Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Rubi

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1161
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    3

Everything posted by Rubi

  1. Chào anh HungNguyen, Rubi thêm vài lời đồng tình với nhận định của anh. Theo Rubi thấy, khi tiếp cận với các sách về lý học và nội dung ứng dụng của nó ít nhắc đến Hà Đồ mà chỉ có, hầu như toàn là Lạc Thư. Chính vì vậy mà Rubi nghĩ rằng, Nhà Nghiên cứu người Tây phương kia muốn qui đồng tính chất của Lạc Thư với Ngũ hành tương sinh của hiện tượng Xuân Hạ Thu Đông nên đã thay đổi tính chất số của Hành Kim và Hành Hỏa với nhau. Và sách đó cũng chỉ nhắc đến Lạc Thư chứ không có chữ nào nói đến Hà Đồ. Cho nên, sự chính lý của vị đó có phần thiếu kiến thức tổng quát. Đó cũng là một hiện tượng cho thấy tình hình chung, khi người Tây phương muốn chính lý và thống nhất hệ thống lý học Đông phương gặp rất nhiều trở ngại. Còn chỉ ra những lý do của nó thì thôi, Rubi dành cho các Nhà Nghiên cứu thì sẽ tốt hơn. Lôi Hà Đồ vào cuộc, chắc chú Thiên Sứ là người tiên phong.
  2. Chào chú Vuivui, có lẽ Rubi thấy mà không nhầm thì chú là Hà Uyên. Trước hết cách viết ":"...."" của Rubi nghĩa là nội dung trong ngoặc kép là toàn bộ lời sau dấu [:], và nó không phải là trích dẫn nguyên si lời văn. Như vậy cách nói thế là được ý mà không phụ thuộc vào lời. Nói đến cách dùng từ "Phổ biến" Rubi thấy thích hợp hơn từ "Phổ thông". Còn sự phổ biến ở cấp nào thì nó là phổ thông của cấp ấy, nếu kiến thức được phổ biến ở lớp 1 thì nó là kiến thức phổ thông của cấp 1, nếu nó là phổ biến của cấp cơ sở thì nó là phổ thông của cấp cơ sở. Còn nếu ai có khả năng thì tự do nghiên cứu, tình hình thực tế nó như vậy thì việc xác định cấp là mang tính tương đối, và có thể tạm gọi là cấp tri thức tự do. Nói rằng cái này ghép với cái kia, là một cách nói nôm na. Nếu cần nghiêm chỉnh mà nói thì Rubi phát biểu rằng: "Vì lời không nói hết được ý của Âm dương Ngũ hành nên phải đặt ra Tượng và Số để nói. Tượng và Số đồng nhất với nhau về tính chất Âm dương Ngũ hành, nhưng hình thức khác nhau, đó là để biểu đạt đầy đủ nguyên lý của Âm dương Ngũ hành. Và dựa trên cái khung Sinh và Khắc của Ngũ hành, cũng như, cần nhấn mạnh rằng, tượng và số là hai hệ độc lập và đồng nhất một cách gián tiếp trên tính chất cơ bản Âm dương Ngũ hành". Nhưng không phải nôm na mà vẫn nói đúng thực tế, đồng thời vẫn dùng từ 'cái này ghép với cái kia' thì lại khác. Đó là áp đặt, là "triết" giống như là triết một cành cây chết lên một thân cây sống hoặc ngược lại, như là triết sừng lên đầu thỏ hoặc triết lông lên lưng rùa. Nếu nói về sự sơ sài thì vấn đề của anh Hà Uyên trình bày như vậy là cũng sơ sài rồi. Ít nhất là sơ sài đối với câu nói "Tiên học lễ, hậu học văn". Căn cứ trên đây thì Rubi cháu cũng đâu có sơ sài, phải chứ ạ ? Dịp này lại được nói chuyện với chú Vuivui, chắc Rubi vẫn giữ thái độ giống như là ở bên tuvilyso.net thì ở đâu cũng sống được, chẳng ai làm gì được, lại cũng chẳng ai chê trách.
