Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Như Thông

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    889
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Như Thông

  1. Mình hay hút thuốc white house, không biết có chất phóng xạ không trời. nếu có thì bye bye liền. hic hic.
  2. Chú Thiên Sứ phát biểu bài hay quá.
  3. Mình thường thấy khi ngủ mơ hoặc thấy ma đuổi..... thì y như rằng lúc bật mình tỉnh dậy thì có hiện tượng ngộp thở hoặc nằm phía bên trái ( tim) mà thôi. . Cả nhà mình có ai gặp ma bao giờ chưa nhỉ.
  4. Nếu sự thật là tìm ra "Hạt của chúa" thì không biết nó ứng dụng như thế nào trong cuộc sống nhỉ ? Nó xuất hiện thoáng chút rồi biến mất.
  5. Lào trong chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ ở châu Á Ngày 11/7, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã có chuyến thăm chớp nhoáng 4 giờ tới Lào. Đây là chuyến thăm Lào đầu tiên trong 57 năm qua của một vị ngoại trưởng Mỹ. Tại đây, bà Hillary Clinton đã có cuộc gặp với Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong và hội đàm với người đồng cấp Lào Thongloun Sisoulith. Tuyên bố chung sau cuộc gặp cho biết hai bên tập trung bàn về mở rộng hợp tác song phương, về mục tiêu Lào gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), về hậu quả của chất độc da cam/điôxin, việc tìm kiếm hài cốt lính Mỹ mất tích và dự án xây đập gây tranh cãi trên sông Mê Công. Nhật báo Phố Wall cho rằng Lào có thể đóng một vai trò trong chiến lược trong chiến lược "tái cân bằng" của Mỹ ở châu Á và khu vực Đông Nam Á. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và người đồng cấp Lào Thongloun Sisoulith, Viêng Chăn 11/7 Lào xét về kinh tế là một quốc gia có tiềm năng về khoáng sản và là một thị trường đang phát triển đủ để thu hút sự chú ý của các công ty Mỹ và Trung Quốc. Về mặt chính trị, trong khuôn khổ ASEAN, Lào lại có quyền đưa ra một tiếng nói khác trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông đang ngày càng căng thẳng và các vấn đề khác ở khu vực có dính líu tới Trung Quốc. Trong tiến trình xây dựng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông - yếu tố được trông đợi như một giải pháp để kiểm soát căng thẳng và giải quyết tranh chấp giữa các nước liên quan, Lào dĩ nhiên có thể đóng một vai trò chiến lược. Cụ thể là khi Việt Nam, Philippines muốn ASEAN cứng rắn hơn với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, thì các quốc gia đứng ngoài cuộc tranh chấp như Thái Lan và Campuchia lại không muốn làm phật lòng những nhà lãnh đạo Trung Quốc. Giữa sự thiếu đồng thuận ấy, Myanmar và Lào có thể làm nghiêng cán cân cuộc chơi này thông qua quyết định của mình. Cả Lào và Myanmar đều có đường biên giới với Trung Quốc, đã hưởng lợi từ những khoản đầu tư của quốc gia láng giềng khổng lồ này. Nhưng trong cách đánh giá mới của Washington, cả hai quốc gia đều có tiềm năng để trở thành đối tác với Mỹ nhằm kiềm chế tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhật báo Phố Wall dẫn lời nhà phân tích Christopher Bruton đến từ Công ty Dataconsult Ltd. có trụ sở ở Thái Lan nói rằng "Mỹ quan ngại tầm ảnh hưởng của họ trong các nước ASEAN và Đông Á là chưa đủ mạnh trong khi Trung Quốc đã giữ một vai trò quan trọng ở đó. Và tình thế này có thể đưa Washington tới quan điểm rằng dù Lào chỉ là một nước nhỏ trong khu vực, nhưng lá phiếu của quốc gia này trong ASEAN cũng có giá trị như lá phiếu của Indonesia một khi tổ chức này cần biểu quyết". Một trong những chương trình có thể làm tăng cường tầm ảnh hưởng của Mỹ ở Lào và khu vực là Sáng kiến Hạ lưu sông Mê Công do chính bà Clinton đưa ra từ năm 2009. Những lĩnh vực hợp tác nằm trong khuôn khổ chương trình này như giáo dục, hạ tầng cơ sở và môi trường có thể đưa Mỹ gắn kết chặt chẽ hơn. Điểm mấu chốt của chương trình giờ đây là tìm ra giải pháp cuối cùng cho kế hoạch xây đập Xayaburi trị giá 3,5 tỷ USD của Lào có vốn đầu tư từ Trung Quốc. Mỹ và nhiều nước đang kêu gọi phải xem xét lại và ngừng kế hoạch vì vấn đề an sinh của các nước hạ lưu, nhưng Lào vẫn chưa có quyết định cuối cùng. Và dù vậy, tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở Lào vẫn cứ lớn mạnh, vượt qua cả đầu tư của Việt Nam trên nhiều phương diện và lĩnh vực. Bằng chứng là Trung Quốc sẽ đầu tư xây dựng tuyến đường sắt cao tốc xuyên Lào có trị giá tới 7 tỷ USD dù cho trình độ phát triển ở Lào vẫn còn ở mức thấp. Còn Mỹ và Lào, quan hệ thương mại giữa hai nước mới chỉ đạt 71 triệu USD trong năm 2010. Chuyến thăm lịch sử của bà Clinton lần này, cùng với hàng loạt chuyến đi của các tập đoàn và doanh nghiệp Mỹ tới Lào kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ từ năm 2004, hy vọng sẽ tạo ra những thay đổi tích cực. Riêng trong năm 2012, Chính phủ Mỹ viện trợ cho Lào gần 30 triệu USD, trong đó 9 triệu USD để rà phá bom mìn ở Lào. Trong tương lai có thể Mỹ sẽ chi thêm tiền cho công tác này. Vị Ngoại trưởng Mỹ trước kia thăm Lào là ông John Foster Dulles, vào năm 1955. Tại thời điểm đó, Lào nằm vào vị trí trung tâm trong chính sách đối ngoại Mỹ. Thời chiến tranh, không quân Mỹ đã ném bom dữ dội lãnh thổ Lào để ngăn chặn tuyến tiếp tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bốn thập kỷ sau, bom đạn Mỹ vẫn tiếp tục gây thương vong cho người dân Lào. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, có khoảng 1/3 trong số 270 triệu quả bom chùm ném xuống Lào còn chưa nổ. Đến nay, hơn 20.000 người đã chết vì bom đạn còn sót lại sau chiến tranh. Bom mìn sót lại sau chiến tranh cũng là trở ngại chính đối với phát triển nông nghiệp của nước này. Phát biểu sau khi tới thăm một trung tâm chỉnh hình và lắp ghép chân tay giả do Mỹ tài trợ, bà Clinton cho biết Mỹ mong muốn mở rộng và tăng cường hơn nữa quan hệ với Lào. Giới phân tích nhận định đây là một phần trong nỗ lực lớn hơn của chính quyền Obama trong việc định hướng lại chính sách ngoại giao và thương mại, khi châu Á trở thành trung tâm kinh tế toàn cầu trong thế kỷ tới. Đây cũng là đối sách của Mỹ trước ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc./.
