hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Cũng vậy, trong cuốn Chu Dịch cũng thể hiện sự đối xứng trung tâm của quẻ Bát Thuần Càn và Bát Thuần Khôn - thay vì Bát Thuần Tốn, sự chính vị cung Khôn, độ số 2, hành âm hỏa (tất nhiên, cần chứng minh). Cùng xem lại Thái Cực Đồ Thuyết: Cảo thơm lần giở, Liêm-Khê 濂 溪 tức Chu-Đôn-Di 周 敦 頤, tự Mậu-thúc 茂 叔 (1017-73) nói: "Vô-cực nhi Thái-cực无極而太極" (Vô-cực mà lại Thái-cực) và "Thái-cực bản Vô-cưc太極本无極" (Thái-cực gốc ở Vô-cực). Ông cũng nói: "Dương biến Âm hợp陽 變 陰 合" và “Vô-cực chi Chân, Nhị Ngũ chi tinh, diệu-hợp nhi ngưng 無 極 之 真 二 五 之 精 妙 合 而 凝” (Chân cuả Vô-cực và Tinh cuả Âm-Dương Ngũ-hành diệu-hợp mà ngưng-kết lại.) (Thái-cực Đồ-thuyết 太 極 圖 說 có đăng trọn bài trong Tống-Nguyên Học-án 宋 元 學 案, Tập Thượng, tr. 291-2). Đồ 5.09 lấy từ sách Hán Thượng Dịch-đồ cuả Chu Chấn (Tử-phát). Ông viết : "Trần Đoàn đem Thái-cực-đồ truyền cho Chủng-Phỏng, Phỏng truyền cho Mục-Tu, Tu truyền cho Chu Đôn-Thực tức Chu Đôn-Di (vì kỵ húy Tống Anh-Tông), Đôn-Thực truyền cho Nhị Trình Tiên-Sinh (Trình Hạo, Trình Di). Trong Hình 5.10, trích từ sách "Tính-lý Đại-toàn", Chu-tử viết: "Thái-cực-đồ là do Liêm-khê Tiên-sinh làm ra. Vòng tròn trên cùng diên-tả Vô-cực nhi Thái-cực. Kế đến, Hoàn-đồ nửa trắng, nửa đen mô-tả ý: Thái-cực động là dương, tĩnh là âm; vòng tròn nhỏ chính giữa là bản-thể cuả Thái-cực. Kế đến là Vô-cực chi Chân: cánh cung bên trái là dương-biến, cánh cung bên phải là âm-hợp; kế đến là ngũ-hành Kim, mộc, Thủy, Hoả, Thổ tương-liên : đó chính là nhị-ngũ diệu-hợp vô-gián cuả Vô-cực; bên dưới, vòng tròn lớn đầu tiên biểu-thị Kiền đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ (Thượng-Hệ, I/4); vòng tròn lớn thứ nhì biểu-thị vạn-vật hoá sinh (Hạ-Hệ, V/12). Ý muốn nói: nam nữ mỗi bên đều có Thái-cực riêng. Vạn-vật cũng vậy." Trương Huệ-Ngôn, trong "Dịch-đồ Điều-biện" bảo rằng : Hình 5.09 là nguyên-đồ cuả Chu Chấn, còn Hình 5.10 là do Chu-tử cải-định.
-
Không hiểu sao, nước Việt toàn sử "lạ" - rất quái NGUYỄN TRƯỜNG TỘ TRONG CHIÊU BÀI CANH TÂN Tác giả: Bùi Kha PHẦN HAI - Dựa vào các bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ và những sử liệu mà đa số là các tài liệu mật để nhận định tư tưởng chính trị và những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ qua ba bản Di Thảo quan trọng nhất nói trên. Chương 1 NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ VẤN ĐỀ CỘNG TÁC VỚI PHÁP. Một trong ba Di Thảo quan trọng nhất của Nguyễn Trường Tộ là bài Thiên Hạ Dại Thế Luậnmà qua đó chúng ta sẽ thấy sự sai lầm và hậu ý của Nguyễn Trường Tộ lúc ông kêu gọi dân Việt nam nên hòa và hợp tác với Pháp. Nhận định bản Di Thảo số 1 Thiên Hạ Đại Thế Luận (Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ). Viết khoảng tháng 3-4-1863. Chúng ta biết rằng Đà Nẵng bị mất ngày 1-9-1858 vì cuộc viễn chinh xâm lăng của quân đội Pháp do Đô đốc Rigault de Genouilly chỉ huy. Ngày 21-6-1859 triều đình đành phải chấp nhận thương thuyết với Pháp. Tháng 3, 1860 Pháp rút khỏi Đà Nẵng và vào Sài Gòn để chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Với Hòa ước 1862 giữa Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam, Pháp được thỏa mãn tất cả những gì mà họ đòi hỏi như : nhường cho Pháp ba tỉnh phía đông Nam Bộ: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường, thừa nhận quyền tự do truyền đạo của các phái bộ Gia Tô (Công giáo)... Tình hình dân Việt Nam lúc bấy giờ chia làm hai phe: Quần chúng thì chủ chiến, còn triều đình thì chủ hòa mà đứng đầu và tích cực nhất của phe chủ hòa nầy là Phan Thanh Giản. Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Trường Tộ viết bản Điều Trần số 1 Bàn Về Những Tình Thế Lớn Trong Thiên Hạ (Thiên Hạ Đại Thế Luận) gởi cho triều đình Tự Đức vào tháng 3-4 năm 1863. Lồng nội dung bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ vào tình hình chính trị và quân sự của đất nước lúc bấy giờ, chúng ta có thể đánh giá khá chính xác về tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ trong bài Điều Trần nầy. Nguyễn Trường Tộ viết: Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước ngoài xin đem những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự thế trong thiên hạ, mạo tội kính bẩm. Trộm nghĩ việc trong thiên hạ chỉ có Thế mà thôi. Chữ thế là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên người biết rõ thế thì không trái trời không mất thời, không hại người, không hỏng việc. Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo Hà đồ thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy. Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ Châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây Châu, không đâu là không bị họ chẹn họng bám lưng. Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở phía Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó. Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người Tây phương? Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được? Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương nhân số đến 360 triệu, uy thế lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời Minh về sau, người Tây phương vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau, thây chất thành đống, sau phải giảng hòa không biết bao nhiêu lần. Còn như ta là một xứ nóng, gần kề Quế Hải, là trạm nghỉ chân của người Tây phương trên đường sang Đông. Con giao long khi thấy đầm vực thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể nào chịu bỏ mà đi. Mới đây người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa quân tinh nhuệ xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ. Khi ấy giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không đánh nhau được với họ. Phàm việc binh cốt ở thần tốc, họ đã biết rõ rằng quân ta mới nghe thanh thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi". Nhận định về đoạn văn nêu trên của Nguyễn Trường Tộ. 1.- Tại sao Nguyễn Trường Tộ trốn ra nước ngoài? Nguyễn Trường Tộ đã phạm trọng tội gì đến nỗi phải trốn ra nước ngoài, trong lúc toàn dân đang cùng nhau nổi lên chống Pháp xâm lược để giữ gìn giang sơn? Nếu trả lời rằng vua quan nhà Nguyễn hẹp hòi, kỳ thị tôn giáo, giết người theo đạo Gia Tô thì phải tự hỏi tại sao tín đồ các tôn giáo khác ở Việt Nam thời bấy giờ, như tín đồ đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật, không bị giết mà chỉ có tín đồ đạo Gia Tô bị? Ngay cả tín đồ đạo Gia Tô thời đó, không phải ai cũng bị giết? Nếu không nói là chỉ có những người đạo Gia Tô làm Việt gian cho Pháp mới bị giết hay bị trừng phạt mà thôi, còn những người Gia Tô hiền lành vì dân vì nước đâu có bị nạn gì nguy hiểm mà phải trốn ra nước ngoài. Lịch sử đã cho thấy điều đó. Như thế Nguyễn Trường Tộ tự nhận là đã từng trốn ra nước ngoài ắt hẳn phải có lý do thật quan trọng mà chúng ta sẽ thấy trong bài viết nầy. 2.- Tàu diệt Việt, Pháp diệt Đông Dương Lúc viết Thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy. Theo nội dung và tư tưởng cũng như dụng tâm của Nguyễn Trường Tộ trong bài Di Thảo nầy, chúng ta có thể đoán mà không sợ sai rằng Nguyễn Trường Tộ muốn ám chỉ: Trung Hoa (thủy, phương Bắc) diệt Việt Nam (hỏa, phương Nam), và Pháp (kim, phương Tây) diệt Đông Dương (mộc, phương Đông), trong Đông Dương có Việt Nam. Nguyễn Trường Tộ dùng một định luật ngũ hành của Đạo Học đã được công nhận như một tiền đề để biện minh cho một lý luận chính trị. Nhưng thực tế sai lầm qua một số dẫn chứng sau đây: Thật vậy, nước dập tắt được hỏa, nhưng lửa cũng làm cho nước bốc hơi khô cạn sông ngòi. Kim và mộc cũng thế. Vàng sợ gì củi nhưng củi đun nóng cũng làm cho vàng chảy hết. Trên cơ sở sử học cũng thế. Đọc sử Việt chúng ta đều thấy Ngàn năm bị đô hộ giặc Tàu, nhưng nhân dân ta đã dũng mãnh nổi lên dành lại độc lập. Suốt thời Lý Trần, quân Nguyên Mông chiếm cứ cả thiên hạ, nhưng lúc qua Việt Nam họ không những thua trận một lần mà thua trận đến ba lần. Nhà học giả Phan Khôi nhận định nhận định: "... vào thuở nhà Lý nhà Trần đạo Phật tràn ngập cả nước. Chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như thời Lê trung hưng hay Nguyễn thống nhất là cái thời đại Nho học thịnh hành. Trái lại, nhà Lý, nhà Trần mạnh lắm, dân khí còn hăng lắm, mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi vịt (Dẫn theo Nguyễn Lang), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tập 3, Lá Bối xuất bản, Paris, 1985, trang 29). Một cuộc chiến thắng phương Bắc (Trung Hoa) khác, trước thời Nguyễn Trường Tộ, là vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đuổi 20 vạn quân Thanh về Tàu vào năm 1789. Đó là bằng chứng trong vô số chứng cớ qua lịch sử cho thấy làm gì có chuyện Tàu diệt Việt (Thủy diệt Hỏa) như Nguyễn Trường Tộ khẳng định. Và nếu Tàu diệt được Việt thì có lẽ không có được một Nguyễn Trường Tộ ra đời trên mảnh đất Việt để viết bài hù dọa đồng bào mình. Còn Kim diệt Mộc hay Pháp diệt Á đông trong đó có Việt Nam, là thêm một nhận xét khác thiếu cơ sở sử học của Nguyễn Trường Tộ. Qua lịch sử, chúng ta hẳn còn nhớ, lúc Pháp chiếm Việt Nam có một số không ít chạy theo ngoại bang rước voi dày mả tổ, nhưng hầu hết đại bộ phận dân tộc đã kháng Pháp quyết liệt dưới mọi hình thức, mọi phương tiện Người có dao, giết giặc bằng dao, có gậy chống giặc bằng gậy.. Toàn dân vùng lên chống Pháp, và trận Điện Biên Phủ năm 1954 đã kết thúc chính sách thuộc địa gần 100 năm của Pháp, và thực dân đã phải đầu hàng để trả lại chủ quyền đất Việt cho người Việt. Rồi đến cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc mà cuối cùng Hoa Kỳ cũng phải rời bỏ Việt Nam tháng 4, 1975, dẫu sự rời bỏ nầy dưới tình thế nào. Qua một số sử liệu, trích dẫn dưới đây, ta thấy nếu năm 1858 Pháp đánh Đà Nẵng và lúc Pháp mới chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1860 nếu triều đình Tự Đức không giảng hòa với Pháp, và hô hào toàn dân kháng chiến thì Pháp đã thua trận và rút về nước ngay từ đầu. Như thế không những không có sự lý luận hoang đường Kim diệt Mộc hay Pháp diệt Việt Nam mà trái lại, Mộc diệt Kimhay Việt nam diệt Pháp. Sau đây là dẫn chứng: a.- Ngày 4-1-1859 Đô đốc Rigault de Genouilly gởi cho viên Thượng-thư Bộ Hải Quân một văn thư bi thảm như sau: ... Quả thật tôi thấy cần thiết và hết sức đau đớn xác nhận với ngài về tình trạng tồi tệ về sức khỏe chung. Thiếu tá Levêque, Đại úy Hải quân Virot, phó kỹ sư Delautel đều đã đi Ma-cao và chắc phải đưa về Pháp. Tôi không biết phải đối phó thế nào với các lỗ trống đó. Mỗi ngày lại có nhiều người chết, và thời tiết xấu mà các nhà truyền giáo bảo là sẽ chấm dứt vào đầu tháng 12 vẫn tiếp tục với những trận mưa dầm dề không tưởng tượng nỗi. Chỉ nội sự kiện đó, ngài cũng có thể đánh giá về các tin tức đang đến với tôi về mặt này và lòng tin tưởng của tôi đối những cuộc hành quân phải thực hiện. Dù thế nào đi nữa, thưa ngài Thượng Thư, chúng ta đang nhanh chóng tuột dốc đến kiệt quệ và đến lúc phải bất động tại Đà Nẵng. Mọi phương cách để cải thiện tình trạng quân sĩ đều đã được sử dụng hết và không kết quả. Các y sĩ trước tình trạng bệnh tật đã kết luận là người Âu không nên làm việc gì trong khí hậu nầy, nhưng làm sao được khi ở đây, phải làm những việc cần thiết cho sự phòng vệ, xây cất bịnh viện, lều trại v.v... Đó là một cái vòng lẩn quẩn khiến chúng ta phải điên đầu. (Thư Khố Quốc Gia, tài sản Hải Quân, B 84769, dẫn theo luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần Christianisme et Colonialisme au Viet Nam 1857 - 1914 (Đạo Gia Tô và Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Tại VN, 1857-1914 Paris, France, 1968, bản ronéo, trang 108). Nguyên văn tiếng Pháp: ...Je dois en effet et bien malheureusement confirmer à Votre Excellence l'état déplorable de la santé générale. M. le Commandant Lévêque, M. le Lieutenant de Vaisseau Virot, M. le S. Ingénieur Delautel vont à Macao et devront être probablement renvoyés en France. Je ne sais plus comment faire face à tous ces vides. Chaque jour amène de nombreux décès et les mauvais temps, qui d'après les missionnaires, devaient finir avec le décembre, continuent avec une abondance de pluies qui dépasse toute idée. Par ce seul fait, Votre Excellence peut juger de la valeur des renseignements qui me viennent de ce côté, et de la foi que je puis leur accorder, pour les opérations à entreprendre avec la division. Mais quoiqu'il en soit, Monsieur le Ministre, nous descendons par une pente rapide vers l'impuissance radicale et le moment où il faudra demeurer immobile à Tourane. Tous les moyens d'améliorer la situation des troupes et des équipages ont été épuisés et sans succès. Les médecins vaincus par la maladie, arrivent à cette conclusion que les Européens ne doivent faire dans ce climat aucun travail, mais alors comment s'y établir, pourvoir aux nécessités de la défense, des constructions d'hôpiteaux, de baraques etc... C'est un cercle vicieux contre lequel on viendrait se briser la tête. (Archives Nationales (Fonds marine) BB4769 CHT, SĐS. trang 108). b.- Trước tình hình nguy ngập như trên, ngày 8-4-1859 một chỉ thị khác của Bộ Hải Quân và Thuộc Địa gởi cho Đô đốc R. de Genouilly như sau: Vì thế Hoàng Thượng tin cậy ở kinh nghiệm và sự sáng suốt của Ông trong mọi quyết định, với lực lượng dưới quyền Ông điều khiển, có nên theo đuổi việc thiết lập nền bảo hộ trên Vương quốc An Nam không; hay chỉ nên cưỡng bức Chính phủ họ, nhờ vào việc chiếm đóng Đà nẵng và nhiều cứ điểm khác mà Ông đã chiếm hay sẽ chiếm được. Cùng với việc phong tỏa một hay nhiều cảng ở Nam Kỳ để đi đến sự ký kết một hiệp ước trên nền tảng kế hoạch 25-11-1857; hay cuối cùng là chúng ta đành bỏ các vị trí mà chúng ta chiếm đóng và từ bỏ hẳn mọi mưu toan rõ ràng ngoài tầm các phương tiện hoạt động mà Ông có. (Chỉ thị của Thượng thư Bộ Hải Quân và Thuộc Địa 8-4-1859, Thư Khố Quốc Gia, Tài Sản Hải Quân, BB4 1045. CHT, SĐD, trang 118 & 119). Nguyên văn tiếng Pháp: Sa Majesté s'en rapporte donc à votre expérience et à votre sagacité pour décider si avec les forces placées sous votre commandement, il convient de poursuivre l'établissement de notre protectorat sur l'Empire annamite; s'il est préférable de se borner à peser sur son gouvernement par l'occupation de Tourane et de tels autres points dont vous avez pu ou vous emparer, ainsi que par le blocus d'un ou de plusieurs ports de Cochinchine, pour arriver à conclure un traité sur les bases du projet du 25 Novembre 1857; ou enfin s'il faut nous résigner à abandonner les positions que nous occupons et à renoncer complètement à une entreprise, décidément hors de proportion avec les moyens d'action dont vous disposer”. (Instruction du Ministre de la Marine et des Colonies 8-4-1859, Archives Nationales, Fonds Marine, BB4 1045). c.- Sau khi Phan Thanh Giản và Lê Duy Hiệp đại diện triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất 1862 với Pháp bị dân chúng lên án là hai kẻ phản quốc. Như thế triều đình Huế đã bỏ rơi phong trào kháng Pháp. Nhưng toàn dân Nam Kỳ đã kháng cự kịch liệt dưới sự điều khiển của Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Thủ Khoa Huân v.v... và đã làm cho quân Pháp vô cùng khốn đốn. Sau đây là một đoạn trong bản báo cáo của Bonard đề ngày 18-12-1862 như sau: Các tàu tôi hiện có, trừ hai chiếc Forbin và Cosmao, đều không thể ra khơi... Đoàn quân viễn chinh bị bệnh tật, chết chóc, sự giảm quân làm cho yếu kém, đang bị sử dụng quá sức: Tôi hoàn toàn bị tê liệt về các phương tiện hành động; tàu bè thì thiếu và bị hư... Tình trạng thảm hại đó nếu không sửa chữa sẽ đưa thẳng chúng ta đến một tai họa không xa! Tôi thấy có bổn phận phải báo cho ngài biết... Thật là đau đớn, sau bao cố gắng quá sức con người mà tôi đã làm từ 15 tháng nay, bây giờ thì mọi thứ đều phải xem xét lại, do sự bỏ rơi các vấn đề của Nam Kỳ... các cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổi lên khắp nơi... Tôi bị đẩy vào thế tự vệ, không có phương tiện để lập một đoàn quân chỉ 200 người... Tôi yêu cầu Đô đốc Jaurès gửi ngay cho một số viện quân. Nếu lực lượng tăng viện đến ngay, tôi có thể làm chủ được tình hình, nếu không thì đành bất lực. (Thư khố Bộ Ngoại Giao Châu Á, kỷ yếu và tài liệu, tập 28 trang 221-224. Dẫn theo CHT, trang 170). Nguyên văn tiếng Pháp: Les vieux bâtiments dont je dispose sont, à l'exception du Forbin et du Cosmao, incapables de prendre la mer... Le personnel du corps expéditionnaire affaibli par les maladies, les morts et les congédiements, est surmené: Je suis complètement paralysé dans mes moyens d'action; mes navires sont insuffisants et en trop mauvais état... Cet état déplorable, si l'on n'y porte un prompt remède, nous mène droit à une catastrophe qu'il est de mon devoir de signaler à Votre Excellence comme imminente... Il est pénible, après les efforts surhumains que je fais depuis 15 mois, de voir tout remis en question, par suite de l'abandon dans lequel sont laissées les affaires de Cochinchine... L'insurrection a éclaté partout à la fois... Je suis réduit à la défensive, n'ayant pas les moyens de former une colonne de 200 hommes... Je demande à l'amiral Jaurès instamment de m'envoyer quelques renforts. Si ces renforts arrivent promptement, je pourrai me rendre maitre de la position, si non, non”. (Dépêche du 10, 12, 1862, Archives du Ministère des Affaires Étrangères Asie, Mémoires et Documents, vol. 28, fol. 221-224). d.- Ngày 27-1-1863 Bonard cũng than thở: Lực lượng chúng ta giảm dần vì chết, vì bệnh, vì rút quân, đang bị đuối sức từng ngày, rõ ràng không thể tiếp tục trong sáu tháng một chiến trận như thế này. Chúng ta thiếu Bộ binh, thiếu Hải quân, thợ máy, phương tiện chuyên chở, tất cả trang bị Hải quân chúng ta hoàn toàn cũ mèm mà không có phương tiện sửa chữa; sự vận tải trên đất cũng thành vô hiệu, vì thiếu tài xế cho xe bộ binh, thiếu xe cứu thương, thiếu thực phẩm v.v... (Văn thư 27.1.1863 trang 295 và 318). Nguyên văn tiếng Pháp: Notre effectif réduit par les morts, les maladies, les évacuations est accablé de fatigue; chaque jour il diminue; il est matériellement impossible de continuer 6 mois une pareille campagne. Nous manquons d'hommes, de marins, de mécaniciens, de moyens de transport; tout notre matériel naval est complètement usé, et sans que nous ayons les moyens de pouvoir les réparer; les transports par terre sont aussi radicalement anéantis, faute de conducteurs pour le train d'artillerie, les ambulances, les vivres etc..." (Dépêche du 27-1-1863, fol. 295 et 318, CHT, SĐD, trang 170 & 171). Qua bốn chứng liệu của các viên chức cao cấp trong bộ Hải Quân và Thuộc Địa, chúng ta thấy rõ triều đình Huế đã không nắm vững tình hình của Pháp, bằng không, thì Pháp đã bị bại trận từ đầu. Trong lúc số phận của quân thực dân Pháp sắp cáo chung đến nơi, như chúng ta thấy ở trên, thì Nguyễn Trường Tộ lại viết: Nay các nước phương Tây, đã bao chiếm từ Tây Nam cho đến Đông Bắc,... ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa, ai hòa với họ thì được yên,... Từ đó, Nguyễn Trường Tộ dõng dạc khuyên dân Việt Nam: Huống hồ nước Việt Nam ta là một nước nhỏ bé, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được. Nói cách khác, theo Nguyễn Tr. Tộ, thuận với đạo trời (Thượng Đế, BK) thì nên dâng tổ quốc cho giặc Pháp, chống làm gì cho thêm họa. Nguyễn Trường Tộ còn viết tiếp: Con giao long (người Pháp, BK) khi thấy đầm vực (Việt Nam) thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể nào chịu bỏ mà đi. Câu quả quyết chắc nịch nầy của ông có một giá trị nào không? Qua vài dẫn chứng ở trên và sau nầy, và qua trận Điện Biên Phủ, 1954, chúng ta đã thấy được câu trả lời rồi. 3.- Lính Việt Nam hèn nhát, chưa đánh đã chạy. Nguyễn Trường Tộ đánh giá quân đội Việt Nam rất thấp lúc viết: Quân ta mới nghe thân thế họ đã phách lảng hồn xiêu rồi... ... Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa xáp trận mà gươm giáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước chảy xiết. Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi. Không biết Nguyễn Trường Tộ căn cứ vào đâu mà đánh giá quân đội ta một cách tồi tệ bi thảm hóa tình hình và quá sai lạc như thế. Sau đây là vài bằng chứng. Văn thư đề ngày 21-9-1859, Đô đốc R. de Genouilly viết: Càng đi sâu vào tình hình Vương Quốc An Nam, các bức màn càng vén lên, những lời khẳng định dối trá (của các giáo sĩ, BK) càng tan biến, không thể không thừa nhận rằng cuộc chiến tranh chống lại xứ nầy còn khó hơn cuộc chiến tranh chống lại thiên triều... Nguyên văn tiếng Pháp: ... à mesure que l'on pénètre dans la situation de l'Emprire annamite, que les voiles se lèvent, que les assertions mensongères disparaissent, il est impossible de ne pas reconnaitre qu'une guerre contre ce pays est plus difficile qu'une guerre contre le Céleste Empire. (Trích trong Dépêche de l'Amiral Rigault de Genouilly, Archives Nationals, Fond Marine # BB4 769: Dẫn theo CHT, trang 117-118). Bonard cũng lo âu kêu cứu: Người An Nam đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò, giờ đây họ tấn công chúng ta ngay những vị trí của chúng ta (Poyen - Notice sur l'Artillerie de la Marine en Cochinchine - Paris 1893 - tr. 81-82. Dẫn theo Thái Hồng trong Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước, SĐD, trang 263). Hai dẫn chứng vừa nêu, cho thấy sự đánh giá tệ mạt của Nguyễn Trường Tộ về tình hình chiến đấu của dân Việt Nam là hoàn toàn sai, và hình như có mục đích nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập của quân đội Pháp. 4.- Giết giáo sĩ, xin một miếng đất, nếu thỏa mãn Pháp sẽ đi. Nguyễn Trường Tộ viết: Hơn nữa, người Pháp đến đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các nước thường làm. Lúc đầu họ không có ý đi cướp nước người. Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn như đã ước định chứ đâu đến nỗi dây dưa lan rộng như thế. Cũng ví như nước lụt, người hiểu biết thì thuận theo thế nước mà cho chảy xuôi, để nước chảy về sông về biển thì hết, nếu ngăn đọng lại thì úng núi ngập gò, tắc lại thì trôi nhà trôi cửa. Cho nên người khéo trị lụt, thì việc làm hết sức đơn giản." Qua đoạn văn ấy chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ nêu ra mấy vấn đề: Vì sao giết giáo sĩ, sao không chịu giao thiệp, xin ta cắt cho một vài chỗ, họ không có ý đi cướp nước, nếu yêu sách thỏa mãn họ sẽ chấm dứt... Rồi Nguyễn Trường Tộ khuyên rằng, nay đã lỡ rồi, không nên cản ngăn cho sinh họa, nên buông vận mạng quốc gia cho Pháp: như nước chảy về sông về biển thì hết, ngăn lại thì úng núi ngập gò. Trước lúc đưa ra những dữ kiện để cho thấy cái sai lầm của Nguyễn Trường Tộ, tôi muốn dựa trên cái lý để nêu ra vài câu hỏi: Tại sao giáo sĩ bị giết? Quốc gia Việt Nam có hay không, quyền không giao thiệp, quyền không cắt nhượng giang sơn? Lồng các nhận định của Nguyễn Trường Tộ nêu trên vào khung cảnh nước nhà lúc bấy giờ, và trước lúc Nguyễn Trường Tộ viết bản Di Thảo nầy vào giữa năm 1863 các sử liệu sau đây cho thấy lý do tại sao giáo sĩ bị giết. 4.1.- Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) 1593-1660 đã có chương trình dẫn thực dân Pháp vào chiếm đất nước ta. Trong cuốn Hành Trình Và Truyền Giáo", trang 263 & 264, phần Việt ngữ. Hồng Nhuệ dịch, Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo xuất bản, TP Hồ Chí Minh 1994). Nguyên văn chính A. De Rhodes chứ không ai khác đã viết như sau: Tôi tưởng nước Pháp là nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn cõi Đông Phương đưa về qui phục chúa Ki Tô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó tôi rời Rôma ngày 11-9-1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo Hoàng. Tôi đi qua Marxây và Lyon rồi tới Paris, theo tôi thì Paris là thu gồm hay đúng hơn là bản mẫu tất cả những gì đẹp nhất tôi đã thấy ở khắp trái đất nầy. "Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của hoàng hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé này. Trong mười lăm ngày, tôi thấy nơi ngài rất nhiều nhân đức và thương yêu suốt đời tôi, tôi quí mến công ơn và sẽ đề cao hội ngộ may mắn nhất trong suốt các cuộc hành trình của tôi. Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất. Tôi nhận được vô vàn thư của các cha dòng chúng tôi tự nguyện xung phong trong đoàn binh vinh quang. Tất cả năm tỉnh dòng ở Pháp đều có nhiều người quảng đại ghi tên. Các ngài viết thư về Rôma, các ngài cầu nguyện, các ngài thỉnh cầu bề trên và bề trên đã chọn hai mươi người để trẩy đi trong ít ngày sắp tới... Nguyên văn tiếng Pháp: J'ai cru que la France estant le plus pieux Royaume du monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conqueste de tout l'Orient, pour l'assujettir à Jésus-Christ, & particulièrement que j'y trouuerois moyen d'avoir des Euesques, qui fussent nos Pères, & nos Maistres en ces Églises, je suis sorti de Rome à ce dessein le vinziesme Septembre de l'année mil six cents cinquante deux après avoir baisé les pieds au Pape. Je suis venu par Marseille, & par Lyon jusques à Paris qui est, à mon aduis, l'abrégé ou plutost l'original de tout ce que j'ai veu de beau dans tout le reste du monde. C'est en ce chemin de Lyon jusques à Paris ó j'ai encore experimenté vne sset très particulier de la Prouidence qui m'a toujours seruy de guide, & de mère, il me falloit pour paroistre en France, auoir vn Ange tutelaire, qui me donnast vne entrée fauorable dans la Cour du plus grand Monarque de toute la terre .J'eus la rencontre à Roiiane du Puy de Monseigneur Henry de Maupas Euesques, Abbé de Saint Denys, premier Aumônier de la Reyne, il eut la bonté de me tenir en sa compagnie, pendant ce petit voyage, je vis en ce grand Prélat pendant onze jours tant de vertus, & tant de bonté, que je cheriray toute ma vie le souvenir de son mérite, & seray estat que cette rencontre est l'une des plus heureuses de tous mes voyages. Je n'eus pas plutost publié cette belle Croisade, contre tous les ennemis de la Foy qui sont dans le Japon, dans la Chine, dans le Tunkin, la Cochinchine, & la Perse, qu'aussit-tost vn grand nombre d'enfants de Saint Ignace, animez du mesme esprit, qui a porté Saint Francois Xauier en trois cens Royaumesse sót embrazés de désir, pour prendre la Croix de leur maistre, & l'aller arborer à ces extremites de la terre. J'ai reccu vn nombre infini de lettres de nos Pères, qui me demandoient d'etre enrollez en cette glorieuse milice, toutes nos cinq Prouinces de France ont suplies de ces genereus pretendants, ils ont escrit à Rome, prié Dieu, solicité nos Superieurs, ils en ont choisi vingt entre plusieurs qui vont partir dans peu de jours. (Đây là loại tiếng Pháp thế kỷ 17). Đó là một bằng chứng rõ ràng mà chính Linh mục Dòng Tên A. de Rhodes xác nhận là chính ông ta đã vận động triều đình Pháp đánh chiếm Việt Nam. Chỉ với một thí dụ trên thôi, chúng ta thấy chính Đắc Lộ và ngay cả Giáo hoàng La Mã (người mà Đắc Lộ hôn chân trước lúc đi Pháp) đã âm mưu vận động chính phủ Pháp Cướp nước (chữ Nguyễn Trường Tộ dùng) Việt Nam từ năm 1625, tức là hơn 200 năm trước lúc Nguyễn Trường Tộ ra đời. 4.2.- Lời phê bình của Đô đốc R. De Genouilly: Để cho vấn đề được vô tư hơn, và để thấy ngay các hành động mà giáo sĩ đạo Gia Tô La Mã đã tác hại cho đất nước Việt Nam, xẩy ra lúc mà Nguyễn Trường Tộ vào khoảng 30 tuổi, chúng ta nên nghe lời than phiền của Đô đốc Rigault de Genouilly về hành động mà họ gọi là kẻ tử đạo. "Không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Gia Tô, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự, và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ (các giáo sĩ, BK). Nếu cũng vì những yếu tố buộc tội đó mà Giám mục Pellerin bị nhà cầm quyền An Nam trục xuất thì báo chí của người truyền đạo lại kêu la om sòm là họ bị bạo hành”. (Fut - elle au service de l'intérêt chrétien, ne pouvait tolérer leur intrusion permanente et insolente dans les affaires politiques, civiles et militaires qui ne sont et ne doivent pas être de leur ressorts. Si l'expulsion du Mgr Pellerin avait été prononcée, pour les mêmes chefs d'accusation, par une autorité Vietnamienne, la presse des missionnaires aurait crié partout persécution. (Văn thư 29-1-1859, dẫn theo CHT, SĐD, trang 113). Đó là hai dữ kiện lịch sử cho chúng ta thấy Giáo hoàng và các giáo sĩ có âm mưu gây tang tóc cho dân tộc Việt Nam hay không? Và qua sự kiện đó chúng ta cũng thấy được nguyên nhân của các vụ trục xuất và đàn áp giáo sĩ cũng như con chiên. Thế mà Nguyễn Trường Tộ, một nhà thông thái, đã thực sự không biết, hay muốn xuyên tạc lịch sử để nói rằng: Lúc đầu họ không có ý cướp nước người. Nguyễn Trường Tộ nhận định thêm rằng Nếu những yêu sách... được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn. Để đánh giá lời phát biểu nầy, chúng ta nên biết qua một vài sử liệu dưới đây: 4.3.- Bản tường trình của Đô Đốc Bonard: Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông ở Nam Kỳ là: Biên Hòa, Gia Định, và Định Tường, Việt Nam ký với Pháp Hòa-ước 1862, Đô đốc Bonard gởi cho chính phủ ông một bản tường trình bằng cách đặt bốn câu hỏi, mà câu hỏi thứ tư như sau: Bằng lòng với ba tỉnh đang chiếm được, tổ chức lại để đảm bảo an ninh và tự do buôn bán dưới ngọn cờ của nước Pháp ư? Đặt câu hỏi như thế, rồi chính Bonard tự trả lời câu hỏi ấy như sau: Giải pháp thứ tư, đòi hỏi phải có những hy sinh mới, nhưng có thể dẫn đến kết quả là tổ chức và xử dụng được cái xứ rộng lớn mà vũ khí đã may mắn đặt nó vào tay chúng ta. Những hy sinh nầy rất cần thiết để duy trì những ảnh hưởng tốt của chúng ta ở Viễn Đông, bằng không sẽ còn phải thêm bao nhiêu máu và tiền bạc, đổ ra nữa mà không có gì hy vọng trước mắt hoặc trong tương lai. Nguyên văn tiếng Pháp: "Se contenter des trois provinces acquises, les organiser, y assurer la sécurité commerciale sous le drapeau Francais?” “La quatrième combinaison exige de nouveaux sacrifices, mais elle peut amener à organiser et à utiliser le vaste pays que les chances de la guerre ont mis entre nos mains. Ces sacrifices sont indispensables pour maintenir très haut l'influence que nous avons conquise dans l'Extrême Orient, sous peine de voir tout les sang et l'argent dépensés venir s'ajouter à celui tout à fait perdu qu'il faufra pour subvenir aux demi-mesures, desquelles il n'y a rien à espérer ni dans le présent, ni dans l'avenir..”. (Trích trong “Correspondance de Cochinchine, Tom VI,pp. 130 à 147. Archives du ministère de la France - Outremer, Paris: Thư quan hệ giữa Nam Kỳ, tập 4, trang 130- 147. Lưu trử Bộ Ngoại giao Pháp, Paris. Dẫn theo Nguyễn Xuân Thọ trong cuốn Histoire de la Pénétration Francaise Au Vietnam" (1858-1897. Trung tâm văn hóa Linh Sơn xuất bản, Hawaii, 1993, trang 91-92). Qua ý kiến của Đô đốc Bonard như trên, chúng ta thấy Pháp thỏa mãn với Hòa Ước 1862 sau khi đã ký kết với triều đình vua Tự Đức, nhưng sau đó không lâu, tháng 6, 1867 Pháp chiếm trọn cả Nam Kỳ, Phan Thanh Giản tự tử. Đến ngày 20-11-1873, sau khi Nguyễn Trường Tộ chết khoảng 2 năm, Pháp lại chiếm luôn Bắc Kỳ, anh hùng Nguyễn Tri Phương bị thương và sau đó cũng uống thuốc độc tự tử. Như thế, lời khuyên của Nguyễn Trường Tộ: Nếu những yêu sách của họ được thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn là một đề nghị chỉ có lợi cho Pháp mà thôi. 5.- Chiến là đổ thêm dầu vào lửa, hòa là thượng sách Nguyễn Trường Tộ viết: Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy trù kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển. Không hòa mà chiến, khác nào cứu lửa đổ thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa. Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách. Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn dài. Nếu họ dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa sông lớn để triệt sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chận đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu, gấp rút truyền hịch khắp Nam Bắc, chiêu mộ bọn giặc cướp ẩn náu dùng làm bọn dẫn đường, thì thủy binh của ta sẽ trở thành vô dụng. Suy nghĩ về 2 đoạn trong bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ nêu trên, được gởi cho triều đình Tự Đức khoảng tháng 3-4,1863, và một tối hậu thư đề ngày 28-2-1863 của đại diện toàn quyền chính phủ Pháp và Tây Ban Nha gởi cho Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, chúng ta thấy có những ý tứ và những chữ dùng trùng hợp nhau như sau: Nếu chấp thuận (phê chuẩn hiệp ước) thì dân chúng và vương quốc An Nam sẽ không còn những khốn khổ. Nếu không, thì Vương quốc ông sẽ không còn nữa, vì điều đó sẽ dẫn đến sự tham dự của những người nổi loạn miền Bắc và sự chiếm đóng tức thời ba tỉnh phía Nam. Như thế vương quốc của ông sẽ mất đi cùng lúc cả Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Nguyên văn tiếng Pháp: Oui, c'est la fin des malheurs du peuple et du royaume d'Annam. Non, c'est la ruine de ce royaume, car il entrainera nécessairement l'assistance aux insurgés du Tonkin et la prise immédiate des trois provinces du sud: Votre royaume perdra donc, du même coup le Nam Ky et Bac Ky. (Archives du Ministere des Affaires, Asie, Mémoires et Documents, Tome 28, pp.403 - 404: Trích trong CHT, SĐD, trang 171. Thư khố Bộ ngoại giao, Á Châu, kỷ yếu.) Sở dĩ có sự hăm dọa như trên vì vua Tự Đức một mặt kiếm cớ trì hoãn sự phê chuẩn hiệp ước, mặt khác vận động chuộc lại các tỉnh đã mất. Như thế, Nguyễn Trường Tộ có đi đêmvới Pháp hay không? Quí độc giả đọc lại lời Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình và những lời hăm dọa hỗn xược của thực dân, như đã nêu trên, rồi tự tìm cho mình câu trả lời. 6.- Nên nhường đất cho lính nghỉ, giáo sĩ chỉ mở rộng đạo không tranh giành đất. Nguyễn Trường Tộ viết: Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi. Họ chỉ xin mình miếng đất mà thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết... Không thấy một nước Trung Hoa to lớn là thế mà còn phải cắt đất cầu hòa... Việc cống nạp của Tống (nước Tống bên Tàu thời xưa nộp tiền và hàng hoá cho nước khác, BK), tất cả đều lấy việc không đánh là hơn... Theo cách ngày nay thì nên để cho quân lính nghỉ ngơi, rồi làm theo chước Hán Cao Tổ ngày xưa cắt Quan Trung cho hạng Võ (*) để họ giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới... Còn như các giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm, chẳng liên quan gì đến những việc tranh thành tranh đất cả... Trong lúc Tổ-Quốc lâm nguy bị thực dân Pháp cướp nước, toàn dân nổi lên chống Pháp khắp nơi. Người có gậy đánh bằng gậy, người có dao chém kẻ thù bằng dao, người dân nghèo nàn đói khổ thì bỏ nhà ra đi bất hợp tác với quân xâm lăng, thế mà Nguyễn Trường Tộ khuyên quân lính nên nghỉ ngơi, không đánh, nhường đất để họ giữ bờ cõi cho mình... tôi xin nhường sự đánh giá này cho độc giả. Riêng phần tôi xin góp thêm hai ý kiến như sau: Một, qua các sử liệu mà chúng ta đã thấy, nếu triều đình vua Tự Đức biết được tình hình rối loạn của địch và thấy được thế mạnh của ta, thì quân xâm lược bị chôn xác xuống lòng đất ngay từ những tháng đầu của việc chiếm đóng. Hai, triều đình Vua Tự Đức muốn giảng hòa với Pháp khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất, nhưng vấn đề đó không thể thực hiện được một cách có lợi cho quốc gia Việt Nam, vì những kết quả tốt đẹp có được tại bàn hội nghị sẽ tùy thuộc vào những chiến thắng quân sự tại chiến trường. Còn không, thì Việt Nam là người đi xin mà Pháp là kẻ bố thí. Người xin chỉ được những gì mà người cho phế thải ra mà thôi. Thật vậy, trước lúc phái bộ Phan Thanh Giản vào Nam Kỳ để thương thuyết với Pháp, cuối buổi tiệc khoản đãi phái bộ trước khi lên đường, vua Tự Đức nói với các đình thần những lời cảm động như sau: Đất nước hôm nay đang bị dồn vào ngõ cụt khó khăn; muốn đưa nó thoát ra, chỉ có bàn tay của những người tôi trung tài năng và tận tụy. Có hai điểm cơ bản các khanh cần luôn luôn ghi nhớ: vấn đề nhường đất và vấn đề hành đạo Cơ Đốc giáo. Về hai điểm quan trọng hàng đầu ấy, các khanh đừng nhẹ dạ trong việc ký kết. Đừng vì một sự yếu đuối hay vội vàng nào đó mà làm thiệt hại đến vận mệnh và danh dự của cả giang sơn đang được giao phó vào tay các khanh. Các khanh phải xác định đinh ninh như vậy và dù bất cứ vì lý do nào và bất cứ giá nào cũng đừng đi trệch cái chương trình đã vạch. Các khanh đi! Và cầu cho những lời ước nguyện của Trẫm luôn luôn theo bước các khanh! Cầu mong cho các khanh được sớm trở về, đầy vinh quang vì đã bảo vệ danh dự của non sông và giữ gìn được sự vẹn tròn lãnh thổ. Đây là lời cầu chúc duy nhất của Trẫm cho các khanh trước lúc lên đường. Nhưng: Ngày 7. 6. 1862, các sứ thần Việt Nam rời Sài Gòn trở về Huế tường trình về nhiệm vụ của sứ bộ: Kết quả đáng buồn, chẳng đáp ứng được bao nhiêu với những ước vọng của nhà vua. Đất nước bị cắt mất ba tỉnh miền Đông: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, người Pháp bắt một nước đã bị xơ xác vì bao nhiêu nạn chiến tranh và chiếm đóng, phải trả một số chiến phí quá nặng nề: 4 triệu đồng bạc tức khoảng 2.800.000 lượng bạc. Sau nữa, là chuẩn y mười hai điều khoản liên quan đến vấn đề hành đạo Ki Tô và mở cửa đất nước cho việc buôn bán đối ngoại. Dĩ nhiên là trong bữa tiệc tiễn đưa sứ đoàn, tuy có vẻ lạc quan bên ngoài, triều đình chẳng ai hy vọng họ sẽ về với những thắng lợi lớn. