? Rin86 xin cám ơn mọi người rất nhiều <3
  11. Cháu cám ơn cô Wild, nhìn mấy cái u não mà cháu sợ quá :rolleyes: hy vọng bạn cháu sẽ sống được....
  12. Em xin cám ơn anh Hạt Gạo Làng rất nhiều, em sẽ chuyển lời khuyên của anh đến cho bạn em :rolleyes: Bệnh ung thư thần kinh còn gọi là Gliomas, em cũng chẳng biết cụ thể nó bị sao nữa nhưng năm ngoái bạn em có bị điếc một thời gian và khi đi khám thì bác sĩ bảo đó là ung thư thần kinh ^_^
  13. Rin86 xin cám ơn cô Wild và bạn NDK, đúng là Rin86 dự định sẽ sang Mỹ vào ngày 15/9/2010 đến ngày 15/10/2010. Hy vọng là sẽ không có chuyện gì lớn xảy ra :rolleyes:
  14. xin chào cô Wild, anh Thiên Đồng, Tuấn Dương, NDK... và các bạn trong diễn đàn Rin86 được một người bạn mời sang Mỹ chơi nhưng sáng nay nhận được email của anh ấy báo hoãn vì có thể anh ấy sẽ bị vào bệnh viện (anh ấy bị ung thư thần kinh). Vì tự mình luận quẻ cho mình thì thiếu chính xác nên Rin86 xin được nhờ mọi người giúp đỡ. Liệu bạn của Rin86 có qua khỏi và sống khoẻ mạnh hoặc chí ít là kéo dài sự sống không ạ? Liệu Rin86 có được qua Mỹ thăm bạn không? Rin86 xin cám ơn
  15. Ông tiến sĩ chuyên "gọi hồn" Hàng ngày, bất kể nắng mưa, căn nhà số 1, phố Đông Tác (Kim Liên, Hà Nội), lúc nào cũng tấp nập người ra vào từ sáng sớm đến đêm. Những người có chút am hiểu về thế giới tâm linh đều có thái độ thành kính khi đến ngôi nhà này, còn những người bác bỏ tâm linh thì coi chuyện người ta ùn ùn kéo đến gặp “ma”, xem “ma”... Sau khi nhà ngoại cảm “tác động” vào hàng loạt nhóm người, lập tức, căn phòng 80 m2 trên tầng 4 phố Đông Tác (phường Kim Liên, Hà Nội) biến thành một căn phòng toàn “ma quái”. Tôi đi xem… “ma” Hàng ngày, bất kể nắng mưa, căn nhà số 1, phố Đông Tác (Kim Liên, Hà Nội), lúc nào cũng tấp nập người ra vào từ sáng sớm đến đêm. Những người có chút am hiểu về thế giới tâm linh đều có thái độ thành kính khi đến ngôi nhà này, còn những người bác bỏ tâm linh thì coi chuyện người ta ùn ùn kéo đến gặp “ma”, xem “ma” rất nhảm nhí, tốn công sức. Nhưng với ông Vũ Thế Khanh và một số nhà khoa học ở Liên hiệp Khoa học Công nghệ tin học ứng dụng (UIA), thì việc nghiên cứu “ma quỷ” được xem như một vấn đề khoa học nghiêm túc. Từ 6 giờ sáng tôi đã có mặt ở số 1, phố Đông Tác, song sân để xe dưới tầng một đã không còn một chỗ, phải gửi xe máy sang siêu thị bên cạnh. Mọi người, cả đàn ông lẫn đàn bà, cả già lẫn trẻ đều giữ trật tự, đi lên căn phòng hội trường trên tầng 4 của toà nhà. Trước khi vào căn phòng rộng chừng 80 m2 trên tầng 4, họ đều thắp một nén nhang, chắp tay thành kính lạy Phật ở căn phòng bên cạnh. "Căn phòng ma quái" Trong căn phòng kỳ lạ đó, từng nhóm người túm năm tụm ba ngồi thành vòng tròn đối mặt với nhau. Mỗi nhóm là một gia đình, thường gồm ông bà, bố mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, cháu chắt… là những người có quan hệ máu mủ ruột rà với nhau. Những người ngồi trong phòng đều nhắm mắt, khoanh chân, hai tay bắt chỉ ngồi thiền. Họ giữ tâm trí thanh thản, thoát tục, để cho “linh hồn” nhập vào thân thể, gặp gỡ người nhà. Trong căn phòng này có hai nhà ngoại cảm nữ, một người mặc áo nâu sồng, có lẽ là người theo hầu cửa Phật. Hai nhà ngoại cảm đứng giữa đám đông quan sát, thi thoảng họ lại tiến về phía nhóm người nào đó rồi dùng lòng bàn tay đặt lên đỉnh đầu, huyệt đạo ở lưng một phụ nữ, giống như kiểu cao thủ võ lâm đang… truyền công lực. Lúc tập trung truyền công lực, lúc họ nói giọng như nịnh trẻ con: Nào cụ X, cụ thương con cháu thì về cho con cháu gặp gỡ nào! Em Y chết trẻ thảm quá, người nhà nhớ mong nhiều lắm, về cho mọi người gặp đi…”. Khi nhà ngoại cảm nói thế, nhóm người ngồi túm tụm, người xì xụp khấn vái như khấn Thánh sống, người khóc tu tu gọi “linh hồn” hiện về gặp gỡ. Chỉ cần nhà ngoại cảm “truyền năng lượng” và “nịnh ma” một lát, lập tức diễn ra hiện tượng “ma nhập”. Khi “ma nhập”, người bị “ma nhập” không còn lý trí riêng của mình nữa mà nói cười, trò chuyện cứ như người đã chết. Sau khi nhà ngoại cảm “tác động” vào hàng loạt nhóm người, căn phòng 80m2 trên tầng 4 phố Đông Tác biến thành một căn phòng toàn “ma quỷ”. Những tiếng khóc, tiếng cười của những