  6. TRỜI ƠI, BỆNH GÌ MÀ NHÌN KHIẾP QUÁ ĐI.
  7. Hình ảnh về Sedna hành tinh thứ 10 trong Hệ Mặt Trời Sedna là hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời đã được phát hiện cuối năm 2003. Đường kính khoảng 1700km . Cách mặt trời khoảng 5.9 tỷ km với khoảng cách này nó phải mất 10500 mới hoàn thành hết 1 vòng quanh mặt trời Vì quỷ đạo của nó là một hình elip cực kỳ dẹt nên khi cách xa mặt trời nhất thì klhoang cách từ nó đến "cục lửa hồng hào" là 130 tỷ km Trong những năm gần đây, các công trình thiên văn học đã liên tục công bố về một số vật thể lớn ngoài rìa Thái dương hệ. Chẳng hạn, năm 2002 tìm ra Quaoar với đường kính 1.200 km; năm 2001 tìm ra Ixion với đường kính 1.065 km; còn năm 2000 tìm ra Varuna với đường kính xấp xỉ 900 km. Năm 2004 giới thiên văn học đã phát hiện ra vật thể 2004 DW, với đường kính ước tính khoảng 1.800 km. Phát hiện về Sedna mới đây đã làm dấy lên một cuộc tranh cãi nhằm tìm ra định nghĩa xác đáng về một hành tinh thực sự, hay nói cách khác là cái gì tạo nên một hành tinh. Đây là một vài hình ảnh về sadna:
  8. Phát hiện mặt trăng thứ 5 của sao Diêm Vương Kính thiên văn không gian Hubble vừa phát hiện mặt trăng thứ 5 quay quanh hành tinh lùn Diêm Vương. Sau khi phân tích dữ liệu từ nhiều hình ảnh do kính thiên văn không gian Hubble của Cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA) chụp được, tiến sĩ Mark Showalter và cộng sự thuộc Viện nghiên cứu Seti (Mỹ) phát hiện mặt trăng thứ 5 của hành tinh lùn Diêm Vương và đặt tên là P5. Mặt trăng mới được phát hiện P5 là mặt trăng nhỏ nhất trong số các mặt trăng của sao Diêm Vương Mặt trăng P5 là mặt trăng nhỏ nhất của sao Diêm Vương được phát hiện cho tới nay. Khác với các mặt trăng được phát triển trước đó, P5 có dạng hình ê líp với chiều dài khoảng 25km và chiều rộng khoảng 10km. Việc phát hiện mặt trăng thứ 5 của sao Diêm Vương sẽ giúp các nhà khoa học hiểu rõ hơn quá trình hình thành của hành tinh này. Một số nhà thiên văn học trước đó cho rằng tất cả các mặt trăng của sao Diêm Vương đều là tàn tích của một vụ va chạm giữa hành tinh này và một vật thể băng cách đây hàng tỷ năm. “Các mặt trăng của sao Diêm Dương có kích thước từ nhỏ tới to rất đều nhau, tương tự như cách sắp xếp của búp bê Nga”, tiến sĩ Mark Showalter, người đứng đầu nghiên cứu, cho biết trên BBC. Mặt trăng lớn nhất của sao Diêm Vương là Charon được phát hiện vào năm 1978. Sau đó, kính thiên văn không gian Hubble phát hiện thêm 2 mặt trăng nhỏ hơn là Nix và Hydra. Mặt trăng thứ 4 có tên là P4 được kính thiên văn Hubble phát hiện vào năm 2011. Năm 2006, NASA đã phóng tàu thăm dò không người lái New Horizons và dự kiến nó sẽ bay vào quỹ đạo của hành tinh Diêm Vương vào năm 2015. New Horizons có sứ mệnh thăm dò và ghi lại những hình ảnh về bề mặt của sao Diêm Vương và các mặt trăng của nó. Sao Diêm Vương được phát hiện vào năm 1930 bởi nhà khoa học người Mỹ Clyde Tombaugh. Nó được coi là hành tinh thứ 9 của Hệ mặt trời cho tới khi bị “giáng cấp” xuống thành hành tinh lùn vào năm 2006.
  9. Kinh hãi thịt bò được ướp bằng... nước tẩy bồn cầu Trong vai một đầu bếp học việc, PV đã mục sở thị hậu trường nhà bếp của một khách sạn có tiếng ở Hà Nội và một quán nhậu bình dân (đường Lê Đức Thọ, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội). Xem bài khác trên Vef.vn Hiểm họa “chết người” từ món ăn bình dân Theo một đầu bếp tên T., dầu điều khi được chế biến, lọc cẩn thận thì không gây hại. Tuy nhiên, các quán ăn thường dùng hạt điều nguyên chất. Loại hạt điều này có chứa urushiol, là hóa chất gây độc. Ăn quá nhiều chất này có thể gây chết người. Theo tìm hiểu được biết, 1 kg hạt điều màu giá 25.000 đồng thì có thể dùng cho khoảng 100 suất cơm rang. Theo một đầu bếp T. cũng tiết lộ cách chế biến dầu điều như sau: Cho dầu lên bếp đun sôi, sau đó thả hạt điều màu vào hòa tan. Mỗi một suất cơm chỉ cần cho 1 thìa cà phê hạt điều màu là vô cùng bắt mắt. Hạt điều màu thông thường có mùi hắc nhưng khi tan trong dầu ăn thì bay mùi. Đối với không ít người tiêu dùng, các loại thịt xông khói có trong danh mục các món khoái khẩu. Tuy nhiên, đối với những loại thịt không có nguồn gốc xuất xứ đang bán nhan nhản trên thị trường đánh lừa người tiêu dùng bằng các tên nhái thương hiệu nổi tiếng: Đức Việt, IKA…, màu sắc bao giờ cũng đỏ au, bắt mắt hơn hẳn những loại “chính thống”. Tìm hiểu cơ sở sản xuất loại thịt này nằm sâu trong ngõ 172, Phạm Văn Đồng (Cầu Giấy, Hà Nội), chúng tôi được biết, cơ sở này dùng loại hóa chất B6, B9 để tiêm vào thịt nhằm giữ màu và tạo mùi. Một hộp chất tạo màu cực độc hàng Trung Quốc đội mác Thái Lan mà bà P. quảng cáo Theo TS.BS Trần Thị Minh Hạnh, Phó Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM, chất nitrite và nitrate có thể kết hợp với axít amin của thịt để tạo thành các hợp chất như nitrosamine và nitrosamide là các chất có nguy cơ gây ung thư. Nước tẩy bồn cầu làm mềm thịt bò Một tiết lộ kinh hoàng của các đầu bếp gạo cội thì việc sử dụng soda lại theo nguyên tắc làm mềm thịt bằng cách phá hủy, phân hủy các tế bào thịt. Sức công phá của loại bột này khủng khiếp đến mức có người còn dùng để tẩy rửa bồn vệ sinh. Soda dùng làm mềm thịt bò do PV