-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
(tiếp) Giá Quan Đệ ngũ Tuần Chanh là giá khá sôi nổi. Quan Tuần Chanh là vị tướng thời vua Hùng 18, đánh giặc ở sông Chanh (???) và các sông khác. Tòan những sự tích kì dị, chẳng hề có trong bất cứ sách sử nào. Quan đệ ngũ múa long đao. (Đây là một canh hầu khác) Hết giá Quan sang giá Chầu. Có Mười chầu, nhưng thường chỉ lên một số giá nhất định. Giá Chầu là vui nhất. Nhạc hát rất vui vẻ, chiêng trống phèng la rầm rĩ, mọi người xung quanh cũng hào hứng. Khi giá Chầu múa, thì xung quanh vỗ tay và khen ngợi kiểu "Lạy chầu, chầu múa đẹp quá" thì đồng càng múa hăng. Chủ yếu thì cũng chỉ là nhún nhảy, múa tay, quay vòng.... Giá Chầu cũng là mặc lòe loẹt nhất. Vì Chầu chủ yếu là miền núi, nên phải mặc như người miền núi, trang trí trên đầu rất cầu kỳ, vấn khăn gấm, cổ, tai đeo hoa, đeo vòng lủng lẳng.... Quá trình thay đổi trang phục cho Chầu. Đầu tiên đội khăn vành dây, mặc xiêm vào Rồi mặc áo, đeo vòng.... Đội khăn mũ, thế là xong
-
(tiếp) Sau giá Quan Giám sát đến Quan đệ tam Thủy phủ. Ông này là Tam thái tử của vua hồ Động Đình, cai quản vùng sông nước. Giá này múa song kiếm. Sau đó Quan đệ tam nghỉ ngơi, ông hút thuốc, uống rượu, và đặc biệt là phát lộc. Ông lấy hàng tệp tiền để trong cái hộp gỗ trước án thờ, phát cho cơ cánh của mình, cho gia chủ, vài người xung quanh. Một số người ở ngoài đưa vào một đĩa để tiền, ông làm phép bằng cách huơ que hương qua, thế rồi ông thích lấy hết thì lấy, mà thích ban lại cho người kia thì tùy. Có lúc ông không chỉ trả lại cho người ta, mà còn cho thêm tiền người ấy, hoặc cho thêm đồ như thuốc, lon bia,... Nói chung là tùy ông thích làm gì thì làm, người ta được ông nhận cho, làm phép cho là tốt lắm rồi. Những giá Quan bao giờ nhạc cũng hùng tráng. Ở giữa có đoạn quan uống rượu hút thuốc nghe nhạc. Nếu cung văn hát đến đoạn nào hay, ông vỗ gối ba bốn cái, rồi có thể thưởng tiền. Các Quan phát lộc thì thường chỉ phát lộc cho người trong cơ cánh và gia chủ, và chủ yếu là tiền to, không phát lộc ra đến ngoài. Mỗi khi uống rượu (giả vờ hoặc thật, tùy), thì 4 phụ đồng phải xòe quạt ra che xung quanh. Động tác rất dẻo và đẹp. Sau đến giá Quan Khâm sai áo vàng. Bao giờ lúc đầu cũng là dâng nắm hương, rồi cầm một bó hương (đã nhúng dầu sẵn) cháy đùng đùng mà nhảy một lúc, rồi bỏ hương ra nhảy múa thêm một hồi. Giá các Quan nhiều lúc chỉ có nhạc mà không có lời hát. Cuối mỗi giá, lại phủ vải đỏ lên đầu, là lúc thánh xuất ra, để thánh khác nhập vào Một số trong đồ lễ. Đồ lễ cho một giá đồng còn tùy vào số tiền. Thường có các mâm đồ ăn thức uống thông thường. Có mâm đường cát trắng, mâm mì chính, mâm mì ăn liền, mâm bánh ngọt, mâm bánh sữa, mâm hoa quả (nhiều loại), mâm bia lon, mâm nước ngọt, mâm thuốc lá,.... Khi lên Giá nào mà vị thánh ấy có liên quan, thì đồng sẽ lấy đồ ấy ra phát. Chẳng hạn giá các Chầu trên rừng núi thì phát lộc hoa quả, giá các Cô, Cậu trẻ con thì phát bánh ngọt, kẹo, đường trắng, mì chính đồ ăn, giá các Quan thì thuốc, rượu bia, giá ông Hoàng thì bánh.....
-
(tiếp) trích: QUOTE(mưa @ Mar 4 2006, 05:49 PM)QUOTE(chitto @ Mar 4 2006, 02:28 AM)Một canh đồng ở phủ Giày hạng rẻ nhất là 6 triệu đồng. Hạng cao có thể 60-70, đến cả trăm triệu đồng cũng có. Tức là ai tổ chức? Ai trả tiền? Tiền vào túi ai? Căn cứ vào đâu để chọn đồng? Trả lời của chitto:À, cái này thì lắm chuyện rồi, vì nó mang tính xã hội rất lớn chứ không phải chỉ là tín ngưỡng. Cố nói ngắn gọn thế này: 1. Tổ chức có thể là "Gia chủ", không thể tự lên đồng, tức là những người muốn cầu đồng để xin lộc, giải hạn, cầu làm ăn. Thường là cả một gia đình hoặc tập hợp một số người, bạn cùng buôn bán. Loại này không thể tự lên đồng thì phải mời đồng. Gia chủ phải chịu chi phí hết. Cũng có thể chính Đồng tự tổ chức, tức là tự chi phí. Vì chính Đồng cũng là người làm ăn buôn bán, cầu thánh cầu thần. Cũng có thể con nhang đệ tử của đồng góp lại để cầu. 2. Tiền bỏ ra cho những việc sau: - Cho Nhà đền, khoảng 1/4 - 1/3 số tiền - Thuê cung văn. Mỗi chiếu đồng 2-3 cung văn hoặc hơn, hát càng hay tiền càng nhiều - Mua các đồ cúng lễ để rồi phân phát (rất nhiều thứ, post ảnh sẽ thấy) - Trả cho đồng (nếu không tự mình lên đồng) Đặc biệt quan trọng nhất, là số tiền mà khi nhập đồng, Đồng phân phát, ném ra xung quanh. Khi lên đồng, vào giá nào thì là vị thánh ấy. Vị ấy thích phát lộc cho ai thì phát, không ai dám cản. Lúc đó giá đồng cầm tiền đưa khắp xung quanh, người không quen biết lớ xớ ở ngòai cũng có phần. (Như tớ ở ngòai cũng được mấy chục nghìn). Tất nhiên đồng sẽ phát cho Cơ cánh của mình là chủ yếu, phần gia chủ ít hơn, người ngoài càng ít. Ngòai ra đồng cũng tự phát lộc cho mình rất nhiều. 3. Căn cứ chọn đồng dựa vào sự nổi tiếng của đồng. Nếu ít tiền thì chỉ có thể mời được đồng bình thường, kém lộc. Nhiều tiền mới mời được đồng hay. Cái này người trong nghề mới biết.
-
(tiếp) Sau 3 giá Mẫu Tam tòa, có thể có giá Bà chúa Thác Bờ. Bà chúa Thác Bờ cũng có thể hiểu là chúa Thượng ngàn, có đền chính là đền Thác Bờ, hiện ở một hòn đảo trong hồ Thác Bà (tháng 4 này đi Yên Bái, sẽ cố ra đó xem sao, người ta nói lên đồng ở Thác Bờ còn hay hơn phủ Giày). Trong lời hát chầu văn, thì Mẫu Đệ nhị còn có ở Đền Sòng, Thanh Hóa nữa. Tiếp đến là 5 giá Quan, gồm các vị Tôn quan, hay Ngũ vị Quan lớn. Những vị này lại lịch huyền bí, chỉ là những thần tích rời rạc mơ hồ. Quan Đệ nhất Thượng thiên, mặc áo đỏ. (Lưu ý là đồng đã thay áo mới rồi, không phải áo hầu Mẫu nữa đâu). Rồi đến giá Quan Đệ nhị Giám Sát. Vị này mặc áo xanh, múa kiếm
-
(tiếp) Dưới đây bắt đầu là một canh đồng. Tớ cắt từ cảnh quay nên hơi nhỏ, các bác thông cảm. Đoạn sau chụp thì đẹp hơn. Bà đồng này mới thành đồng 3 năm. Giá đồng này khá lớn. Đầu tiên bao giờ cũng là Hầu Tam tòa Thánh Mẫu. Nhưng các vị Mẫu là tối linh thiêng, tối cao cả, nên ở đây cũng chỉ là Hầu bóng, nghĩa là “xa giá” của các Mẫu Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam chỉ lướt qua đồng, mà không nhập cốt. Do đó đồng phải để nguyên vải đỏ trùm đầu, chỉ đảo người, tay bắt quyết. Tiếng hát của cung văn rất nỉ non, ca ngợi công đức các Mẫu. Đặc biệt là tiếng gõ mõ, tụng kinh, ca ngợi cả cảnh Phật nữa. Vì Mẫu là Thánh, Tiên, Phật. Hai người đàn ông hai bên là phụ đồng, trong cùng cơ cánh. Xem các động tác tay của đồng lúc lên giá Mẫu
-
Tổng hợp bài viết của chitto - thành viên diễn đàn http://www.langven.com - về chủ đề "hầu đồng". Thông qua những chia sẻ của chitto chúng ta có thể hình dung được một canh đồng trên thực tế khá rõ ràng. Nguồn: http://www.langven.com "Trước tiên, phải nói qua về Tín ngưỡng thờ Mẫu này, là cơ sở của việc lên đồng. Tín ngưỡng này còn rất thô thiển, chưa thể thành một tôn giáo được". Những người tin vào Đồng cốt thường tự hào rằng tín ngưỡng này có từ thời các vua Hùng, và lối hát chầu văn là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có từ thời thượng cổ đó truyền lại. Mặc dù các vị thần thánh của tín ngưỡng này pha trộn rất tạp, của đủ mọi thời đại, không thống nhất mà cũng chẳng hấp dẫn gì (mà tớ sẽ kể ra dưới đây), nhưng theo họ thì “cung cách ứng xử với thần linh” đã có từ rất lâu đời. Trước khi có ý định tìm hiểu sâu hơn về nó, tớ xin liệt kê hệ thống thần thánh chính của tín ngưỡng này. Hệ thống này có 5 bậc chính: Mẫu, Quan, Chầu, Hoàng, Cô Cậu. I - Mẫu: Tức Thánh Mẫu, gồm Tam tòa Thánh mẫu: 1 - Mẫu Đệ nhất Thiên tiên – công chúa Liễu Hạnh. 2 - Mẫu Đệ nhị Thượng Ngàn – công chúa Quế Hoa. 3 - Mẫu Đệ tam Thủy Cung, hay Mẫu Thoải – công chúa Thụy Nương. II - Quan, tức Ngũ vị Tôn quan, hay Vương quan. Năm vị Quan lớn, gồm: 1 - Quan Đệ nhất Thượng thiên. 2 - Quan Đệ nhị Giám sát. 3 - Quan Đệ tam Thủy phủ. 4 - Quan Đệ tứ Khâm sai. 5 - Quan Đệ ngũ Tuần Chanh. III - Chầu. Mười vị Chầu Bà, những người hầu cận của các Mẫu. IV - Hoàng. Tức các ông Hoàng. Có các ông Bơ, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười là nổi nhất V - Cô, Cậu. Có đến mười mấy vị, nổi tiếng nhất là cô Bơ, cô Bé, cô Chín, cậu Bơ, cậu Bé,… * Một buổi lên đồng từ đầu đến cuối gọi là một Canh đồng. * Người chủ vị trong lễ lên đồng gọi là Thanh đồng, có thể là nam hoặc nữ. * Khi lên đồng, họ trở thành “Giá” – tức là cái ghế cho Thánh thần ngự vào. * Mỗi lần một vị ngự vào Thanh đồng, gọi là một giá đồng. * Nếu như được các vị ngự vào hẳn, thì đồng có Cốt – có thần của các vị ấy ở trong. Khi ấy Đồng được gọi là Hầu. * Nếu các vị ấy chỉ lướt qua, thì chỉ là Bóng. Vì thế mới có Hầu Quan đệ tứ; Bóng Chầu đệ nhất, tức là Đồng được Quan đệ tứ nhập vào, hoặc Đồng chỉ có bóng của Chầu đệ nhất lướt qua thôi. * Mỗi lễ lên đồng, Thanh đồng có bốn người phụ đồng, tạo thành một Cơ Cánh. Cơ cánh có thể có các cung văn hát chầu văn của riêng cơ cánh, hoặc cung văn của đền phủ (người ta gọi là Nhà đền). Trong Cơ cánh thì 2 phụ đồng bên trên để dâng trà rượu thuốc, hương hoa, thay trang phục, phải rất thành thạo và vất vả, 2 phụ đồng dưới nâng khăn sửa túi, sửa áo, truyền lộc của đồng ra bên ngoài, nhàn rỗi hơn. * Khi Thanh đồng được thánh thần nhập, trở thành Giá đồng, hay Đồng cốt, thì phải ăn mặc như vị thánh thần ấy, hành vi điệu bộ ngôn ngữ cũng phải thế. Người xung quanh cũng gọi đồng như thế. * Dù đồng là nam hay nữ thì khi lên giá Quan, cũng phải mặc đồ tướng, quấn khăn xếp, múa kiếm. Nếu có nói thì xưng là Quan, người xung quanh thì khấn “Lạy Quan”. * Nếu lên giá Chầu, phải mặc đồ đàn bà, cài hoa đeo khuyên tai, xưng là Chầu, xung quanh khấn “Lạy Chầu, Chầu múa đẹp quá”. Đến giá ông Hoàng Bảy thì phải hút thuốc, uống rượu, xưng Ông. Đến giá Cô thì mặc đồ sặc sỡ, và là Cô….. Tối đa thì không biết có bao nhiêu Giá. Thường nói 36 giá đồng, cũng chỉ là một con số ước lệ. Thường một canh đồng chỉ lên khoảng dưới 20 giá đồng. Tuy nhiên có những giá đồng rất lớn, thâu đêm suốt ngày, thì ngoài mấy chục giá truyền thống, còn có các giá riêng, như giá Đức thánh Trần, giá Trần Nguyên Hãn,... Đây là nơi lên đồng trong phủ Vân Cát - phủ Ngoại của phủ Giày. Có một cái sập trước bàn thờ, trên có một cái ngai, chính giữa có một tấm gương. Tấm gương là thứ cốt yếu của lễ lên đồng, để Đồng soi vào đó, cũng như bóng thánh nhập vào. Khi không lên đồng thì tấm gương được phủ vải đỏ. Ảnh dưới là cho các bác thấy kích thước của một chiếu đồng (lúc này người ta ngồi lễ chứ không phải lên đồng). Rất bé. Đồng chỉ nhảy múa trong phạm vi đó thôi. Bốn phụ đồng ngồi bốn góc sập. Gia chủ, người khác ngồi xung quanh. Người có thể lên đồng là người có "căn", có "mệnh", thường là người mà thần kinh, hồn phách (vía) yếu, nên thần thánh mới có thể dễ dàng nhập vào. Khi thần thánh nhập vào, thì hồn phách Thanh đồng sẽ chuyển sang nhập vào cái gương, sau khi thần thánh "xa giá hồi cung" rồi thì hồn phách mới nhập lại thanh đồng. Vì thế cái gương chỉ bỏ vải đỏ khi lên đồng, không thì sợ người thường vía yếu, đi qua nhìn vào đó cũng bị lạc phách. Biểu hiện để có thể lên đồng có nhiều dạng; thường là sau một lần bị điên, bị động kinh, bỗng nói là mình có thánh nhập. Hoặc một người ốm nặng liệt giường liệt chiếu, người nhà hoặc chính mình cầu khấn, bỗng nhiên khỏi bệnh, bảo rằng do thánh thần nhập vào chữa cho. Hoặc là chết hụt, chết đi sống lại, chết lâm sàng sống lại,..., nếu có căn cơ thì xin thánh thần nhập vào, rồi trở thành đồng. Vì thế có cả đồng nam và nữ. Có đồng rất trẻ, mới mười mấy tuổi; cũng có người đến 40-50 tuổi mới thành đồng. Ngoài đời đồng vẫn sống bình thường, chỉ khi lên điện, vào phủ thì mới nhập. Phủ Giày Một canh đồng ở phủ Giày hạng rẻ nhất là 6 triệu đồng. Hạng cao có thể 60-70, đến cả trăm triệu đồng cũng có. Khi lên đồng, đồng thường không nói gì, chỉ hét á á... thôi . Sau có nói thì chỉ nói nhỏ riêng với phụ đồng, người ngoài không nghe được. Khi muốn cho lộc ai thì thông qua phụ đồng, hoặc giơ tay chỉ vào người đó. Phủ Giày có 4 cung. Gọi là Cung, thực ra là các nếp nhà ngang liền sát nhau. Cung Đệ nhất gồm 2 nếp nhà ngang. Trong cùng là "Cung Cấm", một khu vực luôn đóng kín cửa bức bàn. Chỉ người thủ nhang mới có chìa khóa vào. Do có quen biết nên tớ cũng được vào riêng, nhưng không dám chụp ảnh, vì thủ nhang ngồi đó dè chừng. Vào qua cửa phải xịt nước hoa vào tay. Trong đó có 3 pho tượng Mẫu. Ở giữa là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, tức Mẫu đệ nhất Thiên thiên, mặc áo đỏ. Bên trái là Mẫu Đệ nhị Thượng Ngàn, mặc áo xanh. Bên phải là Mẫu Thoải, Mẫu Đệ tam Thủy Cung, mặc áo trắng. Các pho tượng không được đẹp lắm, có thể do mới sơn phết lại. Mà trình độ sơn phết lại không thể được như tiền nhân, nên trông các Mẫu không được sinh động cho lắm. Lúc ra được cho một cành lộc, cùng một miếng vải đỏ nhỏ bằng ba ngón tay. Theo tín ngưỡng thì đó là vải cắt từ tấm khăn phủ tượng Mẫu ra. Tất nhiên chả thể có nhiều, nên người ta lấy vải đỏ cúng vái rồi cắt sẵn ra đấy thôi. Liền bên ngoài Cung Cấm là một gian có chiếu đồng. Cả chiếu đồng nữa mới gọi là Cung Đệ nhất. Chiếu đồng này bé nhất trong phủ, nhưng cũng là thiêng nhất, vì gần với Mẫu nhất. Tiếp bên ngoài là Cung đệ nhị, gồm 2 nếp. Nếp trong có 4 tượng nữ quay mặt vào giữa, gọi là Tứ vị chầu Bà. (cách dùng ngôn từ trong Tín ngưỡng Mẫu rất lộn xộn, nửa Hán việt, nửa Việt). Rồi có tượng Vua Cha - tức Ngọc Hoàng Thượng đế, cha của Mẫu Liễu Hạnh. Hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu. Gian bên ngoài nữa có tượng 5 vị tôn quan, mặc áo đỏ, xanh, trắng, vàng, đen theo màu ngũ hành. Bên dưới có một chiếu đồng nữa. Bên ngoài nữa là cung đệ tam, có bàn thờ các ông Hoàng, hai bên có bàn thờ Trần Triều, gồm Hưng Đạo vương và nhị vị Vương cô (con gái Hưng Đạo vương). Cung này không có chiếu đồng. Cung ngoài cùng gồm nếp nhà dài nhất, 7 hay 9 gian gì đó, là ban Công Đồng, tức là đại diện tất cả các thần thánh khác nữa, về tề tựu ở đấy. Cung này cũng có một chiếu đồng. Như vậy toàn phủ Giày có 3 chiếu đồng. Nhiều lúc chiếu trong cùng và ngoài cùng đồng thời lên đồng, nhưng khác nhau về các Giá. Không rõ có lúc nào cả 3 chiếu lên đồng cùng lúc không. Trong một canh đồng, quan trọng nhất là cung văn, chiếm đến 60% hiệu quả. Cung văn hát có hay, gõ phách, gõ nhịp có chuẩn thì đồng mới múa dẻo, người ngoài mới hào hứng. Cung văn ở phủ Giày hàng năm đều phải tổ chức thi, người nào được đủ hạng mới được hầu các canh đồng trong phủ, và cũng tùy hạng mà được trả tiền nhiều hay ít. Cung văn thường có 3 người, một người chơi đàn nguyệt, một người chuyên trống cái, một người phách, trống con, sênh, chiêng nhỏ. Đa phần là nam, nhưng cũng có nữ. Giọng nam hát khi cần thì rất bi hùng, hoặc rất bi ai, uyển chuyển. Cung văn hát cũng phải tùy thanh đồng, đồng là nữ thì cũng nỉ non hơn, đồng là nam thì có phần hào hùng hơn, đập mạnh hơn. Tớ đã đứng cạnh người cung văn đánh trống, vào giá Chầu là giá múa may nhiều nhất, thấy họ đập trống theo đúng nhịp đập của tim, nên có tác dụng rất mạnh. Nó cộng hưởng với nhịp mạch đập, khiến cho mình thấy cũng như muốn nhảy lên. Nói gì đồng lúc đó có nhai trầu, uống trà, rượu, hút thuốc, thậm chí có thuốc phiện, nên càng bị kích động. Đồng lại là người có thần kinh hơi yếu, nên lúc này càng tạo nên cảm giác hưng phấn. Cũng tựa như nghe rock bị kích động, nhưng kích động của nhạc chầu văn biến ảo hơn. Có khoan có nhặt, lên bổng xuống trầm, rất hay. Trong các cung văn, Xuân Hinh thuộc loại hàng đầu. Mỗi canh chầu được trả mấy triệu đồng. Ông này cũng từng lên đồng nhiều rồi. Khi lên đồng, thanh đồng sử dụng một tấm vải đỏ lớn trùm lên đầu, là lúc thánh nhập vào. Sau đó nếu tung tấm vải ra, thì tức là thánh đã nhập vào, và hành động lời nói lúc đó là của thánh. Sau đó đến cuối giá đồng, cung văn hát “Xe loan xa giá hồi cung” thì lại trùm vải đỏ vào, đảo người, bắt quyết. Có thể vị này xuất thì vị khác lại nhập vào. Cứ như thế mấy chục giá đồng. Mỗi khi có vị khác nhập vào, thì lại phải thay trang phục ứng với vị ấy. Phụ đồng sẽ giúp việc bỏ trang phục cũ, mặc trang phục mới. Trang phục thường được chuẩn bị sẵn có thứ tự, mặc vào khá nhanh. Hàng chục tấm áo gấm xếp thành chồng cao đến nửa mét. Cả chục bộ khăn vành dây, khăn xếp, khăn gấm kiểu người Tày, người Thái, mấy hộp khuyên đeo tai, vòng đeo cổ, đeo tay, các loại trâm thoa, hoa cài đầu. Thường đồng sẽ chọn trước sẽ hầu giá vị nào, cung văn biết trước để hát bài cho phù hợp với vị ấy. Các bài hát có khá nhiều, ngoài những bài truyền thống, cung văn được quyền sáng tác thêm cho hoa mỹ, hay ho. Vì thế cùng là văn về một vị, các bài hát chỉ giống nhau ở danh vị, địa phương, công đức, còn cụ thể thì rất biến ảo. (Còn tiếp)
-
Giới thiệu một số hình ảnh về "hầu đồng" Nguồn: vietnamphoto.com.vn (tiếp) Ảnh hầu đồng, đột bát hương, cắt tiền duyên cho các cô gái khó lấy chồng - Đền Ông Hoàng Mười
-
Giới thiệu một số hình ảnh về "hầu đồng" Nguồn: vietnamphoto.com.vn Ảnh hầu đồng, đột bát hương, cắt tiền duyên cho các cô gái khó lấy chồng - Đền Ông Hoàng Mười Lên đồng
-
