Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

VinhL

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    473
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by VinhL

  1. Kính Bác Hà Uyên, Thêm một bằng chứng cho vòng số Tiên Thiên 61834927 -9--5--7 -8-[1]-3 -4-[6]-2 Thiên 1 Sinh Thủy, Địa 6 Thành Chi Kim Bệnh, Mộc Tử, Hỏa Mộ, Thủy Sinh, Cửa Cảnh Mở Cặp 1-6 tụ, Cặp 2-7 bị 3 phá, cặp 3-8 bị 1 phá, cặp 4-9 bị 8 phá [1--6]-8 -9-[2]-4 -5-[7]-3 Địa 2 Sinh Hỏa, Thiên 7 Thành Chi Kim Tử, Mộc Mộ, Hỏa Sinh, Thủy Dục, Cửa Sinh Mở Cặp 1-6 tụ, Cặp 2-7 tụ, Cặp 3-8 bị 4 phá, cặp 4-9 bị 2 phá [2--7]-9 [1][3]-5 [6][8]-4 Thiên 3 Sinh Mộc Địa 8 Thành Chi Kim Mộ, Mộc Sinh, Hỏa Dục, Thủy Đới, Cửa Kinh Mở Cặp 1-6 tụ, Cặp 2-7 tụ, Cặp 3-8 tụ, Cặp 4-9 bị 5 phá [3--8][1] [2][4][6] [7][9]-5 Địa 4 Sinh Kim Thiên 9 Thành Chi Kim Sinh, Mộc Dục, Hỏa Đới, Thủy Quan, Cửa Khai Mở Cặp 1-6 tụ, Cặp 2-7 tụ, Cặp 3-8 tụ, Cặp 4-9 tụ [4--9][2] [3][5][7] [8][1--6] Thiên 5 Sinh Thổ Địa 10 (mod 9) Thành Chi 10 mod 9 = 1, cho nên Âm Thổ 10 ký ở Dương Thủy 1 Kim Dục, Mộc Đới, Hỏa Quan, Thủy Vượng, Các Cửa Đều Đóng Cặp 1-6 tụ, Cặp 2-7 tụ, Cặp 3-8 tụ, Cặp 4-9 tụ -5-[1][3] [4][6][8] [9][2--7] Kim Đới, Mộc Quan, Hỏa Vượng, Thủy Suy, Cửa Đổ Mở Các cặp đều tụ -6-[2][4] -5-[7][9] -1-[3--8] Kim Quan, Mộc Vượng, Hỏa Suy, Thủy Bệnh, Cửa Thương Mở Cặp 1-6 bị 5 phá, các cặp khác còn tụ -7-[3]-5 -6-[8]-1 -2-[4--9] Kim Vượng, Mộc Suy, Hỏa Bệnh, Thủy Tử, Cửa Tử Mở Cặp 1-6 bị 8 phá, Cặp 2-7 bị 6 phá, Cặp 3-8, Cặp 4-9 còn tụ -8-[4]-6 -7-[9]-2 -3--5--1 Kim Suy, Mộc Bệnh, Hỏa Tử, Thủy Mộ, Cửa Hưu Mở Cặp 1-6 bị 2 phá, Cặp 2-7 bị 9 phá, Cặp 3-8 bị 7 phá, Cặp 4-9 còn tụ Nếu bác để ý cặp [1-6], và các cặp khác đều vận hành theo quỷ đạo của Thiên Thiên Bát Quái. Từ 1 đến 5 lần lượt các cặp sinh tụ, sau đó bị phá vỡ. Đây có phải là những giai đoạn Sinh Vượng Mộ của các cặp hành theo vòng Tiên Thiên Bát Quái sao? À, Cặp 5-1 chính là Thổ. Kính
  2. Chào bạn Sapa, VinhL thấy thay gì phải đi gọt cái chân để cho nó hợp đôi giày, tại sao lại không tìm hiểu lý do gì mà phải tráo đổi Hỏa và Kim. Có phải đây là một sự cố ý sửa sai để đánh lạc hướng??? Nếu không phải là vậy thì phải có một nguyên lý nhất quán để giải thích sự tráo đổi Hỏa Kim, chẳng những vậy, phải giải thích tại sao HTBQVV lại dùng số Lạc Thư, vòng lạc thư này từ đâu ra, ngủ hành của 8 quái trong HTBQVV là căn cứ vào đâu (Vì nhiên không phải là Hà Đồ rồi, vì theo Hà Đồ thì 8 và 2 không phải là Thổ, 4 không phải là Mộc, 6 và 7 không phải là Kim, 9 củng không phải là Hỏa)??? Thân
  3. Chào bác Hà Uyên, Một câu hỏi thật là thú vị!!! Khi vẽ ra 9 bản phi tinh theo bác nói từng số nhập trung cung, thì thấy sự vận hành của các cặp số sinh thành đi theo vòng Tiên Thiên Bát Quái!!!