  3. Thưa các học giả và các anh chị, Rubi có một số nhận định và tổng kết khái quát một cách rất hạn chế đối với vấn đề phát kiến lý học của các Nhà Nghiên cứu. Nhấn mạnh một điểm là, cách nhận xét của Rubi rất bị hạn chế. Đọc giả xem thấy, nếu có ý kiến, xin cứ trực tâm phát biểu. Kiến thức lý học phổ biến thì nói: "Hà đồ ghép với Tiên thiên Bát quái, Lạc Thư ghép với Hậu thiên Bát quái". Tổng hợp các phát kiến đối lập với kiến thức phổ biến nói trên thì có hai Nhà Nghiên cứu là chú Thiên Sứ và hội viên có nick là Hà Uyên, tức là : "Hà đồ ghép với Hậu Thiên Bát quái, Lạc Thư ghép với Tiên thiên Bát quái". Đó là nếu ra khái quát bề ngoài, còn nội dung cụ thể thì Rubi chưa tìm hiểu và nghiên cứu các vấn đề mà các Nhà Nghiên cứu đã công bố trên diễn đàn và/hoặc đã được xuất bản. Nói rằng: "Hà đồ ghép với Hậu Thiên Bát quái, Lạc Thư ghép với Tiên thiên Bát quái" thì thực tế là thế này, Hâu thiên Bát quái được chỉnh lý do chú Thiên Sứ, Bát quái này được ghép với Hà Đồ, song song (có thể vô tình) với phát kiến đó thì có anh Hà Uyên có phát kiến "Lạc Thư ghép với Tiên thiên Bát quái". Nói thêm về phát kiến của anh Hà Uyên, tức là vấn đền "Lạc thư ghép với Tiên thiên Bát quái", tuy là Rubi thấy anh Hà Uyên chưa có bài viết nào nói thẳng như vậy, nhưng xem bài của anh ấy, Rubi tự nêu ra kết luận như vậy. Nếu Rubi kết luận không nhầm thì phát kiến này của anh Hà Uyên ít nhất đã có từ năm 2006 (tức là trước cả các phát kiến của Rubi), nhưng đến thời điểm này, 2009 mới thấy bài viết của anh Hà Uyên đăng trên diễn đàn. Ý tưởng "Lạc thư ghép với Tiên thiên Bát quái", chưa nói đến hướng đi đúng hay sai, nhưng trước mắt có thể thấy các vấn đề sau: -Tính chất đối xứng tâm tam biến của Tiên thiên Bát quái có thể quan hệ trực tiếp với tính chất đối xứng bù của 10 của Lạc thư. Đây có lẽ là yếu tố dễ cuốn hút nhất để định hướng nghiên cứu vấn đề. -Việc chứng minh hệ thống các nguyên lý liên quan trực tiếp cho ý tưởng phát kiến này tương đối khó khắn vì có rất nhiều mâu thuẫn, trước hết là mẫu thuẫn với hệ thống kiến thức lý học phổ biến. -Lấy ý tưởng làm khúc giữa của vấn đề, còn lại là xây dựng khúc đầu và khúc cuối của nó. Nhưng với ý tưởng này, việc xây dựng khúc đầu là các nguyên lý căn bản tương đối là chấn động, nhưng việc xây dựng khúc cuối của nó là liên quan đến độn giáp và thái ất thì có vẻ triển vọng hơn. Ý tưởng Lạc thư ghép với Tiên thiên Bát quái cũng lại có thể song song với ý tưởng phát kiển của một Nhà Nghiên cứu (người tây phương, Rubi không nhớ tên nhưng đã xem sách của vị này), tức là: "7 và 2 là số của hành Kim, 9 và 4 là số của hành Hoả". Mở rộng ý tưởng thì thấy: -Quái Càn và Đoài, ứng với số 9 và 4, thuộc hành Hỏa trở thành Thái Dương Hoả. -Quái Khôn và Cấn, ứng với số 1 và 6, thuộc hành Thủy trở thành Thái Âm Thuỷ. -Quái Ly và Chấn, ứng với số 3 và 8, thuộc hành Mộc trở thành Thiếu Dương Mộc. -Quái Khảm và Tốn, ứng với số 7 và 2, thuộc hành Kim trở thành Thiếu Âm Kim. Trong trường hợp coi trọng sự liên quan đối xưng bù và đối xứng tâm như nếu trên thì có một vấn đề xuất hiện là hiện tại Lạc Thư chỉ có chín số, song có thể thêm số 10 vào Lạc Thư. Với Lạc thư chỉ có chín số thì có thể nói 9 đối xứng bù với 1 ứng với Càn đối xứng tâm với Khôn, nhưng với Lạc thư có 10 số thì số 1 lại phải đối với số 10 chứ không thể đối với số 9. Song yếu tố để thêm số 10 vào Lạc thư là vì Tiên thiên Bát quái được hình thành từ Lưỡng nghi, mà lưỡng nghi thì yêu cầu cần có số 5 và 10. Đại khái là Rubi có vài lời như vậy trước.