Nguồn:www.baophutho.org.vn Chân tướng một nhà "ngoại cảm" PTO- Một anh thợ sửa chữa xe công nông thoắt bỗng trở thành nhà “ngoại cảm”, chuyên đi tìm những ngôi mộ thất lạc. Ba, bốn năm nay, tiếng tăm “ thầy” Thuận ở khu 5 xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh nổi như cồn, nhất là từ khi có gia đình nhờ thầy tìm được hài cốt liệt sĩ từ trong Nam chuyển ra Bắc. Thông tin này mở ra nhiều hy vọng cho những gia đình có liệt sĩ hiện phần mộ còn đang mất tích. Tuy vậy, có những điều ngẫu nhiên khó hiểu, là hầu hết hài cốt liệt sĩ mà “ thầy” Thuận tìm thấy đều nằm trong những ngôi mộ ở các nghĩa trang liệt sĩ vô danh phía Nam!? Bài viết này ghi lại lời kể của ông N.V.S, một người từng theo “ thầy” Thuận đi tìm mộ anh rể ở Quảng Trị. BÁN TÍN, BÁN NGHICậu Thuận mới ngoài ba mươi tuổi, cũng chạc tuổi con tôi, lại là hàng xóm nên hoàn cảnh gia đình có lạ gì nhau. Mấy năm trước, cậu ấy mở xưởng sửa chữa xe công nông, cũng đông khách vì tay nghề khá. Rồi nghe tin cậu ấy nổi đồng, chuyên đi tìm mộ thất lạc. Năm 2004, tìm mộ bố cho bà T cùng xã, đào mãi nát cả vườn hàng xóm không thấy, sau phát hiện ra một đám đất màu đen, bảo đó là hài cốt lâu quá bị mủn, bốc đem về chôn cất lại. Cuối năm ngoái, bà N cùng khu với nhà tôi cũng nhờ thầy Thuận tìm mộ chồng là liệt sĩ chống Mĩ. Thầy gọi hồn, thấy hồn bảo mộ thất lạc tận trong Khe Sanh. Đích thân “thầy” Thuận dẫn gia đình đi tìm và thấy ngay ở khu liệt sĩ vô danh nghĩa trang tỉnh Quảng Trị. Anh rể tôi hi sinh năm 1972. Theo lời kể của một đồng đội cũ thì trận địa đơn vị bị máy bay Mĩ ném bom ban đêm, anh từ trong hầm chạy ra báo cho mọi người ẩn nấp thì dính mảnh bom vào đầu, hi sinh tại chỗ. Nơi ấy là làng Vĩnh Phước, không biết thuộc xã nào của huyện Gio Linh- Quảng Trị. Lúc gia đình tôi đặt lễ nhờ “thầy” Thuận tìm giúp mộ anh, “thầy” nhận lễ rồi hẹn ba ngày nữa mới xem được vì đông khách quá. Thì ra ai đến nhờ xem tìm mộ cũng phải chờ như vậy. Thật buồn là hôm đến lượt nhà tôi, chị tôi ngồi ghế đồng nhưng hồn không nhập vào được, mà lại nhập vào một đệ tử của “thầy” Thuận. Tôi đã nghi ngờ cuộc gọi hồn vì thấy “anh” về mà không nhận ra bà chị dâu từ trên huyện Hạ Hoà cùng ngồi trong nhóm người nhà, nhưng khi “thầy” Thuận bảo nhìn thấy anh tôi là người cao lớn, hiện được chôn cất ở một nghĩa trang nhỏ của địa phương nào đó thì chị tôi nhen lên niềm hi vọng tìm thấy chồng. Gia đình tôi quyết định cử 4 người, thuê xe đưa “thầy” Thuận vào Nam tìm mộ. “Thầy” Thuận mang theo hai đệ tử nữ còn khá trẻ, nói vào trong đó họ còn làm thủ tục cúng bái. Xe đến thành phố Việt Trì còn dừng lại hai lần đón thêm hai phụ nữ nữa. Lúc đầu tôi tưởng họ là người đi nhờ xe, hoặc cùng đi tìm mộ, nhưng vào đến Quảng Trị, mới biết họ cũng là con nhang đệ tử theo phụ giúp “thầy”. Cùng đi với chúng tôi, còn có anh V người hàng xóm cũng vào Kon Tum tìm mộ anh trai theo chỉ dẫn của “thầy” Thuận. Nếu vào đến Quảng Trị, tìm được mộ anh rể tôi rồi, “thầy” Thuận tiếp tục đưa anh V vào Kon Tum. Cả quãng đường hơn 700 cây số, ngoài miệng thì trò chuyện, nói cười, nhưng trong lòng chúng tôi thấp thỏm lo lắng, không biết có tìm thấy mộ người thân? THẤT VỌNGThì ra việc tìm mộ anh tôi chẳng có khó khăn gì. Ở nhà “thầy” Thuận nói nhìn thấy mộ anh ở một nghĩa trang địa phương nhỏ nào đó, nhưng vào đến Quảng Trị, lại đưa chúng tôi thẳng đến nghĩa trang tỉnh. Có vẻ như “thầy” Thuận đã đến đây rồi vì thấy bắt tay chào hỏi bác nhân viên quản trang rất thân mật (sau đó bác quản trang nói đã nhìn thấy “ông thầy” này mấy lần đến đây tìm mộ). Khi nhang được thắp lên, “thầy” Thuận “nhập thần” để tìm mộ, hai cô đệ tử đi theo từ ngoài nhà vào cũng nhập đồng múa may, quát tháo loạn cả lên. “Hồn về đến cổng nghĩa trang rồi! Người nhà liệt sĩ đâu! Có ra đón ngay không chết cả bây giờ.” Khổ thân chị tôi người to béo mà phải chạy lên, chạy xuống hang chục bậc thang chỗ đài tưởng niệm, thở muốn đứt hơi. Tôi rất hoang mang vì khi vào cổng nghĩa trang đã thấy một tờ thông báo to đùng dán ở đó cảnh báo mọi người về các nhà “ngoại cảm”, trong đó có nhà ngoại cảm V.B vừa bị công an Quảng Trị tạm giữ vì tội lừa đảo người nhà liệt sĩ trong việc đi tìm mộ. Sau một hồi cầm nhang đi tìm, “thầy” Thuận chỉ một ngôi mộ phía trong nghĩa trang và bảo. “Đây rồi! Người nhà khẩn trương đào lên mang về.” Lời “thầy” nói như đinh đóng cột, củng cố thêm lòng tin của chị gái tôi, rồi “thầy” lên xe đi tìm mộ chỗ khác. Gia đình tôi chuẩn bị lễ lạt thắp hương cho anh rể. Tôi nhìn phía trên mộ, thấy phần bia mộ vừa bị đục đi thì nghi ngờ. Một loạt ngôi mộ xung quanh cũng trong tình trạng bị đục mất bia như vậy. Tôi đi xung quanh tìm người, may gặp một số nhân viên đang sửa sang mộ chí gần đó. Một người đến xem ngôi mộ rồi bảo tôi. “ Tất cả các ngôi mộ ở đây đều có tên cả. Chúng em đang tu sửa lại nên bỏ bia cũ làm bia mới. Gia đình có thể hỏi người quản lí ở đây thì biết ngay.” Anh em quản trang cũng nhiệt tình với chúng tôi, tìm sơ đồ khu mộ, lô số…hàng số…mộ số… “Đây là mộ của liệt sĩ Nguyễn Văn Sơ, quê ở Thái Bình. Có đúng là tên thân nhân của gia đình không?” Chúng tôi bàng hoàng, toát mồ hôi hột. Tí nữa thì nhầm to. Nếu không hỏi lại, tối nay đào lên mang hài cốt về quê thì phiền phức lắm. Lập tức chúng tôi điện thoại di động hỏi “thầy” Thuận. “Sao lại chỉ chúng tôi vào ngôi mộ của người khác? Mộ ấy có tên liệt sĩ ở Thái Bình cơ mà?” “Thầy” Thuận ấp úng một lúc rồi nói. “ Chắc là Thánh thử ta đấy. Thôi! Đợi ngày mai cháu ra sẽ chỉ chỗ cho.” Lại một ngày đêm ăn chực nằm chờ ở nghĩa trang. Hôm sau “thầy” Thuận ra, lại hương khói, lên đồng, dẫn chúng tôi đi lòng vòng một hồi rồi chỉ một ngôi mộ nằm trong khu nghĩa trang của liệt sĩ vô danh. “Chắc chắn là đây rồi!” Thầy khẳng định như vậy, giục chúng tôi khẩn trương đem hài cốt về quê, để lâu không tốt. Rồi lại quày quả ra đi cùng đám đệ tử xinh đẹp. Lần này tôi thận trọng đi dò hỏi những người đang sửa sang nghĩa trang, xem họ có biết những ngôi mộ trong khu vô danh quy tập từ địa phương nào về? Một người bảo. “Toàn là hài cốt các liệt sĩ mới quy tập bên Lào về đó.” Chúng tôi hoàn toàn thất vọng. Anh tôi hi sinh ở làng Vĩnh Phước, Quảng Trị, làm sao lại đưa từ bên Lào về được? Chúng tôi thắp hương, đặt lễ cho tất cả các liệt sĩ xung quanh. Tôi thầm khấn. “Thưa anh em! Tôi cũng là người lính từng chiến đấu ở chiến trường này, nay quay lại tìm người thân. Người ta chỉ anh tôi nằm trong này, nhưng không biết có phải không? Mong anh em thông cảm, lượng thứ cho. Chúng tôi thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ chứ không dám nhận mộ vì sợ đụng chạm đến vong linh liệt sĩ khác.” Chúng tôi quay ra Bắc với tâm trạng vô cùng chán nản. Không phải vì tiếc gần chục triệu đồng gồm tiền đặt lễ, tiền xe và lưu trú dọc đường mà do niềm tin bị rơi mất. Hi vọng tìm thấy mộ người thân thế là tan biến. Hai ngày sau anh V cũng từ Kon Tum quay về với vẻ thất vọng. “Thầy” Thuận cũng tìm thấy mộ anh trai V trong một nghĩa trang liệt sĩ vô danh, cũng giục anh khẩn trương mang về, nhưng anh V không dám. Có một người cùng dự trận đánh đêm ở đồn Bàu Chuối Tây Ninh năm 1968 đã chứng kiến anh trai anh V hi sinh như thế nào. Giờ sao có thể quy tập ở Kon Tum, cách Tây Ninh hơn 800km? Thôi thì đành chịu tốn kém vậy, chứ mang hài cốt người khác về, sợ vong hồn anh mình lại tủi. TÔI NGHI NGỜSau khi về nhà tôi còn dự một buổi lên đồng của một lái xe người Việt Trì tại nhà cậu Thuận. Một thánh tướng nhập vào anh ta, hô hét loạn cả lên. “Ta là tướng Việt Nam đây! Ta về đến cầu Việt Trì, các vua Hùng còn phải ra đón cơ mà. Liệt sĩ nào mất tên, ta chỉ cần đạp vào mộ là phải chui lên khai báo tên tuổi ngay. Không chịu lên ta đái vào mộ là nhoi lên tất.” Tôi phì cười vì chuyện vớ vẩn, nhưng bà mẹ cậu Thuận thì chắp tay vái Thánh tướng lia lịa. “Lạy thánh mớ bái! Thế mộ liệt sĩ Hợp có đúng không ạ?” Thánh đỏ mặt quát. “Thằng Hợp (tên liệt sĩ anh trai anh V) là thằng ương bướng. Nó không chịu lên khai tên thì biết tay ta.” “ Lạy thánh! Thế còn trường hợp mộ liệt sĩ Hoàng ạ?” (là tên anh rể tôi) “ Liệt sĩ Hoàng thì đúng rồi! Hi sinh ngày mùng 6 tháng tư. Sao chưa mang về?” Tôi vừa khó chịu vừa buồn cười nghĩ đến câu tục ngữ . “Hòn đất mà biết nói năng…” Tôi không hiểu nhà “ngoại cảm” ở đây sao phải lên đồng nhiều thế? Có bà C đệ tử của cậu Thuận khi lên đồng toàn nói “Bác Hồ nhập vào”???. Cứ theo chỉ dẫn của Bác là tìm thấy liệt sĩ. Khi khách chưa kịp đặt lễ còn giục. “Sao không trả công cho Bác? Bác lấy tiền dương chứ không lấy tiền âm phủ đâu nhé.” Những chuyện đồng cốt nhảm nhí như vậy, lại còn lấy danh nghĩa lãnh tụ, lẽ ra chính quyền địa phương nên can thiệp. Còn chuyện đi tìm mộ của nhà “ngoại cảm” Thuận, bây giờ tôi vẫn tạm gọi như thế, nhưng tôi nghi ngờ khả năng ngoại cảm của cậu bởi các hài cốt liệt sĩ tìm thấy toàn nằm trong các nghĩa trang liệt sĩ vô danh, hoặc vu vơ như trường hợp anh rể tôi. Chỉ một ngôi mộ vô danh nào đó và bảo là mộ ông A, anh B, thật dễ dàng, chỉ cần chịu khó đi thăm một số nghĩa trang liệt sĩ hoặc có một số “chân rết” tại nơi có nghĩa trang là có thể chỉ ra được. Tôi đã gặp một cô gái ở nghĩa trang Quảng Trị và được cô ta giới thiệu về khả năng tìm mộ của nhà ngoại cảm X ở Hà Nội, lại đưa cả cácvidít của nhà ngoại cảm. Mới đây, cậu Thuận lại đưa một gia đình trong xã đi tìm mộ liệt sĩ và đã tìm thấy ở nghĩa trang liệt sĩ vô danh tỉnh Khánh Hoà!? Người nhà nói hài cốt liệt sĩ vẫn còn và đã mang về nghĩa trang liệt sĩ xã Phú Lộc. Hàng ngày, người dân quanh khu phố vẫn chứng kiến rất đông các thân nhân liệt sĩ từ khắp nơi chầu chực trước nhà “thầy” Thuận để chờ vận may tìm thấy hài cốt người thân.. Sự nghi ngờ dẫn đến nỗi lo lắng trong lòng, dù chỉ là riêng tôi, rằng không biết có bao nhiêu liệt sĩ còn nằm lại đâu đó trên các chiến trường xưa chưa được trở về với gia đình và có bao liệt sĩ bất đắc dĩ phải trở thành cha, chồng, anh của những người xa lạ? Hoàng Thụy
-
Xứ Lào : Kiêng Cữ & Ma Quỉ 5 (Hết) Hàn Lệ Nhân Trung tuần tháng Tư năm 1993, nhằm mùa Pimay Lao ( Tết Lào ) tôi về lại Lào nhân chuyến công tác thiện nguyện cho Hội Học Đường Không Biên Giới ( Ecoles Sans Frontière ) và đã được nhìn tận mắt một cảnh lạ tại Ban That, cách Savannakhet 15 cây số, nơi tọa lạc tháp IngHang nổi tiếng, trong đó, theo truyền thuyết có lưu giữ xá lợi của Đức Phật là một sợi tóc. Cảnh lạ đó là một gốc dứa ( thơm / khóm ) lại kết được những hăm mốt ( 21) trái ! Con rể chủ vườn là người Việt, em trai của một người bạn cũ nay đã qua đời. Lần thứ nhất tôi theo gia đình ra xem, chùm dứa 21 trái, mỗi trái to cở nắm tay người lớn. Thâm tâm tôi thắc mắc nhưng chưa dám mạo muội kiểm chứng. Khách viếng tấp nập. Mỗi đầu người vào xem phải cúng dàng 100 Kịp ( tiền Lào ) để góp phần vào việc tu bổ các chùa trong vùng. Truyền hình Lào có đến thu hình và cho phổ biến khắp nước. Một tuần sau tôi ra xem lại, đi cùng cô bạn học cũ tên L. từ HongKong về thăm nhà, 21 trái dứa đã to hơn chút đỉnh và đã được chủ vườn làm hai vòng hàng rào bao quanh, lại có thêm hương hoa nhang khói nghi ngút, người Lào gọi là Bu-Sa. Mấy tuần sau, xong công tác giảng dạy ở Vientiane, trở lại Savannakhet, tôi và L. ra xem lần nữa. Lần nầy, nhằm thứ hai, chỉ có chúng tôi là khách viếng cảnh lạ nên đánh bạo xin phép chủ vườn cho chui qua hai vòng rào để chụp hình và đếm. Ông ta bảo : " Bò đảy, kh'lăm. Phờn bò hạy " ( Không được, kiêng. Ngài không cho). Chúng tôi năn nỉ mãi, ông ta bèn trả lời : " Thôi được. Đây là một sự kiện hy hữu linh thiêng chưa từng xảy ra ở bất cứ nơi nào. Quí vị từ nước ngoài về đây, âu cũng là một duyên may. Muốn kiểm chứng thì cứ vào gần mà quan sát. Nhưng tôi phải nói trước với quí vị, nếu quí vị hữu phước thì tốt cho quí vị ; nếu quí vị vô phước có chuyện gì xảy ra chúng tôi không chịu trách nhiệm à ". Nói xong, ông ta kính cẩn chấp tay xá chùm dứa một cái. Thấy vậy, hai đứa tôi cũng nghiêm trang làm theo rồi mới thực hiện điều mong muốn. Đúng là một gốc mà có tới 21 trái. Chúng ta nên nhớ là ở Lào, bấy giờ, chưa biết dùng thuốc kích thích trong canh tác. Cho đến nay, mỗi đứa chúng tôi trở lại nơi chốn tạm dung, vẫn bình yên vô sự nhưng thâm tâm cá nhân tôi, tôi vẫn chịu - dù chưa hiểu - lòng tin và hình thức sùng bái của người Lào nói chung, của ông chủ vườn nói riêng, trước một hiện tượng theo lẽ không tự nhiên ( theo khoa học thì là bất thường ) vì trước nay mỗi mùa mỗi gốc dứa chỉ sinh một trái duy nhất. Song dù sao, việc kh'lăm nầy ít ra cũng giữ cho " hiện tượng " được an toàn nẩy nở theo chu kỳ tự nhiên của hoa trái, hơn nữa nhờ đó các chùa quanh vùng cũng nhận được hơn một triệu Kịp công quả từ gia đình ông chủ vườn chân chất. Chỉ tiếc một điều, ông không cho chúng tôi biết chữ Phờn ( Ngài ) trong câu " Phờn bò hạy " ( Ngài không cho ) là ai, nếu là Phí ( Ma ) hay Thê Va Đa ( thần ) thì tên gì ? Hai năm sau tôi lại quay về thăm gia đình, nhắc lại chuyện cây dứa, con rể ông chủ vườn bảo " thì nó chín, rụng dần rồi rã thành đất " ! Tôi tiếc hùi hụi, bảo " sao chú mầy không cho chích thuốc, giữ lại như ...". Nó trả lời " Mô Phật, tụi Thái Lan năn nỉ mua với giá cao, ông cụ đã không bán còn " nổ " cho một trận. Mấy anh học Tây, Mỹ cho lắm vào rồi nhìn cái gì cũng chỉ tính chuyện sinh lợi ..." Thay lời kết Tín ngưỡng vốn muôn hình, nghìn sắc thành thử không riêng gì Lào và các nước lân cận mới còn tồn tại nhiều cái gọi là mê tín, dị đoan. Mà sống trong văn minh khoa học tân tiến cao cũng không bảo đảm việc không có dị đoan, mê tín, nếu không muốn nói rằng con người càng tiên tiến về khoa học vật chất thì niềm tin càng đi xa hơn để giải quyết những ưu tư, thắc mắc, mong muốn còn đọng lại trong tâm giới họ vì bộ óc con người dù thông minh, tinh vi đến đâu cũng chỉ là sản phẩm của vũ trụ, không làm cách chi vượt ra ngoài sự chi phối và giới hạn của thiên nhiên để trở thành tạo vật chủ được, cho nên khoa học, vốn phải dựa trên kết quả thực nghiệm, chẳng bao giờ theo kịp tín ngưỡng vốn chỉ cần một niềm tin, nói chi việc giải quyết được ý thức tín ngưỡng. Đơn cử trường hợp người Âu-Mỹ vốn được chúng ta cho là mẫu mực của văn minh, khoa học cao, thế mà ở đầu thế kỷ XXI nầy họ vẫn giữ nhiều sự kiêng kỵ khó hiểu ; ví dụ họ ghét ( hay thích ) con số 13 : không dùng cơm tối với 13 người ( liên tưởng tới Juda, kẻ bán Chúa ), sợ ngày thứ sáu 13 ( Vendredi 13 ) ; kiêng dùng một que diêm để châm thuốc lá cho ba người, kỵ làm đổ muối xuống đất, kiêng chui qua gầm thang, cữ đặt ổ bánh mì nằm ngửa, v.v... Ngược lại, khi nhặt được một chiếc lá chĩa ba có 4 cánh ( trèfle à 4 feuilles ) họ cho là điềm may mắn ... Tại Âu-Mỹ, bói toán nói chung là một nghề dễ hốt bạc và hầu như nằm ngoài hay nói cho thật đúng là ngồi trên cái gọi là khủng hoảng kinh tế. Ở Bắc Mỹ người ta biết cựu đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ, bà Nancy Reagan, là một người mê tín, đặc biệt bà đã công khai công nhận sự kiện nầy, nhất là chuyện bà rất tin thầy bói để ảnh hưởng tới mọi quyết định của đấng phu quân, cố tổng thống Ronald Reagan. Nhiều nguyên thủ quốc gia bên châu Mỹ la-tinh vẫn thường tham khảo, tìm lời khuyên từ các bốc sư, chẳng hạn cựu tổng thống xứ Pérou, ông Alberto Fujimori ( gốc nhật bản ) đã thú nhận : " Tôi thường hỏi ý kiến một nhà tiên tri tên Carmelli. Bà thầy không nói rõ ra chuyện gì, bà chỉ phán tổng quát, chung chung ... Tôi rán suy đoán rồi đi đến quyết định". Cựu tổng thống Argentine, ông Carlos Menem khoe rằng ông thường hay đi coi bói với chiêm tinh gia tên Hilda Evelia Romanelli, và trong khi tiến hành thủ tục ly dị vợ, ông thường xuyên mời thầy bùa, thầy pháp, cô đồng, bà cốt đến nhà để gỡ ếm, trừ tà. Riêng tại Pháp, các chiêm tinh gia nổi tiếng như quí bà Soleil, Elisabeth Teisseir, Yaguel Didier, Catherine Aubier ... và quí ông như Didier Derlich ( đã qua đời ), Claude Naisse, Marcel Picard ... đều có cuộc sống vật chất cấp triệu phú trở lên, có lẽ nhờ một số đông tín hữu thuộc tầng lớp " chăn dân " ( tổng thống, bộ trưởng, dân biểu), các nhà đại tư bản ... mà các bốc sư chỉ mới chịu khui tên một số rất ít. Hầu như mọi tờ tuần báo tại Pháp đều có mục Tử Vi, đôi khi Tử Vi Tây và Tử Vi Tàu vui vẻ cọng tồn song hành trong một tờ báo, chưa kể cả chục nguyệt san chuyên đề nầy như Astres, Horoscope, Destins... Theo sách LaVoyance của ông bà Joseph và Annick Dessuard thì hiện nay nước Pháp có khoảng 40.000 bác sĩ tổng quát đang hành nghề, so với 30.000 bốc sư đủ loại ( thiên văn, lịch phổ, bói toán, thuật số v.v... ; riêng thủ đô ánh sáng Paris có trên 240 bốc sư gieo quẻ " cách diện " qua mạng Minitel hay Internet và, từ 1986, một công ty nặc danh ( Société Anonyme ) có chi nhánh tại Cannes, tại Nice, chuyên " thuật số " qua điện thoại hay các mạng mới nói trên với con số thu hoạch khai báo chính thức với sở thuế vụ là ...10 triệu francs ( 1,6 triệu Euros ) trong năm 1993 ! Đó là công ty Divinitel SA của ông Claude Naisse, tọa lạc tại số 85 Rue de Rivoli 75002 Paris. Theo tạp chí Challenger số 77 ( 01/1994 ) : Sinh thời tổng thống Pháp, ông François Mittérand, là một tín chủ của các bốc sư bên Cận Đông. Câu hỏi ông nầy thường tham khảo các bốc sư là : " Tôi nên chọn ngày nào để nói với quốc dân Pháp hầu được họ hiểu rõ ?". Trong cuộc chiến vùng vịnh lần thứ nhất năm 1991, tại sao ông Mittérand đã cương quyết chọn ngày 09/01/1991 để nói với dân Pháp về những đe dọa của Saddam Hussein ? - Ấy vì một trong các bốc sư ruột của ông đã bật đèn xanh cho ông ta đấy. Và trong khi ông Mittérand đi cầu thầy bói tận bên các xứ Ả-rập thì đương kim quốc vương Juan Carlos của xứ Tây Ban Nha, từ 25 năm nay, lại thường xuyên xem bói bằng thư với bà Elisabeth Teisseir của xứ Pháp ! Thật là Bụt nhà không thiêng ! Ngoài ra mấy vị cấp lãnh đạo nước Pháp như Valéry Giscard d'Estaing, Jacques Chirac, Edith Cresson, Jack Lang, Robert Badinter ... cũng là thân chủ của chiêm tinh bói toán. Theo các chiêm tinh gia hay bốc sư nổi tiếng tại Pháp, mỗi lần có cuộc bầu cử, 1 trên 2 dân biểu ( ứng cử viên ) cầu đến tài năng gieo quẻ của họ. Trong cuốn Tự Do trong Lưu Đày, đương kim Đức Đạt Lai Lạt Ma kể lại chính ông từng tham dự nhiều cuộc lên đồng, gieo quẻ. Chẳng hạn việc ông quyết định tị nạn qua Ấn độ cũng do cậu đồng chỉ đường vạch lối. Tôi tâm đắc nhất khi ông bảo " Con người khi cùng đường, thường cầu đến thần linh ... Còn thần linh khi cùng đường thì hay ... nói láo " ! Trên đây là những tín hữu thuộc giới chính trị, vậy trong giới khoa học kỹ thuật thì sao ? 1. Hãng xe hơi Citroën của Pháp, khi tung xe Citroën AX qua thị trường Thụy Sĩ đã nhờ bà Elisabeth Teisseir (E.T.) " thuyết trình " trước 500 khán thính giả về đề tài " các cơ may thành công " của ... AX. 2. Văn phòng quảng cáo của hãng nước hoa Lancôme trứ danh cũng nhờ bà E.T. gieo quẻ trước khi tung nước hoa hiệu Sagamore ra thị trường. 3. Tháng 6 năm 1993 : Hãng vi tính nổi tiếng thế giới Hewlett-Packard ( HP, Hoa Kỳ ) đã cầu đến " ánh sáng " của bà Yaguel Didier ( Pháp ) trong một đại hội về hạnh phúc tại Mandelieu-La-Napoule ( gần Cannes, Nam Pháp). 4. Cụ thể là năm 1970, cả thế giới đã bàng hoàng hoảng hốt và đồng loạt tổ chức những buổi lễ cầu nguyện cho các phi hành gia trên phi thuyền Apollo XIII của Mỹ được bình an trở về trái đất. Tại sao ? - Chỉ vì khi được phóng lên mặt trăng, Apollo XIII bị trục trặc máy móc và trong nhất thời những bộ óc khoa học thúc thủ, mất bản năng tự tín phải quay về với tín ngưỡng. ............ Tóm lại, kh'lăm trên đất Lào hay sự húy kỵ, kiêng cữ ở các nơi khác cũng chỉ là hình thức, phản ứng biểu hiện sự băn khoăn, sợ hải của con người đối với thiên nhiên, đối với nguồn gốc của cơ năng vũ trụ mà con người chưa tìm ra đáp số. Trong lúc lần mò truy ra dần dần các đáp số, con người phải lấy căn bản suy tư làm chủ đích cho sự tin tưởng của khối óc làm đường hướng cho ý thức sinh tồn, tức cố gắng duy trì sự hiện hữu của mình trong qui luật của thiên nhiên, mà một trong những kết quả của căn bản suy tư là Tín Ngưỡng ( chính thống hay dân gian ), điểm tựa cuối cùng cho mọi bế tắc. Hàn Lệ Nhân Tài liệu tham khảo chính : Au pays du millions d'éléphants : Le kh'lăm, Katay D. Sasorith, France Asie 107-1956 * Le lotus et le dragon célestre, Serc Voravongsa, bản thảo 1985 * Dictionnaire Lao-Français, T1 & T2, Marc Reinhorn , CNRS 1970 * VatChaNaNouKom Lao, BQGGD-VQAL, 2505 * Vatchananoukom Phasa Lao, Thongkham Onmanysone, VT 1992 * Paphéni Lao, Anada Thera * Superstition laotienne, Bourlet A., Missions catholiques N° 38-1906 - Superstitions laotiennes, Excoffon, P. BSME 1923-2 * Les génies dans la péninsule indochinoise, P.B. Laffont, BEFEO, tV-2, 1942 * Le Phi Kong Koy, Levy B. PRL * Paphéni bouran, Maha Sila Viravong, VT 1958 * Les sorciers au Laos, Vô Danh * Le code des bons usages, Pierre S. Nginn * Miami Herald 7/93 * Le langage Secret des tarots ( nxb Tchou ) và Le tarot ( nxb Albin Michel * La Voyance ( loại sách Que Sais-je ? ), J.A. dessuard * Challenger số 77, 01/1994 *
