Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhận thấy các nhân vật quan trọng trong tiến trình lịch sử Trung Hoa đều có liên hệ đến Văn Lang, hầu như đã ăn khớp về mặt thời gian 5.000 năm lịch sử. Đồng thời, đối chiếu tới các vùng văn hóa với cổ vật đã được khai quật cho tới nay ở Nam Dương Tử và trong mối quan hệ với Bắc Dương Tử không thể không nói đến nền văn hóa Lương Chử, theo các nhà nghiên cứu nó thuộc về văn hóa đá mới ở thời kỳ cuối, tuy nhiên đây là những cổ vật ngọc hay đá bán quý dùng trong lễ nghi, tế tự. Do vậy, chúng phải được phân tích ý nghĩa ở cấp độ chi tiết và chuyên môn trong dòng chảy lịch sử chứ chưa chắc là thuộc văn hóa Đá Mới. Ví dụ, về mặt thời gian văn hóa Lương Chử từ 3200-2200 trước Dương lịch, như vậy thời kỳ các vua Hùng đầu tiên cũng thuộc khoảng thời gian này, vậy mối quan hệ ra sao? Mặt khác, vùng văn hóa Lương Chử thuộc tỉnh Chiết Giang, đây là nơi đất gốc của vua Đại Vũ nhà Hạ và khoảng thời gian 3200-2200 TDL cũng nằm trong gian đoạn trị vì của ông, vấn đề này có môi liên hệ như thế nào? Cổ vật đặc trưng của Lương Chử là ống tông, đĩa bích và rìu Việt đều xuất hiện ở Bắc Dương Tử, vậy thì sự giao thoa văn hóa từ trung tâm Lương Chử phát ra hay từ Bắc Dương Tử tràn xuống? Chú ý, trong văn tự Lương Chử đã có biểu tượng cái "rìu" Yue tức Việt. Tham khảo cuốn Nguồn gốc người Việt người Mường và các nguồn dữ liệu khác. Tôi trích dưới đây bài viết của nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy và sẽ phân tích chi tiết cổ vật Lương Chử sau. DI CHỈ VĂN HÓA LƯƠNG CHỬ LÀ KINH ĐÔ NƯỚC XÍCH QUỶ? Hà Văn Thùy Trong tất cả những nền văn hóa tiền sử được phát hiện trên đất Trung Hoa, văn hóa Lương Chử có vai trò đặc biệt quan trọng. Là nền văn hóa có diện tích bao phủ lớn nhất, với lượng hiện vật lớn và tiến bộ nhất, với ký tự vào loại sớm nhất được phát hiện và đặc biệt là tòa thành lớn, được xây dựng vững chắc nhất… Lương Chử là di tích của kinh đô nhà nước cổ đại đầu tiên ở phương Đông. Do vậy, đó là nền văn hóa góp phần quyết định soi sáng lịch sử phương Đông. Trong bài này, cùng với việc giới thiệu những nét tiêu biểu của văn hóa Lương Chử, người viết lần đầu tiên đưa ra nhận định về vai trò của nó trong lịch sử. I. Giới thiệu văn hóa Lương Chử (1) Văn hóa Liangzhuđược phát hiện năm 1936 tại trấn Lương Chử, huyện Dư, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, là nền văn hóa khảo cổ Hậu kỳ Đá Mới, tồn tại từ 3300 tới 2200 năm TCN, do văn hóa Mã Gia Bang và văn hóa Tung Trạch phát triển lên. Văn hóa Liangzhu phân bố chủ yếu ở Thái Hồ, thuộc lưu vực sông Dương Tử, nơi người Việt cổ định cư, bao gồm Dư Hàng Liangzhu, Nam Gia Hưng, Đông Thượng Hải, Tô Châu, Thường Châu, Nam Kinh. Di chỉ còn được mở rộng ra phía tây đến An Huy, Giang Tây, phía bắc tới bắc Giang Tô, lan tỏa tới gần Sơn Đông. Văn hóa Lương Chử còn ảnh hưởng tới phía nam Sơn Tây. Vào thời điểm đó, sức mạnh của Liangzhu chiếm một nửa Hoa lục, nếu trình độ kinh tế và văn hóa không cao, thì không thể thực hiện được. Văn hóa ngọc Lương Chử đại diện cho làn sóng thứ hai của nền văn hóa ngọc bích thời tiền sử phương Đông (làn sóng đầu tiên là văn hóa ngọc Hồng Sơn, lưu vực sông Lao Hà, vùng Nội Mông). Ngọc bích có tông, việt, hoàng (ngọc bán nguyệt), ngọc hình vương miện, ngọc hình đinh ba, vòng tay, ngọc hình ống, Amanda, mặt dây chuyền, ngọc hình trụ, hình nón, nhẫn ngọc. Ngọc thờ cúng (tông, bi, rìu) được đề cao, sau này được các vương triều Trung Nguyên thừa kế. Công cụ bằng đá khai quật ở Liangzhu có đá hình lưỡi liềm, đầu mũi tên, dáo, rìu đục lỗ, dao đục lỗ, đặc biệt là cày đá và dụng cụ nhổ cỏ được sử dụng, cho thấy nông nghiệp bước vào giai đoạn dùng cày. Đồ gốm đánh bóng màu đen là đặc điểm của gốm Lương Chử.Trên gốm và ngọc bích xuất hiện một số lượng lớn các ký tự đơn hoặc nhóm mang chức năng văn bản, các học giả gọi là "văn bản gốc." “Văn bản gốc” cho thấy giai đoạn bắt đầu trưởng thành của ký tự tượng hình. Ký tự là dấu hiệu quan trọng của xã hội văn minh (2). Di tích thành phố cổ Liangzhu có thể được gọi là "thành phố phương Đông đầu tiên", là cái nôi của nền văn minh Trung Hoa, "bình minh của nền văn minh" phương Đông, là thánh địa của văn minh phương Đông, được xếp vào "Danh sách Di sản thế giới". Thành phố cổ ở phía bắc và phía nam thuộc về một nhánh của dẫy Thiên Mục Sơn. Các bức tường thành được dựng ở phía tây nam và đông bắc, vì vậy các chuyên gia kết luận rằng người xưa xây dựng thành phố về mặt địa lý một cách cẩn thận và có quy hoạch. Thành phố cổ có bức thành theo hướng đông tây dài 1.500-1.700 m, chiều Bắc-Nam khoảng 1.800-1.900 mét, hình chữ nhật hơi tròn. Một số phần của bức thành còn lại cao 4 mét, mặt cắt 40 mét bề mặt, đáy 60 mét (so sánh với bức tường thành phố cổ Tây An được xây dựng trong những năm Hồng Vũ nhà Minh, chân thành 18 mét mặt rộng 15 m) bằng đất hoàng thổ nguyên chất, đưa từ nơi khác tới, được đầm nén kỹ. Thành phía tây dài khoảng 1000 m, có mặt cắt từ 40 đến 60 mét, phía nam liền với Phượng Sơn, bắc tiếp Đông Thiều Hoát. Tiếp theo, bức tường phía nam, bức tường phía bắc và bức tường phía đông, ở dưới đáy đều có móng bằng đá, cùng khối lượng lớn hoàng thổ được đầm nén. So với bức tường phía tây, ba mặt kia của bức tường tương đối phức tạp hơn: rất nhiều nền đá được khai quật, những bức tường đá bên ngoài tương đối lớn, bên trong nhỏ hơn. Thành đắp bằng hoàng thổ, đôi khi thêm một lớp đất sét màu đen, tăng khả năng chống thấm. Các nhà khảo cổ cho rằng những dấu vết còn lại chứng tỏ bức thành phía tây được xây dựng đầu tiên, cho đến khi có kinh nghiệm xây dựng ba bức thành kia. Từ vị trí, sự bố trí và đặc điểm cấu trúc của thành cổ Liangzhu được phát hiện, các chuyên gia tin rằng có những cung điện, nhà vua và giới quý tộc sống, chính là kinh đô của thời kỳ Liangzhu. Các nhà khảo cổ tin rằng thành phố cổ đó thực sự là "nhà nước Liangzhu cổ đại." Việc phát hiện thành phố cổ Liangzhu khiến cho một số người nghĩ rằng thứ thế các triều đại của Trung Quốc nên được viết lại: hiện nay các triều đại Hạ, Thương, Chu được coi là sớm nhất, nhưng vai trò này cần được trả cho Liangzhu! Năm 1986 -1987, di chỉ Phản Sơn Liangzhu được phát hiện. 11 ngôi mộ lớn được khai quật, thu hơn 1200 miếng gốm, đá, ngà voi và ngọc khảm sơn mài. Trong những năm gần đây, di chỉ văn hóa Liangzhu được tìm thấy tăng từ 40 lên đến 135 địa điểm, với những làng, nghĩa trang, bàn thờ và các di tích khác. Một số lượng lớn vật tùy táng được khai quật từ các ngôi mộ, chiếm hơn 90% là ngọc bích, một biểu tượng của sự giàu có và quyền thế. Ngọc rìu là một biểu tượng của sức mạnh quân sự và cung cấp thông tin có giá trị. Đây là bộ sưu tập ngọc lớn nhất thế giới được tái xác định, đặt tên, vì vậy đã đính chính sự nhầm lẫn lúc đầu cho là thuộc thời Hán Vũ đế (thực sự là ngọc Liangzhu) đẩy lịch sử về phía trước 2000 năm. Năm 1994 cũng tìm thấy các cơ sở xây dựng siêu khổng lồ, có diện tích hơn 300.000 m2, xác nhận sự bồi đắp nhân tạo của hoàng thổ, dày tới 10,2 mét, kỹ thuật và quy mô rộng lớn của nó vào loại hiếm trên thế giới. Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy giai đoạn văn hóa Liangzhu, nông nghiệp đã bắt đầu tiến vào thời kỳ cày đất, thủ công mỹ nghệ trở nên chuyên nghiệp hơn, công nghiệp chế tác ngọc đặc biệt phát triển. Việc xuất hiện lượng lớn ngọc bích thờ cúng đã mở ra khúc dạo đầu nghi thức xã hội, sự phân biệt giữa lăng mộ lớn của quý tộc và mộ dân thường cho thấy sự gia tăng của phân tầng xã hội. Ý nghĩa của sự phân biệt giàu nghèo cho thấy là thông qua một số loại quyền lực xã hội đè lên xã hội gia tộc mà hình thành. Công trình xây dựng số lượng lớn các ngôi mộ lớn đòi hỏi một mức độ nhất định trật tự xã hội được đảm bảo, nếu không khó có thể thực hiện. Việc xây dựng một xã hội có sự khác biệt tầng lớp tạo ra được liên kết chặt chẽ. Có thể nói, trong giai đoạn văn hóa Liangzhu, gia tộc và bộ tộc đã nổi lên với các nhà lãnh đạo chính quyền tập trung, một số lượng lớn sức lao động được tổ chức, hình thành một cấu trúc xã hội quy mô lớn. Sự tồn tại của quyền lực xã hội cũng được phản ánh đầy đủ trong sản xuất ngọc bích. Chế tác ngọc là một quá trình lao động nhiều bước phức tạp, do đó, ngọc bích là một sản phẩm thủ công mỹ nghệ chuyên nghiệp. Các đồ trang trí thủ công đẹp nhất, cho biết mỗi miếng ngọc bích thể hiện rất nhiều thành quả lao động, với trình độ cao. Điều này chứng tỏ sự phân công giữa lao động trí óc và chân tay đã hình thành. Trong văn hóa ngọc Liangzhu có một mô hình rất bí ẩn liên tục xuất hiện, một motipe đặc biệt khốc liệt của chiến trận, không thể không gợi nhớ tới chiến binh Si Vưu. Si Vưu là lịch sử cổ xưa của Đông Nam man huyền thoại, chiến đấu và chiến thắng lặp đi lặp lại, tôn kính như vị thần chiến tranh. Văn hóa rìu đá Liangzhu phát triển cao, cho thấy rằng người Liangzhu có vũ khí tinh nhuệ và dũng mãnh trong chiến trận. Sau khi Si Vưu bị vương triều Hoàng Đế đánh bại, văn hóa Liangzhu bước vào thời kỳ suy thoái. Truyền thuyết nói một vài bộ lạc liên minh với Si Vưu gồm nhóm Đông Di, Sơn Đông và các bộ lạc sống trong lưu vực sông Dương Tử. Tù trưởng bộ tộc Si Vưu có một liên minh bộ lạc lớn được gọi là Cửu Lê, phạm vi của nó bao gồm tất cả các nền văn hóa Liangzhu bản địa, người Lê Liangzhu mạnh mẽ nên đứng đầu Cửu Lê. Trong Cửu Lê có một chi gọi là Vũ nhân hoặc Vũ dân. Họ suy tôn chim, thú, làm tổ tiên, và do đức tin đó, thờ phượng chim, thú. Theo mô hình bí ẩn trên nền văn hóa ngọc bích Liangzhu, con chim con thú, là vật tổ của người Liangzhu. Vì vậy, rất có thể người Liangzhu là Vũ nhân hoặc Vũ dân.alt Trong các di chỉ lớn của nền văn minh tiền sử phương Đông, thì Liangzhu lớn nhất, mức phát triển cao nhất. Các nhà khảo cổ ngày 29 Tháng 11 năm 2007 tại Hàng Châu, thông báo rằng 5000 năm trước, thành phố cổ diện tích hơn 2.900.000 m2 đã được tìm thấy trong vùng lõi của di tích Liangzhu. Giáo sư Đại học Bắc Kinh Nghiêm Văn Minh và các nhà khảo cổ khác chỉ ra rằng đây là các di chỉ thành phố giai đoạn văn hóa Liangzhu lần đầu tiên được phát hiện ở khu vực sông Dương Tử, có thể được gọi là "thành phố phương Đông đầu tiên." Thành phố cổ Liangzhu cho thấy nền văn hóa Liangzhu 5.000 năm trước đã bước vào một giai đoạn phát triển trưởng thành của nền văn minh thời tiền sử. Nằm trong lãnh thổ Dư huyện, "nhóm di chỉ Liangzhu" là trung tâm văn hóa Liangzhu. Ban Di sản Quốc gia cho biết: nhóm di sản Liangzhu sẽ trở thành đền thờ năm ngàn năm của nền văn minh Trung Quốc. II. Khảo cổ soi sáng lịch sử Từ những tri thức hiện có cho phép đưa ra nhận định sau: Cho tới 5000 năm trước, trên lục địa Đông Á, người Việt cổ đã xây dựng nền nông nghiệp phát triển. Do cày được đưa vào trồng trọt nên năng suất lao động tăng, lương thực dư thừa, kích thích hoạt động thủ công và thương mại. Một mạng lưới buôn bán ngọc bằng đường biển hình thành, đưa ngọc được khai thác từ các mỏ ở Đài Loan tới các quốc gia quanh Biển Đông. Do phải chung tay trị thủy hai dòng sông Hoàng Hà và Dương Tử nên các bộ tộc nông nghiệp phải liên minh với nhau và nhà nước cổ đại hình thành từ rất sớm. Thời kỳ này các tộc du mục ở bờ bắc Hoàng Hà và phía tây tăng cường cướp phá khu vực dân cư nông nghiệp trù phú. Do yêu cầu chống xâm lăng nên sự liên minh giữa các bộ lạc người Việt, cùng huyết thống, cùng tiếng nói và văn hóa trở nên chặt chẽ hơn. Có thể lúc này hai nhà nước cổ ra đời: phia tây là nhà nước Ba Thục gồm vùng đất Ba Thục phía tây Trung Quốc và Thái Lan, Miền Điện do vị vua thần Can Công lãnh đạo. Ở phần còn lại của Hoa lục, cùng với Đông Dương là nhà nước do Thần Nông trị vì. Vương quốc của Thần Nông rất rộng lớn, gồm lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo tiến trình Bắc tiến của người Việt, lưu vực sông Dương Tử điều kiện tự nhiên thuận lợi và được khai thác sớm nên có sự phát triển trước, trở thành trung tâm lớn mạnh về kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự. Do vị trí đặc biệt của nó nên vùng Lương Chử của Thái Hồ trở thành kinh đô của các vương triều Thần Nông. Khoảng năm 4879, Đế Minh, hậu duệ của Thần Nông chia đất, phong vương cho con là Đế Nghi cai quản lưu vực Hoàng Hà và Kinh Dương Vương cai quản lưu vực Dương Tử. Như trong truyền thuyết, Kinh Dương vương lập nước Xích Quỷ, địa giới phía bắc tới nam Dương Tử, phía đông là Biển Đông, phía Tây giáp Ba Thục và phía nam tới miền Trung Việt Nam. Trong thời kỳ này, các bộ lạc du mục phía bắc tăng cường cướp phá phía nam Hoàng Hà. Tình thế này buộc nhà nước của Đế Nghi và Kinh Dương Vương và sau này là Đế Lai và Lạc Long Quân tăng cường vũ trang và liên minh với nhau chống giặc. Khoảng năm 4698, liên quân của các bộ lạc Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu mở cuốc tấn công lớn vào Trác Lộc bờ nam Hoàng Hà. Liên quân Việt của Đế Lai và Lạc Long Quân chống trả ngoan cường nhưng rồi thất bại. Đế Lai tử trận. Một kịch bản tôi từng đề xuất là, sau thất bại này, Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt lên thuyền theo Hoàng Hà ra biển, đổ bộ vào Nghệ An. Tại đây ông được người địa phương đón tiếp, sau đó tôn con trưởng của ông lên làm vua, gọi là Hùng Vương, lập kinh đô ở Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang. Dựa vào địa giới trùng nhau của Văn Lang và Xích Quỷ, có thể cho rằng, đây là việc dời đô và đổi quốc hiệu của triều đình Lạc Long Quân. Tại kinh đô Việt Trì, các triều đình của Hùng Vương tiếp tục lãnh đạo dân Văn Lang-Xích Quỷ xây dựng đất nước và chi viện cuộc kháng chiến trường kỳ của người dân lưu vực Hoàng Hà. Khoảng năm 4300, do cuộc xâm lăng của vương triều Hoàng Đế, nhà nước Hùng Vương không còn quản lý được vùng đất này, kinh đô Lương Chử bị bỏ phế. Văn hóa Lương Chử suy vong… Trên đây là sự đoán định của tôi về quá trình hình thành và tan rã của nhà nước đầu tiên ở phương Đông mà kinh đô là Lương Chử. Sự đoán định dựa trên cơ sở sau: 1. Về thời điểm: văn hóa Lương Chử nảy sinh, suy đồi trùng với thời gian truyền thuyết về việc xuất hiện vua Thần Nông rồi Đế Minh chia đất, phong vương cho Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ. Tiếp đó và việc hình thành nhà nước Văn Lang. 2. Về địa giới: văn hóa Lương Chử phân bố rộng trong địa giới của nhà nước Xích Qủy huyền thoại. 3. Truyền thuyết về nhà nước Xích Quỷ rất phổ biến trong các tộc người phương Đông. Điều này cho thấy, chỉ duy nhất nhà nước Xich Quỷ từng xuất hiện nơi đây trong quá khứ. 4. Hình trong ngọc Lương Chử thường khắc " thần nhân thú diện-神人獸面" để tôn thờ mà ngày nay các nhà nghiên cứu nghĩ rằng đây là Viêm Đế hoặc Si Vưu v v... Cái mà người ta gọi là " thú diện" thì đây chính là gương mặt của con rồng, từ thời Tần, Hán cho đến ngày nay người ta vẫn vẽ gương mặt của con rồng như vậy. Đây chính là dấu ấn "con Rồng cháu tiên" như truyền thuyết của người Việt. Học giả Trung Quốc gọi dân cư Lương Chử là “Vũ nhân hay Vũ dân.” Do vũ và bàng cùng thuộc về chim nên có thể hiểu người dân thờ chim này nhận mình là Hồng Bàng, như trong truyền thuyết về họ Hồng Bàng. 5. Dân cư Lương Chử là hai chủng người Việt cổ Indonesian và Melanesian. Đó cũng chính là hai chủng người Việt từ 40.000 năm trước đi lên khai phá Trung Hoa, đã mang công cụ đá mới Hòa Bình lên, rồi sáng tạo đồ gốm đầu tiên và cây lúa đầu tiên ở di chỉ Động Người Tiên phía Nam Dương Tử. 6. Qua nhiều ký tự được khắc trên ngọc Lương Chử cho thấy, vào thời Lương Chử, chữ của người Việt đã trưởng thành. Chữ Lương Chử thô sơ hơn Giáp Cốt văn Ân Khư và có trình độ tương đương với chữ khắc trên đá Cảm Tang, cho thấy, có sự thống nhất về văn hóa rộng lớn trong quốc gia Xích Quỷ ở phía nam Dương Tử. Chữ Lương Chử, Cảm Tang là tiền bối của Giáp Cốt văn Ân Khư. 7. Trong tài liệu Về Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh, bác sĩ Trần Đại Sĩ ghi cuộc điều tra điền dã của ông như sau: “Thiên-đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang… Tại thư viện Hồ-nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Đầu đề ghi: “Thiên-đài di sự lục. Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn.” Trinh-quán là niên hiệu của vua Đường Thái-Tông, từ năm Đinh-Hợi (627) đến Đinh-Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến-sĩ năm nào ? Tuy sách do Chu Minh-Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang-Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh-Văn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh-Văn, của một sư ni tên Đàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy (1662-1772). Tài liệu Chu Minh-Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên-đài núi cũng mang tên Thiên-đài sơn. Minh-Văn còn kể thêm : « Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Dương. Đến thời Đông-Hán, một tướng của vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-sa. Khi rút tới Quế-dương ông cùng nghìn quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Đường để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại đây ».(5) Tài liệu này là chứng cứ cho thấy truyền thuyết Đế Minh tuần thú phương Nam, tới núi Thiên Đài lập đàn tế cáo trời đất xuất hiện từ xa xưa và phổ biến ở vùng Giang Nam. Đó cũng là thêm bằng chứng về việc ra đời nước Xích Quỷ. 8. Thục Thư trong Tam Quốc Chí viết rằng, Hứa Tịnh là người phía bắc, tỵ nạn xuống miền nam, sau này làm quan viết sử cho Lưu Bị, lên tới chức Tư đồ (司徒). Trước trận Xích Bích, Tào Tháo sai người do thám hậu phương của Lưu Bị và Tôn Quyền. Vì nể tình quen biết với người của Tào Tháo đã cậy nhờ nên Hứa Tịnh viết thư vắn tắt cho Tào Tháo biết rằng: Ông đã đi từ Hội Kế (Cối Kê - Hàn Châu ngày nay), qua Giao Châu, Đông Âu, Mân Việt, cả vạn dặm mà không thấy đất Hán. [许靖给曹操的信说:从会稽“南至交州,经历东瓯、闽越之国,行经万里,不见汉地” – Từ Hội Kế nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa.] Bốn chữ bất kiến Hán địa (不见汉地 ) của Hứa Tịnh chứng tỏ rằng: Phía nam, dù đã nằm trong quốc gia Hán mấy trăm năm nhưng không phải là đất Hán mà thực tế vẫn là Việt! Đến cuối thời Hán, vùng Giang Nam vẫn là đất Việt thì hàng nghìn năm trước đây đã là đất Việt. Có thể kể thêm những điều nói lên sự tương đồng giữa vương quốc Lương Chử và nhà nước Xích Quỷ nhưng theo tôi, với những chuyện xảy ra 4000 – 5000 năm trước, có được chứng cứ như vậy đã là quá đủ! III. Kết luận Dù không ít hoài nghi. Dù bị sử gia triều Nguyễn cho là “ma trâu thần rắn” hoang đường. Dù bị coi là “sản phẩm của văn hóa Tàu”… thì từ bao đời nay, Hồng Bàng thị truyện vẫn như ngọn hải đăng tỏa ánh sáng và sức nóng, vừa chỉ đường, vừa tiếp sức cho dân tộc Việt trong cuộc gian truân bơi ngược dòng lịch sử tìm lại cội nguồn. Đến nay, rất may mắn, trí tuệ nhân loại giúp ta tìm được những bằng chứng vững chắc xác định hơn 5000 năm trước, nước Xích Quỷ là một thực thể tồn tại với bề rộng mênh mông, khối dân cư đông đảo, sức mạnh kinh tế lớn lao cùng nền văn hóa rực rỡ. Không chỉ kiến trúc thành trì đồ sộ, chế tác số lượng lớn đồ ngọc tinh xảo mà chữ viết đã trưởng thành. Phát hiện ra kinh đô Lương Chử để từ đó khẳng định Xích Quỷ - Văn Lang là nhà nước có thật từng tồn tại trong quá khứ là khám phá trọng đại nhất của tộc Việt. Hy vọng rằng, từ đây người Việt sẽ nhìn lại mình để sống xứng đáng với tổ tiên. Sài Gòn 20.10. 2014 Tài liệu tham khảo: 1. 良渚文化_互动百科 - www.baike.com/wiki/良渚文化 2. Liangzhu culture - http://en.wikipedia.org/wiki/Liangzhu_culture 3. 良渚文化甲骨文 4. 良渚文化玉器 - https://www.google.com.vn/search?q=%E8%89%AF%E6%B8%9A%E6%96%87%E5%8C%96%E7%8E%89%E5%99%A8&;biw=693&bih=572&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ei=eL9FVO-rJYStmAXijoLoBQ&ved=0CCUQ7Ak 5. Trần Đại Sĩ. Về Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh. - http://www.vietnamvanhien.net/NuiNguLinh.pdf
  2. Việt, “Hán”, Man và Trống đồng Le Minh Khai Người dịch: Hà Hữu Nga Ở bài viết trước, khi nói về trống đồng không quan trọng đối với người Việt trong quá khứ, có một trường hợp trong đó trống đồng lại quan trọng, và đó là trường hợp liên quan đến một ngôi đền được gọi là Đồng Cổ Thần Từ 銅鼓神祠 trên núi Đan Nê [đúng ra là núi Đồng Cổ, còn gọi là núi Khả Lao sơn 可牢山, hay Tam Thái Sơn, làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định - HHN], còn gọi là núi Khả Lao thuộc tỉnh Thanh Hóa. Trong sách Đại Nam nhất thống chí 大南一統志 biên soạn vào thế kỷ XIX, có một đoạn nói về ngôi đền này. Đoạn đó có một chút khó hiểu vì ngoài ngôi đền trên núi Đan Nê, sau đó tại Kinh đô cũng có một đền thờ dành riêng cho vị thần này. Vì vậy, thông tin này cho thấy một vị thần được thờ ở hai địa điểm. Dưới đây tôi dịch đọan này và sau đó có một vài bình luận về đoạn đó. [17 hạ/5a] Đồng Cổ Thần từ 銅鼓神祠] trên núi Đan Nê (còn gọi là núi Khả Lao) thuộc huyện An Định. Ngày xưa, khi vua Hùng [17 hạ/5b] đi đánh quân Chiêm Thành 占城, đã từng đóng quân trên núi Khả Lao. Nửa đêm nhà vua mộng thấy thần nhân 神人 nói rằng “Thần sẽ đưa cho nhà vua một chiếc trống đồng và một dùi trống đặng giúp nhà vua chiến thắng”. Khi hai bên xung trận, tiếng trống đồng rền vang không trung, và đúng như thần nhân tiên báo, vua Hùng đã đại thắng. Sau này nhà vua phong cho thần nhân là Đồng Cổ Đại Vương 銅鼓大王. Khi còn là Thái tử, Lý Thái Tông vâng mệnh đi đánh Chiêm Thành. Nửa đêm nằm mộng thấy một người mặc áo giáp, tay cầm gươm báu tâu rằng: “Thần là thần Đồng Cổ, xin được theo đi đánh giặc lập công”. Sau khi dẹp yên Chiêm Thành, Lý Thái Tông đã cho dựng đền thờ cúng tế. Sau khi kế vị ngai vàng, nhà vua mộng thấy thần Đồng Cổ đem đến một bài thơ báo về việc ba vị vương công âm mưa làm phản. Hóa ra điều đó đã trở thành sự thật. Sau đó nhà vua gia phong cho thần là Thiên Hạ Minh Chủ 天下盟主, Thượng đẳng thần. Hàng năm đều cho lập đàn treo cờ tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội". Đầu đời Lê Trung Hưng, quân Mạc vào xâm lấn các huyện Vĩnh Ninh (nay là Vĩnh Lộc) và Yên Định, nhà Lê đóng châu sư ở thượng lưu sông Mã. Nửa đêm nghe thấy ba tiếng trống nổi lên cách xa đến vài trăm dặm. Viên tướng nhà Lê cử người đi do thám mới hay rằng đó là tiếng trống đồng từ núi Khả Lao. Sáng hôm sau quan quân đuổi đánh quân Mạc, gặp được gió mạnh nước cường, châu sư thuận gió giương buồn, khí thế hăng hái gấp bội, quân Mạc phải thua. Đời Lê Hoằng Định, trong sắc phong cho thần có câu: [17 hạ/6a] “Giang thượng phong trào, đại trợ tam quân chí thắng”, nghĩa là: gió nước trên sông giúp sức lớn để tam quân thắng trận. Đời Cảnh Hưng thường có tàn vàng xuất hiện ở quán Triều Thiên 朝天館, ba ngày mới tan, quan địa phương bèn đến nơi tế lễ; lại một hôm, trời sắp tối trong miếu có mây mù bao bọc, tiếp đến gió lớn mưa to, người địa phương đứng xa trông thấy một con rồng đen từ trên không hiện xuống ngôi đền [thờ thần Đồng Cổ]. Đến sáng ra xem thì thấy dấu vảy rồng và móng rồng vẫn còn in ở mặt sân đền. Trải các đời Lý, Trần, Lê, hàng năm cứ đến mùa xuân, nhằm ngày xuất quân, tướng sĩ phải đến miếu hội thề, mong quỷ thần soi xét. Quan Thái phó triều Lê là Nguyễn Văn Khải nhân đó có làm một bài thơ. [Tôi [Le Minh Khai] chưa thấy bản dịch tiếng Việt nào của bài thơ này. Vì dịch thơ mất nhiều thời gian, nên tôi [Le Minh Khai] chỉ dịch hai dòng liên quan đến vấn đề được đề cập: [壇上翻瓢消旱魃 - Đàn thượng phiên biều tiêu hạn bạt: The overturned ladle on the alter eradicates the drought demon - Cái môi úp trên bàn thờ diệt trừ quỷ hạn hán, 空中敲鼓走狂蠻 - Không trung xao cổ tẩu cuồng man The sounding of the drum drives away the mad savages - Âm thanh của tiếng trống đuổi cổ những kẻ man rợ], [Còn tôi, Hà Hữu Nga thì cố liều chết dịch ý hết cả bài] như sau: 台峰拱炤水灣環 毓秀鐘靈在此閒 壇上翻瓢消旱魃 空中敲鼓走狂蠻 龜碑石篆經霜綠 鳳札金章炤日丹 今古迭更棋幾局 凛然正氣舊江山 Đài phong củng chiếu thủy loan hoàn Dục tú chung tinh tại thử gian Đàn thượng phiên biều tiêu hạn bạt Không trung xao cổ tẩu cuồng man Qui bi thạch triện kinh sương lục Phượng trát kim chương chiếu nhật đan Kim cổ điệt canh kỳ kỷ cục Lẫm nhiên chính khí cựu giang sơn. Thái sơn quần tụ soi đầm ngọc Anh linh chung đúc đất thiêng này Gáo trời gội sạch ngày nắng hạn Trống rung tan tác lũ cuồng man Kinh đá bia rùa sương khói biếc Chương vàng thẻ phượng rạng chiếu ban Kim cổ cuộc cờ luôn đắp đổi Lẫy lừng chính khí cựu giang san Trong đền có một trống đồng nặng khoảng 100 斤 cân; đường kính khoảng một xích và năm thốn, và cao hơn hai xích. Bên trong rỗng, và không có đáy. Rìa cạnh bị hư hại nhẹ. Trên mặt trống có chín vòng tròn đồng tâm. Eo trống được thắt [hay bọc bằng một thứ gì đó?] vì vậy bụng trống được che kín. Trên bốn cạnh được cột bằng dây thừng. Có hình chữ vạn [vạn tự 卍 字] viết bằng loại chữ khoa đẩu - hình con nòng nọc. Qua thời gian nó bị mòn đi và bây giờ không thể đọc được. Người ta nói rằng loại chữ này đã được làm ra trong thời đại của các vị vua Hùng. Vào cuối thời Lê, cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn đã xâm phạm nơi đây và lấy mất [trống] đem về Phú Xuân. Sau đó, một người dân huyện Hậu Lộc [17 hạ/6b] đã tìm thấy một chiếc trống khác trên bờ sông, trình nộp lên quan trấn rồi đem về để trong đền. Đến nay vẫn còn. Đoạn văn trên bắt đầu bằng chuyện kể về một vị vua Hùng đi đánh quân Chiêm Thành. Trong khi tôi nghĩ rằng rõ ràng không có vị vua Hùng nào, thậm chí nếu chúng ta tin là đã có, thì đoạn này vẫn còn có vấn đề vì không hề có bất cứ ghi chép nào trong biên niên sử về điều này, và trong thời gian đó (thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên) Chiêm Thành vẫn chưa tồn tại. Sẽ không có vấn đề gì với ý tưởng chung cho rằng một vị vua đã mơ thấy một vị thần hiện về trợ giúp cho mình. Đây là một “ngụ ý” hoặc “chủ đề” mà chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều tích truyện khác từ quá khứ do các tầng lớp có học ở tất cả các vùng thuộc "thế giới Hoa hóa" tạo ra, kể từ đồng bằng sông Hồng đến bán đảo Triều Tiên. Một lần nữa, chúng ta lại thấy nó ở đây liên quan đến Lý Thái Tông. Vị thần này đã giúp nhà vua những gì? Hỗ trợ trong việc tấn công những kẻ khác với người Việt. Ở đây tôi thấy rất thú vị là vị trí đền thờ nằm ở Núi Đan Nê [thật ra là làng Đan Nê - HHN], hay núi Khả Lao. “Đan Nê” và “Khả Lao” không phải là tên Việt, và điều này cho thấy rằng những người, ít nhất ban đầu, sống ở đó là khác với người Việt. Trong khi đó, như tôi đã đề cập trong bài viết dưới đây, những người Việt có học trong quá khứ đều liên hệ trống đồng với những kẻ khác với họ. Vì vậy, những người sử dụng trống đồng là nhóm khác với người Việt, và người Việt tạo dựng một ngôi đền trên núi Đan Nê / Khả Lao (một nơi chí ít về nguồn gốc, cũng là quê hương của những người khác với người Việt) đã được dành riêng để thờ vị thần Đồng Cổ. Sau đó vị thần ấy đã giúp người Việt chiến đấu chống lại những người khác với họ - “Trống rung tan tác lũ cuồng man”. Đối với tôi, điều này có vẻ là người Việt đã nắm lấy một thứ đầy sức mạnh (tức là, trống đồng) từ những “nguời man” và sau đó cố gắng sử dụng nguồn sức mạnh kết hợp với vật đó để giúp họ đánh bại “người man”. Trong thế kỷ thứ nhất SCN, viên tướng “người Hán” Mã Viện được sử chép là đã cướp toàn bộ trống đồng khu vực này nung chảy đúc thành ngựa đồng. Hành động này có thể đã được thực hiện, một phần nhằm triệt bỏ sức mạnh từ các tầng lớp tinh hoa cầm quyền trong vùng mà Mã Viện coi là “man di”. Khoảng 1.000 năm sau, chúng ta lại thấy người Việt làm điều tương tự. Vậy thì, mối quan hệ giữa người man với trống đồng mà Mã Viện tấn công và những người man với đồng trống 1.000 năm sau mà người Việt tấn công là gì vậy? Và người Việt là ai tại thời điểm đó (khoảng 1100 SCN)? Tại sao họ lại quá giống với một tên tướng người “Hán” như Mã Viện, mà lại không hề giống với những người mà Mã Viện đã đánh bại? Tại sao họ lại coi những người có trống đồng là lũ “cuồng man”? _____________________________________________ Nguồn: Le Minh Khai, Vịêt, “Chinese,” Savages and Bronze Drums, bài viết được công bố trên trang mạng https://leminhkhai.wordpress.com/2013/09/15/viet-chinese-savages-and-bronze-drums/ Được đăng bởi Kattigara Echo vào lúc 09:02 Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest 4 nhận xét: David Huynh22:06 Ngày 11 tháng 07 năm 2015 Xung quanh về đền Trống Đồng ở Thanh Hóa (1) 1/ Các bản chuyển ngữ Bài viết của ông Le Minh Khai liên quan đến đề mục Từ Miếu 祠廟 thuộc tỉnh Thanh Hóa, tức quyển thứ VI trong bộ Đại Nam Nhất thống chí. Đến nay có ít nhất hai bản dịch Việt ngữ về sách Đại Nam Nhất Thống chí (từ đoạn này sẽ viết tắt là ĐNNTC): a/ Bản dịch của Nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế) liên kết với Viện Sử học, phát hành năm 1992, gồm 5 quyển. Bản dịch này nêu tên người phiên dịch là Phạm Trọng Điềm và người hiệu đính là Đào Duy Anh; căn cứ trên bản Hán văn chép tay có ký hiệu HV. 140 và A. 69. Bản dịch này tái bản lần thứ hai vào năm 2006. Trong phần ‘Lời nói đầu’, những người phụ trách biên tập thông báo là đã “bỏ bớt một số thơ văn không có nghĩa lý gì về mặt địa lý”; nhưng ở đây, không thấy các vị ấy đưa ra các tiêu chí nào khi làm công việc loại bỏ này. Dựa vào ngữ cảnh toàn bài ‘Lời nói đầu’, tôi hiểu những người thực hiện việc cắt-xén-không-ghi-chú này không phải là các ông Phạm Trọng Điềm và Đào Duy Anh. Như vậy là làm việc thiếu chuyên nghiệp, ắt gây nhiều nhầm lẫn cho người đọc. Trong bản dịch của Nxb Thuận Hóa (ĐNNTC 1992: 288–289), tôi không thấy chép bài thơ của ông Thái phó Nguyễn Văn Khải thuộc triều Lê. b/ Bản dịch của Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục (Sài Gòn), phụ trách phiên dịch tập Thượng và Hạ của địa bàn Nam Kỳ Lục Tỉnh là ông Nguyễn Tạo, phụ trách nhuận chính gồm ông Trần Tuấn Khải và nhiều người khác, xuất bản năm 1959. Phụ trách phiên dịch Tập Thượng và Hạ của địa bàn Thanh Hóa là ông Trần Tuấn Khải, xuất bản năm 1960. Bản dịch này không thấy các dịch giả nêu ra bản Hán văn gốc. Trong bản dịch của Nha Văn hóa (ĐNNTC 1960: 107–108), tôi thấy có chép bài thơ của ông Thái phó Nguyễn Văn Khải, kèm bản dịch thơ sang Việt ngữ của ông Trần Tuấn Nam. Tôi chép lại ở đây như một bằng chứng sống động về những nỗ lực đáng kính của các bậc tiền bối đối với nền sử học Việt (và không có ý so sánh với bản chuyển ngữ xuất sắc của ông Hà Hữu Nga): Non Đài quay lại, nước bao vây, Chung đúc anh linh ở chốn này. Bầu giốc đàn trên mưa dưới khắp, Trống khua tầng thẳm giặc tan bay. Bia rùa truyện đá ngàn sương phủ, Trát phượng niêm vàng ánh nắng gay. Câm cổ cuộc cờ bao xóa đổi, Vẫn lừng chính khí nước non đây. Ngoài một vài chữ khác như tinh (靈), triện (篆), sương (霜)… so với bản dịch của Le Minh Khai, trong bản dịch của ông Trần Tuấn Khải có một chi tiết thú vị như sau. Câu thứ 7 của bài thơ Kim cổ điệt canh kỳ kỷ cục 今古迭更棋幾局, trong phần phiên âm lẫn phần tạm dịch Việt văn, ông Trần Tuấn Khải đều dùng chữ “câm” chứ không phải là “kim”; trong khi ở nguyên bản chữ Hán vẫn viết là 今. Có lẽ dịch giả chọn âm này cho đúng với cách đọc biên soạn sách của các sử quan có liên quan đến lệ kỵ húy của triều đình nhà Nguyễn chăng, bởi tên người sáng lập nhà Nguyễn là ông Nguyễn Kim chăng? Xung quanh về đền Trống Đồng ở Thanh Hóa (2) 2/ Các địa danh 2.1/ Địa danh “Khả Lao”(可牢) Trong ĐNNTC chỉ nói thoáng qua tên núi Khả Lao, và chuyên chú vào địa danh Đồng Cổ (銅 皷) để chỉ núi này, với giải thích do “đền thờ nơi đây có cái trống bằng đồng nên lấy tên Trống Đồng đặt cho tên núi.” Từ lời giải thích này khiến nảy lên thắc mắc, vậy trước khi phát hiện ra trống đồng thì ngọn núi ở huyện Yên Định vốn có tên là gì? Ứng dụng quan điểm của ông Đào Duy Anh (2005: 31-33): địa danh “Khả Lũ” của thành Cổ Loa vốn là Kẻ Lũ, tôi cho rằng địa danh “Khả Lao” vốn là “Kẻ Lao”. Đồng thời chữ Lao 牢 còn có âm Nôm là “lao xao”. Vậy “Khả Lao” có thể hiểu vốn trong dân gian được gọi là Kẻ Lao xao – chỉ về một cộng đồng/một làng có nhiều cư dân. Sau đó, tên làng Kẻ Lao xao được dùng chỉ quả núi kế cận: núi Kẻ Lao/Khả Lao. Kẻ Lao ở hữu ngạn sông Mã thuộc huyện Yên Định xuất hiện cùng thời với địa danh một số làng khác thuộc tỉnh Thanh Hóa, như Kẻ Bôn (huyện Thiệu Hóa), Kẻ Nưa (huyện Nông Cống)… hay Kẻ Lũ (Khả Lũ/Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội). Vùng đồng bằng sông Mã còn bảo lưu được khoảng gần 120 làng có tên “Kẻ”, chiếm 24% trong tổng số 1,792 làng được điều tra (Lê Kim Lữ 1990). Ngoài ra núi Trống Đồng (Khả Lao) có 3 ngọn liền lạc trông giống hình 3 ngôi sao, nên còn gọi là Tam Thai (còn đọc là Đài) sơn (三台山) – chứ không phải là Tam Thái sơn (Đại Nam Nhất thống chí 1960: 60). 2.2/ Địa danh “Đan Nê”: Giải thích một cách đơn giản về địa danh này, đã có ý kiến cho rằng: để giải thích ý nghĩa về “bùn đỏ”, người ta có thể tìm thấy đất màu đỏ ở những khu vực gần làng Đan Nê hiện nay. Tuy nhiên tôi không tán thành ý kiến này. “Đan Nê” có lẽ xuất phát từ một địa danh có nguồn gốc xưa hơn, đó là Đản Nải 但 乃. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Kỷ nhà Lê, trang 16b, có chép một sự kiện xảy ra vào năm 983 (Quý Mùi): 帝 征 占 時 歷 銅 皷 山 至 婆 和 江 山 路 險 難 人 馬 困 憊 海 道 波 濤 又 難 往 來 乃 使 人 開 港 . Đế chinh Chiêm thời, lịch Đồng Cổ sơn, chí Bà Hoà giang, sơn lộ hiểm nan, nhân mã khốn bị, hải đạo ba đào hựu nan vãng lai, nãi sử nhân khai cảng. 至 是 成 舟 楫 所 至 皆 得 其 便 . Chí thị thành, chu tiếp sở chí giai đắc kì tiện. Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hoà, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây đào xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện. Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Thái tông Hoàng Đế, trang 19b, có chép một sự kiện xảy ra vào năm 1029 (Kỷ Tỵ): 州 但 乃 甲 叛 . Châu Đản Nãi Giáp phản. 夏 四 月 朔 帝 親 征 但 乃 甲 以 東 宫 太 子 監 國 . Hạ, tứ nguyệt, sóc, Đế thân chinh Đản Nãi Giáp, dĩ Đông cung Thái tử giám quốc. 但 乃 甲 既 扳 遣 中 使 督 但 乃 人 開 但 乃 港 至 自 但 乃 . Đản Nãi Giáp ký ban, khiển Trung sứ đốc Đản Nãi nhân khai Đản Nãi cảng, chí tự Đản Nãi. Giáp Đản Nãi ở châu Ái làm phản. Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua thân đi đánh giáp Đản Nãi, cho Đông cung thái tử ở lại Kinh sư làm Giám quốc. Khi đánh được giáp Đản Nãi rồi, sai Trung sứ đốc suất người Đản Nãi đào kênh Đản Nãi. Vua từ Đản Nãi trở về Kinh sư. Kênh Đản Nãi 但 乃 còn được viết như các ông (Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn, 2000), (Hà Mạnh Khoa, 2004) là sông Đan Nãi. Kênh Đan Nãi là sông mà Lê Hoàn đã khơi đào xong năm 983, bắt đầu từ núi Đồng Cổ đi qua địa phận huyện Yên Định và Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. (Hà Mạnh Khoa, 2004). Trên cùng một vùng đất được đặt tên nhiều địa danh là một hiện tượng bình thường. Trong trường hợp này, tôi cho rằng địa danh Kẻ Lao/Khả Lao (hay làng Lao xao) thuần Việt cổ có trước địa danh Đản Nãi/Đan Nê xuất hiện khoảng thế kỷ X - XI. Trong đoạn viết ngắn này, tôi muốn giới hạn vấn đề trong việc đề cập đến những địa danh xưa hơn của các vùng đất có đền thờ thần Đồng Cổ. Qua ý kiến cho rằng: “Đan Nê” và “Khả Lao” không phải là tên Việt”, tôi hiểu tác giả Le Minh Khai muốn đề cập đến những địa danh Việt thuần túy dân giã – hơn là xác định một địa danh dân giã Việt được viết bằng chữ Hán. Bởi nếu chỉ thừa nhận là các địa danh thuần Việt thì mới thừa nhận là tên Việt trong các thư tịch cổ (viết bằng chữ Hán) thì sẽ là một yêu cầu không khả thi. Tôi không cho rằng “những người sử dụng trống đồng là nhóm khác với người Việt”, đồng thời không nên vội vàng kết luận Khả Lao xưa là vùng đất chỉ có cư dân Việt - hiểu theo nghĩa là người Kinh thuần túy, một khi chưa đưa ra được những bằng chứng xác đáng hơn. Bởi cũng có ý kiến cho rằng địa danh xuất phát từ tộc danh, trong trường hợp này là tộc danh Đản Nãi lưu thành tên sông Đản Nãi và địa danh Đan Nê (Tạ Đức 2013); ông Tạ Đức đã đưa ra quan điểm Đản Nãi là một tộc người xưa thuộc nhóm Đan Lai ngày nay, có gốc Lê Quảng Đông hay Hải Nam. Thời Bắc thuộc, khi các cuộc khởi nghĩa dành độc lập thất bại, bị đàn áp, các lực lượng khởi nghĩa thuộc đại tộc Lạc Việt từ Bắc bộ và đảo Hải Nam đã di tản tới vùng Thanh-Nghệ. Và ông Tạ Đức cũng dẫn chứng người tộc Đản vốn biết thổi khèn bầu, đánh trống đồng. Tài liệu trích dẫn 1. Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán 1960, Đại Nam nhất thống chí 大南一統志. Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, (Bản tiếng Việt của Trần Tuấn Khải). 2. Cao Xuân Dục, Lưu Đức Xứng, Trần Xán 1992, 2006, Đại Nam nhất thống chí 大南一統志. Nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế), Viện Sử học. Bản tiếng Việt của Phạm Trọng Điềm (phiên dịch), Đào Duy Anh (hiệu đính). 3. Đào Duy Anh 2005. Đất nước Việt Nam qua các đời – Nghiên cứu Địa lý học lịch sử Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. Hà Nội. 4. Hà Mạnh Khoa 2004. Quá trình phát triển sông đào ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ hai. Thành phố HCM 14-16 tháng 7 năm 2004. 5. Tạ Đức 2013. Nguồn gốc người Việt - người Mường. Nxb. Tri thức. Hà Nội.
  3. Chỉ cần một ý niệm khởi lên trong đầu là cả đất trời đều biết, huống hồ giấy má để lại nặng như một cục gạch vậy! Nên tham khảo bản gốc. Phép Giảng Tám Ngày - Hạt Giống Chia Rẽ Lương Giáo Alexandre De Rhodes http://sachhiem.net/TONGIAO/ADRhodes/8Ngay.php 30-Jun-2015 Tác giả Alexandre De Rhodes, đã mất hơn 100 năm trước, nên tác phẩm này thuộc lãnh vực công cộng, mọi người có quyền được biết. Nhưng chúng ta cần phải cám ơn những người đã có công chụp lại từng trang bản gốc một cách chuyên nghiệp để chúng ta có thể đọc được mà không cần phải bay đến nơi lưu giữ quyển sách "rất hiếm" này. Chúng tôi xin mạn phép đi tắt vào Ngày Thứ Bốn, nơi có bằng chứng rõ rệt xứng đáng với tựa bài ở trên: hạt giống chia rẽ lương giáo. Nơi đó tập trung nhiều ngôn ngữ ngạo mạn, trịch thượng, bất kính đối với các giáo chủ đạo khác, tóm lại là vô văn hóa. Có 9 lần nói đên "Thíc ca", 3 lần dùng chữ "rợ mọi" đối với đạo Bụt, 20 lần nói đến "đạo bụt" với tính cách miệt thị, dạy con chiên gọi những người thờ bụt là "giáo ngoài" (sau này các con chiên gọi người khác đạo là "ngoại giáo").
  4. -Bắt đầu viết chuyện "Tây Du Ký", mở đầu với núi "Ngũ Hành Sơn" ở Đà nẵng và kết thúc chuyện ở chùa "Tây Phương" tại Quảng Ninh. Nên kiểm tra lại, còn có chùa Lôi Âm.
  5. Từ Tam Hoàng Ngũ Đế ở trên khác với một số sách sử Trung Hoa ghi chép về Tam Hoàng, thông thường là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế... và Ngũ Đế tổ hợp các Đế trong đó có cả Đế Nghiêu, Đế Thuấn và Đế Vũ. Chúng ta cần biết cấu trúc gốc Tam Hoàng là sau Ngũ Đế tức hậu duệ của Ngũ Đế. Vậy, thì trong Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa: Đế Nghi - Đế Lai - Đế Chuyên Húc - Đế Cốc - Đế Chí ở trên thì ai là Hoàng Đế? Hoàng Đế ở đây chính là Đế Lai, tượng trưng cho hành thổ trung ương còn Đế Nghi tượng trưng cho hành hỏa, phương nam. Còn Hoàng Đế trong cấu trúc Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế là cấu trúc của mảnh đất tổ tông, đất gốc Văn Lang, tức bộ Phong Châu (bộ Gió) với đô thành Bạch Long tức Hà Nội này nay. Tranh vẽ miêu tả Hoàng Đế Liên quan đến Hoàng Đế, có các câu truyện và sử sách: - Lấy tên Hoàng đặt cho tên sông gần kinh đô Trung Hoa tức Đại Hòa cổ đại. Vấn đề này là chính xác, vì sông Dương Tử là tượng trưng cho Lạc Long Quân, sông Ngân Hà trên bầu trời tượng trưng cho Kinh Dương Vương và con sông Đà tượng trưng cho Đế Minh (cần xác định lại!). Kiểu động vật hai đầu sau này thấy ở quai treo chuông phổ biến thời Chu... nay. - Biểu tượng của Hoàng Đế là "Hoàng" tức con rắn hai đầu tượng trưng cho cầu vồng và đoạn uốn khúc sông Hoàng Hà, bích ngọc thời Hạ, Thương, Chu. "Hoàng" bằng ngọc bích (1/3 hình tròn) Hoàng Hà bắt nguồn từ dãy núi Côn Lôn ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hải - Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai, thời kỳ này đã chia đôi nước từ Đế Minh và do vậy phải xây kinh đô Trung Hoa mới, nam Hoàng Hà và có lẽ chính là kinh đô thời nhà Hạ đã từng được khám phá. - Thời gian trị vì của Hoàng Đế được xem là khởi đầu Trung Hoa: 2697 TCN - 2598 TDL, đã là quá muộn so với thời gian Đế Lai trị vì, không ăn khớp lịch sử về mặt thời gian. - Đế Lai có qua Văn Lang thăm con gái Âu Cơ, tu tập và sau đó trở về lại Trung Hoa. - Vùng đất tổ Văn Lang không có mộ Đế Lai, chỉ có mộ Đế Nghi. Như vậy, từ Đế Lai cho tới sau này đều chôn ở Trung Hoa. Lăng mộ tổ Hoàng Đế mà nhân dân Trung Hoa thường tế hàng năm đó chính là của Đế Lai. Ngoài ra còn có mộ của Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Nghiêu,Thuấn, Vũ. Đế Nghi là cha Đế Lai, Đế Lai là cha Đế Chuyên Húc (anh hoặc em trai của mẫu Âu Cơ: cần phải xác định chính xác!), Đế Chuyên Húc là cha Đế Cốc, Đế Cốc là cha Đế Chí, từ đó truyên ngôi kéo dài khoảng 530 năm tới Đế Nghiêu. - Truyền thuyết Hoàng Đế chiến Si Vưu tại trận Trác Lộc: nguyên do không gì khác hơn do sự tập quyền bởi sự kiện dựng thêm trung tâm kinh đô mới. Truyền thuyết trong trận chiến Hoàng Đế được sự giúp sức của Cửu Thiên Huyền Nữ - chính thất của Đế Minh với bộ sách Độn Giáp, như vậy đã được sự giúp sức của Xích Quỷ thời Kinh Dương Vương. - Hoàng Đế nội kinh tố vấn và các cuốn Đông y khác liên quan đến kinh mạch, huyệt vị. - Hoàng Đế trong bộ Tam Hoàng Ngũ Đế đất gốc Văn Lang. - Truyện Bá Nha Tử Kỳ đọc ngược lại là Kỳ Bá - Tử Nha (Khương): trong gia phả Việt thì Khương Tử Nha cũng mật hiệu của Đế Minh, khác với Khương Tử Nha thời Tây Chu (mật ngữ Đông y). Tiên tri 5.000 năm của Khương Tử Nha là thời Tây Chu. Sau này, thời hiện đại, Khương Tử Nha thời Tây Chu được Thiên phong từ Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát là "Tổ thứ ba trong Cuộc Chuyển Thế thời mạt pháp của Thần đạo" trong cấu trúc thờ tự Cao Đài Đại Đạo. - Hoàng Đế còn có tên Hiên Viên, họ Hữu Hùng. Hùng cũng là têu hiệu các đời vua nước Sở, khả năng nước Sở trợ lực cho kinh đô mới Trung Hoa. Phả chép Đế Nghi (hay cha của Đế Minh, Đế Nghi) là ông tổ của nước Sở, bắc Dương Tử. Nay còn vùng Sở ở ngoại thành Hà Nội, vùng Hà Tây. Tỉnh Hồ Bắc thuộc châu Kinh và châu Dương trong Thượng Thư, cũng chính là từ cái tên "Kinh Dương Vương". - Trên bản đồ thiên văn cổ Đông phương có chòm sao Hiên Viên, không phải trong những chòm sao chủ chốt bầu trời tương ứng với 36 Thiên Cương. Tranh khắc đá hình tượng Si Vưu thời Hán Hoàng Đế trong kinh sách Đông y là Đế Minh, nếu đọc lại kinh A Di Đà có nói đến lục thông tức 6 phép thần thông của con người, chính nhờ các phép thần thông và am tường học thuyết Âm Dương Ngũ Hành mới "thấy" được hệ kinh mạch và huyệt vị trong cơ thể con người, để từ đó xây dựng nên bản đồ huyệt vị và kinh mạch trong Đông y (tất nhiên cũng nhờ các bậc thầy vô hình theo thời gian nữa). Máy móc hiện đại ngày nay cũng không rõ, chưa kể các nhà ngoại cảm có công năng mắt thần cũng không nhận thức được chúng. Như vậy, có hai Hoàng Đế: một là Đế Minh trong Tam Hoàng Ngũ Đế gốc ứng với kinh sách Đông y, và một trong Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa tức Đế Lai ứng truyền thuyết Trung Hoa như trận chiếc Trác Lộc... Lăng mộ Hoàng Đế nằm trên núi Qiao là lăng mộ nổi tiếng nhất của Trung Quốc.
  6. Lịch sử Trung Hoa và Việt Nam (gồm cả Hàn, Nhật, Đông Nam Á...) không thể không nhắc đến cuốn Kinh Thư (Thượng Thư) ghi chép sử thượng cổ từ Nghiêu, Thuấn, Vũ và Hạ, Thương, Tây Chu. Sự kiên kết dữ kiện trong Kinh Thư và cổ vật khai quật được tại Trung Hoa - Bắc Dương Tử và Văn Lang - Nam Dương Tử đều có quan hệ chặt chẽ. Những dòng đầu Kinh thư viết "Việt nhược kê cổ" tức "Người Việt kể lại tích xưa", và đây có lẽ chính là ý nghĩa mà triết gia Kim Định cho rằng chữ nòng nọc là chữ Tây Chu ở trên. Tại Trung Hoa, tiên sinh Hồ Thích không hiểu vì lý do gì cho rằng Kinh Thư là ngụy thư nên bỏ khỏi sử Trung Hoa, nếu như vậy thì cổ vật thời Hạ, Thương, Chu được giải thích như thế nào? Ông cũng thực sự không hiểu ý nghĩa của Hà đồ và Lạc thư mà từ đó cho rằng nó quái dị, cần bỏ đi. Cả hai ý kiến này của tiên sinh Hồ Thích đã cắt phăng lịch sử Trung Hoa và toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành ra làm đôi mà không hiểu vì lý do gì hơn nữa (Trung Quốc triết học sử đại cương, Hồ Thích). Trong các cuốn triết học của triết gia Kim Định cũng đã có những phân tích về Hà đồ và Lạc thư cùng các vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành, nhưng bản chất của chúng thực sự là không rõ ràng nhưng xuất hiện nhiều ý nghĩa quan trọng, chẳng hạn Thái Hòa - chữ này thường đặt tên trong kinh đô Đông phương là điện Thái Hòa... Tranh Phục Sinh thụ kinh đồ của Vương Duy Giữa Kinh Thư và Gia phả Hùng Vương có mối quan hệ vô cùng chặt chẽ về mặt thời gian của các triều đại Trung Hoa và Văn Lang, bởi cả hai hình thành từ một nhà nước do Đế Minh quản lý và sau đó phân chia cho Đế Nghi và Lộc Tục cai quản, bởi vậy Kinh Thư mới viết: "Người Việt kể lại tích xưa". Trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam của Bình Nguyên Lộc, có ghi chép sự kiện tận cùng bắc Trung Hoa người người đều nói tiếng Việt. Tam Hoàng Ngũ Đế bao gồm có hai phân lớp: một cho đất gốc tức Văn Lang, trung tâm của quốc gia thời Đế Minh và hai - cho kinh đô Trung Hoa thời Đế Nghi, vì vậy lịch sử nếu không rõ sẽ hoàn toàn lẫn lộn. Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa bao gồm: - Ngũ Đế: Đế Nghi - Đế Lai - Đế Chuyên Húc - Đế Cốc - Đế Chí (từ Đế Chí truyền ngôi, kéo dài triều đại khoảng 530 năm sau và vẫn giữ lại tên nước thời Đế Nghi hay Đế Minh: Đại Hòa). - Tam Hoàng: Nghiêu - Thuấn - Vũ. Nghiêu là đời cuối cùng trong chi Đế Chí và sau đó truyền cho Thuấn. Thời kỳ này, Văn Lang thời cuối chi Hùng Vương III có giao hảo với triều vua Nghiêu bằng cống rùa thần trên lưng có chữ Khoa đẩu, ghi chép từ khi trời đất mở mang... Thuấn truyền cho Vũ, không phải con cháu mà cho người tài giỏi, vấn đề này rất vô cùng sâu sắc về mặt học thuyết Âm Dương Ngũ Hành vì ngài đã nhận ra trường khí vũ trụ đang thay đổi lớn dịch chuyển về Nam Dương Tử. Sau này, chúng ta lại thấy Hùng Duệ Vương truyền ngôi cho An Dương Vương, rồi An Dương Vương truyền ngôi cho Triệu Vũ Đế - người nước Triệu thuộc Bắc Dương Tử. Đế Nghi (em trai sinh đôi với Đế Minh), Đế Lai (cha của mẫu Âu Cơ) là giao điểm kết nối lịch sử giữa Văn Lang và Trung Hoa, tối quan trọng. Thời kỳ này, Đế Lai có qua Văn Lang thăm con gái Âu Cơ, tu luyện đạo pháp tại đây rồi về lại Trung Hoa. Kinh Thư chép lại bản đồ thời Tây Chu, lúc này phần đất Hồ Nam, Giang Tây, Chiết Giang đã thuộc Chu (phần bắc Ngũ Lĩnh). Đây là vấn đề đã viết ở trên, trận chiến Thương - Văn Lang thời Thiên Ất, khoảng năm 1600 năm trước Dương lịch (trận chiến lần thứ hai nhằm mở rộng lãnh thổ của nhà Ân thời Vũ Đinh sau thời Thiên Ất khoảng 400 năm về phía Quý Châu nhưng thất bại tương đương đời Hùng Vương IX - Hùng Định vương 1331 - 1252 Trước Dương lịch). Thời Hạ, Thương, Chu trong Kinh Thư thì thiên văn, lịch pháp đã chuẩn mực rồi. riêng Hạ Vũ, người thuộc vùng Chiết Giang tức thuộc Văn Lang, nay đất tổ thờ cúng ở vùng Cối Kê, Chiết Giang. Tại Hồ Nam còn có một bản chữ cổ, chưa ai đọc được, tương truyền là của Hạ Vũ (sau này, cuốn 100 nhân vật làm thay đổi lịch sử Trung Hoa đã xuyên tạc gốc tổ của vua Hạ Vũ là ở Thiểm Tây). Sự kiện Hạ Vũ trị thủy chính là nhờ các bậc thầy của Văn Lang giúp cách thức, phương pháp, sau Hạ Vũ lấy vợ Việt, vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, tất nhiên là khuê nữ hoặc công chúa dòng hoàng tộc, trong cuốn Bát Tiên đắc đạo khuyết danh vào thời Lý, Việt Nam có ghi rõ vấn đề này. Tây du ký cũng có nói. Trị thủy nhập điền ở đây, còn có một ý nghĩa khác đó là "trị nước" tức Hạ Vũ được Cửu Trù Hồng Phạm tại Văn Lang hay 9 phạm trù lớn trong việc trị nước đã có từ thời Hùng Vương IV - Sơn Tinh thắng Thủy Tinh để cưới công chúa Mỵ Nương qua biểu tượng: "voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao". Sách Lĩnh Nam Dật sử chép thời Trần chép: "Lối chữ cổ của vua Đại Vũ viết trên tấm bia chôn ở núi Cú Lũ (tên cổ là hang rùa) là bảng chữ Việt”. Kinh Thư cũng chép về phương vị các vùng, bản đồ Trung Hoa thuộc Bắc Dương Tử đặt phương bắc ở trên; còn Văn Lang thuộc Nam Dương Tử nên đặt Nam ở trên, rất độc đáo. Do vậy, Nam Man của Trung Hoa định hình vùng nước Sở... đây là đặc trưng riêng cho bản đồ Trung Hoa thời thượng cổ. Dạng quy ước này giống như cách cài áo trái phải cho hai bên, như đã viết. Dưới đây là minh chứng bản đồ định vị các Đại Thánh tích ở Việt Nam: Tam Đảo - Sóc Sơn ứng Thánh Gióng thuộc Tây và Tản Viên ứng Tản Viên Sơn Thánh thuộc Đông, Việt Trì - Phú Thọ - Đền Hùng thuộc Nam và Thăng Long thuộc Bắc. Đây chính là mật ngữ bản đồ địa hình Văn Lang với phương Nam ở trên giống như Hà đồ - Lạc thư. Do vậy, sách cổ định vị Hà đồ và Lạc thư chuẩn theo kim chỉ nam của Văn Lang, còn Trung Hoa thì ngược lại. Bản đồ Đại Thánh tích Tuy nhiên, Thăng Long Tứ Trấn bao quanh kinh đô Bạch Long lại được bài trí đảo lại, tức Bắc ở trên nhằm thể hiện nguyên lý "Dương trong Âm ngoài" và vì vậy, Thăng Long thành thời Lý bài trí theo quy ước chuẩn của chòm Đại Hùng tức Bắc Đẩu là "Bắc trên Nam dưới". Lúc này, kim chỉ Nam sẽ chỉ thẳng người đang xem bản đồ thiên văn, địa lý tức chỉ thẳng "lòng" hay chính nội tâm của con người (Đạo Đức). Sử sách chép: Đền Bạch Mã có trước khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long thành. Tứ trấn vòng ngoài sẽ cổ hơn rất nhiều, thời Lý Nam Đế đã đóng đô ở đây. Thời An Dương Vương quân Tần phá hủy kinh thành, tất nhiên chúng không phá hủy toàn bộ mà còn các di chỉ thờ tự, đình, đền, miếu, đạo quán... Về mặt địa lý, địa hình thì một phần đất nước Indonesia, Philippine đã vượt qua ranh giới xích đạo, thuộc Nam bán cầu, mà sau này trong câu truyện Bạch trĩ của Lĩnh Nam chích quái có nói về sự kiện Chu Công cho sứ giả Việt Thường xe gắn kim chỉ nam dẫn hướng về, sau khi giao hảo tặng chim trĩ trắng, với quan niệm ở đây theo bản đồ Văn Lang với phương Nam ở trên, cho nên sứ giả mới từ vùng biển bắc - Phù Nam về lại kinh đô ở phương nam - tức Thăng Long ngày nay. Trong tiến trình lịch sử thời thượng cổ của nước Văn Lang, có 5 Đạo giáo ứng với Ngũ hành bao gồm đạo Tổ Tông, đạo Mẫu, đạo Nho, Thần đạo và Tiên đạo là rất quan trọng, sau này Thần đạo chuyển thành Phật giáo. Thần đạo và pháp môn Yoga của đạo Tiên được truyền bá ra khắp thế giới, bởi vậy Chu Công đã từng nói: "Giao Chỉ là nơi không thể đánh". Do vậy, đã có thời hơn 1.000 năm tranh cãi về cuốn sách Lão Tử hóa Hồ kinh. Sử sách cũng ghi nhận Sở Trang Vương nhà Chu (696 - 682 trước Dương lịch) có sang tu luyện Phật pháp lại núi Hương Tích, Nghệ An, có trước cả thời Phật Thích Ca Mâu Ni. Sự kiện này cần liên hợp tới biểu tượng chùy kim cương khắc họa trên trống đồng Đông Sơn, chùy kim cương là một biểu tượng của Mật giáo Tây Tạng sau này và trong Thần đạo các nước trên thế giới. Nó cũng phải được cân nhắc về mặt biểu tượng chiến thắng (cú giáng sấm sét) liên quan đến trận chiến Ân - Văn Lang thời Vũ Đinh (trận chiến Thương - Văn Lang thời Thiên Ất với anh hùng Thánh Gióng). Nếu là như vậy, thì trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ... phải có trước đó, như nhận định từ thời Hùng Vương VII, Lang Liêu, sau trận chiến với nhà Thương thời Thiên Ất. Hai chùy kim cương tại vành chim bay trên mặt trống đồng
  7. Trong một bài viết về trống đồng dưới đây có một bài thơ cổ (được làm dấu màu xanh da trời), tác giả chỉ mới dịch được hai khổ thơ, tôi tra cứu rất nhiều sách và cả trên mạng thì thấy bài thơ này chưa từng xuất hiện, do vậy cũng nhờ bạn hữu diễn đàn, bác Lãn Miên, anh Quang Nhật trợ giúp. Việt, “Hoa”, người mọi và trống đồng By Le Minh Khai Người dịch: Hoa Quốc Văn Như đã nói ở bài viết trước về việc trống đồng không quan trọng như thế nào với người Việt trong quá khứ, đã từng có một trường hợp mà ở đó chúng quan trọng, và đó là trong sự liên hệ với một ngôi đền được biết đến với cái tên đền thần Đồng Cổ (Đồng Cổ Thần Từ 銅鼓神祠)), nằm ở khu vực thuộc tỉnh Thanh Hóa, trên một ngọn núi có tên Núi Đan Nê, cũng được biết đến với cái tên Núi Khả Lao (可牢山). Image Có một đoạn văn viết về đền này trong một văn bản địa dư ở thế kỉ XIX, bộ Đại Nam nhất thống chí 大南一統志 . Đoạn văn đó có một chút gây bối rối ở chỗ, để phụ thêm cho ngôi đền trên núi Đan Nê, một nơi thờ tự dành cho vị thần này sau đó cũng được dựng ở kinh đô. Vậy là, thông tin này nói về một vị thần được thờ phượng ở cả hai nơi. Tôi sẽ dịch đoạn văn này ở đây rồi bình luận về nó phía dưới. Image [17 hạ.5a] Đền thần Đồng Cổ, nằm trên núi Đan Nê (cũng gọi là núi Khả Lao) ở huyện Yên Định. Thời xưa, khi Hùng vương [17ha/\5b] đi đánh Chiêm Thành, ông đã đóng quân ở núi Khả Lao. Ban đêm ông năm mơ thấy một vị thần [thần nhân 神人] đến bảo rằng “ta sẽ lấy cho ông một chiếc trống đồng và dùi để giúp ông giành được thắng lợi trên chiến trường”. Khi cả hai bên giáp mặt nhau, tiếng của một chiếc trống kim loại vang vọng trong không gian, và đúng như đã được dự báo, [Hùng vương] giành được thắng lợi trọn vẹn. [Hùng vương] phong cho [vị thần] tước hiệu Đồng Cổ Đại Vương [Đồng Cổ Đại Vương 銅鼓大王]. Khi Lý Thái Tông còn là Hoàng thái tử, ông nhận được lệnh đi đánh Champa. Ban đêm ông nằm mơ thấy một người mặc áo chiến và cầm một thanh bảo kiếm đến nói thẳng rằng: Ta là thần Đồng Cổ. Hãy để ta theo ông và lập công”. Khi vùng đất đã được bình định, Lý Thái Tông dựng một ngôi đền để thờ vị thần ấy. Sau đó, sau khi vị Hoàng đế lên ngôi, ông mơ thấy vị thần đó đến đem theo một bài thơ trong đó ngụ ý rằng có ba vị hoàng tử đang mưu lật đổ ông. Điều đó quả nhiên trở thành sự thật. Hoàng đế liền sắc phong cho vị thần thêm hiệu là “Thiên Hạ Minh Chủ 天下盟主” và thăng lên hàng thượng đẳng thần. Hàng năm, một đàn tế được lập trước ngôi đền và các quan lại được lệnh đọc một bài văn thề rằng: “Đạo của bề tôi là phục tùng cương thường. Nếu ai đó là con mà không hiếu kính và là bề tôi mà không trung thành, thì thần sẽ lặng lẽ soi xét và sẽ tru diệt cả nhà ông ta”. Trong những năm đầu thời Lê Trung hưng, quân Mạc đã quấy nhiễu các huyện Vĩnh Ninh (nay là Vĩnh Lộc) và An Định. Thủy quân của nhà Lê đóng trên thượng lưu của sông Mã. Ban đêm, họ nghe thấy ba tiếng trống từ cách đó hàng trăm dặm. Tướng nhà Lê sai quân ra xem xét thì thấy rằng tiếng trống đó đến từ Núi Khả Lao. Sáng hôm sau, họ lên đường truy đuổi quân Mạc. Khi họ lâm trận, gió bắt đầu dữ dội và mực nước dâng lên. Thủy quân [nhà Lê] dong thuyền và lợi dụng gió thổi. Sự gan dạ của họ tăng lên gấp trăm lần. Quân nhà mạc đại bại. Trong niên hiệu Hoằng Định, [thần] được sắc phong [mĩ hiệu mới] [17 hạ/6a]. Có một bài thơ trong đó có câu: “Gió và sóng trên sông trợ giúp rất nhiều cho đội quân chiếc thắng”. Là nói về việc này vậy. Trong niên hiệu Cảnh Hưng, người ta thường thấy có một cái lọng màu vàng hiện ra ở Triều Thiên Quán. Chỉ sau ba ngày thì nó biến mất. Rồi một ngày khi hoàng hôn buông xuống, mây đen kéo đến từ bốn phía, và mây và gió nổi lên dữ dội. Nhìn từ xa, người ta thấy có một con rồng đen cưỡi gió từ trên trời bay xuống ngôi đền [thần Đồng Cổ]. Khi tảng sáng, họ đến và tìm thấy những dấu vết sót lại. Sức mạnh linh ứng là như thế. Từ triều Lý đến triều Lê, vào mỗi mùa xuân khi binh tướng ra quân, các tướng lĩnh và binh lính lại đến tuyên thệ, và kính mời thần về chứng giám. Ông Thiếu phó triều Lê là Nguyễn Văn Khải(1) có một bài thơ như sau [bài thơ này không xuất hiện trong bản dịch văn bản sang tiếng Việt mà tôi được thấy này. Dịch thơ rất mất thời gian.Vì vậy bây giờ tôi chỉ dịch hai dòng có liên quan đến luận điểm mà tôi mong chỉ ra từ đoạn văn này]: 台峰拱炤水灣環 毓秀鐘靈在此閒 壇上翻瓢消旱魃 Cái gáo lật lại trên đàn triệt hết bọn quỷ khát. 空中敲鼓走狂蠻 Tiếng trống đánh xua đuổi đám mọi cuồng 龜碑石篆經霜綠 鳳札金章炤日丹 今古迭更棋幾局 凛然正氣舊江山 Trong đền có một chiếc trồng đồng nặng 100 cân. Nó có đường kính khoảng 1 xích 5 thốn, và cao 2 xích. Trong lòng rỗng, là nó không có đáy. Viền trống bị sứt một chút. Mặt trống có 9 vòng tròn đồng tâm. Eo [trống] được buộc (hoặc quấn bằng cái gì đó) vì thế bụng trống bị che đi. Bốn phía trống được buộc bằng đây thừng. Nó có chữ vạn [vạn tự 卍字] được viết như con nòng nọc. Trải qua thời gian nó bị mòn đi và giờ không thể đọc chữ được nữa. Nghe nói đây là cái trống được làm ở thời Hùng vương. Cuối thời Lê, quân phản nghịch Tây [sơn] phạm tới đây và đem trống về Phú Xuân. Sau đó, một người đàn ông ở huyện Hậu Lộc [17 hạ/6b] đã tìm thấy nó ở bờ sông. [Đầu mục] của tỉnh tuyên bố rằng nó cần phải được đem trở lại ngôi đền. Và ngày nay nó vẫn còn ở đó”. Image Đoạn văn trên bắt đầu bằng viết nói về một vua Hùng trong cuộc hành quân chinh phạt Champa [Chiêm Thành]. Trong khi tôi nghĩ rằng rõ ràng là không có các vua Hùng, thậm chí nếu chúng ta tin là có, thì đoạn văn này vẫn đầy vấn đề khi không có ghi chép gì ở về niên đại lịch sử, và Champa không tồn tại ở thời đại như đã được ghi chép ở đây (thiên niên kỉ thứ nhất trước Công lịch). Điều không có mấy vấn đề là ở cái ý tưởng chung chung về một vị vua đã nằm mơ thấy có một vị thần tự xưng và đề nghị giúp đỡ vua. Đây là một “phép tu từ” hay một “đề tài” mà chúng ta có thể tìm thấy trong nhiều câu chuyện khác trong quá khứ được sáng tác bởi giới tinh hoa có học khắp cả “thế giới Hán hoá”, từ Đồng bằng sông Hồng cho đến Bán đảo Triều Tiên. Chúng ta lại gặp nó một lần nữa trong đoạn nói về Lý Thái Tông. Dạng hỗ trợ nào mà vị thần đề xuất? Đó là, giúp tấn công những người khác với người Việt. Ở đây tôi thấy một điều thú vị là địa điểm toạ lạc của đền có tên là núi Đan Nê hay Núi Khả Lao. “Đan Nê” và “Khả Lao” không phải là những cái tên Việt, và điều đó gợi ý rằng những người, ít nhất là về gốc gác, sống ở đó không giống với người Việt. Trong khi đó, như tôi đã đề cập ở bài post trước, người Việt có học vấn trong quá khứ đã gắn trống đồng với nhóm dân khác với họ. Vậy thì những người [thường] sử dụng trống đồng là những người khác người Việt, và người Việt tạo ra ngôi đền ở Núi Đan Nê/Khả Lao (một nơi, ít nhất về gốc gác, là nhà của những người không giống với người Việt) để dâng cho thần Đồng Cổ. Vị thần này sau đó giúp người Việt khi họ đánh lại những người khác với họ – “Tiếng đánh trống xua đuổi đám mọi cuồng”. Image Với tôi tình hình có vẻ như là người Việt đã lấy cái gì đó đầy quyền năng (tức là trống đồng) của “người mọi” rồi sau đó cố gắng dùng quyền năng gắn với vật thể đó để giúp họ đánh bại “người mọi”. Ở thế kỉ đầu sau Công lịch, vị tướng “Trung Hoa” là Mã Viện, được cho là đã thu lấy trống đồng ở khu vực này, nấu chảy chúng ra, và đúc thành những con ngựa đồng. Điều này dường như phần nào đó đã tước đi quyền lực của giới tinh hoa nắm quyền ở khu vực này, những người mà Mã Viện coi là “người mọi”. Khoảng 1000 năm sau, chúng ta thấy người Việt đã làm cái việc tương tự. Vậy mối quan hệ giữa những người mọi có trống đồng bị Mã Viện tấn công và những những người mọi có trống đồng bị người Việt tấn công ở 1000 năm sau đó là gì? Và ai là người Việt lúc bấy giờ (tức khoảng những năm 1000 sau Công Lịch)? Tại sao họ lại giống với một vị tướng “Trung Hoa” như Mã Viện, và khá là khác với những người mà Mã Viện đánh bại? Tại sao họ lại xem những người sở hữu trống đồng là “người mọi”?
  8. Định vị những điểm then chốt về mặt thời gian của lịch sử Trong tiến trình nghiên cứu các mốc thời gian cổ đại trong sử Văn Lang, đặc biệt nổi trội là trận chiến ác liệt giữa Văn Lang và nhà Thương thời Hùng Vương VI, vị Đại Thánh, một trong Tứ Bất Tử, anh hùng dân tộc Thánh Gióng đã được ghi chép trong truyền thuyết và xây dựng nơi thờ tự mãi từ đó tới nay, và cũng có nhiều truyền thuyết liên quan đến Thánh Gióng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lịch sử thực sự vẫn đang còn nghi ngờ về lịch sử thời kỳ này, vì nó quá xa so với thời dựng nước theo xác định hiện nay là thế kỷ thứ VII Trước Dương lịch, trong khi đó thời kỳ Ân Thương khoảng từ năm 1766-1122 Trước Dương lịch. Một số khác lại cho rằng đây là hư cấu, không có thực, bởi kinh đô của nhà Ân Thương mãi tận gần cực bắc Trung Hoa sao lại đánh được tới tận Việt Nam ngày nay?. Để minh định lại, cần phải xem xét với chứng tích và thư tịch cổ còn lại về trận chiến này, đó chính là những nhân vật lịch sử thời kỳ cùng với Thánh Gióng, còn rất nhiều tại vùng Bắc Việt Nam ngày nay, chẳng hạn một ví dụ về Hùng Linh Tướng Công: ... Diệt quốc cừu, điện quốc cơ, trùng tiêu quốc xí Đương ư sóc phong liệt tướng Thành sở vị: giang nam nhất nhân, giang bắc nhất nhân,... dịch nghĩa: ... Diệt giặc nước, xây móng nền, dựng cờ tổ quốc cùng trang liệt tiếng Sóc Sơn thành truyền thuyết: phía Nam sông tướng giỏi, phía Bắc sông người tài (tức là phía Nam sông Cầu có tướng giỏi là Thánh Gióng, phía Bắc sông Cầu có người tài là Hùng Linh Công). Điều đó đã chứng tỏ một cách đơn giản và dễ hiểu rằng, trận chiến đã tới kinh đô Văn Lang nay là Bắc Việt Nam. Mặt khác, chiếu theo gia phả Hùng Vương thì thời Hùng Vương VI vào khoảng năm 1600 Trước Dương lịch, tương tương với thời kỳ nhà Thương, đời vua Thiên Ất. Trong bộ tranh dân gian Đông Hồ còn lưu giữ lại mật ngữ này qua bộ tranh Thiên Ất - Vũ Đinh, và tất nhiên Văn Lang thời kỳ này không phải là dưới mức ở trần, đóng khố vì cách xa thế kỷ VII Trước Dương lịch tới gần 1.000 năm. Thiên Ất - Vũ Đinh Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Tuy nhiên, tại sao lịch sử ghi nhận trận chiến giữa Ân - Văn Lang thay vì Thương - Văn Lang thời Thiên Ất? Để giải quyết vấn đề này, cũng phải quay lại ghi nhận truyền thuyết và dã sử Việt Nam, đó là lễ hội Thánh Gióng, với việc khắc họa lại trận tấn công và tiêu diệt 28 nữ tướng Ân. Tra cứu lịch sử Trung Hoa, thời kỳ Vũ Đinh có vợ là nữ tướng Phụ Hảo, rất giỏi võ nghệ và chinh chiến, đây là thời kỳ đồ đồng Thương rực rỡ nhất, thời kỳ này có tổ chức chiến tranh mở rộng phía tây nam, đó là tấn công vào Quý Châu (GuiZhou - Xích Quỷ), Quý Châu là một bộ vùng cực bắc của Văn Lang (còn chiếu theo bản đồ như Hà đồ - Lạc thư thì phương nam ở trên, cho nên Quý Châu còn có tên Xích Quỷ tức Quỷ Đỏ). Nếu giả thuyết chỉ có một trận chiến thời Vũ Đinh (cách thời Thiên Ất khoảng 400 năm - sau 400 năm nhà Ân Thương không dám ra quân) thì rõ ràng, trước đó tại các vùng Hồ Nam, Giang Tây, Triết Giang vẫn tồn tại cổ vật đồ đồng, đá... theo văn hóa Việt, chẳng hạn cổ vật đồ đồng có trước cả trống đồng, tuy nhiên thực sự đã không như vậy. Sau trận chiến thời Thiên Ất, Hùng Vương VI không lấy lại các vùng Nam Dương Tử đã mất vào Thương là Hồ Nam, Giang Tây và Triết Giang, do vậy nhà Ân mới có cơ sở làm bàn đạp tiếp tục mở rộng nhưng một lần nữa hoàn toàn đã thất bại. Bộ tranh dân gian Đông Hồ ở trên có hình Vũ Đinh là vì vậy, Thiên Ất và Vũ Đinh ở trên chỉ được xem là hai ông "canh cổng phía Bắc" cho Văn Lang mà thôi, ẩn đằng sau bức tranh này chính là hai nhân vật lỗi lạc được xem như hai vị hộ pháp đó là Thái Tử Trọng Thủy (vị trí bên phải nhìn từ trong bộ tranh nhị bình này ra) và Cao Nỗ Tướng Quân trong lịch sử Âu Lạc và Nam Việt sau này (sẽ chỉ ra sau). Đánh giặc lên ba hiềm đã muộn, Cưỡi chín tầng mây giận chửa cao. (Cao Bá Quát) Đặc biệt, Kinh Dịch và Kinh Thi cùng Trúc thư niên kỷ cũng đề cập trận chiến thời Vũ Đinh ở trên, Kinh Dịch được bổ túc muộn nhất vào thời Tây Chu và Đông Chu, giáp cốt văn cũng nói đến trận chiến của Phụ Hảo và người Việt. Việc tấn công tới tận Bắc Việt Nam chính là phải chinh phục được kinh đô của đối thủ thì là chiến thắng, cho nên kinh đô Văn Lang là ở Bắc Việt Nam, toàn bộ mồ tổ Hùng Vương cũng nằm ở đây. Kinh đô phải chăng vùng Phú Thọ ngày nay? Không phải, chính là Thăng Long hay Hà Nội ngày nay, nó bị phá hủy trong trận chiến thất bại của quân Tần khi rút lui trước Âu Lạc do An Vương Vương tổ chức, phá hủy văn hóa là đặc tính của thời đại Tần Thủy Hoàng (sẽ chỉ ra sau). Tất nhiên, phải xem xét cả đến các mặt địa lý, địa hình vùng ngập nước của khu vực Hà Nội thời kỳ Lạc Long Quân với truyền thuyết Đầm xác cáo và truyền thuyết Hùng Quốc Vương chọn đất đóng đô tại đây. Chi tiết Thánh Gióng tấn công tới bộ Vũ Ninh và sau bay lên trời tại ngọn núi Sóc Sơn chưa phải là chính xác, bởi việc ghi nhận các bộ Hồ Nam, Giang Tây và Chiết Giang về nhà Thương thì Thánh Gióng phải tổ chức quân đội đánh tới đó chứ không phải tại Bắc Việt Nam. Tra cứu địa chí thì Vũ Ninh là cái tên một khu vực thuộc Giang Tây tiếp giáp vùng Ngũ Lĩnh. Vậy thì Vũ Ninh chính là tỉnh Giang Tây Trung Hoa ngày nay, nếu quân Ân Thương thua thì sẽ rút lui khỏi vùng Ngũ Lĩnh theo con đường này là nhanh nhất và an toàn nhất. Địa thế này cũng chính là nơi mà Tần Thủy Hoàng xua quân thuận tiện nhất tấn công Âu Lạc sau hơn 1.500 năm. Bản thần tích do tiến sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1527 viết: Thánh Gióng chém chết tướng giặc tại chân núi Ngũ Lĩnh. Các trận chiến tranh trong lịch sử Trung Hoa trước Tần phần lớn không phá hủy kinh đô, bởi chỉ cần lấy hết các đồ tế khí, ấn tín và thượng phương bảo kiếm biểu tượng vương triều là "xong", cũng không phá hủy miếu thờ các triều đại trước bởi họ cũng có công trong lịch sử dân tộc. Cho nên, cái trò hề cấm thờ cha mẹ, ông bà, tổ tông của mình và bắt buộc phải thờ người khác từ các quy định lố bịch kéo dài gần 400 năm của một tổ chức (sau Đạo giáo Văn Lang cả 3.000 năm) từ một nơi nào khác tới ngay trên chính quê hương của mình mà cũng phải cúi đầu chịu nhục là "đại chướng, chướng lắm", nhân văn thụt lùi bèo nhất cũng -3.200 năm. Họ nhân danh ai và vì cái gì? Ai chứng nhận sự nhân danh này? Hãy réo to lên đi chứ, tại sao phá hủy tổ tông, tôn giáo ông bà, hay là mục đích nhằm làm vong bản, để trở thành nô lệ tư tưởng cho nơi đó (thủ thuật trói não vô hình) - được xem như một quốc gia vô hình nằm trong lòng chính tổ quốc mình, quê hương mình? Dân gian Việt đã đúc kết lại một câu thành ngữ và "cười": "Mồ cha không khóc mà lại đi khóc đống mối". Chứng tích cổ vật của Hồ Nam, Giang Tây và chiết Giang hầu hết là thời nhà Thương Ân, rồi trở về sau, đây là những chứng tích quan trọng để xác định thời kỳ nổi trội giữa văn hóa Văn Lang - Thương Ân. Hầu như không thấy trống đồng và cổ vật đặc trưng thời Đông Sơn tại các tỉnh này, nếu có thực sự là rất ít, nhưng văn hóa phi vật thể lại tương đồng phần lớn. Bản đồ thời Thương Ân, Chu và Xuân Thu Chiến quốc thể hiện ba tỉnh trên đã thuộc Trung Hoa, sử ghi rõ nhà Chu dùng phân phong cho con cháu. Trên suốt chiều dài dòng sông Dương Tử, chúng ta sẽ phải quan tâm đến ba vùng văn hóa hai bên bờ sông, thượng du - Ba Thục và các dân tộc vùng cao cũng gọi là Âu Việt, trung du - chồng lấn nhưng thiên về Lạc Việt và hạ du - Lạc Việt. Cho nên vùng cao Quý Châu và Vân Nam vẫn tồn tại văn hóa Thục phổ biến. Dòng sông Dương tử chia đôi Trung Hoa và Văn Lang thời Đế Minh. Nam Dương Tử do Kinh Dương Vương quản lý, còn Bắc Dương Tử do Đế Nghi cai quản (Cần xem chứng tích do bác sĩ Trần Đại Sĩ đã thực chứng di tích trong những bài viết của ông). Sau này, Lưu Bị và Gia Cát Lượng dễ dàng thống nhất vùng thượng du Dương Tử thông qua văn hóa Ba Thục là vì vậy, thời An Dương Vương cũng với cái tên Thục Phán. An Dương Vương là bộ chủ bộ Vân Nam thời Hùng Duệ Vương (sẽ chỉ rõ sau). Trên bản đồ thời Tam Quốc, khởi nguồn sông Hồng Việt Nam và sông Dương Tử Trung Hoa ngày nay từ các dãy núi Tây Tạng. Shu = Thục Tương truyền ngôi mộ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh là mộ Hùng Vương thứ VI, trước khi chết ngài có dặn rằng: "Hãy chôn ta trên núi Cả để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu". Xưa là mộ đất, đến thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây lăng mộ, thời Khải Định năm thứ 2 (1922) được đại trùng tu như ngày nay. Mộ Hùng Vương Thứ VI Núi Nghĩa Lĩnh, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam Ngay sau thời Hùng Vương VI, Lang Liêu tức Hùng Vương thứ VII - người đã sáng tạo ra cặp bánh chưng bánh dầy dâng cúng tổ tiên đầy ý nghĩa nhân văn và chất chứa những huyền thoại bí ẩn siêu đẳng của Lý học Đông phương, ngài cũng chính là người đã tổ chức đúc trống đồng Đông Sơn, khoảng 1600 Trước Dương Lịch mà chúng ta thấy ngày nay (sẽ chỉ rõ sau). Công nghệ đúc đồng Văn Lang thời kỳ này vượt hẳn Thương và đúc đồ sắt sớm, hay gang (một số sách sử cũng đã phân tích và ghi nhận sự kiện này thông qua hình ảnh Thánh gióng phi ngựa sắt, gậy sắt, nón sắt...). Tại một di chỉ cổ ở Thái Lan phát hiện đồ sắt với thí nghiệm phóng xạ các bon C14 có niên đại trên 1000 Trước Dương lịch, Thái Lan là một bộ của Văn Lang và cho tới thời Âu Lạc vẫn còn chứng tích (sẽ chứng minh sau).
