-
Số nội dung
1161 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
3
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Rubi
-
Bảng Ngày đường kinh tâm chủ đạo Hệ thống thời châm Tý ngọ lưu chú Bảng Ngày đường kinh tâm chủ đạo Ghi chú:Phần nội dung trong bài viết liền tiếp sau.
-
Nội dung Ngày đường kinh tiểu trường chủ đạo Ngày Can Bính: Giờ Can Chi 33 Bính Thân, Tiểu Trường Khí "xuất" ra ở huyệt Thiếu Trạch, huyệt Thiếu Trạch nằm ở đầu ngón tay út, thuộc huyệt Tỉnh Kim. Đến giờ Can Chi 35 Mậu Tuất, Vỵ Khí "lưu" vào huyệt Nội Đình, huyệt Nội Đình nằm ở khe của phía ngoài ngón chân trỏ, thuộc huyệt Huỳnh. Sang tiếp ngày can Đinh: Giờ Can Chi 37 Canh Tý, Đại Trường Khí "chú" vào sau xương bản tiết, đó là huyệt Tam Gian, thuộc huyệt Du. Cũng tại giờ 37 Canh Tý xảy ra hiện tượng Phản bản hoàn nguyên của Ngày đường kinh tiểu trường chủ đạo. Tiểu Trường Khí "quá" nơi huyệt Uyển Cốt, huyệt Uyển Cốt ở trước xương cổ tay, mép ngoài bàn tay, thuộc huyệt Nguyên. Đến giờ Can Chi 39 Nhâm Dần, Bàng Quang Khí "hành" vào huyệt Côn Lôn, huyệt Côn Lôn nằm ở sau mắt cá ngoài, trên xương gót, thuộc huyệt Kinh. Đến giờ Can Chi 41 Giáp Thìn, Đởm Khí "nhập" vào huyệt Dương Lăng Tuyền, huyệt Dương Lăng Tuyền nằm ở chỗ lõm, phía ngoài đầu gối, thuộc huyệt Hợp - duỗi chân ra để thủ huyệt. Đến giờ Can Chi 43 Bính Ngọ, Tam Tiếu Khí "trút" vào huyệt Trung Chử, huyệt Trung Chử nằm ở chỗ lõm ngoài sau xương bản tiết, thuộc huyệt Du .
-
Bảng Ngày đường kinh tiểu trường chủ đạo Hệ thống thời châm Tý ngọ lưu chú Bảng Ngày đường kinh tiểu trường chủ đạo Ghi chú:Phần nội dung trong bài viết liền tiếp sau.
-
Nội dung Ngày đường kinh can chủ đạo Ngày Can Ất: Giờ Can Chi 22 Ất Dậu, Can Huyết "xuất" ra ở huyệt Đại Đôn, huyệt Đại Đôn nằm ở ngay đầu ngón chân và nơi chùm 3 sợi lông (tam mao), thuộc huyệt Tỉnh Mộc. Đến giờ Can Chi 24 Đinh Hợi, Tâm Huyết "lưu" vào huyệt Thiếu Phủ, huyệt Thiếu Phủ nằm ở lòng bàn tay, giữa xương bàn tay thứ 4 và 5, huyệt nằm trên đường văn của lòng bàn tay, thuộc huyệt Huỳnh. Sang tiếp Ngày Canh Bính Đến giờ Can Chi 26 Kỷ Sửu, Tỳ Huyết "chú" vào huyệt Thái bạch, huyệt Thái Bạch nằm ở dưới xương mé trong bàn chân, thuộc huyệt Du. Cũng tại giờ 26 Kỷ Sửu xảy ra hiện tượng Phản bản hoàn nguyên của Ngày đường kinh can chủ đạo. Can Huyết "chú" vào huyệt Thái Xung, huyệt Thái Xung nằm ở chỗ lõm vào cách huyệt Hành Gian 2 thốn, thuộc huyệt Du. Đến giờ Can Chi 28 Tân Mão, Phế Huyết "hành" vào huyệt Kinh Cừ , Huyệt Kinh Cừ nằm ở giữa Thốn khẩu, động mà không ngừng lại, thuộc huyệt Kinh. Đến giờ Can Chi 30 Quý Tỵ, Thận Huyết "nhập" vào huyệt Âm Cốc, huyệt Âm Cốc nằm sau xương phụ cốt, dưới gân lớn, trên gân nhỏ, ấn tay vào thấy mạch ứng với tay - Co gối lại để thủ huyệt - thuộc huyệt Hợp. Đến giờ Can Chi 32 Ất Mùi, Tâm Bào Huyết "trút"vào huyệt Lao Cung, huyệt Lao Cung nằm ở khoảng giữa ngay gốc khớp (bản tiết) của ngón giữa ở giữa lòng bàn tay, thuộc huyệt Huỳnh.
