quangnx
Hội viên-
Số nội dung
110 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
1
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by quangnx
-
Đúng như niềm tin của anh Vô Trước, cả núi vấn đề đó có thể được giải quyết bằng chỉ hai nguyên lý mà thôi. Nhưng vấn đề dài hơi như vậy, anh Vô Trước đủ kiên nhẫn để theo không hì? Chưa kể nhiều đoạn phải lạm bàn đến chuyện Trời Đất rất không có lợi cho bản thân...!!! Không phải dọa đâu, chỉ mới viết vài dòng mà tôi đã cảm thấy bần thần rồi đấy... Lạm bàn chuyện Trời Đất, nói sai hoặc nói huề vốn thì không sao cả, nhưng nói mà lỡ đúng thì ép phê cuồn cuộn... Thôi ta chấp nhận cách lý giải của anh TS cũng tốt mà! Thân mến
-
Cám ơn Batin về tài liệu này! Tôi không thể tưởng tượng được một Paper nào về Lý học, trình bày theo format khoa học được chỉnh chu như vậy. Nhưng rất tiếc nếu gọi đó là "Toán học trong Chiêm tinh Trung Quốc (Chinese Mathematical Astrology)" thì không chuẩn tí nào. Thật "buồn cười" thế nào ấy...!!? khi người ta gọi đó là "Toán học". Đến đây, tôi hoàn toàn tin rằng: "người TQ (Hán) không phải là chủ nhân đích thực của Lý học phương đông".
-
Vô Trước và các bạn thân mến, Câu hỏi này thực sự thốn vì nó đã động đến một chủ đề quá lớn và quá rộng. Lớn thì bàn đến sự hình hành - sự diệt vong của Trời Đất, của Vũ trụ. Nhỏ thì nói về sự sinh thành - sự tiêu hủy của các đối tượng vi mô cơ bản nhất. Rộng thì luận đến mọi thứ quanh ta, kể cả thân-mệnh của sinh linh cũng như của mỗi chúng ta. Về phần "Rộng", mọi người đều biết, ít nhất chúng vốn là các quan sát thực tế trực quan của con người, có thể đây cũng là "cơ sở" để hình thành qui luật khả dĩ "ngoại suy", "nội suy" khi bàn đến phần "Lớn" và phần "Nhỏ". Nói đến "sinh" ta đã mặc định xét "thời gian" là có sẳn, tương tự nói đến "thành" ta đã mặc nhiên xem cái nôi "không gian" là có rồi. Vậy thì hai cái Pháp trừu tượng này sinh-diệt như thế nào, ta cũng phải xét đến để làm background xét mọi cái "sinh-diệt" khác. Ta nói đến "vô thường" trên những cái đang tồn tại, trên sự thay đổi mang tính "nhân quả" để rồi chúng ta chỉ luôn có "cái hiện tại" là "cái thực"; "cái quá khứ" đã qua hay "cái tương lai" chưa tới dù sao cũng chỉ là "cái tưởng". Gọi là "duyên" hay gọi là "tương tác" thì chúng ta cũng phải chấp nhận đó là cái gốc của "vô thường". Nói đến tương tác, ta lại bàn đến động cơ và bản chất động lực của nó, tức là ta phải nói về năng lượng và nhất là phải làm sáng tỏ nguồn gốc của năng lượng dù được hiểu bằng thuật ngữ nào. Hàng núi những vấn đề như vậy, ta phải giải quyết cái nào trước đây? Thân mến
-
Rất cám ơn thịnh tình và nhiệt tình của Thiên Long. Bài viết trên, tôi ngụ ý rằng:"Hãy từ bi, và vì vậy phải hết sức cẩn trọng trong thuyết giảng hoặc thuyết pháp. Hơn nữa Tự giác - Giác tha không phải là việc tùy tiện, cũng phải tùy duyên. Hãy thuyết pháp chính mình, không được tự cho rằng Chúng sinh là u mê, hãy tâm niệm rằng Chúng sinh là Bồ tát, hãy tự giải thoát khỏi hết thảy các ý niệm, các từ ngữ dù là duyên hay pháp, dù là căn, trần hay thức. Được như vậy, Chúng sinh sẽ lĩnh ngộ, chân lý sẽ hiển hiện "không lời, không hình, không ý" - sự Giác Ngộ là vậy" Thân mến
-