-
Xứ Lào : Kiêng Cữ & Ma Quỉ 4 (tiếp theo) Hàn Lệ Nhân « Sau nầy anh B kể lại, hình như thầy E đã biết trước sự cầu viện nầy nên khi anh và thầy D đến nhà thầy trong bản K., ông ta đã khăn gói chỉnh tề ngồi nhập định trước bàn thờ trong nhà. Thầy E là Chảo Cham của làng K., đã trên 60, lừng danh khắp tỉnh S. và vùng phụ cận. Từ khi nhậm chức Chảo Cham, cùng lắm thầy mới trực tiếp ra tay và thường có tính cách hổ trợ khi đồng nghiệp gặp địch thủ lợi hại. Đang ăn uống nhồm nhoàm, bổng A ngưng ngang, leo lên giường nằm quay mặt vào tường, trùm mền nằm im. Tôi biết anh B, thầy D đã trở lại và có thể có luôn thầy E, nên chạy ra đón họ vào phòng A. Thầy E đích thân thắp hai ngọn nến, cũng cắm vào hai bên mép đĩa " khai " của thầy D. Chấp tay khấn một hồi lâu, thầy tiến lại gần giường A đang nằm, điềm đạm lên tiếng bằng tiếng Lào : - Thân chào bạn ( sa bai đi sà-hái ). Tôi là Chảo Cham làng K., đến đây thăm bạn. Mọi sự trên đời đều có thể thương lượng, bạn đồng ý chứ. Để tránh mọi sứt mẻ và đổ vở, nhân danh gia chủ, xin bạn cho biết tên và ý muốn, chúng tôi sẽ làm vừa lòng bạn. A không quay lại nhưng đáp : - Đi hỏi con khốn nạn ! - Thế thật sự bạn muốn gì ? - Muốn vật cho nó chết ! - Bạn không thể vô cớ làm hại người ta ... - Ai bảo là vô cớ ? - Thì xin bạn cho biết nguyên cớ. - Đi hỏi con khốn nạn ! - Khoắn ( viá hay hồn ) người ta đã bị bạn hớp rồi, làm sao mà ăn nói. - Tao không nói ! - Bạn nhất định cứng đầu ? - Ừ, bọn mầy làm gì được tao ? Nghe A thách thức, thầy E thọc tay vào bọc vải đeo trên vai, lấy ra một cái khăn rộng đan mắt cáo trông như cái lưới chài cá cỡ nhỏ, một đầu có cột sợi dây, chụp xuống người A, A thét dựng lên, ngồi bật dậy, nhảy xuống giường, qùy xuống lạy như tế sao : - Xin nương tay, xin nương tay ! - Bạn là ai ? Nói mau ! Vừa hét, thầy E kéo tấm lưới phủ lên người A. - Tôi xin nói, tôi xin nói. A lăn dưới đất. Xin lấy tấm lưới ra ... hừ, hừ. Xin lấy nó ra ... - Được. Nhưng giở trò thì đừng trách. Thầy E thu tấm lưới lại. - Tôi là ... Bất ngờ A ré lên cười : - Tao là cha của mấy thằng Mó Phí hôi tanh như mầy ... Thì ra nảy giờ A chỉ đóng kịch, diễu thầy E. Biết bị A chơi khăm, tay trái thầy E tung lưới lên chụp A, tay phải rút ra một cái roi lởm chởm sần sùi : - Thế thì cho mầy nếm mùi " sẹ phra kăm " (1). Thầy E quất túi bụi vào người A. Lần nầy A rú lên đau đớn thật sự, quằn quại co rúm lại như con tôm : - Xin thầy ngừng tay, tôi xin nói ... Thầy E vẫn không ngừng tay. Điểm lạ ở chỗ roi " sẹ phra kăm" vụt mạnh vào người như mưa, mồm rú lên đau đớn thế mà người A không hề bị trầy trụa tí nào. Chắc roi chỉ " đánh " vào con Pọp " trong " người A, chứ thứ roi nầy mà quất vào da thịt người phàm thì còn gì thịt da. - Xin thầy tha mạng, tôi xin nói, tôi xin nói ... A vừa van xin vừa rên xiết : - ... em gái tôi ở trong xóm nầy. Hôm qua nó sang mượn con A một chén nước mắm. Đã không cho mượn nó còn chửi mắng em tôi thậm tệ. Tôi phải trả thù cái nhục nầy ... - Nhưng mầy là ai, từ đâu đến ? Thầy E hỏi và ngừng tay. - Tôi là Thảo F (2), cũng ở trong xóm nầy ... - Láo ! Cả tỉnh S. nầy có bao nhiêu Pọp mà tao không biết. Vừa hét thầy E vừa tung " sẹ phra kăm " quất một cái vào người A. A oằn người đau đớn : - Dạ, tôi là Pọp trong Thảo G, ở tận Mương Phin ... Thảo G chết tôi mới nhập vào em gái nó là Nang H, mới dọn ra S., ở trong xóm nầy. Xin thầy tha mạng. - Mọi việc cũng đã lỡ, mầy hãy " ra " đi. Và phải rời khỏi tỉnh S. về quê cũ mầy ngay. - Ai bảo con A mất dạy ... - Gia chủ sẽ làm lễ tạ lỗi. Thầy E ra hiệu cho thầy D, thầy D liền đưa cho thầy E ly nước lạnh. Nâng ly nước ngang cằm, cũng như thầy D đã làm, thầy E lâm râm niệm chú, thỏi phù một cái vào miệng ly, ra lệnh : - Uống ly nước nầy rồi " ra " ngay ! - Xin cho " ra " bằng đường " trên " ( mồm ). - Không được ! Phải " ra " đường "dưới " . - Tôi không quen ... - Không quen cũng phải " ra " . - Xin thầy ... A năn nỉ. - Đã bảo không được là không được ! - A há mồm uống cạn ly nước phép xong, vội vàng nói : - Xin cho " ra " ngoài nhà cầu. - Cũng không được. Phải " ra " ngay tại đây ! Thình lình A nằm lăn xuống nền nhà, ngất lịm. Váy ướt đẩm. Thầy E thu hồi bửu bối vào trong bọc vải. Tắt nến. Bước ra khỏi phòng, thầy nói : - Việc khó khăn đã được giải quyết. Những gì phải làm sau nầy đã có thầy D đây lo liệu, khỏi cần liên lạc với tôi. Dù sao quí vị hãy nhớ câu nầy : " Hạy đì chày phí, đì chày khôn " ( cho vui lòng ma thì vui lòng người )". Duy có một điều ... Thầy E bỏ lững câu nói. Anh B đưa thầy E về . Thầy E về rồi, thầy D vực nhà tôi lên giường, dặn cứ đểcho nàng ngủ, sáng sớm mai nàng sẽ tỉnh. Bấy giờ đã hơn 10 giờ tối. Gần một tuần sau sức khoẻ nhà tôi mới hoàn toàn hồi phục. Theo lời dặn của thầy E, chúng tôi nhờ thầy D chủ lễ một buổi Bun Hươn ( lễ nhà ), để tạ lỗi cùng Phí Pọp G ( giữ lời hứa của Chảo Cham E ) đồng thời làm su-khoắn ( gọi vía hay gọi hồn ) cho nhà tôi và Pôông khai ( lệ phí trả ơn ) cho thầy D chứ không phải cho thầy E. Đó là luật bất thành văn giữa các Mó Phí. Bà lão hàng xóm người Lào rời khỏi tỉnh S. khi nào không ai hay ». Một thời gian sau mọi người mới hiểu câu nói bỏ lững của Chảo Cham E " duy có một điều ...": Chị A bỏ cờ bạc, tánh tình đằm lại, có lối sống kín đáo hơn ... rồi bỗng dưng trở thành Mó Đù ( thầy bói ). Phòng chị tiếp khách cũng bày biện đầy đủ lễ bộ của một Mó Đù chuyên nghiệp, đặc biệt khi nhập định hành nghề chị dùng tiếng Lào. (Còn tiếp ) Chú thích : (1) Tiếng Lào, Thảo = Ông, anh ...; Nang = Bà, cô ... (2) Đuôi thằn lằn to lớn, loại lưỡng thê động vật - lézard amphibie, tức loại vừa ở dưới nước vừa ở trên cạn.
-
Xứ Lào : Kiêng Cữ & Ma Quỉ 3 (tiếp theo) Hàn Lệ Nhân Theo lẽ còn một số thiên sứ mang hình ảnh Ấn Phật mà người Lào rất sùng kính như Phra In ( Thượng Đế ), Phí Thén, Phí Phrả ( Trời ), Nang Thorani ( nữ thần đất ), Thén Tẻng hay Pissanoukan ( thần mỹ thuật ), Thén Lổ ( thần chủ trì việc hợp nhất và tổ chức nhân quần ) v.v... và có thể lạm bàn liên miên về vô số Phí thuần Lào khác trên đất Lào như Phí Đôồng ( ma đồng ), Phí Pà ( ma rừng ), Phí phửm ( ma núi ), Phí Pủ tà ( tổ tiên, ông bà ), Phí Phò ( cha ), Phí Mè ( mẹ ) ... song thiển nghĩ như trên cũng tạm đủ để hiểu sơ về Phí, nhất là tạm đủ để hình dung tiềm năng tưởng tượng dồi dào của người Lào trong quá trình tạo ra thế giới Phí của riêng họ, trên đất nước họ, trong cuộc sống và lẽ sống của chính họ mà xét ra còn thật hơn thế giới - nghe nói và chỉ mới nghe nói sẽ đồ sộ huy hoàng - mà một nhúm người đã và đang tàn tâm, tàn lực mộng mơ. Dân số Lào quá ít lại quá đôn hậu để có thể thử thách lâu hơn nữa trong việc tạo dựng thế giới đồ sộ huy hoàng viễn mơ nầy. Cũng như ở hải ngoại, chuyện bán đất trên trời trong cộng đồng tị nạn đã đi trước cơ quan NASA của Hoa Kỳ những hai, ba mươi năm nay. Đa số rao giá cả là tùy hỉ, tùy tâm. Bán đất trên trời để ganh đua phóng lao tạo dựng những cơ ngơi nghênh ngang dưới đất vốn chính họ cho là cõi ta bà cát bụi, huyễn mộng, hư không ... : Thằng Tây là kẻ có thừa, Dù cho ngần ấy vẫn chưa thấm gì. Chúng sinh là kẻ mê si, Quẳng đi cái có khổ vì cái không. ( nhái Nguyễn Chí Thiện ) Thời điểm tổ chức nghi lễ cúng Phí Thời điểm tổ chức các nghi lễ cúng bái các Phí nói chung thường tùy địa phương và tùy hoàn cảnh đặc biệt. Đơn cữ Bun Xuồng Hưa ( lễ đua thuyền ) : Ở cố đô LuangPrabang lễ nầy được tổ chức hai lần vào tháng 7 - 8 và tháng 10-11 d.l., trong khi tại Vientiane và Champassak lễ nầy được tổ chức mỗi năm một lần nhằm tháng 10 d.l., và dĩ nhiên nghi thức tổ chức của ba cựu vương triều nầy đều có nhiều dị biệt. Trên phương diện quốc gia, thời điểm quan trọng nhất trong năm để hành lễ hồi hướng các Phí hộ pháp được gọi là Tháng Phí, uyển chuyển giữa tháng 5 và tháng 6 d.l., cọng thêm các buổi lễ thường niên được phối hợp chặt chẻ với các lễ Phật giáo, chẳng hạn Bun Pimay ( Tết Lào ), Bun Phr' Vệt hay Bun MahaSaạt ( ngày Đức Phật qui thăng nhập Niết Bàn ) ; Bun Băng Fay ( lễ cầu mưa ) ; Bun Oọc Vặt Sá ( Oọc = ra khỏi, Vassa theo tiếng Phạn = mưa, oọc vặt sá = ra khỏi mùa mưa và cũng có nghĩa là hết mùa cấm phòng của tăng ni ) ; Bun Xuồng Hưa ( lễ đua thuyền ) ; Bun Thạt Luống ( Hội Chợ That Luang ) ... Các vị chủ lễ Theo chỗ biết của tôi, danh từ Mó trong Lào ngữ có hai nghĩa, với hai giá trị khác nhau, tùy hoàn cảnh mà ứng dụng. Theo nghĩa thông thường, từ Mó là một tiếp-đầu-ngữ ( préfixe ) để chỉ sự khéo léo, chuyên môn trong một nghành nghề, chẳng hạn : Mó Khen = Người biết thổi Khèn. Mó Khoam = Người sinh nhai bằng lời nói = luật sư, trạng sư. Mó Lăm = Người chuyên ngâm, hò thơ văn dân gian, xuất khẩu thành câu, thành cú. Mó Sói = Người hay nói diễu, chọc cười thiên hạ. .... Mó Dà = Thầy lang, thầy thuốc. Mó Đù = Thầy bói. Mó Môn = Thầy bùa, thầy ngải. Mó Phí = Thầy trừ Ma, Thầy nuôi ma ; phù thủy, pháp sư. Mó Phon = Người rành nghi thức cúng bái trong các buổi lễ su-khoắn (1) hay trong các buổi lễ cầu đảo. Mó Thiêm , Nang Thiêm hay Mè Thiêm = Người lên đồng : Đồng cô, dồng cậu. .... nhưng khi ta nói Mó nỉ, Mó nẳn thì nghĩa lại khác, trường hợp nầy Mó là biệt từ để chỉ định ngôi thứ ba, vừa đdàn ông vừa đàn bà, chẳng hạn : Mó nỉ = Anh nầy, cậu nầyn chị nầy, cô nầy. Mó nẳn = Anh kia, cậu kia, chị kia, cô kia. Ì mó nỉ = cái cô nàng nầy, cái con nầy. Bặc mó nẳn = cái anh chàng kia, cái thằng kia. v.v... Mười vị Phí mà chúng ta đã lạm bàn, vị số 1 đến vị số 5 thuộc loại Phí haải tức Phí ác ; vị thứ 6 là Phí phi thiện, phi ác ; 4 vị sau cùng thuộc loại Phí Chày Đì nghĩa là Phí lương thiện, cũng có thể gọi là Phí Hộ Trì. Đối với các Phí Ác thì có các Mó như Mó Koong Koi để trị Phí Koong Koi, Mó Phệt để trị Phí Phệt, v.v... Còn đối với các Phí Hộ Trì cũng có các loại Mó, song mục đích của họ là chủ lễ các buổi cúng bái, cầu nguyện thể hiện lòng tin lên các Phí Hộ Trì : Mó Mương lo việc cúng bái cho Phí Mương, đôi khi phải trực tiếp hay gián tiếp làm trung gian qua ngả Thiêm ( lên đồng ) giữa Phí Mương và dân trong Mương. Mó Bản lo việc Phí Bản... nhưng, vì trong một Mương, một Bản nhiều khi có đến mấy Mó cùng nghề thành thử các phù thậu, phù kè ( Hội đồng bô lão ) trong Mương, trong Bản mới chọn lựa ra một Mó dày kinh nghiệm, cao tay nhất và là phật tử thuần thành, bầu lên làm Mó trách nhiệm, gọi là Chảo Cham. Chảo Cham hay Cham có trách nhiệm đại diện cho cả Mương hay cả Bản mỗi khi có cuộc tế tự chính thức long trọng ( tháng phí chẳng hạn ) hoặc gặp những trường hợp khó khăn, trục trặc mà các Mó non tay ấn giải quyết không xuôi, Chảo Cham mới can thiệp làm trung gian như đã nói trên. Các Mó lên đồng tục gọi là Nang Thiêm ( đồng cô ), Mè Thiêm ( đồng bà ) - miệt Nam Lào gọi là Mè Lăm - Mó Thiêm ( đồng cậu, đồng ông ). Đặc điểm của họ là lên đồng thì không cần nói ta cũng hiểu là họ có cách để tiếp xúc với giới vô hình tức các Phí nói chung. Quan hệ giữa họ và Chảo Cham thường thay đổi tùy địa phương. Ở miền Nam Lào, Mè Lăm nào tiếp xúc nhiều với các Phí Hộ Trì như Phí Mương, Phí Bản được sắp hàng đầu, Chảo Cham là trung gian giữa Mè hay Mó Thiêm và tín hữu. Tại đồng bằng Vientiane, Mè Thiêm là phụ tá của Chảo Cham. Có ba trường hợp để trở thành Mó Phí, Mó Phon ... nói chung : 1. Tự nhiên mà thành, ta gọi là " bẩm sinh ". 2. Theo thầy tu luyện 3. Sau một biến cố quan trọng như trường hợp dưới đây. Một cảnh so tài giữa Phí Pọp và Mó Phí Người Lào dùng động từ Khậu ( vô ) để chỉ tình trạng một người bị Phí chiếu cố ( Phí khậu ). nạn nhân của Phí Pọp thường là trẻ em, người đang dưỡng bệnh, đàn bà con gái mới trả xong món nợ hàng tháng ... Nhưng xét cho cùng vấn đề giống đực, giống cái cũng như chuyện đẹp, xấu của đối tượng không phải là tiêu chuẩn hàng đầu để Phí Pọp " vô ", điểm quan trọng tối hậu của sự chiếu cố là lối " ra " trên thân thể của nạn nhân. Chị A là người Việt sinh trưởng tại S., Lào. Gia đình chị ở trong xóm gồm đa số người Lào. Năm ấy chị đã trên 40, tánh tình cĩng nóng nguội thất thường như trăm vạn người khác, chồng con đã nên nề nên nếp, chỉ cái tội máu ham đen đỏ hơi lậm. Một ngày nọ, thần đen đỏ ám chị sao đó nên chị thua đậm, trở về nhà chị u uất, buồn bực vì lo chồng biết. và trong lúc chị đang lui cui sửa soạn buổi cơm tối cho gia đình thì có một bà cụ hàng xóm người Lào qua " mượn " chị chén nước mắm. Đang bực mình vì thua bạc lại có người đến xin khéo nầy nọ, không những chị không giúp bà cụ mà còn nhân cơ hội giặn cá chém thớt, gay gắt, xéo xỉa bà cụ nặng nề. Bà cụ nín thinh, hai tay nắm chặt cái chén như mốn bóp tan nó ra trăm mảnh, hai mắt mở thao láo ra nhìn trân chị A, mấy phút sau bà cụ vừa gục gặc đầu vừa cười gằn một tiếng rồi bỏ về... «Tối ấy, cơm nước xong mấy đứa nhỏ trong nhà qua nhà ông bà ngoại chơi, trong nhà chỉ còn hai vợ chồng. Vào khoảng 9 giờ, tôi - chồng chị A - xuống bếp tìm cái gạt tàn thuốc thì thấy nhà tôi ngồi thừ người trên ghế đẩu, chén bát bữa cơm tối còn ngổn ngang trong chậu. Theo thói quen, tôi hỏi nhà tôi : - Hôm nay lại " cháy " nữa chứ gì ? Nhà tôi không đáp. Tôi hỏi lại. Nàng vẫn ngồi im. Tôi lập lại câu hỏi thêm lần nữa, hơi gắt giọng. Bất thình lình, nàng ngước đầu lên nhìn tôi, ánh mắt gờm gờm, khiêu khích, môi mím chặt nhưng vẫn không trả lời. Tôi bắt đầu nổi nóng : - Đã nói hoài, đừng chơi với mấy con mụ cờ bạc gạo đó, thời buổi khó khăn mà cứ đem tiền đi nướng ... - Bộ một chén nước mắm đắt lắm hay sao ? - Vợ tôi trả lời bằng tiếng ... Lào, giọng khàn khàn. - Không đắt không rẻ nhưng không tiền lấy gì mà mua ? Tôi vẫn dùng tiếng mẹ đẻ. - Mả cha mầy, chỉ một chén nước mắm mà mầy lại chửi tao thậm tệ. Đồ khốn kiếp, tao cho mầy chết ... Nghe vợ tôi nói - vẫn bằng tiếng Lào - tôi khựng người vì lần đầu tiên nàng cả gan mở miệng chửi cha tôi, tôi nghe như máu chạy lên đầu, dùng tiếng Lào : - Cái gì, mụ vừa nói cái gì ? Đã nướng hết mồ hôi nước mắt của tôi lại còn già hàm hỗn láo, tôi lại cho mấy bạt tai rụng hết răng bây giờ ... - Tuổi tao còn lớn hơn tuổi cha mầy mà dám bảo là tao hỗn láo ? Rụng hết răng ? tao còn răng đâu mà rụng ... Nói xong, vợ tôi nghiến răng trèo trẹo rồi cười rú lên xằng xặc. Tôi để ý càng lúc giọng vợ tôi càng ồ như tiếng đàn ông. Tôi chưa kịp nổi doá thì bất thần nàng tụt quần xuống : - Bạt tai cái con c. tao đây nầy ! - ! ! ! Sống gần gũi người Lào từ thuở lọt lòng mẹ, lại từng biết qua nhiều chuyện huyền bí của họ, tôi cảm thấy có điềm gì không ổn và bắt đầu hoảng : - Bà là ai ? - Đi hỏi con vợ khốn nạn của mầy ! - Đến đây tôi biết ngay là nhà tôi đã bị Phí khậu, tôi hoàn toàn mất hết bình thỉnh, phóng ra khỏi bếp, tung cửa chạy qua nhà ông bà nhạc, mồm hét cầu cứu vang cả xóm ... Đêm ấy người Việt, người Lào trong xóm kéo nhau qua chật cứng nhà tôi. Trong thời gian tôi chạy ra cầu cứu với làng nước, không biết " vợ " tôi làm cách nào mà leo lên giường được, nằm quay mặt vào tường. Ai hỏi gì vợ tôi hay con Phí cũng nín thinh. Đưa nước cho nó, nó không uống mà đòi rượu trắng ; đưa cơm nó đòi xôi và Pà-đẹc ( một loại mắm cá của Lào ), lại đòi hút thuốc lá, đúng hiệu A đèng ( chữ A đỏ ) ... và nhiều yêu sách càng lúc càng kỳ quái khác hẳn thói quen của vợ tôi. Mọi người đều đồng ý con Phí " vô " vợ tôi là Phí đàn ông , nhưng chưa biết đích xác thuộc " Phí " gì. Có vài người bạn tình nguyện ngủ lại. Sáng hôm sau nhằm thứ tư, tôi xin nghỉ việc, ở nhà với mấy người bạn ngủ lại đêm qua, canh chừng nhà tôi, thấp thỏm chờ anh B rước ông thầy pháp tên C đến. Ông C là một việt kiều gốc Quảng Bình, thợ may kiêm nghề pháp sư, chuyên chủ lễ các buổi cúng cháo, cúng sao, lập đàn giải hạn cho các tín hữu việt kiều trong tỉnh S. (2) Đang gắt gỏng, hoặn hoẹ đòi hỏi đủ điều, bất ngờ A - vợ tôi hay con Phí - ngưng bặt, lẳng lặng nằm xuống giường, quay mặt vô tường, kéo mền trùm kín người. Ngoài nhà, có tiếng lao xao chào hỏi bằng tiếng Lào. Tôi vội chạy ra, mới biết pháp sư C bận việc phải về Paksé. Anh B bèn mới một vị khác, người Lào tên D, Mó Đù ( thầy bói ) kiêm Mó Phí ( pháp sư ), khá nổi tiếng. Chắc đã nghe anh B kể qua trường hợp của A nên thầy D không nói không rằng, đi thẳng vào phòng của A. Nhờ anh B đi lấy cho một cái đĩa. Trong lúc đó ông thắp hai ngọn nến. Anh B đưa đĩa vào, ông ra hiệu đặt đĩa lên bàn. Thầy D móc trong bọc vải ra 5 cặp hoa Champa ( hoa sứ, hoa đại ) đặt vào đĩa rồi thắp hai ngọn nến cắm vào hai bên mép đĩa. Hoạt cảnh bắt đầu, bằng tiếng Lào : Thầy D : - Hè hè …Bổn cũ lại tái diễn nữa rồi … Nhà ngươi là ai ? Muốn gì ? Người ta sẽ cho, xong cút ngay. Ta không dễ tánh đâu đa, cãi lời ta, ta sẽ không nương tay … A vẫn trùm mền nằm im. Thầy D giật tung cái mền. A không cựa quậy. Thầy D : - Xin cho biết tên ! Vừa nói, thầy D vừa vươn tay ra bắt ấn, đẩy tới phía A ( như tung chưởng ). A từ từ ngồi dậy, quay mặt lại, nhìn trừng trừng thầy D. Không lên tiếng. Thầy D tung tay ấn, cao giọng : - Ngươi là ai, muốn gì ? Hãy xưng tên mau ! - Đi hỏi con vợ khốn nạn của thằng nầy ! A trả lời, tay phải chỉ vào tôi, tay trái hất nhẹ vào khnôg khí một cái, như đuổi ruồi. - Không được hỗn … À, ra ngươi là một con Pọp già không nên nết. Tại sao lại " vô " người ta như vậy ? - Đi hỏi con vợ khốn nạn của nó! - Người ta đã bị mầy " vô " thì còn nói năng gì nữa. Nhà ngươi là ai ? Muốn gì ? - Tao sẽ cho nó chết … Thầy D lùi lại gần bàn, rót một ly nước lạnh, cầm đưa lên ngang cằm, miệng lâm râm niệm chú một hồi, thổi phù một cái vào ly nước. Lên tiếng : - Được rồi, ngươi không biết điều, thì hãy uống ly nước nầy. Thầy D đưa ly nước cho A. A vừa nhếch mép cười vừa đưa tay ra như muốn nhận ly nước, thình lình đập mạnh vào tay thầy D một cái, làm tung ly nước xuống nền nhà : - Thằng con nít, cút đi cho rảnh mắt tao, không tao lại vật luôn cả mầy. Hè, hè, hè … Thầy D rút trong bọc vải mang trên vai ra một cái roi đen thui dài độ 1 thước tây, quất vào người A. Không né, A chụp lấy roi. Hai bên giằng co. Thấy D niệm chú thành tiếng, nghe như tiếng Khạ. Càng lúc mặt thầy D càng đỏ, mồ hôi lấm tấm trên trán. A tóc tai xổ tung, bất ngờ buông tay một cái, thầy D mất thăng bằng, chới với xuýt ngã ngửa, may có cái bàn giữ lại. A rú lên cười, vỗ tay bôm bốp, nảy tưng tưng như trẻ con : - Thằng chó con ! Mầy còn ngón nào đưa ra hết tao coi … Thầy D lấy từ trong bọc vải ra một sợi chuổi có nhiều kà-thá ( bửu bối ) làm bằng đồng đỏ, đeo vào cổ, chấp hai tay để trưóc ngực, mắt nhắm nghiền, miệng niệm chú không ngừng …A ngưng ngay tiếng cười, khựng lại, nhím mày nhìn trừng trừng vào sợi chuổi. Đột nhiên thầy D thụp người xuống, cùng lúc dùng hai tay cởi sợi chuổi ra khỏi cổ, tung mạnh vào người A … A có vẻ hốt hoảng, lùi lại ngồi xuống bià giường, phát ra một tràng ngôn ngữ lạ, đưa hai tay ra bắt sợi chuổi, định giật đứt nhưng không biết nghĩ sao, tung trả lại phía thầy D. Thầy D bắt lấy chuổi kà-thá, cất vào bọc vải, vói tay tắt hai ngọn nến, không nói không rằng ra khỏi phòng A. Mọi người trong phòng hốt hoảng chạy theo. Thầy D nói với anh B : - Lão Pọp già thật ghê gớm, tôi phải về am lấy thêm vài món khác (3). Luôn tiện anh đưa tôi ra bản K., phải mời cho được thầy E ở đó, có ổng phụ một tay mới trị nổi lão già nầy. Quay qua tôi thầy dặn : - Sau trận thử sức nầy, lão Pọp già sẽ đòi ăn , đòi uống dữ lắm, ông chịu khó lấy lòng lão ta, chúng tôi sẽ trở lại ngay.» CÒN TIẾP kỳ tới : Cuộc đọ sức màn hai Chú thích : (1) Su-Khoắn = Lễ buộc chỉ cổ tay ( xem chi tiết trong bài Đám Cưới Lào, Đám Cưới Việt, cùng soạn giả ). (2) Soạn giả còn nhớ như in cảnh thân sinh soạn giả, sinh thời, đã đạp đổ tan tành đàn giải hạn do pháp sư C lập ra theo lời thỉnh cầu của mẹ soạn giả vốn là thân chủ của ông ta. (3) Đây là tiếng lóng các Mó thường dùng khi tự thấy non tay hơn Phí. (còn tiếp)