người, được cho là âm dương cách biệt, bao năm trời mới gặp lại nhau, tạo nên một khung cảnh hết sức xúc động. Chính vì thế, cảm giác ớn lạnh như đứng giữa nghĩa địa ban đêm xâm chiếm cơ thể tôi không còn nữa. Thay vào đó là sự ấm áp, gần gũi giữa con người dương thế với một thế giới khác, mà theo những người tham gia thí nghiệm, là thế giới của những linh hồn. Đề tài khoa học “nhập hồn” Sau khi bị thế giới tâm linh hút hồn, là một nhà khoa học biện chứng, với khát vọng làm sáng tỏ phần nào cái thế giới mà con người cứ bị huyễn hoặc hàng vạn năm nay, và cũng là để tìm ra những lợi ích của thế giới huyền ảo ứng dụng vào thực tế, tiến sĩ Vũ Thế Khanh đã viết báo cáo trình Chính phủ xin 500 triệu đồng để lập dự án có tên “Nghiên cứu về ma”. Những dự án kiểu này đã được các nhà khoa học phương Tây nghiên cứu nhiều. Thậm chí, nước Mỹ còn lập hàng loạt cơ quan chuyên biệt, nghiên cứu về hiện tượng đặc biệt, liên quan đến thế giới sau khi chết, để ứng dụng vào khoa học, cuộc sống. Ngay cả cơ quan tình báo Mỹ là CIA cũng rất tích cực với những dự án kiểu này. Tuy nhiên, với Việt Nam, nó còn rất mới mẻ, nên dự án của ông Khanh được cho là “kỳ quặc”, vô nghĩa và lãng phí. Và tất nhiên, dự án của ông đã không được phê duyệt. Mặc dù Chính phủ không phê duyệt để cấp vốn cho dự án kỳ quặc này, song cho phép ông cùng các nhà khoa học thành lập một cơ quan chuyên biệt, bí mật nghiên cứu về những hiện tượng lạ lùng trong đời sống xã hội. Sau khi Liên hiệp UIA ra đời, ông Khanh cùng các nhà khoa học của Liên hiệp đã lập hàng loạt đề tài khoa học nghiên cứu về những hiện tượng lạ sau khi chết, trong đó có đề tài “nhập hồn”. Ông Khanh tự bỏ tiền túi, thời gian, công sức, cùng các nhà ngoại cảm, là những cán bộ, cộng tác viên của Liên hiệp thực hiện đề tài độc nhất vô nhị này. Điều lạ lùng nhất, có thể nói là bí quyết, đó là tiến sĩ Vũ Thế Khanh tìm được phương pháp đào tạo để các nhà ngoại cảm phát triển mạnh hơn nữa khả năng của mình. Tôi đã gặng hỏi ông Khanh nhiều lần về bí quyết đào tạo các nhà ngoại cảm, song ông Khanh nhất định không tiết lộ. Quả là một chuyện rất lạ! Người đàn bà… 5 mắt Người đầu tiên mà ông Vũ Thế Khanh đào tạo thành nhà ngoại cảm, lại có khả năng “áp vong” (truyền năng lượng, khai mở huyệt đạo để “ma” nhập vào người bình thường) là chị Hoàng Thị Thiêm, một nhân vật từng gây chấn động cả nước với khả năng bịt mắt vẫn đọc được sách, đi xe máy. Tôi là nhà báo đầu tiên được gặp người đàn bà đặc biệt này, vì đã nhiều năm trời kiên trì thuyết phục ông Khanh. Sau khi thề thốt “lên bờ xuống ruộng”, rằng sẽ không tiết lộ tên thật, địa chỉ người đàn bà này, ông Khanh mới cho tôi tiếp xúc và tham gia cùng các nhà khoa học làm thí nghiệm xác định khả năng của chị ta. Chị Hoàng Thị Thiêm bịt mắt vẫn đọc sách Tôi đã từng được nghe rất nhiều chuyện kỳ quái, huyễn hoặc về thế giới tâm linh, những khả năng đặc dị của con người, nhưng chuyện một phụ nữ có thể nhìn bằng trán, mũi và hai bên thái dương, thì đúng là từ cổ chí kim chưa từng nghe nói bao giờ. Thậm chí, theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, thế giới cũng chưa từng có người thứ hai có khả năng như vậy. Hôm đó, căn phòng làm việc của ông Khanh chật kín các nhà khoa học, có cả đại diện của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an đến để chứng kiến, ghi nhận. Viện khoa học hình sự, Bộ Công an được Liên hiệp UIA mời vào cuộc nghiên cứu nhằm tìm cách vận dụng khả năng của chị Nguyễn Thị Thiêm trong việc truy tìm manh mối phá các vụ án phức tạp. Khác với tưởng tượng của tôi, chị Thiêm không có vẻ ngoài đặc biệt như một ảo thuật gia, một phù thủy, hay như người từ hành tinh khác đến. Chị Thiêm chừng 40 tuổi, ăn mặc chất phác và bình thường như bao cô gái lam lũ ở các vùng quê. Phương án thực hiện cuộc thí nghiệm được vạch sẵn từng bước. Qua mỗi bước thí nghiệm thông minh của các nhà khoa học, khả năng của chị Thiêm sẽ bộc lộ và những toan tính, những chuyện bịp bợm sẽ dễ dàng bị lộ tẩy. Tôi đã thực sự ngỡ ngàng khi các nhà khoa học dùng đủ các biện pháp để bịt chặt hai mắt chị Thiêm lại, song dù bịt bằng khăn, kính đặc biệt, bằng hai bàn