Các bạn thân mến, tôi xin mạn phép bày tỏ đôi lời. Không rõ vì sao, khi tôi đọc những dòng được cho là lời Phật dạy dù chỉ là đôi dòng bất chợt thì tôi cảm thấy sáng ra, hoan hỉ và thấu đạt sự thật, thấu đạt chân lý. Nhưng khi đọc các lời diễn giải, dù là của Hòa thượng, dù là đã cố giảng giải cho thật dễ hiểu, thật hệ thống thì đôi khi tôi lại cảm thấy tối lại, ngao ngán và chơi vơi. Ví dụ, với các câu: - Tánh Không Duyên Khởi, Chân Không Diệu Hữu - Tánh Không là thể tánh của tất cả các pháp. Thể tánh của tất cả các pháp là không, do duyên hợp nên sanh ra muôn pháp. - Kinh Phật dạy thân này do tứ đại hoặc lục đại, thất đại hợp lại thành. - Phật dạy tất cả pháp không tự có, mà do duyên hợp mới thành. Bởi duyên hợp mới thành nên không một pháp nào tự có nguyên thể của nó, mà đều từ cái không, duyên hợp thành có. Duyên tụ duyên tán, thành có thành không. - Tánh Không duyên hợp mới thành tướng, duyên hết thì tướng phải mất. - Chân Không là Tâm thể của tâm - "Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật", chữ thiên này không phải trời, mà thiên là sẵn có. Tôi cảm nhận sự tường minh, hoan hỉ và an lạc rõ ràng khi đọc các lời này. Nhưng khi đọc các diễn giảng, ví dụ như: "...Tánh Không đó thế nào? Thí dụ đây là cái bàn, đây là hư không. Cái bàn là hữu, hư không là không. Cả hai đều không ngoài Tánh Không, nên biết Tánh Không không phải là hư không trống rỗng. Lâu nay trong nhà chùa thường nói thà chấp có bằng núi Tu-di, chẳng nên chấp không bằng hạt cải. Nghĩa là thà chấp cái gì cũng có hết, có tội, có phước, có thiện, có ác v. v… mà không sao. Còn chấp không dù chỉ bằng hạt cải cũng là họa, như không tội không phước v. v… Chúng ta nhận ra tướng có tướng không qua cái nhìn của mắt. Con mắt thấy đây là có, kia là không. Các tướng duyên hợp nên có hình có tướng, còn duyên chưa hợp là hư không trống rỗng nên nói không. Như vậy trong cái có không phải là thật có, trong cái không cũng không phải là thật không. Tại sao? Chúng ta cứ cho rằng cái bàn khít khao chặt chẽ, không có kẽ hở nên nói nó có, còn chỗ trống rỗng hoàn toàn không có gì cả nên nói nó không, nhưng sự thật không phải vậy. Nếu nhìn kính hiển vi, chúng ta sẽ thấy trong cái bàn vẫn có những kẽ hở trống, tức là cái không. Còn trong hư không có vô số bụi bặm vi trùng v. v… nhưng vì nó quá nhỏ nên tầm mắt chúng ta không thấy, rồi nói là không. Nên nói thật có thật không đều không đúng. Trong nhà Phật gọi thấy như thế là biên kiến, tức chấp một bên, không đúng lẽ thật. Hiện giờ đa số chúng ta đều nặng trên hình thức hoặc có hoặc không. Những hình thức nào mắt thấy được gọi là có, hình thức mắt không thấy được gọi là không. Nếu phân tích vi tế hơn, sâu sắc hơn, trong cái không vẫn có cái có, trong cái có vẫn có cái không nên cho rằng "sắc tức thị không, không tức thị sắc", nghĩa là trong hư không có bụi bặm tức là có cái có, trong cái bàn có những khoảng trống tức là có cái không. Trong con người chúng ta cũng vậy. Nếu từ đầu đến chân khít khao không có một chỗ hở trống thì chúng ta đã chết rồi. Hai lỗ mũi nếu không trống thì hết thở, miệng không trống thì hết ăn. Tất cả các cơ quan luôn luôn có cái không lẫn trong cái sắc. Ngược lại ngoài hư không, cái sắc cũng có trong cái không. Không với sắc lẫn lộn nhau nên Bát-nhã nói sắc tức thị không, không tức thị sắc là vậy..." Hay "... Từ cái không thô đối với cái có thô, chúng ta thấy được nên nói có, nói không. Đến cái không tế nằm lẫn trong sắc, hoặc sắc lẫn trong không, tuy mắt không thấy nhưng dùng kính hiển vi cũng sẽ thấy. Như vậy cái không, cái có đó đều là đối đãi từ hình thức, chưa phải "sắc tức thị không"..." ... Thì những cảm nhận rất đời lại ngự trị. Không biết có cách thuyết giảng nào khác không... Thân mến