-
Bảng Ngày đường kinh can chủ đạo Hệ thống thời châm Tý ngọ lưu chú Bảng Ngày đường kinh can chủ đạo Ghi chú:Phần nội dung trong bài viết liền tiếp sau.
-
Nội dung Ngày đường kinh đởm chủ đạo Ngày Can Giáp: Giờ Can Chi 11 Giáp Tuất, Đởm Khí "xuất" ra ở huyệt Khiếu Âm, huyệt Khiếu Âm nằm ở đầu ngón áp út phía ngón út, thuộc huyệt Tỉnh kim. Sang tiếp Ngày Can Ất: Đến giờ Can Chi 13 Bính Tý, Tiểu Trường Khí "Lưu" vào huyệt Tiền Cốc, huyệt Tiền Cốc nằm ở mép ngoài bàn tay, ngay xương bản tiết, thuộc huyệt Huỳnh. Đến giờ Can Chi 15 Mậu Dần, Vỵ Khí “chú” vào huyệt Hãm Cốc, huyệt Hãm Cốc nằm ở khe trên ngón giữa, chỗ lõm phía trên (huyệt Nội đình) 2 thốn, thuộc huyệt Du. Cũng tại giờ Can Chi 15 Mậu Dần xảy ra hiện tượng Phản bản hoàn nguyên của Ngày đường kinh đởm chủ đạo. Đởm Khí “quá” nơi huyệt Khâu Khư, huyệt Khâu Khư nằm ở chỗ lõm, trước dưới mắt cá ngoài, thuộc huyệt Nguyên. Đến giờ Can Chi 17 Canh Thìn, Đại Trường Khí “hành” vào huyệt Dương Khê, huyệt Dương Khê nằm ở chỗ lõm vào của xương phụ cốt, phía ngoài khủy tay - co tay lại để thủ huyệt, thuộc huyệt Hợp. Đến giờ Can Chi 19 Nhâm Ngọ, Bàng Quang Khí “nhập” vào huyệt Ủy Trung, huyệt Ủy Trung nằm ở giữa khoeo chân (quắc trung ương), thuộc huyệt Hợp - co chân lại để thủ huyệt. Đến giờ Can Chi 21 Giáp Thân, Tam Tiêu Khí được trút vào tại vào huyệt Dịch Môn, huyệt Dịch Môn nằm ở trong khe giữa ngón áp út, thuộc huyệt Huỳnh.
-
Bảng Ngày đường kinh đởm chủ đạo Hệ thống thời châm Tý ngọ lưu chú Bảng Ngày đường kinh đởm chủ đạo Ghi chú: Phần nội dung trong bài viết liền tiếp sau.