  4. Cập nhật: Bản 01052009
  5. Rubi cập nhật các bản thiết kế tả chất: 01 02 03 04
  6. Ghi chú: Xuân Hạ Thu Đông là hiện tượng mang yếu tố góp phần cho một kết luận của triết lý. Nhưng có lẽ chỉ dưa vào quan sát bề ngoài thì cũng chỉ kết luận được bề ngoài. Với Nghi Biểu Ngũ Hành, thì mới thấy nó là Nguyên nhân của hiện tượng Sinh Trưởng Thâu Tàng. Sinh Trưởng Thâu Tàng là kết quả của sự tương tác Âm và Dương với nhau. Về mặt Nguyên nhân thì phải tách biệt Âm và Dương để lý luận, nếu không tách biệt được Âm và Dương thì không thể so sánh, nếu không so sánh thì không biết sự tương tác, không biết sự tương tác mà chỉ thấy kết quả của nó thì đúng là chỉ thấy được bề ngoài của Ngũ hành. Tại hành Thủy thì Âm sinh Tại hành Mộc thì Âm vượng Tại hành Hỏa thì Âm tù Tại hành Kim thì Âm tuyệt Tại hành Hỏa thì Dương sinh Tại hành Kim thì Dương vượng Tại hành Thủy thì Dương tù Tại hành Mộc thì Dương tuyệt So sánh thì thấy: Âm sinh Dương tù tại hành Thuỷ Âm vượng Dương tuyệt tại hành Mộc Dương sinh Âm tù tại hành Hoả Dương vượng Âm tuyệt tại hành Kim. Vấn đề tiếp theo là sự so sánh nguyên lý này với hiện tượng Sinh Trưởng Thâu Tàng của Xuân Hạ Thu Đông.
  7. Thưa các học giả và các anh chị, hình trên chỉ là một bằng chứng (theo Rubi) cho vấn đề tháng đầu của năm. Theo Rubi biết, lịch sử lý học cho vấn đề này có các mốc đã dùng là tháng Hợi, tháng Sửu, và tháng Dần. Mỗi tháng đều có thể tìm được những nguyên lý nhất định. ...
  8. Một Âm, một Dương gọi là Đạo đâu có khác Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành.
  9. Tiểu Đề-Định Nghĩa Âm Dương Ngũ Hành Định nghĩa Âm Dương: Âm và Dương là hai đối tượng Đồng Hành. Định nghĩa Ngũ Hành: Ngũ Hành là năm dạng Đồng Hành của Âm Dương. Suy ra: Âm dương Ngũ hành là Năm đôi Đồng hành. P/S: Chữ Hành (trong từ Ngũ Hành) có nghĩa đen là Đồng Hành. Chữ Ngũ (trong từ Ngũ Hành) có nghĩa đên là Năm Đôi. (Hôm nay, 05:21 AM)
  10. Thưa các học giả và các anh chị, Rubi thấy, có lúc có người vẫn nói đến hào số bẩy (7). Nghe thì như không tưởng, nhưng đến đây, khi cần tương ứng với 100 số thì lại cần phải có mặt hào số bẩy, đó chính là hai hào Âm thổ và Dương thổ. Chi tiết hình vẽ sẽ còn tiếp sau.