  4. Kính Thầy, Đó chính là sự giải thích của cái lý thuyết Hà Đồ Lạc Thư thay đổi Hỏa Kim theo bác Kyte trích ra từ sách, và một vài người trên các mạng. VinhL chỉ dẫn giải ra để mà nêu lên sự thiếu nhất quán và bất hợp lý. Kính bác Hà Uyên, Vòng trường sinh có liên quan vì đến số Hà Đồ 1-6, 2-7, 3-8, 4-9??? Tại sao 6,7,8,9 đều là thành số? Thiên 1 Sinh Thủy khởi Trường Sinh tại Thủy 1, theo lường thiên xích (Lạc Việt hay Huyền Không Phi Tinh) nghịch hành đến 6 là Đế Vượng (Sinh 1, Dục 9, Đới 8, Quan 7, Vượng 6) cho nên Thủy Thành ở 6. Địa 2 Sinh Hỏa, khởi Trường Sinh tại Hỏa 2, theo lường thiên xích nghịch hành đến 7 là Đế Vượng (Sinh 2, Dục 1, Đới 9, Quan 8, Vượng 7) nên Hỏa Thành ở 7. Thiên 3 Sinh Mộc, khởi Trường Sinh tại Mộc 3, theo lường thiên xích nghịch hành đến 8 là Đế Vượng (Sinh 3, Dục 2, Đới 1, Quan 9, Vượng 8) nên Mộc Thành ở 8. Địa 4 Sinh Kim, khởi Trường Sinh tại Kim 4, theo lường thiên xích nghịch hành đến 9 là Đế Vượng (Sinh 4, Dục 3, Đới 2, Quan 1, Vượng 9) nên Kim Thành ở 9. Đây có phải là sự ngẫu nhiên trùng hợp hay không? Hay là một quy luật ẩn tàng trong vòng số cửu cung. Vòng số cộng trừ của bác nếu đi theo lường thiên xích: Đi thuận từ 1: Trừ 4, Trừ 3, Trừ 2, Trừ 1, 5, Cộng 1, Cộng 2, Cộng 3, Cộng 4. Đi nghịch từ 9: Cộng 4, Cộng 3, Cộng 2, Cộng 1, 5, Trừ 1, Trừ 2, Trừ 3, Trừ 4.