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng họ sẽ ký kết một hòa ước tai hại như vậy. Tự Đức khi đọc văn bản hòa ướùc ấy chỉ còn biết thở dài: Than ôi! Nào Trẫm có làm nên tội tình gì cho đến nỗi nhân dân phải chịu một số phận tàn khốc đau thương như vậy đổ xuống trên đầu? Còn các khanh, những sứ thần khốn khổ, các khanh đã làm gì? Các khanh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình như vậy đó sao? Chao ơi! Các khanh không chỉ là những người mang trọng tội dưới triều đại của Trẫm mà các khanh sẽ phải chịu hậu quả nặng nề về tội lỗi của mình trước lịch sử muôn ngàn đời!. Nguyễn Xuân Thọ Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897), tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, 1995, trang 66, 67, 68). Do đó, ý kiến của Nguyễn Trường Tộ: nên cho quân lính nghỉ ngơi để Pháp giữ bờ cõi cho mình, là một ý kiến nhằm có lợi cho Tây. Riêng câu nói Còn như giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm, chẳng liên quan gì đến việc tranh thành tranh đất cả. Dưới đây tôi nêu ra hai thí dụ nhỏ trong muôn ngàn thí dụ để thấy cái sai lầm mà hầu như cố ý của nhà thuyết khách Nguyễn Trường Tộ. Một đoạn trong mật thư đề ngày 24-7-1862, Đô đốc Bonard gởi cho Chasseloup Laubat như sau: Ai (các giáo sĩ, BK) cũng ôm ấp lý tưởng trở lại thời kỳ mà Giá-mục Bá Đa Lộc được xem như ông vua thực sự của xứ An Nam, thời kỳ mà mọi việc chỉ có thể được thực hiện theo lời khuyến cáo của ông giám mục nầy, hoặc được ông cho phép. Để đạt mục đích đó, các nhà truyền giáo đã dùng kế hoạch sau đây: nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính chính thống của vua nầy, và khi lật đổ được triều đình hiện tại thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ. Nguyên văn tiếng Pháp: "Tous caressent l'idée de revenir au temp où l'Évêque d'Adran était le véritable souverain du royaume d'Annam, temps où rien ne se faisait que par ses conseils ou sa permission. Pour parvenir à ce but voici quels moyens ils ont employés: les unes et les autres, ne trouvant pas que les successeurs de la dynastie de Gia Long obtempérassent assez à leurs désirs, ont contesté la légitimité de ceux-ci et ont cherché à mettre en avant un candidat qui, s'il renversait la dynastie régnante, leur offrit plus de garanties pour arriver à leurs fins. (Trích trong Archives du Ministère des Affaires Étrangères, Asie, Mémoires et Documents, Vol, 28, Fol.85 - 88: Thư khố Bộ Ngoại giao, Á châu, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, trang 85-88. Dẫn theo CHT, SĐD trang 150). Đoạn thư của Bonard nói trên mô tả về âm mưu của các linh mục, giám mục người Pháp. Và một đoạn khác trong thư đó viết về hành động của các giáo sĩ dòng tu Đô-Mi-Níc người Tây Ban Nha như sau: Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha thường chiếm cứ nhiều vùng miền Thượng Du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn: hăng hái và quá cuồng tín, đa số trong bọn nầy phát xuất từ các đoàn du kích và phe Carlistes, họ rời bỏ Tây Ban Nha và sẵn sàng mang gươm, súng và thánh giá chữ thập dốc toàn lực tham dự vào các cuộc nổi loạn gây tai họa cho xứ Bắc Kỳ. (Quant aux Dominicains espagnols qui occupent généralement le haut Tonkin ils sont beaucoup plus ingouvernables: ardents et fanatiques au dernier degré, un assez grand nombre d'entre eux sortant des bandes de guérillas et de carlistes ayant abandonné l'Espagne portent assez volontiers le sabre et le mousquet avec la croix et sont mêlés, et de coeur et le corps, aux révoltes qui affligent le Tonkin. (CHT, SĐD, trang 152). Hai dẫn dụ nêu trên, đã cho thấy Nguyễn Trường Tộ bênh vực và đánh giá sai về vai trò của các giáo sĩ Công Giáo La Mã. Trên đây là vài nhận xét thuộc lãnh vực chính trị của Nguyễn Trường Tộ đối chiếu với các sử liệu chính xác không thể chối cãi. Những sai lầm nghiêm trọng, những lời khuyên, cố vấn và nhận xét hoàn toàn sai lạc về tình thế về lịch sử mà Nguyễn Trường Tộ viết trong bản Điều Trần, giả sử ông không có hậu ý giúp Pháp, thì ông cũng nên được lịch sử phê phán cho đúng mức vì đề nghị sai chỉ có lợi cho Pháp mà thôi. Sau đây là nhận xét về chương trình cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong lãnh vực có nhiều tính kinh tế qua một số bản Điều Trầnkhác. Đi từ nhận định rằng vai trò của kinh tế trong việc làm cho dân giàu nước mạnh, và rằng lúc quốc gia đã mạnh thì có thể giải quyết được mọi vấn đề. Và từ cơ sở Việt Nam là một nước nghèo nàn. Bộ máy hành chánh có thể hoạt động được chỉ nhờ vào các khoản thuế mà nhân dân đóng góp chứ không biết khai thác các nguồn lợi thiên nhiên như hầm mỏ, cây rừng, canh tác nông nghiệp và xử dụng máy móc để phát triển kinh tế. Từ đó, Nguyễn Trường Tộ viết một số bản Điều Trần để đề nghị công cuộc cải cách kinh tế. Bản Điều Trần số 5 Kế Hoạch Làm Cho Dân Giàu Nước Mạnh(Dụ Tài Tế Cấp Bẫm Từ) và Di thảo 27 "Tám Việc Cần Làm Gấp (Tế Cấp Bát Điều). Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LÀM CHO DÂN GIÀU NƯỚC MẠNH VÀ CỌNG TÁC VỚI NGOẠI BANG. Bản Di Thảo số 5 sẽ cho chúng ta biết ý tưởng của Nguyễn Trường Tộ về vấn đề làm cho dân giàu nưóc mạnh như thế nào. Nhận định bản Di Thảo số 5 Kế Hoạch làm Cho Dân Giàu Nước Mạnh. Cũng gọi là Lục Lợi Từ viết ngày 18-7-1864. Nguyễn Trường Tộ bắt đầu bằng ngững lập luận có tính truyền giáo sau đây: 1.- Tạo Vật (Thượng Đế) sinh ra vạn vật cách đây 7.000 năm. Nguyễn Trường Tộ rất khôn khéo khi, dùng chữ Tạo Vật thay chữ Thượng Đế để tránh màu sắc đạo Gia Tô, hoặc cách đây 130 năm người Gia Tô (*) Việt Nam thay vì gọi Thượng Đế họ gọi là Tạo Vật chăng? Mở đầu bản Điều Trần nầy, Nguyễn Trường Tộ lồng sự hiểu biết của mình vào Kinh Thánh: "... Tạo Vật sinh ra muôn vật để cho con người sử dụng mà không tiếc một thứ gì... Kể từ khi có loài người, loài vật đến nay đã gần 7.000 năm (bảy ngàn năm).... Đây không phải là bài viết về tôn giáo, nhưng vì ông Nguyễn Trường Tộ đã tin theo những điều sai lầm trong Kinh Thánh lúc nói rằng kể từ khi có loài người, loài vật đến nay đã gần 7.000 năm... và những sai lầm khác mà chúng ta sẽ thấy trong các bài Điều Trần có tính tôn giáo. Vì thế, tôi sẽ trích dẫn một số sai lầm trong vô số những điều phản tiến hóa, phản khoa học của Kinh Thánh để độc giả rộng đường dư luận, và đồng thời để thấy cái kiến thức của ông Nguyễn Trường Tộ đến đâu mà ông tự khoe là cái gì cũng có học hết. 1.1.- Con người và vũ trụ: Nếu dựa vào Kinh Thánh thì quả đất và con người do Thượng Đế tạo dựng cách đây từ 6.000 - 10.000 năm. (6 - 10 ngàn năm). Nhưng khoa học chứng minh rằng quả đất có hằng triệu năm về trước. Thái dương hệ cũng như sinh vật hiện diện trên quả địa cầu nầy được tóm lược như sau: - Thái dương hệ, gồm mặt trăng, mặt trời và quả đất... xuất hiện cách đây hằng tỉ năm. - Các sinh vật dưới nước như cá tôm... xuất hiện cách đây 600 triệu năm. Như thế thì Thánh Kinh đúng hay Khoa Học đúng? 1.2.- Nước đá, sấm chớp và mây: Theo Kinh Thánh, cuốn Gióp (Job), chương 37, đoạn 10 và 18, Chúa Trời mô tả về quyền năng của ngài như sau: Nước đá có được bởi hơi thở của đức Chúa Trời... Job, chương 37, đoạn 10. Ngài chứa nước đá trong mây và ngài giăng bủa các tia chớp. Nhờ Đức Chúa Trời dắt dẫn nên mây bay khắp tứ phương (Gióp, chương 37, đoạn 10-12). Mây làm những gì mà Chúa Trời biểu phải làm cùng khắp mặt đất" (Gióp, chương 37, đoạn 10-12). Nguyên văn Anh ngữ: By the breath of God frost is given: And the breath of the water is straitened. Also by watering he wearieth the thick cloud: he scattered his bright cloud: And it is turned round about by his counsels: that they may do whatsoever he commandeth them upon the face of the world in the earth. (Job, 37:10-12). 1.3.- Quả Đất đứng yên, mặt Trời chuyển động vòng quanh (Quả Đất). Đời nầy trôi qua, đời khác lại đến, nhưng quả đất muôn đời đứng yên. Mặt trời mọc, và mặt trời lặn, và rồi mặt trời di chuyển về chỗ cũ" (Kinh Thánh: Cuốn Truyền Đạo, Chương 1, đoạn 4 và 5). Nguyên văn Anh ngữ: One generation passeth away, and another generation cometh:but the earth abideth for ever. The sun also ariseth, and the sun goes down, and hasteth to his place where he arose.(Eclesiastes; or, The Preacher, 1:4-5). Thánh Kinh mô tả: nước đá, sấm chớp, mây, mặt trời, quả đất... sai lầm và nhảm nhí đến như thế mà ông Nguyễn Trường Tộ lại tin rằng Tạo Vật sinh ra muôn vật để cho con người xử dụng. Sau khi thuyết giảng một vài điều trong Thánh kinh chứa đựng những kiến thức sai lầm về khoa học, Nguyễn Trường Tộ đưa ra nhiều sự kiện sai về lịch sử rất có lợi cho ngoại bang: 2.- Tân thế giới: Cũng Di Thảo số 5 Nguyễn Trường Tộ viết: Cho đến thời Minh, bước tiến Âu Tây ngày một lên cao vùn vụt, đến nỗi không có chỗ để thử cái tài dũng của họ nữa. Do đó, họ chuyển dần về phía Tây, và bỗng nhiên tìm được Tây Châu (tức là Tân Thế Giới) và chiếm lấy làm đất của mình, khai thác vùng đất đai mấy ngàn năm hoang vu, cải tiến phong tục tập quán mấy ngàn năm hủ lậu. Lúc đầu người dân bản xứ còn xem họ như thù địch, dần dần đã chịu gần gũi và ngày càng trở nên thân thiết, những người dân ở đây đã học được hết những cái kỷ xảo của người phương Tây, cho nên không đầy 100 năm sau đã đuổi được người phương Tây ra khỏi đất mình. Những nước phụ thuộc phương Tây xưa kia nay trở thành những nước thân phương Tây. Các nước ấy đã nhờ phương Tây mà thay đổi những tập quán cũ để trở thành giàu mạnh, người phương Tây cũng nhờ vào nguồn lợi ở đó để chu cấp cho mình. Xưa thì nghiến răng căm thù, nay đã thành tình nghĩa anh em tốt đẹp bền bỉ (TBC, SĐD, trang 136-137). Vì giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ được nhiều người ca tụng là một nhà thông thái nên tôi muốn có vài nhận định tổng quát về đoạn văn nêu trên. Tân Thế Giới mà Nguyễn Trường Tộ muốn nói, là Hoa Kỳ ngày nay. Nếu đúng như thế, thì sự cấu tạo dân Hoa Kỳ, cách đây hơn 200 năm, không phải như Nguyễn Trường Tộ mô tả. Tổng quát, chúng ta có thể nói rằng kể từ lúc Columbus (Kha Luân Bố) tìm ra Châu Mỹ năm 1492 * (Tân Thế giới = Hoa Kỳ = Hiệp Chủng Quốc) cách đây hơn 500 năm thì vùng đất nầy là của thổ dân người da đỏ, đất hoang vu, trù phú, có nhiều mỏ vàng, nhất là bang California (Golden State). Dân Hoa Kỳ được hợp thành bởi các đợt di dân như sau: a.- Thành phần đầu tiên là các thổ dân da đỏ, gọi là American Indians, đã sống từ lâu trên mảnh đất hoang vu và trù phú nầy. b.- Thứ hai, là thành phần phạm pháp ở các quốc gia khác bị chính phủ họ đuổi ra khỏi nước cho đỡ gánh nặng. Một số thì thất nghiệp, khổ cực ở các nước Âu Châu đến đây lập nghiệp. c.- Thành phần thứ ba, có đầu óc phiêu lưu, mạo hiểm và thích làm giàu, từ Âu châu đi tìm vàng và khai thác tài nguyên trù phú trên vùng đất mới. d.- Thành phần cuối, là những người bỏ xứ ra đi để tránh sự ngược đãi tôn giáo hoặc chính trị. Họ lo buôn bán, tạo lập sự nghiệp với mục đích thoát khỏi khuôn khổ cũ của xã hội mà họ đã sống trước đây. Với khoảng bốn triệu người mới, trên vùng đất lạ trù mật, họ phải chiến đấu với thiên nhiên và hoàn cảnh để tự sinh tồn. Lúc đầu trong những năm đói khát, họ được người bản địa cứu giúp. Vì vậy mà hằng năm người Hoa Kỳ tổ chức một ngày lễ long trọng vào tháng 11. Đó là ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving 27-11 hằng năm). Phải chinh phục thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Ra đi không lẽ trở về không. Vì thế, số người mới nầy rất tích cực giúp đỡ những ai có sáng kiến chế tạo được máy móc, hoặc có phương pháp để cải tiến cuộc sống của họ. Nhờ thế mà vùng Tân Thế Giới ngày càng có nhiều nhân tài qui tụ. Về mặt chính trị, số người mới trên vùng Tân Thế giới (Hoa Kỳ ngày nay) dần dần tách rời ra khỏi sự thống trị của người Anh. Sau những năm chiến tranh, người Hoa Kỳ nhờ sự giúp sức của Pháp và Hòa Lan, nên họ đã thắng Anh Quốc và tuyên bố độc lập vào ngày 4-7-1776 đến nay đúng 222 năm. (Xin xem thêm Nguyễn Hiến Lê, SĐD, trang 444-446). Qua đoạn sử rõ ràng nêu trên, chúng ta đã thấy không có trường hợp những người dân ở đây đã học được hết những cái kỷ xảo của người Phương Tây, cho nên không đầy 100 năm sau đã đuổi được người phương Tây ra khỏi xứ mình. Mục đích của Nguyễn Trường Tộ dẫn sai lịch sử như thế, là với hậu ý khuyên triều đình Tự Đức và dân Việt hãy bỏ súng xuống, gần gũi và thân thiết với thực dân Pháp để học cái kỷ xảo của họ rồi cuối cùng đuổi họ về xứ. Nguyễn Trường Tộ đã lạc dẫn lịch sử và khuyên những điều hay thật là hay dễ như trở bàn tay! Độc giả đã thấy cái tai hại của một giải pháp thỏa hiệp với Pháp, để rồi Phan Thanh Giản biết mình lầm nên phải tự tử để tạ tội với quốc dân. Chúng ta cũng sẽ thấy cái tai hại của sự thỏa hiệp trong bài nầy ở phần Sáu Điều Lợi mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị. 3.- Năm miền Ấn Độ: Nhằm hậu ý thuyết phục dân Việt Nam cọng tác với Pháp, Nguyễn Trường Tộ cũng đã dẫn sai thêm sử liệu lúc viết rằng: năm miền Ấn Độ đã gần có dấu hiệu bắt đầu, sắp đánh bại phương Tây để đưa ra một nhận định sai lầm khác: Lấy cái lợi vô cùng chưa dùng của núi sông chúng ta mà đổi lấy cái trí của họ, thì họ là kẻ vỡ hoang mà ta thì hưởng cái thành quả như các nước Tây Châu vậy. Nguyễn Trường Tộ nói như thật! Thực dân Pháp đâu có khờ đến nỗi họ là kẻ vỡ hoang mà ta thì hưởng cái thành quả. Thật ra, chính sách thực dân của Pháp, cụ Phan Bội Châu, một nhà cách mạng lão thành đã nhận định rất đúng: Họ coi mình như trâu như chó, Họ coi mình như cỏ như rơm. Cỏ thì nhổ cỏ trâu làm thịt trâu. Chứ làm gì có được cái thiên đàng, họ là kẻ vỡ hoang mà ta thì hưởng cái thành quả! Như tôi đã nhận định trong đoạn đầu. Những bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ luôn luôn đi song hành với tình hình chính trị của Pháp lúc bấy giờ. Thật vậy, Nguyễn Trường Tộ viết bài Điều Trần nầy vào tháng 6 năm 1864, là lúc mà dân Nam Kỳ xử dụng kế hoạch nhà không đồng vắng, không chịu hợp tác với Pháp. Còn triều đình thì sau khi ký hòa ước 1862 nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, nhưng vua Tự Đức cố trì hoãn không chịu phê chuẩn hiệp ước. Đoạn trích dẫn ở mục 5 (Chương 1) trước đây cho thấy Pháp muốn gì từ phía Việt Nam, và đoạn trích dẫn dưới đây sẽ cho thấy dân Việt đã tỏ thái độ như thế nào đối với Pháp. Từ đó chúng ta sẽ thấy lợi hay hại lúc Nguyễn Trường Tộ khuyên nên thỏa hiệp. Phải chăng đó là một sự đi đêm hay trúng kế thực dân? Chúng ta hãy đọc đoạn sử liệu dưới đây của Chesneaux trong cuốn Đóng Góp Vào Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam để thấy rõ tình hình ở Nam Kỳ rồi đối chiếu với lời khuyên của Nguyễn Trường Tộ: Ngay khi vừa phê chuẩn, triều đình Huế đã cho biết, bằng những tư liệu rất chính xác, rằng triều đình không thừa nhận việc nhượng ba tỉnh Nam Kỳ là dứt khoát, vĩnh viễn. Còn dân chúng Việt Nam, họ cũng không có thái độ ôn hòa hơn sau khi hiệp ước được phê chuẩn, hoặc sau những lời hứa hoa mỹ của ông Đô đốc toàn quyền. Họ không chấp nhận chế độ thực dân. Với sự đồng ý ngầm ngày càng rõ rệt, mặc dầu lặng lẽ của triều đình Huế, những phong trào nổi dậy chống thực dân Pháp tại Nam Kỳ ngày càng phát triển. Nông dân vẫn thù địch với Bonard và những người thay chân ông. Phần lớn các quan lại từ chối hợp tác với chế độ mới. Họ bỏ ra đi dần, mặc dầu Bonard đã cố gắng nhiều để xoa dịu họ và giữ lại một phần lớn các phong tục tập quán địa phương, vì những cố gắng đó mà ông Đô đốc toàn quyền bị các tên thực dân và các giáo sĩ phê trách quyết liệt. Theo như nhà sử học Cultru nói, Tầng lớp có khả năng cai trị thì, hoặc vắng mặt, hoặc xấu bụng. Đó là cuộc ra đi hàng loạt của các bậc sĩ phu và của dân chúng, rời bỏ các tỉnh miền đông Nam kỳ bị người Pháp chiếm đóng, để về vùng tự do, ở miền Tây, và tổ chức kháng chiến. Thái độ bất hợp tác chung khắp nơi đó buộc các Đô đốc toàn quyền, muốn duy trì bộ máy hành chính Pháp tại Nam kỳ, chỉ còn xử dụng được một số tối thiểu những công chức Việt Nam (phiên dịch, thư ký...) mà thôi. Và duy chỉ có những phần tử kém hạnh kiểm nhất trong dân, tình nguyện đứng ra phục vụ cho những ông chủ mới... Đề Đốc Rieunier, về sau, nói rằng "Chúng tôi chỉ có những giáo dân và bọn du thử du thực". Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội phạm, đại tá Bernard viết, Xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào... Người ta sẽ tuyển dụng, trong số họ, tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy, và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép, được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội truyền giáo, chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt nam...(4) Nhà sử học Cultru kết luận: Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thu, những thanh niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát, phiên dịch... ấy, lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để, nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng buộc lòng phải nhờ đến sự trung gian của họ..." (5). "... Tại Nam Kỳ, chính là từ trong những người Công Giáo An Nam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết. Họ có tài cán gì?... Phần lớn chỉ là những tay dạy giáo lý Cơ đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị các giáo chủ đuổi về, và dưới một cái tên Latin (bởi vì họ nói lõm bõm tiếng Latin), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á (6). "Những phong trào cách mạng lớn tiếp tục, chú ý nhất là các phong trào Quản Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Quản Lịch, Quản Thanh, không ngừng giương cao ngọn cờ kháng chiến, và gây nhiều khó khăn cho bọn chiếm đóng. Những sĩ phu và quan lại từ chối làm việc với Pháp, những nông dân rời bỏ vùng quê bị giặc chiếm; chẳng ai ngạc nhiên khi thấy ở vùng tự do tất cả những người kháng chiến đó đều được nhân dân ủng hộ nhiệt tình. Đọc đến đây chắc hẳn độc giả đã thấy rõ rằng, Nguyễn Trường Tộ khuyên nên hợp tác với Pháp là đi ngược lại ý muốn của toàn dân Việt Nam từ triều đình đến quần chúng, và rất có lợi cho chương trình ổn định tình hình và kiện tòan guồng máy cai trị của kẻ xâm lăng. Nguyên văn tiếng Pháp: Dès la ratification, la Cour de Huế fit savoir, à l'aide de documents très nets, qu'elle ne considérait pas la cession des trois provinces comme définitive. Quant au peuple Vietnamien, il n'est pas mieux disposé après la ratification, ni après les belles promesses de l'amiral gouverneur, et n'admet pas sa colonisation. Avec le consentement de plus en plus net, quoique tacite, du gouvernement de Huê, les mouvements de révolte et d'insurrection contre les colonisateurs, dans le Sud, vont s'amplifiant. Les paysans restent hostiles à Bonard et à ses successeurs, les mandarin refusent massivement à se rallier au nouveau régime, ils disparaissent, en dépit des efforts de Bonard pour les amadouer et pour maintenir une partie des coutumes et traditions - efforts qui, par ailleurs, vaudront à l'amiral gouverneur les violents reproches des colonialistes et des missionnaires. Selon le mot de l'histoire Cultru, “la classe capable d'administrer était absente ou malveillante”. Cest l'exode en masse des lettrés et de la population, abandonnant les provinces de l'Est-Cochinchinois, occupées par les Francais, pour s'installer en zône libre, dans l'Ouest, et y organiser la résistance. L'attitude générale de non-coopération contraint les amiraux-gouverneurs, pour le fonctionnement de cette administration francaise en Cochinchine, à l'emploi d'un minimum de personnel Vietnamien (interprètes, secrétaires, ets...). Et seuls les éléments les moins recommandables de la population s'offrent de servir le nouveau maitre: “Nous n'avions avec nous”, déclarera plus tard l'amiral Rieunier, “que des chrétiens et des coquins...” (3) “Les vagabonds”, écrit le colonel Bernard, “chassés de leur village par la misère ou le crime, arrivaient, l'échine souple; pris de l'âpre désir de vivre, insoucieux de la lutte nationale, prêts à servir tous les maitres. C'est parmi eux que l'on recruta tout le personnel nécessaire à l'administration ou aux besognes domestiques: boys, coolies, plantons, et aussi des interprètes et des copistes, grossièrement formés dans les écoles de la mission. C'est au contact de ces misérables que les colons ou les fonctionnaires fraichement débarqués firent connaissance avec le peuple d'Annam...” (4) “Très vains du semblant d'éducation européenne qu'ils avaient recu”, conclut l'historien Cultru, “ces jeunes Annamites devenus secrétaires, lettrés d'inspection ou interprètes, constituaient dans la colonie une caste de déclassés, abusant de leur position officielle pour pressurer, au nom de l'autorité francaise, incapable de les surveiller, la population qui était obligée de recourir à leur intermédiaire...” (5) “... C'est parmi les Annamites chrétiens que se recrutèrent, en Cochinchine, les premiers auxiliaires de l'administration francaise, écrit Phạm Quỳnh, Que valaient-ils?... Ce n'étaient pour la plupart que des catéchistes renvoyés par leurs évêques pour inconduite, et qui, sous un nom latin (car ils parlaient vaguement latin), représentaient un abrégé de la ruse, de la prévarication et de la corruption de l'Asie...” (6) Les grands mouvements de révolte continuaient, notamment ceux de Quan Dinh, Thu khoa Huân, Thiên Hô Duong, Quan Lich, Quan Thanh, ne cessèrent de tenir haut le drapeau de la résistance, et de créer de nombreuses difficultés à l'occupant. Lettrés et mandarins qui refusent de servir la France, paysans qui quittent la région occupée, nul ne s'étonnera qu'en zône libre, tous ces résistants trouvent un appui considérable. (3, 4, 5, 6 cité par J. Chesneaux Contribution, à l'Histore de la Nation Vietnamienne, p.115 (NXT, SĐD, tr. 126 & 127). 4.- Phương pháp làm Hột nổ và Khai thác mỏ than. Bằng một hàng chữ lớn trong bản Điều Trần nầy, Nguyễn Trường Tộ viết: Xin Kê Ra Các Phương Pháp Làm Hột Nổ Và Đúc Súng, Đúc Kim Loại, Cùng Các Môn Quang Học, Cơ Học, Hóa Học, Khai Thác Mỏ Than. Với hàng chữ lớn như thế, người ta cảm thấy sung sướng vì hy vọng rằng sau khi đọc xong đoạn nầy (dài khoảng 1.800 chữ) là có thể biết được, ít ra là lý thuyết, về "phương pháp làm HỘT NỔ VÀ ĐÚC SÚNG... nhưng không, chẳng thu thập được gì qua sự trình bày các phương pháp nói trên của Nguyễn Trường Tộ. Chính ông cũng đã cho thấy điều đó lúc viết rằng: Việc học tập và sắm khí cụ phải thực hiện đồng thời, không thể thiếu một. Nếu đã được học qua loa như tôi mà không có khí cụ khi gặp khó khăn lại không có người chỉ vẽ thì cũng chỉ biết lý thuyết và công dụng mà thôi, và cũng khó đem ra thực hành được. Lúc xác nhận, chính mình cũng chỉ mới học qua loa* thế thì không nên trình bày làm gì cho phí phạm thì giờ vô ích. Thực ra, chúng ta không thể lấy kiến thức về khoa học của một người ngày hôm nay để so sánh với kiến thức khoa học của một người đồng dạng cách đây 130 năm. Nhưng điều tôi muốn nói là lúc đã hô hào nên theo lối học thực dụng thì chính người hô hào phải nắm vững vấn đề ít ra là trên lý thuyết, để sự trình bày được rõ ràng, dễ hiểu, có thể ứng dụng ngay, còn không, tốt hơn là không nên nói một điều gì mà mình không biết rõ về cái mà mình muốn nói: chính mình đã chưa hiểu làm sao trình bày cho người khác hiểu được. Do đó, đoạn văn Xin kê ra các phương pháp làm Hột Nổ..., dài 1.800 chữ chỉ là sáo ngữ vô ích. 5.- Việc làm cho Nước Nhà Giàu Có. Đoạn chính thứ hai trong bài Điều Trần nầy Nguyễn Trường Tộ viết: Sau đây tôi xin đưa ra một khoản về việc làm sao cho nước nhà giàu có để cứu giúp lúc khẩn cấp:" "Một là nguồn lợi về biển. Về biển thì không có nguồn lợi nào lớn bằng cá với muối. Hai là nguồn lợi về rừng. Rừng thì không có gì lớn bằng gỗ. Ba là nguồn lợi về đất đai. Đất đai thì không có gì lớn bằng tơ gai. Bốn là nguồn lợi về mỏ. Về mỏ thì không có gì lớn bằng đồng và thiếc. Bốn nguồn lợi ích ấy, ngoài việc tùy theo thổ nghi mà thu thuế ra, còn phải nghĩ những phương pháp hay như của Tây Âu để thu nhiều sản vật. Sau đó cho tàu bè nhà nước chở ra bán cho các nước, rồi lại chở về nước mình những hàng cần dùng mà nước mình không có. Cái lợi bán mua qua lại như thế thường được gấp ba." Đó là một nhận định sai. Vì Việt Nam là một nước nông nghiệp, đất để trồng lúa gạo cho đủ ăn là vấn đề chính, nếu gạo còn dư thừa thì xuất cảng. Còn tơ lụa là phụ chứ không thể chính được. Còn hầm mỏ thì nếu có được mỏ bạc, mỏ vàng chắc chắn sẽ quí hơn mỏ đồng, mỏ thiếc chứ không thể ngược lại. Còn lúc nói biển có cá, muối, rừng có gỗ, đất trồng dâu nuôi tằm có tơ lụa, đất có quặng mỏ ai lại không biết các điều đó. Tuy nhiên, điều mà chúng ta bị thất vọng là, Nguyễn Trường Tộ đã không đưa ra một phương pháp nào để có được nhiều cá, nhiều muối, vừa dùng vừa bán. Làm thế nào để có nhiều gỗ quí để dùng và sản xuất? Làm thế nào để khai thác được hầm mỏ mà không bị ngoại bang chi phối trong một hoàn cảnh đất nước đang bị Pháp xâm lăng đô hộ? Trái lại, Nguyễn Trường Tộ đã xử dụng ba trang trong 16 trang của bài Điều Trần nầy để phát biểu những lời nói thiếu lịch sự, thuyết minh về tạo vật (Chúa Trời) và cuối cùng là nịnh triều đình vài câu rồi khuyên nên theo Pháp chống lại phong trào kháng chiến. Nguyễn Trường Tộ viết: ... Những nhà nho câu nệ không khéo biến hóa, thường hay uốn lưỡi múa mồm, sau khi sự thành bại đã rõ như gương chiếu rồi mới bàn luận anh hùng. ... Cho nên Tạo Vật khi chưa sinh ra người đã sinh ra muôn vật... Bởi vì Tạo vật yêu người nên thầm dạy những việc cấp thiết trước... Những cái mà tạo vật làm ra đó đều khiến vua nắm quyền để mở mang sắp đặt. Vì rằng, tạo vật quí trọng sự sống vô cùng, đã cho ta địa lợi tốt, lại cho ta nhân vật tốt, ắt sẽ giúp ta thịnh vượng để hợp thành ra sự đẹp tốt lớn trong vũ trụ. Vậy ta nên thuận theo Chúa tạo vật đã mở đường chỉ lối mà biết lo lắng để chuyển tai họa thành hạnh phúc, chuyển thất bại thành thành công, đem hết cái trí khôn trời cho để khai thông mọi cái bí mật trên trời dưới đất. Kẻ hủ Nho sao không biết thời thế biến chuyển, cứ câu nệ vào nghĩa lý sách vở, nói bừa bãi rằng: Triều đình mở cửa ngõ đón kẻ cướp vào. Sao không biết rằng: Lúc thời thế đã đến, không thể ngăn được, lúc thời thế đã đi, không thể chận được. Tạo vật đã sắp đặt như vậy sao ta không biết liệu cách tạm thời lưu thông với họ, để tự phấn đấu cho hợp với ý của Tạo vật? Cửa bể của khắp các nước phương Đông Tạo vật đã khai thông cả thì tại sao một mình nước ta lại có thể đóng kín được? Huống chi, việc lợi ích của một nước, quyền lực hành vi do vua nắm, và cùng với quốc dân chia sẻ mọi sự vui buồn. Mà trên đã có tạo vật thầm sai khiến, vua chỉ cần theo ý trời để làm mọi việc. Những việc lớn như lấy đi hay là cấp cho, biết đâu chẳng phải do Tạo vật ngấm ngầm sắp đặt. Tạo vật đã nhân ái đối với vua để từ đó mở rộng đến muôn dân. Thế mà trước mắt, hơi thấy việc bất bình thì kẻ hủ nho biết gì mà dám chê bai trách cứ? (Di Thảo số 5, TBC, SĐD trang 142-144). Xin nhường sự phán xét trên cho độc giả, nhất là cái tư tưởng nhảm nhí của Nguyễn Trường Tộ cho rằng, Tạo Vật đã sắp đặt như vậy, sao không lưu thông với họ! Tạo Vật nhân ái! Còn ý kiến của tôi thì quí vị đã thấy trong đoạn trước (Phần B Lục Lợi Từ) và sẽ thấy trong Phần Hai: Nhận định về Tôn Giáo và Phần Tổng Luận. 6.- Sáu Điều Lợi Lớn Cần Làm Gấp: Như quí độc giả đã thấy, bài Điều Trần số 5 này có tên là Kế Hoạch Làm Cho Dân Giàu Nước Mạnh cũng gọi là Dụ Tài Tế Cấp Bẫm Từ hay là Lục Lợi Từ (sáu điều lợi) viết ngày 18-7-1864. Sở dĩ tôi nhắc lại tháng năm Nguyễn Trường Tộ viết bài nầy, vì thời gian rất quan trọng. Bối cảnh chính trị của thế giới trong giai đoạn nầy sẽ giúp chúng ta đánh giá đúng mức Sáu Điều Lợi Lớn mà Nguyễn Trường Tộ khuyên nên áp dụng. Sáu điều lợi đó là: 6.1.- Nhờ nước Anh để ngăn chận Pháp: Anh và Pháp xưa nay vốn thù hằn nhau. Vì: - Anh đày vua bác của Pháp ra tận đảo xa xôi. - Pháp giúp Hợp Chủng Quốc làm cho Anh bại trận. Do đó nên nhờ Anh giúp và qua Anh nhờ thông báo với Nga và Áo để nhờ các nước giải quyết giúp ta. 6.2.- Xúi Anh gây sự với Pháp: Nước ta phải dùng lời lẽ thật từ tốn và tiền bạc thật hậu sang nước Anh, nói hết những điều sai trái của Pháp... Nay người Anh đến giúp chúng tôi một tay khôi phục lại, chúng tôi sẽ vui lòng nhường quí quốc một thương cảng lớn, ký thác vĩnh viễn và sống như anh em với nhau... 6.3.- Nhờ Anh để ly gián Pháp: Anh và Pháp xưa nay vẫn ghen ghét nghi ngờ nhau, tuy tạm thời cọng tác nhưng Anh vẫn giành phần hơn. Pháp hay đa nghi Nay nếu ta năng đi lại với người Anh, hoặc thăm viếng hoặc mua bán... thì người Anh cũng sẽ đối xử với ta một cách xứng đáng... Pháp thấy vậy ắt sinh nghi..."mà xa lìa người Anh. Ta sẽ lợi dụng tình trạng đó, mà xoay trở công việc. 6.4.- Nhờ các nước và Giáo-hoàng lấy danh nghĩa mà áp chế Pháp: Ngày nay nếu ta biết qua lại giao thiệp với các nước lớn phương Tây, gây được mối tình cảm, rồi dùng cái xảo kế để ly nước nầy, hợp với nước kia. Người Pháp dù muốn thừa cơ hội nhưng nếu các nước chịu tuyên bố giúp ta một lời thì người Pháp cũng sẽ lo sợ... Rồi ta lại qua nước La Mã thông hiếu với Giáo hoàng... Nếu Giáo hoàng cho việc giúp ta là phải, thì mọi người đều vui lòng thực hiện, ta không lo người Pháp không nghe... 6.5.- Nhờ Anh và Nga đề phòng nước Pháp: Nếu ngày nay ta biết giao hảo với người Anh trước để đề phòng đường biển, sau sẽ thông thương với nước Nga để đề phòng đường bộ. Cho dẫu sau nầy tình thế biến đổi thì trước kia người Anh đã lấy cái việc người Pháp tìm cớ cướp nước ta cho là trái lẽ, mà nay lại thủ tiêu tình bạn bè để cướp nước ta mà cho là phải hay sao?. Đối với nước Nga cũng thế. 6.6.- Dùng số người Anh lưu vong ở hải ngoại để đánh Pháp: ...Chiêu mộ những người Anh sống lưu vong ở hải ngoại, cho họ tiền của, cư xử tốt để được lòng họ, rồi nhờ họ huấn luyện binh lính quân ngũ cho ta. Binh Pháp của người Anh rất giỏi. Những người này không suy nghĩ gì viễn vông cả, hễ được thỏa thích là họ xông lên, không như quân ta sợ trước ngó sau. Nguyễn Trường Tộ kết luận: Đã thực hiện được sáu điều lợi rồi, dần dần có cơ hội, tôi xin đem các điều ngấm ngầm làm tổn hại địch trong bài TẾ CẤP LUẬN ra thực hiện dần dần thì sẽ như lấy trăm kim mà chích làm cho họ nằm ngồi không yên. Sau đó bồi cho một nhát dao thì thế nào cũng chết. Nguyễn Trường Tộ viết tiếp: Vậy muốn áp dụng kế nầy phải gấp rút khai thác các nguồn lợi và nhờ người khác giúp sức... Còn như sẽ làm theo đường lối nào và sử dụng ngôn ngữ gì thì tôi sẽ cùng với ông Nguyễn Hoằng (Linh Mục, BK) xin hết sức làm để giúp muôn một. (Điều Trần số 5, TBC, SĐD, trang 145-151). Đọc Sáu Điều Lợi của Nguyễn Trường Tộ đề nghị trên, nếu không lồng chúng vào trong bối cảnh lịch sử của các phong trào đi chiếm thuộc địa, và không thấy được hoàn cảnh của nước Việt Nam thời bấy giờ, người đọc sẽ có những nhận định sai lạc, ngay cả có thể kết luận rằng Nguyễn Trường Tộ là một chiến lược gia, một người có lòng yêu nước thực sự. Nhưng nếu đem sáu đề nghị nầy đối chiếu với tình thế lúc bấy giờ, chúng ta sẽ thấy sáu đề nghị của Nguyễn Trường Tộ không những là vô ích mà còn tai hại nữa. 7.- Nhận định sáu điều lợi: Chúng ta nên tìm hiểu tình hình các phong trào đi chiếm thuộc địa để thấy cái sai của Nguyễn Trường Tộ. Vùng Phi Châu. Như chúng ta đã biết, đầu thế kỷ 19, Phi Châu là một vùng hầu như bí mật chưa ai để ý tới vì rừng quá già, khí hậu quá nóng. Sa mạc rộng, người Âu Châu chỉ biết một giải đất nằm theo Địa Trung Hải tức là vùng Maroc, Algerie, Tunisie, Lybie, Ai Cập và vùng trên bờ Đại Tây Dương. Một số người Âu Châu nặng tình với khoa học và tôn giáo, nên cố gắng tìm tòi vùng đất bí mật nói trên. Năm 1840, Livingstone tới Phi Châu để nghiên cứu y học thám hiểm cả một vùng mênh mông từ Congo tới Mũi Hảo Vọng. Pháp, Đức cũng sai người thám hiểm như thế. Dần dần họ vẽ các bản đồ sơ sài trên vùng đất nầy, và căn cứ vào bản đồ đó mà chia nhau đất. Như Anh bàn với Pháp lấy con sông nầy, dãy núi nọ làm ranh giới. Pháp đồng ý nên đem binh vào đánh thổ dân. Thổ dân chưa từng nghe tiếng súng bao giờ, cứ tưởng là sấm sét đua nhau chạy tán loạn. Do đó, vùng Phi Châu trở thành thuộc địa của Anh và Pháp một cách nhanh chóng và dễ dàng. (Lịch Sử Thế Giới, Nguyễn Hiến Lê, Văn Nghệ xuất bản, Hoa Kỳ, 1994, trang 610). Trái lại, lúc chiếm thuộc địa ở Á Châu thì khó khăn hơn nhiều và bị đổ máu. Người Âu theo Gia Tô giáo và quá cuồng tín. Họ nghĩ rằng đất là của Chúa Trời tạo ra, là của chung không thuộc vào túi một ai, và nghĩ rằng họ có bổn phận đi khai hóa các vùng khác để truyền tín ngưỡng cho các xứ đó. (NHL, SĐD, trang 611 & 612). Từ ý nghĩ cuồng tín và sai lầm nầy mà chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ cũng diễn dịch như thế ở một đoạn trước. Thực ra, phong trào chiếm thuộc địa đi song hành với việc truyền đạo Gia Tô và xử dụng tín ngưỡng như là một khí cụ sắc bén tiên khởi. Tại Ấn Độ: Công ty Ấn không phải là của dân chúng Anh hoặc của chính Phủ Anh quốc, mà chỉ do một số người phiêu lưu xảo quyệt lập công ty Ấn. Họ dần dà dùng vũ lực chiếm hết Ấn độ, một quốc gia có số dân gấp 10 lần Anh quốc. Để bảo vệ quyền lợi, công ty nầy đã dùng quân đội và ngoại giao dồn người Pháp vào năm thành phố: Pondichéry, Chandernagor, Yamon, Karikal và Mahé, rồi cướp hết quyền hành của vua Ấn, bắt dân Ấn đi lính, đóng thuế và tự ý gởi đại sứ qua các nước Á Châu, Công ty tổ chức chính phủ nhưng không chịu mệnh lệnh của Anh hoàng. Năm 1857, vì sự vụng về của quân nhân Anh đã đưa cho lính Ấn những gắp đạn có thoa mỡ bò. Lính Ấn cho rằng đó là một sự nhục mạ họ vì người Ấn thờ bò. Vì vậy, lính Ấn nổi lên chống. Sau hai năm tàn sát đẫm máu, chính quyền Anh mới nhảy vào dẹp được loạn rồi tước quyền của công ty Ấn. Từ đó, Ấn Độ là thuộc địa của Anh hoàng Victoria, quyền cai trị giao cho một phó vương người Anh. Chính sách của Anh là dùng người Ấn để cai trị người Ấn và xúi người Ấn theo đạo Hồi chống lại người Ấn theo đạo Bà La Môn. Tổng số dân Ấn lúc bấy giờ là 300 * triệu. Ấn là thuộc địa quí nhất của Anh. Để bảo vệ, Anh chiếm các xứ xung quanh. Tuy nhiên, phía Tây họ chỉ chiếm được Bélontchista, mà không lấn được A Phú Hãn vì sợ đụng độ với Nga. Phía Bắc, Anh chiếm một phần Tây Tạng, còn phần kia thì chia quyền lợi với Trung Hoa. Phía Đông, Anh chiếm Miến Điện (NHL, SĐD, trang 614). Sau khi bị hất ra khỏi Ấn, Pháp tìm cách chiếm Việt Nam (năm 1862), Cao Miên và Lào, làm chủ cả bán đảo Đông Dương. Còn Xiêm (Thái Lan) trở thành vùng trái độn chịu ảnh hưởng của Pháp lẫn Anh (NHL, SĐD, trang 615). Phi Luật Tân: Nguyên là thuộc địa của Y Pha Nho (Spain) từ năm 1527. Chữ Philippines (tiếng Pháp) có nghĩa là những hòn đảo của vua Philippe nước Y Pha Nho. Người Phi bị cưỡng bức theo đạo Gia Tô như người Y Pha Nho (NHL, SĐD, trang 620). Nói về thế trận và phân chia ranh giới lúc bấy giờ, chúng ta nên để ý thêm một chi tiết khác về Nga, Pháp và Anh: ... Nga chỉ lăm le xâu xé Thổ để kiếm đường thông ra biển. Coi bản đồ Châu Âu, ta sẽ hiểu chính sách của Nga. Bắc Băng Dương suốt năm đầy băng và tuyết, hoàn toàn vô dụng rồi. Trên biển Baltique có hạm đội của Đức, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan; Nga khó mà len ra được, dẫu có được thì tới Bắc Hải cũng đụng đầu với Hải quân Anh mạnh nhất thế giới. Vậy Nga như bị vây hãm, chỉ có hai đường thoát ra ngoài: Một là tiến qua Đông, chiếm trọn Tây Bá Lợi Á, vươn tới Thái Bình Dương, đường đó đã xa mà lại chạm trán với Nhật; hai là do Hắc Hải mà thông ra Địa Trung Hải, đường này tiện nhất, nhưng cửa ngõ Hắc Hải là Constantinople do Thổ gác, nên Nga nhất định phải diệt Thổ. Anh không chịu vậy, vì nếu Nga chiếm Constantinople thì hạm đội Nga tung hoành trên Địa Trung Hải mà con đường của Anh qua Ấn sẽ lâm nguy. Vì thế Anh tìm cách kéo Pháp về phe mình để chống Nga và bênh Thổ, chẳng thà để Constantinople cho Thổ vì Thổ yếu không làm hại mình được, chứ không chịu để cho Nga. Nã Phá Luân đệ tam (Pháp) thích chiến tranh, hoan nghênh ý của Anh, vua Sardaigne hùa theo và cả ba nước tuyên chiến với Nga. Hai bên chém giết nhau ghê gớm trong hai năm (1854-1856) trên bán đảo Crimée. Nga hùng dũng chống cự kịch liệt, nhưng sau thua và Thổ vẫn làm chủ Constantinople.(NHL,SĐD, tr. 626 & 627). Tình Hình Trung Hoa Và Hồng Kông: Năm 1838, triều vua Đạo Quang, Tổng Đốc Lâm Tắc Từ, chém một số người nghiện thuốc phiện và đem đổ xuống biển tất cả các thuốc phiện tịch thu được của các thương gia ngoại quốc như Bồ, Pháp, Hòa Lan. Qua vụ nầy, Anh Quốc chống lại Trung Hoa, Năm 1840, quân Anh tấn công Chiết Giang, tiến lên Trực Lệ rồi thẳng vào Thiên Tân, quân Lâm Tắc Từ thua. Triều đình Trung Hoa hoảng sợ, cách chức Lâm Tắc Từ để nghị hòa với Anh, ký hiệp ước Nam Kinh, chịu bồi thường số nha phiến bị tiêu hủy, mở năm cảng: Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải cho người Anh và cắt đứt Hương Cảng (Hồng Kông) tặng cho Anh (NHL, SĐD trang 641). Sau hòa ước Nam Kinh, đảng Thái Bình Thiên Quốc lập ở Quảng Đông, người cầm đầu là Hồng Tú Toàn, một người Gia Tô. Ông tự xưng là con thứ của Thượng Đế, còn Giê Su là con trưởng, dân nghèo theo rất đông. Năm 1850, Tú Toàn dấy binh chiếm được vài huyện, quân sĩ tôn ông làm Thái Bình Vương. Ông dựng nước, gọi là Thái Bình Thiên Quốc, được nhiều tướng tài giúp sức, tiến lên Hồ Nam, Hồ Bắc, chiếm Nam Kinh để dựng đô rồi công hãm Tô Châu, Hàng Châu, sau cùng phái binh lên đánh phương Bắc, song thất bại. ... Hồng Tú Toàn bài xích Khổng, Phật, gây ác cảm trong giới tu sĩ. Tăng Quốc Phiên người chỉ huy quân Thanh lợi dụng ngay chỗ yếu đó, truyền hịch khắp nước, tố cáo tội khi lễ nghĩa, nhân luân của Hồng, nào là điển tắc mấy ngàn năm của Trung Quốc đương bị giày đạp, nào là miếu từ của Khổng Tử, Quan Võ, Nhạc Phi sắp bị đốt phá. Gây nên một luồng oán giận, căm hờn Tú Toàn trong quần chúng. Lại thêm, nội bộ Thái Bình lủng củng, nên quân Thanh đến đâu thắng đó. Biết thế nguy, Hồng uống thuốc độc tự tử. (NHL, SĐD, trang 642 & 643). Vừa dẹp xong loạn Thái Bình Thiên Quốc, nhà Thanh phải đương đầu với Âu Châu trong một trận chiến tranh nha phiến thứ nhì (1856-1860). Sau khi ký điều ước Nam Kinh: "... Anh lại càng chở nhiều thuốc phiện vào Trung Hoa, bắt buộc nhà Thanh cho phép bán nha phiến công khai, mở thêm hải cảng để thông thương và tiếp đãi sứ thần Châu Âu tại Bắc Kinh. Nhà Thanh không chịu. Nhân ở Quảng Đông, nhà cầm quyền bắt thuyền buôn của người Trung Hoa có treo cờ Anh, và ở Quảng Tây nhiều giáo sĩ Pháp bị hại, Anh Pháp tổ chức liên quân, tấn công Quảng Châu, Thiên Tân, vào tận Bắc Kinh đốt phá." "Thanh đình bối rối, Nga đứng ra điều đình. Trung Hoa phải ký điều ước Bắc Kinh, mở thêm bảy thương khẩu, cho phép các giáo sĩ và thương nhân Châu Âu tự do lưu thông khắp nơi, cho thuốc phiện được bán công khai và cho Âu Mỹ hưởng quyền lãnh sự tài phán, nghĩa là kiều dân Âu Mỹ ở Trung Hoa không chịu pháp luật Trung Hoa chi phối, mà chỉ do lãnh sự nước mình phân xử theo pháp luật nước mình. "Nga sở dĩ đứng ra điều giải, chẳng phải yêu gì Trung Hoa mà chính là để kể công với Trung Hoa rồi rút rỉa của Trung Hoa. (NHL, SĐD, trang 644). "Khi thấy nhà Thanh suy, Nga thừa cơ chiếm Hắc Long Giang, cho binh kéo vào đóng ở bắc ngạn sông đó. Thanh đình phản kháng nhưng vô hiệu, đành chịu ép, vạch lại ranh giới, nhường hết bắc ngạn Hắc Long Giang cho Nga. Từ đó, Nga một mặt kinh doanh ở Mãn Châu, một mặt theo đuôi Anh, Pháp, hễ Anh Pháp cướp được quyền lợi gì ở Trung Hoa thì Nga cũng đòi quyền lợi đó. ... Nhật Bản lúc đó đã bắt đầu duy tân, đứng bên nhìn người Âu chia nhau miếng mồi mà thèm thuồng, cũng nhảy vào đòi cắt. Trong đời Quang Tự, Nhật Chiếm Lưu Cầu, Pháp nuốt Việt Nam, Anh chia Miến Điện, rồi Nhật lại đòi Đài Loan, Triều Tiên, Đức nắm Giao Châu Loan, Nga thuê Lữ Thuận, Anh thuê Uy Hải Vệ, Pháp thuê Quảng Châu. ... Duy có Ý chậm chân tới sau, đòi mượn một nơi ở Phước Kiến, không được, bẽn lẽn rút lui. Họ thuê đất mà còn bắt chủ đất ký giao kèo không cho nước khác thuê những miếng bên cạnh. Chẳng hạn, khi thuê Quảng Châu Loan, người Pháp yêu cầu nhà Thanh không được đem đảo Hải Nam và các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam nhường cho nước nào khác. Anh cũng xin không được nhường các tỉnh hai bờ sông Dương Tử cho ai. Tóm lại họ chiếm căn cứ địa để cắt xẻ Trung Hoa thành nhiều phạm vi thế lực, như Mãn Châu thuộc phạm vi Nga, Sơn Đông thuộc Đức, Phúc Kiến thuộc Nhật, lưu vực Dương Tử của Anh, Hoa Nam của Pháp. Trong mỗi phạm vi, họ đòi đủ quyền lợi; khai mỏ, đặt đường xe lửa... Trong lịch sử, chưa từng thấy vụ nào mà các cường quốc đồng lõa với nhau để hút máu, rút xương nước khác một cách trân tráo và có tổ chức như vậy! Hoa Kỳ đứng ngoài nhìn thị trường mênh mông đó lọt vào tay người cũng nóng ruột, tự nghĩ nếu nhẩy vào đòi chia thì chắc sẽ bị đẩy ra như Ý, bèn khôn khéo, phát biểu bản tuyên ngôn chủ trương bỏ chính sách chia phạm vi thế lực, để mỗi nước được bình đẳng về công thương trên đất Trung Hoa, một mặt duy trì chủ quyền Trung Hoa trong phạm vi các nước đã chia. Tóm lại Hoa Kỳ bảo các cường quốc: Các anh phải ngưng lại đi, không được mở mang thêm phạm vi nữa mà cũng không cướp thêm quyền của nhà Thanh nữa. Các cường quốc ôm đã quá nhiều, lo khai thác xong khu vực của mình cũng đủ mệt, không muốn bành trướng thêm nữa, e sẽ xung đột nhau, bèn gật đầu tán thành. (NHL, SĐD, trang 644,645, 646 & 647). Qua đoạn tóm lược tình hình chiếm thuộc địa của các nước Âu Châu như trên, cho chúng ta vài nhận xét sau đây: a.- Anh quốc đã thỏa mãn những gì họ muốn nhờ cuộc chiến tranh Nha phiến thứ nhất (1839), sau đó lại tạo chiến tranh Nha phiến thứ 2 (1856-1860). Các cường quốc đua nhau chia phần để xâm lấn Trung Hoa nhưng không đụng độ nhau bằng vũ lực. Trung Hoa đi từ nhượng bộ nầy đến nhượng bộ khác và hầu như không bao giờ thỏa mãn lòng tham không đáy của các nước đi chiếm thuộc địa. Do đó bất cứ một giải pháp thỏa hiệp nào bất cứ ở đâu, xem ra cũng không thực tế. b.- Trong các quốc gia đi chiếm thuộc địa, Anh Quốc kiếm được nhiều nhất: Từ Phi Châu, đến Ấn Độ, Tây Tạng, Miến Điện, Hồng Kông và nhiều phần đất quan trọng của Trung Quốc. Do đó, người ta có lý để nói rằng Mặt trời không bao giờ lặn trên đất Anh. c.