-
Vâng, anh TS nêu rõ giúp em các đề mục anh quan tâm để em có thể chọn và gửi cho anh vì trong bài viết em cũng đã dẫn ra cũng hơi nhiều vấn đề và thực sự nó cũng hơi dài. Ah, sẳn đây em cũng nêu ra cho anh rõ những nguyên do mà em gọi là hạt sạn trong Tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" 1. Anh đã phê phán Thuyết Bigbang nói chung, nhưng nói đúng hơn, trong bài viết anh chỉ thực sự phê phán các ý tưởng về Bigbang của Hawking đã viết hơn 20 năm về trước trong các tác phẩm khoa học diễn nghĩa mang tính phổ biến kiến thức là "Lược sử thời gian", có thể anh đã tham khảo thêm các tác phẩm "Ba phút đầu tiên của Vũ trụ", "Đạo của vật lý", các bài viết của Trịnh Xuân Thuận cũng như các bài viết khác trên báo chí v.v... Anh có thể không đồng ý với nhiều luận điểm của các tác giả, nhưng việc anh phê phán nó không được hiểu là các phản biện khoa học về Mô hình chuẩn của Bigbang 2. Thuyết Bigbang kể từ khi Le Maitre đề xướng đến nay đã trải qua nhiều phiên bản khi cơ sở của nó được gắn kết với những hệ luận của Thuyết tương đối rộng kể cả các lý thuyết mới đậm đặc toán học hiện đại. Một khi mình không nắm trong tay các Lý thuyết nguyên bản hiện đại của nó, cụ thể là lý thuyết tiêu chuẩn về Bigbang, lý thuyết tương đối rộng, lý thuyết hấp dẫn lượng tử đương đại v.v..., nhiều khả năng đã rơi vào tình huống dở khóc dở cười là "mình đã phê phán chính cái mình đã tưởng tượng ra về nó". 3. Cho dù Mô hình chuẩn về Bigbang có những căn cứ thực nghiệm như bức xạ nền, dịch chuyển đỏ, nguyên tố nhẹ,... nhưng do chính sự hạn chế về "tầm ứng dụng" của các lý thuyết nền tảng như GR ở thang Planck cũng như các lý thuyết hấp dẫn lượng tử vẫn chưa được thực nghiệm xác minh, nên Mô hình chuẩn về Bigbang vẫn còn là một giả thuyết khoa học. Vì vậy theo em nói cho cùng, việc phê phán hoặc phản biện một "giả thuyết" là không thực sự cần thiết so với việc dẫn ra một học thuyết khác ưu việt hơn. 4. Với giả thiết :"Học thuyết ADNH là một TOE chân chính" thì nếu Bigbang là một học thuyết khoa học và đúng đắn thì nó tự nhiên là một phần của TOE, còn nếu không sau khi ta đã có một TOE khoa học thì tự nhiên Bigbang sẽ bị loại bỏ. Vì vậy, em nghĩ anh có thể trình bày mọi vấn đề về "Khởi nguyên", về "Thái cực" nhưng không nhất thiết phải đối đầu trực diện với một "giả thuyết khoa học" khác, cứ để sự cạnh tranh lành mạnh diễn ra. Sự đúng sai hãy để lịch sử phán xét. Tức là việc chỉ ra cái sai vẫn không thể sánh bằng việc nêu ra cái đúng và vận dụng cái đúng ấy một cách hiệu quả cho sự tiến bộ hài hòa của xã hội. 5. Em nghĩ sự minh triết và khoa học đỉnh cao sẽ gặp nhau ở học thuyết ADNH nên không cần phải vội vàng đề cập đến cái sai của Bigbang (nếu có) trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" , theo em hãy để sự minh triết ngự trị và tỏa sáng trong tiểu luận này, thuyết Bigbang có đúng hay không vẫn không cản trở việc cần thiết hơn là phải phục hồi các giá trị vốn có của học thuyết ADNH. Thân mến
-