tay, dán mí mắt bằng băng dính rồi úp chặt hai chiếc chén sứ uống trà vào hai mắt, song chị Thiêm vẫn cầm tờ báo đọc vanh vách không sai chữ nào. Nếu bịt cả mắt lẫn trán thì chị đọc bằng mũi, bịt cả mũi thì đọc bằng hai bên thái dương. Nếu che nốt cả hai bên thái dương thì chị Thiêm không nhìn thấy gì nữa. Chị Thiêm cho biết, một ngày cách đây 5 năm, tự nhiên chị thấy có một luồng sáng từ trán chiếu ra và chị cảm nhận được những hình ảnh mờ nhạt qua luồng sáng đó. Sợ hãi quá, chị dùng băng dính đen dính “con mắt” ở trán đó lại, nhưng rồi chị lại thấy có luồng sáng phát ra từ mũi. Chị dán ở mũi thì lại nhìn được bằng thái dương. Chị và gia đình quá sợ hãi, không biết nguyên nhân vì sao, thế rồi, một người mách chị đến Liên hiệp UIA, nơi có các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về các hiện tượng đặc dị. Từ đó, chị được các nhà khoa học quan tâm, làm rất nhiều thí nghiệm. Đặc biệt, mỗi ngày chị lại nhìn thấy mọi vật rõ hơn, và giờ đây, “con mắt thứ ba” đã nhìn mọi thứ rõ ràng như mắt thường. Đào tạo… nhà ngoại cảm! Chuyện đình đám về người đàn bà có khả năng bịt mắt đọc sách rồi cũng bẵng đi, cho đến một hôm, tiến sĩ Vũ Thế Khanh điện cho tôi khoe rằng: “Tớ đã đào tạo cho cô Thiêm khả năng “áp vong” bạn ạ. Có lẽ ấy là người đầu tiên ở Việt Nam “áp vong” được. Hôm nào bạn đến xem nhé”. Chị Thiêm "áp vong" Chuyện gọi hồn qua các nhà ngoại cảm tôi đã gặp nhiều, chứng kiến rất nhiều, song hầu hết những người có đầu óc duy vật đều bác bỏ, bởi họ cho rằng, những lời nói của “hồn”, chẳng qua là miệng lưỡi bịp bợm của nhà ngoại cảm. Tuy nhiên, việc nhà ngoại cảm làm cho “linh hồn” nhập vào người nhà của chính những người đến gọi hồn, thậm chí nhập cả vào nhà khoa học, đã khiến các nhà khoa học duy vật, kể cả những người luôn bác bỏ thế giới tâm linh phải suy nghĩ lại. Những ngày đó, mỗi ngày có hàng chục gia đình ngồi quây quần trong căn phòng trên tầng 4 của Liên hiệp UIA để chị Hoàng Thị Thiêm làm thí nghiệm “áp vong”. Tiến sĩ Vũ Thế Khanh thì miệt mài ghi chép, quay phim, thống kê từng chi tiết nhỏ trong mỗi cuộc “áp vong” để phục vụ cho đề tài nghiên cứu đặc biệt và kỳ quái này. Sau hai năm mở “căn phòng ma quỷ” để nghiên cứu về “con ma”, đến nay, không hiểu bằng phương pháp đặc biệt nào, ông Khanh đã đào tạo được gần chục nhà ngoại cảm có khả năng “áp vong” người chết vào người đang sống. Hiện tại, mỗi ngày, có cả trăm gia đình kéo đến đăng ký, những mong được các nhà ngoại cảm làm thí nghiệm “áp vong” cho mình, để được gặp… người thân đã chết. Danh sách người đăng ký làm thí nghiệm “áp vong” đã kín mấy cuốn sổ. Để được làm thí nghiệm “áp vong”, người đăng ký phải chờ 6 tháng trời. Cho đến bây giờ, dù đã mở “căn phòng ma quái” và thực nghiệm cả vạn ca “áp vong”, song tiến sĩ Vũ Thế Khanh lại rơi vào cảm giác như bị lạc vào mớ bòng bong. Nhiều nhà khoa học lúc nào cũng giương cao “ngọn cờ phản bác” đã bị “con ma” khuất phục, nhưng với ông Khanh, “con ma” hay còn gọi là “linh hồn”, vẫn là bí ẩn chưa được khám phá. Do đó, ông Khanh vẫn chưa thể khẳng định trên đời có hay không thứ gì đó gọi là “ma quỷ”. Mặc dù đề tài nghiên cứu về “linh hồn” đang tiếp diễn, song đã mang lại lợi ích hiện tại và mở ra triển vọng ứng dụng khoa học trong tương lai. Rất nhiều trường hợp, thông qua khảo nghiệm “áp vong” ở “căn phòng ma quỷ” này đã tìm được hài cốt thất lạc, thậm chí tìm được cả người sống thất lạc. Đặc biệt, một số trường hợp đã cung cấp manh mối phục vụ cơ quan điều tra trong việc truy tìm tội phạm giết người, khám phá những vụ trọng án. Đó là một trong số những lợi ích thiết thực cho khoa học mà tiến sĩ Vũ Thế Khanh mong muốn mang lại. Phạm Nguyệt Diễm (Nguồn: Đàn Ông/VNN)
  16. Có hai dịp nhà Rin86 được ứng nghiệm phong thủy Lạc Việt. Đó là lần đầu tiên sư phụ Thiên Sứ ghé nhà Rin86 chơi, thấy cái cây (cây gì đó lá nhọn nhọn dài dài ấy nhỉ?) không tốt nên bảo Rin86 vứt bỏ. Pa pa của Rin86 y lời quả nhiên hôm sau đem về túi tiền to, túi tiền nhỏ. Lần 2 là anh Thiên Đồng tới nhà xem phong thủy và khuyên là nên sửa lại nhà. Mẹ Rin86 lập tức mua gạch và xi măng xây gờ ở các cánh cửa nhà tắm, cửa sau. Lập tức bố của Rin86 được thăng một chức nhỏ và được tăng lương (tuy nhiên việc tăng lương này chỉ kéo dài vài tháng, không hiểu sao lại thế). Cuối năm nay gia đình Rin86 sẽ dồn hết tiền sửa lại căn nhà hoành tráng như bản vẽ của anh Thiên Đồng. Kết quả sẽ rất rực rỡ :mellow: Rin86 hồi hộp quá :P