  9. CHUNG QUANH MỘT CUỘC TRANH LUẬN HÀO HỨNG Trần Chung Ngọc http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt042.php 24 tháng 11, 2009 Đầu tháng 10, 2009, 2500 người mua vé vào Đại sảnh Methodist ở Westminster, Luân Đôn, để nghe một cuộc tranh luận về chủ đề “Giáo hội Ca-tô có phải là một sức mạnh để tạo nên sự tốt đẹp trong thế giới không?” [is the Catholic Church a force for good in the World?] thuộc chương trình Intelligence Squared Debate, một diễn đàn tranh luận thiết lập ở Anh trước đây 6 năm. Điều khiển cuộc tranh luận là nữ ký giả Zeinab Badawi, tốt nghiệp đại học Oxford về chính trị, triết học và kinh tế. Có bốn thuyết trình viên thuộc hai phe. Phe ủng hộ [for], đồng ý với chủ đề trên gồm có hai nhân vật của Ca-tô giáo: Tổng giám mục John Onaiyekan ở Nigeria và bà Ann Widdecombe, một thành viên bảo thủ của quốc hội Anh. Phe chống [against] gồm có Christopher Hitchens thuộc Hiệp Hội Thế Tục Quốc Gia (National Secular Society), một hiệp hội được thành lập tại Anh từ năm 1866, và Stephen Fry, nhà văn, diễn viên, nhà đạo diễn phim ảnh v.. v… Christopher Hitchens nổi tiếng về những cuốn như “The Missionary Position”, vạch trần sự đạo đức giả và thực chất làm từ thiện của bà Teresa ở Ấn Độ mà mục đích chính là để truyền đạo và vơ vét tiền bạc của những người có hảo tâm, dấu kín trong ngân hàng cho giáo hội, và cuốn“God is not Great”, một cuốn sách gây nên sự phân hóa trong xã hội Mỹ. Stephen Fry cũng là tác giả của nhiều cuốn sách và phim ảnh. Cuộc tranh luận được quay phim và đài BBC trình chiếu ngày 7 và 8 tháng 11, 2009. Phim chia ra làm 5 đoạn, mỗi đoạn chỉ độ 9 phút. Khán giả dự thính được yêu cầu bỏ phiếu cho hai lập trường trên: “for” và “against”, trước và sau khi nghe tranh luận. Số phiếu trước và sau cuộc tranh luận cho chúng ta thấy cuộc tranh luận đã diễn tiến như thế nào. Quý độc giả có thể xem toàn bộ cuộc tranh luận trên tại URL: http://www.youtube.com/watch? có thể xem ở dưới bài Sau đây là kết quả cuộc bỏ phiếu trước và sau cuộc tranh luận: Trước cuộc tranh luận: Số phiếu “for”: 678 Số phiếu “against”: 1102 Số phiếu “không có ý kiến”: 346 Sau cuộc tranh luận: Số phiếu “for”: 268 (Giảm 410 phiếu) Số phiếu “against”: 1876 (Tăng 774 phiếu) Số phiếu “không có ý kiến”: 34 (Giảm 312 phiếu) Nếu nói đến chuyện thắng thua trong một cuộc tranh luận thì phe của TGM John Onaiyekan và bà Ann Widdecombe đã thua đậm. Nhưng vấn đề không phải là ở chỗ thắng thua, mà là “đức tin”, đồng nghĩa với mê tín, không bao giờ có thể thắng nổi “lý trí”, đồng nghĩa với sự hiểu biết chân thật. Hay nói cách khác, đức tin không thể che dấu được thực chất của Ca-tô giáo, mà qua những sự kiện lịch sử đã nói lên điều bất khả phủ bác: Giáo hội Ca-tô, qua suốt dòng lịch sử, chưa bao giờ, và có thể là không bao giờ, là một sức mạnh để tạo nên sự tốt đẹp trong thế giới. Và đây chính là nhận định kết luận bất khả phủ bác của cuộc tranh luận [The Catholic Church is not a force for good in the world: that was the overwhelming verdict after a heated debate] py Diễn giả đầu tiên: Diễn giả đầu tiên là TGM John Onaiyekan. Ông này đúng là một TGM Ca-tô vì không biết gì hơn là những luận điệu mà người Ca-tô thường viện ra để bênh vực cho Ca-tô Rô-maGiáo. Đại khái thì ông ta nói nếu Giáo hội Ca-tô không tốt đẹp thì ông ta đã không theo suốt cả cuộc đời. Ông ta còn viện là trong Giáo hội Ca-tô có đủ hạng người, từ bình dân cho đến các nhà trí thức, và có cả nguyên thủ quốc gia, làm như những lời đó có thể thuyết phục mọi người về cái tốt của Giáo hội. Ông ta còn đưa ra con số thống kê là Ca-tô giáo có tới 1.2 tỷ tín đồ mà quên mất một điều, 1.2 tỷ người tin vào một điều hoang đường nhảm nhí thì điều đó bản chất vẫn chỉ là một điều hoang đường nhảm nhí. Ông ta cũng viện lẽ là giáo hội đã chịu sự thử thách trong 2000 năm và vẫn tồn tại mà quên rằng tại sao giáo hội tồn tại lâu dài. Robert G. Ingersoll đã chẳng nói thẳng trước một cử tọa đông đảo mà mỗi người phải bỏ ra $2 (năm 1890) để nghe ông diễn thuyết (Joseph Lewis, Ingersoll: The Magnificient, p. 140): Ca-tô Rô-maGiáo thật sống dai. Điều này chứng tỏ cái gì? Nó chứng tỏ rằng quần chúng thì ngu dốt (ignorant) và các linh mục thì xảo quyệt [cunning]. [Roman Catholicism dies hard. What does that prove? It proves that the people are ignorant and that the priests are cunning.] py Diễn giả thứ hai: Christopher HitchensDiễn giả thứ hai là Christopher Hitchens. Thực chất bài nói của Christopher Hitchens không phải là tranh luận hay thảo luận mà là một chuỗi những lời lên án Giáo hội Ca-tô về những tội ác của Giáo hội chống nhân loại [a devastating prosecution of the Catholic Church for crimes against humanity]. Chỉ trong ít phút đồng hồ, khán giả có thể thấy những sự xấu ác của Giáo hội Ca-tô thật là hiển nhiên mà không ai có thể chối cãi được. Nhưng Hitchens không thể đưa ra tất cả những tội ác của Giáo hội Ca-tô mà chỉ đưa ra một số điển hình như: giáo điều “bao cao su có thể gây nên bệnh AIDS [p1]”; những sự tàn bạo trong lịch sử [p2]; ủng hộ các nhà độc tài [p3]; biện minh cho chế độ nô lệ [p4]; sự nô dịch hóa phái nữ [p5]; đàn áp những tư tưởng khai sáng tiến bộ [p6]; tra tấn và giết những khoa học gia lạc đạo; hiếp đáp và ghét những người đồng giống luyến ái [p7] v…v… Mở đầu, Hitchens nói với ông TGM John Onaiyekan là nếu ông muốn bảo vệ cho Giáo hội Ca-tô thì hãy nên đến đây, và nhân danh cái giáo hội ác ôn của ông ta để mà xin lỗi nhân loại chứ không phải để tranh luận[p8]. Hitchens cũng nhắc đến vụ Giáo hoàng John Paul II đã chính thức xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội đối với nhân loại ngày 12/3/2000 như sau: 1. Xưng thú “tội lỗi chung”. 2. Xưng thú “tội lỗi trong khi phục vụ “chân lý””. 3. Xưng thú “tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô”. 4. Xưng thú “tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái”. 5. Xưng thú “tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển”. 6. Xưng thú “tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”. 7. Xưng thú “tội lỗi trong việc vi phạm những quyền căn bản của con người”. Và Giáo hội cũng thú nhận là Galilei đã đúng và giáo hội đã sai. Hitchens cũng nêu lên những tội ác của giới linh mục và nữ tu (priests and nuns) đã bị xét xử ở Rwanda, xứ toàn tòng Ca-tô giáo ở Phi Châu. Về vụ giáo hội cấm dùng bao cao su (condom), Hitchens quy trách nhiệm cho giới chăn chiên về cái chết của hàng triệu anh chị em họ ở Phi Châu [the priests are responsible for the death of millions of their brothers and sisters in Africa]. Một điều đáng nói khác là Hitchens đã lên án chính sách giáo dục nhồi sọ trẻ con của giáo hội đại khái như sau: “Nếu anh là thành viên của giáo hội thì anh đã sinh ra trong tội lỗi. Nếu anh không đi lễ nhà thờ thì anh không lên được thiên đường [p9].” Hitchens cho rằng như vậy là giáo hội đã “lạm dụng trẻ con ngay trong nhà thờ của giáo hội [p10]” . Về thể chế hãm hiếp và tra tấn, ngược đãi trẻ con dưới sự chăm sóc của Giáo hội Ca-tô[p11], Hitchens trích dẫn một câu của Giáo hoàng Benedict XVI: “Đây là một sự khủng khoảng nghiêm trọng đòi hỏi chúng ta phải đối với những nạn nhân lòng ưu ái nhất của giới chăn chiên [p12]” Hitchens phê bình một câu rất ý nhị: “Thật vậy sao, tôi lấy làm tiếc rằng, những đứa trẻ đó đã có được sự ưu ái đó rồi [p13]” , ngụ ý là những đứa trẻ đó đã bị giới chăn chiên ưu ái qua sự cưỡng bách tình dục rồi. Câu phê bình trên cũng nói lên sự vô cùng đạo đức giả và vô liêm sỉ của Giáo hoàng, vì ai cũng biết, chính Giáo hoàng đã đưa ra chính sách bao che cho hơn 5000 linh mục can tội loạn dâm. Hitchens cũng nêu trường hợp Vatican không để cho Hồng Y Bernard Law, Tổng giám mục giáo phận Boston, trả lời cảnh sát tiểu bang Massachusetts về vai trò của ông ta trong xì-căng-đan về các linh mục loạn dâm [p14]. Hồng y Law đã thăng chức, bao che và bênh vực những linh mục can tội loạn dâm đối với trẻ con trong giáo phận. Để tránh bị truy tố, ông ta được Vatican gọi về Vatican, trao cho một chức vụ. Và hiện nay, có tin là giáo dân Ca-tô Việt Nam đang hồ hởi đón tiếp tưng bừng tên Hồng Y vô đạo đức này ở Việt Nam, đến làm chủ một thánh lễ gì đó ở Việt Nam. Thật là đẹp mặt cho Giáo hội Ca-tô ở Việt Nam. Hitchens cũng còn đưa ra một danh sách những sự ác ôn của giáo hội qua nhiều thế kỷ như các cuộc thánh chiến, những tòa án xử dị giáo và những kẻ lạc đạo, và sự tra tấn và giết hại khoa học gia và tín đồ Tin Lành. Và lẽ dĩ nhiên, Hitchens không bỏ qua sự kiện là Giáo hội đã vu cho người Do Thái tội giết Chúa cho đến năm 1964 (công đồng Vatican II) và phải có trách nhiệm về những lò sát sinh người Do Thái của Đức Quốc Xã [p15]. Đó là những sự kiện lịch sử mà không ai có thể chối cãi. py Diễn giả thứ ba: AnnWiddecombeDiễn giả thứ ba là Ann Widdecombe. Bà này quảng cáo nhiều cho các việc từ thiện của giáo hội trên khắp thế giới. Nhưng ngày nay, thế giới đã biết rõ bộ mặt từ thiện của Ca-Tô Rô-MaGiáo, và chỉ có những tín đồ u mê, không biết gì, mới còn ra công tô hồng đánh bóng cho những công việc từ thiện của Giáo hội. Một trong những sách lược tuyên truyền, quảng cáo của Giáo hội là thổi phồng việc làm của vài cá nhân trong Giáo hội, đánh bóng hình ảnh của họ và đưa đến tâm cảnh tôn sùng cá nhân giữa đám tín đồ. Gần đây, điều mà giáo hội Ca-Tô quảng cáo nhiều nhất và ồn ào nhất là những công tác từ thiện của Giáo hội. Bất cứ có một cơ hội nào là Giáo hội và các con chiên ngoan đạo Việt Nam lại mang Mẹ Teresa, người mà Giáo hội tôn là Thánh Mẫu (Holy Mother), ra làm bình phong từ thiện, lạc dẫn dư luận, làm như Mẹ là con người rất mực thánh thiện, và tất cả tín đồ Ca-Tô đều như Mẹ Teresa cả. Nhưng thực chất việc làm từ thiện của bà Teresa đã bị phơi bày: Bà làm việc từ thiện không phải là do từ tâm mà mục đích chính là kiếm linh hồn cho Chúa và vơ vét tiền bạc của những người có hảo tâm. Tiền thu được nhiều triệu đô-la [khoảng 150 triệu đô-la], đáng lẽ để dùng giúp đỡ những kẻ xấu số, thì lại dấu kín trong các ngân hàng, để làm gì, ai mà biết được. Nghiên cứu tường tận về các công việc từ thiện của Giáo hội từ xưa tới nay, chúng ta rất ít thấy ở đâu là thuần túy từ thiện, mà mục đích chính của các việc làm từ thiện là dùng vật chất để truyền đạo, và chúng ta phải công nhận đây là nguyên nhân chính về sự thành công của Ca-Tô giáo trong những thế kỷ qua. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy từ thời các giáo sĩ thừa sai đầu tiên xâm nhập Việt Nam cho tới thời Ngô Đình Diệm ở miền Nam, bả vật chất đã là một phương tiện hữu hiệu để truyền đạo và thu nhặt tín đồ của Ca-Tô Giáo. Dưới thời Ngô Đình Diệm, các Linh mục Việt Nam được toàn quyền xử dụng viện trợ từ thiện của Mỹ và dùng nó như một vũ khí để ép người vào đạo, khoan kể đến chuyện bắn pháo binh vào những làng không theo đạo để ép buộc dân trong làng theo đạo để đổi lấy sự an toàn của làng xóm. Người Việt Nam đâu đã có ai quên cái câu bất hủ được truyền tụng trong dân gian: "Theo đạo có gạo mà ăn." Cảnh này cũng lại tiếp diễn trong các trại tị nạn mà các Linh mục được sự viện trợ của các cơ quan từ thiện KiTô giáo, họ giữ chặt của viện trợ cho giáo dân và chỉ cho người ngoài khi bằng lòng theo đạo. Tôi không nói là các việc từ thiện của Ca-Tô giáo không có ích lợi gì, chúng góp phần làm vơi bớt sự khó khăn mà con người gặp phải. Nhưng cái động cơ đằng sau những công việc từ thiện này và phương cách xử dụng thì chẳng thiện chút nào. Ngày nay, những tài liệu về thực chất “từ thiện” của Ca-Tô Rô-MaGiáo không thiếu, cho nên bình phong “từ thiện” của Ca-Tô Rô-MaGiáo chỉ có thể lừa dối được những kẻ không biết gì. B. S. Rajneesh, tác giả cuốn Linh Mục và Chính Trị Gia: Những Mafia của Linh Hồn (Priests & Politicians: The Mafia of the Soul), đã viết như sau, trang 25: Nếu con người nghèo đói, họ có thể dễ bị dụ vào Ki Tô Giáo, đặc biệt là Ca Tô Giáo. Những trường học, nhà thương, và viện mồ côi của họ chẳng qua cũng chỉ là những xưởng để dụ người ta trở thành tín đồ Ca Tô [p16] Rajneesh đã không nhắc đến sự kiện là với những sự trợ cấp của chính phủ và sự đóng góp của những người có từ tâm, nhiều cơ sở "từ thiện" đã là những nguồn kinh tài cho giáo hội, vơ vét tiền bạc trên sự đau khổ của các trẻ em mồ côi và những người xấu số. Sơ Lê Thị Tríu ở Phi Luật Tân cũng đã hốt được 2 triệu đô-la để thành lập “làng Việt Nam ma” ở Phi Luật Tân. Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm một sự kiện về những tổ chức "từ thiện" của Vatican. Sách vở, báo chí và TV Âu Mỹ đã phanh phui ra vụ Vatican dùng những cơ quan từ thiện như Caritas International, Red Cross và một số tu viện làm những đường giây gọi là "Giây chuột" (Ratlines) với những dịch vụ như cấp căn cước giả, thông hành giả, tài chánh v..v.. cho nhiều tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã ẩn náu trong các tu viện chờ cơ hội chuồn sang Nam Mỹ, phần lớn là sang Á Căn Đình (Argentina). Nói tóm lại, những công cuộc “từ thiện” của Ki Tô Giáo, Ca-Tô Giáo cũng như Tin Lành, chỉ là những sơn phết màu mè che dấu những âm mưu đen tối đàng sau. Tuy vậy, những lớp sơn phết này cũng đánh lừa được nhiều người, kể cả những chính quyền phi Ki-Tô không biết rõ bản chất “từ thiện” của Ki Tô Giáo. Điều hiển nhiên là ở trên trái đất này không phải chỉ có Ca-Tô Giáo mới làm việc từ thiện. Bất cứ nơi nào có những cảnh khổ trong xã hội bất cứ vì lý do gì, thiên tai, lụt lội, đói kém, bệnh tật v..v.. lòng con người lại mở để góp phần làm vơi bớt những nỗi đau khổ của đồng loại. Trong hầu hết các xã hội khác, tôn giáo khác, việc từ thiện bao giờ cũng phát xuất từ những tấm lòng, thương người vị tha. Chỉ có Ca-Tô giáo làm việc thiện cho những mục đích bất thiện: dùng bả vật chất để khuyên dụ người đi đạo, làm việc thiện để lấy tiếng, kiếm thêm tín đồ cho Chúa, hoặc với mục đích chính trị nhơ nhớp như vừa được trình bày ở trên. Ở đây tôi chỉ nói đến sách lược chung của Giáo hội chứ không nói đến cá nhân tín đồ Ca-Tô trong đó chắc chắn có nhiều người có lòng bác ái thuần túy không thua gì những người trong các tôn giáo khác. Ai cũng biết Giáo hội Ca-Tô là một tổ chức giàu có nhất thế giới với đầy đủ các phương tiện truyền thông để tạo nên một hình ảnh theo ý Giáo hội về các công cuộc "từ thiện" mà giáo hội muốn cho quần chúng, và nhất là những tín đồ ở các nước kém mở mang, phải tin và tôn thờ. Nhưng ở thế giới văn minh Âu Mỹ này thì không gì có thể qua mắt được những chuyên gia đầy đủ khả năng về mọi vấn đề, những người có tinh thần tôn trọng tuyệt đối sự thực và quyền tự do phát biểu ý kiến. Cho nên, thường thường trước sau gì rồi cái mặt trái của một chiếc mề đay cũng phải phơi bày. Cổ nhân đã dạy: muốn cho người khác không biết thì đừng có làm. Chân lý này không bao giờ thay đổi. Thông điệp chính của bà Ann Widdecombe trong bài nói là “thông điệp về hi vọng và cứu rỗi”,một huyền thoại mà các tín đồ Ki Tô Giáo đã hi vọng từ 2000 năm nay mà chưa ai thấy thành tựu. Bà ta cho rằng mọi người trên thế giới đều cần đến cái thông điệp hi vọng và cứu rỗi của Giáo hội Ca-tô [p17]. Đây là thông điệp cho những người mê mẩn về một cái bánh vẽ trên trời, theo nhận định của Mục sư Ernie Bringas. Lẽ dĩ nhiên bà này chưa đọc bài “Huyền Thoại Cứu Rỗi [p18]”của Linh mục James Kavanaugh, hay bài “Giê-su như là đấng cứu thế: một vai trò cần phải dẹp bỏ [p19]” của Giám Mục John Shelby Spong. Là một tín đồ Ca-Tô thuần thành, bà Ann Widdecombe còn cho rằng mười điều răn (the ten commandements) của Thiên Chúa là tiêu chuẩn đạo đức cho cả thế giới bất kể là, phân tích những điều răn này các học giả đã cho rằng chẳng có gì đặc biệt, vì các tôn giáo dân gian cũng đều dạy những điều tương tự trừ ba điều răn đầu mà Christopher Hitchens cho rằng chỉ có mục đích đe dọa để làm cho tín đồ phải sợ Gót [p20](God) . py Diễn giả thứ tư: StephenFryDiễn giả cuối cùng là Stephen Fry. Mở đầu, Fry khẳng định là ông ta không coi thường và có xích mích gì đối với các cá nhân tín đồ trong giáo hội. Đây là điều mà các tín đồ Ca-tô Việt Nam cần biết. Những bài viết thuộc loại đưa ra những sự thật về Ca-tô Rô-maGiáo trên giaodiemonline.com hay sachhiem.net thuộc loại nghiên cứu nghiêm chỉnh với đầy đủ tài liệu để mở mang kiến thức của quần chúng về Ca-tô Rô-maGiáo chứ không phải để chống các cá nhân tín đồ Ca-tô Rô-maGiáo. Stephen Fry cho rằng tín ngưỡng tôn giáo là quyền thiêng liêng của con người. Nhưng ông ta nói: “Tôi cũng có những niềm tin của tôi, đó là sự khai sáng trong tư tưởng và khám phá ra thêm những chân lý trong thế giới, và Giáo hội Ca-tô không thích thú gì hơn là tấn công những niềm tin này [p21].” Stephen đưa ra một trường hợp điển hình về sự đạo đức giả của Giáo hội Ca-tô và thực chất các Thánh trong Ca-tô Rô-maGiáo. Đó là trường hợp của Thomas More người đã tra tấn và thiêu sống một số người vì đã dám phát tán và đọc cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Anh (those daring to own a Bible in their own language). Tìm hiểu sự kiện này tôi đọc được trên Internet đoạn sau đây về Thomas More, tôi xin để nguyên văn: In 1531, Richard Bayfield, a graduate of the University of Cambridge and formerBenedictine monk, was burned at Smithfield for distributing copies of Tyndale's English translation of the New Testament.[8] Further burnings followed at More's instigation, including that of the priest and writerJohn Frith in 1533. In The Confutation of Tyndale's Answer, yet another polemic, More took particular interest[citation needed] in the execution of Sir Thomas Hitton, describing him as "the devil's stinking martyr".[9] Rumours circulated during and after More's lifetime concerning his treatment of heretics;John Foxe (who "placed Protestant sufferings against the background of ... the Antichrist")[10] in his Book of Martyrs claimed that More had often used violence or torture while interrogating them. A more recent Evangelical author, Michael Farris, also used Foxe's book as a reference in writing that in April 1529 a heretic, John Tewkesbury, was taken by More to his house in Chelsea and so badly tortured on the rack that he was almost unable to walk. Tewkesbury was subsequently burned at the stake.[11] Stephen Fry đặt vấn đề: “Có thể tưởng tượng được không, vậy mà Thomas More về sau được Giáo Hoàng phong Thánh”. Và ngày nay chúng ta thấy trong Ca-tô Giáo có những cơ sở như Trường Trung Học Thomas More, Trường Đại Học Thomas More, Nhà Thương Thomas More v…v… Ca-tô Giáo ở đâu cũng vậy, ở Việt Nam có trường Trần Lục, trường Nguyễn Bá Tòng, trường Pétrus Ký v…v…, toàn là các trường mang tên Đại Việt Gian cả. Chưa kể là Ca-tô Việt Nam cũng có 117 thánh, hay á thánh, toàn là những kẻ cuồng tín phản bội gia đình, truyền thống dân tộc, và quốc gia cả. Hiện tượng thần thánh hóa những nhân vật mà một số người sùng tín, qua những thông tin sai lạc một chiều, vốn không phải là điều xa lạ trong lịch sử nhân loại. Trong Ca-Tô Rô-MaGiáo (Công Giáo) có rất nhiều Thánh, đếm không xuể. Có Thánh Abraham lấy em làm vợ, có Thánh David cướp vợ thuộc hạ, có Thánh Giu-se, ông thợ mộc được phong Thánh chỉ vì đã cay đắng chấp nhận làm cha của Giê-su mà cha thật của Giê-su không ai biết là ai trừ bà Mary nhưng bà lại không chịu nói ra, có Thánh Augustine dốt nát về vũ trụ và con người, kỳ thị phái nữ một cách điên cuồng, có cả Thánh André Phú Yên, một Việt gian tội đồ của dân tộc Việt Nam đi theo tên thừa sai gián điệp Alexandre de Rhodes từ ngày đầu v..v.. Stephen Fry cũng lên án chính sách giáo dục của Giáo hội Ca-tô là “Nhồi sọ trẻ con để chúng tin vào những tín lý của Giáo hội [p22]” . Vấn đề Stephen Fry tấn công giáo hội Ca-tô mạnh nhất là lập trường của giáo hội về vấn đề ngừa thai. Fry đưa ra sự kiện ngăn ngừa bệnh AIDS ở Uganda, thành công phần nào qua chính sách ABC [Abstinence – Be Faithful – Correct use of Condoms], nghĩa là tiết chế tình dục, giữ đức tin, và dùng bao cao su đúng cách. Nhưng Fry lên án Giáo hoàng đương thời là Benedict XVI đã nói láo là bao cao su làm tăng thêm bệnh AIDS. Như vậy là ông ta (giáo hoàng) cho rằng điều kiện để tránh bệnh AIDS là không dùng bao cao su (condoms) [p23]. Sự đau khổ, hậu quả của chính sách này thật là khủng khiếp Về chuyện Benedict XVI nói bậy này, chúng ta đã biết là Richard Dawkins, Giáo sư người Anh, khoa học gia, nhà sinh học và vô thần lỗi lạc, nổi tiếng, nói rằng bàn tay của Giáo hoàng Benedict XVI sẽ đẫm máu nếu những niềm tin của ông ta được các tín đồ trên thế giới tuân theo. Tại một đại học ở Tây Ban Nha, Giáo sư nói: “Tôi tự hỏi đặt trên căn bản nào mà một người nào đó có thể nói là bao cao su sẽ làm tăng bệnh AIDS. Giáo hoàng hoặc ngu, hoặc dốt hay đầu óc lờ mờ.” Nếu các tín đồ coi lời ông ta làm trọng thì ông ta sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của hàng ngàn, ngay cả hàng triệu con người [p24]. Sau phần thuyết trình của các diễn giả là phần khán giả đặt câu hỏi. Và cuối cùng là các diễn giả nói vài lời sau cùng để kết thúc [p25]. Tôi đề nghị quý độc giả hãy xem toàn bộ cuộc tranh luận đã có trên Internet. Tất cả chưa tới 1 giờ đồng hồ. Tôi bảo đảm “closing statement” của Christopher Hitchens và Stephen Fry cũng rất là hào hứng. [p1][the teaching that condoms can cause AIDS] [p2][the historical atrocities] [p3][the endorsement of dictators] [p4][the justification of slavery]; >[p5][the subjugation of women] [p6][suppression of enlightenment thingking] [p7][the torture and murder of heretic scientists and the bullying and hatred of homosexuals] [p8][Hitchens suggested that the Archbishop should not have come here to debate, but to beg for forgiveness on behalf of his wicked organisation..] [p9] [if you are a member of the church you were born in sins. If you don’t go to church, you cannot go to heaven) [p10](abuse the children in their own church) [p11][On the institutionalisation of rape and torture, maltreatment of children under their care] [p12][‘It is a very serious crisis which demands us in the need for applying to the victims, the most loving pastoral care.’] [p13][Well, I’m sorry, they have already had that.”] [p14][Hitchens tore into the Vatican for its refusal to hand over Cardinal Bernard Law, the former Archbishop of Boston, to Massachusetts police for questioning about his role in the child abuse scandals.] [p15][He laid the responsibility for the Holocaust at the Church’s door, which he claims was made possible by role in inciting hatred of Jews over the centuries: “That the church taught that the Jewish people were collectively responsible for the death of Christ until 1964, twenty years after the Nuremberg trials, may or may not have had something to do with the availability of a reservoir of hate to tap into in Germany, Poland, Austria, Spain, Italy and elsewhere.”] [p16] (If people are poor and hungry, they can be easily converted to Christianity, particularly into the Catholic Church. Their schools, their hospitals, their orphanages are nothing but factories for converting people into Catholics) [p17][The church is about hope and salvation. And it is intellectual arrogance to say people around the world can simply live without that. People are trying their hardest to live by Christ’s message; by the commandments, by the interpretation of those commandments.] [p18][The salvation Myth [p19][Jesus as a rescuer: An Image That Has to Go] [p20][just to terrify people to fear God] [p21][it is important as I also happen to have my own beliefs, in the the Enlightenment thinking, and trying to discover more truth in the world. It is an empirical fight that began with, and there is nothing the Catholic Church likes to do more, than attack it.] [p22][The children were endoctrinated to believe in the dogma of the Church] [p23][“I don’t deny abstinence is a good way of not getting AIDS. It really works. But so do condoms!" he thundered. "(The Pope) spreads the lie that condoms increase the incidence of aids. He actually makes sure that aids is conditional on saying no to condoms. The pain and suffering you see as a result is appalling.”] [p24] [british Professor scientist Richard Dawkins, the prominent biologist and atheist, said that Benedict XVI would have blood on his hands if his beliefs were followed by Catholics around the continent. Speaking at a university in Spain, he said: "I wonder on what basis anyone can say condoms make Aids worse. The Pope is either stupid, ignorant or dim. "If people take his words seriously he will be responsible for the deaths of thousands, perhaps millions of people."] Nguồn: http://www.telegraph.co.uk/news/news...is-stupid.html [p25][closing statement] Nếu xương cốt người chết hóa thạch trở lại thì các toà thánh, giáo đường sẽ được chất đầy, nơi đấy chả có gì mà tìm cả, toàn máu xương và âm mưu.
  10. LINH MỤC ĐẮC LỘ BIỆN CHÍNH VỚI ÔNG NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU nguồn http://giaodiemonline.com/2009/02/bienchinh.htm Bùi Kha 24 tháng 2, 2009 Sachhiem.net đính kèm ở đây: tài liệu dẫn: Loạt bài của ông Nguyễn Đình Đầu trong báo "Công Giáo và Dân Tộc" Alexendre de RhodesSau khi bài Alexandre de Rhodes – công và tội (http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha5.php) của tôi xuất hiện trên Tạp chí Hồn Việt số 17 (Tháng 11/2008) , ông Nguyễn Đình Đầu viết bài phản biện đăng trên tuần san Công giáo và Dân tộc với tựa đề Lại một bài báo vu khống cha Đắc Lộ (http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha3.php). Tôi rất thích những ý kiến phản biện để làm sáng rõ vấn đề nhưng bài viết phải nghiêm túc và có chứng liệu, không nên chụp mũ và nhất là phải khách quan vô tư không bị chi phối bởi tình cảm, nhất là tình cảm tôn giáo. Trước hết, xin cảm ơn ông Nguyễn Đình Đầu đã sửa cho một lỗi chính tả là vua Louis thứ 14 thay vì thứ 4. Điểm kế tiếp rất đáng được trân trọng là ông Nguyễn Đình Đầu, một trong những người bênh vực Lm Đắc Lộ hết mực, cũng phải công khai thừa nhận “không một ai (dĩ nhiên là bao gồm ông Nguyễn Đình Đầu, BK) trong hội thảo cho rằng Đắc Lộ “là người sáng nghĩ ra chữ Quốc ngữ”, mà chỉ là người học nói tiếng ta từ chính người Việt...”. Và nếu xác nhận như thế thì không có lý do gì để vinh danh ông linh mục này, và ông Nguyễn Đình Đầu cũng không cần phải nhọc công phản biện bài viết nghiêm túc của tôi về một vấn đề lịch sử bị hiểu nhầm qua nhiều thế hệ. Ngoài hai điểm vừa kể, bài viết của ông có nhiều điều bất cập, thiếu chứng liệu và chụp mũ. Dưới đây là một số chứng cớ: 1. XUYÊN TẠC TƯ LIỆU: Đoạn mở đầu, ông Nguyễn Đình Đầu cáo buộc tôi “đây là một bài báo xuyên tạc tư liệu lịch sử với ác ý vu khống kết tội cá nhân De Rhodes”. Kế tiếp, ông liệt kê một số tác giả mà ông cho là họ ca tụng Lm Đắc Lộ, nhưng không cho thấy tôi (Bùi Kha) đã xuyên tạc lịch sử như thế nào! Chẳng lẽ, ông muốn nói, có nhiều người nhất là nhiều linh mục và nhiều tờ báo đăng bài “ca tụng” Đắc Lộ tất nhiên phải là ĐÚNG hay sao, còn những ai, trong đó có Bùi Kha, viết theo đúng sử liệu thì tất nhiên phải là “xuyên tạc tư liệu lịch sử”? Chúng ta nghiên cứu lịch sử là cần dựa vào những sử liệu giá trị và những bài nghiên cứu nghiêm túc để kiểm chứng, đối chiếu phân tích nhằm đưa đến một kết luận khả dĩ chứ đâu phải dựa vào số đông để đánh giá một nhân vật hoặc một sự kiện lịch sử. 2. KIẾM ĐỒNG MINH VÀ CẮT XÉN CÂU VĂN CỦA NGƯỜI KHÁC: Và để kiếm thêm đồng minh, ông Nguyễn Đình Đầu viết: “Cho nên, chúng tôi rất ngạc nhiên thấy tác giả Bùi Kha viết: “Vinh danh linh mục Đắc Lộ từ sự nhầm lẫn trong dịch thuật”. Ông lên giọng đánh giá giới khoa học bằng nhận định: Hầu hết các nhà nghiên cứu chưa đọc hết các tác phẩm của Đắc Lộ, đặc biệt là cuốn Hành trình và truyền giáo. Lời nói đầu cuốn Từ điển Việt Bồ La và cuốn Phép giảng tám ngày” [chữ đậm là của BK muốn nhấn mạnh]. Tôi viết “Chúng ta có cảm tưởng là hầu hết các nhà nghiên cứu…”. Ông Nguyễn Đình Đầu cắt xén dòng chữ “Chúng ta có cảm tưởng là” nên câu văn của tôi đổi nghĩa từ giả thiết đến khẳng định. Sở dĩ, tôi nghĩ như trên vì hai lý do: Một, Hội thảo lần thứ nhất là vào tháng 12/1992 và lần hai là tháng 3/1993 mà cuốn Phép giảng tám ngày mới in xong vào tháng 5/1993 còn cuốn Hành trình và truyền giáo chỉ mới được xuất bản năm 1994. Cuốn Phép Giảng Tám Ngày của Lm Đắc Lộ không đáng để phê bình vì đó là tác phẩm “không đúng đắn”, không phải của một thừa sai trí thức. Còn cuốn Hành Trình và Truyền Giáo viết sai và xuyên tạc nhiều vấn đề. Xin đọc bài phê bình khá chi tiết của GS Trần Chung Ngọc đăng trên: http://www.sachhiem.net/TCNtg/TCN50.php Hai, tôi nghĩ, những ai có đọc ba cuốn sách nói trên và nghiêm túc thì không thể chấp nhận: lối dịch thuật tùy tiện và đánh giá Lm Đắc Lộ theo kiểu của ông Nguyễn Đình Đầu như tôi đã trình bày khá rõ trong bài viết trước. Thiết tưởng tôi có lý do để nhận định như thế. Nhận định này có thể có chủ quan nhưng không phải “lên giọng” hạ thấp ai như ông Nguyễn Đình Đầu gán ép có hậu ý. Theo tôi, ông Nguyễn Đình Đầu dịch “plusieurs soldats” là “lính thừa sai”, đó là ngụy nghĩa, và dịch “La conquête de tout l’Orient” là “nước cha trị đến” là dịch tùy tiện vì không hiểu thế nào là “nước cha trị đến”. Còn Bùi Kha dịch “plusieurs soldats” là “lính chiến có súng để đánh giặc”, và “la conquête de tout l’Orient” là “chinh phục toàn cõi Phương đông” là dịch theo ý và sát nghĩa của tác giả Đắc Lộ. Tôi đã đưa ra 5 luận điểm, mà đúng ra là có nhiều hơn, để giải thích tại sao tôi dịch như thế. Còn ông Nguyễn Đình Đầu dịch nhưng ông đã không thể đưa ra một lý do nào. Do đó, tôi cho là một lối dịch đầy cảm tính để vinh danh sai lầm một người có nhiều oan trái với lịch sử nước ta. Nhân đây, tôi trích thêm một đoạn trong cuốn Hành trình và truyền giáo để xem Lm Đắc Lộ có muốn xin lính chiến (plusieurs soldats) hay không: “Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Ðàng Trong, ở Ðàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm những nơi cùng kiệt cõi đất.” (Sách Hành trình và truyền giáo, giữa tr. 264>). Để có thêm tư liệu so sánh xem Bùi Kha có vu khống cha Đắc Lộ hay không, mời ông Nguyễn Đình Đầu và độc giả tìm hiểu thêm Lm Đắc lộ, các vấn đề chính trị và tôn giáo trong thế kỷ XVII: a. Cao Huy Thuần trong Christianisme et Colonialisme au Vietnam 1857-1914 (Ðạo Công giáo và Chủ nghĩa Thực dân Pháp tại Việt Nam 1857-1914). Đây là một luận án tiến sĩ quốc gia (docteur d’état) bảo vệ tại Pháp và đã được ban giám khảo đánh giá rất cao. ... Ðến Bắc Kỳ năm 1627, Linh mục de Rhodes nhận được ân huệ của Chúa Trịnh Tráng ngoài Bắc, .... Linh mục đã viết trong các báo cáo gởi về cấp trên như sau: “Vua xứ Bắc cho chúng tôi xây cất nhà cửa và nhà thờ gần hoàng cung. Tại đó, chúng tôi đã được giúp đỡ rất nhiều trong khi thi hành phận sự.”... Nhưng ở đây, cũng đã xảy ra những phản ứng như ở Trung Quốc và Nhật Bản. Chính phủ lo lắng khi thấy đạo mới tấn công thẳng vào các nguyên lý đạo đức và chính trị Nho giáo vốn là nền tảng của xã hội cổ truyền Việt Nam. Thật vậy, toàn thể cơ cấu chính trị và xã hội của nước Việt Nam xây dựng trên quan niệm đạo đức của Nho giáo: lòng hiếu thảo, sự thờ cúng ông bà, lòng trung với vua. Nhưng đạo mới từ Tây Phương đến lại muốn phế truất các quy luật tín ngưỡng cũ. Không những việc thờ cúng ông bà bị kết án quyết liệt mà lòng sùng đạo của con chiên phải đứng trên lòng hiếu thảo và lòng trung với vua.... “Về Paris, Alexandre de Rhodes gặp một nhóm linh mục trẻ đang có quyết tâm biến việc đào tạo các linh mục này thành một công việc của Pháp. Ðó là thời kỳ chính trị Pháp bắt đầu chịu ảnh hưởng sự thu hút của biển cả. Ðược Hoàng hậu Pháp và một vài nhân vật cao cấp ủng hộ, nhưng kế hoạch này bị Bồ Ðào Nha công kích mạnh mẽ, họ viện dẫn sự bảo trợ hoàn toàn mà Giáo hoàng Alexandre VI cho họ từ năm 1493. Alexandre de Rhodes chết năm 1660, khi chưa thấy được kế hoạch của mình thực hiện. Nhưng các cố gắng của ông đã thành tựu”. b. Stanley Karnow trong Việt Nam, A History. The First Complete Account of Việt Nam at War, (Việt Nam, Lịch sử. Mô tả đầu tiên đầy đủ về cuộc chiến Việt Nam) viết như sau: “Chẳng bao lâu Linh mục Alexandre de Rhodes nhận thấy rằng uy tín ngày càng phai nhạt nên Bồ Ðào Nha không còn ích lợi cho Gia Tô giáo ở Á Châu. Ông cũng toan tính rằng có thể chinh phục được “con tim và khối óc” con người một cách có hiệu quả bằng các giáo sĩ người Việt Nam hơn là người Âu Châu. Ông đến La Mã vận động xin hủy bỏ sắc lệnh của Giáo hoàng có từ thế kỷ 15 cho phép Bồ Ðào Nha độc quyền tại Á Châu. Nhưng ông gặp phải sự chống đối quyết liệt của người Bồ và khó lòng chinh phục được các giới chức ở La Mã, thế rồi ông trở về Pháp, quê hương ông, để xin giúp đỡ. Ðể thành công được chương trình dự định, ông thuyết phục các lãnh tụ tôn giáo và thương gia Pháp bằng một hình ảnh là nước Việt Nam đã đến giai đoạn chín muồi để dân chúng theo Công giáo, và là một quốc gia thần tiên với tài nguyên vô tận, ngay cả người đánh cá cũng dùng lưới làm bằng tơ lụa”. Ông NĐĐ có biết tại sao Giáo sĩ phải nói dối như thế? c. Avro Manhattan, trong Vietnam: Why Did We Go? The Shocking Story of the Catholic “Church’s” Role in Starting the Vietnam War (Việt Nam: Tại sao chúng ta đến đó. Chuyện chấn động về vai trò của Giáo hội Công giáo trong việc gây ra cuộc chiến tranh Việt Nam) viết như sau: “Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes đến Ðông Dương năm 1610. Một thập niên sau, ông gửi về cho Vatican và Pháp một bản phúc trình mô tả rất chính xác về tiềm năng thương mại, chính trị và chiến lược. Nhiều giáo sĩ Dòng Tên Pháp được tuyển mộ ngay và gửi sang giúp ông ta thực hiện hai công tác: đổi đạo theo Công giáo và bành trướng thương mại. La Mã và Ba Lê xem những hoạt động này như những bước khởi đầu không thể tách rời khỏi sự dẫn đến việc chiếm đóng về chính trị và quân sự trên các quốc gia này.” Đọc ba tài liệu trên trong vô số tài liệu của các sử gia nước ngoài, ông Nguyễn Đình Đầu nghĩ thế nào? 3. HÀI TỘI GIÁO HOÀNG ? : Ông Nguyễn Đình Đầu viết: “Tác giả Bùi Kha tìm hết cách chứng minh Đắc Lộ luôn luôn vận động có nhiều lính chiến để chinh phục toàn cõi Đông Phương, kể cả những cách ngụy tạo hay xuyên tạc tài liệu lịch sử. Như khi ông khẳng định Giáo hoàng đã giao quyền “sinh sát”… thì một là ông nghĩ quá xa hai là ông có ác ý hài tội cho Giáo hoàng…”. Ðể tránh tình trạng có thể bị hiểu lầm hay “nhạy cảm” về tôn giáo, thay vì trích sắc lệnh của Giáo hoàng ở một sách khác, tôi trích từ sách Thập giá và lưỡi gươm của linh mục Trần Tam Tỉnh. Nguyên văn: “..., quyền lợi của Bồ Ðào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ “Romanus Pontifex” do (Giáo hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa thánh, Ðức Giáo hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Ðào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất, đô hộ và cướp tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn.” (Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Paris: Sudestasie, 1978, tr. 14-15). “Năm 1492, Christopher Columbus khám phá ra những vùng đất mới mà ông nghĩ là Ấn Ðộ. Một nửa thế kỷ trước đó, thương thuyền Bồ Ðào Nha cũng đã chạy dọc theo bờ biển phía Tây Châu Phi. Ít năm sau, năm 1497, Vasco de Gama, người Bồ Ðào Nha, đã phát hiện đúng con đường sang Ấn Ðộ. “Ngày 4 tháng 5 năm 1493, qua sắc chỉ “Inter caetera” (“giữa những điều khác”), Giáo hoàng Alexander VI giao quyền chinh phục các vùng đất kể trên mà các dân Phương Tây chưa từng biết, cho các triều đình nước Tây Ban Nha và Bồ Ðào Nha. Tây Ban Nha có quyền đi chiếm tất cả các đất đai gặp được ở một trăm dặm kể từ quần đảo Azores, còn Bồ Ðào Nha, tất cả các nước nằm ở mạn Ðông đường ranh đó (quần đảo Azores ở mạn giữa cắt đôi Ðại Tây Dương.” (Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14). Các Giáo hội Công giáo ở các quốc gia, dĩ nhiên, không ai dám phản đối các sắc lệnh của Giáo hoàng. Nhưng chính quyền các nước Âu châu ngay từ lúc có giáo lệnh của các Giáo hoàng, cho đến mãi về sau, đã không thừa nhận các giáo lệnh đó. Ngay cả nữ hoàng Elizabeth I (1533-1603) cũng phản đối. Năm 1540, vua Francis I của Pháp công khai chống đối ra mặt bằng câu mỉa mai: “Ai có thể chỉ cho ta thấy di chúc của ông tổ Adam giao tất cả thế giới cho Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha?” (“Who can show me the will of father Adam leaving all the world to Spain and Portugal?” trong This is America’s Story, của Howard B. Wider, Robert P. Ludlum & Harriett McCune Brown, do Houghton Mifflin Company, Atlanta, xuất bản năm 1975. trang 63). Tôi đã để hai chữ “sinh sát” vào ngoặc kép nhưng ông Nguyễn Đình Đầu hầu như muốn xách động và hướng vấn đề đến mục tiêu khác. Tuy nhiên, đọc đoạn trích dẫn trên chúng ta đã thấy Giáo hoàng không trao quyền sinh sát mà chỉ cho cướp của (chưa giết người) … và bắt làm nô lệ vĩnh viễn; về sau nạn nhân chết sống thế nào thì chưa ai biết được! Chẳng có ai “hài tội” Giáo hoàng vì lịch sử các Giáo hoàng nay đã không còn xa lạ đối với giới trí thức. Muốn biết các giáo hoàng ra sao, tôi khuyên ông Nguyễn Đình Đầu nên đọc một chút về lịch sử của một số giáo hoàng viết bởi Giáo sĩ Peter de Rosa trong cuốn “Vicars of Christ” hay của học giả Mỹ Lloyd M. Graham trong cuốn Deceptions & Myths of the Bible. Có bản tiếng Việt trên: www.sachhiem.net/TCNtg/TCN20.php 4. LỜI THỀ CỦA DÒNG TÊN : Ông Nguyễn Đình Đầu viết: “Không biết ông Bùi Kha đào đâu ra cái gọi là Lời thề Dòng Tên trên đây? Kẻ viết bài này thực tình run tay, hoa mắt khi phải nhắc lại đoạn văn vô nhân tính kinh tởm quá sức như vậy. Bất cứ cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng nào từ xưa đến nay hay ở nơi đâu đi nữa trên địa cầu lại có Lời thề dã man tương tự. Ông Bùi Kha trưng dẫn tư liệu (?). Ai cũng thấy Lời thề của ông Bùi Kha là không có thực”. Ông lại viết sai nữa. Lời Thề Dòng Tên là một văn kiện có thực. Tôi hoàn toàn thông cảm và chia sẻ tâm tình ông Nguyễn Đình Đầu, không tin được một văn kiện của Hội Thánh lại dã man như thế. Nhưng tài liệu về “Lời Thề Dòng Tên” đã được phổ biến rộng rãi trên Internet. Ông chỉ cần vào Internet, đánh ba chữ: “The Jesuit Oath” là ông có thể biết tất cả về Lời Thề Dòng Tên (hoặc theo mạng luới này: http://www.ianpaisley.org/article.asp?ArtKey=jesuit). 5. LÊN GIỌNG PHÊ PHÁN… : Ông Nguyễn Đình Đầu lại muốn kiếm thêm đồng minh rồi phịa ra điều mà tôi không hề viết: “Ông Bùi Kha lên giọng phê phán các thế hệ nghiên cứu học thuật, cả Viện sử học lẫn Hội sử học…”. Thực tế, tôi đã viết trong bài: “Là một người nghiên cứu sử, tôi xin mạn phép đề nghị với quý vị giáo sư sử học, nên có một dự án nghiên cứu đặc biệt về Lm Đắc Lộ để giá trị của ông được đánh giá đúng đắn…”. Mong ông NĐĐ nên thành thật; đừng thêm thắt và vu khống. Tôi nhận định vài người trong đó có ông Nguyễn Đình Đầu:“dịch thuật tùy tiện theo cảm tính… về hai cụm từ plusieurs soldats và La conquête de tout l’Orient”. Có thể đó là nhận định chủ quan, nhưng nên cho tôi có cái quyền nói lên điều đó. Ông Nguyễn Đình Đầu đã không đủ lý lẽ để phản biện, nên dùng phương pháp chụp mũ để áp đảo. 6. BÀI BÁO GÂY BẠO LOẠN… : Ông Nguyễn Đình Đầu cứ tiếp tục vu khống: “Tôi hết sức ngạc nhiên thấy một bài báo gây bạo loạn, chia rẽ dân tộc…”. Tôi chỉ viết bài biện chính cách dịch thuật nói trên chứ “chưa tuyên bố Thánh chiến”…, chưa đòi “chém Ông Thích Ca” như Lm Đắc Lộ thì bài báo của tôi gây bạo loạn chỗ nào? Và chia rẽ dân tộc chỗ nào? Nhận định về Giáo sĩ Đắc Lộ là chia rẽ dân tộc? Ông Nguyễn Đình Đầu hiểu nghĩa chữ dân tộc như thế nào? Một cá nhân, một giáo sĩ là dân tộc ư? Qua những công cuộc nghiên cứu, thì Giáo sĩ Đắc Lộ là một người có tội với dân tộc ta. Vậy phê bình để đồng bào ta biết rõ về ông làm sao có thể là gây bạo loạn hay chia rẽ dân tộc? Tóm lại, Chữ Quốc ngữ do hai giáo sĩ người Bồ là ông Amaral và Barbosa (chứ không phải do Lm Đắc Lộ như có một số người gán ép sai lầm hoặc có hậu ý). Chúng ta cũng biết rõ các giáo sĩ Bồ Đào Nha sáng tạo chữ Quốc ngữ từ mẫu tự La-tinh với mục đích duy nhất là để truyền đạo cho người Việt Nam; chứ không hề có hảo ý giúp người Việt dễ học và dễ đọc tiếng của nước họ bằng mẫu tự La-tinh. Về sau, thứ chữ này được sử dụng theo hai chiều hướng và hai mục đích khác nhau. Chiều THUẬN: Qua các thông tin văn hoá, nhất là Nam phong tạp chí và Đông Dương tạp chí, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Thạch Lam, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… cũng góp phần sáng tạo và đại biểu xứng đáng trong quá trình hoàn chỉnh chữ viết tiếng Việt trong từng giai đoạn biến thiên của ngôn ngữ nước ta. Thời Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng loại chữ viết này để mở mang dân trí, xóa nạn mù chữ. Hướng NGHỊCH gồm có: - Linh Mục Đắc Lộ: Cuốn Phép giảng tám ngày viết bằng tiếng Việt và tiếng Pháp với mục đích để truyền đạo và bên cạnh đó ông đã sử dụng để công kích về Khổng, Lão và Phật giáo. Thật vậy, Khổng Tử được hầu hết người Trung Quốc xưng tụng là Vạn thế sư biểu, và nhiều học lý của Nho giáo vẫn còn giá trị đến ngày nay. Còn ông Phật Thích Ca được Liên hiệp quốc đánh giá là một vĩ nhân văn hóa của nhân loại. Thế nhưng, Lm Đắc Lộ đã sử dụng chữ Quốc ngữ để có những nhận định sai lạc: Ông phê bình Khổng Tử: “Chẳng phải hiền chẳng phải thánh mà độc dữ…” (Phép giảng tám ngày, trang 113). Và phê bình Nho, Lão, Phật:“Bởi Tam giáo này, như bởi nguồn độc, nhiều sự dối khác. Song le bắt mỗi sự dối ấy chẳng có làm chi, vì chưng biết là bởi đâu mà ra, cho hay tỏ tường là dối thì vừa. Như thế có chém cây nào độc cho ngã, các ngành cây ấy tự nhiên cũng ngã với. Vậy thì ta làm cho Thích Ca là thằng hay dối người ta, ngã xuống, ...” (Aleaxandre de Rhodes, Phép giảng tám ngày, trang 115 & 116, Tủ sách Ðại Kết, TP. HCM, 1993). Ông Nguyễn Đình Đầu trong phần cuối của bài phản biện đã bênh vực cho Lm Đắc Lộ như sau: “Ngày nay, chúng ta thấy Đắc Lộ phê phán Thích ca thực là điều đáng trách. Nhưng trên 350 năm trước đây, khi viết Phép giảng tám ngày, Đắc Lộ đã lựa chọn thái độ trọng Nho giáo (chữ đậm là của BK muốn nhấn mạnh) và chê Phật giáo…”. Ông Nguyễn Đình Đầu cứ viết mà không cần biết đúng hay sai! Đắc Lộ trọng Nho giáo chỗ nào qua đoạn văn vừa dẫn? - Giám mục Puginier: “…tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An Nam (chữ Quốc ngữ, BK), rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Ðông”. - Trương Vĩnh Ký: Thư đề ngày 12/01/1882, từ Chợ Quán “Kính gởi các vị trong Hội Đồng Thuộc Địa”, Bao-ti-xi-ta Trương Vĩnh Ký viết rõ hơn về mục đích các tác phẩm của ông: “Thưa quí vị, Tôi hân hạnh gởi đến quí vị một bản trình bày từng tác phẩm xuất bản mà tôi đã biên soạn. Làm như vậy, ý định của tôi là để chứng tỏ với quý vị rằng trong 13 cuốn sách tôi đã xuất bản cho đến nay do tiền tôi bỏ ra, tôi chưa bao giờ đi lệch mục tiêu chính và trực tiếp mà tôi đã trình bày trước đây trong các thư tôi viết vừa cho nhà cầm quyền, vừa cho Ủy ban Phụ trách Cứu xét những tác phẩm của tôi. Mục tiêu đó là sự biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam" (Nguyễn Sinh Duy, “Cuốn sổ bình sinh của Trương Vĩnh Ký”, NXB Nam Sơn, Sài gòn, tháng 3,1975). Do đó, một lần nữa, chúng ta nên nghiên cứu thêm để tránh việc vinh danh những kẻ nên lên án và lên án những người cần vinh danh. California, 8/12/2008 Lời thề của Dòng Tên The following is the text of the Jesuit Extreme Oath of Induction as recorded in the Journals of the 62nd Congress, 3rd Session, of the United States Congressional Record (House Calendar No. 397, Report No. 1523, 15 February, 1913, pp. 3215-3216), from which it was subsequently torn out. The Oath is also quoted by Charles Didier in his book Subterranean Rome (New York, 1843), translated from the French original. Dr. Alberto Rivera, who escaped from the Jesuit Order in 1967, confirms that the induction ceremony and the text of the Jesuit Oath which he took were identical to what we have cited below. Chúng tôi xin trích đăng bản Tuyên thệ cực đoan của Dòng Tên, nằm trong Biên bản chính thức của phiên thứ ba, Kỳ họp Quốc hội Liên Bang Hoa Kỳ lần thứ 62 (Dự luật được Nghị viện thông qua số 397, Bút lục số 1523, đề ngày 15 tháng 2 năm 1913, các trang 3215 đến trang 3216) (ngay sau đó đã bị loại ra). Bản tuyên thệ này cũng đã được Charles Didier trích dẫn trong cuốn “Subterranean Rome” (New York, 1843), dịch từ nguyên bản Pháp ngữ của Tiến sĩ Alberto Rivera, người đã xuất tu khỏi Dòng Tên vào năm 1967, khẳng định rằng nghi thức mở đầu và nội dung Bản tuyên thệ của Dòng Tên mà chúng tôi viện dẫn dưới đây chính là những gì ông đã từng trải nghiệm. … I furthermore promise and declare that I will, when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or openly, against all heretics, Protestants and Liberals, as I am directed to do, to extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will spare neither age, sex or condition; and that I will hang, waste, boil, flay, strangle and bury alive these infamous heretics, rip up the stomachs and wombs of their women and crush their infants' heads against the walls, in order to annihilate forever their execrable race… Tạm dịch: … Con xin tuyên hứa thêm rằng con sẽ, nếu có cơ hội, con sẽ gây ra và tham gia chiến tranh tàn nhẫn, bí mật hoặc công khai, chống mọi kẻ dị giáo, Tin Lành và Tự Do, như con được lệnh thi hành, tận diệt chúng khỏi mặt địa cầu; và con sẽ không chừa một ai, bất kể tuổi tác, nam hay nữ hay tình trạng xã hội; và con sẽ treo cổ, thiêu sống, luộc sống, mổ bụng, siết cổ và chôn sống những kẻ dị giáo ô nhục đó, phanh bụng moi bào thai của vợ chúng, và quật đầu con sơ sinh của chúng vào tường để tận diệt vĩnh viễn cái giống dân đáng ghét của chúng… Bùi Kha
  11. Hệ thống mã hóa lịch sử cho tất cả mọi mặt trong đời sống như văn hóa, tôn giáo, lễ nghi, kể cả các loại vũ khí chiến tranh...: Dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng, kết hợp với các học thuyết và khái niệm trong tôn giáo cổ Văn Lang ở trên. Cấu trúc mã hóa dựa trên mức độ xa nhất của các nhân vật lịch sử tức tổ tiên của chúng ta, như đã phân tích chỉ cho tới người mẹ của Đế Hòa là kết thúc (gia phả không chép danh tính người cha). Lịch sử thời gian xa nhất ước khoảng 3100 trước Dương lịch, cách nay 5100 năm với sai số 50 năm. Còn trước đó nữa được gọi là thời kỳ Tổ Tông - Hồng Bàng. Năm 2897 trước Dương lịch là năm lên ngôi của Kinh Dương Vương, chắn chắn năm này được lấy làm mốc Âm Lịch mà các sử gia thời xưa đã không nói rõ, cho nên nó mới còn tồn tại cho đến Đại Việt sử ký toàn thư (trước đó là thời Lý Trần). Những cấu trúc mã hóa liên quan: - Thái cực - Lưỡng nghi - Tứ Tượng - Biến hóa vô cùng. - Nhất sinh Nhị - Nhị sinh Tam - Tam sinh vạn vật. - Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự nhiên. “Có một vật hỗn độn, sinh trước Trời Đất, yên lặng trống không, đứng một mình mà không thay đổi, đi khắp nơi mà không ngừng nghỉ. Có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên, nên đặt tên nó là Đạo, gượng gọi tên nó là Đại - lớn...” (Lão Tử - Đạo Đức kinh). Liên hợp hai chữ lại thành tên Đại Đạo. - Chữ Đạo ở đây vượt ra khỏi Trời Đất hàm ý vượt ra khỏi khái niệm Âm Dương, Âm Dương vẫn thuộc đạo nhưng còn thiếu những lý tính đặc biệt, chúng được khái niệm ở trong Đạo giáo cổ Văn Lang. Đấy là lý do thuyết Âm Dương Ngũ Hành còn thiếu một số khái niệm khác nữa mới thành học thuyết thống nhất vũ trụ. Đạo tương đương Pháp Đại Uy Nỗ trên bộ tranh Ngũ Hổ Hàng Trống, nhưng còn phải mở hộp ấn nữa. Pháp Đại Uy Nỗ (Ngũ Hổ - liên hợp Hà đồ - Lạc thư) Tranh dân gian Hàng Trống - Cái khởi nguyên vũ trụ được khái niệm như là người mẹ, bào thai, cái trứng vũ trụ: Mẹ của vạn vật. - Vũ trụ vận độ tự thân do tiềm năng nội tại mang tính tự nhiên và ngay lập tức, quy ước "Dương trước Âm sau" do nhìn nhận từ kết quả hoạt động của vạn vật hữu tình trước hết. Cái trứng vũ trụ đã hoài thai ông Bàn Cổ, sau đến bà Nữ Oa và lý tính nguyên khởi "Thái cực biến" được gán cho Dương. - Tính chất cân bằng ban đầu của vũ trụ sao cho nó ở trạng thái hoàn toàn Tuyệt đối - khái niệm ngày nay hay /0/, bởi vì rằng đã có sự phân biệt "độ rỗng" (trạng thái hay đặc tính của không gian) giữa vật chất bản thể và ngay chính vật chất bản thể. - Cấu trúc Âm Dương Ngũ hành dựa trên sự hợp nhất của Hà đồ - Lạc thư. - Tiên thiên Bát quái và Hậu thiên Bát Quái. - Quy luật vạn vật trên trái đất vận động theo công thức: Hậu thiên Bát quái - Hà đồ (Lạc thư ẩn đi, chỉ thấy rõ trong Đông y). - Quy luật tương tác: Ngũ vận lục khí. - Quy luật tương tác: Thập thiên can và thập nhị địa chi, cho ra Lục thập hoa giáp (sau khi đổi chỗ Tốn Khôn). Điểm chí Dương và chí Âm của con người và động vật. - Khái niệm tối quan trọng: Khí. Khí nhẹ, trong bay lên thành trời; khí nặng, đục tụ xuống thành đất. Khí Âm Dương Ngũ Hành. Khí chính là vật chất bản thể trong trạng thái Thái cực và khi vũ trụ vận động. Đặc trưng thể hiện giai đoạn Hậu thiên là hình thể, lý tính và quy luật tương tác (giác quan con người và công cụ sử dụng bị giới hạn trong sự nhận biết đối tượng gọi là vô hình). Tương tác cũng là một hình thức vận động của khí quy ước chủ thể được nhận định trong mối tương quan giữa các khí Âm Dương Ngũ Hành, tương tác mức độ cực kỳ tế vi, tiệm cận "0" vẫn tồn tại hình ảnh, ánh sáng và âm thanh (sóng tế vi, rung động tế vi), đây chính là một trong những bí ẩn của công án thiền" Tiếng vỗ tay của một bàn tay". - Tổ hợp chu kỳ tương tác theo thời gian. Lịch Âm dựa trên tổ hợp thống nhất của các chu kỳ vận động tương ứng của trái đất, mặt trăng, mặt trời... các chòm sao Thiên cực Bắc. Ai về nhắn họ Hy Hòa, Nhuận năm sao chẳng nhuận và (vài) trống canh. - Các chu kỳ sinh - vượng - mộ và sinh - lão - bệnh - tử của vạn vật hữu tình và thực vật. Đối với vũ trụ thì gọi là thành - trụ - hoại - không (Phật giáo). - Nguyên lý "Dương trước Âm sau", "Âm thuận tùng Dương", "Dương tịnh Âm động", "Dương trên Âm dưới", "Dương trái Âm phải", "Dương trong Âm ngoài": quy ước ngay sau khi Thái cực xuất hiện Lưỡng Nghi. - Hệ thống một tổ hợp Âm Dương Ngũ hành trong cùng một hệ quy chiếu và sự phân lớp tổ hợp Âm Dương Ngũ hành của toàn vũ trụ. - Quy tắc "đồng thanh tương ứng, đồng khí lương cầu". - Quy tắc phản chiếu của lăng kính (đây cũng là cái tên đầu đề của kinh Lăng Nghiêm và khi Lăng già tâm ấn trong Phật giáo). Các phương pháp ứng dụng cũng được mã hóa: - Chu dịch với các khái niệm quy ước lý tính cơ bản cho sự vật, hiện tượng theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành tương ứng với quy tắc bài trí theo công thức Hậu thiên Bát quái - Hà đồ. - Độn toán. - Tử vi. - Thái ất. - Huyền không phi tinh. - Độn giáp. - Các môn phong thủy cơ bản như Bát trạch để hình thành nên các môn sau đó. - Đông y: kinh, lạc, huyệt, khí Âm Dương Ngũ hành. - Yoga: kinh, lạc, huyệt và khí Tứ đại. Các công cụ không thể không có: - Cây nêu đo bóng mặt trời và sau hình tượng hóa thành cây nêu ngày Tết. - La bàn vô cùng quan trọng, xác định phương vị Bát Quái trên mặt đất và xác hai phương trên dưới trong không gian so với các chòm sao thiên văn. Đây là chứng tích quan trọng của văn minh Văn Lang, và sự sai khác của hai sao Thủy và sao Kim của hệ mặt trời và ngay chính hệ mặt trời trên toàn thế giới đã chứng tỏ nguồn gốc không phải từ các nền văn minh khác trên thế giới. Nền tảng quy ước bốn phương Đông, Tây, Nam và Bắc. Ngạn ngữ Đông Tây: "Mặt trời luôn mọc ở hướng Đông". - Quy ước bản đồ địa hình và thiên văn: đặt phương Nam lên trên theo cấu trúc Hà đồ - Lạc thư, thủ tục này ảnh hưởng cả văn minh Ả Rập, Chiêm Thành, Phù Nam... mà không hiểu tại sao khi định hướng la bàn qua phương Bắc. Quy ước thiên văn theo bốn phương: Long, Ly, Quy, Phượng và 6 chòm sao Thiên cực Bắc, cùng chòm sao Đại Hùng (Đại Hùng Bảo Điện trong chùa Phật) và chòm sao Nam Cực. Quy ước địa hình theo bốn phương: Long, Hổ, Quy, Phượng. Quy ước tượng "minh châu" trung tâm. - Chú ý con Kỳ Lân không phải con Nghê, không phải con Tỳ Hưu (mặc dù Trung Hoa biến hóa từ con Lân), cũng không phải là con Long Mã - "Long Mã phụ Hà đồ". - Con lắc cảm ứng: ứng dụng cảm xạ, đã thấy xa xưa trong văn minh Ai Cập và cổ vật Thương, Trung Hoa. - Quy ước cấu trúc Âm Dương Ngũ hành cho Hệ mặt trời, cái này thì cả thế giới bó tay chịu chết. - Thước Lỗ Ban: cái này thì thế giới hoàn toàn chịu thua. Mã hóa từ các khái niệm khác như: - Tâm - Hồn - Thần... - Vô cùng vô tận. - Vô hình và hữu hình. - Hữu hạn và vô hạn. - Trường cửu và không trường cửu. - Vạn vật đồng nhất thể. - Sự tương tác của toàn thể vũ trụ là ngay lập tức. - Cái nhỏ nhất và cái lớn nhất. - Sự tiến hóa của vạn vật và từ hầu nhân sang người như là khái niệm của "tiền thân con người". - Tính duy nhất của sự sống trên trái đất. - Tính lưỡng cực của sự sống như phân chia đơn bào. Mã hóa đặc biệt khác: - Đạo và Đức. - Chân lý và tự do. - Ánh sáng và bóng tối: Mặt trời ban ngày là chính Mặt trời, mặt trời ban đêm là Mặt trăng, mặt trời sự sống là Trái đất và mặt trời con người là Tâm linh. - Hồng phạm cửu trù và Nhân - trí - dũng. - Trống đồng biểu tượng cho vũ trụ quan và nhân sinh quan, còn cây Đa biểu tượng cho Cây đời, Cây sự sống mà từ đó sinh ra suối nguồn nước trường sinh, "nước bất tử". - Ý nghĩa của các cái tên người Việt Yue (một trong những ý nghĩa Bất Tử). Thông qua hệ thống: biểu tượng, ngôn ngữ và khái niệm.
  12. Keith Weller Taylor: Hành trình của một sử gia Nhà sử học Keith Weller Taylor (Mỹ) Keith Weller Taylor được coi là một trong những nhà Việt Nam học ngoại quốc nổi tiếng nhất ở Việt Nam cũng như trong giới học thuật quốc tế. Thường thì, một học giả nghiên cứu về Việt Nam hoặc chỉ có thể thành danh trong nước, hoặc ngược lại, chỉ được học giới nước ngoài tán dương, bởi sự chênh lệch giữa các lề thói làm việc. Nhưng, K.W. Taylor lại được cả hai. Vậy lý do đó là gì? Theo tôi, cần nhìn nhận ông cũng như những gì ông viết từ góc độ thân phận con người. Taylor là cựu chiến binh Mỹ tại chiến trường Việt Nam. Cái “hội chứng” mà ông mắc phải thời Hậu chiến, những câu hỏi rằng: vì sao ông và nước Mỹ của ông lại thất bại trong một cuộc chiến không cân sức? Những người đánh bại ông là ai, họ đến từ đâu trong lịch sử thăm thẳm của nhân loại?1 có lẽ đã thôi thúc Taylor trở thành người xông pha miệt mài trong lĩnh vực Việt Nam học trong suốt quãng đời của mình. Thành tựu mà ông đã công bố trong lý lịch khoa học cá nhân (được cập nhật lần cuối vào 4/11/2014), bao gồm: ba chuyên luận cá nhân, ba cuốn sách viết chung, và hàng chục bài nghiên cứu chủ yếu về lịch sử và văn hóa Việt Nam, được đăng tải trên các tạp chí như Journal of Vietnamese Studies, Journal of Asian Studies, Journal of Southeast Asian Studies Vietnam Review, Asia Journal... Phạm vi của các tiểu luận khoa học không chỉ tiếp cận những vấn đề “bếp núc” của sử liệu học và sử học trải dài từ cổ sử cho đến lịch sử hiện đại, mà còn hướng đến các vấn đề tôn giáo, triết học, văn học, dân tộc học, Tiếng Việt lịch sử,... Không nghi ngờ gì nữa, Taylor chính là chiếc cầu nối, để đưa ra những diễn giải về lịch sử và văn hóa Việt Nam đến với thế giới sử dụng Anh ngữ trong vòng 40 năm qua. Trong 40 năm ấy, Taylor xuất hiện như người nhạc trưởng của giới nghiên cứu Việt Nam học ở nước ngoài, những quan điểm và lý thuyết của ông đã gợi mở cho nhiều nhà nghiên cứu khác như Li Tana, Victor Lieberman, Choi Byung Wook,... Cũng trong 40 năm ấy, ông đã liên tục đào tạo nên nhiều thế hệ nhà Việt Nam học trẻ/ mới khác như C. Liam Kelley, Peter Zinoman, Duong John Phan, Claudine Ang, B. Zottoli,... để Hoa Kỳ trở thành một trong những quốc gia phát triển hàng đầu về Việt Nam học. Chừng ấy thôi, cũng đã đủ thấy những công sức mà Taylor đóng góp cho giới học thuật. Bài viết này sẽ nhìn nhận K.W. Taylor như một thực thể của lịch sử qua hai mốc chính trong sự nghiệp nghiên cứu của ông: The Birth of Vietnam (1983) và A History of the Vietnamese (2013). Kẻ chiến bại hát theo giọng của người chiến thắng Đây có lẽ là một nhận xét sẽ khiến một số người giật mình. Nhưng theo tôi, chính “giọng hát” này là điều tạo nên sự thành công của Taylor ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây. Ngoài một số bài viết sắc sảo hoặc rất chuyên sâu bếp núc2, Taylor được biết đến chủ yếu qua chuyên luận nổi tiếng The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ thế kỷ 3 TCN đến thế kỷ 10 SCN. Đó là một công trình tham khảo về quá trình đấu tranh cho sự tồn tại và độc lập của người Việt chống lại người láng giềng phương Bắc3. Nhưng chuyên luận này, theo tôi, chỉ có giá trị chủ yếu ở phương diện: nó là một kênh truyền tải tiếng nói của các nhận thức lịch sử ở trong nước [Việt Nam] đến với giới học thuật quốc tế thông qua lăng kính khúc xạ mang tên K.W. Taylor. Taylor có một lợi thế rất lớn khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam: góc độ của người đứng bên ngoài, gần như không chịu áp chế của chính trị từ bên trong, nhưng ông đã nhanh chóng phá bỏ ranh giới ấy, nhìn lịch sử Việt Nam với con mắt của người Việt Nam (hoặc ít nhất bằng con mắt của một số sử gia Việt Nam). Ông đã nhìn như thế nào? Ông nhận thức được rằng, “chiến tranh Việt Nam” là một yếu tố quan trọng bậc nhất tạo nên cung cách viết sử ở Việt Nam. Ông hiểu rằng: ông là người ở bên kia chiến tuyến, và có lẽ vì thế, sau khi thất trận, ông đã thử nhập thân vào cách suy nghĩ của người bên này lằn đạn, để hiểu xem họ thực sự đang nghĩ gì. Nhưng dường như ông đã “nhập vai” hơi đạt quá, dùng lại những khái niệm mà sử gia Việt Nam và người dân Việt Nam đã và đang sử dụng. Nào là “truyền thống”, “bản sắc của người Việt”, “quốc gia”, “dân tộc”,... Tức là ông đã sử dụng những khái niệm mới hình thành trong thế kỷ XX (khi Việt Nam va đập với chủ nghĩa thực dân) để tư duy về những đối tượng lịch sử xuất hiện trước đó cả ngàn năm. Riêng khái niệm “Việt Nam” cũng đã phức tạp rồi! “Việt Nam thống nhất” của năm 1975 trở về sau khác với “Việt Nam chia tách” của thập niên 1960, Việt Nam thập niên 1960 lại cực kỳ khác so với nước “Đại Cồ Việt” (chỉ nằm ở đồng bằng sông Hồng đầy đầm lầy và lau sậy vào cuối thế kỷ X - đầu thế kỷ XI), lại càng khác so với cái được gọi là “nhà nước Âu Lạc”,... Liệu chúng ta có thể đánh những dấu bằng an nhiên theo đẳng thức {Việt Nam = Đại Cồ Việt = Âu Lạc = Bách Việt} hay {văn hóa Bách Việt= văn hóa Âu Lạc = văn hóa Đại Cồ Việt= bản sắc văn hóa Việt Nam}? Chúng ta hãy xem ông lập luận: Đôi khi, người ta tưởng tượng rằng: “cốt cách bản địa Việt Nam tính” đã sống sót, không hề hấn gì dưới ngọn lửa cai trị của Trung Quốc. Ở một khía cạnh nào đó, điều này là đúng, ví như tiếng Việt đã sống sót, cũng như những huyền thoại của Việt Nam từ thời kỳ “tiền Trung Quốc” đã sống sót. Nhưng cả ngôn ngữ lẫn những truyền thống huyền thoại của Việt Nam cũng đã biến thể qua những giao tiếp với Trung Quốc.4 Khi ông phát ngôn như vậy, ông đã coi rằng đã có/ đã tồn tại một “cốt cách bản địa Việt Nam tính” trước khi người Hán xâm lược vào thế kỷ III TCN, ông đã coi rằng tiếng Việt và các huyền thoại bản địa thời Tiền Trung Quốc cũng tồn tại từ đó. Cốt cách đó/ bản sắc đó tồn tại dai dẳng hơn 12 thế kỷ cho đến khi người Hán chấm dứt vai trò cai trị ở mảnh đất này dù bản sắc đó đã ít nhiều bị Hán hóa. Dẫu ông biết rằng “người Việt Nam thế kỷ X rất khác so với tổ tiên của họ trước đó 12 thế kỷ”, nhưng ông đã thụt lùi, ít nhất khi so sánh với giới ngữ học trong nước như Nguyễn Tài Cẩn chẳng hạn5. Taylor có một lợi thế rất lớn khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam: góc độ của người đứng bên ngoài, gần như không chịu áp chế của chính trị từ bên trong, nhưng ông đã nhanh chóng phá bỏ ranh giới ấy, nhìn lịch sử Việt Nam với con mắt của người Việt Nam (hoặc ít nhất bằng con mắt của một số sử gia Việt Nam). Ông cũng đã mặc nhiên cho rằng, các huyền thoại truyền miệng thời cổ về giai đoạn lịch sử cổ xưa là một loại tư liệu có tính sử liệu, nó tồn tại trước cả chữ viết. Điều đó có nghĩa là ông chưa thể tách bạch được hai chuyện: cái có thể nhận thức được và cái chưa bao giờ có thể xác định được là có thể nhận thức được hay không. Như thế, Taylor bỗng nhiên trở thành một biểu hiện di thực của chủ nghĩa dân tộc quốc gia ở nước ngoài. Ông bắt đầu viết lịch sử Việt Nam bằng chương 1 “Lạc hầu” với “những truyền thống thuở sơ khai”6 qua Lĩnh Nam trích quái - tác phẩm văn học thuộc thể loại “chí quái” [ghi chép về những chuyện quái dị], hay những cóp nhặt “huyền thoại” trong sử liệu của Việt sử lược hay Đại Việt sử ký toàn thư. Theo tôi, thay vì chú tâm bóc tách xem các huyền thoại có phần lõi sự thật lịch sử nào không, thì ông nên tìm hiểu vì sao những câu chuyện đó được sáng tạo ra, quá trình sáng tạo và biến đổi của chúng ra sao, chúng được sửa đổi với những động cơ gì, trong bối cảnh lịch sử - văn hóa nào... Tức là hãy nhìn các huyền thoại đó từ góc độ của lịch sử văn học, lịch sử văn hóa, chứ không phải lấy nội dung trong đó làm cứ liệu của ngành khoa học lịch sử. Như trên đã nói, việc dùng lại những khái niệm, cùng những thao tác của giới học giả bản địa, đã khiến cho Taylor bị mắc bẫy: “Những huyền tích này cũng biểu lộ sự thực tâm lý cơ bản của xã hội Việt Nam thời cổ: quyền tối cao của xứ sở đến từ biển khơi. Lạc Long Quân là vị thần biển. Chúng ta đã thấy có một số chi tiết trong những huyền tích Việt Nam cũng giống như những huyền tích của những xứ sở ở ven biển Đông Nam Á. Khái niệm về một vị thần biển như biểu tượng của quyền lực chính trị và tính chính thống, đi cùng với sự hình thành của dân tộc Việt Nam thời tiền sử, chính là dấu hiệu sớm nhất đã cho ta thấy rằng người Việt Nam là một dân tộc tự giác và đặc thù. Chính khái niệm này đã được biểu hiện qua nghệ thuật trống đồng Đông Sơn với những con chim biển và những động vật khác vây quanh những chiếc thuyền chở các chiến sĩ.”7 Đoạn văn trên cho thấy, tác giả đang chấp chới giữa việc nghiên cứu lịch sử với các lĩnh vực khác như: nghiên cứu văn hóa folklore hay văn học trung đại. Ông cho rằng huyền tích thể hiện biểu tượng, còn biểu tượng có khả năng có một cốt lõi lịch sử nào đó. Cái cốt lõi ấy lại được củng cố bằng các cứ liệu khảo cổ học, như trống đồng Đông Sơn. Dù có thể biết rằng, “trống đồng Đông Sơn” chỉ là tên gọi được hình thành trong đầu thế kỷ XX khi các hiện vật trống đào được tại làng Đông Sơn (Thanh Hóa), nhằm để định danh cho một cộng đồng người nào đó trong số vô số các chủ thể văn hóa đã tạo nên một bản đồ trống đồng dày đặc ở khắp địa bàn Nam Trung Hoa và Đông Nam Á ngày nay. Công thức {tài liệu văn học viết + văn học truyền khẩu + tài liệu khảo cổ học} đã ít nhiều có tác dụng. Chẳng những bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa quốc gia dân tộc, Taylor còn bị ám ảnh vô thức bởi sự cường điệu về sức mạnh của nông dân trong tư duy của người Việt Nam thế kỷ XX. Ví dụ, như khi ông viết về Đinh Bộ Lĩnh để khái quát hóa về “nghệ thuật sinh tồn” của người Việt: “Trải qua nhiều thế kỷ, quan niệm của người Việt Nam về vương quyền dần dà được vây bủa bằng lớp lý thuyết và những quy cách của Trung Quốc, nhưng ở nguồn gốc nó vẫn duy trì cái tính chất đặc biệt của người nông dân Việt bướng bỉnh và thông minh đã nắm vững được nghệ thuật sinh tồn. Người sáng lập nền quân chủ của nước Việt Nam độc lập ở thế kỷ thứ 10 không phải là người được uốn nắn bởi truyền thống đế quốc Trung Hoa, mà chỉ là một nông dân quê kệch, từng trải chiến trận để đạt được hai thành tích là thống nhất được người dân Việt và giữ vững được nền quốc phòng. Hai đức tính thiết yếu ấy đã soi đường cho mọi nền lãnh đạo chính trị của Việt Nam cho tới tận ngày nay”.8 Kết luận về bộ ba {“nông dân” + “từng trải chiến trận” + nghệ thuật sinh tồn} có lẽ là một kết luận xuất phát từ sự trải nghiệm của bản thân tác giả qua lần tham chiến vào đầu thập kỷ 1970. Và dường như ông đã muốn khái quát nó như một nét hằng xuyên trong lịch sử Việt Nam bằng ví dụ tương tự về Đinh Bộ Lĩnh - người được coi là thống nhất “12 sứ quân”, được coi là nguồn gốc nông dân (là trẻ chăn trâu). Nhưng có một sự thực khác, rằng Đinh Bộ Lĩnh có gốc gác quan lại quý tộc, bố ông là Đinh Công Trứ - Thứ sử Châu Hoan kiêm Ngự phiên Đô đốc9. Việc Taylor quá tin tưởng vào những huyền thoại được ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư giống như nhiều người khác ở Việt Nam đã khiến cho kết luận của ông chỉ là sự minh họa cho một ý tưởng có trước. Nói chung, với cuốn The Birth of Vietnam (1983), Taylor đã mất gần 400 trang viết, để chứng minh cho một định đề có sẵn: truyền thống Việt Nam được xây dựng bởi một dân tộc thống nhất, một quốc gia thống nhất suốt từ giai đoạn thế kỷ X trở về trước cho đến thế kỷ X, và từ thế kỷ X đến thế kỷ XX. Và nếu, Taylor chỉ dừng lại ở đó, thì sẽ không có nhiều điều để bàn luận. Ông dần nhận ra rằng, cần phải đứng ra ngoài các phe phía để nhìn lại quá khứ. Một sử gia cần phải nói bằng giọng nói của chính mình, chứ không phải là hát lên bằng cổ họng của người khác. Cuốn A History of the Vietnamese được ra đời là vì thế! Khi sử gia tìm được giọng nói của chính mình Như trên đã nói, may thay, Taylor có lẽ đã hoài nghi với những gì mình viết vào năm 1983. Trong một lần trả lời phỏng vấn đài BBC vào năm 2003, ông đã nói: “Quyển sách của tôi in 20 năm trước rồi. Trước kia tôi chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc gia, tôi đã nghĩ rằng không có quan điểm quan trọng gì giữa thời cận đại và thời quá khứ... Cho nên, tôi nghi ngờ về ý kiến phát triển lịch sử liên tục, một lịch sử thống nhất liên tục, tức là lịch sử của một nhóm lấy quyền hành chính trị muốn dùng chuyện lịch sử để giảng dạy và tuyên truyền dân chúng phải theo chính sách quốc gia của chính phủ. Lịch sử thống nhất liên tục là lịch sử bị chính trị hóa, không là lịch sử khoa học”10. Nhận thức được điều đó, ông đã tự thanh tẩy toàn bộ/ hoặc phần lớn những tri thức của mình về lịch sử Việt Nam. Taylor đã dành hơn hai chục năm vừa rồi để viết lại những nhận thức KHÁC. Chính vì vậy, trong cuốn sách mới này, ông chỉ dành vỏn vẹn 30 trang, để xóa bỏ hết những gì đã viết trong gần 400 trang của cuốn The Birth of Vietnam. Ông lấy An Dương Vương làm vị vua khởi đầu của lịch sử11, và gần như đã không đề cập gì đến những huyền thoại Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân- Âu Cơ (bọc trăm trứng), Sơn Tinh- Thủy Tinh, Tản Viên, Chử Đồng Tử,... nữa. Cả khái niệm “Bách Việt” do người Hán sáng tạo để áp đặt/nô dịch tinh thần những cộng đồng dân cư khác Hán ở Phương Nam, đến đây cũng đã bị loại thải. Cái quan niệm của chủ nghĩa huyết thống tập thể, rằng “tất cả những người có cùng quốc tịch (bất kể thuộc về dân tộc nào) đều là những người cùng huyết thống, là cùng một bọc sinh ra, là đồng bào, anh em cốt nhục”..., đến đây, cũng đã được cho vào quên lãng. Ông viết rằng: “nhu cầu truy tầm nguồn gốc trong quá khứ xa xăm là nỗ lực nhận thức chung của nhiều dân tộc ở mọi thời điểm và mọi không gian... Nhưng nhu cầu bức thiết kết nối với quá khứ đó chỉ là một ham muốn chứng thực tự thân, chứ không phải là nỗ lực học thuật”12. Ông cũng nói rõ rằng, những gì mà các sử thần thời Trần và Lê sơ đã làm khi biên soạn những bộ sử đầu tiên của người Việt là cắt dán, lắp ghép các nguồn tư liệu Hán văn cho phù hợp với sự tưởng tượng về quá khứ và tổ tiên của mình, nhằm tạo ra lịch sử của phương Nam trong thế đối chọi với lịch sử của phương Bắc. Sử Tàu dài bao nhiêu sử Việt nhiều từng ấy, họ có gì thì ta có đó. Với cách làm như vậy, phần lớn sử thần Nho gia thời trung đại đã mắc bẫy các sử thần Nho gia Trung Hoa, bằng cách kéo nhập lịch sử Việt Nam “đồng nguyên” [cùng một gốc] với lịch sử Trung Quốc. May thay, Taylor có lẽ đã hoài nghi với những gì mình viết vào năm 1983. Trong một lần trả lời phỏng vấn đài BBC vào năm 2003, ông đã nói: “Quyển sách của tôi in 20 năm trước rồi. Trước kia tôi chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc gia, tôi đã nghĩ rằng không có quan điểm quan trọng gì giữa thời cận đại và thời quá khứ... Cho nên, tôi nghi ngờ về ý kiến phát triển lịch sử liên tục, một lịch sử thống nhất liên tục, tức là lịch sử của một nhóm lấy quyền hành chính trị muốn dùng chuyện lịch sử để giảng dạy và tuyên truyền dân chúng phải theo chính sách quốc gia của chính phủ. Lịch sử thống nhất liên tục là lịch sử bị chính trị hóa, không là lịch sử khoa học”. Trở lại với vấn đề mà Taylor phát biểu: “ham muốn nhận thức về tổ tiên” với “nỗ lực học thuật để hiện thực hóa ham muốn ấy”, ông có hàm ý rằng, không phải bất cứ một hành vi nghiên cứu nào để thể hiện tình yêu dân tộc và đất nước cũng đều cho ra các thành tựu khoa học, có khi nó chỉ cho ra các kết quả có sẵn được nhiều người ưa thích, để cùng bình luận, tán thưởng trong không khí khải ca, chứ chưa chắc đó đã có ích gì cho nhận thức và quá trình cải tạo thực trạng cuộc sống. Tình yêu về đất nước con người không phải lúc nào cũng đồng hành tịnh tiến với nỗ lực học thuật, và ngược lại. Người Việt và các sử gia Việt cần phải duy lý hơn chăng!? Taylor phát biểu: “tôi tin rằng, công việc của giới sử học là nhìn vào những gì may mắn còn sót lại từ quá khứ trong mối quan hệ tương hỗ với sự tồn tại của những người đương thời, chứ không phải là bằng chứng về những người được coi là tổ tiên của người hôm nay.”13 y xem ông đã ngoảnh lại nhìn những đồng nghiệp trong nước như thế nào: “Các học giả Việt Nam đã/ đang nỗ lực triển khai dự án để đẩy bản sắc dân tộc trở ngược về quá khứ xa nhất có thể. Trong thời kỳ hiện đại, điều đó đã trở thành phổ thông/ phổ biến với người Việt khi họ xác nhận lịch sử quốc gia kéo dài 4.000 năm, cho đến tận thời điểm mà các niên đại và hiện vật khảo cổ học được tập hợp và phân loại trong nền văn hóa Phùng Nguyên... Nhiều học giả người Việt toan tính vạch đường “chỉ đỏ xuyên suốt” ở lĩnh vực văn hóa, thậm chí cả ở ngôn ngữ - dân tộc, [để chứng minh] sự phát triển nối liền từ thời Phùng Nguyên đến tận Việt Nam hiện đại.”14. Ông viết tiếp về cách thức trình bày, và biên soạn như sau: “Trong cuốn sách này, tôi kết hợp một tự sự chính trị theo tuyến tính lịch đại, với trình bày theo đề mục thuyết minh, và thảo luận về địa lý, giáo dục, tư tưởng, ngôn ngữ, văn học, tôn giáo, xã hội, chính quyền, kinh tế, và chiến tranh... Như một thám sát hoa tiêu, cuốn sách này cung cấp một điểm vào/ một lối vào lịch sử Việt Nam, và chưa thể phát quật hết khối sử liệu đã tạo nên những ý tưởng của tôi. Nó hy vọng sẽ cung cấp những phác thảo về quá khứ người Việt bằng việc sử dụng các thông tin về chính trị, hành chính, kinh tế, và văn hóa”.15 Như lối nói của Taylor, ông đang cố gắng viết lại lịch sử Việt Nam với tính đa diện, đa chiều của nó, lịch sử Việt Nam không phải chỉ là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm, lịch sử của chính trị với vua chúa và quan lại, mà còn là lịch sử của thơ ca, nghệ thuật, thương mại... Trong cuốn sách với bố cục 13 chương, tác giả có ý phân kỳ làm bốn giai đoạn chính: Giai đoạn đầu: trình bày về mảnh đất (nay gọi là Bắc bộ) là một khu vực địa lý hành chính của chính quyền Trung Hoa trong nhiều thế kỷ. (Chương 1) Giai đoạn hai: bốn thế kỷ của thời Lý- Trần, trong đó quý tộc Phật giáo xác lập quyền lực ở đồng bằng sông Hồng. (Chương 2 và 3). Giai đoạn ba: bốn thế kỷ đóng góp của triều Lê với những vị vua gốc xứ Thanh, Khổng giáo là tư tưởng chính thống, người Việt mở rộng về phía Nam, và giai đoạn dài chia cắt lãnh thổ bởi chiến tranh. (Chương 4, 5, 6, 7 và 8). Giai đoạn bốn: hai thế kỷ gần đây nhất, quốc gia Việt Nam hiện đại đã thành hình. (Chương 9, 10, 11, 12 và 13). Đọc cả cuốn sách, chúng ta thấy, Taylor “đang nỗ lực dấn vào một lối đi mới” bằng cách “tạo ra một tự sự về hơn 2000 năm của lịch sử Việt Nam”16. Để cuối cùng ông đi đến một vài nhận định cho người bản địa, rằng: quá khứ của Việt Nam là chuỗi dài của những thử nghiệm thất bại trong việc tổ chức và trị lý xã hội17, rằng bất cứ hành động nào muốn thay đổi chính trị ở Việt Nam đều liên đới đến chính giới Trung Quốc từ xưa đến nay. Còn nhiều nhận định khác nữa về căn tính văn hóa, về xung đột vùng miền, về tính thống nhất của lịch sử, tính nhất nguyên dân tộc ở Việt Nam,… trong cuốn sách này, sẽ gây ra nhiều thảo luận trái chiều, thậm chí gay gắt. Chưa bàn đến đúng/sai một cách chi tiết, nhưng việc người Việt luôn để các học giả nước ngoài “nghiên cứu hộ/suy nghĩ hộ” về chính mệnh vận của mình âu cũng là một việc bất đắc dĩ, bởi ngoài những bất cập về cơ chế, hạn hẹp về kinh tế,…người Việt hiện vẫn đang hãm mình trong những quán tính của quá khứ, của những tư duy hậu phong kiến và hậu thực dân! ------------------------------------------------------------------------- Chú thích: 1. Lời nói đầu Preface. The Birth of Vietnam (Berkeley: University of California Press, 1983), p.xv. 2. "Voices within and without: Tales from Stone and Paper about Do Anh Vu," (Ithaca, NY: Cornell Southeast Asia Publications, 1995), pp. 59-80. 3. Kent Blaser. Review The Birth of Vietnam by Keith Weller Taylor. The History Teacher. Vol.18. No.1 (Nov., 1984). pp.152-153. 4. ibid. P.xv. 5. Với “hộ chiếu” do Stalin cấp cho giới ngôn ngữ học: ngôn ngữ không có tính giai cấp, Nguyễn Tài Cẩn đã kết luận rằng tiếng Việt chỉ có lịch sử 12 thế kỷ (từ thế kỷ 8 đến nay). Nguyễn Tài Cẩn. 1998. Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷ của Tiếng Việt. TC Ngôn ngữ, số 6/1988. Tb2001. Trong Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội. P.401-411. 6. “Lac Lords”- “The Earliest Traditions”. Ibid. 1983. P.1-7. 7. Ibid. 1983. P. 6-7. 8. Ibid. 1983. P.vi. 9. Trần Trọng Dương. Đinh Bộ Lĩnh - loạn sứ quân: từ sử liệu đến sử thực. TC Nghiên cứu và Phát triển. Huế. Số 01/2012. Trần Trọng Dương. Loạn 12 sứ quân? TC Tia sáng số 14, 20 7/ 2013. tr.50-53. Trần Trọng Dương. Đinh Bộ Lĩnh: huyền thoại và lịch sử. TC Tia sáng số 16- 20.8.2013. tr.36-38. 10. Bài phỏng vấn BBC (London). 26-6-2003. Nguồn link: www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/.../030912_keithtaylor.shtml 11. Ibid. 2013: pp.14-17. 12. A History of the the Vietnamese (Cambridge University Press, 2013, pp.3). 13. Ibid. Pp.3. 14. A History of the Vietnamese (Cambridge University Press, 2013, pp.2-3). 15. A History of the Vietnamese (Cambridge University Press, 2013, pp.6-7.) 16. C.L. Kelley. Review of “A History of the Vietnamese by Keith Weller Taylor”. (Điểm sách Lịch sử dân tộc Việt Nam của Keith Weller Taylor). Journal of Vietnamese Studies, Volume 9 (1) – Jan 1, 2014. 17. Ibid. 2013. Pp.620.