Chào bạn Phât Sứ, những thắc mắc của bạn rất xác đáng, tôi xin giải đáp từng phần Sau khi kỷ băng hà lần cuối LGM trên Trái đất kết thúc hoàn toàn, các thềm lục địa bị chìm ngập đã chìm ngập và diện mạo bề mặt Trái đất không khác lắm so với hiện tại, thời điểm đó cách đây khoảng hơn 6000 năm một ít. Nhân loại bước vào kỷ nguyên hồi phục và phát triển thuận lợi cho đến ngày nay mà chưa gặp phải các đại họa mang tính toàn cầu. Các nghiên cứu và phát kiến trong giai đoạn này được tích lũy và nền văn minh hậu kỷ băng hà đang đạt đến trình độ của nền văn minh khoa học kỹ thuật như hiện tại, dĩ nhiên hiện tại đang là đỉnh cao nhất so với lịch sử tiến hóa của văn minh nhân loại trong suốt giai đoạn này là khoảng hơn 6000 năm. Khẳng định này hợp lý và khoa học nhưng không thể mở rộng đến hàng chục ngàn năm trước đó được vì sự tiến hóa của nền văn minh nhân loại không chỉ đơn giản là phát triển theo đường thẳng. Lịch sử tồn tại của loài người không ít lần đứng trước thảm kịch địa chất hoặc biến đổi thời tiết cực đoan đến mức gần như bị diệt vong. Cụ thể lần gần đây là vào khoảng 11000 năm đến 10500 năm, Trái đất ấm lên đột ngột dẫn đên sự chìm ngập của nhiều nơi. Kết quả là phần lớn Sundaland bị chìm ngập tách rời Indonesia khỏi đại lục Á-Âu, thềm lục địa Việt Nam bị chìm ngập dẫn đến việc biến khu vực Hải Nam thành đảo, biến khu vực đồng bằng sông Hồng rộng lớn thành Vịnh Hạ Long, Biển Đông tiến sâu vào đất liền khi dâng lên hơn 100m, khu vực mỏ Bạch Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long vốn là đất liền nay có mực nước biển khoảng 50m và cách xa bờ khoảng hơn 100km . Thềm lục đị phía đông Trung quốc, Hàn quốc,... cũng bị nhấn chìm biến Đài Loan thành đảo,...v.v... Vấn đề này bạn có thể tham khảo thêm các khảo cứu về Last Glacia Maximum (LGM) tại http://www.esd.ornl.gov.Tóm lại vì các tri thức về toán học, khoa học rõ ràng hiện nay vượt xa thời xưa nếu chỉ xét trong nền văn minh hậu kỷ băng hà nhưng các bạn hãy xét xem một khi cấu trúc toán học vượt trội như vậy hiển hiện trong các di sản phi vật thể để lại trong ADNH, Dịch lý, Tử vi,... và trong các di sản mang tính toàn cầu như các kim tự tháp, nhất là kim tự tháp The Great golden Pyramid,... làm sao có thể thực hiện được bởi những con người trong giai đoạn hậu kỷ băng hà vì đây không đơn thuần là kết quả của sự minh triết mà còn là khoa học, là toán học, là các lý thuyết KH có hiệu lực ứng dụng thực tế chứ không chỉ là các triết thuyết và vì khoa học đỉnh cao của loài người ở đầu thế kỷ 21 chỉ mới đủ tầm để NGỘ ra được vài điều về chúng. Một vấn đề khác cần lưu ý là suốt kỷ băng hà lần cuối (kéo dài khoảng 13000 năm) chỉ có 4 vùng xanh có sinh quyển để sinh sống và phát triển nền văn minh được của con người là khu vưc Đông Nam Á (chủ yếu ở Việt Nam bao gồm khu vực đã bị chìm ngập và Hoa nam có vĩ độ <35), khu vực Amazone, khu vực cận xích đạo của Trung-Bắc Mỹ và một phần rất nhỏ ở gần xích đao của Châu Phi (xem tài liệu về LGM). Hậu kỷ băng hà, sau thảm họa một bộ phận các tộc người còn sống sót thừa hưởng những mảnh vụn còn sót lại từ nền văn minh trước (được gọi là văn minh kỷ băng hà) sẽ phải có người Lạc Việt vì đây cũng chính là địa bàn cư trú của những con người của nền văn minh kỷ băng hà. Nói cách khác, các tri thức về ADNH, về Dịch lý, về Tử vi,v.v... đã được sáng tạo trước đó, những con người hậu kỷ băng hà chỉ thừa kế và họ gọi là các Thiên Thư là hợp lý và nếu lịch sử và lãnh thổ Văn Lang đúng như trong Đại Việt sử ký đã ghi thì người Hoa hạ phải là người đến sau qua nhiều ngàn năm nam