mua Anh Cao Đức (bếp trưởng bếp Âu, khách sạn Sofitel, đường Thanh Niên, Tây Hồ, Hà Nội) bật mí: “Những người đầu bếp không có kinh nghiệm hoặc vì lợi nhuận kinh doanh coi việc dùng các chất phụ gia làm từ hóa học để ướp thịt bò là một biện pháp vừa nhanh, gọn mà hiệu quả tức thì. Gọi là màu thực phẩm cho yên tâm, chứ thực ra là hóa chất ko có lợi cho sức khỏe, có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc. Điển hình là soda, một loại hóa chất có sức công phá cực mạnh dùng để tẩy bồn cầu”. Anh Đức cho biết: “Đối với các đầu bếp chuyên nghiệp, việc tẩm ướp làm mềm thịt bằng bí quyết tự nhiên là tạo men bằng trứng và bột năng. Để thực hiện quy trình này, họ sẽ ngâm thịt bò vào nước khoảng 15 phút cho các thớ thịt nở hết ra. Sau đó, trứng và bột năng đánh đều tạo thành lớp men và củng cố thêm một lớp bên ngoài để đảm bảo gia vị không bị trôi. Công đoạn cuối cùng là dùng lửa to một cách “bất ngờ” để làm chín thịt bò giúp cho miếng thịt bên ngoài thì khô, nhưng bên trong vẫn mềm và thơm ngọt”. Anh Đức gọi vui đây là phương pháp “làm chín một cách đột xuất tạo hiệu quả cao”, tuy nhiên, không phải ai cũng đủ độ “tinh” để pha trộn định mức loại men tự nhiên này một cách hiệu quả. Những đầu bếp trẻ, thiếu kinh nghiệm sẵn sàng dùng các loại soda ướp bò để tạo hiệu quả tức thì. Soda ướp bò phổ biến trên thị trường có 2 loại: Bicarbonate of soda và baking soda. Trong đó, baking soda là loại phụ gia có chất xúc tác cực mạnh nên nhiều nhà hàng vì không có kinh nghiệm tẩm ướp hoặc muốn đơn giản hóa quy trình sẵn sàng sử dụng loại hóa chất độc hại này. Giá một hộp baking soda khá bèo, chỉ khoảng từ 10.000 - 12.000 đồng nhưng có thể dùng để ướp cả trăm kg thịt. “Người nào tinh ý sẽ phát hiện ra vì nếu được tẩm ướp bằng chất hóa học, miếng thịt sẽ bị nhão bởi các thớ thịt đã bị giãn trong quá trình ngâm tẩm chứ không có độ dẻo như thịt được nấu thông thường” - anh Đức nói. Theo chân một đầu bếp tên V. xâm nhập vào thị trường “đen” bán các loại hóa chất độc hại, PV Người đưa tin đã mua một hộp nhựa màu trắng, nhãn xanh, 100gam với tên gọi “bicarbonate of soda” giá 25.000 đồng. Bên trong là bột mịn màu trắng đã vón cục. Tại sạp hàng bán đồ khô kiốt 510 (Trung tâm thương mại chợ Hàng Da, Hà Nội), bà P., chủ sạp hàng vừa thấy đầu bếp V. đến đã mời chào vô số những loại phụ gia mới nhập số lượng lớn như baking soda, thuốc B9, hóa chất Rhodamine B, các loại phẩm tạo màu của Trung Quốc. Thậm chí, bà P. còn vào kho hàng lấy ra một hộp tạo màu của Thái Lan có tên gọi “orange red NS5 colour” để quảng cáo đã cháy hàng vì công dụng tuyệt hảo. Đầu bếp V. tiết lộ, loại phẩm màu mà chủ sạp hàng nói sản xuất từ Thái Lan chính là hàng Trung Quốc, dùng tạo màu cho tất cả các món ăn cần màu. “Phù phép” lợn sề thành thịt bò Để phù phép biến thịt lợn sề thành thịt bò thì phẩm màu hoa hiên được coi là “bảo bối”. Đây là một loại màu hóa học, một phụ gia không thể thiếu để cải thiện màu sắc của loại thịt giả bò. Chỉ cần 1 thìa cà phê bột hoa hiên hòa vào nước để ngâm thịt bò thì chỉ trong vòng nửa ngày thịt lợn sẽ có màu sắc giống như thịt bò tươi, không khác nhau là mấy. Nguy hiểm hơn nữa, thịt lợn chết đã bị ôi thiu vẫn có thể đánh lừa người tiêu dùng bằng loại phẩm màu này. Thịt lợn sề nuôi nhiều năm, không sinh sản nữa sẽ được bán lại với giá rẻ chỉ bằng 1/2 so với thịt lợn thường. Thịt lợn sề có đặc trưng là miếng thăn lợn to, thớ thịt dày, không có mùi hôi. Các công đoạn phù phép biến thịt lợn sề thành thịt bò cũng cần đến “bảo bối” là chất phụ gia có tên gọi maltol. Chỉ cần 0.05% - 0.1% so với lượng sản phẩm, hóa chất này đã có thể triệt tiêu được những mùi khó chịu đặc trưng của thịt lợn. Nếu kết hợp với chất tạo mùi như bột hương vị bò, nước tinh chất bò thì sẽ giúp duy trì hương lâu dài của sản phẩm. Theo các chuyên gia vệ sinh an toàn thực phẩm, việc sử dụng thực phẩm chứa phẩm màu tổng hợp lâu dài có những nguy hại cho sức khỏe, như gây mầm bệnh u não, ung thư bàng quang, dị ứng, hen suyễn... Người tiêu dùng nên sử dụng màu tự nhiên hoặc chỉ chọn những thực phẩm có nguồn gốc, thực phẩm nhuộm màu phải có địa chỉ và đăng ký chất lượng với cơ quan y tế. Trao đổi với PV, các đầu bếp đều cho rằng, dù biết các hóa chất, phụ gia, phẩm màu là độc hại và nằm trong danh mục cấm nhưng vì lợi nhuận kinh tế nên phải dùng. Khách hàng ăn xong, khen ngon là cánh đầu bếp hoàn thành nhiệm vụ chứ chẳng ai còn quan tâm tới hậu quả về sau. Các thử nghiệm của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ và Anh đã chứng minh một số phẩm màu tổng hợp là chất gây ung thư và đột biến gen, ảnh hưởng hệ thần kinh. Không chỉ thế, phẩm màu tổng hợp còn bị cấm sử dụng ở nhiều nước như allura red (đỏ), brilliant blue (xanh), sunset yellow (vàng cam), tartazine (vàng chanh)... thường có độ bền màu cao nhưng có thể gây ngộ độc nếu dùng loại không nguyên chất, không được phép dùng trong thực phẩm.
  10. Anh Ruby, Như Thông có nghe nói thi đeo đá quý cần phải kích hoạt năng lượng của chúng nữa hả ? Đúng không anh.
  11. NHỮNG ĐỒ HÌNH NHƯ VẬY. MÌNH THẤY RẤT NHIỀU TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA PHÚC KIẾN, TIỀU CHÂU... VÀ TRONG ĐỀN THIÊN HẬU NƯƠNG NƯƠNG.