  11. Hình Hệ 100 Số Tiên Thiên Hồng Đức
  12. Thưa các học giả và các anh chị, tình hình tư tưởng trong bài viết trên cần một chút sự xác định rõ ràng hơn. Khi đang thực hiện các hình vẽ này, Rubi vẫn có tư tưởng khám phá hình tượng (biểu tượng) Lưỡng Nghi, nhưng lại (vô tình) sử dụng một hệ tọa độ (với hai trục là đường chu vi và đường kính) làm yếu tố trợ giúp để vẽ. Hình tượng thì thiên về tư tưởng Triết học (triết lý), hệ tọa độ thì thiên về tư tưởng Toán học. Tức là khi thực hiện các hình vẽ trên, Rubi vẫn nghiêng về triết lý, chưa quan trọng về toán học, do đó, lúc đó chỉ quan tâm đến hình thể và phân tích trên sự cảm nhận về hình thể. Nhưng có thể đường phân cực giữa các hình thể là một bài toàn có giả thuyết và kết luận về vấn đề Đường Phân Cực. Manh nha về một công thức đường phân cực, với hệ đối tượng là 2 (lưỡng nghi) thì chưa nghĩ rằng đây là một bài toàn, với hệ đối tượng là 4 (tứ tượng) cho đến hệ đối tượng là 8 (bát quái) thì cũng chưa nhận ra đây là một bài toán, nhưng với hệ đối tượng là 64 (Hệ 64 quẻ Tiên thiên) thì hình tượng cũng rõ ràng và lại được xây dựng trên một hệ toán học, cho nên có thể đặt vấn đề tư tưởng toán học trong đường phân cực. Với tư tưởng cụ thể hóa hình tượng bằng toán học thì thấy rằng, có một điều cần phân biệt giữa hình lưỡng cực và đường lưỡng cực. Do từ trước đến nay, chỉ thấy hình tượng được thể hiện là đối tượng chính, và cũng có nhiều các phát kiến của các học giả trong và ngoài nước về hình tượng, hầu như hoàn toàn không có một yếu tố toán học làm chính xác cho các hình tượng đó, mà chỉ dựa trên sự suy lý (do vậy đã có một số hình thực chất không có giá trị chân lý). Đó là vì không nhìn ra đối tượng chính của vấn đề là Đường chứ không phải là Hình. Khi đặt vấn đề, đối tượng chính là Đường thì tư tưởng sẽ thiên về Toán học. Với một lượng đơn vị nguyên liệu là 64 thì đủ để xây dựng nên bài toán đường lưỡng cực, giống như chương trình toán học cấp Phổ thông Trung học có các bài toán về Đường tròn, Đường (pa ra bôn), Đường (hi pe bôn). Tóm lại, vấn đề là, khi vẽ các hình vẽ trên, tư tưởng của tác giả vẫn bị ảnh hưởng về hình tượng, tuy có sử dụng toán học nhưng chưa nhìn ra vấn đề đường nét như vừa phân tích. Như vậy, để thấy sự khác biệt giữa nội dung đã phân tích kèm theo hình vẽ với nội dung các bài liên quan tới đường lưỡng cực.
  13. Rubi cập nhật bản thiết kế mới.Hình tượng Lưỡng Nghi được thiết kế từ "siêu công thức đường lưỡng cực" (Hình Lưỡng Nghi này có vẻ có thần hơn, và có nội dung rất mạch lạc rõ ràng, mới phát kiến, đã đăng trong topic 'các cấu trúc...'). Bản 01042009
  14. Thưa các học giả và các anh chị, Rubi tiếp tục tiểu đề này với kết luận về hình tượng chung của Âm dương Tiên thiên. Trước hết là giải thích từ Âm dương Tiên thiên, Tiên thiên là nói đến Ngũ hành Tương Sinh trong đó có Hệ Tứ tượng Tiên thiên, và rồi đến Hệ Bát quái Tiên thiên, sau cùng là Hệ 64 quẻ Tiên thiên. Âm dương của các Hệ Tiên thiên nghĩa là nói đến các cách tính để cụ thể hóa giá trị của mỗi phần tử trong riêng mỗi Hệ. Ở đây, Rubi thấy có hai cách xác định giá trị, hai cách này cùng xuất phát từ một hệ thống nhất quán nhau sau: -Bước thứ nhất chung cho cả ba Hệ nói trên là: Hào trên cùng có giá trị bằng 1, và đồng thời hào liền sau có giá trị gấp đôi hào liền trước, hào Âm sẽ có giá trị là âm (-), hào Dương sẽ có giá trị