-
Nói vậy thôi chứ chưa chắc con bạn nhất định xuất gia, chỉ là bạn cầu Bồ tát thì bạn được đưa con cầu tự vậy thôi. Có thể sau này nó là một nhà ngoại cảm nổi tiếng như ông Vũ Thế Khanh chẳng hạn.Tất nhiên là có con mà nó bỏ đi tu thì cha mẹ đều buồn. Buồn là vì methocon09 không biết rõ về đạo lý, nhưng có khi nếu có chủng tứ xuất gia thì bạn lại được kiếp sau hóa sanh lên cõi trời cũng không biết chừng. Mấy chuyện trong topic này không phải là tranh cãi, mà thế là tranh cãi thì nhằm nhò gì. Có người còn làm phép gửi con lên chùa để nó có được Mệnh và Thân tốt đẹp hơn, tuy là gửi nên chùa nhưng đó chỉ là làm phép chứ thực ra người ta vẫn sống bình thường tại gia. Nhưng cũng có người, là mẹ thì tu ráo riết nhưng lại làm đủ phép để giữ đưa con không cho nó tu, buồn cười thế. Mình thì ngộ đạo muốn giải thoát nên ham tu mà lại chặn đường giải thoát của chủng tử. Có trường hợp cả gia đình, vợ chồng con cái thân tương tốt lành còn rủ nhau đi tu hết trơn. Lại có trường hợp có người phát tâm cúng hàng chục tỉ đồng để xây dựng Thiền viện, đó là do họ được nghe pháp và được hiểu đạo lý giải thoát khổ hải luân hồi. Rubi không biết ứng dụng xem, nhưng nghe nói trong sách tử vi, khi trẻ còn nhỏ không nên xem. Từ sáu tuổi trở nên mới nên xem.
-
Hoài Chân Thân mến!Vào đề luôn rồi lai rai sau vây :lol: 1. Con người có bao nhiêu Kinh Tạng, Kinh Phủ? Kinh Tạng có 6, Kinh Phủ cũng có 6, tổng là 12 đường Kinh. Kinh đối với Lạc, Kinh như đại lộ có chu kỳ thông suốt như vòng tròn, còn Lạc thì là một nhánh rẽ từ Kinh nối đến Tạng hoặc Phủ rồi cụt ở đó (chắc thế, bạn tìm hiểu thêm để xác minh). 12 Kinh nằm về một bên cơ thể, đối xứng có 12 Kinh nằm về bên còn lại, vậy là có 24 Kinh chia làm 12 loại như thế. 2. Người ta hay nói Lục Phủ, Ngũ Tạng vậy cụ thể là gì, có liên quan đến Kinh Tạng và Kinh Phủ? Lục Phủ là: Thủy có Phủ Bàng Quang Mộc có Phủ Đởm (Mật) Hỏa có Phủ Tiểu Trường (Ruột non) Thổ có Phủ Vỵ (Dạ dày) Kim có Phủ Đại Trường (Ruột già) Thổ có Phủ Tam Tiêu (Ba khoang thượng trung hạ-bạn tìm hiểu thêm) Ngũ Tạng cộng với Tâm bào là Lục Tạng, là: Thủy có Tạng Thận Mộc có Tạng Can (Gan) Hỏa có Tạng Tâm (Tim) Thổ có Tạng Tỳ (Lá nách) Kim có Tạng Phế (Phổi) Thổ lại có Tâm bào lạc (màng bao Tim) Mỗi Tạng hay Phủ thì có một Đường kinh cùng tên để vận chuyển Khí hoặc Huyết. 3. Huyệt có phải là các điểm giao nhau của các đường kinh lạc? Huyệt là những hang hay lỗ. Có huyệt cổ và có huyệt tân. Huyệt có thể nằm trên đường kinh hoặc nằm ngoài đường kinh, huyệt nằm ngoài đường kinh gọi là kỳ huyệt. Đại huyệt là nơi giao nhau của các đường kinh. 4. Huyệt Du khác gì Huyệt Nguyên? Huyệt Du có tính chất xác định là hành Thổ và Mộc. Huyệt Nguyên có tính chất xác định là hành Thổ. Vấn đề này phụ thuộc vào huyệt trên Kinh Phủ hay Kinh Tạng. Tạm thời vấn đề này tớ chỉ nói vậy. Thân mến.