-
Xứ Lào : Kiêng Cữ & Ma Quỉ 2 (tiếp theo) Hàn Lệ Nhân Khi bạn hỏi một người Lào : " Ma là gì, có thật hay không ( Phí mèn nhắng, mi thẻ lứ bò ? " . Họ sẽ thành thật trả lời : " Cũng không biết nữa ( kà bò chắc léo ) hay chằng-và là nơ ( thì thế ). Câu trà lời thứ nhì có ngụ ý Có và Không, tức bạn muốn hiểu sao thì hiểu hay nếu muốn, tùy hoàn cảnh để mà hiểu. Khi bạn hỏi họ đã từng thấy ma ( phí ) chưa mà họ có vẻ hốt hoảng trả lời bạn bằng mấy tiếng " hoày ( oái ) " hay " dzồ ( ồ ) " thì bạn nên tế nhị, lịch sự ngừng ngay việc đặt câu hỏi. Mấy tiếng " hoày ", " dzồ " là một cách biểu lộ sự … kh'lăm của họ ! Họ không thể hoặc không muốn giải thích cho bạn nhưng tựu trung Phí đối với họ là tất cả hay không là gì hết ; hoặc bất cứ một đồ vật, một hình tướng nào cũng có thể tiềm ẩn một linh hồn, một loại Phí với một tên gọi riêng biệt : Nhận Diện Các Phí 1. Phí Koong Koi (Ma Koong Koi) Phí Koong Koi : Ma cô độc, ma rừng núi … thích ăn ruột, gan, lòng thú và … người sống. Phí Koong Koi thường xuất hiện ở miệt Trường Sơn biên giới Lào-Việt dưới dạng một người (đàn ông hay đàn bà ) thấp nhỏ, cao độ 1 thước 20 phân, tóc hung hung đỏ, đi chân không. Phí Koong Koi có hai bàn chân khác thường, ngược chiều : Gót ở phía trước, các ngón chân ở phía sau ! Tên Koong Koi là một nghĩ-thanh-từ ( onomatopée ) vì theo những người sinh sống trong rừng sâu kể lại, vào khoảng 3, 4 giờ sáng Phí Koong Koi thường kêu lên " koong koi, koong koi ", đó là tín hiệu Phí Koong Koi ngưng cuộc săn mồi hàng ngày và sửa soạn trở về sào huyệt. Nhưng sau mấy tiếng " koong koi, koong koi " lại đệm thêm tiếng " koóc " ngắn gọn thì phải coi chừng, đó lại là tín hiệu cho biết Phí Koong Koi đã chụp được một con mồi ( người ). Khi nghe tiếng kêu " koong koi, koong koi " người ta dạy là tuyệt đối không được ngủ và phải đốt lửa lên thành ngọn. Mó Koong Koi là thầy phù thủy chuyên môn săn bắt Phí Koong Koi. 2. Phí Pọp (Ma lai) Phí Pọp là loại ma thâm trầm độc ác, người Việt gọi Phí nầy là Ma Lai hay Ma Chài. Có hai loại Phí Pọp : A. Pọp Môn ( pọp phép ) : xuất xứ từ những người bình thường như mọi người bình thường khác nhưng, một buổi đẹp trời được " khải thị " sao đó bèn ôm mộng có quyền phép siêu nhân, tình nguyện giữ giới để tu luyện bùa ngải ( khoóng đì ) như phép gồng ( môn khôông ), phép lặn lâu ( môn suột nảm )…v.v…(1) rồi vì không chuyên hay không kiêng cữ ( không kh'lăm ), phạm giới này nọ bùa ngải mới tác quái biến họ thành Phí Pọp. Trường hợp bị dị ứng nầy có thể so sánh với trường hợp bị tẩu hoả nhập ma của các nhân vật võ hiệp của Kim Dung, của Ngoạ Long Sinh, của Cổ Long … khi họ bất cẩn trong thời gian luyện tuyệt chiêu kiếm pháp hay bí kíp thất truyền. B. Pọp Sưửa (pọp gia truyền ) : khi người cha Phí Pọp chết đi, Phí Pọp trong xác ông có thể xuất ra, rồi tìm nhập vào một người con hay một người trong quyến thuộc. Đặc điểm của Phí Pọp được di lưu như sau : - Dáng cách lừ đừ, mắt đỏ ngầu lại láo liên thường trực, hay nhìn xuống đất không dám nhìn thẳng vào mặt người đối diện vì, theo truyền thuyết, trong hai tròng mắt của họ có hình hai chú khỉ tí hon lộn ngược ! - Phí Pọp khoái " vô " đàn bà, trẻ con để … rút ruột. 3. Phí Phôông Phí Phôông : Ma thích ăn thịt sống. Hầu như người Lào nào cũng sợ Phí Phôông. Tại sao ? Có gì đâu, từ thuở còn nằm ngửa trong nôi trẻ con Lào đã " được " mẹ hiền đem hai tiếng Phí Phôông ra làm ngáo ộp, mỗi khi chúng mè nheo, mít ướt : Nín đi con, không thì Phí Phôông đến đấy ! Phí Phôông thích hút nước mắt trẻ con lắm đấy ! Cũng như Phí Pọp, Phí Phôông là loại ma ẩn thân trong một người chơi bủa ngải nhưng phạm giới. Khi lên cơn, nó có hai luồng lân quang thò ra thụt vào từ hai lỗ mủi, khi tắt khi tỏ trong đêm tối. Phí Phôông không khoái nước mắt mà chỉ khoái những thức tanh hôi, dơ dáy, đồ thừa thiu thối và cả các ếch nhái chẩu chàng… nên đêm khuya nó đi lùng kiếm ăn ở các thùng rác, các ao tù và nhất là hay vô các làng bị bỏ hoang, do đó mới có câu thành ngữ : " bản hảng dà vè, sáo kè dà chả " nghĩa là : " Làng hoang đừng ghé, gái già đừng ve ". Đến khi chết đi, " hồn " Phí Phôông langthang tìm kiếm một chỗ " trú thân " khác. Nếu có một người nào đó chẳng may bị chết dữ mà Phí Phôông biết được, " hồn " nó sẽ nhập vào hồn kẻ xấu số, tức khắc hai hồn nhập một đó sẽ tự động biến thành Phí Phai. Do đó, khi một người có Phí Phôông trong thân chết đi người ta gom tất cả các bùa ngải của đương sự mang tới giao cho các sư trong chùa để các vị nầy làm phép giải, phép yếm. Khắc tinh của Phí Phôông là Mó Phôông. 4. Phí Phai Phí Phai : Loại ma thích hút máu tươi, một thứ ma cà rồng nhưng hiện hình dưới dạng gà hay chim đêm lông trắng, vỗ cánh bay lượn dưới chân những ai hay thơ thẩn một mình ở các nơi vắng vẻ hay ở các nhà xác. Khi Phí Phai chết đi sẽ biến thành Xáng tức loại ma ghê gớm, hung ác hơn cả cọp, nói một cách khác, Xáng là loại ma ở cấp hai tức Ma của Ma. Nhưng theo truyền thuyết, Ma Xáng không còn lai vảng gần chúng sinh nữa, may thay ! Thành ngữ Lào có câu : " Phí Xáng haải phôộc chọp kin ván Bò thò khôn hau lón loọc kin kăn thẻ ". Nghĩa là : " Ma Xáng hung ác lại rình ăn ngọt Đâu bằng con người lọc lừa để ăn nhau thật " Thầy phù thủy trị Phí Phai tục gọi là Mó Phai. 5. Phí Nha Vay Đây hẳn là một loại Ma đã tuyệt giống, các tự điển Lào chính thức nói chung vắng mặt tên Phí Nha Vay, mà quí vị Mó Phí dày kinh nghiệm cũng không biết tới, dù đã cố công truy tìm trong các tài liệu nghiên cứu về nhiều loại Phí soạn bằng văn tự cổ sơ. Ông Serc Voravongsa miêu tả Phí Nha Vay như sau : " Phí Nha Vay hiện thân dưới dạng một con vượn bạch tạng, mặt lọ khổng lồ, di chuyển từ cành cây nầy qua cành cây khác bằng tứ chi dài ngoằng. Bạn lỡ gặp Phí Nha Vay điều cần tránh là đừng bao giờ ngó thẳng vào mắt nó vì nó cho đó là sự trêu chọc, khiêu khích ; dù có súng tốt cũng đừng manh tâm bắn nó, chỉ tổ làm nó điên tiết, tàn nhẫn hơn. Có một cách để giết Phí Nha Vay là dùng Ngua-tha-nu ( bùa ngải hình bò mộng ) phóng vào đầu nó. Nhưng sau khi chết nó sẽ biến thành gì ?" Đố bạn đọc đấy. 6. Phí Phệt Phí Phệt là loại Ma duy nhất được Phật giáo Lào công nhận như một hiện hữu chính thức, cho đó là các vong linh của những kẻ lúc sinh thời tạo nhiều nghiệp dữ ( kằm haải ), gây nhiều tội ác ( hệt bạp ), nên sau khi chết hồn không được siêu thoát mà phải vất vưỡng trầm luân để trả nghiệp ( sảy kằm ), đền tội ( sảy bạp ). Phí Phệt thường hiện hình dưới nhiều loại bóng khác nhau, kỳ dị và dễ sợ nhưng không dọa người, không ác độc. Hàng năm vào 14 hạ tuần tháng 9 Lào (tháng 8 d.l.) người Lào tổ chức bun " Hò Khậu Pă Đắp Đinh " và ngày trăng tròn tháng 10 Lào ( tháng 9 d.l.) thì tổ chức bun " Hò Khậu Sà Lặc " tức hai ngày lễ chính thức dành cho người quá cố, dĩ nhiên Phí Phệt cũng có phần ; tương tự mỗi rằm tháng 7 tức lễ Vu Lan người mình tổ chức lễ xá tội vong nhân, lễ thí thực cô hồn, lễ phóng sinh, lễ cầu siêu cho oan hồn uổng tử chóng được siêu thoát, tái sinh... Đối với Phật giáo Lào mọi Phí đèu là Phệt tức mọi thứ Ma đều có thể tái sinh làm người rồi sau cùng thành Phật. Còn người Lào - Phật tử hay không - thì phân loại rõ ràng : Có loại ma hiền lành, tốt bụng ; có loại ma hung dữ, ác độc. Loại ma hung dữ ác độc ( phí chày haải )thì xin miễn dài dòng. Loại ma lương thiện, tốt bụng ( phí chày đì hay thevada, tạm dịch là Thần) gồm bất luận phí hộ trì nào bảo vệ ruộng nương, thôn làng cho họ hoặc phí nào hoan hỷ đáp lại nào cầu xin, nào nguyện vọng của họ như tiền của, may mắn, đỗ đạt, danh vọng, trường thọ ... ; số đề, số lô-tô, v.v... Dĩ nhiên, khi cầu xin thân chủ không quên hứa khả với Phí chày đì là nếu được - một phần - như ý họ sẽ làm bun ( lễ ) thật long trọng trong chùa, hồi hướng công đức ; trường hợp là Phí Phệt thì có thể sớm đi đầu thai. (1) 7. Phí Mương Phí Mương là Phí chày đì ( ma lương thiện ) có nhiệm vụ bảo vệ cho cả tỉnh ( mương ) và các vùng phụ cận. Phí Mương không có mẫu hình tượng và miếu thờ ( Hó ) nhất định mà tùy sự diễn đạt của từng địa phương. Phí Mương tại cố đô LuangPrabang được thờ cúng trong 12 ngôi Hó, vì dăn ở đây tin rằng Phí Mương có phép biến hoá thành nhiều vị, đứng đầu là các Thê Va Đa Luống ( Thevada = thần thánh, luống = lớn ) gồm hai vị tổ tiên của dân tộc Lào tục gọi Pu Nho Nhà Nhơ, tương tự Âu Cơ và Lạc Long Quân bên ta, sau đó là các vị vua ( chẩu si-vít = chủ sinh linh ) sùng tín tín ngưỡng nầy. Thời quân chủ Lào ( trước 1975 ), tại cố đô LuangPrabang song song với Phí Mương còn có Lắc Mương ( cột trụ trấn tỉnh ). Có ba huyền thoại về Lắc Mương được kể lại như sau : A. Một ngày kia, nhân xuống tắm dưới sông Nam Khan ( chi lưu sông Mékong, LuangPrabang ), một lão bà bắt gặp một thân cây đàn hương màu đỏ, do linh cảm bà biết đây là một thánh vật bèn vớt lên và đem trồng. Khi mọi người vừa đào xong hố để trồng thánh vật thì một thiếu nữ trong làng, cũng do linh cảm muốn kết duyên với vị thần mới nầy, nhảy xuống để được chôn theo chồng hầu chia sẻ nhiệm vụ bảo vệ số phận của tỉnh. B. Lắc Mương là một trong bốn cột trụ do hai vị ẩn sĩ cắm xuống đất để phân ranh lập kinh đô trong tương lai ( LuangPrabang ). C. Năm 1563, để tránh sự dòm ngó của Miến Điện, vua Setthathirat quyết định chọn Vientiane làm kinh đô mới - kinh đô cũ là LuangPrabang - cho Vương Quốc Lản Xảng, tên cũ của nước Lào. Trong khi vua và quần thần đang sửa soạn để trồng cây Lắc Muơng thì có một thiếu phụ tên Sáo Sí đang mang thai, do linh cảm hay được khải thị sao đó, nhảy xuống theo và hiển linh thành thần hộ trì của kinh đô Vientiane. Ngày nay tại Vientiane vẫn còn dấu tích, đó là phường Sí Mương ( Sí Mương = Tỉnh của bà Sí ), Vặt Sí Mương ( chùa trong tỉnh của bà Sí ) và Hó Mè Sí Mương ( miếu thờ Mẹ Sí ). 8. Phí Bản Phí Bản còn được gọi là Phí Hặc Sá Bản ( Ma hay thần bảo vệ thôn làng ) hay Phí Hặc Bản ( Ma hay thần yêu thôn làng ). Phí Bản có một đặc tánh rõ nét, chính xác hơn Phí Mương vì thôn làng ở Lào thường có lối sinh hoạt tự trị, giữ vững bản sắc của mình, ít bị chi phối bởi trung ương. vai trò của Phí Bản là bảo vệ đất thôn đất làng, đồng thời bảo đảm sự thịnh vượng vật chất cho dan thôn, dân làng, sức khoẻ và sự trường tồn của con người và gia cầm. Chỗ thờ phượng Phí Bản thường là một cái miếu nhỏ bằng gỗ tục gọi là Hó Phí Bản nằm trên một lùm cây ven làng. Người Việt gọi Phí nầy là Thành Hoàng hoặc Định Phúc Thần. 9. Phí Khun Vặt Hầu như mỗi chùa Lào đều có một Phí Khun Vặt ( thần chùa ) tức vị hộ pháp bảo vệ chùa mà biểu tượng dĩ nhiên là Đức Phật. Hó Phí Khun Vặt là một bàn thờ nhỏ thường do một người thế tục chăm nom việc nhang khói, cúng đơm. Chùa Việt nhiều nơi có thờ hai tượng hộ pháp là ông Khuyến Thiện và ông Trừng ác hoặc Tam Châu Hộ Pháp tức Vi Đà Thiên tướng quân, một vị thiên tướng tuân sắc chỉ của nhà Phật hộ trì Phật-Pháp trong ba châu : Đông châu, Tây châu và Nam châu. 10. Phí Hươn Phí Hươn ( Thần hay ma nhà ) có nhiệm vụ cai quản và bảo vệ gia quyến, nhà cửa cho tín chủ, có tầm quan trọng ngang với Phí Bản. Có thể nói Phí Hươn là một loại Phí hợp thể giữa Phí Bản ( thổ công ), Lắc Mương ( cột trụ trấn tỉnh ) và Phí Pù Tà ( vong linh các tổ tiên ) của gia chủ. Hó an vị Phí Hươn thường được đặt ngay cửa chính trong nhà hoặc cạnh cầu thanh lên nhà sàn. Người Lào tin rằng nhờ Phí Hươn mà các Phí Haải ( ma ác ) không xâm nhập quấy phá, làm hại những người trong nhà. Do đó khách đến viếng và ngủ lại nhà người Lào phải làm lễ xin phép Phí Hươn, đặc biệt chú rể mới, trước khi chính thức về nhà cha mẹ vợ, phải nhớ mang lễ vật tới cúng Phí Hươn. Việt nam có câu " đất có thổ công, sông có hà bá ". Thổ công Việt, Phí Hươn Lào đều là đệ nhất gia chi chủ của bên nầy hay bên kia núi Trường Sơn. Còn Tiếp Ký tới : Cuộc đấu phép giữa Ma Lai và thầy phù thủy Chú thích (1) Bên Pháp, chính phủ đứng chủ cái rất nhiều trò chơi cờ bạc, ví dụ Loto là lối chơi mà người chơi chọn 7 trên 49 số, từ 1 đến 49. Chỉ cần 6 số trúng cũng đã đủ lãnh lô độc đắc đôi khi lên tới 2,3 chục triệu Euros, nhưng để viết bài nầy, chính tôi đã chứng kiến một buổi hầu đồng tại vùng phụ cận Đông Paris, có tín chủ người Lào rất thành khẩn xin Khun Phò ( cha, một vị ma thiện ) giáng khẩu cho đủ 7 số trúng ! Chắc ăn mà. (còn nữa)
-
Phoenix có vài lần được nghe kể về chuyện tâm linh xứ Lào, Campuchia và những tác động ảnh hưởng mạnh mẽ của nó với đời sống con người. Nhiều chuyện là người thực, việc thực. Thấy đời sống tâm linh thật phức tạp. Xin giới thiệu bài viết của tác giả Hàn Lệ Nhân về những chuyện tâm linh ở xứ Lào đã được đăng trên trang viendu.com theo sự đồng ý của tác giả. Nguồn: viendu.com Xứ Lào : Kiêng kỵ & Ma Quỉ 1Hàn Lệ Nhân Mỗi người sống lâu năm trên đất Lào dù muốn dù không đều giấu trong tâm linh cùng lúc hai hai niềm tin. Một niềm tin có định nghĩa thoát tục, xa vời : Tôn giáo. Một niềm tin với định nghĩa trần thế, hiện tiền : Dị đoan, mê tín hay tín ngưỡng dân gian. Trên lý thuyết hai niềm tin nầy đã được phân ranh rõ ràng, với hai nội dung, hai hình thức và hai cứu cánh khác nhau. Qua dị đoan, mê tín người Lào cầu tìm hạnh phúc và sức khoẻ, sự an toàn và sự bảo bọc trước mắt và tức khắc cho mỗi cá nhân và cho cộng đồng ; còn qua tôn giáo ( Phật giáo tiểu thừa nói riêng ), ngoài cứu cánh nói trên, họ cầu một giải pháp tạm thời cho các hệ lụy tâm linh trong đời sống hiện tại tức hiện sinh hay hư sinh đồng thời dự phóng một sinh lộ siêu thời gian, ngoài kiếp người tức siêu sinh hay niết bàn. Trên thực tế tại đất nước Lào, hai niềm tin nầy sinh hoạt bổ túc hài hoà, cởi mở tự nhiên trong tâm linh 6 triệu con người, đến nổi chính họ, trong đời sống hàng ngày hay trong các dịp lễ lạc, hầu như không còn băn khoăn bóc tách giữa niềm tin tôn giáo ( thứ Phụt = thờ Phật ) hay niềm tin dị đoan ( thứ Phí = thờ Ma ). Có thể khẳng định mà không sợ lầm lẫn rằng hai niềm tin nầy trên đất Lào có một mối tương quan kỳ lạ tạo nên một cấu trúc tín ngưỡng đặc thù cho đại thể dân tộc Lào (1). Các dịp lễ có tính cách dị đoan như Bun Bang Phay ( Hội pháo thăng thiên, lễ cầu mưa ), Bun Suồng Hưa ( Hội nước, lễ đua thuyền ) … vẫn được tập họp, tổ chức trong chùa ; đa số các vị chủ lễ các nghi lễ chính thức về Phí ( thần, ma …) đều thuộc thành phần phật tử thuần thành : Trước 1975, vua Lào vừa là người bảo vệ giềng mối quốc giáo là Phật Giáo Lào ( Theravada = tiểu thừa hay nguyên thủy ) vừa là người trách nhiệm mọi tế tự đối với các Phí hộ trì cho vương triều ; trong chùa vẫn hiện diện các hình thức mang ý nghĩa mê tín ; các biểu tượng Phật giáo và các biểu tượng về Phí vẫn được trình bày, nhang khói trong cùng một hang động được cho là Sắc-sít ( thiêng liêng ) … Do đó, khi bàn về tín ngưỡng của dân tộc Lào thì khó phân định được lằn ranh giữa niềm tin tôn giáo và niềm tin dị đoan, nói rõ là giữa Phật giáo Lào và thế giới thần linh hay Linh Hồn giáo. Khó phân định được lằn ranh không có nghĩa là có sự hỗn độn trong tín ngưỡng của dân tộc Lào mà, theo thiển ý, hiện tượng nầy hàm ý thức tránh trạng thái độc tôn trong tín ngưỡng, hơn nữa phản ánh thật rõ nét nếp sống và tập quán cũng như vũ trụ quan của họ. Nhưng chủ đích của bài nầy, như tựa đề đã nêu, là hạn chế trong vài tục kiêng cữ ( Kh'lăm ) và Phí ( thần, ma, quỉ ) trên đất Lào - bất kể xuất xứ hay du nhập từ đâu - vốn là niềm tin mà trào lưu tiến hoá khoa học cơ giới cho là dị đoan, mê tín hay niềm tin sai lạc với thiên nhiên, cho nên trong bài nầy Phật giáo Lào và cả Linh Hồn giáo ( đa thần giáo ) chỉ được nhắc tới khi thật cần thiết. Đề tài về hai tín ngưỡng nầy sẽ được triển khai trong một bài riêng. Rất nhiều tục kiêng cữ, cấm kỵ ở Việt Nam đã theo bước các bậc trưởng thượng người Việt di cư qua đất Lào từ những năm 1930, 1945 và cho tới ngày nay ảnh hưởng vẫn nguyên vẹn như ở quê nhà. Tóm lại, trong mỗi người Việt - theo bất cứ chính giáo nào - sinh sống tại Lào nói riêng đều giấu thêm trong hồn, ít nhất, một tín ngưỡng như đã nói trên trong tinh thần " nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục " với hai danh xưng khác nhau : 1. Tục cấm kỵ, kiêng cữ mang theo từ quê cha đất tổ. 2. Tục kh'lăm của dân tộc bản địa. 1. Vài tục cấm kỵ, kiêng cữ VN trên đất Lào Đầu năm mới : - Người Việt nói chung đều cẩn trọng trong mọi sinh hoạt vì sợ bị " giông ". - Kiêng sự gây gổ, gắt gỏng e gây gổ nhăn nhó suốt năm. - Kiêng quét nhà sợ tiền tài tẩu thoát theo … rác hoặc cả năm làm ăn khó khăn, ít lợi. - Kiêng nói tục, chửi thề vì sợ nói tục, chửi thề quanh năm. - Trước đêm 30 Tết, con nợ phải lo trả nợ trong năm cho hết, còn không phải đi trốn chủ nợ đến giờ giao thừa mới dám trở về nhà vì sợ bị người đòi nợ cả năm. Phần chủ nợ tối 30 Tết phải làm mọi cách để đòi cho hết nợ vì sợ phải đi réo nợ trọn năm. Ca dao có câu " giàu có ba mươi Tết mới hay " là vậy. - Kiêng ăn mặc y phục màu trắng vì màu trắng là màu tang tóc. Đầu năm mặc màu trắng, dùng chữ Chết cho là điềm gở. Vài tục cấm kỵ, kiêng cữ khác : - Kiêng gả chồng cho hai con gái liền vì sợ đứa nầy giành hết lộc của đứa kia. - Người có đại tang tránh đi ăn cưới, e gây điềm xúi quẩy, không may cho cô dâu và chú rể. - Kiêng không cho đàn bà có mang ở nơi khác tới sanh trong nhà mình vì tin rằng Tử lành, Sanh