là dương(+). (ưu điểm của tiền đề này là nó cho ra sự tồn tại một hệ quả hợp lý). -Bước thứ hai là tính toán giá trị Âm và giá trị Dương trong mỗi phần tử Tượng của mỗi hệ. Từ hai bước trên, sẽ thu được các dữ liệu thông tin về các giá trị âm dương. Tiếp theo là sử dụng các giá trị này để tạo ra hình tượng chung cho mỗi hệ, mỗi một hình tượng được tạo ra sẽ có tiền đề là một cách tổng hợp các giá trị âm dương, và sau đây là hai cách tổng hợp: -Cách 1: Trong một Hệ Tiên thiên, mỗi phần tử Tượng đều có hai giá trị đồng thời là Âm và Dương. Trường hợp đặc biệt là Âm = 0 đồng thời Dương = Max(đạt giá trị lớn nhất), hay Dương = 0 đồng thời Âm = Max. Tính tổng của các giá trị Âm dương trong mỗi phần tử Tượng, nếu giá trị Dương lớn hơn giá trị Âm thì kết quả là Tượng đó có giá trị cuối cùng là Dương, nếu giá trị Âm lớn hơn giá trị Dương thì kết quả là Tượng đó có giá trị cuối cùng là Âm. Với cách tính tổng như vậy thì kết quả là các giá trị Âm cũng như Dương, đều là giá trị lẻ. Các phần tử có giá trị âm hợp lại thành Âm cực của Hệ, các phần tử có giá trị dương hợp lại thành Dương cực của Hệ. Liên tiếp các giá trị trong Âm cực sẽ được xác định trên một hệ tọa độ hình tròn, và các giá trị trong Dương cực cũng như vậy. Cụ thể, đối với Hệ 64 quẻ Tiên thiên: -Âm cực của Hệ 64 quẻ gồm có 32 phần tử: "từ -1, -3,-5... cho đến -63". -Dương cực của Hệ 64 quẻ gồm có 32 phần từ: "từ 1,3,5...cho đến 63". -Hệ tọa độ hình tròn với đường kính có giá trị là 64 đơn vị, và 64 cung, gốc tọa độ động là giao điểm giữa chu vi và đường kính ứng với mỗi cung. Trong hệ tọa độ như vậy, thứ tự các giá trị Âm sẽ tạo nên một nửa đường phân cực, thứ tự các giá trị Dương sẽ tạo nên một nữa đường phân cực. Hai đường này liền tiếp nhau và đối xứng nhau qua tâm hình tròn, và tạo nên đường phân cực cho hình tròn. Thực tế, đường phần cực này là kết quả chính, còn sự tô đậm hai cực trong hình tròn chỉ là để mô tả khái quát hệ tọa độ. Hay nói một cách khác, ranh giới làm nên hình dạng mỗi cực, chứ không phải hình dạng mỗi cực làm nên danh giới. Và kết quả, sự phân Âm cực và Dương cực trong Hệ 64 quẻ Tiên thiên có dạng như sau: Hính: đồ hình đường phân cực của Hệ 64 quẻ Tiên thiên Ghi chú: Với hệ tọa độ trên, chu vi hình tròn được bảo toàn với Tứ tượng tiên thiên (quy luật Ngũ hành tương sinh). -Cách 2: (Còn tiếp)
  15. Hình 1: Hình tượng chung của Hệ 64 quẻ Tiên thiên-cách vẽ 1 Hình vẽ này giống với hình tượng một con rồng cắn thân. Và, hai con đối xứng nhau. Đồng thời cách vẽ này cũng giống giông với hình Ngân Hà: Hình 1: Ngân Hà-Thiên Hà Hình 2: Hình tượng chung của Hệ 64 quẻ Tiên thiên-cách vẽ 2 Hình vẽ này ngược với cách vẽ ở hình 1. Hình 1 lấy Tâm làm điểm tựa để xác định độ lớn của 64 cung, hình 2 lấy Chu Vi làm điểm tựa để xác đinh độ lớn Âm dương của mỗi cung trong 64 cung. Hình 3: Hình tượng chung của Hệ 64 quẻ Tiên thiên-cách vẽ 2 Hình vẽ này là vùng tâm của cách vẽ thứ 2. Hình 4: Hình tượng chung của Hệ 64 quẻ Tiên thiên-cách vẽ 3 Hình vẽ này được suy ra từ các hình vẽ trước và thêm một vài yếu tố lý luận. Các hình vẽ trước lấy chu vi hình tròn ứng với chu kỳ Ngũ hành tương sinh làm căn bản, rồi ý đó mà mô tả các giá trị Âm dương nên nó có dạng là một hình số tám đóng khung trong một hình tròn. Còn hình vẽ thứ 4 này, sắp đặt các giá trị Âm dương Tiên thiên liên tiếp theo một chu vi hình tròn.