  13. Tôi (Lãn Miên) mới đọc qua, đoán là bốn khúc thơ buồn, không đủ trình độ để hiểu thâm ý của tác giả, hoặc hiểu sâu con chữ. Dịch tạm dưới đây không chính xác, nhất định là nhiều sai sót, tạm nêu lên vậy, để cầu cứu thức giả giúp chỉnh sửa. Cảm ơn. 1/ Mảnh thuyền nho nhỏ, xoa ngăn ngắn Lần mò kiếm sống chốn sóng xô Mãi buồn Thánh Chúa, tìm kiếm gấp Bất chấp dê cừu cứ nhởn nhơ. 2/ Gió nổi ban thờ nhang thành ngọc Trăng soi cửa sổ lộ ảnh vàng Một tiếng kêu tỉnh ngàn thu mộng Ngũ kinh phá nát nửa kiếp người (?). 3/ Nước xanh mau mắn nhiều lần đổi Hoa vàng ốm ốm đỡ ngọn roi Mấy độ sóng xô rồi sương ướt Vẫn một mưa xuân xới lết bùn. 4/ Bè gỗ mẩu cây kều khó nổi Củi rến ngắn dài bó chẳng đều Buông tiếng thở dài mưa độp lá Tháo giày lội bộ rớt khe sâu. Ngũ kinh phá nát nửa kiếp người (?): Có lẽ, câu này nói sống đến nửa đời người mới hiểu được thâm ý sâu xa nhất của Ngũ Kinh - Thánh Khổng Tử cũng chỉ quy về một chữ Tâm. Tất nhiên, tác giả vẫn hiểu Phật, Lão bởi khổ thơ trên có nói đến Thánh Chúa. Thánh Chúa này chỉ thấy trên hoành phi trong các đền miếu Việt: "Thánh chúa vạn tuế", "Thánh Chúa muôn năm", thông thường hiểu là chúc vị vua đang sống muôn năm, nhưng bản chất không phải như vậy. Trong đạo Tiên Việt - Đạo giáo (gồm có Choang ở Quảng Tây,..) có thờ vị Thánh Chúa với biểu hiệu "Cung nghênh Thánh Đế" và "Cung Nghênh Thánh Chúa", đây là một lãnh tụ vĩ đại trong đạo Tiên và thường được gọi là Nam Cực Trường Sinh Đại Đế. Tác giả là một người đang đi tìm Đạo, tức đi tìm an bình trong Tâm hay sâu xa là đi tìm bản chất cuộc đời và bồng lai tiên cảnh ở đảo Doanh Châu, trong khi cuộc đời nhân loại và cả cá nhân tác giả cảm thấy như trôi nổi không định hướng. Bài thơ này còn có nội dung tiên tri, phải có một nhát búa lay tỉnh giấc mộng Nam Kha: Gió nổi ban thờ hương thành ngọc Trăng soi cửa sổ lộ ảnh vàng Một tiếng kêu tỉnh ngàn thu mộng Ngũ kinh phá nát nửa kiếp người (?). Làm chúng ta chợt nhớ lại Tam Quốc Chí: Muốn đánh Tào Công Phải dùng hỏa công Muôn việc đủ cả Còn chờ gió Đông. Ẩn toàn bộ bài thơ là nỗi buồn mênh mang "ngàn thu mộng", nó có cái gì đấy giống như nội dung bài thơ Ngôn Hoài của thiền sư Nguyễn Minh Không: Trạch đắc long xà địa khả cư Dã tình chung nhật lạc vô dư Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư. Tạm dịch: Thế đất rồng rắn chọn được nơi Tình quê chan chứa suốt ngày vui Có khi chót vót đầu non quạnh Một tiếng cười vang lạnh cả trời!. "Rồng rắn" cũng là tên của một trò chơi dân gian trẻ em Việt trong dòng tranh Đông Hồ (Đông Tây - sinh tử): "Rồng rắn lên mây". Đoạn 4: Bè gỗ mẩu cây kều khó nổi Củi rến ngắn dài bó chẳng đều Buông tiếng thở dài mưa độp lá Tháo giày lội bộ rớt khe sâu. Cảm thán của tác giả về trình độ, điều kiện... của mọi người không đồng đều, để hiểu và thực hành Đạo hầu như cực kỳ khó khăn. Ngay Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng viết: "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên" - dù có giảng cho hàng tỷ người thì chắc gì bao nhiêu người đã thành. Bậc thầy giác ngộ Krishnamurti cũng thốt lên thực sự mọi người đi tìm đạo tới ông cũng chỉ là thỏa mãn cái được cho là "thiếu" của họ mà thôi, tức "cái tôi" của riêng mình. Phải chăng chúng ta cũng đang trong tình trạng này!.
  14. Nhưng Đức Phật đã truyền giảng: Nghiệp quả có nghiệp lực rất mạnh. Và nếu Tử Vi là nghiệp quả của kiếp trước thì con người cũng phải trả quả xong đã. Do đó, nếu đi tu mà thay đổi được nghiệp quả - giả thiết được phản ánh trong Tử Vi - thì nghiệp lực không có tác dụng sao? Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: "Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó". Nghiệp lực vô cùng mạnh, tới lúc đó mỗi người đều trải qua, nếu quan sát thì hình như nó có vẻ... vô cùng khó thay đổi được dù, rất nhỏ (do vậy, cần nhìn nhận gốc rễ và phòng ngừa, chẳng hạn sử dụng phong thủy ở tầm tương tác phân lớp của vũ trụ). Có bài viết nói là "Chư Phật" chứ không phải "chư tăng". Ngày xá tội vong nhân 15 tháng Bảy âm lịch cũng chính là ngày mất của Phật Bà Quán Âm - tức Bà Chúa Ba, Phật Bà Chùa Hương.
  15. Nói đến cấu trúc dữ liệu Âm với một phần mà lại cực kỳ quan trọng đó chính là dữ liệu "thông linh" giữa thế giới vô hình - cõi Âm và cõi trần, chúng được lưu giữ theo thời gian và trong một chừng mực nào đó đã bị "phai mờ" đi, rồi sau này cứ tưởng là đã được xây dựng bởi những người đang sống. Chẳng hạn, bộ kinh Du già (yoga) địa sư luận của Di Lạc Bồ Tát - bộ kinh này do đại sĩ Vô Trước sống cách đây 1600 năm xuất hồn lên cõi trời Đâu suất và được Di Lạc Bồ Tát thuyết giảng và ông ghi lại nguyên văn. Bộ kinh này cực kỳ siêu việt, gồm 100 quyển dày đặc từ chuyên môn tâm lý, nói về toàn bộ biến chuyển tâm lý vô cùng tế vi của con người, dù là ở cõi nào và chỉ ra từng cấp tu chứng "địa" để đạt đạo quả. Nếu so nó với bộ môn tâm lý hiện đại có khác gì lấy biển cả so với giọt nước. Cho nên, một số sách cứ lấy ông chúa này, ông thánh nọ nói vài câu mà giải thích đủ mọi thứ thì khác gì một con ếch đã bị người ta nhốt cho chỉ bởi dăm lời nói, nằm trọn lỏn trong chiếc chai thủy tinh mà cứ kêu lên be be, có những câu lằng lặc cho là ông Chúa nói: "chiếm thành rồi sẽ giết hết chúng nó đi, chỉ để lại đàn bà con gái... để cho tao 300 con cừu béo, 40 gái còn trinh" - chả hiểu ra làm sao cả. Trước tiên, là không tin, phải đi tìm và được chứng nghiệm, ít nhất một phần. Có thể hiểu: có học thuyết, phương pháp ứng dụng, bậc thầy hướng dẫn, có người chứng thực và phản ảnh tiến trình và hệ quả, rồi cứ thế kiểm tra, điều chỉnh, sáng tạo... 84.000 pháp môn nảy sinh (phải xem lại tiến trình lịch sử nhất là thành quả đạt được). Trong Phật giáo và Đạo giáo: Xá lợi Phật Tiên là một ví dụ. Lịch sử Việt được tóm tắt theo các sách ngày nay: - Nước Văn Lang có 15 bộ, thuộc Bắc Bộ, bộ Phong Châu trung tâm là Phú Thọ và kinh đô Văn Lang đóng ở đây. - Biên giới có giới hạn phía Nam là nước Hồ Tôn và sử sách cho Hồ Tôn là nước Chiêm Thành (Chămpa): Nước Văn Lang Bắc tới hồ Động đình, Nam giáp nước Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Nam hải. - Nước Văn Lang hình thành từ thế kỷ thứ VII trước Dương lịch: vẫn đang ở trần, đóng khố nhưng lại đúc được trống đồng mà ngay nay làm cũng không được âm thanh như vậy?. - Có 18 chi Hùng Vương trị vị đất nước, chưa rõ ràng tổng số đời vua. Cho tới thời Âu Lạc với An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (phải chăng là kinh đô hay thành chiến thời chiến tranh Âu Lạc - Tần?) nhưng cũng không rõ An Dương Vương là người ở đâu. Tiếp theo là nhà Triệu nước Nam Việt, đóng đô ở Quảng Đông, cũng đang trong mù mờ giữa mối quan hệ Âu Lạc và Nam Việt. - Tiếp theo là lịch sử hào hùng và bi tráng của Hai Bà Trưng thu phục lại giang sơn gấm vóc, lên ngôi vua, rồi sau đó thất thế hy sinh oanh oanh liệt liệt mà chẳng cần phải lên tiếng hỏi ai về cái chết này cả, vô cùng vĩ đại. Hai Bà Trưng là những người cùng thời với ngài Jesus, nên nhớ như vậy. Giai đoạn này cả Israel và Nam Việt đều cùng trong thời kỳ bị ngoại bang đô hộ, Israel thì bị La Mã còn Nam Việt thì bị Hán đô hộ. Tên nước thời Hai Bà? - Có rất nhiều dân tộc cùng nhau chung sống trên một diện tích rất nhỏ, gồm 54 dân tộc anh em (nước có sử, gia có phả, đạo có thần tích). Đây là điều đặc biệt nhất so với các quốc gia trên toàn thế giới, ngay cả với Trung Hoa. - Nền văn hóa nông nghiệp làm nền tảng với lúa nước, lúa nương và trồng dâu nuôi tằm 10 lứa, với các phong tục, tập quán mang tính phổ quát của xã hội: lễ hạ điền - thượng điền với tục chọi trâu, bò; dựng nêu ngày tết âm lịch, tục xăm mình vùng hải đảo, tục trầu câu lễ cưới hỏi và các ngày lễ khác, tục tang ma và thất tuần 49 ngày, tục trẻ em phải khoanh tay trước người trên (hình ảnh của chòm sao Orion X), tục cài áo bên trái, tục đầy tháng, năm, lễ thành nhân - vấn danh... - Biểu tượng trống đồng Đông Sơn (mô phỏng học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và tôn giáo cổ đại thông qua các ngày lễ nghi nông nghiệp, với các thiên tượng, địa hình, nhân ý: biểu tượng học thuyết thống nhất vũ trụ, khi đánh trống thì tiếng trống vang lên như tiếng nổ bigbang, tiếng nổ khai thiên lập địa - ý nghĩa này nằm trong câu truyện Bàn Cổ khai thiên lập địa, còn trong Lý học không chỉ rõ bigbang trong chuỗi khái niệm: Thái Cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng biến hóa vô cùng). - Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các ứng dụng, cùng các triết thuyết tôn giáo như Nho, Lão, Thần hay Phật sau này (sách sử không xác định vấn đề này). - Đạo chủ chốt: thờ ông bà tổ tiên và các vị tiên, thần, thánh (đều là nhân thần) và chúa (đạo Mẫu). - Chữ viết Khoa đẩu: chữ kiểu nòng nọc? Triết gia Kim Định cho rằng đó là chữ viết thời Tây Chu?. Còn nhà giáo Đỗ Văn Xuyền đã giải mã ra và gọi nó là kiểu chữ Hỏa tự? Vị trí hồ Động Đình trên bản đồ Bản đồ thể hiện hồ Động Đình và các con sông chính chảy vào nó Về mặt khảo cổ hiện nay, chúng ta chưa khai quật được những ngôi mộ của các vua Hùng gần nhất như Hùng Duệ Vương (đời gần cuối trong một chi) tức Hùng Vương thứ XVIII, An Dương Vương, cho tới Triệu Vũ Đế, Mỵ Châu, Trọng Thủy, vấn đề này rất đáng lưu ý bởi vì lăng mộ Triệu Văn Đế - cháu của Triệu Vũ Đế đã phát lộ ở tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa. Thực sự, nếu một trong những di tích này phát lộ thì mọi chuyện gần như đã an bài về mặt lịch sử. Chúng ta hãy chờ xem, các bậc thầy tâm linh trong cõi vô hình đã cho phép khai quật chưa!. Anh hùng phải được "nhìn nhận lại hết" mới ra Thái Bình!.
  16. Trao đổi ý kiến với tiến sĩ Bùi Kha về Nguyễn Trường Tộ Hoàng Kỳ Thứ bảy, 03 Tháng 4 2010 10:16 Tạp chí Hồn Việt có đăng 2 bài báo của TS Bùi Kha (California):“Nguyễn Trường Tộ và vấn đề chủ hoà” số 30 (12-2009) trích dẫn một số báo cáo của các tướng viễn chinh Pháp gửi về nước phản ánh tình hình khó khăn bi đát của quân đội chúng để kết luận rằng đề nghị chủ hoà của NTT là sai lầm nghiêm trọng, những lời khuyên và nhận xét hoàn toàn sai lạc về tình thế về lịch sử mà NTT viết trong bản Điều trần, giả sử ông không có hậu ý giúp Pháp thì ông cũng nên được lịch sử phê phán cho đúng mức vì đề nghị sai chỉ có lợi cho Pháp mà thôi; bài “Nguyễn Trường Tộ và kế hoạch “làm cho dân giàu nước mạnh”” số 31(1-2010) phân tích những ý kiến đề xuất của NTT trong Lục lợi từ là sai nên chúng ta có thể đổi tên bản Điều trần Lục lợi từ của NTT thành Lục hại từ . Trước hết rất cảm ơn TS Bùi Kha đã có công phu sưu tầm tài liệu về NTT để giúp ta đánh giá đầy đủ hơn về nhân vật này. Song xin phép TS chúng tôi có vài ý kiến trao đổi thêm một số suy nghĩ của mình về sự đánh giá của TS. Trước hết phải thấy rằng NTT là một người công giáo gốc nên nặng tư tưởng về tôn giáo và ý thức về tôn giáo chi phối những suy nghĩ của NTT (như ý kiến của TS) là điều chắc chắn và đó là những hạn chế của ông. Nhưng cho rằng “NTT khéo léo lồng tư tưởng tôn giáo vào hầu hết những bản Di thảo (nên gọi là bản Điều trần, từ Di thảo là sau này ta gọi) để một mặt thì hăm doạ, mặt khác thì an ủi chấp nhận số phận” như TS đã viết, là không thoả đáng! Tất nhiên với trình độ một người từ Hán học chuyển qua Tây học được thời gian có 3 năm (1858-1861) khi qua Singapore, Hồng Kông, Malaixia...,1 năm qua Pháp và ý (từ tháng 1-1867 đến tháng 2-1868) và chỉ là học mót chứ không qua trường lớp chính quy thì tất nhiên là sự hiểu biết còn nông cạn, chắc chắn là chưa đầy đủ, nhưng không vì thế mà ta sổ toẹt tấm lòng ưu dân, ái quốc của NTT và thất bại của triều đình nhà Nguyễn không phải là do nghe lời của NTT vì những bản Điều trần lúc đầu của ông không hề được triều đình để ý gì, các bản về sau có được xem xét nhưng cũng chẳng ăn thua gì. NTT có chủ hoà trong thời gian đầu khi thấy so sánh lực lượng của quân đội triều đình với quân Pháp quá chênh lệch, với mục đích là để có thời gian củng cố lực lượng, xiết chặt hàng ngũ của ta trước một đội quân xâm lược có vũ khí tối tân hơn và ông luôn luôn quan tâm đến việc tu chỉnh võ bị. Rất nhiều những bản điều trần về sau NTT đề xuất về việc tu chỉnh võ bị như: Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (Di thảo số 44);Về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng (Di thảo số 50). Hơn nữa lúc đầu ông hiểu nhầm là bọn Pháp chỉ yêu cầu được tự do giảng đạo, xin mở bến tàu, lập phố xá, thông cửa bể để buôn bán, nhưng về sau thấy rõ dã tâm của chúng cố tình đánh chiếm nước ta thì ông đã có những đề nghị khác như Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ (Di thảo số 39) và Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định (Di thảo số 40). Do đó cho rằng NTT trước sau đều chủ hoà là không đúng. Về ý kiến: “NTT và kế hoạch “làm cho dân giàu nước mạnh”, TS có nhắc đến một mục trong bản điều trần là “Làm hột nổ và khai thác mỏ than”(Di thảo số 5) và chỉ trích “không hề thấy trong bài ông trình bày phương pháp nào cả!”. Tôi nghĩ: có sai là ở chỗ NTT nêu đề mục không phù hợp thôi, chứ một bản điều trần gửi lên triều đình ông chỉ nêu lên nguyên lý khái quát: “Điều cốt yếu để thực hiện các phương pháp trên, trước hết phải có khí cụ (...).Nói tổng quát thì phương pháp đúc súng đạn và chế hột nổ cần nhất ở cơ học, và có cả quang học giúp vào. Còn phép đúc kim loại và khai thác mỏ than thì cần nhất về cơ học và có hoá học giúp vào. Về phép lái tàu thì cốt ở quang học và có trắc lượng học, toán học giúp vào...”. Thiết nghĩ, đây không phải là giáo trình để dạy cho kỹ sư hay công nhân mà phải trình bày cách làm cụ thể đầy đủ như yêu cầu của TS. Ông chỉ nêu như thế để có thể đề nghị nhà vua cho mở các trường dạy kỹ thuật mà sau này ông đã trình. Còn về sáu điều lợi mà TS nêu ra trong bài thì có chỗ sai như sau: Điều thứ 5. Thông hiếu với giáo hoàng: “Ngày nay nếu ta biết qua lại giao thiệp với các nước lớn phương Tây...Rồi ta lại qua nước La Mã thông hiếu với Giáo hoàng...Nếu Giáo hoàng cho việc giúp ta là phải, thì mọi người đều vui lòng thực hiện, ta không lo người Pháp không nghe...”.Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bản Di thảo này(trang 135-151) ở trong cuốn NTT con người và Di thảo của Trương Bá Cần, thì thấy những dòng TS đã viết chỉ ở 6 dòng cuối Điều thứ 4: “Thứ tư là nhờ nước khác lấy danh nghĩa mà áp chế họ” dài 32 dòng. Sáu điều lợi NTT trình bày chính là chủ trương ngoại giao đa phương do NTT đề xuất, việc mà hiện nay đảng ta cũng chủ trương như vậy, chứ không phải như TS võ đoán là: “Bang giao với Vatican. Đây là một trong hai chủ đích chính trong bản Điều trần này của NTT, còn 5 đề nghị kia chỉ là hoa lá cành, là củ cà rốt rỗng ruột không ăn được, nhằm che đậy hậu ý khuyên triều đình thoả hiệp với Pháp và bang giao với Vatican để thực hiện sách lược tôn giáo hoá Việt Nam(TS BK cho in đậm). Điều đó cũng có nghĩa là để cho Pháp dễ cai trị Việt Nam”. Đó là thái độ “không ưa đổ thừa cho xấu”, “nói lấy được” của người viết có ác ý! Xin lưu ý rằng một người bị triều đình và dân chúng thì nghi ngờ vì là người công giáo lại đã có thời gian làm việc cho Pháp nên dù có nhiều hiểu biết NTT cũng khó lòng bày tỏ được tấm lòng yêu nước của mình. Trước sau NTT đều thể hiện tâm sự lo lắng của một sĩ phu trước sự tồn vong của đất nước, theo lý tưởng của những tín đồ Khổng giáo: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Tâm sự đó ông đã nhiều lần bày tỏ, đặc biệt là trong bản Trần tình gửi cho triều đình (Di thảo số 3) ông đã từng gửi thư cho Phan Thanh Giản: Mặt trời cho dẫu không soi đến/ Hướng Dương xin vẫn nếp hoa quỳ. NTT đã nói rõ tấm lòng mình đối với đất nước khi do vì cách phân biệt đối xử của nhà vua đối với người công giáo, ông buộc lòng phải sống với người ngoại bang: Nguỵ Tào sống gửi: Từ Nguyên Trực/ Tần Lã không thờ: Lỗ Trọng Liên. Một người dù bị triều đình đối xử bất công do chính sách sai đối với giáo dân; có điều kiện để có thể “vinh thân phì gia” nếu sẵn sàng cộng tác với giặc, nhưng vẫn quyết từ bỏ để về sống cực khổ ở quê nhà nhưng vẫn một lòng lo cho đất nước, vẫn vắt hết tâm can của mình suy nghĩ kế hoạch đề xuất với triều đình để làm cho dân giàu nước mạnh, chống được ngoại xâm; sẵn sàng giúp cho tổng đốc Nghệ An hoàn thành việc đào Kênh Sắt, công việc mà từ thời nhà Lê đã phải bỏ gián đoạn, giúp cho sau này phát huy tác dụng rất lớn trong công cuộc chống Mỹ cứu nước; nhiệt tình giúp cho dân xã Nghi Đồng (Nghi Lộc-Nghệ An) dời đến vùng đất khí hậu và đất tốt, tránh được hoạ diệt vong; tài giỏi trong việc giúp cho các họ đạo ở Sài Gòn, Xã Đoài xây dựng nhà thờ, nhà Chung...chỉ trong một thời gian ngắn (10 năm). Thử hỏi những người được đi du học chính quy, đầy đủ ngày nay đã mấy người đóng góp được như vây? Nếu NTT có ý hai lòng như TS viết thì vua quan Tự Đức đã xử ngay thời ấy rồi chứ không chờ đến nay phê phán. Nhân dân cả nước nói chung và Nghệ Tĩnh nói riêng, các học giả như các giáo sư Lê Thước, Nguyễn Lân..., nhà chí sĩ Phan Bội Châu chắc cũng không thể hiểu lầm được về con người NTT. Tôi nghĩ đến người phải từ giã cõi đời giữa lúc tuổi còn trẻ, còn nhiều hoài bão thiết tha giúp dân giúp nước, với tâm sự đau đớn “Nhất thất túc thành thiên cổ hận”(một lỡ bước đi muôn thuở hận) vì có thời gian sai lầm là làm việc cho Pháp (tuy mục đích của ông khi nhận làm cho chúng là để trung gian giúp cho triều đình trong việc thương lượng chuộc lại ba tỉnh) không thể có tâm địa như TS họ Bùi đã viết. Có thể có những đề nghị của NTT chưa đúng và đầy đủ do những hạn chế như đã nêu trên nhưng đại bộ phận đề nghị canh tân của ông về nông nghiệp, công nghiệp, tài chính, quốc phòng, giáo dục, văn hoá khoa học kỹ thuật...rất đáng trân trọng và có một tầm hiểu biết đi trước thời đại hàng trăm năm. Do đó đánh giá về NTT cần công bằng và thể tình, không nên có những nhận định quá quắt và ác ý. Hoàng Kỳ-Cựu giáo chức Thay mặt các giáo viên trường THPT Nguyễn Trường Tộ-TPVinh-Nghệ An
  17. Bàn lại lịch sử hình thành Kinh Dịch-2 Hà văn Thùy Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện tại Đông Phi khoảng 180.000 năm trước. Đó có thể do cuộc hôn phối của người đàn ông duy nhất với 3 người đàn bà, sinh ra 3 đại chủng: Europide (da trắng), Australoid (da đen) và Mongoloid (da vàng). Người tiền sử từ Đông Phi đi lên Trung Đông từ rất sớm nhưng do bức thành băng hà chắn phía bắc nên không thể đi tới châu Âu. Khoảng 90.000 năm trước, một đợt di cư lên vùng đất của Israel hiện nay nhưng bị tuyệt diệt. Đợt thứ hai là đi về hướng mặt trời mọc. Cuối năm 1998, Dự án Đa dạng di truyền người Trung Quốc (Chinese Human Genome Diversity Project), cung cấp những dữ liệu cho thấy cuộc hành trình của người hiện đại sang phương Đông như sau: - Khoảng 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ Trung Đông theo ngả Nam Á tới Trung và Bắc Việt Nam. Tại đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết tạo ra những chủng Indonesien, Melanesien tràn lan khắp lục địa Đông Nam Á. Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á di cư tới châu Úc, sau đó là New Guinea và các đảo ngoài khơi. Khoảng 40.000 năm trước, do băng hà tan, khí hậu trở nên ấm áp, người từ Đông Nam Á đi lên khai thác lục địa Trung Hoa. Do sống theo từng nhóm riêng rẽ trong thời gian dài trên địa bàn rộng, người Đông Nam Á đã phân ly thành những bộ lạc khác nhau mà sau này lịch sử gọi bằng tên chung là Bách Việt. Ban đầu người Việt mang theo những công cụ đá mài mà tiêu biểu là loại búa đá lưỡi cong (gọi là phủ, việt) nên tên người Việt được viết với bộ Qua. Khoảng 15.000 năm cách nay, những lớp người tới sau mang theo giống lúa, khoai sọ và gà, chó từ Văn hoá Hoà Bình Việt Nam lên, phát triển nông nghiệp lúa nước trên lưu vực Dương Tử rồi Hoàng Hà. Lúc này tên người Việt được viết với bộ Mễ để ghi nhận chủ nhân của cây lúa nước. Cho đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, người Bách Việt sống tại duyên hải Á Đông có nhân số chiếm tới 54% nhân loại, trong đó người Lạc Việt có khoảng 15-20%, giữ vai trò lãnh đạo về ngôn ngữ và xã hội. Người Bách Việt xây dựng nền văn minh nông nghiệp sớm và rực rỡ nhất thế giới và là người giỏi đi biển, có những con thuyền đủ sức làm chủ biển Đông.(10) Tại di chỉ Bán Pha 2 tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc, được định tuổi 12.000 năm trước, năm 2003 các nhà khảo cổ phát hiện chiếc bình gốm cổ đựng trà, trên đó có văn bản được khắc bằng chữ tượng hình cổ chứng tỏ rằng, vào thời đó người Việt đã có chữ viết. Tại di chỉ Giả Hồ với 9000 năm tuổi, cũng phát hiện những ký tự khắc trên mai rùa cùng những ống sáo làm bằng xương chim hạc, đó là những nhạc cụ xưa nhất của người hiện đại được khám phá. Chính ở đây cũng tìm thấy rượu được làm bằng gạo, mật ong và táo gai. Dựa vào trình độ văn minh của người Bách Việt, ta có thể đoán rằng, vào thời kỳ này, người Bách Việt đã có những hiểu biết cần thiết về thiên văn với sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao gần gũi. Kinh nghiệm dự báo thời tiết đã phong phú và biết làm lịch. Người Việt cũng khám phá ra Âm Dương, Ngũ hành. Có thể vào thời kỳ này công cụ bói toán là những quẻ bói ra đời. Những nghiên cứu di truyền học cũng cho thấy, khoảng 30.000 năm trước, một số nhóm Mongoloid từ Đông Nam Á theo con đường Ba, Thục lên định cư tại Tây Bắc Trung Quốc. Đó là tổ tiên của những bộ lạc Mông Cổ thiện chiến sống du mục trên các đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc. Sau này, được khoa học định loại là chủng Mongoloid phương Bắc. Có thể hình dung bức tranh thời tiền sử trên lãnh thổ Trung Hoa như sau: Ít nhất vào khoảng 30.000 năm cách nay, người Bách Việt đã có mặt khắp 18 tỉnh của Trung Quốc. Ở vùng phía Bắc có tình trạng: sống cách nhau con sông Hoàng Hà nhưng giữa người Bách Việt và người Mông Cổ là hai thế giới khác biệt. Dù phải sống trên thảo nguyên khô lạnh và khắc nghiệt nhưng người Mông Cổ do phương thức sống du mục nên không thể lùa đàn gia súc qua sông Hoàng tới vùng đồng bằng lầy lội. Mãi sau này, khi thấy những người nhỏ bé, có sắc da đen, tóc xoăn, trồng lúa nước sống nhàn hạ và sung túc bên kia sông, người Mông Cổ nảy lòng tham, mưu toan chiếm đất của Bách Việt. Khoảng 2600 năm TCN, một số bộ tộc Mông Cổ du mục do họ Hiên Viên dẫn đầu, vượt sông Hoàng Hà, chiếm Thiểm Tây, Sơn Tây… Do người Bách Việt quá đông, chống cự kiên cường nên người Mông Cổ lâm vào trận chiến dai dẳng, ác liệt, chịu nhiều thiệt hại. Sau trận quyết chiến Trác Lộc, tuy diệt được thủ lĩnh Việt tộc là Đế Lai, chiếm được một phần đất đai nhưng người Mông Cổ vẫn thường xuyên bị tấn công trong một trận chiến du kích trường kỳ. Mặt trận càng mở rộng thì quân Mông Cổ càng phải dàn mỏng ra và lâm vào tình thế bất lợi. Từ thực tế chiến trận, kẻ xâm lược nhận ra: không thể toàn thắng người Việt bằng bạo lực. Mặt khác, từ thực tế cho thấy nguồn thức ăn dồi dào, đất đai rộng rãi, người đông đúc nên không bắt buộc phải tàn sát diệt chủng hoặc nô lệ hoá kẻ bại trận. Do vậy, ở những nơi chiếm được, người Mông Cổ thực thi chính sách mềm dẻo: dành cho người Mông làm quan cai trị, làm công nghiệp, thương nghiệp, để cho người Việt giữ nguyên quyền cày cấy trên đất của mình, đi lính, làm tạp dịch và đóng một mức thuế vừa phải. Nhận thấy người Việt hiền lành, ưa cuộc sống tự do, thích ca múa… nên các thủ lĩnh Mông Cổ tôn trọng nếp sống của người Miêu Việt, dùng âm nhạc, ca múa phủ dụ. Nhờ vậy, dần dần giữa người Mông và người Việt xây dựng được cuộc chung sống tương đối hoà thuận. Do sống chung đụng, đã có cuộc hoà huyết giữa người Bách Việt và người Mông Cổ, tạo ra chủng mới là Mongoloid phương Nam. Việc hoà huyết này như phản ứng dây truyền tràn lan rất nhanh, chỉ vài ba thế hệ, phần lớn người Việt trong vùng bị chiếm cũng như người Mông Cổ chiếm đóng biến thành chủng Mongoloid phương Nam. Sắc dân này trở nên thành phần chủ thể của dân cư thời Đào Đường, nhà Hạ, Thương, Chu. Khi Lưu Bang lập nước Hán thì được gọi là người Hán. Trên thực tế, người Hán chỉ ra đời từ sau năm 2600 TCN, là con lai giữa người Mông Cổ phương Bắc và người Bách Việt. Do mang hai dòng máu của Viêm Đế và Hoàng Đế, người Trung Hoa sau thời Hoàng Đế đã tiếp thu hai nguồn văn hóa Bách Việt và Mông Cổ để xây dựng nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ, trong đó có việc hoàn thiện công cụ bói toán. Có thể công cụ bói toán mà sau này có tên là Dịch được ra đời như sau: Khám phá thiên nhiên huyền bí là khát vọng lớn lao của con người. Khát vọng lớn lao không kém nữa là dự đoán những may rủi, họa phúc đến với cộng đồng cũng như tới số mệnh của từng con người. Một công cụ để bói toán là điều bức xúc. Do quan sát thiên nhiên, dần dà con người biết được sự vận hành của mặt trăng, mặt trời, các vì sao cùng mối liên quan của chúng với Trái đất. Người ta cũng phát hiện ra hai yếu tố Âm, Dương cùng với Ngũ hành sinh khắc chi phối toàn bộ sự vận hành của Vũ trụ. Tới một lúc nào đó, những trí tuệ sáng láng nhất trong cộng đồng hình dung ra Vũ trụ là Thái cực như một vòng tròn chứa nghi Âm và nghi Dương. Lưỡng nghi cọ xát thành Tứ tượng, Tứ tượng cọ xát thành Bát quái… Do quen với chữ Nòng Nọc nên lúc đầu người ta dùng Nòng 0-0 để ký hiệu nghi Âm và Nọc 0 ký hiệu nghi Dương. Tới lúc nào đó, hai ký hiệu toán nhị phân trên được cải tiến thành vạch đứt - - tượng trưng cho Âm, vạch liền – tượng trưng cho Dương. Chồng những tượng Âm, Dương lên nhau thành Tứ tượng rồi Bát quái, trùng quái là việc không mấy khó. Cái khó hơn, khiến đau đầu người xưa là làm cách nào bố trí hợp lý 8 quái trên hoành đồ rồi viên đồ. Càng khó hơn khi bố trí một thứ tự thỏa đáng cho 64 quẻ trong mối tương quan đa chiều giữa quẻ này và quẻ khác trên phương đồ, viên đồ… Bằng sự kiên trì của loài kiến, dần dần người xưa cũng tìm ra Bát quái khả dĩ phục vụ cho mục đích của mình: Tiên thiên Bát quái. Có thể Phục Hy là người sáng chế ra Bát quái Tiên thiên này mà cũng có thể Ngài đã tổng kết hàng nghìn Bát quái trong dân gian để thành Tiên thiên Bát quái. Rồi dùng Tiên thiên Bát quái như một la bàn, Phục Hy đã sắp xếp vị trí 64 quẻ theo trật tự hợp lý nhất, đó là Trùng quái Phục Hy. Trùng quái Phục Hy trở thành cuốn sách bói truyền đến Thần Nông dưới tên Liên Sơn, tới Hoàng Đế có những bổ sung cải tiến và được gọi là Quy Tàng. Hai công cụ bói toán này truyền qua thời Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương… Trong dân gian người ta cũng dần dần phát hiện ra những bất cập, những sai lệch của Liên Sơn, Quy Tàng. Vì vậy tự nhiên, không ít đề nghị cải tiến sách bói được đưa ra. Theo truyền thuyết, Văn Vương là thánh nhân đáp ứng được việc này. Có thể do chính Ngài phát minh ra, cũng có thể Ngài tổng hợp những phương án xuất hiện trong dân gian, thành Bát quái mới mà sau này được gọi là Hậu thiên Bát quái hay Bát quái Văn Vương. So với Bát quái của Phục Hy, Bát quát Văn Vương là thành tựu nổi bật vì là 1 trong 24 đồ hình đạt được 6 đối xứng (theo Trần Quang Bình). Dựa vào Hậu thiên Bát quái, Văn Vương bố trí lại 64 quẻ rồi trước tác quái từ, hào từ, đưa sách bói thành công cụ bói ưu việt và Dịch ra đời. Năm trăm năm sau Văn Vương, Khổng Tử san định Dịch, viết Thập dực, làm cho Dịch có diện mạo như hiện nay và được xếp vào Ngũ kinh. Dựa vào phát hiện những dấu vết Dịch trên gốm Phùng Nguyên, trên trống đồng Đông Sơn, việc tìm thấy bản Dịch tại Mã vương đôi miền Hồ Nam cùng những bản sách Dịch thời Thần Nông, Hoàng Đế bên sông Hoàng Hà, ta có thể nhận định rằng: Bát quái, trùng quái được người Bách Việt sáng tạo trên địa bàn rộng lớn từ bên sông Hồng sông Mã, tới Dương Tử, Hoàng Hà. Không phải ngẫu nhiên mà trên quốc kỳ của Đại Hàn dân quốc có đồ hình Thái cực và Bát quái. Họ chính là hậu duệ cùa dòng U Việt mà tổ tiên từ 3-4 nghìn năm TCN đã góp phần sáng tạo ra Dịch. Có thể có tình huống thế này: cũng như những chiếc búa đá mài được người Hòa Bình đưa lên Trung Nguyên, sau đó là giống lúa, giống gà, giống chó… Bát quái, trùng quái cũng được người Phùng Nguyên sáng tạo rồi theo chân người Việt di cư mang tới bên sông Dương Tử, Hoàng Hà. Việc sáng chế là một quá trình hàng ngàn năm, bắt đầu là Bát quái Tiên thiên rồi Bát quái Hậu thiên. Đến khi người Phùng Nguyên khám phá ra Bát quái chuẩn, là Bát quái Lạc Việt thì xảy ra sự cố người Mông Cổ xâm chiếm đất đai Bách Việt. Cuộc di cư lên phía bắc từ hàng vạn năm bị chặn đứng. Do không có người đi lên mà chỉ có người chạy loạn trở về nên nhiều yếu tố mới của văn hóa phương Nam, trong đó có Bát quái Lạc Việt không được đưa lên phương Bắc. Tíếp đó là những tao loạn thời Chiến Quốc càng làm khó con đường đi lên của người Việt. Tiếp theo là Thục Phán chiếm ngôi của Hùng Vương rồi nhà Tần xâm lăng. Không còn cách nào khác, người Âu Lạc đành khắc Bát quái Lạc Việt lên trống đồng để cất giữ. Do người xưa ký thác một cách quá bí hiểm nên kẻ xâm lăng phương Bắc thủ đắc trống hơn 1000 năm cũng như con cháu sau này tuy có tìm thấy trống cũng không thể giải mã nổi. Đến ngày nay, nhờ cố công của nhiều thế hệ người Việt và nhờ vào phương tiện khoa học hiện đại, những tác giả như Đoàn Nam Sinh, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thiếu Dũng, Trần Quang Bình tìm lại được đồ hình Bát quái Âu Lạc trên trống đồng, tranh Đàn Lợn của Làng Hồ, tranh Ngũ Hổ đình Hàng Trống… Cố nhiên những khám phá này cần được kiểm chứng công nhận sự chính xác. Dù thế nào đi nữa thì chúng ta cũng vô cùng biết ơn người Trung Hoa anh em có công cực kỳ lớn lao trong việc tiếp thu sách bói Liên Sơn, Quy Tàng từ tổ tiên Bách Việt rồi bỏ công sức, trí tuệ xây dựng nên kinh Dịch với diện mạo hiện nay, một đỉnh cao của trí tuệ nhân loại. 2/ Khi đi tìm công cụ bói toán, người xưa buộc phải khám phá bản chất cùng sự vận hành của Vũ trụ. Không phải duy nhất một con đường đến La Mã thì cũng không phải chỉ một con đường duy nhất phát hiện bản chất vũ trụ là việc bói cỏ thi. Có thế là cùng với những quẻ Dịch, đã phát hiện ra hai công cụ bói toán khác là Hà đồ và Lạc thư dùng để bói rùa. Dựa vào việc bố trí những chấm Âm, Dương trên Đồ, Thư được vẽ trên mai rùa, khi nướng vỏ rùa, người ta căn cứ trên những vết nứt để định quẻ rồi giải đoán bằng Dịch. Như vậy là, dù được sáng tạo ra một cách độc lập nhưng Hà đồ, Lạc thư cùng phục vụ cho việc bói toán. Do cùng là những công cụ mã hóa bản chất và sự vận hành của Vũ trụ nên Đồ, Thư và Bát quái có những tương đồng do quy chiếu vào bản chất vũ trũ. Tới thời gian nào đó, Đồ và Thư được gộp chung vào Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch. Khi san định Chu Dịch, Khổng Tử thấy trước mắt mình tất cả Quái, Đồ, Thư nên Ngài mặc nhiên tin rằng cả 3 là thành phần bất khả phân ly của sách Dịch. Vì vậy Ngài cho rằng, thánh nhân (những vị tài giỏi sống rất lâu trước mình) nhận được Đồ, Thư từ sông Hà sông Lạc rồi theo đó vạch quẻ: “Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi.” Chính lời nói này khiến cho hậu thế nhầm theo là từ Hà đồ, Lạc thư mà làm ra Bát quái. Điều này không đúng với logic của tư duy: Quái đơn giản hơn Đồ, Thư nhiều nên theo tư duy logic thông thường, quái phải được làm ra trước Đồ, Thư. Hoặc giả cả ba cùng được tìm ra một cách riêng rẽ. Dầu sao mặc lòng thì cũng không thể từ Đồ, Thư mà làm ra Bát quái. Và quả như những chứng minh ở trên cho thấy, Đồ, Thư không liên quan tới Bát quái. Khổng Tử đã lầm nhưng cháu ông là Khổng An Quốc lại lầm hơn khi đưa ra những yếu tố dị đoan là con Long mã trên sông Hà, con Thần quy trên sông Lạc. Sự thêm thắt vô sở cứ này dẫn hậu nhân đến hoang đường lầm lạc và khiến cho hậu thế gọi ông là tội đồ của Dịch. III/KẾT LUẬN 1/Từ chứng minh ở trên, ta có thể tin được rằng, kinh Dịch nguyên là công cụ bói toán do người Bách Việt sống từ sông Hồng, sông Mã tới Dương Tử, Hoàng Hà sáng tạo. Khoảng 2800 TCN, Phục Hy đã từ những đồ hình Bát quái lưu hành trong dân gian, sáng tạo ra Tiên thiên Bát quái. Dựa vào cái la bàn này, Ngài đã sắp xếp một cách tương đối thỏa đáng các quẻ trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, trở thành sách bói toán hữu dụng. Văn Vương dựa vào những bát quái do dân gian phát hiện, đã sáng tạo nên Hậu thiên Bát quái rồi từ đây điều chỉnh vị trí các quẻ và sáng tác quái từ hào từ, đưa cuốn sách bói toán trở thành Chu Dịch. Bằng công trình san định của mình, Không Tử đã đưa Chu Dịch trở thành bộ kinh điển đứng hàng đầu trong kho tàng tri thức nhân loại. 2/Tuy nhiên tới nay cũng chưa thể nói kinh Dịch là tác phẩm hoàn chỉnh, không còn điều gì để bàn bạc sửa chữa. Đọc bộ Dịch do Chu Hy truyền lại, không thiếu những chỗ người đọc phải chấp nhận một cách khiên cưỡng là chỉ dấu cho thấy điều này. Dịch vốn là công cụ bói toán, vậy mà gần hai ngàn năm nay, những nhân tài xuất chúng về bói toán chỉ đếm không hết trên đầu ngón tay, cho thấy bản thân công cụ bói toán có vấn đề. Vấn đề ở đây là do người Trung Hoa chỉ có thể đạt tới Bát quái Văn Vương với 6 đối xứng. Từ Bát quái bất toàn này đã dẫn đến những thiếu sót nghiêng lệch trong viếc sắp xếp các quẻ, khiến việc viết quái từ, hào từ, thập dực thiếu chính xác. Tôi cho rằng, Tiên thiên, Hậu thiên, rồi Trung thiên đồ chỉ phản ánh từng bước con người khám phá sự vận hành của vũ trụ. Do nhận ra đồ hình Bát quái của Phục Hy còn thiếu sót bất cập, trước thời Văn Vương, người xưa đã tìm ra một đồ hình khác. Khi đặt tên cho đồ hình mới này là “Hậu thiên”, thì đồng thời gọi đồ hình của Phục Hy là “Tiên thiên” để phân biệt. Về nguyên tắc, Tiên thiên Bát quái là vô nghĩa, vì lúc đó Vũ trụ chưa sinh, thì làm gì đã có những Càn, Khôn cùng sự vận hành? Một vũ trụ chưa có (tiên thiên) làm sao có thể tác động tới con người ở thời Hậu thiên? Nhưng trên thực tế, Tiên thiên đồ đã là công cụ bói toán hữu hiệu. Điều này chứng tỏ cái tên “tiên thiên” đặt cho đồ hình Phục Hy là không chuẩn. Ngày nay, khi nhận ra sự thiếu sót bất cập của Bát quái Văn Vương, con người cần phải tìm ra bát quái tiến bộ hơn. Tác giả Trần Quang Bình có công đã tìm ra Bát quái chuẩn (Bát quái Lạc Việt). Từ đây, công việc phải làm là xây dựng bộ Dịch mới theo chỉ đạo của Bát quái chuẩn: xếp lại đồ hình của 64 quẻ cho thật chính xác, từ đó chỉnh lại những chỗ chưa phù hợp của quái từ, hào từ, hệ từ… Cũng trong ý nghĩa trên, Trung thiên đồ là một bước trung gian tiến tới đồ hình chuẩn. Khi phát hiện ra đồ hình chuẩn, Trung thiên đồ không còn cần thiết nữa. 3/ Dịch là cuốn sách triết lý về Vũ trụ và nhân sinh nên sự chính xác của những luận đoán của nó phụ thuộc chặt chẽ vào vị trí, tức tọa độ của người dùng Dịch, do sự chi phối của lực hút Trái đất cùng tác động của các thiên thể. Giữa Việt Nam và Trung Quốc có khoảng cách về địa lý, múi giờ khác nhau. Dịch do người Trung Hoa làm ra như hiện nay chưa thật chính xác đối với người Trung Hoa thì độ chính xác sẽ kém đi đối với người ở vĩ độ khác. Xin dẫn ra đây một thí dụ từ bài viết của Nguyễn Thiếu Dũng: “Câu lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc không phù hợp với thực tiển Trung Quốc vì con đường sống của họ luôn dịch chuyển từ Tây Bắc sang Đông Bắc, hành trình các kinh đô của các triều đại Trung Hoa thường đi từ núi ra biển: Tây An - Trường An - Lạc Dương - Khai Phong - Bắc Kinh. Đó là hành trình ngược với lời hào ba quẻ: Giải, Khôn, Kiển.” Vì vậy nên chăng, người Việt Nam nên dựa vào Bát quái Lạc Việt làm ra cuốn Dịch Việt Nam để phục vụ tốt hơn cho nhân dân, đất nước mình? 4/Thoạt kỳ thủy, Dịch là sách bói. Có thời kỳ việc bói toán bành trướng làm Dịch bị suy đồi. Nay ta đang ở thái cực khác, coi bói toán là mê tín dị đoan nên trên phương diện chính thống, bị bài bác vùi dập. Đấy lại là một cực đoan. Cực đoan là tiêu cực. Nên chăng chúng ta ủng hộ cả hai cánh của Dịch học - triết lý và dự báo - để Dịch vừa phục vụ con người triết lý vừa phục vụ con người tâm linh? Dự báo tương lai với những cát hung họa phúc là khát vọng lớn của con người từ tuổi ấu thơ. Khát vọng đó ngày nay và có lẽ mãi mãi không bao giờ vơi cạn. Vì vậy việc cần làm là biến Dịch thành môn khoa học dự báo tương lai đạt tới độ tin cậy cao chứ không phải như lạc đà vùi đầu trong cát để phủ nhận bói toán. Cần đưa Dịch thành môn học trong trường phổ thông để công dân tương lai không bị mù dịch, ngu ngơ trước quy luật vận hành của Vũ trụ, đứng ngoài thành tựu văn hóa của tổ tiên. Trong lĩnh vực này, cuốn Tám chữ Hà Lạc và quỹ đạo đời người của nhà văn Xuân Cang dựa theo sách Học Năng vận dụng vào việc phác thảo chân dung các nhà văn là việc làm tích cực: từ 8 chữ trong ngày tháng năm sinh của một người, nhà bói Dịch vạch ra những quẻ cho ta biết những gì có thể xảy đến với ta theo từng năm tháng. Dựa vào đấy người ta có thể hạn chế những điều hung và phát huy những năm tháng thuận lợi trong cuộc đời, hạn chế bớt những bi kịch do thiếu hiểu biết. Đây mới là những thử nghiệm nhưng là thử nghiệm mang tính nhân văn cao nên cần khuyến khích. Sài Gòn cuối Đông Bính Tuất 1.Phùng Ỷ. Hậu Trai Dịch học. Tứ khố toàn thư trân bản. Thương vụ ấn quán Thương Hải. Dịch tập chú, Kinh thượng thiên, quyển 1, trang 1. (Dẫn theo Nguyễn Hữu Lương trang 109) 2. Nguyễn Hữu Lương. Kinh Dịch với vũ trụ quan phương Đông; Nha tuyên úy Phật giáo. Sài Gòn 1971, trang 421 3. Chu Hy- Châu Dịch bản nghĩa, Hệ từ Hạ, chương II 4. Nguyễn Hữu Lương, trang 536 5. Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Tìm về cội nguồn kinh Dịch www.tuvilyso.com 6. Nguyễn Thiếu Dũng: Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam? và Chiếc gậy thần - dạng thức nguyên thủy của hào âm hào dương http://web.thanhnien.com.vn/Khoahoc/2005/4/4/80330.tno và http://web.thanhnien.com.vn/Khoahoc/2005/10/26/126878.tno 7.Trần Quang Bình: Kinh Dịch, sản phẩm sáng tạo của văn hiến Âu Lạc vietsciences.free.fr/vietnam/vanhoa/kinhdich/1.htm - 8. Lý Quá: Tây Khê Dịch thuyết. Tứ khố toàn thư trân bản. Thương vụ ấn quán, Thượng Hải, bài tựa, quyển 1, trang 5,6,7. Dẫn theo Nguyễn Hữu Lương trang 109 9. Kim Định: Việt lý tố nguyên. An Tiêm Sài Gòn trang 52 10. Hà Văn Thùy: Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa. talawas.org
  18. Từ nhận định trái đất là nơi duy nhất trong vũ trụ có sự sống, bây giờ thông qua học thuyết Âm Dương Ngũ hành chúng ta cần phải xác định được nơi nào trên trái đất xuất hiện con người đầu tiên, tức tiến hóa từ loài linh trưởng sang người. Xét về khảo cổ học, hầu như trên khắp các châu lục trên trái đất, nơi nào thuận tiện phát triển cho sự sống đều có công cụ đồ đá cũ, thời tiền sử, thông qua thí nghiệm phòng xạ các bon thì thời gian trong khoảng hơn 12.000 năm trước và kéo dài theo sau. Đồng thời, cũng xác định trận đại hồng thủy trong khoảng từ 8.500 - 12.500 trước, thời kỳ này nhân loại chết gần hết, chỉ còn một số sống sót và tất nhiên vẫn ở các châu lục. Tuy nhiên, giả sử rằng trước trận đại hồng thủy đã có một nền văn minh toàn cầu, nổi trội thì di sản của nó với hàng tỷ cổ vật phải tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tất cả là không. Đấy là chưa kể, số nhân loại còn sống sót vẫn thuộc về nền văn minh này sẽ có kế hoạch lưu trữ thành quả của tổ tiên để sau này con cháu còn nhận ra, điều này khẳng định sự tồn tại của các chứng tích văn minh đó phải tồn tại, nhưng đã không thấy. Ví dụ rõ ràng nhất là kim tự tháp Ai Cập, trong các lăng một và kim tự tháp đã tạc vào đá và ghi rõ niên đại các vị vua, thời gian trị vì và xây kim tự tháp, xưa nhất là kim tự tháp bậc thang Djozer khoảng 2640 trước Dương lịch. Cho nên, không vì thấy nó to quá và được xây dựng bởi hàng triệu viên đá mà cho rằng nó có từ nền văn minh toàn cầu trước đó.
  19. Nguyễn Trường Tộ: Đối Luận Với TS, GM Nguyễn Thái Hợp Bùi Kha LTS: Ngày nay, không ai còn lạ gì những ý kiến bất đồng đến trái ngược giữa những người theo đạo Chúa ở Việt Nam và đại đa số quần chúng trong các quan niệm về những "anh hùng", những "vị thánh", và những người "yêu nước", hay những "kẻ tội đồ" của dân tộc, nhất là những nhân vật trong thời kỳ sau khi đạo Thiên Chúa du nhập vào Việt Nam. Lẽ dễ hiểu vì những gì có lợi cho Vatican, tức sáng danh "Chúa", đương nhiên đa phần là phải thiệt thòi cho dân tộc về mặt tinh thần lẫn vật chất. Cái họ gọi là mở mang dân trí hay khai sáng văn minh, thực ra là để mở mang nước Chúa, và lót đường cho thực dân xâm lược và cũng là để cho dân Chúa được tôn vinh. Ngược lại, các bậc anh hùng của nước ta chống lại sự xâm lăng của họ thì bị họ dèm pha, hạ bệ khi có thể. Những bài đối thoại về các nhân vật lịch sử mà chúng tôi cố gắng trình bày, đã có từ chục năm nay khi người ta được tiếp cận những tài liệu về giai đoạn thuộc địa đã qua, chứng minh ngược lại những gì mà Giáo Hội Công giáo Việt Nam muốn ngụy tạo lịch sử. Mỗi lần những kẻ chăn chiên hay các con chiên mở miệng ca ngợi một nhân vật lịch sử liên hệ đến giai đoạn này, thì gần như trăm lần như một, kẻ đó chắc chắn đã giúp ích không nhỏ cho con đường xâm chiếm Việt Nam của Vatican hay của Tây phương. Do đó ta nên tìm hiểu cho kỹ. Các tác phẩm của họ in ra đều luôn luôn "lén" pha trộn, nửa nạc nửa mở để vinh danh các "anh hùng đạo Chúa", biến kẻ đi giúp ngoại xâm thành người yêu nước, để đứng bên cạnh các anh hùng và các nhà yêu nước của ta. Việc này có một số tác giả đã lên tiếng. Xin nhiều người tiếp tục cảnh giác các tác phẩm của họ, nhất là trong giai đoạn mở cửa tự do ở bên nhà trong thập niên qua. (SH) Nguyễn Trường Tộ Tôi hơi ngại lúc viết bài đối luận với Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp vì tôi nguyên là một con chiên trong thời kỳ rất ấu thơ, nay thì không còn nữa. Nhưng vì đây là vấn đề sử nên, cần làm sáng tỏ để định vị cho đúng công hoặc tội của một số nhân vật lịch sử mà Nguyễn Trường Tộ là một. Bài của TS, GM Nguyễn Thái Hợp dưới hình thức phóng vấn có tựa đề “Nguyễn Trường Tộ là người yêu nước một trăm phần trăm"do Vĩnh Khánh thực hiện, đăng ở web Văn Hóa Nghệ An, link http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song/khach-moi-cua-tap-chi/3629-tien-si-nguyen-thai-hop-nguyen-truong-to-.html Dưới đây tôi tóm lược những ý chính trong phần trả lời của Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp và biện chính những tư duy sai sự thật để góp phần trả lại cho ông Nguyễn Trường Tộ những gì mà ông từng cưu mang. Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp (từ nay: Nguyễn Thái Hợp): Phần đóng góp xuất sắc nhất của Nguyễn Trường Tộ là những sáng kiến, những kế hoạch, những hoạt động cụ thể để bảo vệ và xây dựng đất nước, trong thời gian đế quốc Pháp vào xâm chiếm nước ta. ☞ Bùi Kha: Ngài trả lời như thế nhưng không cho độc giả, như tôi, biết ông Nguyễn Trường Tộ đã đóng góp những gì? Và xuất sắc ra sao? Trong các phần đối luận của tôi sẽ làm sáng tỏ nhận định sai lầm nầy của ngài. Nguyễn Thái Hợp: 58 bản điều trần nhằm giải phóng quê hương và canh tân xứ sở. Tất cả 58 điều trần của Nguyễn Trường Tộ đệ lên triều đình tạo thành một khối nhất thống nhằm mục đích duy nhất là giải phóng 3 tỉnh rồi cả 6 tỉnh Nam kỳ. ☞ - Bùi Kha: Cũng không thấy ngài cho chứng cớ? Để rộng đường dư luận, tôi muốn phụ ngài tóm lược 58 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ: 58 bản Điều trần (Trương Bá Cần, “Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo”, nhà xb TP HCM, 1988) được sắp theo thứ tự thời gian, từ bài số 1: Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ (Thiên hạ đại thế luận) viết vào khoảng tháng 3–4/1863, đến bài cuối cùng, thứ 58: Bài tựa sách Đàm thiên luận (viết gần cuối đời của ông). Nếu sắp 58 bản Điều trần theo thứ tự thời gian, chúng ta sẽ thấy tư duy của Nguyễn Trường Tộ không được bố cục một cách nhất quán, mà viết theo những biến chuyển của tình hình quân sự và tham vọng của Pháp tại Việt Nam lúc bấy giờ để, xoáy vào chủ điểm chính: Tại sao nên hợp tác với Pháp? Với giọng văn điêu luyện, sắc sảo, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ sử dụng hai luận điểm “Củ cà rốt và cục xương” để thuyết phục dân Việt Nam; không nên làm cho quân Pháp đổ máu. Chiến thuật “củ cà rốt” là đưa ra một miếng mồi béo bổ như phải canh tân, phải đổi mới, phải khai thác hầm mỏ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên... để làm cho dân giàu nước mạnh. Muốn đạt được mục đích đó thì phải hợp tác với Pháp (Di thảo số 5). Chiến thuật “cục xương” là đưa ra một số đề nghị không thể thực hiện được như chỉnh trang võ bị, đào kênh từ Hải Dương đến Huế v.v... (Di thảo số 27) để qua đó muốn triều đình nhà Nguyễn phải mất thì giờ gặm xương. Nguyễn Trường Tộ khéo và tài tình lồng tư tưởng Kinh Thánh vào hầu hết những bản Di thảo để một mặt thì hăm dọa: “Tạo vật đã định như vậy, sao cưỡng được” (Di thảo số 1), mặt khác thì an ủi chấp nhận số phận... “Vì tạo vật đã an bài” (trong nhiều Di thảo khác). Một số Di thảo, thì đưa ra các dữ kiện sai lầm về sử liệu để bi thảm hóa tình hình quân ta, nhằm kêu gọi người Việt nên hòa với Pháp (Di thảo số 1), và để biện minh cho những đề nghị của mình (Di thảo số 5 và 27). Nguyễn Trường Tộ nhìn đất nước Việt Nam trong lăng kính tôn giáo, mang đầy tính cuồng tín, để từ đó dẫn đến hai hệ luận: * Thứ nhất, Việt Nam là một phần tử trong tổng thể của vạn vật mà tạo hóa đã sáng tạo, do đó “không có tự do làm theo ý muốn” (Di thảo số 2). Và vì là sản phẩm của tạo vật nên phải chịu số phận cần được khai hóa (Di thảo số 1). * Thứ hai, liên đới với hệ luận thứ nhất về mặt trần thế, do đó, Việt Nam nên “dùng giám mục và linh mục vào việc canh tân đất nước” (Di thảo số 17). * Có 3 trong số 58 Di thảo không có nhiều giá trị cho việc đề nghị “canh tân” cũng như văn chương, học thuật, nên không đáng được quan tâm nhiều như Di thảo số 6: Về việc mua đóng thuyền máy; Di thảo số 7: Về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy”; Di thảo số 9: Về việc mua tàu London; Di thảo số 11: Tâm sự với Trần Tiển Thành; Di thảo số 16: Bài Bạt mừng đào xong thiết cảng; Di thảo số 28: Biểu tạ ơn vua, tháng 3/1868; Di thảo số 56: Bài Khải Quyên tiền sửa cầu; Di thảo số 58: Bài Tựa sách Đàm thiên luận (cộng chung có 17 tr., khổ 8x11). * Trái lại, có 3 Di thảo dù không liên quan nhiều đến chính trị, kinh tế hoặc canh tân, nhưng về phương diện văn chương, lý luận và sự kiện thì rất hay, xuất sắc, nhất là tác giả lúc bấy giờ đang ở lớp tuổi 35 và cách đây khoảng 135 năm. Đó là Di thảo số 10: Thảo thư gửi Tây Soái; Di thảo số 47: Về việc cải cách phong tục; Di thảo số 50: Về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng (3 Di thảo này gồm 18 tr.). * 4 Di thảo khác được viết trong bối cảnh bị triều đình Tự Đức nghi ngờ nên giọng văn và ý tưởng có vẻ nịnh bợ hoặc phân trần, hoặc viết để thăm dò ý của triều đình. Đó là Di thảo số 13: Ngôi vua là qúy; chức quan là trọng; Di thảo số 40: Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định; Di thảo số 51: Cần nắm vững tình hình chính trị ở Pháp; Di thảo số 52: Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao (cộng chung có 18 tr.). * Có 3 Di Thảo dài nhất và gói ghém phần lớn tư duy của Nguyễn Trường Tộ. Đó là Di thảo số 1: “Thiên hạ đại thế luận” (gồm 6 tr.); Di thảo số 5: “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh” (17 tr.); Di thảo số 27: “Tám việc cần làm” (56 tr.). Như vậy, 3 bài chính chứa đựng phần lớn tư duy của Nguyễn Trường Tộ, tổng cộng khoảng 80 trang và hai Di thảo có tính tôn giáo. Về Kiến thức: Nguyễn Trường Tộ tự khoe về kiến thức của mình như sau: “Về việc học không môn nào tôi không để ý tới, cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để nghiên cứu về sự thế dọc ngang, tan hợp trong thiên hạ”(Di thảo số 3). Nhưng thực tế, tất cả 58 bản Di thảo của Nguyễn Trường Tộ mà chúng ta hiện có được, Nguyễn Trường Tộ dẫn chứng điển tích hầu hết là của Trung Hoa, không có bao nhiêu điển tích về Tây Âu, ngoại trừ về Tân Thế Giới (Hoa Kỳ), “Năm xứ Ấn Độ” (Thiên hạ đại thế luận), và tình hình giữa Anh và Pháp…, nhưng lại dẫn sai sự kiện lịch sử có hậu ý. Ngay cả về võ bị (Tế cấp bát điều, TBC, trang 225), Nguyễn Trường Tộ cũng không có những sáng kiến nào về cách bày binh bố trận theo lối hiện đại của phương Tây thời bấy giờ, mà toàn là lặp lại những mưu lược trong cuốn Tôn Ngô binh pháp (Xem Bùi Kha, Nguyễn Trường Tộ & vấn đề canh tân, Nhà xuất bản Văn học, 30.3.2011, tr.116-118). Sở dĩ Nguyễn Trường Tộ không thể sử dụng một số điển tích Tây Âu vì tiếng Pháp của Nguyễn Trường Tộ chỉ đủ để làm từ hàn tức là thư ký - phiên dịch (Theo bài viết Nguyễn Trường Tộ học ở đâu, học giả Đào Duy Anh trong tạp chí Tri Tân, số 7 năm 1941, trang 167). Về sự nghiệp: Nguyễn Trường Tộ đồng lõa lừa dối triều đình vua Tự Đức trong việc mua máy, mời thầy giáo để mở trường kỹ thuật ở Huế, không có mặt trong hàng ngũ nhân dân Việt Nam để kháng Pháp, trái lại cùng đi với Giám mục tình báo Gauthier, với Linh mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và 4 người khác đến Đà Nẵng trước giờ Pháp đánh chiếm để chào mừng, và có mặt trong đám giáo sĩ người Pháp và cùng với những người này làm áp lực để quân Pháp đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bị Đô đốc Genouilly đuổi đi Hồng Kông. Trong đám giám mục, linh mục bị đuổi có Nguyễn Trường Tộ. Năm 1861, vâng lời của phó Đô đốc Charner để cùng với Giám mục tình báo Gauthier về lại Việt Nam để phụ giúp việc mở rộng vùng chiếm đóng tại Sài Gòn. Sau khi thôi làm việc thư ký này, Nguyễn Trường Tộ làm một công việc trọng đại hơn là tùy theo tình hình xâm lược của Pháp để viết các bản Điều trần, lộng giả thành chơn, lúc thì hăm dọa quân dân Việt Nam “Ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa”, lúc thì đưa ra những đề nghị canh tân không tưởng, hoặc những đề nghị vô cùng tai họa cho quốc gia để có lợi cho Pháp, lúc thì nịnh bợ Triều đình để dễ bề chui sâu trèo cao như bài Ngôi vua là quý, chức quan là trọng, lúc thì làm như có vẻ yêu tổ quốc và chống Pháp như bài Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định viết năm 1871. Hô hào canh tân: Như chúng ta đã thấy có nhiều đề nghị của Nguyễn Trường Tộ không thế áp dụng được, vì: Thứ nhất, xa vời với thực tế, sai sử liệu và nguy hiểm như trong bài Thiên hạ đại thế luận, Lục lợi từ, Tế cấp bát điều v.v... Thứ hai, hoàn cảnh đất nước không cho phép và quốc gia không có chủ quyền, như vụ mua tàu London bị lừa gạt, vụ tên lái buôn Dupuis ở Bắc Kỳ. Do đó, lúc đề nghị dùng “Hội nước ngoài để khai thác tài nguyên” là quá không tưởng. Thứ ba, thực ra, Nguyễn Trường Tộ viết những bản Điều trần theo sách lược củ cà rốt và cục xương và NÚP BÓNG dưới chiêu bài CANH TÂN để làm lợi cho Pháp. Mặc dầu một vài bản Điều trần trông có vẻ thành khẩn và thực tế như Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh, “không nên cho giám mục biết tôi nói”...Nhưng hậu ý của Nguyễn Trường Tộ là cái khác chứ không phải cái đó. Thứ tư, một số đề nghị khác của Nguyễn Trường Tộ, nếu triều đình Tự Đức áp dụng thì Việt Nam trở thành một cổ ba tròng: Tròng thứ nhất, là thỏa hiệp với thực dân Pháp mà tôi đã chứng minh là hoàn toàn sai lầm: Mục đích của Nguyễn Trường Tộ là để cho Pháp có thì giờ Dưỡng binh súc nhuệ (chữ của Nguyễn Trường Tộ) để thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu. Tròng thứ hai, là giao hảo với Giáo hoàng để cho các Giáo sĩ thực dân như Legrand, Pellerin, Retort, Huc... và các linh mục Việt Nam bản xứ được có đầy đủ Trị ngoại pháp quyền để dễ đồng hóa và Ki Tô hóa dân tộc ta, đem tổ quốc dâng hiến cho Pháp . Tròng thứ ba, là đề nghị một số giám mục, linh mục tình báo vào trong triều đình để dễ dàng đồng hóa biến người Việt Nam trở thành người Pháp và nước Việt Nguyễn Thái Hợp: Nguyễn Trường Tộ dâng điều trần “Bàn về tự do tôn giáo” (ngày 29.3.1863). ☞ – Bùi Kha: Đúng ngài là một Giám mục chứ không phải người nghiên cứu sử như chúng tôi. Hân hạnh được hầu ngài vài suy nghĩ của các Đô đốc người Pháp về tôn giáo. Nguyễn Trường Tộ viết: “Xét ra đạo Công giáo vào nước ta từ thời Lê. Đầu tiên, các giáo sĩ Bồ Đào Nha đến giảng đạo ở tỉnh Hưng Yên, tiếp đến có các giáo sĩ người Pháp, người Y Pha Nho đến, được nhiều người tin theo. Lúc bấy giờ giáo dân và những người trong ba đạo (Phật, Lão, Khổng) tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tiếp đón nhau, lễ nghĩa đối đãi nhau, năng lui tới với nhau không có gì hiềm nghi, đều là con dân của nước nhà mà thôi. Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghen ghét kỳ thị nhau, do ghen ghét kỳ thị nhau mới sinh ra tội lệ. Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải lưu ly thất sở mà mắc vào vòng hình phạt. Nước vốn trong, có quấy lên mới bị đục, nếu ngừng thì chốc lát sẽ trong trở lại”(Giáo môn luận, TBC, Sđd, tr. 116). Mật thư đề ngày 24/7/1862, Đô đốc Bonard gửi cho Chasseloup Laubat cho ta thấy tình hình tôn giáo thời bấy giờ: “Ai (các giáo sĩ, BK) cũng ôm ấp lý tưởng trở lại thời kỳ mà Giá-mục Bá Đa Lộc được xem như ông vua thực sự của xứ An Nam, thời kỳ mà mọi việc chỉ có thể được thực hiện theo lời khuyến cáo của ông giám mục này, hoặc được ông cho phép. Để đạt mục đích đó, các nhà truyền giáo đã dùng kế hoạch sau đây: Nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính chính thống của vua này, và khi lật đổ được triều đình hiện tại thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ”. Nguyên văn tiếng Pháp: “Tous caressent l'idée de revenir au temp où l'Évêque d'Adran était le véritable souverain du royaume d'Annam, temps où rien ne se faisait que par ses conseils ou sa permission. Pour parvenir à ce but voici quels moyens ils ont employés: les unes et les autres, ne trouvant pas que les successeurs de la dynastie de Gia Long obtempérassent assez à leurs désirs, ont contesté la légitimité de ceux-ci et ont cherché à mettre en avant un candidat qui, s'il renversait la dynastie régnante, leur offrit plus de garanties pour arriver à leurs fins”. (Trích trong Archives du Ministère des Affaires Étrangères, Asie, Mémoires et Documents, Vol, 28, Fol.85 - 88: Thư khố Bộ Ngoại giao, Á châu, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, trang 85-88, CHT, Sđd, trang 150). Một đoạn khác trong thư đó viết về hành động của các giáo sĩ dòng tu Đô-Mi-Níc người Tây Ban Nha: “Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha thường chiếm cứ nhiều vùng miền thượng du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn: Hăng hái và quá cuồng tín, đa số trong bọn này phát xuất từ các đoàn du kích và phe Carlistes, họ rời bỏ Tây Ban Nha và sẵn sàng mang gươm, súng và thánh giá chữ thập, dốc toàn lực tham dự vào các cuộc nổi loạn gây tai họa cho xứ Bắc Kỳ”. Nguyên văn tiếng Pháp: “Quant aux Dominicains espagnols qui occupent généralement le haut Tonkin ils sont beaucoup plus ingouvernables: ardents et fanatiques au dernier degré, un assez grand nombre d'entre eux sortant des bandes de guérillas et de carlistes ayant abandonné l'Espagne portent assez volontiers le sabre et le mousquet avec la croix et sont mêlés, et de coeur et le corps, aux révoltes qui affligent le Tonkin” (CHT, Sđd, p.152). Hai trong nhiều thí dự nêu trên, đã cho thấy Nguyễn Trường Tộ bênh vực và đánh giá sai về vai trò của các giáo sĩ. Nguyễn Thái Hợp: Nguyễn Trường Tộ đệ đạt nhiều kế hoạch giải phóng vùng bị xâm chiếm, kể cả mưu tính đánh úp Gia Định mà ông đóng vai chính. ☞Bùi Kha: Ngài Nguyễn Thái Hợp viết sử mà giống như phán cho con chiên nên không cần phải dẫn sử liệu. Mời Giám mục lướt qua một số sử liệu sau đây: Nguyễn Trường Tộ: Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định, viết ngày 9/2/1871. Tự sự: Năm (1863), ông đề nghị cho lính nghỉ ngơi để thực dân Pháp giữ bờ cõi cho mình. Năm 1868, La Grandière bất chấp lệnh của chính phủ ông là Không được chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, nhưng y vẫn làm. Vua Tự Đức phản đối việc này và định cử sứ bộ qua Pháp tố cáo La Grandière đã lạm quyền và đòi trả lại 3 tỉnh mới chiếm. Nếu sứ bộ đi Pháp thì có thể 3 tỉnh ấy đã được trao trả, nhưng Nguyễn Trưởng Tộ viết bài chiêu dụ cản ngăn. Đến nay (1870), Pháp thua Phổ nhưng đã cho lính nghỉ ngơi từ lâu lấy ai để đánh? Ông lại bày mưu đánh. Nhưng đề nghị bí mật tuyển người từ Bắc, Trung và một số khác tại địa phương, chứ không hề đề cập đến các phong trào đang kháng Pháp tại Nam Kỳ, như Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, Nguyễn trung Trực v.v…, và kêu gọi họ hợp tác hay ủng hộ để đuổi kẻ thù chung? Nguyễn Trường Tộ còn nói ông cũng vào Gia Định để chỉ huy nhưng ngụy trang đi giảng đạo, và đồng thời báo tin cho ông Giám mục tình báo Ngô Gia Hậu (Gauthier) biết. Nguyễn Trường Tộ viết: “Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế (Khoản này các câu bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ đều bị chìm hoặc bị vùi dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết” (TBC, Sđd, tr. 330). Tại Gia Định, và cả miền Lục tỉnh lúc bấy giờ và ngay bây giờ, làm gì có sông nào, đê nào ngăn nước để Nguyễn Trương Tộ phá và thuyền sẽ bị chôn vùi? Nếu Nguyễn Trường Tộ đề nghị đánh gấp, thì ông ta quả tình là một người yêu nước không còn phải bàn cãi. Nhưng rất tiếc, ông viết: “Kế này phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành”(TBC, Sđd, tr. 331). Thời gian hai năm đã tố cáo cái dã tâm của ông. Lý do: Một, như trên đã nói, ông Tộ đề nghị sử dụng những thường dân (không phải lính) chiêu mộ từ Bắc, Trung, Nam chứ không kêu gọi nghĩa quân tại địa phương, người vừa có tinh thần chiến đấu vừa đã được huấn luyện và có kinh nghiệm, thì làm sao thắng được? Hai, lịch sử cho thấy nếu đánh vào giai đoạn sau tháng 9/1870 Việt Nam nhất định thắng. Dưới đây là sử liệu: “Ở Âu-châu, chiến tranh bùng nổ giữa nước Pháp và nước Phổ ngày 19/7/1870, nhưng mãi tới ngày 5/8/1870 tin ấy mới tới Sài Gòn. Cornulier-Lucinere vội cho tổ chức sự phòng thủ sông Sài Gòn vì sợ rằng triều đình Huế thừa cơ hội mà tiến quân xuống miền Nam hay ra lệnh cho lục tỉnh Nam Kỳ nổi loạn. Song cả cho đến ngày 25/9/ 1870 là khi tin quân Pháp đại bại ở Sedan tới Sài Gòn, triều đình Huế vẫn án binh bất động. Quốc triều chánh biên toát yếu chép là: Năm Canh Ngọ tháng 9, nước Đại Pháp đánh với Phổ Lỗ Sĩ, quan Pháp soái thương cho ta biết, ngài khiến quan thương bạc hỏi thăm. Thái độ của triều đình Huế còn kỳ quặc hơn khi triều đình tỏ lòng mong muốn quân Pháp sẽ rút khỏi Nam Kỳ để trở về Pháp cứu vãn tổ quốc lâm nguy. Triều đình đã hoàn toàn không lợi dụng những nỗi khó khăn của Pháp khi nền đệ nhị thể chế sụp đổ thay thế bởi một chính thể cộng hòa, và khi mà quân Pháp bị cô lập ở Nam Kỳ” (Nguyễn Thế Anh, “Việt Nam thời Pháp đô hộ”, Lửa thiêng xuất bản, Sài gòn 1970, tr. 66). Giả sử triều đình bị mắc lừa bởi kế hoạch của ông Tộ, hai năm sau mới đánh, thì kết quả sẽ thế nào? Hai năm sau tức là năm 1873. Lúc này Việt Nam ở vào thế rất yếu nhưng Pháp rất mạnh, khó lòng thắng. Vì tại chính quốc, tình hình chính trị đã được ổn định, chính phủ mới đã được thành lập. Tại thuộc địa, Pháp đã bình định 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ được 11 năm, và 3 tỉnh miền Tây được 6 năm. Họ rất rảnh tay. Còn tại Bắc Kỳ, chính phủ Pháp ngăn cấm Đô đốc Dupré về một cuộc phiêu lưu mới tại Bắc Kỳ, nhưng cũng giống như La Grandière, ông ta không tuân lệnh thượng cấp. Và các viên chức trong tòa lãnh sự Pháp tại Trung Hoa cũng muốn chính phủ họ chiếm Bắc Kỳ như Dupré. Sử liệu cho thấy: Vào năm 1873, lãnh sự Pháp ở Quảng Đông, Bá tước Chappedelaine, báo cáo về Paris như sau: Ở Bắc Kỳ, quan lại An Nam bị thù ghét dữ dội. Không phải dùng đến 2000 người và 4 tuần dương hạm, mà chỉ cần phái một tuần dương hạm cùng vài pháo hạm và một đại đội thủy quân lục chiến tới cửa sông Hồng Hà là đủ làm xứ Bắc kỳ trở thành một thuộc địa Pháp (J. Dupis, Le Tonkin de 1872 à 1886, Histoire et Politique. Paris, 1910, p. 125. Dẫn theo Nguyễn Thế Anh, Sđd, tr. 81). Nguyễn Trường Tộ, một người yêu nước là thế đấy! “Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh” Nguyễn Trường Tộ viết ngày 01/02/1871, và “Kế hoạch đánh úp Gia Định” (9/02/1871), cách nhau chỉ có 8 ngày, mâu thuẫn với nhau và cũng được viết theo kiểu nước rút. Tại sao vậy? Vì tình hình chính trị và quân sự của Pháp quá nguy khốn như sử liệu dẫn trên cho thấy. Tuy vậy, khuyên theo kế sách ngoại giao trông lộ liễu và phi lý quá đáng!(vì theo sử gia Nguyễn Thế Anh thì tình thế đã chín muồi, phải đánh). Hơn nữa, để cầm chắc triều đình Việt Nam theo con đường “đi xin” chứ không dùng võ lực, nên 8 ngày sau, ông Tộ lại viết bài chiêu dụ “Bổ túc ckế hoạch đánh úp Gia Định” nhằm nhận diện xem ai xuất hiện “đánh”, thì Pháp sẽ tiêu diệt ngay từ trứng nước. Và nhóm nào muốn đánh nhưng không thể bắt hoặc cản ngăn được thì dùng kế hoãn binh, khuyên không nên đánh bây giờ mà phải hai năm sau, như đã phân tích ở trên! Nói gọn, thời vua Tự Đức có hai cơ hội tốt nhất để đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi. Cơ hội một là từ 1858 đến 1863 nhưng Nguyễn Trường Tộ khuyên cho lính nghỉ ngơi. Cơ hội thứ hai là khoảng 1870 lúc Pháp thua Phỗ, nhưng Nguyễn Trường Tộ lừa đảo và đề nghị hai năm sau mới đánh. Và nếu để ý thêm, chúng ta sẽ thấy, hầu hết 58 bài chiêu dụ của Nguyễn Trường Tộ cũng chỉ nhắm vào hai điểm then chốt. Một, bằng mọi cách, phải kêu gọi hòa và hợp tác chứ đừng bao giờ để quân dân Việt Nam sử dụng võ lực đối với thực dân Pháp. Hai, sử dụng tất cả các thủ đoạn chính trị lươn lẹo để đưa các ông giáo sĩ lọt vào hầu hết các cơ quan công quyền nhằm Công giáo hóa rồi Pháp hóa dân tộc ta. Để che đậy các âm mưu ấy, Nguyễn Trương Tộ phải giả vờ nguyền rủa Pháp, phải sử dụng những danh từ hoa mỹ, canh tân, đổi mới, thưc dụng, phải bày ra chương trình này, kế hoạch nọ để đánh lạc hướng và đẩy triều đình theo con đường mà thực dân Pháp mong muốn. Thật vậy, Nguyễn Trường Tộ chỉ nhắc tên các giáo sĩ: Cùng thời với ông có những tấm lòng muốn canh tân đất nước như: Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Phạm Phú Thứ và các sĩ phu yêu nước như: Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Quản Thanh, Quản Lịch... Nguyễn Trường Tộ được gán cho hai chữ canh tân và yêu nước, nhưng đọc tất cả 58 bản Điều trần, chúng ta không thấy có chỗ nào ông nhắc đến tên vài người Việt Nam yêu nước, hoặc nêu tên một vài sĩ phu nói trên để dùng vào việc canh tân, vào việc đánh úp mà chỉ thấy ông lặp đi lặp lại nhiều lần tên giáo hoàng, các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt gian. Tại sao vậy? Chúng ta nên nghe cuộc đối thoại giữa ông Toàn quyền de Lanessan và Giám mục Puginier như sau: De Lanessan: Theo ông thì nước Pháp nên đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào? Puginier: Phải thủ tiêu họ đi. De Lanessan: Tại sao? Puginier: Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn một điều nữa là chẳng ai trong họ chịu theo đạo Công giáo cả (Nguyễn Xuân Thọ, Sđd, tr. 436-437). Đầy dẫy những mâu thuẫn và sai lầm trong 58 bài chiêu dụ của ông Tộ. Nguyễn Thái Hợp: Cơ sở tư duy của ông luôn đậm đà bản sắc dân tộc tương tự như Võ Trường Toản hay La Sơn Phu Tử, và giàu kiến thức đông tây kim cổ khác nào Lê Quý Đôn. ☞ Bùi Kha: Không nên thấy người sang bắt quàng làm họ. Thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Nguyễn Thái Hợp: “Nguyễn Trường Tộ là người yêu nước một trăm phần trăm và cũng là tín hữu Công giáo một trăm phần trăm”. ☞- Bùi Kha: “Nguyễn Trường Tộ là tín hữu Công giáo một trăm phần trăm”. Đúng thế. Nhưng có yêu nước 100% hay không, mời Giám mục Nguyễn Thái Hợp đọc vài thông tin trong sử liệu sau đây: *Ngày 16.10.1858, Nguyễn Trường Tộ ra cửa Mành sơn Đà Nẵng để chào mừng quân Pháp và cùng với đồng bọn là áp lực để Pháp đánh Huế. Sử liệu: “Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, tổng Thanh Vân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại thì ngày 10 tháng 9 (tức 16/10/1858), tàu Pháp (trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhãn Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón “Đức Thầy Huy và Cố Lý” (tức Giám mục Gauthier và Linh mục Croc, cũng có tên là Hậu và Hòa) nhưng “hôm qua hai vị đã lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi”. Khi tàu Pháp trở về Trà Sơn, Đà nẵng, thì thấy thuyền Nhà Chung đã ở đó rồi” (xem Châu bản Triều Nguyễn CBR 22/47). Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Do đó, trước khi đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hồng Kông. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi Hồng Kông trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859” (TBC, Sđd, tr. 22). * Năm 1861 Nguyễn Trường Tộ cùng với ông tình báo Gauthier về Sài gòn để giúp Pháp mở rộng vùng chiếm đóng: Sử liệu: “Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi Pháp thì sớm nhất là giữa năm 1859 (14) mới tới nơi và khó có thể có mặt ở Hồng Kông đầu năm 1861 để cùng với Giám mục Gauthier trở về Sài Gòn, theo yêu cầu của Đô đốc Charner viên chỉ huy được giao trách nhiệm gom quân để mở rộng vùng chiếm đóng ở Sài gòn (TBC, Sđd, tr. 22). Để thấy rõ hơn về ông Nguyễn Trường Tộ, tôi tóm lược một số mâu thuẫn trong các bài chiêu dụ của ông và tình hình thực tế lúc bấy giờ: Giám Mục Jean Denis Gauthier (tên Việt Ngô Gia Hậu0 Giám Mục Jean Denis Gauthier, Nguyễn Trường Tộ liên hệ với ông tình báo nầy gần 20 năm, 6 tài liệu mật cho thấy điều đó (xem Bùi Kha, SĐD, tr.137-147). 1. Nguyễn Trường Tộ: “Ai hòa với họ là phúc, chống lại họ là họa... hòa với Pháp là thượng sách... nên cho lính nghỉ ngơi... để Pháp giữ bờ cõi cho mình như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới... Quân ta mới nghe thanh thế Pháp đã phách lạc hồn xiêu...”. Nhưng các tài liệu mật của Pháp cho thấy từ 1858 đến năm 1863, tình hình quân đội Pháp tại Việt Nam vô cùng nguy kịch. Họ có ý định rút về và bỏ hẳn mọi mưu toan đánh chiếm Việt Nam. 2. Nguyễn Trường Tộ: Tại sao giết giáo sĩ. Ý kiến của Đô đốc R. de Genouilly: “Không một nền cai trị nào, dẫu phục vụ cho đạo Công giáo, lại có thể dung thứ...” 3. Nguyễn Trường Tộ: ... Giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống gian tà,... chẳng liên quan gì đến việc tranh thành tranh đất cả. Nhưng Đô đốc Bonard (ngày 24/7/1862) cho biết: “Nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ phủ nhận tính chính thống của vua này, và khi lật đổ được triều đình hiện tại, thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ... Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha, thường chiếm cứ miền thượng du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn”. 4. Nguyễn Trường Tộ: “Lúc đầu dân bản xứ xem họ như thù địch, dần dần chịu gần gũi... những người dân ở đây đã học được hết những kỹ xảo của người phương Tây, cho nên không đầy 100 năm sau đã đuổi được người phương Tây ra khỏi đất mình... Họ là kẻ vỡ hoang mà ta thì hưởng cái thành quả!”. Nguyễn Trường Tộ viết như vậy để thuyết phục triều đình Việt Nam hợp tác với Pháp. Ông viết tiếp: “Xin kể ra các phương pháp làm hột nổ và đúc súng, đúc kim loại, cùng các môn quang học, cơ học, hóa học, khai thác mỏ than”. Nhưng đọc trong bài và kể cả các bài chiêu dụ khác chúng ta cũng không thấy ông nêu ra một phương pháp nào cả. 5. Nguyễn Trường Tộ: “Rồi ta lại qua nước La Mã thông hiếu với Giáo hoàng ... để nhờ giúp đỡ”. Nhưng kể từ Giáo hoàng Innocent X, năm 1652, đến những giáo hoàng kế tiếp, tất cả đều vận động để Pháp chiếm nước ta. 6. Nguyễn Trường Tộ: Gấp rút việc sửa đổi võ bị. Nhưng về chiến lược, thì ông cóp nhặt ý trong cuốn Tôn Ngô binh pháp. Về binh, ông khuyên nên cho lính nghỉ ngơi thay vì phải tổng động viên. 7. Nguyễn Trường Tộ: Giờ đây trong số các quan viên văn võ có những vị nào quê ở lục tỉnh Nam kỳ, triều đình phải đặc biệt ưu ái họ. Cho họ thường xuyên về thăm anh em họ hàng. Phải đãi ngộ họ thân mật nồng nàn hơn trước, khuyên bà con họ hàng của họ không nên dời nhà cửa đi nơi khác, đừng lánh đi xa (Di thảo số 27, TBC, Sđd, tr. 239). Dân Nam Kỳ lúc đó được sử gia sử gia Chesneaux mô tả: “Cuộc ra đi hàng loạt của các bậc sĩ phu và của dân chúng, rời bỏ các tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị người Pháp chiếm đóng, để về vùng tự do ở miền Tây, và tổ chức kháng chiến… 8. Nguyễn Trường Tộ: Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định, viết ngày 9/2/1871. Nhưng chỉ để dối gạt dân chúng. 9. Nguyễn Trường Tộ chỉ nhắc tên các giáo sĩ: Cùng thời với ông có những tấm lòng muốn canh tân đất nước như: Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Phan Thanh Giản... và các sĩ phu yêu nước như: Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Quản Thanh, Quản Lịch... Nguyễn Trường Tộ được gán cho hai chữ canh tân và yêu nước, nhưng đọc tất cả 58 bản Điều trần, chúng ta không thấy có chỗ nào ông Tộ nhắc đến tên vài người Việt Nam yêu nước, hoặc nêu tên một vài sĩ phu nói trên để dùng vào việc canh tân, vào việc đánh úp mà chỉ thấy ông lặp đi lặp lại nhiều lần tên giáo hoàng, các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt gian. Tại sao vậy? Chúng ta nên nghe cuộc đối thoại giữa ông Toàn quyền de Lanessan và Giám mục Puginier như sau: De Lanessan: Theo ông thì nước Pháp nên đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào? Puginier: Phải thủ tiêu họ đi. De Lanessan: Tại sao? Puginier: Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn một điều nữa là chẳng ai trong họ chịu theo đạo Công giáo cả (Nguyễn Xuân Thọ, Sđd, tr. 436-437). 10. Chúng ta nhớ rằng, Gauthier (thầy của Nguyễn Trường Tộ là một tên tình báo) là thuộc hạ của Puginier tại Việt Nam vào giai đoạn ấy. Đó là lý do để giải thích tại sao không bao giờ nhắc đến tên một sĩ phu nào ngoại trừ các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt gian. Đầy dẫy những mâu thuẫn và sai lầm trong 58 bài chiêu dụ của Nguyễn Trương Tộ. Nhưng, bài này chỉ liệt kê 10 trường hợp tiêu biểu để đối luận với Tiến sĩ, Giám mục Nguyễn Thái Hợp vì ngài viết không có cái gì đúng! Bùi Kha* 30.11.2011 * Bùi Kha, “Nguyễn Trường Tộ & Vấn đề canh tân”, nhà xuất bản Văn học, 30.30.2011. Có bán tại các nhà sách, hoặc liên lạc Trung tâm nghiên cứu quốc học(84-8) 6290 7430. ĐC: 72 Trần Quốc Thảo, P.7, Q.3, TP HCM. Giá 75 ngàn, bìa cứng, in rất đẹp.