- Với số thuộc địa quá rộng lớn như thế, Anh Quốc chưa đủ thì giờ để khai thác, cần gì phải xen vào Việt Nam để phải đổ máu vô ích với Pháp. Do đó, bốn điều Nguyễn Trường Tộ viết trong bản Điều Trần: Nhờ Anh để ngăn chận Pháp. Nhờ Anh gây sự với Pháp. Nhờ Anh để ly gián Pháp. Nhờ Anh và Nga để đề phòng Pháp. Là những đề nghị không thực tế, không hiểu và không đúng với bối cảnh lịch sử thời bấy giờ. Đó là chưa nói đến tình trạng nếu Anh bằng lòng giúp thì Việt Nam sẽ gặp phải cảnh "đuổi chó sói ra đàng trước, rước cọp vào ngã sau. Còn kế hoạch thứ 6: Dùng người Anh lưu vong ở hải ngoại để huấn luyện quân đội Việt Nam đánh Pháp cũng là một giải pháp ngây thơ khác. Thực vậy, thuộc địa của Anh quá tràn ngập quá béo bở, dân Anh hưởng thụ dư thừa, dại gì phải đi giúp một nước Việt Nam đã bị Pháp chiếm để mang họa vào thân? Vả lại người Anh lưu vong ở hải ngoại cũng phải chịu sự chi phối điều hành của chính phủ họ, ngoại trừ thành phần người Anh trong các băng đảng, trong các nhóm loạn trí, ăn xin. Chẳng lẽ Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình Tự Đức dùng loại người Anh nầy chăng? Còn nước Nga thì quá xa xôi đối với Việt Nam, hơn nữa, chúng ta cũng đã thấy cách đối xử của họ với Trung Hoa qua đoạn trích dẫn trên: rất khắng khít với nhau để chia quyền lợi. 8.- Thông hiếu với Giáo Hoàng: Đây là chủ đích chính trong bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ còn 5 đề nghị kia chỉ là hoa lá cành, là củ cà rốt trống ruột không ăn được, nhằm che đậy hậu ý khuyên triều đình bang giao với Vatican để thực hiện sách lược Gia Tô hóa Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa là làm cho Pháp dễ cai trị nếu tất cả người Việt đều trở thành Gia Tô. Đây là kế sách thâm độc giống như khuyên cha mẹ gởi con cho cọp. Sau đây là một số dẫn chứng : Một người thông minh như Nguyễn Trường Tộ chắc chắn đã biết rõ việc Pháp chiếm Việt Nam là do Giáo Đoàn Hải Ngoại Pháp và Y Pha Nho, mà chỉ thị hoặc ít ra là đã được Giáo- hoàng khuyến khích và đồng ý, vài dẫn chứng sau đây sẽ cho thấy điều đó. a.- Như độc giả đã thấy ở phần trước, giáo sĩ A. de Rhodes (tên Việt Nam là Đắc Lộ). Sau khi hôn chân Giáo hoàng và từ giã Roma ngày 11-9-1652 để đi Pháp vận động chính phủ Pháp chiếm Việt Nam. Chúng ta nên để ý rằng giáo hội Gia Tô (Công giáo) là một tổ chức theo đẳng cấp tuyệt đối. Giáo Hoàng là người đại diện Chúa ở trần gian, ông có quyền cách chức, bổ nhiệm, cấm đoán hoặc cho phép các Hồng y, Giám mục, Linh mục, con chiên thi hành các công tác đức tin và công tác trần thế. Do đó, chúng ta hiểu rằng A. de Rhodes đã được Giáo hoàng đồng ý và cho phép qua Pháp vận động triều đình đánh chiếm Việt Nam. Một linh mục, giám mục không làm điều gì khác nếu không được Giáo hoàng chấp thuận. Như thế, việc vận động một thế lực chính trị ngoài Vatican để xâm chiếm Việt Nam đã có từ 1652 do Giáo hoàng chỉ thị cho ông A. de Rhodes (xin xem thêm bài Góp ý với giáo sư Chương Thâu về Linh mục A. De Rhodes và chữ quốc ngữ trong cuốn Kitô Giáo Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại. (Văn Hóa Cali xuất bản, Hoa kỳ, 1996). b.- Gần hơn, cùng thời với Nguyễn Trường Tộ, chúng ta có thêm chi tiết sau đây: "Bí thư của phái đoàn Pháp ở Trung Quốc, theo lệnh của Hoàng đế muốn tập trung tài liệu về các phái bộ truyền giáo ở Đông Dương, đã tiếp xúc với các đại diện Giáo Hoàng ở Thái Lan, Việt Nam và Kampuchia. Căn cứ vào các tin tức do những người này cung cấp, chính phủ Pháp đã quyết định phái Montigny thực hiện sứ mệnh trong vùng này. Nhưng đây là các vận động được hỗ trợ bằng sự can thiệp của các nhân vật quan trọng như Tổng Giám Mục Bonnechose ở Rouen và của chính Hoàng Hậu, bà này đã thuyết phục được vua, dù lúc đó vua không có kế hoạch thực dân nào rõ rệt. Các vận động này được thực hiện bởi hai người truyền giáo: Linh Mục Huc, hội viên Hội thánh Lazare, cựu đại diện Giáo Hoàng ở Trung Quốc, tác giả cuốn Đạo Thiên Chúa ở Trung Quốc, Tartarie và Tây Tạng cùng nhiều tác phẩm khác về Trung Hoa, và Giám mục Pellerin đại diện Giáo Hoàng tại Bắc Nam Kỳ." Nguyên văn tiếng Pháp: En 1855, de Courcy, secrétaire de la légation de France en Chine, sur l'ordre de l'empereur qui voulait réunir des documents sur les missions d'Indochine, s'était mis en rapport avec les vicaires apostoliques de Siam, du Viet Nam et du Cambodge; c'est d'après les renseignements fournis par ceux-ci que le gouvernement francais avait décidé d'envoyer Montigny en mission dans ces régions. Mai ce sont ldescendons par une pente rapide vers l'impuissance radicale et le moment où il faudra demeurer immobile à Tourane. Tous les moyens d'améliorer la situation des troupes et des équipages ont été épuisés et sans succès. Les médecins vaincus par la maladie, arrivent à cette conclusion que les Européens ne doivent faire dans ce climat aucun travail, mais adescendons par une pente rapide vers l'impuissance radicale et le moment où il faudra demeurer immobile à Tourane. Tous les moyens d'améliorer la situation des troupes et des équipages ont été épuisés et sans succès. Les médecins vaincus par la maladie, arrivent à cette conclusion que les Européens ne doivent faire dadescendons par une pente rapide vers l'impuissance radicale et le moment où il faudra demeurer immobile à Tourane. Tous les moyens d'améliorer la situation des troupes et des équipages ont été épuisés et sans succès. Les médecins vaincus par la maladie, arrivent à cette conclusion que les Européens ne doivent faire dans ce climat aucun travail, mais alors ns ce climat aucun travail, mais alors lors es démarches appuyées par l'intervention de personnages importants comme l'archevêque de Rouen, Mgr de Bonnechose (2), et par l'impératrice elle-même, qui avait romani convaincre l'empereur, bien qu'il n'eut à ce moment, aucun plan Colonial établi. Ces démarches avaient été entreprises par deux missionnaires: le Père Huc, membre de la Congrégation de Saint Lazare, ancien missionaire apostolique en Chine, auteur du Christianisme en Chine, en Tartarie et au Thibet et d'autre ouvrages sur la Chine, et Mgr Pellerin, vicaire apostolique de la Cochinchine septentrionale (Theo CHT, SĐD, trang 65 & 66.) c.- Linh Mục Huc và đặc biệt là Giám mục Pellerin vận động ráo riết với triều đình Pháp, ông trình bày với ủy ban thuộc địa, và sau ngày 21-5-1857, ông được vua Napoléon tiếp kiến. Đến tháng 11-1857 ông đi Rôma và được Giáo Hoàng Pie IX tán thành đường lối của ông. Dưới đây là sử liệu về vấn đề nầy: Đến Pháp vào đầu tháng 5, ngày 16-5 ông trình bày trước Ủy ban và ngày 21-5 trao cho họ một bản trần tình chi tiết trước khi được Napoléon III tiếp kiến. Giám mục đã cho chúng ta thấy vài chỉ dẫn đáng lưu ý về cuộc hội kiến trong một bức thư gửi cho một người truyền giáo tại Tây Tạng: Nhà vua đã tiếp tôi rất niềm nở và còn ban cấp cho tôi nhiều hơn những điều tôi xin. Hoàng thượng hết sức sẵn lòng giúp đỡ các phái bộ và ý ngài muốn rằng các nhà truyền giáo Pháp phải được tự do khắp nơi, cần phải cầu nguyện Thượng Đế giữ lại người của Chúa ở lại trên ngôi. Các phái bộ của Ngài, ở Cao Ly, Nhật Bản, cũng sắp được tự do nay mai, phải hy vọng điều đó. Nước Pháp sẽ đứng vững tại các xứ đó và rồi sẽ không còn có sự đàn áp nữa. Nhưng sự việc hình như cứ kéo dài mãi, giám mục sốt ruột thấy là nên nhắc lại vấn đề với Napoléon III. Xin Chúa thượng, người ta đọc trong thư đề ngày 30-8-1857 của ông. Cho phép thần lại nói đến các người mới theo đạo khốn khổ ở xứ Cochinchine và các nhà truyền giáo ở nước An Nam, hiện giờ máu họ đang đổ và tình cảnh họ còn kinh khủng hơn từ cuộc vận động sau chót của nước Pháp. Nếu bây giờ người ta vẫn không làm gì cho bọn thần cả, e rằng đạo Thiên Chúa bị tận diệt ở tại các vùng hình như sẵn sàng tiếp đón lợi ích của đạo Thiên Chúa và nền văn minh. Thần đến xin Chúa Thượng đừng bỏ rơi bọn thần. Điều bệ hạ làm cho bọn thần sẽ khiến cho ân phúc cuả Chúa ban xuống cho bệ hạ và triều đại huy hoàng của bệ hạ... Kế đến tháng 11, Giám mục Pellerin đi Rôma, Giáo Hoàng Pie IX tán thành các vận động để giúp đỡ cho các phái bộ truyền giáo." Nguyên văn tiếng Pháp: Arrivé en France au début de mai, il fut entendu le 16 mai par la commission et lui remit un mémoire détaillé le 21 mai, avant d'être recu par Napoléon III. L'évêque nous donne quelques indications intéressantes sur cette entrevue dans une de ses lettres à un missionnaire du Thibet: “L'empereurs m'a très bien accueilli et m'a accordé plus même que je n'avais demandé. Sa Majesté est parfaitement disposé pour les Missions, et son intention est que les missionnaires francais soient libres partout; il faut prier Dieu de conserver sur le trône l'homme de la providence. Vos Missions, celles de la Corée, du Japon seront aussi bientôt libres, il faut l'espérer. La France va s'établir solidement dans ces pays, et alors il n'y aura plus de persécution possible”. (1) Mais l'affaire semblait trainer. L'évêque, impatient, crut devoir rappeler la question à Napoléon III. “Je prie votre Majesté, lit-on dans sa lettre du 30 aout 1857, de me permettre de lui parler encore de nos pauvres néophytes de la Cochinchine et des missionnaires francais qui sont dans le royaume d'Annam; leur sang coule à l'heure qu'il est et leur condition est devenue encore plus horrible depuis la dernière démarche tentée par le France. Si maintenant on ne refait rien pour nous, il est à craindre que le christianisme ne soit anéanti dans ces contrées qui semblent cependant si disposées a recevoir les bienfaits de la religion chrétienne et de la civilisation... Je viens supplier Votre Majesté de ne pas nous abandonner. Ce qu'elle fera pour nous attirer sur Elle et sur son auguste Dynastie les bénédictions de Dieu... (2) Mgr. Pellerin se rendit ensuite à Rome, en Novembre, où le pape Pie IX lui donna son approbation pour les démarches entreprises en faveur des Missions. (1) Archives Missions Entrangères - lettre à Mgr Thonuire - Desmazures, 30-7-1858, cité par Franchini, Ouv. cité. (2) Archives du ministère des Affaires Étrangère Vol. 27 (CHT, SĐD, trang 67 & 68). Qua một tài liệu khác, chúng ta cũng thấy vai trò quan trọng của Giám mục Pellerin trong việc vận động Pháp xâm lăng nước ta. Và đã được Giáo hoàng La Mã Pie IX chấp thuận: Lợi dụng lý do truyền giáo, cấm đạo tại Việt Nam, thực dân Pháp qua trung gian Giám mục Pellerin đã đệ trình đề án kế hoạch xâm lược Việt Nam lên Giáo hoàng Pie IX và đã được La Mã chấp thuận. (Xem A. Delvaux, Mgr. Pellerin, Nazattreth, Hồng Kông, 1937, tr. 54, nguyên văn Une des facteurs qui influèrent favorablement sur la mise en campagne de l'expédition de Cochinchine fut l'avis favorable de Pie IX qui avait approuvé pleinement les démarches de Mgr Pellerin lors de son voyage à Rome (Phần tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, trích trong cuốn Phong Trào Nghĩa Hội Quảng Nam, tác giả Nguyễn Sinh Duy, nhà xuất bản Đà Nẵng, 1996, trang 17). Đến đây, có lẽ không ai có thể phủ bác được vai trò của nhiều Giáo Hoàng La Mã trong việc tán thành và hỗ trợ các vận động để Pháp xâm lăng Việt Nam ngay từ thời Linh mục A-lê-xăng-đờ-rốt, 1652. Thế mà nhà thông thái giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ lại viết bản Điều Trần khuyên triều đình vua Tự Đức qua La Mã vận động Giáo Hoàng giúp. Do đó, tôi nói khuyên gởi con cho cọp có lẽ không sai ? Với nhận định và chứng minh bằng những sử liệu chính xác như trên, chúng ta có thể nói rằng bản Điều Trần Lục Lợi Từ của Nguyễn Trường Tộ nên đổi thành Lục Hại Từ mới đúng? Phần tiếp theo kính mời độc giả tìm hiểu một bản Điều Trần quan trọng khác của Nguyễn Trường Tộ. Đó là Di Thảo số 27 Tám Việc Cần Làm Gấp, được viết ngày 15-11-1867; 56 trang, dài nhất trong tất cả 58 bản Điều Trần. Chương 3 NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VỚI VIỆC MỞ TRƯỜNG KỶ THUẬT VÀ HỌC THỰC DỤNG Bản Điều Trần số 27 dưới đây sẽ cho thấy phần lớn cái chiêu bài canh tân của Nguyễn Trường Tộ: Nhận định bản Điều Trần số 27 Tám Việc Cần Làm Gấp (Tế Cấp Bát Điều). Tổng quát, đây là một trong ba bản Điều Trần có tầm vóc. Giọng văn điêu luyện có tính thuyết phục và nhiều đoạn rất thực tế đã mô tả được một số bệnh trạng của đất nước ta thời bấy giờ. Cách trình bày, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ dường như có thành tâm thiện chí đối với nước nhà. Để đánh giá bản Điều Trần nầy được chính xác, chúng ta nên lồng nó vào bối cảnh lịch sử nước nhà và vào thời kỳ mà giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ viết bản Điều Trần này vào tháng 11, 1867. Để dễ theo dõi, tôi chia bản Điều Trần làm nhiều đoạn. 1.- Phần mở đầu - gồm 6 trang mô tả tình hình chung của các nước lúc bấy giờ. Phần nầy chúng ta cũng thấy Nguyễn Trường Tộ đưa ra nhiều nhận xét chí lý chí tình như: Vận hội trong thiên hạ cũng thế. Những việc làm thời xưa chỉ đủ đem lại những nhu cầu cần thiết cho nhân loại, nhưng chưa đủ tập họp để làm nên công dụng hay ho gì. Những việc sửa sang giúp đời trị thế, cũng chẳng qua thời thế lúc bấy giờ phải như vậy, mới đủ dùng được như vậy mà thôi. Nhưng đến đời sau xem lại, những việc làm ấy không khác nào trò nghịch đất khi còn bé (Tế Cấp Bát Điều, TBC, SĐD, trang 225). Hoặc: Chỉ vì nay ta không thể phát huy vũ lực ra các nước xung quanh, nên mới bị các nước mang binh đến ta. Dù ta không chủ tâm đánh ai, nhưng cũng phải sửa sang biên thùy, siết chặt hàng ngũ trong nước, để có một lực lượng có thể đánh được người ta, nhưng chỉ chờ ai đến thì đánh mà thôi. Như vậy mới khỏi hoạn nạn. (Bản Di Thảo đã dẫn, TBC, trang 226). Đọc đoạn mở đầu nầy, độc giả sẽ tìm thấy những ý tưởng hay và những thích thú khác mà tôi chỉ đơn cử hai thí dụ. Tuy nhiên, về phương diện tình thế và sử liệu có rất nhiều chỗ sai, mặc dầu có lẽ không quan trọng lắm cho bài Điều Trần nầy, nhưng tôi vẫn nêu ra vài điểm để độc giả rõ thêm và tránh những dẫn chứng sai lầm nếu ai có xử dụng đến. Thí dụ 1: Nguyễn Trường Tộ đặt nghi vấn: "Người Anh đã xin nhà Thanh cho lập một quân cảng ở Quỳnh Châu là ý muốn gì?" Chúng ta nhớ rằng Nguyễn Trường Tộ viết bản Điều Trần nầy vào năm 1867, nghĩa là 27 năm sau khi quân Anh tấn công Chiết Giang (năm 1840) lên Trực Lệ rồi thẳng vào Thiên Tân, quân Trung Hoa thua phải ký hòa ước Nam Kinh... mở năm cảng: Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải, cắt đứt Hương Cảng tặng cho Anh. Xin xem lại đoạn Tình hình Trung Hoa và Hồng Kông trong phần nhận định Di Thảo số 5 Lục Lợi Từ. Và sau chiến tranh Nha phiến thứ II (1856-1860), Trung Hoa thua, nhà Thanh mở thêm bảy thương khẩu khác cho Anh và Pháp (đã trình bày trong Tình Hình Trung Hoa và Hồng Kông). Do đó, câu hỏi của Nguyễn Trường Tộ nêu ra ở trên không cần thiết và không đúng. Thí dụ 2: Nguyễn Trường Tộ viết: Người Pháp đang còn tính ngược sông Cửu Long chiếm Tây Tạng rồi sau đó phía đông sẽ xuôi dòng Kim Sa xuống Tứ Xuyên vào giữa lòng Trung Quốc... (TBC, SĐD, trang 227). Sai, như đoạn trước về Tình Hình Trung Hoa và Hồng Kông mà chúng ta đã biết, chiến tranh Nha phiến II (1856-1860), Anh và Pháp hợp tác với nhau để đánh Trung Hoa, nhà Thanh thua phải mở thêm 7 cửa khẩu. Còn Tây Tạng ở giữa Ấn và Trung, là một quốc gia bị tuyết phủ, hầu như quanh năm, Pháp chiếm Tây Tạng làm gì? Chỉ có Trung Hoa nhất là Anh chiếm Tây Tạng để tránh sự dòm ngó của các nước vào thuộc địa Ấn Độ của Anh. Tôi chỉ nêu hai trong nhiều điểm mà Nguyễn Trường Tộ đã lạc dẫn lịch sử. 2.- "Tám điều cần phải làm gấp" của Nguyễn Trường Tộ đề nghị: 2.1.- Điều thứ nhất: "Xin gấp rút việc sửa đổi võ bị". Cũng như đoạn mở đầu bản Điều Trần, Nguyễn Trường Tộ dường như có nhiều ý kiến hay. Nhưng nếu đọc cuốn "Tôn Ngô Binh Pháp, chúng ta thấy hầu như Nguyễn Trường Tộ lấy ý trong cuốn sách nầy. Đã vậy, ý của Nguyễn Trường Tộ so ra còn kém xa. Sau đây là một số dẫn chứng. a.- Nguyễn Trường Tộ viết: "Cái khó của môn học nầy là người học võ học các sách binh thư đồ trận. Học sách xong phải thể nghiệm tập tành. Học cái gì tập luyện cái đó. Óc sáng suốt, cái nhìn nhanh như thần mới nắm được cốt cách mau lẹ..." Tôn Ngô Binh Pháp: Việc binh, lấy trá mà thành. Lấy lợi mà động. Lấy hợp tan làm biến hóa. Nhanh như gió. Thong thả như rừng. Lấn cướp như lửa. Bất động như núi. Khó biết như mây. ("Tôn Ngô Binh Pháp", Ngô Văn Triện dịch, trang 121& 122). b. Nguyễn Trường Tộ: "Kẻ học võ học các phép động tĩnh đánh đấm đúng chân truyền mới không sai khi ứng dụng..." Tôn Ngô Binh Pháp: Tính giỏi thì biết cái thế đắc thất. Tác động để biết cái động tĩnh. Nghiên cứu địa hình để biết sống chết. So đọ để biết chỗ thiếu thừa (TNBP, trang 108 &109). c.- Nguyễn Trường Tộ: "Kẻ học võ đối với những nơi hiểm yếu có tính cách sinh tử, những hình thể có tính cách quyết định thắng bại, phải giả tạo hiện địa, lập trận đồ đích thân luyện tập (Binh pháp phương Tây như thế) mới thể nhận được rõ ràng..." Tôn Ngô Binh Pháp: Ứng biến về địa thế: "Tránh chỗ bằng, đón chỗ nghẽn, lấy một đánh mười đâu bằng chỗ nghẽn, lấy mười đánh trăm đâu bằng chỗ hiểm, lấy trăm đánh nghìn đâu bằng chỗ ngẵng" (TNBP, trang 281). d.- Nguyễn Trường Tộ: "Kẻ học võ quan sát đồn bót xem mặt nào có thể đánh được giữ được, hướng nào có thể ra được vào được, phải chính mắt xem xét rõ ràng hình thế địa lý và ghi nhớ trong lòng (Võ quan phương Tây như thế). Tôn Ngô Binh Pháp: "Người giỏi đánh quân địch không biết đâu mà giữ, người giỏi giữ quân địch không biết đâu mà đánh" (TNBP, trang 89). e.- Nguyễn Trường Tộ: "Con nhà võ khi ra trận tên đạn trước mặt, gươm giáo sau lưng, tiến lên thì chết vào tay giặc, thoái lui thì luật nước không cho. Lệnh xuất quân đã ban thì quên nhà, trống thúc quân đã giục thì quên mình..." Tôn Ngô Binh Pháp: Ra đến cửa như thấy quân địch, khi lâm trận không nghĩ đến sự sống, phá được quân địch mới tính chuyện ra về (TNBP, trang 278). g.- Nguyễn Trường Tộ: "Con nhà võ biết bắc cầu đắp đường, dựng đồn lập lũy. Công việc của họ làm thiên biến vạn hóa. Nương theo địch mà tìm cách thắng địch, tùy theo địa thế mà lập cách phục binh, xuất quỉ nhập thần không theo một phương thức sẵn có hay một khuôn khổ nhất định. Cho nên cái kỳ diệu của nhà binh không thể báo trước được." Tôn Ngô Binh Pháp: Việc dụng binh hễ được thế thì mạnh mất thế thì yếu. Mạnh thì hăm hở, yếu thì rụt rè (TNBP, trang 89). Dọa phía Đông, đánh phía Tây, nhử phía trước đánh úp đằng sau, biến hóa không cùng. (TNBP, trang 98). Tiến mà họ không chống được bởi ta xông vào chỗ thực, lui mà họ không đuổi kịp vì ta nhanh chóng mà họ không thể theo (TNBP, trang 100). Tránh lúc địch hung hăng, đánh úp lúc chúng trễ biếng. "Lấy gần đợi xa, lấy nhàn đợi nhọc, lấy no đợi đói." (TNBP, trang 128 & 129). Mồi nhử chớ ăn, giặc cùng chớ bách (trang 133 & 134). Sáu đoạn so sánh trên có lẽ đã cho chúng ta biết ý kiến về võ bị của Nguyễn Trường Tộ phát xuất từ đâu. Vậy mà ông luôn luôn cổ võ theo lối học thực dụng, tổ chức theo kiểu Tây. Hai trong sáu thí dụ nêu trên Nguyễn Trường Tộ còn chú thích "binh Pháp Tây phương như thế" (mục c) và quan võ phương Tây như thế" (mục d). Theo tôi Nguyễn Trường Tộ không đọc được tiếng ngoại ngữ thông thạo ngoại trừ chữ Nho. Do đó, lúc nói rằng "phương Tây như thế" là nói cho oai, chứ thực tế cũng cần xét lại. Thay vì đề nghị thiếu chuyên môn và không có gì mới về việc chỉnh trang võ bị như trên, Nguyễn Trường Tộ nên đề ra một phương pháp kháng chiến mới: đánh theo lối du kích như thế nào? Cướp khí giới Pháp để dùng làm kiểu mẫu đúc súng mới, toàn dân bất hợp tác, con chiên không nên hỗ trợ giặc Pháp v.v... Nếu Nguyễn Trường Tộ có tâm hồn vì dân vì nước, nhất là hơn ai hết, Nguyễn Trường Tộ là người ít ra am hiểu tình hình và chương trình đồng hóa của Pháp, vì ông là người thông minh, du lịch nhiều, ở Pháp nhiều năm, và gần gũi các linh mục, giám mục, nhất là Giám mục Ngô Gia Hậu, (Gauthier) là một tên gián điệp, mà quí vị sẽ thấy ở đoạn kế tiếp. Còn đoạn đề nghị sau đây của Nguyễn Trường Tộ chúng ta nên dè dặt: Giờ đây trong số các quan viên văn võ có những vị nào quê ở lục tỉnh Nam Kỳ, triều đình phải đặc biệt ưu ái họ. Cho họ thường xuyên về thăm anh em họ hàng. Phải đãi ngộ họ thân mật nồng nàn hơn trước, khuyên bà con họ hàng của họ không nên dời nhà cửa đi nơi khác, đừng lánh đi xa. (Di Thảo số 27, TBC, SĐD, trang 239). Lý do cần dè dặt vì, sau khi chiếm Nam Kỳ, hầu hết dân chúng tại đó không chịu ra hợp tác với Pháp, người thì theo kháng chiến, kẻ theo chiến dịch Đồng không nhà trống làm cho chính quyền Bonard bối rối (xin xem đoạn cuối, phần trước). Vậy, lời khuyên của Nguyễn Trường Tộ như trên xem ra vô tình hay cố ý trúng kế và làm lợi cho Pháp. 2.2.- Điều hai: Xin hợp tỉnh, huyện để giảm bớt số quan lại và khóa sinh. Chúng ta không có dữ kiện về số dân trong mỗi tỉnh, huyện thời bấy giờ để nên hợp hai hoặc ba tỉnh làm một nhằm giảm bớt số quan lại và nhân viên làm việc. Hoặc, nếu có tỉnh, huyện dân số quá đông, thì nên chia ra để công việc hành chánh được thực hiện nhanh chóng khỏi bắt dân phải đợi chờ phiền toái. Do đó, không nhất thiết phải hợp tỉnh, huyện mà có nơi phải phân chia. 2.3.- Điều ba: Gây tài chính bằng cách đánh thuế xa xỉ. Điều thứ 5: Điều chỉnh thuế ruộng đất. Điều thứ 6: sửa sang lại cương giới. Điều thứ 7: Nắm rõ dân số. Các đề nghị trong điều thứ 3, 5, 6 và 7 nói trên, tôi thấy rất cần thiết, và bất kỳ ở hoàn cảnh nào cũng có thể thực hiện được. Những đề nghị đó không những thích hợp cho thời xưa mà còn cho ngày nay nếu các chính phủ, nhất là trong các quốc gia còn lạc hậu. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng nhìn vào bốn đề nghị vừa nêu trên của Nguyễn Trường Tộ để nghĩ rằng, lúc bấy giờ và các triều đại trước đó không qui định các thứ thuế, không đo đạc ruộng đất và không kiểm kê dân số. Thật vậy, theo cụ Trần Trọng Kim trong "Việt Nam Sử Lược quyển 2, Bộ giáo dục, Trung Tâm Học Liệu xuất bản, 1971. Đại Nam, Hoa Kỳ in lại, từ trang 173-177 cho chúng ta một vài chi tiết về thời Gia Long như sau: a.- Việc tài chánh: Thuế đinh, thuế điền đều định lại cả. Thuế điền thì chia ra làm 3 hạng: nhất đẳng điền mỗi mẫu đồng niên nộp thóc 20 thăng; nhị đẳng điền 15 thăng; tam đẳng điền 10 thăng. Còn thứ ruộng mùa đồng niên phải nộp 10 thăng. Thuế đinh thì lệ định: từ Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hóa, mỗi suất đồng niên phải chịu: Thuế thân 1 quan 2 tiền Mân tiền 1 tiền Cước mễ 2 bát 5 nội trấn Bắc Thành và phủ Phụng Thiên mỗi suất đinh đồng niên phải chịu thuế Lệ giảm thuế: Thuế lệ tuy định như vậy, nhưng năm nào ở đâu mất mùa, như là bị hoàng trùng, đại hạn hay là nước lụt, v.v... thì nhà nước chiếu theo sự thiệt hại nhiều ít mà giảm thuế cho dân. Đinh bạ: Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức sắc cho đến quân dân, đều phải vào sổ. Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống, đều phải ghi vào sổ. Điền bạ: Các làng, hoặc ruộng mùa, hoặc ruộng chiêm, hoặc ruộng hai mùa, hoặc có đất hạng nào, bao nhiêu mẫu, sào, thước, tấc, tọa lạc tại đâu, đông tây tứ chi phải thưa cho rõ ràng. Mỗi làng phải làm 3 quyển sổ, cứ 5 năm làm một lần để vào bộ đóng dấu kiểm, rồi một bản lưu lại bộ, để phòng khi xét đến, còn hai bản giao về tỉnh, tỉnh để một bản lưu chiếu, còn một bản giao trả dân xã lưu thủ. Thuế các sản vật: Năm Gia Long thứ hai (1803), định lệ các quế hộ ở Nghệ An, đồng niên phải nộp các hạng quế 120 cân. Ở Thanh Hóa phải nộp 70 cân, và đều được miễn trừ thuế thân cả. Những người tìm được cây quế, phải trình quan để cấp cho văn phòng mới được đẵn. Đẵn xong rồi một nửa nộp quan, một nửa cho người người tìm được. Năm Gia Long thứ tư (1805), định lệ những người đi lấy yến sào ở các đảo về hạt Quảng Nam, mỗi người đồng niên phải nộp thuế yến 8 lạng và được tha việc binh lính. Còn những thuế hương, thuế sâm, thuế chiếu, thuế gỗ, đều có lệ riêng, định cho nộp bằng tiền hay là bằng sản vật. Vua Thế Tổ lại định lệ đánh thuế những thuyền các nước vào buôn bán, cứ do thuyền lớn nhỏ mà định số thuế phải nộp. Những mỏ đồng, mỏ thiếc, mỏ kẽm, cũng cho người Tàu khai thác để đánh thuế. Đúc tiền: Năm Gia Long thứ hai (1803), mở sở đúc tiền ở Bắc thành, để đúc tiền đồng và tiền kẽm; lại đúc ra nén vàng, nén bạc, lượng vàng, lượng bạc, để cho tiện sự giao thông buôn bán trong nước. Thước đo: Vua Thế Tổ chế tạo ra kiểu thước đồng đo ruộng một mặt khắc 7 chữ Gia Long cửu niên thu bát nguyệt, một mặt khắc 10 chữ ban hành đạc điền xích, công bộ đường kính tạo. Chuẩn định lại các thước vuông đo ruộng khi trước, chế tạo ra thước đồng, một mặt khắc 7 chữ Gia Long cửu niên thu bát nguyệt, một mặt khắc 12 chữ ban hành đạc điền cựu kinh xích, công bộ đường khâm tạo. b.- Công vụ: Vua Thế Tổ lại sửa sang những đường sá, xoi đào các sông ngòi, đắp các đê điều, để cho việc làm ăn của dân gian được tiện lợi. Đường quan lộ: Đường sá trong nước là sự khẩn yếu cho việc chính trị, vậy nên vua Thế Tổ mới định lệ sai quan ở các doanh, các trấn phải sửa sang đường quan lộ, bắt dân sở tại phải đắp đường làm cầu, lệ cứ 15.000 trượng đường thì phát cho dân 10.000 phương gạo. Lại từ cửa Nam quan (thuộc Lạng Sơn) vào đến Bình Thuận, cứ độ 4.000 trượng phải làm một cái trạm ở cạnh đường quan lộ, để cho quan khách đi lại nghỉ ngơi. Cả thảy 98 trạm. Còn từ Bình Thuận trở vào phía Nam đến Hà Tiên thì đi đường thủy. Sông ngòi và đê điều: Những sông ngòi và đê điều, đều là sự khẩn yếu cho việc canh nông, bởi vậy vua Thế Tổ truyền cho quan ở các trấn phải xoi đào sông ngòi và các cửa bể, và nhất là ở Bắc Thành phải giữ gìn đê điều cho cẩn thận; chỗ nào không có thì đắp thêm, chỗ nào hư hỏng thì phải sửa lại. Ở các trấn lại đặt ra kho chứa thóc gạo, để phòng khi mất mùa đói kém thì lấy mà phát cho dân. Vì là một cuốn sử lược, nên không cho chúng ta biết thêm một số chi tiết cần thiết khác về các vấn đề thuế, dân số, biên cương. Có lẽ trong bộ Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn, đầy đủ hơn, nhưng hoàn cảnh của tôi không thể có được lúc viết bài nầy. Về quốc phòng cũng thế, Bộ Quân Sử Việt Nam, từ thời đại phong kiến đến 1968 do TTM/QLVNCH soạn, sẽ giúp chúng ta đối chiếu một số điểm về võ bị mà ông Nguyễn Trường Tộ có nêu như đã bàn ở phần trên. Một điểm khác, cần thảo luận thêm là, các thứ xa xỉ phẩm cách đây 131 (1998-1867 =131 năm) sẽ không có nhiều như ngày nay. Lúc đó không có thuốc ba số 5, thuốc Dunn Hill, rượu Henessy Cognac, dầu thơm Lancôme Pháp, áo bằng da, bằng lông cừu v.v... Về thuế du hí như xem hát mà Nguyễn Trường Tộ có vẻ cay cú lúc viết Trong dân gian có người bỏ ra hàng chục hằng trăm quan tiền để xem hát, nhất là dân thành thị. Vì vậy những phường vô lại du đảng không chịu chăm lo làm ăn chuyên dựa vào nghề nầy để kiếm tiền, ế ẩm thì sinh trộm cướp vì không có nghề nào nuôi sống (TBC, SĐD, trang 246). Nhận xét như thế, tôi nghĩ không đúng, vì cầm, kỳ, thi, họa (Ca hát, xướng họa, thi phú) cũng là những môn giải trí lành mạnh. Hát bội, hát chèo, hò, vè ngày xưa không những là môn giải trí lành mạnh cho tinh thần mà còn là những mãng văn hóa cần thiết của xã hội. Việc tế thần, cúng thần v.v... cũng thế, nghĩa là đừng thái quá để sa vào vòng cuồng tín, mê tín dị đoan. Nhưng đừng quên rằng tín ngưỡng dân gian cũng đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề làm cho con người tránh bớt phạm pháp. Thí dụ: Một bà mẹ vùng quê cảnh cáo con rằng Mầy ở ác, coi chừng thần hoàng vặn cổ mầy. Phải chăng câu nói ấy, có một tác dụng tâm lý quan trọng trong cách xử thế của người con? Do đó, không nên nhìn tín ngưỡng dân gian dưới nhãn quan Gia Tô giáo. Và chính cái nhãn quan ấy mới cuồng tín và sai lầm. 2.4. Điều bốn - Xin sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng." Nguyễn Trường Tộ chỉ trích một cách đúng đắn khi cho rằng xưa nay chúng ta chú trọng đến loại tầm chương trích cú, học những chuyện xưa của Tàu, không ích gì cho đời nay. Ông đề nghị nên có bốn khoa học thiết thực như: a.- Khoa nông chính: nghiên cứu các loại đất, khí hậu, giống, phương pháp canh tác để thu hoạch nhiều hoa lợi. b.- Khoa thiên văn và khoa địa lý: gấp rút duyệt lại khoa thiên văn địa lý từ trước đến nay, chọn những gì hợp với thiên thời địa thế nước ta. Tham khảo các khoa thiên văn địa lý Tây phương để rút tỉa những điều hay của họ. c.- Khoa công kỹ nghệ: Tìm trong sách Nho cũng như sách Tây thu thập những gì cần thiết hằng ngày như nguồn lợi khoáng sản v.v... d.- Khoa luật học: bất cứ dân hay quan cũng đều học luật nước nhà để dân thì biết luật mà giữ, quan thì biết luật mà theo. c.- Dùng quốc âm: lấy chữ Hán đọc ra quốc âm thì khi đọc lên ai cũng hiểu có phải vừa dễ dàng vừa bớt được bao nhiêu phiền phức không? Nguyễn Trường Tộ rất thẳng thắn để nói một cách cương trực rằng: Còn văn sách thì cứ nói mãi những chuyện Hán tự tạp bá, Đường trị vi thuần. Tạp bá, vi thuần của người ta mặc kệ người ta. Mình hãy nói chuyện trị nước của mình ngày nay ra sao thôi. Nước chưa giàu, sao không đặt kế hoạch để giàu? Binh chưa mạnh sao không chăm lo võ bị cho mạnh? Dân chưa khôn sao không đem đạo lý ra giáo dục? Nhân dân đói khổ sao không lập kế mưu sinh để cứu? v.v... (TBC, SĐD, trang 254). Đó là những lời phê bình thẳng thừng không vị nể, để mang cái học thực tế vào áp dụng cho tình thế hôm nay. Đây là những chỉ trích ích lợi, cần thiết để xây dựng một nền học thuật mới mẻ cho nước nhà. Có thể nói, những đề nghị nầy của Nguyễn Trường Tộ rất đáng được ca tụng. Tuy nhiên tôi muốn nêu một vài thắc mắc để cùng thảo luận với độc giả như sau: Nguyễn Trường Tộ hô hào nên học thực dụng, nhưng chúng ta không thấy tác giả đã thực hiện được điều thực dụng nào trong suốt cuộc đời của ông như, dịch vài cuốn sách khoa học, kỹ thuật phương Tây để dân ta tìm hiểu, hoặc tổ chức một lớp học hay một khóa hội thảo về kỹ thuật để cho tuổi trẻ Việt Nam được mở mang kiến thức khoa học tân tiến. Trong cuộc đời Nguyễn Trường Tộ chúng ta thấy ông thực hiện được một số việc như sau: 2.4.1.- Viết được 58 bản Điều Trần, mà một số bài quan trọng chúng ta đã và đang tìm hiểu. Qua các bản Điều Trần nầy, như sự phân tích trên cho thấy, hầu hết đều lạc dẫn, không tưởng. Ngay có nhiều đề nghị nếu áp dụng, sẽ tạo ra tai họa không thể lường được như đã phân tích trong Di Thảo số 1 Thiên Hạ Đại Thế Luận; Di Thảo số 5 Lục Lợi Từ; Di Thảo số 27 Tế Cấp Bát Điều. Ngay trong Di Thảo Tế Cấp Bát Điều nầy chúng ta cũng thấy Nguyễn Trường Tộ đưa ra một đề nghị khác hết sức không tưởng và tai hại. Đó là đào một con kênh từ Hải Dương, gần Hải Phòng, đến kinh đô Huế, dài khoảng 8-9 trăm km. Với khí cụ tối tân ngày nay, chúng ta quả quyết rằng không thể làm được huống hồ là 130 năm trước đây, dụng cụ chỉ là tay chân và mấy cái cuốc cán bằng tre. Với kỹ thuật của cuối thế kỷ thứ 20 và dường như có sự tài trợ hoặc cho vay tiền của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), để làm một đoạn đường quốc lộ 1 từ Vinh vào Đông Hà (Quảng Trị) khoảng 300 km. Dự án đã có nhiều năm qua mà vẫn chưa thực hiện được. Đó là con đường đã có sẵn bằng đất và đá, chỉ làm cho rộng và hiện đại thêm mà đã khó lòng. Dân số Việt Nam ngày nay gần 80 triệu, có nguyên liệu để xuất cảng như lúa gạo, hải sản v.v..., và nền kinh tế thị trường mà chưa làm được. Huống hồ 130 năm về trước, dân số gần 20 triệu *, nền kinh tế nông nghiệp. Đào kênh lại phí tổn gấp cả trăm lần so với làm đường bộ. Thật là một đề nghị hết sức phi lý. Đó là chưa nói đến tình trạng loạn chày vôi, chỉ mới đào hào để làm lăng tẩm cho nhà vua mà dân chúng kinh thành đã nổi loạn, không biết Nguyễn Trường Tộ có nghe hai câu vè: Vạn niên là vạn niên nào, Thành xây xương lính hào đào máu dân. Nếu đào kênh như đề nghị của Nguyễn Trường Tộ, chắc chắn dân chúng cả nước đều nổi lên chống triều đình. Cảnh thù trong: dân chúng nổi loạn, giặc ngoài: Pháp thừa cơ hội tấn công và chiếm toàn lãnh thổ một cách nhanh chóng hơn. 2.4.2.- Xây nhà thờ: Nguyễn Trường Tộ xây được hai cái nhà thờ. Một là xây Nhà Chung Xã Đoài. Hai, xây tu viện Phao Lồ ở Sài Gòn. Lúc nầy có phần khác, nhưng thời buổi Pháp chiếm Việt Nam, có thể nói đây là hai nơi trú ẩn cho bọn gián điệp để xâm lăng Việt Nam. Một trong những người trú ngụ tại Nhà Chung Xã Đoài do Nguyễn Trường Tộ xây cất là Giám Mục Ngô Gia Hậu tức là Gauthier (người Pháp), thầy của Nguyễn Trường Tộ, là người luôn luôn sát cánh với Nguyễn Trường Tộ trong tất cả các việc làm, ngay cả có thể (?) sát cánh trong việc viết 58 Di Thảo nầy. Chúng ta có thể khẳng định rằng Giám mục Gauthier (tên Việt Nam: Ngô Gia Hậu) là một tên gián điệp qua phần thảo luận và dẫn chứng sau đây. 2.4.3.- Trường kỹ thuật: Theo tờ trình của Giám mục Gauthier đề tháng 3, 1868 nạp cho triều đình Tự Đức chúng ta thấy có nhiều máy dụng cụ, sách, tự điển v.v... cũng như phí tổn các thứ ấy mua từ Pháp về do phái bộ Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ thực hiện để mở trường kỹ thuật. Tờ tấu của Cơ Mật Viện ngày 4-3-1868, gồm có 7 đại thần đề nghị nhà vua nên ban thưởng cho cả phái bộ và 4 thầy dạy học mà Gauthier và Nguyễn Trường Tộ được vua Tự Đức nhờ đi mướn từ Pháp về. Trong 4 thầy có 3 vị là linh mục người Pháp. Bảy đại thần nói trên gồm có: Nguyễn Tri Phương, Đoàn Thọ, Vũ Trọng Bình, Trần Tiển Thành, Nguyễn Văn Phong, Phan Huy Vịnh và Phạm Phú Thứ. Vua Tự Đức đồng ý lời đề nghị của các đại thần, sai ban thưởng rất hậu. Điều đó chứng tỏ triều đình nhà Nguyễn rất muốn canh tân. Nhưng công việc không thành mà chúng ta sẽ thấy lý do ở đoạn sau. Tóm lược các máy móc và dụng cụ mua từ Pháp và lộc vua ban thưởng: a.- Máy và dụng cụ: Sách nói về quặng sắt, về địa chất, về mỏ than, về bách nghệ cơ xảo, về quặng đồng, thước tam giác, bản đồ địa lý, địa chất, hai bộ thủy thư, một bộ kỷ hạn nghi (dùng đo vĩ độ...). Sách thiên văn, sách về chính trị nước Pháp, nhiều loại thước và tự điển tiếng Pháp. Cọng chung tốn hết 1.266 quan. Tiền mua một số dụng cụ khác chưa đem về được. Phí tổn: 1.055 quan. Tiền ăn ở của hai phái viên của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier cọng với tiền chuyên chở khuân vác và đóng thùng: 2.799,148 quan. Tổng cọng cả ba khoản trên là: 5.120,148 quan. (Lược trích trong TBC, SĐD, trang 467 & 468). b.- Những vật dụng vua ban thưởng cho phái bộ đi mua máy và bốn giáo chức. Kê khai: - Xin xét cấp cho Ngô Gia Hậu các vật hạng như sau: Một tấm Ngũ phúc kim tiền nặng 5 đồng cân (có tua). Mười tấm Ngân tiền (Hạng Song Long: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Triệu dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, Tam thọ mỗi thứ một tấm), cọng lại nặng ba lượng, năm đồng cân, năm phân. Một cuộn tố đoạn bằng năm loại tơ màu đen để may áo dài chật tay (Có một đoạn lụa bóng màu lục để lót trong). Một xấp huyền lương sa Bửu lam nam hoa. Một xấp sa có vân Nam tố tuyết bạch Một xấp lụa Tuyết bạch. - Xin xét cấp cho Nguyễn Trường Tộ các vật hạng như sau: Một tấm Tứ mỹ kim tiền nặng bốn đồng cân (có tua). Năm tấm ngân tiền (Hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, hạng Tam thọ mỗi thứ một tấm), cọng lại nặng một lượng năm đồng cân năm phân. Một cuộn tơ lông màu lam để may áo dài chật tay (Có một đoạn lụa màu xanh để lót trong). Một xấp lương sa Bửu lam nam tố. Một xấp trừu Tuyết bạch nam hoa. Một xấp lụa Tuyết bạch. - Xin xét cấp cho ba tên: Đạo trưởng tên Điều, đạo đồ tên Hoằng và tên Vị như sau: Nhị thắng kim tiền mỗi tên một tấm, mỗi tấm nặng hai đồng cân (có tua). Ngân tiền mỗi tên bốn tấm (hạng sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm, hạng Ngũ phúc, hạng Tam thọ mỗi thứ một tấm) mỗi phần cọng lại nặng một lượng ba đồng cân năm phân. Nam tố lương sa màu đen, mỗi tên một xấp. Tơ lông màu lam (Châu phê: Hoặc màu đen huyền cũng được) mỗi tên một đoạn (thành một cái áo tay chật, có một đoạn lụa xanh lót trong). Lụa Bạch tuyết mỗi tên một xấp. Một xấp vải tây dày mịn Bạch tuyết hạng nhì (Chia làm ba mỗi tên một đoạn). - Xin xét cấp cho ba tên linh mục giáo sĩ: Tam thọ kim tiền mỗi tên một tấm (Châu phê: Cấp cho tên Ca Xanh ba tấm ngân tiền nầy. Châu phê: Cấp cho ba người ngân tiền hạng Sứ dân: đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm) mỗi tấm nặng ba đồng cân (có tua). - Xin xét cấp cho bọn tùy tùng của Ngô Gia Hậu bốn tên, mỗi tên một tấm Long văn ngân tiền hạng nhỏ (mỗi tấm nặng ba đồng cân). (Tờ tấu của Cơ Mật Viện triều Tự Đức ngày 4-3-1868, TBC, SĐD, trang 459-460). Qua sự khao thưởng như trên mà tôi trích dẫn dài dòng để thấy, triều đình Tự Đức cũng biết chiêu hiền đãi sĩ. Ngay cả việc vua Tự Đức đồng ý đề nghị của Giám mục Gauthier và Giám mục Sohier xây dựng trường sở trên hai mẫu đất nằm giữa nhà thờ Kim Long và tòa Giám mục Huế, theo thư của Giám mục Gauthier viết ngày 31-3-1868 (TBC, SĐD, trang 50). Nhưng việc mở trường chưa bao giờ được thực hiện. Lý do, theo Linh mục Trương Bá Cần là bị Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình, hai vị quan có thế lực trong triều ngăn cản. Cũng theo Linh mục Trương Bá Cần (SĐD trang 52) ngày 31-3-1868, Giám mục Gauthier gởi thư cho bộ truyền giáo có đoạn như sau: Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử phái bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ nầy... Trong các quan thượng thư có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua. Linh Mục Trương Bá Cần nêu lý do trên để kết luận vì thế mà trường không mở được. Theo tôi lý do nầy không đúng. Thứ nhất, trong tờ tấu của Cơ Mật Viện, ngày 4-3-1868 mà chúng ta đã thấy ở trên, có Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình đề nghị ban thưởng cho phái bộ và 4 giáo chức. Điều đó cho thấy, nếu hai vị nầy có ý cản trở thì họ đã không đề nghị vua Tự Đức ban thưởng như vậy. Thứ hai, thư của Giám mục Gauthier gởi cho bộ truyền giáo, đề ngày 31-3-1868, nghĩa là 27 ngày sau khi bảy vị đại thần đề nghị ban thưởng cho phái bộ Gauthier.... Thư cho biết, vua Tự Đức đồng ý dùng hai mẫu đất để xây trường sở. Sự đồng ý của vua Tự Đức không thể không có sự tham khảo với các đại thần trong đó có Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình. Hơn nữa Trần Tiển Thành mới là nhân vật chính trong Triều (chức phụ chính) sau vua Tự Đức chứ không phải Nguyễn Tri Phương hoặc Vũ Trọng Bình. Thứ ba, Linh mục Trương Bá Cần trích dẫn chỉ có một đoạn thư gởi cho bộ truyền giáo" như trên, không nói lên được điều gì cho thấy hai vị thượng thư đó cản trở. Việc trích dẫn như vậy không rõ ràng, không chứng minh được luận điểm mà Linh mục Trương Bá Cần muốn nói. Theo tôi, những lý do chính để việc mở trường không thành vì triều đình Tự Đức quá tin tưởng Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ, trái lại hai ông nầy thì lừa dối triều đình có hậu ý: kẻ thì ngu muội chạy theo ngoại bang, người thì khoác áo chùng thâm để làm gián điệp. Sau đây là một số bằng chứng. a.