-
Nội dung Ngày đường kinh thận chủ đạo Ngày Can Quý: Giờ Can Chi: Quý hợi là giờ thứ 120 trong 120 giờ của chu kỳ, Thận huyết xuất ra ở huyệt Dũng Tuyền, huyệt Dũng Tuyền nằm ở giữa lòng bàn chân, thuộc huyệt Tỉnh Mộc. Sang tiếp Ngày Can Giáp: Đến giờ thứ 02 Ất Sửu, Can huyết "lưu" vào huyệt Hành Gian, huyệt Hành Gian nằm ở khe ngón chân cái, thuộc huyệt Huỳnh. Đến giờ thứ 04 Đinh Mão, Tâm huyết "chú" vào huyệt Thần Môn, huyệt Thần Môn nằm ở phía xương trụ, nằm trên lằn chỉ cổ tay, nơi chỗ lõm sát bờ ngoài gân cơ trụ trước và góc ngoài bờ trên xương trụ, thuộc huyệt Du. Cũng trong giờ thứ 04 Đinh Mão, xảy ra hiện tượng Phản bản hoàn nguyên. Thận huyết "chú" vào huyệt Thái Khê, huyệt Thái Khê nằm tại trung điểm giữa đường nối bờ sau mắt cá trong và mép trong gân gót, khe giữa gân gót chân ở phía sau, thuộc huyệt Du. Đặc biệt, tham gia cùng hiện tượng Phản bản hoàn nguyên trong Ngày đường kinh thận chủ đạo còn có Tâm bào huyết. Tâm bào huyết “chú” vào huyệt Đại Lăng nằm ở chỗ thấp xuống giữa hai đầu xương sau bàn tay, thuộc huyệt Du. Hiện tượng Phản bản hoàn nguyên của Ngày đường kinh Bàng quang chủ đạo và của Ngày đường kinh Thận chủ đạo khác với hiện tượng Phản bản hoàn nguyên của các Ngày đường kinh chủ đạo khác là có sự tham gia cùng của Tâm bào huyết hay Tam tiêu khí. Tiếp theo, giờ Can Chi 06 Kỷ Tỵ, Tỳ huyết “hành” vào huyệt Thương Khâu, huyệt Thương Khâu nằm ở chỗ lõm vào, nhích về phía dưới mắt cá trong, thuộc Kinh. Đến giờ Can Chi 08 Tân Mùi, Phế huyết “nhập” vào huyệt Xích Trạch, Huyệt Xích Trạch nằm ở động mạch giữa khủy tay, thuộc huyệt Hợp. Đền giờ Can Chi 10 Quý Dậu, Tâm bào huyết được trút vào ở huyệt Trung Xung, huyệt Trung Xung nằm ở đầu ngón tay giữa, thuộc Tỉnh mộc. Bản vẽ này, Kinh can thuộc hành mộc có sắc xanh, nhưng Rubi lại làm nhầm thành sắc vàng, Rubi sẽ sửa và tải lên phiên bản mới tại web nguồn, khi đó tài liệu ảnh sẽ được tự động thay thế, cập nhật vào tất cả các tài liệu ảnh trên web đích có cùng địa chỉ.
-
Bảng Ngày đường kinh thận chủ đạo Hệ thống thời châm Tý ngọ lưu chú Bảng Ngày đường kinh thận chủ đạo Ghi chú: Phần nội dung trong bài viết liền tiếp sau.
-
Có chủng tử xuất gia tầm thầy học pháp thì nên vui mấy đúng. Cái buồn của chị không có gì đáng lo, mà chỉ lo là khi nữ giới mà lo lắng và hành động lệch về tình và thiếu tưởng thì kết quà đôi khi lại không như ý muốn của chính họ.