  17. Chúc mừng sinh nhật cô Wildlavender <3 <3 <3
  18. Bí ẩn kỳ lạ trong ngôi mộ cổ Maya Một ngôi mộ còn nguyên vẹn được cho là của vua Maya cổ đại mới được phát hiện, bên trong có một bát đựng ngón tay người và những chiếc răng gắn đá quý. Nắp của bát gốm đựng đầy ngón tay và răng người. Chúng có thể là một dạng thức ăn cúng tế. Ảnh: National Geographic. Các nhà khoa học cho biết ngôi mộ 1.600 năm tuổi được phát hiện vào ngày 29/5 dưới kim tự tháp El Diablo ở thành phố El Zotz, Guatemala. Trong đó chứa đầy các hình khắc, đồ gốm, vải vóc và xương của 6 đứa trẻ. Những em bé này có thể đã bị hiến tế trong lễ chôn cất vị vua. "Vẫn còn rất nhiều việc cần làm để tìm hiểu về ngôi mộ này", nhà khảo cổ Stephen Houston tại Đại học Brown ở Rhode Island, Mỹ, cho biết. "Mộ hoàng gia thường ẩn chứa kho thông tin đồ sộ đầy bí ẩn và cần nhiều năm mới có thể hiểu hết". Theo Livescience, trước khi thực sự phát hiện ra ngôi mộ, nhóm khảo cổ đã nhận thấy một điều kỳ quặc tại ngôi đền cổ mà họ đang khai quật. Họ đã biết rằng ngôi đền này được xây ở trước công trình tôn thờ thần mặt trời - một biểu trưng của sự cai trị thời Maya. "Khi chúng tôi đào xuống một hố trong căn phòng nhỏ của ngôi đền, chúng tôi gặp phải hàng loạt điều kỳ lạ - một bát màu đỏ như máu đựng đầy các ngón tay và răng người, tất cả đều bọc trong một loại chất hữu cơ đã bị phân hủy, có thể là lá cây. Sau đó, chúng tôi đào hết lớp này đến lớp khác, gồm toàn đá phẳng trộn lẫn bùn, chất này có thể nhằm giữ cho ngôi mộ nguyên vẹn và không bị không khí lọt vào". Cuối cùng, các nhà nghiên cứu chạm được lớp trong cùng để lộ ra một lỗ nhỏ. Họ hạ bóng đèn vào trong đó và đột nhiên Houston nhìn thấy vô vàn màu sắc lộ ra trước mắt mình - xanh, đỏ vàng. Đó là một ngôi mộ của vua chúa chứa đầy những thứ Houston chưa từng nhìn thấy: các mảnh gỗ, vải vóc, và một lớp mỏng sơn vữa. "Khi chúng tôi mở ngôi mộ ra và tôi thò đầu vào, thật kinh ngạc, một luồng không khí lạnh toát xộc ra khiến tôi sởn cả gai ốc", Houston nói. "Căn phòng này đã được bịt rất kín, trong hơn 1.600 năm, khiến không một chút nước và khí nào lọt vào". Ngôi mộ cao 1,9 m, dài 3,7 m và rộng 1,2m, có thể để chôn một người đàn ông. Các nhà nghiên cứu cho rằng ngôi mộ có thể là của một vị vua mà họ chỉ biết dựa trên các chữ tượng hình. "Những đồ vật trong mộ này giàu tính nghệ thuật và được bảo tồn một cách kinh ngạc vào một thời điểm trong lịch sử Maya", Houston nói. "Từ vị trí, thời gian, độ giàu có và kiến trúc xây dựng ngôi mộ, chúng tôi tin rằng nó rất có thể thuộc về người đã sáng lập ra một triều đại". Nền văn minh Maya thịnh vượng vào khoảng 2.000 năm trước tại khu vực thuộc Trung Mỹ, nay là đông nam Mexico, bắc Guatemala và Honduras. Người Maya đã đạt tới trình độ cao không chỉ về lĩnh vực xây dựng nhà nước mà còn về kiến trúc, toán học, thiên văn. Song Minh Những hiện vật được tìm thấy trong mộ cổ Maya Nắp của bát gốm đựng đầy ngón tay và răng người. Chúng có thể là một dạng thức ăn cúng tế. Khu mộ cao 1,9 m, dài 3,7 m và rộng 1,2 m bị đóng kín với thế giới bên ngoài trong hơn 1.600 năm. Tượng chúa hoặc một vị thần trên nắp một chiếc bát cổ. Nắp của chiếc bát này có các họa tiết bí ẩn mà các nhà khoa học cho rằng có thể minh họa hướng la bàn. Những họa tiết khó hiểu trên một chiếc bát cổ được tìm thấy trong mộ. Những chiếc răng gắn đá quý có thể thuộc về chủ nhân ngôi mộ. Hình một con khỉ bí ẩn nằm trên đỉnh của nắp bát cổ được tìm thấy trong mộ. Các nhà nghiên cứu đo đạc tại lối đi dẫn xuống khu một cổ. (Ảnh: National Geographic)
  19. Một số hình ảnh về cổ vật thời Đông Sơn ở link này khá hay nhưng Rin86 không coppy được vì tag vòng ốc đeo tay thời Đông Sơn, có lẽ cách dây hơn 2000 năm khi đánh rơi chiếc vòng này, chủ nhân của nó sẽ không ngờ rằng chiếc vòng sẽ trở thành một vật có giá trị, thể hiện một góc đời sống thời Đông Sơn.