  5. Chào bạn Sapa, Nếu theo sự hoán đổi Kim 4-9 thành Hỏa 4-9, Hỏa 2-7 thành Kim 2-7 Thế xin cho hỏi, theo HTBQVV nạp số Lạc Thư tại sao Tốn 4 không phải Hỏa mà lại là Mộc, Khôn 2 không phải là Kim mà là Thổ???? Thân
  6. Kính Bác Hà Uyên, Dưới đây là cách giải thích vòng Âm Dương Trường Sinh mà nhiều người cho là căn cứ vào Hà Đồ Lạc Thư, HTBQVV (Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương) và sự tráo đổi Hỏa và Kim 4 Tốn Thìn Tỵ…...…..9 Ly Ngọ………..….2 Khôn Mùi Thân 3 Chấn Mão…..….……5………….……......…7 Đoài Dậu 8 Cấn Sửu Dần……….1 Khãm Tý…….….6 Càn Tuất Hợi Dương Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Mộ tại Thìn 4 (Tốn) = 2+7+6+1+8+3+4=31, 1 là Dương Thủy theo Hà Đồ. Âm Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Tử tại Sửu 8 (Cấn) = 2+9+4+3+8=26, 6 là Âm Thủy theo Hà Đồ. Dương Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Mộ tại Mùi 2 (Khôn) = 6+1+8+3+4+9+2=33, 3 là Dương Mộc theo Hà Đồ Âm Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Tử tại Thìn 4 (Tốn) = 6+7+2+9+4 = 28, 8 là Âm Mộc Dương Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Mộ tại Tuất 6 (Càn) = 8+3+4+9+2+7+6=39, 9 là Dương Kim theo Hà Đồ mà, chứ đâu phải là Dương Hỏa đâu!!!! Âm Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Tử tại Mùi 2 (Khôn) = 8+1+6+7+2=24, 4 là Âm Kim theo Hà Đồ mà, chứ đâu phải là Âm Hỏa đâu!!! Dương Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Mộ tại Sửu 8 (Cấn) = 4+9+2+7+6+1+8=37, 7 là Dương Hỏa theo Hà Đồ mà, đâu phải là Dương Kim đâu!!! Âm Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Tử tại Tuất 6 (Càn) = 4+9+2+7+6=22, 2 là Âm Hỏa theo Hà Đồ mà, đâu phải là Âm Kim đâu!!! Theo như vậy phương pháp trên Thủy và Mộc thì hợp lý, nhưng chẳng có hợp lý chút nào cho hành Hỏa và Kim. Củng vì vậy lạị có thuyết cho là bởi sự thay đổi giửa Hỏa và Kim giữa Hà Đồ và Lạc Thư. Nếu theo lý luân này Dương Hỏa được tổng là 39, số 9 ở Hà Đồ là Dương Kim ở HTBQVV (Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương) là Ly nên cho 9 là Hỏa, vậy Âm Hỏa được tổng là 24, số 4 ở Hà Đồ là Âm Kim ở HTBQVV là Tốn Âm Mộc đâu phải là Âm Hỏa đâu!!! Củng theo lý luận trên Dương Kim được tổng là 37, số 7 ở Hà Đồ là Dương Hỏa ở HTBQVV là Đoài nên là Dương Kim, vậy Âm Kim được tổng là 22, số 2 ở Hà Đồ là Âm Hỏa nhưng ở HTBQVV là Khôn Thổ chứ đâu phảI Âm Kim đâu!!! Cho nên sự giải thích trên hoàn toàn không nhất quán và hợp lý chút nào. Nếu ghép số Lạc Thư (hay theo VinhL là số Tiên Thiên) vào 12 Địa chi rồi cộng theo vòng Trường Sinh Dương Sinh Âm Tử, Âm Sinh Dương Tử thì các Dương hành đều có tổng là 45, các Âm hành đều có tổng là 40. Tỵ 4….…Ngọ 9……Mùi 2…...Thân 2 Thìn 4…….....……………..………Dậu 7 Mão 3………….......………………Tuất 6 Dần 8……Sửu 8…...Tý 1….…Hợi 6 Dương Thủy Sinh Thân Mộ Thìn: 2+7+6+6+1+8+8+3+4 = 45 Âm Thủy Sinh Tử Sửu: 2+2+9+4+4+3+8+8 = 40 Dương Mộc Sinh Hợi Mộ Mùi: 6+1+8+8+3+4+4+9+2 = 45 Âm Mộc Sinh Hợi Tử Thìn: 6+6+7+2+2+9+4+4 = 40 Dương Hỏa Sinh Dần Mộ Tuất: 8+3+4+4+9+2+2+7+6 = 45 Âm Hỏa Sinh Dần Tử Mùi: 8+8+1+6+6+7+2+2 = 40 Dương Kim Sinh Tỵ Mộ Sửu: 4+9+2+2+7+6+6+1+8 = 45 Âm Kim Sinh Tỵ Tử Tuất: 4+4+3+8+8+1+6+6 = 40 Thế là được 5 và 0 thì Toàn là Thổ cả!!!