-
Ý đoạn trên của MrPlkaR cũng không sai, ngôn ngữ thường dùng ngày nay so với ngôn ngữ tôn giáo tâm linh thì ngôn ngữ ấy có đẳng cấp thâp hơn, ở đẳng cấp thấp hơn thì khó hiểu ngôn ngữ ở cấp cao hơn. Vậy đúng là muốn tiếp cận với giới có ngôn ngữ thấp hơn thì phải nói dài dài và nhiều nhiều thêm cho đến khi họ thấm được loại ngôn ngữ chuyên môn của tâm linh tôn giáo thì mới có triển vọng. Nhưng mà cứ tiếp cận lâu thì cũng tự nhiên thấm đấy.Tớ còn chưa lập gia đình, gọi chi bằng bác hở MrPlkaR, gọi bằng anh được rồi, nếu mà 9x thì có thể gọi bằng chú đi. Sống tốt và làm việc tốt mà thiếu cái phóng khoáng thì cũng khó lạc quan đấy. Bởi vì nói riêng trong công việc nó có rất nhiều yếu tố chi phối khiến cho riêng mình làm tốt cũng chưa đủ mà còn phải làm cực tốt. Công việc nào cũng như nhau, không chỉ yêu cầu làm nhanh mà còn phải làm cực nhanh. Và trong công việc thì luôn phải lấy tiêu chí thêm bạn bớt thù thì mới nên nghĩ đến cách "bảo vệ mình mà vẫn thay đổi được người ta". Nếu nhẫn chịu không được thì mình phải giải quyết vấn đề bằng cách nhẫn chịu thật nhiều, nhẫn chịu thật nhiều mà không giải quyết được vấn đề thì phải nhẫn chịu cực nhiều. Nhưng thật tế chỉ cần nhẫn chịu thật nhiều là giải quyết được khá khá lắm rồi. Trong quan hệ còn người cùng chung việc làm, có sự tương tác về tiểu chuẩn thực hiện công việc, cùng một công việc nhưng có nhiều tiêu chuẩn được làm, làm xong thì đem ra nhận xét, nhận xét không đúng chỗ không đúng lúc thì có mâu thuẩn tiêu chuẩn. Cho nên phải khéo mà thích nghi và lấy thâm niên trong công việc là chỗ đứng vững chắc để thêm kinh nghiệm chuyên môn. Nói chung nên cảnh giác với tư tưởng cao rằng đang phải rèn luyện tôi luyện. Một phen trải qua sự sóng gió thì sau này hiển vinh làm sếp cũng là lẽ đương nhiên.
-
Phản quang tự kỷ là thể nhập Tính thấy để thấy mọi sự bằng chính cái Tính thấy chứ không bị thấy qua một lớp của Ý thức. Không dùng Ý Thức để can thiệp vào chủ và khách trong sự thấy thì Thức chuyển thành Trí. Phản quang là bối trần hiệp giác, ngược lại, phóng quang là bối giác hiệp trần. Bối trần là xả bỏ phiền não và những thứ gây nên phiền não, hiệp trần là nắm bắt những thứ gây nên phiền não và dính mắc vào phiền não mà hành động. Bối giác là bỏ quên Tính thấy, xen ý thức thái quá vào sự thấy thì che lấp sự thấy như thật, gọi đó là quay lưng lại với Tính thấy. Hiệp giác là để Tính thấy làm chủ trì sự thấy. Thế nào là để Tính thấy làm chủ trì sự thấy ? Ví dụ, có người chửi mình là cẩu tặc, mà mình không thành cẩu tặc thì tiếp theo thế nào ? Nếu chấp cho lời nói ấy là thật thì liền bị sự chấp làm lăng kính để Tính thấy chiếu qua, đã chiếu qua sự chấp của thức tình thì hành động tiếp theo là chửi lại họ. Người ta bảo mình là cẩu, mình liên mở miệng sủa người ta, vậy mình thành cẩu thật. Người ta bảo mình là cẩu thì mình thấy người ta nói như vậy, biết thế thôi vì biết được thế là do Tính thấy Thanh tịnh luôn hiện tiền, Tính thấy đâu phải là cẩu là tặc gì, mà chính Tính thấy lại là con người thật là Bản lại Diện mục của mình. Hành động theo sự bối giác hiệp trần thì liền thành cẩu tặc, mình bối trần hiệp giác thì chẳng liên quan đến cẩu hay tặc. Ví dụ, tham gia giao thông, bất giác dính mắc vào những sự kiện nào đó làm kết quả tai nạn giao thông. Đó chính là do phóng quang, bất giác quên sự tỉnh giác bỏ rơi Tính thấy, làm cho Tính thấy phóng quang qua Thức đại chạy theo phân biệt, nghiêng về một bên nên có sự kiện tai nạn ập tới mà không phản ứng kịp thời. Không phóng quang theo những sự việc bên ngoài thì gọi là phản quang, phản quang là không phóng quang bừa bãi, phóng quang thì thành phóng túng, phản quang thì sử lý sự việc phóng khoáng. Đó cũng gọi là dừng nghiệp và chuyển nghiệp.