hạ của họ. Cũng nên lưu ý thêm các học thuyết đầy đủ và khoa học về ADNH, Dịch lý,... sau đại họa tuyệt diệt sẽ không còn nguyên vẹn cũng như con người hậu kỷ băng hà không còn đủ khả năng lĩnh hội và vận dụng đầy đủ nên dần dà trở thành các triết thuyết và có dáng vấp như ngày nay. Nếu nói về khảo cổ, thì di sản vật thể có cấu trúc toán học rất cao được nhiều người quan tâm chính là kim tự tháp Great golden pyramid. Về di sản phi vật thể thì hấp dẫn hơn, đó là IFA, I Ching, Vedas, Mandala,... Chính vì cấu trúc toán học rất cao của chúng người ta đã nghĩ đến một nền văn minh toàn cầu cổ xưa. Bạn có thể google để đọc với từ khóa "The global early civilisation". Sau khi vận dụng các kiến thức khoa học hiện đại để tìm hiểu về các đối tượng trên, một số nhà khoa học lý thuyết đương thời (Frank T. Smith,...) đã mạnh dạn nhận định đó là những mảnh vụn còn sót lại của TOE (Theory of Evrything). Bạn đọc cuốn sách "Vodou Physics" sẽ có cái nhìn đầy đủ hơn về điều này. Con số 126 không phải là một hằng số vũ trụ, đơn giản nó là 126 root đỉnh của nhóm Lie ngoại lệ E7 - 133 kích thước, tức là 126 thành phần để mô tả đối tượng thuộc về nhóm này. Khi phát hiện ra sự tương đồng này cũng như khi liên hệ đến con số 78 của bài Tarot tương ứng với E6 - 78 kích thước tôi thực sự hết sức kinh ngạc, Chi tiết hơn, nhóm Weyl E6 có bậc 72 x 6! = 51,840 E6 - 78 kích thước có: Cấu trúc 28-kích thước của D4 = Spin(0,8) + U(1) và 8-kích thước phức của Spin(0,10) / (Spin(0,8) x U(1)) + U(1) và 16-kích thước phức của E6 / (Spin(0,10) x U(1)) Biên Shilov 16 kích thước thực liên hệ với 16-kích thước phức của E6 / (Spin(0,10) x U(1)) , theo nghĩa vật lý là KG 8 chiều của Fermion particles và KG 8 chiều của Fermion Antiparticles trong 1rst Generation. Nhóm Weyl E7 có bậc 64 x 9 x 7! = 2,903,040 E7 - 133 kích thước có: cấu trúc 28-kích thước của D4 = Spin(0,8) + U(1) và 8-kích thước phức của Spin(0,10) / (Spin(0,8) x U(1)) + U(1) và 16-kích thước phức của E6 / (Spin(0,10) x U(1)) + U(1) và 27-kích thước phức của E7 / (E6 x U(1)) Biên Shilov 27-kích thước thực của S1xE6/F4 liên hệ đến 27-kích thước phức của E7 / (E6 x U(1)) có ý nghĩa vật lý tương ứng với MacroSpace của ManyWorlds. Thân mến .
-
Các bạn thân mến, xuất phát từ học thuyết ADNH, Tử vi là một trong các phát triển ứng dụng vĩ đại của người xưa (ít nhất xưa hơn 6000 năm so với hiện tại). Chúng không phải là sản phẩm của một vài cá nhân nghiên cứu tự phát mà là thành tựu của cả một nền văn minh tri lý - theo tôi mức độ giác ngộ về thế giới, khả năng biểu diễn và trình độ toán học vượt hẳn chúng ta hiện thời. Tôi xin phép dẫn ra một vài "luận cứ mở" với hy vọng các bạn hãy dũng cảm từ bỏ định kiến về cái gọi là "người thượng cổ tất nhiên phải mông muội hơn chúng ta bây giờ" vì điều này không đúng!. Về Tử vi, thực chất đây là một thành tựu về sự vận dụng thành công toán học trong đời sống xã hội của người xưa được biểu diễn dưới những thuật ngữ có dáng vấp thiên văn chủ yếu vì bầu trời thiên văn vốn là một "bảng phân định thời gian" tốt nhất so với mọi loại đồng hồ hoặc bộ lịch nào. Thực vậy, ta hãy xem lại vì sao người ta xét đến con số 126 sao trong Tử vi? xin lưu ý với các bạn 126 chính là con số 126 root đỉnh của đại số Lie ngoại lệ E7- 133 chiều (126+7). Tương ứng với nó, với 126 root đỉnh ta có 126 thành phần đặc trưng sắp xếp, mô tả qui định bản thể của các đối tượng trong KG-7 kích thước. Kế đến, 126 sao trong Tử vi lại phân thành hai nhóm lớn là "78 sao thường + 48 sao đặc biệt". 