dữ. - Cha mẹ kiêng không theo đưa con gái về nhà chồng. - Kiêng không để người chết ở lộ thiên vì tin rằng chỉ người vô phúc, bất đắc kỳ tử mới chết lộ thiên. Trường hợp ướp và trưng bày xác, người còn chút lương tri đều cho là chuyện quái đản, hao tài tốn của thậm vô duyên, phỉ nhổ phong tục tập quán của tổ tiên. - Khi quàng xác kiêng để cho chó mèo nhảy qua e người chết sống lại và thành quỉ nhập tràng. - Kiêng dùng vật dụng của người chết để lại. - Đánh bạc kiêng bị người khác vịn vai, kiêng ăn đầu vịt, cơm khê, kiêng đàn bà chửa ngồi cạnh … e thua. - Đi chùa kiêng ăn thịt chó. - Kiêng dùng đồ ăn cắp dâng lễ và không được ăn cắp đồ lễ trước khi cúng (điểm nầy phải hỏi lại các đàn anh trong nhóm Mélia tại SV thuở trước). - Kiêng cho trẻ con ăn trứng lộn, ăn cơm cháy … sợ trẻ con học ngu. ( toàn thứ khoái khẩu cả ). - Kiêng cho trẻ con ăn chân gà sợ chúng viết run tay ! ! ! - v.v… 2. Tục Kh'lăm của dân tộc Lào Kh'lăm dịch nguyên nghĩa ra tiếng việt là Kiêng kỵ. Từ ngữ kh'lăm đối với dân tộc Lào mang một ý nghĩa sâu rộng đến nổi chưa một người Lào nào dám tự nhận mình thông suốt, cũng như xưa và nay không một người Lào nào, gồm cả những người cộng sản Lào, dám phủ nhận kh'lăm. Những tục kh'lăm - vốn chỉ được khẩu truyền trong gia tộc, làng bản - thường biến thiên theo không và thời gian : Một sự kiện kh'lăm ở Bắc Lào có thể không kh'lăm ở Nam Lào ; điều kh'lăm hôm qua không còn giá trị hôm nay, điều kh'lăm hôm nay có thể khác hẳn điều kh'lăm ngày mai. Tuy nhiên ta có thể hiểu kh'lăm là một hình thức tự vệ, một sự kiêng kỵ được truyền thừa lại bằng kinh nghiệm và nhân bản bao hàm lợi ích cho chính mỗi cá nhân ; một sự hạn chế tự nguyện trong chính các tự do của mỗi người đối với những hậu quả không hay trong đa số những việc làm và cách hành xử của mình. Không một hình luật Lào nào cấm người bản xứ và ngoại kiều quan sát, nhận định, phê bình kh'lăm cũng như không có hình phạt chế tài cho sự vi phạm tức không tôn trọng kh'lăm, trừ trường hợp sự " không kh'lăm " làm tổn hại đến vật chất, tài sản công và tư nói chung thì đã có luật pháp. Do đâu người Lào kiêng kỵ điều nầy, cấm cản điều kia như thế ? - Sao hôm nay bác không làm việc ? - Kh'lăm ! - Tại sao tôi không thể vô làng ? - Kh'lăm ! - Mời thím ăn thử món nầy. - Cám ơn, kh'lăm… - Chị có thể cho tôi cầm xem món đồ kia không ? - Không được, kh'lăm ! - Anh dùng dầu gì mà tóc anh mướt đẹp thế, cho tôi sờ tí được không ? - Không, kh'lăm ... Kh'lăm ! Kh'lăm ! Cái gì cũng kh'lăm ! Bạn sẽ nổi nóng khi gặp cảnh huống nầy, nhưng sự thật là vậy đó. Giữa người Lào với nhau hoặc giữa người Lào và ngoại kiều sinh sống lâu năm trên đất Lào thì đó là chuyện thường, đôi khi họ còn chọc ghẹo nhau trong niềm thông cảm như sau : " Kh'lăm ? Pạc pàu khen ! Khá lăm ". ( dịch nghĩa: " Kiêng kỵ ? Mồm thổi khèn ! Chân múa ". Khá tiếng Lào có nghĩa là Chân, lăm có nghĩa là Hò nhưng ở đây lại ngụ ý là Múa ). Nói rõ hơn đây là cách chơi chữ bằng cách đọc trại chữ kh'lăm ( một chữ, phải đọc nhanh âm kh' / khă ) thành khá-lăm ( kéo dài âm kh' ra thành chữ Khá rồi đọc chữ Lăm ). - Khi đi qua một làng ( bản ) Lào mà bạn thấy nơi cổng vào làng có một sợi dây kết bằng bông vải giăng ngang hoặc một ký vật, một ký hiệu đặc biệt, tục gọi Tà-léo - tùy địa phương - thì phải hiểu là dân trong làng nầy cấm ( kh'lăm )người lạ vào làng. Thường là vì trong làng đang có trường hợp bệnh lạ hay người chết một cách khó hiểu có thể gây sự truyền nhiễm ; hoặc hôm đó nhằm một ngày kh'lăm của làng. - Khi một người Lào từ chối không ăn một thức ăn nào đó có nghĩa người ấy đã theo lời khuyên của Mó-dà ( thầy lang ) hầu giữ gìn sức khoẻ cho bản thân hoặc món ăn đó thuộc giới cấm của bửu bối phòng thân trên người họ. - Một ngày kh'lăm có thể là một ngày nghỉ ngơi không làm việc, hoặc nhằm một văn-sính ( ngày rằm ). - Khi một người Lào không bằng lòng cho bạn sờ mó một đồ vật của họ, có thể vì món đồ đó là một vật hiếm dễ khơi lòng tham, cũng có thể vì một lý do rất giản dị là đối với người ấy vật kia mang một giá trị tinh thần đặc biệt hoặc món đồ đã được sư sụt môn ( làm phép ) nên không muốn ai khác cầm tới. - Sờ hay vỗ đầu một người Lào (đặc biệt đàn ông ) không những là một kh'lăm mà còn là một sự xúc phạm nặng nề, có thể dẫn tới chuyện ấu đả, đổ máu. Vài tục kh'lăm khác - Kiêng hớt tóc, cạo râu ban đêm. - Kiêng hớt tóc ngày thứ tư vì là ngày Đức Phật thí phát xuất gia, và kiêng gội đầu ngày thứ năm. - Kiêng bò bốn chân trong rừng e cọp đến. - Khi lấy xôi trong típ ( giỏ đựng xôi ) phải nhớ đậy nắp lại. - Luôn luôn chừa lại ít nhất một vắt xôi trong típ, gọi là khoắn típ ( khoắn = viá hay hồn ). - Kiêng cán một nắm xôi ( lớn ) mà phải dùng một tay cầm nắm xôi, tay kia ngắt ra từng vắt nhỏ và mỗi lần ăn bỏ trọn vào miệng. - Kiêng nằm ăn uống e biến thành rắn. - Học trò không được ngồi chỗ cao hơn thầy cô. - Thần dân không được ngồi chỗ cao hơn ông hoàng, bà chúa ( nay là chủ tịch, thủ tướng … ) - Phật tử không được ngồI cao hơn tăng ni. - Vợ không được ngồi chỗ cao hơn chồng. - Vợ chồng không nằm chung giường trong ngày sinh nhật của một trong hai người. - Vợ phải đi ngủ sau chồng, thức dậy trước chồng. - Con cái không được ngồi chỗ cao hơn cha mẹ. - Khi ngủ không được hướng đầu về phía cửa ra vào. - Không được mang người chết vào nhà, dù là thân bằng quyến thuộc. - Không giã cối trống. - Đàn ông không chui qua dây có phơi quần áo đàn bà. - … Ngoài những điều kh'lăm thông thường trên, trong tâm linh người Lào còn điều quan trọng khác, đó là niềm tin vào Phí ( thần, ma, quỉ ). Phí trên đất Lào Người ngoại quốc nói chung, người Việt nói riêng, thường hiểu và dịch một cách đơn giản chữ Phí thành ma quỉ. Ý nghĩa chữ Phí không đơn giản như vậy. Phí theo quan niệm Lào gồm nhiều nghĩa : là yêu ma, quỉ quái, thần thánh, tà tiên, âm binh, âm tướng, oan hồn,uổng tử … và nhiều thứ khác gom lại. Tín ngưỡng dân gian Lào, theo soạn giả, chia thế giới thần linh làm ba cấp : 1. Thiên Sứ như Thén Phra Khun, Thén Tèng, Thén Lổ, Nang Thorani …Thén nghĩa là Trời. 2. Địa Sứ gồm các Phí Hặc Sá như Phí Mương, Phí Bản, Phí Hươn … là các thần tổ tiên hộ trì thôn bản, dân cư, gia tộc. 3. Nhân Sứ gồm các Phí Haài như Phí Pọp, Phí Kong Koi … là các ma quỉ, yêu quái biến thái từ con người trần tục. Tín ngưỡng dân gian nầy thường được gộp chung vào danh xưng Linh Hồn Giáo. Giáo Hội Phật Giáo Lào ( PGL ) không chính thức công nhận Linh Hồn Giáo Lào( LHGL ) như một tôn giáo vì LHGL không có thánh địa, không có giáo chủ, không có giáo lý, giáo luật cố định trên giấy trắng mực đen ; không đề ra một cứu cánh tối thượng hay chân lý sau cùng như PGL , song như đã nói trên, cho tới nay, 2005, LHGL vẫn cọng tồn song hành trong tương dung, hài hoà với tín ngưỡng PGL hệ tiểu thừa vốn là quốc giáo của người Lào từ nhiều thế kỷ, nhưng mãi đến khi giành lại được nền độc lập từ thực dân Pháp và qua bản hiến pháp ngày 11 tháng 5 năm 1947, được tu chính trong tháng 3 năm 1965, PGL mới đưọc hợp hiến thành quốc giáo. Phải chăng sự tương dung, tương kính nầy là hạt nhân hiếm quí mà kết quả cụ thể không thể phủ nhận là sự khác biệt giữa con người Lào và con người ở các quốc gia lân cận mỗi khi có khúc rẻ nghiệt ngả trên con đường Lịch Sử mang danh cách mạng. Phật Giáo Lào - như ở mọi nơi khác - trên phương diện thế tục, tập trung và xuất phát từ chùa và tăng già, biểu tượng tôn kính duy nhất là Đức Phật dưới nhiều hình tướng khác nhau. LHG nói chung thường được thể hiện trong các thôn làng, rải rác theo các hình thức ước lệ như Hó ( miếu ), Thạt ( tháp ), Phu ( núi ), Pà ( rừng ) hoặc Hín Nhày (Tảng Đá ), Tổn Mảy ( gốc cây ) … và Mó Phí , Mó Phon ( phù thủy, ông đạo, pháp sư, bà đồng…) độc lập. Còn tiếp Bài tới : Ma quỉ trên đất lào Chú thích (1) Trong bài nầy, ba từ " dân tộc Lào" là để chỉ định bộ tộc ( Phầu) Lào, 1 trong 68 bộ tộc hiện diện ở Lào. Bộ tộc Lào là bộ tộc đông người nhất và là bộ tộc chủ thể, tương tự người Kinh trong số 54 bộ tộc ở VN. Xem thêm chú thích trong Đặc Trưng bài Đám Cưới Lào Đám Cưới Việt, Bùa Ngải Trên Đất Lào cùng một soạn giả. (còn tiếp_
-
Ảnh Giá cô Bơ - Áo xanh Nguồn: http://www.langven.com
-
Một hình ảnh lên đồng - Nguồn: www.photo.vn ">
-
Ảnh "Cậu” Tâm đang nhập vai trong một giá đồng - Hình ảnh trong bài Lễ Hội Lên Đồng đã giới thiệu
-
Lạc vào thế giới hầu đồng Nguồn: www.vtc.vn/phongsu Đó là một thế giới rộn ràng tiếng nhạc,nỉ non lời hát văn, nghi ngút khói hương và ngùn ngụt những đàn đại mã bị khoá kiếp thành tro. Thế giới của những đền, những phủ, những đồng cô, đồng cậu, với mê muội những con nhang, đệ tử trong các buổi hầu đồng, khấn bóng. Lao vào thế giới đó, ngoài những người làm ăn buôn bán, còn có cả những người được gọi là trí thức, thậm chí, có cả những người đang nắm quyền chức ở bộ nọ, ngành kia... Con đường vào đồng Tiến là con út trong gia đình có 6 anh em, đã từng là một trong những tay anh chị có tiếng ở ga Trần Quý Cáp, Hà Nội từ hồi chưa giải phóng về tiêu thụ hàng ăn cắp, dưới trướng có đến vài chục đứa lưu manh, sẵn sàng phục vụ. Ai cũng nghĩ cả đời hắn sẽ gắn với kiếp lưu manh chuyên nghiệp. Nhưng một điều bất ngờ đã xảy ra mà ngay cả hắn và gia đình cũng không nghĩ tới. Hắn rũ bỏ tất cả để đi theo con đường tu hành, do tình cờ một lần mua vé tàu hộ một nhà sư vào Huế. Rồi sau đó được nhà sư giác ngộ đến mức hắn đi tầu trốn vé, từ Hà Nội vào Huế để tìm nhà sư. Trải qua 8 năm ăn chay, niệm Phật, có lẽ đời hắn cũng lại một lần nữa không ngờ khi hắn không có duyên với Phật. Chính nhà sư nhận hắn vào chùa đã cho hắn tiền để trở lại Hà Nội. Về nhà một thời gian, rồi chỉ qua một giấc mơ, thế là ngày hôm sau hắn tìm đến đền Ghềnh, Gia Lâm. Khi lễ xong, hắn được ông đồng già ở đây đồng ý cho hắn làm chấp tác, thay hương, dầu trong đền. Cũng không hiểu tại sao 8 năm tu hành vào tận xứ Huế hắn chẳng thể nào nhớ nổi một trang kinh Phật, nhưng mới làm chấp tác tại đền Ghềnh vài ngày, hắn đã thuộc làu làu các vị thánh, ông hoàng, bà chúa. Click this bar to view the full image. " Nghi lễ" Chỉ ít ngày sau, hắn được ông đồng già truyền cho cách mở phủ lập điện. Như có Thánh giáng, ông Hoàng nhập, hắn nhảy đồng lập phủ trôi chảy, khéo léo đến khó tin. Cho tới bây giờ, Tiến gù cũng đã ngót ngét 60 tuổi rồi, đã là đồng thày nổi tiếng trong giới đồng bóng khắp trong Nam ngoài Bắc, với 12 va li khăn trầu, áo ngự đã cất, con nhang, đệ tử không thiếu, ngay cả những người có quyền cao chức trọng, có địa vị trong xã hội, mà cũng phải nể lắm thì đồng Tiến mới lập điện, mở phủ cho. Trừ khi ngồi đồng lúc thánh giáng còn ở ngoài đời, không ai có thể đoán được tuổi của của người đàn ông tự nhận là “bà” này. Quần áo đồ hiệu chính cống, nhẫn vàng đeo đầy tay, móng tay lúc nào cũng được sơn sửa một cách điệu đàng, kỹ càng, và tất nhiên, điện thoại “bà” dùng cũng phải là đời cao, gọi không tiếc tiền. Mới chỉ mỗi việc sắp lịch và đi dự những buổi hầu của các đồng trẻ thôi cũng đủ làm “bà” đồng Tiến bận rộn đêm ngày. Tuy ít tuổi hơn thầy đồng Tiến cả một giáp, nhưng cũng nổi tiếng không kém về tài mát tay mở phủ, kêu thay, cầu đỡ với những động tác nhảy đồng dẻo không ngờ đến nỗi những người đàn bà trong giới đồng bóng cũng phải bái phục và kính nể, đó là "Hải bơm", ở Quán Thánh Hà Nội. Không giống như đồng Tiến, phải đến lúc thanh niên mới phát hiện ra mình có căn, có quả, nên mới quyết định đi theo thánh, mà theo lời mẹ của “cô” đồng "Hải bơm" thì lúc mới 6 tuổi, thằng bé Hải – con trai thứ 3 trong gia đình bà, đã bắc ghế với vỏ bao hương để ngậm cho môi đỏ. Lúc đầu, bà chỉ nghĩ đó là chuyện của trẻ con. Nhưng càng ngày bà càng thấy con trai mình không như những bé trai cùng phố, chỉ thích chơi những trò cùng con gái như nhảy dây, bán đồ hàng, đặc biệt là Hải rất thích búp bê. Điều làm bà bàng hoàng nhất là khi bà phát hiện ra trong người thằng con trai của mình lúc 16 tuổi có một bộ đồ của phụ nữ. Vừa xấu hổ, hoang mang, vừa thương con, bà và những người anh của Hải đã khuyên răn, kể cả đánh đập Hải. Sau một thời gian thấy không có kết quả gì, bà đành phải nuốt nước mắt chiều lòng con, để cho nó theo nghề đồng bóng. Bà tự an ủi mình rằng “nó bị như vậy cũng là gánh quả kiếp cho cả nhà rồi!” Bây giờ, ngay tại tầng 3 của nhà bà là một gian điện thờ tam toà tứ phủ khá to đẹp và sạch sẽ do con trai bà là “cô” đồng "Hải bơm" ngày ngày đèn nhang, hương nến. Hiện tại, thu nhập của cả gia đình bà trông cả vào lộc thánh của “cô” đồng Hải. Sau một thời gian dài kỳ thị, nay những người ở khu phố từ người già đến trẻ con, đều gọi người đàn ông 42 tuổi có dáng đi nhẹ nhàng, giọng nói khó phân biệt là giọng nam hay nữ bằng cô. Nếu có ai lỡ mồm gọi bằng bác, chú, hay anh thì thế nào cũng bị “cô” đồng Hải té tát cho một trận nhớ đến già. Thế giới hầu đồng Nếu không tận mắt chứng kiến một buổi hầu đồng mở phủ, thì không ai có thể tưởng tượng hay tin được rằng: để có được một buổi hầu đồng hoàn hảo thì khổ chủ phải bỏ ra bao nhiêu tiền mua mã, sắm lễ, trang bị quần áo, thuê phường hát văn. Tuy đã chuẩn bị sẵn tinh thần, nhưng chúng tôi cũng không thể nghĩ được rằng một buổi hầu đồng tại đền Bồ Đề – Gia Lâm cách đây ít hôm lại quy mô và kéo dài đến như vậy. Giới hầu đồng vẫn có câu “tuỳ tiền biện lễ”, và phải chứng kiến tận mắt mới hiểu được sự vô cùng trong giới này. Để chuẩn bị được một buổi hầu đồng thì trước đó 1 tuần, các thợ mã chuyên nghiệp của Hà Tây đã phải đến đây tập kết nguyên vật liệu để làm một đàn đại mã, có tên Long Tu Phượng Mã. Long Tu Phượng Mã bao gồm 3 ngựa: đỏ, vàng và trắng. Mỗi con đều to hơn những chú ngựa vẫn chạy trong rạp xiếc 1 voi xám với tỉ lệ 1/1 so với những chú voi thật, ngoài ra còn có một thuyền rồng dài 3,5m rộng 0,8m được trang trí cầu kỳ. Tất cả những thứ trên được đặt ở sân đền vì chúng quá to để có thể đưa được vào bên trong hậu điện, nơi gần với các Thánh, các Ngài, ông Ba, ông Bẩy. Đền là nơi ngự trị của 4 toà sơn trang với khoảng 60 hình nhân cao từ 1,2 - 1,6m có bốn màu: đỏ, xanh, vàng, trắng, tượng trưng cho bốn hướng. Đi cùng với đàn mã có giá chính xác là 7 triệu đồng này là 13 suất lộc tố hảo thuộc loại lộc ngon, đắt tiền để trong khi nhảy, đồng cô sẽ phát lộc cho khách dự, có tới 13 bộ quần áo của các ông hoàng, bà chúa, cô bơ, ông bốn. Sau mỗi một giá đồng, đồng cô lại thay 1 lần quần áo. Nhưng những thứ như trên cũng chỉ là điều kiện cần. Để làm nên một buổi nhảy đồng thần bí, một thành phần không thể thiếu được là đoàn hát văn với đầy đủ đàn, sáo, trống, nhị. Tham gia trong buổi hầu đồng này, toàn là những nghệ sỹ chơi nhạc cụ dân tộc xuất sắc của các đoàn nghệ thuật truyền thống có tiếng của Trung ương, và người chỉ huy hát văn cũng là một nghệ nhân mà cách đây mấy năm đã đoạt giải cao trong cuộc thi hát văn toàn quốc. Nghệ nhân này vừa làm người hát vừa là pháp sư tuyên sớ. Dưới tiếng nhạc hối hả và giọng hát kể lể, cô đồng là một thanh niên da trắng, môi đỏ, my dài xuất hiện trong trang phục trắng toát từ chân tới đầu. Hai người hầu nhanh chóng dâng lên cô một bên tay hương, một bên tay áo, khoác lên người cô bộ quần áo đàn bà màu đỏ may khá cầu kỳ, ấn vào tay cô bó hương, trùm tấm khăn lên đầu cô. Cô bắt đầu khấn vái. Thủ nhang, đồng đền, thủ anh, lính chị xin phép được hầu. Ngài pháp sư cũng khẩn trương tuyên sớ. Sớ có nội dung bao gồm ngày, tháng, kêu cầu cho ai, địa chỉ ở đâu, cầu về việc gì. Sau đó là một quá trình hầu với những màn khua hương, múa lửa, nhảy nhót rất điệu nghệ của cô đồng. Cô đồng dâng tiền, vỗ gối, và cứ mỗi lần nghe hát văn hay, cô lại vỗ vào chiếc gối có năm lớp thêu hình rồng, từ tay cô bay ra những tờ tiền có mệnh giá lớn. Trong suốt khoảng 3 tiếng đồng hồ lên đồng, cô đồng đã thay 13 bộ quần áo, phát 13 mâm lễ và cũng từng ấy lần nhảy múa quay cuồng, châm đến 4 bao thuốc để hút và phát lộc. Có một điều rất lạ là toàn bộ con nhang, cô đồng ai ai cũng hút được thuốc lá bất kể là đàn ông hay đàn bà. Chúng tôi đợi đến tàn canh hầu thì không khỏi sốt ruột. Theo nhận xét của bà đồng thầy đi cùng chúng tôi thì cô đồng này hầu khá nhanh, không bị hỗn đồng và làm một cách tuần tự, đúng sách. Buổi hầu kết thúc khi toàn bộ 13 mâm lễ với hoa quả, bia, các đồ ăn khác đươc phát cho khách. 7 triệu tiền mã đã được hoá vàng hết, trả lại vẻ rộng rãi vốn có của nhà đền. Đoàn hát văn ngoài số tiền công đã trả trước 1,5 triệu còn được thưởng gấp đôi vì hơn 30 lần vỗ gối khoái chí của cô đồng. Ước tính người hầu đồng lần này đã phải chi ra một khoản tiền không dưới 20 triệu đồng để chuốc lấy một tuần vất vả chuẩn bị và một buổi hầu đồng. Không biết mức giá này là đắt hay rẻ đối với họ nhưng sau buổi hầu đồng này, ai cũng thấy hớn hở ra mặt. Danh sách con nhang Nhiều người cho rằng chi phí cho một buổi lên đồng là rất tốn kém nên chỉ những người làm ăn buôn bán, kinh doanh thiếu hiểu biết mới là con nhang, đệ tử của những cô đồng, bà bóng. Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm bởi lên đồng còn thu hút được cả những người giàu có, hay những người cảm thấy ăn năn về quá khứ của mình. Người ta đua nhau đi tán lộc khiến cho bản danh sách của các đồng thầy ngày một dài hơn. Chúng tôi không khỏi giật mình khi xem danh sách của một đồng thầy. Danh sách đó có cả tên của một ông tiến sỹ đang công tác trong ban phòng chống ma tuý học đường. Ông có thói quen lập phủ linh đình. Mỗi lần mở phủ, ông bỏ ra ít nhất là 30 triệu đồng. Ông sùng đạo đến mức xây nguyên một ngôi điện tại tầng thượng nhà mình để tiện cho việc cúng bái. Ngôi điện của ông được đánh giá là bề thế và đẹp nhất trong số điện của giới đồng tại Hà Nội hiện nay. Cứ ngày rằm hay mồng 1, một số anh chị em cán bộ trong Bộ lại tới nhà ông để khấn bái và công đức. Không chỉ có lập điện tại nhà mà ông còn xây cả một ngôi đền bề thế tại xã Hoằng Ngọc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa và tổ chức một buổi hầu làm nhiều người phải giật mình. Theo thầy đồng Tiến ông tiến sỹ trên chưa phải là người đứng đầu trong danh sách những người hầu đồng phủ hiện nay. Danh hiệu đứng đầu thuộc về một quan chức của ngành hàng không tên Đ. Mỗi lần mở phủ chỉ tính khách thôi thì mỗi người cũng đã được chiếu lộc không dưới bạc triệu/người. Ngoài ra còn tiền bồi dưỡng cho thầy đồng và đoàn hát văn. Sở thích hầu đồng không chỉ ông có mà cả đại gia đình nhà ông gồm anh, em, con, cháu đều tham gia một cách tích cực. Không biết họ tham gia vì thấy có lợi cho mình hay tham gia để làm vừa ý ông. Trong những năm gần đây, hiện tượng đồng cô, đồng bóng có chiều hướng gia tăng. Số người gia nhập vào đội quân này ngày một nhiều. Không biết bao nhiêu người đã hao tiền, tốn của, khánh kiệt tài sản vì những đàn đại mã, những mâm lộc tố hảo...