  16. Hình Hệ 64 quẻ Tiên thiên Hồng Đức
  17. Rubi rong ruổi trên một số diễn đàn lý số, khi đăng các nội dung do Rubi phát kiến về lý học, thường xuyên gặp những điều phản biện có tính chất xúc tác, chưa biết lợi hại thế nào, thôi thì miễn bàn, nhưng một vài lần có hai ba thành viên thắc mắc rằng :"tại sao phát kiến rồi, lại cứ bắt chước lấy tên cũ để đặt cho nội dung mới", chẳng hạn như: "Bát quái Tiên thiên Phục Hi, và Bát quái Hậu thiên Văn Vương...tại sao lại vẫn ghi là Bát quái Tiên thiên và Bát quái Hậu thiên...sao không đặt khác đi..." và gần đây nhất, có hội viên (ở diễn đàn khác) cho rằng như thế là "lố bịch". Chính vì vậy cho nên, các phát kiến của Rubi sẽ có thêm bút danh "Hồng Đức". Còn đây là Hình tượng Ngũ hành Tương sinh Hồng Đức và Hình tượng Ngũ hành Tương khắc Hồng Đức: Hình tượng Ngũ hành Tương sinh Hồng Đức Hình tượng Ngũ hành Tương khắc Hồng Đức
  18. Thưa các học giả và các anh chi, Rubi đặt ra chủ đề này, cũng có lý do, từ kinh nghiệm đối thoại trên các diễn đàn. Kinh nghiệm riêng cho thấy, hiện tượng 'logic ứng dụng' thường có sự "nhiễu" do người sử dụng. Nhận xét này có đúng với xác xuất đa số và có trọng lượng hay không, có thể thí nghiệm, kiểm nghiệm ngay kết quả của chủ đề đặt ra. Môn logic tức là môn Luận Lý Học, là phương pháp luận. Thực tế, Tứ Tượng sinh Bát quái là một đốt của Phương Pháp Luận lý học Đông Phương, và vấn đề, ứng dụng phương pháp luận để phục hồi "phương pháp luận" của Lý học cũng là vấn đề nóng. Bài toán của chủ đề có giả thuyết như sau: Một sinh hai, hai sinh ba. Một là dương. Hai là gồm cả âm và dương. Ba là chỉ cho sự tương tác giữa âm và dương. Tứ tượng sinh Bát quái Tứ tượng là Kim, Mộc, Hoả, Thuỷ. Yếu cầu chứng minh: 1-Bát quái là Âm dương Kim, Mộc, Hoả, Thuỷ. (kết quả 1) 2-Chứng minh kết quả 1 là sai. (kết quả 2) 3-Chứng minh kết quả 2 là sai. (kết quả 3) Xem ra yếu cầu của bài toàn lại là phương pháp chống sự "nhiễu" khi ứng dụng logic nói riêng, (và cũng là nói chung). Ví dụ về nghiên cứu lôgic ngôn ngữ học, nhà học giả thống nhất trọng tâm là: để hiểu được một câu nói, người ta phải hiểu tất cả các từ trong câu nói đó. Cũng vậy, phục hồi phương pháp luận của Lý học, cũng tức là, phải hiểu được tất cả các bước nguyên lý liên quan với nhau một cách logic. Cụ thể, thực tế là chủ đề này, ý nghĩa ngay trước và sau công án Tứ tượng sinh Bát quái là gì ? Vậy Rubi cũng đặt ra để các nhà học giả, các anh chị phát biểu theo ý thức và trực giác riêng.