  20. Phục dựng thành công trống đồng Đông Sơn Sau năm ngày làm việc, chiều 23-12 ông Tô Quang Dũng - chuyên viên phục dựng trống đồng Đông Sơn, Hiệp hội UNESCO VN - đã phục chế thành công chiếc trống đồng Đông Sơn (có niên đại cách đây gần 2.000 năm) tại thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Phục dựng thành công trống đồng Đông Sơn ảnh minh họa Trống đồng Đông Sơn này có đường kính 42cm, cao 23cm, trên mặt trống có biểu tượng mặt trời 12 tia, hoa văn bông lúa xung quanh mặt trời, hình người cách điệu xung quanh, bốn linh vật “con cóc” đúc nổi gắn liền trên mặt trống… Ông Đoàn Anh Tuấn, chủ tịch Hiệp hội UNESCO VN, nhận định trống đồng Đông Sơn này thuộc nhóm C, loại Hegel III, được đúc vào khoảng thế kỷ I-III sau Công nguyên. Nghệ nhân sưu tầm cổ vật Lâm Dũ Xênh ở thị trấn Châu Ổ - chủ sở hữu chiếc trống đồng Đông Sơn này - cho biết tháng 10-1998 mua lại những mảnh vỡ trống đồng Đông Sơn này tại một cơ sở thu mua phế liệu ở huyện Sơn Tịnh, sau đó mang về nhà lưu giữ cho đến nay. Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=New...3#ixzz0uCpcOSZ9
  21. The Origin of Tao Quan There is a popular belief in Viet Nam that Tao Quan, the Three Kitchen Gods, are present in the kitchen of every home. These gods observe everything that takes place there. At the end of the lunar year, on the twenty-third day of the twelfth month, they depart to make their report to Ngoc Hoang, the Jade Emperor, supreme divinity of the Taoist Heaven. On that day, Tao Quan are offered the best of food and spices and are presented with gifts of money and clothing. The idea of a threesome is unique to this story. More often the kitchen god or genie is described as a single person and may be called Ong Tao, Ong Lo or Ong Vua Bep. Long, long ago, when Earth and Sky met in the Valley of Whispers, in the dense, green forest there lived a woodcutter and his wife. They were very poor and oftentimes the man was unable to earn enough to buy their food. Frustration and worry drove him to drink, and he would come staggering home at night in a vile mood. Since there was only his wife to listen to him in their ramshackle cottage, he poured out all manner of abuse on the poor woman. Because she was his wife, she had to accept it. Sometimes he would try to appease his rage by smashing the furniture; but when he took to beating her she could endure it no longer. One night, she fled the cottage and was never seen there again. For days and weeks, the woman wandered in the forest. She was hungry and her feet were torn and bleeding. Finally, she came to a hunter's cabin. The owner was an honest man, who gave her food and permitted her to rest in his home. She kept house for him then, and after some time they were married. They lived together in great happiness, and it seemed that the woman had forgotten the terrors of her previous marriage. One day, when Tet (Vietnamese New Year) was approaching and the hunter was out in the forest looking for game, a beggar knocked at the door of the cottage and asked for alms. He was clad in rags and his hair was matted and unkempt. The compassionate woman prepared a meal for the man; while he was eating, she suddenly recognized him as her former husband. The beggar was still eating when the woman heard the steps of her returning husband. In her mind's eyes, she saw rapid end of her newfound happiness and became panic-stricken. Quickly she hid the beggar under a haycock . The hunter had been very successful that day and was returning home with some excellent game. As soon as he entered the cottage, he prepared to roast it in the haycock quite unaware of the beggar's presence there. When the beggar found himself ablaze, his first impulse was to cry out; then, fearing that the hunter might kill the woman on discovering him there, he remained silent. As tongues of flame consumed the haycock, the poor woman was torn with grief. She realized of course that her former husband was meeting death for her sake and that she did not want. Hesitating for no longer than a moment, she threw herself into the fire in order to die with him. The hunter cried out in dismay when he saw what his wife had done. He tried to pull her back but was unable to do so. Thinking that some act of his had driven her to such desperation, he too jumped into fire, preferring to die with her rather than to continue to live without her. When the people learned of this touching story, they bowed their heads out of respect for the noble motives that had brought on the deaths of the woman and the two men. They were later acclaimed as Tao Quan, the Three Kitchen Gods. http://www.vietnam-culture.com/articles-7-...f-Tao-Quan.aspx