  20. Nội dung bài viết này bắt buộc liên kết tới bài viết Nguồn gốc của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành cũng trong mục Cổ sử này. Mục đích của bài viết chỉ ra một số mắt xích và các giới hạn của các thành quả nghiên cứu cổ sử Việt từ trước tới nay, đặc biệt là trong chính sử. Mối tương qua giữa cổ sử Việt không chỉ với Trung Hoa và các nước Đông Á và Đông Nam Á, bao gồm cả Nam Á... và toàn thể thế giới, đặc biệt nếu không nghiên cứ các tôn giáo cổ như Đạo giáo (đạo Tiên) và Đạo Mẫu, với Đạo Tổ Tông, Đạo Nho, Thần Đạo hay Đạo Phật sau này thì vô cùng khó khăn để giải mã được toàn bộ lịch sử Việt thời thượng cổ. Chúng ta có thể xem xét dữ liệu lịch sử theo hai cấu trúc: - Cấu trúc dữ liệu Âm: liên quan trong dòng chảy tâm linh như các Đạo giáo, thần tích và gia phả, hệ thống thờ tự và tế khí, thiên văn địa lý liên quan đến các trung tâm tôn giáo. Dữ liệu thông qua tâm linh giao tiếp và phổ biến trong dân gian, từ thượng cổ cho tới nay. Trong cấu trúc này chú ý đến các học thuyết của đạo giáo. - Cấu trúc dữ liệu Dương: tất cả phần còn lại. Trong cấu trúc này chú ý dữ liệu trong các học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng của nó. - Hệ thống mã hóa lịch sử: Dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng, kết hợp với các học thuyết và khái niệm trong tôn giáo cổ Văn Lang ở trên. Chữ viết Văn Lang cũng là một yếu tố rất quan trọng, ngoại trừ sự khôi phục của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền ra thì hiện chưa thấy chữ viết xuất hiện một cách phổ biến trên các loại cổ vật khác nhau.
  21. Nguyễn Trường Tộ, biện chính với Gs Hoàng Kỳ Bùi Kha VHNA: Sau hai bài của tác giả Bùi Kha đăng trên t/c HồnViệt (NguyễnTrường Tộ và vấn đề chủ hòa - 12/2009, Nguyễn Trường Tộ và vấn đề làm cho dân giàu nước mạnh - 1/2010) có những nhận định, đánh giá khác, thậm chí trái ngược với các nhận định, đánh giá của giới nghiên cứu lâu nay về Nguyễn Trường Tộ, tác giả Hoàng Kỳ đã có bài trao đổi lại đăng trên t/c Văn hóa Nghệ An (4/2010). Tác giả BùiKha đã có bài trao đổi lại với tác giả Hoàng Kỳ theo quan điểm riêng của mình. Tôn trọng các ý kiến khác nhau trong nghiên cứu khoa học nhằm hướng tới một nhận thức khách quan, trung thực, chính xác các hiện tượng, vấn đề thuộc về lịch sử, trên tinh thần tôn trọng học thuật, tôn trọng người đối thoại, chúng tôi đăng tải bài viết trao đổi của tác gỉa Bùi Kha và hy vọng sẽ có nhiều ý kiến khác cùng trao đổi, thảo luận để tiếp cận chân lý. Hôm qua, 30.9.2010, tình cờ có người gởi cho bài của Gs Hoàng Kỳ với tựa đề “Trao đổi ý kiến với tiến sỹ Bùi Kha về Nguyễn Trường Tộ” đăng trên web “Văn hóa Nghệ An ngày 3.4.2010. Dưới đây tôi sẽ lần lượt làm sáng rõ những nhận định thiếu cơ sở của Gs Hoàng Kỳ. Gs Hoàng Kỳ viết: “…Tất nhiên với trình độ một người từ Hán học chuyển qua Tây học được thời gian có 3 năm (1858-1861) khi qua Singapore, Hồng Kông, Malaixia...,1 năm qua Pháp và ý (từ tháng 1-1867 đến tháng 2-1868) và chỉ là học mót chứ không qua trường lớp chính quy thì tất nhiên là sự hiểu biết còn nông cạn, chắc chắn là chưa đầy đủ, nhưng không vì thế mà ta sổ toẹt tấm lòng ưu dân, ái quốc của NTT và thất bại của triều đình nhà Nguyễn không phải là do nghe lời của NTT vì những bản Điều trần lúc đầu của ông không hề được triều đình để ý gì, các bản về sau có được xem xét nhưng cũng chẳng ăn thua gì” -Bùi Kha: NTT chưa bao giờ có “tấm lòng ưu dân, ái quốc”như Gs Hoàng Kỳ nhầm. Chứng minh: Ngày 16/10/1858, Nguyễn Trường Tộ cùng với Gm tình báo Gauthier (Cố Hậu) đến cửa Mành Sơn, Đà Nẵng. Ở đó, đã có “Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài gòn. Do đó trước khi đem quân vào Sài gòn, Đô Đốc Rigault deGenouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hồng Kông. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hồng Kông trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859”. Năm 1861, từ Hồng Kông, NTTcùng với Gm. Gauthier và Phó Đô đốc Léonard Charner, về lại Việt Nam, ông được thuê làm thư ký cho Tổng hành dinh của quân thực dân Pháp để mở rộng vùng chiếm đóng (theo Linh mục Trương Bá Cần trong cuốn Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, tr. 22,23 &24). Trong lúc đất nước lâm nguy, toàn dân nhất là trai tráng xông pha đánh giặc cứu nước thì hành động của Nguyễn Trường Tộ như thế mà được cho là có “tấm lòng ưu dân, ái quốc” sao? Ông biết chữ Nho nhưng tiếng Pháp kém, chỉ đủ để làm Từ hàn (thư ký thường) cho Pháp mà thôi (theo cụ Đào Duy Anh trong Tạp chí Tri Tân số 7, trang 167, xb. 1941.Vai kề vai lòng cạnh lòng với ông tình báo Gauthier gần 20 năm và, có thể, cùng với ông này, viết 58 bài Điều trần gửi đến triều vua Tự Đức đầy hậu ý. Tôi sẽ chứng minh thêm “tấm lòng” của NTT trong những đoạn sau. Trong tất cả các bài viết về NTT tôi chưa hề nói rằng Triều đình nhà Nguyễn nghe lời NTT mà còn cho thấy rằng may mà triều đình không nghe! 2. Gs Hoàng Kỳ: “NTT có chủ hoà trong thời gian đầu khi thấy so sánh lực lượng của quân đội triều đình với quân Pháp quá chênh lệch, với mục đích là để có thời gian củng cố lực lượng, xiết chặt hàng ngũ của ta trước một đội quân xâm lược có vũ khí tối tân hơn và ông luôn luôn quan tâm đến việc tu chỉnh võ bị...” -Bùi Kha: Gs. Hoàng Kỳ sai, NTT chưa bao giờ nhằm “mục đích là để có thời gian cũng cố lực lượng…” Chứng minh. NTT viết: �“Theo cách ngày nay thì nên để cho quân lính nghỉ ngơi, rồi làm theo chước Hán Cao Tổngày xưa cắt Quan Trungcho hạng Võ (?) để họ giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới…”�(Thiên hạ đại thế luận, Trương Bá Cần, tr. 111). Vẫn biết về sau NTT có đề nghị chỉnh trang võ bị v.v. nhưng viết như thế để làm như mình có lòng yêu nước. Trong thực tế đã cho lính nghỉ ngơi tức là bỏ súng, đầu hàng, lính về nhà để Pháp giữ bờ cỏi cho mình thì lực lượng đâu còn nữa để củng cố, để chỉnh trang võ bị như Gs Hoàng Kỳ nghĩ tốt cho NTT điều mà ông ta không hề có ! 3. Gs Hoàng Kỳ: “Hơn nữa lúc đầu ông hiểu nhầm là bọn Pháp chỉ yêu cầu được tự do giảng đạo, xin mở bến tàu, lập phố xá, thông cửa bể để buôn bán, nhưng về sau thấy rõ dã tâm của chúng cố tình đánh chiếm nước ta thì ông đã có những đề nghị khác như Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ (Di thảo số 39) và aBổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định (Di thảo số 40)”. - Bùi Kha: NTT tự khoe các gì cũng biết từ cái cao của thiên văn…đến tạp hóa dị nghệ… ông đều học và biết rõ. Thế thì tại sao “ông hiểm nhầm”? Gs Hoàng Kỳ muốn bênh vực NTT và cho rằng ông ta “hiểu nhầm”. Mà “hiểu nhầm” đến mức dộ không thể chấp nhận được, nhưng NTT có bao giờ viết thư xin lỗi Triều đình và dân chúng không? Gs Hoàng Kỳ tiếp “…nhưng về sau thấy rõ dã tâm của chúng cố tình đánh chiếm nước ta thì ông đã có những đề nghị khác như Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh Nam Kỳ (Di thảo số 39) và Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định (Di thảo số 40). - Bùi Kha: Gs Hoàng Kỳ đã không đọc cẩn thận để biết hai Di thảo 39 và 40 nói gì, cũng như không biết bối cảnh lịch sử trong giai đoạn ấy như thế nào nên viết hoàn toàn sai. Chứng minh: Thật vậy, như đã nói trên, trước đó 7 năm (1863) ông đề nghị cho lính nghỉ ngơi để thực dân Pháp giữ bờ cõi cho mình. Năm 1868, La Grandière bất chấp lệnh của chính phủ ông là Không được chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, nhưng y vẫn làm. Vua Tự Đức phản đối việc nầy và định cử sứ bộ qua Pháp tố cáo La Grandière đã lạm quyền và đòi trả lại 3 tỉnh mới chiếm. Nếu sứ bộ đi Pháp thì có thể 3 tỉnh ấy đã được trao trả, nhưng NTT viết bài chiêu dụ cản ngăn [Di thảo # 36: “Bải bỏ việc cử phái bộ đi Pháp”]. Đến nay (1870), Pháp thua Phổ nhưng đã cho lính nghỉ ngơi từ lâu lấy ai để đánh? Di thảo số 39 (ngày 1.2.1871) NTT đề nghị dùng phương pháp ngoại giao, chứ không phải quân sự để xin lại các tỉnh bị Pháp chiếm. Sau đó 8 ngày ông lại đề nghị dùng giải pháp quân sự: Di thảo số 40 [“Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia Định”, viết ngày 9.2.1871). Nhưng đề nghị bí mật tuyển người từ Bắc, Trung và một số khác tại địa phương, chứ không hề đề cập đến các phong trào đang kháng Pháp tại Nam Kỳ, như Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực v. v., và kêu gọi họ hợp tác hay ủng hộ để đuổi kẻ thù chung? Vì giới hạn của bài viết nên tôi không phân tích lý do tại sao NTT đổi ý từ NGOẠI GIAO đến QUÂN SỰ chỉ trong vòng 8 ngày. Nguyễn Trường Tộ lại viết: “Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế (Khoản nầy các câu bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ đều bị chìm hoặc bị vùi dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết” (T.B. Cần, SĐD, tr.330). Tại Gia Định, và cả miền Lục tỉnh, thời bấy giờ và ngay cả thời bây giờ, làm gì có sông nào, đê nào ngăn nước để phá và thuyền sẽ bị chôn vùi? Nếu N.T.Tộ đề nghị đánh gấp, thì ông ta quả tình là một người yêu nước không còn phải bàn cãi. Nhưng rất tiếc, ông viết: Kế nầy phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành (T.B. Cần, SĐD, tr. 331). Thời gian hai năm đã tố cáo cái dã tâm của ông. Thật vậy, ông Tộ nói đến chuyện đánh nhưng không phải đánh ngay bây giờ; sau tháng 9, 1870, thời cơ đã đến, mà phải hai năm sau, tức là 1873. Tại sao vậy? Vì nếu đánh bây giờ thì ta có nhiều cơ hội thắng mà Pháp chắc chắn thua. Đó là điều mà ông NTT, những người Việt gian và thực dân không bao giờ muốn! Cáo buộc Nguyễn Trường Tộ không muốn Việt Nam thắng Pháp có oan không, chứng minh? ● Một, như trên đã nói, ông Tộ đề nghị xử dụng những thường dân (không phải lính) chiêu mộ từ Bắc, Trung, Nam chứ không kêu gọi nghĩa quân tại địa phương, người vừa có tinh thần chiến đấu vừa đã được huấn luyện và có kinh nghiệm v.v., thì làm sao thắng được? Hơn nữa thời bấy giờ muốn mộ binh từ Bắc và Trung vào Nam phải đi bộ hoặc đi xe ngựa mất khoảng 6 tháng, thời gian, lương thực đâu, làm sao thực hiện việc mộ binh kiểu đó? ● Hai, lịch sử cho thấy nếu đánh vào giai đọan sau tháng 9.1870 Việt Nam nhất định thắng. Dưới đây là sử liệu: “Ở Âu-châu, chiến tranh bùng nổ giữa nước Pháp và nước Phổ ngày 19. 7. 1870, nhưng mãi tới ngày 5 .8. 1870 tin ấy mới tới Sài Gòn. Cornulier-Lucinere vội cho tổ chức sự phòng thủ sông Sài Gòn vì sợ rằng Triều đình Huế thừa cơ hội mà tiến quân xuống miền Nam hay ra lệnh cho Lục-tỉnh Nam kỳ nổi loạn. Song cả cho đến ngày 25. 9. 1870 là khi tin quân Pháp đại bại ở Sedan tới Sài Gòn, Triều-đình Huế vẫn án binh bất động. Quốc triều chánh biên toát yếu chép là: Năm Canh Ngọ tháng 9, nước Đại Pháp đánh với Phổ-lỗ-sĩ, quan Pháp soái thương cho ta biết, ngài khiến quan thương bạc hỏi thăm. Thái độ của Triều-đình Huế còn kỳ quặc hơn khi triều đình tỏ lòng mong muốn quân Pháp sẽ rút khỏi Nam kỳ để trở về Pháp cứu vãn tổ quốc lâm nguy. Triều đình đã hoàn toàn không lợi dụng những nỗi khó khăn của Pháp khi nền đệ nhị thế chế sụp đổ thay thế bởi một chính thể cộng hòa, và khi mà quân Pháp bị cô lập ở Nam kỳ” (Nguyễn Thế Anh, Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ, Sài gòn, Lữa thiêng 1970, tr. 66). Tình hình chín muồi như vậy, nếu không đánh ngay thì mấy tháng sau đó phải đánh, nhưng NTT khuyên phải hai năm sau. Ông ta yêu nước nào mà lạ đến thế? Mấy hàng đầu của bài “Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh (viết trước bài Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia-định chỉ có 8 ngày) ông Tộ nói Đại phàm việc thiên hạ, để thời cơ trôi qua mà hối tiếc...gặp thời làm được thì gấp rút ra tay, không bỏ lỡ cơ hội”. Nói một đường làm một nẻo, một người mâu thuẫn không biết ngượng, thế mà một số người cứ cặm cụi ca tụng một người đã lao tâm khổ tứ lo cho dân cho nước! Giả sử triều đình bị mắc lừa bởi kế hoạch của NTT, hai năm sau mới đánh, thì kết quả sẽ thế nào? Hai năm sau tức là năm 1873. Lúc nầy Việt Nam ở vào thế rất yếu nhưng Pháp rất mạnh, khó lòng thắng. Vì tại chính quốc, tình hình chính trị đã được ổn định, chính phủ mới đã được thành lập. Tại thuộc địa, Pháp đã bình định 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ được 11 năm, và 3 tỉnh miền Tây được 6 năm. Họ rất rảnh tay. Còn tại Bắc Kỳ, chính phủ Pháp ngăn cấm Đô-đốc Dupré về một cuộc phiêu lưu mới tại Bắc kỳ, nhưng cũng giống như La Grandière, ông ta không tuân lệnh thượng cấp. Và các viên chức trong tòa lãnh sự Pháp tại Trung Hoa cũng muốn chính phủ họ chiếm Bắc-kỳ như Dupré. Sử liệu cho thấy: Vào năm 1873, lãnh sự Pháp ở Quảng Đông, Bá tước Chappedelaine, báo cáo về Paris như sau: Ở Bắc kỳ, quan lại An nam mít bị thù ghét dữ dội. Không phải dùng đến 2000 người và 4 tuần dương hạm, mà chỉ cần phái một tuần dương hạm cùng vài pháo hạm và một đại đội thủy quân lục chiến tới cửa sông Hồng Hà là đủ làm xứ Bắc kỳ trở thành một thuộc địa Pháp (J. Dupis, Le Tonkin de 1872 à 1886, Histoire et Politique. Paris, 1910, p. 125. Dẫn theo Nguyễn Thế Anh, “Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ”, tr. 81). Nguyễn Trường Tộ, một người có tấm lòng ưu dân, ái quốc là thế đấy 4. Gs Hoàng Kỳ: “Sáu điều lợi NTT trình bày chính là chủ trương ngoại giao đa phương do NTT đề xuất, việc mà hiện nay đảng ta cũng chủ trương như vậy, chứ không phải như TS võ đoán là: “Bang giao với Vatican. Đây là một trong hai chủ đích chính trong bản Điều trần này của NTT, còn 5 đề nghị kia chỉ là hoa lá cành, là củ cà rốt rỗng ruột không ăn được, nhằm che đậy hậu ý khuyên triều đình thoả hiệp với Pháp và bang giao với Vatican để thực hiện sách lược tôn giáo hoá Việt Nam (TS BK cho in đậm). Điều đó cũng có nghĩa là để cho Pháp dễ cai trị Việt Nam”. Đó là thái độ “không ưa đổ thừa cho xấu”, “nói lấy được” của người viết có ác ý!” –Bùi Kha: Chính sách của nhà nước hiện nay là bang giao đa phương đa quốc chắc chắn không liên hệ gì đến việc NTT đề nghị triều Nguyễn bang giao với Vatican cả thế kỷ trước. Do đó, mong đừng so sánh lạc điệu như thế, không nên. Để xem tôi có ác ý với NTT hay không, vui lòng theo giỏi các chứng cứ qua sử liệu dưới đây: 4.1 Lm. Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) người đầu tiên trong lịch sử, vận động Pháp đánh chiếm nước ta và được Giáo Hoàng đồng ý. Ông viết: “Tôi tưởng nước Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để chinh phục toàn cõi Đông Phương đưa về qui phục chúa Ki Tô và nhất là tôi sẽ tìm được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ý đó tôi rời Rôma ngày 11-9-1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo Hoàng. ........... "Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan phòng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đình vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của hoàng hậu. Ngài có nhã ý cùng đi với tôi trong cuộc hành trình nhỏ bé này. Trong mười lăm ngày, tôi thấy nơi ngài rất nhiều nhân đức và thương yêu suốt đời tôi, tôi quí mến công ơn và sẽ đề cao hội ngộ may mắn nhất trong suốt các cuộc hành trình của tôi. Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm ở những nơi cùng kiệt cõi đất...”� 4.2. Linh mục Huc và Giám mục Pellerin cũng thế: "Bí thư của phái đoàn Pháp ở Trung Quốc, theo lệnh của Hoàng đế muốn tập trung tài liệu về các phái bộ truyền giáo ở Đông Dương, đã tiếp xúc với cácđại diện Giáo Hoàng ở Thái Lan, Việt Nam và Kampuchia. Căn cứ vào các tin tức do những người này cung cấp, chính phủ Pháp đã quyết định phái Montigny thực hiện sứ mệnh trong vùng này. Nhưng đây là các vận động được hỗ trợ bằng sự can thiệp của các nhân vậtquan trọng như Tổng Giám Mục Bonnechose ở Rouen và của chính Hoàng Hậu, bà này đã thuyết phục được vua, dù lúc đó vua không có kế hoạch thực dân nào rõ rệt. Các vận động này được thực hiện bởi hai người truyền giáo: Linh Mục Huc, hội viên Hội thánh Lazare, cựu đại diện Giáo Hoàng ở Trung Quốc, tác giả cuốn “Đạo Thiên Chúa ở Trung Quốc, Tartarie và Tây Tạng” cùng nhiều tác phẩm khác về Trung Hoa, và Giám mục Pellerin đại diện Giáo Hoàng tại Bắc Nam Kỳ”. 4.3. Đến Pháp vào đầu tháng 5, ngày 16-5 ông trình bày trước Ủy ban và ngày 21-5 trao cho họ một bảntrần tình chi tiết trước khi được Napoléon III tiếp kiến. Giám mục đã cho chúng ta thấy vài chỉ dẫn đáng lưu ý về cuộc hội kiến trong một bức thư gửi cho một người truyền giáo tại Tây Tạng: Nhà vua đã tiếp tôi rất niềm nở và còn ban cấp cho tôi nhiều hơn những điều tôi xin. Hoàng thượng hết sức sẵn lòng giúp đỡ các phái bộ và ý ngài muốn rằng các nhà truyền giáo Pháp phải được tự do khắp nơi, cần phải cầu nguyện Thượng Đế giữ lại người của Chúa ở lại trên ngôi. Các phái bộ của Ngài, ở Cao Ly, Nhật Bản, cũng sắp được tự do nay mai, phải hy vọng điều đó. Nước Pháp sẽ đứng vững tại các xứ đó và rồi sẽ không còn có sự đàn áp nữa. Nhưng sự việc hình như cứ kéo dài mãi, giám mục sốt ruột thấy là nên nhắc lại vấn đề với Napoléon III. Xin Chúa thượng, người ta đọc trong thư đề ngày 30-8-1857 của ông. Cho phép thần lại nói đến các người mới theo đạo khốn khổ ở xứ Cochinchine và các nhà truyền giáo ở nước An Nam, hiện giờ máu họ đang đổ và tình cảnh họ còn kinh khủng hơn từ cuộc vận động sau chót của nước Pháp. Nếu bây giờ người ta vẫn không làm gì cho bọn thần cả, e rằng đạo Thiên Chúa bị tận diệt ở tại các vùng hình như sẵn sàng tiếp đón lợi ích của đạo Thiên Chúa và nền văn minh. Thần đến xin Chúa Thượng đừng bỏ rơi bọn thần. Điều bệ hạ làm cho bọn thần sẽ khiến cho ân phúc cuả Chúa ban xuống cho bệ hạ và triều đại huy hoàng của bệ hạ... 4.4. Kế đến tháng 11, Giám mục Pellerin đi Rôma, Giáo Hoàng Pie IX tán thành các vận động để giúp đỡ cho các phái bộ truyền giáo." Nguyên văn tiếng Pháp: Arrivé en France au début de mai, il fut entendu le 16 mai par la commission et lui remit un mémoire détaillé le 21 mai, avant d'être recu par Napoléon III. L'évêque nous donne quelques indications intéressantes sur cette entrevue dans une de ses lettres à un missionnaire du Thibet: “L'empereurs m'a très bien accueilli et m'a accordé plus même que je n'avais demandé. Sa Majesté est parfaitement disposé pour les Missions, et son intention est que les missionnaires francais soient libres partout; il faut prier Dieu de conserver sur le trône l'homme de la providence. Vos Missions, celles de la Corée, du Japon seront aussi bientôt libres, il faut l'espérer. La France va s'établir solidement dans ces pays, et alors il n'y aura plus de persécution possible” (1)… (Để giảm số trang, tôi chỉ dẫn một đoạn tiếng Pháp tượng trưng). Archives Missions Entrangères - lettre à Mgr Thonuire - Desmazures, 30-7-1858, cité par Franchini, Ouv. cité. Archives du ministère des Affaires Étrangère Vol. 27 (Cao Huy Thuan Christianisme Et Colonialisme Au Vietnam 1857-1914, p. 67 & 68). Qua một tài liệu khác, chúng ta cũng thấy vai trò quan trọng của Giám mục Pellerin trong việc vận động Pháp xâm lăng nước ta. Và đã được Giáo hoàng La Mã Pie IX chấp thuận: 4.5. Lợi dụng lý do truyền giáo, cấm đạo tại Việt Nam, thực dân Pháp qua trung gian Giám mục Pellerin đã đệ trình đề án kế hoạch xâm lược Việt Nam lên Giáo hoàng Pie IX và đã được La Mã chấp thuận (Xem A. Delvaux, Mgr. Pellerin, Nazattreth, Hồng Kông, 1937, tr. 54, nguyên văn: �Une des facteurs qui influèrent favorablement sur la mise en campagne de l'expédition de Cochinchine fut l'avis favorable de Pie IX qui avait approuvé pleinement les démarches de Mgr Pellerin lors de son voyage à Rome� (Phần tiếng Việt lẫn tiếng Pháp, trích trong cuốn Phong Trào Nghĩa Hội Quảng Nam, tác giả Nguyễn Sinh Duy, nhà xuất bản Đà Nẵng, 1996, trang 17). Qua năm trích dẫn trên, chúng ta thấy các Giáo Hoàng đã đi vào con đường chính trị, đã vận động và song hành với quân đội thực dân phương Tây để xâm chiếm nước ta. Thế mà NTT khuyên triều đình nên thông hiếu với Giáo Hoàng. Người chuyên nghề thuyết khách là thế! Dưới đây tôi nêu thêm hai thí dụ nhỏ trong muôn ngàn thí dụ để thấy sự sai lầm mà hầu như cố ý của nhà thuyết khách Nguyễn Trường Tộ. Một đoạn trong mật thư đề ngày 24-7-1862, Đô đốc Bonard gởi cho Chasseloup Laubat như sau. 4.6.“Ai (các giáo sĩ, BK) cũng ôm ấp lý tưởng trở lại thời kỳ mà Giám-mục Bá Đa Lộc được xem như ông vua thực sự của xứ An Nam, thời kỳ mà mọi việc chỉ có thể được thực hiện theo lời khuyến cáo của ông giám mục nầy, hoặc được ông cho phép. Để đạt mục đích đó, các nhà truyền giáo đã dùng kế hoạch sau đây: nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ tìm cách phủ nhận tính chính thống của vua nầy, và khi lật đổ được triều đình hiện tại thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ.”� Nguyên văn tiếng Pháp: "Tous caressent l'idée de revenir au temp où l'Évêque d'Adran était le véritable souverain du royaume d'Annam, temps où rien ne se faisait que par ses conseils ou sa permission. Pour parvenir à ce but voici quels moyens ils ont employés: les unes et les autres, ne trouvant pas que les successeurs de la dynastie de Gia Long obtempérassent assez à leurs désirs, ont contesté la légitimité de ceux-ci et ont cherché à mettre en avant un candidat qui, s'il renversait la dynastie régnante, leur offrit plus de garanties pour arriver à leurs fins”. (Trích trong “Archives du Ministère des Affaires Étrangères, Asie, Mémoires et Documents”, Vol, 28, Fol.85 - 88: Thư khố Bộ Ngoại giao, Á châu, kỷ yếu và tài liệu, tập 28, trang 85-88, CHT, SĐD trang 150). 4.7. Đoạn thư của Bonard nói trên mô tả về âm mưu của các linh mục, giám mục người Pháp. Và một đoạn khác trong thư đó viết về hành động của các giáo sĩ dòng tu Đô-Mi-Níc người Tây Ban Nha như sau: 4.8. “Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha thường chiếm cứ nhiều vùng miền Thượng Du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn: hăng hái và quá cuồng tín, đa số trong bọn nầy phát xuất từ các đoàn du kích và phe Carlistes, họ rời bỏ Tây Ban Nha và sẵn sàng mang gươm, súng và thánh giá chữ thập dốc toàn lực tham dự vào các cuộc nổi loạn gây tai họa cho xứ Bắc Kỳ.” (Quant aux Dominicains espagnols qui occupent généralement le haut Tonkin ils sont beaucoup plus ingouvernables: ardents et fanatiques au dernier degré, un assez grand nombre d'entre eux sortant des bandes de guérillas et de carlistes ayant abandonné l'Espagne portent assez volontiers le sabre et le mousquet avec la croix et sont mêlés, et de coeur et le corps, aux révoltes qui affligent le Tonkin. (CHT, SĐD, p. 152). Hai dẫn dụ nêu trên, đã cho thấy Nguyễn Trường Tộ bênh vực và đánh giá sai về vai trò của các giáo sĩ. Chúng ta nên để ý rằng giáo hội Công giáo là một tổ chức theo đẳng cấp tuyệt đối. Giáo Hoàng là người đại diện Chúa ở trần gian, ông có quyền cách chức, bổ nhiệm, cấm đoán hoặc cho phép các Hồng y, Giám mục, Linh mục, con chiên thi hành các công tác đức tin và công tác trần thế. Do đó, chúng ta hiểu rằng A. de Rhodes đã được Giáo hoàng đồng ý và cho phép qua Pháp vận động triều đình đánh chiếm Việt Nam. Một linh mục, giám mục không làm điều gì khác nếu không được Giáo hoàng chấp thuận. Như thế, việc vận động một thế lực chính trị ngoài Vatican để xâm chiếm Việt Nam đã có từ 1652 do Giáo hoàng chỉ thị cho ông A. de Rhodes (xin xem thêm bài “Góp ý với giáo sư Chương Thâu về Linh mục A. De Rhodes và chữ quốc ngữ” trong cuốn Kitô Giáo Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại (Văn Hóa Cali. xuất bản, Hoa kỳ, 1996). Qua sử liệu không thể chối cải như thế, phải chăng ông Bùi Kha có “thái độ “không ưa đổ thừa cho xấu”, “nói lấy được” của người viết có ác ý!” ? 5. Gs. Hoàng Kỳ viết: “Một người dù bị triều đình đối xử bất công do chính sách sai đối với giáo dân; có điều kiện để có thể “vinh thân phì gia” nếu sẵn sàng cộng tác với giặc, nhưng vẫn quyết từ bỏ để về sống cực khổ ở quê nhà.” - Bùi Kha: Ông NTT có về sống cực khổ ở quê nhà hay luôn luôn sống sát cánh với ông tình báo Gauthier gần 20 thì trong bài nầy tôi đả viết rỏ. Còn cho rằng NTT “Một người dù bị triều đình đối xử bất công do chính sách sai đối với giáo dân”, có thật như vậy không? Để cho vấn đề được vô tư hơn, và để thấy ngay các hành động mà giáo sĩ đã tác hại cho đất nước Việt Nam, xẩy ra lúc mà Nguyễn Trường Tộ vào khoảng 30 tuổi, chúng ta nên nghe lời than phiền của Đô đốc Rigault de Genouilly về hành động mà họ gọi là “kẻ tử đạo". “Không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Công giáo, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự, và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ (các giáo sĩ, BK). Nếu cũng vì những yếu tố buộc tội đó mà Giám mục Pellerin bị nhà cầm quyền An Nam trục xuất thì báo chí của người truyền đạo lại kêu la om sòm là họ bị bạo hành”. (Fut - elle au service de l'intérêt chrétien, ne pouvait tolérer leur intrusion permanente et insolente dans les affaires politiques, civiles et militaires qui ne sont et ne doivent pas être de leur ressorts. Si l'expulsion du Mgr Pellerin avait été prononcée, pour les mêmes chefs d'accusation, par une autorité Vietnamienne, la presse des missionnaires aurait crié partout persecution (CHT, p. 113). Ý kiến của Đô đốc Page trong văn thư đề ngày 14-12-1859 và 25-12-1859 cũng có những ý kiến tương tự: Sau khi đi khắp nước thấy nhiều, nghe nhiều cuối cùng Đô đốc Page công nhận lý lẽ vững chắc của triều đình Huế, chính ông cũng bực mình về thái độ của các nhà truyền đạo và con chiên của họ: “Thật vậy, trong lúc dân chúng hoảng hốt chạy trốn khi quân Pháp kéo đến và tổ chức vũ trang tự vệ, ở nơi đông dân thì 3000 tín đồ Công giáo đi theo Pháp và xin được đưa vô Saigòn là nơi mà Page đã dựng lên một thị trấn. Tôi ngạc nhiên biết bao? khi hôm sau các nhà truyền giáo đến nói với tôi, rằng các con chiên An Nam không tuân theo một quyền lực vô đạo, họ nói như thế. Óa! Họ cũng không muốn có cảnh sát để chận đứng trộm cướp du đảng, cướp bóc thành phố? Và tôi rất hổ thẹn khi thú nhận với Ngài rằng Giáo Hội Công giáo tại An Nam đã ngạo nghễ đi rao giảng các nguyên lý đó: Ngoài ra không người Việt Nam theo Công giáo nào ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp, ông vua Việt Nam không theo đạo, không phải là vua của họ. Chắc bây giờ ngài đã hiểu tại sao vua, quan đã coi các nhà truyền giáo là kẻ thù?” Xem thế, một Đô đốc thực dân Pháp cùng tín ngưỡng, cũng không thể chịu nổi những hành động của các giáo sĩ chứ trách gì các vua quan triều Nguyễn. Nguyên Văn tiếng Pháp: Après avoir beaucoup parcouru le pays, beacoup regardé, beaucoup écouté, l'amiral Page finit par reconnaitre le bienfondé des arguments du gouvernement de Huế, lui même ayant été choqué par l'attitude des missionnaires et de leurs chrétiens. En effet, tandis que la population fuyait avec épouvante à l'approche des troupes francaises et que des milices armées s'organisaient là où il y avait un centre de population, 3.000 catholiques se rallièrent aux Francais et demandèrent à être ramenés à Saigon où Page avait crée une municipalité. “Quelle a été ma surprise? Lorsque le lendemain les missionnaires sont venus me déclarer que les chrétiens annamites ne pouvaient pas obéir à une autorité payenne, c'est leur mot. Quoi! Pas même pour la police municipale? Pour empêcher les voleur, les vagabonds de mettre la ville au pillage? Et je suis confus d'avouer à Votre Excellence que ces principes sont professés hautement par les associations annamites catholiques... “Du reste, pas un Vietnamien catholique n'hésita à demander à s'enriler comme soldat sous le draupeau francais. Le roi payen du Vietnam n'était point leur roi. “Votre Excellence comprendra sans doute maintenant comment le Roi et les mandarins regardent les missionnaires catholiques comme des ennemis? (Dépêche de l'amiral Page, du 14-12 et 25-12-1859. Archives Nationales, Fonds, Marine BB4 777.CHT, p. 128 & 129). Thực ra đó là hành động của một số con chiên không ít thời Pháp chiếm Việt Nam, nhưng ngày nay đã đổi khác. Chúng ta vô cùng trân quý những tâm tình đó. 6. Gs Hoàng Kỳ: “…đề nghị nhà vua cho mở các trường dạy kỹ thuật mà sau này ông đã trình”. Bùi Kha: Gs Hoàng Kỳ muốn nói đến trường kỹ thuật mà NTT và Gm Gauthier đề nghị mở ở Huế năm 1868. Đó là thêm một đề nghị không thành thật của NTT. Thật vậy, việc mở trường (huấn nghệ, kỹ nghệ) yếu tố quan trọng hàng đầu sau trường sở, dụng cụ ... là phải có quyết tâm, thứ hai giáo chức phải có bằng cấp hoặc kiến thức chuyên môn về ngành mà mình được mời dạy. Theo tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 23-2-1868 gởi cho vua Tự Đức thì các vị giáo chức có bằng cấp chuyên môn để dạy huấn nghệ, kỹ nghệ. Nhưng theo Hội truyền giáo Paris thì mấy vị nầy không có các bằng cấp hoặc khả năng mà Giám mục Gauthier mô tả. Nguyên văn: “Theo một tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21 (23-2-1868): - Linh mục Thông, (tức Montrouzies) biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim; biết nói có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi. Nhưng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris, thì Linh mục Montrouzies trước khi nhập Hội Truyền giáo Paris, ngày 1-5-1867 đã đậu cử nhân văn chương. - Linh mục Đồng (tức Renauld) biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng, biết làm thu lôi trụ. Nhưng cũng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris thì sau khi học xong chủng viện, Linh mục Renauld gia nhập Hội Truyền Giáo Paris 14-10-1866 và theo học một khóa đặc biệt về kiến trúc và họa đồ một năm trước lúc lên đường sang Việt Nam. - Giáo sĩ (tức bác sĩ Hernaiz) không phải linh mục hay tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi giáo sĩ như Nguyễn Trường Tô cũng được gọi là giáo sĩ, thì không dạy học trò được vì nặng tai, nhưng cũng giúp Linh mục Thông mà phân tích các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc. Nhưng tới Việt Nam chưa được mấy ngày giáo sĩ nầy do bệnh cũ tái phát đã xin về Pháp trở lại. - Còn Ca Xanh (nguyên tên là Ca sa nhi) là một người thợ máy, trước đã giúp việc tàu Thuận Thiệp, có lẽ do giám mục gặp ở Sài gòn đem về giới thiệu với triều đình, nhưng Ca xanh đòi lương quá cao (320 đồng/tháng, tính ra tiền là một ngàn, bảy trăm sáu chục quan) và đòi hỏi nhiều điều kiện, nên không dung” (TBC, SĐD, tr. 49 & 50). Các đối chiếu nên trên chứng tỏ Vua quan triều Tự Đức bị thầy trò Nguyễn Trường Tộ dối trá lừa bịp có hậu ý. Mong Gs Hoàng Kỳ nên cẩn thận lúc viết. Dưới đây là sáu sử liệu cho thấy Gauthier, thầy của Nguyễn Trường Tộ, người cùng với NTT mà vua Tự Đức lầm nhờ đi mua dụng cụ và thuê thầy giáo về mở trường kỷ thuật ở Huế, là một tên tình báo: Sau khi hiệp ước 1862 ký giữa Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha, triều đình vua Tự Đức kiếm cách chuộc lại ba tỉnh đã mất. Trong chiều hướng nầy, một người Công giáo cuồng nhiệt là Trung Tá hải quân Aubaret vận động, được bộ ngoại giao Pháp và vua Napoléon III đồng ý. Vì thế một hiệp ước mới (thế hiệp ước cũ 1862) được bộ ngoại giao và bộ hải quân soạn thảo theo quan điểm của vua Napoléon III, và được ký tại Huế ngày 15-1-1864. Theo hiệp ước nầy, ba tỉnh bị chiếm trong năm 1862 được trả lại cho Việt Nam, ngoại trừ thành phố Sài Gòn, Mỹ Tho, Vũng Tàu và Côn Đảo. Để đổi lại việc trả 3 tỉnh nầy, Pháp có quyền bảo hộ 6 tỉnh Nam bộ, ba hải cảng Đà nẵng, Ba Lạt và Quảng Nam... Theo hiệp ước 1864, Aubaret chủ trương chiếm Nam Kỳ bằng con đường tôn giáo và thương mại, chứ không phải Aubaret có lòng tốt gì đối với dân Việt Nam đâu (CHT. SĐD, trang 174, 175). Trong triều đình Pháp chia làm hai phe, phe ủng hộ và phe chống. Phe chống khuyên vua đừng phê chuẩn hiệp ước. 5.1.- Gauthier theo phe Aubaret: Về phía các nhà truyền giáo cũng chia làm 2 phe, phe chống, phe bênh. Chúng ta cũng nên lưu ý rằng chống hoặc bênh cũng cùng một mục đích là đồng hóa dân Việt Nam nhưng theo cách nầy hay theo đường khác mà thôi. Trong phe ủng hộ có Giám mục Sohier và Giám mục Gauthier hai người có liên hệ đến việc mở trường nói trên. Thư của Giám mục Lefèbre viết cho Linh mục Pernot, cho chúng ta thấy điều đó: “Hiệp ước Aubaret bị dìm, đó không phải là điều rủi ro. Chỉ có Giám mục Sohier và Giám mục Gauthier là tán đồng hiệp ước, nhưng đứng trên quan điểm chính trị thực sự và quyền lợi của hội truyền giáo chúng ta, việc trả lại ba tỉnh để lấy tiền thật là một sự ngu ngốc kỳ lạ. Vấn đề bây giờ là phải lấy luôn ba tỉnh phía Nam: Đó là ý đồ của chính phủ và của toàn thể Bộ Tham Mưu chúng ta, nhưng cần phải có một nguyên cớ nghe được, vì cần phải có tôn trọng công lý và tôi không biết từ khi hiệp ước được ký kết với Bonard, người An Nam có cố tình phá vở hiệp ước hay không; vì không có gì rõ ràng là triều đình Huế không tôn trọng, dù có nhiều vi phạm ở địa phương mà họ có thể quy trách nhiệm cho dân chúng và quan lại, là những người, dĩ nhiên, không mấy sẵn sàng chấp nhận bất cứ hiệp ước nào với nước ngoài, nhất là ở Bắc Kỳ. Chắc Cha đã gặp Giám mục Sohier, người theo phe Aubaret, nhưng bất đồng ý kiến với tôi. Ông Aubaret đã trở lại Xiêm, hết sức xấu hổ về việc thất bại ngoại giao của ông, sự thất bại tôi đã cho ông thấy trước, khi ông ghé Sài gòn”. Nguyên văn tiếng Pháp (bỏ). (Lettre de Mgr. Lefèbre au Père Pernot, datée du 27-9-1864, citée par Taboulet, Bulletin de la Société des Études Indochinoise 1943, tom XVIII, N" 4, 4ème trimestre. Mgr. Sohier et Mgr. Gauthier sont respectivement évêque de Huế et évêque du Tonkin méridionnal (CHT, p. 181). 5.2.-Gauthier được mời họp mật: Năm 1872 tàu Bouragne chở trung tá hải quân Senez ra Bắc kỳ để dò xét tin tức cho một cuộc chiếm cứ vùng nầy. Trong thư báo cáo của hạm trưởng Senez gởi cho Đô đốc Dupré chúng ta thấy có mời Giám mục Gauthier họp mật với vị sĩ quan Senez nầy: “...Vừa lên bờ tôi gửi ngay thư cấp tốc cho Giám mục Gauthier cách đó lối mười cây số và hẹn gặp ở trong làng. Chúng tôi sống suốt ngày giữa đám dân Thiên Chúa giáo, họ rất niềm nở với chúng tôi...Lúc 4 giờ chúng tôi thấy một nhà truyền giáo, Cha Frichot đến nói chuyện với chúng tôi vì Giám mục đi vắng. Cha xác nhận lại những gì mà chúng tôi biết lúc sáng do sự tiết lộ của những phái viên: loạn lạc ngày càng bành trướng, từ các tỉnh Lạng sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang lan đến Sơn Tây, Bắc Ninh, Quảng Yên, Hải Dương và những người khởi nghĩa làm loạn, trộm cướp, đã làm những điều cực kỳ táo bạo. Cha xứ vùng Phát Diệm xác nhận các tin tức đó ngoại trừ vấn đề chính thống và tôn giáo của người dòm ngó ngôi Vua, về hai điểm này có những ý kiến mâu thuẫn nhau. Nhưng sự kiện chắc chắn là cầm đầu cuộc nổi loạn này có một người đang dòm ngó ngôi vua Bắc Kỳ, dù thuộc dòng chính thống hay không”. (Tôi bỏ phần tiếng Pháp để giảm số trang). 5.3.- Giám mục Gauthier viết: “Triều đình Huế chỉ nghe tiếng nói của đại bác mà thôi”. Trong thư đề ngày 12-2-1873, 19-2-1873 gởi cho Đô đốc Dupré, Giám mục Gauthier viết: “Cuộc chiến nầy làm hao mòn tài chánh và giết hại những tinh hoa của dân tộc (dĩ nhiên là dân tộc Pháp, BK). Giám mục Gauthier viết như vậy và còn than phiền về những việc sách nhiễu con chiên. Theo tôi (giám mục Gauthier) khi nói đến triều đình Huế và quan lại. Các người đó chỉ có nghe theo tiếng nói của đại bác, còn thì điếc hẳn không nghe gì khác.” (Tức là Giám mục khuyên không nên nghe triều đình Huế về một giải pháp ở Bắc kỳ mà phải chiếm nhanh, BK). Nguyên văn tiếng Pháp (bỏ) 5.4.- Gauthier muốn có một chính phủ Ki Tô tại Bắc Kỳ. “Bằng những sự phóng đại đó, các kẻ truyền đạo cố lôi cuốn các viên chỉ huy quân sự Pháp vào các cuộc chinh chiến và họ tin rằng một khi sự xung đột tái diễn thì nhất định Pháp sẽ mắc kẹt trong guồng máy chiến tranh. Tôi tin rằng Giám mục Gauthier và Giám mục Puginier, nhất là ông thứ nhì, không chịu nỗi ý kiến một giải pháp hòa bình cho vấn đề: Giải pháp này sẽ phá tan hy vọng của họ mong muốn thấy một chính phủ riêng biệt, chính phủ này có lẽ sẽ là một chính phủ Công giáo. Các tín đồ Cônggiáo lại càng phóng đại hơn nữa các ý tưởng đó và xúi giục các linh mục, các người chăn dẫn họ để đưa đến một sự đổ vỡ mới giữa hai chính phủ... Suốt ngày, chúng tôi nhận tới tấp các báo cáo và các lời yêu cầu đem quân chinh phạt các tỉnh đó”.� Nguyên văn tiếng Pháp (bỏ). 5.5.- Tại sao giám mục Gauthier muốn có một chính phủ Công giáo tại Bắc Kỳ? Trả lời: Sẽ dễ dàng biến người Bắc Kỳ trở thành Ki Tô giáo hoàn toàn. Có ích gì lúc người Bắc Kỳ trở thành Ki Tô? Giám mục Puginier trả lời thế cho chúng ta: “Tôi xác nhận rằng, khi nào Bắc Kỳ trở thành Công giáo, thì nó cũng trở thành một nước Pháp nhỏ, hoàn toàn giống như các đảo Philippines đã thành một nước Tây Ban Nha nhỏ… Giám mục Puginier viết tiếp: Nếu chính phủ hiểu rõ quyền lợi thực sự của nước Pháp mà ủng hộ chúng tôi một cách thật sự dù che đậy đôi chút để tránh đụng chạm dư luận, tôi quả quyết rằng trong sứ mệnh của tôi, mỗi năm chúng ta có thể thu về cho nước Pháp khoảng 20.000 người bạn bằng cách cải đạo, chắc chắn tỉ lệ nầy sẽ gia tăng hàng năm, và có đủ lý do mạnh để hy vọng rằng sau 30 năm, gần hết xứ Bắc Kỳ đều trở thành Công giáo, nghĩa là trở thành người Pháp hết”.� Nguyên văn tiếng Pháp(bỏ) Tất cả các giám mục linh mục Pháp đều là những tên thực dân cuồng nhiệt. Trong số đó, GiámmụcPuginierđược xếp hạng nhất, Giám mục Gauthier, thầy của Nguyễn Trường Tộ đứng hạng nhì. Là hai kẻ đắc lực và nguy hiểm nhất trong chủ trương biến Bắc Kỳ thành một nước Pháp nhỏ và độc lập khỏi triều đình Huế.Giám mục Puginier đã uổng công đích thân đến Sài Gòn (Từ Bắc Kỳ, BK) để bàn trực tiếp với Đô đốc Dupré, nhưng Dupré vẫn cương quyết không can thiệp vào những vấn đề của nội bộ Bắc Kỳ�. 5.6.- Biến Bắc Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ sau khi đã đổi đạo dân Bắc, chủ trương nầy cũng được Đô đốc Dupré chỉ trích là quá nguy hiểm. Trong thư gởi cho Bộ Trưởng Hải Quân và Thuộc Địa ngày 30-12- 1874 cho chúng ta thấy điều đó: Dupré viết: “Những lần tôi nói chuyện với Giám mục Puginier. Trước khi ông rời Sài Gòn, lòng tôi vẫn không thay đổi: vì thế tôi vẫn giữ nguyên các nhận xét mà tôi đã trình bày với ngài, dù vị giám mục nầy đã khổ công khuyến cáo rằng hãy bỏ cái chính nghĩa đã tạo cho dân chúng (An -Nam) có cảm tình với nước Pháp và theo con đường mà ông Garnier, một anh hùng bị kết án, đã vạch sẵn, nhưng người ta đã không biết những khó khăn của tình thế, do viên sĩ quan khốn nạn nầy để lại mà chúng ta phải gánh chịu”. Giám mục Gauthier cũng thuyết phục, nhưng Dupré cũng không thay đổi ý kiến: “Chắc chắn tôi sẽ không làm vừa lòng hoàn toàn Giám mục Gauthier được, ông ta quá hăng say và trong nhiều trường hợp tôi nhận thấy thật sự quá nguy hiểm nếu nhắm mắt nghe lời của ông giám mục nầy”. Nguyên văn tiếng Pháp (bỏ). (Dupré au ministre de la Marine etdes Colonies, 30-12-1874, Archives ministère de la F.O.M. A 30 (25) carton 13. CHT, p. 366). Mgr. Gauthier ne pouvait non plus changer les idées de Dupré: Il me sera certainement impossible de donner une entière satisfaction à Mgr. Gauthier; son ardeur est extrême, et en maintes circonstances, j'ai pu reconnaitre combien il serait dangereux d'accepter sans réserves les appréciations de ce prélat”. (Dupré au ministre de la Marine et des Colonies, 26-7-1876, Archives du ministère de la F.O.M. A 30 (26) carton 14. CHT, p. 367). Qua sáu dẫn chứng nêu trên, chúng ta mới biết rõ Gm Gauthier là một tên tình báo hạng nặng. Và chúng ta có thể quả quyết rằng, đưa ra miếng mồi Mở Trường Kỹ Thuật là một mưu chước đã được bàn luận kỹ lưỡng giữa Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ để thăm dò và phỉnh gạt triều đình. Và qua đó chúng ta cũng thấy rõ thêm cái tư tưởng chẳng thà mất nước chứ không thà mất ngoại bang của Nguyễn Trường Tộ. Cũng thế chúng ta mới hiểu rõ tại sao mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình nên Thương hiếu với Giáo Hoàng, Dùng giám mục linh mục vào việc canh tân, Những việc Giám mục Gauthier có thể giúp, Thương lượng với Giám mục Croc” v.v... Và Nguyễn Trường Tộ gần suốt 20 năm đi đứng nằm ngồi ăn ở bên cạnh ông tình báo Gauthier chứ đâu có “từ bỏ để về sống cực khổ ở quê nhà” như Gs Hoàng Kỳ bênh vực không có chứng cứ! Kết luận: Một cách công bằng chúng ta có thể kể một số công của Nguyễn Trường Tộ (như tôi đã đề cập trong nhiều bài viết trước đây), và bên cạnh đó cũng phải cho thấy cái tội của ông đối với đất nước. * Công: 1. Chỉ huy đào Thiết cảng, 2. Làm được hai cái nhà thờ mặc dầu thời bấy giờ là chỗ để cho các giáo sĩ gián điệp và Việt gian cư trú, 3. Có vài tư tưởng tiến bộ, có thể xử dụng được, ở rải rác trong một số bài như Cải cách phong tục, Thư gởi Tây-soái, Về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng, v.v. CÔNG thì như một giọt nước mà tội thì cả đại dương. Sau đây chỉ giản lược 10 tội: * Tội: 1. Ngày 16..10.1858 cùng với các linh mục, giám mục Việt và ngoại quốc làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm, 2. Năm 1861 làm thư ký và thông dịch cho Tổng hành dinh của quân thực dân Pháp tại Sài gòn để mở rộng vùng chiếm đóng, 3. Vai kề vai lòng cạnh lòng với tên tình báo Gauthier suốt gần 20 năm, cùng với tên nầy, thập thò núp bóng sau bức màn canh tân và cùng nhau viết 58 bài chiêu dụ để lừa dối nhân dân và phỉnh gạt triều đình nhằm phục vụ cho ước vọng của ngoại bang, 4. Cố tình nhận định tình hình sai lạc để làm nhụt khio1 quân ta nhằm cứu vãn cảnh lâm nguy của quân đội Pháp từ năm 1858, 5. Dối trá trong việc mở trường kỹ thuật ở Huế, 6. Âm mưu đề nghị đào kênh từ Hải dương vào Huế để toàn dân nổi loạn, 7. Đề nghị thương hiếu với giáo hoàng để thúc đẩy tiến trình Công giáo hóa Việt Nam. Có như thế Pháp mới dễ biến Bắc kỳ thành một nước Pháp nhỏ như Giám mục Puginier chủ trương. 8. Đề nghị dùng các linh mục Việt gian vào việc canh tân đất nước, và mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ và viện dưỡng lão do các giám mục thực dân cử người coi sóc. Lúc các ông linh mục và giám mục có mặt khắp nơi, họ sẽ biến những người Việt hiền hòa thành những kẻ ly khai với tổ quốc, rồi hô hào một cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền toàn cõi Việt nam, 9. Năm 1868, ngăn cản triều đình cử phái bộ đi Pháp khiếu nại để lấy lại 3 tỉnh miền tây Nam kỳ, 10. Thay vì phải đánh gấp để đuổi giặc về nước vào những tháng cuối năm 1870 và đầu năm 1871. Vì sợ Pháp bại trận, nên N. T. Tộ khuyên phải dùng con đường ngoại giao, thay vì vũ lực. Và nếu xử dụng vũ lực, thì không nên thực hiện ngay mà phải hai năm sau. Và chính ông Tộ, có lẽ, cũng đã cảm thấy những việc làm bán nước hại dân của mình nên đã trăn trở ân hận trước lúc chết: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận”! (Một lần lỡ bước, hối hận ngàn năm). Tôi rất thông cảm Gs cũng như nhiều người viết sai về Nguyễn Trường Tộ mà lý do chình là thiếu sử liệu, cũng như không đọc kỷ các bài chiêu dụ của ông ta rồi đối chiếu với tình hình chính trị, quân sự và tôn giáo của ngoại bang thời bấy giờ, và đặc biệt là vì phát xuất từ lòng yêu nước nồng nàn nên không ngớt lời ca ngợi những ai có tinh thần yêu nước. Nhưng trường hợp Nguyễn Trường Tộ thì chúng ta bị lầm trên 150 năm qua. Chúc giáo sư an lạc. Bùi Kha, 1.10.2010
  22. Bài viết nào của bác sĩ Nguyễn Xuân Quang cũng rất quý và giá trị, tuy nhiên kết luận về quy tắc biểu tượng của các vua Hùng và Tổ tông của các ngài cần xem xét lại, tôi góp thêm vài ý ở phía dưới cuối bài. TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT. Nguyễn Xuân Quang (phần 3 và hết). (Bài nói chuyện ngày 19-4-2015 tại Hội Phát Triển Nghệ Thuật Truyền Thống Việt Nam và Hội Quán Lạc Hồng tại Little Saigon, Nam Cali, Hoa Kỳ). clip_image002 II. SỬ SÁCH, LỊCH SỬ VIỆT TRONG SỬ ĐỒNG ĐÔNG SƠN VIẾT BẰNG HÌNH, CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN QUE. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là những hiện vật do con người làm ra và được cho là có từ thời Hùng Vương lịch sử nên bắt buộc có một khuôn mặt là bộ sách LỊCH SỬ VIỆT bằng hình, bằng đồng đích thực. Lưu Ý Các vua Hùng lịch sử là di duệ hay đội lốt các Thần Tổ Phụ Mặt Trời sinh tạo thế gian ứng với tứ tượng là: .Mặt Trời Ánh Sáng Đế Minh ứng với Lửa Vũ Trụ, Lửa Trời Càn mà dân gian Việt Nam gọi nôm na là Chàng (I) Lửa (thái dương II) tức III, quái Càn. .Kì Dương Vương ứng với Đất Lửa Li cõi đất dương gian mà dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Đất (thiếu dương OI) tức IOI, quái Li. .Lạc Long Quân ứng với Nước dương mà dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Nước , (thái âm OO) tức IOO, quái Chấn. . Tổ Hùng ứng với Gió dương mà dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Gió (thiếu âm IO) tức IIO, quái Đoài. Mỗi Đại Tộc có bốn Tộc, mỗi Tộc có bốn Chi Tộc cũng ứng với tứ tượng. Ở cõi thế gian lịch sử, thú biểu bốn chân của các Vua Hùng Vương lịch sử là vật tổ chính còn chim biểu thường là biểu tượng cõi trời thế gian nhưng đôi khi cũng biểu tượng cả cõi vũ trụ tạo hóa, nhất là trên các trống vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay dưới 8. CHỦNG NGƯỜI TIỂU VŨ TRỤ HỒNG LẠC (LẠC HỒNG): LỬA NƯỚC, CHIM-RẮN. Hồng Lạc phải nhìn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch học. Hiển nhiên ta thấy rõ trước mắt là khi thì gọi là Hồng Lạc khi thì gọi là Lạc Hồng. Gọi xuôi ngược như vậy là gọi theo hai diện chim rắn, Tiên Rồng nọc nòng, dương âm. Hồng là Đỏ là Lửa và Lạc là nác, Nước. Theo ngành Lửa, Chim, Tiên, Mẹ Âu Cơ thì gọi là Hồng Lạc (Hồng Lửa để trước) còn theo ngành Nước, Rắn, Rồng, Cha Lạc Long Quân thì gọi là Lạc Hồng. Như thế Hồng Lạc, Lạc Hồng phải hiểu nghĩa dọc theo suốt cả chiều dài của văn hóa Việt dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh từ thái cực, Trứng Vũ Trụ trở xuống. Hồng Lạc là chủng Người vũ Trụ Chim Rắn Viêm Đế-Thần Nông. -Ở tầng thái cực, Trứng Vũ Trụ, Hồng Lạc (Lạc Hồng) là Lửa-Nước (Nước Lửa) nhất thể, là vũ trụ, là Viêm Đế-Thần Nông hay Thần Nông Viêm Đế nhất thể, là Tổ Hùng Tạo Hóa nhất thể. Hồng Lạc là chủng Chim-Rắn và Lạc Hồng là Rắn-Chim nhất thể còn ở dạng thiên nhiên hay đã thần thoại hóa. Chứng sử đồng như đã nói ở trên, về phía Lạc Hồng là Rắn Nước-Chim Rìu Lửa ở đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ… -Ở tầng lưỡng nghi, nòng nọc, âm dương đối cực, Hồng Lạc là Lửa-Nước, Chim Rắn tách riêng hai ngành. Nhìn theo hai cực đối ngược nòng nọc, âm dương, Hồng Lạc là chủng Chim Cắt Hồng Hoàng (Hán Việt chim cắt gọi là Hồng Hoàng) và Rắn Nước Lạc. Chứng sử đồng còn thấy ở thuyền Sông Đà. Đầu thuyền đầu Rắn nước, đuôi thuyền đầu chim cắt. clip_image004 Thuyền Lạc Hồng Rắn Nước Lạc-Chim Cắt Lửa Hồng (Hoàng) trên trống Sông Đà. Ở ngành chim Nọc Việt dương thái dương, nhìn dưới diện chim biểu cõi trên tạo hóa, Hồng Lạc là chủng Chim Hồng Hoàng Mỏ Cắt và Chim Nước Bồ Nông (chim nông Hán ngữ là Đường Nga, có Nga chỉ chung cả họ chim nước chân có màng là nông, ngỗng, ngan, vịt trời…). Chứng sử đồng còn thấy qua hình chim cắt và chim Nông bay. clip_image005 clip_image007 Chim cắt bay ở một tang trống Điền Việt và chim nông bay trên trống Ngọc Lũ I. Ở cõi trời sinh tạo thế gian là Chim Lửa Trĩ Việt (Đế Minh) clip_image009 Chim trĩ Lửa, Trĩ Việt trên nóc nhà mặt trời trên trống Ngọc Lũi I. và Chim Nước ngỗng, le le (Vụ Tiên)… Trên những trống Shan thường có các loài chim nước được cho là thuộc họ nhà vịt. clip_image011 Hình những con chim nước được cho là họ nhà Vịt trên một trống Shan. Lưu ý là tộc Shan nói tiếng Tầy Thái thuộc ngành nòng âm Thần Nông, Lạc Long Quân. HỒNG LẠC, LẠC HỒNG THẾ GIAN. Ở cõi thế gian nhìn dưới diện thú biểu là con thú Hồng, thú Hùng (đỏ, mặt trời, dương), đực (thư hùng), con thú Đực, con Đục, con Đọc, con Cọc, con Hươu sừng Kì Dương Vương. clip_image013 Một con hươu sừng đực trên trống Ngọc Lũ I. và con thú Lạc. Thú Lạc sống được dưới nước mang tính Việt (có sừng, mào, mõm nhọn, vi gai nhọn, vi sừng…). Con thú Lạc thấy nhiều trên các trống ở Việt Nam là con Cá Sấu Việt. Việt ngữ sấu biến âm với sẩu (xương sẩu). Sẩu có một nghĩa là sừng: xin khúc đầu những xương cùng sẩu. Sấu biến âm với sậu có nghĩa là cứng (ngô sậu, khoai sậu). Theo c=s (cắt = sắt) ta có cứng = sừng. Con sấu là loài sống được dưới nước như cá và có vi sừng. Theo ng = g (như ngẫm = gẫm), Hán Việt ngạc, cá sấu biến âm với Việt ngữ gạc, sừng. Cá sấu là con cá gạc (sừng), cá ngạc (Hán Việt). Sấu Dao Việt (xem dưới) là một khuôn mặt thú biểu vùng đất có nước như đầm hồ, ven sông, biển của Lạc Long Quân. Sấu Việt thấy trong sử đồng Đông Sơn trên trống Hóa Bình. clip_image015 Cá sấu Lạc Việt trên trống Hòa Bình. Hồng Lạc thế gian về thú biểu là Hươu Hồng-Cá Sấu Lạc. HỌ HỒNG BÀNG THẾ GIAN Theo truyền thuyết thì Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống. Như thế nếu nói chung thì họ Hồng Bàng phải kể từ thần tổ tối cao là thần mặt trời Viêm Đế của ngành Nọc Việt dương thái dương trở xuống. Tại sao Họ Hồng Bàng Thế gian chỉ kể từ Kì Dương Vương trở xuống? Điểm này dễ hiểu vì Kì Dương Vương được coi là con người đầu tiên của loài người, là thần tổ đầu tiên của người Việt, vua đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Việt Mặt Trời. Trong sử sách có nhiều tác giả giải thích về Họ Hồng Bàng nhìn dưới những góc cạnh khác nhau của văn hóa Việt có cốt lõi chim rắn Tiên Rồng nòng nọc, âm dương, Dịch học nên bất đồng ý kiến giống như các thầy bói sờ voi. Phải giải thích Họ Hồng Bàng cũng như những tên khác trong sử truyền thuyết lịch sử Việt (như Viêm Đế, Thần Nông, Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng, Hồng Lạc, Văn Lang…) và tất cả các chi tiết khác của văn hóa Việt theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch học. Hồng Bàng cũng vậy. Như đã biết, vị thần tổ tối cao của phía người Việt Mặt Trời thái dương là thần mặt trời Viêm Đế, các Tổ Phụ Việt đều là các thần mặt trời, Hùng Vương trong ngành Nọc Việt dương thái dương là vua dòng Mặt Trời, Người Việt là Người Mặt Trời, Xích Quỉ là Người Đỏ, Người Mặt Trời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), … như thế theo ngành Nọc Việt thái dương Mặt Trời ta phải hiểu một cách thật giản dị là lấy theo nghĩa Mặt Trời. Hồng Bàng là Họ Đỏ: Họ Mặt Trời thái dương. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn luôn luôn có mặt trời ở tâm trống do con người thế gian làm ra nên có một khuôn mặt biểu tượng cho Họ Hồng Bàng Thế Gian. Còn lấy theo vật tổ thì như đã biết -Ở cõi trên tạo hóa, sinh tạo, chim tổ của ngành Nọc Việt mặt trời Viêm Đế có chim biểu là con chim mỏ rìu, mỏ cắt, chim Việt có mũ sừng nên Họ Hồng Bàng là Họ Chim Hồng Hoàng (xin nhắc lại tên Hán Việt của chim Rìu, Chim Việt, Chim Cắt là Hồng Hoàng). Có tác giả giải thích Hồng Bàng là họ chim Hồng và cho là con ngỗng Hồng, một loài chim nước, là chỉ nhìn theo đại tộc Lạc Long Quân, không nhìn theo toàn ngành chim Hồng Hoàng mặt trời Viêm Đế, như thế không hoàn chỉnh. -Ở cõi thế gian là những thú bốn chân có nghĩa là Việt, Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống là họ của các con thú Việt mặt trời biểu tượng của Kì Dương Vương là Hươu Việt, của Lạc Long Quân là Rắn Nước Việt (Cá sấu Việt, Thằn Lằn Việt), của Tổ Hùng là Sói Việt. … (sẽ nói rõ ở dưới). Như thế ở cõi thế gian gọi theo vật tổ bốn chân thì Hồng Bàng thế gian là Họ Thú Việt Mặt Trời của ba tiểu thế của cõi giữa nhân gian là Hươu Việt Đất Dương, Sấu Việt Đất Âm, vùng Nước và Sói Lang Việt Gió Dương, Bầu Trời. Trong đồ đồng Đông Sơn còn thấy một chiếc rìu thờ có khắc ba loài thú này, tôi gọi là Rìu Hồng Bàng thế gian: clip_image017 Rìu thờ Đông Sơn có ba thú biểu là Dao Long (Sấu Dao Việt thần thoại hóa), Hươu Việt và Sói Lang Việt. HÙNG VƯƠNG LỊCH SỬ. Hùng Lang sinh ra từ bọc trứng thế gian của Tổ Hùng thế gian đội lốt bọc trứng vũ trụ của Tổ Hùng Tạo hóa, một khuôn mặt của Thần Nông-Viêm Đế nhất thể. Như đã biết Tổ Hùng thế gian có ít nhất có ba khuôn mặt chính là -Khuôn mặt sinh tạo nòng nọc, âm dương Nhất Thể, Bọc Trứng Sinh Tạo thế gian. Đây là khuôn mặt sinh tạo ở cõi Tiểu Vũ Trụ đội lốt Thần Nông-Viêm Đế ở cõi tạo hóa. Hùng biến âm với Naacal Naga ngữ Hun là 1 (nhất thể), là Đấng Tạo Hóa Nhất Thể lưỡng tính phái ứng với trứng vũ trụ, trứng thế gian. clip_image019 clip_image021 Bọc Trứng Trăm Lang Hùng. -Khuôn mặt duy dương là ngành Nọc Việt thái dương mặt trời Viêm Đế tức 100 Lang Hùng sinh ra từ tròng đỏ trứng vũ trụ. Ngành này gồm hai nhánh: nọc Việt dương thái dương (Hùng Man, Hùng Kì) và nọc Việt âm thái dương (Hùng Lạc, Hùng Lang). -Khuôn mặt duy âm là nhánh Nòng Việt thái dương đại diện cho Nòng Bộc thái âm phía Thần Nông thái âm. Như thế Hùng Vương di duệ của Tổ Hùng cũng có ít nhất ba khuôn mặt chính: 1-Hùng Vương Bầu Trời sinh tạo nhân gian: nòng nọc, âm dương Nhất Thể sinh ra từ bọc trứng thế gian đội lốt Trứng Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế cõi tạo hoá mang di thể (gene) Chim-Rắn nhất thể. Về chim biểu của khuôn mặt sinh tạo nòng nọc, âm dương nhất thể này, Hùng Vương lịch sử cũng có chim biểu là Cò Lang, Cò Việt, Cò Gió Lang đội lốt Cò Lang tiểu vũ trụ của Tổ Hùng. 2. Khuôn mặt Nòng Việt thái dương Đại Diện cho Ngành Nòng Bộc Thần Nông Thái Âm và cho Khuôn Mặt Nữ Âu Cơ (xem trống Đào Xá ở dưới). 3. Khuôn mặt Nọc Việt thái dương lịch sử. -Nhánh Hùng Vương Mặt Trời thái dương. Ở ngành Nọc Việt mặt trời thái dương Viêm Đế mang di thể Chim Viêm Đế có chim biểu là con cắt Lang trắng. -Nhánh Hùng Vương Không Gian Khí Gió. Theo thái âm là ngành nòng Bộc không gian thái âm Thần Nông mang di thể Rắn Thần Nông. Trên trống đồng (trống là đực) khuôn mặt Nòng Bộc thái âm Thần Nông thái âm này không có mặt, được đại diện bằng nhánh Hùng Vương nọc Việt âm thái dương và có chim biểu là con chim Nông thái dương. clip_image006 Chim nông trên trống Ngọc Lũ I trong mỏ có dấu (accent) nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > có một nghĩa thái dương. HÙNG VƯƠNG VUA MẶT TRỜI NGÀNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG MẶT TRỜI VIÊM ĐẾ- ĐẾ MINH. Đại tộc Việt thuộc ngành Nọc Việt thái dương thần Mặt Trời Viêm Đế có các vua tổ thế gian là Hùng Vương. Hùng là gì? – Ở cõi trời thế gian, Tổ Hùng, như đã nói ở trên, có khuôn mặt đấng tạo hóa nhất thể, đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể, thấy qua từ Hùng biến âm với chữ viết Naacal Đông phương Hun, có nghĩa là 1, Đấng Tạo Hóa. -Ở cõi thế gian Hùng Vương lịch sử nhánh Nọc Việt dương thái dương, mặt trời Viêm Đế thì Hùng có những nghĩa: .Hùng là Đực (hùng trĩ, thư hùng): Đực là dương, là Mặt Trời. .Hùng, hung là đỏ. Hung đỏ. Đỏ là mặt Trời. .Hùng là hồng là đỏ (hồng kỳ), Đỏ là tỏ, là mặt trời. .Hùng là mạnh. Hùng mạnh. Sức mạnh là Mặt trời. .Hùng là người đứng đầu, là số 1. Đây là lấy theo nghĩa duy dương của Hun, 1 của Naacal Đông phương. Ta thấy Hùng = hun = Mường ngữ Cun, người đứng đầu, số 1, tù trưởng của Mường Việt. ‘Cun lang bú chó, cun vó bú trâu’. Theo duy dương Số 1 là mặt Trời (Việt ngữ son, một mình, còn son, Anh ngữ solo, Pháp ngữ seul, Tây Ban Nha ngữ solamente ruột thịt với gốc sol, Pháp ngữ soleil, Đức ngữ sonn, mặt trời). .Hùng là Uighur ngữ Hun là Mặt Trời. Uighur lấy nghĩa theo duy dương của Naacal Đông phương Hun có nghĩa là Một, Đấng Tạo Hóa. Hiện nay các nhà làm văn hóa Việt Nam chỉ hiểu Hùng theo nghĩa ‘người đứng đầu, thủ lãnh, số 1’ bởi vì không nhìn dưới lăng kính Chim Rắn, Tiên Rồng nòng nọc, âm dương, Dịch học, cốt lõi của văn hóa Việt Nam. Như thế trong Đại tộc Việt thuộc ngành Nọc Việt thái dương thần Mặt Trời Viêm Đế, Hùng có nghĩa ở cõi sinh tạo là Hun, số 1, nhất thể, Đấng Sinh Tạo đội lốt Tạo Hóa và ở cõi nhân sinh lịch sử có nghĩa là Mặt Trời. CHỨNG SỬ HÙNG VƯƠNG LỊCH SỬ ĐẤNG SINH TẠO, VUA MẶT TRỜI TRONG SỬ ĐỒNG. Trống đồng của đại tộc Đông Sơn luôn luôn có mặt trời nằm trong vòng không gian tức trụ vũ, là bọc trứng thế gian sinh ra Hùng Vương, biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo của Hùng Vương. Theo duy dương trong ngành Nọc Việt thái dương Mặt trời thì mặt trời là biểu tượng cho Hùng Vương. Như thế trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có một khuôn mặt chính là trống biểu của Tổ Hùng sinh tạo trứng thế gian và vua Hùng Vương mặt trời thái dương (vì trống có nghĩa chính là đực, mặt trời). clip_image023 Trống Ngọc Lũ I. HAI NHÁNH HÙNG VƯƠNG CHIM RẮN, TIÊN RỒNG CỦA NGÀNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG MẶT TRỜI VIÊM ĐẾ. Trống đồng có một nghĩa là đực, dương, mặt trời là trống biểu chính của ngành Nọc Việt mặt trời Viêm Đế. Ngành này chia ra làm hai nhánh: nhánh Nọc Việt dương thái dương có chim biểu là Chim sừng thái dương mỏ cắt, có hai đại tộc Hùng Man dòng Đế Minh, Hùng Kì dòng Kì Dương Vương và nhánh Nọc Việt âm thái dương có rắn biểu là Rắn sừng hay có mồng thịt âm thái dương gồm hai đại tộc Hùng Lạc dòng Lạc Long Quân và Hùng Lang dòng Tổ Hùng. Chứng sử đồng của hai đại tộc chim sừng, Chim Việt và rắn sừng, Rắn Việt này còn thấy rõ trong sử đồng Đông Sơn. . Đầu mũi thuyền trên trống Ngọc Lũ và các trống liên hệ, như đã nói ở trên, có hình chim rìu, chim mỏ sừng (hornbill), mỏ cắt cắm vào miệng rắn nước có sừng cong (cong mang âm tính, âm thái dương) : clip_image025 Đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I có chim rìu chim mỏ sừng, mỏ cắt cắm vào miệng rắn có sừng cong, bên trong sừng có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong mang nghĩa nọc âm thái dương. .Trên trống Quảng Xương có hai nhánh người Việt mặt trời chim cắt sừng lửa và rắn dải nước có sừng : clip_image027 Trống Quảng Xương. clip_image029 Người mặt trời chim cắt mũ sừng. clip_image031 Người mặt trời rắn dải có sừng, có mồng. BỐN ĐẠI TỘC NGƯỜI VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG DÒNG HÙNG VƯƠNG MẶT TRỜI ỨNG VỚI TỨ TƯỢNG NGÀNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG VIÊM ĐẾ. Như vừa nói ở trên ngành người Việt mặt trời thái dương con cháu Tổ Hùng, Hùng Vương ngành Nọc Việt mặt trời thái dương gồm có 4 đại tộc Hùng Man, Hùng Kì, Hùng Lạc, Hùng Lang ứng với tứ tượng dương thái dương. Thổ dân Mỹ châu cũng có quan niệm là chủng người tiểu vũ trụ, ngành mặt trời gồm có Tứ Dân (Four People). clip_image033 Quan niệm vũ trụ sinh ra Bốn Đại Tộc Người của Thổ dân Mỹ châu. Chứng sử Bốn Đại Tộc, Tứ Dân này còn thấy khắc ghi rõ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trên một trống đồng Điền Việt thấy qua tế vụ bốn tộc người chim mặt trời Việt bay quanh mặt trời trên trục thế giới giống như tế vụ Bay Quanh Trụ Palo volador của người Maya ở Mễ và Guatemala còn thấy hiện nay. clip_image034 Tế vụ Người Chim Mặt trời Việt bay quay trục mặt trời trên một trống Điền Việt và tế vụ Bay Quanh Trụ Palo volador của Maya ở Mễ và Guatemala hiện nay. NHÁNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG. Nhánh Nọc Việt thái dương gồm hai chi: chi Nọc Việt dương thái dương có Hùng Man Đế Minh, Hùng Kì Kì Dương Vương và chi Nọc Việt âm thái dương có Hùng Lạc Lạc Long Quân và Hùng Lang Tổ Hùng. Chi Nọc Việt Dương Thái Dương. Đại Tộc Hùng Man. Như đã nói ở trên, Hùng Man dòng Đế Minh. Man, Mán, Mường là Người là Ngời là Sáng, là Minh. Đại tộc Hùng Man là Man Việt với Việt viết với bộ kim 鉞 (thấy từ đời nhà Chu). Kim là vật kim loại nhọn như vũ khí kim loại nhọn, là nọc lửa như tia ánh sáng minh. Trên đầu chữ kim có chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ^ có nghĩa là nọc, dương, lửa mặt trời, lửa thái dương sinh động ứng với Đế Minh. Về ngôn ngữ học: ở đây trống biến âm với chông (cọc, nọc nhọn). Nọc, cọc nhọn có một nghĩa là lửa, mặt trời. Chứng Sử Đồng Đông Sơn. -Về hình dạng Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Man Việt Hùng Man có trống biểu là Trống LỬA hình Trụ Ống Nguyễn Xuân Quang II ứng với lửa thái dương Càn Đế Minh. Ví dụ một trống Lào hình trụ ống: clip_image036 Trống trụ ống Lào. Thân trống có nhiều vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động, ăn khớp với trống Lửa hình trụ ống và những vành giới hạn nọc chấm lửa nguyên tạo ứng với Càn. Trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II với các vành dương, lửa thái dương này là trống biểu của Hùng Man dòng Đế Minh. -Về nội dung Trống Đông Sơn IV là trống biểu của Hùng Man dòng Đế Minh. clip_image038 Trống Đông Sơn IV. Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) thế gian. Khôn hôn phối với Càn ứng với Vụ Tiên Khôn hôn phối với Đế Minh Càn. Trống có bốn con cò Lửa bay chim biểu của Càn Đế Minh (xem dưới). Ngoài biên có hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động. Như thế trống Đông Sơn IV là trống biểu Lửa thái dương Càn của Đế Minh, của đại tộc Hùng Man. -Về vật biểu. Về vật biểu, với tước vị Đế mang tính sinh tạo nên có vật biểu chủ yếu là một loài chim. -Nhìn theo dòng Viêm Đế thì Đế Minh có chim biểu là chim rìu, chim Việt, chim cắt lửa thái dương. Trên thân trống Lào đã nói ở trên, ở dưới có con chim cắt đứng giống như chim cắt đứng trên trống Duy Tiên. clip_image040 Hình chim cắt đứng trên một trống Lào. Nhìn dưới diện tượng Lửa thế gian thì chim cắt đứng này là khuôn mặt tượng lửa cõi tứ tượng của Hùng Man, Đế Minh. Phía trên thân trống có hươu sừng, thú biểu của Hùng Kì, Kì Việt Kì Dương Vương. Chim Cắt- Hươu nhìn chung là vật biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man (Đế Minh) và Hùng Kì (Kì Dương Vương). Tóm lại trống này là trống biểu của Hùng Man, Man Việt dòng Đế Minh và cũng là trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì. -Nhìn theo vật tổ của Tổ Hùng Vương ở cõi sinh tạo. Như đã biết Tổ Hùng sinh tạo có chim biểu là Cò Lang. Cò Lang cũng có bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Ở đại tộc Hùng Man này là con Cò Lửa. Chứng sử đồng Đông Sơn là con cò lửa thấy trên trống Đông Sơn IV: clip_image042 Cò không có bờm, mỏ nhọn và cổ có hình nõ, cọc, bộ phận sinh dục nam trong có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que có một nghĩa là lửa, thái dương, mặt trời… Đây là con cò Lửa thái dương, chim biểu của Càn Đế Minh. -Nhìn theo tượng lửa cõi đất nhân sinh là con chim Lửa, Trĩ Việt. Chim trĩ vốn thuộc họ nhà gà sống nhiều trên mặt đất. clip_image044 Chứng sử đồng còn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là con chim trĩ trên nóc một căn nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I: clip_image046 Chim trĩ trên nóc nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I. Lưu ý trong nhà có hai người đang cung nghinh, tôn vinh mặt trời, ‘cầu trời’ và nhà có để hai trống ở hai bên nhà. Hai trống là hai đực, hai dương, thái dương. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời, con trĩ là trĩ lửa thái dương, trĩ Việt, chim biểu của Hùng Man, Đế Minh. -Về dân tộc học. Man, Mán, Mường là Người là Ngời, là Sáng, là Ánh Sáng dòng Ánh sáng Mặt Trời Đế Minh. Trên trống Ngọc Lũ I có hai nhóm người nhẩy múa. Trừ người thứ 7 trong nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm diễn tả người tiểu vũ trụ sinh ra từ bầu vũ trụ, còn lại 6 người trong mỗi nhóm có trang phục đầu hình chim có góc cạnh mang dương tính giống nhau cho thấy họ cùng một ngành người (Việt) mặt trời dương thái dương hóa trang chimthuộc chủng người tiểu vũ trụ. clip_image048 Nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I. Đầu chim phía trước có nọc cao cường điệu diễn tả sừng thái dương. Đây là con chim Cắt Mũ Sừng Lớn (Great Hornbill) chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế và cũng là của Đế Minh, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế. Như thế những người này là những người Việt mặt trời ngành Viêm Đế-Đế Minh. Ta cũng thấy tay trái cầm dùi nọc thẳng biểu tượng cho nọc lửa thái dương Đế Minh và tay trái cầm phách hay lệnh để ở tư thế hình núi tháp nhọn ^ có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Kì Kì Dương Vương Đất lửa Li. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Đế Minh, những người này thuộc nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì. Trống Ngọc Lũ I là trống biểu nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì của ngành Nọc Việt thái dương. Đại Tộc Hùng Kì Đại tộc Hùng Kì là Kì Việt với Việt viết với bộ tẩu clip_image050 như thấy trong tên Việt Nam. Việt bộ tẩu diễn tả nọc nhọn rìu (Việt) biết chậy là con Cọc, con Sừng, Con Hươu Việt (tôi đã nói rõ trong bài nói chuyện Việt Là Gì?). Việt viết với bộ tầu là Kì Việt, Hùng Kì. Về ngôn ngữ học: ở đây trống biến âm với chống (cọc chống đỡ). Cọc chống, trụ chống có một khuôn mặt là Núi Trụ Chống Trời biểu tượng cho Đất dương Li ứng với Kì Dương Vương. Việt ngữ nổng là núi hình nọc trụ chống. Nổng biến âm với nống (nâng, chống người nào lên như cứ nống nó lên). Nam Dương ngữ gunung, núi, nổng chính là Việt ngữ gò nổng. Chống, núi trụ chống trời ứng với Đế (với nghĩa vật chống như đế hoa) của Viêm Đế. -Kì Dương hiểu theo Kì là trụ và Dương là mặt thời là Vua Mặt Trời Trên Trục Thế Giới, thiên đỉnh (zenith), chính ngọ. -Kì Dương hiểu theo Kì là Cọc, con Cọc (Hươu) và Dương là đực thì là Vua Cọc Đực, Vua Hươu Nọc, Hươu Sừng, Mang gạc, Hươu Sủa đực có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đực), Hươu Việt. -Kì Dương Vương hiểu theo Kì là Cọc, con Hươu Cọc và Dương là mặt trời thì Kì Dương Vương là Vua Hươu Mặt Trời. Chứng Sử Đồng Đông Sơn. -Về hình dạng Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Kì Việt, Hùng Kì có trống biểu là Trống Đất Dương hình núi tháp cụt tròn xoay Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) ứng với lửa Đất thiếu dương Li Kì Dương Vương . Ví dụ trống Tân Long: clip_image052 Trống Tân Long, Hòa Bình có thân choãi rộng ra hình núi tháp trụ tròn xoay cụt đầu. Thân trống choãi ra nên có hình núi tháp tròn xoay cụt đầu. Đây là lý do tại sao các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy loại trống này nhiều nhất ở vùng cao, vùng núi. -Về nội dung Trống Phú Xuyên là trống biểu của Hùng Kì, Kì Việt dòng Kì Dương Vương. clip_image054 Trống Phú Xuyên. Trống có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác. Số 14 là số Tốn âm thái dương tầng 2 (6, 14) thế gian. Đây là trống thái dương như trống Ngọc Lũ I, trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì. Vì là trống thế gian nên khuôn mặt Hùng Kì, Kì Dương Vương mang tính chủ. Trống có bốn con cò Đất thái dương bay, chim biểu của Kì Dương Vương, Hùng Kì (xem dưới). Ngoài biên có hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động. Như thế trống Phú Xuyên là trống biểu Đất thiếu dương Li của của đại tộc Hùng Kì, Kì Dương Vương (xem Trống Kì Việt Phú Xuyên). -Về vật biểu. .Thú biểu Hươu Sừng, Hươu Việt. Về vật biểu, Kì Dương Vương là con người đầu tiên trên thế gian, vua tổ đất của Việt Xích Quỷ có cốt là con Hươu Sừng, con Kì, con Kẻ. Vì thế Việt ngữ Kẻ chỉ người, nơi ở như Kẻ Sặt. Kẻ hiểu theo nguồn cội là người tộc núi, con dân của Hùng, Kì, Kì Dương Vương. Điểm này thấy rõ là Mường Việt là tộc ở trên núi nên thờ bà Ngu Cơ qua hình bóng con nai sao, dòng Hươu Cọc Kì Dương Vương nhiều hơn thờ Lạc Long Quân qua hình bóng con cá chép. clip_image056 Thú biểu nai sao của Ngu Cơ Mường Việt. Truyền thuyết Kì Dương Vương ăn khớp với truyền thuyết Đông Á, theo James Churchward, con người đầu tiên trên mặt đất là con Hươu Keh. clip_image058 Hươu sừng keh tiền thân của con người đầu tiên của nhân loại (James Churchward). Keh chính là Việt ngữ Kẻ, Kì ruột thịt với Ai Cập cổ ngữ Keb hay Geb, Thần Đất dương. Hươu Keh chính là Hươu Kè, Hươu Kẻ, Hươu Đực Lộc Tục, Hươu Sừng, Hươu Mặt Trời thượng đỉnh, Hươu Việt. Hươu Sừng gọi theo Việt ngữ là mang gạc (mang, mễn là hươu), Anh ngữ munjac chính là Việt ngữ mang gạc. Mã ngữ là kijang chính là Việt ngữ Kì Dương (con Cọc Đực, Lộc Tục). Munjac trong thiên nhiên còn gọi là con hươu sủa (barking deer) bởi vì về mùa nhẩy cái, hươu đực này phát ra tiếng gọi con cái như tiếng chó sủa. Gần đây tại Việt Nam mới tìm lại được loài hươu sủa mang gạc này ở Vụ Quang và được cho là ‘mỏ vàng sinh học’ ở Việt Nam. clip_image060 Hai con thú hai bên là mang gạc, hươu sủa Việt Nam. Như thế chúng ta đã tìm lại được thú tổ thế gian mang gạc Kì Dương Vương của Việt Nam. Tiếc rằng các nhà làm văn hóa ở Việt Nam không phát huy, phổ biến, truyền bá rộng rãi vật tổ Việt này cho dân Việt Nam và thế giới biết. Loài hươu này được chọn làm thú biểu cho Đất lửa dương Li vì sừng không có mấu hay sừng chỉ có hai mấu nhọn. Hai sừng là hai nọc có một nghĩa là lửa đất (hai que nọc dùi ra lửa). clip_image062 Sọ mang gạc có sừng không có mấu nhọn và có răng nanh lòi ra ngoài miệng. Mang gạc có một điểm đặc thù nữa là có hai răng nanh nhọn lòi ra như lợn lòi. Hai răng nanh nhọn lòi ra này xác thực mang gạc là con thú chủ (host) của linh thú Nghê mà Hán Việt gọi là Kì (lân). Xin nhắc lại con đực gọi là Kì. Như đã biết, Kì biến âm với kè, kèo, kẻ là nọc, đực. Theo biến âm ng = k như nghẹt = kẹt, ta có nghê = kì. Con thú cái gọi là Lân. Lân là dạng dương của nân, nang (túi, bao). Nang biến âm với nàng, nường (con gái). Chúng ta múa lân là theo dòng con cái nghĩa là có cốt là con nai không có sừng. Người Trung Quốc lầm gọi chung là qilin, kì lân. Ngay con đực họ cũng gọi là kì lân là sai. clip_image064 Con Nghê hay con Kì. Thân con Nghê, con Kì nhỏ như con chó, có sừng hai mấu và hai răng nanh lòi ra ngoài miệng giống con mang gạc, hươu sủa Kì Dương. Linh thú Nghê gốc là linh thú biểu của Kì Dương Vương Việt Nam. Chứng sử Vật Tổ Hùng Kì, Kì Việt trong sử đồng Đông Sơn. Trên trống Phú Xuyên có bốn con mang gạc hươu sủa: clip_image066 Mang gạc hươu sủa trên trống Phú Xuyên đang há miệng sủa. Hươu trông như con chó, con chồn có sừng hai mấu nhọn, đang há miệng sủa. Trên một trống Sangeang, Nam Dương có hình mang gạc: clip_image068 Mang gạc hươu sủa trên một trống Sangeang. Như đã biết, trên một chiếc rìu thờ Hồng Bàng thế gian của đại tộc Đông Sơn có hình mang gạc đi cùng với hình giao long và sói lang. clip_image070 Thú biểu bò. Ngoài ra con bò là thú bốn chân có sừng sống trên đất cạn tương đương với hươu nên cũng có tộc dùng làm thú biểu cho Đất dương thế gian như con bò Nandi của Ấn giáo. Bò biến âm với bổ (búa), sừng, qua từ đôi báng bổ, ta có báng = bổ. Bị trâu bò húc bằng sừng gọi là bị báng (bị trâu báng, bò báng). Bò = bổ = báng (sừng). Anh ngữ cow (bò cái) trong nhiều ngôn ngữ cũng phát xuất từ một gốc có nghĩa ‘sừng, có sừng, (Cow words sometimes are from roots meaning ‘horn, horned’) ví dụ như ngôn ngữ Lithuania karve, Cổ ngữ Church Slavic Krava, bò. Ta thấy rất rõ, theo k = g như kài = gài, ta có kar-, k®av- = gạc (sừng). Trong sử đồng, hình bò thấy ở thân các trống Đồi Ro, Làng Vạc I… clip_image072 Trống Đồi Ro. Nhưng bò thấy nhiều nhất trong đồ Đồng Điền. clip_image074 Tượng bò trên một trụ thờ trục vũ trụ Điền Việt làm bằng hai chiếc trống đồng. -Về chim biểu: .Nhìn theo dòng Viêm Đế, Đế Minh, Hùng Kì có chim biểu là chim rìu, chim Việt, chim cắt Đất như đã nói ở trên. .Nhìn theo chim tổ của Tổ Hùng Vương ở cõi sinh tạo. Như đã biết Tổ Hùng sinh tạo có chim biểu là Cò Lang. Cò Lang cũng có bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Ở đại tộc Hùng Kì này là con cò Đất ngành nọc thái dương. Chứng sử đồng Đông Sơn là con cò Đất ngành nọc thái dương lửa thấy trên trống Phú Xuyên này. clip_image076 Cò Đất trên trống Phú Xuyên. Cò có bờm hình núi tháp nhọn đỉnh và thân-đuôi cũng hình núi tháp nhưng đặc điểm nhất là giữa cánh có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác có một nghĩa là núi tháp nhọn Đất dương. Đây là con cò Đất dương chim biểu của Hùng Kì, Kì Việt dòng Kì Dương Vương. -Về dân tộc học. Trên trống Thành Vân có những người chim mặt trời có mắt mặt trời, đầu có cặp sừng cong, trong có bỏ dấu chấm nọc mang dương tính, diễn tả người mặt trời đại tộc Hùng Kì, Kì Việt. clip_image078 Người chim mặt trời Việt thuộc đại tộc Hùng Kì Hươu có mắt là chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời và đầu có hai sừng có bỏ dấu chấm nọc mang dương tính trên trống Thành Vân. Trên thạp đồng Việt Khê có người hươu có thân hươu đầu người. clip_image080 Thạp Việt Khê (Charles Higham fig. 4.22). Chi Nọc Việt Âm Thái Dương. Đại Tộc Hùng Lạc. Đại tộc Hùng Lạc là Lạc Việt với Việt viết với bộ mễ 粤 (làm ruộng lúa nước, Lạc điền). Lạc là dạng dương của Nác, Nước. Lạc là nước lửa, lửa nước, nước dương, nước thái dương ứng với Lạc Long Quân. Về ngôn ngữ học: ở đây trống biến âm với tròng, lòng, dòng (nước). Chứng Sử Đồng Đông Sơn. -Về hình dạng Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Lạc Việt Hùng Lạc có trống biểu là Trống NƯỚC hình âu hay bát Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) mang nghĩa nước ngành thái dương Chấn Lạc Long Quân. Trống hầu như không có trụ trống, trông lùn tịt nên gọi là trống trệt. Trống loại này có rất nhiều ở Nam Trung Quốc, nhất là ở tộc Lạc Việt Tráng Zhuang, Quảng Tây nên Heger gọi loại này là trống trệt Nam Trung Quốc. clip_image082clip_image084 Trống trệt Nam Trung Quốc hình cái âu, cái bát. -Về nội dung Như đã biết Lạc Long Quân có nhiều khuôn mặt: .Thần tổ của đại tộc Hùng Lạc, Lạc Việt lịch sử. .Sinh Tạo đội lốt Tạo Hóa phía nòng âm Thần Nông là sấm mưa như đã nói ở trên. .Khuôn mặt đại diện cho Nòng Việt âm thái dương Âu Cơ (xem dưới). .Khuôn mặt đại diện cho ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm (xem dưới). Khuôn mặt Thần Tổ của Hùng Lạc, Lạc Việt. Lạc Việt lại chia ra làm những chi sống dưới nước gọi là long nhân, long hộ và những tộc sống ở vùng đất âm bên bờ nước, đầm, ao, sông làm ruộng nước, Lạc điền. 1. Lạc Việt Rắn long nhân, long hộ sống dưới nước (vạn chài, thuyền nhân). Những tộc này có tộc biểu là con Rắn Nước. Vì là ở ngành Nọc Việt thái dương nên con rắn này mang dương tính có sừng, có mồng thịt, rắn biểu của mặt trời Nước Lạc Long Quân. Ví dụ như đã nói ở trên, đầu thuyền Rắn Nước có sừng cong trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ và người tộc Rắn dải Nước có sừng trần truồng trên trống Quảng Xương clip_image085 Người Nước: long nhân, long hộ rắn dải nước có sừng trên trống Quảng Xương. Trên trống rất muộn Nam Ngãi II, người chim tộc Nước đã thể điệu hóa tối đa thành hình chữ nòng nọc vòng tròn-que móc nước dương. clip_image087 Trống Nam Ngãi II. 2. Đại Tộc Hùng Lạc, Lạc Việt: Tộc Sấu Dao Việt. Đây là tộc sống ở vùng đất âm có nước như đầm lầy, sông rạch là ruộng nước, Lạc điền. Những tộc này có vật tổ là con cá sấu mang dương tính nọc, Việt tức Sấu Việt. Cá sấu Việt loại này có mõm dài nhọn như dao (một thứ vật nhọn, việt) gọi là sấu dao (gavial, Tomistoma Schlegelii). clip_image089 Sấu mõm dao. hay loài con đực có sừng thịt (ghar) ở đầu mõm gọi là gharial. Ta thấy ghar = gạc. clip_image091 Sấu đực mõm sừng thịt gharial. Hình cá sấu mõm sừng thịt gharial thấy trên thạp Đào Thịnh. clip_image093 Thuyền sấu mõm sừng thịt trên thạp Đào Thịnh. Sấu mõm dao thấy trên trống Hoà Bình: clip_image095 clip_image096 Sấu Dao, Sấu việt trên trống Hòa Bình. Bốn con thú bốn chân trên trống Hòa Bình trông giống thằn lằn có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm. Hai vòng tròn là hai nòng âm OO, thái âm có một nghĩa là nước. Đuôi con vật cũng có hình sóng cuộn. Con thằn lằn này sống được dưới nước là con cá sấu. Con cá sấu này có mõm nhọn như dao là con cá sấu dao, sấu Việt. Trống Hòa Bình là trống biểu của tộc Lạc Việt Sấu Dao, Sấu Việt. Muộn về sau, cá sấu dao thần thoại hóa thành rồng cá sấu dao gọi là Dao Long (thường viết là Giao Long, tôi viết là Dao để nhớ con Dao Long có cốt là con cá sấu mõm Dao). clip_image098 clip_image100 Những tộc có tộc biểu là Dao Long là Dao Việt. 3. Đại Tộc Hùng Lạc: Tộc Thằn Lằn Rồng Đất. Những tộc ở bên bờ nước như sông suối nhưng không có cá sấu có thể lấy con thằn lằn mang âm tính nước làm vật tổ. Rồng đất thằn lằn cũng có nhiều loại như thấy qua bài đồng dao hát vòng quanh: Kỳ nhông là ông kỳ đà, Kỳ đà là cha cắc ké, Cắc ké là mẹ kỳ nhông… Các loài thằn lằn này gọi là Kỳ có nghĩa là Ki, Cây, Cọc mang dương tính của ngành Nọc ứng với Việt. Kỳ Nhông là con thằn lằn Cọc Nông (với h câm, ta có nhông = nông, có một nghĩa là khí gió như thấy qua tên Thần Nông). Kỳ Nhông là con thằn lằn Gió dương. Kỳ Đà có Đà có một nghĩa là nước như thấy qua các từ Đà Nẵng, Sông Đà, Đà Lạt, Đắc Lắc có gốc đác là nác là nước. Theo bài đồng dao này, Kỳ Đà mang nghĩa là con thằn lằn Nước dương (trong thực tế ngày nay người Việt gọi chung kỳ đà là loài thằn lằn rồng đất lớn). Cắc Ké có Cắc biến âm của cặc, cược, cọc và ké biến âm của kè (cây kè), kẻ (thước), qué (gà qué), que. Cắc Ké là con Cọc Que, con trụ nọc mang nghĩa biểu tượng cho Đất dương (lưu ý vì cắc ké có nghĩa cọc, que liên quan tới bộ phận sinh dục nam nên mới dùng như một tiếng chửi rủa: đồ cắc ké). Bài hát biểu tượng cho ba tiểu thế thế gian có kỳ nhông là cõi Trời (Gió), kỳ đà biểu tượng cho cõi nước và cắc ké biểu tượng cho cõi đất của ngành nọc Kỳ thái dương. Ở đây Kỳ Đà với nghĩa thằn lằn nước thích hợp với tộc Hùng Lạc, Lạc Việt. Vì vậy tôi dùng từ thằn lằn kỳ đà nước cho thú biểu thằn lằn của Hùng Lạc, Lạc Việt. Thằn lằn là vật tổ của các tộc thuộc nhánh nọc Việt âm thái dương thấy ở tộc Ao-Naga (Âu Long, Âu Lạc) ở vùng cực tây địa khối Vân Nam. Ngoài vật tổ chim cắt rắn nước, họ còn có tộc thờ thằn lằn. clip_image102 Vật tổ của người Ao-Naga: rắn nước mang dương tính (hình sóng nước nhọn đầu), hai con rắn tạo hóa, sinh tạo nòng nọc, âm dương cuộn tròn, thằn lằn (có loại thần thánh hóa trông như rồng đất, khủng long) và chim mỏ rìu (dưới dạng cây rìu). Chứng sử thằn lằn trong sử đồng Đông Sơn thấy ở Lào: trên trống đồng U Bông hay Nen-xỏng ở Lào có hình thằn lằn. Đảo Komodo, Nam Dương có loài thằn lằn khổng lồ có thể sống dưới nước (được cho là có nguồn gốc từ Úc bơi tới) gọi là Rồng komodo. Đây chính là loài kỳ đà nước khổng lồ nên được gọi là Rồng Komodo. clip_image104 Rồng Komodo ở đảo Komodo, Nam Dương. Rồng Komodo được dùng làm vật tổ tương đương với cá sấu thấy ở trống Sangeang Malakamau, Nam Dương. clip_image002[4] Nhà Nọc có hình thằn lằn khổng lồ dragon Komodo ở chái nhà bên trái trên trống Sangeang Malakamau. Ta thấy rắn nước Việt thần thoại hóa thành Rồng Rắn nước Việt, cá sấu Việt thành Rồng Sấu dao Dao Long, Dao Việt, thằn lằn Kỳ Đà Việt thành Rồng Kỳ Đà Việt… Chúng ta có Rồng Việt khác rồng Trung Quốc (có dịp tôi sẽ nói về đề tài này). .Khuôn Mặt Sinh Tạo Đội Lốt Tạo Hóa Phía Nòng Âm Thần Nông. Đây là khuôn mặt sấm mưa đã nói ở trên. -Về vật biểu. .Thú biểu Về vật biểu, Hùng Lạc lịch sử thế gian nên có khuôn mặt vật tổ chính là con thú bốn chân sống trên mặt đất. Như đã thấy ở trên là loài bò sát sống được dưới nước hay liên hệ tới nước (như có mầu đen) mang dương tính nọc Việt (như mõm dao nhọn, có sừng…) như rắn có sừng, có mồng, cá sấu dao, cá sấu mõm sừng gharial, thằn lằn kỳ đà… Về chim biểu: Chim biểu của Hùng Lạc, Lạc Việt phải là một loài chim nước chân có màng có mang dương tính Việt. .Ở cõi sinh tạo thế gian là con chim nông mang dương tính tức bổ nông đội lốt chim bồ nông ở cõi tạo hóa. .Nhìn theo dòng Viêm Đế, Đế Minh, Hùng Lạc có chim biểu là chim rìu Lạc Việt, chim cắt Nước mầu đen như đã nói ở trên. .Nhìn theo chim tổ của Tổ Hùng Vương ở cõi sinh tạo. Như đã biết Tổ Hùng sinh tạo có chim biểu là Cò Lang. Cò Lang cũng có bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Ở đại tộc Hùng Lạc này là con cò Nước, cò Lạc. Chứng sử đồng Đông Sơn là con cò Nước ngành nọc thái dương lửa thấy trên trống Hữu Chung. clip_image109 Cò có bờm như mũ che mưa. Trên cánh có hình sóng nước nhọn đỉnh mang dương tính là sóng nước dương. Đây là con cò Nước, Cò Lạc chim biểu của Hùng Lạc, Lạc Long Quân. .Ở ngành nọc Việt âm thái dương là một loài chim nước mang dương tính Việt như thuộc loài ngỗng ngan, vịt trời Việt. Như đã nói ở trên, trên trống Shan có hình chim nước được cho là loài vịt. -Về dân tộc học. Trên trống Nam Ngãi II như đã nói ở trên có những người chim thể điệu hóa tối đa thành những hình móc xoáy nước diễn tả người mặt trời đại tộc Nước Hùng Lạc, Lạc Việt. Đại Tộc Hùng Lang Đại tộc Hùng Lang là Lang Việt với chữ Việt hình rìu cong. clip_image111 Chữ Việt trên giáp cốt văn hình rìu Việt có mặt trời vòng tròn tạo hóa, sinh tạo. Chữ Việt cổ rìu tròn trong giáp cốt văn, theo duy dương (vì là vật nhọn), vòng tròn biểu tượng mặt trời, tạo hóa, sinh tạo. Rìu Việt vòng tròn biểu tượng của Tổ Hùng Tạo Hóa thượng thế và Tổ Hùng Sinh Tạo thế gian. Rìu Việt nhà Thương hình câu liêm tức vòng tròn mở ra. clip_image113 Chữ Việt đời nhà Thương hình câu liêm. Vòng tròn mở ra là dạng vòng tròn kín chuyển động mang dương tính. Rìu câu liêm là biểu tượng của Tổ Hùng, Hùng Vương ngành nọc Việt mặt trời thái dương. Về ngôn ngữ học: ở đây, trống biến âm với không. Trống không. Không có một nghĩa là không khí, gió. Như đã biết Lang có nhiều nghĩa: -Ở cõi tạo hóa và sinh tạo thế gian Tổ Hùng có khuôn mặt là đấng tạo hóa, sinh tạo Trứng vũ trụ, trứng thế gian thì Lang là dạng dương của Nang (trứng). -Ở ngành Nọc Việt thái dương thì Lang là con trai, đực, dương, mặt trời trai trẻ, vua mặt trời mới mọc rạng ngời. Ở đây, Lang là lạng, lạn là sáng (sáng lạn), mầu của mặt trời. -Ở ngành Nọc Việt âm thái dương Lang là Nang (bọc túi) có khuôn mặt là bầu vũ trụ, bầu không gian, khí gió. Ở đây Lang có nghĩa là trắng, trong (trong trắng), mầu khí gió. Chứng Sử Đồng Đông Sơn. -Về hình dạng. Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Lang Việt, Hùng Lang có trống biểu là Trống Gió Dương hình lọng vòm trời Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) ứng với Gió Dương thiếu âm Đoài vũ trụ, Tổ Hùng, Hùng Vương thái tổ có bản thể Khí, Gió. Ví dụ trống: clip_image115 Trống Lương Sơn, Kim Bôi. clip_image002[6] Trống Karen. Trống có trụ trống và đế trống thẳng đứng như trụ lọng và phần bầu trống ứng với tán lọng hình vòm trời thường có tua gió. Lưu ý. .Lọng nhất là lọng thờ có nhiều loại có hình dạng mang nghĩa biểu tượng theo nòng nọc, âm dương. Lọng đĩa tròn đỏ biểu tượng mặt trời. Lọng có tán hình vòm trời có tua biểu tượng không gian gió. . Xin nhắc lại tộc Karen làm hầu hết loại trống này dùng làm trống biểu của họ. Karen nói tiếng Tầy Thái thuộc nhánh Nọc Việt âm thái dương. Karen là tộc dương của ngành nòng âm là thiếu âm, khí gió vì vậy họ lấy loại trống Gió này làm trống tộc biểu. -Về nội dung. Hùng Vương có liên bang Văn Lang gồm rất nhiều tộc vì thế có rất nhiều trống Gió, có nhiều loại cò Gió (cò sẽ nói ở phần chim biểu ở dưới). Hãy lấy một hai ví dụ: -Trống Quảng Xương. Như đã biết, trống Quảng Xương là trống Hùng Vương sinh tạo thế gian đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa. Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Như thế mặt trời là mặt trời Càn nằm trong không gian Khôn. Trống là trống càn-khôn. Mặt trời-không gian càn khôn là bọc trứng vũ trụ. Trống Quảng Xương là trống biểu của Tổ Hùng Trứng Thế Gian sinh ra 100 Lang Hùng Mặt Trời. Trên mặt trống diễn tả hai nhánh 50 Lang Hùng: nhánh Lửa Người Việt Mặt Trời Chim Cắt và nhánh Nước Người Việt Mặt Trời Rắn Dải của 100 Lang Hùng. -Trống Việt Khê. clip_image119 Trống Việt Khê. Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác giống như trống Quảng Xương. Như vừa mới nói ở trên, trống Quảng Xương có cảnh sinh hoạt nhân sinh là trống thế gian đích thực. Ở trống Việt Khê này không có cảnh sinh hoạt nhân sinh và thú bốn chân thì không thật sự là trống thế gian mặc dù có mặt trời 8 nọc tia sáng như trống Quảng Xương. Trống chỉ có một vành bốn con cò bay nghĩa là trống mang tính trống vũ trụ. Tại sao? Như đã nói ở trên, vì trống có một nghĩa là đực dương mang tính chủ nên trên trống đồng chính thống không có loại mặt trời đĩa tròn có số 0 ánh sáng tức số Khôn tầng 1 tạo hóa (loại mặt trời đĩa tròn 0 ánh sáng này thường diễn tả mặt trời nữ thái dương có thể thấy trên cồng, một khuôn mặt âm của trống hay trên gương đồng, biểu tượng chính cho phía âm nữ). Vì vậy trên trống đồng mặt trời có số Khôn 8 nọc tia sáng đôi khi đại diện cho mặt trời có số Khôn 0 như thấy ở trống Việt Khê này. Vì thế trống Việt Khê có khuôn mặt là trống vũ trụ mặc dù có mặt trời 8 nọc ánh sáng. Vì vậy trên mặt trống Việt Khê không có cảnh sinh hoạh nhân sinh và thú bốn chân mà chỉ có vành cò bay chủ yếu là vậy. Đây là bốn con cò Gió bay, chim biểu của Hùng Vương (xem dưới). Quanh mặt trời và ngoài biên chỉ có một vành trống không lớn diễn tả không gian, trong có bỏ dấu (accent) chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm nọc nhỏ mang dương tính, lửa, thái dương nguyên tạo. Như thế hai vành trống không diễn tả không gian này mang tính dương, thái dương tức là Khôn dương Khí Gió. Ở dưới chân trống có con chim ngửa cổ lên trời hót mang hình bóng con chim tu hú, chim biểu tượng cho Gió. Như thế trống Việt Khê có khuôn mặt là trống vũ trụ, trống Gió Dương, Đoài vũ trụ mang tính sinh tạo, tạo hóa của một tộc Hùng Lang Gió. -Về vật biểu. .Thú biểu Sói Lang Việt. Về vật biểu, Hùng Vương lịch sử, thế gian nên khuôn mặt vật tổ chính là con thú bốn chân sống trên mặt đất. Con thú này theo nguyên tắc tên phải có nghĩa là nọc, Việt, mặt trời và tên phải là Lang. Đó là con thiên cẩu Sói Lang, Lang Việt. Ta thấy rất rõ Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang, Sói Lang Sáng Ngời (lân là lửa sáng như ma trơi, như lân tinh). Chứng tích vật tổ Sói Lang Việt còn thấy nhiều trong văn hóa, lịch sử Bách Việt. Ví dụ .Người Mường có câu ‘Cun lang bú chó, cun vó bú trâu’ xác thực Lang có một nghĩa là chó sói Lang và sói Lang là một vật tổ, vật biểu của tộc Mường [trong khi Cun vó là Cun loài bốn chân có móng như ngựa (vó ngựa) trâu, bò thì bú trâu]. .Tại vùng quê Việt Nam nhất là ở Huế trước đây có tục múa thiên cẩu (chó trời ám chỉ chó sói Lang với khuôn mặt tạo hóa, bầu trời) . clip_image121 Múa thiên cẩu (tranh dân gian). Người Lạc Việt Tráng Zhuang, tộc Jangxi ngày nay còn giữ tục múa chó để chào mừng trẻ em sơ sinh, cầu vật tổ Chó phù họ cho em bé. clip_image123 Tục múa Vật tổ Chó của tộc Jangxi, Tráng zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc, Vân Nam). Lạc Việt hải đảo ở Nam Dương ngày nay vẫn còn giữ tục tôn thờ vật tổ chó Aso. clip_image125 Vật tổ Chó Aso. Chứng sử Vật Tổ Sói Lang Việt trong sử đồng Đông Sơn. Như đã nói ở trên, trên trống Miếu Môn I đi với những còn cò ‘Nang’ có túi gió, túi âm thanh hình tam giác dưới mỏ (hiện nay tưởng lầm là mồi) có bốn con thú mà các tác giả Việt Nam gọi là ‘thú lạ’. clip_image127 Cò ‘nang’ và thú ‘nang’ trên trống Miếu Môn I. Tôi đã dùng con “Nang’ này làm hình bìa cho cuốn Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) Đông Nam Á tập II. clip_image129 Như đã nói ở trên, đây là con thú có túi nang dưới cổ để hú, tru tức con chó sói, con Lang, thú biểu của Lang Hùng Vương có mạng khí gió. Như đã biết, trên một chiếc rìu thờ tôi gọi là Rìu Hồng Bàng còn ghi khắc hình con sói lang Việt, thú biểu của Tổ Hùng đi cùng với Hươu Sủa mang gạc Việt, thú biểu của Kì Dương Vương và Dao Long, linh thú biểu của Lạc Long Quân . clip_image070[1] Trên rìu thờ Hồng Bàng Thế Gian có con sói Lang Tổ Hùng đi với hươu sủa mang gạc Kì Dương Vương và dao long Lạc Long Quân. ….. -Về chim biểu: Hùng Vương thế gian có khuôn mặt sinh tạo đội lốt Tổ Hùng nên có các vật tổ chim cùng với Tổ Hùng như Cò Gió, Cò Lang. Cò Lang, ở đại tộc Hùng Lang này là con cò Gió mầu trắng ngành nọc thái dương . .Nhìn theo dòng Viêm Đế, Đế Minh, Hùng Lang có chim biểu là chim rìu, chim Việt, chim cắt Lang mầu trắng như đã nói ở trên. clip_image131 Một chứng sử đồng Đông Sơn là con cò Gió: -Như đã nói ở trên, cò Lang trên trống Ngọc Lũ I. clip_image133 -Trên trống Việt Khê này. clip_image134 Cò Gió trên trống Việt Khê. Cò có bờm tua gió. Cánh hình tán lọng, vòm trời giống linh tự bầu trời của Ai Cập cổ: clip_image136 Linh tự Ai Cập cổ ‘sky’ (bầu trời) diễn tả vòm trời như cái nắp vòm giống hình cánh cò ở đây trên có ‘viết’ chữ ba chiếc bình tròn diễn tả ba nòng âm OOO tức quái Khôn có một nghĩa là không gian, bầu trời thái âm. Thân cò cong hình vòng cung bầu trời. Thân và đuôi hình con diều gió. Đây là con cò Gió dương biểu tượng của Tổ Hùng, Hùng Lang có một khuôn mặt bầu vũ trụ, bầu trời, khí gió. Ở thân trống, như đã biết, có con chim tu hú, chim biểu của gió, của Tổ Hùng, Hùng Lang có mạng Gió. clip_image137 Chim tu hú trên trống Việt Khê. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt rạng ngời trống Việt Khê là trống biểu của Tổ Hùng tạo hóa, Hùng Vương sinh tạo. ….. Mê Linh Hai Bà Trưng dòng dõi Hùng Vương quê ở Châu Phong : Bà Trưng quê ở châu Phong, Giận người tam bạo thù chồng chẳng quên… lấy tên thủ đô là Mê Linh. Như đã biết, tiếng Ê- Đê có loài chim tên là mơ linh, mơ lang, Mã ngữ langling là chim cắt sặc sỡ ở miền Nam Mã Lai. Như thế Hai Bà Trưng lấy tên thủ đô Mê Linh là tên con chim Cắt Lang, chim biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương. Châu Phong, Bạch Hạc. Hiển nhiên Châu Phong là châu Gió, vùng đất tổ Hùng và Bạch Hạc có nghĩa là Cò Trắng, Cò Lang, Cò Gió, chim biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương. Việt Trì Việt Trì thường hiểu theo nghĩa là Ao Việt. Ao là ‘bọc nước’, hồ nước. Ao hồ. Ao sen còn gọi bầu sen. Rõ ràng bầu là bao bọc, ao. Ao biến âm với áo có một nghĩa là lớp bao bọc. Ao là bọc nước Nòng Nước. Như đã biết Việt là rìu, nọc nhọn, lửa. Việt Trì là Nọc lửa-Nòng Nước là Chim lửa- Rắn nước, Tiên-Rồng. Vì vậy mà Việt Trì mới là thủ đô của tỉnh Phú Thọ vùng đất Tổ Việt Nam, nơi có đền Tổ Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Con Số 18 của Hùng Vương. Có 18 con cò bay, 18 chim đứng trên mặt trống Ngọc Lũ I. Rất tiếc không có đủ hình vẽ của cả vành chim này nên không thể nhận diện chính xác từng con một. 18 con chim này ứng với con số 18 là mã số DNA của Hùng Vương (xem bài viết này). clip_image139 Một số cò bay và chim đứng trong vành 18 cò bay và 18 chim đứng trên trống Ngọc Lũ I. Theo nguyên tắc mỗi bán viên có 9 con cò bay và 9 con chim đứng. Trong sử sách có nói tới Cửu Lê, Cửu Lạc. Lê biến âm la, lá, lửa và Lạc biến âm với Nác, Nước. Cửu Lê thuộc ngành Lửa, Chim, Tiên và Cửu Lạc thuộc ngành Nước, Rắn, Rồng. Chín con cò bay và 9 con chim đứng ở mỗi bán viên có thể liên quan tới Cửu Lê và Cửu Lạc. Âu Lạc. Âu Lạc là liên minh Âu Việt nhánh Âu Cơ với Lạc Việt nhánh Lạc Long Quân còn thấy rõ trên trống Sông Đà. clip_image141 Trống Sông Đà. Những vành ngoài biên trống có vành những hình thoi chuyển động diễn tả gió dương Đoài vũ trụ, đại diện cho gió âm Tốn, một khuôn mặt của Âu Cơ và có những hình sóng cuộn gẫy cạnh diễn tả sóng nước dương Chấn Lạc Long Quân. Vành này cho biết có sự liên hợp Âu Lạc Việt. Trống Đào Xá cũng là trống biểu của một khuôn mặt Âu Lạc phía nòng âm thái dương (xem dưới). Văn Lang Đây là một liên bang của nhiều ngành, nhiều đại tộc, chi tộc nên Văn Lang có nhiều nghĩa. Cũng như các từ khác của văn hóa Việt Nam phải nhìn theo diện nòng nọc, âm dương và dọc suốt chiều dài của qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh, của Dịch lý. .Nhìn dưới dạng sinh tạo. Văng Lang có thể là Vlang, là Lang, Nang (bọc, trứng) mang dương tính tức Bọc Trứng 100 Lang Hùng. Với nghĩa này, Văn Lang là liên bang 100 Lang Hùng, Tổ Hùng. Như đã biết trống Quảng Xương có một khuôn mặt là trống biểu của Văn Lang Tổ Hùng này. .Nhìn dưới dạng ngành Nọc Việt dương thái dương mặt trời Viêm Đế thì Văn Lang = Vlang = Lang (con trai) = Chàng (con trai, đục chisel) = Việt = Mặt Trời. Văn Lang theo nghĩa này là liên bang Người Việt mặt trời thái dương ngành Nọc Việt thái dương gồm hai nhánh Nọc Việt dương thái dương và Nọc Việt âm thái dương. Trống Ngọc Lũ I có một khuôn mặt là trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương này. .Nhìn dưới diện lịch sử thế gian có thú biểu là loài bốn chân sống trên mặt đất thì Văn Lang = Mang Lang. Văn có nghĩa là đực, phái nam thấy rõ qua chữ đệm Văn của tên người Việt như Nguyễn Văn X, nhìn chữ đệm Văn biết ngay là tên người nam (trong khi nhìn chữ Thị là biết tên người nữ). Đực là nọc (heo nọc), cọc. Con Cọc là con thú bốn chân có sừng tức con hươu, con mang. Theo v=m như váng = màng, ta có Văn = Man, Mang. Mang có một nghĩa là gai nhọn (thảo mang) cùng là vật nhọn với sừng. Con thú có mang (gai, vật nhọn) là con mang (Hươu sừng, mang gạc, mang mễn). Như thế nhìn dưới diện thú biểu bốn chân sống trên mặt đất thì Văn = Mang, con mang, con hươu sừng và Lang là con Sói Lang. Với nghĩa này Văn Lang là liên minh hai đại tộc Hươu mang gạc, munjac, hươu sủa, Hươu Việt, thú biểu của Hùng Kì, Kì Dương Vương nhánh Nọc Việt dương thái dương với đại tộc sói Lang, Sói Việt, thú biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương nhánh Nọc Việt âm thái dương. Lưu ý thêm nữa là Mang gạc Hùng Kì Đất dương Li ứng với thiếu dương và Lang sói Hùng Lang, gió dương Đoài vũ trụ ứng với thiếu âm. Văn Lang Mang Lang là dạng kết hợp thiếu dương với thiếu âm tức giao hòa Tiểu Vũ Trụ (thiếu là tiểu) ở cõi người, thế gian. Văn Lang Mang Lang là nhánh Người Nọc Việt thái dương thuộc chủng người Tiểu Vũ Trụ. Như thế liên minh Mang Lang có thể mang nghĩa chính của Văn Lang vì đây là liên minh của Hùng Vương lịch sử, thế gian. Chứng sử đồng còn thấy là trống Miếu Môn I có mang gạc và sói ‘nang’ ở trên cùng một vành mang tính chủ yếu của trống (xem trống này). clip_image145 Trống Miếu Môn I. clip_image146 Hai nhóm Mang gạc và Sói Lang trên Trống Miếu Môn I. Trống Miếu Môn I là trống Văn Lang Mang Lang thế gian. .Nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh trọn vẹn thì Văn Lang là liên minh của cả ngành Nọc Việt thái dương gồm hai nhánh Nọc Việt dương thái dương và Nọc Việt âm thái dương có đủ tứ dân, bốn đại tộc ứng với tứ tượng ở tứ phương. Chứng sử đồng về hình dạng là loại trống Đông Sơn Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I). Trống này do trống biểu của bốn loại trống ứng với tứ tượng hợp lại. Đó là trống Lửa hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II (ví dụ một trống Lào Man Việt, Đế Minh), trống Gió hình lọng gió Nguyễn Xuân Quang III (trống Karen Lang Việt, Tổ Hùng), trống Nước hình cái âu, cái bát Nguyễn Xuân Quang IV (trống trệt Nam Trung Hoa Lạc Việt Lạc Long Quân) và trống Đất hình Núi tháp trụ tròn xoay cụt đầu Nguyễn Xuân Quang V (trống Tân Long Kì Việt Kì Dương Vương). clip_image148 Trống loại Đông Sơn này tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam xác thực Việt Nam là đất tổ của liên bang Văn Lang (federal seat) giống như Washington D.C. của liên bang Hoa Kỳ. . NHÁNH NÒNG VIỆT THÁI DƯƠNG. Trong sử đồng Đông Sơn dĩ nhiên không có trống thuần âm nòng nữ thái âm của ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm và của khuôn mặt nữ Âu Cơ. Thường chỉ có trống Nọc Việt âm thái dương đại diện. Tộc ‘Khủng Long’. Thằn lằn còn có tên là rồng đất. Có một loài thằn lằn rồng đất ‘kinh khủng’gọi là khủng long. Khủng long dinosaur có dino-, kinh khủng và saur có gốc Latin sauros, thằn lằn. Hình khủng long thấy trên Trống Đào Xá. clip_image150 Trống Đào Xá. Trống có mặt trời 6 vòng ánh sánh. Ánh sáng vòng tròn là ánh sáng Nòng âm. Như đã nói ở trên, trên trống đồng có hai loại ánh sáng nòng nọc, âm dương là ánh sáng Nòng vòng tròn như ở đây và ánh sáng Nọc mũi mác thấy gần như hầu hết trên các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Văn hóa Đông Sơn gần như duy nhất là nền văn hóa mặt trời có hai loại mặt trời có ánh sáng nòng nọc, âm dương. Điều này cho thấy rõ và xác thực văn hóa Việt Nam có cốt lõi đích thực là Chim-Rắn Tiên Rồng, nòng nọc, âm dương, có triết thuyết là Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch Nòng Nọc Đông Sơn ăn khớp khắng khít với văn hóa Đông Sơn cũng dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương. Số 6 là số lão âm, âm thái dương. Sáu vòng ánh sáng là ánh sáng âm thái dương. Tính thái dương cũng được xác thực bằng hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là thái dương sinh động nằm ở hai bên 6 vòng ánh sáng. Như thế mặt trời là mặt trời nòng âm thái dương. Trống là trống biểu của một tộc thuộc Nòng Việt âm thái dương. Điểm này thấy rất rõ qua sự kiện là không có sự hiện diện của Chim, vật biểu của nhánh Nọc Việt thái dương. Ta đã biết loài bò sát rắn, cá sấu, thằn lằn nước là vật biểu của ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm. Nếu các vật tổ loài bò sát có liên hệ tới nước này có mang thêm dương tính (như sừng, mồng) thì là vật biểu của Lạc Long Quân thuộc nhánh Nọc Việt âm thái dương. Trong trường hợp này Lạc Long Quân là đại diện cho Nòng Bộc thái âm. Đuôi khủng long hình lông chim nhọn như lưỡi dao nhọn mang tính nọc lửa, thái dương, Việt. Ở đây những con khủng long mang một yếu tố dương lông chim nhọn nhưng không ở đầu mà lại là ở đuôi tức mang tính âm. Đây là khuôn mặt âm (O) thái dương II tức quẻ ba vạch OII, Tốn, khuôn mặt Nàng Lửa, mặt trời nữ thái dương của Âu Cơ hay Không gian (O) thái dương tức khí gió âm cũng là một khuôn mặt bầu trời, Gió âm của Âu Cơ (sinh ra bọc trứng). Như thế nhìn dưới một tộc duy nhất đây là tộc khủng long mang tính âm thái dương phía Âu Cơ. Tuy nhiên ở trên trống có khuôn mặt chủ là đực (gà trống) là nọc, là Việt nên có khuôn mặt âm nam Lạc Long Quân là đại diện (vì thế mà lông chim Âu Cơ để ở đuôi). Tóm lại trống khủng long có đuôi lông chim này nếu nhìn theo phía diện âm nữ thái dương là trống biểu của Âu Cơ nấp bóng Lạc Long Quân. Nếu nhìn dưới dạng kết hợp, liên minh Nước-Lửa thì khủng long thằn lằn-đuôi chim ứng với Lạc Long Quân-Âu Cơ. Chim ở đuôi nên khuôn mặt long ở đầu mang tính chủ. Điểm này dễ hiểu vì trên trống thì khuôn mặt nam Lạc Long Quân mang tính chủ (trên cồng âm nữ hay gương đồng khuôn mặt nữ Âu Cơ mang tính chủ giống như thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật có vật biểu là gương). Nhìn dưới diện lịch sử thì đây là liên minh Lạc-Âu phía nòng âm thái dương. Hình khủng long-đuôi lông chim dưới dạng kết hợp này làm liên tưởng tới sự hôn phối giữa Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung. Chử Đồng Tử có nghĩa là chàng Con Trai ‘Sống ở Bãi Sông’ (dân vạn chài, đánh cá), Chử biến âm với Cừ (với h câm, Chử = Cừ). Cừ là cây nọc đóng ven sông. Nọc, cọc là con trai. Cừ, Chử là chàng trai sống ven sông. Như thế Chử Đồng Tử thuộc dòng nước Lạc Long Quân. Tiên Dung có Dung là Dong như bao dung = bao dong. Qua từ đôi bao dong ta có Dung, Dong = bao, bọc. Lá dong dùng bao bọc, gói bánh chưng. Bao bọc là Nang (túi) là Nàng, Nường, Nòng (các Nàng, Nường có bao, có túi, dạ con). Bao, bọc cũng biểu tượng cho khí, gió, bầu không gian, bầu trời, túi trời (Ông Túi Trời là ông Thần Gió). Nàng Dung có khuôn mặt gió âm Tốn thuộc dòng Âu Cơ. Còn Tiên hiểu theo nghĩa giai nhân sống trên núi hiển nhiên cùng dòng Tiên Âu Cơ. Tiên có một khuôn mặt là Lửa, Chim. Theo duy dương Tốn OII là Nàng (O) Lửa (II). Như thế Tiên Dung có hai khuôn mặt: Tiên là Chim, lửa ứng với khuôn mặt Nàng Lửa Tốn của Âu Cơ và Dung, Dong là Gió ứng với khuôn mặt Nàng Gió Tốn của Âu Cơ. Như vậy Chử Đồng Tử con cháu Lạc Long Quân và Tiên Dung con cháu Âu Cơ. Sự hôn phối giữa Tiên Dung với Chử Đồng Tử là một dạng hôn phối Chim-Rắn nòng nọc, âm dương. Theo cùng ngành nòng âm cùng bản thể âm, ta có sự kết hợp giữa Chủ Đồng Tử có Chử là Nọc Nước dòng Chàng Nước Lạc Long Quân lấy Tiên Dung có Dung, Dong là Nòng Gió, Nường Gió dòng Âu Cơ với khuôn mặt Nàng Gió Tốn. Nếu nhìn theo nòng nọc, âm dương đối nghịch ta có Nọc Nước Chử Đồng Tử lấy Nường Tiên (Dung) dòng Âu Cơ với khuôn mặt Nàng Lửa Tốn. Bây giờ đối chiếu con khủng long đuôi lông chim này với truyện Chử Đồng Tử-Tiên Dung. Ta thấy rõ khủng lỏng rồng đất khổng lồ (nói theo cách lười biếng, tắt ngang ở Việt Nam hiện nay là ‘Rồng Khủng’) là một khuôn mặt của Lạc Long Quân-Chử Đồng Tử và đuôi chim là một khuôn mặt của Âu Cơ-Tiên Dung. Sự đối chiếu này cho thấy rõ trống Đào Xá, theo duy âm, cùng bản thể âm là trống kết hợp giữa khủng long Lạc Long Quân Nước dương Chấn với lông chim Âu Cơ Gió âm Tốn. Ta có một loại Dịch với Tiên Thiên bát quái trong đó Chấn hôn phối với Tốn (gió âm). Theo âm dương đối nghịch trống Đào Xá là trống hôn phối giữa khủng long Lạc Long Quân Chấn Nước dương với đuôi chim Âu Cơ Lửa âm Tốn (lửa âm). Trống Đào Xá là một trống diễn tả khuôn mặt Nòng Việt thái dương (Âu Cơ) nấp bóng Nọc Việt âm thái dương (Lạc Long Quân). Đây là một trống được cho là rất muộn tuy nhiên về phương diện Vũ Trụ thuyết và sử học đây là một trống độc nhất hiện nay là trống biểu của ngành Nòng Việt thái dương. Đây là trống độc nhất hiện nay có ánh sáng âm nòng vòng tròn. Đây là một trống quí nhất trong trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. …… TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN LÀ CỦA VIỆT NAM. Bộ sử đồng này là một bằng chứng nữa, một bằng chứng kiên cố, không thể chối cãi được là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, là của Bách Việt. Trống đồng tuyệt nhiên không phải của người Trung Quốc (xem Trống Đồng của Việt Nam hay Trung Quốc?). Điều đáng buồn là người Việt Nam quá thờ ơ với quốc bảo, với di sản văn hóa và tâm linh của mình, trong khi đó người Trung Quốc tận lực phổ biến, phát huy trống đồng cho dân tộc họ và cho cả trong cộng đồng thế giới. Từ phi trường Nam Ninh về thành phố là Đại lộ Trống Đồng với những kiến trúc trống đồng khổng lồ để dọc theo bên đường. clip_image152 Đại lộ trống đồng. Những cơ sở văn hóa, trung tâm thương mại xây dựng theo hình dạng trống đồng. clip_image154 Bảo tàng viện cũng là một kiến trúc trống đồng vĩ đại. clip_image156 Nhìn sự quảng bá trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn này của người Trung Quốc mà thấy rưng rưng nước mắt… Kết Luận Nhìn tổng quát trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chứa đựng một kho tàng văn hóa chính thống có cốt lõi dựa trên nguyên lý căn bản là nòng nọc, âm dương, chim-rắn, Tiên Rồng của Việt Nam. Trong đó có ba bảo thư bằng đồng là 1. Bộ Sách Văn Hóa Việt Bằng Đồng, Bằng Hình 2. Bộ Việt Dịch Đông Sơn Bằng Đồng, Bằng Hình 3. Bộ Việt Sử Đồng Đông Sơn Bằng Hình. Trống Đồng là Bộ Sử Đồng Bằng Hình chính thống của Đại Tộc Việt cách đây trên dưới 3.000 năm. Bộ sử này đã cho thấy sử miệng hay sử sách (dù có muộn về sau) vẫn giữ được nguồn cội ít nhiều so với sử đồng. Sử đồng cho thấy người Việt thuộc chủng Người Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ. Chủng người Tiểu Vũ Trụ gồm có hai ngành: -Ngành Nọc, Chim, Lửa, Mặt Trời ứng với Trụ của Vũ Trụ, ngành thần mặt trời Viêm Đế thái dương. Đây là ngành Nọc Việt thái dương. -Ngành Nòng, Rắn. Nước, Không Gian ứng với Vũ của Vũ Trụ, ngành thần không gian Thần Nông thái âm. Đây là ngành Nòng Bộc thái âm (Bộc hiểu theo nghĩa Bọc, Bao, Bầu đi với không gian). Đại Tộc Việt thuộc về ngành Nọc Việt thái dương. Trống có khuôn mặt chủ là nọc, đực (trống có một nghĩa chính là đực), mặt trời, Việt nên bộ sử đồng Đông Sơn có khuôn mặt chính là bộ sử của Người Việt Mặt Trời Thái Dương ngành Nọc Việt thái dương dòng thần mặt trời Viêm Đế. Nhìn chung trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Ngành Nọc Việt mặt trời thái dương. [Trong khi cồng (khuôn mặt âm của trống đồng) là cồng biểu của Nòng Bộc phía dương và gương đồng có một khuôn mặt là gương biểu của Nòng Bộc phía âm nữ]. Các Hùng Vương lịch sử là Vua Mặt Trời thuộc ngành Nọc Việt thái dương, di duệ của thần mặt trời Viêm Đế nên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có khuôn mặt chính là trống biểu của Hùng Vương lịch sử. Mỗi trống là một chương sử đồng, một vài ví dụ như: 1. Ngành Nọc Việt thái dương. Gần như hầu hết trống đồng nòng nọc, âm dươngcủa đại tộc Đông Sơn có mặt trời có tia sáng dương nọc mũi mác là trống biểu của ngành Nọc Việt thái dương. Trong đó có -Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương của ngành Nọc Việt thái dương. -Trống Hoàng Hạ là trống biểu của nhánh Nọc Việt âm thái dương của ngành Nọc Việt thái dương. -Trống Quảng Xương là trống biểu của Văn Lang 100 Lang Hùng gồm hai nhánh Người Chim Cắt Tiên và Người Rắn Dải Rồng. -Trống Miếu Môn I là trống biểu của Văn Lang thế gian Hươu Mang Hùng Kì-Sói Lang Hùng Lang. -Trống Đông Sơn IV là trống biểu của đại tộc Man Việt dòng Đế Minh. -Trống Phú Xuyên là trống biểu của đại tộc Kì Việt dòng Kì Dương Vương. -Trống Hòa Bình là trống biểu của đại tộc Lạc Việt, tộc Sấu Dao dòng Lạc Long Quân. -Trống Việt Khê là một trong những trống biểu của đại tộc Lang Việt dòng Tổ Hùng. ……. 2. Ngành Nòng Việt thái dương. Rất hiếm thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có mặt trời có ánh sáng âm nòng vòng tròn, trống biểu của ngành Nòng Việt thái dương. Hiện nay chỉ thấy có một trống Đào Xá. Ta hãy dùng bộ sử đồng này để kiểm chứng, đối chiếu, điều chỉnh và tu chính lại sử miệng và lịch sử Việt cho đúng. Hiện nay cổ sử Việt đã và đang bị diễn dịch và giáo dục sai lạc rất nhiều. Trống đồng là quốc bảo của Việt Nam và là bảo vật của thế giới. Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là di sản văn hóa Việt, linh hồn Việt, là khí thiêng sông núi Việt, là bài vị của tổ tiên Việt… TRỐNG ĐỒNG PHẢI LÀ MỘT DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI UNESCO CỦA VIỆT NAM. Như đã nói ở trên, ngoài ra trống đồng còn là bộ Việt Dịch đồng Đông Sơn duy nhất bằng hình của nhân loại và là quyển tự điển bằng đồng chữ nòng nọc vòng tròn-que của nhân loại, có dịp tôi sẽ nói trong tương lai. Góp ý về bài viết: Các vua Hùng lịch sử ứng với Tứ tượng - Bốn phương chính định vị (khi nói đến Ngũ hành bao gồm cả Âm Dương, chẳng hạn hành Thủy gồm cả quái Khảm và Càn) và khi liên hợp tới thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong sự vận động sự vật, hiện tượng: - Đế Minh ứng với hành Hỏa, quái Ly trên Hậu thiên Bát Quái - Hà đồ. - Kinh Dương Vương ứng với hành Mộc, quái Chấn_________________. - Lạc Long Quân ứng với hành Thủy, quái Khảm_______________. - Tổ Hùng ứng với hành Kim, quái Đoài___________________. Đặc biệt, vị trí trung tâm ứng với Thần Nông, hành Thổ,__________. Mặc dù theo truyền thuyết Thần Nông là Viêm Đế, phương nam, hành hỏa bởi vì khi nói đến vấn đề này thì Viêm Đế Thần Nông trong quy ước Đại vũ trụ - Tiên Thiên (có trước) so với các "Đế" khác. Còn phần trên, Thần Nông ở trung tâm Hậu thiên Bát quái - Hà đồ là cấu trúc Tiểu vũ trụ - Hậu thiên (có sau) tương đương Thiên cầu, liên kết giữa "Đế" và "Hoàng". Như vậy, mật mã lịch sử sẽ có hai phân lớp như đã trình bày. Nếu không thấu rõ quy tắc này, rất khó hoặc (thực sự) bế tắc hoàn toàn khi xác định các vị Hùng Vương Lịch Sử đầu tiên trong gia phả Hùng Vương và Tổ Tông của các ngài từ thời thời thượng cổ.
  23. Thôi thì, bỏ "Cục nợ xấu" của dân tộc cho nó rồi! Nhẹ gánh giang san. THẢO LUẬN VỚI CỤ HOÀNG THANH ĐẠM VỀ NGUYỄN TRƯỜNG TỘ BÙI KHA I. LỜI MỞ ĐẦU Cuối tháng 12 năm 2001, tôi có mua được cuốn “Nguyễn Trường Tộ Thời Thế & Tư Duy Cách Tân” mà tác giả là nhà sử học Hoàng Thanh Đạm, xuất bản vào tháng 3 năm 2001 tại TPHCM. Sách dày 336 trang, tác giả giành 24 trang để phê bình cuốn “Nguyễn Trường Tộ, Thực Chất Con người và Di Thảo” của Bùi Kha (bút hiệu là Nguyễn Kha) và Trần Chung Ngọc do Giao Điểm xuất bản vào tháng 4 năm 1998 (từ nay gọi là NTT,GĐ). Cuốn sách đem lại cho chúng tôi một niềm vui, vì từ lúc sách chúng tôi ra đời đến nay đã 4 năm, nhưng chỉ có một bài phê bình của ông Nguyễn Xuân Phong với lời tán thưởng. Nay có bài phê bình khác, chỉ trích nhiều hơn là đồng ý, vì thế, qua đó chúng tôi có dịp để đào sâu thêm vấn đề. Nhà sử học Hoàng Thanh Đạm có văn phong điềm đạm và thái độ chững chạc của một người nghiên cứu công phu, nên chúng tôi rất hân hạnh để trao đổi một số điểm dị đồng với nhà sử học lão thành nầy. Tổng quát, ông Hoàng Thanh Đạm có vài điểm tương đồng với chúng tôi lúc phê phán Nguyễn Trường Tộ, nhưng ông dùng chữ rất khéo như: “nhận thấy điều bất cập của Nguyễn Trường Tộ”, chứ không nói rõ hoặc có chỗ xử dụng lời lẽ “chua chát” như tôi (Bùi Kha), lúc thấy ai có thái độ hay hành động bán nước là tôi trở nên bực phiền. Do đó, văn phong có khi nặng về cảm tính mà cụ Hoàng (sinh năm 1926) lại cáo buộc sai lúc nghĩ rằng chúng tôi có tư tưởng “Bình Tây Sát Tả ”. Nhưng, có lẽ vì tuổi đời chồng chất và vì thiếu chứng liệu để bác bỏ luận điểm của chúng tôi về Nguyễn Trường Tộ nên rất nhiều chỗ cụ Hoàng tự mâu thuẫn với chính mình. Thí dụ: lúc phê bình Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc, trang 123, cụ Hoàng viết: “Đọc hết cuốn sách của hai bạn Việt kiều ở Mỹ, những người kính yêu Nguyễn Trường Tộ không khỏi liên hệ đến cách nhìn của các nhân vật chủ chiến thời Tự Đức từng đề ra khẩu hiệu “Bình Tây sát Tả ”. Đến trang 126, cụ viết: “Có thể nói rằng thái độ bài xích của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc đối với Nguyễn Trường Tộ là “có thể hiểu được” nhưng thực sự có thiên lệch, hoặc là quá nghiêm khắc, vì hai anh đứng trên một lập trường chủ chiến có phần cực đoan, tuyệt đối không chấp nhận bất cứ phương sách chủ hòa nào”. Nhưng qua trang 127, ông lại đoán rằng: “Hay là hai bạn ra sức công kích Nguyễn Trường Tộ để thỏa mãn yêu cầu của người đặt bài đang rất khó chịu vì những lời ca ngợi, đòi hỏi đổi mới...” Rất nhiều chỗ mâu thuẫn trong 24 trang phê bình cũng phát xuất từ những yếu tố khác, mà chủ yếu là tác giả muốn bẻ ngược lại những luận điểm của hai Việt kiều, nhất là muốn chứng minh tấm lòng của Nguyễn Trường Tộ đối với tổ quốc, nhưng lại không đủ sử liệu và logic, nên việc phê bình cho thấy quá nhiều “điều bất cập” của tác giả. Cũng vì thế, nên đoạn cuối trong bài phê bình (tr.128) tác giả viết thiếu logic: “Giữa thời đại ngày nay, thời đại của hòa hợp dân tộc...”. Tôi quan niệm rằng, hòa hợp dân tộc thì không nên hiềm khích hoặc khơi lại đống tro tàn, mà phải giáo dục quần chúng biết cái hay để bắt chước và cái dở nên bỏ đi, phải khoan dung và tha thứ tất cả, nhưng không có nghĩa là phải làm sai lạc hay chối bỏ lịch sử, hoặc sắp những kẻ Việt-gian ngang hàng với những anh hùng dân tộc. Đó là chưa nói đến những thành phần “sống trên quê hương nhưng vắng bóng giữa lòng quê hương”; họ chỉ kêu gọi hoà hợp và đoàn kết lúc ở thế yếu. Nhưng lúc mạnh hoặc đã kiếm được sự hậu thuẩn của ngoại bang, họ sẵn sàng rước voi dày mả tổ. Không thấy được điều nầy, quả là một “điều hết sức bất cập” khác của Hoàng sử gia. Thêm vào đó, bài viết có quá nhiều lỗi chính tả; không chấm câu trước lúc bắt đầu đoạn mới. Và trích ý chứ không phải trích nguyên văn bài viết của tôi, nhưng tác giả lại để đoạn văn trong ngoặc kép (“ “). Điều nầy cho thấy cách làm việc thiếu đứng đắn, làm sai lạc và đổi ý cả đoạn văn của người mà mình đang tranh luận. Đó là vài nhận xét tổng quát về bài phê bình trước khi đi vào những thảo luận lý thú về N.T.Tộ qua các sử liệu. Khách quan, Nguyễn Trường Tộ có vài ý tưởng xuất sắc như tôi đã nêu trong bài viết của mình: “...Trái lại có 3 Di Thảo không liên quan đến chính trị, kinh tế hoặc canh tân, nhưng về phương diện văn chương lý luận và sự kiện thì rất hay, xuất sắc, nhất là tác giả lúc bấy giờ đang ở lớp tuổi 35 và cách đây 130 năm. Đó là Di Thảo số 10 “Thảo Thư gởi Tây Soái ”; Di Thảo số 47 “Về Việc Cải Cách Phong Tục”; Di Thảo số 50 “Về Việc Chỉnh Đốn Quân Đội Và Quốc Phòng” (Ba Di Thảo nầy gồm 18 trang) {trích nguyên văn NTT, GĐ, tr. 11 &12}. Phần nhận định bản Di Thảo số 27 “Tám Điều Cần Làm Gấp” tôi cũng viết rõ về Nguyễn Trường Tộ: “Giọng văn điêu luyện có tính thuyết phục và nhiều đoạn rất thực tế đã mô tả được một số “bệnh trạng” của đất nước ta thời bấy giờ. Cách trình bày, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ dường như có thành tâm thiện chí đối với nước nhà” (tr.92)... Lác đác một vài ý tưởng khả dĩ có thể chấp nhận, được lồng vào trong vô số điều mâu thuẩn, sai lầm và tai hại của Nguyễn Trường Tộ đối với vận mạng quốc gia dân tộc, mà sử gia Hoàng Thanh Đạm, người đã để ra hơn 20 năm nghiên cứu ( ông cho biết như thế ) vẫn không thấy kế hoạch lộng giả thành chơn của ông N.T.Tộ. II. VẠCH NHỮNG SAI LẦM 1. Hợp tác với Pháp: Để có thể thấy rõ điều lợi hoặc hại lúc Nguyễn Trường Tộ đề nghị hợp tác với Pháp, chúng ta nên tìm hiểu tổng quát tình hình quân sự và chính trị thời bấy giờ. Về phía quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam, thì từ 1858 đến 1863, họ đang ở trong tình trạng nguy khốn, mà chúng tôi đã trích thuật qua sáu văn thư mật của các ông đô-đốc Pháp gởi cho chính phủ của họ. Xin xem các trích dẫn trong cuốn Nguyễn Trường Tộ, Giao Điểm xuất bản (tr.21-29). Ở đây, chỉ lược trích vài đoạn ngắn : “...Quả thật tôi thấy cần thiết và hết sức đau đớn xác nhận với ngài về tình trạng tồi tệ... chúng ta đang nhanh chóng tuột dốc đến kiệt quệ và đến lúc phải bất động tại Đà Nẵng ”(Đđ. Genouilly, 4.1.1859)...“Vì thế Hoàng-thượng tin cậy vào kinh nghiệm và sự sáng suốt của ông...có nên theo đuổi việc thiết lập nền bảo hộ trên vương quốc An Nam không... hay cuối cùng là chúng ta đành bỏ các vị trí... và từ bỏ mọi mưu toan...” (Bộ Hải Quân 8.4.1859)... “Càng đi sâu vào tình hình Vương Quốc An Nam... Không thể không thừa nhận rằng cuộc chiến tranh chống lại xứ nầy còn khó hơn cuộc chiến tranh chống lại thiên triều” ( Genouilly 21.9.1859)... “Người An Nam đã tỏ ra dày dạn chiến đấu, họ đã làm đảo lộn vai trò, giờ đây họ tấn công ngay những vị trí của chúng ta” ( lời kêu cứu của Bonard)... “ Các cuộc khởi nghĩa đồng loạt nổi lên khắp nơi... tôi bị đẩy vào thế tự vệ...” (Bonard 18.12.1862). Ngày 27.1.1863 Bonard cũng than thở: “Lực lượng chúng ta giảm dần... đang bị đuối sức từng ngày... không thể tiếp tục trong sáu tháng một chiến trận như thế nầy”. Sử liệu Việt Nam cũng viết: “Ngày 17.12.1862 nghĩa quân Trương Định tấn công đồn Rạch Trà của giặc Pháp, thu nhiều thắng lợi”. Qua ngày 18, “1.200 nghĩa quân Trương Định tấn công đồn Thuộc Nhiêu (trên đường từ chùa Cây Mai đi Mỹ Tho) tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Hai trận tấn công thắng lợi liên tiếp trong hai ngày 17 và 18.12.1862 này của nghĩa quân Gò Công đã làm cho thực dân Pháp hoảng sợ. Bonard phải khẩn cấp xin viện binh” (Dương Kính Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, 1858-1918, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Viện Sử Học, TP HCM, 1999, tr.34). Những sử liệu trên cho thấy tình hình quân sự đen tối của Pháp xẩy ra và đã kéo dài gần 5 năm, từ tháng 9, 1858 đến tháng 2, 1863, nghĩa là khoảng một tháng trước lúc Nguyễn Trường Tộ viết bài “Thiên Hạ Đại Luận”. Trong lúc quân thực dân nguy khốn đến thế thì Nguyễn Trường Tộ lại hù dọa: Tàu diệt Việt, Pháp diệt Á-đông... “ Quân ta mới nghe thân thế họ đã phách lảng hồn xiêu rồi... Ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa, ai hòa với họ thì được yên... Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách... nên để cho quân lính nghỉ ngơi... để họ (Pháp) giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới..” (NTT, Giao-Điểm tr.24-40). Những nhận định sai lạc có dụng tâm nầy đã ảnh hưởng đến chính sách của triều đình vua Tự-Đức và tinh thần chiến đấu của nghĩa quân. Tại sao Nguyễn Trường Tộ có những tư tưởng nghịch lý đến thế ? Tôi thấy có hai lý do chính: Lý do tình thế : Sau hòa ước Nhâm Tuất,1862, phong trào chống Pháp rất mạnh, làm cho công cuộc bình định của Pháp gặp nhiều trở ngại. Triều đình Huế chia làm hai: phe chủ chiến và phe chủ hòa.“Phe chủ chiến có rất nhiều ảnh hưởng và thế lực”. Thượng-tướng Ohier (quyền đô đốc) gởi thư cho triều đình vua Tự-Đức phản đối phong trào chống Pháp làm trở ngại chương trình bình định của ông ta (Nguyễn Thế Anh,“Việt Nam thời Pháp đô hộ”, Lửa Thiêng xuất bản, Saigon 1970, tr.63-64). Phong trào nghĩa quân kháng Pháp gây cho địch khó khăn đến nỗi :“Thực dân Pháp ra điều kiện: sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh-Long cho triều đình Huế, một khi triều đình Huế chấm dứt được các cuộc khởi nghĩa chống đối Pháp ở các tỉnh Gia Định, Định Tường, và phải gọi tất cả các thủ lĩnh nghĩa quân trở về, tuyệt đối không còn bóng dáng một ai tại hai tỉnh đó nữa” (Dương Kính Quốc, SĐD, tr.32). Như thế, kế hoạch “hòa với Pháp là thượng sách... cho lính nghỉ ngơi để họ giữ bờ cõi cho mình” của Nguyễn Trường Tộ là cái phao đúng lúc để quân Pháp thoát hiểm và giúp cho chương trình bình định của thực dân có thể thực hiện được! Lý do tín lý và giáo dục : Nguyễn Trường Tộ không muốn thực dân Pháp rút về nước nên ông đã cố ý đưa ra những nhận định sai lầm về tình hình quân sự và khuyên hòa với Pháp để cứu vãn cơn nguy khốn cho thực dân. Sau đây là một số sử liệu giải thích tại sao. Người Công-giáo thường có khuynh hướng ly khai với tổ quốc, vì điều răn thứ nhất trong 10 điều răn của tôn giáo nầy là “Thờ Thiên Chúa trên tất cả mọi sự”, mà giáo-hoàng là người đại diện cho Chúa theo tín lý Công-giáo. Do đó, điều răn thứ nhất phải hiểu là “Thờ giáo-hoàng và Vatican trên tất cả mọi sự”, mà việc Pháp đánh chiếm Việt Nam là do Vatican vận động và chủ động như chúng tôi đã chứng minh bằng nhiều tài liệu mật trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo” nói trên . Bởi thế, chúng ta không lấy làm lạ, những người như các Linh-mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Trần Lục, giáo sinh Trương Vĩnh Ký, Giám-mục Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Giám-mục Hồ Ngọc Cẩn, Giám-mục Ngô Đình Thục... đều làm tay sai cho Pháp. Còn tín đồ Công-giáo Việt Nam thì chính Đô-đốc thực dân Page cũng mô tả: “Ngoài ra không một người Việt Nam nào theo đạo Công-giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp, ông vua Việt nam không theo đạo không phải là vua của họ. Chắc bây giờ ngài (Bộ-trưởng) đã hiểu tại sao vua, quan đã coi các nhà truyền giáo là kẻ tử thù (Du reste, pas un Vietnamien catholique n’hesita à demander à s’enriler comme soldat sous les drapeau francais, les roi payen du Vietnam n’etait point leur roi “Votre Excellence comprenda sans doute maintenant comment le Roi et les mandarins regardent les missionnaires catholiques comme des ennemies ?" Depêche de L’amiral Page, du 14-12 et 25.12.1859. Archives Nationales, Fonds Marines BB4-777, cité par Cao Huy Thuan, pp. 128 & 129). Lịch sử cho thấy, đã là người Công-giáo thì luôn luôn nặng tình với Vatican hơn là đối với chính quốc gia của họ, danh từ thông thường để chỉ thái độ nầy là “vong-bản”. Thật vậy, ngay cả nước Mỹ, không có người nào theo đạo Công-giáo mà có thể đắc cử tổng thống. Ngoại trừ Kennedy là một trường hợp đặc biệt ngoại lệ trong lịch sử 44 tổng thống vừa qua của đất nước nầy, nhờ có tài, nói năng hoạt bát, đẹp trai. Lúc ra tranh cử, có người đặt câu hỏi với ông về bổn phận một công dân và bổn phận của một tín đồ. Kennedy trả lời rằng lúc nào có sự xung đột giữa quyền lợi tôn giáo và đất nước thì ông sẽ nghiêng về phía tổ quốc. Tuy nhiên, vào thập niên 1960, Vatican có thái độ hòa bình để cứu tín đồ của giáo hội trong các quốc gia chiến tranh, thì Kennedy cũng muốn triệt thoái quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam, và ông bị ám sát năm 1963, đến nay chưa tìm ra thủ phạm. Nhưng người ta nghi rằng, một trong những nguyên nhân chính đưa đến cái chết là vì ông có tư tưởng phản chiến như giáo-hoàng. Tư tưởng đó và việc dự định rút quân ra khỏi Việt Nam của Kennedy đã đi ngược lại quyền lợi của giới tư bản vì khí giới chiến tranh còn thặng dư sau Thế Chiến Thứ 2. Mà khí giới chiến tranh chỉ có thể tiêu thụ bằng chiến tranh khí giới. Đất Việt-Miên-Lào là thị trường thuận lợi nhất vào giai đoạn đó để Hoa-Kỳ trút bom đạn xuống. Nhưng bom đạn và dụng cụ chiến tranh đâu phải miễn phí. Chính phủ Mỹ dùng tiền đóng thuế của dân chúng và tiền của các nước đồng minh viện trợ để mua khí giới do các công ty Hoa-kỳ chế tạo. Một số lớn giai cấp tư bản được giàu nhờ có nhiều cổ phần trong các công ty và kỹ nghệ chiến tranh ấy. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ là Tết Mậu-Thân, 1968, có nhiều nơi tại miền Nam (Việt Nam) không quân Hoa-Kỳ ồ ạt thả bom bình địa. Thủ tướng Trần Văn Hương (VNCH) rất bực phiền nhưng cũng chỉ phát biểu được: “Đánh con ruồi, chúng ta không cần phải dùng cái búa”. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ không những chỉ dùng cái búa con để đánh ruồi mà họ dùng cái búa tạ. Và trong cuộc chiến tranh Việt-Nam trước đây, “để giết một người lính cọng-sản, Hoa Kỳ phải tốn hơn 400 ngàn Mỹ kim” (To kill one communist soldier cost the U.S. no less than $400.000. Joseph Buttinger,Vietnam the Unforgetable Tragedy, NY. 1977, p. 93), một cuộc chiến tranh tốn kém chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Và số khí giới Hoa Kỳ tiêu thụ tại Việt Nam bằng tổng số khí giới của hai cuộc Chiến Tranh Thế Giới cọng lại. Tôi trình bày hơi dài dòng về vấn đề nầy để chúng ta thấy mối dây chằng chịt giữa các tôn giáo Tây-phương nhất là Công-giáo La-Mã và vấn đề chính trị cũng như giữa tư bản và ý thức hệ... Sử gia Hoàng Thanh Đạm bênh vực Nguyễn Trường Tộ và lý luận rằng: “... những khó khăn mà tướng soái Pháp nêu lên là ở thời điểm 1858-1862, trong đoạn khởi đầu xâm lược, còn điều mà Nguyễn Trường Tộ nói trong Thiên hạ đại thế luận về thế áp đảo của Pháp là ở thời điểm 1863 ” (Cách Tân, tr.112). Nhận định như vậy là nhà sử học Hoàng Thanh Đạm thấy một mà không thấy được nhiều hơn. Vì ông Nguyễn Trường Tộ tự khoe là cái gì cũng biết hết, vậy thì tình trạng quân Pháp yếu quân ta mạnh trong giai đoạn trước lúc, không phải sau khi , viết bài “Thiên hạ đại thế luận” tại sao ông không biết ? Hơn nữa, một trong 6 văn thư mật mà tôi nêu trên là vào năm 1863; thời gian Nguyễn Trường Tộ viết bài chiêu dụ ấy. Để biết rõ thêm thái độ Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình hòa với Pháp là có hậu ý và dụng tâm của một người Việt không ngay, chúng ta nên biết thêm sử liệu sau đây: Ngày 16.10.1858, Nguyễn Trường Tộ, Linh-mục Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và 5 người Việt Nam khác cùng đi với Giám-mục tình báo Gauthier đến cửa Mành Sơn, tại đây:“...Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà nẳng đứng đầu là Giám-mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng đô-đốc chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Saigon. Do đó trước khi đem quân vào Saigon, Đô-đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hồng Kông. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ và những người tháp tùng đã đi Hồng Kông trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859” (Giao-Điểm, SĐD, tr.166-167, dẫn theo TBC, SĐD, tr.22). Nhắc lại đoạn sử liệu nêu trên để thấy rằng, Nguyễn Trường Tộ đã không tham gia các phong trào chống Pháp. Trái lại, ông theo sát gót giầy của thực dân từ ngày chúng bắt đầu chà đạp quê hương, 1.9.1858. Ông là một trong những phần tử “làm áp lực để Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm”. Bị Đô-đốc de Genouilly đuổi đi Hồng-Kông. Đến năm 1861 lại theo gót thực dân về làm thư ký cho Tổng hành-dinh Soái phủ tại Sài Gòn để chúng mở rộng vòng chiếm đóng. Từ năm 1858 đến năm 1863, ít nhất là hơn 4 năm ròng rã ông đi theo Pháp và sát cánh với Giám-mục tình báo Gauthier. Yêu nước Việt hay nước Pháp mà lạ đến thế ? Từ những sự kiện trên chúng ta có thể nói, Nguyễn Trường Tộ biết rất rõ tình hình nguy khốn của quân Pháp, nhưng ông sợ Pháp rút quân về nên viết bài để hù dọa quân dân ta và giữ chân Pháp. Nếu quả thật ông không biết tình hình của ta và Pháp đã và đang xảy ra xung quanh ông và trên các vùng mà Pháp vừa chiếm được tại Đà Nẵng và Sài Gòn, thì ông có thể biết được gì mà dám bàn “Thiên hạ đại thế luận”, tức là luận bàn những tình thế lớn trong thiên hạ! Sự mâu thuẫn quá lớn như thế, những người bênh vực N.T. Tộ trả lời thế nào ? Để hiểu rõ hơn, một lý do khác cho thấy hậu ý Nguyễn Trường Tộ khuyên dân Việt Nam hợp tác với Pháp, chúng ta nên tìm hiểu về nội tình của Pháp tại Việt Nam và tại Âu-châu trong giai đoạn Nguyễn Trường Tộ viết bài chiêu dụ “Thiên hạ đại thế luận” đầu năm 1863. ‘Theo hòa ước Nhâm Tuất, 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng, nhưng sự chiếm đóng nầy phần lớn là ở trung tâm thành phố, còn các đồng bằng và vùng lau sậy do nghĩa quân điều khiển. Các cuộc hành quân của Pháp rất vất vả trong các vùng nầy; lính bị muỗi đốt và nước độc sinh sốt rét và dịch tả chết rất nhiều. Mặt khác, nghĩa quân đánh theo lối du kích làm cho giặc Pháp tổn thất nặng nề. Hơn nữa, từ lúc bắt đầu đánh Nam-kỳ đến lúc đạt được hòa ước 1862, Pháp phải mất hơn 4 năm và thiệt mạng trên 2 ngàn người, đó là một con số rất lớn vào thời điểm ấy’ (Theo NTA, SĐD, tr. 25-54). Vì thế, các ông đô đốc Pháp đã than thở như chúng ta thấy ở trên. Với tình hình như thế, Nguyễn Trường Tộ làm việc dịch thuật cho Tổng hành dinh của quân đội viễn chinh Pháp, sống sát cánh với tên tình báo Gauthier, thì ông không thể không biết Pháp đang khốn đốn. Vì vậy, ông viết thêm nhiều bài khác khuyên triều đình cọng tác với Pháp để giải tỏa khó khăn cho thực dân. Còn sử gia Hoàng Thanh Đạm không đồng quan điểm nầy, nhưng ông đã không trưng bày được một sử liệu nào để làm nền tảng cho luận điểm của mình. Một cách gắn gọn, trong khi sáu bức thư mật của các đô đốc thực dân than thở về tình hình quân sự bi đát của họ tại Việt Nam, và tình hình chính trị tại Âu-châu cũng không thuận tiện cho lực lượng Pháp muốn mở rộng thêm vùng chiếm đóng tại Sài-gòn, thì Nguyễn Trường Tộ lại viết tiếp: “Theo cách ngày nay thì nên để cho quân lính nghỉ ngơi... để họ (thực dân Pháp, BK) giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới”. Lý luận nầy cũng giống như nói rằng trong nhà có nhiều cô con gái đẹp, nên để cho hải tặc gìn giữ thì bọn sở khanh sẽ không “bén mảng tới ”. Thật là “cao kiến” chẳng còn gì để phê phán ! Đọc kỹ “Thiên hạ đại thế luận” và những bài chiêu dụ khác của nhà thuyết khách họ Nguyễn, chúng ta sẽ thấy nhiều điều hết sức mâu thuẫn và sai lầm có dụng tâm. Lối trích dẫn của Hoàng sử gia cũng đầy mâu thuẩn và không để ý đến sự kiện và sử liệu. Ông viết: “Tháng 5.1863, viết Trần tình khải, ông (N.T.Tộ, BK) thanh minh rõ thái độ của mình trước quân thù xâm lược:“Đối với những hạng người cho quân Pháp là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt mà bảo như thế là làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà tự diệt uy phong của mình...Tôi lại đem những lợi hại phương Tây xa xôi ra so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh được lâu dài. Xin cứ hỏi những người xung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không...” (Hoàng Thanh Đạm, SĐD, tr.114). Đoạn vừa dẫn cho chúng ta thấy một sự mâu thuẫn quá lớn: Bài “Thiên hạ đại thế luận” viết vào khoảng tháng 3-4.1863, ông nói rằng quân ta yếu, quân Pháp mạnh. Nhưng chưa đầy 2 tháng sau ông viết như trên: có nghĩa là quân Pháp yếu, quân ta mạnh. Như thế, ông đã phủ nhận những điều viết bậy có hậu ý trong bài “Thiên hạ đại thế luận”, và nói giống tôi. Thực ra, lúc viết “Thiên hạ đại thế luận”, N.T.Tộ cố tình xuyên tạc lịch sử để cứu nguy cho Pháp như tôi đã chứng minh. Nhưng có lẽ vì bị phản đối hoặc thấy sai lầm quá lộ liễu, nên viết bài khác để bào chữa và bảo vệ mình. Cũng vì tâm chất dối trá nên tiền hậu bất nhất. Vì thế, ông đã không thấy sự mâu thuẫn to lớn về hai bài vừa viết cách nhau chưa đầy 2 tháng ! Còn sử gia họ Hoàng đã nhọc công nghiên cứu đến hơn 20 năm, lại trích dẫn hai bài viết gần nhau của N.T.Tộ, trong đó mâu thuẫn rõ ràng đến thế mà không thấy, lại bênh vực ông ta và cho tôi viết sai về tình hình quân Pháp, và cố ý chối bỏ sự thực lịch sử trong các tài liệu mật của Pháp về thế khốn cùng của chúng, nên cụ Hoàng viết tiếp:“Chúng ta không vội nghi ngờ độ tin cậy của những câu trích dẫn (của Bùi Kha) được dịch ra tiếng Việt lại còn đăng tải cả nguyên văn tiếng Pháp” (HTĐ, SĐD, tr. 111). Một điểm quan trọng khác là trong bài nầy Nguyễn Trường Tộ viết :“...lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành Sơn để chận đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của quân đội Cần Vương...” . Mặc dầu Lm. Trương Bá Cần không nói rõ trong sách, nhưng tôi được biết rằng ông không biết chữ Nho, nên 58 bản chiêu dụ đều do ông Lý Kim Hoa dịch ra Việt-ngữ . Tuy vậy cả dịch giả lẫn tác giả Trương Bá Cần đã không thấy cụm từ “quân đội Cần-Vương ” [1] được nhắc đến trong bài “Thiên hạ đại thế luận” viết vào đầu năm 1863. Trong lúc đó, quân đội Cần-Vương chỉ xuất hiện 22 năm sau khi vua Hàm-Nghi bỏ kinh thành đi kháng chiến do cuộc nổi dậy chống Pháp bất thành tại Huế ngày 7. 5.1885. Nhiều tác giả, trong đó có sử gia Hoàng Thanh Đạm, đã trích dẫn và ca tụng ông N.T.Tộ hết mình qua bài chiêu dụ nầy, nhưng quên để ý sự sai lầm trong thời gian tính của từng biến cố, cho nên có thể đây là một bài ngụy tạo. Dù ngụy tạo hay thật, và cụm từ nào đó bị dịch nhầm thành “quân đội Cần Vương”, nhưng nếu đọc kỷ bài nầy chúng ta cũng sẽ thấy cái tư tưởng: Ăn cơm Việt nam, thờ giặc Pháp của N.T. Tộ như đã chứng minh. 2. “ Lấy thịt đè người” : Sử gia Hoàng Thanh Đạm đã dẫn chứng rất nhiều nhân vật tên tuổi ca ngợi Nguyễn Trường Tộ, trong đó có cụ Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh. Quan điểm của tôi là mỗi nhân vật đều có sở trường và sở đoản, nhất là trong thời kỳ Pháp thuộc và đất nước chiến tranh, nhiều tài liệu mật bị khóa chặt trong các thư khố, còn một số sách thì được viết bởi phần lớn các người theo Công-giáo, mang đầy tình cảm tôn giáo, che đậy và đảo lộn sự thực vì mặc cảm. Thí dụ, ngay cả đến sau năm 1994, tiến-sĩ Thần-học Linh-mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, trong cuốn “Divers Voyages Et Missions”, dịch cụm từ “Plusieur Soldats” là vài binh lính. Lại còn chú thích là lính thừa sai chứ không phải lính chiến. Giáo-sư Chương Thâu, Viện Sử-học Hà-nội, lại bênh vực và đồng ý ngữ nghĩa nầy. Mà thực ra chữ “plusieur soldats” có nghĩa là nhiều binh lính và chữ missionaires mới có nghĩa là lính thừa sai (tức là giáo sĩ), và chữ quelque mới có nghĩa là (một) vài. Người ta cố tình đổi nghĩa văn tự như vậy để che đậy cái tội vận động chính phủ Pháp vào xâm chiếm nước ta của Linh-mục A. De Rhodes (năm 1652). Một thí dụ khác, Thánh-kinh Tân Ước xuất bản tại thành phố HCM năm 1997. Theo mấy trang đầu và lời giới thiệu của Tổng Giám-mục Nguyễn Văn Bình thì ban dịch thuật có đến 14 người gồm các linh mục, tu sĩ và những người có hiểu biết chuyên môn về Thánh-kinh và đã để ra hơn 20 năm để nghiên cứu và dịch thuật, nhưng có nhiều chỗ sai, nhất là chương 15, đoạn 22-26 sách Ma-thi-ơ (Matthew). Các dịch giả đã cố tình dịch sai có hậu ý mà tôi đã vạch rõ trong cuốn “Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi ?” (Giao Điểm, tái bản lần thứ nhất 2001, tr.13-18). [2] Vì thế, trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người và Di Thảo” trang 184 tôi có đặt câu hỏi :“Một con người như thế tại sao có nhiều người nhầm lẫn ? Để ca tụng ông bằng những danh từ cao quí...” Tôi đưa ra mấy lý do: 1. Thiếu sử liệu; 2. Vài tác giả trích vài câu, vài đoạn rồi ghép lại với nhau, nhưng không đọc hết toàn bài và lồng nó vào trong bối cảnh của tình hình lúc bấy giờ để tìm xem hậu ý của Nguyễn Trường Tộ đang thập thò sau bức màn canh tân là gì, v.v. Chính tôi lúc đầu cũng đã lầm và ca tụng ông về việc sửa đổi võ bị đến 11 trang trong bản thảo. Nhưng sau đó sực nhớ lại cuốn “Tôn Ngô Binh Pháp” mà tôi có đọc lúc học lớp 9. Sau khi đem ra đối chiếu, tôi đã tìm ra ít nhất là 6 binh lược mà Nguyễn Trường Tộ lấy từ trong đó lại còn không đề xuất xứ. Do đó, vấn đề đúng sai không thể hoàn toàn căn cứ vào số đông mà phải căn cứ vào sử liệu có chính xác hay không. Hơn nữa, chúng ta nên hiểu rằng lời ca ngợi của Chủ-tịch Hồ chí Minh đối với N.T.Tộ là mang tính chính trị và tâm lý của một chính khách, chứ không phải là lời phát biểu của một người nghiên cứu. 3. Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước?: Cũng thế, nhằm mục đích chứng minh cho bằng được Nguyễn Trường Tộ có lòng yêu tổ quốc, sử gia Hoàng Thanh Đạm viết “Sau khi đã mất 6 tỉnh Nam-kỳ, triều đình cuống quýt lo toan cử người sang Pháp chuộc lại, thì Nguyễn Trường Tộ trong di thảo số 36 ngày 7.4.1868, bàn với triều đình nên “bãi bỏ việc cử phái bộ đi Pháp...” Ông khuyên nên tính kế lâu dài, dầ⮠nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp...” (Cách Tân, SĐD, tr.116). Sử gia họ Hoàng cứ nghĩ N.T.Tộ thật sự yêu nước nên mới có cái “cao kiến” ấy, chứ không chịu tìm hiểu tình hình Pháp và Âu-châu thời bấy giờ để biết cái hậu ý tại sao ông Việt gian nầy lại khuyên triều đình nên “Bãi bỏ việc cử phái bộ đi Pháp” ? Tôi xin trả lời hộ sử gia bằng sử liệu dưới đây: Tình hình Âu-châu lúc nầy rất bất lợi, không cho phép Pháp tiến hành một cuộc chiến tranh mới.“Đô-đốc La Grandiere nhận được lệnh phải từ bỏ mọi dự định chiếm đóng ba tỉnh miền tây Nam-kỳ”... “Chính phủ Pháp phản đối mọi biện pháp vũ lực có thể làm nước Pháp lâm vào một cuộc chiến lâu dài với Triều-đình Huế. Nhưng Đô-đốc de La Grandiere trông đợi ở sự thành công của hành động của ông để đặt chính phủ Pháp trước một sự việc đã rồi. Tân Bộ-trưởng Hàng-hải , Rigault de Genouilly, luôn luôn khuyến cáo La Grandiere phải tránh tất cả những gì có thể làm cho Triều-đình Huế lo ngại. Ngày 10.6.1867, ông còn viết cho La Grandere là: “Mặc dầu tình trạng (chính trị Âu-châu) bớt căng thẳng hơn, nhưng cho tới khi có lệnh mới ông đừng nghĩ tới chuyện biểu dương lực lượng đối với ba tỉnh. Cho nên, phản ứng đầu tiên của Rigault de Genouilly khi được tin quân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây là bất mãn đối với La Grandiere... Điều quan trọng đối với ông (La Grandiere, BK) là làm sao khiến Triều-đình Huế chấp nhận sự việc đã xảy ra (đã chiếm 3 tỉnh miền Tây, BK); ngày 30.6.1867, ông gởi thư cho vua Tự-Đức để đề nghị thương lượng, nhưng vua Tự-Đức bằng một văn thư lời lẽ cứng rắn, trách cứ La Grandiere đã lạm dụng sức mạnh mà xâm phạm quyền lợi của chính phủ Việt Nam... Nhà vua còn tỏ ý là sẽ phái sứ giả sang Paris để thương lượng thẳng với chính phủ Pháp” (Nguyễn Thế Anh, SĐD, tr. 54, 58, 59 & 60). Vua Tự-Đức nhất quyết không chịu thương thuyết với La Grandiere, nên tên thực dân nầy đã xử dụng đường lối chính trị khác. Theo phó tiến sĩ Y.Tsuboi thì:“Khi đạo quân bên nầy không thể áp đảo bên kia được thì tìm một giải pháp chính trị. Người Pháp biết rõ như thế và bằng cách sai một nhân viên mật vụ, Charles Duval, đến Bắc-kỳ với sứ mệnh xúi giục một cuộc nổi loạn chống chính quyền (Huế, BK), liên kết với giáo dân – đó là cuộc nổi loạn do Lê Duy Phụng chỉ huy – họ hướng Triều-đình Huế đến cuộc đình chiến ở Nam-kỳ” (Y.Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1847-1885, bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, Ban Khoa Học Xã Hội Thành Ủy, TP HCM, 1990, tr.261-262). Như vậy, nếu Triều-đình Huế cử sứ bộ đi Pháp thì La Grandiere sẽ bị thượng cấp khiển trách và Việt-nam có thể đã lấy lại được 3 tỉnh miền Tây Nam-kỳ. Sự cố nầy dĩ nhiên là ông đô-đốc, các ông giáo sĩ, những kẻ Việt-gian, trong đó có Nguyễn Trường Tộ, không muốn ! Đó mới là lý do để ông viết thư khuyên triều đình “Bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp ” vào năm 1868, chứ chẳng phải ông Tộ có lòng yêu nước như sử gia Hoàng Thanh Đạm lầm tưởng ! Tôi sẽ trở lại vấn đề nầy ở một đoạn sau, và sẽ dẫn thêm một số sử liệu khác để thấy tâm địa thờ Pháp của N.T.Tộ. Biết được hậu ý của ông Tộ, nên trong bài trước đây tôi đã viết rõ :“...tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ không được bố cục một cách nhất quán, mà viết theo những biến chuyển của tình hình và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam cũng như theo bối cảnh lịch sử Việt Nam thời đó”(NTT, Giao Điểm, SĐD, tr.9) để dối gạt triều đình và cứu nguy cho Pháp ! 4. Nhà nuôi trẻ: Sử gia Hoàng Thanh Đạm viết “...Một kiến nghị thực tâm thiện chí như thế bị anh Nguyễn Kha thêm vào mấy chữ “do giám mục tình báo Gauthier cử người điều khiển” lập tức biến thành một âm mưu hại nước” (HTĐ, SĐD, tr.122). Như tôi đã viết trong bài, Nguyễn Trường Tộ lộng giả thành chơn; ông đưa ra một vài nhận định trông có vẻ hợp lý để đánh lừa, nhưng mục đích không phải nói cái nầy mà cái khác, cái hậu ý đàng sau đó. Nói theo kiểu người miền Nam:“Nói dậy nhưng không phải dậy ”. Tôi cũng đã đưa ra hai thí dụ về vai trò của các giáo-sĩ thời bấy giờ. Thứ nhất là vụ Linh-mục Ân ở Xuân Hòa (Huế). Thứ 2 là vụ Thiên Tân Giáo Án ở Trung Quốc (Nguyễn Trường Tộ, Giao Điểm, tr.131-133). Thực ra trong lịch sử có rất nhiều trường hợp phản loạn do người Công-giáo chủ xướng như Lê văn Khôi, con nuôi Lê Văn Duyệt, chiếm toàn tỉnh Gia Định năm 1835. Giáo-sĩ Marchand (cố Du) đóng vai cố vấn và yểm trợ với âm mưu thiết lập một “Vương quốc Công-giáo ly khai ”. Sau khi triều đình dẹp yên, gần 2000 giáo dân bị chém còn Marchand bị xử “lăng trì”. Cùng thời, tại Bắc-kỳ, Tạ Văn Phụng được các giáo sĩ đổi tên thành Lê Duy Phụng rồi cùng với giáo dân nổi loạn chống lại triều đình với chiêu bài “Khôi phục nhà Lê”. Năm 1850 ở Trung Quốc có loạn “Thái Bình Thiên Quốc” của Hồng Tú Toàn với đạo quân Giê-su đánh chiếm nhiều tỉnh. Hiện tượng núp dưới chiếc áo chùng thâm [3] và xử dụng chiêu bài tự do tôn giáo cho mục tiêu chính trị, cũng được công sứ Bonnal cho biết: “Khi một giáo sĩ đã thiết lập được một xứ đạo trong một làng rồi thì chuyện gì sẽ xảy ra? Người bản xứ từ chối không đóng thuế, tuyên bố không thừa nhận chính quyền nào ngoài chính quyền của ông giáo sĩ, là người đích thân dạy cho giáo dân không thừa nhận chính quyền nào ngoài chính quyền của giám mục...” (Tiến-sĩ Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Tại Việt Nam, 1858-1897, Hoa-kỳ 1995, tr. 360-361). Ngay cả đến năm 1886 mà ông linh mục Việt gian tên “Trần Lục, quản xứ Phát Diệm...nhận phép của Giám-mục Puginier rồi tiếp viện cho quân Pháp 5 ngàn giáo dân. Vì vậy chiến lũy Ba Đình của Đinh Công Tráng bị thất thủ” (... père Tran Luc, curé de Phát Diệm… Celui-ci avec la bénédiction de Mgr. Puginier vint à la rescousse des Francais avec 5000 chrétiens. Et Ba Dinh fut pris 뮠F. Rouvier, Loin du pays, Paris 1896, p.103-104, cité par le Father Tran Tam Tinh, Dieu et Casar, Paris 10.1978, pp. 41 & 42). Ngay gần 100 năm sau thời N.T. Tộ, con quạ lúc nào cũng vẫn màu đen: “Những giáo-sĩ Công-giáo tự động trở nên những“tác viên chính trị” tạo thành nền tảng quyền lực chính trị của Giáo-hội bất cứ nơi nào họ dựng lên những cọng-đồng Công-giáo” (Avro Manhattan, Catholic Imperialism and World Freedom, London 1952, P.365, NTT, Giao-điểm, SĐD, tr. 218, bài viết của Tiến-sĩ Vật-lý Trần Chung Ngọc ). Xin xem thêm kế hoạch Liên Minh Thánh và lời tuyên bố của Giáo hoàng Phao Lồ 2 trong cuốn NTT, GĐ, SĐD, tr.153, 154. Giám-mục Puginier cũng cho biết tín đồ Công-giáo là những người Pháp tay trong: “Không có các giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp cũng giống như cua bị bẻ gãy hết càng” (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes). Hành động của giáo sĩ và giáo dân như thế mà ông Nguyễn Trường Tộ lại đề nghị mỗi tỉnh mở một nhà nuôi trẻ do giám mục cử người đến điều khiển. Phải chăng, đó không phải là một hành động giúp cua thêm càng để có được một cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền toàn cõi Việt Nam do chính các giáo sĩ chỉ huy con chiên dưới trướng họ? Sử gia Hoàng Thanh Đạm phê bình chúng tôi như trên, nhưng ông không nêu ra được một chứng cớ nào để cho thấy nếu theo kế sách đó của ông Tộ thì sẽ không có tình trạng nào đáng tiếc xẩy ra cho tổ quốc ? Giả sử N.T. Tộ có “thành tâm thiện chí” chứ không có âm mưu làm lợi cho Pháp như sử gia Hoàng Thanh Đạm hiểu lầm thì tôi đoan chắc rằng, kế hoạch nầy của N.T.Tộ sẽ giúp cho Pháp đánh chiếm Việt Nam mau lẹ và rút ngắn thời gian đồng hóa dân tộc ta mà thầy của ông từng chủ trương như tôi đã trình bày (NTT, SĐD , tr. 118-128 ). 5. Trọng tâm phê phán nhắm vào tôn giáo?: Đây cũng là một trong những điểm chính mà sử gia họ Hoàng phê bình. Ông còn cẩn thận hơn lúc viết :“Nguyễn Kha dùng tới 77 trang trong 188 trang của luận văn...và Trần Chung Ngọc dành 48 trang trong 70 trang để nói về các vấn đề tôn giáo nhằm phê phán Nguyễn Trường Tộ”. Tôi không xem lại để thấy số trang như vậy có đúng không. Nếu có, cũng không phải vì thế mà bài viết của chúng tôi giảm giá trị. Vả lại, tại sao chúng ta phải tránh né không chịu mỗ xẻ con người và cái tôn giáo đã tác hại cho tổ quốc và cả nhân loại ? Nhưng điều thiếu sót của Hoàng sử gia là không thấy trong hầu hết các bài viết, Nguyễn Trường Tộ đã lồng tư tưởng Thánh-kinh, nói đến giáo hoàng, nhắc tên mấy ông giám mục, linh mục Việt-gian và tình báo rồi đề nghị dùng họ vào việc canh tân và những việc khác. Ông Tộ đã xử dụng hầu hết 58 bản chiêu dụ để nói về Thánh-kinh, để thuyết khách theo sách lược của Pháp, của Vatican và của phái đoàn truyền giáo Hải-ngoại Paris. Dẫu sao, vấn đề quan trọng vẫn không phải ở chỗ tỉ số bao nhiều phần trăm trong bài viết nói về tôn giáo mà vấn đề là bàn đến “canh tân”(?), tại sao nhà thuyết khách họ Nguyễn lại đem những ý niệm sai lầm về Ki-tô-giáo, về Kinh Thánh, giáo-hội, giám-mục, linh-mục vào hầu hết các bản chiêu dụ với dụng tâm gì ? Do đó, nếu chúng tôi có nhiều trang viết về tôn giáo thì đó là điều không thể tránh. Nhưng nếu so với những bản chiêu dụ, chúng tôi thấy Nguyễn Trường Tộ thuyết minh về tôn giáo của ông đến khoảng 90 phần trăm. Và dĩ nhiên, Nguyễn Trường Tộ và có lẽ cả sử gia Hoàng Thanh Đạm chưa biết điều nầy: mấy năm trước đây,“Hội Jesus Seminar”, gồm các giám mục, mục sư, linh mục và các học giả người Công-giáo và Tin Lành, qua nhiều năm nghiên cứu Thánh-kinh, đã khám phá ra rằng “80% Thánh-kinh được ngụy tạo” (Jesus Seminar, which recently declared that Jesus did not say 80% of what is attributed to him. LA Times, 30.3.1991). Vì thế, Thánh-kinh được in thành hai loại mực, đỏ và đen. Mực đỏ là thật, mực đen là ngụy tạo. Thánh-kinh là tôn chỉ của một tôn giáo, cũng như hiến pháp là kim chỉ nam cho một quốc gia. Vậy mà tôn giáo đó lại được thiết lập trên cuốn Thánh-kinh ngụy tạo đến mức độ như thế thử hỏi còn gì là giá trị của nó ? Dẫu vậy, cuốn Thánh-kinh vẫn được xử dụng như một loại khí giới hiệu nghiệm nhất, và mấy chữ “tự do tôn giáo” đã được khai thác triệt-để trong quá khứ để chiếm thuộc địa và đồng hóa dân lành. Ngày nay nhãn hiệu tự do tôn giáo đang bị lạm dụng để ngoại bang theo đuổi một chính sách thực dân mới. Vì thế, Nguyễn Trường Tộ cặp kè với ông giám-mục tình báo và trình bày nhiều về tôn giáo của ông trong hầu hết các bài chiêu dụ là lý do cần phải hiểu . Ông là một trong những người xử dụng chiêu bài canh tân và sách lược tôn giáo nhằm đặt cái thứ có đến 80% ngụy tạo ấy lên đầu dân tộc ta để khống chế trước hết là lãnh thổ và tiếp theo là văn hoá. Chúng tôi không dám bàn thêm vấn đề nầy mà muốn thuật lại lời than phiền cay đắng về đạo Tin-lành và Công-giáo, [4] của vị giám mục Anh-giáo Desmond Tutu, người Phi-châu, được giải thưởng hòa bình Nobel năm 1984, như sau: “Lúc người da trắng đến, chúng tôi có đất đai, họ có cuốn Thánh-kinh. Chúng tôi tin tưởng họ, nhắm mắt lại và cầu nguyện với cuốn Thánh-kinh trong tay. Lúc mở mắt ra, chúng tôi có cuốn Thánh-kinh, còn họ có tất cả đất đai của chúng tôi..” (We have our lands and they came with their Bible. We believe in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands). Sử gia Hoàng Thanh Đạm có thể cũng chưa có thông tin sau đây:“Từ 1975, số tân tòng Tin Lành Việt-nam thuộc các dân tộc thiểu số tăng 4 lần...Ý niệm về ngày xuống thế thứ nhì của Chúa vang vọng hấp dẫn đặc biệt với dân Hmong...Cọng-sản VN không quên rằng người Pháp đã cho dân Hmong (Mường) tự trị, và Hmong cũng đã được Mỹ hứa hẹn nhiều thứ. Nicholas Tapp, một học giả Hmong, nói, “Dân Hmong luôn luôn muốn có một quê hương riêng...” Vài nhà truyền giáo đã không ngần ngại hứa hẹn với dân Hmong rằng nếu họ chấp nhận đức tin Kitô (Công-giáo và Tin-lành, BK) thì họ sẽ có quê hương riêng, cũng như sự giàu có như người Mỹ” (báo Thời-Luận, Los Angeles, CA. Hoa-Kỳ, 29. 9.1999). Hai cái bánh vẽ: Chúa xuống thế lần thứ nhì để cứu chuộc và giàu có như Mỹ đã làm cho một số bộ lạc dân-tộc Thiểu-số nỗi loạn muốn ly-khai. Mà chính họ lại không biết rằng, ngài Giê-su đã không tự cứu được mình nên bị đóng đinh vào cây Thập-ác, ngài quá đau khổ khóc la, nước mắt chảy tràn trụa. Cứ nhìn vào ảnh tượng của ngài trong nhà thờ thì thấy rõ. Còn sự giàu có, nhìn nước Phi luật-Tân kế cạnh Việt-nam. 80% theo Kitô nhưng có giàu hơn Việt-nam không? Mặc dầu Phi độc lập và tự trị trước Việt-nam từ lâu. Và nhiều quốc-gia Châu Mỹ La-tinh theo Tin-lành toàn diện, lại là những nước nghèo nhất thế giới! Trong lúc đó, Nhật chỉ có 1% Tinh lành, Công giáo không đáng kể, Phật giáo đa số lại là một nước giàu thứ nhì trên thế giới. Những người đi dụ kẻ khác cải đạo để làm hại cho tổ quốc Việt-nam trả lời thế nào? Một trong những chủ trương của tôn giáo độc thần Tây-phương là đổi đạo dân miền Thượng để thiết lập những quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn, chúng tôi đã báo động 6 kế hoạch của họ trong bài “Những Đại Pháp Nạn Của Phật Giáo Việt Nam” trong cuốn “Phật Giáo Trong Thế kỷ Mới” tập I, Giao Điểm xuất bản năm 1996, và được nhắc lại trong cuốn Nguyễn Trường Tộ nói trên. Do đó, tháng 2 năm rồi (2001), tại Pleiku người sắc tộc đòi độc lập tự trị, chúng tôi đã biết trước nên không ngạc nhiên . Mấy thí dụ trên cho thấy đến thế kỷ nầy mà người ta còn trắng trợn chủ trương như thế huống nữa là thời ông Nguyễn Trường Tộ. Và do đó, một lần nữa chúng ta thấy rõ hơn tại sao ông Tộ lồng ý niệm Thánh-kinh, nói về Thượng-đế, nhắc đến giáo sĩ... vào hầu hết các bài khuyến dụ. Nghiên cứu ông Tộ hơn 20 năm mà Hoàng sử-gia vẫn chưa thấy cái chiêu bài tôn giáo lại còn phê bình sai: “Trọng tâm phê phán của N. Kha và T. C. Ngọc đối với N. T. Tộ tập trung nhất vào vấn đề tôn giáo” (HTĐ, SĐD. tr. 105). 6. Thực tâm mở Trường Kỹ Thuật?: Bài viết trước đây, tôi đã dành gần 20 trang (từ tr.110-130) để bàn luận về vấn đề nầy một cách khá đầy đủ, từ việc tốn kém mua sắm dụng cụ đến việc khao đãi của nhà vua và sự tán đồng chương trình mở trường kỹ thuật của các quan đại thần trong triều. Tôi cũng nêu lên lập luận sai lầm của Linh-mục Trương Bá Cần về lý do khiến việc mở trường thất bại, cũng như sự mâu thuẫn giữa lý lịch do Bộ Truyền Giáo Paris cho biết và tờ trình về khả năng các thầy giáo mà Tộ và Gauthier trình lên vua Tự-Đức . Tôi nghĩ là vì thiếu thận trọng và cố tình đánh bóng cho ông Tộ, nên Lm Tiến-sĩ sử học Trương Bá Cần đã để lại vô số mâu thuẫn và sai lầm trong sách của ông mà tôi sẽ phê bình vào một dịp khác. Lúc phân tích và đối chiếu sự mâu thuẫn nầy, tôi để đoạn văn trong ngoặc kép và in chữ nghiêng rõ ràng. Nhưng sử gia Hoàng Thanh Đạm trích sai rồi chê tôi, và ca ngợi Nguyễn Trường Tộ điều mà ông ta không hề có. Hoàng Thanh Đạm viết (trang 122): “Anh (Nguyễn Kha) chứng minh việc thầy giáo không có khả năng là: một ông thi đậu cử nhân văn chương mà nói là biết phép toán học, bản đồ và điện khí, một ông thì mới gia nhập Hội-truyền-giáo, đi học khóa kiến trúc một năm mà nói là thạo môn đồ bản và biết làm cột thu lôi...” Ý cũng như lời của đoạn văn nầy không có trong bài viết của tôi. Trái lại, tôi trích nguyên văn của Linh-mục Trương Bá Cần như sau (Nguyễn Trường Tộ, Giao-Điểm 1998, tr.115-117): “Theo một tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21 (23-2-1868): - “Linh mục Thông, (tức Montrouzies) biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim; biết nói có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi”. Nhưng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris, thì Linh mục Montrouzies trước khi nhập Hội Truyền giáo Paris, ngày 1-5-1867 đã đậu cử nhân văn chương. - “Linh mục Đồng (tức Renauld) biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng, biết làm thu lôi trụ”. Nhưng cũng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris thì sau khi học xong chủng viện, Linh mục Renauld gia nhập Hội Truyền Giáo Paris 14-10-1866 và theo học một khóa đặc biệt về kiến trúc và họa đồ một năm trước lúc lên đường sang Việt Nam. - “Giáo sĩ (tức bác sĩ Hernaiz) không phải linh mục hay tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi giáo sĩ như Nguyễn Trường Tộ⠣ũng được gọi là giáo sĩ, “thì không dạy học trò được vì nặng tai, nhưng cũng giúp Linh mục Thông mà phân tích các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc”. Nhưng tới Việt Nam chưa được mấy ngày “giáo sĩ” nầy do bệnh cũ tái phát đã xin về Pháp trở lại”. - “Còn Ca Xanh (nguyên tên là Ca sa nhi) là một người thợ máy, trước đã giúp việc tàu Thuận Thiệp, có lẽ do giám mục gặp ở Sài gòn đem về giới thiệu với triều đình, nhưng Ca Xanh đòi lương quá cao (320 đồng/tháng, tính ra tiền là một ngàn, bảy trăm sáu chục quan) và đòi hỏi nhiều điều kiện, nên không dùng” (TBC, SĐD, tr. 49 & 50). Đoạn văn trên (trong sách của Linh-mục Trương Bá Cần, người ca tụng NTT) đã cho chúng ta thấy sự mâu thuẫn và lừa dối về khả năng của thầy giáo do Nguyễn Trường Tộ và Gauthier mời về để mở trường kỹ thuật hay không ? Sử-gia Hoàng Thanh Đạm viết bài tranh luận với chúng tôi nhưng trích dẫn sai cả ý lẫn lời. Ông tiếp tục: “Tất cả những chuyện nầy Trương Bá Cần đều viết rõ trong tác phẩm N.T.Tộ Con Người Và Di Thảo, và Nguyễn Kha đều sử dụng tư liệu của Tr.B.Cần, nhưng anh lờ đi đoạn văn quan trọng của Trương Bá Cần: “Triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam-kỳ đã mất vào tay Pháp (... nên có 3 chấm, BK). Việc dự án mở trường ở Huế không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong triều đình (...) Còn có cả một luồng dư luận khá rộng rãi trong triều đình cũng như ở các tỉnh tỏ ra dè đặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ Pháp (...) Những ngày tháng 4.1868 có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với người Công-giáo” ( Tr.B.Cần, sđd. tr. 51-53 , Hoàng Thanh Đạm, tr.122-123). Sử gia Hoàng Thanh Đạm trách không đúng. Vì cụ cho đoạn văn đó là quan trọng nhưng tôi không nghĩ như thế. Vì vậy mà tôi không trích chứ không phải “lờ đi ”. Thực ra, tôi đã bác bỏ luận điểm sai lầm của Linh-mục Trương Bá Cần về vấn đề thất bại trong việc mở trường và đã viết rõ như sau: “Qua sự khao thưởng như trên mà tôi trích dẫn dài giòng để thấy, triều đình Tự Đức cũng biết chiêu hiền đãi sĩ. Ngay cả việc vua Tự Đức đồng ý đề nghị của Giám mục Gauthier và Giám mục Sohier xây dựng trường sở trên hai mẫu đất nằm giữa nhà thờ Kim Long và tòa Giám mục Huế, theo thư của Giám mục Gauthier viết ngày 31-3-1868 (TBC, SĐD, tr. 50). “Nhưng việc mở trường chưa bao giờ được thực hiện. Lý do, theo Linh mục Trương Bá Cần là bị Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình, hai vị quan có thế lực trong triều ngăn cản. Cũng theo Linh mục Trương Bá Cần (SĐD trang 52) ngày 31-3-1868, Giám mục Gauthier gởi thư cho bộ truyền giáo có đoạn như sau: “Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử phái bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ nầy... Trong các quan thượng thư có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua”. “Linh Mục Trương Bá Cần nêu lý do trên để kết luận “vì thế mà trường không mở được”. Theo tôi lý do nầy không đúng. Thứ nhất, trong tờ tấu của Cơ Mật Viện, ngày 4-3-1868 mà chúng ta đã thấy ở trên, có Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình đề nghị ban thưởng cho phái bộ và 4 giáo chức. Điều đó cho thấy, nếu hai vị nầy có ý cản trở thì họ đã không đề nghị vua Tự Đức ban thưởng như vậy. Thứ hai, thư của Giám mục Gauthier gởi cho bộ truyền giáo, đề ngày 31-3-1868, nghĩa là 27 ngày sau khi bảy vị đại thần đề nghị ban thưởng cho “phái bộ Gauthier...”. Thư cho biết, vua Tự Đức đồng ý dùng hai mẫu đất để xây trường sở. Sự đồng ý của vua Tự Đức không thể không có sự tham khảo với các đại thần trong đó có Nguyễn Tri Phương và Vũ Trọng Bình. Hơn nữa Trần Tiễn Thành mới là nhân vật chính trong Triều (chức phụ chính) sau vua Tự Đức chứ không phải Nguyễn Tri Phương hoặc Vũ Trọng Bình. Thứ ba, Linh mục Trương Bá Cần trích dẫn chỉ có một đoạn thư “gởi cho bộ truyền giáo" như trên, không nói lên được điều gì cho thấy hai vị thượng thư đó cản trở. Việc trích dẫn như vậy không rõ ràng, không chứng minh được luận điểm mà Linh mục Trương Bá Cần muốn nói. Theo tôi, những lý do chính để việc mở trường không thành vì triều đình Tự Đức quá tin tưởng Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ, trái lại hai ông nầy thì lừa dối triều đình có hậu ý: kẻ thì ngu muội chạy theo ngoại bang, người thì khoác áo chùng thâm để làm gián điệp. Sau đây là một số bằng chứng” (8 đoạn chữ nghiêng trên là trích nguyên văn trong cuốn NTT, Giao-Điểm, tr.113-115). Sử-gia Hoàng Thanh Đạm đọc nhưng không thấy được các chứng cớ tôi đưa ra, nên đã nhận định sai lầm về những sự kiện lịch sử cũng như về người mà mình đang tranh luận. Vì thế ông viết tiếp: “Rõ ràng việc mở trường ở Huế không thành là do nguyên nhân thời thế chứ không phải do giám-mục Gôchiê và Nguyễn Trường Tộ là người đã cất công đi lo toan việc nầy trở mặt đánh lừa nhà vua bằng cách chọn thầy dạy học thiếu năng lực. Vả lại có ai cấm một cử nhân văn học mà có thêm hiểu biết về kỹ thuật, một linh mục học về kiến trúc một năm mà có được khả năng dạy vẽ đồ bản và cách làm cột thu lôi. Lời buộc tội của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc thật là gượng ép” (HTĐ, SĐD, tr.123). Về nội dung đoạn văn này, tôi không những đồng ý cách đánh giá của sử-gia Hoàng Thanh Đạm về khả năng thầy giáo, mà còn muốn nói thêm rằng bằng cấp chỉ là một nấc thang giá trị nào đó của học vấn, chứ nó không nhất thiết sẽ cho thấy kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ. Một chuyên gia không cần có bằng cấp nhưng có thể có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về vấn đề mà mình muốn dạy cho người khác. Trong bài tôi không hề nói ông thầy giáo nầy chỉ có bằng cử nhân văn chương, ông linh mục kia chỉ có bằng kiến trúc sư ... Mà tôi trích văn thư của Bộ Truyền-giáo qua LM Trương Bá Cần. Rất mong sử gia Hoàng Thanh Đạm nên đọc kỹ hơn lúc tranh luận để tránh tình trạng “Trật đường rầy” (out of context). Giả sử không có ai cản ngăn và không vì hoàn cảnh v.v...như Lm. Trương Bá Cần nêu ra, nghĩa là trường kỹ thuật được mở như dự liệu, thì xin Sử-gia Hoàng Thanh Đạm cho biết bốn ông thầy giáo nêu trên với khả năng và tư cách (mà Bộ Truyền-giáo của họ cho biết) như thế, liệu họ có thể dạy cho trường kỹ thuật được không ? Tôi nghĩ không. Nhưng nếu có ai trả lời có thì câu hỏi khác được nêu ra: thầy trò gián điệp Gauthier - Nguyễn Trường Tộ một mặt : muốn “biến Bắc-kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ ” rồi đồng hóa toàn dân Việt Nam như tài liệu mật đã cho thấy, mặt khác lại muốn giúp dân Việt Nam tiến lên để giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân qua con đường giáo dục kỹ thuật, phải chăng không có một sự mâu thuẫn quá lớn ? Trong sách (từ tr.117-129) tôi đã dẫn 5 sử liệu mật của Pháp cho thấy Giám-mục Gauthier là một tên gián điệp nguy hiểm nhất tại Việt Nam thời bấy giờ, ông ta chỉ thua ông giám mục gian ác nhất, Puginier, có một bậc! Còn Nguyễn Trường Tộ ít nhất là 10 năm ròng rã, từ lúc ra cửa Mành-sơn, phụ sức “làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm” vào năm 1858, đến lúc lao xao mở trường kỹ thuật vào 1868, vai kề vai lòng cạnh lòng với tên gián điệp Gauthier mà không biết ông ta là gián điệp, có ai tin nỗi điều đó không? Câu “thầy sao trò vậy”, va蠦#147;Cho tôi biết anh lân la với ai tôi sẽ nói anh thuộc thành phần nào” (Dire moi qui tu hantes je dirai qui tu es) sẽ không sai trong trường hợp Nguyễn Trường Tộ. Giả sử Nguyễn Trường Tộ thật tình không biết thầy mình là tên gián điệp phá nước mình, hại dân ta, thì việc ông lớn tiếng tự khoe cái gì cũng biết (NTT, GĐ, tr.177) sẽ trở thành một kẻ đại ngôn khoác lác và dối trá. Nếu biết mà không tố cáo lại còn viết “... xin giám mục giúp đỡ... Đừng cho giám mục biết tôi đã bàn với triều đình như thế..., Những việc Giám-mục Gauthier có thể giúp”, như thế thì quả thật đó là một loại ngôn ngữ kiểu gián điệp để đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin mà thôi. Nên dùng ngữ nghĩa nào để đánh giá N.T. Tộ đây? 7. Bình Tây Sát Tả?: Sử gia Hoàng Thanh Đạm cho chúng tôi có tư tưởng “Bình Tây sát Tả ”. Đó là lời cáo buộc chỉ đúng một nữa, Bình Tây. Cũng như nghĩ rằng chúng tôi viết bài theo lối đặt hàng, và không muốn nước nhà canh tân đổi mới. Xin trả lại những ý nghĩ không có cơ sở và vu khống này cho sử gia. Mong rằng, không nên cáo buộc bất cứ người nào lúc mình không có bằng chứng. Trở lại vấn đề bình Tây sát Tả. Sở dĩ chúng tôi không có tư tưởng“Sát Tả” vì tín đồ Công-giáo và Tin-lành nguyên họ là những người Việt chân thật đầy lòng yêu nước thương nòi. Nhưng lúc trở thành con chiên, chính sách giáo dục của hai tôn giáo nầy đã biến họ từ một người Việt yêu nước thành những kẻ bán nước. Do đó, họ là nạn nhân của các ông giáo hoàng, nạn nhân của các ông giám-mục, linh-mục và mục sư, mà trên hết là nạn nhân của hai cuốn “Thánh” kinh; Tân-ước và Cựu-ước. Vì thế, như trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ, Thực chất con người và di thảo” trước đây, chúng tôi đã chứng minh rằng tại Việt-nam, các tín đồ Phật-giáo, Khổng-giáo và Lão-giáo không bao giờ bị triều đình hay vua chúa trừng phạt, nhưng chỉ có các tín đồ đạo Ki-tô bị mà thôi vì lý do như đã nêu trên. Đó là mấu chốt của vấn đề, chứ chẳng phải có gì khó hiểu để sử gia Hoàng Thanh Đạm cho rằng chúng tôi không hiểu được cái nghịch lý của thời cuộc, nghịch lý tôn-giáo và nghịch lý của triều-đình. Để rõ hơn, chúng ta nên lắng nghe những lời phát biểu sau đây: Giáo-sư Lý Chánh Trung, một trí thức Công-giáo trong cuốn “Tôn Giáo và Dân Tộc” phát biểu rằng ‘Đặt mình vào địa vị của các vua quan nhà Nguyễn thời bấy giờ, chúng ta cũng không thể làm khác hơn được’. Đô-đốc R.de Genouilly cũng khẳng định: “Không một nền cai trị nào, dù là phục vụ cho đạo Công-giáo, lại có thể dung thứ cho sự xâm phạm thường xuyên và ngu xuẩn vào các vấn đề chính trị, dân sự, và quân sự vốn không được và không phải thuộc quyền hạn của họ” (các giáo sĩ, BK). Hiến pháp 1917 của Mễ Tây Cơ đặt giáo hội Công-giáo ra ngoài vòng pháp luật, mặc dầu 80% dân Mễ theo Công-giáo. Giáo-hội Công giáo Mễ bị truất hữu tài sản, linh mục và bà xơ bị cấm không được dạy học, không được nuôi trẻ, không có quyền bầu cử, ứng cử, ra đường không được mặc áo dòng...Sở dĩ hiến pháp phải buộc chặt tay họ như thế vì sợ họ bán nước cho ngoại bang như họ đã từng làm trong quá khứ. Ngay cả đến ngày nay mà nhân loại còn đặt mình trong tình trạng báo động về Ki-tô-giáo (Công-giáo và Tin-Lành). Thật vậy, quốc hội Nga ngày 22.7.1997 thông qua một dự luật với đa số tuyệt đối “Cấm Tin Lành và Công-giáo truyền đạo tại Nga, ngoại trừ Hồi, Do Thái, Phật và Chính-thống-giáo” (It pleges respect for Islam, Judaism, Buddhism, and the nation’s largest faith, Russian Orthodoxy. LA Times, Wed. July 23, 1997). Còn Do-thái và hầu hết các quốc gia Hồi-giáo, vì an-ninh quốc-gia, vì chủ quyền đất nước và toàn vẹn lãnh thổ, nên họ không bao giờ cho phép các giáo-sĩ Kitô đến truyền đạo trên đất nước họ. Dẫu vậy, cũng chẳng có cường quốc nào hoặc tổ chức nhân quyền nào lên án vi phạm tự-do tôn-giáo và nhân quyền đối với các nước nầy. Gần chúng ta, hiện nay Trung Quốc cũng vẫn còn sợ cái “Đạo quân thứ năm (Fifth Column) là Công giáo và Tin-lành, đang mai phục sẵn trong nội địa ! Vì thế, trước ông Nguyễn Trường Tộ cả trăm năm, đại tư tưởng gia Voltaire (1694-1778) đã nhận định “Suốt 17 thế kỷ qua, Công-giáo và Tin Lành chẳng làm nên tích sự gì, chỉ có hại mà thôi ” ( The Christian sect has done nothing but harm). Tháng 2, 2001, đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành ở Pleiku đòi độc lập tự trị. Vì an ninh quốc gia và vẹn toàn lãnh thổ, và giả sử đó là chính quyền do Sử-gia Hoàng Thanh Đạm lãnh đạo, tôi không nghĩ là ông có thể ngồi yên ? Thế kỷ 17, sau những cuộc nổi dậy của giáo dân, chính phủ Nhật nhờ có Hòa Lan giúp sức, đã tiêu diệt được những kẻ nội thù trên quê hương họ vào năm 1637. Do đó, lúc canh tân, Nhật không bị các lực cản. Còn Việt Nam, giả sử vua quan nhà Nguyễn có chương trình canh tân, thì chính thầy trò Nguyễn Trường Tộ sẽ chống phá trước tiên. Vì nếu không, làm sao ông Giám-mục tình báo Gauthier thực hiện được kế hoạch “biến Bắc-kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ” như ông đã từng chủ trương? Gauthier là một tên gián điệp cao cấp, tôi đã chứng minh bằng 5 tài liệu mật không thể chối cãi! Vì vậy, cựu thẩm phán Charlie Nguyễn, vốn là một trí thức Công-giáo, đã hô lớn: “Cách mạng 1 tháng 11, 1963 Muôn Năm. Điện Biên Phủ Muôn Năm. Bình Tây Sát Tả Muôn Năm” (Charlie Nguyễn, “Công-giáo Trên Bờ Vực Thẳm”, Giao Điểm, hè 2001, tr.). Mặc dầu chúng tôi chỉ đồng ý việc “bình Tây” mà không “sát Tả ”, nhưng mỗi người có một cách nhìn chủ quan tuy cùng phát xuất từ tinh thần yêu nước như chúng ta. Vì thế, suy nghĩ chín chắn và nhìn lịch sử theo chiều dài của nó, từ đó có thể rút ra được một bài học để tránh những tái phạm. Một số vấn đề khác mà nói ra sẽ bị mất lòng, đụng chạm và dễ bị hiểu lầm. Nhưng dù nói hay không, thì nó là một sự thực không thể chối cãi. Đó là Phật-giáo, Cao Đài và Hòa Hảo, tuy có số lượng tín đồ đông tại nhiều nơi ở Việt Nam nhưng họ không bao giờ đòi độc lập tự trị. Trái lại, nếu là Công-giáo hay Tin-lành thì sự việc sẽ xảy ra. Lúc ở thế yếu, họ kêu gọi đoàn kết và hô hoán “không có tự do tôn giáo”. Nhưng lúc mạnh, họ giết và cưỡng bách kẻ khác phải theo họ, đổi đạo. Ngay cả những vấn đề như hôn nhân giữa các cặp vợ chồng, họ cũng “bắt bí”, cũng như lợi dụng hoàn cảnh tang chế của những gia đình nghèo để vào phút lâm chung cải đạo người ta. Tình trạng nầy đã kéo dài từ lâu, nay vẫn còn tiếp diễn. Thật là một sự vi phạm nhân quyền và chà đạp quyền tự do tôn giáo trắng trợn và phi lý đến thế ! Vậy mà cứ mở miệng ra là hô hoán “Vi phạm nhân quyền, chà đạp quyền tự do tín ngưỡng ”. Làm như hai thứ đó là đặc sản của riêng họ, không ai được phép đụng đến ! Hơn tám cuộc “Thánh” chiến đẫm máu trong lịch sử nhân là một bài học bi thảm. Đông Timor ở Nam Dương, sau bao năm biểu tình bạo động xương rơi máu đổ, đã độc lập tự trị sau một cuộc bỏ phiếu (tháng 8, 1999) là một bài học khác. Tin Lành và Công-giáo tại Bắc Ái Nhĩ Lan đang còn chém giết nhau vì số lượng tín đồ của hai tôn giáo nầy xấp xỉ bằng nhau. Tại Việt Nam, nếu một ngày nào đó số lượng con chiên Công-giáo và Tin-lành tăng lên ngang ngửa với tín đồ các tôn giáo khác thì Việt Nam sẽ nội chiến, và sẽ có nhiều tiểu quốc tự trị trên giải đất hình cong chữ S! Do đó, bất cứ ai, có thái độ “bảo hoàng hơn vua”, không dám đối diện với sự thực hoặc uốn bút theo thời, xa rời lịch sử là điều rất đáng phàn nàn và đắc tội với tổ quốc. Sử gia Hoàng Thanh Đạm viết: “Trong lịch sử các tôn giáo khác nhau công kích nhau thậm tệ là chuyện bình thường. Có khi còn chém giết nhau nữa”. Chúng tôi cũng biết sử gia muốn nói gì trong câu nầy. Chúng tôi chỉ mong rằng ông đừng sợ, cứ nói rõ tên đó là tôn giáo nào, như thế câu văn mới đủ nghĩa. Và nếu khách quan, chúng ta sẽ thấy trong suốt chiều dài lịch sử, Phật-giáo chưa bao giờ và sẽ không bao giờ làm đổ máu bất cứ một ai để bảo vệ hay bành trướng hoặc bất cứ một lý do nào khác. Trong giáo lý đạo Phật, không có chỗ nào Phật dạy phải làm hại kẻ khác, kể cả các sinh vật hữu tình lẫn vô tình. Từ đó để thấy cuộc khủng bố tại Mỹ tháng 9 năm 2001 vừa qua đã cho chúng ta thấy rõ thêm rằng từ nhiều ngàn năm nay, phần lớn các cuộc chiến tranh đều phát xuất từ tôn giáo, nhưng trong đó không có Phật-giáo. Chú thích: [1] Trong cuốn “NTT, GĐ, tr.8, phần chú thích tôi đã viết: “Bài viết nầy tôi không tìm hiểu mức độ chính xác của việc dịch các bài Điều Trần từ nguyên bản chữ Hán và lúc sao chép từ bản gốc, người chép lại có thêm bớt hay bỏ sót câu nào hoặc đoạn nào không” . [2] Đó là chưa nói đến, những gián điệp văn hóa và tình báo được ngoại bang huấn luyện rồi để lại trên đất nước Việt-nam sau năm 1975. Những thành phần nầy, thường cố tình tráo trở lịch sử để chạy tội và để phục vụ cho ngoại bang [3] Áo màu đen, rộng của các giáo-sĩ. [4] Lúc so sánh sự tác hại giữa Công-giáo và Tin-lành, Đại-tá Robert Ingersoll ví Công giáo như con cá sấu lớn (alligator) và Tin-lành như con cá sấu nhỏ( crocodile) [Công-giáo chính sử, Trần Chung Ngọc, tr.259-260]. III. NHỮNG MÂU THUẪN VÀ SAI THỰC TẾ Để thấy rõ hơn về ông Nguyễn Trường Tộ, chúng tôi tóm lược một số mâu thuẫn và sai thực tế giữa ý kiến của ông và tình hình chính trị cũng như thực trạng xã hội lúc bấy giờ. 1. Nguyễn Trường Tộ: “Ai hòa với họ là phúc, chống lại họ là họa... hòa với Pháp là thượng sách... nên cho lính nghỉ ngơi... để Pháp giữ bờ cõi cho mình như có hổ báo trong rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới... Quân ta mới nghe thanh thế Pháp đã phách lãng hồn xiêu...”. Nhưng các tài liệu mật của Pháp cho thấy từ 1858 đến năm 1863, tình hình quân đội Pháp tại Việt Nam vô cùng nguy kịch. Họ có ý định rút về và bỏ hẳn mọi mưu toan đánh chiếm Việt Nam. Hơn nữa, lúc tổ quốc lâm nguy, giang sơn bị quân thù chiếm đóng mà “Cho lính nghỉ ngơi” thay vì tổng động viên. Một “danh nhân” cho đất nước nào mà kỳ quái đến thế ? 2. Nguyễn Trường Tộ: “Tại sao giết giáo sĩ ”. Ý kiến của Đô-đốc R. De Genouilly: “Không một nền cai trị nào, dẫu phục vụ cho đạo Công-giáo, lại có thể dung thứ...” 3. Nguyễn Trường Tộ: “... giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo giáo chống gian tà,... chẳng liên quan gì đến việc tranh thành tranh đất cả ”. Nhưng Đô-đốc Boanrd (ngày 24.7.1862) cho biết: “Nếu những ai nối vị vua Gia Long mà không theo ý của các ông giáo sĩ, thì họ sẽ phủ nhận tính chính thống của vua nầy, và khi lật đổ được triều đình hiện tại, thì sẽ bầu lên một ông vua khác theo ý họ... Còn tu sĩ dòng Dominique Tây Ban Nha, thường chiếm cứ miền thượng du Bắc Việt, họ lại còn bất trị hơn”. 4. Nguyễn Trường Tộ: “Lúc đầu dân bản xứ xem họ như thù địch, dần dần chịu gần gũi... những người dân ở đây đã học được hết những kỹ xảo của người phương Tây, cho nên không đầy 100 năm sau đã đuổi được người phương Tây ra khỏi đất mình... Họ là kẻ phở hoang mà ta thì hưởng cái thành quả” ! Tộ viết như vậy để thuyết phục Việt Nam hợp tác với Pháp. Nhưng lịch sử cấu trúc của Hoa Kỳ không cho thấy như thế. Ông viết tiếp: “Xin kể ra các phương pháp làm hột nổ và đúc súng, đúc kim loại, cùng các môn quang học, cơ học, hóa học, khai thác mõ than”. Nhưng đọc trong bài và kể cả các bài chiêu dụ khác chúng ta cũng không thấy ông nêu ra một phương pháp nào cả. 5. Nguyễn Trường Tộ: “Rồi ta lại qua nước La Mã thông hiếu với giáo hoàng...” để nhờ giúp đỡ. Nhưng kể từ Giáo-hoàng Innocent X, 1652, đến những ông giáo hoàng kế tiếp, tất cả đều vận động để Pháp chiếm nước ta. Dưới đây, là vài sử liệu thu gọn: “Bí thư của phái đoàn Pháp ở Trung Quốc... tiếp xúc với các đại diện Giáo-hoàng ở Thái Lan, Việt Nam và Kampuchia. Căn cứ vào các tin tức do những người này cung cấp, chính phủ Pháp đã quyết định phái Montigny thực hiện sứ mệnh trong vùng này... các vận động được hỗ trợ bằng sự can thiệp của các nhân vật quan trọng như Tổng-giám-mục Bonnechose ở Rouen và của chính Hoàng-hậu, bà này đã thuyết phục được vua, dù lúc đó vua không có kế hoạch thực dân nào rõ rệt. Các vận động này được thực hiện bởi hai người truyền giáo: Linh-mục Huc,... cựu đại diện Giáo-hoàng ở Trung Quốc... và Giám-mục Pellerin đại diện Giáo-hoàng tại Bắc Nam-kỳ”... Kế đến tháng 11, Giám-mục Pellerin đi Rôma, Giáo-hoàng Pie IX tán thành các vận động...” (đánh chiếm Việt-nam, BK). Do đó, tôi đã kết luận: Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình thương hiếu với giáo hoàng cũng tương tự như khuyên cha mẹ gởi con cho cọp. 6. Nguyễn Trường Tộ: “Gấp rút việc sửa đổi võ bị”. Nhưng về chiến lược, thì ông cóp nhặt ý trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp. Về binh, ông khuyên nên cho lính nghỉ ngơi thay vì phải tổng động viên, phải nghiên cứu phương pháp huấn luyện như thế nào, đánh theo cách nào cho hợp với tình hình mới và các phong trào nghĩa quân hiện có nên chỉnh đốn bổ túc thế nào để chống Pháp có hiệu quả hơn, v.v... Giả sử đất nước có điều kiện và phương pháp để canh tân, và ngay cả trong thời bình, cũng cần binh lính để giữ an ninh trật tư,uống nữa là thời chiến mà lính thì ông Tộ khuyên nên cho nghỉ ngơi. Thật là nghịch lý! Còn giải pháp nhờ người Anh huấn luyện lính cho ta mà ông Tộ đề cập trong bài “Lục lợi từ”, tôi đã chứng minh là không thể thực hiện được. Hơn nữa, dụng tâm chính của Tộ là dụ triều đình gởi con cho cọp. Tất cả các bài chiêu dụ, trong đó có bài LLT, của Tộ cũng được viết theo tình hình chính trị của Pháp và Việt Nam thời bấy giờ để bủa lưới, nhưng được ngụy trang và theo lối tình báo để che đậy cái hậu ý của mình, chứ chẳng phải canh tân canh cải gì đâu mà lầm! Để rõ hơn xin đọc tiếp dưới đây. 7. Nguyễn Trường Tộ: “Giờ đây trong số các quan viên văn võ có những vị nào quê ở lục tỉnh Nam-kỳ, triều đình phải đặc biệt ưu ái họ. Cho họ thường xuyên về thăm anh em họ hàng. Phải đãi ngộ họ thân mật nồng nàn hơn trước, khuyên bà con họ hàng của họ không nên dời nhà cửa đi nơi khác, đừng lánh đi xa” (Di Thảo số 27, TBC, SĐD, tr.239). Tại sao Tộ khuyên như vậy ? Vì dân Nam-kỳ lúc đó đã làm cho thực dân khó bình định các vùng mới chiếm, như Sử-gia Chesneaux mô tả:“cuộc ra đi” hàng loạt của các bậc sĩ phu và của dân chúng, rời bỏ các tỉnh miền Đông Nam-kỳ bị người Pháp chiếm đóng, để về vùng tự do ở miền Tây, và tổ chức kháng chiến. “Thái độ bất hợp tác chung khắp nơi đó buộc các đô đốc toàn quyền, muốn duy trì bộ máy hành chính Pháp tại Nam-kỳ, chỉ còn xử dụng được một số tối thiểu những công chức Việt Nam (phiên dịch, thư ký...) mà thôi. Và duy chỉ có những phần tử kém hạnh kiểm nhất trong dân, tình nguyện đứng ra phục vụ cho những ông chủ mới. “Đề-đốc Rieunier, về sau, nói rằng “Chúng tôi chỉ có những giáo dân và bọn du thủ du thực” (Xin xem thêm NTT, Giao Điểm, SĐD, tr.59-65). Đó là thêm một bằng chứng cho thấy cái tâm địa và hành trạng của ông Tộ, là một người “phục vụ những ông chủ mới”, một phần tử trong“những giáo dân và bọn du thủ du thực” núp dưới chiêu bài canh tân ! Chúng ta nên thận trọng, chớ lầm. 8. Nguyễn Trường Tộ: “Bổ túc kế hoạch đánh-úp Gia Định” viết ngày 9.2.1871. Vì tình yêu tổ quốc và tự ái dân tộc, nên cụm từ “Kế hoạch đánh úp Gia Định” dễ khiến chúng ta có nhiều thiện cảm và kính trọng Nguyễn Trường Tộ, tác giả của kế hoạch. Sử gia Hoàng Thanh Đạm cũng nằm trong cái tâm tư yêu nước đáng quí ấy nên ông viết : “Thế rồi thời thế chuyển biến: năm 1870 nổ ra chiến tranh Pháp-Phổ. Pháp thua to,vua Pháp Louis Bonaparte bị bắt làm tù binh tháng 9-1870, rồi nổ ra cách mạng Công-xã Paris tháng 3-1871. N.T.Tộ thấy rõ đây là một cơ hội rất tốt phù hợp với điều ông dự đoán“cơ hội khôi phục phải sau 10 năm (N.tr.Tr.316). Từ tháng 2 đến tháng 5.1871 ông liên tục viết 7 bản điều trần liên quan đến kế sách khôi phục: Kế hoạch thu hồi 6 tỉnh Nam kỳ. Bổ túc kế-hoạch đánh úp thành Gia-định,” v.v. (HTĐ, SĐD, tr. 116 & 117). Sử gia bị thu hồn vào mấy chữ “kế hoạch thu hồi, kế hoạch đánh úp, cũng như kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh, chú trọng thực dụng, phải đổi mới, canh tân, v.v. ”, rồi cứ thế mà ca tụng ông Tộ lên tận mây xanh, chứ không chịu tìm hiểu xem các đề nghị được lồng dưới các cụm từ hoa mỹ đó có gì mâu thuẫn, khả thi và dụng tâm của N.T.Tộ là gì? Tôi nghĩ rằng Hoàng sử gia không phải nhọc công nghiên cứu ông Tộ đến 20 năm, mà chỉ cần khách quan tìm hiểu các đề nghị rồi đối chiếu với sử liệu, là sẽ cảm thấy vô cùng thất vọng vì những mâu thuẫn nội tại, sai lầm, phi-lý và dối trá trong hầu hết 58 bài chiêu-dụ của ông, và đặc biệt, cái gọi là “Kế hoạch đánh úp Gia-định”. Thật vậy, trước đó 7 năm (1863), ông đề nghị cho lính nghỉ ngơi để thực dân Pháp giữ bờ cõi cho mình. Năm 1868, La Grandiere bất chấp lệnh của chính phủ ông là “Không được chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam-kỳ”, nhưng y vẫn làm. Vua Tự Đức phản đối việc nầy và định cử sứ bộ qua Pháp tố cáo La Grandiere đã lạm quyền và đòi trả lại 3 tỉnh mới chiếm. Nếu sứ bộ đi Pháp thì có thể 3 tỉnh ấy đã được trao trả, nhưng ông Tộ viết bài chiêu dụ cản ngăn. Đến nay (1870), Pháp thua Phổ nhưng đã “cho lính nghỉ ngơi ” từ lâu lấy ai để đánh? Ông lại “bày mưu” đánh. Nhưng đề nghị bí mật tuyển người từ Bắc, Trung và một số khác tại địa phương, chứ không hề đề cập đến các phong trào đang kháng Pháp tại Nam-kỳ và kêu gọi họ hợp tác hay ủng hộ để đuổi kẻ thù chung? N.T.Tộ còn nói ông cũng vào Gia Định để chỉ huy nhưng ngụy trang đi giảng đạo, và đồng thời báo tin cho ông Giám-mục tình báo Ngô Gia Hậu (Gauthier) biết. Trong bài chiêu dụ nầy, có thêm vài chi tiết rất quan trọng khác chúng ta cần lưu ý: (a) Ông Tộ tiết lộ: “ Như lần trước, lúc tôi ở Gia Định, nguyên soái Gia Định đã nhiều lần muốn đem công việc bộ Công giao hết cho tôi ”(T.B. Cần, tr. 327). Điều nầy cho thấy ông ta được đô-đốc La Grandiere, tin dùng đến mức“đem công việc bộ Công giao hết cho” y. (b) N.T.Tộ viết :“Đến đêm khởi sự, một mặt tôi dùng kế(Khoản nầy các câu bẩm trước chưa nói đến) phá đê ngăn nước thì các thuyền Tây ở mặt dưới, không kể lớn nhỏ đều bị chìm hoặc bị vùi dưới bùn, hoặc trôi xuống ngã ba mà tan rã hết” (T.B. Cần, SĐD, tr.330). Tại Gia Định làm gì có sông nào, đê nào ngăn nước để phá để chôn thuyền như thế ? Và dưới đây là một đề nghị hết sức quan trọng: © Nếu N.T.Tộ đề nghị đánh gấp, thì ông ta quả tình là một người yêu nước không còn phải bàn cãi. Nhưng rất tiếc, ông viết :“Kế nầy phải đòi hỏi khoảng hai năm mới thành” (T.B. Cần, SĐD, tr.331). Thời gian “hai năm” đã tố cáo cái dã tâm của ông. Thế mà một sử gia đã nghiên cứu ông ta đến hơn 20 năm mà vẫn không thấy hoặc cố tình không muốn thấy ? Thật vậy, ông Tộ nói đến chuyện đánh nhưng không phải đánh ngay bây giờ; sau tháng 9, 1870, thời cơ đã đến, mà phải hai năm sau, tức là 1873. Tại sao vậy? Vì nếu đánh bây giờ thì ta nhất định thắng mà Pháp chắc chắn thua. Đó là điều mà ông Tộ, những người Việt-gian và thực dân không bao giờ muốn ! Cáo buộc N.T.Tộ không muốn Việt-nam thắng Pháp có oan không, chứng minh ? Một, như trên đã nói, ông Tộ đề nghị xử dụng những thường dân (không phải lính) chiêu mộ từ Bắc, Trung, Nam chứ không kêu gọi nghĩa quân tại địa phương, người vừa có tinh thần chiến đấu vừa đã được huấn luyện và có kinh nghiệm v.v., thì làm sao thắng được ? Hai, lịch sử cho thấy nếu đánh vào giai đọan sau tháng 9.1870 Việt Nam nhất định thắng. Dưới đây là sử liệu: “Ở Âu-châu, chiến tranh bùng nổ giữa nước Pháp và nước Phổ ngày 19.7.1870, nhưng mãi tới ngày 5.8.1870 tin ấy mới tới Sài Gòn. Cornulier-Lucinere vội cho tổ chức sự phòng thủ sông Sài Gòn vì sợ rằng Triều-đình Huế thừa cơ hội mà tiến quân xuống miền Nam hay ra lệnh cho Lục-tỉnh Nam-kỳ nổi loạn. Song cả cho đến ngày 25.9.1870 là khi tin quân Pháp đại bại ở Sedan tới Sài Gòn, Triều-đình Huế vẫn án binh bất động. Quốc triều chánh biên toát yếu chép là: “Năm Canh Ngọ tháng 9, nước Đại Pháp đánh với Phổ-lỗ-sĩ, quan Pháp-soái thương cho ta biết, ngài khiế⮠quan thương-bạc hỏi thăm”. Thái độ của Triều-đình Huế còn kỳ quặc hơn khi triều đình tỏ lòng mong muốn quân Pháp sẽ rút khỏi Nam-kỳ để trở về Pháp cứu vãn tổ quốc lâm nguy. Triều đình đã hoàn toàn không lợi dụng những nỗi khó khăn của Pháp khi nền đệ nhị thế chế sụp đổ thay thế bởi một chính thể cộng hòa, và khi mà quân Pháp bị cô lập ở Nam-kỳ” (Nguyễn Thế Anh, SĐD, tr.66). Tình hình chín muồi như vậy, nếu không đánh ngay thì mấy tháng sau đó phải đánh, nhưng N.T.Tộ khuyên phải “hai năm” sau. Ông ta yêu nước nào mà lạ đến thế ? Mấy hàng đầu của bài“Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh” (viết trước bài “Kế hoạch đánh úp Gia-định” 8 ngày) ông Tộ nói “Đại phàm việc thiên hạ, để thời cơ trôi qua mà hối tiếc...gặp thời làm được thì gấp rút ra tay, không bỏ lỡ cơ hội”. Nói một đường làm một nẻo, một người mâu thuẫn dối trá không biết ngượng, thế mà sử gia Hoàng Thanh Đạm cứ cặm cụi ca tụng “một danh nhân văn hóa, một người đã lao tâm khổ tứ lo cho dân cho nước”! Giả sử triều-đình bị mắc lừa bởi kế hoạch của ông Tộ, hai năm sau mới đánh, thì kết quả sẽ thế nào? Hai năm sau tức là năm 1873. Lúc nầy Việt Nam ở vào thế rất yếu nhưng Pháp rất mạnh, khó lòng thắng. Vì tại chính quốc, tình hình chính-trị đã được ổn định, chính phủ mới đã được thành lập. Tại thuộc địa, Pháp đã bình định 3 tỉnh miền Đông Nam-kỳ được 11 năm, và 3 tỉnh miền Tây được 6 năm. Họ rất rảnh tay. Còn tại Bắc-kỳ, chính phủ Pháp ngăn cấm Đô-đốc Dupré về một cuộc phiêu lưu mới tại Bắc-kỳ, nhưng cũng giống như La Grandiere, ông ta không tuân lệnh thượng cấp. Và các viên chức trong tòa lãnh sự Pháp tại Trung Hoa cũng muốn chính phủ họ chiếm Bắc-kỳ như Dupré. Sử liệu cho thấy: “Vào năm 1873, lãnh sự Pháp ở Quảng Đông, Bá-tước Chappedelaine, báo cáo về Paris như sau: “Ở Bắc-kỳ, quan lại An-nam-mít bị thù ghét dữ dội. Không phải dùng đến 2000 người và 4 tuần-dương-hạm, mà chỉ cần phái một tuần-dương-hạm cùng vài pháo-hạm và một đại đội thủy quân lục chiến tới cửa sông Hồng Hà là đủ làm xứ Bắc-kỳ trở thành một thuộc địa Pháp” (J. Dupis, Le Tonkin de 1872 à 1886, Histoire et Politique. Paris,1910, p.125. Dẫn theo Nguyễn Thế Anh, SĐD, tr. 81). N.T.Tộ, một người “yêu nước, cao kiến, sáng kiến lớn” là thế đấy! Trên đây là vài phân tích để thấy cái hậu ý và âm mưu “Đánh úp Gia-định” của N.T.Tộ! Nếu nhìn kế sách nầy dưới khía cạnh tình báo, gián điệp và phản gián, chúng ta sẽ biết thêm một số dụng tâm khác của N.T.Tộ lúc đề nghị “phải hai năm” nữa mới đánh chứ không phải bây giờ. Mời độc giả đọc mục số 9 kế tiếp, để hiểu rõ thêm cái dụng tâm của ông. 9. “Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh” : viết ngày 1.2.1871, và“Kế hoạch đánh úp Gia-định” viết ngày 9.2.1871. Hai bài nầy viết cách nhau 8 ngày, mâu thuẫn với nhau và cũng được viết theo kiểu “nước rút”. Tại sao vậy ? Vì tình hình chính trị và quân sự của Pháp quá nguy khốn như sử liệu dẫn trên cho thấy. Tại chính quốc, Pháp bị “tang gia bối rối ” vì thua Phổ. Triều đình Napoleon III bị giải tán, chính phủ mới chưa thành lập, một quốc gia vô chủ. Đó chính là thời điểm nghìn năm một thuở để đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước bằng võ lực, nhưng triều-đình vua Tự-Đức lại quá ngây thơ không chịu đánh. Dẫu vậy, quân đội Pháp tại Nam kỳ dĩ nhiên là thấp thỏm đứng ngồi không yên vì run sợ một trận đánh úp của quân đội Việt-nam có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Do đó, ông Tộ hẳn được lệnh quan thầy phải gấp rút viết các bài chiêu dụ, để “kẻ thù của Pháp” xử dụng con đường ngoại giao thay vì quân sự. Trong đó có việc cử phái đoàn đi Pháp, đi Anh và Y pha-nho để vận động xin lại phần lãnh thổ bị chiếm, chứ không dùng võ trang. Đó là kế đẩy đối phương (Việt-nam) về hướng khác, hướng ngoại-giao. Tuy vậy, khuyên theo kế sách ngọai-giao trông lộ liễu và phi lý quá! ngoài ra, để cầm chắc triều đình Việt-nam theo con đường đi xin chứ không dùng võ lực, nên 8 ngày sau, ông Tộ lại viết bài chiêu dụ “Kế hoạch đánh úp Gia-định” nhằm mục đích nhận diện xem ai xuất hiện đề nghị đánh, thì Pháp sẽ tiêu diệt ngay từ đầu. Và nhóm nào muốn đánh nhưng không thể bắt hoặc cản ngăn được thì dùng kế hoản binh, khuyên không nên đánh bây giờ mà phải “hai năm” sau, như đã phân tích ở mục số 8 nói trên ! Nói gọn, thời vua Tự-Đức có hai cơ hội tốt nhất để đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi. Cơ hội một là từ 1858 đến 1863. Nếu toàn dân và triều đình một lòng quyết chiến chứ không hòa thì Pháp đã rút khỏi Việt-nam như đã chứng minh ở phần trước. Nhưng ông Tộ khuyên nên cho lính nghỉ ngơi, hợp tác và để Pháp giữ bờ cõi cho mình! Cơ hội hai là từ tháng 9 năm 1870 đến nửa năm 1871, Pháp thua Phổ, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Pháp bị rối loạn. Đó là một cơ may hiếm có, nếu đánh thì tất thắng, nhưng ông Tộ khuyên nên theo đường lối ngoại giao. Tuy vậy, vẫn sợ quân đội Việt-nam có thể đánh, nên ông cũng bày ra chuyện đánh, nhưng không đánh bây giờ, mà phải hai năm sau. Nói rõ hơn, mặc dầu Hoàng sử gia hồ hởi ca ngợi, nhưng thực sự 7 bài viết của ông Tộ từ tháng 2 đến tháng 5,1871, chỉ xoáy vào một trọng điểm mang tính sinh tử cho số phận, chiến lược và chính sách thuộc địa của Pháp là tránh, đừng để Việt-nam xử dụng vũ lực đối với quân Pháp tại Nam-kỳ. Và nếu để ý thêm, chúng ta sẽ thấy rằng hầu hết 58 bài chiêu dụ của ông N.T.Tộ cũng chỉ nhắm vào hai điểm then chốt. Một, bằng mọi cách, phải kêu gọi hòa và hợp tác chứ đừng bao giờ để quân dân Việt-nam xử dụng võ lực đối với thực dân Pháp. Hai, xử dụng tất cả các thủ đoạn chính trị lươn lẹo để đưa các ông giám-mục linh-mục lọt vào hầu hết các cơ quan công quyền nhằm Công-giáo hóa rồi Pháp hóa dân tộc ta. Để che đậy các âm mưu ấy, ông Tộ phải giả vờ nguyền rủa Pháp, phải xử dụng những danh từ hoa mỹ, phải bày ra chương trình nầy, kế hoạch nọ để đánh lạc hướng và đẩy triều đình theo con đường mà thực dân Pháp và Vatican mong muốn. Cũng thế, hành động của ông Tộ giống như ông Huỳnh văn Trọng, một điệp viên tình báo cao cấp của miền Bắc, được gài vào chức cố vấn cho cựu Tổng-thống Nguyễn văn Thiệu trước năm 1975 tại Sai-gòn. Ông Trọng phải giả bộ nguyền rủa “Bác và Đảng”, phải chê bai các nước Cọng-sản thậm tệ, phải năng nổ bày ra kế hoạch nầy chính sách nọ v.v., mới có thể che được mắt cơ quan tình báo của Mỹ và Việt-nam Cọng-hoà, để hoàn thành nhiệm vụ mà đảng và nhà nước đã tin tưởng giao phó. Dưới đây, tôi sẽ phân tích một bài chiêu dụ khác của ông Tộ để thấy rõ thêm rằng, cứ mỗi bài viết, ông đều hoàn toàn tùy thuộc vào tình hình và quyền lợi của thực dân Pháp và của Vatican. 10. N.T.Tộ chỉ nhắc tên các giáo sĩ: Cùng thời với ông có những tấm lòng muốn canh tân đất nước như: Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Phan Thanh Giản... và các sĩ phu yêu nước như : Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Quản Thanh, Quản Lịch...N.T.Tộ được gán cho hai chữ “canh tân” và “yêu nước”, nhưng đọc tất cả 58 bản điều trần, chúng ta không thấy có chỗ nào ông Tộ nhắc đến tên vài người Việt nam yêu nước, hoặc nêu tên một vài sĩ phu nói trên để dùng vào việc canh tân, vào việc “đánh úp” mà chỉ thấy ông lặp đi lặp lại nhiều lần tên giáo-hoàng, các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt-gian. Tại sao vậy? Chúng ta nên nghe cuộc đối thoại giữa ông Toàn Quyền de Lanessan và Giám-mục Puginier như sau: “ De Lanessan: Theo ông thì nước Pháp nên đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào? Puginier: Phải thủ tiêu họ đi. De Lanessan: Tại sao? Puginier: Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn một điều nữa là chẳng ai trong họ chịu theo đạo Công-giáo cả.” (Nguyễn Xuân Thọ, SĐD, tr.436-437). Chúng ta nhớ rằng, Gauthier (thầy của ôngTộ) là thuộc hạ của Puginier tại Việt-nam vào giai đoạn ấy. Đó là lý do để giải thích tại sao Tộ không bao giờ nhắc đến tên một sĩ phu nào ngoại trừ các giáo sĩ thực dân và giáo sĩ Việt-gian. Đầy dẫy những mâu thuẫn và sai lầm trong 58 bài chiêu dụ của ông Tộ, trong sách “Nguyễn Trường Tộ con người và di-thảo” của Lm. Trương Bá Cần cũng như trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ thời thế & tư duy cách tân ” của H. T.Đạm. Nhưng, bài nầy chỉ liệt kê10 trường hợp tiêu biểu nhân lúc viết về một chương sách mà Hoàng sử gia đề cập đến cuốn sách của chúng tôi. IV. KẾT LUẬN Như tôi đã viết trong bài trước đây, đọc hết 58 bản chiêu dụ của Nguyễn Trường Tộ, một vài chỗ ông tỏ ra thành khẩn, có lòng yêu nước và vài đề nghị hợp lý như cải cách phong tục, chỉ huy đào Thiết Cảng. Về kiến thức, so với những thanh niên Việt Nam khác lúc bấy giờ vào tuổi khoảng 35, thì Nguyễn Trường Tộ là người xuất sắc nhờ chu du nhiều nước. Nhưng về những đề nghị gọi là“cải cách” của Nguyễn Trường Tộ, thì dưới đây là một bức tranh khá chính xác về ông ta: 1. Ý thức hệ chủ đạo: ông Tộ phán: “Tạo vật đã định như vậy, sao cưỡng được”. 2. Lúc đất nước lâm nguy: tình trạng quân Pháp suy thoái nguy hiểm muốn rút về, ông khuyên“cho lính nghỉ ngơi” . 3. Về thế quốc tế: “thương hiếu với giáo hoàng La Mã” , như gởi con cho cọp. 4. Cố vấn: ông “Giám-mục tình báo Gauthier có thể giúp”. 5. Trường kỹ thuật: được điều hành bởi “3 ông linh mục” không có khả năng, “còn ông Ca Xanh đòi lương quá cao và nhiều điều kiện không thể dùng”. 6. Nhà giữ trẻ, viện mồ côi: “các giám mục tình báo sẽ cử người coi sóc”. 7. Canh tân đất nước: có “4 ông linh mục” Việt-gian phụ trách : Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Nguyễn Lâu [1] (Tất cả những chữ nghiêng và trong ngoặc kép là của N.T.Tộ và của Lm. Trương Bá Cần ) . Như thế, từ tư tưởng chủ đạo, từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, từ ông có thế lực đến gả cố vấn, nhân viên thừa hành đều do ngoại bang, gián điệp và các tên giáo sĩ Việt-gian điều khiển hết ! Chúng ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng Nguyễn Trường Tộ cũng như Giám-mục Gauthier là hai tên tình báo song hành, đồng tác giả của 58 bản chiêu dụ, trong đó, ý thì của Gauthier nhưng lời thì của N.T.Tộ. Xuyên qua Gauthier, Pháp và Vatican muốn ông Tộ phải viết như thế nào, lộng giả thành chơn và ngụy trang như thế nào, để có thể dụ được triều đình Việt Nam lọt vào các bẫy sập của chúng. Vì thế, nên chúng ta không lấy làm lạ tại sao những ý kiến trong các bài khuyến dụ của ông vừa trái ngược với tình hình, lại vừa mâu thuẫn với nhau, bủa một mạng lưới Công-giáo toàn cõi Việt Nam . Công-giáo toàn cõi Việt-nam thì sao? Có gì sai trái mà hai ông Bùi Kha và Trần Chung Ngọc“dị ứng” ? Sợ bị hiểu lầm có tư tưởng “Bình Tây Sát Tả”, nên chúng tôi mượn ý kiến và nhận xét của những người Pháp có thẩm quyền để trả lời câu hỏi ấy một cách chính xác như sau: Giám-mục Puginier: “Lúc nào Bắc-kỳ trở thành Công-giáo thì nó cũng trở thành một nước Pháp nhỏ” và “Không có các giáo sĩ và giáo dân thì người Pháp như cua bị bẻ gãy hết càng”. Đô-đốc Page: “Không có một người Công-giáo An Nam nào lại không muốn làm lính dưới cờ Pháp”. Công-sứ Bonnal: “Khi một ông giáo sĩ lập được một họ đạo thì giáo dân từ chối không đóng thuế, ...không thừa nhận chính quyền”. Đô-đốc Paul Bert: “Nếu tất cả dân An Nam đều Công-giáo, thì chúng ta sẽ lãnh đạo họ một cách dễ dàng theo ý muốn của chúng ta”. Nguyễn Trường Tộ, một người “yêu nước” nồng nàn, một nhà “canh tân” lớn, một kiến thức “vượt thời đại” đã hăm hở nhưng lại thập thò núp sau màn sa mù canh tân để đưa dân tộc ta vào kế hoạch mà 4 ông thực dân, gồm đô đốc, công sứ và giám-mục đã cho thấy như trên ! IV. CÔNG VÀ TỘI Nếu lọc lựa ý tưởng của Nguyễn Trường Tộ trong 58 bài chiêu dụ rồi ghép lại có thứ lớp thì một số đề nghị của ông có giá trị và dùng được, nhất là thời bấy giờ. Rất tiếc, vì đường lối giáo dục của Vatican đã biến N.T.Tộ thành một người phục vụ cho Pháp và La-Mã, nhưng được núp sau bức màn canh tân và những mỹ từ :“Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh, chỉnh trang quốc phòng, kỹ thuật, thực dụng, đánh úp...”. Vì thế, nhiều người bị cuốn hút bởi những mỹ từ trống rỗng và lừa dối ấy. Một số khác ca tụng vì tình cảm tôn giáo và óc địa phương, hoặc nhặt vài khúc gỗ quí trong rừng rồi nghĩ cả cánh rừng đều chứa đầy gỗ quí. Nhưng không có cái gì có thể che đậy lâu dài dưới ánh sáng mặt trời. Thật ra, chúng ta có thể biết tâm chất của N.T.Tộ lúc thấy ông cùng với Giám-mục tình báo Gauthier đến cửa Mành-sơn ngày 16.10.1858 để hỗ trợ đồng bọn. Ở đó, đã có “Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà nẳng, đứng đầu là Giám-mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm”. Với hành động ấy, chúng ta kết luận như thế nào về N.T.Tộ, ông là một người yêu nước hay một tên đại Việt gian? Nhưng để được công bằng hơn, chúng tôi đề nghị công và tội của ông như sau: Công : 1. Chỉ huy đào Thiết cảng, 2. Làm được hai cái nhà thờ mặc dầu thời bấ⹠giờ là chỗ để cho các giáo sĩ gián điệp và Việt-gian cư trú, 3. Có vài tư tưởng tiến bộ, có thể xử dụng được, ở rải rác trong một số bài như Cải cách phong tục, Thư gởi Tây-soái, Về việc chỉnh đốn quân đội và quốc phòng, v.v. Tội : 1. Ngày 16..10.1858 cùng với các linh mục, giám mục Việt và ngoại quốc “làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm”, 2. Năm 1861“làm thư ký và thông dịch” cho Tổng hành dinh của quân thực dân Pháp“để mở rộng vùng chiếm đóng” tại Sài-gòn, 3. Vai kề vai lòng cạnh lòng với tên tình báo Gauthier hơn 10 năm, cùng với tên nầy thập thò núp bóng sau bức màn canh tân và cùng nhau viết 58 bài chiêu dụ để lừa dối nhân dân và phỉnh gạt triều đình cho quyền lợi của Pháp và Vatican, 4. Cố tình nhận định tình hình sai lạc để cứu vãn cảnh lâm nguy của quân đội Pháp từ 1858, 5. Dối trá trong việc mở trường kỹ thuật ở Huế, 6. Âm mưu đề nghị đào kênh từ Hải-dương vào Huế để toàn dân nổi loạn, 7. Đề nghị thương hiếu với giáo-hoàng để thúc đẩy tiến trình Công-giáo hóa Việt-nam. 8. Đề nghị dùng linh-mục Việt-gian vào việc canh tân đất nước, và mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ và viện dưỡng lão do các giám mục thực dân cử người coi sóc. Lúc các ông linh-mục và giám-mục đã có mặt khắp nơi, họ sẽ biến những người Việt hiền hòa thành những kẻ ly khai với tổ quốc, rồi hô hào một cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền toàn cõi Việt-nam, 9. Năm 1868, ngăn cản triều-đình cử phái bộ đi Pháp khiếu nại để lấy lại 3 tỉnh miền tây Nam-kỳ, 10. Thay vì phải đánh gấp để đuổi giặc về nước vào những tháng cuối năm 1870 và đầu năm 1871. Vì sợ Pháp bại trận, nên N.T.Tộ khuyên phải dùng con đường ngoại giao, thay vì vũ lực. Và nếu xử dụng vũ lực, thì không nên thực hiện ngay mà phải hai năm sau. Ba tội 1, 2 và 3 thuộc về đại hình, bảy tội sau thuộc về khinh tội. Những tội danh tóm lược như trên, cũng là nguyên nhân để giải thích lý do tại sao N.T. Tộ phải trốn ra nước ngoài và bị triều-đình nghi ngờ. Chứ chẳng có gì gọi là “Điều nghịch lý” như Hoàng sử-gia hiểu sai. Và chính ông Tộ, có lẽ, cũng đã cảm thấy những việc làm bán nước hại dân của mình nên đã trăn trở ân hận trước lúc chết: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận!” (Một lần lỡ bước, hối hận ngàn năm). Mặc dầu bản tính của người Việt luôn luôn biết cảm thông và tha thứ cho những người đã biết ăn năn hối hận những việc làm sai quấy của mình. Nhưng để răn đe hậu thế, nên những con đường hay trường học mang tên N.T.Tộ để vinh danh ông cần phải tháo gỡ để khỏi nhục quốc thể, và để làm gương. Trên bia mộ cũng cần liệt kê công và tội của ông để lịch sử được phân minh. Viện sử học Việt Nam và Bộ Văn Hóa nên cử một ban nghiên cứu công và tội của một số người được vinh danh trước đây, trong đó có ông Nguyễn Trường Tộ, rồi công bố cho quốc dân biết. Còn ý kiến của chúng tôi dĩ nhiên không tránh khỏi khiếm khuyết cần được các bậc cao minh chỉ giáo. Bùi Kha 22. 2. 2002 VÀI LỜI VỚI CỤ HOÀNG THANH ĐẠM Lúc viết bài thảo luận với cụ về ông N.T.Tộ, tôi chỉ đọc 24 trang cụ phê bình cuốn sách của chúng tôi. Và nghĩ rằng, vì thiếu sử liệu nên cụ đã không thấy bộ mặt thực núp sau bức màn “canh tân” của ông Tộ, nên cụ mới phạm quá nhiều lầm lẫn về sử kiện, và để lại không ít những luận điểm sai và mâu thuẫn với nhau trong chương phê bình sách của chúng tôi. Nhưng lúc viết xong, tôi đã đọc hết cả cuốn sách. Tôi rất đổi ngạc nhiên và thành thật để thưa rằng, cụ chẳng phải là nhà nghiên cứu sử học hoặc sử gia, ít nhất là về N.T.Tộ. Tôi tìm thấy nơi cụ đã có một định kiến và cái khuôn đúc sẵn về ông Tộ, nên lối lập luận của cụ chỉ dựa vào cách suy diễn mang đầy cá tính và tùy tiện, thay vì khách quan và căn cứ vào sử liệu để phân tích, tổng hợp và kiểm chứng để truy tìm sự thật. Nói rõ hơn, sách cụ không phải là một tác phẩm nghiên cứu, mà chủ yếu là sắp xếp Linh-mục Trương Bá Cần... nói thế nầy, ông Tộ nói thế kia chứ không cần biết nói như vậy là hàm ý gì? Nói như kia đâu là bằng cớ? Cũng như hoàn cảnh và môi trường nào thúc đẩy ông ta nói như thế? Trong “Danh mục sách và tư liệu tham khảo”, cụ liệt kê một số sách mà tôi có đọc như : Cuốn sổ bình sanh của Trương vĩnh Ký của Nguyễn sinh Duy, Hành trình và truyền giáo của A. de Rhodes, Biên niên sử Việt-nam 1858-1896 của Dương kính Quốc, Việt-nam dưới thời Pháp đô hộ của Nguyễn thế Anh, Kinh Thánh Tân ước, v.v.. Đọc sách cụ, và đối chiếu số sách dùng để tham khảo, tôi thấy cụ chẳng để tâm đọc những cuốn sách nầy một cách nghiêm chỉnh, và cách trình bày lại thiếu phương pháp luận và sai lầm. Đặc biệt là trong danh mục tham khảo có liệt kê hai cuốn sách của hai giáo sư Dương Kính Quốc và Nguyễn thế Anh, cụ chẳng đọc để thấy sự dối trá của ông Tộ. Trái lại, cũng qua hai cuốn đó, tôi được biết thêm cái hậu ý của N.T.Tộ về việc khuyên triều-đình trong bài chiêu dụ“Bải bỏ việc cử phái bộ đi Pháp”, bài “Kế hoạch thu hồi sáu tỉnh” và bài“Bổ túc kế hoạch đánh úp Gia-định” v.v. như đã trình bày phần trước. Trong bài viết từ trang 95-98 (NTT, GĐ, SĐD), tôi đã chứng minh rõ: ông Nguyễn Trường Tộ lấy ý trong cuốn “Tôn Ngô Binh Pháp” về “Việc sửa đổi võ bị”. Trang 118 cụ viết:“Khi N.T.Tộ bàn về kế sách quân sự thì Ng.Kha đối chiếu các câu văn trong Tôn Ngô binh pháp và phê phán “Hầu như N.T.Tộ lấy ý trong sách nầy, đã vậy ý của N.T.Tộ còn kém xa”. Điều đó có nghĩa là cụ đã biết ông Tộ ăn cắp ý của người khác. Thế nhưng, trong sách từ trang 209-212 (NTT, thời thế & tư duy cách tân) nhằm ca tụng ông Tộ cho bằng được, nên cụ không cần để ý đến điều nầy nữa. Trái lại, cụ viết,“ông (Tộ) đặt vấn đề một cách độc đáo”, rồi liệt kê 6 điều độc đáo để ca ngợi ông ta, mà thực ra 6 điều đó là của ông Tôn Tử trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp. Cách viết như vậy, thật là vô trách nhiệm. Độc giả đều cảm thông những người nhầm lẫn hoặc thiếu sử liệu, nhưng có lẽ không ai chấp nhận kẻ cố tình lấy văn và ý của người nầy gán cho người kia! Ngay cả lúc cụ tóm lược ý kiến của Chủ-tịch Hồ chí Minh (SĐD, tr. 56) nhận xét về ông N.T.Tộ, được trích ý từ cuốn hồi ký của cụ Vũ đình Huỳnh do nhà văn Sơn Tùng sưu tầm (cụ cho biết như thế), cụ đã không nhận ra quan điểm của một chính khách và chính sách của nhà nước, khác với lối nhìn dựa vào lịch sử của một nhà nghiên cứu. Đó là chưa nói đến xuất xứ và bối cảnh lúc phát biểu của Chủ tịch Hồ chí Minh về N.T.Tộ, và ngay cả việc Linh-mục Lê Hữu Từ (người chủ trương khu Công-giáo tự trị thân Pháp) mà cũng còn được mời làm cố vấn. Nếu có ai ngây thơ tưởng rằng Chủ-tịch Hồ Chí Minh cũng đồng ý “khu vực tự trị thân Pháp”, nên mới mời linh-mục nầy làm cố vấn cho mình, thì người đó nên trở lại trường tiểu học! Ngoài ra, cụ cũng không cho độc giả biết tên cuốn hồi ký, số trang trích dẫn và năm xuất bản . Đã vậy, trong Lời Bạt, giáo sư Chương Thâu lại để trong ngoặc kép và in chữ nghiêng đoạn văn mà cụ tóm lược từ cuốn hồi ký không tên không tuổi nói trên. Như thế, cụ được giáo sư Chương Thâu phụ họa để biến một ý kiến chưa chắc đúng và có thật, thành một “sử liệu nguyên bản” có nguồn gốc ! và ông còn cho đó là một“tư liệu lịch sử” ( SĐD, tr. 250). Tôi thấy cách viết như thế là một lối đánh lừa độc giả, ngụy tạo sử liệu, làm mất uy tín giới cầm bút. Và làm giảm giá trị nền học thuật nước nhà sau bao năm gian khổ chống ngoại xâm để dành lại độc lập và chủ quyền . Ở đây, tôi chỉ phát biểu cảm tưởng và dẫn chứng vài điểm trong vô số sai lầm trong tác phẩm viết cẩu thả và vô trách nhiệm của cụ. Một tác phẩm viết về sử, nhưng không căn cứ vào sử liệu, một tác phẩm vơ vét và lượm lặt những cái vụn vặt mà ông Tộ nói, chứ không cần tìm hiểu điều mà ông ta muốn nói. Tôi rất tiếc và xin lỗi, vì đã phát biểu những điều không vui cho cụ, mà đáng ra cụ cần có nhiều niềm vui trong những năm tháng còn lại của cuộc đời, nhất là niềm vui về đứa con “tinh thần” của cụ sau hơn 20 năm miệt mài nghiên cứu. Dẫu vậy, tôi vẫn vô cùng biết ơn, vì nhờ bài phê bình của cụ mà chúng tôi có dịp biết rõ hơn và chính xác hơn về ông N.T.Tộ, một người được nhầm lẫn vinh danh do vô tình hoặc cố ý qua nhiều thế hệ! Về giáo sư Chương Thâu, tôi cũng đã có lần góp ý về bài viết quá sai lầm và hầu như cố ý của ông, trong âm mưu chính trị của Linh-mục Alexandre de Rhodes và nguồn gốc chữ quốc ngữ. Bài viết đó có tựa đề,“Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau”, Hà-nội 14.12.1995, đăng trong nguyệt san Công-giáo tại Việt-nam và tờ Hiệp Nhất của giáo-phận Orange, California, USA . Bùi Kha 31.2.2002 Ghi chú: [1] Cũng như N.T.Tộ, 4 ông linh mục nầy có đến đón quân Pháp và làm reo để Pháp đánh thuế cho chúng dứt điểm, 16.10.1858.