  12. Phát hiện loại 'quỷ vũ trụ' mới Các nhà thiên văn quốc tế phát hiện một loại hố đen - thứ nuốt chửng các vật thể trong vũ trụ như loài quỷ đói - có kích cỡ trung bình đang trú ngụ ở trung tâm của các chòm sao. > Lần đầu tiên ghi hình hố đen > Hố đen xé tan xác ngôi sao Hố đen cỡ vừa (được khoanh tròn trong ảnh) nằm trong các chòm sao. Ảnh: National Geographic. National Geographic đưa tin một số nhà thiên văn quốc tế dùng hai kính thiên văn không gian Chandra (có khả năng thu nhận tia X) và SWIFT (có khả năng thu nhận tia gamma) của Mỹ để theo dõi một vật thể cực sáng cách trái đất gần 300 triệu năm ánh sáng mà họ vô tình phát hiện vào năm 2009. Họ gọi vật thể này là HLX-1. Nhóm nghiên cứu nhận thấy HLX-1 phóng ra vô số chùm tia X và bức xạ radio mạnh. “Kết quả quan sát của chúng tôi trong năm 2009 và 2010 cho thấy HLX-1 gây nên những tác động giống hố đen cỡ nhỏ, song có kích cỡ lớn hơn. Nó là một đại diện của những hố đen cỡ vừa”, Natalie Webb, một chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Bức xạ vũ trụ tại Pháp và là trưởng nhóm nghiên cứu HLX-1, cho biết. Vùng trong không gian có trường hấp dẫn mạnh đến nỗi mọi dạng vật chất, kể cả ánh sáng, không thể thoát ra khỏi mặt biên của nó được gọi là hố đen. Với khối lượng gấp từ hàng triệu tới hàng tỷ lần mặt trời, những hố đen siêu lớn ẩn nấp ở trung tâm của các thiên hà như những con mãnh thú và nuốt chửng những thiên thể tới quá gần chúng. Vì thế nhiều người ví hố đen như những con quỷ đói hung dữ và phàm ăn. Trong nhiều thập kỷ qua giới khoa học tin rằng hố đen có hai loại: khổng lồ và nhỏ. Những hố đen nhỏ có khối lượng gấp vài lần mặt trời, còn các hố đen khổng lồ đủ lớn và mạnh để “nuốt” toàn bộ Thái Dương Hệ. Những hố đen siêu lớn nằm ở trung tâm của phần lớn thiên hà, bao gồm cả dải Ngân Hà. Chúng xé toạc và nuốt chửng các ngôi sao. Hố đen cỡ vừa có khối lượng ở khoảng giữa hai loại trên, nghĩa là chúng có khối lượng gấp tối thiểu 90.000 mặt trời. Webb cho rằng, rất có thể những hố đen cỡ vừa trú ngụ ở trung tâm của những chòm sao lớn, nơi hàng trăm nghìn ngôi sao di chuyển sát nhau bởi tác động của lực hấp dẫn. Ngoài ra, có thể chúng là tàn dư của vũ trụ từ thuở sơ khai. “Trong giai đoạn bình minh của vũ trụ, có lẽ những ngôi sao siêu lớn có khối lượng tương đương vài chục nghìn lần mặt trời của chúng ta. Tuy lớn song những ngôi sao ấy có vòng đời rất ngắn. Sau khi chết chúng biến thành hố đen cỡ vừa”, Webb giải thích. Sự tồn tại của hố đen cỡ trung bình có thể giúp giới khoa học giải thích quá trình hình thành của hố đen siêu lớn. Chẳng hạn, Webb nghi ngờ hố đen siêu lớn được tạo nên từ hố đen cỡ vừa. Khi một hố đen trung bình “nuốt” một lượng vật chất có khối lượng tương đương ít nhất một triệu lần mặt trời, nó sẽ biến thành hố đen siêu lớn. “Hoặc cũng có thể một số hố đen trung bình sáp nhập vào nhau từ hàng tỷ năm trước để tạo thành hố đen siêu lớn mà chúng ta thấy ngày nay”, Webb nói. Minh Long
  13. 10 điều chưa biết về "hạt của Chúa" 04/07/2012 09:10:26 - Tài liệu của Higgs về "hạt của Chúa" từng bị từ chối, "hạt của Chúa" bị gọi đùa là "hạt chết tiệt" … 1. Tài liệu nổi tiếng của Peter Higgs về "hạt của Chúa" từng bị từ chối Song tình huống này lại là trong cái rủi có cái may, bởi nó đã giúp Higgs bổ sung thêm vào một đoạn giới thiệu về hạt của Chúa (hạt Higgs). Năm 1964, nhà vật lý Peter Higss đã viết 2 tài liệu, mỗi tài liệu dài 2 trang, về thứ mà ngày nay được gọi là trường Higgs. Chuyên san Physics Letters đã công nhận tài liệu đầu tiên và gửi trả lại bản thứ 2 cùng gợi ý rằng Higgs nên bổ sung thêm một phần giải thích những tác động về mặt vật lí trong thuyết của ông. Higgs đã thêm vào tài liệu một đoạn dự đoán rằng sự kích thích của trường này, giống như sóng trong đại dương, sẽ tạo ra một hạt mới. Sau đó, ông nộp bản đã sửa tới chuyên san Physical Review Letters và nó đã được đăng. Nhà vật lí Peter Higgs bên chiếc máy dò CMS được sử dụng để phát hiện hạt của Chúa tại Phòng thí nghiệm vật lí nguyên tử châu Âu CERN (Thụy Sĩ). 2. Bộ trưởng Khoa học Anh từng tổ chức cuộc thi quốc gia tìm lời giải thích xuất sắc nhất cho giả thuyết của Higgs Theo mô hình của Higgs, các hạt cơ bản có khối lượng nhờ tương tác với một trường vô hình, có mặt khắp nơi. Càng tương tác nhiều với trường Higgs, hạt mới này lại càng có khối lượng lớn. Các nhà khoa học đã gặp khó khăn trong việc giải thích về trường Higgs tới mức, năm 1993, Bộ trưởng Khoa học Anh William Waldegrave đã đưa ra thử thách cho họ rằng hãy gửi cho ông những bản mô tả dài 1 trang xuất sắc nhất. Ông Waldegrave đã trao rượu sâm panh cho những người thắng cuộc, bao gồm nhà vật lí học David Miller. Ông Miller đã so sánh trường Higgs với một nhóm người thuộc một đảng phái chính trị dàn đều khắp một căn phòng. Một người vô danh bất kỳ có thể di chuyển qua đám đông mà không gặp cản trở. Tuy nhiên, Thủ tướng Anh thời đó, bà Margaret Thatcher, thì sẽ thu hút được nhiều sự chú ý: họ sẽ cụm lại xung quanh bà, làm bà bị chậm lại và khiến bà có “khối lượng” nếu nói một cách ẩn dụ. <br style="font-weight: bold;"> 3. Cơ chế Higgs chỉ giải thích được một phần nhỏ về khối lượng trong vũ trụ <br style="font-style: italic;"> Hầu hết các bài báo khoa học nổi tiếng đều khiến độc giả tin rằng mô hình Higgs mang lại khối lượng của tất cả mọi thứ trong vũ trụ. Tuy nhiên, trường Higgs chỉ mang lại khối lượng cho những hạt cơ bản như electron hay hạt quark (hạt vi lượng). Hầu hết vũ trụ mà ta có thể quan sát được đều được cấu tạo từ các hạt tổng hợp như proton hay nơ-tron - những hạt này chứa hạt vi lượng. Cũng giống như một ổ bánh mì nho khô thì sẽ nặng hơn tổng khối lượng các hạt nho khô của nó, hạt proton và nơ-tron cũng nặng hơn hạt vi lượng bên