48 sao đặc biệt gồm: 14 "chính tinh" + 4 sao "Tuần-Triệt" + 12 sao "vòng tràng sinh" + 18 "sao lưu động/sao có sao lưu động". Nhóm 78 sao thường (lưu ý con số 78 của bài Tarot) tương ứng với 78 root của đại số Lie ngoại lệ E6 - 78 chiều. Trong vật lý toán, E6 tương ứng với qui luật sinh fermion (vật chất) lần thứ nhất bao gồm electron, neutrino e và các quark u, d. Nhóm 48 sao đặc biệt lại tương đồng với 48 root đỉnh của đại số Lie ngoại lệ F4-52 chiều (48+4). F4 trong vật lý toán hàm chứa qui luật tương tác. Chi tiết hơn, trong Tử vi ta có đúng 14 chính tinh (lưu ý số cánh trong ngôi sao của Trống đồng cũng có 14 cánh) tương đồng với số 14 root của đại số Lie ngoại lệ G2 - 14 chiều. Trong vật lý toán, G2 mô tả tốt các lực tương tác ở cấp vi mô. Các nghiên cứu được công bố gần đây của G. Lisi về việc thống nhất các lực tương tác liên quan đến đại số G2 và F4 này. Con số 12 sao của vòng tràng sinh gắn kết 12 cung của Thiên bàn liên quan đến con số phân bố của 12 root đỉnh ngoài của E7, các bạn google để xem hình của E7 sẽ rõ điều này. Con số 18 "gồm 9 sao động và 9 sao có sao lưu động" có thể liên quan đến số phần tử của các ma trận hermitian octonionoc 3x3 của đại số Jordan J3(O) và J3(O)o. Ý nghĩa của các ma trận này phản ảnh phương thức tương tác, trong vật lý toán theo tôi chúng có ý nghĩa khá tương đồng với Hà đồ, lạc thư của Lý học. Tuy nhiên các con số của Lý học đã trở thành "lý số" nên tính bác học ở mức cực đoan của nó đã trở thành tính bình dân, đến mức chỉ cần làm phép tính +, - 1 chữ số cũng có thể "phán" được rồi... Cuối cùng, con số 4 sao "Tuần-Triệt" có thể liên quan đến đại số SU(2,2) phản ảnh tương tác cấp vĩ mô. Nhiều nhà khoa học đang cố gắng làm rõ tương tác theo hướng này. Tất cả sự liên hệ kể trên nhằm chỉ ra sơ lượt cấu trúc toán học trong hệ thống Tử vi, trong đó các cơ sở toán học hiện đại mà mãi cho đến gần đây con người mới bắt đầu nhận ra được ý nghĩa của nó. Với cơ sở toán học như vậy, các đối tượng toán học này rất khó ngay cả với các nhà khoa học hàng đầu, mới có chút hy vọng để tiệm cận được với cơ sở thực sự của Tử vi cũng như học thuyết ADNH. Vì vậy việc cho rằng các học thuyết này còn sơ khai và nhiều vấn nạn là hết sức chủ quan, trong khi trình độ cở bác học đương thời chỉ mới đủ để bước vào ngưỡng cửa đầu tiên. Tử vi chỉ là một ứng dụng, việc giới hạn qui luật tiên tri trong tầm E7 có ý nghĩa tích cực của nó vì sự tất định tuyệt đối không thể có và chưa bao giờ là điều tốt đối với sự tồn vong của mỗi con người. Nhân quả vẫn là qui luật xuyên suốt. Qua bài viết ngắn này, rất mong các bạn hãy thực sự trân trọng các di sản của Tiền nhân để lại cho dân tộc và nhân loại, hãy cố gắng học-học-học nhiều hơn nữa tri thức khoa học hiện đại để có thể thực sự hiểu được và để "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại" Thân mến
-
Chào Kaka, em biên soạn cẩn thận hơn nhất là các biểu thức toán. Em đưa nguyên xi các bài viết theo tuần của John Baez thật khó gây cảm hứng cho người đọc, có khi còn bị khó chịu. Em hãy viết theo ý em và nếu cần thì trích dẫn những đoạn thật súc tích, tốt nhất là có hình ảnh và số liệu tính toán minh họa. Tiếp thị thế này có nguy cơ bị phá sản mất... Thân mến