-
Người có võ công thì giết người như trở bàn tay, người không võ công thì cũng giết người được. Nếu nó xuất gia tu đạo vậy anh chị cho đó là mất con, nhưng nó sống ở đời vậy nó hư hỏng thì cũng là mất nó vậy.Xuất gia tu đạo cũng như là học Đại học thôi vậy. Dù là nó theo môi trường nào thì cũng nên biết quan tâm theo sát con mình, xem nó sống trong môi trường nào, thầy tà bạn dữ thế nào, chánh kiến tà kiến ra sao. Nắm bắt thực tế để khuyên nó tìm cho được thầy giỏi bạn hiền, đừng có nể nang tôn trọng thầy bạn một cách mù quáng mà chấp nhận theo lối học hành có sự mê lầm của họ. Nói chung đời hay đạo thì phải chỉ cho nó và khuyên nó tìm đến cái chân thật chứ không phải cứ lo nghĩ nó không làm những việc mà mình muốn. Đó là cái Nhân mà anh chị có thể góp duyên cho nó thì kết quả dù thế nào cũng rất hỹ hữu. Tốt hơn hết, nếu cần tư vấn thì anh chị cứ đến Thiền Viện Thường Chiếu mà hỏi các chân tăng ở đó cho lời khuyên. Người chết rồi thì cầu siêu, người đang sống thì cầu an. Nếu anh chị muốn cúng dưỡng chân tăng và nhờ chân tăng cầu an cho con anh chị cũng là một điều làm mọi sự tốt đẹp lên.
-
Có cầu mà được cảm ứng thì phải làm lễ tạ ơn chứ nhỉ. Cầu vị Phật nào thì nên tạ ơn vị Phật đó, tùy tâm mà tìm cách làm, và cách làm thì cứ đơn giản hóa và chánh tín chứ đừng mê tín là hay.Thân mến!
-
Các độc giả kính mến! Xem qua vài lượt Thiên Thứ Nhất Cửu Châm Thập Nhị Nguyên thì Rubi thấy có vài ý có thể đưa ra. -Thứ nhất là cái tiêu đề của Thiên Thứ Nhất "Cửu Châm Thập Nhị Nguyên" Cửu Châm theo như nội dung của Thiên này là "tên gọi của 9 loại kim châm", nguyên văn là "Tên gọi của 9 loại kim châm, mỗi loại đều có hình dáng khác nhau . Một gọi là Sàm châm, dài 1 thốn 6 phân; Hai gọi là Viên châm, dài 1 thốn 6 phân; Ba gọi là Đề châm, dài 3 thốn rưỡi; Bốn gọi là Phong châm, dài 1 thốn 6 phân; Năm gọi là Phi châm, dài 4 thốn, rộng 2 phân rưỡi; Sáu gọi là Viên lợi châm, dài 1 thốn 6 phân; Bảy gọi là Hào châm, dài 3 thốn 6 phân; Tám gọi là Trường châm, dài 7 thốn; Chín gọi là Đại châm, dài 4 thốn." . Thập Nhị Nguyên, theo Rubi hiểu là 12 Huyệt Nguyên, nguyên văn là "Ngũ tạng, lục phủ có thập nhị Nguyên . Thập nhị Nguyên đều xuất ra ở tứ quan . Tứ quan chủ trị ngũ tạng . Ngũ tạng có bệnh nên thủ huyệt của thập nhị Nguyên . Thập nhị Nguyên là nơi mà ngũ tạng bẩm thụ “khí vị” của 365 tiết . Ngũ tạng có bệnh phải xuất ra ở thập nhị Nguyên . Thập nhị Nguyên đều có chỗ xuất của nó . Nếu chúng ta biết rõ các Nguyên huyệt, và chúng ta thấy được những biến ứng của nó thì chúng ta sẽ biết được tình trạng bị hại (bệnh) của ngũ tạng vậy." . -Thứ hai là yếu tố Âm dương Ngũ hành Nguyên văn "Phế thuộc Thiếu âm trong