-
Nhắc đến chuyện "lên đồng" mà không nói tới Phủ Giầy thật là thiếu sót. Nếu ai đã từng đến với Hội Phủ Giầy chắc chắn sẽ có những ấn tượng khó quên với những đêm hội không ngủ tràn ngập ánh đèn và phách nhịp khúc hát văn. Thấp thoáng trong sương đêm là lập lòe ánh nến và một không gian quện chặt của tâm linh huyền hoặc. Cho đến ngày nay, Phủ Giầy vẫn là một trung tâm lễ hội của tục "lên đồng". Không những nó lưu truyền một nét văn hóa Việt đều đặn trong bước đi của lịch sử mà mỗi ngày lại thêm sôi nổi và muôn mặt. Nguồn: http://lacviet.wordpress.com Hội Phủ Giầy Phủ Giầy có tên cổ là Kẻ Giầy, từ sau khi Liễu Hạnh được sắc phong công chúa thì được gọi là Phủ. Thực ra ở phủ Giầy có một hệ thống kiến trúc liên quan tới Liễu Hạnh, đó là phủ chính, phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu. Phủ chính là một kiến trúc khá qui mô, gồm ba lớp điện thờ, mặt đều quay về hướng nam, trước điện là giếng tròn và cột cờ, trên sân rộng phía trước có xây các nhà bia, nhà trống, nhà chiêng, kiến trúc kiểu bốn mái hai lớp. Chúa Liễu và hệ thống Tứ Phủ được thờ ở tòa điện trong cùng, Mẫu Thượng Thiên hóa thân thành Liễu Hạnh thờ ở trung tâm, bên trái là Mẫu Thoải, bên phải là Mẫu Địa, phía trước là Mẫu Thượng Ngàn (Nhạc Phủ). Tại làng Vân Cát, cách không xa phủ Giầy có kiến trúc phủ Vân Cát. Phía trước đền có hồ bán nguyệt, nối với bờ bằng cầu đá, chạm trổ rất công phu. Phủ Vân có Ngũ Môn và bốn cung, trung tâm thờ Chúa Liễu, bên trái là chùa thờ Phật, bên phải thờ Lý Nam Đế. Lăng Chúa Liễu nằm gần phủ Chính, được dựng bằng đá, kiến trúc công phu và rất đẹp, độc đáo, xây dựng vào những thập kỷ của nửa đầu thế kỷ này. Trung tâm lăng là ngôi mộ hình bát giác, mộ ở thế đất cao, có bốn cửa và bậc thang lên xuống. Xung quanh mộ, còn có tường vây quanh theo kiểu lan can đá, lớp nào cũng có cửa vào ở bốn phía. Bốn góc của lớp tường vây quanh và hai trụ cửa ra vào đều chạm đá hình nụ sen (60 nụ sen) lô nhô như một hồ sen đá. Ngoài hai phủ chính và lăng kể trên, xung quanh phủ Giầy còn có nhiều đền miếu bao quanh, như đền Khâm Sai, đền Công Đồng, đền Thượng, đền Quan, đền Đức Vua, đền Giếng, đền Cây Đa, đình Ông Khổng… Tất cả quần thể kiến trúc ấy gần như tập trung trong phạm vi xã Kim Thái, xưa là xã An Thái, thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà, cách thành phố Nam Định khoảng 15 km. Đó là vùng đồng bằng với những cánh đồng lúa bát ngát, có những ngọn núi đá thấp nằm rải rác, làng mạc trù phú, có dòng sông hiền hòa uốn khúc quanh co, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên và văn hóa rất nên thơ. Người ta tin rằng Bà Chúa Liễu vốn là con gái của Ngọc Hoàng, vì phạm lỗi nên bị đầy xuống trần gian, thác sinh vào nhà họ Lê. Khi cất tiếng khóc chào đời, bố mẹ đặt tên là Giáng Tiên, tới năm 18 tuổi thì gả chồng. Lấy chồng mới được ba năm thì hết hạn đầy bị gọi về trời. Nhưng vì nhớ chồng con, Ngọc Hoàng lại phải cho nàng trở về hạ giới. Lần này trở lại, nàng thích vân du khắp nơi, gặp danh sĩ Phùng Khắc Khoan và họa thơ với ông ở Lạng Sơn và Hồ Tây, sau lại kết duyên với một thư sinh ở xứ Nghệ và giúp cho chồng đỗ đạt làm quan. Vừa lúc đó nàng lại có lệnh về trời. Trái lệnh vua cha, một lần nữa nàng lại giáng sinh. Lần này nàng không ở một nơi mà cùng hai thị nữ chu du thiên hạ. Thấy vùng Phố Cát là nơi phong cảnh đẹp, nàng hiển linh thành cô gái bán nước ven đường để trêu ghẹo, trừng phạt những kẻ ác, gia ân cho người hiền. Triều đình nhà Trịnh lúc đó cho là yêu quái nên đem quân, dùng pháp thuật để trừ. Hai bên đã dàn quân đánh nhau, đó là “Sùng Sơn đại chiến”. Do lập mẹo quân triều đình có cơ thắng, nhưng vừa lúc đó đức Phật ra tay, giảng hòa, cứu Liễu Hạnh. Nàng được triều đình phong thần là Nữ Hoàng Công Chúa rồi Chế Thắng Đại Vương. Từ đó Liễu Hạnh công chúa không gây kinh sợ cho mọi người, mà luôn luôn ban phát ân đức, được nhân dân tôn thờ là Thánh Mẫu. “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”. Đó là câu nói cửa miệng của bất cứ người Việt nào dù họ sinh sống trên quê hương hay đã tha hương nơi đất khách quê người. Trong tâm thức dân gian, vui Hùng là ông Tổ, nên “Dù ai đi ngược về xuôi nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”, còn Liễu Hạnh là Mẫu (Mẹ), Trần Hưng Đạo là Cha, cả dân tộc coi cộng đồng mình như một gia tộc, có tổ tiên, cha mẹ. Tháng ba, vào cuối tiết xuân, những người nông dân đang buổi nông nhàn, rủ nhau mở mùa trảy hội. Từ muôn nơi người ta đổ về phủ Giầy, nơi có phong cảnh non nước tươi đẹp, công trình đền miếu nguy nga, nơi con người có thể cầu mong Mẫu mang lại những điều tốt lành, may mắn, tài lộc. Trong mười ngày hội phủ, người về dự tính tới hàng vạn, đứng trên non Gôi nhìn xuống, dòng người trảy hội rực rỡ áo quần, từ muôn ngả đổ về, trườn đi từ từ như con rồng uốn khúc trên thảm lúa xanh non đang thì con gái. Xưa kia, hội phủ kéo dài trong mười ngày bắt đầu từ 30 tháng hai. Ngày đầu hội là nghi thức cúng tế, ngày cuối hội rước Thánh Mẫu, ngoài ra còn có các trò vui chơi dân dã khúc. 30 tháng hai và mồng một tháng ba là ngày dành cho dân làng tế kỵ, từ ngày mồng ba trở đi là ngày quốc tế, ngày tế của các quan chức hàng tỉnh, hàng huyện. Xưa, quan tổng đốc hàng tỉnh vào làm chủ tế, rồi đến quan tri huyện cùng với chánh, phó tổng cũng vào chủ tế hàng huyện và hàng tổng. Nghi thức tế lễ cũng giống như nhiều cuộc khác, có các tuần dâng hương, dâng hoa, dâng rượu… Tiêu biểu nhất trong hội phủ Giầy là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ Chính lên chùa Gôi vào ngày mồng 6 và hội kéo chữ vào ngày mồng 7. Kiệu rước bát nhang Thánh Mẫu phần lớn do các bà, các cô đảm nhận, y phục rực rỡ, xúm xít dưới kiệu vàng, võng điều, cờ quạt, tán, lọng, phướn đủ màu rực rỡ tung bay trước gió lồng lộng vào tiết cuối xuân, đầu hè. Theo đoàn rước còn có đội nhã nhạc, bát âm. Các cô gái đồng trinh của đồng quê được cử vào khiêng long đình, rước võng, khiêng kiệu, che tán, che quạt, các bà trung niên thì cầm phướn, vác cờ, dẹp đường. Đoàn rước tiến bước giữa tiếng loa thét, rừng cờ phướn tung bay trong đoàn thiện nam tín nữ đi trẩy hội. Nghi thức rước Thánh Mẫu giữa phủ thờ và chùa không phải chỉ diễn ra ở phủ Giầy, nó phản ánh thực tế có sự giao kết giữa tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian và Phật giáo. Trong huyền thoại về Chúa Liễu, trận Sùng Sơn thể hiện sự xung đột giữa Chúa Liễu và triều đình phong kiến, sau đó phải cần tới sự cứu giúp và can thiệp của đức Phật. Tương truyền, chúa Liễu sau đó đã nhận mũ áo nhà Phật, noi theo Phật, chỉ làm việc thiện ban phát ân đức. Hiện nay, trong nhiều ngôi chùa thờ Phật Việt Nam đều có điện thờ Mẫu, theo kiểu tiền Phật hậu Mẫu. Sinh hoạt tín ngưỡng Mẫu trở thành một bộ phận của sinh hoạt nhà chùa. Ngày 7 tháng ba là ngày hội kéo chữ, nét độc đáo nhất của hội phủ Giầy. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sự tích hội kéo chữ như sau: Thời hậu Lê ở thôn Đông Khê, tổng Đồng Nội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định có một người kỹ nữ tài sắc tuyệt vời, đó là Phùng Thị Ngọc Đài. Sau khi lấy lẽ hết ông Quận Công Ngà, đến quận Công Hiển, Ngọc Đài trở về ở xã Bảo Ngũ, huyện Vụ Bản là nguyên quán của ông Quận Công Hiển. Năm 1623 vua Lê Thần Tông phong chức Thành Đông Vương cho chúa Trịnh Tráng, chúa ra lệnh mở tiệc ăn mừng, cho tuyển nhiều ả đào đẹp ở các địa phương tiến dẫn về Thăng Long để múa hát mua vui trong bữa tiệc. Ngọc Đài tuy đã góa chồng, nhưng nhan sắc xinh đẹp, kiều diễm, nên lần đó nàng cũng xin đi ứng tuyển. Trước khi lên đường, nàng đến phủ Giầy quì trước bàn thờ Thánh Mẫu và cầu khẩn: “nếu lần này đi mà được vua yêu, chúa dùng thì không bao giờ quên Mẫu, xin hứa làm cái gì để ghi nhớ Mẫu mãi mãi về sau”. Quả nhiên, lời cầu xin của Ngọc Đài được ứng nghiệm. Trong bữa tiệc, biết bao ca kỹ dung nhan tuyệt vời, giọng hát hay mà chúa Trịnh Tráng chỉ say đắm một mình Ngọc Đài. Sau bữa tiệc, nàng được vời vào dinh, được chúa sủng ái và phong cho chức Vương Phi. Thời kỳ Ngọc Đài làm Vương Phi trong phủ chúa thì cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn nổ ra dữ dội hơn, chúa Trịnh ra lệnh bắt phu về Thăng Long xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, phòng chúa Nguyễn tấn công. Trong số phu bị bắt về Thăng Long, có những người quê ở Vụ Bản. Bà Vương Phi biết tin này nên tìm cách cứu giúp dân phu của quê hương bản quán mình, nên đã mật báo cho dân phu khi về tới Kinh chỉ mặc áo rách và ăn cháo cám mà thôi. Một hôm chúa và cung phi cùng đi thị sát dân phu, chúa thấy đám phu ngồi ăn cháo cám. Chúa hỏi mới biết là người Vụ Bản. Nhân lúc đó, Vương Phi tỏ ra buồn rầu, khiến chúa Trịnh vặn hỏi. Khi được biết dân phu đó chính là người cùng quê với Vương Phi, chúa Trịnh tức khắc ra lệnh miễn phu cho họ, cấp lương thực, quần áo về quê quán làm ăn, sinh sống. Hơn thế nữa, chúa còn cấp lương thực vải vóc cho toàn bộ dân làng Bảo Ngũ, làng Vương Phi đã ở trước khi vào cung. Ghi nhớ công đức đó, nay dân làng thờ Vương Phi là Thành Hoàng làng. Sau khi nhận được gia ân của chúa Trịnh, Vương Phi muốn làm điều gì đó để lại ghi nhớ sự phù trợ của Thánh Mẫu nên dặn dân làng phủ Giầy là cứ sau ngày rước Mẫu từ phủ Chính lên chùa Gôi, thì dân làng đem xẻng, cuốc, mai, thuổng đến trước phủ Giầy vứt ngổn ngang xuống đất, tỏ ý nhờ linh ứng của Thánh nên dân làng không phải chịu cảnh nhọc nhằn phu phen, rồi xếp người thành hai chữ “Cung tạ”. Từ đó về sau, năm nào cũng có tục kéo chữ. Trước kia, hàng năm cứ tới ngày này mỗi tổng trong huyện Vụ Bản góp 10 phu cờ tuổi từ 20 tới 35 tới dự hội. Cả huyện có mười tổng, gộp thành 100 phu cờ. Ngoài ra còn có một số tổng khác, như Mỹ Lộc, Bình Lục, nhưng văn nhớ tục cũ, cũng góp thêm người vào cuộc hội này. Phu cờ ăn mặc đồng phục, áo cánh vàng quần trắng, đầu đội khăn đen, có phủ dải lụa vòng ra ngoài, đi chân đất. Mỗi người còn vác một cây gậy dài bốn, năm thước, trên đầu gậy buộc một cái ngù bằng lông gà các đốt gậy đều dán vòng giấy mầu xanh, đỏ có tua. Chỉ huy toàn bộ những phu cờ là Tổng cờ. Đoàn phu cờ hẹn tập trung tại một địa điểm nào đó, rồi lần lượt theo chỉ huy của Tổng cờ đi hàng đôi tiến vào khoảng đất rộng trước Phương Du của phủ Chính. Khoảng trưa, có lệnh Tổng cờ cho phu cờ chuẩn bị đến giờ xếp chữ (ngả chữ). Giữa tiếng trống cái, trống con gõ liên hồi rộn rã, theo cờ lệnh trong tay Tổng cờ, các phu cờ tiến lùi đứng lên, ngồi xuống thành hình chữ. Khi ngồi xuống, các phu cờ vứt gậy xuống đất, như mô phỏng lại tục vứt cuốc xẻng xưa của dân phu trước đền Thánh Mẫu. Việc xếp chữ gì do những người tổ chức hội hàng năm qui định, nhưng thường là “Mẫu Nghi Thiên Hạ” (Đức mẹ của muôn dân), “Thiên hạ thái bình”, “Thạch cập sinh dân” (1938), “Vân hành vũ thi” (1939). Nói tới hội phủ Giầy ngày giỗ Thánh Mẫu không thể không nói tới hình thức hát văn và hầu đồng. Đây là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu. Xưa, trong những dịp này, trong và ngoài đền phủ Chính, phủ Vân Cát, người ta tổ chức hát văn chầu và cùng với nó là lên đồng. Đây là hình thức diễn xướng tổng hợp giữa âm nhạc, hát, thờ cúng, nhảy múa. Ban văn chuyên tấu nhạc và hát văn chầu theo làn điệu và bài bản riêng, sao cho phù hợp, ăn khớp với người lên đồng. Hát văn có làn điệu riêng, độc đáo, nhưng trong đó cũng thu hút nhiều hình thức dân ca khác, như ca trù, trống quân, quan họ, cải lương… Người lên đồng để cho hồn các thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ nhập vào thân xác mình, rồi làm các nghi lễ trước bàn thờ, ăn mặc, nhảy múa, phán truyền theo tư cách và địa vị của thần linh ấy. Đó là các vị thần thuộc hàng các Thánh Mẫu, Quan lớn, các Chầu, các ông Hoàng, các Cô, Cậu… Xưa kia, trong các ngày hội hình thức lên đồng bị lợi dụng, mang nặng tính mê tín, buôn thần, bán thánh, nên ngày nay bị chính quyền đia phương hạn chế nhiều. Trong những ngày hội, nhân dân còn tổ chức nhiều hình thức vui chơi khác như xem hát tuồng, hát chèo, trống quân, kể cả hát xẩm, ca trù, các hình thức thi đấu mang tính thượng võ, như vật, múa võ, kéo co, đánh cờ, chọi gà… Ngoài các nghi thức tế, rước sách, kéo chữ, xem biểu diễn… hội phủ Giầy còn là ngày hội Chợ. Nơi đây trong ngày hội, người ta bày bán các sản phẩm của địa phương, người đi xem thường là tiện dịp mua sắm thêm vài thứ vật dụng trong ngày hội. Hội không chỉ là sự thể hiện đời sống tâm linh, thưởng thức sinh hoạt văn hóa mà còn thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại. Các mặt hàng bày bán thật đa dạng, phong phú, từ cái kim sợi chỉ, chiếc cần câu, lưới, vó, dậm, nơm để đánh bắt cá. Các loại giường, tủ, bàn, ghế sản phẩm của làng mộc La Xuyên kề cạnh, các loại giầy, dép, các loại đồ đan, áo tơi. Các mặt hàng sơn mài của phủ Giầy vốn có tiếng từ lâu, các loại gỗ khảm trai, các bức hoành phi, câu đối cũng được bán ngoài chợ trong ngày hội. Nói tới đi hội không thể không thưởng thức các món ăn, nhất là các món đặc sản địa phương mà ở phủ Giầy nổi tiếng là món thịt bò tái, tương gừng, rất hợp vị với tiết trời tháng ba. Vui hội như vậy, nên người nào đã trẩy hội phủ Giầy một lần là còn muốn đến nữa: Còn trời còn nước còn non Mồng năm rước Mẫu ta còn đi xem Ai về nhắn chị cùng em Bảo nhau dắt díu đi xem hội này./.