- Thầy giáo không có khả năng: Trong việc mở trường (huấn nghệ, kỹ nghệ) yếu tố quan trọng hàng đầu sau trường sở, dụng cụ... là phải có quyết tâm, thứ hai giáo chức phải có bằng cấp hoặc kiến thức chuyên môn về ngành mà mình được mời dạy. Theo tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 23-2-1868 gởi cho vua Tự Đức thì các vị giáo chức có bằng cấp chuyên môn để dạy huấn nghệ, kỹ nghệ. Nhưng theo Hội truyền giáo Paris thì mấy vị nầy không có các bằng cấp hoặc khả năng mà Giám mục Gauthier mô tả. Nguyên văn: Theo một tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21 (23-2-1868): - LM. Thông, (tức Montrouzies) biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim; biết nói có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi. Nhưng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris, thì Linh mục Montrouzies trước khi nhập Hội Truyền giáo Paris, ngày 1-5-1867 đã đậu cử nhân văn chương. - Linh mục Đồng (tức Renauld) biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng, biết làm thu lôi trụ. Nhưng cũng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris thì sau khi học xong chủng viện, Linh mục Renauld gia nhập Hội Truyền Giáo Paris 14-10-1866 và theo học một khóa đặc biệt về kiến trúc và họa đồ một năm trước lúc lên đường sang Việt Nam. - Giáo sĩ (tức bác sĩ Hernaiz) không phải linh mục hay tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi giáo sĩ như Nguyễn Trường Tô cũng được gọi là giáo sĩ, thì không dạy học trò được vì nặng tai, nhưng cũng giúp Linh mục Thông mà phân tích các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc. Nhưng tới Việt Nam chưa được mấy ngày giáo sĩ nầy do bệnh cũ tái phát đã xin về Pháp trở lại. - Còn Ca Xanh (nguyên tên là Ca sa nhi) là một người thợ máy, trước đã giúp việc tàu Thuận Thiệp, có lẽ do giám mục gặp ở Sài gòn đem về giới thiệu với triều đình, nhưng Ca xanh đòi lương quá cao (320 đồng/tháng, tính ra tiền là một ngàn, bảy trăm sáu chục quan) và đòi hỏi nhiều điều kiện, nên không dùng. (TBC, SĐD, trang 49 & 50). Các đối chiếu nên trên chứng tỏ Vua quan triều Tự Đức bị thầy trò Nguyễn Trường Tộ dối trá lừa bịp có hậu ý. b.- Giám mục tình báo: Giám mục Sohier, nhất là Giám mục Gauthier, thầy đỡ đầu và sát cánh với Nguyễn Trường Tộ là một tên gián điệp phục vụ cho quyền lợi của Pháp chứ đâu có tấm lòng muốn giúp triều đình Tự Đức mở trường để canh tân xứ sở, mà bảo giám mục không lừa dối triều đình. Thật vậy, nếu kể theo thứ tự thời gian, chúng ta thấy rằng Giám mục Gauthier cùng Nguyễn Trường Tộ đến chào mừng quân Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng năm 1858. Và năm 1861, theo lời yêu cầu của phó Đô đốc Charner, thầy trò Gauthier về Sài Gòn, để mở rộng vùng chiếm đóng. Quý độc giả sẽ thấy sử liệu ở Chương 2, bản Điều Trần số 17 Dùng Giám Mục, Linh Mục Vào Việc Canh Tân(trang 163). Sau khi hiệp ước 1862 ký giữa Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha, triều đình vua Tự Đức kiếm cách chuộc lại ba tỉnh đã mất. Trong chiều hướng nầy, một người Gia Tô cuồng nhiệt là Trung Tá hải quân Aubaret vận động, được bộ ngoại giao Pháp và vua Napoléon III đồng ý. Vì thế một hiệp ước mới (thế hiệp ước cũ 1862) được bộ ngoại giao và bộ hải quân soạn thảo theo quan điểm của vua Napoléon III, và được ký tại Huế ngày 15-1-1864. Theo hiệp ước nầy, ba tỉnh bị chiếm trong năm 1862 được trả lại cho Việt Nam, ngoại trừ thành phố Sài Gòn, Mỹ Tho, Vũng Tàu và Côn Đảo. Để đổi lại việc trả 3 tỉnh nầy, Pháp có quyền bảo hộ 6 tỉnh Nam bộ, ba hải cảng Đà nẵng, Ba Lạt và Quảng Nam... Theo hiệp ước 1864, Aubaret chủ trương chiếm Nam Kỳ bằng con đường tôn giáo và thương mại, chứ không phải Aubaret có lòng tốt gì đối với dân Việt Nam đâu (CHT. SĐD, trang 174, 175). Trong triều đình Pháp chia làm hai phe, phe ủng hộ và phe chống. Phe chống khuyên vua đừng phê chuẩn hiệp ước. b1.- Gauthier theo phe Aubaret: Về phía các nhà truyền giáo cũng chia làm 2 phe, phe chống, phe bênh. Chúng ta cũng nên lưu ý rằng chống hoặc bênh cũng cùng một mục đích là đồng hóa dân Việt Nam nhưng theo cách nầy hay theo đường khác mà thôi. Trong phe ủng hộ có Giám mục Sohier và Giám mục Gauthier hai người có liên hệ đến việc mở trường nói trên. Thư của Giám mục Lefèbre viết cho Linh mục Pernot, cho chúng ta thấy điều đó: Hiệp ước Aubaret bị dìm, đó không phải là điều rủi ro. Chỉ có Giám mục Sohier và Giám mục Gauthier là tán đồng hiệp ước, nhưng đứng trên quan điểm chính trị thực sự và quyền lợi của hội truyền giáo chúng ta, việc trả lại ba tỉnh để lấy tiền thật là một sự ngu ngốc kỳ lạ. Vấn đề bây giờ là phải lấy luôn ba tỉnh phía Nam: Đó là ý đồ của chính phủ và của toàn thể Bộ Tham Mưu chúng ta, nhưng cần phải có một nguyên cớ nghe được, vì cần phải có tôn trọng công lý và tôi không biết từ khi hiệp ước được ký kết với Bonard, người An Nam có cố tình phá vở hiệp ước hay không; vì không có gì rõ ràng là triều đình Huế không tôn trọng, dù có nhiều vi phạm ở địa phương mà họ có thể quy trách nhiệm cho dân chúng và quan lại, là những người, dĩ nhiên, không mấy sẵn sàng chấp nhận bất cứ hiệp ước nào với nước ngoài, nhất là ở Bắc Kỳ. Chắc Cha đã gặp Giám mục Sohier, người theo phe Aubaret, nhưng bất đồng ý kiến với tôi. Ông Aubaret đã trở lại Xiêm, hết sức xấu hổ về việc thất bại ngoại giao của ông, sự thất bại tôi đã cho ông thấy trước, khi ông ghé Sài gòn. Nguyên văn tiếng Pháp: Le traité Aubaret est enfoncé et ce n'est pas un malheur. Il n'y avait que Mgr. Sohier et Mgr. Gauthier qui en paraissaient partisans, mais au vrai point de vue politique et dans les intérêts de notre Mission, la reddition des trois provinces pour de l'argent était une absurdité révoltante... Il s'agit maintenant de prendre les trois autres provinces méridionales: c'est l'intention du gouvernement et de tout notre État-Major, mais il faudrait pour cela une raison plausible, car il faut bien observer la justice et ne sais si, depuis le traité conclu avec M. Bonard, les Annamites ont donné lieu obstensiblement à une rupture du traité; car il n'est pas évident que la Cour de Huế n'en ait pas observé les conditions, malgré beaucoup d'infractions locales, qu'elle peut rejecter sur les populations et les mandarins, naturellement peu disposés à accepter aucun traité avec une puissance étrangère, surtout au Tonkin. Vous avez du voir Mgr. Sohier, qui s'est fait aussi le partisan de M. Aubaret, mais dans un autre ordre d'idées que moi. M. Aubaret est retourné à Siam, tout confus de son échec diplomatique, que je lui avais fait entrevois lors de son passage à Saigòn”. (Lettre de Mgr. Lefèbre au Père Pernot, datée du 27-9-1864, citée par Taboulet, Bulletin de la Société des Études Indochinoise 1943, tom XVIII, N" 4, 4ème trimestre. Mgr. Sohier et Mgr. Gauthier sont respectivement évêque de Huế et évêque du Tonkin méridionnal. (Dẫn theo CHT, SĐD, trang 181). b2. Gauthier được mời họp mật: Năm 1872 tàu Bouragne chở trung tá hải quân Senez ra Bắc kỳ để dò xét tin tức cho một cuộc chiếm cứ vùng nầy. Trong thư báo cáo của hạm trưởng Senez gởi cho Đô đốc Dupré chúng ta thấy có mời Giám mục Gauthier họp mật với vị sĩ quan Senez nầy: ... Vừa lên bờ tôi gửi ngay thư cấp tốc cho Giám mục Gauthier cách đó lối mười cây số và hẹn gặp ở trong làng. Chúng tôi sống suốt ngày giữa đám dân Thiên Chúa giáo, họ rất niềm nở với chúng tôi... Lúc 4 giờ chúng tôi thấy một nhà truyền giáo, Cha Frichot đến nói chuyện với chúng tôi vì Giám mục đi vắng. Cha xác nhận lại những gì mà chúng tôi biết lúc sáng do sự tiết lộ của những phái viên: loạn lạc ngày càng bành trướng, từ các tỉnh Lạng sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang lan đến Sơn Tây, Bắc Ninh, Quảng Yên, Hải Dương và những người khởi nghĩa làm loạn, trộm cướp, đã làm những điều cực kỳ táo bạo. Cha xứ vùng Phát Diệm xác nhận các tin tức đó ngoại trừ vấn đề chính thống và tôn giáo của người dòm ngó ngôi Vua, về hai điểm này có những ý kiến mâu thuẫn nhau. Nhưng sự kiện chắc chắn là cầm đầu cuộc nổi loạn này có một người đang dòm ngó ngôi vua Bắc Kỳ, dù thuộc dòng chính thống hay không. Nguyên văn tiếng Pháp: ... Aussitôt débarqué, j'envoyai un exprès à Mgr. Gauthier qui habite à 10 ou 12 km et donnai rendez-vous au village. Nous passâmes la journée au milieu de cette population chrétienne qui fut très gracieuse envers nous... Vers 4 heures nous vimes arriver un missionnaire, le père Fricot qui en l'absence de Monseigneur venait causer avec nous. Il confirme ce que nous avions déjà appris le matin par l'indiscrétion des envoyés du Département: c'est que l'insurrection s'étendait de plus en plus et que des provinces de Lạng Sơn, Cao Bang, Thai Nguyen, Tuyen Quang, elle avait gagné celles de Sơn Tay, Bac Ninh, Quang Yen, Hai Dương et que les insurgés, rebelles ou pirates commettaient les plus grande atrocitées. Le curé de Phat Diem confirma ces renseignements à l'exception cependant de la légitimité du prétendant et de sa religion, sur lesquelles circulent des versions contradictoires. Mais le fait certain est qu'à la tête de cette insurrection existe un prétendant légitime ou illégitime à la couronne du Tonkin...” (Rapport sur le voyage du Bourayne de Saigon au Nord du Tonquin, par le Commandant Senez, 16-2-1872, Archives du ministère de la Marine, BB4. 964 CHT, SĐD, trang 242-243). b3.- Giám mục Gauthier viết: triều đình Huế chỉ nghe tiếng nói của đại bác mà thôi. Trong thư đề ngày 12-2-1873, 19-2-1873 gởi cho Đô đốc Dupré, Giám mục Gauthier viết: Cuộc chiến nầy làm hao mòn tài chánh và giết hại những tinh hoa của dân tộc(dĩ nhiên là dân tộc Pháp, BK). Giám mục Gauthier viết như vậy và còn than phiền về những việc sách nhiễu con chiên. Theo tôi (giám mục Gauthier) khi nói đến triều đình Huế và quan lại. Các người đó chỉ có nghe theo tiếng nói của đại bác, còn thì điếc hẳn không nghe gì khác. (Tức là Giám mục khuyên không nên nghe triều đình Huế về một giải pháp ở Bắc kỳ mà phải chiếm nhanh, BK). Nguyên văn tiếng Pháp: Cette guerre ruine les finances et décime l'élite de la population, écrivait Mgr. Gauthier qui se plaignait en outre des vexations dont ses chrétiens étaient victimes. Il compte pour mois, poursuivait l'évêque, en parlant de la cour de Huế et de ses madarins - que ces gens n'entendront jamais que la voix du canon et resteront sourds à tout le reste. (Mgr. Gauthier à Dupré, 12-2-1873, et 19-2-1873, CHT, SĐD, trang 250). b4.- Gauthier muốn có một chính phủ Gia Tô tại Bắc Kỳ. Bằng những sự phóng đại đó, các kẻ truyền đạo cố lôi cuốn các viên chỉ huy quân sự Pháp vào các cuộc chinh chiến và họ tin rằng một khi sự xung đột tái diễn thì nhất định Pháp sẽ mắc kẹt trong guồng máy chiến tranh. Tôi tin rằng Giám mục Gauthier và Giám mục Puginier, nhất là ông thứ nhì, không chịu nỗi ý kiến một giải pháp hòa bình cho vấn đề: Giải pháp này sẽ phá tan hy vọng của họ mong muốn thấy một chính phủ riêng biệt, chính phủ này có lẽ sẽ là một chính phủ Công giáo. Các tín đồ Công giáo lại càng phóng đại hơn nữa các ý tưởng đó và xúi giục các linh mục, các người chăn dẫn họ để đưa đến một sự đổ vỡ mới giữa hai chính phủ... Suốt ngày, chúng tôi nhận tới tấp các báo cáo và các lời yêu cầu đem quân chinh phạt các tỉnh đó. Nguyên văn tiếng Pháp: Par ces exagérations, les missionnaires s'efforcaient d'entrainer les chefs militaires francais dans des expéditions, convaincus qu'une fois que les hostilités recommencaient, les Francais seraient fatalement pris dans l'engrenage de la guerre. “Mrg. Gauthier et Mgr Puginier, celui-ci surtout, je le crois, ne peureusement supporter l'idée d'une solution pacifique de la question: cette solution est la ruine des espérances qu'ils nourrissaient de voir créer au Tonkin un gouvernement particulier, lequel serait un gouvernement catholique. Les chrétiens exagèrent encore ces idées et poussent leurs prêtres et leurs pasteurs pour amener une nouvelle rupture entre les deux gouvernements... Toute la journée, nous recevons rapports sur rapports et demandes d'expédition dans ces provinces”. (Philastre à Dupré, dépêche du 15-1-1874 précitée. CHT, SĐD, trang 306). b5.- Tại sao giám mục Gauthier muốn có một chính phủ Gia Tô tại Bắc Kỳ? Trả lời: Sẽ dễ dàng biến người Bắc Kỳ trở thành Gia Tô giáo hoàn toàn. Có ích gì lúc người Bắc Kỳ trở thành Gia Tô? Giám mục Puginier trả lời thế cho chúng ta: Tôi xác nhận rằng, khi nào Bắc Kỳø trở thành Gia Tô, thì nó cũng trở thành một nước Pháp nhỏ, hoàn toàn giống như các đảo Philippines đã thành một nước Tây Ban Nha nhỏ... Giám mục Puginier viết tiếp: Nếu chính phủ hiểu rõ quyền lợi thực sự của nước Pháp mà ủng hộ chúng tôi một cách thật sự dù che đậy đôi chút để tránh đụng chạm dư luận, tôi quả quyết rằng trong sứ mệnh của tôi, mỗi năm chúng ta có thể thu về cho nước Pháp khoảng 20.000 người bạn bằng cách cải đạo, chắc chắn tỉ lệ nầy sẽ gia tăng hàng năm, và có đủ lý do mạnh để hy vọng rằng sau 30 năm, gần hết xứ Bắc Kỳ đều trở thành Gia Tô, nghĩa là trở thành người Pháp hết. Nguyên văn tiếng Pháp: J'affirme que du moment où le Tonkin deviendra chrétien, il deviendra aussi la petite France de l'Extrême-Orient, absolument comme les iles Philippines sont une petite Espagne...”. “Si le gouvernement comprenant les intérêts de la France, à leur vrai point de vue, nous favorisait d'une facon réelle quoique un peu voilée pour éviter de choquer l'opinion, j'affirme que dans ma mission nous pourrions, chaque année, gagner à la France environ vingt mille amis en les faisant chrétiens sans la moindre pression. Cette proportion irait certainement en augmentant tous les ans, et il y a fortes raisons d'espérer que d'ici à trente ans, à peu près tout le Tonkin serait chrétien, c'est-à- dire Francais. (Lettre de Mgr. Puginier au ministre de la Marine et des Colonies, 6-5-1887. Archives du ministère de la F.O.M., AOO (30) ou N.F.541, CHT, SĐD, p. 421 & 422). Tất cả các giám mục linh mục Pháp đều là những tên thực dân cuồng nhiệt. Trong số đó, Giám mục Puginier được xếp hạng nhất, Giám mục Gauthier, thầy của Nguyễn Trường Tộ đứng hạng nhì. Là hai kẻ đắc lực và nguy hiểm nhất trong chủ trương biến Bắc Kỳ thành một nước Pháp nhỏ và độc lập khỏi triều đình Huế. Giám mục Puginier đã uổng công đích thân đến Sài Gòn (Từ Bắc Kỳ, BK) để bàn trực tiếp với Đô đốc Dupré, nhưng Dupré vẫn cương quyết không can thiệp vào những vấn đề của nội bộ Bắc Kỳ. Biến Bắc Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ sau khi đã đổi đạo dân Bắc, chủ trương nầy cũng được Đô đốc Dupré chỉ trích là quá nguy hiểm. Trong thư gởi cho Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa ngày 30-12- 1874 cho chúng ta thấy điều đó: Dupré viết: Những lần tôi nói chuyện với Giám mục Puginier. Trước khi ông rời Sài Gòn, lòng tôi vẫn không thay đổi: vì thế tôi vẫn giữ nguyên các nhận xét mà tôi đã trình bày với ngài, dù vị giám mục nầy đã khổ công khuyến cáo rằng hãy bỏ cái chính nghĩa đã tạo cho dân chúng (An -Nam) có cảm tình với nước Pháp và theo con đường mà ông Garnier, một anh hùng bị kết án, đã vạch sẵn, nhưng người ta đã không biết những khó khăn của tình thế, do viên sĩ quan khốn nạn nầy để lại mà chúng ta phải gánh chịu. Giám mục Gauthier cũng thuyết phục, nhưng Dupré cũng không thay đổi ý kiến: Chắc chắn tôi sẽ không làm vừa lòng hoàn toàn Giám mục Gauthier được, ông ta quá hăng say và trong nhiều trường hợp tôi nhận thấy thật sự quá nguy hiểm nếu nhắm mắt nghe lời của ông giám mục nầy. Nguyên văn tiếng Pháp: Mgr. Puginier avait beau venir en personne à Saigon pour discuter directement avec Dupré, celui-ci restait ferme dans sa position de non-ingérence dans les affaires intérieures du Tonkin. “Les conversations que j'ai eues avec ce prélat avant son départ de Saigon, écrivait Dupré à son ministre, n'ont pas modifié ma conviction: Je maintiens donc les observations que je me suis permis de vous présenter, quelque pénible qu'il soit de conseiller l'abandon d'une cause qui éveille en France nombreuses sympathies, et l'adoption d'une ligne de conduite que condamneront ceux pour lesquels M. Garnier est un héros, et qui ignorent les difficultés la situation que nous a léguée ce malheureux officier”. (Dupré au ministre de la Marine et des Colonies, 30-12-1874, Archives ministère de la F.O.M. A 30 (25) carton 13. CHT. SĐD, trang 366). Mgr. Gauthier ne pouvait non plus changer les idées de Dupré: Il me sera certainement impossible de donner une entière satisfaction à Mgr. Gauthier; son ardeur est extrême, et en maintes circonstances, j'ai pu reconnaitre combien il serait dangereux d'accepter sans réserves les appréciations de ce prélat. (Dupré au ministre de la Marine et des Colonies, 26-7-1876, Archives du ministère de la F.O.M. A 30 (26) carton 14. CHT, SĐD, trang 367). Qua sáu dẫn chứng nêu trên, chúng ta có thể quả quyết rằng, đưa ra miếng mồi Mở Trường Kỹ Thuật là một mưu chước đã được bàn luận kỹ lưỡng giữa Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ để thăm dò và phỉnh gạt triều đình. Do đó, nên nói: Việc Mở Trường Kỹ Thuật không bao giờ có chứ không phải vì thế mà thất bại. Giả sử triều vua Tự Đức, hoặc ai đó, có điều kiện để Mở Trường Kỹ Thuật nhằm Canh Tân Xứ Sở cho dân giàu nước mạnh thì chính Gauthier và Nguyễn Trường Tộ là hai người sẽ đập phá trước hết vì nếu Việt Nam được giàu mạnh thì kế hoạch muốn đồng hóa và biến Bắc Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ để dễ cai trị của Gauthier bị thất bại sao? Tôi hy vọng Linh mục Trương Bá Cần, Tiến Sĩ Sử Học và độc giả sẽ đồng ý sự nhận xét của tôi qua các sử liệu chính xác đã trích dẫn? Và qua đó chúng ta cũng thấy rõ thêm cái tư tưởng chẳng thà mất nước chứ không thà mất Vatican của Nguyễn Trường Tộ. Cũng thế chúng ta mới hiểu rõ tại sao mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình Dùng giám mục linh mục vào việc canh tân, Những việc Giám mục Gauthier có thể giúp, Thương lượng với Giám mục Croc v.v... Vài ý kiến ngắn gọn: * Tội nghiệp cho vua quan nhà Nguyễn, không có cơ quan tình báo gì cả. Nuôi ong tay áo, nhận giặc làm con. * Giám mục Gauthier, người mà Nguyễn Trường Tộ đã mang ơn dìu dắt, việc đi đứng nằm ngồi, ăn ở bên cạnh nhau hơn mười năm. Có thật Nguyễn Trường Tộ không biết kế hoạch hỗ trợ cuộc xâm lăng Việt Nam của thầy mình? Ít nhất là trước lúc Nguyễn Truờng Tộ chết. Kế hoạch mở trường dĩ nhiên là không thể xảy ra, và đó cũng là một điều tốt để thầy trò Nguyễn Trường Tộ ít có cơ hội tới lui triều đình vua Tự Đức với mục đích thu thập tin tức cho quân đội viễn chinh Pháp. 2.5.- Điều thứ tám trong 8 điều Nguyễn Trường Tộ đề nghị phải làm gấp là lập Viện Dục Anh và Trại Tế Bần. Nguyễn Trường Tộ dẫn điển tích vua Nghiêu vua Thuấn nhờ giúp đỡ hạng người nghèo khổ, người cô độc nên được thiên hạ ca tụng là người đạo đức. Cách trình bày của Nguyễn Trường Tộ rất hợp nhân đạo lúc nuôi dưỡng những trẻ mồ côi. Nhưng cái dụng tâm của Nguyễn Trường Tộ trong đề nghị nầy là gì? Trả lời: Nếu triều đình cho rằng việc nầy nên làm thì sẽ nhờ các giám mục mời người đến mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ, không bao lâu sẽ thấy kết quả ngay. (Tế Cấp Bát Điều, TBC, SĐD, trang 276). Kết quả được những gì? Xin mời độc giả xem phần Nhận Xét dưới đây: Nếu đứng ở vị trí lịch sử đất nước Việt Nam ngày nay để xét, thì các hội từ thiện có người phương Tây nhúng tay vào không có nhiều âm mưu (trồng người) như thời Nguyễn Trường Tộ, vì thời đó Việt Nam bị Pháp đô hộ, không có chủ quyền. Người nước ngoài ngay cả thường dân họ cũng được Trị ngoại pháp quyền, chính phủ Việt Nam không có quyền xét xử, lúc họ vi phạm luật pháp. Còn các linh mục giám mục lại có quyền đặc biệt hơn nữa. Nhất là núp dưới chiếc áo chùng thâm và viện dẫn lý do tôn giáo để bắt chẹt triều đình vua Việt Nam, mà chúng ta đã thấy các linh mục giám mục ngoại quốc đến Việt Nam với các nhiệm vụ tình báo, và muốn biến Việt Nam trở thành một nước Pháp với linh hồn Vatican như đã trình bày ở đoạn trước. Ngay cả Linh mục Việt Nam như Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Trương Vĩnh Ký cũng là những kẻ bồi Tây mà lịch sử đã cho thấy. Do đó, nếu mỗi tỉnh có một Viện Dục Anh do các giám mục người Tây phương điều khiển (hay cử người điều khiển cũng thế) sẽ tạo nên một màng lưới gián điệp toàn cõi Việt Nam. Và lúc đó thì kế hoạch đồng hóa của Puginier và của Gauthier thầy của Nguyễn Trường Tộ rất dễ đạt được kết quả, và vấn đề Pháp hóa người Việt cũng sẽ được rút ngắn thời gian. Đó là chưa kể tình trạng các linh mục giám mục hay bà sơ điều khiển các Viện Dục Anh (viện mồ côi, nhà giữ trẻ) nầy dựa vào thế lực của Pháp để phản loạn qua hai dẫn chứng dưới đây: Thí dụ 1: Vụ Xuân Hòa của Linh mục Ân (người Việt Nam) đã dựa vào chức linh mục và dựa thế người Pháp cho phép những kẻ mới theo đạo ở làng Xuân Hòa (Huế) thuê giáo dân các làng bên cạnh tự tiện gặt các thửa ruộng đang tranh chấp. Vài ngày sau bữa gặt lúa, gần 1.000 dân không đạo, võ trang gậy gộc đến giật lại lúa hiện đang chứa ở đình; bị giáo dân chống cự, sau một trận ẩu đả họ đã chạy trốn, bỏ lại 20 người bị bắt (Xin xem luận án của Cao Huy Thuần, bản dịch tiếng Việt Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam. Hương Quê xuất bản, Hoa Kỳ, 1988, trang 325). Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam thời bấy giờ, Linh mục Ân sẽ bị đánh bằng roi hoặc bằng gậy vì có lỗi nhưng ông được sự che chở của Pháp. Do đó: Sự vụ kéo dài ba năm. Cuối cùng được kết thúc bằng sự nhượng bộ triều đình Huế do áp lực của các văn thư hăm dọa của soái phủ Saigòn cương quyết đòi Một linh mục không bao giờ có thể bị đánh bằng gậy, dù như là phương pháp tra hỏi, hoặc như hình phạt chính hay phụ. (CHT, SĐD, trang 330). Thí dụ 2: Thiên Tân giáo án Năm 1869 một số bà sơ người Pháp lập một Cô Nhi Viện cạnh nhà thờ tại Thiên Tân Trung Hoa, nhưng không có bao nhiêu người chịu đem trẻ mồ côi giao cho Cô Nhi Viện của người nước ngoài. Vì vậy, mấy bà sơ thưởng tiền cho những ai đem trẻ em đến. Hành động nầy làm cho dân chúng nghi là có việc mua bán trẻ con. Ngày 21-6-1870, quan địa phương Trung Hoa đem kẻ tình nghi đến Cô Nhi Viện để đối chất cho rõ sự tình. Sự việc chỉ có thế, nhưng viên lãnh sự Pháp tại Thiên Tân là Henri Fontanier cùng với người bí thư là Tây Mông đến gặp quan đại thần Trung Hoa là Sùng Hậu, với thái độ xấc xược bắn súng dọa nạt và hạch sách Sùng Hậu. Trên đường về, bọn Fontanier lại dùng súng bắn vào đám đông người Hoa và viên tri huyện Thiên Tân là Lưu Kiệt, khiến một người tùy tùng của viên tri huyện chết. Đám quần chúng uất hận không dằn được nên đánh chết Fontainier, Tây Mông và đồng bọn 20 người, đồng thời đốt nhà thờ và lãnh sự quán của Pháp. Sau đó, Pháp, Anh, Mỹ, Nga, Đức, Bỉ và Tây Ban Nha, tất cả bảy nước liên hiệp với nhau đem quân vây Thiên Tân, dọa gây chiến. Triều đình nhà Thanh phải chịu xin lỗi, bồi thường tiền cho nước Pháp, cách chức và giáng viên tri phủ và tri huyện Thiên Tân xuống làm lính, đồng thời phạt 20 người và phải xử tử 20 người Hoa khác để làm vừa lòng Pháp và các nước. (Theo The New Encyclopedia Britannica, Helen Hemingway Benten, Publisher 1973 - 1974. Cuốn 7, trang 770. Đây là cuốn Bách Khoa Đại Tự Điển bằng chữ Nho, nên tôi chỉ nhờ người quen lược dịch nhưng không viết nguyên văn vào đây được. Trong cuốn Tăng Quốc Phiên Trí Mưu Toàn Thư, quyển hạ, chương Thanh Sử Cảo, Quyển 40, Quốc Phiên Truyện, trang 1016 cũng tường thuật vụ Thiên Tân nói trên, nhưng số người bị xử tử là 17 người thay vì 20 như trong cuốn Bách Khoa Đại Tự Điển. Vụ Cô Nhi Viện Thiên Tân chỉ có giản dị như thế, quan địa phương Trung Hoa có quyền đến Cô Nhi Viện để điều tra cho rõ thực hư về tin đồn mua bán trẻ con, là một việc làm cần thiết không có gì sai trái cả. Còn việc quần chúng uất hận đánh chết người là ngoài ý muốn chứ không phải triều đình nhà Thanh chủ trương. Nhưng qua đó, chúng ta thấy số phận của một quốc gia mất chủ quyền, và cũng thấy thế của kẻ mạnh lúc nào cũng đúng cả! Hai dẫn chứng cho thấy, hoặc vô tình hay cố ý, nhà thông thái Nguyễn Trường Tộ đề nghị mỗi tỉnh lập một nhà nuôi trẻ do Giám Mục tình báo Gauthier cử người điều khiển, là một kế hoạch vô cùng nguy hiểm. Không những tạo thế hợp pháp cho các giáo sĩ nước ngoài, mà còn trải rộng mạng lưới tình báo khắp toàn quốc để cho Pháp và Vatican dễ dàng và nhanh chóng thống trị và đồng hóa dân tộc ta. Song song với sự tai hại trên, các nhà nuôi trẻ cũng là kế hoạch trồng người, một mặt thì cải đạo con người từ nhỏ và mặt khác là để chọn người tu. Hậu ý của Nguyễn Trường Tộ sau bức màn của bản Điều Trần nầy là gì? Ông đi vòng vo tam quốc giả vờ đề nghị chỉnh trang cái nầy, cải cách cái nọ, giọng văn nhiều chỗ trông có vẻ thành khẩn giống như có lòng yêu Tổ Quốc thực sự. Nhưng chủ tâm không phải cái đó, mà thâm ý là đề nghị triều đình mời hoặc bổ nhiệm mỗi tỉnh một ông linh mục hay giám mục, để thực hiện chương trình Gia Tô Giáo và Pháp hóa đất Việt theo kế hoạch của Puginier và của Gauthier (thầy và cố vấn của Nguyễn Trường Tộ). Kế hoạch nầy núp dưới chiêu bài Viện Dục Anh và Trại Tế Bần. Nguyễn Trường Tộ lại bồi thêm một nhát dao chí tử khác vào cơn bệnh trầm kha của triều đình bằng cách, đề nghị đào một con kênh từ Hải Dương vào kinh đô Huế để phu dân phục vụ khổ cực thì sẽ có một Loạn Chày Vôi khác chống lại triều đình. Kế hoạch ba mặt giáp công vua quan Việt Nam làm sao chống đỡ nổi: Bên ngoài Pháp đánh vào, bên trong phu đào kênh đánh ra. Tại các tỉnh, linh mục giám mục hô hào con chiên nổi dậy chiếm các công sở, xử dụng khí giới tối tân của thực dân mặc sức tha hồ cướp của giết người. Đây là trọng tâm chính của bản Điều Trần Tám Điều Lợi Cần Làm Gấp của Nguyễn Trường Tộ. Tóm lược vài điểm chính của Phần Hai qua ba bản Điều Trần quan trọng nhất của Nguyễn Trường Tộ. 1.- Nguyễn Trường Tộ trốn ra nước ngoài: vì sợ triều đình vua Việt Nam trị tội. Lý do là ông cùng nhiều giám mục, linh mục ngoại quốc đến ủng hộ cuộc đổ bộ của Pháp chiếm Đà Nẵng. Quí độc giả sẽ thấy rõ thêm chi tiết trong phần sau của bài nầy. 2.- Qua sử liệu chúng ta đã thấy ngay từ đầu, nếu quân dân Việt Nam đánh mạnh, thì không những Pháp rút khỏi Đà Nẵng mà ngay cả ba tỉnh bị chiếm tại Nam Kỳ.* Trong lúc đó Nguyễn Trường Tộ viết Điều Trần khuyên quân dân Việt Nam Ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa... Huống hồ nước Việt Nam là một nước nhỏ bé, tại sao lại muốn trái đạo trời. Là một đề nghị để quân Pháp có thì giờ dưỡng sức mà chiếm các tỉnh khác. 3.- Năm 1863 Nguyễn Trường Tộ viết, người Pháp chỉ xin ta cắt cho một vài chỗ, họ không có ý đi cướp nước, nếu yêu sách thoả mãn họ sẽ chấm dứt. Mặc dầu vua Tự Đức đã thỏa mãn những gì Pháp đòi hỏi, nhưng năm 1867 Pháp cướp trọn cả xứ Nam Kỳ và năm 1873 cướp luôn Bắc Kỳ. 4.- Nguyễn Trường Tộ nêu câu hỏi tại sao giết giáo sĩ. Chúng ta đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy, các giáo sĩ nướùc ngoài đến Việt Nam đã được Giáo Hoàng La Mã khuyến khích và đồng ý với các kế hoạch hỗ trợ chính phủ Pháp xâm chiếm và đồng hóa dân tộc ta. Đến nỗi Đô đốc Genouilly cũng lên án rằng không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Gia Tô, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự và quân sự không được và không phải thuộc quyền hạn của các giáo sĩ. 5.- Trong bản Điều Trần Lục Lợi Từ (Sáu Điều Lợi cần làm), Nguyễn Trường Tộ dẫn chứng sai sử liệu với hậu ý là khuyên người Việt Nam hợp tác với Pháp và nhờ Giáo hoàng La Mã giúp đỡ. Nhưng qua sử liệu chúng ta đã chứng minh rằng một giải pháp hợp tác chỉ có lợi cho Pháp và nhờ Giáo hoàng La Mã giúp thì cũng giống như khuyên cha mẹ gởi con vào chuồng cọp mà thôi. Do đó, Sáu Điều Lợi của Nguyễn Trường Tộ đề nghị sẽ trở thành Sáu Điều Hại rất nguy hiểm cho quốc gia. 6.- Bản Điều Trần Tế Cấp Bát Điều (Tám điều cần phải làm gấp). Nguyễn Trường Tộ cổ vỏ cải đổi võ bị, thu hợp các tỉnh nhỏ, điều chỉnh các thứ thuế, đo đạc ruộng đất, thống kê dân số, học thực dụng, âu hóa khoa học kỹ thuật và mở Viện Dục Anh ở mỗi tỉnh. a.- Nhưng về binh pháp thì Nguyễn Trường Tộ không có sáng kiến gì mới, không có gì gọi là âu hóa mà hầu hết là lấy ý trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp. Các vấn đề thuế, đo lại ruộng đất và kiểm kê dân số, thì thời Gia Long (từ năm 1802) đã làm rồi. b.- Nguyễn Trường Tộ, Giám mục Sohier (địa phận Huế) và Giám mục Gauthier (địa phận Bùi Chu Phát Diệm) đã dối gạt vua quan triều Tự Đức trong việc mở trường kỹ thuật và huấn nghệ tại Huế, năm 1868. Chúng ta cũng đã thấy những chứng liệu không chối cãi được rằng, Giám mục Gauthier, thầy của Nguyễn Trường Tộ, là một tên tình báo nguy hiểm. c.- Nguyễn Trường Tộ đề nghị đào một con kênh từ Hải Dương đến Huế là một việc làm rất tai hại vì toàn dân sẽ nổi loạn chống triều đình, và Pháp sẽ thừa cơ hội để chiếm toàn cõi Việt Nam cho chóng dứt điểm. d.- Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị mỗi tỉnh lập một Viện Dục Anh và Trại Tế Bần do giám mục chỉ định người coi sóc. Chương trình nầy sẽ giúp cho Gia Tô hóa và Pháp hóa đất nước một cách nhanh hơn. Ngắn gọn, ba bản Điều Trần mà chúng ta vừa nhận xét, là cốt tủy tư tưởng chính của Nguyễn Trường Tộ và rất được nhiều người trích dẫn từng đoạn nhỏ rồi ráp lại với nhau: mà ca tụng ông ta là Một nhà canh tân vĩ đại của đất nước vào hậu bán thế kỷ thứ 19. Nhưng nếu lồng các đề nghị của ông vào bối cảnh lịch sử quốc tế, quốc nội thời bấy giờ chúng ta đã thấy: Ông và các bản Điều Trần của ông chỉ là công cụ của một chiến lược xâm lăng, nhằm hỗ trợ cho Pháp và Vatican dễ dàng xâm chiếm nước ta. Một trong những kẻ Lưng mềm dễ uốn, chạy theo chủ mới là Nguyễn Trường Tộ, lúc đầu ông làm phiên dịch cho Tây Soái sau đó ông viết những bản Điều Trần, đưa ra những nhận định sai lầm về lịch sử cùng những đề nghị hoặc không tưởng hoặc có lợi cho Pháp và Vatican trong kế hoạch sớm kết thúc cuộc chiếm đóng, và thực hiện nhanh chương trình đồng hóa dân tộc ta . Phần tiếp theo sẽ bàn về ý kiến của Nguyễn Trường Tộ trong lãnh vực tôn giáo.
-
Gửi Quỹ Văn Hóa Phan Châu Trinh - Keith Weller Taylor Là Ai? Nguyễn Đình Vân Tiên 23-Apr-2015 LTS: Ngày 24-3 vừa qua, Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh (QVHPCT - một loại NGO *, tổ chức phi chính phủ) trao giải thưởng cho Keith Weller Taylor (và một vài người khác), và chủ trương dựng ngôi đền Tinh Hoa Văn Hoá Việt Nam (lúc đầu thờ 3 người, bắt đầu là Petrus Ký **). Hai hành động trên đây của QVHPCT (mà người chủ chốt là Nguyên Ngọc, trưởng ban vận động thành lập Văn đoàn Việt Nam Độc lập) bị các thiện tri thức phản đối. Tạp chí HỒN VIỆT trong số mới nhất (số 92, tháng 5-2015) đăng 3 bài phê phán 3 đối tượng: Nguyên Ngọc, Keith Weller Taylor, và Petrus Ký. Việc "tôn vinh" cùng một lúc Pestrus Ký và Keith Weller Taylor khiến chúng ta không khỏi nghĩ tới một "liên minh" giữa hai thế lực đen tối, đang vận động biện minh cho chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, phân biệt để chia rẽ những nhóm người Việt, tô điểm lại để biện minh chế độ miền Nam,.... Đó là một nước cờ xâm lược văn hóa có tính toán rõ rệt, chứ không phải chỉ là một chuyện tình cờ. "Chở bao nhiêu đạo, thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian, bút chẳng tà" (cụ Đồ Chiểu) Vân Tiên, tên nhân vật chính trong cuốn truyện thơ Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, người có tinh thần: "Giữa đường thấy chuyện bất bình, chẳng tha!" Đó cũng chính là tinh thần của bài viết dưới đây của Nguyễn Đình Vân Tiên, hậu duệ Cụ Đồ Chiểu. Để tìm hiểu quan điểm của Keith lật ngược sự thật về chiến tranh Việt Nam như thế nào, xin mời bạn đọc cùng xem và ủng hộ quan điểm chận đứng những hành động vinh danh những người thuộc thế lực đen tối. (SH) xem "Ngắn Gọn Về Thầy Thông Ngôn Trương Vĩnh Ký Ảnh của KWT, http://lrc.cornell.edu Tối 24/3/2015, tại khách sạn Caravelle ở TP. Hồ Chí Minh, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh (QVHPCT) tổ chức trao giải thưởng năm 2015 cho một số người, trong đó có Keith Weller Taylor (KWT). Trong diễn văn đọc tại buổi lễ, Nguyên Ngọc (NN) thay mặt QVHPCT ca tụng KWL hết lời: "Keith Taylor là một trong những nhà Việt Nam học nổi tiếng nhất, cả ở Việt Nam, cả ở nước ngoài"(1). NN nói tâng bốc thế thôi, chứ ở Việt Nam có bao lăm người biết KWT là ai. Hãy nghe ông ta tự bạch (2): Tháng 5 - 1968, KWT tốt nghiệp đại học. Lúc đó, do tác động của cuộc tổng tiến công của quân dân miền Nam Việt Nam, chính phủ Mỹ không cho sinh viên tiếp tục hoãn dịch rộng rãi như trước. KWT phải vào lính, hoặc "bị bắt quân dịch và bị gửi đi bất cứ nơi nào để làm bất cứ một phận sự gì", hoặc "chọn cho mình một nhiệm vụ trong quân đội". KWT chọn hướng thứ hai : ông ta xin gia nhập ngành quân báo để được huấn luyện về tình báo và tiếng Việt trong hai năm với hy vọng "may ra chiến tranh sẽ kết thúc trước khi năm học được hoàn tất". Hy vọng đó không thành sự thật, KWT bị gửi sang chiến trường Việt Nam năm 1970 với cấp bậc trung sĩ. KWT kể: "Tôi nhận thấy một vấn đề ở Việt Nam: quân đội Mỹ đang trong chiều hướng bị mất tinh thần. Sau khi công luận [ở Mỹ] quay lưng lại với cuộc chiến vào năm 1968, phong trào phản chiến thâm nhập vào quân đội Mỹ ở Việt Nam. Tất cả các vấn nạn thường thấy trong cuộc chiến như xì-ke, xung đột sắc tộc, bạo hành, giết hại nhau và bất phục tùng đều là bằng chứng đã ảnh hưởng đến tinh thần tác chiến của quân đội [Mỹ ở Việt Nam] và, ít ra theo hiểu biết của tôi, chúng có liên quan đến sự kiện: do hệ quả của sự lãnh đạo tồi, [nhân dân] nước Mỹ không còn ủng hộ chiến tranh, nhưng chúng tôi vẫn đang được kỳ vọng phải tiếp tục chiến đấu. Các nhà lãnh đạo trong quân đội, cả quân nhân lẫn dân sự, nhận ra sự cần thiết phải "tái phối trí" quân đội ra khỏi Việt Nam [rút dần quân Mỹ về nước theo chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh] càng nhanh càng tốt để ngăn chặn tinh thần bất mãn lan rộng sang các chiến tuyến khác trên thế giới. Trong khi đó, chúng tôi đã được yêu cầu thử thời vận của mình như là "người tử trận cuối cùng ở Việt Nam" (…) Rõ ràng tôi đã bị ảnh hưởng bởi não trạng bất mãn này. Đối với tôi, dường như cuộc chiến đang bị thua (the war was being lost) và chúng tôi, chỉ đơn giản là một hậu vệ có thể bị hy sinh. Tôi không thích điều đó. Tôi trở nên nghi ngờ cấp trên của tôi, cảm nhận rằng sự thất trận (the debacle) mà chúng tôi đang tham gia ít nhất đã giúp cho sự nghiệp của họ cơ hội để thăng tiến, trong khi đối với những phần tử còn lại trong chúng tôi chỉ còn một băn khoăn giữa sự sống hay cái chết". May cho KWT, ông ta không chết ở Việt Nam mà chỉ bị thương, được giải ngũ và trở về Mỹ giữa năm 1971 với tâm trạng "choáng váng và mất phương hướng"(dazed and disoriented). Ông viết: "Tôi đã giận dữ vì đã phải hy sinh tuổi trẻ của mình cho sự vô dụng của người già". Vì vậy, "trong hơn hai thập kỷ, tôi cưỡng lại tư tưởng của bản thân rằng mình là một cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Việt Nam. Tôi muốn được trở về với cuộc sống và không được mô tả bởi câu chuyện đau buồn đó. Tôi không thích Đài tưởng niệm ở Washington, D.C với tên của tất cả những người tử vong được khắc trên một bức tường đá. Đó là đài tưởng niệm cho người chết, nhưng tôi là một người sống sót và bức tường này không có liên hệ gì với tôi". Để "trở về với cuộc sống", tháng 1 - 1972, KWT đã ghi danh làm nghiên cứu sinh tại Đại học Michigan. Vì đã được học tiếng Việt trước đó, KWT chọn lịch sử Việt Nam cổ đại (từ khi lập quốc đến giữa thế kỷ X) làm đề tài luận án, xem đó là "một lối thoát an lành cho kinh nghiệm rối ren của cá nhân tôi đối với cuộc chiến Việt Nam". Luận án được bảo vệ năm 1976, được sửa sang lại thành sách, xuất bản năm 1983 dưới nhan đề "The Birth of Vietnam" (Sự ra đời của Việt Nam). KWT tránh chọn đề tài liên quan đến lịch sử Việt Nam hiện đại vì không muốn đụng tới cuộc chiến tranh mà ông ta đã tham dự ở Việt Nam. Lâu nay, hầu hết người Mỹ tự hào đất nước họ là siêu cường số 1 thế giới, đánh đâu thắng đó, nên họ không thể nuốt trôi thất bại thảm hại trước quân và dân một nước nhỏ bé chưa phát triển như Việt Nam. Bên cạnh nỗi buồn chiến bại đó là mặc cảm tội lỗi vì nước Mỹ đã ném bom, rải hóa chất độc, thảm sát, tra tấn, … gây bao tang thương chết chóc cho nhân dân Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ chỉ ra những sai lầm trong chính sách đối với Việt Nam của nhiều đời tổng thống Mỹ suốt 30 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1975). Sau một thời gian im lặng, Robert McNamara, cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người được xem là "kiến trúc sư của chiến tranh Việt Nam" đã lên tiếng thừa nhận: "Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp" (We were wrong, terribly wrong) (3). Tuy chiến tranh Việt Nam đã kết thúc, nhưng vẫn tiếp tục phủ bóng đen lên lương tâm người Mỹ. Tâm trạng đó được gọi là "hội chứng Việt Nam" (Vietnam Syndrome). Từng tham chiến ở Việt Nam, KWT bị "hội chứng" ấy dày vò. Ông ta tâm sự: "Rất nhiều năm, kinh nghiệm chiến trường của tôi giống như một cục bướu lớn không tiêu hóa nổi vẫn nằm sâu trong tâm thức". Nếu thỉnh thoảng bị yêu cầu nói về chiến tranh Việt Nam, ông ta thừa nhận: "Tôi luôn ngán ngẩm khi phải làm điều đó, bởi vì nói chuyện trước công chúng về cuộc chiến thường mang lại cho tôi cảm giác buồn nôn". Một số người Mỹ hiếu chiến không muốn nước Mỹ đắm chìm lâu dài trong "hội chứng Việt Nam », sợ nó ảnh hưởng đến vai trò của Mỹ trên trường quốc tế. Ronald Reagan lên tiếng kêu gọi: "Chúng ta đã sống với "hội chứng Việt Nam" trong thời gian quá lâu… Năm tháng trôi qua, người ta nói với chúng ta rằng hòa bình sẽ đến nếu chúng ta ngưng can thiệp [vào các nước khác] và trở về nước [Mỹ]. Đã đến lúc chúng ta thừa nhận rằng sự nghiệp của chúng ta [ở Việt Nam] là cao quý… Chúng ta sẽ làm ô danh việc tưởng nhớ 50.000 thanh niên Mỹ đã chết trong sự nghiệp ấy nếu chúng ta cứ cảm thấy phạm tội như thể chúng ta làm một điều gì đó xấu hổ và chúng ta bủn xỉn trong việc đối xử với người [lính từ Việt Nam] trở về"(4). Sau lời hô hào của R. Reagan, khuynh hướng "xét lại chiến tranh Việt Nam" (Vietnam War Revisionism) xuất hiện trong giới nghiên cứu lịch sử ở Mỹ nhằm biện hộ cho sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam. KWT đã tìm đến khuynh hướng này để mong "vứt bỏ cảm giác tội lỗi sai lầm về cuộc chiến tranh mà [ông ta] đã cưu mang khoảng một phần tư thế kỷ". Năm 1998, ông ta viết bài "Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX" (Regional Conflicts among the Viêt Peoples between the 13th and 19th Centuries)(5). Ngày 26/6/2003, trả lời phỏng vấn của đài BBC nước Anh, ông ta muốn đưa ra "một cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam"(6). Mùa thu năm sau, trên tạp chí Michigan Quarterly Review, KWT giải thích "đã bắt đầu dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào". Cách nay hai năm, KWT cho xuất bản cuốn Một lịch sử của người Việt Nam (A History of the Vietnamese) (7). Trong cuốn sách này cũng như các bài viết vừa kể, KWT tự phủ nhận những gì bản thân ông đã viết trong cuốn sách đầu tiên The Birth of Vietnam. <=> Không khó để chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng trong kiến thức và nhận thức của KWT. Một số nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã có bài phê bình. Chẳng hạn giáo sư Norman G. Owen đã đưa ra một số nhận xét về cuốn A History of the Vietnamese như sau: “Về việc Mỹ dính líu [ở Việt Nam], Taylor để lộ ra sự mâu thuẫn lớn trong suy nghĩ, và chương trọng yếu cuối cùng (“Từ hai nước trở thành một nước” từ trang 561 đến trang 619) có lẽ là chương gây tranh cãi nhiều nhất. Ông ta xuất hiện như người cuối cùng (…) bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng hòa chống lại cả những người Cộng sản (…) lẫn những người Mỹ (…). Ông ta không biết hay tránh né việc những người tả khuynh phê phán Mỹ phá hoại Hội nghị Genève năm 1954, khiêu khích hay ngụy tạo các sự kiện ở vịnh Bắc Bộ năm 1964 (để có cớ mở rộng chiến tranh [ra miền Bắc]), phá hoại cuộc đàm phán ở Paris năm 1968, “bí mật” ném bom Căm-pu-chia năm 1969 và tiến hành vụ ném bom Hà Nội vào dịp lễ Chúa giáng sinh năm 1972 mà không có lý do rõ ràng. Thay vào đó, ông ta lại phẫn nộ với Averell Harriman và nhóm của ông này tại Bộ Ngoại giao [Mỹ] đã xúi giục việc lật đổ Ngô Đình Diệm [mà Taylor gọi là] “thành tích gây tai họa nhất của Kennedy ở Việt Nam” (tr. 589) và với những người có trách