  22. BP lại trả lời 1 thư y hệt như lần trước, có vẻ là thư soạn sẵn, không có tài liệu hay hướng dẫn nào khác!
  23. Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446) là con trai cả của Hồ Quý Ly. Tháng 11.1394 lần đầu tiên sử sách nhắc đến Hồ Nguyên Trừng với việc bổ nhiệm ông làm Phán tư sự dưới triều Trần Nghệ Tông. Tháng 2 năm 1400 Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, đến tháng 12 thì tự xưng Thái thượng hoàng và nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương. Hồ Nguyên Trừng lãnh chức Tả tướng quốc. Cuối năm 1405, nguy cơ xâm lăng của nhà Minh ngày càng rõ rệt. Khi nghị bàn quốc sự các quan trong triều chia thành hai phái đánh và hòa. Khi ấy Hồ Nguyên Trừng nói: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo thôi”. Giữa năm 1406 Hồ Nguyên Trừng thống lĩnh binh mã cự 10 vạn quân Minh từ Quảng Tây đánh sang. Trận đầu ông thất bại ở khu vực Đáp Cầu - Bắc Ninh ngày nay, vì khinh quân địch ít. Sau đó ông cũng đuổi được chúng ra khỏi bờ cõi. Cuối năm 1406, đợt xâm lược mới của nhà Minh có quân số lên tới 80 vạn. Tả tướng quốc Nguyên Trừng chỉ huy một cánh quân tiên phong dọc sông Cái. Thất bại này nối thất bại kia vì giặc mạnh lại biết dùng kế ly gián, chia rẽ họ Hồ với quân tướng và dân chúng. Giữa năm 1407, toàn bộ gia tộc họ Hồ, từ Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương, Hồ Nguyên Trừng đến con cháu đều bị bắt sống và giải về Kim Lăng, Trung Quốc. Vì có tài, nên sau khi bị bắt về Trung Quốc, Nguyên Trừng được tha bổng và nhậm một chức quan thuộc Công bộ, chịu trách nhiệm chế tạo hỏa súng, hỏa tiễn và thuốc súng trong Binh tượng cục (Cục chế tạo vũ khí) Tháng sáu, năm Chính Thống thứ 10 (1445) Hồ Nguyên Trừng được thăng làm thượng thư bộ công, giữ việc nội phủ, tháng 7 năm sau mất, hưởng thọ 73 tuổi, an táng tại vùng núi phía tây Bắc Kinh, sườn núi Ngọc Đài, thôn Nam An Hà. Theo một số sách vở Trung Hoa (Minh sử cảo), triều Minh khi tế thần súng cũng thường hiến cúng Hồ Nguyên Trừng. Hiện ở Việt Nam văn chương của Hồ Nguyên Trừng mới được biết đến qua cuốn “Nam Ông Mộng Lục” là tác phẩm ông viết trong thời gian ở Trung Quốc, với bút hiệu Nam Ông (ông già nước Nam). Trước tác gồm 31 thiên, do Hồ Huỳnh, Thượng thư bộ Lễ Minh triều đề từ năm 1440, có cả hậu tự năm 1442 của Tống Chương - cũng người gốc Việt. Hồ Huỳnh từng nhận định: "Văn họ Hồ ngắn gọn mà nghiêm trang, cẩn mật, cao nhã mà uyên bác, theo tình kể lại, theo nghĩa đặt lời... Ca ngợi sự tiết nghĩa thì bừng bừng cảm khái, có thể uốn nắn phong tục, biểu dương trước thuật thì siêu thoát, thanh tân, có thể nuôi dưỡng tính tình...". (Trong Thơ Văn Lý Trần tập III - 1978, có in toàn bộ Nam Ông Mộng Lục, tuy nhiên thiếu mấy một số thiên) Nhưng tại chùa Tú Phong - một ngôi chùa do người Việt dựng tại Trung Quốc từ đời Minh ở phía Tây Bắc Kinh hiện còn một tấm bia do Hồ Nguyên Trừng soạn văn bia. Đó là tấm bia: “Sắc tứ Tú Phong tự bi”. </IMG> (Một góc chùa Tú Phong và Bia) Chùa Tú Phong nằm trên núi Tú Phong thuộc thôn Nam An Hà, xã Bắc An Hà, khu Hải Điện, Bắc Kinh. Chùa do thái giám Cao Nhượng và nhà sư trụ trì người gốc Việt Nam là Trí Thâm khởi công xây dựng năm Tuyên Đức thứ 8 đời Minh (1433) đến năm Chính Thống thứ 2 đời Minh (1437) thì hoàn thành, được hoàng đế nhà Minh ban tên là Tú Phong Tự. Ngôi chùa được dây dựng theo hướng đông, gồm ba lớp điện chính. Cuối đời Thanh chùa Tú Phong bị để hoang tàn. Đầu năm Dân quốc (1911) nhóm Lưu Trọng Lỗ, Bảo Thuỵ Thần mượn chùa và sửa chưa thêm lập toà báo Hạc Quần. Mùa xuân năm Dân quốc 14 (1925) đạo sĩ Vương Tú Chân bỏ tiền ra mua lại chùa, năm 1926 lại mua thêm các núi xung quang chùa, sau đó đổi tên chùa thành Tu Chân quán, bái Trương Nghĩa Cung làm thầy trụ trì quán này. Năm 1928, Trương Nghĩa Cung chết, Tu Chân đạo sĩ bỏ đi, Lâm Hành Quy lấy núi Tú Phong làm biệt thự đã mua chùa viện và các khu xung quanh, và lại bỏ tên quán, đổi lại thành chùa, Bảo Thuỵ Thần đề một biển cho chùa là “Tú Phong Cổ Sát”. Năm 1937 nổ ra sự kiện Mùng 7/7 ở cầu Lư Câu chùa Tú Phong trở thành căn cứ địa cho đội quân du kích Trung Quốc. Năm 1944 lập trạm tình báo Bình Tây ở chùa Tú Phong, trạm trưởng là Lương Ba. Năm 1945, lập ra Tân Văn Yếu Báo ở chùa Tú Phong, trong vòng 3 tháng phát hành khoảng 30 số, tổng biên tập là Triệu