trong chúng. Khối lượng của chúng chủ yếu tới từ lực hạt nhân mạnh có khả năng giữ những hạt vi lượng ở gần nhau. <br style="font-weight: bold;"> 4. Higgs không phải là nhà vật lí duy nhất đóng góp ý tưởng về cách các hạt có khối lượng Ít nhất một tá các nhà lý luận đã đóng một vai trò nào đó trong việc phát triển khung lý thuyết dẫn tới sự phát hiện ra hạt Higgs. Năm 2010, Hiệp hội Vật lý Mỹ đã trao giải J.J. Sakurai Prize cho 6 nhà vật lý, những người đã từng công bố tài liệu của họ về vấn đề này năm 1964. Một số nhà lí luận khác cũng đã nảy ra các ý tưởng tương tự, và những công bố trước của họ cũng giúp mở đường cho việc tìm ra loại hạt này. Điều này đã gây khó khăn cho Hội đồng trao giải Nobel của Thụy Điển khi mà giải thưởng Nobel vật lí hàng năm chỉ có thể được được trao cho tối đa 3 nhà khoa học còn sống. Hình ảnh mô phỏng sự va chạm giữa 2 hạt phô-ton trong máy dò CMS. 5. Từ boson bắt nguồn từ tên nhà toán học, nhà vật lý học người Ấn Độ Satyendra Nath Bose Có 2 loại hạt: hạt boson và hạt fermion. Hạt Higgs được xếp vào nhóm các hạt boson. Nhóm hạt này được đặt theo tên một nhà vật lí học người Ấn Độ Satyendra Nath Bose nổi tiếng bởi sự hợp tác với Albert Einstein những năm 1920. Một trong những kết quả mà cặp đôi này đạt được là thống kê Bose – Einstein, một cách thức được dùng để miêu tả hoạt động của một lớp các hạt mang tên Bose. Hai hạt boson với thuộc tính giống hệt nhau có thể ở cùng một vị trí trong cùng một thời điểm, nhưng hai hạt fermion thì không. Điều đó giải thích tại sao các hạt proton thuộc nhóm hạt boson có thể di chuyển cùng nhau trong các chùm tia laser tập trung, còn các hạt electron thuộc nhóm hạt fermion phải ở cách xa nhau. Cũng vì thế mà electron phải tồn tại ở các quỹ đạo riêng biệt trong các nguyên tử. Bose không bao giờ nhận được bằng Tiến sĩ, cũng không được trao giải Nobel cho công trình nghiên cứu của mình, trong khi đó, ủy ban trao giải Nobel lại công nhận những nhà khoa học khác với nghiên cứu có liên quan tới các khái niệm mà ông này phát triển. 6. Cái tên "hạt của Chúa" bắt nguồn từ chủ nhân giải Nobel Nhà vật lí học Leon Lederman đã vô tình đặt tên cho boson Higgs (hạt Higgs) giống như tên cuốn sách của ông: "hạt của Chúa" (God). Lederman đã nói đùa rằng thực ra ông muốn gọi hạt Higgs là "hạt chết tiệt" (goddamn) bởi quá khó khăn để tìm ra nó. Cái tên đặc biệt này đã thu hút sự chú ý của dư luận. Cuốn sách "Hạt của Chúa" với ảnh bìa là tác giả Leon Lederman 7. Mô hình chuẩn có thể vẫn dở dang dù tìm ra hạt Higgs Hạt Higgs là loại hạt cuối cùng chưa được phát hiện theo như Mô hình chuẩn, thuyết mô tả các thành phần nhỏ nhất của vật chất và cách mà chúng tương tác với nhau. Kết quả thực nghiệm đã xác nhận một vài dự đoán của mô hình. Tuy nhiên, tìm ra hạt Higgs không có nghĩa là bí ẩn về vật lí hạt có thể khép lại. Mô hình chuẩn lí giải về các lực cơ bản như lực điện từ, lực hạt nhân (còn gọi là tương tác mạnh) nhưng lại không thể đưa ra lời giải thích về trọng lực. Có thể chúng ta chỉ trải nghiệm một phần của trọng lực bởi có khả năng nó còn gây ra tác động theo nhiều chiều khác một cách bí ẩn. 8. Nếu hạt Higgs tồn tại, có thể nó có "chị em" Nhiều nhà lí luận cố gắng giải thích về các hạt đã biết và khối lượng của nó mà không có hạt Higgs nhưng chưa ai đưa ra được một mô hình thành công. Trên thực tế, theo lý thuyết siêu đối xứng, có ít nhất 5 loại hạt Higgs. Phỏng đoán này có chính xác không còn phụ thuộc vào các thí nghiệm của CERN với máy gia tốc hạt lớn (LHC) và Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Quốc gia Fermi (Fermilab, Mỹ) với máy gia tốc Tevatron. Quá trình thực nghiệm đã hoàn tất nhưng dữ liệu vẫn đang được phân tích để khám phá xem hạt Higgs liệu có tồn tại và nếu đúng như vậy, đó có phải là loại hạt chúng ta vẫn mong đợi? 9. Các nhà khoa học có thể đã "thoáng thấy" hạt Higgs hơn 1 thập kỉ trước Vào năm 2000, một điều kì thú đã xảy ra khi máy gia tốc hạt Electron–Positron lớn (LEP) chuẩn bị ngừng hoạt động sau 11 năm vận hành thành công. Các thí nghiệm của LEP bắt đầu cho thấy dấu hiệu của một thứ gì đó giống như hạt Higgs với khối lượng khoảng 115 GeV/c2 (bằng khối lượng của nguyên tử iot). Các nhà khoa học đã thuyết phục lãnh đạo của CERN để cho LEP hoạt động thêm 6 tuần nữa. Trong khoảng thời gian đó, nhiều sự kiện liên quan tới hạt Higgs đã xảy ra làm họ tiếp tục xin gia hạn thời gian vận hành LEP nhưng cuối cùng bộ máy này vẫn bị dỡ bỏ và được thay thế bằng LHC. Kết quả mới nhất của LHC (công bố vào tháng 12/2011) xác định rằng hạt Higgs nếu tồn tại sẽ có khối lượng từ 115-130 GeV/c2. Máy gia tốc hạt Electron–Positron lớn (LEP) của CERN. 10. Tìm ra loại hạt mới chỉ là màn mở đầu Một thứ gì đó giống với hạt Higgs không có nghĩa nó chính là hạt Higgs. Thuyết Mô hình chuẩn đã mô tả khá cặn kẽ cách thức tương tác giữa hạt Higgs với các loại hạt khác. Các nhà vật lí sẽ phải nghiên cứu hàng loạt đặc tính của loại hạt mới cũng như thử nghiệm các tương tác trước khi xác định liệu hạt này có phải là hạt Higgs được mô tả trong Mô hình chuẩn của vật lí hạt không. Nếu đây lại là một loại hạt hoàn toàn mới, các nhà khoa học sẽ lại có nhiều bí ẩn cần khám phá. <br style="font-weight: bold;"> Lê My - Phương Thanh (theo Cosmomagazine)
  14. Đá Thạch Anh tự nhiên 100% dùng để làm nhẫn, dây chuyền thì cũng rẻ mà. Còn nếu muốn đảm bảo hơn nữa thì mua những viên có chứng nhận giám định, tổ chức chuyên ngành thì an tâm hơn. Bây giờ lại nghe nói có thêm cái dịch vụ kích hoạt năng lượng đá để hòa hợp gì đó với năng lượng cơ thể. Chả biết trúng trật đường nào.
  15. SỐ NÀY THEO ĐƯỜNG QUAN CHỨC HAY KINH DOANH ĐỀU TRỞ THÀNH ÔNG TRÙM CẢ. NHƯNG THEO ĐƯỜNG QUAN CHỨC ĐẢM BẢO THĂNG TIẾN NHANH CỰC KỲ. NỊNH BỢ VÃI HỒN.