nhiệm trong việc rút lại sự ủng hộ của Mỹ [cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu] năm 1975 để cho [Việt Nam] Cộng hòa phải “tử thương bởi một đồng minh lật lọng” (tr. 626) (…). Ông ta xem những cuộc đột nhập [của quân Mỹ và quân Thiệu] vào Căm-pu-chia và Lào là tích cực trong việc tạo ra thời gian để Việt Nam hóa chiến tranh và như vậy giúp chế độ Sài Gòn “thành công trong việc ổn định miền Nam Việt Nam” (tr. 606 – 607) ít ra là cho tới khi Mỹ bán đứng chế độ Sài Gòn bằng Hiệp định hòa bình Paris năm 1973, “vứt bỏ chủ quyền của Đệ nhị Cộng hòa” (tr. 612 – 613)”. Vẫn theo giáo sư N. G. Owen, trong cuốn sách trên, Taylor cũng “đánh giá lại một vài lãnh tụ bị nhiều tiếng xấu ở miền Nam. Mặc dù thừa nhận họ có nhiều thiếu sót sai lầm, ông ta miêu tả Ngô Đình Nhu là người có nhiều ý định dân chủ (tr. 581; Taylor khẳng định Nhu bị ghét vì ông duy trì an ninh có hiệu quả và chống lại sự giám hộ của Mỹ, tr. 577), Nguyễn Cao Kỳ tỏ ra “không có tỳ vết tham nhũng nào” (tr. 593) và Nguyễn Văn Thiệu – được [Taylor] ca tụng một cách yếu ớt hơn - được biết là không “tham nhũng thái quá hay lạm quyền quá đáng” (tr. 607) v.v và v.v…(8) Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định kể ra tất cả những sai lầm trong cuốn sách và các bài viết của KWT, mà chỉ muốn tìm hiểu cái mà ông ta gọi là “một cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam” gồm hai điểm sau đây: 1. Việt Nam không phải là một dân tộc thống nhất sống trên một lãnh thổ thống nhất Đất nước Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ, từ đỉnh Lũng Cú (23°22’59 Bắc đến mũi Cà Mau (8°30’ Bắc). Mặt khác, lãnh thổ Việt Nam được mở rộng dần về phía Nam. Do đó, việc hình thành những vùng miền là điều tự nhiên. Nhưng dù ở đâu và được ghi vào bản đồ Việt Nam lúc nào, các vùng miền đó đều là những bộ phận hợp thành của một Tổ quốc Việt Nam duy nhất và thống nhất. Cường điệu một số điểm dị biệt giữa các vùng miền, KWT chia nước Việt Nam thành ít nhất 5 vùng miền: Đông Kinh (tức vùng đồng bằng sông Hồng, lấy Hà Nội làm trung tâm), Thanh Nghệ Tĩnh (gồm ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh), Thuận Quảng (gồm bốn tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng), Bình Định và Nam Bộ. Điều đáng nói là KWT buộc các vùng miền này phải thường xuyên mâu thuẫn, đối kháng với nhau, thường xuyên xung đột với nhau: “Trong những năm mà tôi đề cập, không có giai đoạn nào mà những người nói tiếng Việt không đánh lẫn nhau hoặc giao chiến với các nước láng giềng”. Ứng dụng thuyết “xung đột vùng miền”, KWT xem cuộc tranh chấp giữa nhà Mạc và nhà Lê trung hưng trong thế kỷ XVI như cuộc xung đột giữa Đông Kinh với Thanh Nghệ: “Đông Kinh đã trung thành sâu sắc với gia đình họ Mạc trong thế kỷ XVI và Đông Kinh đã cứng rắn chống lại cuộc chinh phục của đoàn quân Thanh Nghệ vào cuối thế kỷ này”. KWT nhận định: “Cuộc xung đột vùng giữa Đông Kinh và Thanh Nghệ là đặc điểm nổi bật trong hình dung của chúng ta về một kinh nghiệm lịch sử Việt Nam… Bắt đầu với Hồ Quý Ly và sau đó với Lê Lợi, Thanh Nghệ trở thành khu vực của các vị vua và lãnh chúa có khao khát thống trị Đông Kinh”. Tương tự như vậy, KWT giải thích sự phân tranh giữa họ Trịnh và họ Nguyễn là cuộc xung đột giữa Đông Kinh và Thuận Quảng , cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là “sự phản ứng của vùng Bình Định trước những yêu sách của các nhà cai trị Thuận Quảng áp đặt lên vùng này”. Vùng Bình Định “sản sinh ra một nhân vật, Nguyễn Huệ, người dẫn quân từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác và đã cố tìm cách thống nhất mọi khu vực của người Việt dưới uy quyền của ông”. Sau khi Nguyễn Huệ qua đời, “Nguyễn Ánh cuối cùng đã xây dựng nền tảng quyền lực tại Sài Gòn ở Nam Bộ và từ đây đã đi chinh phục toàn bộ các vùng ở miền Bắc nơi người Việt sinh sống, lập nên một vương quốc vào đầu thế kỷ XIX mà trước đó chưa bao giờ tồn tại”. Không chỉ người đọc Việt Nam cảm thấy chối tai trước những từ “xung đột”, “chính phục” cứ bị lặp đi lặp lại … mà người đọc nước ngoài cũng thấy không chịu được. Chẳng hạn giáo sư N. G. Owen (đã nói ở trên) nhận xét: trong cuốn A History of the Vietnamese, “các tiêu đề lớn nhỏ - về “Chiến tranh 70 năm”, “Chiến tranh 50 năm”, “Chiến tranh 30 năm” – gợi lên ý nghĩ về các cuộc xung đột nồi da nấu thịt đẫm máu và liên miên, nhưng không nói đến nhiều cuộc chiến tranh với nước ngoài và vô số những cuộc nổi dậy. Kết quả là một bức tranh chắp vá về mặt chính trị và văn hóa”(9). Thuyết “xung đột vùng miền” của KWT xây dựng trên những kiến thức và quan điểm sai lầm, nên không khó để bác bỏ. Thật ra, những cuộc nội chiến nói trên xảy ra giữa hai thế lực chính trị - quân sự có quyền lợi mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn, chiến tranh Nam triều – Bắc triều nổ ra giữa nhà Mạc (lật đổ nhà Lê) và nhà Lê trung hưng (tìm cách lập lại ngai vàng của dòng họ mình); Trịnh – Nguyễn phân tranh xảy ra giữa con cháu của Nguyễn Kim (người đầu tiên khởi xướng việc trung hưng nhà Lê) và con cháu của Trịnh Kiểm (người bị xem là đã giết con trai của Nguyễn Kim) v.v… Những thế lực này hoàn toàn không đại diện cho quyền lợi của một vùng miền nào và chưa hẳn đã nhận được sự ủng hộ của người dân trong vùng miền đó. Thái độ chính trị của một người không phụ thuộc vào việc người đó ở một vùng miền nào. Không hiếm những người thay đổi thái độ chính trị như cha con Nguyễn Thiến. Thiến làm thượng thư nhà Mạc, hai con là Quyện và Miễn làm tướng của nhà Mạc, nhiều lần cầm quân đánh nhau với nhà Lê. Do mâu thuẫn trong nội bộ nhà Mạc, ba cha con dẫn quân bản bộ về hàng nhà Lê (1550). Năm sau, Quyện theo quân nhà Lê ra đánh nhà Mạc. Năm 1557, sau khi cha qua đời, Quyện và Miễn bỏ nhà Lê, trở về với nhà Mạc, lập nhiều chiến công. Năm 1592, Quyện và Miễn bị nhà Lê bắt, sau bị giết. Thử hỏi KWT xếp ba cha con của Thiến vào vùng miền nào? Thuyết “xung đột vùng miền” trở nên nguy hiểm khi KWT biến những cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài thành nội chiến, phủ nhận các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Chẳng hạn, nhà Minh xâm lược Việt Nam đầu thế kỷ XV. KWT quả quyết: “Có nhiều bằng chứng cho thấy đa số sĩ phu ở Đông Kinh sẵn sàng chấp nhận sự cai trị của quân Minh và rằng nhiều thế gia vọng tộc ở khu vực này (…) đã trung thành phục vụ quân Minh (…). Hiệu lực sự cai trị của nhà Minh đã không thể xảy ra nếu không có sự chấp nhận và tham gia với mức độ lớn của người địa phương”. Theo KWT, “người Đông Kinh nhìn Lê Lợi như một kẻ nổi loạn nhà quê”. “Không khó để đọc cái gọi là phong trào giải phóng dân tộc của Lê Lợi như là cuộc chinh phục của Thanh Nghệ đối với Đông Kinh, với việc nhiều nhân vật Đông Kinh xem người Minh như thế lực bảo vệ [Đông Kinh] chống sự quê kệch của các tỉnh phía Nam”. Tương tự như thế, vào giữa thế kỷ XIX, “khi vấn đề bảo hộ của Pháp xuất hiện, giới tinh hoa Thuận Quảng ủng hộ việc hòa hoãn và hợp tác [với thực dân Pháp] để cứu chế độ quân chủ, trong khi các lãnh đạo Thanh Nghệ ủng hộ cuộc kháng chiến [chống Pháp]… Chính sự chủ động của người Thanh Nghệ đã dẫn đến việc đưa hoàng gia thoát khỏi Huế và kêu gọi “Cần vương” năm 1885… trong lúc các lãnh đạo Thuận Quảng nhanh chóng hòa hoãn với Pháp chống lại các đối thủ Thanh Nghệ của họ”. Trong khi cường điệu sự xung đột vùng miền (không có thật) giữa Đông Kinh - Thanh Nghệ hay giữa Thanh Nghệ - Thuận Quảng, KWT cố tình che giấu tội ác xâm lược của nhà Minh hay của thực dân Pháp. Thuyết “xung đột vùng miền” không dừng lại ở đó. Trong bài điểm sách A History of the Vietnamese, Liam C. Kelley (Đại học Hawaii, Mỹ) viết: “Qua cuốn sách dài hơi này, Taylor nhiều lần lôi kéo sự chú ý của người đọc vào những kích thước vùng miền của lịch sử Việt Nam. Đó là những căng thẳng giữa Thanh Hoá và Thăng Long trong những thế kỷ trước hay giữa Sài Gòn và Hà Nội trong thời gian gần đây hơn, chủ nghĩa địa phương đã là một nét đặc trưng lâu dài trong trải nghiệm lịch sử của những người nói tiếng Việt…”(10). Lời bình luận của L. C. Kelley để lộ thâm ý của KWT: ông ta muốn dẫn dắt người đọc đi đến kết luận: chiến tranh trong hai thập kỷ qua tại Việt Nam chỉ là “xung đột vùng miền” giữa miền Bắc và miền Nam; miền Bắc kháng chiến chống Mỹ, còn miền Nam là đồng minh của Mỹ; chứ không phải là chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam! 2. Việt Nam không có lịch sử và văn hóa thống nhất, phát triển liên tục Theo KWT, “những người quyết tâm cai trị toàn bộ các dân tộc Việt sẽ nhấn mạnh về một lịch sử và văn hóa Việt Nam đơn nhất, với một cội nguồn duy nhất và một xung lực duy nhất xuyên suốt thời gian và không gian. Nhưng những giấc mơ về tính độc nhất này là sự thể hiện niềm tin chính trị, chứ không phải là điều nghiễm nhiên”. Ngược lại, KWT chủ trương “chia lịch sử và văn hóa Việt Nam thành từng khu vực” và cho rằng “lịch sử của mỗi vùng cũng đứt đoạn”, cũng “mang tính chất giai đoạn, chứ không tiến triển liên tục”. KWT không thừa nhận có một dân tộc Việt Nam thống nhất và tồn tại liên tục hằng ngàn năm nay. Do đó, KWT dùng khái niệm “những người nói tiếng Việt” (people who speak Vietnamese) cùng sống trên mảnh đất hình chữ S. Những người nói tiếng Việt không nhất thiết hợp thành một dân tộc Việt duy nhất, cũng như những người nói tiếng Anh ở Mỹ, Anh, Canada, Australia, New Zealand… thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Khái niệm “những người nói tiếng Việt” gợi cho chúng ta nhớ lại mồ ma Thierry d’Argenlieu. Trong thông tư số 215/CP.Cab ngày 15/1/1947, viên cao ủy Pháp tại Đông Dương này cấm dùng từ “Việt Nam” trong các tài liệu chính thức, trên báo chí cũng như khi trò chuyện; thay vào đó, ông ta bắt dùng cụm từ “ba xứ nói tiếng An-nam” (trois pays de langue annamite – ba xứ là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ)(11). KWT không thể chối bỏ một thực tế hiển nhiên là người Việt từ đỉnh Lũng Cú đến mũi Cà Mau “đều nói một ngôn ngữ mà tất cả đều hiểu”, nhưng vẫn gượng gạo đưa ra nhận xét: “Cái “ngôn ngữ chung” đó là một lớp âm thanh, từ vựng và cú pháp tương đối hời hợt [?!] mà ẩn bên dưới đó là những lớp sâu sắc hơn của những mô hình ngôn ngữ vùng”, “bên dưới lớp âm thanh, ngữ âm, lời nói chung, hay bất kỳ cách tưởng tưởng nào của chúng ta về hiện tượng ngôn ngữ con người, là những con người khác biệt mà cái nhìn của họ về bản thân và người khác dựa vào địa hình vùng họ sống và dựa vào những trao đổi văn hóa có được tại vùng đó”. Không chĩ khác biệt trong không gian, người Việt còn khác biệt trong thờii gian : “Người Việt thế kỷ 13, 15, 17 không giống người Việt thế kỷ 20” ! Như thế, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm khác với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp ! Vì Việt Nam, theo KWT, không phải là một dân tộc thống nhất và phát triển liên tục nên ông ta phủ nhận việc Việt Nam có một lịch sử chung: “Ý tưởng về một “lịch sử chung” là một điều được tưởng tượng và tranh luận, chứ không phải là một vấn đề hiển nhiên; nó không phải là một di sản rõ rệt, mà đúng hơn, nó được nghĩ ra, dạy dỗ và học từ thế hệ này sang thế hệ khác: nó là vấn đề truyền thụ. Một “lịch sử chung của người Việt” là chuyện ý thức hệ và chính trị, không phải là học thuật (…). Việc xây dựng một “lịch sử chung” nằm trong địa hạt thần thoại”. KWT cũng phủ nhận việc Việt Nam có một bản sắc văn hóa dân tộc. Trước đây, các nhà viết sử thường nhận định “người Việt Nam trở thành một loại người riêng biệt là nhờ một phản ứng chung hay thống nhất trước mối đe dọa can thiệp của nước ngoài”. KWT bác bỏ điều đó, cho đó “đơn giản là sự kiêu ngạo của cách viết sử [theo khuynh hướng] dân tộc chủ nghĩa đã biến “tinh thần chống ngoại xâm” thành tố chất vĩnh cửu trong “bản sắc Việt Nam”. Song song với việc phủ nhận truyền thống “đánh giặc, giữ nước” của dân tộc Việt Nam, KWT công khai bảo vệ chiến tranh xâm lược mà Mỹ đã tiến hành nhiều nơi trên thế giới (trong đó có Việt Nam). Trong khi “đối với một số học giả đồng nghiệp, lên án Hoa Kỳ là một đế quốc, bạo quyền phát-xít rất hợp thời trang”, thì KWT “không còn cảm thấy bị đe dọa bởi những khẳng định vô căn cứ như vậy”. KWT “chấp nhận tiền đề rằng Hoa Kỳ có một vai trò chính đáng, thậm chí không thể tránh được, trong thế giới ngày nay”, “tin rằng quyền lực toàn cầu trong tay của Hòa Kỳ nên được coi như là một trách nhiệm, chứ không phải là một điều mà chúng ta cần phải xin lỗi”. Áp dụng tiền đề đó vào trường hợp Việt Nam, KWT tuyên bố: “Tôi không thể chấp nhận định lý rằng Hoa Kỳ không có lý do chính đáng để được can thiệp vào Việt Nam”. Theo KWT, “yếu tố dẫn đến thất bại của Hoa Kỳ và Nam Việt Nam [tức chế độ Diệm – Thiệu] không phải là thiếu ý chí và quyết tâm, mà là một loạt các quyết định sai lầm trong chính quyền Kennedy và Johnson đã kéo dài cuộc chiến đưa đến bế tắc, làm cạn kiệt sự kiên nhẫn của người dân Mỹ”. Tóm lại, “bi kịch của Việt Nam không phải là nước Mỹ đã can thiệp [vào Việt Nam] khi họ không nên can thiệp, mà đúng hơn là sự can thiệp đã quá vụng về”. KWT thường bác bỏ quan điểm sử học của Việt Nam (trước kia cũng như hiện nay), cho đó là sử học dân tộc chủ nghĩa, sử học chính trị hóa. Thực ra, KWT dưới lớp áo “sử gia”, đã sử dụng sử học để phục vụ những quan điểm chính trị sai trái, xuyên tạc lịch sử Việt Nam, biện minh cho chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Thế nhưng, trong diễn văn ngày 24/3/2015 nói trên, Nguyên Ngọc thay mặt cho Quỹ văn hóa PCT, ca ngợi KWT là “một người thật sự yêu đất nước này, muốn hiểu nó tận cùng như hiểu chính mình, để cho đất nước anh hùng mà khổ đau này sống thật đàng hoàng trong thế giới xiết bao khó nhọc ngày nay” và “cảm ơn KWT vì tình yêu chân chính và nỗ lực trằn trọc của ông cho khoa học lịch sử Việt Nam, cho Việt Nam”(12). Nguyên Ngọc có biết ai là những người đã gây ra khổ đau cho đất nước này không? Thật là mỉa mai khi Nguyên Ngọc tâng bốc KWT là “người thật sự yêu đất nước này”. Phải chăng KWT yêu theo kiểu Nguyên Ngọc đang yêu? Cụ Phan Châu Trinh là chí sĩ hy sinh trọn đời mình cho dân cho nước. Không ai có thể lợi dụng tên tuổi cụ để làm chuyện phản quốc ! Nguyễn Đình Vân Tiên
-
Tử Vi Và Làm Thế Nào Để Thay Đổi Số Vận
hoangnt replied to putin's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tuvilyso.com khác với Diễn đàn Lý học Đông phương, và các thành viên cũng rất khác nhau! Cho nên, với suy nghĩ các nhân, hãy cứ để mọi người tham gia là một sự hợp lý và thỏa mãn các vấn đề. Trân trọng.- 13 trả lời
-
Tử Vi Và Làm Thế Nào Để Thay Đổi Số Vận
hoangnt replied to putin's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tử vi là bộ môn khái quát hóa mọi thứ trong cuộc đời của 1 người trải qua các giai đoạn sống, tương tác của bộ môn này vượt ra khỏi hệ mặt trời, xác xuất chính xác rất cao. Tuy nhiên, nó cũng chính là các dữ liệu để chuyển hóa định mệnh nếu biết sử dụng, tất nhiên khi chuyển hóa thì dùng thêm các bộ môn khác như phong thủy, đông y, khí công, Phật pháp... Nếu xét trận động đất ở Nepal vừa qua có trên 7.000 người chết với trên 7.000 lá số khác nhau thì sao? Hay 2.000.000 người chết đói năm 1945 tại Việt Nam thì thế nào? Đây là tương tác rất lớn từ vũ trụ ảnh hưởng đến một vùng, quốc gia và thậm chí cả trái đất, không còn thuộc phạm vi cá nhân nữa. Do vậy, còn tùy cấp độ ảnh hưởng chứ không đơn thuần tự cho là quyết định của mỗi cá nhân. Chẳng hạn, khi thấy chiến tranh quốc gia xảy ra thì biết rằng tương tác xấu rất lớn đang tới!- 13 trả lời
-
Thật lạ lùng. Trong Đông y có một bài phú về Hậu Thiên Bát Quái - Lạc thư có nói về cung Khôn độ số 2, cung Tốn độ số 4 liên quan đến Bát huyệt chính yếu trong Linh quy bát pháp như sau: Khảm nhất liên Thân mạch Chiếu hải Khôn nhị, ngũ Chấn tam thuộc Ngoại quan Tốn tứ Lâm chú số Kiền lục thị Công tôn Đoài thất Hậu khê phủ (Ly chứ không phải Đoài) Cấn bát hệ Nội quan Ly cửu Liệt khuyết chủ (Đoài chứ không phải Ly) Nếu sử dụng Hậu Thiên Bát Quái - Hà đồ và đổi một số tên cung như trên mới chính vị.
-
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Ngoài phương pháp xác định trái đất có sự sống là duy nhất ở trên thì còn một phương pháp khác nằm ngoài giới hạn nhận biết trực quan của loài người, đó là đạt trạng thái "chí tịnh" như nội dung dẫn giải ở trên: Đàn HÀ THANH Tuất thời 10.06.AL.86 TRU TIÊN TRẬN – TIÊN KỴ THÚ HÀ THANH CHƯỞNG GIÁO Lúc này, các bậc thầy đắc đạo sẽ nhận biết được sự tồn tại của sự sống ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ. Điều này có thể hiểu một ví dụ như là hai tấm gương đối diện nhau, một bông hoa ở giữa hai tấm gương sẽ phản chiếu thành trùng trùng hình ảnh của bông hoa đó, cho dù chỉ có một mình nó mà thôi. Chứ không phải: "trời trong xanh, mây quang đãng, tầm nhìn xa trên 10km...". Hoa sen như là một biểu tượng của vũ trụ -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Mặc dù việc nhận biết con người là phức tạp nhất trong các sự vật hiện tượng trong vũ trụ, tuy nhiên do đặc tính vô cùng vô tận mà chúng ta chưa thể xác định trước đó đã có một quả đất khác hay ngay sau quả đất của chúng ta thì sự sống đã có từ một nơi nào đó tương tự. Khi hồng hạc bay về Để giải bài toán vô cùng vô tận này cần sử dụng hai ý và áp dụng toán học cao cấp: - Trái đất hay hệ mặt trời là một tổ hợp Âm Dương Ngũ Hành. Vũ trụ được cấu trúc từ nhiều tổ hợp chồng chất lên nhau. - Từ trên, xác định mức độ điều kiện nảy sinh ra sự sống trên trái đất hay trong một hệ mặt trời. Dùng bài toán giới hạn toán học cao cấp về điều kiện tồn tại của sự sống trong các tổ hợp thì kết quả sẽ tiệm cận "0". Do vậy: - Sự sống trên trái đất là duy nhất. - Vũ trụ đang trong giai đoạn phân rã. -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Đàn HÀ THANH Tuất thời 10.06.AL.86 TRU TIÊN TRẬN – TIÊN KỴ THÚ HÀ THANH CHƯỞNG GIÁO Thầy mừng các con – Thầy miễn phép, các con an tọa. THI Lòng quyết dặn lòng lo giải thoát Chớ nên chậm bước trễ con đò Kỳ Tam Ân Xá con ôi ráng! Trễ Hội nguyên này khó nỗi lo… Hồng trần cõi tạm - sanh ký tử quy Người trí mau thức tỉnh trần mê Tìm Chánh Đạo quay về vị cũ Nhứt thất nhơn thân nan tái phục Một kiếp làm người khó lắm thay! Kỳ Ba Ân Xá Ai kẻ hữu duyên Gặp Đạo Chánh Truyền Thức Tánh Tầm Nguyên Nương Bát Nhã Thuyền Phản Hồi Cựu Vị Biết được Đạo rồi phải toan phấn chí, nỗ lực bình sanh mà hạ thủ công phu, chớ khá chần chờ! Ráng một kiếp này cho đoạt kỳ công quả Tiên Thiên trở lại Ngọc Bảng Danh Đề, thoát khỏi sông mê mà trở về cùng Mẹ – Cha sum vầy hội hiệp. Muốn biết Vũ Trụ trước phải biết mình, bởi Nhơn Thể chính là Thiên Cơ, là bộ máy Trời nho nhỏ thu gọn nơi mình, tất cả huyền bí đều ẩn chứa bên trong. Hồi Quan Phản Chiếu Tâm Mình sẽ thấy rõ Bản Nguyên Hoàn Vũ. Người có đủ tất cả cũng như Trời, thân ta là một Pho Kinh đủ đầy tất cả. Muôn Kinh ngàn quyển đều tự nơi Tâm Thiên Bang Vạn Pháp đều bởi nơi Tâm Hiểu được cái Tâm là Suốt Thông Vạn Lý Quy Vạn Pháp trở về Nhất Pháp. Khoa học cũng là Đạo Pháp, Đạo sanh ra Pháp, Pháp là Khoa học, là trình độ tư duy, là sự phát minh của con người. Khoa học đã hiểu Vũ Trụ một phần nào, nhưng chỉ hiểu qua phần tướng thể, là cái thế giới hiện tượng bên ngoài, cũng chưa thấu rõ nguyên lai của Vũ Trụ do đâu mà có. Sự cấu tạo hình thành các hiện tượng cũng như kiếp tử sanh của con người là bởi do đâu? Tại sao Thành rồi Hoại, Hiệp rồi Tan?! Khoa học đã đạt đến trình độ cao, những tưởng là mình đã chinh phục được Vũ Trụ, làm chủ Không Gian, nhưng nào đã chinh phục được gì, hiểu được bao xa? Tầm kiến thức ấy cũng chỉ là hạn hẹp, khoa học chưa hiểu nổi Hồn là gì? Sự sống bởi đâu? Tai họa là ở chỗ sự tiến bộ về mặt Tâm Linh Đạo Đức của Nhân Loại không theo kịp đà phát triển của Khoa học vật chất, nó đã lôi kéo con người vào những cuộc chạy đua tranh tài cao thấp. Sự xuất hiện của Vũ Khí Nguyên Tử là một dấu hiệu sắp đưa con người vào vực thẳm, đến chỗ diệt vong. Đó là báo hiệu cái điềm Tận Diệt của thế gian mà con người rồi đây không phương tránh khỏi. Nhưng may mắn thay! Trong nẻo Chết Đức Thượng Đế Phụ Hoàng lại mở khai Sinh Lộ, gieo mối Đạo Vàng tại cõi Trời Nam Linh San Phúc Địa, được hưởng Chân Chủng Bồ Đề, cứu vớt một số Linh Căn, lập lại đời Thượng Đức. Các môn đồ đệ tử một khi đã liễu ngộ tâm nguyện, đã đạt được thần thông chí diệu, đã rõ các pháp nhiệm của Vô Cực Đồ thì sẽ không còn bi quan nữa, bởi vì Đạo Pháp là Vô Cùng, Pháp Môn là Vô Thượng, Đạo là trên tất cả. Khoa học đã tính được vận tốc của ánh sáng là 300.000 km/s, và không còn vận tốc nào cao hơn nữa. Nhưng Khoa học không biết là vận tốc Chơn Tịnh Điển còn cao siêu hơn nữa. Chơn Tịnh Điển là Điển trong Vô Cực, cũng như Chơn Tịnh Quang là ánh sáng của Đạo Quang, là cái sáng Vô Cực, vận tốc ấy là Huyền Đồng Vũ Trụ, cũng như Chơn Tịnh Điển là không lệ thuộc thời gian, không gian mà là Nhứt Khắc, Nhứt Cảm, Nhứt Ứng. Cái Thần Thông của Tiên Phật ở trong Vô Cực là Huyền Nhiệm như thế. Người tu đạt đến chỗ thần thông chí diệu rồi thì không còn gì ngăn ngại, ngờ vực, thắc mắc. Một khi Tâm Linh Giới đã được khai thông, đã Huyền Đồng cùng Vô Cực thì những cái tiến của Khoa Học chỉ là cái tiến của Rùa bò, không đáng là gì cả. Rồi đây ở đời Thượng Đức sẽ có những nhà bác học xuất thân từ cửa Đạo, suốt thông Đạo Pháp, sẽ làm cho thế giới biết rõ Đạo mầu. Chừng đó Khoa Học của thế gian sẽ phải cúi đầu mà chịu phép. Thầy giảng về sợi dây phép “ Khổn Tiên Thằng”. Đời thường nói: “ Thê Thằng Tử Phược”, ấy là sợi dây tình ái mới là “ Khổn Tiên Thằng”, sợi dây ấy mới trói được Tiên, làm cho Tiên phải khốn đốn. Kìa như Khương Tử Nha là bực Đại La Thiên Tiên có Sắc Chỉ Ngọc Hư Cung phò tá Võ Vương Hưng Châu Phạt Trụ, có sứ mạng thay quyền Giáo Chủ chấp chưởng Phong Thần, nhưng vì còn vướng nghiệp trần nên một lúc bị Khổn Tiên Thằng trói ngã. Khổn Tiên Thằng là sợi dây oan trái buộc ràng người thế cũng như kẻ tu hành, nếu không có Chí Đại Hùng không phương thoát khỏi, không có Gươm Trí Huệ thì không đoạn dứt được sợi dây oan nghiệt. Dây Khổn Tiên đã trói ai rồi thì sức phàm không phương tháo gỡ, vì không thấy được đầu mối của nó thì làm sao gỡ cho ra! Chỉ có bực Giáo Chủ mới có đủ thần thông để giải tỏa. Theo Thầy thì sợi dây ấy là Tà Pháp, là Yêu Pháp chứ chẳng phải Bửu Pháp của Ngọc Hư Cung. Các trẻ tu hành coi chừng mà tránh dây ấy, đừng để nó trói buộc thì không phương vùng vẫy. Ôi! Khó lắm thay! Ai mở được dây này? Thầy lấy làm lo cho đệ tử! Ngày xưa Khương Thượng bị trói thì Nguyên Thỉ Chưởng Giáo sai Kim Hà Đồng Tử lãnh Linh Phù xuống mở cho Khương Thượng. Còn các con ngày nay nếu bị dây ấy trói thì Thầy muốn cứu cũng khó, vì phải do nơi đệ tử. Nếu lòng các con Nhứt Tâm Giải Thoát mà rủi bị trói bất ngờ thì Thầy có thể chiếu Điển Thần mà giải tỏa. Còn nếu con không đủ nghị lực tháo gở, lòng trần chưa dứt thì Thầy cũng không cứu gở đặng. Kìa như Đức Thích Ca khi còn là Thái Tử, đã bị dây phép này trói một lúc, nhưng Ngài là Bực Đại Giác, có Chí Đại Hùng, có Gươm Trí Huệ đoạn dứt dây oan, ấy bởi Chí Đại Hùng mà làm nên được. Vậy các con muốn khỏi bị dây phép trói trở, phải quyết Tâm tu hành, một lòng Tinh Tấn, không luyến trần hồng, thì dây ấy mới không trói buộc được. Nhược bằng lòng chưa sạch, ý chưa thanh thì không thể nào tu hành tinh tấn. Phải đủ Hùng Tâm, Hùng Lực, tự mình giải phá, tháo gở triền miên thì mới khỏi dây ấy buộc trói. Phải Nhứt Tâm, Nhứt Đức như Đường Tăng, lúc nào cũng niệm Tâm Kinh hồi hướng Lôi Âm, một lòng tưởng Phật, dầu cho Yêu Tinh trước mặt, Quỷ dữ ngăn đường, lòng vẫn chí quyết thì Ngộ Không mới cứu được Thầy thoát nạn. Bởi vì Ngộ Không Tâm là cái Tâm Chơn Chánh chỉ bảo vệ Thầy vì Thầy đã giữ được Hằng Tâm. Nếu như Tam Tạng Tâm trần còn vọng, còn luyến trần tình, thì Ngộ Không dầu có tài phép thế nào cũng khó mà phò tá Thầy được tới Tây Phương Phật Cảnh. Lại còn mấy phép mà kẻ Hành Giả Chơn Tu phải tránh, phải sợ đó là 4 cây Gươm của Thông Thiên Giáo Chủ với Tru Tiên Trận. Trận này là trận dữ nhất. Bốn Gươm ấy là: Tru Tiên Kiếm - Lục Tiên Kiếm - Hãm Tiên Kiếm - Tuyệt Tiêm Kiếm. Bốn gươm tượng trưng cho nạn lớn sẽ đến với những người nào tu không có Chánh Tâm. Trận dữ với 4 Gươm Linh treo 4 cửa, bực Đại Tiên là 12 đệ tử của Ngọc Hư Cung không ai dám vào vì không đủ thần thông phá trận. Bốn Gươm Linh ấy là : Sắc – Tài – Tửu – Khí là bốn thứ độc hại đối với người tu. Sắc là Tru Tiên Kiếm Tửu là Lục Tiên Kiếm Tài là Hãm Tiên Kiếm Khí là Tuyệt Tiên Kiếm. Chỉ cần bị một trong bốn gươm ấy cũng đã nguy rồi. Gươm nào cũng giết hại Tiên, làm khốn Tiên. Chỉ có Bực Giáo Chủ mới đủ thần thông phá trận. Còn các môn đồ dù đến bực Đại Tiên cũng không dám tới. Bực Giáo Chủ là Hoa Khai Đảnh Thông, Linh Đài Chiếu Sáng, thì Yêu pháp mới không làm tổn hại Đạo. Thế nên các môn đồ đệ tử phải đề phòng, đừng lấp lửng khinh thường mà phải Táng Thân Hại Mạng. Tuy nhiên, người phước đức cũng có thể tránh được nó, nhưng cũng phải bằng nghị lực của chính mình. Phải tránh chớ chẳng đương đầu được với nó, phải sợ mà tránh chớ không nên tìm nó. Nay các con đang ở trong trận ấy, đã biết được Bốn Gươm Linh lợi hại như thế nào rồi. Nếu chủ được Tâm mình thì không bị Gươm sát hại. Nếu luyện được Hằng Tâm thì không sợ gì nữa, nhược bằng chưa có Chủ Tâm thì coi chừng bỏ mạng. Về Trận Vạn Tiên bắt hàng Tiên Thú, các con hiểu thế nào về Tiên Kỵ Thú ( Tiên Cỡi Thú ). Trong cuộc thư hùng Xiển – Triệt ngày trước có chuyện vị Đại Sĩ - Đại Đệ Tử của Ngọc Hư Cung hàng phục Tiên Thú như sau: a. Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn bắt được Thanh Mao Sư Tử. b. Từ Hàng Đạo Nhơn bắt được Kim Mao Hẩu tức là Kim Quang Tiên. - Phổ Hiền Chơn Nhơn bắt được Bạch Tượng tức là Linh Nha Tiên. Cuộc đấu tranh Xiển – Triệt thuở ấy là có, chuyện Phong Thần là có thật, nhưng đây nói về phần Đạo nên người chép sử chẳng thông nên không ghi rõ. Bởi đây thuộc về Huyền Sử có tính cách huyền thoại, nhưng là chuyện có thật. Tiên Kỵ Thú có nghĩa là mình đã chủ đặng cái Tâm mà chế phục được cá tính, hàng phục được chúng sanh trong nội bản thể. Bắt Yêu Tinh quy hàng Phật Tánh, đó là Tiên Kỵ Thú. Thú là thú tánh, chúng sanh tánh, là dục vọng. Tu là Chủ Tâm để chế ngự dục vọng của lòng. Đó là mình cỡi lên con thú của lòng mình vậy. Cỡi được nó là Thành Đạo, không thâu phục được nó là Đạo chưa thành. Cũng như Đường Tam Tạng nhờ có 4 trò giúp đỡ, nhờ có Long Mã mà đến được Tây Phương. Thôi đêm nay Thầy dạy đã tạm đủ, Thầy giả từ các con. Thăng -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Căn cứ vào Duy Thức học của Bồ Tát Di Lạc thì "Tâm" là nơi tàng chứa mọi chủng tử từ quá khứ vô thủy tới hiện tại - tức tại thời điểm hiện tại của mỗi cá nhân, nếu hiểu tổng quát thì có vẻ nó mang ý nghĩa nguồn gốc của định mệnh, tuy nhiên với sự phân tích trong các bài viết ở trên dựa trên các yếu tố: - Sự phức tạp nhất của một sự vật hiện tượng trong vũ trụ là thời điểm nhảy vọt từ vượn người sang người nguyên thủy. - Sự tích tụ khí ở trên tất nhiên liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành. - Sự phát triển trí tuệ của con người nguyên thủy cho tới nay chỉ là sự trao đổi một cách cân bằng các trạng thái tương tác trong não bộ mà thôi (trong quan hệ với cơ thể vật lý và vũ trụ). - Nguyên lý nhân quả của cá nhân: do chu kỳ sống của một cá nhân và trong quan hệ huyết thống có chu kỳ rất nhỏ 100 năm, 5 đời khoảng 220 năm, cho nên tốc độ nhận tương tác đối ứng là rất nhanh "đời cha ăn mặn đời con khát nước" và tùy vào trạng thái tương tác bao trùm từ các hệ thiên văn lớn, nếu trong trạng thái "tụ" thì nhân quả chậm còn trong trại thái "tán" thì nhân quả nhanh. Cho nên, nếu nhận định về Duy Thức học như là "định mệnh" ở trên là sai. Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế thì không giảng sâu về Duy thức học, và Ngài cũng có nói rằng sợ chúng sinh "chấp" vào nó như "định mệnh đã an bài" nên rất khó tinh tấn trong tu tập giải thoát. Phá giải ý nghĩa "định mệnh" là tối quan trọng trong học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và bất kỳ một tôn giáo hay khoa học nào khác. -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Như vậy, muốn thay đổi số mệnh cá nhân phải tạo một bước nhảy lượng tử, điều này hàm nghĩa có mối "đại hòa" về phân lớp Âm Dương Ngũ Hành của cơ thể, trí não thông qua "Khí" nhằm tạo mối liên kết tổng thể tới trái đất và các tầng thứ phân lớp Âm Dương Ngũ Hành ở những cấp lớn hơn trong vũ trụ. Điều này rất khó hiểu, nếu chu kỳ cá nhân nhỏ 100 năm - thô thì khi liên kết thì chu kỳ chẳng hạn 25.920 năm thì sẽ khác - nhẹ, vi tế hơn -> giống như chúng ta làm cho bánh răng 100 năm đi chậm lại rất nhiều thông qua các điều chỉnh Khí. Nội dung ở trên có thể được hiểu là con người rơi vào một hệ quy chiếc lớn hơn, chẳng hạn 1 năm trong hệ mặt trời sẽ tương đương 25.920 năm, lúc này thời gian sẽ trôi nhanh hơn và tương đương 1/25.920 lần nếu chúng ta kinh nghiệm về một năm trên trái đất, cảm nhận theo giác quan sẽ thấy rất nhanh tức mắt thấy chu kỳ mặt trời mọc và lặn trôi qua vùn vụt. Trong truyền thuyết Việt Nam đó là chuyện Từ Thức gặp tiên. Về định mệnh thông qua môn Tử vi, thì chỉ xét đến giai đoạn sống vật lý và toàn không xét đến giai đoạn sống vô hình tức linh hồn, chu kỳ sống 100 năm trong vũ trụ giống như bong bóng nước mưa vậy (kinh Kim Cương), chỉ có linh hồn là dài tương đương với vũ trụ, vậy thì cuộc chơi nào thực sự là vĩ đại? Và con người đang đi tìm cái gì trong ván cờ vũ trụ này? Như đã phân tích, để thay đổi trạng thái vật lý tức định mệnh thì phải tay đổi hệ thống tương tác, hệ thống tương tác liên quan đến 1 con người được xác định qua cấu trúc bộ môn Tử Vi (chưa nói đến sự thay đổi triệt để về mặt trí tuệ), bước thay đổi tương tác tất nhiên theo thứ tự ưu tiên như dưới đây: - (1) Tương tác từ hệ thống Âm Dương Ngũ Hành thuộc các tầng lớp của vũ trụ. - (2) Tương tác từ trái đất. - (3) Tương tác nội tại cá nhân thông qua trí tuệ và hành động & các pháp môn chẳng hạn yoga, thiền, khí công. (3) là dương so với (4). - (4) Tương tác từ gia đình (dương) so với xã hội (âm). Muốn thay đổi tương tác của linh hồn chỉ thực sự về mặt trí huệ là cực đại mà thôi, "giải thoát" chính là cái đích vĩ đại nhất của một con người trong chu kỳ đồng hành với vũ trụ. (Sự cân bằng trí tuệ trong chu kỳ vũ trụ: từ nguyên lý nhân quả này có thể phân tích sự liên quan đến bộ môn Tử vi và quy định trai gái được lấy nhau sau 5 đời chăng?). -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Nếu chúng ta phân tích định mệnh dựa trên một số các quy tắc dưới đây: - Vũ trụ thống nhất hay vạn vật có liên quan đến nhau ngay tức thời. - Vạn vật đồng nhất thể: "Nhất thể tán vạn thù, vạn thù quy nhất bổn". - Nguyên lý "đồng thanh tương ứng, đồng khí lương cầu". - Sự phân lớp hay tổ hợp Âm Dương Ngũ Hành của vạn vật và vũ trụ. - Sự hoạt động của mỗi cá nhân cũng thuộc cấu trúc Âm Dương Ngũ Hành. - Linh hồn và thể xác trong mối tương quan lẫn nhau. - Năng lượng nguyên tử của khoa học hiện đại và bước nhảy lượng tử. - Sự hòa hợp Âm Dương trong sự phát triển và tiến hóa của vạn vật, chẳng hạn hành Mộc trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành. - Khả năng vật chất hóa bởi thần lực hay sự tập trung tư tưởng cao độ. Chúng ta sẽ thấy rằng, mọi trạng thái vận động của một cá nhân mang "năng lượng" rất nhỏ so với tương tác có quy luật từ vũ trụ, hiểu là từ các hệ thiên văn lớn hơn hệ mặt trời. Do vậy, họ không vượt thoát được những áp đặt thuộc tính theo chu kỳ thời gian từ những tương tác trên. Tuy nhiên, những đặt tính của cá nhân trong cơ thể vật lý là rất thô, thậm chí thô nhất nhất vũ trụ bởi con người là sự vật hiện tượng phức tạp nhất trong vũ trụ. Vậy thì, làm sao thoát ra những áp lực vũ trụ này về mặt tư tưởng và vật chất (quyền, tiền, phụ nữ, danh vọng...) trong cấu trúc Âm Dương Ngũ Hành? Phải dùng những trạng thái nhảy vọt hay bước nhảy đột phá trong tương tác của cá nhân (tư tưởng tới hành động) nhằm giải phóng năng lượng "nguyên tử" nhằm thay đổi cấu trúc vật lý (trí tuệ và cơ thể) -> tạo những tương tác Âm Dương Ngũ Hành một cách tê vi nhất thông qua "sự cân bằng Âm Dương" của dịch chuyển dòng "Khí" tương tác nội tại chính cá nhân đó. Thông thường, trạng thái này gọi là "bùng nổ" hay "đại ngộ" về mặt nhận thức đối với tự nhiên và con người. Do vậy, không có ai cho mà chẳng ai có gì để cho chúng ta lên "Thiên đường" cả, tất cả chỉ là sáo rỗng mà thôi, tự thân nỗ lực theo học thuyết và pháp môn đúng. Việc đạt được các ước nguyện mô tả ở trên, chẳng hạn tiền là vật chất thô nhất trong khi giác ngộ hay thay đổi tư tưởng là vi tế nhất, chúng đối lập nhau trong một trạng thái vật chất -> tuy nhiên con người vẫn có thể đạt được trạng thái cân bằng của hai trạng thái tưởng như đối lập này, một đặc tính của hành Thổ trung ương trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Như vậy, muốn thay đổi số mệnh cá nhân phải tạo một bước nhảy lượng tử, điều này hàm nghĩa có mối "đại hòa" về phân lớp Âm Dương Ngũ Hành của cơ thể, trí não thông qua "Khí" nhằm tạo mối liên kết tổng thể tới trái đất và các tầng thứ phân lớp Âm Dương Ngũ Hành ở những cấp lớn hơn trong vũ trụ. Điều này rất khó hiểu, nếu chu kỳ cá nhân nhỏ 100 năm - thô thì khi liên kết thì chu kỳ chẳng hạn 25.920 năm thì sẽ khác - nhẹ, vi tế hơn -> giống như chúng ta làm cho bánh răng 100 năm đi chậm lại rất nhiều thông qua các điều chỉnh Khí. Như đã viết ở trên, sự tiến hóa tư tưởng hay sáng tạo vẫn trong trạng thái cân bằng vật chất hay trong vòng tuần hoàn vật chất của con người, điều này có thể hiểu là sự đại ngộ cũng phải nằm trong trạng thái cân bằng như vậy, nhưng chính nó làm thay đổi cấu trúc tư tương của ta "đối với những các mong ước" - chính tự thân cá nhân đó điều chỉnh mọi thứ liên quan đến nó, hay có thể hiểu là khi kết nối tới cái tổng thể càng lớn tức sự đổi thay định mệnh càng lớn (chu kỳ hệ thiên văn lớn là rất lớn, chẳng hạn một Nguyên 129.600 năm trong khi cuộc đời là rất ngắn 100 năm). Tất cả sự nhận biết này không nằm ngoài trí tuệ, tất nhiên có cả cái vượt ra khỏi mọi trí tuệ của cá nhân đó khi đạt trạng thái "đại hòa" với toàn thể vũ trụ. Đại ngộ triệt để (大悟徹底), là một cụm từ chỉ trạng thái tu tập được dùng trong Thiền tông Phật giáo và cũng được gọi là "đốn ngộ". Đại ngộ triệt để chỉ trạng thái ngộ đạo tận cùng, đối lập với các trạng thái ngộ đạo chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc hoặc trong một giai đoạn thời gian giới hạn, còn gọi là tiểu ngộ.[1] Theo thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền viết trong bộ Thiền luận Chính pháp nhãn tạng (Shōbōgenzō, 正法眼蔵?, bản dịch tiếng Anh "Treasury of the True Dharma Eye") một khi các thiền nhân đạt tới trạng thái đại ngộ sẽ vượt lên trên cả sự phân biệt giữa trạng thái ngộ và chưa ngộ. Nó là sự giải thoát hoàn toàn các ý niệm, các ràng buộc hiện tại, nó cũng là sự giải thoát triệt để.[2] BẢN CHẤT VÀ CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ TRONG ĐẠO PHẬT Thích Nữ Huệ Liên I. TỔNG QUÁT VỀ GIÁC NGỘ Nếu hiểu theo tâm lý học và nhận thức luận thì giác ngộ là một quá trình chuyển hóa. Trước hết là sự chuyển hóa về tri thức: ngu muội được thay thế bằng tuệ giác. . . Thứ hai là sự chuyển hóa tình cảm: thái độ sợ hãi và lo âu được thay thế bằng sự an tịnh và vô uý; đau khổ bằng hạnh phúc . . . Thứ ba là sự chuyển hóa trong thái độ: chấp thủ được thay thế bằng ly tham . . . Thứ tư là sự chuyển hóa trong cách cư xử: sự tước đoạt được thay thế bằng sự ban cho; lười biếng bằng năng động; sự phá hoại bằng sự tạo ra. . . Phật giáo, bắt đầu bằng kinh nghiệm giác ngộ của đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakyamuni Buddha), là con đường hay phương pháp (magga) để đạt đến sự giác ngộ thành Phật. Phật (Buddha) có nghĩa là người giác ngộ, người tỉnh thức hoàn toàn khỏi các ràng buộc và chấp thủ của thế gian; và sự giác ngộ (bodhi) là sự tỉnh thức về các hiện hữu và đời sống bằng nhãn quan của lý nhân duyên. Là một người tỉnh thức, những pháp môn hay lời dạy của Ngài đều hướng đến sự giác ngộ (bodhi) hoặc sự tỉnh thức viên mãn (sambodhi), không có gì có thể xem là ngang bằng. Bằng những nỗ lực chân chánh của bản thân thông qua con đường thiền định và quán chiếu, Đức Phật đã trở thành một bậc giác ngộ tối thượng đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Sau khi tự mình thực chứng con đường giác ngộ, đức Phật đã hướng dẫn chúng sanh một cách thiện xảo và vi tế những kinh nghiệm giác ngộ của Ngài và con đường đã đưa Ngài đến mục đích đó. Giáo lý của đức Phật do đó được xem là giáo lý giác ngộ hay con đường đưa đến giác ngộ. II. NỘI DUNG CỦA GIÁC NGỘ Khái niệm giác ngộ trong đạo Phật bao gồm nhiều nghĩa tuỳ theo ngữ cảnh mà nó xuất hiện. Trong bài viết này, người viết xin trình bày sơ lược một số nội dung quan trọng về bản chất giác ngộ trong Phật giáo, thông qua kinh nghiệm hay con đường giác ngộ của đức Phật được phản ánh trong kinh điển Pàli. 1. GIÁC NGỘ LÀ SỰ ĐẠT ĐƯỢC BA MINH Con đường tuệ giác trong Phật giáo được thể hiện bằng kinh nghiệm giác ngộ của Đức Phật. Theo kinh điển Pàli, kinh nghiệm chứng đắc của đức Phật được ghi nhận bằng sự ngộ nhập bốn thiền sắc giới (rùpajjhànàni), kế đến Ba Minh (tevijjà) trong ba canh liên tiếp của một đêm (Trung Bộ Kinh I, 41ff, 521; II, 817ff). Kinh Sa Môn Quả (Trường Bộ Kinh I, 93ff) hàm ngụ ý rằng sự đạt được Ba Minh là kết quả cuối cùng của đời sống phạm hạnh. Nhiều bài kinh trong Trường Bộ Kinh và Trung Bộ Kinh cũng lập lại quan điểm này. Sự nghiên cứu về nội dung của các kinh này cho phép chúng ta đi đến kết luận rằng quá trình giác ngộ tối thượng (sambodhi) của Phật cũng như những giai đoạn cuối cùng của quá trình đưa đến quả A-la-hán được hiểu đồng nhất với sự đạt được Ba Minh. Kinh nghiệm đạt được mỗi minh này được kinh mô tả như sau: "vô minh lần lần bị tiêu diệt hết, minh hay ánh sáng tuệ giác phát sanh" (Trung Bộ Kinh I, 54-57). Ba minh bao gồm: (i) Túc mạng minh (pubbe nivàsànussati ~nà.na): là tuệ giác hay trí nhớ đến nhiều đời sống quá khứ của bản thân từ những nét đại cương cho đến chi tiết. (ii) Thiên-nhãn-minh (dibbacakkhu hay sattàna.m cutùpapàta~nà.na): trí tuệ nhận biết được sự sống và chết của chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. (iii) Lậu-tận-trí (àsavakkhaya~nà.na): trí tuệ thấy rõ về hiện thực của khổ và lậu hoặc, nguyên nhân sanh khởi của chúng, trạng thái an lạc do vắng mặt chúng, và con đường dẫn đến sự chấm dứt chúng. Đây là loại tuệ giác cao nhất mang lại sự giải thoát hoàn toàn cho hành giả. Dòng kinh nghiệm thực chứng tuyệt vời này được diễn tả trong kinh như sau: "Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, ta dẫn tâm hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: "Đây là khổ," thắng tri như thật: "Đây là nguyên nhân của khổ," thắng tri như thật: "Đây là khổ diệt," thắng tri như thật: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt," thắng tri như thật: "Đây là những lậu hoặc," thắng tri như thật: "Đây là nguyên nhân các lậu hoặc," thắng tri như thật: "Đây là các lậu hoặc diệt," thắng tri như thật: "Đây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt." Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa." (M. I. 23, 249; MLS. I, 29, 303; Trung Bộ Kinh I, 57, 543). Minh đầu tiên mà đức Phật chứng ngộ là sự tuệ tri về chuỗi tái sanh hay những đời sống quá khứ của chính Ngài trong ba cõi. Nói cách khác, tái sinh là một khía cạnh của luân hồi (sa.msàra). Sự hiện hữu của các chúng sanh ở hiện tại là một phần của một sợi chuỗi chưa bị bẻ gãy của sanh già chết và tái sanh mà chúng đang tiếp diễn từ vô lượng kiếp trong quá khứ. Sự hiện hữu này cần phải được nhận thức bằng trí tuệ để không chấp thủ có thể khởi lên trong tương lai. Nhờ vậy con đường giải thoát luân hồi được chấm dứt. Minh thứ hai là sự khám phá ra những tác dụng về luật của nghiệp (P. kamma ; S. karma), vốn chi phối đời sống của chúng sanh xuyên suốt quá khứ hiện tại và vị lai. Đây cũng là một khía cạnh bổ xung khác của thuyết luân hồi. Nói cách khác nhờ sự chấm dứt các hoạt động tạo nghiệp, hành giả từng bước tiến đến sự chứng đắc Niết-bàn. Minh thứ ba xuất hiện cuối cùng, như là hệ quả tự nhiên của hai minh trước. Sự xuất hiện của nó rất chắc chắn và mạnh mẽ để phá vỡ những cơ sở cuối cùng của luân hồi. Nó được giải thích như là sự hiểu biết về thực tại liên quan đến Bốn Chân Lý Cao Thượng hay Tứ Thánh Đế (Tương Ưng Bộ Kinh V, 613). Kinh nghiệm thực chứng ba minh của đức Phật được Ngài tuyên bố bằng một bài thi kệ rất ấn tượng và cô đọng: Lang thang bao kiếp sống Ta tìm nhưng chẳng gặp, Người xây dựng nhà này, Khổ thay, phải tái sanh. Ôi! Người làm nhà kia (tham ái) Nay ta đã thấy ngươi! Người không làm nhà nữa. Đòn tay (thân) ngươi bị gãy, Kèo cột (phiền não) ngươi bị tan Tâm ta đạt tịch diệt, Tham ái thảy tiêu vong. (Kinh Pháp Cú, kệ 153, 154) Như vậy, sự giác ngộ của đức Phật là sự nhận ra bản chất về sự hiện hữu của con người, sự hiểu biết về nhân và quả của con người và thế giới. Mục đích của sự giác ngộ là sự giải thoát khỏi những nỗi đau khổ trong sinh tử luân hồi và sự đạt được hạnh phúc hoàn toàn, Niết-bàn. 2. GIÁC NGỘ LÀ TUỆ TRI VỀ TỨ DIỆU ĐẾ Nhìn từ một góc độ khác, sự giác-ngộ có thể được xem là sự tuệ tri về Bốn Chân Lý Thánh hay Tứ Diệu Đế (P. Cattàri Ariya Saccàni; S. Catvàri Àrya-Satyàni) [Tương Ưng Bộ Kinh V, 614]. Tứ Diệu Đế bao gồm thực trạng đau khổ của mọi hiện hữu hay khổ đế (dukkha ariya sacca), nguyên nhân gây ra các đau khổ của hiện hữu hay tập đế (dukkha samudaya ariya sacca), trạng thái vắng mặt toàn bộ khối đau khổ hay diệt đế (dukkha nirodha ariya sacca) và con đường thánh đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ hay đạo đế (dukkha nirodha gàmini-pa.tipadà ariya sacca). Tuệ tri về bốn chân lý cao thượng là thấu rõ bằng trí tuệ rằng (i) sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, cầu không được là khổ; nói chung, năm thủ uẩn là khổ; (ii) tuệ tri được nguyên nhân của khổ là tham ái, yếu tố dẫn đến tái sanh; (iii) tuệ tri được trạng thái vắng mặt toàn bộ tham ái và đau khổ (Niết-bàn), và (iv) tuệ tri được con đường Thánh Đạo Tám Ngành là con đường giải thoát đau khổ (ariya-a.t.thangika-magga) [Trung Bộ Kinh I, 115-116]. Kinh điển ghi chép rằng tiến trình giải thoát của đức Phật được khởi đi bằng sự tuệ tri về bản chất đau khổ của đời sống thế tục; kế đến là tâm hạnh kiên quyết muốn thoát khỏi tình trạng thế tục của cuộc sống đau khổ đó, và sau cùng là sự chứng đạt Niết-bàn bằng con đường thiền định về bốn chân lý thánh (Trung Bộ Kinh I, 366f; Tương Ưng Bộ Kinh II, 185f; Tăng Chi Bộ Kinh I, 260f). Sau một quá trình dài tu tập đầy những thử thách, cuối cùng đức Phật đã thành công: tuệ tri trọn vẹn nguyên nhân của tất cả khổ (Khổ-tập) và con đường đưa đến sự diệt khổ (Khổ-diệt-đạo), và chứng đạt Niết-bàn (Pàli: nibbàna; Sanskrit: nirvà.na). Sự tuệ tri đó được kinh điển định nghĩa là sự giác ngộ (bodhi) (Trung Bộ Kinh I, 373f). Đức Phật tuyên bố: "Chính trong cái thân dài một tầm có tưởng có ý này, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con đường đưa đến sự đoạn diệt thế giới (Tương Ưng Bộ Kinh, I. 145-146). Thế giới ở đây không chỉ đơn thuần là thế giới ngoại tại, mà được dùng để chỉ cho tất cả những gì chịu sự biến hoại (Tương Ưng Bộ Kinh IV, 96). Thật rõ ràng để thấy rằng Tứ Diệu Đế biểu thị một phương pháp thực nghiệm tâm linh hay khảo sát một đối tượng như chúng thật sự là: thấy một đối tượng, xác định nguồn gốc của nó, biết chắc tình trạng vắng mặt của nó như thế nào, và các phương pháp để đạt được trạng thái đó. Tứ Diệu Đế còn được sánh ví với tiến trình của y học trước một căn bệnh: chứng bệnh, nguyên nhân gây bệnh, trạng thái lành bệnh, và những phương thuốc chữa trị. Cũng vậy, Đức Phật như một vị lương y về sự tu tập tinh thần (Tăng Chi Bộ Kinh II, 692; IV, 49) đã chỉ rõ cho chúng ta thấy về bốn giai đoạn của một quá trình thực nghiệm tâm linh, vượt thoát khỏi mọi đau khổ: nhận chân rõ bản chất khổ của những sự vật ở đời, xác định nguyên nhân phát sinh những sự khổ ấy, trạng thái vắng mặt đau khổ, và những phương pháp diệt trừ đau khổ. Bốn sự kiện trên là những sự thật muôn đời mà tất cả nhân loại và các loài hữu tình trên hành tinh này và các hành tinh khác phải công nhận. Do vì tính không thể bị phủ định đó mà bốn sự kiện này được gọi là bốn chân lý thánh hay cao thượng (ariya sacca). Cả bốn sự kiện trên nên được xem quan trọng như nhau trong một sự nối tiếp hợp với logic. Nghĩa là sự chứng đạt Niết-bàn sẽ không thể thành tựu nếu con đường Niết-bàn không có mặt. Tương tự nếu không nhận ra nguyên nhân của đau khổ thì sự vắng mặt của khổ không thể có được. Nếu khổ chưa diệt trừ thì Niết-bàn không thể chứng đạt được. Nhưng vì trên thực tế, đau khổ là một hiện thực không thể phủ định. Nguyên nhân của chúng phát xuất từ nhận thức và hành động thiếu khôn ngoan của con người. Niết-bàn là trạng thái vắng mặt toàn bộ đau khổ và Bát chánh đạo là con đường đưa ta thoát khổ. Do đó, đức Phật dạy rằng Tứ thánh đế cần được nhận thức như sau: thực tại đau khổ cần phải liễu tri (pari~n~neyya), nguyên nhân gây ra đau khổ cần phải được diệt trừ (pahàtabba), trạng thái vắng mặt hoàn toàn đau khổ cần phải chứng ngộ (sacchikàtabba), và con đường thoát khổ cần phải được tu tập (bhàvetabba) (S. V, 420; Tương Ưng Bộ Kinh V, 612-613). Không chỉ có giá trị hạn cuộc trong tiến trình thực nghiệm tâm linh, hướng đến giải thoát, nguyên lý nhận thức của Tứ Diệu Đế này còn được xem là công thức áp dụng chung cho tất cả mọi vật được nhận thức (Tương Ưng Bộ Kinh II, 33-34). Nghiên cứu mọi sự vật theo phương pháp này, hành giả sẽ có thể trừ diệt được những mê lầm của mình và thấy sự vật một cách chân thật. Sự thấy biết như thật đó được gọi là chánh tri kiến (sammàdi.t.thi) hay minh kiến (vijja). Trong Phật giáo, sự chứng đắc được tri kiến này cũng được xem là đạt được mục đích tối thượng, giải thoát mọi đau khổ tức là Niết-bàn (Tương Ưng Bộ Kinh II, 34). Lại nữa, Tứ Diệu Đế cần phải được tuệ tri với ba chuyển (tipariva.t.tam) và mười hai hành tướng (dvàdasàkàram). Ba chuyển là ba tri kiến tương ứng liên hệ đến mỗi Đế của Tứ Thánh Đế, tạo nên tất cả mười hai hành tướng. Tri kiến đầu tiên là nhận ra mỗi Đế như nó là (sacca~nà.na, thị chuyển). Tri kiến thứ hai là nhận ra cái gì nên được làm về mỗi Đế (kicca~nà.na, khuyến chuyển): sự thật về hiện trạng đau khổ cần phải hiểu rõ, nguyên nhân gây ra đau khổ cần phải được tiêu trừ, trạng thái vắng mặt toàn bộ đau khổ cần phải được chứng ngộ, và con đường dẫn đến chấm dứt đau khổ cần phải được tu tập. Tri kiến thứ ba là nhận ra sự hoàn thành của cái gì nên được làm (kata~nà.na, chứng chuyển). Đức Phật tuyên bố về điều này như sau: Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật không khéo thanh tịnh ở nơi Ta; thời này các Tỷ-kheo, cho đến khi ấy, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không đã chứng tri được vô thượng Chánh Đẳng Giác. Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, trong bốn Thánh đế này, với ba chuyển và mười hai hành tướng như vậy, tri kiến như thật đã được khéo thanh tịnh ở nơi Ta; cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta mới chứng tri rằng ta đã đạt được vô thượng Chánh Đẳng Giác. (Tương Ưng Bộ Kinh V, 613-614) Nói cách khác, sự giác ngộ là chánh tri kiến về Tứ Diệu Đế. 3. GIÁC NGỘ LÀ TUỆ TRI LÝ NHÂN QUẢ Trong Câu-xá Sớ Giải (Ko’savyàkhyà, VI, 4), Tứ Diệu Đế được đặt dưới hai đầu đề: nhân và quả, hay thế gian và xuất thế gian (luân hồi và Niết-bàn). Chân lý thứ nhứt và thứ hai như là thực trạng đau khổ và nguyên nhân gây ra đau khổ. Chúng tiêu biểu cho hệ nhân quả thuộc phạm vi luân hồi (sa.msàra) hay thuộc về thế gian (loka). Chân lý thứ ba và thứ tư như là trạng thái vắng mặt toàn bộ đau khổ và con đường dẫn đến tình trạng thoát khổ tiêu biểu cho hệ nhân quả của Niết-bàn (nibbàna, nirvà.na), thuộc xuất thế gian (paraloka). Hai chân lý đầu tiên được xem như là đặc tính hóa của luân hồi (sa.msàra) vốn chứa đầy những lậu hoặc (P. àsava ; S. à’srava), và hai chân lý cuối cùng như đối lập với hai chân lý đầu không còn lậu hoặc (P. anàsava ; S. anà’srava) hay giải thoát khỏi lậu hoặc. Tóm lại, Tứ Diệu Đế nhằm trả lời những câu hỏi sau đây: 1. Nhân của luân hồi là gì? Đ Xin trả lời là tham ái (ta"nhà), phiền não (P. kilesa; S. kle’sa) và vô minh (avijja). 2. Quả của luân hồi là gì? Đ Xin trả lời là đau khổ hay không toại nguyện (dukkha). 3. Nhân của Niết bàn là gì? Đ Xin trả lời là sự tu tập con đường chân chánh (magga) 4. Quả của Niết bàn là gì?Đ Xin trả lời là sự chấm dứt của tham ái, phiền não và vô minh. Nói cách khác, giác ngộ là Tri Kiến về Lý Nhân Quả. Đó là tuệ tri được bất thiện, căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và căn bổn thiện (Trung Bộ Kinh I, 112). Mười ác nghiệp là bất thiện, tham sân si là căn bổn bất thiện. Mười thiện nghiệp là thiện, không tham sân si là căn bổn thiện. 4. GIÁC NGỘ LÀ TRI KIẾN LÝ DUYÊN KHỞI Trong Tứ Thánh Đế, Thánh đế thứ nhất và thứ hai là thuộc về Lý Duyên Khởi (Paticcasamuppàda) (Tăng Chi Bộ Kinh I, 318). Lý duyên khởi được hiểu như sự hoạt động trên tất cả sáu hình thái của chúng sanh còn trong vòng luân hồi (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a-tu-la và trời) và trong ba cõi: dục giới (kàmadhàtu), sắc giới (rùpadhàtu) và vô sắc giới (arùpadhàtu). Lý Duyên Khởi này được Đức Phật tuệ tri ngay sau khi Ngài chứng đạt được giác ngộ vô thượng (Kinh Phật Tự Thuyết 1 & 2). Lý Duyên Khởi (P. paticca-samuppàda, S. pratìtya-samutpàda) là nguyên lý tương thuộc tương đối của tất cả mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này, từ vật hữu hình cho đến vô hình, từ vật chất đến tâm lý. Tính cách tương thuộc của hiện hữu được mô tả bằng tính điều kiện tương đối như sau: Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh II, 55-56, 119, 171; Trung Bộ Kinh II, 453; III 222). Trong mối liên hệ với hiện hữu luân hồi của các chúng sanh trong ba cõi sáu đường, lý duyên khởi được hiểu là mười hai mắc xích nhân duyên (nidàna), liên hệ một cách tương thuộc với nhau trong cách sau đây: Do vô minh (P. avijjà, S. avidyà) có mặt nên hành (sankhàra, sa.mskàra) có mặt; do hành có mặt nên thức (vi~n~nàna, vij~nàna) có mặt; do thức có mặt nên danh sắc (nàmarùpa) có mặt; do danh sắc có mặt nên lục nhập (salàyatana, .sa.dàyatana) có mặt; do lục nhập có mặt nên xúc (phassa, spar’sa) có mặt; do xúc có mặt nên thọ (vedanà, vendanà) có mặt; do thọ có mặt nên ái (ta"nhà, t.r.s.nà) có mặt; do ái có mặt nên thủ (upàdàna) có mặt; do thủ có mặt nên hữu (bhava) có mặt; do hữu có mặt nên sanh (jàti) có mặt; do sanh có mặt nên già và chết (jaràmara.na) có mặt. Do già chết có mặt nên vô minh có mặt (Tương Ưng Bộ Kinh II, 10; Tăng Chi Bộ Kinh I, 318). Và như vậy, cái duyên khởi trở lại từ đầu. Cứ như vậy mà luân chuyển bất tận trong luân hồi từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Trong tiến trình thực nghiệm tâm linh, hướng đến giải thoát, đức Phật nhấn mạnh đến ba duyên, đó là, sự khắc phục vô minh, ái và thủ. Loại bỏ được ba nhân duyên này hành giả tu tập sẽ chắc chắn bẻ gãy cái vòng mắc xích luân hồi và nếm được quả vị giải thoát của Niết-bàn. Tưởng cũng nên lưu ý rằng vì là tính duyên khởi có điều kiện, khái niệm vòng chuyền luân hồi không có nghĩa cho rằng vô minh là mắc xích đầu tiên của sinh tử. Bởi lẽ, đạo Phật không thừa nhận có một nguyên nhân đầu tiên sanh ra các nguyên nhân còn lại. Do đó, vô minh không phải là không có nhân, cũng không phải là nguyên nhân thứ nhất. Vô minh do các lậu hoặc (àsava) làm nhân. Kinh nói rằng: "Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh, từ đoạn diệt của lậu hoặc có đoạn diệt của vô minh." (Trung Bộ Kinh I, 127). Nói cách khác, tính tương thuộc của mười hai mắc xích có thể bắt đầu bằng mắc xích tham ái (ta.nhà), hay thậm chí bằng đồ ăn (àhàra). Có bốn loại đồ ăn: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. (Xem Tương Ưng Bộ Kinh II, 27-29, 180-185). Những mắc xích nhân duyên này di chuyển trong một cái vòng không có sự bắt đầu tuyệt đối, và không có liên quan đến thời gian hay không gian. Do vậy chúng ta thấy Lý Duyên Khởi của Phật giáo không giải thích nguồn gốc thế giới mà chỉ là để xác nhận sự vật ở đời do nhân duyên mà sanh ra. Công thức Lý Duyên Khởi này cũng được dùng để chứng minh rằng thế giới vì hiện hữu một cách tương đối nên không có vật nào có một thật thể bất biến. Nói cách khác, theo Phật giáo nếu thế giới và mọi vật có một thật thể thì thực thể đó chính là nguyên lý duyên khởi tương thuộc hay còn gọi là "y tha duyên khởi tánh" (Idapaccayatà Paticcasamuppada) (Trung Bộ Kinh I, 375). Có nghĩa là những sự vật của thế giới hiện hữu đều phụ thuộc nhau. Do vậy, nguyên lý duyên khởi được xem là chìa khóa đưa đến chân lý. Nói khác hơn, khi nào hành giả chứng ngộ được sự thật của chân lý này thì vị ấy thấy được "sự thật" của mọi hiện hữu trên đời. Với lý do trên, Đức Phật đã đồng hóa sự tuệ tri về duyên khởi với thấy được Phật và chánh pháp: "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi. (Trung Bộ Kinh I, 422). Chính công thức này trả lời vấn đề đời sống con người (Tương Ưng Bộ Kinh II, 46) và thế giới, vốn được chúng sanh chấp thủ hoặc là có (atthità) hoặc là không có (natthità) như là hai cực đoan đối lập nhau (Tương Ưng Bộ Kinh II, 37, 140). Đức Phật không chỉ là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã khám phá ra sự vận hành của mắc xích mười hai nhơn duyên này mà Ngài còn là người đầu tiên đã làm chủ được chúng trong đôi tay của Ngài và Ngài đã chặt đứt chúng thành từng mắc xích rời rạc để chúng sẽ không bao giờ có thể trói buộc Ngài vào cảnh khổ đau trong ba cõi sáu đường nữa. Do vậy Ngài đã được giác ngộ, và sự giác ngộ của Ngài là giác ngộ về nguyên lý duyên khởi của các pháp. Tóm lại, giác ngộ là tri kiến về Lý Duyên Khởi xuyên qua Tứ Thánh Đế. Tuệ tri mười hai nhân duyên, về sự tập khởi của mười hai nhân duyên (do cái này khởi nên cái kia khởi), về sự đoạn diệt của mười hai nhân duyên (do cái này diệt nên cái kia diệt), và về con đường đưa đến đoạn diệt của mười hai nhân duyên (con đường Thánh Đạo Tám Ngành) (Trung Bộ Kinh I, 117-128). 5. GIÁC NGỘ LÀ THẤY RÕ BA PHÁP ẤN Với tuệ tri về Tứ Diệu Đế cũng như tuệ tri về Lý Duyên Khởi, người tu tập sẽ thấy rõ ba chân lý nền tảng (Tilakkhana) của mọi hiện hữu đó là vô thường (anicca), khổ (dukkha), và vô ngã (anatta). Chúng sanh và những đối tượng của thế giới chỉ là hiện hữu tương quan và vì vậy chúng là vô thường sanh diệt và nguồn gốc của khổ. Ngoại trừ sự giác ngộ và Niết-bàn, không có gì mà không bắt nguồn bằng chuỗi nguyên nhân và điều kiện. Cái gì là khổ đều là trống rỗng, vô ngã, không ngã, không ngã sở hữu, không thể làm theo ý ta muốn (Trung Bộ Kinh III, 100; Tương Ưng Bộ Kinh IV, 97). Sau khi thấy như vậy, nhàm chán (nibbada) khởi lên trong tâm của hành giả. Do nhàm chán nên ly tham (viràga) xuất hiện. Do có thái độ ly tham nên hành giả được giải thoát (vimutti). Đỉnh cao của tiến trình tu tập này là giải thoát tri kiến (vimutti~nà.nadassana) hay sự giác ngộ hoàn toàn (sambodhi). (Tương Ưng Bộ Kinh III, 155) 6. GIÁC NGỘ LÀ THẤY ĐƯỢC LÝ VÔ NGÃ Như kết quả tất yếu của Lý Duyên Khởi, Đức Phật tuyên bố rằng, không thể có một thực thể thường hằng và không thay đổi kể cả ngã, và tất cả hoặc bất cứ cái gì thuộc về những thành phần của con người hay ngoài con người, vật chất, tinh thần hay hiện tượng, không thể được xác định với cái ngã thường hằng, vì, trong trường hợp đó, nó do duyên hợp và cũng sẽ chịu sự biến hoại. Những thành phần của con người chỉ là một hiện hữu tạm thời, do đó con người không nên chấp thủ chúng và không nghĩ về chúng bằng thái độ "cái này là của tôi" (eta.m mama), "cái này là tôi" (eso’ ham asmi) và "cái này là bản ngã của tôi" (eso me attà) [S. IV. 2ff; Tương Ưng Bộ Kinh IV, 82]. Đức Phật nhận ra rằng yêu thương ngã là nguyên nhân chính của khổ đau trần thế, và cách tốt nhất để loại bỏ chấp ngã này là tri kiến rằng không có cái ngã thường hằng. Quan điểm về cái tôi là nguồn gốc của mọi đau khổ của kiếp nhân sinh. Đi ngược lại khuynh hướng tôn trọng bản ngã của thế gian, giáo lý của đức Phật cho rằng mọi sự vật kể cả chúng sanh là vô ngã và mọi thành phần của một con người vốn tuỳ thuộc vào luật duyên khởi. Không có bất cứ một vật gì trong con người hay ngoài con người mà không chịu luật phổ biến này. 7. GIÁC NGỘ LÀ TUỆ TRI CÁC PHÁP LÀ KHÔNG Khái niệm "không" (P. su~n~natà, S. sùnyatà) trong Phật giáo hoàn toàn không phải là cái không trống rỗng. Nó là một thuật ngữ được dùng chỉ sự vắng mặt của ngã (Tương Ưng Bộ Kinh IV, 97; Trung Bộ Kinh III, 100). Từ định Lý Duyên Khởi, mọi sự vật hiện tượng xuất hiện, tồn tại và hoại diệt rồi trở thành cái khác v.v. . . đều được hình thành bằng chuỗi các điều kiện tương duyên. Nghĩa là chúng chỉ là hiện hữu trong mối tương quan do duyên sanh. Chúng dường như chỉ "thật" trên mặt "hiện tượng" nhưng "không thực" ở "cứu cánh." Khi nhận thức được các pháp là vô ngã, hành giả sẽ nhận ra được tánh không của các pháp. Không (sùnyatà) là đứng hay vượt lên "trên" hai phương diện khẳng định và phủ định, hiện hữu và không hiện hữu, tồn tại hay hoại diệt. 8. GIÁC NGỘ LÀ TRI KIẾN NHƯ THẬT Từ một cách tiếp cận khác, giác ngộ trong Phật giáo còn có nghĩa là sự tuệ tri về bản chất "như thị" của mọi sự vật (P. yathàbhùta-~nà.nadassana, S. yathàbhùta.m-j~nànadar’sana). Nghĩa là nhìn sự vật đúng như bản chất của chúng là, mà không hề có thêm vào bất kỳ mọi áp đặt, thuộc tính nào lên bản thân chúng. Kinh điển Đại thừa, nhất là kinh Pháp Hoa đã triển khai một cách rốt ráo thái độ nhận thức đúng với bản chất của sự vật thành nguyên lý "thập như thị" đó là: (i) như thị tánh, (ii) như thị tướng, (iii) như thị thể, (iv) như thị lực, (v) như thị tác, (vi) như thị nhân, (vii) như thị duyên, (viii) như thị quả, (ix) như thị báo, (x) như thị bổn mạt cứu cánh. Giá trị đạo đức của cách nhìn sự vật đúng với bản chất của chúng là, nằm ở chỗ nó giúp cho hành giả không chấp thủ vào thế giới ngoại tại và thế giới cảm xúc và phản ứng của chúng. Nhờ vậy hành giả có thể sống ung dung tự tại trong đời, vượt thoát khỏi mọi trói buộc. Một khi trói buộc không còn, tâm hành giả sẽ giải thoát và sự giải thoát đó được thực hiện bằng trí tuệ. 9. GIÁC NGỘ LÀ HÀNG PHỤC MA QUÂN THAM, SÂN, SI Theo đức Phật, sáu căn của chúng ta và những đối tượng của chúng là đang rực cháy với ba ngọn lửa của tham (lobha), sân (dosa) và si (moha). Mục đích của con đường thực nghiệm tâm linh trong Phật giáo là làm thế nào để蠤ập tắt những ngọn lửa đó. Học thuyết về ba ngọn lửa được đề cập đầu tiên trong bài pháp thứ ba của đức Phật, The Adittapariyàya Sutta (Dictionary of Pàli Proper Names, trang 247) hay Kinh Bị Bốc Cháy (Aditta Sutta trong Tương Ưng Bộ Kinh IV, 33-40). Thuật ngữ màra được dùng trong văn học Pàli với nghĩa bóng hơn là nghĩa đen của từ này. Ma ở đây không có nghĩa là ma quỷ hay ác ma như trong các kinh Jataka đã huyền thoại hoá, mà nhằm ám chỉ cho "sự chết" (Tương Ưng Bộ Kinh I, 283; Kinh Pháp Cú, kệ 46, 47, 48, 287; Kinh Tập, kệ 357, 587 v.v…) và quan trọng hơn là các phiền não (kilesa) (Kinh Tập, kệ 166; Pháp Cú, kệ 37, 276, 350). Trong ngữ cảnh đó, khái niệm giác ngộ ở đây cũng không có nghĩa là chiến thắng ngoại ma, bọn ma quân bên ngoài, mà là chiến thắng các tên giặc lậu hoặc và phiền não trong tâm (Trung Bộ Kinh I, 360; Kinh Tập, kệ 425-449). Kinh điển Pàli đã liệt kê ra mười đội quân ma quan trọng mà mọi hành giả tìm kiếm giác ngộ phải kiên cường đấu tranh để tiêu diệt chúng. Đội quân thứ nhất là dục, thứ hai là bất lạc, thứ ba là đói và khát, thứ tư là tham ái, thứ năm là hôn trầm thùy miên, thứ sáu là sợ hãi, thứ bảy là nghi ngờ, thứ tám là dèm pha ngoan cố, thứ chín là lợi danh cung kính danh vọng, và thứ mười là tự đề cao mình, hủy báng kẻ khác (Kinh Tập, kệ 436-439). Những đội quân ma này cư trú trong tâm của con người, ngăn chặn sự giác ngộ của hành giả. Sự xuất hiện của Ma quân trước giờ phút Đức Phật đạt được sự giác ngộ vô thượng chính là sự xuất hiện của mười tên giặc phiền não vừa nêu mà đức Phật đã chiến thắng nhờ thiền định. Khúc khải hoàn đó được đức Phật và các vị A-la-hán phát biểu trong minh thứ ba đó là tri kiến về sự chấm dứt toàn bộ các lậu hoặc (lậu tận trí). Do đó, đấu tranh với ma quân là sự nhiếp phục tâm tư, chế ngự các phiền não (kilesa), dẹp trừ các chướng ngại tâm (nìvara.na) vốn ngăn chặn con đường đến giải thoát. Kinh điển mô tả rằng đức Phật đã chiến thắng được những đội quân ma này bằng gươm trí tuệ (Kinh Tập, kệ 443; Pháp Cú, kệ 40). Như vậy có thể nói sự giác ngộ chính là hàng phục ma quân trong tâm, dập tắt lửa tham sân si, đoạn tận các kiết sử, giải thoát sanh y (những nguyên nhân đưa đến tái sanh), nhận ra Niết-bàn an tịnh. III. CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN SỰ GIÁC NGỘ Nếu Đức Phật là một con người giác ngộ, không phải là Thượng đế hay đấng tạo hoá, thì những gì Ngài giác ngộ được và thực hiện được, dĩ nhiên những người khác cũng có thể đạt được và làm được. Nhưng đạt được bằng cách nào? Câu trả lời đơn giản là hãy mạnh dạn đặt từng bước chân vững chắc lên con đường xa xưa mà đức Phật đã đi qua. Đó là con đường: nhận chân đau khổ như một thực tại, truy ra nguồn gốc của đau khổ, cảm nhận trạng thái vắng mặt đau khổ và thực hiện con đường thoát khổ đó. Đó là con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ, từ thế giới của sự sanh đến thế giới vô sanh, từ mê mờ đến tỉnh thức. Kinh điển chép rằng sau khi từ bỏ hai cực đoan: sự đắm say trong các dục (kàmasukhallikànuyoga) và sự tự hành khổ mình (attakilamthànuyoga), đức Phật đã kiên quyết đi theo con đường Trung Đạo (majjhimà pa.tipadà), đó là con đường thánh gồm tám ngành (Tương Ưng Bộ Kinh V, 611). Con đường này được tóm gọn trong ba đặc tính: giới (sìla), định (samàdhi) và tuệ (pa~n~nà) [Trung Bộ Kinh I, 660). Con đường thánh tám ngành bao gồm chánh kiến (sammà di.t.thi), chánh tư duy (sammà sankappa), chánh ngữ (sammà vàcà), chánh nghiệp (sammà kammanta), chánh mạng (sammà àjìva), chánh tinh tấn (sammà vàyàma), chánh niệm (sammà sati), và chánh định (sammà samàdhi) (Tương Ưng Bộ Kinh V, 612 và nhiều kinh khác). Những phương pháp tu hành này được chia thành ba nhóm thanh tịnh (tisikkhà), đó là: (i) tuệ học (pa~n~nà) tức gồm chánh kiến và chánh tư duy, (ii) giới học (sìla) tức gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, và (iii) định học (samàdhi) tức gồm chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định (Trung Bộ Kinh I, 660). Con đường giác ngộ của một bậc hữu học gồm có tám chi phần như vừa nêu, trong khi đó, con đường của bậc A-la-hán gồm có mười chi phần vốn gồm tám chi phần trên cộng với hai chi phần mới là chánh trí (sammà ~nà.na) và chánh giải thoát (sammà vimutti) (Trung Bộ Kinh III, 245; Tăng Chi Bộ Kinh IV, 563). Do vậy, ba vô lậu học trở thành bốn vô lậu học bằng sự thêm vào của giải thoát học (vimutti) (Tăng Chi Bộ Kinh I, 550-551, 703; II, 271), hay có thể trở thành năm vô lậu học bằng sự thêm vào của giải thoát tri kiến (vimutti ~nà.nadassana) (Tăng Chi Bộ Kinh II, 747). Chánh Kiến là yếu tố quan trọng nhất trong Phật giáo (Trung Bộ Kinh III, 238). Về phương diện lịch sử, Phật giáo đã bắt nguồn từ sự giác ngộ tối thượng của đức Phật dưới cây bồ-đề tại Bodhgaya. Về phương diện nhân quả, có thể nói rằng Phật giáo bắt đầu có hình dạng khi hoàng tử Siddhattha, vị Phật tương lai, chứng kiến ba hiện tượng của đời sống: một người già, một người bệnh, và một người chết. Xuyên qua cảnh trạng này Ngài nhận ra chân lý của khổ (dukkha), chân lý đầu tiên của Tứ Diệu Đế, và sự nhận ra này không gì ngoài Chánh Kiến hay là quan điểm chân chánh (Sammà di.t.thi), bước đầu tiên của con đường Bát Thánh Đạo. Chính chánh kiến hay là nhận thức chân chánh (Sammàdi.t.thi) này đã thúc giục Ngài sớm từ bỏ đời sống thế tục, để tìm kiếm ba chân lý còn lại, đó là nguyên nhân của khổ, Niết-bàn và con đường thoát khổ. Sau sáu năm tu tập với nhiều thử thách, cuối cùng Ngài đã đạt được giải thoát tri kiến (Vimutti~nà.nadassana). Quá trình giác ngộ tối thượng, vì vậy, bắt đầu với chánh tri kiến (Sammàdi.t.thi) và chấm dứt với giải thoát tri kiến (Vimutti~nà.nadassana). Giải thoát tri kiến cũng còn hiểu đồng nghĩa vơi sự giác ngộ hoàn toàn (Sammàsambodhi), mức độ tuệ giác cao nhất mà một hành giả có thể chứng đạt được. Sau khi thực hiện thành công con đường cứu khổ độ mê, đức Phật đã tuyên bố rằng: "Xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ." (Trung Bộ Kinh I, 318). Và Ngài cũng tuyên bố rằng học thuyết của Ngài chỉ có một vị, đó là vị giải thoát. (Ud.p. 56; Kinh Phật Tự Thuyết, trang 352) Chánh tri kiến (sammàdi.t.thi), nhận thức giác ngộ đầu tiên, cần phải được tu tập và tích tụ bằng sự giúp đỡ từ bên ngoài cũng như trí tuệ của vị ấy (Trung Bộ Kinh I, 644). Quan điểm giác ngộ này là nền tảng chủ yếu cho người đệ tử thu thập và phát triển để giải thoát chính mình ra khỏi vòng luân hồi. Nó là sự nhận chân được ba bản chất hay đặc tánh của đời sống (tilakkha.na) đó là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) (Trung Bộ Kinh I, 313-315, 510-511). Sự biết này làm giảm đi các thái độ ngã mạn "tôi là" các thái độ chấp thủ (abhijjà) "của tôi là" cũng như sự hiềm hận (vyàpàda). Trong con đường thánh tám ngành, chánh kiến đưa đến chánh tư duy và theo cách ấy đưa đến chánh ngữ,蠣hánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Những thành tựu tâm linh chẳng hạn như sự an tịnh của tâm có thể giúp vị hành giả thoát ra khỏi sự chi phối của thế gian, hướng đến thái độ sống ly tham và giải thoát (Trung Bộ Kinh I, 316). Sự giác ngộ hay tri kiến đưa đến giải thoát tối hậu là biểu hiện về sự chứng đạt cao nhất của đời sống phạm hạnh. Đó là chánh trí (~nà.na) hay thánh tuệ (pa~n~nà). Trong luân hồi (sa.msàra) nó tạm không hiện hữu, do vô minh (avijjà) hay sự vắng mặt của tri kiến đúng đắn. Nhờ có nó mà chúng sanh tìm ra được sự giải thoát. Nói cách khác, nhờ vào sự hiện hữu của trí tuệ mà quá trình luân hồi của một cá nhân thông qua sự vận hành của các lậu hoặc (àsava) bị chặt đứt hay tiêu diệt hoàn toàn (Trung Bộ Kinh II, 300). Đến đây, vị thánh đệ tử đã hoàn thành con đường giải thoát gồm mười chi phần. Tuy nhiên, có một số kinh cũng đề cập đến sự giác ngộ như là kết quả tất yếu của các pháp môn khác ngoài Tám chánh đạo. Chẳng hạn Tương Ưng Bộ Kinh chép rằng nhờ sự tu tập về Tứ Như Ý Túc (iddhi-pàda) mà Như Lai được gọi là vị A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác (Tương Ưng Bộ Kinh V, 423). Cũng trong kinh Tương Ưng, ở một đoạn khác, đức Phật khẳng định nhờ vào sự phát triển Năm Căn (pa~ncindriyàni) (Tương Ưng Bộ Kinh V, 312, 361) hoặc tu tập Thất Bồ-đề Phần (satta bojjha"ngà) mà chúng sanh phàm phu trở thành bậc giác ngộ (Tương Ưng Bộ Kinh V, 201-202). Về sau, số lượng pháp môn được tăng lên thành ba mươi bảy phẩm trợ đạo (sattati.msà bodhipakkhiyà dhammà) (Trường Bộ Kinh I, 614). Với sự phát triển của Phật giáo Đại thừa, các Ba-la-mật (pàramità) và các Địa (bhùmi) cũng được xem như những con đường dẫn đến giác ngộ (Xem Phẩm Thập Địa trong Kinh Hoa Nghiêm). Rồi dần dà, con đường giác ngộ được nhân lên thành tám vạn bốn ngàn pháp môn, một con số tượng trưng cho số lượng lớn không thể tính đếm được. Nghĩa là theo đạo Phật Đại thừa, con đường giác ngộ không có giới hạn, sẵn sàng đón nhận tất cả chúng sanh có tấm lòng tầm cầu giải thoát khỏi đau khổ của nhà lửa ba cõi. VI. KẾT LUẬN Nếu hiểu theo tâm lý học và nhận thức luận thì giác ngộ là một quá trình chuyển hóa. Sự chuyển hoá có thể diễn ra ở bốn phương diện, đó là tri thức, tình cảm, thái độ và cách cư xử. Trước hết là sự chuyển hóa về tri thức: ngu muội (avijjà) được thay thế bằng tuệ giác (vijjà = pa~n~nà). Thứ hai là sự chuyển hóa tình cảm: thái độ sợ hãi và lo âu được thay thế bằng sự an tịnh và vô uý; đau khổ bằng hạnh phúc; tham lam, keo kiệt được thay thế bằng sự độ lượng, sẵn lòng giúp đỡ tha nhân; vị kỷ hay ích kỷ được thay thế bằng tấm lòng vị tha vô ngã, v.v… Thứ ba là sự chuyển hóa trong thái độ: chấp thủ được thay thế bằng ly tham; hận thù bằng tình hữu nghị; ác tâm bằng lòng thương. Thứ tư là sự chuyển hóa trong cách cư xử: sự tước đoạt được thay thế bằng sự ban cho; lười biếng bằng năng động; sự phá hoại bằng sự tạo ra. . . Bốn phương diện chuyển hoá trên vốn phụ thuộc lẫn nhau như Lý Duyên Khởi (pa.ticcasamuppàda). Nghĩa là sự chuyển hóa về tri thức sẽ có thể dẫn đến sự chuyển hóa về tình cảm, từ đó đưa đến sự thay đổi về thái độ, và về cách cư xử, để có được một đời sống trong sạch và an tịnh trong ý nghĩ, lời nói và hành động. Người Phật tử tu tập con đường giác ngộ là để làm cho chính mình được hạnh phúc và đem lại hạnh phúc cho người khác ngay trong hiện tại. Tùy theo mức độ tuệ tri mà kết quả hạnh phúc đạt được nhiều hay ít. Đức Phật dạy: "Người chỉ hành trì một phần, thì thành tựu cũng chỉ một phần; người hành trì toàn phần, thì thành tựu được toàn phần." (Tăng Chi Bộ Kinh I, 422). Tương tự, Tương Ưng Bộ Kinh V, 315 ghi: "Ai làm viên mãn, được quả viên mãn; ai làm từng phần, được quả từng phần." Tóm lại, khác với và vượt lên trên sự cứu rỗi trong các tôn giáo khác, sự giác ngộ trong Phật giáo không phải là một cái gì huyền bí hay siêu nhiên. Nó chỉ là sự chuyển hóa toàn diện về tri thức, tình cảm, thái độ và cách cư xử. Giác ngộ do đó có thể đạt được hay chứng nghiệm ngay trong đời sống này khi các nỗ lực chân chánh của cá nhân được đầu tư và thực hiện đúng mức. Vì quả vị giác ngộ được thực hiện ngay trong đời sống đau khổ này, tại giây phút hiện tại này, người đạt được giác ngộ vẫn sống trong thế giới như mọi người, có những nhu cầu cần thiết hằng ngày, thực hiện bổn phận, nhưng có điều, vị ấy không giống như người thế tục, ở chỗ, vị ấy hoàn toàn không còn các chấp thủ cá nhân, tính hẹp hòi, ích kỷ; trái lại vị ấy sống với lòng vị tha, không vướng mắc mọi thứ ở đời (Tăng Chi Bộ Kinh IV, 444). Tâm hành của vị ấy do vậy được kinh mô tả như cánh chim bay lượn trên bầu trời xanh bao la không để lại dấu vết ! (Pháp Cú, kệ 92-93). GHI CHÚ - Các tham khảo về kinh điển Pàli và bản dịch tiếng Anh trong bài viết này đều dựa trên ấn bản của Hội Thánh Điển Pàli (PTS). Các bản dịch tiếng Việt về kinh điển Pàli đều của HT. Thích Minh Châu, ấn bản Đại Tạng Kinh Việt Nam, do Viện Nghiên Cứu Việt Nam ấn hành. - Chữ P và chữ S trong dấu ngoặc đơn là viết tắt của các chữ Pàli và Sanskrit. -
Giải «Bộ Hư Đại Sư dự ngôn thi» Tác giả: Mộc Tử "Trăm năm đại sự hồn như mộng, Nam Triều phấn vàng thái bình xuân" “Thế vũ tam phân, Hữu Thánh nhân xuất, Huyền sắc kỳ quan, Long trương kỳ phục, Thiên địa phục minh, Xử trị vạn vật, Tứ hải âu ca, Ấm thụ kỳ phúc”. Giới thiệu: «Bộ Hư Đại Sư dự ngôn thi» do một vị cư sĩ Phật gia sống vào những năm Quang Tự triều Thanh vô tình tìm được tại chùa Sơn Bích ở Tây Sơn, Bắc Kinh. Tương truyền Bộ Hư nguyên là một Đại tướng triều Tùy, sau khi chứng kiến cảnh hủ bại loạn ly thời Tùy mạt đã xuất gia lánh nạn tại núi Thiên Đài. Dự ngôn này đối với ước chừng một thế kỷ thời cận đại đã giảng hết sức tỉ mỉ, kết thúc bằng một đoạn miêu tả thời thái bình thịnh thế, nhưng ngôn ngữ mơ hồ khó hiểu. * * * Sau đây là phần giải nghĩa: Giải: “Mây u ám” chỉ không có ánh quang, “sương ưu sầu” chỉ “sầu tự” (u sầu). “Thổ hầu” là Mậu Thân, chỉ Hoàng đế Quang Tự mất năm 1908 Mậu Thân, Tuyên Thống 3 tuổi làm Hoàng đế được 3 năm. “Nguyệt hạ vô chủ thủy không lưu”, ba điểm bộ Thủy (氵) cộng thêm “nguyệt” (月) rồi thêm “chủ” (主) hợp thành chữ “Thanh” (清), chỉ triều Thanh diệt vong (“nước không trôi”). “Nhất đán” ám chỉ nguyên đán năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc thành lập. — Đoạn thứ nhất — Vân ám ám, vụ sầu sầu, Long quy nê thổ tố mi hầu. Tam tuế hài đồng tam tái phúc, Nguyệt hạ vô chủ thủy không lưu, Vạn lý yên ba nhất đán thu. Tạm dịch: Mây u ám, sương ưu sầu. Rồng về đất thổ nặn khỉ hầu. Đứa trẻ ba tuổi ba năm phúc, Trăng dưới không chủ nước không trôi, Khói sóng vạn dặm một ngày thu. Giải: “Vua làm tổ” là chữ “Tôn” (孙), “chất nho nhã” là chữ “Văn” (文), chỉ Tôn Trung Sơn tổ chức khởi nghĩa Vũ Xương, sáng lập Trung Hoa Dân Quốc, lúc đầu lấy cờ ngũ sắc, đỏ vàng lam trắng đen, làm quốc kỳ. — Đoạn thứ hai — Quân tố tổ, chất bân bân, Vạn lý trường hồng phá lãng chinh. Hoàng Hạc Lâu trung xuy ngọc địch, Bát phương tề xướng khải ca ngâm, Tinh kỳ ngũ sắc hoán tân tân. Tạm dịch: Vua làm tổ, chất nho nhã, Cầu vồng vạn dặm phá sóng chinh. Giữa Hoàng Hạc Lâu thổi sáo ngọc, Tám phương cùng hát khúc khải hoàn, Cờ quạt ngũ sắc đổi mới mới. Giải: “Cát sĩ hoài nhu” (吉士怀柔) ám chỉ chữ Viên (袁); “tam thập niên biến”, tam thập niên là một thời đại, ám chỉ chữ “Thế” (世); “khởi phàm” (岂凡) hợp lại thành một chữ “Khải” (凯). Chỉ Viên Thế Khải làm Hoàng đế trong 100 ngày. “Nam Bắc Đông Tây, long tranh hổ đấu” chỉ cục diện quân phiệt hỗn chiến vào thời kỳ đầu Dân Quốc. 15 năm sau (=7+8), năm 1926, quân Quốc Dân Bắc phạt, sơ bộ thống nhất Trung Quốc. — Đoạn thứ ba — Cát sĩ hoài nhu, tam thập niên biến, Khởi phàm nhân tai, đàm hoa nhất hiện. Nam Bắc Đông Tây, long tranh hổ chiến, Thất bát số định, sơn xuyên thô điện. Tạm dịch: Kẻ may dụ dỗ, ba thập niên biến, Há phàm nhân ư, sớm nở tối tàn. Nam Bắc Đông Tây, long tranh hổ đấu, Bảy tám số định, núi sông sơ đặt. Giải: Chữ “thảo” (草) thêm chữ “tương” (将) thành chữ Tưởng (蒋), chỉ Tưởng Giới Thạch giành giật Trung Nguyên, thống nhất Trung Quốc. Mấy câu sau ý nói tụ hợp tại Nam Kinh, thành lập chính phủ Quốc Dân, thế nước hưng thịnh. — Đoạn thứ tư — Can qua khởi, trục lộc mang, Thảo mãng anh hùng tương xuất sơn. Đa thiểu chẩm qua hào kiệt sĩ, Phong vân tụ hội đáo Giang Nam, Kim Lăng nhật nguyệt hựu trùng quang. Tạm dịch: Khởi can qua, bận giành giật, Anh hùng cỏ hoang sắp xuống núi. Bao nhiêu giáo mác kẻ hào kiệt, Mây gió tụ hội đến Giang Nam, Kim Lăng nhật nguyệt thấy ánh quang. Giải: “Hổ Doanh Châu, chở sói biển” chỉ Nhật Bản xâm Hoa. “Sấm xuân” chỉ bom nguyên tử, bom nguyên tử nổ là Nhật Bản đầu hàng. — Đoạn thứ năm — Doanh Châu hổ, độ hải lang, Mãn thiên hồng nhật cánh hôn hoàng. Mang mang Thần Châu thương phá toái, Thương sinh xứ xứ khốc gia nương, Xuân lôi sạ hưởng kiến tình dương. Tạm dịch: Hổ Doanh Châu, chở sói biển, Khắp trời hồng nhật thêm ảm đạm. Mênh mang Thần Châu thương nát tan, Trăm họ nơi nơi thương khóc mẹ, Sấm xuân đột vang thấy trời quang. Giải: “Doanh Tế Liễu” ở vùng phụ cận Tây An, “đôi sư vồ cầu” chỉ hai phe Quốc-cộng cùng nhau viết bài “kháng Nhật”, “cầu” chỉ Nhật Bản. Trương Học Lương, Dương Hổ Thành phát động binh biến, Tưởng Giới Thạch rơi vào bẫy của Trung Cộng, Tống Mỹ Linh đứng ra giải cứu. — Đoạn thứ sáu — Tế Liễu doanh trung, quần hùng hào ẩm. Nguyệt yểm Trung Thu, hàm thụy vị tỉnh. Song sư bác cầu, nhất trụy kỳ tỉnh. Hồng phấn giai nhân, diện diễm anh cảnh. Tạm dịch: Giữa doanh Tế Liễu, quần hùng hả hê. Trung Thu lấp trăng, ngủ ngon chưa tỉnh. Đôi sư vồ cầu, một rớt xuống giếng. Giai nhân phấn hồng, anh đào kiều diễm. Giải: Nước Mỹ thả bom nguyên tử, Nhật Bản đầu hàng, tin mừng thắng lợi truyền đến Nam Kinh, chính phủ Quốc Dân mở tiệc chỉnh trang non sông, nhưng ngày đẹp không lâu, Mao Trạch Đông lại phát động nội chiến. — Đoạn thứ bảy — Xuân lôi tạc, thụ bạch kỳ, Thiên vạn hoạt quỷ khốc đề đề. Thạch đầu thành trung phi phù đáo, Tái khán trọng chỉnh Hán cung nghi, Đông sơn hựu hữu hỏa quang chiếu. Tạm dịch: Sấm xuân nổ, dựng bạch kỳ, Nghìn vạn quỷ sống khóc dầm dề. Trong tòa thành đá bùa bay đến, Lại thấy vào đúng đồ Hán cung, Núi Đông lại có ánh lửa chiếu. Giải: “Hai bảy đan xen”, chữ “nhị” (二) đan với chữ “thất” (七) chính là chữ “Mao” (毛). Chỉ Mao Trạch Đông mặc áo đỏ máu, tổ chức hoạt động khủng bố, cả nước cắm cờ đỏ, làm đấu tố, đâu đâu cũng là mất mùa. — Đoạn thứ tám — Nhật nguyệt thực, ngũ tinh hi, Nhị thất giao gia quải thái y. Dã nhân cử túc bách kim hổ, Biến địa hồng hoa biến địa cơ, Phú quý bần tiện vô cao đê. Tạm dịch: Nhật nguyệt mòn, ngũ tinh thưa, Hai bảy đan xen áo bị thương. Người hoang giơ chân bức hổ vàng, Khắp nơi hoa đỏ khắp nơi đói, Phú quý bần tiện không cao thấp. Giải: “Nhị thất tung hoành” vẫn là chữ “Mao” (毛), “nhất ngưu song vĩ”, chữ “ngưu” (牛) thêm hai đuôi chính là chữ “Chu” (朱), chỉ Mao Trạch Đông và Chu Đức thường xuyên không làm việc của người. “Ba ba vàng biển” chỉ Đài Loan kinh tế phát đạt, nhân dân giàu có, “áo đen luật lữ” chỉ kế thừa Hán phục, Hán khúc, tức văn hóa truyền thống Trung Hoa. “Chim sắt vút trời, Đông Nam hủy sạch” chỉ phi cơ chỉ có thể bay vào Đại Lục rải truyền đơn, đất Giang Nam bị Trung Cộng phá hủy. — Đoạn thứ chín — Nhị thất tung hoành, nhất ngưu song vĩ, Vô phục nhân hình, nhật hành hằng quỹ. Hải thượng kim miết, huyền phục luật lữ, Thiết điểu lăng không, Đông Nam tận hủy. Tạm dịch: Hai bảy tung hoành, một trâu hai đuôi, Không lại hình người, ngày đi đường mãi. Ba ba vàng biển, áo đen luật lữ, Chim sắt vút trời, Đông Nam hủy sạch. Giải: “Mây đỏ sáng, mây trắng bốc” chỉ Trung Cộng lan tràn, Dân Quốc rút về Đài Loan. Chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới giết người như ma. “Tương tương Ngọc Thỏ tiệm Đông thăng” chỉ năm Thỏ 1951, Đại sư Lý Hồng Chí đến thế gian, quảng truyền Đại Pháp vũ trụ. “Tương tương”, lấy “Mộc” (木) ở chữ “tương” (相) ghép với “Tử” (子) ở chữ “tương” (将) được chữ “Lý” (李), chỉ họ Lý. — Đoạn thứ mười — Hồng hà úy, bạch vân chưng, Lạc hoa lưu thủy lưỡng vô tình. Tứ hải thủy trung giai xích sắc, Bạch cốt như khâu mãn cương lăng, Tương tương Ngọc Thỏ tiệm Đông thăng. Tạm dịch: Mây đỏ sáng, mây trắng bốc, Nước chảy hoa trôi sao vô tình. Bốn biển trong nước đều sắc đỏ, Xương trắng như gò khắp mộ đồi, Vừa lúc Thỏ Ngọc chạy lên Đông. — Đoạn thứ mười một — Cái quan định, Công tội phân, Mang mang hải vũ kiến thừa bình. Bách niên đại sự hồn như mộng, Nam Triều kim phấn thái bình xuân, Vạn lý sơn hà xứ xứ thanh. Tạm dịch: Nắp hòm đậy, công tội phân, Biển nhà mênh mông thấy thái bình. Trăm năm đại sự hồn như mộng, Nam Triều phấn vàng thái bình xuân, Non sông vạn dặm xứ xứ thanh. Giải: “Nắp hòm đậy, công tội phân”, chỉ ngày thẩm phán đối với những người theo Trung Cộng. “Biển nhà mênh mông thấy thái bình” giống “Quét sạch gió mây mới thấy thiên” trong «Thôi Bối Đồ», “Hưởng ngày thái bình khắp hoàn vũ” trong «Mai Hoa Thi», “Nếu hỏi năm thái bình, Dựng cầu nghênh tân chủ” trong «Lưu Bá Ôn bia ký», chỉ cuộc bức hại Pháp Luân Công của Trung Cộng cuối cùng thất bại. “Trăm năm đại sự hồn như mộng, Nam Triều phấn vàng thái bình xuân”, chỉ năm 1912 triều Thanh vong, 100 năm sau vào mùa Xuân thiên hạ thái bình, giống “Số điểm hoa mai trời đất xuân” trong «Mai Hoa Thi». — Đoạn thứ mười hai — Thế vũ tam phân, hữu Thánh nhân xuất, Huyền sắc kỳ quan, long trương kỳ phục. Thiên địa phục minh, xử trị vạn vật, Tứ hải âu ca, ấm thụ kỳ phúc. Tạm dịch: Thế giới chia ba, có Thánh nhân xuất, Đội mũ huyền sắc, trang phục rồng bay. Trời đất sáng tỏ, sửa trị vạn vật, Bốn biển ngợi ca, đắm trong hạnh phúc. Giải: “Thế vũ tam phân” chỉ thiên hạ phân làm ba loại, cứu người, được cứu, và bị đào thải. “Hữu Thánh nhân xuất” là nói có Thánh nhân xuất thế. “Huyền sắc kỳ quan, long trương kỳ phục” ám chỉ “hắc long” (“huyền” là màu đen), tức năm 2012 Nhâm Thìn. Tới đây trời đất sáng tỏ, Thánh nhân sẽ sửa trị vạn vật, giáo hóa toàn nhân loại.