Phàm. Có thể nói, chùa Tú Phong là một trong những ngôi chùa Việt đầu tiên của người Việt tại Hải Ngoại, và hiện còn lưu một bài văn bia do Hồ Nguyên Trừng một người Việt tài năng soạn. Xin giới thiệu nội dung bài văn bia “Sắc tứ Tú Phong tự bi” của Hồ Nguyên Trừng: </IMG> (Bia "Sắc tứ Tú Phong tự bi") SẮC TỨ TÚ PHONG TỰ BI Chính nghị Đại phu, Tư trị doãn Công bộ Tả thị lang, Giao Nam – Lê Trừng soạn. Tướng sĩ lang, Hồng Lô tự Tự ban, Quát quận – Quý Thuần thư. Văn lâm lang, Đại Lý tự Hữu tự Hữu bình sự Thanh Nguyên – Trang Sâm triện ngạch. Kinh đô chi tây khứ thành lục thập dư lý hữu tự viết Tú Phong, nãi thái giám Cao công Nhượng dữ trụ trì tăng Trí Thâm sở sáng dã. Thâm – Giao Nam danh tăng, tính Ngô thị, tự ấu xuất gia, khắc khổ tham học. Dĩ Tuyên Đức mậu thân lai đáo bắc kinh, ngẫu ngộ đại quốc sư ngô công thân tăng lục ti giảng kinh, Nguyệt Công, Luật Thiếp công định giác, Nghĩa Ô công, Hiển Toản công, Thắng Nạp công, Lý Thiền công, Nhẫn Tam công phổ hữu đồng hương chi nghị đắc lễ. Quán đỉnh Quảng thiện tây thiên phật tử đại pháp sư toại thụ tâm ấn, trú tích vu Dương Đài sơn Đại Giác tự. Nhật thường biến duyệt Đại tạng, cửu bất hạ sơn, giới hạnh tinh nghiêm, nhân đa khâm ngưỡng. Nhất nhật, tán sách tự bắc khả tam lý hứa, chí vu Tú Phong sơn lộc, kiến kỳ cảnh trí thanh thắng, long hổ bàn toàn, thạch bích sàm nham hoàn ủng vu kỳ hậu, tả hữu song giản giao lưu vu kỳ tiền, thảo mộc ông uý, hoa quả mậu thịnh, ý phi phàm địa. Nãi tuần vu dã lão, viết: Kỳ củ tương truyền thử cổ bảo sát chi địa dã. Thâm bi hỉ giao tịnh, thệ dĩ khôi phục thánh cảnh. Cao công văn nhi hỷ chi, nãi dũng mãnh phát tâm, khuynh kiệt tài lực vi công đức chủ, cập dữ thái giám Trần công Ngang, trung quý Hoàng công Hùng, Nguyễn Phúc Thâm, Phạm Giác Thọ, Bùi Hỉ, Kim Toả (Đáo?), Nguyễn Giác Mục, Trịnh Trí Quảng, Châu Phổ Minh, Trương Phúc Sơn đẳng đồng xả kỷ tư, trợ sư kiến lập đạo trường, dĩ thượng chúc thánh cung vạn tuế, thiên hạ thái bình. Sư nãi vận dụng tâm tượng, bố trí quy mô, thân tự phục cần dĩ tiên đồ lữ, phong kỳ dung thực dĩ lai chúng công. Việt tự Tuyên Đức quý sửu xuân khởi tạo, chí Chính Thống đinh tỵ đông tất công, bất ngũ lục niên nhi sơn môn trác lạc, điện vũ nguy nga, đan hoạch tinh huỳnh, kim bích hoán lạn, viên tường liêu nhiễu, lang vũ huy phi, phàm thường trụ chi du ti, các hữu kỳ sở. Thái giám Trần công Ngang, Nguyễn công Tông hựu quyên gia tư ấn tạo Đại Tạng kinh văn, trang nghiêm quỹ hạp, lưu vu bản tự dĩ vĩnh kỳ truyền. Sư giai vãng phản duyệt độc lệ chúng hiệu cần, chung cổ hương đăng, thần hôn tán vịnh, dĩ bảo hộ quốc thổ, phổ tế quần sinh. Chí Chính Thống lục niên, tam nguyệt nhị thập nhất nhật, thái giám Cao công Nhượng thực cụ tấu, khâm mông thánh ân sắc tứ danh ngạch viết: “Tú Phong Tự”, lâm lộc sinh quang, tăng tục cải quan. Trí Thâm phần hương, khể thủ ngôn viết: “Hạnh ngộ hải nội thanh bình, nhân dân phú ấp, hựu nhân chư công đồng phát thiện tâm, trợ thành Phật sát, trí mông ân tứ, vạn đại thuỳ quang, khả bất khắc thạch dĩ thị vĩnh viễn?” Nãi mệnh kỳ đồ, yết dư trưng văn. Dư viết: “Thâm sư cần lao dĩ thành phật sự, chư công tác phúc dĩ báo thượng ân, quan kỳ dụng tâm, đồng quy chí thiện, thị nghi minh minh viết: Thần châu đoài dã; Sơn đĩnh Tú Phong; Bàn long cứ hổ; Hấp cảnh tàng phong; Hàm hoằng sảng lãng; Tú khí sở chung; Giản tuyền lãnh liệt; Thảo mộc phong nhung; Ái nhiên phúc địa; Nghiễm nhược phạn cung. Phạn cung y hà? Hữu quy hữu chế; Điện vũ nguy nga; Sơn môn tráng lệ; Tượng thiết tôn nghiêm; Long thiên dực vệ. Sáng giả y thuỳ? Trí Thâm trụ trì; Viên kinh viên thuỷ; Tải cấu tải ky (cơ) Đại thiện đàn việt; Trợ dĩ thành chi. Thượng chúc thánh thọ; Hạ hựu sinh dân; Phúc điền quảng đại; U hiển triêm ân. Tự ký thành chỉ; Danh diệc chính chỉ; Tứ ngạch kim thư; Sủng quang vĩ vĩ. Duy ngã Thâm sư; Phúc tuệ kiêm bị; Đệ nhất khai sơn; Lưu truyền hậu duệ; Thuỳ phạm tương lai; Thuật sự kế chí; Bách thế vu tư; Hữu long vô thế; Tự dĩ vĩnh tồn; Minh đồng đới lệ. Đại Minh Chính Thống bát niên, tuế thứ Quý Hợi mạnh hạ Phật đản nhật khai sơn. Trụ trì sa môn Trí Thâm lập thạch. Cẩm y xá nhân Chu Hưng thuyên. Dịch: Bài văn bia ghi lại việc sắc ban biển đề Tú Phong Tự Chính nghị Đại phu, Tư trị doãn Công bộ Tả thị lang, Lê Trừng người Giao Nam soạn. Tướng sĩ lang, Hồng Lô tự Tự ban, Quý Thuần người Quát quận viết chữ. Văn lâm lang, Đại Lý tự Hữu tự Hữu bình sự – Trang Sâm ở Thanh Nguyên viết chữ triện trán bia. Từ kinh đô đi về phía tây thành hơn sáu mươi dặm, có ngôi chùa tên gọi Tú Phong, vốn do