  7. Chào bạn Rin86, Có thể dịch như sau: From the presence of the bronze knife staff which illustrated the costume of Hung dynasty 300 BC to the prior period, not many changes has occurred. Thân
  8. Kính chào các Chú Bác, Vòng Trường Sinh được ứng dụng trong nhiều môn lý học đông phương, nào là Tử Vi, Phong Thủy, Trạch Cát, Tử Bình, vv… Nhưng khi ứng dụng đến vòng Âm Trường Sinh tức vòng Trường Sinh cho Âm Hành thì mỗi môn mỗi cách. VinhL xin đưa ra 3 cách an Âm Trường Sinh để so sánh mong được các chú bác tham gia suy luận hòng tìm ra một vòng hợp lý nhất. Hiện nay có 3 cách an vòng Âm Trường Sinh: 1/Theo cách của Tử Vi 2/Theo cách định Thủy cục của Phong Thủy, hay học phái Tử Vi của cụ Thiên Lương 3/Theo Hiệp Kỷ Biện Phương Thư và đa số các sách Hán. 1/Vòng Trường Sinh theo Tử Vi: Dương Thủy: Sinh Thân Vượng Tý Mộ Thìn Âm Thủy: Sinh Thân Vượng Thìn Mộ Tý Dương Mộc: Sinh HợI Vượng Mão Mộ Mùi Âm Mộc: Sinh HợI Vượng Mùi Mộ Mão Dương Hỏa: Sinh Dần Vượng Ngọ Mộ Tuất Âm Hỏa: Sinh Dần Vượng Tuất Mộ Ngọ Dương Kim: Sinh Tỵ Vượng Dậu Mộ Sửu Âm Kim: Sinh Tỵ Vượng Sửu Mộ Dậu Theo cách an Trường Sinh này thì Âm Dương cùng Sinh một nơi mà Mộ khác nơi, Âm hành không mộ ở hành Thổ, Dương Cực (Vượng) thì Âm Mộ, Âm Cực (Vượng) thì Dương Mộ Sẳn đây VinhL xin đem sự giải thích mà nhiều người cho là hợp ly căn cứ vào Hà Đồ Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương. 4 Tốn Thìn Tỵ…….…..9 Ly Ngọ…………2 Khôn Mùi Thân 3 Chấn Mão…..………5………….………7 Đoài Dậu 8 Cấn Sửu Dần……….1 Khãm Tý…….….6 Càn Tuất Hợi Dương Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Mộ tại Thìn 4 (Tốn) = 2+7+6+1+8+3+4=31, 1 là Dương Thủy theo Hà Đồ. Âm Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Tử tại Sửu 8 (Cấn) = 2+9+4+3+8=26, 6 là Âm Thủy theo Hà Đồ. Dương Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Mộ tại Mùi 2 (Khôn) = 6+1+8+3+4+9+2=33, 3 là Dương Mộc theo Hà Đồ Âm Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Tử tại Thìn 4 (Tốn) = 6+7+2+9+4 = 28, 8 là Âm Mộc Dương Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Mộ tại Tuất 6 (Càn) = 8+3+4+9+2+7+6=39, 9 là Dương Kim theo Hà Đồ mà, chứ đâu phải là Dương Hỏa đâu!!!! Âm Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Tử tại Mùi 2 (Khôn) = 8+1+6+7+2=24, 4 là Âm Kim theo Hà Đồ mà, chứ đâu phải là Âm Hỏa đâu!!! Dương Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Mộ tại Sửu 8 (Cấn) = 4+9+2+7+6+1+8=37, 7 là Dương Hỏa theo Hà Đồ mà, đâu phải là Dương Kim