  24. Thái Cực Đồ Thuyết THÁI CỰC ĐỒ THUYẾT VÀ THÔNG THƯ CỦA CHU LIÊM KHÊ * Phùng Hữu Lan (1895-1990) 1. Chu Liêm Khê Trong các Đạo học gia đời Tống (960-1279), Chu Liêm Khê 周 濂 溪 (1017-1073) và Thiệu Khang Tiết 邵 康 節 (1011-1077) đặc biệt nổi tiếng về việc đưa tư tưởng Đạo giáo vào Đạo học. Tống Sử chép: «Chu Đôn Di 周 敦 頤 , tự là Mậu Thúc 茂 叔 , người ở Doanh Đạo 營 道 , thuộc Đạo Châu 道 州 (nay là huyện Đạo 道 , thuộc Hồ Nam 湖 南 ). Tên ban đầu là Đôn Thực 敦 實 , nhưng để tránh tên huý cũ của vua Anh Tông 1 nên đổi là Di. Nhờ người chú tên Trịnh Hướng 鄭 向 , là học sĩ ở Long Đồ Các 龍 圖 閣 2 nên Chu Dôn Di làm chức chủ bạ ở huyện Phân Ninh 分 寧 (nay là huyện Tu Thuỷ 修 水 , Giang Tây).3 [...] Do bệnh tật, ông xin về an trí ở Nam Khang Quân 南 康 軍 ,4 nhân đó làm nhà bên chân núi Liên Hoa trong rặng Lư Sơn. Phía trước nhà có giòng suối chảy vào sông Bồn, nên ông dựa theo nơi cư ngụ ở Doanh Đạo mà lấy tên là Liêm Khê. [...] Khi mất, thọ 57 tuổi.5Hoàng Đình Kiên6 khen: "Nhân phẩm Đôn Di rất cao, lòng thênh thang như gió trong trăng tỏ. [...] Ông viết Thái Cực Đồ để làm rõ gốc gác của thiên lý và nghiên cứu đầu đuôi của vạn vật."»7 2. Thái Cực Đồ Thuyết Đóng góp quan trọng nhất của Chu Liêm Khê cho Đạo học là Thái Cực Đồ 太 極 圖 và Thái Cực Đồ Thuyết 太 極 圖 說 . Thái Cực Đồ Thái Cực Đồ Thuyết của Chu Liêm Khê nguyên văn như sau: 無極 而 太 極 . 太 極 動 而 生 陽 ; 動 極 而 靜 , 靜 而 生 陰 . 靜 極 復 動 . 一 動 一 靜 , 互 為 其 根 . 分 陰 分 陽 , 兩 儀 立 焉 . 陽 變 陰 合 , 而 生 水 火 木 金 土 , 五 氣 順 布 , 四 時 行 焉 . 五 行一 陰 陽 也 , 陰 陽 一 太 極 也 , 太 極 本 無 極 也 . 五 行 之 生 也 , 閣 一 其 性 . 無 極 之 真 , 二五 之 精 , 妙 合 而 凝 . 乾 道 成 男 , 坤 道 成 女 . 二 氣 交 感 , 化 生 萬 物 . 萬 物 生 生 而 變 化無 窮 焉 . 惟 人 也 , 得 其 秀 而 最 靈 . 形 既 生 矣 , 神 發 知 矣 . 五 性 感 動 而 善 惡 分 , 萬 事出 矣 . 聖 人 定 之 以 中 正 仁 義 , 而 主 靜 , 立 人 極 焉 . 故 聖 人 與 天 地 合 其 德 , 日 月 合 其明 , 五 時 合 其 序 , 鬼 神 合 其 吉 凶 . 君 子 修 之 吉 , 小 人 悖 之 凶 . 故 曰 : 立 天 之 道 , 曰陰 與 陽 . 立 地 之 道 , 曰 柔 與 剛 . 立 人 之 道 , 曰 仁 與 義 . 又 曰 : 原 始 反 終 , 故 知 死 生之 說 . 大 哉 易 也 , 斯 其 至 矣! Phiên âm: Vô Cực nhi Thái Cực. Thái Cực động nhi sinh Dương; động cực nhi tĩnh, tĩnh nhi sinh Âm. Tĩnh cực phục động. Nhất động nhất tĩnh, hỗ vi kỳ căn. Phân Âm phân Dương, lưỡng nghi lập yên. Dương biến Âm hợp, nhi sinh thuỷ hoả mộc kim thổ, ngũ khí thuận bố, tứ thời hành yên. Ngũ hành nhất Âm Dương dã, Âm Dương nhất Thái Cực dã, Thái Cực bản Vô Cực dã. Ngũ hành chi sinh dã, các nhất kỳ tính. Vô Cực chi chân, nhị ngũ chi tinh, diệu hợp nhi ngưng. Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ. Nhị khí giao cảm, hoá sinh vạn vật. Vạn vật sinh sinh nhi biến hoá vô cùng yên. Duy nhân dã, đắc kỳ tú nhi tối linh. Hình ký sinh hĩ, thần phát tri hĩ. Ngũ tính cảm động nhi thiện ác phân, vạn sự xuất hĩ. Thánh nhân định chi dĩ trung chính nhân nghĩa, nhi chủ tĩnh, lập nhân cực yên. Cố thánh nhân dữ thiên địa hợp kỳ đức, nhật nguyệt hợp kỳ minh, tứ thời hợp kỳ tự, quỷ thần hợp kỳ cát hung. Quân tử tu chi cát, tiểu nhân bội chi hung. Cố viết: Lập thiên chi đạo, viết Âm dữ Dương. Lập địa chi đạo, viết nhu dữ cương. Lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghĩa. Hựu viết: Nguyên thuỷ phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết. Đại tai Dịch dã, tư kỳ chí hĩ! Lê Anh Minh 1. LAM chú: Tống Anh Tông tại vị 1064-1067, tên là Triệu Thự 趙 曙 (xem: Trung Quốc Lịch SửKỷNiên Biểu, Thượng Hải Từ Thư xuất bản xã, 1980, tr.112). Vậy, như Tống Sử đã chép, Thực là một tên huý cũ của vua. Việc Chu Đôn Thực đổi thành Chu Đôn Di tính từ năm 1064. ↩ 2. LAM chú: Long Đồ Các được thành lập vào những năm Đại Trung Tường Phù 大中 祥 符 (1008-1016) dưới đời vua Tống Chân Tông 真 宗 (tại vị 998-1022), để cho vua đọc sách, ngự chế văn tập, cũng như lưu trữ thư tịch và vật quý của triều đình. Ở đây có chức quan gọi là học sĩ. Khi Bao Chửng 包 拯 nắm quyền quản lý Long Đồ Các, ông bãi bỏ chức học sĩ ở đây, nên tục gọi nơi này là Bao Long Đồ 包 龍 圖 . (Xem: TừHải, mục từ Long Đồ Các). Theo Charles O. Hucker, Long Đồ Các không rõ là song hành hay trực thuộc Bí Khố 秘 庫 (văn khố triều đình) thuộc Trọng Văn Viện 重 文 院 . Năm 1082, Long Đồ Các sáp nhập vào Bí Thư Tỉnh 秘 書 省 (thư viện triều đình). (Xem: Charles O. Hucker, A Dictionary of Official Titles in Imperial China [Từđiển quan chức Trung Quốc], Đài Bắc, 1995, tr.325). Do tiến cử của chú, Chu Đôn Di được làm chức chủ bạ ở Phân Ninh, nhưng bản thân ông cũng có thực tài và liêm khiết, không nề hà nhiệm vụ gian khổ, nên được giữ nhiều chức quan: Tư lý tham quân 司 理 參 軍 ở Nam An Quân 南 安 軍 , làm quan lệnh ở Quế Dương 桂 陽 , Phán quan ở Quảng Đông 廣 東 . Năm Gia Định 嘉 定 13 (tức 1220) đời Tống Ninh Tông 寧 宗 (tức Triệu Khoách 趙 擴 , tại vị 1195-1224) Chu Đôn Di được vua ban thuỵ hiệu là Nguyên Công 元 公 . Đến năm Thuần Hựu 淳 祐 nguyên niên (tức 1241) đời vua Tống Lý Tông 理 宗 (tức Triệu Quân 趙 昀 , tại vị 1225-1264) ông được gia phong là Nhữ Nam Bá 汝 南 伯 và được đưa vào thờ phụng trong Khổng Miếu. (Xem: Bàng Phác, Trung Quốc Nho Học, Đông Phương xuất bản trung tâm, 1997, tập 1, tr.124). ↩ 3. Derk Bodde chú: Sự kiện này xảy ra năm 1040. Xem: Werner Eichhorn, Chou Tun-i, ein chinesisches Gelehrtenleben aus dem 11. Jahrhundert (ChuĐôn Di, cuộc đời một văn nhân Trung Quốc thếkỷ11), in trong: Abhandlung für die Kunde des Morgenlandes, vol.21, no.5 (Leipzig, 1936), trang 17-36.– LAM chú: Chức chủbạ không rõ ràng. Theo Charles O. Hucker (sđd., tr.182) đại khái chức chủbạ phụ trách công văn thư từ đi và đến trong các cơ quan từ đời Hán đến đời Thanh, chẳng hạn như trong Thái Thường Ty 太 常 司 đời Đường, Ngự Sử Đài 御 史 臺 đời Tống, Tư Thiên Giám 司 天 監 đời Liêu, Hồng Lô Ty 鴻 臚 司 đời Minh. ↩ 4. Derk Bodde chú: Nam Khang Quân nay là huyện Tinh Tử 星 子 , phía bắc Giang Tây, cách Lư Sơn vài dặm. Theo Werner Eichhorn, Đôn Di về an trí nơi đây không bao lâu thì qua đời (1073). ↩ 5. LAM chú: Chu Đôn Di sinh năm Thiên Hi 天 禧 nguyên niên (tức 1017) đời vua Tống Chân Tông 真 宗 (tức Triệu Hằng 趙 恆 , tại vị 998-1022); mất năm Hi Ninh 熙 寧 thứ 6 (tức 1073) đời vua Tống Thần Tông 神 宗 (tức Triệu Húc 趙 頊 , tại vị 1068-1085). ↩ 6. LAM chú: Hoàng Đình Kiên 黃 庭 堅 (1045-1105) tự là Lỗ Trực 魯 直 , hiệu là Sơn Cốc đạo nhân 山 谷 道 人 ; quê ở Phân Ninh 分 寧 thuộc Hồng Châu 洪 州 ; đỗ tiến sĩ, làm chức Lại bộ viên ngoại lang 吏 部 員 外 郎 . Văn chương ông lỗi lạc, Tô Thức rất khen ngợi. Ông còn là đại thư pháp gia, giỏi về các thư thể: hành, thảo, và khải; là một trong tứ đại thư pháp gia đời Tống: Tô, Hoàng, Mễ, Thái (Tô Thức 蘇 軾 , Hoàng Đình Kiên 黃 庭 堅 , Mễ Phất 米 芾 , Thái Kinh 蔡 京 ). ↩ 7. LAM chú: Hoàng Đình Kiên 黃 庭 堅 (1045-1105) tự là Lỗ Trực 魯 直 , hiệu là Sơn Cốc đạo nhân 山 谷 道 人 ; quê ở Phân Ninh 分 寧 thuộc Hồng Châu 洪 州 ; đỗ tiến sĩ, làm chức Lại bộ viên ngoại lang 吏 部 員 外 郎 . Văn chương ông lỗi lạc, Tô Thức rất khen ngợi. Ông còn là đại thư pháp gia, giỏi về các thư thể: hành, thảo, và khải; là một trong tứ đại thư pháp gia đời Tống: Tô, Hoàng, Mễ, Thái (Tô Thức 蘇 軾 , Hoàng Đình Kiên 黃 庭 堅 , Mễ Phất 米 芾 , Thái Kinh 蔡 京 ). ↩ Thái Cực Đồ Thuyết_2 Dịch nghĩa: Vô Cực cũng là Thái Cực. Thái Cực động thì sinh ra Dương; động tới cực điểm thì tĩnh; tĩnh thì sinh ra Âm. Tĩnh tới cực điểm thì trở lại động. Một động một tĩnh, làm căn bản cho nhau. Phân ra Âm và Dương, thì lưỡng nghi thành lập. Dương biến Âm hợp, thì sinh ra: thuỷ (nước), hoả (lửa), mộc (gỗ), kim (kim loại), thổ (đất). Ngũ khí (năm khí của ngũ hành) thuận hoà phân bố tạo ra sự vận hành của tứ thời (bốn mùa). Ngũ hành hợp nhất là Âm Dương. Âm Dương hợp nhất là Thái Cực. Thái Cực có gốc là Vô Cực. Ngũ hành được sinh ra, mỗi hành có một tính. Cái chân của Vô Cực và cái tinh của Âm Dương ngũ hành, diệu hợp thì ngưng tụ. Càn đạo thành nam, Khôn đạo thành nữ. Hai khí Âm Dương giao cảm, hoá sinh vạn vật. Vạn vật sinh sôi biến hoá vô cùng. Chỉ riêng con người có được sự ưu tú, nên tối linh. Hình thể con người đã sinh ra rồi thì thần trí phát ra mà có ý thức. Ngũ tính (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) cảm động mà phân biệt thiện và ác, và vạn sự xuất hiện. Thánh nhân tự xác định mình theo: trung, chính, nhân, nghĩa, và chủ về tĩnh,1 lập thành chuẩn mực tối cao của con người. Cho nên Thánh nhân hợp nhất đức của mình với Trời Đất, hợp nhất vẻ sáng của mình với mặt trời và mặt trăng, hợp nhất thứ tự của mình với bốn mùa, hợp nhất cát hung của mình với quỷ thần. Quân tử tu dưỡng theo đạo Thánh nhân nên được cát, tiểu nhân làm trái đạo Thánh nhân nên gặp hung. Cho nên nói: «[Thánh nhân] xác lập: đạo Trời thì có Âm và Dương; đạo Đất thì có nhu và cương; đạo người thì có nhân và nghĩa.»2 Lại nói: «Suy cứu cặn kẽ từ khởi đầu đến kết thúc của vạn vật, cho nên biết giải thích về sống chết.» 3 Lớn thay đạo Dịch, trong đó có đầy đủ ý nghĩa vậy! Hệ Từ Thượng nói: «Cho nên Dịch có Thái Cực. Thái Cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh Bát Quái. Bát Quái định cát hung, cát hung sinh ra sự nghiệp lớn.»4 Mấy câu đầu của Thái Cực Đồ thuyết sử dụng thuyết «Thái Cực sinh lưỡng nghi». Nhưng sau đó Chu Liêm Khê đề cập ngũ hành, chứ không phải Bát Quái. Tuy cuối bài ông khen ngợi Kinh Dịch, nhưng kỳ thực Thái Cực Đồ không hoàn toàn căn cứ trên Kinh Dịch. Vì lý do đó, nguồn gốc của Thái Cực Đồ đáng cho chúng ta nghiên cứu. Thượng Phương Đại Đỗng Chân Nguyên Diệu Kinh Phẩm Đồ 上 方 大 洞 真 元 妙 經 品 圖 trong Đạo Tạng có nhiều hình đồ, trong đó có Thái Cực Tiên Thiên Đồ như sau: Thái Cực Tiên Thiên Đồ(hình trên) Hình đồ này khá giống Thái Cực Đồ của Chu Liêm Khê. Tuy không biết tác giả của quyển kinh này là ai, nhưng trong đó có lời tựa của Đường Minh Hoàng 唐 明 皇 (còn gọi là Đường Vũ Hoàng 唐 武 皇 , tức Huyền Tông 玄 宗 hay Lý Long Cơ 李 隆 基 , tại vị 712-755), cho nên nó xuất hiện trước đời Tống. Có lẽ nó là nguồn cảm hứng cho Chu Liêm Khê viết ra Thái Cực Đồ chăng? Tống Sử (Nho Lâm Truyện) có chép truyện của Chu Chấn 朱 震 (1072-1138) rằng: «Cái học về kinh điển của Chu Chấn rất thâm hậu. Ông viết trong Hán Thượng Dịch Giải rằng: Trần Đoàn 陳 摶 (871-989) lấy Tiên Thiên Đồ 先 天 圖 truyền cho Chủng Phóng 種 放 (?-1014); Chủng Phóng truyền cho Mục Tu 穆 修 (979-1032); Mục Tu truyền cho Lý Chi Tài 李 之 才 (?-1045); Chi Tài truyền cho Thiệu Ung 邵雍 (1011-1077). [Chu Chấn còn nói rằng] Chủng Phóng lấy Hà Đồ và Lạc Thư truyền cho Lý Khái 李 溉 (?-?); Khái truyền cho Hứa Kiên 許 堅 (khoảng 976-984); Hứa Kiên truyền cho Phạm Ngạc Xương 范 諤 昌 (?-?); Ngạc Xương truyền cho Lưu Mục. Mục Tu lấy Thái Cực Đồ truyền cho Chu Đôn Di.»5 Lê Anh Minh 1. Chu Liêm Khê tự ghi chú: «Thánh nhân chi đạo nhân nghĩa trung chính nhi dĩ hĩ.» 聖 人 之 道 仁 義 中 正 而 已 矣 (Đạo của thánh nhân chỉ có nhân, nghĩa, trung, chính mà thôi.) Và ghi chú về «nhi chủ tĩnh» 而 主 靜 (chủ về tĩnh) rằng: «Vô dục cố tĩnh.» 無 欲 故 靜 (Vô dục nên tĩnh.) ↩ 2. LAM chú: Câu «Lậpthiên chi đạo viết Âm dữ Dương, lập địa chi đạo viết nhu dữ cương, lập nhân chi đạo viết nhân dữ nghĩa» nằm trong Thuyết Quái: «Tích giả thánh nhân chi tác Dịch dã, tương dĩ thuận tính mệnh chi lý. Thị dĩ lập thiên chi đạo viết Âm dữ Dương, lập địa chi đạo viết nhu dữ cương, lập nhân chi đạo viết nhân dữ nghĩa. Kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố Dịch lục hoạch nhi thành quái. Phân Âm phân Dương, điệt dụng nhu cương, cố Dịch lục vị nhi thành chương.» 昔 者聖 人 之 作 易 也 , 將 以 順 性 命 之 理 . 是 以 立 天 之 道 曰 陰 與 陽, 立 地 之 道 曰 柔 與 剛 , 立人 之 道 曰 仁 與 義 . 兼 三 才 而 兩 之, 故 易 六 畫 而 成 卦 . 分 陰 分 陽 , 迭 用 柔 剛 , 故 易 六位 而 成 章 (Ngày xưa khi thánh nhân sáng tác Kinh Dịch, các ngài thuận theo quy luật biến hoá của tính và mệnh của sự vật. Cho nên, các ngài xác lập: đạo trời thì có Âm và Dương, đạo đất thì có nhu và cương, đạo người thì có nhân và nghĩa. Các ngài gộp tam tài (thiên-địa-nhân) [thành quẻ đơn] và gấp đôi lên [thành quẻ kép], cho nên sáu vạch Kinh Dịch lập thành quẻ kép. Sáu vạch được phân làm hào Âm và hào Dương, được dùng lần lượt thành hào nhu và hào cương. Do đó sáu vị trí trong quẻ Dịch lập thành hình quẻ). Ngu Phiên chú Thánh nhân ở đây là Bào Hi (Phục Hi). Ở quẻ đơn (có ba vạch) thì hào dưới là địa, hào giữa là nhân, hào trên là thiên; tức là mỗi quẻ của Bát Quái đều gồm chứa tam tài. Ở quẻ kép (có sáu vạch) thì hai hào dưới là địa, hai hào giữa là nhân, hai hào trên là thiên; tức là mỗi quẻ của 64 quẻ Dịch đều gồm chứa tam tài. Sáu vạch phân thành hào Âm (nhu; hào lục) và hào Dương (cương; hào cửu). Lục vị là vị trí sáu hào trong mỗi quẻ kép, tính từ dưới lên: sơ, nhị, tam, ngũ, thượng. Cách sắp xếp này là do quan niệm «khí của Dịch sinh từ dưới» (Dịch khí tòng hạ sinh 易 氣 從 下 生 ); nó giải thích quy luật biến hoá của sự vật là từ thấp lên cao. Lý Đỉnh Tộ chú chương 章 là văn lý 文 理 , tức thiên văn và địa lý; Cao Hanh hiểu là văn chương; Wilhelm và Legge hiểu chương 章 là hình dáng của quẻ Dịch. Richard Wilhelm dịch: «Ngày xưa các Thánh nhân sáng tác Kinh Dịch, các ngài muốn tuân theo trật tự của các quy luật bên trong và của số mệnh. Do đó các ngài xác định đạo Trời và gọi đạo ấy là Âm và Dương, các ngài xác định đạo Đất và gọi đạo ấy là mềm yếu (nhu) và cứng chắc (cương), các ngài xác định đạo người và gọi đạo ấy là nhân ái và nghĩa. Ba sức mạnh cơ bản này, các ngài gộp lại và gấp đôi. Do đó trong Kinh Dịch, mỗi quẻ luôn luôn có sáu hào. Các vị trí được phân thành Âm và Dương, mà các hào nhu và cương luân phiên chiếm các vị trí này. Do đó, Kinh Dịch có lục vị tạo thành hình dáng sáu hào của quẻ.» – James Legge dịch: «Ngày xưa khi Thánh nhân sáng tác Kinh Dịch, thì các hình quẻ được thiết kế cho thuận với những nguyên lý nằm ngầm trong bản chất của con người và sự vật và thuận với các mệnh lệnh mà trời định cho chúng. Với quan niệm này, các ngài trình bày trong các hình quẻ về đạo Trời, gọi các hào là Âm và Dương; về đạo Đất, gọi các hào là mềm yếu và cứng mạnh; về đạo người, dưới các tên gọi nhân và nghĩa. Mỗi đơn quái (quẻ ba hào) bao gồm tam tài; và khi được chồng lên thì hình quẻ đầy đủ có sáu hào. Có sự phân biệt về các vị trí, và chúng được ấn định thành hào Âm và hào Dương. Các hào này luân phiên được chiếm giữ bởi dạng cương hoặc dạng nhu. Do đó hình dáng của mỗi quẻ kép được thành tựu.» ↩ 3. LAM chú: Câu «Nguyênthuỷ phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết» ở trong Hệ Từ Thượng: «Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố. Nguyên thuỷ phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết. Tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng.» 仰以 觀 於 天 文 , 俯 以 察 於 地 理 , 是 故 知 幽 明 之 故 . 原 始 反 終. 故 知 死 生 之 說 . 精 氣 為物 , 游 魂 為 變 . 是 故 知 鬼 神 之 情 狀 (Thánh nhân ngước lên quan sát các hiện tượng trên trời, cúi xuống quan sát các hình thể dưới đất, cho nên biết nguyên do của sáng và tối. Các ngài suy cứu cặn kẽ từ khởi đầu đến kết thúc của vạn vật, cho nên biết giải thích về sống chết. Tinh khí là vật [thần], du hồn thì biến hoá [quỷ], cho nên các ngài biết tình trạng của quỷ và thần.) – Wilhelm dịch: «Trong khi ngước lên quan sát tìm hiểu với sự giúp đỡ của các dấu hiệu trên trời và cúi xuống xem xét các đường vạch trên mặt đất thì người ta biết tình trạng của tối và sáng. Trong khi trở về các khởi đầu [của sự vật] và lần theo sự vật cho đến tận cùng thì người ta hiểu các thuyết giảng về sống và chết. Sự kết hợp giữa tinh và lực làm vật hoạt động. Sự xuất ra của hồn [khỏi vật] tạo ra sự biến hoá. Qua đó, người ta biết tình trạng của hồn xuất ra và hồn trở về.» Wilhelm xem chủ thể của những hành động trên là người ta nói chung, chứ không phải chỉ là Thánh nhân. Cách dịch lạ kỳ của Wilhelm chịu ảnh hưởng sâu đậm của Đạo giáo. Ông giảng: «Kinh Dịch dựa trên hai nguyên lý cơ bản: Âm (tối) và Dương (sáng). Các quẻ được hình thành từ các yếu tố này. Những hào riêng lẻ thì hoặc là tĩnh, hoặc là động. Khi các hào tĩnh (tức là hào được thể hiện bằng số 7 [cương = Thiếu Dương] và số 8 [nhu = Thiếu Âm]), thì chúng tạo thành quẻ nhất định. Khi các hào động (tức là khi hào được thể hiện bằng số 9 [cương = Lão Dương] và số 6 [nhu = Lão Âm]), thì chúng phân rã quẻ trở lại và biến thành một quẻ khác. Những quy trình này khai mở nhãn quan vào những bí mật của sự sống. Khi ta vận dụng hai nguyên lý này vào các thiên tượng (mặt trời = Dương, mặt trăng = Âm) và vào những vạch trên đất (tứ phương), thì ta biết những tình trạng tối sáng (Âm Dương), tức là những quy luật tàng ẩn trong sự luân chuyển của bốn mùa, mà sự luân chuyển này tạo điều kiện cho sự tiến thoái của sinh lực thực vật. Bằng cách này, nhờ quan sát những khởi đầu và chung cuộc của sự sống ta biết rằng sự sinh ra và sự chết đi chẳng qua là sự tuần hoàn mà thôi. Sinh ra là tiến vào thế giới hữu hình. Chết đi là thoái lui vào cõi vô hình. Cả sinh lẫn tử không ám chỉ một khởi đầu tuyệt đối hay một kết thúc tuyệt đối, giống như trường hợp năm đến rồi đi, năm đi rồi đến. Với con người thì có gì khác hơn đâu. Giống như những hào tĩnh lập nên quẻ, và khi chúng động thì tạo ra biến đổi, cái nhục thể của ta được tạo thành do dòng tinh nam xuất ra kết hợp với khí nữ. Cái nhục thể này lâu bền một cách tương đối chừng nào mà hai sinh lực cấu thành ấy tĩnh tại trong sự quân bình. Khi chúng động, sự phân rã sẽ xảy ra. Linh hồn xuất ra (phần thanh cao thăng lên, phần trọng trọc chui xuống đất); thể xác rữa nát. Tương tự, những sinh lực tâm linh (tạo ra và phân rã sinh thể hữu hình) hoặc thuộc nguyên lý Dương hoặc thuộc nguyên lý Âm. Dương thần (Thần) xuất ra; nó là phần tác động, có thể nhập vào một thể xác mới. Âm thần (quỷ) quay trở về nhà; nó là phần thoái lui, có phận sự tiêu hoá những gì mà sự sống gặt hái được. Trong khái niệm về Dương thần và Âm thần không hề ngụ ý thiện và ác, mà nó chỉ phân biệt hạ tầng trương giãn và hạ tầng co rút của sinh lực. Đó là hai tình trạng biến đổi (như thuỷ triều lên xuống) trong biển đời bao la.» – James Legge dịch: «Thánh nhân, căn cứ theo Kinh Dịch, ngước lên quan sát các hiện tượng sáng rỡ trên trời, cúi xuống xem xét các sắp đặt nhất định dưới đất, do đó ngài biết những nguyên do của tối (hay của vật tối) và của sáng (hay của vật sáng). Ngài truy cứu đến khởi đầu của chúng và lần theo tới kết cục của chúng, do đó ngài biết những gì có thể nói về sống và chết. Ngài biết cách thức mà sự kết hợp của tinh và khí tạo ra sự vật, và biết sự biến mất hay sự xuất ra của hồn làm biến đổi cấu tạo của sự vật, do đó ngài biết tính chất của quỷ và thần.» ↩ 4. Hệ Từ Thượng: «Thị cố Dịch hữu Thái Cực. Thị sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái. Bát quái định cát hung, cát hung sinh đại nghiệp.» 是 故 易 有 太 極 , 是 生 兩 儀 . 兩 儀 生 四 象 . 四 象 生 八 卦 . 八 卦 定 吉 凶 , 吉 凶 生 大 業 . – Richard Wilhelm dịch: «Cho nên, trong Dịch có Thái Cực (sơ nguyên lớn). Thái Cực sinh lưỡng nghi (hai sức mạnh cơ bản). Lưỡng nghi sinh tứ tượng (bốn hình tượng). Tứ tượng sinh bát quái (tám quẻ). Bát Quái xác định cát và hung. Cát hung tạo ra lĩnh vực hoạt động lớn.» – James Legge dịch: «Cho nên, trong hệ thống của Dịch có Thái Cực. Thái Cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái. Bát Quái nhằm xác định mặt tốt và mặt xấu của mọi sự việc, và từ sự xác định này mà sự thực hiện thành công của sự nghiệp lớn của cuộc đời được tạo ra.» ↩ 5. Tống Sử (Nho Lâm Truyện): «Chấn kinh học thâm thuần, hữu Hán Thượng Dịch Giải vân: Trần Đoàn dĩ Tiên Thiên Đồ truyền Chủng Phóng; Phóng truyền Mục Tu; Mục Tu truyền Lý Chi Tài; Chi Tài truyền Thiệu Ung. Phóng dĩ Hà Đồ Lạc Thư truyền Lý Khái; Khái truyền Hứa Kiên; Hứa Kiên truyền Phạm Ngạc Xương; Ngạc Xương truyền Lưu Mục. Mục Tu dĩ Thái Cực truyền Chu Đôn Di.» 震 經 學 深 醇 , 有 漢 上 易 解 云 : 陳 摶 以 先 天 圖 傳 種 放 ; 放 傳 穆 修 ; 穆 修 傳 李 之才 ; 之 才 傳 邵 雍 . 放 以 河 圖 洛 書 傳 李 溉 ; 溉 傳 許 堅 ; 許 堅 傳 范 諤 昌 ; 諤 昌 傳 劉 牧 . 穆 修 以 太 極 傳 周 敦 頤 . ↩ Thái Cực Đồ Thuyết_3 Nói như thế, cái học về Tượng Số thời ấy bắt nguồn từ Trần Đoàn. Theo Tống Sử, Trần Đoàn là một Thần Tiên sống, rất nổi tiếng đầu đời Tống.1Học giả đời Thanh là Mao Kỳ Linh 毛 奇 齡 (1623-1716) đã viết trong quyển Thái Cực Đồ Thuyết Di Nghĩa 太 極 圖 說 遺 義 của ông rằng: Các hình đồ vốn có trong Tham Đồng Khế 參 同 契 đã bị đa số học giả bỏ đi sau khi Chu Hi (1130-1200) chú giải nó. Bản Tham Đồng Khế của Bành Hiểu 彭 曉 chú giải có hai hình đồ: Thuỷ Hoả Khuông Khoách Đồ 水 火 匡 廓 圖 và Tam Ngũ Chí Tinh Đồ 三 五 至 精 圖 .2Hình tròn thứ hai trong Thái Cực Đồ của Chu Liêm Khê chính là Thuỷ Hoả Khuông Khoách Đồ3 của Tham Đồng Khế. Hình thứ ba (có ngũ hành) trong Thái Cực Đồ của Chu Liêm Khê chính là Tam Ngũ Chí Tinh Đồ của Tham Đồng Khế. Hai học giả Hoàng Tông Viêm 黃 宗 炎 (1616-1686) và Chu Di Tôn 朱 彝 尊 (1629-1709) đều cho rằng Thái Cực Đồ của Chu Liêm Khê vốn gọi là Vô Cực Đồ. Hai ông cho rằng Trần Đoàn cư ngụ ở Hoa Sơn, khắc Vô Cực Đồ lên vách đá. Hình đồ ấy bố trí từ dưới lên trên như sau: (1) Hình tròn rỗng dưới chót gọi là «Huyền tẫn chi môn» 玄 牝 之 門 ; (2) Hình tròn rỗng kế tiếp gọi là «Luyện tinh hoá khí, luyện khí hoá thần» 鍊 精 化 氣 鍊 氣 化 神 ; (3) Hình chính giữa có ngũ hành liên lạc với nhau (bên trái là mộc và hoả, bên phải là thuỷ và kim, chính giữa là thổ) gọi là «Ngũ khí triều nguyên» 五 氣 朝 元 ; (4) Hình tròn có phân đen trắng (tức Thuỷ Hoả Khuông Khoách Đồ) gọi là «thủ Khảm điền Ly» 取 坎 填 離 ; (5) Hình tròn rỗng trên cùng gọi là «Luyện thần phản hư, phục quy Vô Cực» 鍊 神 返 虛 復 歸 無 極 .4 Hoàng Tông Viêm nói: «Khi Chu Liêm Khê có được hình đồ này, bèn đảo ngược thứ tự và đổi tên hình đồ [là Thái Cực Đồ], phụ đề Đại Dịch, xem là bí truyền của Nho gia. Bởi vì khẩu quyết của phương sĩ nghịch chuyển thì thành Đan, cho nên nó mô tả chuyển động từ dưới lên trên. Còn chủ ý của Chu Liêm Khê là thuận chuyển sinh con người, cho nên mô tả sự chuyển động từ trên xuống dưới.»5 Lời lẽ của Hoàng Tông Viêm và Chu Di Tôn chưa rõ thực hư thế nào, nhưng chắc chắn là Thái Cực Đồ của Chu Liêm Khê có quan hệ mật thiết với Đạo giáo. Chu Liêm Khê vay mượn hình Thái Cực Đồ mà các đạo sĩ dùng để tu luyện rồi đưa vào đó giải thích mới và ý nghĩa mới. Sự giải thích này (tức Thái Cực Đồ Thuyết) là một trong các trứ tác có hệ thống của Đạo học gia đời Tống và đời Minh. Khi giảng về sự phát sinh ra vũ trụ, đa số Đạo học gia đời Tống và đời Minh đều dùng thuyết này để suy diễn. Sau đây tôi luận chung về Thái Cực Đồ Thuyết và Thông Thư của Chu Liêm Khê. Thông Thư 通 書 (còn gọi là Dịch Thông 易 通 ) cũng là một trứ tác của ông giảng về Dịch. 3. Thái Cực Đồ Thuyết và Thông Thư Thái Cực Đồ Thuyết nói: «Thái Cực động thì sinh ra Dương; động tới cực điểm thì tĩnh; tĩnh thì sinh ra Âm. Tĩnh tới cực điểm thì trở lại động. Một động một tĩnh, làm căn bản cho nhau. Phân ra Âm và Dương, thì lưỡng nghi thành lập.» Một động một tĩnh của Thái Cực có thể cùng lúc mà có. Thông Thư viết: «Động mà không tĩnh, tĩnh mà không động, đó là vật. Động mà không động, tĩnh mà không tĩnh, đó là thần. Động mà không động, tĩnh mà không tĩnh, chẳng phải là không động và không tĩnh. Vật không thông nhau, thần là cái linh diệu nhất của vạn vật.»6 Một sự vật đặc thù, khi động thì chỉ có động chứ không có tĩnh, khi tĩnh thì chỉ có tĩnh chứ không có động. Một sự vật đặc thù khi nhất định là thế này thì nó không thể là thế kia, khi nó nhất định là thế kia thì nó không thể là thế này. Do đó mới nói «vật không thông nhau». Thái Cực động mà không động, tức là trong cái động cũng có cái tĩnh; tĩnh mà không tĩnh, tức là trong cái tĩnh cũng có cái động. Cho nên trong phần Âm của nó có Dương, trong phần Dương của nó có Âm. Do đó mới nói «thần là cái linh diệu nhất của vạn vật». Thái Cực Đồ Thuyết nói: «Dương biến Âm hợp, thì sinh ra: thuỷ (nước), hoả (lửa), mộc (gỗ), kim (kim loại), thổ (đất). Ngũ khí (năm khí của ngũ hành) thuận hoà phân bố tạo ra sự vận hành của tứ thời (bốn mùa). Ngũ hành hợp nhất là Âm Dương. Âm Dương hợp nhất là Thái Cực. Thái Cực có gốc là Vô Cực.» Ở đây giảng rõ Thái Cực sinh Âm Dương và ngũ hành, nhưng Thái Cực kỳ thực lại nằm trong Âm Dương và ngũ hành. Thông Thư nói: «Hai khí Âm Dương và ngũ hành hoá sinh vạn vật. Ngũ hành khác nhau, Âm Dương là thực. Cả hai vốn là Một. Vạn là Một; Một phân làm vạn. Vạn và Một đều đúng đắn; cái lớn và cái nhỏ đều được quyết định.»7 Thái Cực Đồ Thuyết gọi ngũ hành là ngũ khí, gọi Âm Dương là nhị khí. Tức là Chu Liêm Khê xem Âm Dương và ngũ hành đều là Khí. Trong Thông Thư gọi Một là Lý, cũng tức là Thái Cực. Thái Cực là Lý, Âm Dương và ngũ hành là Khí. Hai khái niệm Lý 理 và Khí 氣 chiếm địa vị rất quan trọng trong Đạo học đời Tống và đời Minh. Hai khái niệm Lý và Khí do Chu Liêm Khê nêu ra đầu tiên, nhưng ý nghĩa của chúng phải đợi đến Chu Hi (1130-1200) mới được thuyết minh tường tận. Theo Thông Thư, vạn vật đều do Một phân ra. Do đó Thái Cực tức là ở trong vạn vật, nên Thông Thư mới nói «vạn là Một; Một phân làm vạn». Thái Cực Đồ Thuyết nói hai khí Âm Dương giao cảm, hoá sinh vạn vật. Những sự vật đặc thù như thế đều có cái được quyết định cho nên chúng không thông với nhau. Cho nên Thông Thư nói: «Vạn và Một đều đúng đắn; cái lớn và cái nhỏ đều được quyết định.» Thái Cực Đồ Thuyết nói: «Chỉ riêng con người có được sự ưu tú, nên tối linh. Hình thể con người đã sinh ra rồi thì thần trí phát ra mà có ý thức. Ngũ tính (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) cảm động mà phân biệt thiện và ác, và vạn sự xuất hiện.» Ở đây xem con người linh hơn vạn vật, được phú bẩm Lý của Thái Cực và có đủ các tính của ngũ hành. Lý của Thái Cực thì thuần tuý chí thiện Cho nên bản tính con người vốn là thiện. Tính bản nhiên của nhân tính gọi là thành 誠 (chân thành). Thông Thư nói: «Thành là gốc của thánh nhân. "Lớn thay sự khởi đầu của Càn, vạn vật bắt đầu từ nó," đó là nguồn của thành. "Càn đạo biến hoá, mỗi thứ tự chỉnh đốn tính và mệnh của mình, sự chân thành được lập nên, thuần tuý chí thiện vậy." Cho nên nói: "Một Âm và một Dương gọi là Đạo; cáikế tiếp là thiện; cái tạo thành [vạn vật] là tính." Nguyên và hanh là sự thông suốt của thành; lợi và trinh là sự trở về gốc của thành. Lớn thay đạo Dịch, đó là nguồn của tính và mệnh vậy.»8 Một Âm và một Dương gọi là Đạo; Đạo tức là một tên gọi khác của Thái Cực. Về nguồn gốc của cái ác, Thông Thư nói: «Thành vô vi, cơ thiện ác.» 誠 無 為 幾 善 惡 (Chân thành nằm trong trạng thái vô vi, hơi lay động thì tạo ra thiện và ác). Chữ «cơ» 幾 ở đây nghĩa là lay động rất nhỏ nhặt. Cho nên Thông Thư giảng: «Động nhi vị hình, hữu vô chi gian giả, cơ dã.» 動 而 未 形 , 有 無 之 間 者 , 幾也 (Động mà chưa có hình, cái nằm giữa hữu và vô gọi là cơ). Nhân tính vốn thiện, nhưng khi nó phát động ra để thi hành sự việc thì chưa chắc nó hợp với trung dung. Nếu nó phát ra mà không hợp với trung dung, thì cái không hợp với trung dung ấy gọi là ác. Thông Thư nói: «Trong tính có cương nhu, tạo ra thiện ác. Chỉ cần trung dung mà thôi. [bởi con người] không thấu đạt, [nên ta] nói: Thiện phát xuất từ cương là nghĩa, thẳng thắn, quyết đoán, nghiêm nghị, kiên định. Ác [phát xuất từ cương] là hung hãn, hẹp hòi, mạnh bạo. Thiện phát xuất từ nhu là thuận tòng, từ tốn. Ác [phát xuất từ nhu] là nhu nhược, không quyết đoán, tà nịnh. Chỉ có trung là hài hoà và tiết độ, là sự đạt đạo của thiên hạ, là sự việc của thánh nhân. Cho nên thánh nhân chủ trương giáo lý này, khiến cho con người tự thay đổi cái ác của mình, tự đạt tới sự trung dung của mình và dừng lại ở đó.»9 Dương thì cương, Âm thì nhu. Con người được phú bẩm hai khí Âm Dương, nên bản tính cũng có cương và nhu. Cương và nhu mất chính đáng cho đến ngũ tính (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) cảm động và không hợp với trung dung, như vậy đều là ác. Cho nên ác là cái tiêu cực, thiện là cái tích cực. Chu Liêm Khê nói: Bởi hơi bị lay động giữa thiện và ác, nên quân tử phải thận trọng khi hành động. Thái Cực Đồ Thuyết nói: «Thánh nhân tự xác định mình theo: trung, chính, nhân, nghĩa, và chủ về tĩnh, lập thành chuẩn mực tối cao của con người.» Thông Thư nói: «Đạo của thánh nhân chỉ là nhân, nghĩa, trung, chính mà thôi.» (Thánh nhân chi đạo, nhân nghĩa trung chính nhi dĩ hĩ 聖 人 之 道 , 仁 義 中 正 而 已 矣 ). Như vậy, chuẩn mực tối cao của con người tức là trung, chính, nhân, nghĩa. Thông Thư nói: «Trời lấy Dương để sinh ra vạn vật, lấy Âm để tựu thành vạn vật. Vật được sinh, đó là nhân ái; được tựu thành, đó là nghĩa. Cho nên thánh nhân ở trên cao, lấy nhân ái để dưỡng dục vạn vật, lấy nghĩa để chỉnh đốn vạn dân.»10 Thái Cực Đồ Thuyết nói: «[Thánh nhân] xác lập: đạo trời thì có Âm và Dương; đạo đất thì có nhu và cương; đạo người thì có nhân và nghĩa.» Tổng hợp lại mà xét, chúng ta phải lấy trung chính để uốn nắn bản thân, lấy nhân nghĩa để trị người; và phương pháp tu dưỡng để thành Thánh nhân chính là tĩnh 靜 . Theo chú thích của Chu Liêm Khê, «vô dục cho nên tĩnh» (vô dục cố tĩnh 無 欲 故 靜 ). Thông Thư nói: «Hỏi: "Người ta có thể học làm Thánh không?" Đáp: "Có thể." Hỏi: "Có nguyên tắc quan trọng gì chăng?" Ta trả lời là có, người ấy hỏi đó là gì, ta đáp: "Điều quan trọng là duy nhất. Cái duy nhất ấy chính là vô dục. Cái vô dục ấy lúc tĩnh thì hư không, lúc động thì ngay thẳng. Tĩnh và hư không thì sáng suốt, sáng suốt thì thông hiểu; động và ngay thẳng thì công bình, công bình thì phổ quát. Hễ sáng suốt, thông hiểu, công bình, phổ quát, thì thứ dân thành Thánh nhân vậy!»11 Vô dục thì tĩnh hư và động trực. Mạnh Tử nói: «Nay bỗng thấy một đứa bé sắp rơi xuống giếng, ai cũng sợ hãi và thương xót [mà đến cứu nó], chẳng phải vì họ quen biết cha mẹ nó, hay để làng xóm và bạn bè khen ngợi, hay vì sợ mang tiếng bất nhân.»12Các Đạo học gia đời Tống và đời Minh thường trích dẫn câu văn này. Lòng trắc ẩn khiến người ta muốn cứu đứa bé, đó là trực khởi 直 起 . Từ lòng trắc ẩn dẫn tới hành vi cứu ngay đứa bé, đó là trực động 直 動 . Trực khởi và trực động, chẳng màng lợi hại đối với bản thân, chỉ cần cứu được đứa bé, đó là công bình. Cho nên Chu Liêm Khê nói «động và ngay thẳng thì công bình». Tuy nhiên, nếu «vì quen biết cha mẹ nó, hay để làng xóm và bạn bè khen ngợi, hay vì sợ mang tiếng bất nhân» mà ta chạy đến cứu đứa bé, thì đó là dục 欲 . Ý niệm ấy khởi lên không phải là trực khởi; hành vi cứu đứa bé không phải là trực động. Ý niệm và hành vi ấy có sự cân nhắc lợi hại đối với bản thân, nên gọi là tư dục. Ý niệm vô dục khởi lên đó là Thánh hiền, còn ý niệm có tư dục khởi lên đó là cầm thú. Nếu trong tâm ta vô dục và tĩnh lặng thì tâm ta giống như gương sáng. Vô sự thì tĩnh hư, hữu sự thì động trực. Thông Thư nói: «Vắng lặng bất động tức là thành. Cảm động mà thông suốt tức là thần.» (Tịch nhiên bất động giả, thành dã. Cảm nhi toại thông giả, thần dã. 寂 然 不 動 者 , 誠 也 . 感 而 遂 通 者 , 神 也 ). «Vắng lặng bất động» tức là tĩnh hư; «Cảm động mà thông suốt» tức là động trực. Đó là điều mà các Đạo học gia đời Tống và đời Minh về sau thường thuyết giảng. Tuy nhiên Chu Liêm Khê chỉ đề cập dục như vậy; còn địa vị của nhân dục ở phương diện siêu hình và luân lý thì ông chưa từng nói rõ. «Sáng suốt thì thông hiểu» (minh tắc thông), khi chúng ta vô dục và tĩnh lặng thì tâm chúng ta như gương sáng. Vắng lặng mà thường chiếu. Hễ sáng thì có thể như thế, không sáng thì không thể như thế. Về «công bình thì phổ quát» (công tắc phổ), Thông Thư nói: «Đạo của Thánh nhân chỉ là chí công mà thôi. Có kẻ hỏi: "Vì sao nói thế?" Đáp: "Bởi Trời Đất chỉ là chí công mà thôi."» (Thánh nhân chi đạo, chí công nhi dĩ hĩ. Hoặc viết: Hà vị dã? Viết: Thiên địa chí công nhi dĩ hĩ 聖 人 之 道 , 至 公 而 已 矣 . 或 曰 : 何 謂 也 ? 曰 : 天 地 至 公 而 已 矣 ). Trời Đất chí công nên che chở tất cả, đó gọi là phổ 溥 (phổ quát, khắp nơi). Bởi công bình nên như thế. Nếu không công bình thì có sự che chở riêng tư cho mỗi loài. Đạo của Thánh nhân chỉ là chí công mà thôi. Cho nên, hễ sáng suốt, thông hiểu, công bình, và phổ quát, thì thứ dân trở thành thánh nhân vậy. Muốn đạt tới cảnh giới «vô dục và tĩnh lặng» thì chúng ta cũng phải trải qua một giai đoạn đáng kể. Thông Thư nói: «Hồng Phạm viết: "Suy nghĩ phải thấu triệt. [...] Thấu triệt sẽ thánh thiện." Không suy nghĩ là căn bản. Suy nghĩ thông suốt là ứng dụng. Hơi lay động ở chỗ kia, thì chân thành động ở chỗ này. Không suy nghĩ mà chẳng gì không thông suốt, đó là Thánh nhân. Nếu không suy nghĩ, Thánh nhân không thể thông suốt cái tế vi. Nếu không thấu triệt, Thánh nhân không thể thông suốt khắp nơi. Do đó, thông suốt khắp nơi phát sinh từ thông suốt cái tế vi; ứng dụng cái tế vi phát sinh từ suy nghĩ. Cho nên suy nghĩ là căn bản của công việc của Thánh nhân và là sự lay động dẫn đến cát hung vậy.»13 Vô tư (không suy nghĩ) tức là vắng lặng bất động. Suy nghĩ thông suốt tức là cảm động mà thông suốt. Muốn đạt tới cảnh giới «không suy nghĩ mà chẳng gì không thông suốt» (vô tư nhi vô bất thông) thì trước tiên phải có công phu suy nghĩ. Nhưng cái công phu suy nghĩ ấy phải như thế nào thì Chu Liêm Khê chưa hề nói rõ. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng công phu ấy có lẽ là thường xuyên chú ý đến trạng thái trong tâm chúng ta, giống như Mạnh Tử nói «tất hữu sự yên» 必 有 事 焉 (luôn canh cánh bên lòng).14 Thái Cực Đồ Thuyết nói: «Thánh nhân hợp nhất đức của mình với Trời Đất, hợp nhất vẻ sáng của mình với mặt trời và mặt trăng, hợp nhất thứ tự của mình với bốn mùa, hợp nhất cát hung của mình với quỷ thần.» Thông Thư nói: «Thánh nhân chỉ có chân thành mà thôi. Chân thành là gốc của ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), là nguồn của trăm hạnh.» (Thánh thành nhi dĩ hĩ. Thành ngũ thường chi bản, bách hạnh chi nguyên dã 聖 誠而 已 矣 . 誠 五 常 之 本 , 百 行 之 源 也 ). Thành 誠 (chân thành) là tính bản nhiên của nhân tính. Thánh nhân sở dĩ là Thánh bởi vì đã trở về với tính bản nhiên của nhân tính. Điều mà Lý Ngao nói, các Đạo học gia kể từ Chu Liêm Khê về sau đã nhất trí chủ trương.● * Lê Anh Minh dịch và phụ chú Nguồn: Phùng Hữu Lan 馮 友 蘭 , Trung Quốc Triết Học Sử中 國 哲 學 史 , Hương Cảng 1956. Trích dịch chương 11 của thiên thứ hai. Phụ chú của người dịch ghi là LAM chú. Lê Anh Minh 1. LAM chú: Trần Đoàn 陳 摶 (871-989) sống cuối thời Ngũ Đại và đầu đời Tống, tự là Đồ Nam 圖 南 , hiệu là Phù Dao Tử 扶 搖 子 , quê ở Chân Nguyên 真源 thuộc Bạc Châu 亳 州 (nay là Lộc Ấp 鹿 邑 , tỉnh Hà Nam 河 南 ). Thuở nhỏ đã đọc qua các kinh điển Nho giáo, đặc biệt ham thích sách dạy phương dược (thuốc trường sinh) của Đạo giáo, và có tâm chí dẹp loạn cứu đời. Những năm Trường Hưng 長 興 (930-933) đời vua Minh Tông 明 宗 (tức Lý Tự Nguyên 李 嗣 源 , tại vị 926-933) của Hậu Đường, ông thi rớt tiến sĩ, bèn chán đời, ẩn cư trong núi Vũ Đang 武 當 , rồi qua ở núi Hoa Sơn, kết bạn với Lã Động Tân 呂 洞 賓 và Lý Kỳ 李 琪 . Theo Tư Trị Thông Giám (Hậu Chu Ký), năm 956, tức năm Hiển Đức thứ 3 đời vua Thế Tông 世 宗 (tức Sài Vinh 柴 榮 , tại vị 954-959) của Hậu Chu, vua ham thích thuốc trường sinh (tức ngoại đan), nghe danh của Trần Đoàn bèn vời vào cung hỏi về thuật luyện đan, và phong cho Trần Đoàn làm Gián nghị đại phu, nhưng Trần Đoàn từ tạ. Vua ban cho Trần Đoàn hiệu Bạch Vân 白 雲 tiên sinh. Những năm Thái Bình Hưng Quốc 太 平 興 國 (976-984) đời vua Thái Tông của Bắc Tống, Trần Đoàn tuân chiếu chỉ vào kinh đô, ông khuyên vua chiêu hiền đãi sĩ, khoan nới sức dân, trừ khử nịnh thần, ban thưởng tam quân. Vua ban ông hiệu Hi Di 希 夷 tiên sinh. Trần Đoàn học thức uyên bác, trứ tác nhiều. Vô Cực Đồ của ông được Chu Đôn Di sửa đổi thành Thái Cực Đồ. Tiên Thiên Đồ của ông được Thiệu Ung kế thừa. Ông có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của Lý Học đời Tống. Trứ tác của ông đều mất cả, chỉ còn sót Âm Chân Quân Hoàn Đan Ca Chú 陰 真 君 還 丹 歌 注 được chép vào Đạo Tạng. Đạo giáo tôn xưng ông là Trần Đoàn Lão Tổ 陳 摶 老 祖 . Xem: Trương Chí Triết, Đạo Giáo Văn Hoá Từ Điển, Giang Tô Cổ Tịch xuất bản xã, 1994, tr.207. ↩ 2. Phùng Hữu Lan chú: Trong Đạo Tạng, bản Tham Đồng Khế do Bành Hiểu chú giải cũng không có hình đồ nào cả.– Derk Bodde chú: Bành Hiểu sống thời Ngũ Đại (907-959). ↩ 3. LAM chú: Trong Thuỷ Hoả Khuông Khoách Đồ, nửa hình tròn bên trái tượng trưng quẻ Ly ☲, nửa hình tròn bên phải tượng trưng quẻ Khảm ☵ . Vòng cung đen là hào Âm, vòng cung trắng là hào Dương ↩ 4. Phùng Hữu Lan chú: Hoàng Tông Viêm 黃 宗 炎, Thái Cực Đồ Biện 太 極 圖 辯 (được trích dẫn trong Tống Nguyên Học Án 宋 元 學 案 ) và Chu Di Tôn 朱 彝 尊 , Thái Cực Đồ Thụ Thụ Khảo 太 極 圖 授 受 考 (in trong Bộc Thư Đình Tập 曝 書 亭集 , quyển 58). ↩ 5. Hoàng Tông Viêm, Thái Cực Đồ Biện: «Chu Tử đắc thử đồ, nhi điên đảo kỳ tự, cánh dị kỳ danh, phụ ư Đại Dịch, dĩ vi Nho giả chi bí truyền. Cái phương sĩ chi quyết, tại nghịch nhi thành Đan, cố tòng hạ nhi thượng. Chu Tử chi ý, dĩ thuận nhi sinh nhân, cố tòng thượng nhi hạ.» 周 子 得 此 圖 , 而 顛 倒 其 序 , 更 易 其 名 , 附 於 大 易 , 以 為 儒 者 之 秘 傳 . 蓋 方 士 之 訣 , 在 逆 成 丹 , 故 從 下 而 上 . 周 子 之 意 , 以 順 而 生 人 , 故 從 上 而 下. ↩ 6. Thông Thư: «Động nhi vô tĩnh, tĩnh nhi vô động, vật dã. Động nhi vô động, tĩnh nhi vô tĩnh, thần dã. Động nhi vô động, tĩnh nhi vô tĩnh, phi bất động bất tĩnh dã. Vật tắc bất thông; thần diệu vạn vật.» 動 而 無靜 , 靜 而 無 動 , 物 也 . 動 而 無 動 , 靜 而 無 靜 , 神 也 . 動 而 無 動 , 靜 而 無 靜 , 非 不 動不 靜 也 . 物 則 不 通 ; 神 妙 萬 物 . – LAM chú: Câu chót tôi dịch theo Derk Bodde: «For whereas things do not interpenetrate one another, spirit is the most mysterious of all things.» ↩ 7. Thông Thư: «Nhị khí ngũ hành, hoá sinh vạn vật. Ngũ thù nhị thực, nhị bản tắc nhất. Thị vạn vi nhất, nhất thực vạn phân. Vạn nhất các chính, tiểu đại hữu định.» 二 氣 五 行 , 化 生 萬 物 . 五 殊 二 實 , 二 本 則 一 . 是 萬 為 一 , 一實 萬 分 . 萬 一閣 正 , 小 大 有 定 . ↩ 8. Thông Thư nói: «Thành giả, thánh nhân chi bản. "Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thuỷ," (a) thành chi nguyên dã. "Càn đạo biến hoá, các chính tính mệnh, thành tư lập yên, thuần tuý chí thiện giả dã." ( B) Cố viết: "Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo; kế chi giả thiện dã; thành chi giả tính dã." © Nguyên hanh thành chi thông; lợi trinh thành chi phục. Đại tai Dịch dã, tính mệnh chi nguyên hồ.» 誠 者 , 聖 人 之 本 . 大 哉 乾 元 , 萬 物 資 始 , 誠 之 源 也 . 乾 道 變 化 , 各 正 性 命 , 誠 斯 立 焉 , 純 粹 至 善 者 也 . 故 曰 : 一 陰 一 陽 之 謂道 ; 繼 之 者善 也 ; 誠 之 者 性 也 . 元 亨 誠 之 通 ; 利 貞 誠 之 復 . 大 哉 易 也 , 性 命 之 源 乎 . – LAM chú: (a) Câu «Đạitai Càn nguyên, vạn vật tư thuỷ» là Thoán Truyện quẻ Càn. ( B) Chỉ có «Cànđạo biến hoá, các chính tính mệnh» là trong Thoán Truyện quẻ Càn. Còn «Thànhtư lập yên, thuần tuý chí thiện giả dã» tôi không thấy xuất hiện trong Chu Dịch và Tứ Thư. © Câu «NhấtÂm nhất Dương chi vị đạo; kế chi giả thiện dã; thành chi giả tính dã» này trong Hệ Từ Thượng. ↩ 9. Thông Thư: «Tính giả cương nhu thiện ác, trung nhi dĩ hĩ. Bất đạt, viết: Cương thiện vi nghĩa, vi trực, vi đoán, vi nghiêm nghị, vi cán cố. Ác vi mãnh, vi ải, vi cường lương. Nhu thiện vi thuận, vi tốn. Ác vi nhu nhược, vi vô đoán, vi tà nịnh. Duy trung dã giả, hoà dã, trúng tiết dã, thiên hạ chi đạt đạo dã, thánh nhân chi sự dã. Cố thánh nhân chủ giáo, tỷ nhân tự dị kỳ ác, tự chí kỳ trung nhi chỉ hĩ.» 性 者 剛 柔 善 惡 , 中 而 已 矣 . 不 達 , 曰: 剛 善 為 義 , 為 直 , 為 斷 , 為 嚴 毅 , 為 幹 固 . 惡 為 猛 , 為 隘 , 為 強 梁 . 柔 善 為 順 , 為 巽 . 惡 為 懦 弱 , 為 無 斷 , 為 邪 佞 . 惟 中 也 者 , 和 也 , 中 節也 , 天 下 之達 道 也 , 聖 人 之 事 也 . 故 聖 人 主 教 , 俾人 自 易 其 惡 , 自 至 其 中 而 止 矣 . ↩ 10. Thông Thư: «Thiên dĩ Dương sinh vạn vật, dĩ Âm thành vạn vật. Vật sinh, nhân dã; thành, nghĩa dã. Cố thánh nhân tại thượng, dĩ nhân dục vạn vật, dĩ nghĩa chính vạn dân.» 天 以 陽 生 萬 物 , 以 陰 成 萬 物 . 物 生 , 仁 也 ; 成 , 義 也 . 故 聖 人 在 上 , 以仁 育 萬 物 , 以 義 正 萬 民 . ↩ 11. Thông Thư: «Thánh khả học hồ? Viết: Khả. Viết: Hữu yếu hồ? Viết hữu, thỉnh vấn yên. Viết: Nhất vi yếu, nhất giả vô dục dã. Vô dục tắc tĩnh hư động trực. Tĩnh hư tắc minh, minh tắc thông, động trực tắc công, công tắc phổ. Minh thông công phổ, thứ hĩ hồ!» 聖 可 學 乎 ?曰 : 可 . 曰 : 有 要乎 ?曰 有 , 請 問 焉 . 曰 :一 為要 , 一 者 無 欲 也 . 無 欲 則 靜 虛 動 直 . 靜 虛 則 明 , 明 則 通 , 動 直 則 公 , 公 則 溥 . 明 通公 溥 , 庶 矣 乎 ! ↩ 12. Mạnh Tử, Công Tôn Sửu (thượng): «Kim nhân sạ kiến nhụ tử tương nhập vu tỉnh, giai hữu truật dịch trắc ẩn chi tâm. Phi sở dĩ nạp giao vu nhụ tử chi phụ mẫu dã; phi sở dĩ yêu dự vu hương đảng bằng hữu dã; phi ố kỳ thanh nhi nhiên dã.» 今 人 乍 見 孺 子 將 入 于 井 , 皆 有 怵 惕 惻 隱 之 心 . 非 所 以 內 交于 孺 子之 父 母 也 ; 非 所 以 要 譽 于 鄉 黨 朋 友 也 ; 非 惡 其 聲 而 然 也 . ↩ 13. Thông Thư: «Hồng Phạm viết: "Tư viết duệ. [...] Duệ tác thánh." Vô tư, bản dã. Tư thông, dụng dã. Cơ động ư bỉ, thành động ư thử, vô tư nhi vô bất thông vi thánh nhân. Bất tư tắc bất năng thông vi; bất duệ tắc bất năng vô bất thông. Thị tắc vô bất thông sinh ư thông vi; dụng vi sinh ư tư. Cố tư giả, thánh công chi bản, nhi cát hung chi cơ dã.» 洪 範 曰 : 斯 曰睿 . [...] 睿 作 聖 . 無 思 , 本 也 . 思 通 , 用 也 . 幾 動 於 彼 , 誠 動 於 此 , 無 思 而 無 不通 為聖 人 . 不 思 則 不 能 通 微 ; 不 睿 則 不 能 無 不 通 . 是 則 無 不 通 生 於 通 微 ; 用 微 生 於思 . 故 思 者 , 聖 功 之 本 , 而 吉 凶 之 幾 也 .– LAM chú: Nguyên văn trong Hồng Phạm là: «Ngũ sự: Nhất viết mạo, nhị viết ngôn, tam viết thị, tứ viết thính, ngũ viết tư. Mạo viết cung, ngôn viết tòng, thị viết minh, thính viết thông, tư viết duệ. Cung tác túc, tòng tác nghệ, minh tác triết, thông tác mưu, duệ tác thánh.» 五 事 : 一 曰 貌 , 二 曰 言 , 三 曰 視 , 四 曰 聽 , 五曰 思 . 貌 曰 恭 , 言 曰 從 , 視 曰 明 , 聽 曰 聰 , 思 曰 睿 . 恭 作 肅 , 從 作 乂 , 明 作 哲 , 聰作 謀 , 睿 作 聖 (Năm việc: 1- Dung mạo, 2- Nói năng, 3- Nhìn, 4- Nghe, 5- Suy nghĩ. Dung mạo phải kính cẩn, nói năng phải theo lý lẽ, nhìn phải sáng suốt, nghe phải tinh tế, suy nghĩ phải thấu triệt. Kính cẩn sẽ nghiêm túc, theo lý sẽ trật tự, sáng suốt sẽ khôn ngoan, tinh tế sẽ mưu lược, thấu triệt sẽ thánh thiện). ↩ 14. LAM chú: Câu «Tấthữu sự yên» 必 有 事 焉 trích trong Mạnh Tử (Công Tôn Sửu, thượng), Mạnh Tử nói về việc nuôi dưỡng khí hạo nhiên. Ta cần tích luỹ việc nghĩa thì khí hạo nhiên mới sinh ra. Nguyên văn: «Tất hữu sự yên vật chính, tâm vật vong, vật trợ trưởng dã.» 必 有 事 焉 勿正 , 心 勿 忘 , 勿 助 長也 . Chu Hi giảng chính 正 là dự kỳ 預期 (mong ngóng), ý nói việc nuôi dưỡng khí hạo nhiên chúng ta ắt luôn chú tâm đến, nhưng chớ mong ngóng hiệu quả, chớ quên nó, chớ thúc ép cho nó mau lớn. Cố Viêm Vũ bác bỏ giải thích này. Chẳng qua văn bản bị chép sai. Hai chữ chính tâm 正 心 tức là chữ vong 忘 bị chép sai. Câu này lẽ ra phải là: «Tất hữu sự yên vật vong, vật vong, vật trợ trưởng dã.» 必 有 事 焉 勿 忘 , 勿 忘 , 勿 助 長 也 (Trong tâm ắt có sự [nuôi dưỡng khí hạo nhiên], chớ quên, chớ quên, chớ thúc ép cho nó mau lớn). Xem: Tứ Thư Độc Bản, Tam Dân Thư Cục, Đài Loan, 1993, tr.367. James R. Ware (The Sayings of Mencius, New York, 1960, tr.65) dịch đúng ý của Cố Viêm Vũ: «Let it be constantly in your heart-and-mind, and do not engage in efforts to help it grow.» (Cứ để nó luôn trong lòng, chớ ép nó phát triển). Ở đây, Phùng Hữu Lan trích câu này là muốn nhấn mạnh ý nghĩa «luôn canh cánh bên lòng», chứ ông không quan tâm vấn đề nuôi dưỡng khí hạo nhiên.
  25. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, TRƯƠNG VĨNH KÝ và A. DE RHODES Bài Phỏng Vấn Ông Bùi Kha của đài BBC LUÂN ĐÔN, ÔNG NGUYỄN GIANG thực hiện ngày 22.10.2002 http://sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha02a_NTT.php VÀI LỜI MỞ ĐẦU Mấy năm gần đây, một số người viết sử có quan niệm là lịch sử cần phải được thấy là chứ không phải là lịch sử cho thấy là. Từ ý nghĩ đó nên năm 1992, Trung Tâm Hán Nôm thuộc viện Khoa Học Xã Hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, có nhiều bài tham luận trong số 47 bài, viết với chiều hướng lịch sử cần phải được thấy là, in trong tập kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ Với Vấn Đề Canh Tân Đất Nước. Và ông Chương Thâu, giáo sư viện Sử-học Hà Nội, trong bài viết Từ Một Câu Chữ Của Alexandre de Rhodes Đến Các Dẫn Dụng Khác Nhau đăng ở Nguyệt San Công Giáo tại Việt Nam và cũng được in lại trong Nguyệt San Hiệp Nhấtsố 43, Giáo Phận Orange County, California, Hoa Kỳ tháng 7. 1996. Qua bài viết này, chúng ta thấy ông Chương Thâu đồng ý với Linh Mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên trong việc cố tình dịch cụm từ plusieusr soldats là mấy chiến sĩ. Đã thế, còn chú thích đó là chiến sĩ Phúc Âm tức là các nhà truyền giáo, chứ không phải lính chiến, tức là mấy người cầm súng đánh giặc. Đúng ra, thì chữ quelque mới có nghĩa là mấy hay một vài, còn chữ plusieurs có nghĩa là nhiều. Và chữ soldats có nghĩa là binh lính hay lính chiến, còn chữ missionnaires mới có nghĩa là lính thừa sai hay là các nhà truyền giáo. Sở dĩ hai ông Chương Thâu và Linh Mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch ép giá như vậy là để che đậy cái tội vận động thực dân Pháp vào đánh chiếm nước ta của Linh Mục A. de Rhodes và cũng để vận động chính phủ Việt-Nam làm tượng đài kỷ niệm tại Hà-Nội và đặt tên đường tại thành phố Hồ Chí Minh để vinh danh kẻ tội đồ của dân tộc Việt thay vì lên án kẻ đội lốt tôn giáo nầy. Nhận thấy cách đặt vấn đề, viết sai lầm có hậu ý và vô trách nhiệm đến thế nên tôi đã viết bài để biện chính với tựa đề Góp Ý Với Giáo Sư Chương Thâu Về Vai Trò Của Linh-Mục A. De Rhodes và Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ, đăng trong tạp chí Giao Điểm số 24, 1996 tại Hoa Kỳ, và cũng được nhiều người photocopy phổ biến rộng rãi trong giới giáo chức và sinh viên tại Việt-Nam. Về sau, có người đề nghị tôi viết về Nguyễn TrườngTộ, nhưng tôi không có sử liệu. Rất may có người bạn ở Việt Nam gởi cho cuốn Nguyễn Trường Tộ Con Người và Di Thảo của Linh Mục Trương Bá Cần, tiến sĩ sử học tại Pháp. Đọc hết 58 bản Điều Trần của Nguyễn Trường Tộ trong cuốn của Linh Mục Trương Bá Cần, tôi cảm thấy hết sức ngạc nhiên và lạ lùng là không biết tại sao tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ như vậy mà từ trước đến giờ hầu như ai cũng ca tụng ông ta. Vì thế tôi bắt đầu nghiên cứu để viết về nhân vật nầy. Tôi gọi giáo sư Trần Chung Ngọc để viết chung, và sau mấy tháng làm việc (dĩ nhiên là bán thời gian) chúng tôi hoàn thành cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người và Di Thảo, Giao Điểm xuất bản 1998. Bài viết của tôi gồm có 190 trang, cọng với bài viết của giáo sư Trần Chung Ngọc 70 trang. Sách dày 260 trang. Mấy tháng sau, ông Nguyễn Xuân Phong viết bài ca tụng cuốn sách này. Bẳng đi một thời gian khá lâu, tháng 3 năm 2001 tại Việt Nam, ông Hoàng Thanh Đạm viết cuốn Nguyễn Trường Tộ Thời Thế & Tư Duy Cách Tân. Tác giả dành một chương gồm 24 trang để phê bình sách của chúng tôi. Vì phê bình sai lầm và viết cẩu thả vô trách nhiệm, nên tôi và giáo sư Trần Chung Ngọc viết bài biện chính. Tháng 4 năm 2002, chúng tôi hoàn thành cuốn sách mới với tựa đề là Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước? Vài tháng sau khi xuất bản, một số độc giả đề nghị đổi thành Nguyễn Trường Tộ Một Sự Lừa Dối Hào Nhoáng cho đúng với tâm chất của ông. Sách được mang về Việt Nam do những người về thăm quê. Tháng 7 - 8, cuốn Nguyễn Trường Tộ Một Sự Lừa Dối Hào Nhoángvà cuốn Petrus Trương Vĩnh Ký Nhìn Từ Những Khía Cạnh và Nhận Thức Khác Nhau được in không có giấy phép tại Việt Nam. Cũng khỏang đầu tháng 8 năm 2002, tờ Sài-Gòn Giải-Phóng đăng bài Hai Cuốn Sách Lạ của ông Dạ Sinh. Trong đó tác giả không hề đề cập đến nội dung của hai cuốn sách mà chỉ cáo buộc rằng người in vi phạm luật xuất bản vì không có giấy phép, in số lượng lớn, gửi bán ở các tiệm sách tư, gửi đi các công sở và ngay cả bán dạo trên đường phố. Gần 6 giờ sáng thứ Ba ngày 22. 10. 2002, ông Nguyễn Giang, đài BBC Luân Đôn, gọi điện thoại và để lại lời nhắn trong máy trả lời (answering machine) của tôi. Ông muốn nói chuyện với tôi về cuốn sách Nguyễn Tường Tộ, sau đây là lời nhắn của ông Nguyễn Giang: Đó có phải là ông Bùi Kha không, tôi là Nguyễn Giang, ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn muốn được nói chuyện với ông về cuốn sách Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước hay không đó. Số điện thoại của tôi ở Luân-Đôn là 0044 vào nước Anh , sau đó là 207 -557-2303. Rất chờ tin của ông. Cám ơn. (Đúng ra phải là 01144, BK). Mười phút sau, tôi gọi điện thoại trả lời ông Nguyễn Giang và cuộc phỏng vấn được tiến hành từ đó. Tôi được phỏng vấn đột ngột, chưa chuẩn bị tinh thần trước và hơn nữa là giọng nói của người Quảng-Trị chắc sẽ làm cho thính giả có vài đoạn khó hiểu. Được phỏng vấn bất ngờ nên có một số vấn đề lúc trả lời, cá nhân tôi cũng cảm thấy chưa được thỏa mãn. Dưới đây, qua mạng lưới âm thanh Internet, chúng tôi ghi lại cuộc phỏng vấn của ông Nguyễn Giang đài BBC Luân-Đôn: 1. BBC: Thưa quí vị thính giả, Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật lịch sử Việt-nam được công nhận rộng rãi trong và ngoài nước (qua nhiều thế hệ)* như là một người suốt đời kêu gọi canh tân xứ sở khi nhà nước phong kiến Việt-Nam triều Nguyễn đối mặt với cuộc xâm lăng của người Pháp trong thế kỷ thứ 19. Nhưng trong một cuốn sách ra năm nay ông Bùi Kha và ông Trần Chung Ngọc tại Hoa Kỳ đã cho rằng Nguyễn Trường Tộ không yêu nước như nhiều người vẫn tưởng. Trong cuộc phỏng vấn hằng tuần hôm nay mời quí vị nghe cuộc trò chuyện của Nguyễn Giang với ông Bùi Kha. BBC: Trong chương trình phỏng vấn hàng tuần của ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần này do Nguyễn Giang phụ trách, tôi xin mời quí vị cùng nói chuyện với ông Bùi Kha là một trong hai tác giả cuốn Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước và dấu hỏi rất lớn ở đằng sau. Ông Bùi Kha và ông Trần Chung Ngọc là những trí thức Việt Nam tham gia nhóm Giao Điểm có tư tưởng cổ vũ cho Phật Học tại Hoa Kỳ. Câu hỏi đầu tiên đến với ông Bùi Kha là rất nhiều nhà nghiên cứu Việt-Nam ở nước ngoài cũng như trong nước tại Việt-Nam hiện nay người ta đều ca tụng Nguyễn Trường Tộ và phê phán nhà Nguyễn là có tư tưởng cổ hủ không thực hiện các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch v.v. và Phạm Phú Thứ để cải cách đất nước vì thế Việt Nam mới mất nước, nhưng tại sao ông lại cho rằng Nguyễn Trường Tộ không yêu nước? Bùi Kha: Thưa anh, không phải chúng tôi cho Nguyễn Trường Tộ không yêu nước, nhưng trong lịch sử và trong sử liệu mà chúng tôi có là những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ rất mâu thuẩn. Đọc trong đó kỹ lưỡng chúng ta sẽ thấy rằng ông Nguyễn Trường Tộ nói canh tân cái nầy hay cái khác, nhưng thực ra là chiêu bài củ cà rốt để che đậy hậu ý của ông là nhằm giúp Pháp trong vấn đề đô hộ Việt Nam. Nói rõ hơn, nếu đọc phớt qua thì thấy Nguyễn Trường Tộ đề nghị canh tân cái này, cải cách thứ khác và dùng chữ canh tân để đánh lừa dư luận nhưng hậu ý của ông là chỉ muốn giúp đỡ cho Pháp mà thôi. Nếu ai đọc kỹ lưỡng về Nguyễn Trường Tộ thì sẽ thấy tất cả 58 bản điều trần, tôi gọi là bản chiêu dụ, Nguyễn Trường Tộ nhắm vào hai mục đích chính. Thứ nhất là làm thế nào, vận động thế nào để tất cả quân và dân Việt Nam (nên hòa và hợp tác) đừng bao giờ dùng vũ lực đối với thực dân Pháp. Thứ hai là qua những mánh lưới chính trị lươn lẹo, ông đề nghị người này người khác vào trong vấn đề canh tân đất nước, vào làm việc trong các trại tế bần, nhưng đó là vỏ bọc bên ngoài, còn thực chất là ông ta chỉ muốn (gài người vào) để giúp Pháp mà thôi. BBC: Vâng, nhưng ông nghĩ thế nào chẳng hạn như liên tục trong 8 năm liền từ 1863-1871, Nguyễn Tường Tộ gửi lên triều đình Huế 58 bản điều-trần chẳng hạn, có bản điều trần viết rằng, theo cuốn Tư Tưởng Canh Tân Đất Nước Dưới Triều Nguyễn xuất bản tại Việt Nam trong thời gian qua, ông viết rằng nước chưa giàu sao không đặt kế hoạch để giàu, binh chưa mạnh sao không lo cho võ bị để mạnh v.v. tức là ông cũng nhắc đến cái chuyện là tăng cường võ bị hay là như Việt-Nam nói bây giờ tức là tăng cường cái nội lực để chống lại âm mưu xâm chiếm của thực dân Pháp thời đó, thì tại sao ông cho rằng cái quan điểm chẳng hạn như nâng cao võ bị của Việt-Nam , nâng cao giáo dục cho dân chúng lại là một âm mưu nào đó? BÙI KHA: Thưa ông, ông ta nói nâng cao giáo dục hay canh tân đất nước, ông ta chỉ nói vậy mà thôi, chứ ông không hề có chủ tâm như vậy. Nếu đọc những bản điều trần khác thì thấy chúng mâu thuẩn. Vì năm 1863 (trong bài Thiên Hạ Đại Thế Luận) ông đã nói rằng việc Pháp đánh chiếm Việt-Nam là do Thượng-Đế an bài như vậy rồi chúng ta không thể cưỡng được, và nếu chống lại họ thì cũng giống như châu chấu lay trụ đá mà thôi. Và ông khuyên nên cho quân lính nghỉ ngơi. Khi đề nghị cho quân lính nghỉ ngơi (để người Pháp giữ bờ cỏi cho mình như trong rừng có hổ báo thì chồn cáo không giám bén mảng đến) thì canh tân võ bị như thế nào và canh tân để làm gì? Trong (đề nghị) canh tân võ bị ông cũng không có cái sáng kiến nào cả, ông cóp nhặt ý trong cuốn Tôn Ngô Binh Pháp, chứ ngoài ra cũng không có một phương pháp nào khả dĩ theo đường lối võ bị mới để canh tân xứ sở, để làm cho dân giàu nước mạnh. Trong lúc đề nghị dân giàu nước mạnh, ông cũng chỉ xử dụng danh từ suông vậy mà thôi, chứ ngoài ra cũng không có chương trình kế họach nào hết. Thí dụ như ngay việc đề nghị mở trường kỹ thuật ở Huế, ông và ông Giám-mục Gauthier được vua Tự Đức nhờ đi Pháp mua dụng cụ máy móc đem về và mời thầy giáo về để mở trường kỹ thuật. Nhưng 4 ông thầy giáo được mang về, 3 ông (linh-mục) thì không có kiến thức, còn ông Ca-Xanh đòi lương quá cao không thể dùng được. Thành ra những điều ông Nguyễn Trường Tộ nói một đường nhưng làm một ngả, cái hậu ý của ông đàng sau đó là khác. BBC: Đó là những suy diễn của quí vị chứ còn ngay trong những bản điều trần chẳng hạn ông đề nghị chất đá cho nhiều để dành khi hữu sự hay là chế tạo các loại vũ khí mới lạ mới đối phó được với giặc chẳng hạn, rồi quân sự thông thường các chiến tập công khai để dân chúng học tập v.v. Hay những đề nghị xây dựng công sự bằng gạch đá v. v. thì những cái đó là rõ ràng để bảo vệ đất nước chứ hả? BÙI KHA: Thưa nếu chỉ trích đoạn đó không thôi thì thấy một số ý kiến của ông như có vẻ đúng. Thực tế ông nói như vậy nhưng không làm như vậy. Thí dụ như ban nảy tôi đưa thí dụ là khi mở trường Kỹ Thuật ở Huế ông mời 4 ông giáo sư về, rồi viết tờ trình lên vua Tự Đức rằng ông nầy có kiến thức nầy, ông kia có kiến thức kia, ông nọ có kiến thức nọ. Nhưng theo tài liệu của Bộ Truyền Giáo thì 3 ông (linh-mục) mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị trong danh sách thì chỉ có bằng cử-nhân văn chương mà thôi chứ không có kiến thức về khoa học. Ông nói thì có vẻ hợp lý nhưng cái hợp lý đó với hậu ý khác. Như khi ông đề nghị mỗi tỉnh mở một viện dục anh và trại tế bần để giúp đỡ những người nghèo khổ, giúp đỡ những em mồ côi là những đề nghị đúng và hay. Nhưng lúc ông có dụng ý để Giám Mục tình báo Gauthier bổ nhiệm mỗi tỉnh một ông linh mục hay giám mục để coi sóc các trại đó là những đề nghị tai hại. Vì như Giám-mục Puginier đã cho biết Nếu không có giáo-sĩ và giáo dân thì người Pháp cũng giống như cua bị bẻ gãy hết càng. Do đó, việc Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở viện dục anh và trại tế-bần là có hậu ý để tạo một mạng lưới gián điệp (gồm linh mục và giám mục) bủa khắp cả nước Việt-nam. Đó cũng là hành động giúp CUA (Pháp) có thêm càng để dễ thôn tính nước ta. Cho nên điều mà ông nói mới nghe thì có vẻ như hợp lý nhưng thực hành thì hoàn toàn sai và tai hại. BBC: Quí vị đang nghe trên mục phỏng vấn hằng tuần của ban Việt-Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần nầy do Nguyễn Giang phụ trách, tôi đang nói chuyện với ông Bùi Kha từ Hoa-Kỳ, một người có quan điểm phê phán Nguyễn Trường Tộ, và tiếp tục nói chuyện với ông và xin hỏi ông là ông có nói Nguyễn Trường Tộ thực ra là có cái ý xấu tức là phục vụ người Pháp, nhưng thử hỏi rằng nếu trong cái giả sử là như vậy thì phải chăng là tất cả các bản điều trần của ông đều sai trái và không có một ý tưởng gì mới cho canh tân Việt Nam, và một mặt khác thì phải chăng chúng ta nên hiểu rằng Nguyễn Trường Tộ chỉ là người đưa lên những đề nghị cho triều đình nhà Nguyễn thời đó, chứ ông ta đâu phải là người có toàn quyền thực hiện? BÙI KHA: Có phần đúng như vậy thưa anh, như trong bài viết cuốn Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước? Và trước đây, 1998, tôi có viết với ông Trần Chung Ngọc cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người và Di Thảo, chúng tôi cũng có nhắc lại rằng một số (rất ít) bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ nếu áp dụng thì có thể thực hiện được, rất tốt. Thí dụ như cải cách võ bị, khi ông nói rằng lính đi đánh giặc nhưng không đủ lương thực, tiền lương không đủ để ăn làm sao đánh giặc được. Trong lúc các ông tướng, sau khi đánh giặc về, họ lo ăn chơi không chăm sóc binh lính làm sao lính có thể hy sinh tánh mạng đối với đất nước được. Và nhà vua không trọng đãi họ, làm sao họ có thể hy sinh tánh mạng để bảo vệ tổ quốc? Nói như vậy thì đúng. Và trong bài đề nghị Cải Cách Phong Tục Nguyễn Trường Tộ rất đúng. Nhưng chỉ có một vài bài và vài đề nghị nhỏ như vậy mà thôi, chứ còn toàn bộ 58 bản Điều-trần ông nói thế nầy nhưng với dụng tâm khác mà chúng tôi có vạch rõ trong sách. Ba thí dụ sau đây tôi có trình bày lúc trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Giang, nhưng có lẽ vì thời lượng của đài có giới hạn nên không thấy có 3 dẫn chứng nầy trong các lần phát thanh về Việt Nam. Tôi xin nêu ra đây để làm rõ thêm tâm chất của Nguyễn Trường Tộ. Thí dụ 1: Năm 1867 Đô-Đốc La Grandière lạm dụng uy quyền chiếm thêm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ mà không được sự đồng ý của chính phủ ông. Vua Tự Đức dự định cử phái bộ đi thương lượng thẳng với chính phủ Pháp để đòi lại, thì Nguyễn Trường Tộ, ngày 7.4.1868, viết kiến nghị gởi lên triều đình khuyên nên Bải Bỏ Việc Cử Phái Bộ Đi Pháp nên tính kế lâu dài, dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao-thiệp...Mấy cụm từ nên tính kế lâu dài, dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp ai cũng tưởng ông có lòng đối với đất nước, nhưng thực ra là sợ Pháp có thể trả lại 3 tỉnh vừa chiếm, và cũng để gỡ rối cho La Grandiere đang có thể bị chính phủ ông trừng trị vì chiếm 3 tỉnh miền Tây mà không được chính phủ ông đồng thuận trước. Thí dụ 2: Tháng 9 năm 1870 Pháp thua Phổ, chính phủ bị giải tán, vua Louis Bonaparte bị tù. Đó là cơ hội ngàn năm một thuở để Việt-Nam dùng vũ lực đuổi thực dân Pháp về nước, thì Nguyễn Trường Tộ viết bài Kế Hoạch Thu Hồi Sáu Tỉnh trong đó ông khuyên nên dùng phương pháp ngọai giao thay vì vũ lực để đòi lại các tỉnh đã bị Pháp chiếm. Thí dụ 3: Nhưng có lẽ vì thấy phi lý nên 8 ngày sau (9. 2. 1871) ông viết bài Bổ Túc Kế Hoạch Đánh Úp Gia-Định. Vì tự ái dân tộc và nhục vì bị trị nên lúc nghe mấy chữ Kế Hoạch Đánh Úp dân Việt Nam ai cũng mừng cũng hãnh diện và cứ thế mà biết bao người qua nhiều thế hệ đã ca tụng ông ta. Nhưng Nguyễn Trường Tộ chỉ dùng cụm từ Kế Hoạch Đánh Úp nghe cho đã lỗ tai vậy thôi chứ ông không có ý đánh, mà với hậu ý khác. Vì nếu đánh bây giờ thì sợ Pháp bị thua nên ông khuyên phải 2 năm sau. Lịch sử cho thấy nếu đánh ngay thì Việt Nam thắng còn 2 năm sau chắc chắn thua. Tâm chất dối trá của Nguyễn Trường Tộ hầu hết là như thế cả; nói một đường làm một nẻo và tùy theo tình hình quân sự của Pháp mà viết kiến nghị, có hậu ý, gởi cho triều-đình vua Tự Đức. BBC: Và giả thử xin được hỏi ông Bùi Kha một câu có tính chất hoàn toàn lý thuyết là giả thử như triều đình nhà Nguyễn hay và những người lãnh đạo thời đó ở Việt Nam bắt chước Nhật Bản thực hiện toàn bộ những điều trần của Nguyễn Trường Tộ thì đất nước Việt Nam sẽ đi đến đâu? BÙI KHA: Nếu Việt Nam thực hiện cải cách như Nhật Bản (không phải như NTT*) thì tôi nghĩ rằng nước Việt Nam sẽ khá giàu mạnh, nhưng có điều chắc chắn rằng ông Gauthier là thầy của Nguyễn Trường Tộ và ông Nguyễn Trường Tộ giao dịch sống chung với ông gián điệp tình báo nầy trên 10 năm như tôi đã chứng minh bằng các tài liệu mật trong sách. Ôâng Gauthier lại là người muốn biến đổi xứ Bắc-Kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ và sau đó sẽ biến Việt Nam thành một nước chư hầu nhỏ của Pháp. Cho nên nếu Việt Nam canh tân thì chính ông Nguyễn Trường Tộ và ông Gauthier là hai người sẽ đứng ra cản ngăn và phá phách trước tiên, và không bao giờ có thể canh tân được. Nêu ra điều đó chúng ta cần thấy thêm rằng sau ngày 1.9.1858 ông Nguyễn Trường Tộ với Giám Mục tình báo Gauthier và 6 người khác ra tại cữa Mành Sơn Đà-Nẵng và tại đó có các linh mục giám-mục người Pháp có mặt sẵn, Giám-mục Pellerin, người đứng đầu phái bộ, đã cổ động tất cả những người có mặt làm reo Để Pháp đánh Huế cho chóng dứt điểm. Trong những người làm reo đó có ông Nguyễn Trường Tộ. Về sau ông Nguyễn Trường Tộ sợ nên trốn đi Hồng Kông. Từ Hồng Kông, năm 1861 Nguyễn Trường Tộ về lại Sài-gòn, theo lời yêu cầu của ông Charner, để mở rộng vùng chiếm đóng. Cho nên có thể nói rằng nếu Việt Nam thời nhà Nguyễn bắt chước Nhật Bản để canh tân thì chính Nguyễn Trường Tộ và Gauthier là những người sẽ phá phách trước tiên. BBC: Không, nhưng giả sử ta bỏ ông Nguyễn Trường Tộ sang một bên, nhưng theo cái quan điểm của những nhà gọi là có tư tưởng canh tân thời đó kể cả Phạm Phú Thứ sau chuyến đi gọi là Sứ Đi Tây hay là của Nguyễn Lộ Trạch về sau nầy, giả sử không nói đến các nhân vật đó nhưng nếu triều-đình nhà Nguyễn thực hiện tất cả chính sách canh tân đó thì liệu Việt-Nam có thể trở thành giàu mạnh và không bị lệ thuộc nước Pháp không? BÙI KHA: Tôi nghĩ nếu Việt-Nam làm như vậy thì có lệ thuộc nước Pháp cũng có thể thoát ra khỏi được nếu giàu mạnh như Nhật-Bản. Nhưng rất tiếc, triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ cũng bị thù trong giặc ngoài. Trong nước thì có các giáo sĩ và giáo-dân chỗ nầy chỗ khác họ đã chống lại triều đình rồi. Cho nên cũng khó lòng canh tân giả sử triều đình có chương trình để canh tân, vì những con nội trùng trong đất nước khó lòng dẹp yên. Nhưng lúc đó tôi thấy rằng triều đình nhà Nguyễn về phương diện tư tưởng canh tân xứ sở thì các vua quan, nhất là vua Tự Đức, có lòng đối với đất nước, nhưng cũng chưa có chương trình khả dĩ có thể gọi là canh tân, chưa có phương pháp gì cả. Có thể nói là mơ hồ, chỉ lo để chống ngoại xâm và bảo vệ dòng tộc nhiều hơn là có một chương trình canh tân, nếu thật sự có canh tân thì đất nước Việt Nam sẽ khá. BBC: Nhưng mà nếu giả sử là chẳng hạn như nhìn lại một số, đây chúng ta đang nói chuyện với nhau trong cuộc phỏng vấn hằng tuần hôm nay của đài BBC Luân Đôn, tất cả chúng ta nói chuyện chỉ là giả thuyết và giả tưởng ở chỗ là sự việc xẩy ra là nước Việt Nam sau thời Tự Đức thì mất nước và bị nước Pháp đô hộ nhiều năm và sau đó thì trải qua hai ba cuộc chiến khủng khiếp của thế kỷ 20 và đến bây giờ thì đất nước cũng đang ở một giai đoạn đòi hỏi phải canh tân, thì bài học từ thời Tự-Đức mà ông và các cọng sự của ông nghiên cứu trong lúc phê phán Nguyễn Trường Tộ thì cái bài học rút ra cho thời Tự Đức đó là gì? BÙI KHA: Bài học rút ra cho thời Tự Đức là luôn luôn nhà cầm quyền phải nhìn cái hướng đi lên của thế giới và sự phát triển của các nước đã đi qua để xét lại đất nước mình có những điều nào còn tụt hậu, điều nào vẫn còn kém thì mình phải cố gắng phát triển nền kinh tế của nước nhà. Rất buồn, thực tế hiện thời nạn tham nhũng đã đục khoét đất nước Việt-Nam hết sức nguy hiểm như anh thấy. Nạn Năm Cam, tôi nghĩ rằng vốn liếng của ông ta nhiều lắm là 4 đến 5 chục triệu đô la nhưng ông có thể mua đến thứ trưởng, tổng giám đốc, mua nhân viên các bộ, các ngành. Nếu nạn tham nhũng ở Việt Nam không được trừng trị đích đáng và chấm dứt, thì có thể người nước ngoài họ bỏ ra vài trăm triệu đô la là có thể mua hết. Đó là điều nguy hiểm, tôi nghĩ rằng Việt-Nam trong lúc đang trên đà canh tân đổi mới để làm cho dân giàu nước mạnh thì một trong những vấn nạn ưu tiên là chính phủ Việt-Nam cần trừng trị đích đáng thành phần hối lộ tham nhũng. BBC: Quí vị đang nghe trên mục phỏng vấn hằng tuần của ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần nầy do Nguyễn Giang phụ trách, tôi đang nói chuyện với ông Bùi Kha. Trở lại với cái thời Tự-Đức giả sử như các ông vua triều Nguyễn hồi đó vất bỏ cái ý thức hệ Nho Giáo mà nhiều người chính ngay ở trong nước đã gọi là cỗ hủ, tức là vất bỏ cái gánh nặng ý thức hệ đó để tự mình Tây Phương hóa đi hay là mình giống Nhật Bản nghĩa là tự mình hiện đại hóa thì phải chăng mình có cái cơ hội nào đó dù phải trả một cái giá nhất định về mặt bản sắc nhưng mà vẫn có thể trở thành một cường quốc trong khu vực? BÙI KHA: Thưa anh, tôi đồng ý quan điểm của anh như thế. Vì nếu Việt Nam bỏ đi những cái cổ hủ của Nho Giáo, dĩ nhiên trong giáo lý của Nho Giáo, trong ý thức hệ của Nho-Giáo cũng có một số vấn đề đúng chúng ta nên giữ lại. Còn những điều sai như tinh thần trọng nam khinh nữ chẳng hạn, hay thí dụ như vua bảo thần chết thì thần phải chết. Đó là quan niệm xưa, sai lầm. Nếu bỏ những cái cỗ hủ và bắt chước những điều tốt đẹp của Tây Phương thì Việt Nam sẽ khá. Như Nhật Bản, họ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều của Nho Giáo, nhưng họ biết gạn lọc, lấy cái hay cái tốt, bỏ cái dở và theo phương pháp Âu hoá của Tây Phương, dựa trên khoa học kỹ thuật để canh tân xứ sở, tôi nghĩ Việt-Nam mặc dầu có đổi cái giá nào đó, nhưng sau cái giá đó mình có thể vượt lên, có thể tự cường và không bị ảnh hưởng, không bị ngoại quốc khống chế hoặc áp đặt những chính sách của họ lên trên đất nước mình. BBC: Xin hỏi ông một câu có liên quan đến sở thích hay những cái tại sao ông lại quan tâm nghiên cứu nhân vật Nguyễn Trường Tộ ? BÙI KHA: Thưa, trước đó tôi có viết bài để góp ý với giáo-sư Chương Thâu về Alexandre de Rhodes và chữ quốc ngữ. Bài viết đó được rất nhiều độc giả thích cách đặt vấn đề và phương pháp nghiên cứu của tôi về chữ quốc ngữ và Linh-mục A. de Rhodes (Rốt). Sau đó có nhiều người đề nghị tôi viết về Nguyễn Trường Tộ. Tôi kiếm tài liệu để viết, và nếu tôi không lầm thì năm 1992, Trung tâm Hán-Nôm thuộc viện Khoa-Học Xã-Hội tại thành phố Hồ Chí Minh có tổ chức hội thảo về Nguyễn Trường Tộ, qui tụ khoảng 5 hoặc 6 trăm người (nếu tôi không lầm con số). Một tập kỷ yếu được ra đời từ cuộc hội thảo gồm có 47 bài. Trong đó gần như hoàn toàn đều ca tụng Nguyễn Trường Tộ. Có người đề nghị tôi viết về Nguyễn Trường Tộ nhưng tôi không thể viết được. Vì nếu ca tụng thì tôi không thể ca tụng hơn người khác, mà nếu phản bác thì tôi không có sử liệu. Nhưng về sau một người bạn ở Việt Nam mua cho tôi cuốn Nguyễn Trường Tộ Con Người Và Di Thảo tác giả là tiến sĩ sử học Linh-mục Trương Bá Cần. Lúc đọc hết 58 bản Điều-trần của Nguyễn Trường Tộ in trong sách đó, tôi thấy hết sức mâu thuẩn và ngạc nhiên là không biết tại sao từ trước đến giờ ai cũng ca tụng ông ta. Từ đó tôi tò mò nghiên cứu và viết về Nguyễn Trường Tộ trong mấy tháng trời xong cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo in năm 1998 (như đã nói ở trên). Năm rồi có ông Hoàng Thanh Đạm viết phê bình cuốn sách của chúng tôi. Vì thế, chúng tôi nghiên cứu thêm để trả lời ông Hoàng Thanh Đạm cuốn sách mà anh đang có trong tay và phỏng vấn chúng tôi ngày hôm nay. Đó là lý do mà chúng tôi muốn rằng một số các nhân vật tại Việt-Nam được vinh danh hoặc bị chôn vùi cần được xét lại. Vì bây giờ nhiều tài liệu mật được mở cho quần chúng xem thì chúng ta cần nghiên cứu trở lại để vấn đề vinh danh hay hạ nhục người nào cho được công bằng. Đó là lý do mà chúng tôi muốn làm, và thấy rằng những cuốn sử Việt-Nam nên chỉnh đốn lại nhiều lắm nhất là những cuốn sử viết về thời Pháp thuộc. BBC: Đó là ông Bùi Kha trả lời phỏng vấn của Nguyễn Giang. Tuần tới mời quí vị nghe Nguyễn Giang hỏi ông về những nhân vật như Alexandre de Rhodes hay Trương Vĩnh Ký mà ông (Bùi Kha) cho là cần được làm rõ ràng hơn trong việc vinh danh hay lên án. Trên đây là phần đầu của cuộc phỏng vấn được phát thanh về Việt-Nam lúc 6 giờ 30 tối thứ Bảy, ngày 26.10.2002. Phần thứ hai được phát thanh về Việt-Nam cũng vào giờ nầy tối thứ Bảy, ngày 2. 