quan thái giám Cao Nhượng cùng với nhà sư trụ trì là Trí Thâm sáng lập lên. Trí Thâm là bậc danh tăng ở Giao Nam vốn người họ Ngô, từ nhỏ đã xuất gia, khắc khổ học hỏi. Năm Mậu thân niên hiệu Tuyên Đức (1428) sư đến Bắc Kinh, ngẫu nhiên gặp đại quốc sư giảng kinh ở ti Tăng lục, có các ngài Nguyệt Công, Luật Thiếp biết đến. Lại nhân các ông Nghĩa Ô, Hiển Toản, Thắng Nạp, Lý Thiền, Nhẫn Tam đều là những người có tình đồng hương mà đắc lễ. Đại pháp sư là bậc Tây thiên Phật tử có lòng quảng thiện bao trùm bèn truyền cho tâm ấn và trụ trì ở chùa Đại Giác trên núi Dương Đài. Thường ngày sư đọc hết kinh Đại Tạng, suốt thời gian dài không xuống núi, giới hạnh rất tinh nghiêm, mọi người đều kính ngưỡng. Một hôm, sư chống gậy dạo bước lên phía bắc chùa chừng 3 dặm đến sườn núi Tú Phong, trông thấy cảnh trí đẹp đẽ, hình thế như rồng cuộn hổ nằm, vách đá chon von vây bọc quanh phía sau, bên phải bên trái hai dòng suối nối dòng ở trước mặt, cỏ cây mươn mướt, hoa quả tốt tươi, ý chẳng phải nơi phàm địa. Sư bèn hỏi thăm các bậc già lão, thì thấy bảo: các cụ già truyền lại đất này vốn là nơi chùa thiêng ngày xưa. Trí Thâm vui sướng nghẹn ngào nguyền sẽ khôi phục lại nơi đất thánh. Cao công nghe được mừng lắm, bèn ra sức phát tâm, dốc hết tiền của đứng ra làm chủ công đức, cùng với thái giám Trần Ngang, trung quý Hoàng Hùng, Nguyễn Phúc Thâm, Phạm Giác Thọ, Bùi Hỉ, Kim Toả (Đáo?), Nguyễn Giác Mục, Trịnh Trí Quảng, Châu Phổ Minh, Trương Phúc Sơn, …cùng bỏ tiền riêng giúp sư xây dựng đạo trường để cầu chúc thiên hạ thái bình, đức vua muôn tuổi. Sư bèn dụng tâm sắp đặt, bố trí quy mô, tự mình chăm chỉ tân cần để làm gương cho môn đồ, sắp đặt tiền gạo dồi dào để thợ thuyền kéo đến. Thế là từ mùa xuân năm Quý sửu niên hiệu Tuyên Đức (1433) bắt đầu khởi tạo, đến mùa đông năm Đinh tỵ niên hiệu Chính Thống (1437) thì xong, chưa tới năm sáu năm mà sơn môn chất ngất, điện vũ nguy nga, màu son chói lọi, kim bích lung linh, tường hoa quanh co, toà ngang dãy dọc, phàm những nơi thường phải có thì chỗ nào chỗ ấy đều đầy đủ. Thái giám Trần Ngang, Nguyễn Tông lại quyên góp gia tư, để in ấn Đại Tạng kinh, đầy đủ hộp tủ nghiêm trang lưu giữ ở trong chùa để lưu truyền mãi mãi. Sư (Trí Thâm) vẫn thường qua lại xem đọc luôn luôn để khuyến khích mọi người cùng chăm chỉ học tập, chuông trống hương đèn, sớm hôm tán vịnh những mong bảo hộ quốc thổ, phổ tế quần sinh. Đến ngày 21 tháng Ba năm Chính Thống thứ 6 (1441), thái giám Cao Nhượng thực tình dâng tấu lên hoàng đế, kính đội ơn vua ban cho biển ngạch đề tên “Tú Phong Tự”, khiến cho rừng núi cũng rạng rỡ, tăng tục đều mở mắt. Trí Thâm đốt hương dập đầu bảo: “May được gặp khi trong nước thái bình, nhân dân no ấm, lại nhân các ngài cùng phát thiện tâm mà giúp thành chùa phật, nên được ơn vua ân tứ, soi sáng muôn đời, há chẳng nên khắc bia mà lưu truyền mãi về sau ư?” Bèn sai đệ tử đến chỗ tôi nhờ viết văn bia. Tôi nói: “Sư Trí Thâm khó nhọc mong nên Phật sự, các ngài lại làm việc phúc để báo ơn vua, coi chỗ dụng tâm đều cùng đến nơi cực thiện, vậy xin viết bài minh rằng: Đồng tây Thần Châu; Núi dựng Tú Phong Hổ ngồi rồng cuộn; Cảnh đẹp ẩn trong; Rộng cao sáng láng; Tú khí đúc hun; Suối khe mát rượi; Cây cỏ tươi hồng Thực nơi phúc địa; Tựa chốn Phạn cung; Phạn cung thế nào? Có quy có chế; Điện vũ nguy nga; Cổng tường tráng lệ; Tượng phật tôn nghiêm; Thiên thần bảo vệ; Dựng cảnh là ai? Trí Thâm trụ trì; Nào sau nào trước; Xây đắp đủ bề; Đàn việt lòng thiện; Giúp việc chẳng nề. Cầu chúc thánh thọ; Phù trợ nhân dân; Ruộng phúc to lớn; Linh hiển ra ân! Chùa đã dựng được; Danh đã lập được; Vua ban chữ vàng; Sủng ân chói rực; Sư Trí Thâm ta: Kiêm gồm phúc tuệ; Đứng đầu dựng chùa; Lưu truyền hậu duệ; Làm gương đời sau; Thuật chuyện nối chí; Trăm đời ở đây; Thịnh hưng vẫn để; Còn mãi chùa này; Viết minh cổ lệ Ngày Phật đản tháng đầu mùa hạ năm Quý Hợi niên hiệu Chính Thống năm thứ 8 (1443) triều Đại Minh. Sa môn trụ trì Trí Thâm lập bia. Cẩm y xá nhân Chu Hưng khắc. (Tết Trung Thu năm Mậu Tí) http://www.facebook.com/note.php?note_id=1...p;id=1844191559
      • 9
      • Like
  24. Không phủ nhận nhưng luận quẻ không đúng, lúc trúng lúc trượt không phải là may rủi thì là gì? Cần phải có một trình độ nhất định để luận LVDT, topic này chỉ là sân chơi để mọi người luyện tập thôi, cứ mạnh dạn ra quẻ!
  25. Con bạch tuộc mới là nhà tiên tri còn mọi người chỉ là may rủi :D Có lẽ kiếp trước con bạch tuộc là một nhà tiên tri bị tội nên kiếp này phải làm bạch tuộc chăng?
×
×
  • Create New...