Dương, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái uyên, có 2 huyệt . Tâm thuộc Thái dương trong dương , Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Đại Lăng, Đại Lăng có 2 huyệt . Can thuộc Thiếu dương trong Âm, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái Xung, Thái Xung có 2 huyệt . Tỳ thuộc Chí âm trong Âm, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái Bạch, Thái Bạch có 2 huyệt . Thận thuộc Thái âm trong Âm, huyệt Nguyên của nó xuất ra ở huyệt Thái Khê, Thái Khê có 2 huyệt . Huyệt Nguyên của Cao xuất ra ở huyệt Cưu Vĩ, Cưu Vĩ có 1 huyệt . Huyệt Nguyên của Hoang xuất ra ở huyệt Bột Ương, Bột Ương có 1 huyệt . Phàm tất cả thập nhị Nguyên chủ trị về bệnh của ngũ tạng và lục phủ vậy." -Thứ ba là yếu tố tính chất của Huyệt Nguyên văn "Hoàng Đế nói: “Ta mong nghe được trình bày về nơi xuất ra của ngũ tạng, lục phủ” . Kỳ Bá đáp : “Ngũ tạng có ngũ du, ngũ ngũ là nhị thập ngũ du . Lục phủ có lục du, lục lục là tam thập lục du . Kinh mạch có thập nhị, lạc mạch có thập ngũ, tất cả là nhị thập thất khí, nhằm để (làm đường) đi lên và đi xuống . Chỗ xuất ra gọi là huyệt Tỉnh . Chỗ lưu gọi là Vinh . Chỗ chú gọi là Du . Chỗ hành gọi là Kinh . Chỗ nhập gọi là Hợp . Con đường vận hành của nhị thập thất khí đều ở ngũ du huyệt vậy." Đối với vấn đề thứ hai, cơ bản thì có nguyên lý trong Âm có Dương và trong Dương có Âm. Vấn đề Âm Dương xác định như thế có thể sai, mặc dù đây là Châm Kinh. Đối với vấn đề thứ ba thì thấy có nói đến tính chất của 5 loại Huyệt. Huyệt Tỉnh là chỗ xuất ra của Khí hoặc Huyết. Huyệt Vinh (Huỳnh) là chỗ Lưu thông trôi chảy của Khí hoặc Huyết. Huyệt Du là chỗ chú ngụ rót vào của Khí hoặc Huyết. Huyệt Kinh là chỗ vận hành đi qua của Khí hoặc Huyết. Huyệt Hợp là chỗ nhập lại của Khí hoặc Huyết. Vấn đề này có tác giả Nguyễn Tài Thu quan niệm rằng "Khí vận hành trong Kinh Lạc như một dòng nước:"chỗ đi ra gọi là Tĩnh, trôi chảy gọi là Huỳnh, dồn lại gọi là Du, đi qua gọi là Kinh, nhập lại gọi là Hợp.""
-
Dạ, vậng!Kính mến!
-
Nếu sợ nó làm việc thiện lớn mà cản trở nó, cầu Thầy làm phép chấn giữ nó thì đó gọi là đem Thân con mình vào việc tạo nghiệp sinh tử.Anh chị lâu không sinh được con là vì không có duyên nghiệp với những người thần thức thuần phàm, cộng với cái nghiệp riêng của anh chị. Có cầu liền ứng thì một là được Phật gia hộ nhớ biết đến hai là anh chị có duyên làm cha mẹ của người có chí đạo hướng thượng cho nên có kỳ mộng và sự ứng hiện tiền. Nó đã sinh là con anh chị thì cũng có phận với anh chị, nó có thể tu tại gia hoặc xuất gia thì đều là nhìn thấy trước được đại sự cần làm tốt đời đẹp đạo. Vì vậy không nên lo lắng mà làm những việc chấn áp nó bắt nó nhất định theo nghiệp mình định cho nó.