đâu!!! Âm Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Tử tại Tuất 6 (Càn) = 4+9+2+7+6=22, 2 là Âm Hỏa theo Hà Đồ mà, đâu phải là Âm Kim đâu!!! Theo như vậy phương pháp trên Thủy và Mộc thì hợp lý, nhưng chẳng có hợp lý chút nào cho hành Hỏa và Kim. Củng vì vậy lạị có thuyết cho là bởi sự thay đổi giửa Hỏa và Kim giữa Hà Đồ và Lạc Thư. Nếu theo lý luân này Dương Hỏa được tổng là 39, số 9 ở Hà Đồ là Dương Kim ở HTBQVV (Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương) là Ly nên cho 9 là Hỏa, vậy Âm Hỏa được tổng là 24, số 4 ở Hà Đồ là Âm Kim ở HTBQVV là Tốn Âm Mộc đâu phảI là Âm Hỏa đâu. Củng theo lý luận trên Dương Kim được tổng là 37, số 7 ở Hà Đồ là Dương Hỏa ở HTBQVV là Đoài nên là Dương Kim, vậy Âm Kim được tổng là 22, số 2 ở Hà Đồ là Âm Hỏa nhưng ở HTBQVV là Khôn Thổ chú đâu phảI Âm Kim đâu. Cho nên sự giải thích trên hoàn toàn không hợp lý. 2/Theo cách định Thủy cục của Phong Thủy, hay học phái Tử Vi của cụ Thiên Lương Dương Thủy: Sinh Thân Vượng Tý Mộ Thìn Âm Thủy: Sinh Tý Vượng Thân Mộ Thìn Dương Mộc: Sinh Hợi Vượng Mão Mộ Mùi Âm Mộc: Sinh Mão Vượng Hợi Mộ Mùi Dương Hỏa: Sinh Dần Vượng Ngọ Mộ Tuất Âm Hỏa: Sinh Ngọ Vượng Dần Mộ Tuất Dương Kim: Sinh Tỵ Vượng Dậu Mộ Sửu Âm Kim: Sinh Dậu Vượng Tỵ Mộ Sửu Theo cách an Trường Sinh này Âm Dương sinh không cùng nơi nhưng cùng Mộ một nơi hành Thổ, Dượng Cực (Vượng) thì Âm Sinh, Âm Cực (Vượng) thì Dương Sinh. 3/Theo Hiệp Kỷ Biện Phương Thư và đa số các sách Hán. Dương Thủy: Sinh Thân Vượng Tý Tử Mão Mộ Thìn Âm Thủy: Sinh Mão Vượng Hợi Tử Thân Mộ Mùi Dương Mộc: Sinh Hợi Vượng Mão Tử Ngọ Mộ Mùi Âm Mộc: Sinh Ngọ Vượng Dần Tử Hợi Mộ Tuất Dương Hỏa: Sinh Dần Vượng Ngọ Tử Dậu Mộ Tuất Âm Hỏa: Sinh Dậu Vượng Tỵ Tử Dần Mộ Sửu Dương Kim: Sinh Tỵ Vượng Dậu Tử Tý Mộ Sửu Âm Kim: Sinh Tý Vượng Thân Tử Tỵ Mộ Thìn Theo cách an Trường Sinh này Âm Dương Sinh không cùng nơi, Mộ không cùng nơi nhưng Mộ đều là hành Thổ, Dương Sinh thì Âm Tử, Âm Sinh thì Dương Tử. Tóm lại 3 cách trên như sau Tử Vi: Dương Cực thì Âm Mộ, Âm Cực thì Dương Mộ Phong Thủy: Dương Cực thì Âm Sinh, Âm Cực thì Dương Sinh Thiên Can: Dương Sinh thì Âm Tử, Âm Sinh thì Dương Tử Trong 3 cách an vòng Âm Trường Sinh trên, theo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thì cách nào là hợp lý nhất??? Dịch thì nói Dương Cực thì Âm Sinh, Âm Cực thì Dương Sinh chứ có nghe nói đến Dương Cực Âm Mộ, Âm Cực Dương Mộ, hay Dương Sinh Âm Tử, Âm Sinh Dương Tử bao giờ đâu. Theo các bác thì càch nào hợp lý nhất?