  16. Bạn chắc là con hay cháu gì của sếp trực tiếp quản lý trung tâm lý học đông phương này quá ta ?
  17. Ông hoàng vật lý mất tiền vì 'hạt của Chúa' Giáo sư Stephen Hawking hôm qua tiết lộ việc các nhà vật lý tìm ra hạt có đặc điểm giống hạt của Chúa khiến ông mất 100 USD trong một vụ cá cược. > Hawking từng là học sinh lười > Công bố hạt có đặc điểm giống "hạt của Chúa" Stephen Hawking không nghĩ rằng các nhà vật lý sẽ tìm ra "hạt của Chúa". Ảnh: aktuality.sk. Trong buổi trả lời phỏng vấn của BBC hôm 4/7, giáo sư Hawking nói rằng phát hiện ra hạt mới có đặc điểm giống hạt Higgs là một thành tựu quan trọng và Peter Higgs, người đã đề xướng giả thuyết về sự tồn tại của hạt Higgs trong thập niên 60 của thế kỷ trước, xứng đáng nhận giải Nobel. “Điều đáng tiếc là những đột phá vĩ đại trong vật lý thường tới từ những kết quả thử nghiệm mà chúng ta không mong đợi. Vì lý do đó mà tôi đã cá cược 100 USD với giáo sư vật lý Gordon Kane của Đại học Michigan rằng con người sẽ không bao giờ tìm thấy hạt Higgs. Có vẻ như tôi vừa mất 100 USD”, Hawking kể. Sau quá trình săn lùng hạt Higgs, thường được gọi là "hạt của Chúa", trong gần 5 thập kỷ, hôm qua các nhà vật lý của Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử châu Âu (CERN) và Phòng thí nghiệm Máy gia tốc Quốc gia Fermi (Fermilab) tại Mỹ thông báo họ tìm thấy một loại hạt hạ nguyên tử mới có những đặc tính giống hạt Higgs. Bằng chứng về hạt Higgs lộ diện sau khi họ thực hiện tới 500 nghìn tỷ vụ va chạm giữa các luồng hạt cơ bản trong máy gia tốc hạt lớn (LHC) của CERN. Hawking nói rằng phát hiện về hạt mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng. “Nếu quá trình phân rã và các phản ứng khác của loại hạt này diễn ra theo đúng giả thuyết về hạt Higgs, nó sẽ là một bằng chứng đáng tin cậy đối với Mô hình chuẩn của vật lý hạt – giả thuyết mà con người sử dụng để giải thích mọi thí nghiệm vật lý”, vị giáo sư giải thích. Song hai nhóm săn lùng hạt Higgs của CERN và Fermilab tỏ ra cực kỳ thận trọng với phát hiện của họ. Thái độ thận trọng thể hiện ở việc họ không sử dụng từ “phát hiện” khi công bố bằng chứng về sự tồn tại của hạt mới. Họ chỉ nói phát hiện đó đang đưa họ tới gần hạt Higgs hơn bao giờ hết. “Tôi nghĩ mọi nhà vật lý không tham gia vào quá trình săn lùng hạt Higgs sẽ nói bằng chứng về hạt giống như một phát hiện. Chúng tôi đã tìm ra một thứ có đặc điểm giống hạt Higgs”, John Ellis, giáo sư vật lý người Anh làm việc cho CERN từ thập niên 70, phát biểu. Stephen Hawking được coi là ông hoàng vật lý lý thuyết của thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua với những công trình nghiên cứu nổi tiếng về hố đen trong vũ trụ. Nhà vật lý 70 tuổi từng giữ vị trí giáo sư toán Lucasian tại Đại học Cambridge, Anh - chức danh mà Newton từng đảm nhiệm, trước khi nghỉ hưu năm ngoái. Minh Long
  18. Chữ viết đẹp quá.
  19. Vì sao nước nóng đông nhanh hơn nước lạnh? Tại sao nước nóng đóng băng nhanh lơn nước lạnh? Đây là câu hỏi hóc búa đã làm đau đầu các nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều năm qua. Để khuyến khích mọi người tìm câu trả lời cho bí ẩn trên, Hiệp hội Hóa học Hoàng gia Anh đã quyết định treo thưởng 1.000 bảng cho cá nhân hay tổ chức nào đưa ra giải thích thuyết phục. Mọi người có thể gửi câu trả lời đến ngày 30/7 tới. Bí ẩn hiện tượng nước nóng đóng băng nhanh hơn nước lạnh vẫn chưa có lời giải Ông Brian Emsley, giám đốc truyền thông của Hiệp hội Hóa học Hoàng gia Anh, cho biết trên Daily Mail: “Người giành giải thưởng 1.000 bảng cần giải thích một cách thuyết phục cho hiện tượng nước nóng đóng băng nhanh hơn nước lạnh và có thể đưa ra một số ý tưởng sáng tạo.” Hiện tượng nước nóng đóng băng hơn nước lạnh được gọi là ‘hiệu ứng Mpemba’, đặt theo tên học sinh cấp 3 Erasto Mpemba người Tanzania, sau khi học sinh này đưa câu hỏi cho các giáo sư tới thăm trường của cậu vào năm 1968. Mpemba, đã nghiên cứu hiện tượng kỳ quái này suốt 5 năm, trước khi đưa câu hỏi cho giáo sư Denis Osborne thuộc trường đại học Dar es Salaam (Tanzania): “Nếu ông đưa hai cốc nước bằng nhau, một cốc có nhiệt độ 35 độ C và một cốc có nhiệt độ 100 độ C, vào tủ lạnh, cốc nước 100 độ C sẽ đóng băng trước. Tại sao?” Giáo sư Denis Osborne đã không trả lời được câu hỏi hóc búa của cậu học sinh cấp 3. Một năm sau đó, ông đã tiến hành một nghiên cứu về hiện tượng này và gọi nó là ‘Hiệu ứng Mpemba’. Sau đó, rất nhiều giả thuyết dựa trên các hiệu ứng vật lý như bay hơi, đối lưu và làm chậm đông đã được các nhà khoa học đưa ra để giải thích ‘Hiệu ứng Mpemba’, nhưng không giả thuyết nào thuyết phục được đa số giới khoa học. Hà Hương BÀ CON THAM GIA CHO VUI NÀO. 1.000 BẢNG LUÔN ĐÓ.
  20. This Losar or Tibetan New Year falls on February 22 in the Water-Dragon Year. We wish you all Tashee Deleg. It means we wish you a bright (ta) life; a positive life filled with goodness (shee); a peaceful and a healthy (de) life; and, in short, a great (leg) life. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=KUsUn6TsLrY&feature=player_embedded#! MỌI NGƯỜI NẾU VÌ CÔNG VIỆC, KHÔNG CÓ THỜI GIAN. CHỈ DÀNH VÀI PHÚT NGHE THẦN CHÚ THÌ VÔ CÙNG LỢI LẠC. CHÚC MỌI NGƯỜI HOAN HỶ.
      • 3
      • Like
  21. Bài chú Nghe qua liền được giải thoát: AH AH SHA SA MA HA MA BEN DHARMA RA RA HA GAN GA AH SHA LA SA DEN DHARMA DA LI GA HA NA AH LI DA HA MA SA SHA GI YO Trong số “Pháp Phục Tàng” của Đức Liên Hoa Sinh Đại Sư truyền vào xứ Tây Tạng, cho đến nay vẫn còn rất nhiều pháp chưa được công khai truyền thừa. Bài chú “Thính Tức Giải Thoát” (Nghe qua liền được giải thoát) là một trong số ấy. Đức Liên Hoa Sinh khai thị: “Nghe liền được giải thoát, chỉ cần nghe đến chú này là đã đầy đủ liền được sự gia trì lợi ích của thần chú, sự gia trì của chư Phật, Bồ-tát.” Chú ngữ này, bất cứ chúng sinh nào nghe thấy, đều có thể từ trong luân hồi mà được giải thoát. Thời gian giải thoát là khi nào? Đối với kẻ thiện căn, đầy đủ duyên lành thì nghe chú này xong có thể liền giải thoát; riêng đối với kẻ nghiệp chướng nặng nề cũng nhận được sự gia trì lợi ích của thần chú, sớm thoát khỏi luân hồi lục đạo. Chú ngữ này vốn được Đức Phổ Hiền Vương truyền cho Bồ-tát Kim Cang, rồi từ Bồ-tát Kim Cang truyền lại cho đức Liên Hoa Sanh. Đến thời đức Liên Hoa Sanh, ngài đã cất dấu chú này ở điểm nào đó được gọi là điểm “Phục Tàng”, về sau các Phục Tàng Đại Sư (các vị đại sư đã tu chứng, thấy được các pháp vật ẩn dấu trong đất) mang ra truyền bá rộng rãi làm lợi ích chúng sinh. Cho dù rùa, cá, chó, mèo…v.v, hể chúng sinh trong loài súc sanh nghe được lời chú này liền nhận được công đức lợi ích rất lớn. Xin hồi hướng công đức này cho tất cả mọi loài chúng sinh, mong họ thoát khỏi mọi cảnh khổ. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=IKUvev4GU5M&feature=player_embedded CHÚC MỌI NGƯỜI HOAN HỶ.