11. 2002. 2. BBC: Thưa quí vị, phần 2 và cũng là phần cuối của cuộc trò chuyện với ông Bùi Kha từ Hoa Kỳ đồng tác giả một cuốn sách phê phán Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Giang, ban Việt-Ngữ đài BBC Luân-Đôn, hỏi vì sao ông không chấp nhận chuyện một số nhân vật lịch sử như Nguyễn Trường Tộ, và Trương Vĩnh Ký được vinh danh trong nước. Mời quí vị đón nghe. BBC: Một trong những quan điểm hiện nay rất phổ biến tại Việt-Nam là có rất nhiều cuốn sách cũng như những nhân vật như Trương Vĩnh Ký cũng được trong nước người ta nhìn nhận lại, vậy thì ông và nhóm những người cọng sự của ông nghĩ thế nào về những nhân vật đã từng làm việc cho Pháp nhưng vẫn có những đóng góp cho văn hóa Việt-Nam trong việc canh tân ngôn ngữ cũng như khoa học kỹ thuật ? BÙI KHA: Thưa anh, những người họ làm vịêc cho Pháp hay cho ngoại quốc nhưng nếu có đầu óc canh tân xứ sở như là phát triển văn hoá dân tộc thì cần được ca tụng cả. Khi anh nhắc đến tên Trương Vĩnh Ký thì tôi nhớ có viết bài về ông ta. Về tư tưởng chính trị của Trương Vĩnh Ký thì hầu như đến lúc nầy không ai dám bàn cãi nữa. Vì ông là người phản quốc theo Pháp rồi chẳng cần nói thêm. Nhưng về phương diện văn hóa, có người châm chế cho Trương Vĩnh Ký và nói rằng ông có soạn thảo, dịch thuật và biên chép trên 100 đầu sách, và những sách đó là giúp ích cho nền văn hoá nước nhà thì tôi nghĩ vấn đề đó cần được đặt lại. Vì trong những bài viết và thư mà Trương Vĩnh Ký gởi cho Pháp có một bức thư nói như thế nầy: Tất cả những tác phẩm mà tôi biên soạn từ trước đến giờ, tôi không đi ra ngoài mục đích chính yếu đã được đặt ra. Mục đích đó là nhằm biến đổi và đồng hoá dân tộc An-nam. Cho nên những cuốn sách như biên soạn tự điển, dịch truyện Kiều hoặc những cuốn sách khác của Trương Vĩnh Ký không nhằm để nâng cao dân trí người Việt-Nam nhưng nhằm để đồng hoá dân tộc ta. Do đó, lúc nói rằng Trương Vĩnh Ký có công với nền văn hóa Việt-Nam hoặc có công với dân Việt-Nam thì vấn đề nên được đặt lại. Vì mục đích những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký là như ông ta đã nói. Còn khi chúng ta dùng những tác phẩm đó để mở mang và phát triển văn hóa thì cũng giống như lúc có tên tướng cướp vào nhà. Nó dùng khí giới để đồng hóa và dụ dỗ những người trong đó. Nhưng có người trong nhà đã xử dụng loại khí giới của nó để đánh đuổi tên tướng cướp ra. Thì thử hỏi ai là kẻ có công và người nào là có tội?* Do đó, tôi nghĩ rằng lịch sử cần nên xem xét lại cho được công bằng. Nhất là hiện nay các thư khố và văn khố được giải mật của Pháp và của Vatican, nhà nước Việt Nam, nhất là Viện Sử Học, nên có những công trình đi nghiên cứu và photocopy đem về tất cả những tư liệu viết về Việt Nam, lọc lại những cái nào dùng được, xét những cuốn sử nào từ trước đến nay viết sai lầm, và người nào trong lịch sử được vinh danh nhầm cần đặt lại, và người nào không được vinh danh hoặc đánh giá sai hoặc hạ nhục họ cần được phục hồi danh dự. Tôi nghĩ như thế lịch sử mới được công bằng. Vấn đề ông Trương Vĩnh Ký, ông Nguyễn Trường Tộ, ông (Linh-mục) Trần Lục cần phải được đặt lại cả. BBC: Vậy thì ông nghĩ thế nào về những nhân vật ở nước ngoài như là Alexandre de Rhodes mà bây giờ trong nước người ta còn thậm chí dựng tượng đài nho nhỏ ở thư viện (Hà-Nội) để vinh danh cho việc ông đóng góp vào việc phát triển chữ quốc ngữ. Chữ quốc ngữ mặc dầu ai cũng biết rằng ông là một nhân vật Công Giáo vào Việt Nam với mục tiêu là đồng hóa dân Việt-Nam ? (Câu hỏi nầy được lấy từ Internet âm thanh có hơi khác so với câu hỏi nguyên thủy, BK). BÙI KHA: Về ông Alexandre de Rhodes thì anh nên hiểu rõ như thế nầy: có nhiều người từ trước đến giờ viết về Alexandre de Rhodes (Đờ Rốt) thường gán cho rằng ông là người đầu tiên sáng chế chữ quốc ngữ. Nhưng thực sự chính ông Rốt không nói điều đó. Trong cuốn Tự-Điển Việt-Bồ-La, lời nói đầu, Rốt viết rất rõ là tôi đã học chữ Việt với người dân bản xứ và học với các ông cha trong hội dòng đi trước tôi. Điều đó cho thấy rằng ông Rốt không phải là người sáng chế chữ quốc ngữ, mà ông được học từ người dân bản xứ và các ông cha trong các hội dòng. Ông còn nói rằng cuốn Tự-Điển Việt-Bồ-La mà quí vị đang cầm trong tay là do ông Amaral làm cuốn Tự-Điển Việt-Bồ và ông Barbosa làm cuốn Tự-Điển Bồ-Việt còn tôi chỉ thêm phần La-Tinh vào mà thôi. Cho nên gán cho ông Rốt là người sáng chế chữ quốc ngữ và là tác giả cuốn Tự-Điển Việt-Bồ-La là hoàn toàn sai lầm. Việc thứ hai là chúng tôi thấy rằng chính phủ Việt-Nam tái vinh danh bằng cách đặt tên đường và làm tượng đài kỷ niệm ông Rốt là hoàn toàn sai lầm. Vì trong cuốn Hành-Trình Và Truyền Giáo ông Rốt nói rất rõ: Tôi nghĩ nước Pháp là nước ngoan đạo sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh lính để chinh phục cõi Phương-Đông và tại đó tôi sẽ kiếm được nhiều ông cha trong các nhà thờ mới. Với ý nghĩ đó tôi hôn chân giáo hoàng trước lúc rời La-Mã đi Pháp. Và khi đi ngang qua Lyon, ông viết rằng Tôi nghiệm thấy có Thiên Chúa quan phòng và tôi nghĩ làm thế nào để đưa tôi lọt vào Triều-đình Pháp. Tôi rất may mắn là gặp được Giám-mục Henry de Maupa, ngài cũng là Tuyên-uý của đức hoàng hậu, ngài đã giúp cho tôi rất nhiều trong cuộc hành trình nhỏ bé nầy. Cho nên ông Rốt về phương diện tư tưởng chính trị thì chính ông đã vào trong triều-đình vua Louis thứ 14 để vận động Pháp đánh chiếm Việt Nam. Nhưng lúc đó Pháp chưa sẵn sàng, và 200 năm sau thì kế hoạch, ý kiến của ông Rốt đã được Pháp thực hiện tại Việt-Nam vào năm 1858, lúc đánh Đà-Nẵng lần đầu tiên. Cho nên việc đặt tên đường cho ông Rốt tại thành phố Hồ Chí Minh và làm tượng đài kỷ niệm ngoài Hà-Nội là điều nhục quốc thể, nếu người ngoại quốc đến mà thấy như vậy, nhất là người Pháp. Dân Việt-Nam có 4 ngàn năm văn hiến, giờ đây một kẻ tội đồ của dân tộc lại được vinh danh. Tôi nghĩ nhà nước Việt-nam, nhất là Bộ Văn Hóa, Bộ Giáo-Dục cần nghiên cứu trở lại nhân vật Alexandre de Rhodes, Nguyễn Trường Tộ và Trương Vĩnh Ký để lịch sử cho được công bằng. BBC: Qúy vị đang nghe trên mục phỏng vấn hàng tuần của ban Việt Ngữ đài BBC Luân Đôn tuần nầy do Nguyễn Giang phụ trách, tôi đang nói chuyện với ông Bùi Kha. Xin thưa với ông Bùi Kha là cái quan điểm phê phán những người nào có một chút dính đến Phương Tây, hay thậm chí theo Phương-Tây theo thực dân Pháp rõ ràng, hay thực sự giúp đỡ Pháp vào đánh chiếm Việt-Nam, quan điểm phê phán nặng nề mà không nhìn thấy những đóng góp của họ thì phải chăng đó là cái quan điểm tại miền Bắc Việt Nam vào các thập niên 60 & 70 khi mà phong trào giải phóng dân tộc đang lên cao, chứ bây giờ các nhà văn hóa đang nhìn lại những điểm đóng góp của họ. Ai cũng biết ông Rốt không phải là một người dân tộc chủ nghĩa cho Việt Nam mà còn có khi ngược lại những đóng góp của ông, đúng là ông không phải là người sáng tạo ra chữ quốc ngữ, nhưng ông là người phổ biến và có công cải biên nâng nó lên thành một tầng khác thì tại sao không dám dũng cảm mà nhận những gì mà người ta đem đến cho mình ? BÙI KHA: Thưa anh nói như vậy là đúng. Do đó chúng tôi mới nói rằng Bộ Văn Hóa và Viện Sử Học Việt Nam nên nghiên cứu lại là một đề nghị đúng. Nếu nói rằng ông Rốt có công trong vấn đề phát triển chữ quốc ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh thì đúng nhưng cho rằng ông là người sáng chế chữ quốc ngữ là sai, và cái tội của ông là vận động Pháp đánh chiếm Việt-Nam. Do đó trong cuốn sách chúng tôi có nói rõ nên liệt kê những cái nào có công thì vinh danh, và cái nào có tội thì nên nói rõ. Chứ ông (Linh-Mục) Rốt trên phương diện đóng góp vào việc phát triển chữ quốc ngữ ông có công. Nhưng bên cạnh đó cũng phải nói rõ rằng ông có cái tội là vận động Pháp vào đánh chiếm Việt-Nam.* BBC: Xin tiếp tục hỏi ông một câu là trong tất cả các bài viết của ông và các cọng sự phần nhiều tôi để ý thấy một cái giòng quan điểm phê phán Công Giáo, phê phán Thiên Chúa Giáo La Mã cũng như Tòa Thánh hay là phê phán những cái gọi là âm mưu Phương Tây vào Việt Nam từ trước đến nay. Điều đó có đúng không hả? BÙI KHA: Thưa anh gán cho chúng tôi rằng phê phán Công Giáo, hay có người nói nặng hơn đó là công kích hay nói xấu Công Giáo, nói xấu Vatican. Chúng tôi nghĩ nói như vậy hơi quá đáng. Chúng tôi chỉ viết theo lịch sử mà thôi. Nếu như Vatican hay Công Giáo có những điều tốt thì chúng tôi cũng nói tốt, có những điều xấu chúng tôi cũng nói đó là xấu. Thật sự, người Công Giáo Việt Nam nhất là con chiên Việt Nam họ rất tội nghiệp. Họ nguyên là người Việt Nam yêu nước, là người chất phát thật thà, là những người đạo đức. Nhưng lúc trở thành con chiên, trở thành tín đồ của Vatican rồi thì họ có khuynh hướng chống lại đất nước mà điều đó chính các đô đốc người Pháp cũng nói rõ: Khi một người trong một vùng hay một làng nào đó trở thành người Công-giáo thì họ từ chối không chịu đóng thuế cho triều đình, họ chống lại không theo pháp luật của nhà nước... BBC: Trước khi đi vào... xin lỗi ông là ngắt lời ông, trước khi đi vào chuyện đó thì xin trở lại cái giai đoạn khi mà Công Giáo đi vào Việt Nam tại sao không nhìn vấn đề những người Việt Nam nghèo khổ, những người thậm chí một số trong giới quí tộc trong phủ chúa Trịnh có những bà chúa nọ khác có những người đi theo Công-Giáo phải chăng tại sao chúng ta không nhìn, các ông không nhìn theo quan điểm tự do tín ngưỡng thí dụ họ muốn thờ ai đấy là quyền của họ, tại sao lại bắt họ phục vụ cho một cái triều đình nhiều khi tham nhũng thối nát thậm chí đàn áp họ, tại sao họ không được quyền theo người Pháp? BÙI KHA: Tôi nghĩ câu hỏi của anh như vậy có cái đúng, nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Như anh vừa nói có một số bà chúa, một số công chúa, một số hoàng tộc theo đạo, nhưng khi theo đạo rồi họ chỉ theo đạo và vẫn phụng sự tổ quốc và giữ gìn phong tục và nếp sống tốt đẹp của Việt Nam thì không sao cả, nhưng đã có một số người, nhiều người, khi theo đạo rồi họ bỏ vấn đề thờ cúng tổ tiên, họ sấp lưng đối với triều đình, sấp lưng đối với quốc gia. Đó mới có chuyện xẩy ra. Anh hẳn cũng đã thấy, có một số tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, khi người trở thành tín đồ các tôn giáo nầy họ không sấp lưng đối với tổ quốc của họ, họ không chống lại triều đình. Cho nên có thể nói rằng cái lỗi là ở phía khi mà người Việt Nam trở thành tín đồ Công-Giáo, họ có cái tư tưởng coi trọng Vatican hơn là chính tổ quốc của mình. Chính điều đó, chính điểm đó cần phải được đặt thành vấn đề, cần phải phải được bàn thảo. BBC: Trong giai đoạn đất nước có nhiều cái biến chuyển, tại sao ông lại yêu cầu những người chẳng hạn như Công Giáo hay những người thuộc tôn giáo khác phải đặt quyền lợi của một triều đình, mà triều đình đó rõ ràng là hủ bại, rõ ràng là thất bại trong chuyện canh tân đất nước. Ở cái giai đoạn đó tại sao họ không được quyền hướng đến Vatican, hướng đến Paris, hay những người sau nầy hướng đến Mạc-tư-khoa là quyền của họ tại sao họ lại phải theo quan điểm rất là hạn hẹp tức là phải ủng hộ triều đình nhà Nguyễn hồi đó? BÙI KHA: Trước tiên, nếu đặt vấn đề như vậy thì mình phải hiểu rằng cái chính sách của ngoại quốc đối với đất nước mình nó nguy hiểm hơn hay tốt đẹp hơn chính sách của triều-đình đối với đất nước. Đó là chuyện thứ nhất. Hai chuyện đó rất rõ. Tôi muốn nhấn mạnh lại là chính sách của ngoại bang hay nói rõ hơn đó là chính sách của Pháp thời bấy giờ, nếu đô hộ Việt-Nam thì tôi nghĩ chính sách của Pháp tai hại hơn là chính sách của triều đình nhà Nguyễn đối với đất nước Việt Nam, trên mặt đối với tổ quốc là chuyện thứ nhất. Vấn đề thứ hai là thay vì phụ lực hay ủng hộ người Pháp để đô hộ Việt Nam, người Công-Giáo nên chống thẳng với triều đình, nói điều nầy là cổ hủ điều kia cần phải cải cách, nếu người Công Giáo làm như vậy thì họ là kẻ có công đối với đất nước. Anh cũng như tôi, tất cả những người Việt Nam nếu ai có lòng yêu nước thì đều không thể chấp nhận hành động của kẻ chạy theo giặc. BBC: Và thưa ông là ông Nguyễn Trường Tộ hồi đó với tư cách là một người công giáo mà bây giờ trong nước gọi là công giáo yêu nước. Chính ông đã đưa lên 58 bản điều trần nhưng mà triều đình thực hiện được một ít hay không thực hiện được bao nhiêu là do hoàn cảnh mà chính các nhà nghiên cứu trong nước đều biết rằng thời đó Việt Nam có muốn thực hiện cải tổ cũng hơi khó vì Pháp và những nước Phương Tây khác họ không cho phép, họ tìm cách phá. Những người Công Giáo như vậy, đưa lên những bản điều trần như vậy thì tại sao ông lại phê phán họ? BÙI KHA: Nếu tách rời một số những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ thì có thể áp dụng được. Nhưng ông Nguyễn Trường Tộ nói như vậy (canh tân) nhưng mục đích của ông là nói chuyện khác. Cho nên trong bản liệt kê Công và Tội của Nguyễn Trường Tộ tôi có liệt kê là ông có công xây được 2 nhà thờ, công chỉ huy đào Thiết Cảng, viết được một số bản điều trần (mà trong đó có vài điều) có thể áp dụng được. Nhưng cái tội của ông là như thế nầy, thế nầy... 1.- Ngày 16. 10. 1858 ông ra cửa Mành-sơn Đà-nẵng để cùng làm áp lực quân Pháp đánh Huế. 2.- Năm 1861 làm thông dịch cho Tổng Hành Dinh của Pháp để mở rộng vòng chiếm đóng tại Sai-Gòn. 3.- Cùng với tên Giám Mục gián điệp Gauthier viết 58 bản chiêu dụ để dối gạt dân Việt Nam và dối gạt triều đình vua Tự Đức nhằm giúp Pháp và Vatican. 4.- Cố ý nhận định sai tình hình để gỡ rối cho Pháp. 5.- Dối trá trong việc mở trường Kỹ Thuật ở Huế. 6.- Âm mưu bày việc đào kênh từ Hải Dương vào Huế để toàn dân nỗi loạn. 7.- Đề nghị thương hiếu với giáo hoàng để thúc đẩy tiến trình Công Giáo hoá Việt-Nam. 8.- Đề nghị dùng các tên linh-mục Việt gian vào việc canh tân đất nước, và mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ để tên tình báo Gauthier bổ nhiệm các giáo sĩ coi sóc nhằm tạo một cuộc nỗi dậy toàn cõi Việt Nam do các giáo sĩ lãnh đạo. 9.- Năm 1868, ngăn cản triều đình cử phái bộ đi Pháp đòi lại 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ. 10.- Thay vì phải đánh gấp lúc thời cơ cho phép vào cuối năm 1870 để đuổi thực dân Pháp về nước, Tộ khuyên nên đợi 2 năm sau. Xin xem thêm cuốn Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước?. Do đó chúng tôi rất công minh trong vấn đề. Nói lại là nếu lựa lọc ra một số rất ít các đề nghị của Nguyễn Trường Tộ thì có thể thực hiện được và rất hay. Nhưng rất tiếc hậu ý của Nguyễn Trường Tộ là không phải vấn đề đó. Đây tôi nói hậu ý. ... BBC: Vừa rồi là trên mục phỏng vấn hằng tuần với Nguyễn Giang và ông Bùi Kha, trước khi kết thúc chương trình, Nguyễn Hoàng xin được điểm lại vài hàng tin chính ... 3. Trên đây là hai lần phát thanh về Việt Nam của đài BBC Luân Đôn, ông Nguyễn Giang phỏng vấn ông Bùi Kha. Thứ Sáu, ngày 15.11.2002, ông nguyễn Giang và ông Nguyễn Hoàng trong ban Việt-Ngữ của đài để lại lời nhắn trong máy muốn phỏng vấn tôi về vấn đề dân miền Thượng Đê-Ga tại Việt-nam. Nhưng rất tiếc tôi không có ở nhà. Nhân tiện đây tôi kính lời cảm ơn sự hảo ý của hai ông. Vì kiếm không có tôi nên đài trích một đọan trong lần phỏng vấn trước (ngày 22. 10. 2002) để phát thanh về Việt nam vào tối Chủ Nhật, ngày 17. 11. 2002. Xin mời quí vị theo dỏi: BBC: Ông Bùi Kha, một người Việt Nam sống tại Hoa Kỳ, viết nhiều sách về lịch sử Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của Nguyễn Giang đài BBC, thì có một phần nỗi bật trong cuốn sách của ông nói rằng Phương-Tây xử dụng tôn giáo như là một công cụ có lợi cho họ ? BÙI KHA: Chúng tôi thấy như vậy, Phương Tây dùng tôn giáo đi trước chính trị đi sau. Đó là điều hết sức rõ. Chính những ông linh mục người Pháp cũng đã nói nếu muốn Việt-Nam trở thành nước Pháp thì trước tiên phải biến đổi người dân Việt Nam trở thành người Công Giáo trước. Điều đó quá rõ, mà chúng tôi viết là chỉ chép lại và sưu tầm những quan điểm và những lời của người ta nói ra chứ không phải là chúng tôi đặt để và gán cho nó như thế. BBC: Và ông nghĩ thế nào về chẳng hạn như quan điểm của một số người trong nước, trong giới nghiên cứu cũng như là giới truyền thông trong nước nói rằng là sự kiện những người Thượng vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam gọi là người Thượng theo đạo Tin Lành Đê-Ga, họ bị những nhân vật bên ngoài xúi dục thì ông nhìn vấn đề nầy như thế nào? Đây là một vấn đề rất hiện đại, rất đang nóng bỏng ở Việt Nam? BÙI KHA: Thưa vấn đề nói như vậy là có lý và có phần lớn đúng. Lúc viết về Nguyễn Trường Tộ chúng tôi có dẫn chứng ông Nicholas Tapp* là người nghiên cứu phong tục dân miền Thượng, ông (và số giáo sĩ) đề nghị rằng nếu tất cả dân miền Thượng, dân tộc thiểu số, đổi thành đạo Kitô tức là đổi thành Công Giáo và Tin Lành hết thì họ sẽ vận động cho độc lập tự trị và sẽ giàu có như Mỹ. Khi một người đến đất nước khác (hoặc một nhóm đang sống trong đó) mà muốn biến đổi một thành phần nào trong bộ phận của dân tộc để tạo những quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn thì không ai chấp nhận được. Tôi nghĩ nếu anh Giang hoặc tôi mà điều hành chính phủ thì có lẽ mình cũng không chấp nhận quan điểm đó. Nước bị chia năm xẻ bảy, một quốc gia mà bị biến thành nhiều quốc gia. Cho nên nói vấn đề tự do tôn giáo chúng ta nên tôn trọng, nhưng có lẽ chúng ta không chấp nhận những người nào có âm mưu dùng chiêu bài tôn giáo để làm hại đất nước khác. Đối với hoàn cảnh Việt Nam có một số người như ông Nicholas Tapp (và số giáo-sĩ) mà tôi vừa dẫn chứng là muốn biến những người dân miền Thượng thành quốc gia độc lập tự trị (và hứa hẹn) sẽ giàu có như Mỹ. Phi-luật-tân ở gần Việt-Nam, 80 phần trăm là Công-giáo, có giàu có hơn Việt Nam đâu? Trên 4 triệu cô gái Phi có bằng cử nhân và cao học mà đi làm những nghề không mấy trong sạch và không được xã hội chấp nhận mà họ vẫn làm, (còn Châu Mỹ La-Tinh và Phi Châu hầu như hoàn toàn Công-Giáo và Tin-Lành nhưng là những nước nghèo nhất thế giới. Còn Nhật Bản có 1% Tin Lành, Công Giáo không đáng kể, số còn lại là Phật Giáo và một ít Thần-Đạo là nước giàu thứ nhì trên thế giới. Đoạn nầy sót, không có trong Internet). BBC: Ông nghĩ thế nào về quan điểm của chính một số các nhân vật trong chính các nhóm người Thượng tại Hoa Kỳ, họ nói rằng người Việt lên chiếm đất của họ và hiện nay họ có quyền tự do tôn giáo, họ có quyền chọn tôn giáo để theo cũng như có quyền chọn những nhân vật nước ngoài, những tổ chức nước ngoài giúp đỡ họ để phát triển cái quyền tự do tôn giáo hay bảo vệ cái bản sắc dân tộc của họ? BÙI KHA: Tôi nghĩ nếu chính phủ Việt Nam có những điều bất công hoặc lấn át những người dân miền Thượng hoặc chiếm đất của họ, và nếu vấn đề đó có thực, thì chính phủ Việt-Nam nên trả lại đất đai cho dân miền Thượng, điểm thứ nhất. Điểm thứ hai, là người dân miền Thượng cũng như bất cứ một người dân Việt Nam nào, thời đại nầy là thời đại của tự do, trong đó có tự do tôn giáo. Mình có quyền theo tôn giáo nào mà mình thích, nhưng có điều nên nhớ rằng dẫu theo tôn giáo nào đi nữa thì mình sống trên đất nước nào, ăn cây nào rào cây ấy, mình nên theo tôn giáo vẫn thờ Chúa, vẫn đọc kinh, vẫn sùng kính đạo. Nhưng sống trên đất nước nào thì mình cũng phải có bổn phận của người công dân và làm tốt cho đất nước mà mình đang sinh sống. Còn mình tôn thờ Chúa hay theo tôn giáo nào không thành vấn đề miễn là mình đừng có tinh thần vọng ngoại, đừng có tinh thần như trước đây Chẳng thà mất nước không thà mất Chúa chỉ có vậy mà thôi. Một số người miền Thượng sống tại Hoa Kỳ đưa ra quan điểm nầy hay quan điểm khác tôi nghĩ họ cũng nên xét lại rằng sống trên đất nước Hoa-Kỳ thì họ cũng phải trung thành và tôn trọng luật pháp ở đây. Trên đây là bài viết từ băng cassette lấy trong Internet âm thanh thu lại 3 buổi phát thanh về Việt Nam của đài BBC Luân-Đôn. Bùi Kha trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Giang theo trí nhớ. Muốn được rõ hơn về ngày tháng và những trích dẫn xin độc giả tìm đọc thêm các cuốn sách về chủ đề nầy: 1.-Alexandre de Rhodes Người Đầu Tiên Vận Động Pháp Chiếm Việt-Nam Và Chữ Quốc Ngữ, 9 tác giả, Giao Điễm xuất bản năm 1998 tại Hoa Kỳ. 2.- Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo, Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm, Hoa-Kỳ, 1998. 3.- Linh Mục Trần Lục Thực Chất Con Người & Sự Nghiệp, Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm 1999. 4.- Nguyễn Trường Tộ Yêu Nước?, Bùi Kha và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm 2002. 5.- Petrus Trương Vĩnh Ký Nhìn Từ Những Khía Cạnh Và Nhận Thức Khác Nhau, 7 tác giả, Giao-Điểm 2002. Phụ lục Ca tụng và chống đối cuốn Nguyễn Trường Tộ Thực Chất Con Người Và Di Thảo của Bùi Kha và Trần Chung Ngọc Nguyễn Trường Tộ: thập thò sau Bức Màn Canh Tân để làm lợi cho ngoại bang (hình lấy trong báo Tuổi Trẻ 2001) Một Khám Phá Bất Ngờ Về Nguyễn Trường Tộ - Nguyễn Xuân Phong Nguyễn Trường Tộ Hôm Qua Và Hôm Nay - Thuý Nga (Báo Tuổi Trẻ) Cuốn sách viết về một con người độc đáo, một người không phải anh hùng, không là văn nhân, không từng đỗ đạt lớn, ông chỉ là một trí tuệ bị lãng quên, nhưng là một trí tuệ sáng ngời, vượt lên trên tầm thời đại VN thế kỷ 19. Một người mà phải đến năm 1908, cụ Phan Bội Châu đã nhìn thấy nơi ông vai trò của một người gieo mầm khai hóa đầu tiên ở nước ta. Một người giáo dân yêu nước mà năm 1946, Hồ Chí Minh đã lấy làm tiếc cho triều đình nhà Nguyễn khi không biết lắng nghe những sớ tấu của ông bàn việc tu chỉnh võ bị và canh tân đất nước. Con người đã chịu nhiều tiếng khen chê khi còn sống và cả khi đã chết ấy một lần nữa lại được hậu thế luận bàn. Nguyễn Trường Tộ - thời thế và tư duy cách tân (*) là tâm huyết 20 năm nghiên cứu của nhà sử học Hoàng Thanh Đạm. Từ những vấn đề nghiên cứu Nguyễn Tường Tộ trong lịch sử, tác giả đã có riêng hẳn một phần để hệ thống tư duy cách tân của nhân vật lịch sử này. Qua 58 bản di thảo, tư duy kinh tế - văn hóa - ngoại giao - quân sự - triết học đã được phân tích một cách cặn kẽ. Làm nổi bật những suy tư nóng bỏng về thời thế, những điều trần mới mẻ để dân giàu nước mạnh, những lời xin khuyến khích (cải tạo nhà ở đô thị, khuyến khích việc học tiếng nước ngoài...), những điều xin khen thưởng (cho người chế tạo đồ dùng kiểu mới tiện lợi và rẻ, cho người ra nước ngoài học hỏi giúp nước, cho người lập hội xây cầu cống, đường sá thay cho công việc nhà nước...). Mở cửa để giữ nước; Học tập bồi dưỡng nhân tài là con đường rộng lớn đi đến giàu mạnh; Học cái thực tế thì sẽ có thực dụng, học cái vụn vặt thì chỉ được cái vụn vặt; Bỏ phí một người tức là phí một phần của đất nước... đều là những câu chữ không chỉ cần cho hôm qua. Trong lời tựa mang tên Một con người của thế giới hiện đại, giáo sư Phan Ngọc nói đến một nhân cách cần thiết cho người VN ở thế kỷ 21. Nhân cách ấy hiểu rõ ý nghĩa của học vấn, học để thay đổi đất nước chứ không phải để làm quan. Nhân cách ấy có một tinh thần phê phán những cổ hủ và lạc hậu, dám nói và dám làm. Mượn tiếng tốt để làm việc xấu là người ngu. Chịu tiếng xấu để làm việc tốt là người khôn. Cuộc đời Nguyễn Trường Tộ - sản phẩm của thời thế (1830-1871) đã chịu không ít tiếng xấu như thế khi đi trước thời đại của mình. Nhưng ông vẫn là người khôn trong cách nghĩ của ông. THUÝ NGA (Báo Tuổi Trẻ 18. 5. 2001) Đánh giá lại Nguyễn Trường Tộ là một trong những vấn đế lớn và sôi nỗi hiện nay. Để việc tranh biện được minh bạch và độc giả có sẵn tư liệu đối chiếu giá trị nghiên cứu của ông Hoàng Thanh Đạm và ông Bùi Kha về Nguyễn Trường Tộ, chúng tôi xin được in lại bản phóng ảnh nguyên xi chương sách dưới đây của ông Hòang Thanh Đạm như là một tài liệu dẫn chứng. Kính mong tác giả thông cảm. Ghi Chú: Lúc lay out, nên bỏ bài của ông Hoàng Thanh Đạm dưới đây, thay vào đó là bản phóng anh nguyên xi sẽ cung cấp sau). Một cuốn sách ngược dòng công kích NGUYỄN TRƯỜNG TỘ - HOÀNG THANH ĐẠM Cuốn sách này do hai bạn Việt Kiều ở Mỹ là Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc viết với nhan đề Nguyễn Trường Tộ - thực chất con người và di thảo, được nhóm Giao Điểm ở Mỹ xuất bản tháng 4 năm 1998. Sách dày 261 trang, gồm có hai luận văn dài: - Luận văn thứ nhất của Nguyễn Kha Nguyễn Trường Tộ trong chiêu bài canh tân (đề ngày 31-1-1998) dài 188 trang. - Luận văn thứ hai của Trần Chung Ngọc Nguyễn Trường Tộ từ huyền thoại đến thực chất, dài 70 trang. Luận văn của Nguyễn Kha có mở đầu bằng một thái độ tỏ ra khiêm tốn. Anh viết: Có nhiều điều khó khăn cho tôi khi viết về N.T.Tộ (để công kích ông). Khó khăn là do: Từ nhỏ N. Kha đã được thầy học giảng dạy rằng N.T.Tộ là một nhà cách tân lớn nhưng triều đình Tự Đức hẹp hòi, cố chấp, không áp dụng các đề nghị sáng suốt của ông. Thế mà 125 năm qua chưa có ai thanh minh cho triều đình Tự Đức. Hơn thế nữa đã từng có 60 tác giả viết hàng trăm bài ca ngợi nhiều hơn là phê phán N.T. Tộ, trong đó có nhiều tác giả tầm cỡ bậc thầy của anh. Mặt khác N. T.Tộ lại được Linh mục Tiến Sĩ Trương Bá Cần sưu khảo thật đầy đủ, công phu đến tận chi tiết; và gần đây cuộc hội thảo về chủ đề "Nguyễn Trường Tộ - nhà cải cách lớn của dân tộc" do viện khoa học xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức, tập hợp 47 bài "là một công trình nghiên cứu tập thể gồm nhiều vị giáo sư và nhiều học giả lỗi lạc (...) Việc đánh giá cao Nguyễn Trường Tộ được xuất phát từ tinh thần khoa học khách quan, không bị vướng mắc bởi tình cảm tôn giáo (Xem sách N.T.Tộ thực chất con người và di thảo - viết tắt là thực chất, trang 6) Tuy thấy rõ khó khăn như trên, nhưng N. Kha vẫn nói: vì gần đây có người yêu cầu anh viết sách (với tinh thần phê phán N.T.Tộ để đối đáp với số đông học giả trong nước đang ca ngợi N.T.Tộ); do đó anh phải đọc hết 58 bản điều trần N.T.Tộ và vận dụng nhiều tài liệu mật của thực dân Pháp và của Giáo hội để tìm ra luận cứ phê phán. 1. Trọng tâm phê phán của N. Kha và T. C. Ngọc đối với N. T. Tộ tập trung nhất vào vấn đề tôn giáo. N. Kha kể rằng khi người ta yêu cầu anh viết sách công kích N.T.Tộ thì ông bạn còn nói thêm rằng: N.T.Tộ là một tên Việt gian vì ông ta là người Gia Tô; nhưng anh quan niệm rằng nghiên cứu một nhân vật hay một sự kiện lịch sử thì nên vượt ra ngoài tình cảm tôn giáo... (Thực chất... tr. 7). Tuy anh thanh minh như vậy, nhưng người đọc qua hai bài luận văn trong sách Thực chất... thấy rằng Nguyễn Kha dùng tới 77 trang trong 188 trang của luận văn N.T.Tô. trong chiêu bai canh tân và Trần Chung Ngọc dành 48 trang trong 70 trang của luận văn N.T.Tộ từ huyền thoại đến thực chất để nói về các vần đề tôn giáo nhằm phê phán N.T.Tộ. Tất cả những ý kiến phê phán tôn giáo trong sách Thực chất... nhằm ba vấn đề: một là vạch ra những sai lầm về lý thuyết của đạo Gia tô; hai là vạch rõ mưu đồ của các thừa sai Gia tô muốn biến Việt Nam thành nước Chúa, tích cực giúp quân viễn chinh Pháp thôn tính Việt Nam; ba là N.T.Tộ là tín đồ Công giáo, tay chân của Giám mục Gauthier, một tên gián điệp lợi hại của xâm lược Pháp. a) Nói về sai lầm lý thuyết kinh thánh, hai tác giả nhấn vào mấy điểm: - Kinh thánh nói rằng quả đất và loài người do Thượng đế tạo dựng cách đây từ 6000 đến 10.000 năm. Nhưng khoa học chứng minh rằng quả đất có hàng triệu năm về trước, Thái dương hệ gồm Mặt trời, Mặt trăng, Trái đất... xuất hiện cách đây 5 tỷ năm. (Tr. Ch. Ngọc nói là 15 tỷ năm) (như trên, trang 48 và 225) - Kinh thánh nói nước đá có được nhờ hơi thở của Chúa Trời, Ngài chứa nước trong mây và giăng bủa các tia chớp... (Nt, trang 48) - Sách Dân số kỷ (Numbers) kể chuyện Moise cướp được nhiều bò, dê, lừa và 32 ngàn cô gái trinh, chia cho binh lính 50 phần trăm còn Đức Chúa Trời hưởng 50 phần trăm. Chính Chúa Trời chứ không phải ai khác đã trực tiếp ra lệnh phải cướp của, giết người, cưỡng dâm, rồi chính Chúa Trời cũng đòi hưởng gái trinh nữa (N, trên, tr. 5). - Kinh thánh nói ai không tôn thờ đức Chúa Trời thì phải giết sạch. Tất cả đất đai đều thuộc về Chúa Kitô. Những kẻ ngoại đạo không có quyền hưởng sở hữu một mảnh đất nào (Nt. Trang 147-149) Tr. Ch. Ngọc phân tích: Tại sao một tôn giáo đen tối như đạo Gia tô mà vẫn có thể tồn tại và phát triển, và anh giải thích: Có nhiều nguyên nhân, và một trong những nguyên nhân chính là phương cách đào tạo, trang bị giới giáo sĩ bằng loại kiến thức hạn hẹp, một chiều, nặng về phục tùng để có một địa vị, không dùng để suy luận, và nghệ thuật nắm đầu óc tín đồ bằng mọi cách, kể cả gian dối và độc tài của Giáo hội (Nt. Trang 205). Anh dùng trên 20 trang sách vạch ra nhiều sự kiện, chứng cứ, nhất là chuyện các giáo sĩ Gia tô có đầu óc suy nghĩ độc lập đã phải công phẫn, chống lại Giáo hội (Nt. Trang 189-221) và anh kết luận chính sách truyền đạo của Ca tô Rôma tuyệt đối không có mục đích huấn luyện nhân dân bản xứ thành những người yêu nước (tr.222) B) Nói về dã tâm của các thừa sai Gia tô giáo sang Việt Nam, hai tác giả có nhiều dẫn chứng trích từ các tài liệu mật của Giáo hội Gia tô, kể rõ hoạt động, ý đồ từ Alêc-xăng đờ Rốt trong thế kỷ XVIII đến các giám mục thừa sai trong thể kỷ XIX đều nhằm mục đích đồng hóa Việt Nam theo đạo Gia Tô. Để thực hiện mục đích tôn giáo, họ đã kết liên với quân xâm lược Pháp, cung cấp cho chúng bản đồ, tin tức, và được quân viễn chính Pháp che chở, hỏi ý kiến, sử dụng vào việc này việc nọ. Trong các giám mục, Gauthier là người thầy, người đỡ đầu N.T.Tộ từ năm 27 tuổi đến năm cuối đời của ông. c) Tất cả các cứ liệu phê phán giáo lý, phê phán các thừa sai Gia tô đều nhằm mục đích vạch tội N.T.Tộ. Dưới con mắt hai anh, N.T.Tộ chẳng qua là đầy tớ của Gauthier, một tên gián điệp lợi hại nhất của quân Pháp. Trần Chung Ngọc viết: Đọc những bản điều trần của N.T.Tộ tôi thấy rằng phần lớn kiến thức của ông là một loại kiến thức đặc thù Gia tô (Tr. 223). Nguyễn Kha viết: N.T.Tộ khéo léo tài tình lồng tư tưởng kinh thánh vào hầu hết di thảo, để một mặt thì hăm dọa rằng tạo vật đã định như vậy, làm sao cưỡng được, mặt khác thì an ủi chấp nhận số phận (tr.100) Anh viết thêm: Tư tưởng Gia tô giáo là chẳng thà mất nước không thà mất Vaticăng. Vì thế chúng ta mới hiểu rõ hậu ý mà N.T.tộ đề nghị Triều đình dùng giám mục vào việc canh tân (...) Tội nghiệp cho vua quan nhà Nguyễn không có cơ quan tình báo gì cả, nuôi ong tay áo, nhận giặc làm con (tr. 129) Lại viết May mà triều đình nhà Nguyễn ngu muội không chịu áp dụng những đề nghị của N.T.Tộ, còn không thì con vi trùng trong thịt sư tử đã ăn hết cả thịt lẫn xương của con sư tử từ lầu rồi. (tr.176) Với những lời phê phán gán ghép suy diễn như trên, hai anh khái quát mưu đồ phản quốc của N.T.Tộ vào một câu rất hiện đại: Với giọng văn diêu luyện, sắc sảo, chúng ta thấy N.T.Tộ đã sử dụng hai luận điểm chính để thuyết phục nhân dân Việt nam và nhất là triều đình Tự Đức. Hai luận điểm có tính chiến lược đó có thể đặt tên là củ cà rốt và cục xương (in chữ to). Chiến thuật củ cà rốt là đưa ra miếng mồi béo bở như khai thác hầm mỏ, xử dụng tài nguyên thiên nhiên để làm cho dân giàu nước mạnh. Muốn đạt được mục đích đó thì phải làm gì? Trả lời: phải hợp tác với Pháp, phải cầu khẩn Giáo hoàng La Mã giúp sức(...) Chiến thuật cục xương là đưa ra một số đề nghị không thể thực hiện được như chỉnh trang võ bị, đào kênh từ Hải Dương đến Huế v.v... để qua đó bắt triều đình nhà Nguyễn phải mất thì giờ gặm nhắm cục xương để không thể làm gì khác thêm (N.tr. trang 9-10) Các học giả yêu kính N.T.Tộ chắc không quan tâm nhiều về các lý lẽ của N.Kha và Tr.Ch.Ngọc công kích đạo lý Gia tô và chỉ vạch ý đồ xấu của các giám mục Pháp. Trong lịch sử, các tôn giáo khác nhau công kích nhau thậm tệ là chuyện bình thuờng. Có khi họ còn chém giết nhau nữa. Còn như ý đồ xấu của các giám mục Pháp ủng hộ quân viễn chinh Pháp hồi thế kỷ XIX là chuyện có thật. Có điều là hai tác giả không hiểu nổi cái nghịch cảnh của N.T.Tộ: Là một giáo dân, sống trong cảnh đạo giáo của mình bị bài xích, giáo hữu và cha cố mình bị triều đình truy bức, mà N.T.Tộ không một lời oán trách triều đình; trái lại ông nhận mình là bề tôi nước Đại Nam; một lòng một dạ bàn với triều đình tìm cách thoát khỏi thế bí trước một kẻ thù đang áp đảo mình về thế và lực. N.T.Tộ tin ở đạo giáo của mình, nhưng ông đã vượt ra ngoài sự mê lú, cuồng tín để có được tư duy khoa học. Trong bài tựa sách Đàm thiên luận ông viết: Phàm nhà khoa học thì bụng phải bao hết những việc xưa nay, mắt trông khắp trời đất, tinh thần chu du tận cõi xa xăm, tâm hồn thấu đến chỗ y huyền. Như thế mới suy xét mà tâm đắc được những gì sách vở không thể truyền hết, ý hội được những gì người xưa không thể nói hết (...) Trời tuy cao, đất tuy xa, nhưng đều có sự thực mà không chìm vào hư vô (...) Kẻ cao minh muốn nghiên cứu khoa học phải rộng lòng khảo cứu, dẹp bỏ hết những thành kiến tập quán cũ, không phân biệt giới vực, vận dụng hết thần trí, ôm vũ trụ vào lòng, nhắm mắt lại mà như thấy rõ ràng trước mắt (Xem Trương Bá Cần - sách đã dẫn - tr. 417). Nhà thiên văn học Copernic (1473-1543) từng bị Giáo hội Rôma khép tội vì phát kiến Trái Đất xoay quanh Mặt Trời, thì N.T.Tộ lại ca ngợi: có thể nói khoa học phương Tây đặt đến chỗ tinh vi là do ông mở đầu mà ra (Tr. Bá Cần - sách đã dẫn - trang 418). Ông khuyên những ai có chí với dân tộc hãy nên tìm tòi nghiên cứu trong môn khoa học (thiên văn) này để hiểu được đại cương những bí mật của Trời Đất (Tr. B. Cần, như trên, trang 422). N.T.Tộ tuy được giám mục Gôchiê đỡ đầu, nhưng phần lớn các bản điều trần của ông đều là ý kiến độc lập, và các hoạt động của ông cũng độc lập với giám mục. Ông nói rõ với triều đình giám mục có thể giúp việc gì và không thể giúp việc gì. Nhất là khi ông bàn các mưu kế đối phó với quân xâm lược thì ông dặn triều đình không thể cho giám mục biết. Như trường hợp tháng 8 - 1866 N.T.tộ nảy ra sáng kiến liên hệ với một số quan binh Pháp vốn có mâu thuẫn với Tây soái De La Grandière là kẻ đang có âm mưu lập công thôn tính thêm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Ông đề nghị với triều đình để ông cùng với Nguyễn Hoàng gấp rút vào Sài Gòn vận động họ viết thư gửi cho các Đại Học sĩ ở Tây triều gây dư luận ủng hộ ta, cương quyết không can thiệp vào nước ta. Về việc này ông này ông đã dặn triều đình dừng để cho giám mục Gauthier biết. (Xem Tr. B. Cần, sách đã dẫn, trang 189) Là một tín đồ công giáo, N.T.Tộ thành tâm nghĩ rằng có thể cùng giám mục vào việc giúp ta canh tân đất nước, như lập trường kỹ thuật, mở viện dục anh. Nhưng thâm tâm ông vẫn không muốn việc đạo giáo Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào các giám mục Tây. Cho nên hồi 1866, khi chuẩn bị sang Pháp lo toan việc chuẩn bị mở trường kỹ thuật, ông đã trao đổi ý kiến riêng với Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ rằng Các giáo sĩ Tây tuy vốn vô tâm với thế sự, nhưng trong đó cũng có một hai người không yên phần lo việc đạo giáo, chỉ mưu đồ lợi riêng, nên ông muốn nhân lúc đi Tây mà xin với Giáo hoàng hãy rút giáo sĩ Pháp về, chỉ giao cho giáo sĩ nước ta trông nom hoàn toàn việc đạo giáo (...) Như thế không phải là phản đạo mà chính là bảo vệ đạo (Tr.B.Cần, s.đ.d. trang 325). 2. Theo N. Kha và Tr.C.Ngọc thì tội lớn nhất của N.T.Tộ là tội bán nước. Hai anh vận dụng nhiều tài liệu mật trong các báo cáo của tướng soái thực dân xâm lược gửi về Pháp kêu ca nhiều nỗi khó khăn chúng gặp phải do cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam hồi 1858-1862 để xin thêm quân tiếp viện. Với những cứ liệu này N.Kha kết tội N.T.Tộ đề cao sức mạnh quân xâm lược để hù dọa triều đình và nhân dân ta, hòng thuyết phục triều đình hãy sớm đầu hàng quân Pháp (xem Thực chất... - trang 21-25). Anh còn phê phán N.T.Tộ vận dụng học thuyết Kinh Dịch: Khí đất là từ Bắc xuống Nam, mà thủy ở phương Bắc, hỏa ở phương Nam, cho nên thủy trị được hỏa. Còn vận trời là từ tây sang Đông, mà kim ở phương Tây, mộc ở phương Đông, cho nên kim diệt được mộc. Như thế mà suy ra lẽ trời thì Tàu diệt Việt, Pháp diệt Đông Dương (xem Thực chất... trang 18). Và N.Kha lên án: Theo N.T.Tộ, thuận với đạo trời thì nên dâng Tổ quốc cho Pháp, chống làm chi cho thêm họa (Như trên, trang 28). Nói về những sử liệu mật của Ng.Kha có được, chúng ta không vội nghi ngờ độ tin cậy của những câu trích dẫn được dịch ra tiếng Việt lại còn đăng tải cả nguyên văn tiếng Pháp. Nhưng theo phương pháp luận khoa học lịch sử thì không nhất thiết trích dẫn được nhiều sử liệu liệu là phản ánh đúng sự thật lịch sử. Lênin từng nói: Các hiện tượng trong đời sống xã hội là cực kỳ phức tạp, nên người ta luôn luôn có thể tìm được, muốn bao nhiêu cũng có những ví dụ hoặc tài liệu lẻ tẻ để chứng minh cho bất cứ luận điểm nào (Xem Lênin tuyển tập Q. I - nxb Sự Thật 1959, trang 410). Ở đây, muốn kết tội N.T.Tộ, Ng. Kha chỉ trích dẫn những đoạn văn tướng soái Pháp kêu ca khó khăn để xin viện trợ. Nhưng chắc chắn là các báo cáo quân sự của tướng soái Pháp phải nói nhiều về những thắng lợi chúng thu được khi đánh Đà Nẵng, chiếm thành Gia Định, phá chiến lũy Chí Hòa, chiếm các tỉnh lỵ Biên Hòa, Định tường v.v.. với lực lượng quân sự áp đảo của chúng. Vả lại những khó khăn mà tướng soái Pháp nêu lên là ở thời điểm 1858-1862, trong đoạn khởi đầu xâm lược, còn điều mà N.T.Tộ nói trong Thiên hạ đại thế luận về thế áp đảo của Pháp là ở thời điểm 1863, khi mà quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, đào kênh đắp lũy, trù tính kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển (xem Tr.B.Cần, s. đ. đ. Trang 108). Điều mà N.T.Tộ nói về sức mạnh của Pháp, sự yếu kém của ta, tuy lời lẽ có đôi chỗ có thể nói khéo hơn, nhưng đó chính là sự thật tổng quát mà lịch sử đã chứng minh. Lại bàn về quan điểm N.T.Tộ theo Kinh Dịch kim khắc mộc, thủy trị hỏa, có thể cho đó là duy tâm, là một lập luận sai lầm của ông; nhưng khách quan mà xét nghĩa lý kinh dịch thì kim khắc mộc, thủy trị hỏa, Bắc xuống Nam, Tây sang Đông là hiện tượng đã từng có và đang tồn tại. Thật ra, trong tập kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tác đất nước, nhiều độc giả trong nước đã nhận thấy điều bất cập của N.T.Tộ là chưa nhìn rõ mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp, muốn thôn tính toàn bộ Việt Nam. Ông cũng chưa nhìn rõ khả năng kháng chiến của ta, chưa nghĩ đến việc phát động toàn dân kháng chiến, và cũng không có thái dộ đúng đắn đối với những cuộc nổi dậy kháng chiến của nhân dân ta lúc bấy giờ. Nhưng mọi người đều thấy rằng N.T.Tộ chỉ bàn chuyện hòa với Pháp là thượng sách chứ không hề nói chuyện đầu hàng. Qua 58 bản di thảo của N.T.Tộ, không hề có một từ, một ý nào khuyên triều đình đầu hàng. Chữ hòa của N.T.Tộ trong Thiên hạ đại thế luận chỉ có nghĩa là tạm hòa, xuất phát từ tình hình thực tế trên chiến trường là sức ta quá yếu so với quân địch. Trong lịch sử chiến tranh, khi kẻ địch đang ở thế áp đảo mà ta phải tạm hòa là điều thông thường, dễ hiểu. Với N.T.Tộ, tạm hòa là để về sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển sang các nước lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài mới biết lượng sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo, rất mực kỷ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động...(Xem Tr. B. Cần, s.đ.đ tr. III). Đọc kỹ các bản di thảo, chúng ta chỉ thấy N.T.Tộ lo lắng cho đất nước, ngày đêm tính toán chuyện làm thế nào để triều đình giữ được thế làm chủ , đặt quân Pháp ở thế làm khách mà thương lượng với chúng, có nhượng bộ nhưng là để tìm ra phương sách làm cho dân giàu nước mạnh về sau. Với N.T.Tộ, dân giàu nước mạnh mới là kế sách hàng đầu để giữ nước. Qua tất cả các bản điều trần mà N.T.Tộ bàn về thời thế và sách lược đối phó với quân Pháp, chúng ta thấy rõ tinh thần yêu nước của ông có một quá trình biến chuyển ngày càng tích cực: a) Năm 1861 N.T.Tộ trao bài 'Hoa từ cho Nguyễn Bá Nghi bàn chuyện tạm hòa, ông chỉ nói ba điều: Một là khéo ngăn chặn, đừng để họ tìm cớ sinh sự làm lan rộng ra. Hai là hãy thong thả sắp đặt đợi lúc họ sơ hở. Ba là để dân thư thái củng cố sức lực - Đến năm 1862, khi Phan Thanh Gản vào Sài Gòn đàm phán, ông trao cho sứ thần họ Phan hai câu thơ: Khói lửa trời Nam rồi sẽ dứt, Phương Tây binh giáp tạm hùng thôi; tỏ ý khuyên đừng sợ hãi trước uy thế quân thù (Tr.B.Cần - sđd, tr. 123) B) Tháng 5 - 1863, viết Trần tình khải, ông thanh minh rõ thái độ của mình trước quân thù xâm lược: Đối với những hạng người cho quân Pháp là lớn mạnh mà sợ thì tôi giận ra mặt mà bảo như thế là làm tăng trưởng nhuệ khí của người ta mà tự diệt uy phong của mình. Đối với hạng người cho chúng là giàu thì tôi mắng nhiếc rằng bọn chúng chỉ là thứ ăn mày đến cửa nhà ai cũng chúc tụng. Tôi lại đem lợi hại của phương Tây xa xôi ra so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh được lâu dài. Xin cứ hỏi nhữngngười xung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không (...) Tôi nghĩ rằng thời kỳ khôi phục nước nhà đã có xác chứng ở bốn bể, dự tính được trong tương lai (Nt. Tr 123). Như vậy là từ năm 1861 đến 1863 ý niệm về chữ hòa trong đầu óc N.T.Tộ ngày càng rõ nét, hòa có đấu tranh, không hề có ý gì là đầu hàng. c) Từ 1864 kế sách tạm hòa của N.T.Tộ được bổ sung phong phú hơn: Tháng 3 năm đó ông được người Anh mời sang nước Anh dự Đại hội cách trí. Ông coi đây là một cơ hội tốt để tố cáo quân Pháp xâm lược, gỡ thế bí cho đất nước. Trong bản điều trần Kế hoạch duy trì hòa ước mới ông viết: Họ dòm ngó đất ta, cầu thành công trong vòng vài mươi năm, thì ta muốn trấn áp họ cũng phải biết xử khéo đừng để cho họ lan rộng ra (...) Muốn thế thì phải tìm được ngoại viện để phá mưu của họ... (Nt. Tr. 131) d) Khoảng tháng 6, tháng 7 năm 1864 N.T.tộ viết bài Lục lợi từ nêu lên 6 điều khuyên triều đình vận dụng sách lược ngoại giao với các nước như Anh, Nga v.v... để ngăn chặn, cô lập, ly gián, đề phòng, áp chế, tiến tới đánh lại quân xâm lược Pháp (N. tr. Tr 145 - 149). Đối với ý kiến này của N.T.Tộ, tác giả Ng. Kha cho là vô nghĩa, vì Anh đang có nhiều thuộc địa chưa khai thác hết, cần gì phải xen vào Việt Nam để đổ máu vô ích với Pháp (xem Thực chất tr. 83). Công bằng mà xét, N.T.Tộ đã nói lên sự thật về mâu thuẫn tiềm tàng Anh - Pháp có từ đầu thế kỷ XIX khi Anh cầm tù vua Na-pô-lê-ông Bônapác, và ngay giữa thế kỷ XIX Anh - Pháp vẫn có mâu thuẫn ở thị trường Ấn Độ, và Canada. Lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì thời nào cũng là thông minh. Kiến nghị của N.T.Tộ là đầy thiện chí. đ) Đến tháng 10-1866, N.T.Tộ phát hiện tình hình mới: Một mặt xâm lược Pháp đang lúng túng với phong trào kháng chiến ở Cămpuchia do Hoàng thân Xivôtha và Pucămbô phát động nhân dân đánh đuổi vua Nôrôđôm đầu hàng quân Pháp; mặt khác nội bộ bọn quan binh Pháp và bọn quan cai trị người Pháp ở Gia Định có mâu thuẫn; còn bọn người Pháp sang Sài Gòn buôn bán, kinh doanh thì đang thua lỗ: Ở Gia Định mọi việc đều bế tắc (xem Tr. B. Cần sđđ. Tr. 201) Do đó ông phản ảnh ngay với triều đình và bàn đến Khả năng lấy lại ba tỉnh miền Đông (di thảo sôá 20). Cũng trong tháng 10 - 1866 N.T.Tộ viết Kế hoạch vận động Pháp để giữ ba tỉnh miền Tây (di thảo 21). Ông báo cho triều đình biết ý đồ của Tây soái De La Grandière muốn chiếm luôn cả ba tỉnh miền Tây Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Do đó ông bàn với triều đình nên tìm cách liên lạc thẳng với Chính phủ Pháp, khai thác mâu thuẩn giữa nhân dân Pháp, dư luận các nhân sĩ Pháp với bọn thực dân xâm lược Pháp ở Việt Nam, mặt khác tranh thủ đặt quan hệ với Aubaret, một viên quan Pháp có mâu thuẫn với De La Grandière để phá âm mưu bành trướng của Tây soái. e) Thế rồi kế hoạch nói trên được thực hiện hay không thực hiện, tháng 6 - 1867 quân Pháp tiến lên chiếm trọn cả ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Thời gian này N.T.Tộ đang có mặt ở Pháp, lo toan việc mời thầy thuê thợ, mua sắm dụng cụ, sách vở để mở trường kỹ thuật cho đất nước. Ông thấy rõ tình thế đã rất nghiêm trọng, nên tháng 11 - 1857 ông bàn với triều đình Xin gấp rút sữa đổi việc võ bị (Tr. B. Cần - sđd. Tr. 230 - 239). Đây là điều kiến nghị thứ nhất trong bản điều trần lớn Bát điều tế cấp, Nếu như trước kia ông chỉ nghĩ đến kế sách ngoại giao để giữ nước, thì giờ đây ông đã nghĩ đến việc tăng cường võ bị, phải lo toan Chế tạo vũ khí mới lạ, phải trích trữ vật liệu v.v... (Nt. Tr. 237) g) Sau khi đã mất cả 6 tỉnh Nam Kỳ, triều đình cuống quýt lo toan cử người sang Pháp xin chuộc lại, thì N.T.Tộ, trong di thảo số 36 ngày 7-4-1868, bàn với triều đình nên bãi bỏ việc cử sứ bộ đi Pháp (Nt. Tr 303), ông khuyên nên tính kế lâu dài dần nuôi dưỡng sức ta, dần đi giao thiệp, để đợi khi họ có loạn thì mới gây khó cho họ, mà khiến họ không dám muốn làm gì thì làm (Nt. Tr 307). h) Thế rồi thời thế chuyển biến: năm 1870 nổ ra chiến tranh Pháp - Phổ. Pháp thua to, vua Pháp Louis Bonaparte bị bắt làm tù binh tháng 9-1870, rồi nổ ra cách mạng Công xã Paris tháng 3-1871. N.T.Tộ thấy rõ đây là một cơ hội rất tốt, phù hợp với điều ông dự đoán cơ hợi khôi phục phải sau 10 năm (N. tr. Tr. 316). Từ tháng 2 đến tháng 5-1871 ông liên tục viết 7 bản điều trần liên quan đến kế sách khôi phục: Kế hoạch thu hồi 6 tỉnh Nam kỳ (di thảo 39) ngày 1-2-1871 Bổ túc kế hoạch đánh úp thành Gia định (di thảo 40) ngày 9-2-1871 Bàn về việc cho Pháp thông thương để đổi lấy 6 tỉnh (di thảo 42) ngày 5-4-1871 Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (di thảo 44) ngày 10-4-1871 Tình hình chính trị nước Pháp với công xã Pari (di thảo 49) tháng 5-1871 Cần nắm vững tình hình chính trị nước Pháp (di thảo 50) cuối tháng 5-1871 Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng (di thảo 51) ngày 19-6-1871 Những kế hoạch N.T.Tộ đề ra trong 7 bản điều trần kể trên cũng vẫn còn có một đôi điều bất cập, nhưng rất chân thành. Ông vẫn chưa bàn đến việc phát động toàn dân kháng chiến, nhưng rõ ràng là ông đã chuyển từ khuynh hướng chủ hòa sang chủ chiến ở mức độ thấp, kết hợp thủ đoạn đánh úp với các hoạt động kinh tế, ngoại giao. Cũng không phải mọi kiến nghị của ông đều hoàn toàn sáng suốt cả. Ví dụ như kế hoạch sai người đi Hồng kông gặp các khách buôn giàu xin họ cho vay tiền để mua một số đại pháo, mà lại hứa với họ ngày sau sẽ cho bán nha phiến trong cả nước không đánh thuế (N.trang 317). Vay tiền mua súng là tốt, nhưng để cho họ bán ma túy tự do lại rất nguy hiểm. Ví dụ như chủ trương đánh úp thành Gia định mà chỉ bàn chuyện khổ nhục kế, dương đông kích tây, phao tin này nọ chứ không biết thúc đẩy các cuộc nổi dậy thực sự của dân chúng để bao vây quân thù trong một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn. Điều sáng suốt này N.T.Tộ chưa có được, cũng như các vị anh hùng chủ chiến đương thời đều chưa có được thật đầy đủ. Chỉ đến thời đại Hồ Chí Minh dân tộc ta mới có được trí tuệ hoàn chỉnh: toàn dân, toàn diện, trường kỷ kháng chiến. Tuy chưa có được sự sáng suốt toàn diện, nhưng cái tâm của N.T.Tộ là luôn luôn lo toan việc khôi phục một cách vô tư, với tinh thần tiếp cận khoa học. Chúng ta có thể phê bình điều hạn chế lịch sử của ông mà không thể phủ nhận lòng yêu nước chân thành, lao tâm khổ tứ của ông. 1. Đối với các kiến nghị dân giàu nước mạnh của N.T.Tộ thì hai anh Ng.Kha, Tr.Ch.Ngọc cũng có lời kết tội thiếu khách quan: a) Khi N.T.Tộ nói đến bốn nguồn lợi của đất nước về biển, về rừng, về đất đai và khoáng sản, thì Ng.Kha phán: Ai mà chẳng biết biển thì có cá, rừng có gỗ, đất trồng được dâu để nuôi tằm... Anh thất vọng vì N.T.Tộ đã không đề ra được một phương pháp cụ thể để có được nhiều cá, nhiều muối, nhiều gỗ quý v.v... (xem thực chất...trang 68). Đây chỉ là một lời bắt bẻ vụn vặt. Làm sao trong một bản điều trần Dụ tài tế cấp chỉ mấy trang giấy mà nói được hết phương pháp cụ thể. Ai đã đọc các bản điều trần Khai hoang từ (di thảo số 8) và bàn về chính sách nông nghiệp (di thảo số 53) thì đều thấy rõ kế sách của N.T.Tộ rất cụ thể, phát kiến của ông rất lỗi lạc. B) Khi N.T.Tộ bàn về kế sách quân sự thì Ng. Kha đối chiếu các câu văn trong Tôn Ngô binh pháp và phê phán Hầu như N.T.Tộ lấy ý trong sách này, đã vậy ý của N.T.Tộ còn kém xa (thực chất... trang 95). Tr. Ch. Ngọc cũng viết: Những đề nghị của N.T.Tộ về quân sự không có gì đặc biệt, tựu trung chỉ là những hiểu biết sơ đẳng (N.Tr. trang 257) Nếu đọc kỹ N.T.Tộ, chúng ta sẽ thấy ông đã trình bày vấn đề quân sự rất xác đáng. Chẳng những vận dụng kiến thức trong các sách binh thư xưa, mà còn bàn nhiều chuyện ngoài binh thư, thiết thực với hoàn cảnh trận địa nước nhà thời bấy giờ. Nguyên một ý lớn của ông khuyên triều đình không nên trọng văn khinh võ đã là một điều sáng tạo lớn. Ông kiến nghị hãy đem các sách binh thư xưa và nay ra xét lại, chỗ nào nghĩa lý không xác đáng, khí giới lỗi thời, kỹ thuật không hiệu quả, địa thế không cho phép, khí hậu không hợp (...) thì bỏ bớt, chỉ lựa lấy những cái hợp với ngày nay, liên quan đến tình thế nước ta, đưa ra thực nghiệm và soạn thành sách đưa ra học tập (Tr.B.Cần, sđd. Trang 233). Ông đề nghị việc xây dựng lực lượng vũ trang phải coi trọng người lính, quan tâm đào tạo cán bộ chỉ huy chuyên nghiệp v.v... Trong lịch sử Việt nam đã từng có ai bàn vấn đề quân sự thấu triệt như N.T.Tộ chưa? c) N.T.tộ kiến nghị triều đình quan tâm việc đào kênh nhằm mục đích cho ghe thuyền đi lại, giúp nhân dân đỡ tốn kém (...) dẫn nước tưới ruộng phòng hạn (N.tr.tr. 256). Bàn về địa thế Bắc kỳ, ông khuyên nên đào nhiều kênh trong các tỉnh Hải dương, Hưng Yên, Nam định, Hà nội, Ninh bình v.v... để phân tán thế nước, đề phòng lũ lụt... (N.tr.tr. 263). Ông còn đề ra một sáng kiến lớn, xuất phát từ mối lo nước ta đường biển không an toàn vì nạn cướp biển và thường bị bão.... Nhất là việc vận chuyển lương thực từ Bắc Kỳ vào Kinh đô Huế là rất thiết yếu lại rất tốn kém: Một thạch lương thực đưa được đến kinh đô đã phải hao hụt dọc đường mất năm sáu đấu, đó là chưa nói đến nhiều vụ bị chìm ghe, bị đánh cướp. Do đó ông đề nghị Xin xem xét kỹ địa thế từ Hải dương đến kinh đô, đào một con kênh lớn có thể lưu thông được cả ghe lớn ghe nhỏ thuyền quan, thuyền dân. (Nt. Tr. 280) Kiến nghị táo bạo này bị Ng.Kha phê phán là hết sức không tưởng và tai hại. Anh dẫn chứng về mọi sự tốn kém, không thể làm được vào thời điểm 130 năm trước đây và suy luận thêm: Chưa nói đến tình trạng loạn Chày vôi, chỉ mới đào hào để làm lăng tẩm cho vua mà dân chúng Kinh thành đã nổi loạn thành xây xương lính, hào đào máu dân. Nếu đào kênh như N.T.Tộ chắc chắn dân chúng cả nước sẽ nổi lên chống triều đình (Thực chất... Tr. 109). Yêu thì cái gì cũng tốt. Ghét thì cái gì cũng xấu. Đó là chuyện người đời. Trong lịch sử có bao nhiêu sáng kiến táo bạo đã từng bị phê phán. Cũng có loại sáng kiến táo bạo không thực hiện được, nhưng tư tưởng của người đề xuất thì đời sau vẫn ngợi ca. Nếu có được thái độ công bằng, chắc chắn rằng bạn Ng. Kha sẽ thấy rõ N.T.Tộ thực tâm nghĩ đến lợi ích đất nước, và có đủ trình độ để chỉ đạo việc đào kênh, như ông đã hướng dẫn đào Kênh Sắt ở Nghệ An năm 1866. Vả lại cũng cần phân biệt việc Đoàn Trưng phát động khởi nghĩa chống vua Tự Đức làm Khiêm lăng, không đồng dạng với cuộc nổi dậy chống đào kênh mà anh tưởng tượng ra. Xưa nay dân Việt Nam ta có bao giờ chống việc thủy lợi, đào kênh đắp đập lo toan đời sống con người đâu. d) N T.Tộ kiến nghị lập viện dục anh và viện tế bần thì Ng. Kha phản bác: Hoặc vô tình, hoặc cố ý, nhà thông thái N.T.Tộ đề nghị mỗi tỉnh lập một nhà nuôi trẻ do giám mục tình bào Gauthier cử ngưởi điều khiển là một kế hoạch vô cùng nguy hiểm, không những tạo thế hợp tác cho các giám mục nước ngoài mà còn trải rộng mạng lưới tình báo khắp toàn quốc cho Pháp và Vatican dễ dàng và nhanh chóng thống trị và đồng hóa dân tộc ta (thực chất... tr. 134). Trần Ch. Ngọc cũng phụ họa: Đặt giáo dục, cứu tế xã hội vào tay các giám mục là những đề nghị nguy hiểm, nếu thi hành thì Việt nam sẽ mất hẳn nền văn hóa đặc thù của mình (N. Tr. Trang 257). Nếu ta nghiên cứu lại toàn văn điều kiến nghị thứ 8 trong Bát điều tế cấp: Lập viện dục anh và trại tế bần thì sẽ thấy nhà đại trí họ Nguyễn đặt vấn đề này trên cơ sở phê phán một tình trạng lạc hậu của đất nước: Hiện nay ở Trung Quốc cũng như nước ta thường kêu gọi quyên góp lập đàn công tế, hoặc đúc tượng Phật, hoặc lập bài vị thần, hoặc đúc chuông, sửa chùa, hoặc hội họp văn chương, hoặc làm đình làm mộ (...) ai quyên góp được nhiều thì bảo là háo thiện. Những việc ấy có gì là háo thiện? Chỉ háo danh mà thôi! Ngoài đường có người đói xin miếng cơm thừa canh cặn mà còn nhẫn tâm không cho. Gần nhà có trẻ mồ côi ngồi khóc bên vách mà nỡ nhắm mắt bỏ đi (...). Tôi thấy hiện nay triều đình xuất công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ, nhưng vì thừa hành không làm hết nhiệm vụ nên chỉ có danh nghĩa mà thực tế những người nghèo khổ không được giúp đỡ bao nhiêu (...) Không bằng phương Tây Hội Thánh thâu hết những người nghèo về nuôi, chữa bệnh. Người tàn tật thì có công việc tàn tật, không ai ở không (...) Nhà nước cấm tuyệt không cho ai đi ăn xin, hễ gặp là bắt ngay, sung vào công dịch. Làm được thế người nghèo có nơi nương tựa mà bọn côn đồ bất lương khó đường trốn tránh. Còn việc nuôi trẻ rất khó kiếm người, chỉ có những phụ nữ phương Tây tình nguyện vào ở trong viện với trẻ mới làm được việc và chắc chắn có hiệu quả tốt (...) Nếu triều đình cho rằng việc này nên làm thì sẽ nhờ các giám mục mời người đến mở mỗi tỉnh một nhà nuôi trẻ, không bao lâu sẽ có kết quả ngay (Tr.B.cần, sđd, trang 257 - 276). Một kiến nghị thực tâm và thiện chí như thế bị anh Ng Kha thêm vào mấy chữ do giám mục tình báo Gauthier cử người điều khiển lập tức biến thành một âm mưu hại nước. Còn anh Ngọc thì sợ mất đặc thù văn hóa dân tộc Phải chăng đặc thù văn hóa Việt nam là không cần chăm sóc người nghèo và trẻ mồ côi? Ngày nay nước ta đang lập ra những làng SOS để chăm sóc các em bé không nơi nương tựa, trong đó có một số bà xơ nữ tu công giáo tham gia, phải chăng đó là điều có hại? đ) N.T.Tộ được vua Tự Đức cử sang Pháp thu xếp việc mở trường kỹ thuật, nhưng khi đã được vua cho chọn đất làm trường thì đành bỏ dở. Đọc tiểu sử N.T.Tộ đến đoạn này ai cũng lấy làm mừng, rồi lấy làm tiếc. Tiếc cho ông. Tiếc cho đất nước. Giá mà ngày ấy lập được truờng kỹ thuật thì hay biết mấy! Nhưng Ng. Kha viết: Triều đình Tự Đức quá tin tưởng giám mục Gauthier và N.T.Tộ, trái lại hai vị này lừa dối triều đình có hậu ý (...) vì thầy giáo thì không có khả năng, giám mục lại là gián điệp (Thực chất... trang 115 và 117) Anh chứng minh việc thầy giáo không có khả năng là: một ông thi đậu cử nhân văn chương mà nói là biết phép toán học, bản đồ và điện khí, một ông thì mới gia nhập Hội truyền giáo, đi học khóa kiến trúc một năm mà nói là thạo về môn đồ bản và biết làm cột thu lôi... Tất cả những chuyện này Trương Bá Cần đều viết rõ trong tác phẩm N.T.Tộ con người và di thảo, và Ng. Kha đều sử dụng tư liệu của Tr.B.Cần, nhưng anh đã lờ đi đoạn văn quan trọng của Trương Bá Cần: Triều đình Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp. Việc dự án mở trường ở Huế không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong triều đình cũng như ở các tỉnh tỏ ra dè dặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ Pháp (...) Những ngày tháng 4-1868 có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với người công giáo (Tr.B.Cần, sđd. Trang 51-53). Rõ ràng việc mở trường ở Huế không thành là do nguyên nhân thời thế chứ không phải do giám mục Gôchiê và N.T.Tộ là người đã cất công đi lo toan việc này trở mặt đánh lừa nhà vua bằng cách chọn thầy dạy học thiếu năng lực. Vả lại có ai cấm một cử nhân văn học mà có thêm hiểu biết về kỹ thuật, một linh mục học về kiến trúc một năm mà có được khả năng dạy vẽ đồ bản và cách làm cột thu lôi. Lời buộc tội của hai bạn Ng. Kha và Tr. Ch. Ngọc thật là gượng ép. Đọc hết cuốn sách của hai bạn Việt Kiều ở Mỹ, những người kính yêu Nguyễn Trường Tộ không khỏi liên hệ đến cách nhìn của các nhân vật chủ chiến thời Tự Đức từng để ra khẩu hiệu Bình Tây sát tả, và từng kiến nghị triều đình xử tử N.T.Tộ. Cuốn sách của hai bạn không phải vô tình mà là cố ý chôn vùi một danh nhân đất nước trong khi hầu hết các học giả trong nước đều tôn vinh ông, nhất là trong thời đại ngày nay, yêu cầu đổi mới đất nước đang là một yêu cầu nóng bỏng để đưa dân tộc ta tiến kịp đà văn minh thế giới hiện đại. Thật ra T. Ch. Ngọc còn có vài câu vớt vát cho N.T.Tộ như: Không có thể phủ nhận sự hiểu biết của ông N.T.Tộ rộng rãi và tiến bộ hơn sự hiểu biết của người dân và đa số sĩ phu trong nước thời ấy (Thực chất..., trang 196). Qua một số kiến nghị chính xác liên quan đến xã hội và nền giáo dục nước nhà, nếu áp dụng thì cũng có lợi ích trong việc phát triển đất nước, thí dụ như bỏ lối học từ chương, khuyến khích khoa học kỹ thuật, cải thiện nông nghiệp, khai thác tài nguyên v.v... (N.Tr. trang 253) Nhưng Tr. Ch. Ngọc khen để rồi chê: Thực chất những hiểu biết của ông có lợi hay có hại cho đất nước, có phải là mới mẻ đặc biệt hay không? (N.Tr. trang 196), và Nhưng đây là những chương trình lâu dài không thể áp dụng để đối phó lật ngược tình trạng sôi bỏng của đất nước thời bấy giờ (N.Tr. trang 253) Còn như số đông học giả trong nước đối với các đề nghị cách tân của N.T.Tộ thì khen thật sự, khen mà khâm phục chứ không phải khen để rồi chê. Khen ở chỗ những kế sách của ông đem ra thực hành trăn năm cũng chưa hết (...) thực ra là ông nói cho chúng ta (...) đó là một lời dự báo (tham luận của Nguyễn Văn Hồng - Xem Kỷ yếu Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước trang 181). Ngay như Thai Hồng, người phê phán đường lối chính trị của N.T.Tộ một cách sâu sắc nhất trong hội thảo 1991 cũng phải thừa nhận rằng: N.T.Tộ là một nhà yêu nước, người đã đề xuất những cải cách lớn hồi thế kỷ trước. Khát vọng của ông là khát vọng bảo vệ nền độc lập nước nhà, làm cho dân giàu nước mạnh. Khát vọng đó cũng là khát vọng muôn đời của nhân dân, của dân tộc. Ông lại cũng là người đã vượt qua được hoàn cảnh riêng của mình để cùng đi với dân tộc trong bước khó khăn đen tối. Do đó hình tượng của ông là hình tượng của một người có nghị lực phi thường, đã đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho tư tưởng độc lập và thịnh vượng của nước, của dân. Bao nhiêu đó đã khiến ông trở thành người Việt nam đáng kính, đáng trọng, một danh nhân văn hóa Việt nam. (xem kỷ yếu trang 269) Theo phương pháp luận khoa lịch sử thì đánh giá một nhân vật lịch sử cần xem xét những tiêu chí khác nhau: - Về chính trị, nhân vật đó có đề xuất được một đường lối chính trị phù hợp với yêu cầu lịch sử trong thời đại của mình hay không? có chính kiến gì sáng suốt hơn đời không? Nếu chính kiến của nhân vật lịch sử không phù hợp với thời thế đương đại thì nó có dự báo một điều gì cho tương lai không. - Về trí tuệ và văn hóa, nhân vật đó so với người trước và người đương thời có vượt lên cao hơn hay không. Tư tưởng và tác phẩm của người đó có tác dụng nâng cao nền văn hóa chung của đất nước hay của nhân loại không? Nếu đương thời quan điểm văn hóa của nhân vật đó chưa phù hợp thì nó có tác dụng tích cực cho tương lai không? - Về nhân cách, nhân vật đó có gì nổi bật, đáng làm gương cho đời? Có đặc điểm gì khác đời đáng coi là một điển hình lịch sử? Đối với nhân vật lịch sử Nguyễn Trường Tộ, các học giả trong nước nói chung có cách nhìn đúng đắn. Về mặt chính trị, nhiều người nhìn rõ điều bất cập của ông trong tinh thần chủ hòa, cho nên ít người ca ngợi ông về đường lối chính trị. Người ta chỉ có thể xét đến hoàn cảnh thực tại của ông, sống trong lịch lý. Nghịch lý tôn giáo, nghịch lý đất nước, nghịch lý thời đại. N.T.Tộ đã không đề xuất được một đường lối tạm hòa với những suy tư day dứt và một tấm lòng yên nước chân thành. Nhưng về mặt văn hóa, trí tuệ và nhân cách thì không ai phủ nhận N.T.Tộ đã đề lại một ấn tượng rất đẹp, ấn tượng của một trí tuệ vượt lên trên tầm thời đại của đất nước Việt nam giữa thế kỷ XIX. Ấn tượng về một tám lòng ái quốc trung quân. Sống trong cảnh bị nghi ngờ, bị gạt bỏ mà không một lời oán trách, lại còn lo toan cho đất nước vươn lên giàu mạnh để đối phó với quân thù xâm lược. Tư tưởng cách tân xã hội, phê bình xã hội của ông được đánh giá cao như mở đầu một giòng chảy tư tưởng canh tân cho đất nước. Có thể nói rằng thái độ bài xích của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc đối với N.T.Tộ là có thể hiểu được nhưng thực sự có thiên lệch, hoặc là quá nghiêm khắc, khi hai anh đứng trên một lập trường chủ chiến có phần cực đoan, tuyệt đối không chấp nhận bất cứ phương sách chủ hòa nào. Học giả Chương Thâu thường nhắc lại tinh thần mạn đàm giữa nhà hiền triết Cao Xuân Huy với Giáo sư Trần Văn Giàu hồi những năm 1960. Cả hai vị đều nhận định về một nghịch lý của thời Tự Đức trước cuộc xâm lăng của đế quốc Pháp: Thời ấy chủ chiến là đúng, nhưng các anh hùng chủ chiến nói chung đều nằm trong hệ tư tưởng Khổng giáo đã trở nên lạc hậu, bảo thủ, không tiếp thu nổi cái mới, không có được một đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, không biết nhìn bao quát thời thế trong toàn thế giới. Thời ấy chủ hòa là hữu khuynh. Trong những người chủ hòa không ít tư tưởng đầu hàng, tự ti dân tộc, nhưng lại có được một nhân vật chủ hòa mang tư tưởng canh tân hợp với bước tiến của thời đại. Đó là Nguyễn Trường Tộ. Vì thế mà N.T.Tộ tuy thất bại trước thời cuộc nhưng các kế hoạch canh tân của ông là sáng suốt, còn lưu lại cho đời sau và được đời sau chiêm ngưỡng. Còn các nho sĩ chủ chiến như Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn v.v... tuy thất bại nhưng tấm gương yêu nước, quyết chiến của các vị đó để lại ấn tượng sâu xa trong sự tôn vinh của nhân dân đương thời và đời sau. Một cách nhìn như vậy có thể coi là công bằng, chính xác, hợp với phương pháp luận khoa học lịch sử. Số đông học giả trong nước ngày nay tin rằng thái độ tôn vinh đối với N.T.Tộ là đúng đắn. Chẳng những ngày nay chúng ta tôn vinh danh nhân văn hóa N.T.Tộ trong không khí đổi mới tư duy, trong thời đại của nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ; mà hơn nửa thế kỷ trước, chính Phan Bội Châu, người căm thù giặc Pháp hơn ai hết vẫn ca ngợi N.T.Tộ là người trồng mầm văn hóa đầu tiên ở nước ta (xem Việt nam quốc sử khảo - nxb KHXH 1982, tr. 214). Và cả Hồ Chủ Tịch nữa, trong những ngày chuẩn bị ráo riết chống xâm lược Pháp đầu năm 1946, Bác vẫn nhắc đến những đề nghị canh tân của N.T.Tộ và tiếc cho triều đình Tự Đức không biết tiếp thu. Trong con mắt của Bác, N.T.Tộ làmột điển hình giáo dân kính chúa và yêu nước. Viết những dòng này sau khi đọc kỹ cuốn sách của hai bạn Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc, chúng tôi bâng khuâng chưa rõ hai bạn mạt sát N.T.Tộ đến mức đó để làm gì? Phải chăng là để biểu thị mình có cách nhìn khác đời, khác với khuynh hướng chung của thời đại, để thành người nổi tiếng như anh chàng Erostrate đốt đền thờ thần Artemis ở Hy lạp 556 năm trước Công nguyên? Hay là hai bạn ra sức công kích N.T.Tộ để thỏa mãn yêu cầu của người đặt bài đang rất khó chịu vì những lời ca ngợi, đòi hỏi đổi mới? Hay là các bạn có một nhu cầu nội tâm thể hiện mối hận của những con em Phật tử ở miền Nam trước đây đã chịu nhiều đau thương dưới thời Ngô đình Diệm, một chính quyền Công giáo rất kỳ thị với Phật giáo. Điều khác nhau giữa số đông học giả trong nước với hai bạn là ở cái tâm, ở cách nhìn, ở thái độ đối với vấn đề văn hóa và cách tân. Giữa thời đại ngày nay, thời đại của hòa hợp dân tộc, đất nước vươn lên, một thái độ coi trọng trí tuệ, coi trọng nhân tài, một thái độ dung hòa, khoan dung, tiếp cận giữa các quan điểm đối lập là nên có, nên giữ, để cùng nhìn về tương lai, cùng vun đắp một cái gì chung cho văn hóa đất nước và văn hóa nhân lọai. Ở Huế, căn nhà cũ của nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn nằm trên đường mang tên ông này tức Nguyễn Trường Tộ, cũng con đường mang tên đó ở Hà Nội có một nhà xuất bản gì đó mà khi xuất bản phải hiện ra cái tên này trên bìa sách, việc đặt tên đều có kế hoạch chi tiết sâu xa nếu nhìn kỹ vào đấy. Đáng nhẽ con đường ở Huế mang tên Trịnh Công Sơn hay con đường ờ Hà Nội mang tên một danh nhân khác mới là thực sự xứng đáng. Đọc mấy bài viết lẻ của một số cá nhân, mỗi bài dăm trang giấy của vài tác giả mới thấy sự tâng bốc kinh hãi, cứ như tội Pháp đô hộ nước ta là do triều Nguyễn, nếu có ông này thì có lẽ Việt Nam có thể là Nhật Bản rồi, như vậy thì cho tới nay sự phát triền của Việt Nam cũng quá tệ chi là! nếu nhìn ra cái thiên tài đó thì đã khác rồi. Ghê thật, rất tinh vi.
×
×
  • Create New...