-
Hậu trường sân khấu còn ... bốc sư, đồng bóng - Đi xem bói với... nghệ sĩ Nguồn: http://cailuongvietnam.com/clvn 30.07.2004 Thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được tin nhắn của một cô đào trẻ rủ rê đi xem bói. N. dẫn tôi tới một con hẻm trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Lối vào nhà bà thầy vừa đủ cho một chiếc xe gắn máy. Bên trong đã có 6 thân chủ ngồi chờ. N. cho biết mỗi tuần cô đến bà thầy này một lần, mỗi quẻ xem chỉ tay tốn 50.000 đồng. N. rù rì: “Bả nói đúng lắm anh ơi! Tuần rồi nghệ sĩ M. được bả cảnh báo sẽ mất của do cái nốt ruồi ở “chỗ kín” của ảnh... Ảnh hổng tin, tối dắt... trai về nhà bị nó lột mất chiếc nhẫn kim cương 6 ly”. Sáng tạo nhờ vào bói toán (?) Qua N. tôi biết nhiều nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên nổi tiếng cũng là khách quen của địa chỉ này. Bà thầy có đôi mắt tinh đời đã từng phán anh L. muốn đoạt giải thưởng uy tín của sân khấu cải lương phải chọn bạn diễn có tuổi Dần, mạng kim, cung tốn (!) mới hạp với anh. Dù làm đúng lời thầy nhưng L. không nhận được huy chương vàng mà mất toi 5 triệu đồng cho lễ “khai quan điểm nhãn”. Bà còn giúp diễn viên D. tạo cái “duyên hài” qua những câu dung tục, bậy bạ. Mỗi khi D. nhận vai mới phải đưa kịch bản cho bà... duyệt (!). Bà biểu bỏ câu thoại nào, sửa lời văn nào thì phải tuân theo. Hoặc diễn viên K. nhất quyết không chịu mặc áo sọc trên sân khấu, còn D. kỵ màu mắt nâu, L. ca chữ nào chạm húy gia tộc thì tránh, C. vô vọng cổ phải trên 100 chữ mới khá... Hỡi ơi! Những nguyên tắc sáng tạo nghệ thuật lại bị lệ thuộc vào thầy bói! Lọ nước thánh 200 triệu đồng Ở hậu trường một sân khấu kịch, thỉnh thoảng V. dẫn một thầy bói “bóng cậu” vào xem bói “tập thể”. Chỉ cần một bộ bài, người muốn xem vận may rủi xào 7 lần, chia 7 lá bên trái, 7 lá bên phải, thầy sẽ nói rõ vận may, điềm xui và chỉ cách hóa giải. Tôi bần thần khi thấy vị quản lý của sân khấu này... ra lệnh mở màn trễ 30 phút để thầy xem cho cả gánh hát. Tôi phải đóng vai người... nhắc tuồng để được cậu phán một quẻ. Cậu nhìn lá bài của tôi cười rất tươi: “ Tháng sau anh sẽ đổi đời, hết làm nghề nhắc tuồng và sẽ làm “sếp” một siêu thị lớn ”. Ấy thế mà những diễn viên tên tuổi như: X, O, Y... lại tin như sấm. O. được phán 7 lá bài bên trái của cô xui “ bạt mạng ”. Cô đang có tình duyên nhưng nếu tháng 7 này cưới thì chỉ giữ được chồng hai năm, còn cưới ngay tháng sau thì sẽ hạnh phúc cả đời (!?). Lân la vào hậu trường ở các rạp cải lương, tôi biết cậu bóng này là một ả bán vé chợ đen ở rạp Thủ Đô. Bỗng dưng ả phất lên tậu một chiếc Attila còn mới nước sơn. Ả đã dụ một anh kép nộp 200 triệu đồng để mua... lọ nước thánh chữa bệnh cho mẹ nuôi là một Việt kiều đã bỏ tiền xây biệt thự cho anh ta, nhưng tội một điều là bà bị đau khớp chân, chạy thầy, chạy thuốc mấy năm không hết. Tự dưng tôi nhớ vở kịch Số đỏ: Một tên đại bịp như Xuân tóc đỏ mang nước rong rêu cho cụ cố uống, tự dưng cụ khỏe ra và xem Xuân tóc đỏ là ân nhân cứu mạng. Thật ngao ngán... “Em phải có người hộ tống” Trong giới, ai mà chẳng biết nghệ sĩ T., danh hài S., đạo diễn H., ông bầu A. là những người mê tử vi bói toán. Để sở hữu những diễn viên có chút tên tuổi, nhiều ông bà bầu lôi kéo họ nhập làng thờ phụng các bà thầy xem tử vi, bói chỉ tay, bói tướng, bói chữ ký... Một bà bầu nọ lập gánh hát đã chọn hậu đài, diễn viên, chuyên viên âm thanh, ánh sáng đều phải hạp tuổi với bà; một ngôi sao kịch muốn nhận đệ tử cũng xem tuổi. Buồn cười thay nghề nghiệp của họ chẳng tiến triển tới đâu, chỉ thấy lặp lại bản sao của ngôi sao bệnh hoạn này. Một dạo anh ta nghe một ông thầy bói, là Việt kiều từ Pháp về, phán tháng 12 phải có người theo bảo vệ: “Đời em phải có người hộ tống để họ rước cái xui của em”. Thế là đêm nào cũng có 5 người bỏ hết công việc theo làm đuôi ngôi sao. Hễ gặp chuyện xui xẻo gì ngôi sao này cũng đều đổ lỗi cho họ. Anh luôn mỉa mai bạn diễn... Tính tình đồng bóng của anh đã khiến cho nhiều đồng nghiệp phát sợ. Vì anh ghét ai thì “toàn nữ ban” đó phải ghét theo, anh yêu ai thì cả sân khấu đó phải nể trọng (?). Chẳng ai dám... góp ý vì chén cơm manh áo, hơn nữa anh chỉ tin lời thầy bói mà thôi! Nạn nhân của trò lừa bịp Tôi biết G. là một gương mặt triển vọng, nhưng từ khi nghe lời thầy bói đi sửa mũi, mặt G. trông dữ dằn khó vào vai đào thương; cô đào M. sau khi cắt mí mắt theo lời bà thầy ở Đa Kao, tự dưng đôi mắt “híp” lại, lúc nào cũng như buồn ngủ; đào H. đi phá nốt ruồi đến nỗi phải nhập bệnh viện vì bị nhiễm trùng... Nghệ thuật bị hỏng bét từ những cuộc phiêu lưu cùng thầy bói và sửa sắc đẹp thẩm mỹ. Chưa kể đến những trường hợp “tán gia bại sản” vì tin lời thầy bói. Nghệ sĩ Q., B., diễn viên D., tác giả Y... phải cầm nhà bán xe trả nợ vì những chuyến bỏ vốn làm bầu đại nhạc hội, làm bầu sô mà thiếu suy tính. Sân khấu ngày càng có biểu hiện xuống cấp do tâm lý của một số nghệ sĩ không... bình thường. Hóa ra thứ nghệ thuật mà họ mang tới phục vụ khán giả lại xuất phát từ những lời “phán” bệnh hoạn của những thầy bói lừa bịp. “Lên đồng” tìm. .. hậu vận Một số nghệ sĩ sân khấu cải lương và kịch nói rất mê “ lên đồng” xem chuyện... tương lai. Từ đây, đã xảy ra bao chuyện dở khóc, dở cười chỉ vì quá tin lời “đồng cô, bóng cậu”. Từ mồng 1 tháng 4 âm lịch trở đi, không hẹn mà nhiều nghệ sĩ rủ nhau đi chầu “đồng cô, bóng cậu”. Tôi tò mò đi theo một nữ nghệ sĩ cải lương. Chị xách theo một giỏ trái cây, một xấp tiền mới toanh và dặn tôi phải đặt trọn niềm tin vào những vị thánh. Thần thánh cũng biết... đánh ghen Tôi đèo chị bằng xe gắn máy đến khu miếu nổi, dừng lại trước một cái miếu. Biết chị là nghệ sĩ nên đám đông vây quanh chào hỏi. Duy nhất một gã đàn ông ốm như que củi ngồi nhìn chị lừ lừ. Tôi thấy chị chắp tay vái người này. Khi tiếng nhạc trỗi lên, ba hồi trống liên thanh thúc giục, mọi tín đồ trở nên nôn nóng. Người đàn ông đó là cô Năm bắt đầu đội lên đầu chiếc khăn đỏ sẫm lắc lư theo điệu nhạc. Điều lạ là cô Năm toàn nhập hồn vào các bậc mẫu nghi thiên hạ. Khi “lên đồng”, cô Năm hát loạn xạ, rồi hươ nhang quanh người. Tôi thấy kép M. và một số nghệ sĩ sụp lạy lia lịa. Thỉnh thoảng cô Năm nhìn kép M. đắm đuối. Khi phát lộc cho mọi người, tôi thấy cô Năm dúi vào tay kép M. một nắm ít nhất cỡ 10 tờ 100 USD vàng mã, còn các tín đồ khác cô chỉ cho giấy bạc 10.000, 20.000 đồng (!?). Bỗng dưng tôi thấy cô Năm tiến gần đến một nữ thân chủ, dí bó nhang đang cháy vào bàn tay cô ta. Theo phản xạ cô gái la lên, nhưng mọi người chung quanh bảo cô hãy im lặng. Cô gái sắp khóc vì bị bỏng nặng. Chị nghệ sĩ cùng đi với tôi nói nhỏ: “Chết con này rồi, nó bị cô Năm ghen vì dám cặp bồ với kép M.”. Tôi quan sát thấy kép M. lúng túng. Hóa ra... thần thánh cũng biết ghen! “Đừng sợ, để thầy ếm cho!” Theo Hoàng Túc, Phó Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ Múa TPHCM, loại hình múa bóng rỗi, múa “lên đồng” là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc. Vào những mùa gặt lúa, những vụ bội thu sau những ngày đồng áng cực nhọc, người dân đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ thường tổ chức những buổi lễ cúng Thần Nông và tập tục múa bóng rỗi, múa “lên đồng” xuất phát từ việc nông dân cầu cho mùa màng năm sau thắng lợi. Nét đẹp độc đáo của múa “lên đồng”và múa bóng rỗi chính là điệu hát chầu văn được phối hợp nhịp nhàng, uyển chuyển và cái tài của người múa là sự ứng biến theo điệu nhạc, nâng cao sự huyền bí trong các điệu múa. Dần dà về sau, múa “lên đồng”, múa bóng rỗi bị lạm dụng và chuyển sang màu mê tín. Trong giới nghệ sĩ có rất nhiều người thích múa “lên đồng” để gọi hồn thánh nhân xem chuyện tương lai. Có nhiều nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên kịch bị mê hoặc bởi những lời phán “có một không hai”. Ví như cậu bóng Mẫn ở xóm Cây Điệp từng phán nữ nghệ sĩ D. năm nay sẽ được Nhà nước phong tặng danh hiệu ưu tú (!). Bà bóng Xóm Liễu ở quận 8 nổi tiếng giao du với nhiều nghệ sĩ cải lương, thường tổ chức “lên đồng” ngay tại nhà các nghệ sĩ. Ai cầu gì bà cũng hứa. Theo chân nghệ sĩ G., tôi được gặp cậu Chín Mén “lên đồng”” tại một chung cư ở quận Gò Vấp. Cậu Chín chuyên ““lên đồng” phán chuyện ăn thua cho một số nghệ sĩ có máu bài bạc. Rồi ông thầy Lục ở Thủ Thiêm, thờ Thiên Linh cái - nghe đâu là cái đầu lâu của người con gái còn trinh bạc mệnh. Thầy Lục chuyên ban phép, bùa để kép L., đào M. dụ các đối tác làm ăn. Vừa qua, trong giới cải lương đồn chuyện kép C. dụ dỗ một cô gái tuổi vị thành niên lên khách sạn. Gia đình cô biết được đòi đền bù 30 triệu đồng, nhưng thầy Lục đã phán “đừng sợ, để thầy ém cho con trắng án”... Giao du đồng bóng, đánh đổi giới tính! Điều bất thường là một số diễn viên, ca sĩ, nghệ sĩ trẻ của sân khấu TPHCM cũng bắt đầu mê các “đồng cô, bóng cậu”. Tôi biết Q. là diễn viên trẻ ban đầu vào trường sân khấu trông rất... đàn ông, tự dưng giờ gặp lại Q. đổi hẳn giới tính. Hỏi ra mới biết Q. là đệ tử của một nghệ sĩ thích “lên đồng” Vợ chồng nghệ sĩ T. lo ngại chuyện con gái của anh chị đang bị biến đổi giới tính. Tự dưng thích hút thuốc, mặc quần đùi và áo thun, ăn nói huênh hoang. Tôi biết bên sân khấu kịch nói một số diễn viên trẻ cũng bị lây nhiễm căn bệnh này. Họ bất chấp thủ đoạn miễm sao được nổi tiếng, sẵn sàng đánh đổi cả giới tính để có được một chỗ đứng trên sân khấu I, X, S... Những gương mặt diễn viên trẻ như: Đ., K., T... mà tôi biết, trước đây họ rất nam tính, sau khi theo chân các nghệ sĩ đàn anh đi hầu “đồng cô, bóng cậu” giờ yểu điệu như thục nữ. Cách diễn của họ cũng trở nên ẻo lả, tính nết xéo xắc, sân si giống như một ngôi sao nhiễm bệnh nặng. Sự xuất hiện bệnh hoạn của họ trong một số vai diễn gần đầy đã khiến người xem ngao ngán. Nhiều phụ huynh bảo rằng họ không dám cho con em xem một số vở kịch, vì tác dụng giáo dục giới tính ở đó có thể gây phản ứng ngược. Trẻ con dễ bị tiêm nhiễm cách ăn nói bỗ bã, dáng điệu ẻo lả của một vài diễn viên mê đồng bóng mà... hậu quả là họ tự hủy hoại tài năng của mình. Lệ Thủy: " Tin vào lời bói toán, đồng bóng để thay đổi quan điểm sáng tạo là một việc làm trái với đạo đức diễn viên. Tôi cho rằng khán giả yêu sân khấu sẽ tẩy chay những nghệ sĩ, diễn viên cố tình bóp méo nghệ thuật theo ý đồ xấu của những người mê tín dị đoan. Điều quan trọng là cả giới sân khấu đồng lòng xóa nạn mê tín, giáo dục thế hệ diễn viên trẻ tránh xa những tệ nạn này thì hậu trường sân khấu sẽ trong sáng. " THANH HIỆP
-
Nguồn: http://www.thongthienhoc.com Đồng cốt và sự truyền cảm thụ động Trích trong Những Phương Pháp Phát Triển Tâm Linh MỘT ĐẶC ĐIỂM VẬT CHẤT Người nào muốn ngồi đồng phải có khả năng xuất ra khỏi xác; thể xác y còn phải có một đặc điểm khác là sự kết hợp lỏng lẻo giữa các phần tử dĩ thái và các phần khác của nó. Đặc điểm nói trên thường có từ lúc mới sanh, nhưng nó cũng có thể được khai mở thêm ở những nơi được gọi là “Câu lạc bộ phát triển”. Nó không chứng tỏ rằng người có nó tiến cao hơn mọi người khác. Thường thì trường hợp trái lại xảy ra : khả năng lên đồng là dấu hiệu một linh hồn kém tiến hóa mặc dù có vài ngoại lệ. Lý do là khả năng nầy không vượt qua phạm vi thể xác : khi thể xác có một vài đặc điểm cần thiết thì người ta có thể ngồi đồng. Nó không đòi hỏi một tánh tình thanh cao hay một cố gắng nào về sự trau luyện tinh thần. Bản chất thanh cao của con người không được lưu ý. Nhưng người ta nghĩ sai rằng khả năng ngồi đồng là một bằng chứng của sự phát triển tâm linh. Nhiều người còn hiểu rằng : tin ở các vong linh và ở đời sống bên kia của tử là dấu hiệu của sự phát triển cao quí ấy, rằng chấp nhận những giáo lý vô vị ở các buổi nhập đồng là chứng tỏ một sức mạnh tinh thần còn say mê những hiện tượng này nọ là sự mộ đạo. NHỮNG ĐIỆN TÍN PHI PHÀM Xem sự lên đồng như là một tôn giáo và kính trọng lời lẽ của các vong linh do đồng cốt chuyển lại như là những giáo lý cao siêu thì không khác nào quì ở một trung tâm vô tuyến Marconi để nghe những điện tín chuyển đến từ một cõi xa xăm và tôn kính các điện tín ấy như là thông điệp của trời. Thái độ ấy không hợp lý. Trong hai trường hợp, lời lẽ vẫn phát xuất từ một người thường, có khác chăng là một đàng, nó được chuyển đến do máy móc, còn một đàng do xác đồng. Việc một người chết dùng xác đồng giống như việc ta dùng điện thoại : sự kiện không có tánh cách tâm linh gì cả. Chúng ta có thói quen gọi người vừa bỏ xác thân là “vong linh”. Thói quen nầy gây nhiều sự hiểu lầm khiến ta tôn sùng và tin tưởng người chết quá mức. Ngay bây giờ, chúng ta cũng là những linh hồn, và sau khi từ trần, chúng ta chỉ mất thể xác thôi chứ chúng ta vẫn y như trước. Nếu trong lúc sanh tiền, anh Ất ăn nói dài dòng, thì chết anh cũng thế. Anh có muốn nhờ miệng đồng cốt để giảng đạo đi nữa thì lời lẽ của anh cũng không có giá trị gì hơn lúc anh còn sống. Chúng ta bao trùm cái chết và những điều ở bên kia cửa tử bằng một bức màn bí mật và tỏ một thái độ kính trọng. Việc ấy không có ích chi cả. Khi một người đồng thốt một điều gì, ta nên đón tiếp như lời một bạn quen, có thế thôi. TRINH NỮ DÂNG HƯƠNG Đồng cốt là một phương tiện liên lạc xưa nhất và dễ nhất giữa cõi trần và cõi vô hình. Lịch sử và các sự nghiên cứu huyền môn xác nhận đồng cốt đã có trên hai ngàn năm nay. Người có huệ nhãn khi quan sát ở quá khứ, trong những đền thờ vĩ đại của Châu Atlantide, của Ai Cập hay Hi Lạp ngày xưa thì các Trinh nữ dâng hương, vũ nữ và đồng nữ hiện ra trong những xác thân trinh khiết trước những bàn thờ tôn nghiêm và các tín đồ yên lặng và tin tưởng, để chuyển lại lời lẽ quí báu của các Đấng Thánh linh. Nhưng hoàn cảnh hiện tại khác hẳn hoàn cảnh ngày xưa. Trước kia, các trinh nữ đó thuộc những gia đình quí phái và được nuôi dưỡng trong các đền thờ thanh khiết, linh thiêng. Họ ăn những thức ăn chọn lọc và được ngừa những ảnh hưởng và tư tưởng xấu xa. Ðược chăm nom cẩn thận như vậy, họ tránh được mọi tai hại cho họ, đồng thời nói lên được những giáo lý cao siêu do các bậc Chưởng giáo nhập vào truyền dạy. Việc rời bỏ xác thân để một vị cao cả sử dụng nó không phải là một điều nguy hại. Sự thực thì có những nhà huyền môn và các bậc điểm đạo làm như vậy khi họ biết rõ vị nào sẽ sử dụng xác thân của họ. Trong lúc họ rời khỏi xác thân, họ ý thức được những điều xảy ra. Họ còn có dịp đứng bên vị Chưởng giáo để nghe các lời chỉ dạy. Nguy hại của đồng cốt hiện nay Việc sử dụng đồng cốt hiện nay gây nhiều tai hại khiến các nhà huyền môn khuyến cáo nên xa lánh. Nguyên nhân các tai hại đó là điều kiện sinh sống bẩn thỉu, nhớp nhúa của đồng cốt. Họ không được tiến hóa đến mức có thể chọn những vị cao cả cho nhập vào xác mình. Khi họ rời thể xác, họ mê và không còn hoạt động được. Tâm thức của họ vì không được luyện tập nên phất phơ như trong giấc mộng với những tư tưởng quen thuộc hằng ngày. Trong lúc đó, một vong linh nhập vào xác trống và giảng dạy trước một cử tọa kính cẩn. ôi khi những vong linh được gọi là "kẻ dìu dắt", có mặt và cố gắng che chở đồng cốt. Tuy nhiên, các vong linh ấy cũng tầm thường như chúng ta chứ không phải toàn năng hay toàn tri để có thể bảo vệ kiến hiệu. Nếu chúng ta biết rằng ở cõi vô hình (nhứt là ở các tầng thấp mà các đồng cốt thường tiếp xúc), có một số vong linh đàn ông, đàn bà bất hảo, thì chúng ta đừng ngạc nhiên khi một vong linh du đảng, thô bỉ, trụy lạc toan chiếm xác thể người đồng, mặc dầu có sự ngăn trở của vong linh dìu dắt. Kết quả thể xác người đồng bị hành hạ và trở nên ô uế. Dù vong linh có thanh cao hơn, sự xâm chiếm ấy cũng không tốt vì mấy ai không còn ích kỷ và dục vọng. Những nơi ô uế Chúng ta hãy đến dự một buổi lên đồng phải trả tiền vào cửa và nhìn xem cảnh vật chung quanh. Trong các người hiện diện, ít ai học rộng và thương người, họ đến vì tính tò mò hay để thoả mãn một dục vọng cá nhân. Họ thường ăn thịt, uống rượu, lắm khi không được sạch sẽ nên phát ra những hôi hám ô uế. Người đồng cũng không cử rượu thịt nên từ điện của họ rất dơ bẩn. Như vậy, các bậc tiên thánh làm sao có thể sử dụng được thể xác của y ? Thể xác của y như một bộ quần áo dơ, làm sao một người sạch sẽ có thể mặc vào? Do đó, những giáo lý do đồng cốt thốt ra không có giá trị, vì các nhân vật quan trọng không đến nhập, dầu nơi đó có mặt thân nhân của họ. Kết quả là những vong linh tầm thường đến và rất hãnh diện xưng vị này, đấng nọ để truyền dạy những điều vô vị. Những điều kiện lý tưởng Nếu các điều kiện trên được thay đổi, nếu các người đến dự gồm các người trong sạch, vị tha và có khuynh hướng tâm linh, nếu người đồng cốt đừng ham mê thú vui vật chất, tinh lọc tư tưởng và giữ gìn thân thể sạch sẽ thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn nhiều. "Văn Phòng Julia" do cố W.T. Stead thành lập đã cố gắng nhiều trên phương diện này. Bao giờ các điều kiện còn bê bối như hiện nay, đồng cốt sẽ mất hết phẩm giá và trở thành nô lệ các tập quán đê tiện, bị loạn óc hoặc điên cuồng. Nếu khoa thần linh muốn có một địa vị quan trọng trong giới tôn giáo và khoa học, nó phải nhận định khuyết điểm đó và huấn luyện đồng tử từ lúc nhỏ đừng để chúng bị lợi dụng do những người dốt nát, ích kỷ, chỉ biết chạy theo những hiện tượng có vẻ lạ đối với phần đông nhưng không có một giá trị tâm linh nào. Sự hiện hình làm suy yếu thần kinh Sự hiện hình không nên được khuyến khích bất kỳ với một lý do nào vì nó gây tai hại cho sức khoẻ và cả cho sinh mạng của đồng cốt. Lý do là khi chất dĩ thái được rút ra khỏi thể xác để hiện hình thì luồng sinh lực nuôi dưỡng thể xác bị bớt nhiều làm cho nó kiệt sức. Các bộ phận của nó đều bị xáo trộn nhất là quả tim, bộ tiêu hóa và thần kinh hệ. Bộ này bị căng thẳng và suy yếu đến đỗi đồng cốt phải dùng những chất kích thích. Do đó, một số người trở nên nghiện rượu. Sự ô nhiễm Khi chất dĩ thái của thể xác được một vong linh dùng để hiện hình, chất ấy sẽ thu hút một phần từ khí của vong linh đó và thu nhận ít nhiều các rung động của y. Nếu vị ấy dâm dật, xảo trá, chất dĩ thái bị ô nhiễm, và khi nó được hoàn lại cho đồng cốt, nó vẫn giữ ảnh hưởng nguy hại đó. Vì vậy, chúng ta cần tránh sự hiện hình dưới mọi hình thức. Các người dự những buổi họp này cũng bị rút một ít chất dĩ thái của mình để phụ với đồng cốt và vì thế họ cũng bị ô nhiễm phần nào. Sự ám ảnh Nếu một buổi lên đồng được quan sát bằng thần nhãn, người ta sẽ thấy vong linh đến dự rất đông đảo. Một vài vong linh nhập vào đồng cốt, còn những vị khác thì tìm cách ảnh hưởng cử tọa. Lắm khi, một vong linh xé rách được màn lưới bảo vệ như nói ở chương trước và từ đó có thể lộng hành đối với nạn nhân bằng cách ám ảnh y và gây cho y đủ thứ đau buồn. Một khi màn bảo vệ bị xé, sự bảo vệ thiên nhiên không còn thì con người dễ bị ám ảnh bởi những vong linh xấu xa. Các vong linh này muốn trở lại cõi trần sống một đời sống vật chất để thoả mãn những thèm khát của họ nên đôi khi không còn chút lương tâm nào đối với nạn nhân. Vì vậy, một người bị xé rách màn lưới là một người rất vô phước. Trong trường hợp màn lưới không rách, một vong linh cũng có thể để ý đến một người nào và theo y về nhà để phá rầy y đủ cách. Ðiều này sẽ nguy hại nhiều hơn khi nhà có con nhỏ, vì trẻ con dễ bị ám ảnh. Bởi thế, nhà huyền môn không phản đối việc sử dụng đồng cốt nhưng cần nêu những tai hại của sự lên đồng trong những điều kiện thê thảm hiện nay. Các buổi họp riêng ít nguy hiểm hơn vì cử tọa được chọn lọc, tuy nhiên, nguy tai vẫn còn. Lý tưởng là áp dụng các điều kiện của thời Trinh nữ dâng hương.