      • 2
      • Like
  22. Từ các chứng cớ lịch sử vững chắc đã được công bố bao gồm văn tự của thời đại đồ đồng, hoa văn trên trống đồng, và cổ ngữ trên thanh gươm của vua Câu Tiễn, những phân tích trên đây chứng minh rằng dù được viết bằng Hán ngữ thời Tây Hán hoặc hiện đại thì nội dung và hinh thức của chữ 越, chữ Việt bộ tẩu và 2 thành phần của nó 走 và 戉, hoàn toàn không phải là chữ "Việt" của Bách Việt, nó chỉ là một phiên bản được dịch từ chữ "Việt" nguyên thủy vốn đã có trước khi nhà Tây Hán thành lập 3 thế kỷ. Hán sử không trung thực khi ghi chép về Việt tộc, đó là sự thật, và điều đáng tiếc là Tư Mã Thiên, dù với bất kỳ lý do nào, đã xem nhẹ kiến thức và uy tín của tác giả bộ Sử Ký nổi tiếng khi dịch sai tên một chủng tộc. Ông đã bị chính trị ảnh hưởng, hay nói một cách chính xác hơn, đó là một nhầm lẫn được suy tính chu đáo của triều đình nhà Tây Hán trong chính sách tiêu diệt và đồng hóa các thị tộc Bách Việt. PHỤ LỤC: MỘT CÁCH DỊCH CHỮ "VIỆT" SANG HÁN NGỮ Chúng ta bắt đầu phần này bằng một câu chuyện về nước Oa (Wa), một quốc gia nằm trong vùng biển phía đông của Hoa lục. " Oa" viết theo Hán ngữ là 倭, là tên do người Hán đặt cho dân tộc này và được họ dùng trong nhiều thế kỷ để tự nhận diện và khi giao tiếp với các triều đình Trung Hoa. Mãi đến thế kỷ thứ 8, sau khi khám phá ra thâm ý phía sau tên Oa, học giả và trí thức người Oa lập tức dùng một tên khác để thay thế. Chữ Oa (倭) mang ý nghĩa châm biếm và xúc phạm như "phục tùng" hay "thằng lùn", còn tên mới 和 có nghĩa là "hài hòa, hòa bình, và quân bình. "Đại Hòa" (大 和) từng là tên của nước Oa sau thế kỷ thứ 8. Ngày nay người Oa dùng một tên khác mà người Việt thường ưu ái gọi họ là "con cháu Thái Dương Thần Nữ". Đó là đất nước và dân tộc Nhật Bản (日本). Trong phần chính chữ "Việt" được phân tích theo phương pháp khoa học và căn cứ trên những chứng cớ cụ thể đã được công nhận. Trong phần này ý nghĩa của chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn được suy diễn đơn thuần dựa theo phong tục tập quán của người Việt và vì vậy cách dịch chữ "Việt" ở đây có thể không hoàn toàn khách quan. 1. Chính sử: Thanh gươm của vua Câu Tiễn Câu Tiễn là một người Việt cổ, làm vua nước Việt từ năm 496 đến 465 TCN. Vương quốc của ông lúc bấy giờ bao gồm Thượng Hải, Chiết Giang và Giang Tô ngày nay và kinh đô đặt tại Hội Kế (Cối Kê) trong tỉnh Chiết Giang. Tỉnh Chiết Giang là nơi có con sông Tiền Đường, giòng sông nơi Thúy Kiều gieo mình tự vẫn nhưng được sư Giác Duyên cứu sống trong tác phẩm Kim Vân Kiều của Nguyễn Du. Hình 16: Thanh gươm của vua Câu Tiễn được khai quật năm 1965 hiện được trưng bày tại viện bảo tàng Hồ Bắc, Trung quốc. Nguồn: uncleicko. Khoảng năm 333 TCN, dưới thời của vua Vô Cương là cháu đời thứ 6 của vua Câu Tiễn, nước Việt bị nước Sở thôn tính và thị tộc U Việt mất nước từ đây. Tuy vậy, câu chuyện của vị vua người Việt cổ chưa chấm dứt ở đó. Vào năm 1965 người ta khai quật được thanh gươm của ông ở tỉnh Hồ Bắc, Trung quốc và hiện được trưng bày tại viện bảo tàng của tỉnh này (hình 16). 2. Chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn: một cái nhìn khác Cảm nhận đầu tiên là sự khác thường của chữ "nước" ( 邑) trong chữ Việt trên thanh gươm so với chữ "nước" ( 邑) của các chữ "Việt" khác trong thời đại đồ đồng. Chính sự khác thường đó là nguồn cảm hứng cho phần này, ngoài "Người Chim", trong chữ "Việt" còn có thêm 2 yếu tố khác. Hình 17: Tám chữ cổ khắc trên thanh gươm của vua Câu Tiễn. Tám chữ này được viết theo lối điểu ngữ (còn gọi là trùng ngữ). Theo thứ tự chúng được dịch là "Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Gươm" có nghĩa là "Thanh gươm của Vua Câu Tiễn nước Việt tự làm để dùng". Hán tự không có chữ "Gươm". Nhà nghiên cứu Đỗ Thành có phân tích về chữ "Gươm" và "Kiếm" trong bài "Chữ Kiếm trong thanh Gươm của Việt Vương Câu Tiễn". Nguồn: Wikipedia. Trong hình 18, theo nhận xét thiên về mặt phong tục tập quán và huyền sử hơn là phương diện khoa học và ngữ văn thì chữ "Việt" trên thanh gươm gồm 3 thành phần thay vì 2 như đã trình bày. Ba thành phần đó là các chữ "Mặt Trời", "Rồng", và "Người Chim". Hình 18: Chữ "Việt" (bên trái) trên thanh gươm của vua Câu Tiễn và 3 thành phần cấu tạo của nó. Trong các phần kế tiếp, các chữ "Mặt Trời" và "Rồng" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn sẽ được so sánh với cách viết các chữ "Mặt Trời" và "Rồng" trong thời kỳ Giáp Cốt Văn và thời đại đồ đồng. Kế tiếp, hoa văn khắc trên trống đồng sẽ được dùng để thiết lập mối tương quan với các chữ "Mặt Trời", "Rồng", và "Nguời Chim" trong chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn. Cuối cùng, huyền sử "Rồng Tiên" phát xuất từ đời sống thực tế hằng ngày của người Việt cổ được dùng để góp phần nêu lên sắc thái chung mà người Việt cổ dùng để tự nhận diện và phân biệt họ với các chủng tộc khác. 3. Chữ "Mặt Trời" trong Giáp Cốt Văn và trong chữ"Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn Theo Giáp Cốt Văn (hình 19) và cổ ngữ trong thời đại đồ đồng (hình 20), chữ "Mặt Trời" được viết như là một hình tròn hoặc là một hình có 4 cạnh với một cái chấm hay một gạch ngang nằm bên trong. Hình thức hay cách viết của chữ "Mặt Trời" trong các thời kỳ đó thì duy nhất, nghĩa là: a. Không có bất kỳ chữ nào mang ý nghĩa khác được viết với hình thức đó. b. Bất kỳ chữ nào được viết với hình thức như vậy đều có nghĩa là "Mặt Trời". Vì vậy, một thành phần