  19. Tiểu đề: Tứ linh và Tứ tượng Thưa các học giả và các anh chị, tiểu đề này Rubi nêu ra hàm ý trong Tứ linh, tức là sự liên quan theo mặt mà người ta hay gọi là 'đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu'. Kết quả khái quát, Rubi thấy Tứ tượng là: -Thiếu âm Thuỷ -Thái âm Mộc -Thiếu dương Hoả -Thái dương Kim Đem kết quả này so sánh với Tứ linh, sẽ thấy một sự tương ứng: -Thiếu âm Thủy ứng với Huyền vũ -Thái âm Mộc ứng với Thanh long -Thiếu dương Hỏa ứng với Chu tước -Thái dương Kim ứng với Bạch hổ Có thể thấy rõ rằng -Rùa đen và Phượng hoàng đỏ là NHỎ đối với Rồng xanh và Hổ trắng là LỚN. -Thiếu âm Thủy và Thiếu dương Hỏa là NHỎ đối với Thái âm Mộc và Thái dương Kim là LỚN. -Thủy đối với Hỏa ứng với Thiếu âm đối với Thiếu dương cũng lại ứng với Rùa đối với Hạc (hoặc Phượng hoàng). -Mộc đối với Kim ứng với Thái âm đối với Thái dương, cũng lại ứng với Rồng đối với Hổ. Rồng ứng với Thái âm, lại gọi Rồng là Thanh Long hoàn toàn hợp nghĩa với Thái âm Mộc. Hổ ứng với Thái dương, lại gọi Hổ là Bạch Hổ hoàn toàn hợp nghĩa với Thái dương Kim. Rùa và Hạc cũng có nghĩa lý tương ứng. P/S: Thực tế hay thấy, có những cổ vật bằng đồng, hình tượng là con Hạc tấn trên con Rùa, ở đây, con Hạc có thể tương đồng với Phương hoàng đỏ. Tứ linh có nhiều bộ: -Cá, Rùa. -Phượng, Hạc, Long mã (có vẻ như các linh vật này có khả năng biến hóa như Lửa ?) -Hổ -Rồng Rubi thấy, cổng hai của Đền Ngọc Sơn có một bộ phù điều Tứ linh: -Bên phải của Đền, có một bức phù điêu hai mặt, mặt trước là Hổ, mặt sau là Cá. -Bên trái của Đền, có một bức phù điêu hai mặt, mặt trước là Rồng, mặt sau là Hạc (Cò). Từ đây có thể thấy, hiện tượng trong một bức hoạ, Rồng và Phượng (Hạc; Cò) ghép thành bộ, thành đôi không mang tính chất âm dương sinh khí hay phúc đức mà là Thái âm với Thiếu dương (Thái âm có Cấn và Khôn, Thiếu dương có Ly và Chấn). Thái âm và Thiếu dương đơn thuần với nghĩa là một sự liên tiếp trong chu kỳ biến thiên của Tứ tượng, như Cực âm thì biến, mà biến thì Dương sinh.
  20. Cái vấn đề học thuật riêng của LHDP có người nói với Rubi là, đa phần là tự học theo sự hiếu học nên thành tựu ứng dụng. Nhưng Rubi tự giới hạn thời gian dành cho môn này, có những cái khi phát hiện ra rồi thì rất đơn gian, nhưng để hoàn thiện sắc bén thì không thể hấp tấp, nó phải phục hồi dần dần. Chình vì vậy, để viết lời cho những hình ảnh minh họa rồi công bố rộng rãi thì cũng phải có yếu tố thời thế nhất định. Chính vì thật thế, cho nên, tuy là hình ảnh có vẻ nhiều hơn nội dung chữ viết mà nó đạt được sự cải tiến và ngày càng chính xác. Nếu mà hấp tấp viết bài rồi đăng lên, Rubi đã đăng rất nhiều và dài dòng, nhưng đảm bảo làm theo cách này thì viết nhiều mà không giá trị. Tốt nhất là cứ lai rai nghiên cứu từng vấn đề liên quan gần nhất để đảm bảo chất lượng ở mức độ khá nhất. Cảm ơn lời chúc của anh Thiên Huy, hy vọng sẽ thành công ở một khuôn khổ hợp lý có giới hạn nào đó.
  21. Thiền tông Việt nam, thuyết pháp là văn nói, rồi ghi băng mà in thành sách. Không như nhiều các nhà tu lại học triết học nổi tiếng thế giới. Vì vậy đạo vị của Việt nam có phong cách riêng, lại phù hợp thực tế với trình độ người nghe. Nhưng đằng sau những lời thuyết pháp bằng văn nói, là một quá trình thực tu thực chứng, tổng kết kinh sử luận ngữ của Phật tổ, đúc kết lại, cái gì phù hợp thì mới có thể nói được. Có lẽ đúng vậy.
  22. Tánh không cũng gọi là Thật tướng. Thật tướng của muôn pháp là Tánh không, Tánh không là Thật tướng của muôn pháp. Nhiều vị xưa nay vẫn nhầm dùng Tánh không và Thật tướng để chỉ đến Chân không. Chân Không là Tự Tánh, còn Thật Tướng là Tánh Không.
  23. Bốn phương tiện cũng là bốn cạnh của một tấm gương, người tu soi vào đó mà thấy mình ra sao. Có thể gọi đó là kính chiếu yêu. Thánh soi gương thì thấy hình Thánh, Phàm soi vào thì thấy hình Phàm.
×
×
  • Create New...