  9. Căn 92 trước có hồ nước tụ khí om vào hửu tình ấm cùng, nhưng Thầy đã chọn rồi. Nhưng củng còn hên là căn 62 chưa bị ThanhVân chọn, VinhL xin xí căn 62 củng ấm cúng có đường lộ om vào, hihihi.
  10. Chào bạn Phongthuysinh, VinhL thật lòng muốn bạn tính toán giùm vì Astronomy thì mình không chuyên lắm nên muốn tính toán thì phải gom một đóng sách ra đọc, chắc mấy ngày sau mới tính được. Thấy bạn lập trình trong xcel nên nghỉ bạn rành về các công thức thiên văn nên VinhL nhờ bạn giúp, không ngoài ý gì khác. Đây là phương pháp đo bóng xào, và củng chính là 12 quái trong dịch. Vì vậy mà có thể nói Thái Cực Đồ, và Trùng Quái đều khởi xuất từ phương pháp đo bóng xào. Thế thì dân tộc nào biết sử dụng bóng xào đầu tiên, có thể là chủ nhân của Dịch vậy. Tháng 10 HợI, Tiểu Tuyết, Solar Longitude = 240 độ, quẻ Khôn Tháng 11 Tý, Đông Chí, Solar Longitude = 270 độ, quẻ Phục Tháng 12 Sửu, Đại Hàn, Solar Longitude = 300 độ, quẻ Lâm Tháng Giêng Dần, Vũ Thủy, Solar Longitude = 330 độ, quẻ Thái Tháng 2 Mão, Xuân Phân, Solar Longitude = 0 độ, quẻ ĐạI Tráng Tháng 3 Thìn, Cốc Vũ, Solar Longitude = 30 độ, quẻ Quải Tháng 4 Tỵ, Tiểu Mãng, Solar Longitude = 60 độ, quẻ Kiền Tháng 5 Ngọ, Hạ Chí, Solar Longitude = 90 độ, quẻ Cấu Tháng 6 Mùi, ĐạI Thử, Solar Longitude = 120 độ, quẻ Độn Tháng 7 Thân, Sử Thử, Solar Longitude = 150 độ, quẻ Bĩ Tháng 8 Dậu, Thu Phân (Autumal Equinox), Solar Longitude = 180 độ, quẻ Quán Tháng 9 Tuất, Sương Giáng, Solar Longitude = 210 độ, quẻ Bác Theo các hình trên thì tháng 10 Hợi, tiết Tiểu Tuyết khi solar longitude = 240 độ, thì bóng dài nhất, tháng 4 Tỵ, tiết Tiểu Mãng khi solar longitude = 60 độ thì bóng ngắn nhất. Từ hai điểm trên nếu ta có thể tìm được vĩ tuyến nào vào hai tiết này có bóng mặt trờI dài nhất và ngắn nhất thì ta có thể phỏng đoán được nơi khởi xướng của học thuyết Âm Dương và Dịch. Vài vòng suy luận lung tung, chưa dám cho là đúng, mong các bạn tham gia bàn luận. Thân
  11. Chào bạn Phongthuysinh, VinhL có một vấn đề mong nhờ bạn giúp đở. Theo VinhL nghỉ cùng một múi giờ nhưng ở vào Vĩ Tuyến (latitude) khác nhau sẻ có độ dài của bóng xào khác nhau. Không biết bạn có thể tính giùm VinhL vào tiết Tiểu Tuyết tức khi solar longtitude = 240 độ, thì ở Vĩ Tuyến (Latitude) nào vào giờ ngọ sẻ có bóng xào ngắn nhất hay là không có bóng. Chân thành cám ơn bạn.
  12. Chào bạn Phongthuysinh, Cám ơn bạn cung cấp những thông tin, nay VinhL đã hiểu đồ thái cực chính xác được vẻ ra từ độ dài của bóng xào như thế nào. Thân
  13. Chào bạn Phongthuysinh, Đây là hình tương tự với hình bạn đã gữi cho VinhL và đây là củng là hình số 8 mà bạn đề cặp. Hình số 8 này được gọi là Analemma tức là quỉ đạo dịch chuyển của Mặt trời cùng một thời điểm trong ngày theo từng ngày trongnăm, không phải là bóng mặt của mặt trời chiếu xuống cây xào. Thân.