-
Chữa bệnh bằng... đấm, đá!? Thứ Hai, 31/03/2008 Vừa đấm, đá bệnh nhân vừa chửi thề luôn miệng... là kiểu chữa bệnh kỳ quái của thầy Võ ở Q.Thủ Đức, TP.HCM. 16g ngày 24-3, chúng tôi có mặt tại nhà thầy Võ ở 131/12 đường số 8, P.Linh Xuân, Q.Thủ Đức. Đồng nghiệp của tôi vào vai bệnh nhân tâm thần với gương mặt ngớ ngẩn, đầu tóc bù xù, quần áo xốc xếch... Còn tôi cùng đi với "người bệnh" trong vai người nhà. Gặp chúng tôi, vợ và dì của thầy đon đả: "Cứ mở cửa vào nhà ngồi, 5 giờ thầy mới về". Đánh người bệnh để đuổi... "ma nhập" Hơn 17g, một người đàn ông thấp nhỏ, da đen, có nốt ruồi to gần miệng, chạy xe máy vù vào nhà. Đó là thầy Võ. Ông ta nhìn "người bệnh" (đồng nghiệp của tôi) soi mói: "Đưa nó vô nhà đi". Thầy Võ lấy nhang thắp lên bàn thờ xong quay qua phán liền: "Bệnh của người này cũng tại gia đình. Kể từ khi nó phát bệnh, gia đình cứ nghĩ là thuốc men thôi. Không có nghĩ tới chuyện thầy bà. Gặp tôi ngay từ đầu thì đâu có ra vậy". Ông ta gườm gườm nhìn sát vào mặt "bệnh nhân", rồi dùng móng tay bấm thật mạnh nhiều chỗ trên khuỷu tay và nói: "Bệnh của nó là do ma nhập xác. Sắp tới sẽ còn bị thụt lưỡi, co rút tay chân và cả người". Thầy cũng nói thẳng ở đây chữa bệnh bằng đấm, đá. Thầy đặt điều kiện với tôi là không được nóng ruột, không được cản thầy trong lúc trị bệnh. Khi tôi chấp nhận kiểu chữa bệnh này, thầy Võ kêu tôi đưa "bệnh nhân" ra quì gối trước bàn thờ nhà thầy. Thầy bắt đầu lên đồng và nhắc đi nhắc lại hơn chục lần: "Nghe đây, xác người ta thì thả người ta ra đi. Buông người ta ra đi! Người phàm không biết mày là ai, nhưng tao biết mày nè! Mày là lão già, mày già lắm. Mày đánh lộn không lại đây đâu". Ảnh minh họa Nói tới đây, thầy tự dùng tay đấm mạnh vào ngực mình, rồi đi vòng ra sau đồng nghiệp của tôi, dồn hết sức đá mạnh vào lưng, khiến anh ngã quị xuống đất. Thấy vậy, thầy nói: "Đ.M., mới có chừng đó mà chịu không nổi hả mày?!". Để triệt hạ "con ma" tới nơi tới chốn, thầy lấy kéo cắt một lọn tóc dày của "bệnh nhân" đem đốt cháy, rồi bỏ vào ly nước cúng cùng một lá bùa ghi chữ nguệch ngoạc, sau đó bắt "bệnh nhân" phải uống. Chưa hết, thầy Võ còn cầm nhiều nén nhang đang cháy đỏ rực gí sát vào mặt "bệnh nhân" huơ qua huơ lại. Thầy ngậm nước, phun phì phì vào đầu, vào mặt "bệnh nhân", miệng nhắc đi nhắc lại: "Chịu buông tha cho người ta nghe mày. Chịu không? Chịu không?". Đồng nghiệp của tôi giả bộ ú ớ gật đầu, thầy liền gọi tôi và vợ chồng một bệnh nhân khác đến chứng kiến cảnh "con ma" đã chấp nhận lời hứa trả xác. Thầy hỏi: "Mày có chịu buông xác người ta ra không? Chịu hả. Chắc chưa. Trong vòng ba ngày phải buông xác người ta ra, không thì chết mẹ mày với tao. Đ.M. mày. Tao ghét thứ này lắm! Buông xác ra cho ta, nghe chưa...". Sau đó, thầy dùng một sợi dây màu vàng, đỏ bảo đó là bùa và đeo vào cổ "bệnh nhân". Xong thầy tiếp tục bắt đồng nghiệp của tôi quì lạy xin lỗi thân chủ - là tôi - và bàn thờ nhà thầy. Rồi thầy tiếp tục đấm như trời giáng vào vai "bệnh nhân", khiến đồng nghiệp của tôi ngã quay lơ, bật ho vì tức ngực. Trước khi chúng tôi về, thầy Võ khuyên: "Về nhà không được cho uống thuốc nữa, không cho nó cởi dây bùa ra. Vô nước biển ngay cho mát. Nội trong đêm nay phải canh nó. Những dụng cụ như dao, búa... đem để chỗ khác. Có thể nó chết do nó tự vẫn vì con ma biết không dùng được xác nữa nên giết chết". Ảnh hưởng tinh thần, thể xác Bác sĩ Đào Trần Thái - chủ nhiệm bộ môn tâm thần Đại học Y dược TP.HCM - cho biết thực tế có không ít người nhà đã đưa bệnh nhân đến các thầy lang, thầy bùa điều trị kiểu như vậy. Theo bác sĩ Thái, kiểu chữa bệnh kỳ quái này vẫn tồn tại là do bệnh nhân tâm thần thường phải điều trị lâu dài, nhất là với loại bệnh tâm thần phân liệt. Ngoài ra, triệu chứng của người bệnh tâm thần phân liệt nhiều lúc giống như "thần bí”, có những biểu hiện, hành vi hoang tưởng kỳ quái, người ngoài nhìn có cảm giác như có ai đó "nhập" vào người bệnh. Bệnh nhân luôn nghe tiếng nói của ai đó trong tai mình. Vì vậy, nếu không hiểu biết, gia đình rất dễ đưa người thân đến những "thầy bùa, thầy ngải". Người bệnh tâm thần phân liệt hay lên cơn kích động với người thân nhưng lại thường "dễ bảo" và luôn ngoan ngoãn làm theo yêu cầu của nhân viên y tế hoặc người ngoài. Vì vậy, khi người nhà đưa bệnh nhân đến "thầy bùa, thầy phép" nào đó để dọa dẫm hoặc đấm, đá thì người bệnh ngồi êm ru. Có khi bệnh có vẻ giảm do bệnh nhân sợ nên người nhà lầm tưởng thầy "mát tay" chữa lui bệnh và nghe lời thầy không cho bệnh nhân uống thuốc. Theo bác sĩ Thái, người bệnh tâm thần thường có nhân cách và thể chất yếu, nếu bị "điều trị” theo kiểu đánh đập thì không chỉ gây chấn thương về thể xác mà còn gây thêm chấn thương về tâm lý nặng nề hơn, khiến bệnh khó điều trị và dễ tái phát hơn. Người bệnh sẽ không phân biệt được đâu là bác sĩ, đâu là ông thầy lang đấm đá mình. Sau này khi người nhà muốn đưa bệnh nhân đến bác sĩ điều trị sẽ càng khó khăn hơn vì bệnh nhân không hợp tác, sợ bị đánh. Lập hồ sơ quản lý "thầy" Qua tìm hiểu, thầy Võ có tên thật là Cao Ngọc Võ, 50 tuổi. Trước đây thầy làm công nhân ở một nhà máy sản xuất giấy tại Thủ Đức, sau đó nghỉ ở nhà làm ruộng. Hiện thầy không có nghề nghiệp gì và thường "lên đồng, lên cốt" để chữa bệnh tâm thần. Người dân ở khu vực xung quanh nhà thầy cho biết họ thường xuyên nhìn thấy cảnh thầy đấm, đá người bệnh rất kinh khủng nhưng họ không dám can thiệp. Thiếu tá Phạm Đức Liêm - trưởng Công an P.Linh Xuân, Q.Thủ Đức - thừa nhận đúng là ông Võ có hành nghề chữa bệnh mê tín dị đoan từ năm 2004. Công an phường có biết và thường xuyên giám sát nhưng lâu lâu ông vẫn lén lút nhận điều trị bệnh nhân theo kiểu mê tín dị đoan. Khi nhận được tin báo của PV Tuổi Trẻ, Công an P.Linh Xuân đã mời ông Võ lên làm việc, yêu cầu viết bản tường trình và lập hồ sơ quản lý. Trong bản tường trình, ông Võ cam kết không tái phạm và thừa nhận có xán người bệnh vài bạt tai, không gây thương tích gì. Trong quá trình "điều trị”, thầy cũng chỉ thắp nhang chứ không lên đồng. Theo Tuoitre Online
-
Nguồn: http://www.cinet.gov.vn Lần đầu tiên với... festival "lên đồng" !06/10/2006, 15h31 "Tháng Tám giỗ Cha"... Người "Cha" đó là Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, được nhân dân tôn xưng là "Đức Thánh Trần". Tháng 8 Âm lịch hằng năm, tại Côn Sơn - Kiếp Bạc, nhân dân lại biểu thị lòng tôn kính Ngài bằng nghi lễ hát văn Hầu Thánh linh thiêng. Sau một thời gian dài gián đoạn, ngày 7-10 năm nay, lần đầu tiên Liên hoan diễn xướng dân gian Hầu Thánh sẽ được Bộ VH-TT chỉ đạo tổ chức công khai và bài bản tại đây... 1. Là một loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linh thuộc về dân gian có từ lâu đời, nghi lễ "Hầu Thánh lên đồng" có ý nghĩa tôn vinh các nhân vật lịch sử cùng với công trạng của họ dưới hình thức diễn xướng có nghi lễ và hát văn.... Tuy nhiên, có một thời gian dài do hoàn cảnh đất nước chiến tranh, điều kiện kinh tế xã hội chưa cho phép, cho nên nó chưa trở thành một hoạt động bình thường trong đời sống lễ hội ở Việt Nam. Ông Nguyễn Khắc Minh, Trưởng ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết: "Năm nay là năm đầu thực hiện "Đề án Lễ hội" đã được UBND tỉnh Hải Dương phê duyệt nhằm nâng cấp lễ hội này thành lễ hội quốc gia. Do đó, việc tổ chức thử nghiệm festival Hầu Thánh nhằm khẳng định bản sắc độc đáo của Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc. Đồng thời, qua mẫu hình Hầu Thánh được tổ chức có bài bản, có hướng dẫn sẽ hạn chế những yếu tố mê tín dị đoan, những mặt tiêu cực của nghi lễ này. Phần liên hoan Hầu Thánh có sự phối hợp nghiên cứu chỉ đạo của Viện Văn hóa, Bộ VH-TT. Kịch bản và đạo diễn lễ hội do Viện Văn hóa đảm nhiệm". Theo ông Minh, điều lo lắng nhất là Lễ hội mùa Thu và những nét mới như vậy chắc chắn sẽ thu hút nhiều người quan tâm, vì vậy, khách về hội có thể quá tải. Chính vì thế, tại Kiếp Bạc - Côn Sơn những ngày chính hội, công tác an ninh trật tự được chú ý tăng cường để bảo đảm lễ hội lành mạnh, trang nghiêm... 2. Đối với Hầu Thánh lên đồng , yếu tố chủ đạo là nghi thức nhập hồn của các vị thần linh vào ông đồng, bà đồng. Nhưng để thể hiện nghi thức ấy, cần có môi trường cho hoạt động diễn xướng. Ấy là không gian thờ cúng trang nghiêm, tại các đền, điện... Các bàn thờ phải được trang trí rực rỡ màu sắc, với những đồ thờ cúng sang trọng. Bên cạnh đó còn có âm nhạc, hát văn, múa đồng để làm nền cho lễ nghi tín ngưỡng. Một giá đồng thực sự là một sân khấu dân gian đặc thù, một sân khấu tâm linh, một kiểu sân khấu còn ở dạng "nguyên hợp" giữa các yếu tố nghệ thuật và tín ngưỡng... âm nhạc, hát văn và múa thiêng không thể tách rời nghi lễ nhập hồn. Người trình diễn, và người xem như là nghệ sĩ và khán giả vậy. Sự hứng khởi của người xem tác động không nhỏ đến tâm lý người hầu bóng, tạo nên sự giao tiếp đồng cảm vừa tâm linh lại mang tính nghệ thuật. Liên hoan Diễn xướng dân gian Hầu Thánh từ 15 giờ đến 23 giờ ngày 16-8 Â.L (tức ngày 7-10) với sự tham gia của các đoàn đến từ nhiều địa phương như Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định... Tiếp theo đó sẽ là Lễ Ban ấn từ 23 giờ ngày 8-10 đến 2 giờ ngày 9-10... Lễ hội sẽ kéo dài đến 12-10. Việc nhân thần hóa và lịch sử hóa các vị Thánh Tứ phủ dược phản ánh trong các bài văn chầu kể lai lịch, sự tích liên quan đến các huyền thoại truyền thuyết về cuộc đời, sự nghiệp của các vị tiên hiền... Lòng yêu nước thông qua việc tôn vinh các vị thần đã được tín ngưỡng hóa, linh thiêng hóa. Tín ngưỡng tứ phủ thông qua đó khẳng định vị thế của mình về phía dân tộc, nhân dân, một thứ chủ nghĩa yêu nước đi vào thế giới tâm linh của con người... Nhiều vị thánh cũng là các nhân vật lịch sử: Quan lớn Tuần Tranh là danh tướng thời An Dương Vương. Ông Hoàng Bảy là quan triều đình trấn giữ vùng Lào Cai, Yên Bái. Ông Hoàng Mười là quan văn thời Lê trấn giữ vùng Nghệ An... Những vị thần tứ phủ có cả người các dân tộc vùng cao như Chầu Thác Bờ là phụ nữ Mường. Bà chúa Xứ là phụ nữ Chăm... Điều đó khẳng định định trong tín ngưỡng tứ phủ xa xưa người Việt Nam đã mang tinh thần đoàn kết, bình đẳng như một nhà, không hề có phân biệt đối xử hay kỳ thị... Hát văn hầu bóng là sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Ở đây yếu tố tín ngưỡng và văn hóa đan quyện vào nhau làm cho người dự cùng lúc đáp ứng được nhu cầu tâm linh và nhu cầu mỹ cảm thông qua hưởng thụ những giá trị văn hóa nghệ thuật của diễn xướng dân gian... Điều đó lý giải vì sao hầu thánh vẫn là sinh hoạt không thể bị loại bỏ khỏi đời sống hiện đại. Diễn xướng dân gian Hầu Thánh vẫn tồn tại trong dân gian và sẽ sai lầm nếu không có sự quan tâm của cơ quan chức năng. Tổ chức liên hoan Hầu Thánh ở Kiếp Bạc lần này có thể nói là một festival độc đáo để bảo tồn một di sản phi vật thể, đồng thời "gạn đục khơi trong" làm cho sinh hoạt này lành mạnh, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội... Q.T (Theo TT&VH)
-
Một góc nhìn từ đạo Cao Đài: Một Phương Trời Mới Nguyễn Tấn Hưng Phàm sinh ra làm người, hầu như ai cũng có một góc trong tâm linh có niềm tin mơ hồ vào thần quyền. Hễ tin tưởng đến thần quyền thì tin tưởng rằng ngoài cõi hữu hình là nơi chúng ta đang sống còn có thế giới vô hình. Và tương tự như vậy, hễ tin tưởng đến thần quyền thì cũng tin tưởng rằng ngoài thân xác hữu hình chúng ta đang đi đứng, nói cười, ăn ngủ v.v... còn có cái gọi là linh hồn vô sắc tướng. Mặc dù đã nói là tin tưởng, tức là đôi lúc không thể giải thích được, nhưng khoa học cũng đã từng chứng minh rằng... có thế giới bên kia mà bằng mắt phàm ta không thể nào, không tài nào nhìn thấy! Thật ra, cũng chẳng cần chi đến khoa học tân tiến hiện đại của thế kỷ 21, từ ngàn xưa, người ta đã chứng minh được sự hiện hữu của thế giới bên kia bằng cách tạo mối liên lạc giữa hai thế giới hữu hình và vô hình. Mối liên lạc dễ hiểu, dễ nhận hơn hết có thể nói là: sự cầu cơ và sự lên đồng. Cầu cơ có nhiều cách. Cách dễ nhứt mà ngay từ hồi còn nhỏ chúng ta thường làm là cắt miếng ván (lựa ván hòm từ các mả lạn thì tốt hơn, theo kinh nghiệm) hình trái tim để lên trên một mảnh giấy có viết sẵn các mẫu tự ABC... và năm dấu sắc huyền nặng hỏi ngã trên một vòng cung hình bán nguyệt. Cộng thêm hai chữ "Thăng", "Giáng" phía bên dưới là xong. Kinh cầu cơ cũng có nhiều bài, hoặc như bọn nhỏ tôi ở những năm đầu thời trung học, vẫn lấy một đoạn trong "Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh" của cụ Nguyễn Du làm lời cầu mời: Mỗi người một nghiệp khác nhau Hồn xiêu phách lạc, biết đâu bây giờ Hoặc hồn ẩn dọc bờ, dọc bụi Hoặc hồn nương ngọn suối, chân mây Hoặc là bụi cỏ, bóng cây Hoặc là cầu nọ, quán nầy bơ vơ Hoặc hồn tựa Thần từ, Phật tự Hoặc hồn nương đầu chợ, cuối sông Hoặc là thơ thẩn đồng không Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre Mấy thu chịu nhiều bề thắm thiết Dạ héo khô, gió rét căm căm Dãi dầu biết mấy trăm năm Khóc than dưới đất, ăn nằm trong sương Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn Tắt mặt trời, lẩn thẩn dò ra Lôi thôi ẵm trẻ, dắt già Có khôn thiêng hỡi, lại mà chứng minh ... Lẽ dĩ nhiên, có thể đọc ra tiếng hay đọc thầm trong miệng cũng được miễn là niềm tin và lòng dạ của các người cầu cơ đang đặt ngón tay trỏ của mình lên hình cơ (ba, bốn hoặc nhiều càng hay vì điển càng mạnh, cơ chạy càng nhanh) có thành khẩn hay không mà Thánh, Thần (giả hay thiệt cũng khó biết) hay yêu, tinh, quỉ, ma... oan hồn uổng tử sẽ nhập vào... Cơ chạy vòng vòng rồi mũi cơ (chót trái tim) chốc chốc sẽ ngừng lại, chỉ vào từng mẫu tự một để mình ráp vần thành từng chữ mà hiểu cơ muốn nói gì... Ðó là cầu cơ ma! Còn các cách cầu cơ khác có tính chất thiêng liêng thường được áp dụng trong các hội thánh trên khắp thế giới, nhất là các hội thánh, thánh thất Cao Ðài, chưa hề thấy ngoài dân dã. Bằng cách kê một cái bàn con nghiêng nghiêng (hai chân cao hai chân thấp), để khi các đấng thiêng liêng, Trời Phật Tiên Thánh Thần, giáng điển thì sẽ nhắc hai chân thấp lên mà gõ xuống nền... Tùy theo ước hiệu, gõ 1 tiếng là A, hai tiếng là B, v.v..., mà ráp lại thành chữ. Hoặc cao hơn một bực là sử dụng "ngọc cơ" hoặc "đại ngọc cơ" (một cái giỏ tre đan có gắn ngòi viết hình con chim loan bằng cây ở đằng đầu) để cơ viết thẳng ra từng chữ một lên mặt kiếng có rải bột gạo, bột phấn hay tưới một lớp rượu mỏng... "Lên đồng" thì tùy theo căn cơ của "đồng tử" mà cũng chia làm hai thành phần. Một là đồng bóng của mê tín dị đoan ở các nơi cầu hồn, nhập xác trong thôn, xóm, nhà riêng mà các đồng cốt, bà bóng thường là kẻ phàm tục chẳng phải người tu hành. Ðiều này hầu hết chúng ta ai ai cũng đều, ít nhứt một vài lần, đã từng chứng kiến hay kinh nghiệm qua. Hai là "đồng tử thứ thiệt," không phải là một người con trai còn nhỏ, mà là những người đã trường chay, tuyệt dục, đạo hạnh cao... nam cũng như nữ, được các đấng thiêng liêng chọn lựa để dùng vào vai trò "thủ cơ chấp bút." Viết thẳng ra từng chữ (như trình bày bên trên) hoặc nói ra thẳng ra từng tiếng (dễ cảm nhận hơn vì không bị mất thời gian tính)! Và, trong trường hợp này, từ ngữ "lên đồng" không còn mang ý nghĩa thông thường nữa, mà phải hiểu là một "đàn cơ" với nhiều người có từng nhiệm vụ khác nhau như "Chứng đàn, Pháp đàn, Hộ đàn (tất cả mọi người tham dự), Ðồng tử, Ðộc giả, Ðiển ký...," v.v... Ðặc biệt, qua sự "cầu cơ" hay sự sử dụng "đồng tử" theo chiều hướng "huyền diệu thiêng liêng," kể từ năm 1926, trên mặt quả địa cầu này, toàn thể nhân loại trên thế giới có thêm một đạo mới: Ðạo Cao Ðài! Qua đức Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát, tá danh của đức Huyền Khung Cao Thượng Ðế, tức Trời nhưng vẫn thường hay xưng là Thầy! Và đương nhiên, riêng đối với người Việt Nam chúng ta, hầu như ai ai cũng biết qua cơ đạo này, không nhiều thì ít. Lịch sử thành lập đạo từ buổi sơ khai đến hồi phổ độ, truyền bá trong dân gian, và rồi chia chi lập phái... rất là dông dài nếu muốn đi sâu vào chi tiết! Nhưng, đại khái, bằng những lời cơ lúc nhặt lúc khoan, lúc như ra lịnh lúc như đùa vui, các vị Thần Thánh Tiên Phật và Thầy đã dìu dắt và chiếm trọn lòng tin của mười hai đệ tử đầu tiên, toàn là những người học thức cao, có địa vị trong xã hội đương thời. Tên của mười hai vị này được lồng trong ba câu đầu (viết chữ hoa) của bốn câu thơ: CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành HẬU ÐỨC TẮC CƯ thiên địa cảnh HƯỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh... Ba vị sau trong câu cuối, mặc dù không có mặt trong buổi cầu cơ này, nhưng Thầy đã cho biết trước rồi họ sẽ có dịp "nhập cuộc" ở những ngày sắp tới trong một tương lai gần. Và, qua kinh nghiệm của vị đệ tử đầu tiên CHIÊU, ngài NGÔ VĂN CHIÊU, Thầy còn dạy thờ thánh tượng Thiên Nhãn với ngụ ý như sau: Nhãn thị chủ tâm Lưỡng quang chủ tể Quang thị thần Thần thị thiên Thiên giả ngã giả Tạm hiểu là... mắt làm chủ cái tâm, hai luồng sáng làm chúa tể, ánh sáng là thần lực, thần lực là thiên lực, thiên lực là ta, tức Trời, tức Thầy... Ðó là chuyện xa xưa đã 76 năm qua, ngày nay vào thời buổi 2002, nếu ai có "computer" và hay "surf the net," muốn tìm hiểu điều gì về Việt Nam, chỉ cần "search" (qua Yahoo.com hoặc Google.com chẳng hạn) chữ "Viet Nam" không dấu là có đủ mọi thứ, từ ăn chơi đàng điếm cho đến tu tâm dưỡng tánh... đều được trình bày, bàn thảo công khai bởi người Việt lẫn người ngoại quốc, mặc sức mà nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi... Hiển nhiên, trong khi "search" chữ "Viet Nam" sẽ có "Du Lich Viet Nam"! Và trong "Du Lich Viet Nam", ngoài Huế, Sài Gòn, Hà Nội..., ngoài vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, China Beach (ở Ðà Nẵng, vùng Ngũ Hành Sơn), Nha Trang Beach, v.v... ta lại thấy địa phận tỉnh Tây Ninh với Thánh Thất Cao Ðài được vẻ kiểu, xây cất do lời chỉ dạy của Bề Trên qua cơ bút, hiện ra như một kỳ quan thế giới cho mọi người cùng chiêm ngưỡng, nhất là đối với người ngoại quốc... Rồi trong chữ "Cao Dai" hay "CaoDai" lại có thêm "Caodai.com," "Caodai.net," "Caodai.org," v.v..., nói chung, Cao Ðài Mỹ, Cao Ðài Canada, Cao Ðài Pháp, Cao Ðài Ðức, Cao Ðài Úc Châu, v.v... lần lượt hiện ra, mỗi nơi mỗi vẻ, ôi thôi muôn hình vạn trạng! Mà, tình cờ, trong một ngày đẹp trời hôm đó, tôi có dịp lướt qua! Ðể rồi sau cùng tôi dừng lại ở "homepage" Thiên Lý Bửu Tòa * , vì nơi đây có mục... "thỉnh kinh miễn phí" xem ra rất phù hợp với tánh của tôi là thích đọc kinh, sách cầm trên tay hơn là đọc trên NET! Download và in ra cũng được nhưng... hơi phiền toái và không đẹp đẻ cho lắm! Well, nói theo đạo Phật thì có lẽ do thập nhị duyên sanh, còn nói theo đạo Cao Ðài thì có lẽ do... thiên cơ dĩ định, vì tôi cũng cứ đinh ninh rằng Thiên Lý Bửu Tòa lại là một chi phái nào đó mà mình chưa biết, chưa từng nghe qua, ai ngờ..., lại hai chữ ai ngờ, đây là nơi Thầy và các chư Phật, Tiên, Thánh, Thần... về cơ trở lại. Ở San Jose ngay trên xứ Mỹ văn minh tột cùng này mới là điềm lạ, điềm lành cho nhơn loại, chúng sanh. Ðể Thầy mở Ðệ Nhị Thiên Khai, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ ngoài xứ Việt Nam thân yêu của chúng ta. Bên ngoài xem ra không có gì bề thế nhưng bên trong lại tiềm ẩn nhiều điều đáng nói, đáng nêu! Quả đúng là "chùa rách có Phật vàng," như chính Thầy đã ban: Bửu-tòa CAO chẳng mấy thước đo, Thiên-lý ÐÀI Tiên ý chẳng dò, Chùa rách THƯỢNG Nguơn nhồi Ðức-Thánh, Phật vàng ÐẾ Ðạo dựng nền Nho. Thì ra cơ Trời vẫn luân chuyển, máy Tạo vẫn vần xoay... như đã "tiên tri" trong kinh sách, rằng Ðạo Cao Ðài sẽ lan truyền khắp năm châu bốn bể. Trong âm thầm, lặng lẽ nên ít người để ý tới. Trong số đó có tôi. Ngoại trừ những ai có căn cơ tiền kiếp, sớm tìm ra lẽ Ðạo (vốn không là món hàng rao bán vì Trời Phật vốn chẳng phải con buôn - Thánh Ngôn Hiệp Tuyển), chớ còn hầu hết chúng ta ngay từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành, đã bị dồn dập cuốn lôi vào dòng đời phong ba bão tố, mạnh được yếu thua. Bằng những học tập nhồi nhét kiến thức vào đầu, hầu làm hành trang để bương chải tìm kế sinh nhai. Lắm khi chẳng còn thì giờ nhìn lại những đoạn đường đã đi qua. Ðến lúc giựt mình tỉnh ngộ thì bóng xế, chiều tà. Mới chợt nghe văng vẳng bên tai tuồng như tiếng kêu thảng thốt của Phật Trời hằng bao năm qua đang từ xa vọng lại: Hảo Nam bang, hảo Nam bang! Tiểu quốc tảo khai hội Niết bàn... Mà, nương vào biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại đó, người Việt chúng ta tự cảm thấy, không ít thì nhiều, hãnh diện về đạo đức, căn cơ của dân tộc mình, xứ sở mình. Vũ trụ, vạn vật luôn luôn đổi thay và mỗi người chúng ta, do thời thế đẩy đưa, thường hay bắt gặp những hoàn cảnh mới, những hạnh ngộ mới, những vận hội mới... như những khúc quanh lịch sử của cuộc đời, để có thể tạo nên những cơ nghiệp mới. Nhưng, theo thiển ý của riêng tôi, việc bắt gặp... một phương trời mới, hướng ta về nơi nuôi dưỡng mạch sống tâm linh, mới là điều ta đáng quan tâm hơn hết... (Bài kế: Một vài điều đáng suy nghĩ)
-
Nhớ một bài thơ của Tú Xương Lên đồng Khen ai khéo vẽ sự lên đồng Một lúc lên ngay sáu bảy ông Sát quỉ, ông dùng thanh kiếm .. . gỗ, Ra oai, bà giắt cái .. . khăn hồng. Cô giương tay ấn, tan tành núi, Cậu chỉ ngọn cờ cạn rốc sông. Đồng giỏi sao đồng không giúp nước ? Hay là đồng sợ súng thần công ?