-
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Định nghĩa định mệnh Tham khảo Internet Từ ngữ “định mệnh” có nghĩa là “số mệnh do một lực lượng huyền bí định sẵn”. Mặc dù đôi lúc người ta nghĩ rằng một lực ngẫu nhiên định đoạt tương lai bằng một cách mà không ai tránh được và giải thích nổi, nhưng phần lớn người ta lại nghĩ lực này là một thần thánh. Sử gia về tôn giáo Helmer Ringgren giải thích: “Khía cạnh chính trong quan niệm tôn giáo là ý nghĩ cho rằng vận mệnh con người không phải là vô nghĩa hay ngẫu nhiên, nhưng do một quyền lực gây ra; và ta có thể gán cho quyền lực này chủ tâm và ý định”. Mặc dù người ta thường nghĩ họ có thể làm chủ được phần nào, nhưng nhiều người xem con người như những quân tốt tương đối bất lực trong một trận đấu cờ ngoài vòng kiểm soát của họ. Vì thế họ ‘đành thủ phận’. Từ lâu, các nhà thần học và triết gia cố công giải thích định mệnh. Sách The Encyclopedia of Religion nói: “Khái niệm về định mệnh, dù dưới biến thể, ngôn từ, hay sắc thái nghĩa nào đi nữa, cũng luôn chứa đựng yếu tố huyền bí cơ bản của nó”. Tuy nhiên, những ý tưởng rắc rối này đều có chung một khái niệm cho rằng một quyền lực siêu nhân nào đó kiểm soát và hướng dẫn sự việc của con người. Người ta nghĩ rằng lực này định đoạt trước đời sống từng cá nhân và cả quốc gia, khiến không thể tránh được tương lai cũng như đã không tránh được quá khứ. Một yếu tố quyết định Việc bạn tin nơi định mệnh có quan trọng không? “Hoàn cảnh trong đời sống người ta quyết định phần nhiều triết lý của họ, nhưng ngược lại triết lý của họ quyết định phần nhiều hoàn cảnh của họ”, triết gia người Anh Bertrand Russell viết. Thật thế, niềm tin nơi định mệnh—dù thật sự có định mệnh hay không—có thể quyết định cách chúng ta hành động. Vì tin rằng định mệnh là ý muốn của thần thánh mà nhiều người thụ động cam chịu hoàn cảnh của mình—dù nó bất công hay áp bức đến đâu—như thể là số phận đời mình không thể thay đổi được. Như thế, niềm tin nơi định mệnh làm suy yếu đi khái niệm về trách nhiệm cá nhân. Mặt khác, niềm tin nơi vận mệnh thúc đẩy những người khác đi theo hướng ngược lại. Thí dụ, khi truy nguyên sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và cuộc cách mạng kỹ nghệ, các sử gia quy về một số yếu tố. Một trong số đó là niềm tin nơi sự tiền định. Một số tôn giáo Tin Lành dạy rằng Đức Chúa Trời định trước sự cứu rỗi cho người ta. Nhà xã hội học người Đức Max Weber nói: “Sớm muộn mọi tín đồ sẽ đặt câu hỏi: ‘Tôi có phải là một trong những người được chọn không?’ ” Người ta cố tìm xem họ có phước của Đức Chúa Trời không và nhờ thế mà được sự cứu rỗi tiền định. Weber biện luận rằng họ làm điều này qua “hoạt động thế tục”. Thành công trong thương mại và tích lũy của cải được xem là dấu hiệu ân huệ của Đức Chúa Trời. "Ta chọn con" sự tinh vi trong ngôn ngữ, sự giải phóng là do mỗi cá nhân bởi vì chính anh ta muốn thế, còn bậc thầy chỉ hướng dẫn thôi chứ làm sao "lôi" anh ta lên được. Rất tinh vi, làm cho cá nhân "cứ tưởng mình được chọn tức ok" sau một khoảng thời gian dài, đây là khía cạnh "điều kiện hóa tâm lý của trẻ nhỏ cho tới lớn rất tinh vi". Chỉ cần một quả bom nguyên tử ở Hirosima là đứt "100,000 người rồi", vậy Ai được chọn? Con số này cũng "muỗi" so với 2.000.000 người Việt Nam chết đói năm 1945, nếu không có Việt Minh thì sẽ tăng nhiều nữa, vậy Ai được chọn? không nên chấp vào bất kỳ ngôn từ nào. Niềm tin nơi định mệnh đẩy một số người đến những hành động cực đoan. Trong thế chiến thứ hai, phi công cảm tử người Nhật tin nơi kamikaze, hay “thần phong”. Ý niệm cho rằng các thần thánh có ý định và người ta có thể đóng một vai trò trong ý định này đã khiến cái chết khủng khiếp đó thêm màu tôn giáo. Trong thập kỷ vừa qua, báo chí thường đăng những hàng tít lớn về những người đánh bom cảm tử ở Trung Đông với những cuộc tấn công khủng khiếp của họ. Thuyết định mệnh đóng một vai trò quan trọng trong những “cuộc tấn công cảm tử do tôn giáo khích động”, một từ điển bách khoa lưu ý. Trường lực từ những quy luật của các tầng lớp vũ trụ tương tác tới con người quá lớn, vượt ra khỏi sự xoay chuyển cũng mang tính vật chất của cá nhân được xem như vô cùng bé? -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Bàn về Mật giáo: Nhờ tỷ giáo lý luận trong phạm trù khoa học, ta thấy sự tương quan giữa vật chất và tâm linh chỉ là nhất quán. Các nhà triết học và khoa học đã đi đến một kết luận bất ngờ là: “Nếu sự vật gồm những đặc tính, và khi những đặc tính ấy chỉ có trong trí não, thì tất cả khách quan trong vũ trụ gồm: vật chất, năng lực, nguyên tử, ngôi sao đều không có thực tại mà chỉ là sự cấu tạo của ý thức hay là những biểu tượng tạo ra bởi giác quan của con người”. Nên nhà bác học lớn của Anh quốc là Bertrand Russell nói rằng: “Đạo Phật bắt đầu từ chỗ khoa học không thể tiến tới được nữa vì những giới hạn của phương tiện khoa học. Nhưng chinh phục của đạo Phật thuộc về tâm”. (Tôi ghi chú thêm: nhưng để hiểu được "tâm" thì phải hiểu cả quy luật tổng thể vũ trụ. Tất cả đều là thực tại được phản ánh bởi "Tâm" và bởi ngay cả chính bởi bất kỳ một thực tại "vật chất" nào). Nhà bác học vật lý nói về thuyết Tương đối của Mỹ là Albert Einstein lại ca tụng đạo Phật: "Nếu có một tôn giáo nào đáp ứng được yêu cầu của nền khoa học tân tiến, tôn giáo đó chính là Phật giáo....v.v...Cơ cấu thực tại của sự vật chỉ là một trong các lĩnh vực đã được Đức Phật nói đến cách đây hơn 2500 năm trong hệ tư tưởng của Phật giáo”. Thế cho nên sự chinh phục ngoại cảnh của người tu đạo Phật là tất yếu, vì hành giả phải làm cho tam nghiệp thân, miệng, ý được tương ưng gọi là tam mật tịnh viên. Phải sử dụng sự thông thái cao siêu để phá tan những đam mê và ảo tưởng. Tiếp tục sự thực hành đó chắc chắn thực hiện được Phật tánh. Ba thứ thuốc độc tham, sân, si gây ra đau khổ cho người bây giờ trở thành kỳ diệu, nó trở thành đại hấp lực nhiệm mầu của vũ trụ. Lại Mật giáo có Bồ Tát Bất Không Quán Tự Tại, tiếng Phạn (AmoghânKúsa), vị Bồ Tát này thệ nguyện đem tâm đại từ bi cứu khổ chúng sanh. Nên phụng triệu chư Phật Thánh Trí vào trong tâm của chúng sanh và cũng hay câu triệu được tất cả tâm tường của chúng sanh thâm nhập cảnh giới của chư phật. Do nguyện lực này được thành tựu quyết định bất không ( trích Phật Quang Đại từ điển, quyển 1, trang 978). Nhờ tỷ lượng so sánh có trí huệ (Tỷ giáo khoa học) nên ta biết rằng: Vật chất về phương diện động cơ máy móc khi tiến nhanh đến cao độ thì các linh kiện của nó phải tương xứng hợp thành, nên công dụng lắm kỳ ảo, thao tác rất vi diệu như máy tính siêu mạng truyền tin (internet) hiện đại. Cũng như vậy: "Người tu hành Mật giáo, khi quán trí hành giả được cao độ, thì các tâm sở Định Huệ rất ưu việt, khế hiệp với ý thức tâm vương rồi dần dần biến thành diệu quan sát trí, thể nhập cảnh giới bất khả tư nghì của Phật và Bồ Tát. Bởi thế, nhà bác học Bertrand Russell mới bảo: “Chinh phục của đạo Phật thuộc về tâm linh kỳ diệu”. Vì vậy, hành giả tu về Mật giáo nếu trì chú được nhất tâm an trú tam muội tương ưng (thân, miệng, ý thanh tịnh) thì được cảnh giới tâm linh huyền diệu vĩ đại. Về cảnh giới Thiên Long Thần Quỷ...... thì ta phải hiểu qua lời dạy của Phật: “Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không”. Nên chúng ta phải hiểu cảnh giới Trời Rồng Thần Quỷ...v.v...phải có, bởi cái cảnh giới loài người này, chúng ta đang có đây. Dĩ nhiên cảnh giới Thiên Long Thần Quỷ và các vật loại khác phải có vậy. Nhân đọc tờ báo An ninh Thế giới số 68 ra ngày 3/4/1998, trang 02: Giải mã khả năng của nhà ngoại cảm tìm mộ- Nguyễn Văn Liên. Trích những đoạn quan yếu sau đây: “Năm 1978, Tạp chí “các nghiên cứu lúc gần chết”-Mỹ, đăng ý kiến của một số giáo sư bàn về bản chất và những bí ẩn của sự sống và tâm trí cùng các lĩnh vực siêu hình như khả năng tồn tại sau cái chết, ngoại cảm tâm linh cùng các lĩnh vực ngoại tâm lý khác. Như đã nhận xét, trong điều kiện bình thường, cơ thể sống luôn phát bức xạ điện từ, kể cả vùng quang học. Một nhà ngoại cảm có thể bắt được bức xạ tàn dư đó giống như đầu máy video đọc băng từ, do đó, thu được một số thông tin về người đã khuất. (Tôi ghi chú thêm: Làm quái gì có cái bức xạ tàn dư nào, đây là "linh hồn" hay "nhân loại vô hình"). Ngoại cảm tri giác phi giác quan. Theo Bách khoa thư, “Các hiện tượng dị thường” xuất bản tại Mỹ năm 1966, ngoại cảm là khả năng tri giác không qua các kênh cảm giác thông thường, bao gồm: Thần giao cách cảm là khả năng đọc được ý nghĩ người khác. Thấu thị là cách cảm nhận đối tượng một cách trực tiếp kơn là đọc ý nghĩ người quan sát. Tiên tri là khả năng biết các sự kiện tương lai. Hậu tri là khả năng biết các sự việc đã xảy ra trong quá khứ. *khả năng nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên (Hà Nội). -Theo ý kiến cá nhân, để thực hành ngoại cảm, có lẽ anh Liên kết hợp được các khả năng thần giao cách cảm, thấu thị và hậu tri (qua đọc bức xạ tàn dư). Muốn hiểu khả năng của anh: -Phân cách tìm mộ: Quá trình tìm mộ... -Dò sóng. Vì có vô số nguồn tín hiệu, nơi thân nhân, cần khai tên, tuổi,nhận dạng mối quan hệ người chết giúp anh Liên nhận chân nguồn tín hiệu. anh có thể biết đại khái vị trí ngôi mộ. Do đọc ý nghĩ người đang sống quanh vùng, anh có thể vẽ sơ đồ ngôi mộ mà độ chính xác tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan..v.v...Giúp anh Liên nhìn thấy mặt người chết “như xem truyền hình đen trắng”. Khuôn mặt người chết mờ tỏ không chỉ phụ thuộc vào sự thành tâm của thân nhân, mà còn phụ thuộc vào độ nét của ký ức. -HIỆU CHỈNH: Trong quá trình này, anh Liên đọc ý nghĩ những người đi tìm và những người sống quanh vùng, nên có thể biết một số thông tin như trời sắp mưa, sắp gặp một đoàn mấy người...v.v..khiến chúng ta thấy lạ như trong “tiểu thuyết viễn tưởng”. Cùng với thấu thị, anh có thể giúp tìm được hài cốt. Ở đây, ta không đi trọn vẹn vào chuyên đề nhà ngoại cảm tìm mộ Nguyễn Văn Liên, mà cốt chỉ trích ra đề tài ấy giúp thêm cho ta hiểu biết về Mật giáo. Khi người hành giả dụng công tận lực thì có hiệu năng hơn khả năng ngoại cảm của người đời. Vậy xin trích Mật tông trong quyển Phật học Từ điển quyển II trang 292 của Đoàn Trung Còn: “Mật tông tức là Chơn Ngôn Tông cũng gọi là Bí Tông. Tông này lấy bộ Đại Nhật kinh và bộ Kim Cang Đảnh Kinh làm căn bổn. Tín đồ giữ ba cái mật : thân, khẩu, ý, lại nương vào sức linh phù (Mantra), chơn ngôn (Dhârani) và pháp ấn (Múdha) để tương ứng với Phật. Trong khi hành lễ, họ thành ra bực Chánh giác, tức nhiên có đủ sức linh như Phật. Vì Vậy, nên phái đồ gọi Tông của mình là Mật tông, thuộc về Mật giáo; họ bảo rằng các Tông khác thuộc về Hiển giáo”. Trong bài “Nhà ngoại cảm tìm mộ Nguyễn Văn Liên”, trang 3 có đoạn viết: “Không thể có Tâm bên ngoài vật, đó là điều khoa học và triết học đã khẳng định suốt mấy thế kỷ nay”. Xin thưa rõ rằng: Đạo Phật đã đi trước vấn đề này hơn 2000 rồi. Trong giáo lý Phật dạy qua các khế kinh: “Ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm”. Vì vũ trụ, vạn hữu đều là duyên khởi, tức là duyên sinh như huyễn, thế cho nên chẳng có Thiệt Pháp mà cũng chẳng có Thiệt Ngã (Ta) (Le-non-moi), “nó chỉ là duyên sinh giả hợp mà thôi”. Có người hỏi: Nếu như không có ta , tại sao trong các kinh, Phật cũng xưng là Ta? Trả lời: Vì Đức Phật mượn danh từ giả tạm xưng là Ngã (Ta) để thuyết pháp độ sanh. Như có một đoạn trong kinh: Phật nắm một nắm lá trong tay hỏi ngài A Nan: -Này A Nan, lá trong nắm tay ta nhiều hay lá trong rừng nhiều? -Bạch Thế Tôn, lá trong rừng nhiều vô số kể so với nắm lá ít ỏi trong nắm tay của Thế Tôn. -Này ông A nan, những điều ta đã và đang nói với ông và đại chúng như nắm lá trong bàn tay của ta, còn những gì ta chưa nói tới thì như lá cây trong rừng kia. Thực vậy, những gì Phật không nói là vì trong giai đoạn ấy, trong bối cảnh ấy, nó chưa có, chẳng có. Có nói cũng vô ích. Nhưng Phật và các Bồ Tát lớn đều thấy, đều biết rõ ràng, nên không quái ngại. Vì tâm không quái ngại nên không sợ hãi, lìa được các điên đảo mộng tưởng “có-không”, rốt ráo tịch tịnh. Ba đời chư Phật nương vào trí tuệ cứu cánh mà chứng được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Để chứng minh sự tồn tại của linh hồn hay thế giới vô hình là rất phức tạp, cần phối hợp Tam Giáo: Phật, Lão, Nho (Phật giáo là gốc rễ) và học thuyết Âm Dương Ngũ hành, đặc biệt phải thấu hiểu bản thể vũ trụ thì mới chứng minh được. Nếu chỉ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thôi thì bất khả. Những bộ kinh Phật chú ý: - Lăng Nghiêm (thời ngài Huyền Trang thỉnh kinh thì chưa thỉnh được bộ kinh này). - Bát Nhã, - Du già. - Hoa nghiêm. - Lăng già... Nếu dùng các bộ Thánh kinh...v.v... này nọ để chứng minh sự tồn tại của linh hồn thì chẳng khác nào bệnh nhân bị bệnh não lại chữa bằng nước uống pha dầu Nhị Thiên Đường. Điều này không hàm nghĩa khi một người nào đó "tách" được linh hồn khỏi thể xác thì sự phức tạp nhất của vũ trụ là đạt tới hạn. -
Phá giải mới nhất «Kim Lăng tháp bi văn» của Lưu Bá Ôn (Bỏ qua các ý liên quan đến chính trị) Tác giả: Mộc Tử "Như cá mắc nạn trong ao nước cạn, Trăm năm phồn hoa tiêu như giấc mộng". Giới thiệu: Tháp Kim Lăng được xây dựng tại vùng ngoại ô thành phố Nam Kinh vào khoảng năm 1.400 SCN bởi vị quân sư và học giả nổi tiếng Lưu Cơ (tức Lưu Bá Ôn). Ngọn tháp đã bị phá đổ vào đầu thế kỷ 20 dưới mệnh lệnh của Tổng Tư lệnh Tưởng Giới Thạch, và những chữ khắc trên bia đá đã được tìm thấy. Những văn tự này được viết theo hình thức thơ Trung Hoa, với những câu nói bóng gió dự báo trước những sự kiện sẽ xảy đến trong 500-600 năm sau triều Minh. * * * Sau đây là phần giải nghĩa: Chú thích của người dịch: Chữ in đậm trong dấu ngoặc kép “” là phiên âm Hán Việt của phần văn tự gốc, chữ viết thường là phần giải nghĩa của tác giả bài viết, chữ in nghiêng trong dấu ngoặc đơn ( ) là diễn nghĩa của người dịch, chỉ có tác dụng tham khảo. “Kim Lăng tháp, Kim Lăng tháp” (Tháp Kim Lăng, Tháp Kim Lăng) “Lưu Cơ kiến, Giới Thạch sách” (Lưu Cơ xây, Giới Thạch phá) Lưu Bá Ôn xây, Tưởng Giới Thạch phá. “Sách liễu Kim Lăng tháp, Quân dân tự kỷ sát” (Tháp Kim Lăng phá rồi, Quân dân tự giết hại lẫn nhau) Khi tháp Kim Lăng bị phá là bắt đầu nội chiến Quốc-cộng. “Thảo đầu tương đối thảo đầu nhân” (Đầu cỏ đối đầu với người đầu cỏ) “Thảo đầu” ở đây (草头) là chữ “cộng” (共), chỉ đảng cộng sản; “thảo đầu nhân” (草头人) là chữ “Tưởng” (蒋), chỉ Tưởng Giới Thạch. “Đáo vĩ chỉ thị bán súc quy” (Đến đuôi chỉ là rùa co lại một nửa) Chữ “quy” (龟) co đuôi rùa lại một nửa chính là chữ “Mao” (毛). “Hồng thủy hoành lưu thành trạch quốc” (Dòng nước lớn chảy tràn thành ngập lụt) Ở đây có chữ “Trạch” (泽). “Lộ thượng hành nhân bối hướng Tây” (Người đi trên đường quay lưng về hướng Tây) Chính là chữ “Đông” (东). “Nhật xuất Đông, Nhật một Tây” (Mặt trời mọc phía Đông, Mặt trời lặn phía Tây) Nhật Bản xâm lược Trung Quốc. “Gia gia hộ hộ thụ thảm thê” (Mỗi nhà mỗi hộ đều chịu thảm thương) “Đức tiêu diêu, Ý tiêu diêu” Đức và Ý chiến bại đầu hàng trong chiến tranh thế giới thứ II. “Bách tải phồn hoa nhất mộng tiêu” (Trăm năm phồn hoa tiêu như giấc mộng) “Hồng đầu kỳ, Đại đầu tinh” (Cờ màu đỏ, Ngôi sao lớn) Cờ đỏ và sao năm cánh của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). “Gia gia hộ hộ điếu linh đình” (Mỗi nhà mỗi hộ đều không nơi nương tựa) “Tam sơn lập túc, Ngũ tử tề vinh thăng” (Ba ngọn núi khó đứng vững, Năm đứa con đều hưng thịnh) Văn hóa truyền thống (Nho, Thích, Đạo) bị lật nhào, thay vào đó là cung phụng chủ nghĩa Mác-Lê (Marx, Engels, Lenin, Stalin, Mao). “Tâm mang mang, Ý mang mang” (Tâm bận rộn, Ý bận rộn) “Thanh phong kiều sách tẩu như cuồng” (Phong cách thanh nhã bị hủy đi như cuồng) “Nhĩ nhất đảng thời ngã nhất đảng” (Ngươi có đảng thì ta cũng có đảng) Chỉ Quốc Dân Đảng và đảng cộng sản. “Tọa cao đường, Thực cao lương” (Ngồi nơi hội trường lớn, Ăn thức ăn cao cấp) “Toàn bất kế cập tha nhân tang” (Hoàn toàn không màng tới tính mạng người khác) “Niệm bát nhân, Phù chúng vọng” (Hai mươi tám người, Được quần chúng tín nhiệm) “Cư nhiên ương châm thắng đao thương” (Mặc nhiên gieo mầm mống thắng cả vũ khí) ĐCSTQ lừa dối giành tín nhiệm của nhân dân, mặc nhiên phát triển từ nhỏ thành lớn, cuối cùng đoạt chính quyền. “Niệm” (廿) và “bát” (八) hợp thành chữ “cộng” (共). “Tiểu tinh quang, Tế tinh quang” (Sao nhỏ tỏa sáng, Che lấp ánh sao) “Niệm tướng nhị nhân tẩu Bắc phương” (Hai mươi tướng và hai người đi về phương Bắc) ĐCSTQ thắng thế, quân Quốc Dân Đảng bại trận chạy về Đông Bắc (“Niệm” (廿) và “nhân” (人) hợp thành chữ “cộng” (共)). Chữ “tướng” (将) [jiàng] là hài âm của chữ “Tưởng” (蒋) [jiǎng]. “Khứ gia mộc, Lộ bàng hoàng” (Rời nhà gỗ, Đường bàng hoàng) “Đáo xứ bôn ba nhân giai báng” (Bôn ba khắp nơi đều bị người phỉ báng) Tưởng Giới Thạch bôn ba khắp nơi cứu nước nhưng bị ĐCSTQ gièm pha bôi nhọ. “Đại hải lạc môn soan, Hà quảng vị vi quảng” (Biển lớn bị chặn bởi then cửa, Sông rộng mà lại không thành rộng) Đây là ĐCSTQ bao vây eo biển Đài Loan. “Lương điền vạn khoảnh vô nam canh, Đại hảo tàm ti vô nữ phưởng” (Ruộng tốt vạn khoảnh không có đàn ông canh tác, Tơ tằm rất tốt không có đàn bà xe sợi) “Lệ nhân thiên ái tương, Nhĩ ngã hỗ tương bang” (Phụ nữ đẹp thì được thiên vị, Ngươi và ta cùng bang trợ lẫn nhau) Nước Mỹ trợ giúp Tưởng Giới Thạch. “Đẹp” chính là “Mỹ”. “Tứ thủy hạnh Mộc nhật, Tam hổ sính hào cường” (Bốn Thủy hạnh phúc ngày Mộc, Ba hổ khoe khoang ngang tàng) Chữ “hạnh” (幸) ghép với bộ Thủy (氵) thành chữ “Trạch” (泽), chữ “nhật” (日) ghép với bộ “Mộc” (木) thành chữ “Đông” (东); “tam hổ” (三虎) là chữ “Bưu” (彪). Đây là chỉ Mao Trạch Đông và Lâm Bưu. “Bạch nhân thành uy vũ, Nhân tâm hoa điểu hoảng” (Người da trắng thành lực lượng lớn, Nhân tâm hoảng sợ như tranh hoa và chim) Nước Mỹ đứng ra điều đình. “Trục thủy khứ Nam hãn, Ngoại nhi quy mẫu bang” (Đuổi nước về đất phía Nam, Con ở ngoài quy về mẫu quốc) Dân Quốc rút về phương Nam, trấn thủ Đài Loan (nguyên là Nhật chiếm giữ). “Doanh hư nguyên hữu số, Thịnh suy dã hữu vô” (Đầy hay trống nguyên đã có số phận, Thịnh suy cũng như là có hay không) “Linh Sơn tao hạo kiếp, Liệt hỏa đảo phù đào” (Linh Sơn gặp nạn lớn, Lửa cháy như sóng gầm) Văn hóa Thần truyền, truyền thống Trung Hoa bắt đầu bị thuyết vô thần phá hoại. “Kiếp kiếp kiếp, Tiên phàm đào bất thoát” (Kiếp kiếp kiếp, Tiên phàm chạy không thoát) “Đông phong xuy tống thảo mộc ai” (Gió Đông thổi đi cây cỏ bi ai) Mao Trạch Đông phát động cuộc vận động cộng sản tại Trung Quốc. “Hồng thủy thao thiên trục nhật lai” (Dòng nước lớn cuộn trời hàng ngày tới) Các phong trào vận động chính trị tại Trung Quốc. “Lục căn vị tịnh tùy ba khứ” (Sáu căn không tịnh thì tùy theo sóng cuốn trôi) “Chính quả năng tu vãng thiên đài” (Có thể tu thành chính quả thì lên đài trên trời) “Nhị tứ bát, Tam thất cửu” (Hai bốn tám, Ba bảy chín) Tháng 8 năm Dân Quốc thứ 24 (1935), ĐCSTQ ra “Tuyên ngôn Bát Nhất”, bắt đầu lợi dụng chiêu bài “kháng Nhật” để lừa dối tiến hành thống nhất chiến tuyến. Tháng 9 năm Dân Quốc thứ 37 (1948), ĐCSTQ phát động “chiến dịch Liêu Thẩm”, bắt đầu nội chiến toàn diện đại quy mô. “Họa nguyên chủng kỷ cửu” (Căn nguyên của tai họa là từ xa xưa) “Dân tam dân thập dân tam thất” (Dân ba dân mười dân ba bảy) Năm Dân Quốc thứ 3 (1914), Viên Thế Khải nhậm chức; năm Dân Quốc thứ 10 (1921), ĐCSTQ thành lập; năm Dân Quốc thứ 37 (1948), Dân Quốc di tản sang Đài Loan. “Cẩm tú hà sơn hoán nhất sắc” (Giang sơn gấm vóc đổi một màu) Trung Quốc biến thành một màu đỏ. “Mã bất điểm đầu thạch trầm để” (Ngựa không gật đầu đá chìm xuống tận đáy) “Mã” (马) ở đây là chỉ “Mã Khắc Tư”, tức Marx; “thạch” (石) là chỉ “Thạch Đạt Lâm”, Trung Quốc Đại Lục phiên thành “Tư Đại Lâm”, tức Stalin. Tranh luận học thuyết Marx khiến ĐCSTQ và Stalin bằng mặt mà không bằng lòng. “Hồng hoa khai tận hoàng hoa khai” (Hoa đỏ nở hết thì hoa vàng nở) Sau khi Stalin chết, thế lực cộng sản quốc tế giảm dần, còn ĐCSTQ dần ngẩng mặt lên. “Tử Kim Sơn thượng mỹ nhân lai” (Mỹ nhân đến nơi ngọn núi tía {Tử Kim Sơn là ngọn núi nổi tiếng ở Nam Kinh}) Mao Trạch Đông và nước Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao (“Mỹ nhân” ở đây chỉ người Mỹ). “Nhất tai hoán nhất tai, Nhất hại hoán nhất hại” (Tai họa này thay tai họa khác, Tai hại này thay tai hại khác) ĐCSTQ hại nước hại dân. “Thập cửu giai nhân ngũ ngũ tuế, Địa linh nhân kiệt sản tân quý” (19 giai nhân 55 tuổi, Đất linh sinh hào kiệt mới) “Ngũ ngũ tuế” (五五岁) ẩn chữ “Hồ” (胡), “thập cửu giai nhân” (十九佳人) ẩn chữ “Diệu” (耀), ám chỉ Hồ Diệu Bang 74 tuổi thì được giải oan. “Anh hùng bạt tận thạch trung mao, Huyết lưu tiêu can vạn nhân hào” (Anh hùng nhổ sạch lông trong đá, Máu chảy cọc tiêu vạn người gào) Vạn Lý và Kiều Thạch thay nhau nhượng quyền, Giang Trạch Dân dẫm lên hài cốt sinh viên trong cuộc thảm sát Thiên An Môn để lên ngôi. “Đầu sinh giác, Nhãn sinh quang; Thứ dân bất dụng hoảng” (Đầu mọc sừng, mắt phóng quang; Dân đen không cần hoảng sợ) Đây là chỉ con “thú” bảy đầu mười sừng đi lên từ biển (Thượng Hải) trong «Khải Huyền», tức Giang Trạch Dân. “Quốc vận hưng long thời nhật đáo, Tứ thời hạ chủng thái bình lương” (Ngày mà vận nước hưng vượng đã tới, Bốn mùa gieo hạt lương thực thái bình) Năm 1998 là năm Hổ, sản lượng lương thực Trung Quốc đạt mức cao nhất trong lịch sử, cũng như dự ngôn «Thối Bối Đồ» nói: “Hổ đầu nhân ngộ hổ đầu niên, Bạch mễ doanh thương bất trị tiền” (Người đầu hổ gặp năm đầu hổ, Kho dư gạo trắng chẳng đáng tiền) {Giang Trạch Dân cũng sinh năm Hổ}. “Nhất khí sát nhân thiên thiên vạn, Đại dương tàn bạo quá sài lang” (Một khí giết người nghìn nghìn vạn, Dê lớn tàn bạo hơn lang sói) Năm 2003 là năm con Dê, dịch bệnh SARS hoành hành khắp Trung Quốc. “Khinh khí động sơn nhạc, Nhất tuyến thiết nan đương” (Khí nhẹ chấn động cả núi cao, Một sợi dây sắt cũng khó mà chịu nổi) “Nhân phùng mãnh hổ nan hồi tị, Hữu phúc chi nhân trụ sơn trang” (Người gặp hổ dữ thì khó mà tránh được, Người có phúc phận thì sống ở sơn trang) Đây là miêu tả tập đoàn Giang Trạch Dân (thuộc Hổ) mang đến bao tai nạn cho nhân dân. “Phồn hoa thị, Biến uông dương” (Đô thị phồn hoa chìm trong biển nước mênh mông) “Cao lâu các, Biến nê cương” (Nhà lầu cao trở thành đống đổ nát trong bùn lầy) “Phụ mẫu tử, Nan mai táng” (Phụ mẫu chết, Khó mai táng) “Đa nương tử, Nhân tôn giang” (Cha mẹ chết, Con cháu vác) “Vạn vật đồng tao kiếp, Trùng nghĩ diệc tao ương” (Vạn vật cùng chịu kiếp, Sâu kiến cũng tai ương) “Hạnh đắc đại mộc lưỡng điều chi đại hạ, Điểu phi dương tẩu phản gia bang” (May được hai cành gỗ lớn chống đỡ cho lâu đài, Dê rời đi và chim bay trở lại quê nhà) “Năng phùng Mộc Thỏ phương vi thọ, Trạch cập quần sinh lạc thả khang” (May gặp Mộc Thỏ thì được thọ, Chúng sinh vui mừng mà khỏe mạnh) Đây là chỉ Thánh nhân xuất sinh vào năm Thỏ – Đại sư Lý Hồng Chí mang đến phúc âm cho chúng sinh (*). “Hữu nhân thức đắc kỳ trung ý, Phú quý vinh hoa bách thế xương” (Ai biết được ý tứ ở trong đó thì phú quý vinh hoa thịnh vượng trăm đời) “Tầng lâu lũy các tủng vân tiêu, Xa thủy mã long cánh tịch hiêu” (Nhà lầu chọc trời lớp lớp tới tận mây xanh, Giao thông nhộn nhịp càng ầm ĩ về đêm) “Thiển thủy lý ngư chung hữu nạn, Bách tải phồn hoa nhất mộng tiêu” (Như cá mắc nạn trong ao nước cạn, Trăm năm phồn hoa tiêu như giấc mộng) Dân Quốc thành lập năm 1912, đến năm 2012 là tròn 100 năm. Đây là hồi kết. Ghi chú: (*) Trong thơ dự ngôn của Bộ Hư Đại sư triều Tùy tiên tri về Thánh nhân giáng thế thời mạt thế rằng: “Tương tương Ngọc Thỏ tiệm Đông thăng“, còn dự ngôn «Cách Am Di Lục» của Hàn Quốc nói: “Mạt thế Thánh quân Mộc nhân, Hà Mộc thượng cú mưu kiến tự; Dục tri sinh mệnh xứ tâm giác, Kim cưu Mộc thỏ“. Ngoài ra, dự ngôn «Trịnh Giám Lục» của Hàn Quốc còn giảng minh xác hơn nữa: “Ký ngữ thế gian độc giác sĩ, Tu tùng bạch Thỏ tẩu thanh lâm“. “Thanh lâm” (rừng xanh) ở đây chính là đối ứng với “hai cành gỗ lớn” ở bên trên”; chữ “lâm” (林) do hai chữ “Mộc” (木) ghép thành, đều chỉ Đại Thánh nhân thuộc Mộc.
-
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Cái gì là thứ phức tạp nhất thế giới? Một câu hỏi hóc búa, nhưng đối với khoa học tự nhiên thì câu trả lời thực ra lại rất đơn giản, đó là bộ não con người! Phải công nhận là nhìn bề ngoài thì não con người chẳng có gì ghế gớm cả. Nó chỉ nặng khoảng 1,5kg, có hình quả hồ đào phóng to và sờ vào như đậu phụ. Thế nhưng trong đó lại ẩn chứa kết cấu có lẽ là phức tạp nhất vũ trụ. Một trăm tỷ tế bào thần kinh nhấp nháy truyền tin với nửa triệu tỷ các liên kết. Đại khái nhiều như một sự so sánh quen thuộc: đúng bằng số lá cây của rừng nhiệt đới Amazon. ((Richard David Precht - Tôi là ai và nếu vậy thì bao nhiêu?) Nếu xét hệ mặt trời có sự sống và cô lập con người trên trái đất so với toàn thể cấu trúc vũ trụ: - Ý thức và sự tự ý thức về bản thân mình và vũ trụ: nhận thức được nguồn gốc vũ trụ và vạn vật, gốc rễ phát sinh giác quan như thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm... - Sự ý thức về mặt đạo đức và khả năng sáng tạo: sản phẩm con người trong hệ mặt trời, nếu so sánh tới vũ trụ nhận thấy được theo khoa học hiện nay 15 tỷ năm ánh sáng thì hoàn toàn khác biệt, chẳng hạn tàu vũ trụ đã bay ra khỏi hệ mặt trời dù rằng nó nhỏ bé vô cùng khi so với kích cỡ vũ trụ. - Thực hiện được quá trình sinh sản vô tính từ sự nghiên cứu và sáng tạo. Sự hình thành và tiến hóa thực động vật tới con người không tách rời tới quá trình tương tác, chính tương tác đã làm nảy sinh ra vạn vật, điều này nếu nhận thức sâu xa hơn nữa thì tại thời điểm "vượn người" rụng đuôi, rụng lông thành "con người nguyên thủy" và ngay khi con người nguyên thủy này sáng tạo ra công cụ sơ khởi đầu tiên thì là lúc tính phức tạp về mặt "vật lý của con người" đã "dừng" (không còn mang tính tích tụ vật lý nữa), sau này chỉ phát triển trí tuệ trong sự cân bằng tương tác với vũ trụ cho tới nay. Sự phát triển trí tuệ cũng thể hiện cái ý nghĩa phức tạp gia tăng ngay trong cấu trúc cơ thể con người, vậy nó phức tạp nhất tại thời điểm nào? Phải chăng tại thời điểm hiểu hết cấu trúc vũ trụ, xây dựng được học thuyết thống nhất vũ trụ và đặc biệt nhất, đó là tự thân đã hòa nhập vào toàn thể vũ trụ thông qua học thuyết và các pháp môn xây dựng từ học thuyết trên (hiện tượng phát triển trí tuệ không mang tính tích tụ vật lý nữa mà mang tính trao đổi cân bằng ngay trong bộ não với vô vàn tương tác liên quan đến vũ trụ). Vậy thì, cho đến một nhân vật con người nào đây đã thực hiện điều trên là lúc, sự phức tạp cuối cùng đã hoàn thành hay sự tiến hóa về mặt nhận thức đạt đến đỉnh cao (mọi tương tác đều ngay lập tức ảnh hưởng đến toàn bộ vũ trụ) -> trong kinh Phật, đó là cấp Phật (lục độ luân hồi, trí tuệ thoái hóa thành súc sinh, ma quỷ) và chiếu theo lịch sử thượng cổ nước Văn Lang đó là từ thời Đế Hòa - Đế Minh (thời đại Ánh Sáng) cách đây hơn 5.000 năm trước một chút (khi vũ trụ tan rã thì vạn vật trong vũ trụ chỉ còn mang tính cân bằng vật lý thay vì tích tụ năng lượng thành vật thể cấu trúc thô hơn nữa - dạng như một vòng tuần hoàn vũ trụ nếu con người là phức tạp nhất vũ trụ - chẳng hạn vòng tuần hoàn nước trên trái đất, cho dù bất kỳ một sự sáng tạo trong trí não mới hơn nữa của khoa học - điểm tới hạn). Vậy, rõ ràng một điều, nếu cô lập trái đất trong hệ mặt trời và vũ trụ nhận thấy được theo khoa học 15 tỷ năm ánh sáng thì, vũ trụ đã phân rã kể từ cách đây ước khoảng 5.000 năm hoặc tại thời điểm vượn người chuyển hóa thành người nguyên thủy và cũng cần xem xét lại một lần nữa tới sự tiến hóa như cây xanh, động vật đơn đa bào và khủng long thời tiền sử xa xưa. Tất nhiên, cho dù là khoa học ngày nay hay bất cứ ai sẽ không thể khẳng định là vũ trụ đang tan rã hay đang trong giai đoạn phát triển, chắn chắn như vậy bởi chưa có học thuyết nào mô tả được bản thể của vũ trụ và ý nghĩa của sự tương tác ngay tức thì giữa vạn vật trong toàn thể vũ trụ, điểm tới hạn trong quá trình phát triển của vũ trụ dựa vào cơ sở nào... Tiểu hành tinh tự phân rã Quá trình tự tan rã hiếm có của một tiểu hành tinh trong vũ trụ mới được các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện qua kính viễn vọng không gian. Quá trình phân rã của thiên thạch được quan sát từ tháng 9/2013 đến tháng 1/2014. Ảnh: NASA AFP cho hay, tiểu hành tinh có tên P/2013 R3, nằm cách Mặt Trời khoảng 480 triệu km. Quá trình tan rã của P/2013 R3 được phát hiện qua kính viễn vọng không gian Hubble từ tháng 9/2013. P/2013 R3 được cấu thành từ 10 mảnh, mỗi mảnh có đuôi bụi giống như sao chổi, 4 mảnh lớn nhất có chiều rộng khoảng 200 m. Theo quan sát của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học California, quá trình tự tan rã của tiểu hành tinh không bị gây ra bởi các vụ va chạm trong không gian hay do tiếp xúc gần với Mặt Trời. Thay vào đó, P/2013 R3 suy yếu dần theo thời gian và tách thành những mảnh nhỏ. Nhóm nghiên cứu cho rằng tác động của ánh sáng Mặt Trời có thể đã khiến tiểu hành tinh quay nhanh hơn và tạo ra lực ly tâm đủ lớn dẫn đến quá trình tự tan rã. Tốc độ di chuyển trong không gian của các mảnh vỡ vào khoảng 1,6 km/h. Sự tan rã của P/2013 R3 sẽ tạo ra một số lượng lớn thiên thạch nhỏ. Phần lớn trong số này sẽ lao về phía Trái Đất và có thể được quan sát dưới dạng sao băng. Các nhà thiên văn học từng chứng kiến nhiều trường hợp sao chổi tan rã khi tiếp xúc với Mặt Trời ở khoảng cách gần. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên họ quan sát quá trình tương tự ở một tiểu hành tinh. Thùy Linh -
«Mai Hoa Thi» (梅花诗) tương truyền là do Thiệu Ung tiên sinh sáng tác (Chỉ tham khảo, các ý của tác giả liên quan đến chính trị nên lược ra) Thiệu Ung, tự là Nghiêu Phu, sinh năm thứ 4 Tống Chân Tông (năm 1011 SCN), mất năm thứ 10 Tống Thần Tông (năm 1077 SCN), hiệu là Khang Tiết. Ông quê ở Phạm Dương, Hà Bắc, sau di cư sang Cộng Thành, cuối cùng ẩn cư ở Lạc Dương. «Mai Hoa Thi» tổng cộng có 10 kỳ, dự ngôn những diễn biến lịch sử trọng đại của Trung Quốc sau khi ông qua đời. Vì vậy tất nhiên bài thơ sử dụng ngôn ngữ tiên tri, rất ẩn ý, không dễ mà lý giải cho được. Có một bộ phận là dành cho người tu luyện, người bình thường đọc quả thực không hiểu chút gì. Ở đây chỉ xin giải sơ qua, các bậc trí giả và cao nhân nếu thấy có chỗ nào không ổn kính mong chỉ giáo. Toàn bộ phần diễn nghĩa là của người dịch, chỉ để tham khảo. Giải: (Một) Dần từ vạn cổ cổng trời khai mở, Hỏi mấy người đến mấy người trở về. Non sông tuy đẹp mà không toàn vẹn, Không tin Hoàng Kim là mầm tai họa. Tạm dịch: (一) 荡荡天门万古开,几人归去几人来。 山河虽好非完璧,不信黄金是祸胎。 (Nhất) Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai, Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai. Sơn hà tuy hảo phi hoàn bích, Bất tín Hoàng Kim thị họa thai. “Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai, Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai.” Cánh cổng trời vĩ đại từ vạn cổ tới nay mới khai mở lần đầu tiên. Biết bao nhiêu người tới nhân gian, biết bao nhiêu người có thể trở về? Ý nghĩa của hai câu này gắn kết chặt chẽ với chủ đề bài thơ, ngay lúc mở đầu đã dẫn xuất chủ đề tối hậu. Người tu luyện nhìn một cái là rõ ngay, còn người phổ thông xem không hiểu rõ được, ở đây không giải kỹ thêm nữa. “Sơn hà tuy hảo phi hoàn bích, Bất tín Hoàng Kim thị họa thai.” Thời nhà Tống là lúc mà triều đình nhu nhược bất tài. Toàn bộ xã hội từ trên xuống dưới đều như vậy, đam mê ca múa vui thái bình. Đặc biệt đến thời Nam Tống thì càng cẩu thả tạm bợ, ở nửa giang sơn vùng Giang Nam mà mê đắm trong tình sắc hoan ái, thể thơ Tống từ trở thành cách văn nhân bày tỏ tình cảm luyến ái. Rốt cuộc trong lịch sử Trung Quốc có “nỗi nhục Tịnh Khang” (Tịnh Khang là niên hiệu vua Khâm Tông thời Tống, năm 1126-1127 SCN), hoàng đế Bắc Tống, cung phi, hoàng thân, cho đến khắp đại thần trong triều ba ngàn người đều bị nước Kim bắt làm nô lệ. Đến nỗi cuối cùng hoàng đế Nam Tống phải nhảy xuống biển vùi thân. Do vậy, non sông tuy tươi đẹp mà không toàn vẹn là vậy. “Kim” là chỉ tộc Nữ Chân ở phương Bắc kiến lập nước Đại Kim. “Hoàng” là phủ Hoàng Long, kinh đô nước Kim (nay là huyện Nông An, tỉnh Cát Lâm. Trung Quốc). Ở đây tiên tri về sự kiện nhà Nam Tống sống tạm bợ trong một nửa giang sơn vùng Giang Nam và người Kim xâm nhập trong lịch sử. “Bất tín Hoàng Kim thị họa thai” nói về nước Kim diệt Bắc Tống, xâm phạm Nam Tống. Giải: (Hai) Một giấc mộng Hồ Sơn mà hỏng cả, Lại thấy Rồng Mây hướng phía Bắc bay. Ba trăm năm hết chỉ nội một ngày, Non xanh nước biếc than ôi còn đâu. Tạm dịch: (二) 湖山一梦事全非,再见云龙向北飞。 三百年来终一日,长天碧水叹弥弥。 (Nhị) Hồ Sơn nhất mộng sự toàn phi, Tái kiến Vân Long hướng Bắc phi. Tam bách niên lai chung nhất nhật, Trường thiên bích thủy thán di di. “Hồ sơn nhất mộng sự toàn phi”: Bởi rằng Nam Tống lập kinh đô Lâm An (nay là Hàng Châu) bên bờ Tây Hồ, hơn nữa hoàng đế Nam Tống cả ngày đắm chìm trong tửu sắc, vậy mới nói “Hồ Sơn nhất mộng”. “Tái kiến Vân Long hướng Bắc phi”, là chỉ khí số thiên tượng rơi vào phương Bắc, ở miền Bắc sinh “chân long thiên tử”, triều đại mới sinh ra ở phương Bắc. Khi binh nhà Nguyên xâm nhập Lâm An, hoàng đế bị bắt làm tù binh. “Tam bách niên lai chung nhất nhật”, là chỉ Bắc Tống, Nam Tống trải qua ba trăm năm (từ năm 960 đến 1279 SCN) rồi cuối cùng diệt vong. “Trường thiên bích thủy thán di di”, chính là chỉ năm 1279 SCN, tàn quân nhà Tống chiến bại không còn lối thoát, Lục Tú Phu cõng tiểu hoàng đế Nam Tống Triệu Bính nhảy xuống biển mà chết, các tướng sĩ khác và hoàng phi đều gặp bão lớn rồi chìm dưới đáy đại dương. Giải: (Ba) Số nhân của Trời Đất đến một nguyên, Hốt gặp giáp tử thì lại hưng Nguyên. Được tám tám năm thì càn khôn đổi, Xem hết hoa tàn mà vẫn không tâu. Tạm dịch: (三) 天地相乘数一原,忽逢甲子又兴元。 年华二八乾坤改,看尽残花总不言。 (Tam) Thiên địa tương thừa số nhất nguyên, Hốt phùng giáp tử hựu hưng Nguyên. Niên hoa nhị bát càn khôn cải, Khán tận tàn hoa tổng bất ngôn. “Thiên địa tương thừa số nhất nguyên, Hốt phùng giáp tử hựu hưng Nguyên”, là nói thời kỳ Thiên can Địa chi tương giao, trở lại ngọn nguồn, nhà Nguyên bắt đầu hưng thịnh. “Hốt” ở đây là chỉ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, “hưng Nguyên” là chỉ nhà Nguyên được kiến lập. Hốt Tất Liệt năm 1260 SCN làm Đại Hãn, năm 1264 SCN (một giáp – Giáp tử) lên ngôi kiến lập triều Nguyên, lấy hiệu nước là Nguyên, dời đô đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh). Năm 1271, Hốt Tất Liệt căn cứ vào kiến nghị của Lưu Bỉnh Trung, lấy ý nghĩa “Càn Nguyên” trong «Kinh Dịch» mà cải quốc hiệu thành “Đại Nguyên”, thống trị Trung Quốc. “Niên hoa nhị bát càn khôn cải, Khán tận tàn hoa tổng bất ngôn”, triều Nguyên từ Nguyên Thế Tổ truyền được 10 đời. Năm 1279 SCN, triều Tống diệt vong hoàn toàn, đến năm 1368 SCN, triều Nguyên bị diệt, tổng cộng là 88 năm, ứng với ý trong “Được tám tám năm càn khôn đổi”. Thời Nguyên Thuận Đế, hoạn quan ém nhẹm hồ sơ không tâu lên hoàng đế hại nhà Nguyên, có thể nói “hoa tàn” mà “vẫn không tâu” là như vậy. Giải: (Bốn) Rốt cuộc là anh hùng từ áo vải, Lầu son đâu phải cờ vàng ngày xưa. Chim én bay đến ấy chuyện tầm thường, Nở tới hoa mận thì xuân đã qua. Tạm dịch: (四) 毕竟英雄起布衣,朱门不是旧黄畿。 飞来燕子寻常事,开到李花春已非。 (Tứ) Tất cánh anh hùng khởi bố y, Chu môn bất thị cựu hoàng kỳ. Phi lai yến tử tầm thường sự, Khai đáo Lý hoa xuân dĩ phi. “Tất cánh anh hùng khởi bố y, Chu môn bất thị cựu hoàng kỳ”, tả rõ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, tuy xuất thân bần tiện (bố y – áo vải), còn trải qua mấy năm làm hòa thượng, sau tham gia khởi nghĩa nông dân hồng cân quân, cuối cùng thể hiện bản sắc anh hùng, từ một binh sĩ bình thường vọt lên làm thủ lĩnh, đến năm 1368 SCN xưng đế tại Nam Kinh. Chính “Chu môn – Lầu son” ấy không còn là nhà nông đất vàng (“cờ vàng”) ngày xưa nữa. “Phi lai yến tử tầm thường sự, Khai đáo Lý hoa Xuân dĩ phi” chỉ con thứ tư của Chu Nguyên Chương là Yến vương Chu Đệ hùng cứ tại Yên Kinh, bị buộc phải phát động chiến dịch công nhập Nam Kinh, đoạt lấy ngôi Vua, đúng là “nhanh như chim én”. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương nhường ngôi cho Hoàng Thái Tôn cháu mình, tức Minh Huệ Đế. Năm ấy, hơn mười hoàng tử được phong làm Phiên vương, đóng tại biên cương. Trong đó Yến vương Chu Đệ thực lực mạnh nhất, danh vọng lớn nhất. Minh Huệ Đế vì cứ khăng khăng tước bỏ Phiên vương, đòi miễn Yến vương, nên Yến vương không còn cách nào khác đành khởi binh làm phản. Bởi vì Yến vương Chu Đệ tài đức xuất chúng, trí dũng hơn người nên cuối cùng giành chiến thắng sau 4 năm, trở thành Minh Thái Tông, sau được gọi là Minh Thành Tổ, niên hiệu Vĩnh Lạc. Yến vương được thiên hạ, ngẫm ra thì đúng là “tầm thường sự”, về cả tình và lý, rất giống với “sự biến Huyền Vũ môn” của Đường Thái Tông Lý Thế Dân. “Khai đáo Lý hoa xuân dĩ phi”, ứng với năm 1644 SCN, Sấm vương Lý Tự Thành (“Lý hoa”) dẫn quân khởi nghĩa công phá kinh thành, hoàng đế Sùng Trinh thắt cổ tự vẫn ở Cảnh Sơn, triều Minh diệt vong (“xuân đã qua”). Giải: (Năm) Kỵ mã của trẻ Hồ tới Trường An, Khai thác vùng hải cảng tại Trung Nguyên. Hồng thủy bình rồi lại hồng thủy khởi, Ánh sáng trong phải hướng Hán Trung xem. Tạm dịch: (五) 胡儿骑马走长安,开辟中原海境宽。 洪水乍平洪水起,清光宜向汉中看。 (Ngũ) Hồ nhi kỵ mã tẩu Trường An, Khai tích Trung Nguyên hải cảnh khoan. Hồng thủy sạ bình hồng thủy khởi, Thanh quang nghi hướng Hán Trung khán. “Hồ nhi kỵ mã tẩu Trường An”: Trung Quốc xưa nay vẫn nói “Bắc hồ Nam man”. Bởi thế ở đây là chỉ Mãn Thanh ở vùng Đông Bắc xâm nhập làm chủ Trung Nguyên. Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh qua ải, thống nhất toàn cục thời Minh mạt. Năm 1644 lập đô tại Bắc Kinh, trờ thành đế quốc Đại Thanh. “Khai tích Trung Nguyên hải cảnh khoan”: nhà Thanh ngày trước, thế nước hưng thịnh, văn trị võ công, cường thịnh phi thường, một trăm năm đầu tiên là thời “Khang Càn thịnh thế” (thời Khang Hy, Càn Long). Đặc biệt là hoàng đế Khang Hy, bình định các chủng nội loạn ngoại xâm, mở rộng bản đồ Trung Quốc ở mức chưa từng có. Ngoài ra, nhà Thanh bắt đầu tiến hành thông thương quy mô lớn với nước ngoài, khai thác bến cảng, cũng chính là “hải cảnh khoan” vậy. “Hồng thủy sạ bình hồng thủy khởi, Thanh quang nghi hướng Hán Trung khán”: Chữ “Hồng thủy” đầu tiên chính là chỉ năm 1851, Hồng Tú Toàn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, tựa như cơn hồng thủy cuốn sạch một nửa Trung Quốc, kéo dài trong 13 năm, làm lung lay nghiêm trọng sự thống trị của triều Thanh. Sau khi Thái Bình Thiên Quốc bị bình định rồi (“sạ bình”), triều Thanh vẫn loạn trong giặc ngoài không ngừng, các thế lực cách mạng không ngừng nổi dậy mạnh mẽ, mãi đến cuối cùng, khởi nghĩa Vũ Xương thành công, Lê Nguyên Hồng thành đô đốc Trung Hoa Dân Quốc, sau khi Viên Thế Khải chết trở thành Tổng thống, Vương triều nhà Thanh diệt vong hoàn toàn. Do đó, tiền đồ cuối cùng của triều Thanh (“Thanh quang”) cần phải đến Vũ Hán (“Hán Trung”) mà xem. Giải: (六) 汉天一白汉江秋,憔悴黄花总带愁。 吉曜半升箕斗隐,金乌起灭海山头。 (Lục) Hán thiên nhất bạch Hán giang thu, Tiều tụy hoàng hoa tổng đới sầu. Cát diệu bán thăng Ki Đẩu ẩn, Kim Ô khởi diệt hải sơn đầu. (Sáu) Trời Hán sáng tỏ, sông Hán mùa thu, Hoa cúc vàng tiều tụy vẫn ưu sầu. Ánh cát tường nửa thăng, Ki Đẩu ẩn, Mặt trời vụt tắt trên đầu núi biển. “Hán thiên nhất bạch Hán giang thu” là nói nhà Thanh hủ bại suy vong, Trung Quốc cuối cùng lại có hy vọng mới (“Hán thiên nhất bạch”), tiến nhập thời đại mới (“Hán giang thu”), ngày 10 tháng 10 năm 1911 (mùa thu), khởi nghĩa Vũ Xương kiến lập Trung Hoa Dân Quốc. “Tiều tụy hoàng hoa tổng đới sầu”, cách mạng Dân Quốc tuy thành công nhưng nền móng rất thiếu ổn định, tựa như “tiều tụy hoàng hoa”, đầy ắp nguy cơ (“tổng đới sầu”). Cũng có thể là chỉ Viên Thế Khải khôi phục ngai vàng như “tiều tụy hoàng hoa”, sớm nở tối tàn, Viên Thế Khải cuối cùng buồn rầu hối hận mà bệnh chết. “Cát diệu bán thăng Ki Đẩu ẩn”: “Cát diệu” là chỉ cờ Thanh Thiên Bạch Nhật của Quốc Dân Đảng, “bán thăng” là chỉ thời kỳ đầu thống trị của Quốc Dân Đảng, ở Trung Quốc quân phiệt cát cứ, nội chiến liên miên, không cách nào thực hiện bình định thống nhất, chỉ đến khi Tưởng Giới Thạch lãnh đạo Bắc phạt thành công mới sơ bộ đặt địa vị cho Quốc Dân Đảng. “Ki Đẩu” thuộc tử vi cổ đại của Trung Quốc, là một vì tinh tú trong Nhị Thập Bát Tú, ở đây chỉ thế lực bí mật của đảng cộng sản ngấm ngầm phát triển. “Kim Ô khởi diệt hải sơn đầu”: Thời cổ “Kim Ô” là tên gọi khác của Thái Dương (Mặt trời), ở đây ám chỉ Nhật Bản. Cả câu là chỉ Nhật Bản gây chiến trong Đại Thế chiến II rồi cuối cùng chiến bại, đầu hàng. Giải: (七) 云雾苍茫各一天,可怜西北起烽烟。 东来暴客西来盗,还有胡儿在眼前。 (Thất) Vân vụ thương mang các nhất thiên, Khả liên Tây Bắc khởi phong yên. Đông lai bạo khách Tây lai đạo, Hoàn hữu Hồ nhi tại nhãn tiền. Tạm dịch: (Bảy) Mây mù mờ mịt hết một ngày đêm, Thảm thương Tây Bắc khói lửa chiến tranh. Cướp đến từ Đông, giặc đến từ Tây, Còn có trẻ Hồ ở ngay trước mắt. “Vân vụ thương mang các nhất thiên”, là nói cục diện Trung Quốc và Đài Loan phân chia đối lập nhau. Ba câu sau có thể chỉ sự việc chưa phát sinh hoặc đã phát sinh. Thử giải như sau: “Khả liên Tây Bắc khởi phong yên” dường như chỉ giải phóng quân Trung Quốc bình định bạo loạn Tân Cương và trấn áp độc lập ở Tây Tạng. “Đông lai bạo khách Tây lai đạo”, có thể chỉ Bắc Triều Tiên ở phương Đông và Mỹ quốc có chiến tranh, đồng thời bùng phát chiến tranh biên giới Trung-Ấn với Ấn Độ ở biên giới phía Tây. “Hoàn hữu Hồ nhi tại nhãn tiền”: nước Nga ở phương Bắc luôn trực tiếp uy hiếp Trung Quốc, Trung-Nga đã từng phát sinh chiến tranh, mỗi bên đều có binh lực hùng hậu trấn giữ nơi biên giới trong cả chục năm. Giải: (Tám) Như ván cờ mới rơi vào thế tàn, Đồng lòng giúp nhau nhưng gặp đại nạn, Con báo chết còn lưu lại bộ da, Sắc thu đẹp nhất ở tại Trường An. Tạm dịch: (八) 如棋世事局初残,共济和衷却大难。 豹死犹留皮一袭,最佳秋色在长安。 (Bát) Như kỳ thế sự cục sơ tàn, Cộng tề hòa trung khước đại nạn. Báo tử do lưu bì nhất tập, Tối giai Thu sắc tại Trường An. “Như kỳ thế sự cục sơ tàn, Cộng tề hòa trung khước đại nạn”: Cục diện thế giới xưa nay tựa như bàn cờ, đây là chỉ thời kỳ chiến tranh Lạnh đối đầu giữa thế giới Tây phương tự do dân chủ và cộng sản quốc tế. Đến thập niên 90, các quốc gia cộng sản ào ào biến sắc, điều này đối với toàn bộ chủ nghĩa cộng sản mà xét, thì đã đi vào tàn cuộc rồi. Liên minh các nước cộng sản triệt để giải thể, tuyệt đại đa số các nước từ bỏ chế độ cộng sản, đối với đảng cộng sản mà nói là lâm vào đại kiếp nạn vậy. “Báo tử do lưu bì nhất tập”: quốc gia đứng đầu các nước cộng sản là Liên Xô tan rã, hệ thống đảng cộng sản thực tế đã giải thể rồi, chỉ còn lưu lại một chút hình thức được những người đương quyền Trung Quốc kế thừa, cũng tựa như con báo chết rồi nhưng vẫn còn lưu lại bộ da. Trung Quốc ngày nay không còn ai tin tưởng chủ nghĩa cộng sản nữa, bao gồm cà những người đương quyền trong đảng cộng sản, họ chỉ lợi dụng hình thức đảng cộng sản để duy trì sự thống trị của họ mà thôi. “Tối giai Thu sắc tại Trường An”: trước mắt những người đương quyền Trung Cộng, vì để tạo tính hợp lý cho hình thức chính quyền nên đã ra sức tô son trát phấn ngụy tạo cái gọi là “tình thế tốt đẹp”, tập trung một lượng lớn tài lực để xây dựng rầm rộ, trang điểm thủ đô. “Trường An” là chỉ kinh thành của Trung Quốc, cũng chỉ Trung Quốc nói chung. Nhưng “sắc thu” ấy cũng không cách nào trường cửu được. Giải: (Chín) Rồng lửa khởi đau buồn từ Yên Môn, Nguyên bích chịu nạn, họ Triệu thu về, Một vườn hoa đẹp, mùa xuân có chủ, Mưa gió suốt đêm không phải ưu sầu. Tạm dịch: (九) 火龙蛰起燕门秋,原璧应难赵氏收。 一院奇花春有主,连宵风雨不须愁。 (Cửu) Hỏa long trập khởi Yên Môn thu, Nguyên bích ưng nạn Triệu thị thu. Nhất viện kỳ hoa Xuân hữu chủ, Liên tiêu phong vũ bất tu sầu. “Hỏa long trập khởi Yên Môn thu”: “Hỏa long”, tức ác long màu đỏ, chỉ đảng cộng sản Trung Quốc. Câu đầu tiên ẩn dụ về sự kiện “lục tứ” năm 1989, học sinh và dân chúng Trung Quốc thỉnh nguyện tại Thiên An Môn sau đó chịu thảm sát tàn khốc. “Nguyên bích ưng nạn Triệu thị thu”: “Nguyên bích” ngầm chỉ lịch sử Trung Quốc liên tục trong 5.000 năm, phải chịu nạn này. “Triệu thị thu” là chỉ Triệu Tử Dương, vì sự kiện “lục tứ” mà bị đàn áp. Còn mấy câu dưới đây, nếu như không theo sát toàn bộ chủ đề bài thơ, không thông hiểu việc tu luyện, thì rất khó phá giải. Trên thực tế, mấy câu dưới đây rõ ràng là ứng hợp với chủ đề của toàn dự ngôn. Xem lại câu đầu tiên “Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai”, cho tới câu dưới “Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật”, nghĩa lý chân chính sẽ tự nhiên sáng tỏ. “Nhất viện kỳ hoa Xuân hữu chủ”: trước ngày 20 tháng 7 năm 1999, Pháp Luân Công phổ biến khắp Trung Quốc đại lục, nơi đâu cũng có đệ tử Đại Pháp đeo huy hiệu Pháp Luân Công, nơi đâu cũng trông thấy đồ hình Pháp Luân, chính là “một vườn hoa đẹp kỳ diệu” vậy. “Xuân hữu chủ” là chỉ một năm nào đó, các đệ tử Pháp Luân Công bị bức hại và Sư phụ sẽ gặp nhau một cách đường đường chính chính. “Liên tiêu phong vũ bất tu sầu”: Trung Cộng đối với đệ tử Pháp Luân Công đã áp dụng thủ đoạn thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa, tiến hành bức hại trên quy mô lớn, chính là “gió mưa suốt đêm” vậy. Tuy vậy Pháp Luân Công vẫn biểu hiện kiên cường phi thường, liên tục duy trì tinh thần phản bức hại, quả thực trong lịch sử xưa nay hiếm. Chỉ với loại tinh thần này, họ cuối cùng đã giành thắng lợi. Lấy nhãn quang lịch sử mà xét, vô luận tà ác có điên cuồng đến cỡ nào, mùa đông có giá rét lạnh lẽo ra sao, cuối cùng vẫn vượt qua, chính là “không cần phải lo sầu” vậy. Giải: (十) 数点梅花天地春,欲将剥复问前因。 寰中自有承平日,四海为家孰主宾。 (Thập) Số điểm Mai Hoa thiên địa Xuân, Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân. Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật, Tứ hải vi gia thục chủ tân. (Mười) Số điểm hoa mai trời đất là xuân, Muốn biết Bác Phục hỏi nguyên nhân xưa. Trong hoàn vũ tự hưởng ngày thái bình, Bốn biển là nhà hỏi ai chủ khách. Tạm dịch: “Số điểm mai hoa thiên địa Xuân”: Câu này chính là dụng bút theo kiểu “vẽ rồng điểm mắt”, làm nổi bật nét chính, tên bài thơ chính lấy từ câu này, do vậy mới gọi là «Mai Hoa Thi». Kinh qua khảo nghiệm mùa đông giá rét, các đệ tử Pháp Luân Công khắp thế giới và Trung Quốc Đại Lục tựa như những bông hoa mai cười ngạo sương tuyết, trỗi dậy đón nở mùa Xuân đến. Đây chính là thời khắc Pháp Chính Nhân Gian. Vạn vật nghênh Xuân, khắp nơi đều chính. Câu này với câu ở đầu “Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai” – “Hỏi mấy người đến mấy người trở về” là tương quan chặt chẽ với nhau, có bao nhiêu người có thể viên mãn mà sẽ đi đâu? “Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân”: Bác, Phục là tên hai quẻ trong «Kinh Dịch». Bác cực tất Phục, cũng là chỉ “Vật cực tất phản”. Lịch sử tựa như bánh xe xoay chuyển (chuyển luân), có nhân trước tất có quả sau. Lịch sử nhân loại đều là vì Chính Pháp mà an bài. “Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật”: Đây chính là ngày mà vũ trụ rộng lớn không gì sánh được tự nhiên thừa hưởng thái bình. “Tứ hải vi gia thục chủ tân”: năm 1992, người sáng lập Pháp Luân Công, Lý Hồng Chí Tiên sinh xuất hiện truyền Pháp, về cơ bản là đi khắp bốn phương truyền Pháp, bốn biển là nhà. Nửa câu sau “thục chủ tân”, ẩn dụ ai là chủ, ai là khách; trong vũ đài lịch sử ai đóng vai phụ, ai đóng vai chính, đã sớm có số định trước. Văn minh nhân loại lần này đều là vì Đại Pháp mà khai sáng, nơi đây cũng chính là trung tâm Chính Pháp của toàn vũ trụ. Chánh kiến. Dịch từ: http://www.zhengjian.org/zj/articles/2001/7/7/13024.html
-
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
KINH RÙA MÙ TÌM BỘNG CÂY Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ Phật ở tại Trùng Các giảng đường bên hồ Di Hầu bảo các tỳ kheo: “Ví như quả đất sụp thành bể cả, có một con rùa mù sống vô lượng kiếp, một trăm năm mới trồi đầu lên một lần. Trong biển có bộng cây nổi chỉ có một cái lỗ, trôi giạt trên mặt biển theo gió sang Đông Tây, con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu lên tìm bộng cây, sẽ gặp được cái lỗ trên bộng cây này chăng?” A Nan bạch: “Không thể gặp, thưa Thế Tôn! Vì cớ sao? Vì con rùa này nếu đến bể Đông, bộng cây đã theo gió đến bể Tây, Nam, Bắc bốn phía, chung quanh cũng vậy, không thể gặp nhau.” Phật bảo A Nan: “Con rùa mù tìm bộng cây tuy sai lạc, nhưng có lúc gặp nhau, kẻ phàm phu ngu si trôi giạt trong ngũ thú tạm được thân người, rất khó hơn con rùa mù kia tìm bộng cây. Vì cớ sao ? Vì chúng sanh kia không hành nghĩa, không hành pháp, không hành thiện, không hành chơn thật, sát hại lẫn nhau, mạnh hiếp yếu, tạo vô lượng tội ác. Thế nên, Tỳ Kheo! Đối Tứ Thánh Đế nếu chưa được vô gián đẳng, phải chuyên cần tìm phương tiện mong muốn tăng thượng, học vô gián đẳng.” Phật nói Kinh này rồi, chư Tỳ Kheo nghe Phật nói hoan hỉ phụng hành. Trong một đoạn kinh khác, Phật lại có ví dụ như sau: Một hôm Phật khơi một chút đất dính đầu móng tay đưa lên hỏi trong chúng hội: “Đất đầu móng tay nhiều hay đất quả địa cầu nhiều?” Trong chúng hội đều đáp: “Bạch Thế Tôn, đất quả địa cầu rất nhiều, so với đất đầu móng tay có thấm vào đâu!”. Phật kết luận: “Cũng thế, chúng sanh khi bỏ thân này rồi mà trở lại được thân người rất ít như đất đầu móng tay, còn đi vào các thú thì nhiều như đất quả địa cầu”. Cầu tìm Phật pháp khó như vũ trụ bay tới tâm Ngân Hà, một vị Phật xuất hiện cũng khó tương đương, cho nên mới thấy Phật Hoàng Trần Nhân Tông: một vị Phật, một vị Tiên, một vị vua, một vị tướng cùng nguyên soái Trần Hưng Đạo đã tổ chức quân dân 2 lần chiến thắng Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ - đã chiếm gần 1/2 thế giới, một nhà thơ, một họa sĩ, một nhà văn với một tác phẩm có thể xem là tuyệt tác cổ kim của nhân loại - đó là Tây Du Ký,... vĩ đại như thế nào. Ngài tu luyện theo hạnh nguyện của một Đầu Đà, và nếu đọc các quy tắc khắc nghiệt này mới thấy... thật là kinh dị!. Các quan lại, vua chúa Trung Hoa phải thốt lên kinh hãi: An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh, Ếch giếng xin đừng chế diễu ngoa. Hiểu tận cùng Phật pháp vẫn chưa nói lên điều gì cả đối với bản thân cá nhân đó, tại sao vậy? Bởi vì vẫn còn chịu tương tác như một dòng thác bất tận từ những quy luật Âm Dương Ngũ Hành (gần như vô cùng của thời gian, ai ai cũng phải chịu những tương tác đó) và đặc biệt, quan trọng nhất là do "tâm" hành giả vẫn chưa an trú được trong lòng "biển cả mênh mông". Bậc thầy chứng ngộ Krishnamurti - một trong những nhân vật lỗi lạc của hội Thông Thiên Học trong thế kỷ XX đã nói: "con đường Đạo bén ngót như một lưỡi dao cạo": làm sao đi chân không trên lưỡi dao cạo này. -
Đấng Tạo Hóa : DỰ ĐOÁN CHO 2015 By Son Light Angel09:29 Đấng Tạo Hóa : DỰ ĐOÁN CHO 2015. ( Phần 1 ) Tôi rất vui khi nói chuyện với các bạn về những gì chúng ta đang và sẽ chứng kiến trong năm tới, sẽ xẩy ra trên bề mặt Trái đất. Đây là khoảng thời gian lịch sử thú vị cho tất cả các cấp bậc tinh thần trong Vũ trụ này. Terra, Gaia yêu quý của các bạn là trung tâm của tất cả. Trước tiên, cho tôi giải thích tôi là ai. Có một số nhầm lẫn trong cộng đồng các Lightworker và người truyền thông điệp về sự thật: Cha và Mẹ Thiên Chúa là ai, về mối quan hệ của tôi với bạn và về mối quan hệ giữa bạn với Một, với Nguồn. Tôi sẽ cho bạn biết. Tôi chủ yếu hoạt động ở trong hậu trường trong suốt nhiều năm vừa qua. Bởi vì chúng tôi muốn dần giới thiệu cho bạn trước tiên đến với các Minh sư đã Thăng lên, Các động vật tiến hóa cao, vương quốc các Thiên Thần và các anh chị em Galactic. Mục đích là để bạn có thời gian dần phát triển một kiến thức rộng lớn hơn về vị trí của bạn trong dòng chảy cuộc sống vĩ đại có sẵn trong vũ trụ xung quanh bạn. Gần đây bạn đã được giảng dạy bởi các Lightworkers, bao gồm cả kênh thông điệp yêu quý của chúng tôi, người đang truyền lời của tôi ngay bây giờ, rằng bạn là Minh sư của chính mình - Rằng bạn đang là một phần của quá trình chuyển đổi đang diễn ra, Rằng bạn đang tham dự vào Thăng thiên của hành tinh Trái đất. Tôi có một quan tâm rất lớn về hạnh phúc của bạn và về tăng trưởng của bạn trong khoảng thời gian này. Bởi vì tôi là một trong những Đấng Tạo Hóa của vũ trụ mà đã được gọi là Nebadiah, Một vũ trụ rộng lớn đang chứa tất cả. Đấng Tạo Hóa : DỰ ĐOÁN CHO 2015. ( Phần 2 ). ( Hình minh họa : Nebadon universe. ) Trong vũ trụ của bạn, có nhiều thiên hà và các hệ thống ngôi sao, đã được tạo ra bởi tôi và bởi Twin của tôi, Omara. Đồng sáng tạo với chúng tôi là các Minh Sư Vĩ Đại, họ cũng là những Đấng Sáng tạo trong phạm vi của họ. Ví dụ, Ra và Isis (còn gọi là Alcyone và Mẹ Sekhmet) là những Đấng sáng tạo của thiên hà Milky Way của bạn. Tất nhiên là với sự hợp tác và hỗ trợ của tôi. Chúng tôi và các Đại Minh sư có mối quan hệ rất yêu thương và gần gũi. Cũng bởi vì, họ là con cái đã trưởng thành và là một phần Linh hồn của chính tôi. Đôi khi họ đóng vai trò của Mẹ và Cha Thiên Chúa để nói chuyện với bạn. Đương nhiên là với với sự chấp thuận hoàn toàn của tôi - Họ đại diện cho tiếng nói của Thiên Chúa để nói chuyện với các bạn. Việc tạo ra các linh hồn, cũng như tạo ra các thiên hà, việc sáng tạo ra Nhân loại, cũng như tạo dựng nên hành tinh xinh đẹp Gaia này, đã mô tả phần nào công việc của chúng tôi. Trong các cõi giới cao, Tôi được biết đến và được gọi bằng cái tên là Ohara. Thú vị phải không bạn ? Đó cũng như là một cách gọi tên, một kiểu nickname trong thế giới của mạng máy tính. Tôi không phải Đấng Tạo hóa Nguyên thủy và Tối cao. Tôi chỉ là Đấng Tạo hóa ra Vũ trụ này thôi. Có nhiều vũ trụ khác nữa, nhưng chúng tôi là một trong những Đấng Sáng tạo của một Vũ trụ lâu đời nhất. Tôi cũng chỉ là một đứa con của Nguồn. Cũng như tất cả chúng ta đều là con cái của Nguồn, là con cái của Đấng Tạo Hóa Nguyên Thủy Vĩ Đại Tối Cao, và là Cha của tất cả chúng ta. Sau đây chúng ta sẽ nói chuyện về tầm nhìn vào tương lai gần, trong dòng thời gian hiện tại mà bạn đang sống. Dự đoán từ Đấng Tạo Hóa Ohara, Bây giờ tôi sẽ cung cấp cho bạn một số dự đoán về những gì có khả năng nhìn thấy trên hành tinh của bạn trong năm tới. Nhưng tôi muốn bao gồm cả những nguyên nhân trong những dự đoán, và bạn có thể sẽ đọc tất cả những điều này trước năm nay kết thúc. Sự thay đổi đáng kể đầu tiên trong phong cách sống trên trái đất, sẽ bắt đầu vào tháng Mười năm 2014 và sẽ tiếp tục thay đổi nhanh chóng để cải cách tất cả các lĩnh vực tổ chức xã hội, chính trị, giáo dục, y tế, khoa học hiện hành. Giai đoạn chuyển đổi đầu tiên sẽ liên quan đến sự ra đời của các Quỹ thịnh vương Mới nhiều tỷ đô la của Minh Sư St Germain. Số tiền này sẽ được sử dụng để thanh toán các khoản nợ chiến tranh cho tất cả các quốc gia trên hành tinh. Điều này sẽ tháo gỡ thế kẹt về tài chính, loại bỏ các gánh nặng tâm lý về các khoản vay nợ khổng lồ bởi các cuộc chiến, dẫn tới xóa bỏ các khoản thu lợi từ việc gây chiến tranh và bán vũ khí. Giai đoạn tiếp theo, với sự giúp đỡ từ các Quỹ Thình vượng Mới, sẽ giúp đỡ để trả toàn bộ nợ quốc gia của nước Mỹ. Cục thuế vụ liên bang IRS sẽ không còn cần thiết nữa và sẽ bị giải thể. Cục Dự trữ Liên bang FED sẽ bị tháo dỡ ra khỏi nước Mỹ và bán cho người Trung Quốc. Vì vậy tất cả các hệ thống kinh tế và pháp lý trong tương lai gần sẽ phát triển một cách tự nhiên và được gọi là hệ thống kinh tế mới NESARA. Tôi sẽ không dành nhiều thời gian để mô tả chi tiết những gì NESARA sẽ thực hiện, bởi vì bạn có thể tìm hiểu về NESARA trên nhiều trang web. Tôi đề nghị bạn tìm hiểu về lịch sử phát triển của hệ thống mới này, và tác động của nó sẽ thay đổi tất cả mọi thứ như thế nào, trong phạm vi nước Mỹ và sau đó trên khắp hành tinh. Gần hai trăm quốc gia đã ký kết đồng ý thông qua việc hình thành và vận hành các hệ thống mới này vào giữa tháng Mười vừa qua. Khi quá trình chuyển đổi từng bước được thực hiện, nhiều người sẽ ngạc nhiên bởi sự sụp đổ nhanh chóng của các Tổng công ty ở Mỹ và Hệ thống luật Pháp có nhân quyền, nhân ái thực sự sẽ xuất hiện như là có phép lạ. Tất nhiên, những sự kiện này đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước đây ở đằng sau hậu trường. Cách nhóm làm việc chuyên môn, các Minh sư của Ánh sáng, các Lightworkers tiên phong đã chăm chỉ tích cực làm việc âm thầm trong nhiều năm qua. Thành quả việc làm của họ sẽ biểu hiện tất cả trong những tháng tới. Bạn có những người anh hùng đang sống chung trong các anh em, những người thân mến, và danh tính của họ khi được công bố sẽ làm bạn ngạc nhiên và hài lòng.
-
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Cập nhật Sheldan Nidle: Một năm thiên hà mới đã bắt đầu By Celestial Light 03:31 Selamat Balik! Chúng tôi trở lại với nhiều điều để nói. Xã hội toàn cầu của bạn đang bắt đầu quá trình chuyển đổi theo chiều hướng được đã được hoạch định. Đó là xây dựng lại và làm mới tất cả các khía cạnh. Quản trị mới sẽ thúc đẩy một hệ thống tài chính mới. cụ thể là, ở Bắc Mỹ sẽ ban hành các sắc lệnh quy định của NESARA. Chính phủ mới ở đây sẽ hủy bỏ tất cả các khoản nợ và chấm dứt chế độ nô lệ nợ đói với các cư dân của phần lục địa này. Một mức độ hoàn toàn mới của tự do sẽ ra đời. Chính phủ Canada và Mỹ sẽ công bố và thực thi các quy định trong Điều lệ nhằm giải phóng tất cả các công dân, cho phép họ thực sự có chủ quyền. Sự thịnh vượng, mà bắt đầu bằng việc phân phối cho tất cả một cách phong phú, sẽ châm ngòi cho một sự phục hưng kinh tế. Đồng thời sẽ có các thiết bị và công nghệ nhanh chóng thực hiện việc dọn sạch tất cả các ô nhiễm môi trường và ngăn chặn việc ô nhiễm môi trường từ các phương tiện vận tải. Ngoài ra, công nghệ truyền thông sẽ có bước nhảy vọt rất lớn trong những tháng đầu của thời kỳ chuyển đổi sắp tới. Lớn hơn những tiến bộ trong hai thập kỷ qua! Những thay đổi này sẽ diễn ra trong thời gian chuẩn bị để tiếp xúc đầu tiên với chúng tôi. Còn khi chúng tôi hạ cánh hàng loạt, chúng tôi dự định cung cấp cho bạn với một loạt công nghệ hoàn toàn mới mà là để thiết lập lại nền khoa học và triết lý hiện tại trong thế giới của bạn! Tiếp xúc đầu tiên sẽ tạo nên một bước ngoặt lớn đối với thế giới của bạn. Hiện nay, có một niềm tin phổ biến trong xã hội của bạn: con người là duy nhất trong vũ trụ và trong chương trình của sự Sáng tạo.Với niềm tin hạn chế này, cũng giống như nhiều xã hội nguyên thủy, phủ nhận sự tồn tại phong phú các Sinh mệnh ở nhiều cấp độ của tri giác. Niềm tin hạn chế và sai lầm này sẽ được thay đổi ngay lập tức trên toàn bộ hành tinh của bạn bằng một thông báo chính thức của các chính phủ về sự hiện diện của chúng tôi. Sẽ không có cách nào để phủ nhận sự thật trong vấn đề này. Để thực hiện được điều quan trọng này, chúng tôi có sự hỗ trợ chính thức của các Minh Sư đã Thăng lên của bạn. Trong thực tế, sự hỗ trợ này được thực hiện từ vài thập kỷ trước đây. Ngoài ra, chúng tôi có sự ủng hộ đầy đủ của những người anh em Agarthan của bạn. Công việc cần làm bây giờ là phá vỡ hàng rào kiểm duyệt che giấu tin của hệ thống thông tin đại chúng của bạn, và đưa các chính phủ mới thành lập của bạn tham gia vào các cuộc thảo luận. Các chính phủ mới phải có đủ tính hợp pháp toàn cầu cần thiết để giảm bớt những lo lắng liên quan đến sinh vật ngoài Trái đất. Ngay sau khi chính phủ của bạn đã giới thiệu thành công về sự hiện diện nhân từ của chúng tôi, chính chúng tôi sẽ tiến hành giải thích rất nhiều thứ cho bạn. Phước lành thay, Hỡi những trái tim thân yêu! Chúng tôi là các Minh sư của bạn! Lĩnh vực của bạn đang thay đổi. Phước lành liên tục của Ánh sáng đang tràn ngập thế giới của bạn. Rất nhiều cứu trợ đã và đang được đưa đến thế giới này. Bầu không khí trên đang dần ổn định và di chuyển mạnh mẽ như là dòng chảy trong các đại dương. Các thay đổi lớn đang quét qua nhiều vùng trên thế giới của bạn. Gaia đã đạt đến một trạng thái cân bằng mới và cô đang chuẩn bị cho việc cấu hình lại môi trường của mình. Hành tinh của bạn là thiêng liêng và ngày dang dần trở nên tốt hơn. Vì vậy chúng tôi yêu cầu bạn chúc lành cho Trái đất mỗi ngày. Hãy tôn trọng Gaia và tất cả những việc cô ấy làm cho bạn. Như ý thức của bạn đang phát triển, bạn trở nên ý thức hơn về công việc khó nhọc hàng ngày của Gaia, cô đang cố gắng rất nhiều để duy trì bản thân. Chúng tôi kêu gọi bạn đến với nhau theo nhóm để chúc phúc cho Gaia, và mở rộng hoạt động này ra toàn thế giới. Khi các bạn làm như vậy sẽ giúp Gaia duy trì bản thân và nuôi dưỡng bạn tốt hơn. Gaia là một Sinh Mệnh thiêng liêng của ánh sáng, nhưng vẫn đang tiếp tục bị tàn phá bởi những âm mưu đen tối. Cô rất cần sự chúc lành của bạn cũng rất cần những hành đông kiên quyết của bạn để dừng những hành động đang làm tổn hại tới Cô. Chính bây giờ là thời gian để bắt đầu một cách tôn trọng hành tinh xinh đẹp và thiêng liêng của bạn. Chúng tôi luôn lắng nghe bạn, hỡi Trái tim thân yêu, nghe và thấu hiểu mỗi người, trong mọi thời điểm. Chúng tôi biết rõ là bạn đang gặp nhiều khó khăn trong lĩnh vực tối tăm này. Nhưng bây giờ đây là khoảng thời gian để mang lại cho cuộc sống mỗi bạn những điều tươi đẹp hơn và có thể làm giảm bớt những phiền não, bắt đầu xây dựng một thế giới mới của hòa bình, hợp tác và thịnh vượng. Các bước để thực hiện việc này đang được tiến hành. Một năm thiên hà mới đã bắt đầu. Chính vào lúc này là thời điển để chào đón giao thừa Thiên hà với những món quà thích hợp. Cùng bạn chuyển thế vào Thời đại mới, cùng với nhiều món quà tặng từ Thiên đường, đó là điều mà chúng tôi dự định thực hiện. Từ rất lâu nay trên hành tinh của bạn, giàu có và phong phú đã bị tách ra khỏi tầm tay của các bạn và cất giấu trong vòng bí mật. Những kho dự trữ cực lớn này được giữ gìn bảo vệ đặc biệt, chúng được cam kết sử dụng cho việc chính thức công bố tại một thời điểm thiêng liêng. Thời điểm Thiêng liêng gần như là ngay bây giờ. Các sự kiện đang xảy ra trên toàn cầu đều đảm bảo rằng phiên bản này của kế họach sẽ xảy ra theo đúng tiến độ. Bạn sẽ được may mắn trong rất nhiều cách ! Đó sẽ là rất nhiều sự ngạc nhiên tuyệt vời mà bạn đã chờ đợi từ rất lâu! Rất nhiều phước lành đã được báo trước cho một thời đại mới của nhân loại. Đó cũng là dấu hiệu tiết lộ chính thức về những người Anh chị em bên trong Trái đất của chúng ta và các gia đình không gian. Từ nhiều thiên niên kỷ trước, chúng tôi nhận thấy rằng lĩnh vực Agartha là một nơi trú ẩn an toàn khỏi tác động của bóng tối, từ bên trong Trái đất, chúng tôi có thể thực hiện nhiều dịch vụ thiêng liêng của mình. Thời gian này đang cho phép chúng tôi để dành thời gian nhiều hơn hoạt động trên bề mặt của Hành tinh. Chúng tôi mạnh mẽ hơn trong nhiệm vụ hỗ trợ liên kết thiêng liêng của mình và giúp đỡ nhân loại đi qua giai đoạn cuối cùng của đau khổ. Chúng tôi dự định dành nhiều thời gian hơn để hoàn thành những thay đổi cần thiết cho việc thể hiện các lĩnh vực mới trên bền mặt Hành tinh. Thời gian thực hiện các dự định là ngay bây giờ. Xin hãy chúc lành cho sự kiện thiêng liêng này! Hãy sẵn sàng để giúp đỡ người khác, hãy giải thích cho những người thân hiểu những gì đang xảy ra. Chúng tôi đến để hỗ trợ Hành tinh Trái đất và Nhân loại trong quá trình chuyển đổi, cũng như thực hiện các nhiệm vụ thiêng liêng của chúng tôi ở khắp thiên hà này. Với mục đích cụ thể là hỗ trợ cho những thay đổi các Lĩnh vực bề mặt Hành tinh của bạn đạt được tình trạng tốt hơn. Hãy để tất cả mọi thứ xảy ra theo đúng như mong muốn của Thiên đường. Chúng ta nói rằng: phần thắng thuộc về Ánh sáng, thuộc về Nhân loại : Hallelujah! Hallelujah! Hallelujah! Hôm nay, chúng tôi đã nói cho bạn một thông điệp về thế giới mới sắp tới của bạn. Nhiều điều đang xảy ra và nhiều bí mật sắp được tiết lộ hàng loạt ! Đêm của bóng tối hoang dại trong tình trạng lộn xộn đã kéo dài gần mười ba thiên niên kỷ trên bề mặt hành tinh bây giờ đã gần kết thúc. Chu kỳ này của những nỗi đau khổ là gần chắm dứt. Ánh sáng đang tăng và bình minh cuối cùng cũng sẽ ló dạng, phá vỡ đêm đen dài lâu ! Hãy Biết, những người thân yêu, đó là cung cấp vô số và không bao giờ kết thúc sự thịnh vượng của thiên đàng thực sự cho Em ! Vì vậy, Hãy Là Nó! Selamat Gajun! Selamat Ja! (Sirian Là Cho và Trong Đồng Nhất Thể ! Và Tới và ở Lãnh nhận !). - Gaia: Người Mẹ Trái Đất - biểu tượng của Phật Bà Quán Âm tức Bà Chúa Ba (Vũ Tiên). - Sirious: là chòm sao Chó Săn. - "Sirian Là Cho và Trong Đồng Nhất Thể ! Và Tới và ở Lãnh nhận": Tiên tri của bà Vanga nói về chỉ khi đất nước Sirya bị tiêu diệt thì một học thuyết cổ xưa sẽ quay lại với nhân loại hay có thể hiểu bản một dịch khác như: khi đất nước Sirya được khám phá và thông hiểu... - Mười ba thiên niên kỷ trên bề mặt hành tinh: 1/2 chu kỳ vũ trụ 25.920 năm. Tôi đã viết năm 2013 mới kết thúc chu kỳ chứ không phải năm 2012, nhận định này được đối chiếu âm Lịch tới bảng "Lục thập hoa giáp" và một số dữ liệu mang tính logic chứ không hàm nghĩa thực tế như kiểm tra sự di chuyển của trục Thiên cực bắc trái đất hay hiểu toàn bộ quy luật tương tác theo các chu kỳ lớn, một bài viết có thông tin từ vô hình cũng đã xác nhận đã 1 năm trong kỷ nguyên mới. -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Mặc dù vũ trụ vô hạn như vậy, nhưng có những Bậc giác ngộ vẫn thấy được một sự vật hiện tượng dù nó ở vô cùng: dùng "tính Thấy". Nếu chứng minh được rằng, vạn vật trên trái đất trong đó có một loài phức tạp nhất thì, điều này đồng nghĩa với việc ở biên giới vô cùng của vũ trụ có sự vật hiện tượng với cấu trúc đơn giản hơn, thậm chí đơn giản hơn đến vô số lần. -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Chúng ta nên có một chú ý rất tế vi, học thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong đó có đề cập đến Thái cực - trạng thái khởi nguyên của vũ trụ và không mô tả bản chất của nó. Nếu với các trạng thái thực tại được quy ước chung về khái niệm Âm Dương Ngũ Hành thì rõ ràng, Thái cực không thể quy ước được như vậy. Điều này là gì, nếu tách khái niệm Thái cực ra khỏi thuyết Âm Dương Ngũ Hành thì học thuyết này vẫn đang mô tả thực tại, vậy phải chăng Thái cực là một khái niệm thừa hoặc chưa đầy đủ!. Để xác định mức độ phức tạp của sự vật hiện tượng, tôi trích lại ý nghĩa Tam Thân trong kinh sách Phật giáo. Tam thân (zh. 三身, sa. trikāya) là một thuật ngữ được dùng trong Phật giáo Đại thừa (sa. mahāyāna), chỉ ba loại thân của một vị Phật. Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng cho rằng Phật—như một nhân vật đã xuất hiện trên thế gian để hoằng hoá, tiếp độ chúng sinh—chính là biểu hiện của cái Tuyệt đối, của Chân như và Phật có khi hiện thân thành nhiều hình tướng khác nhau chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Quan niệm Tam thân Phật được nêu ra nhằm nói lên quan điểm đó. Tam thân gồm: Pháp thân (zh. 法身, sa. dharmakāya), là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng chính là Pháp (sa. dharma), là quy luật vận hành trong vũ trụ, là giáo pháp do đức Phật truyền dạy. Phật xuất hiện trên Trái Đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người. Pháp thân được xem chính là Phật pháp (sa. buddha-dharma) như Phật Thích-ca giảng dạy trong thời còn tại thế. Sau này người ta mới nói đến hai thân kia. Pháp thân được xem là thường hằng, vô tướng, nhất nguyên, là thể tính chung của các vị Phật, là dạng tồn tại thật sự của chư Phật. Pháp thân có nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ trường hợp sử dụng. Có lúc người ta xem nó là thể tính của mọi sự, là Pháp giới (sa. dharmadhātu, dharmatā), là Chân như (sa. tathatā, bhūtatathatā), là tính Không (sa. śūnyatā), A-lại-da thức (sa. ālayavijñāna), hay xem nó như là Phật, Phật tính (sa. buddhatā), là Như Lai tạng (sa. tathāgatagarbha). Trong nhiều trường phái, người ta xem Pháp thân là thể trừu tượng không có nhân trạng, có trường phái khác lại xem Pháp thân hầu như có nhân trạng (xem kinh Nhập Lăng-già, kinh Hoa nghiêm). Đạt trí huệ siêu việt đồng nghĩa với sự trực chứng được Pháp thân. Báo thân (zh. 報身, sa. saṃbhogakāya), cũng được dịch là Thụ dụng thân (zh. 受用身), "thân của sự thụ hưởng công đức": chỉ thân Phật xuất hiện trong các Tịnh độ. Báo thân là thân do thiện nghiệp và sự giác ngộ của các Bồ Tát mà hoá hiện cho thấy—cũng vì vậy mà có lúc được gọi là Thụ dụng thân, là thân hưởng thụ được qua những thiện nghiệp đã tạo. Báo thân thường mang Ba mươi hai tướng tốt (sa. dvātriṃśadvara-lakṣaṇa) và tám mươi vẻ đẹp của một vị Phật và chỉ Bồ Tát mới thấy được trong giai đoạn cuối cùng của Thập địa (sa. daśabhūmi). Người ta hay trình bày Báo thân Phật lúc ngồi thiền định và lúc giảng pháp Đại thừa. Các trường phái thuộc Tịnh độ tông cũng tin rằng Báo thân Phật thường xuất hiện trong các Tịnh độ. Ứng thân (zh. 應身, sa. nirmāṇakāya), cũng được gọi là Ứng hoá thân hoặc Hoá thân, là thân Phật và Bồ Tát hiện diện trên Trái Đất. Ứng thân do Báo thân chiếu hiện, dựa trên lòng từ bi và có mục đích giáo hoá chúng sinh. Như thân người, Ứng thân chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật, nhưng Ứng thân có thần thông như thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông. Sau khi chết, Ứng thân tự tiêu diệt. Ba thân Phật nói ở trên có lẽ đầu tiên được Vô Trước (sa. asaṅga) trình bày rõ nhất, xuất phát từ quan điểm của Đại chúng bộ (sa. mahāsāṅghika) và về sau được Đại thừa tiếp nhận. Đáng chú ý nhất là quan điểm Pháp thân nhấn mạnh đến thể tính tuyệt đối của một vị Phật và không chú trọng lắm đến Ứng thân của vị Phật lịch sử. Như thế, Phật là thể tính thanh tịnh của toàn vũ trụ, thường hằng, toàn tri. Các vị Phật xuất hiện trên Trái Đất chính là hiện thân của Pháp thân, vì lòng từ bi mà đến với con người, vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Thực ra những giải thích trên chưa tận cùng ý nghĩa: - Pháp thân là "bản thể vũ trụ" cho nên vạn vật đều "như nhau" nhưng tại sao lại diễn giải liên quan đến Phật tính? Bởi bản thể có đặc tính bao trùm mà khi chúng ta đang sống dựa trên nó để giải thoát. - Báo thân: tức sự tồn tại của chúng ta, tức được sinh ra trên cõi đời. - Hóa thân hay Ứng thân: Khi được sinh ra cõi đời, nếu đắc đạo hay không sau khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại, nó vẫn chính là chúng ta mà thôi nhưng có một cơ thể vô hình được gọi là "cơ thể tinh tú", "chúng ta vô hình" này gọi là Hóa thân tức đã biến hóa. Cho nên khi một vị Bồ Tát, Phật (cơ thể vật lý đã qua đời) hiện ra do thần thông thì tất nhiên, đây là Hóa thân. Còn khi đang sống có thần thông dù có biến hóa thế nào thì đây vẫn còn gọi là Báo thân mặc dù, chẳng hạn nếu tách linh hồn ra khỏi cơ thể (cơ thể lúc này lạnh như đồng) thì chính là Hóa thân tại thời điểm đó bởi chúng ta vẫn phải lấy mốc quán chiếu tại một thời điểm là thân xác vật lý (cơ thể vật lý còn tồn tại tức còn nhận thêm mọi thứ khác nữa dù chỉ là một sát na, điều này chỉ ra ta sau này sẽ khác ta trước đó, do vậy vẫn gọi là Báo thân). Ví dụ, chúng ta gặp và nói chuyện với linh hồn của một người đang sống có thần thông trong khi đó thân xác họ cách xa hàng trăm km, thì chúng ta đang nói chuyện với "Hóa thân tại thời điểm đó". Khi một người nào đó sinh ra, nhận được "nhân" từ vị Phật nào đó nhiều nhất để có "quả" - vạn vật trong vũ trụ đều có liên quan đến nhau, chẳng hạn Phật Sống Tây Tạng thì gọi là Ứng Thân, tuy nhiên bản chất họ vẫn không phải là vị Phật đó, họ vẫn chính là họ mà thôi, không khác. Liên quan đến thần thông thì vô vàn công năng, chẳng hạn Hóa thân một vị Phật dùng thần thông "truyền" kiến thức cho một người đang sống, tất nhiên người này phải ở trong một tình trạng tương ứng nào đó để có thể tích hợp được. Ví dụ, những bậc thầy Tây Tạng có thể dùng một pháp môn là đưa một chiếc búa vào đá núi và nó sẽ nằm trong đó, đấy chính là "quá búa thần thánh". Bà Blavaxkaia đã vật chất hóa một chiếc nhẫn kim cương thứ hai (màu nhạt hơn một chút) từ một bản gốc trước đó, sau đó bà đã tặng lại nó cho một người bạn, trong lúc dùng "thần lực" để vật chất hóa chiếc nhẫn kim cương, cơ thể của bà bỗng trở nên lạnh như đồng. Vậy thì, để hiểu được Tam Thân thì phải hiểu sự tồn tại linh hồn, để chứng minh sự tồn tại của linh hồn thì phải kết hợp được Tam Giáo (trong đó Phật giáo làm gốc rễ) và học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Một trong những giới hạn của triết học hay cũng chính là những luận cứ của các "ông tổ triết học Tây phương" là "sự vô cùng vô tận" của vũ trụ, họ hầu như không thể khẳng định được điều này từ một học thuyết nào đó hay từ sự phân tích một cách có hệ thống nào, cho dù đã có vô số "Thánh" được "người" phong từ những công xưởng sản xuất hoặc tự phong với một số "lời nói" nào đó khiến cho con người suy diễn chí chết: đây là loài động vật lưỡng thê hay truyện ngụ ngôn "Cái Lưỡi" của Ê Dốp. Khi mà chúng ta nhận biết được sự vô cùng của vũ trụ thì không có cái gì dưới bất kỳ khái niệm nào "nằm ngoài nó cả", cho nên nhiều "bậc thầy thần học" vẫn còn lẩn thà lẩn thẩn gần 2.000 năm nay với khái niệm "vũ trụ sinh ra do lời phán" hay do "một vị Thượng Đế nào đó" tạo ra. Nhà bác học Albert Einstein Liên quan đến cái mớ lẩn thẩn đó tôi lại chợt nhớ đến một bài hát trong bộ đĩa Da Vàng của nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn, trong đó có đoạn: Người nô lệ da vàng, ngủ quên, ngủ quên trong căn nhà nhỏ, đèn thắp thì mờ, Ngủ quên không thấy quê hương, ngửa tay xin áo, xin cơm. Bao giờ đập tan "gông cùm, xiềng xích vô hình" trói buộc dân ta, Bao giờ đập tan "gông cùm, xiềng xích vô hình" trói buộc tự do. Chính do sự vô cùng vô tận của vũ trụ mà chúng ta không thể truy bắt được biên giới không gian của nó, đồng thời cũng không thể xác định được mốc thời gian của điểm đầu và cuối của sự bắt đầu Bigbang và sau khi phân rã vũ trụ như hiện nay, đây cũng lại là hai giới hạn thực tại nữa của một Bậc Giác Ngộ. Biểu tượng của Thái Cực (Vô cực) Hệ Từ hạ truyện trong "Chu Dịch" chép: “Ngày xưa họ Bào Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên thì xem hình tượng ở trên trời, cúi xuống thì nhìn các phép tắc ở dưới đất, quan sát văn vẻ của các loài chim muông cùng những thích nghi với trời đất, gần thì lấy ở thân mình xa thì lấy ở sự vật, rồi làm ra Bát quái để thông suốt cái đức thần minh và điều hòa cái tình của vạn vật.”. -
Giới Hạn Của Học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành Về Mặt Triết Học
hoangnt replied to hoangnt's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Như đã viết, chúng ta không thể thấy hay tiếp cận dưới mọi hình thức đối với bản thể vũ trụ, Lân Vi Trần. Mặt khác, khi vũ trụ tan rã tại một thời điểm nào đó cũng sẽ trở về trạng thái nguyên thủy, tất cả dữ liệu của một thời kỳ vận động trở về "0", do vậy chúng ta cũng không thể biết hay cả những bậc thầy cũng không thể biết được đã có bao nhiêu chu kỳ này. Đây chính là những giới hạn thực tại của các Bậc giác ngộ, tuy nhiên cũng không ảnh hưởng đến học thuyết và pháp môn giải thoát. Thiên thượng thiên hạ, Duy ngã độc tôn. Khi nhận định về sự sống thứ hai trong vũ trụ, cũng như như tác giả bài viết trên, những nhận định của chúng ta đã bị rơi vào một ma trận "vô cùng" mà chưa thấy lối ra, trong toán học đó là bài toán giới hạn "Lim->", vậy thì phương pháp nào chứng minh có hoặc không có người ngoài hành tinh phù hợp theo các tiêu chí khoa học!. Chu kỳ vận động của vũ trụ tới thời điểm nào đó sẽ bắt đầu giai đoạn tan rã từ từ, điều này hàm nghĩa có điểm tới hạn về sự vận động hoặc có sự tới hạn về sự cô đặc của các hành tinh... nó cùng đồng nghĩa với sự tới hạn của độ phức tạp hình thành nên vạn vật trong vũ trụ (do vạn vật đều liên kết tới nhau - tương tác). Một lỗ đen trong vũ trụ nuốt tất tật cả "cây xanh cổ thụ ở thủ đô", nó phi khái niệm, Hi Như vậy, sự vật hiện tượng nào được phân tích và nhận định như là phức tạp nhất trong vũ trụ để từ đó, động năng của vũ trụ cũng sẽ đạt điểm cực đại. Ngay sau khi đặt điểm tới hạn này, quá trình tương tác sau đó trong giai đoạn phân rã từ từ của vũ trụ có điều kiện để hình thành nên "sự vật hiện tượng phức tạp hơn" cái cực đại trước đó hay không? Sau khi trở về nguyên thủy, vũ trụ vận động trở lại, tiếp tục một chu kỳ mới và tất nhiên cũng phải đạt tới trạng thái tới hạn trên như đã mô tả, vậy "một trái đất mới" là khó xuất hiện? Vậy, điểm theo chốt bước đầu là "cái gì phức tạp nhất" trong vũ trụ này?