  14. Chào bạn HaiThienHa, Chắc bạn muốn nói đến Tiểu Hạn tại cung Sửu Quan Lộc vào năm Tân Mão (2011), lâm Tử địa ngộ Tuần Triệt Hỏa Kiếp Không, giáp Hình Sát Kỵ đây. Nhưng VinhL nghỉ ông ta sẻ thoát khỏi nhờ Nhật Nguyệt Thái Tuế, Tả Hửu Long Phượng Hổ Cái, Quang Quý, Quang Phúc, song Giải, lại giáp Xương Khúc Khôi, khá đủ bộ cát tinh giải thần phù trợ. Sự trùng hợp lý thú: Mệnh vô chính diệu đắc tam không, giờ sinh không vong, đắc cử tổng thống củng vào giờ không vong! Thân
  15. Chào bác Kyte, Rất mong muốn được nghe bác nói về phương pháp luận quẻ lục nhâm của bác. Thành thật cám ơn
  16. Chào bạn HungNguyen, Ý kiến bạn rất là professional!!! VinhL hoàn toàn ủng hộ. Mong bạn tham gia ban Dịch Sách. Hy vọng bạn lảnh phần technical vocabulary. Không biết Thầy nghỉ sao? Thành thật cám ơn
  17. Chào Bác Hà Uyên, chú Vo Truoc, Giáp Kỷ hóa Thổ vv….. Là sự kếp hợp của hai quy luật tương hợp và thiên khí trợ hóa. Hợp là căn vào cặp số của Hà Đồ 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, 5-10 là sự quan hệ vợ chồng, sự sinh thành của ngũ hành, cho nên 1-6: Giáp hợp Kỷ, 2-7: Ất hợp Canh, 3-8: Bính hợp Tân 4-9: Đinh hợp Nhâm 5-10: Mậu hợp Quí Hóa là nói đến thiên khí (10 thiên can) giáng xuống vận hành trong trái đất thuận theo phương vị Hà Đồ mà trợ khí ngũ hành đang vượng. Thiên can lấy Giáp khởi ở trung cung gặp Thổ vượng mà hóa Thổ, vận chuyển sang Tây là Ất gặp Kim khí vượng mà hóa ra Kim, vận chuyển sang Bắc là Bính gặp Thủy khí vượng mà hóa Thủy, vận chuyển sang Đông là Đinh gặp Mộc khí vượng mà hóa Mộc, vận chuyển đến Nam là Mậu gặp Hỏa khí vượng mà hóa Hoả, nhập lại trung cung là Kỷ gặp Thổ khí vượng mà hoá Thổ, lại sang Tây Canh gặp Kim khí vượng mà hóa Kim, sang Bắc là Tân hóa Thủy, sang Đông là Nhâm hóa Mộc, sang Nam là Quí hóa Hỏa, hết vòng Thiên Can lại bắt đầu trở lại. Vì vậy ta có: Giáp hóa Thổ, Ất hóa Kim, Bính hóa Thủy, Đinh hóa Mộc, Mậu hóa Hỏa Kỷ hóa Thổ, Canh hóa Kim, Tân hóa Thủy, Nhâm hóa Mộc, Quí hóa Hỏa Khi kếp hợp sự Thiên Can tương hợp và Thiên khí trợ hóa thì kết quả Là Giáp Kỷ hợp và hóa Thổ Ất Canh hợp và hóa Kim Bính Tân hợp và hóa Thủy Đinh Nhâm hợp và hóa Mộc Mậu Quí hợp và hóa Hỏa. Có gì sai sót mong Bác và chú chỉ dẫn. Kính
  18. Chào bạn Nhị Địa Sinh, Vì vậy VinhL nghỉ, bộ tộc nào sáng lập phương pháp lấy sào đo bóng mặt trời đầu tiên, CÓ THỂ là chủ nhân của thuyết Âm Dương Lưỡng Nghi. Thân
  19. Chào bạn Rin86, Sửa giùm bạn đoạn đầu, thêm chút xíu gia vị, nếu thấy không ổn thì loại bỏ nhé. Khi nào rảnh VinhL sửa tiếp. With a 5000 years of proud heritage and rich cultural tradition since 2879BC, Vietnamese history has been recorded by the imperial court. Our history spans thousands of years in continuous struggle against foreign invasions but non-stop in cultural development to this day. It is the only country that honour diplomacy