-
Núi thì vẫn cao, sông thì vẫn tràn nước. Người được chỗ sống an vui thì thấy núi cao, thấy sông tràn nước, người sống bằng cách tìm vui thú thì thấy sông núi có đẹp có xấu, người lên núi lánh xa cuộc đời nhưng đâu biết người ta lên núi là để luyện ngọc-Ngọc thiêu trên núi càng trong, Hoa sen giữa lửa sắc hồng vẫn tươi.Vậy Hoa sen giữa lữa sắc hồng vẫn tươi, đó có phải là sự lạc quan không. Nếu đây là sự lạc quan thì đâu phải ngoài lửa mà tìm lấy sắc tươi, ngoài sự tác động của môi trường mà mong tìm một lý tưởng sống. Và lại cái lý phản quang kia ấy lại có thể từ mình mà đàm thuyết với người để cho người ta lạc quan, làm cho người ta lạc quan thì mình có bạn đạo. Có được môi trường bạn đạo thì tiến đến cảnh giới chân trần bày ngực thẳng vào thành, tô đất trét bùn nụ cười thanh, bí quyết thần tiên đâu cần đến, cây khô cũng khiến nở hoa lành. Tô đất trét bùn nụ cười thanh, vì sống giữa chỗ sặc mùi mà ngọc báu nơi mình vẫn sáng thì lo gì nữa. Đó chẳng phải là lạc quan sao, đó chẳng phải là lý tưởng sống sao. Lo gì cái việc giữ lấy cái lạc quan riêng cho mình. Vui sướng hạnh phúc là cái vị ngọt của kẹo, an lạc tự tại là cái vị bất thoái chuyển của ngọc như ý. Trẻ con thì chọn vị ngọt, người trí thì nhận ngay lấy như ý ngọc.
-
Bản Chất Thật Của Pháp Luân Công?
Rubi replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Diễn đàn, topic có nội dung với hình thức 99% là văn bản, nhẹ hơn nhiều chục lần các topic có nội dung bằng các tài liệu ảnh hay video. Vậy Thế Gian Vô Thường cứ thoải mái tranh luận, chánh kiến là con đường và là điểm xuất phát cũng như đích đến. Bạn cứ theo cái thấy của bạn mà nói, cần thì Rubi cũng tham gia thảo luận. Đừng để Hóa Phật tác động đến chánh kiến nơi bạn, bởi vì Hóa Phật thật cũng không phải là Pháp thân của bạn huống chi Thiên ma cũng có thể hóa ra Phật Điện.Nhưng có một điều là được Pháp Thân của Thầy hộ thân nhưng kiến giải thì lại lìa Pháp thân của chính mình, thế là có vấn đề đáng bàn thứ nhất. Thân mến! -
Từ người ăn mày cho đến kẻ làm vua, có ai lạc quan đâu. Sở dĩ được chỗ sống mà an vui là vì không phụ bạc chính mình, không phụ bạc mình thì phải thực hiện cái phận sự của mình. Tuệ Trung Thượng Sỹ nói: Phản quang tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.Cái lạc quan chân thật không phải là tìm bên ngoài mà được, và lạc quan thì không khó chỉ ngại thấy của báu thật thì không chịu lấy dùng mà thôi.
-
Các độc giả thân mến! Dưới đây là tài liệu ảnh Image/gif Hà đồ, Bát quái Tiên thiên nhị phân và Nhân thể 12 đường kinh. Hà đồ, Bát quái Tiên thiên nhị phân và Nhân thể 12 đường kinh Hà đồ, Bát quái Tiên thiên nhị phân và Nhân thể 12 đường kinh.gif (500 × 500 điểm ảnh, kích thước: 189 kB, định dạng MIME: image/gif) Nguồn và Tác giả: Rubi_Lê Đức Hồng Ngày tạo ra: 25-02-2009 Phiên bản: Đây là phiên bản đuôi gif đã nhúng qua photobucket nhưng chưa bị hạ cấp chất lượng. Khi nào tìm thấy bản gốc thì Rubi sẽ cập nhật lên wikimedia.org, và tài liệu cập nhật sẽ tự động thay thế cho tài liệu này.
-
Hệ 64 quẻ Tiên thiên và Hà đồ Hệ 64 quẻ Tiên thiên và Hà đồ Thông tin nguồn Chỉnh lý và minh họa: Rubi_Lê Đức Hồng Web nguồn: Duchong_wikimedia.org Web đích: Rubi_lyhocdongphuong.org.vn Đắc tính hình Phân giải theo bề ngang: 72 dpi Phân giải theo chiều cao: 72 dpi Phần mềm đã dùng: Adobe Photoshop CS2 Windows Ngày giờ sửa tập tin: 20:18, ngày 14 tháng 6 năm 2008 Không gian màu: sRGB