and peace by naming her culture values “Văn Hiến” – The Charter of Cultural Elevation, the non-military way. The Ying Yang and Five Elements principle is the unversal doctrine which has been applied in every aspect of daily activities by all Vietnamese people, from our festival cakes to our daily costume. The knowledge and the application of this principle has contribute to the depth and richness of our culture and society. It is a solid foundation of transcendent oriental values that strong enough to survive, to stand against conquerer forces, the up and down cycles of historical change and the erosion of time. Thân
  20. Chào bạn Lão Nông, Sau đây chính là bức hình của chú DaoHoa up lên. Nhìn vào bức hình này thì mới biết Đồ Thái cực chính là do bóng của cây xào tạo ra, và củng là do ánh sáng mặt trời. Như vậy chính Thái Dương vẽ ra Đồ Thái Cực sớm nhất, từ khi nó được hình thành và phát ra ánh sáng. Nay nhìn vào hình, thì thấy lưỡng nghi có hình thể như thế là do sự chuyển động của trái đất quanh mặt trời. Vòng quỷ đạo này là hình ellipse có hai tâm, mặt trời thì cư ở một tâm còn tâm kia thì không có hành tinh nào cả. Hai tâm này có phải là một Âm một Dương trong thuyết Âm Dương không? Thân
  21. Chào LinhNhi, và các bạn, Nói đến Pluto thì VinhL nhớ lại quyển “Astrology Really Work!” của Magi Society, chuyên nghiên cứu cách cục và ảnh hưởng của hành tinh này trong Tử Vi Tây Phương (Astrology). Hai nhà Tỷ Phú nhất nhì thế giới Bill Gates và Warrant Buffet đều có cách Tuế Tinh (Jupiter) kết hợp với Diêm Vương (Pluto). Một trong những cách cục quyền quý nhất của Diêm Vương Tinh. Thân
  22. Kính Thầy, VinhL vẫn chưa đọc xong, nhưng củng hiểu chút chút, nhưng còn nhiều nghi vấn chưa được đã thông. Theo sách nói Chân Thiện Nhẫn tức là bản tánh chân Thiện của Vũ Trụ. Phản bỗn quy chân là trở về với bản tánh của vũ trụ. Chử Thiện ở đây theo VinhL hiểu sau khi đọc sơ thì là Từ Bi. Chân Thiện tức là Từ Bi Phổ độ bầu cầu công, danh, lợi, lộc, nhưng không phải là cứu khổ. Khổ nạn, theo sách nói, chính là do nghiệp lực chính mình, tự mình phải trả, Pháp Luân phái củng không thể giúp. Phổ độ là chỉ dẫn phương pháp tiến lên để từ từ tìm đến tự giác. VinhL thấy phần nói đến “Huyền Quang Nhất Khiếu” củng thật là hay nên củng muốn tìm hiểu thêm. Đó chính là những gì VinhL hiểu sau khi đọc sơ qua. Có gì sai sót mong Thầy chỉ dẫn.
  23. Tỷ Artemisia Ơi, cho VinhL này vào với. Thành thật cám ơn
  24. Chào bạn ChanThienNhan, Cám ơn bạn đã cho link download sách Chuyển Pháp Luân. Đọc sơ qua quả thật có nhiều nguyên lý sâu sắc nếu không phải người trí tuệ thông thái, có nghiên cứu sâu sắc về Phật pháp, Đạo Pháp, thì không thể hiểu được rành mạnh như thế. Sách này quả thật nên đọc để mở mang kiến thức. Nếu VinhL có nghi vấn muốn hỏi, xin cho biết ai có thể trả lời được? Thân
×
×
  • Create New...