của chữ "Việt", chữ thứ hai tính từ trái sang phải trong hình 18, được xem là chữ "Mặt Trời". Hình 19: Chữ "Mặt Trời" trong thời đại Giáp Cốt Văn. Hình 20: Chữ "Mặt Trời" trong thời đại đồ đồng. 4. Chữ "Rồng" trong Giáp Cốt Văn và trong chừ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn Trong Giáp Cốt Văn (hình 21), chữ "Rồng" là một hình thù cong như thân rắn với một cái đầu to có 2 sừng và đôi khi trên đầu đội vương miện Hình 21: Bên phải là một số cách viết chữ "Rồng" trong thời kỳ Giáp Cốt văn. Bên trái là một thành phần cấu tạo nên chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn, nó giống chữ "Rồng" của Giáp Cốt văn, có thân uốn lượn như mình rắn với một cái đầu to có mắt và 2 sừng. 5. Chữ "Rồng" trong thời đại đồ đồng và trong chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn Hình 22 trình bày là các chữ "Rồng" trong thời kỳ đồ đồng. Trong giai đoạn này chữ "rồng" được viết sắc sảo hơn với đầu to, miệng và răng, có hai sừng và đội vương miện. Hình 22: Bên phải là các cách viết chữ "Rồng" trong thời đại đồ đồng. Bên trái là một thành phần cấu tạo nên chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn, nó giống chữ "Rồng" của thời đại đồ đồng, có thân uốn lượn như mình rắn với một cái đầu to có mắt và 2 sừng. So với chữ "Rồng" của các thời kỳ Giáp Cốt văn và đồ đồng thì một trong các thành phần cấu tạo nên chữ "Việt" trên thanh gươm của vua Câu Tiễn, chữ thứ 3 tính từ trái sang phải trong hình 18 được cho là chữ "Rồng". 6. Trống đồng: Chính sử của Bách Việt Khi toàn bộ Bách Việt ở vùng Hoa Nam bị tiêu diệt và đồng hóa, sử sách của họ cũng cùng chung số phận. Tuy Lạc Việt (Việt Nam) tránh được nạn diệt vong và mất nước nhưng sử sách cũng bị Hán tộc thiêu hủy. Quyển quốc sử cổ xưa nhất của Lạc Việt còn lưu lại là quyển Đại Việt Sử Ký (大越史記) của sử gia Lê Văn Hưu thời nhà Trần, quyển này cũng chỉ mới được biên soạn vào năm1272. May thay, để bổ sung phần nào vào thiếu sót đó là hàng trăm trống đồng cùng những di tích và cổ vật của người Việt cổ được khai quật ở Việt Nam và vùng Hoa Nam trong các thế kỷ qua. Sau đây là sự thật đã được xác lập: - Hán tộc không có trống đồng. - Trống đồng do chính người Việt cổ thiết kế và chế tạo. - Minh văn trên trống đồng phản ảnh sắc thái chủ đạo trong đời sống thực tế của người Việt cổ. Vì vậy trống đồng là một quyển chính sử của chủng tộc Bách Việt. 7. "Mặt Trời" trong chính sử trống đồng Về yếu tố "Mặt Trời" thì hiển nhiên không cần lời giải thích dài dòng vì tất cả những trống đồng khai quật được đều có chạm trổ mặt trời ở chính giữa tang trống. Do đó "Mặt Trời" đương nhiên là một yếu tố chủ đạo trong đời sống của người Việt cổ. Hình 23: Một ví dụ của chữ "Việt" nguyên thủy được dịch ra Hán ngữ hiện đại. Nó gồm chữ "Nhật" (Hán ngữ: 日 nghĩa là mặt trời - phần bên trái và nằm ở trên), chữ "Long" (Hán ngữ: 龍 nghĩa là "rồng" - phần bên trái, ở dưới), và bên phải là chữ "người đeo lông chim trên đầu và thắt lưng, tay cầm cái qua" , lưu ý là Hán ngữ không có chữ này. 8. "Rồng" từ đời sống thực tế đến huyền sử Huyền sử “Con rồng cháu tiên” là câu chuyện thần thoại không có thật nhưng nó phát xuất từ sự việc có thật trong đời sống hằng ngày của người Việt cổ. Chính sử Việt và Trung Hoa ghi nhận rằng dân Bách Việt có tục xâm mình, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép như sau: Vua nói: "Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa. Từ nhận định trên người Việt cổ đã nghĩ ra phương pháp xâm mình để tự bảo vệ khi di chuyển và mưu sinh trên sông hồ. Xâm mình là để thuồng luồng hay giao long "tưởng" họ cùng đồng loại nên sẽ không bị chúng gia hại. Thoạt tiên mục đích xâm mình đơn thuần chỉ là một biện pháp tự vệ đơn giản, nhưng dần dà, khái niệm tự nhận mình cùng đồng loại hay cho mình là con cháu của rồng được hình thành một cách tự nhiên trong tâm thức của những thế hệ sau. Đồng loại với rồng không phải là câu chuyện thần thoại dựa trên một việc hoang đường, trái lại nó bắt nguồn từ ngay trong đời sống thực tế hằng ngày của người Việt cổ, nên "Rồng" được xem là một yếu tố chủ đạo trong đời sống của dân Bách Việt. 9. "Người Chim" trong chính sử trống đồng Tùy theo niên đại và thị tộc khác nhau, các trống đồng được khai quật có kích thước, phẩm chất và những minh văn khác nhau, nhưng đặc biệt hầu hết các trống đồng đều có chạm trổ những Người Chim, tay cầm qua hay binh khí và ở trong tư thế nhảy múa. Tương tự như sự hình thành khái niệm “con Rồng”, khái niệm “cháu Tiên” được bắt nguồn từ phong tục hóa trang thành Người Chim, một trong những tập quán nổi bật nhất của của người Việt cổ. oOo Tóm lại nếu có ai hỏi Việt là gì thì câu trả lời nên là: Việt là "Mặt Trời", là "Rồng", là "Người Chim" (Tiên). Đó là 3 yếu tố chủ đạo để nhận diện chủng tộc Bách Việt. Khái niệm Rồng của Bách Việt phát xuất từ đời sống thực tế qua phong tục xâm mình, còn khái niệm Rồng của Hán tộc thì bắt nguồn từ đâu? Thắc mắc này được dùng để kết thúc phần phụ lục. KẾT LUẬN Tại sao nhà Tiền Hán không sửa đổi tên các nước Chu, Tề, Hàn, Triệu, v.v... mà họ lại đặc biệt làm điều này đối với Bách Việt? Chắc chắn sẽ có nhiều câu trả lời và chúng có thể không giống nhau. "Việt" là tên gọi chung của các chủ nhân vùng đất phía nam Trường Giang, dùng "Việt" thì có khã năng hiệu triệu và thống nhất toàn thể Việt tộc, tạo nên một sức mạnh có khã năng đối đầu và thách thức quyền lực của Hán triều trên toàn vùng Lĩnh Nam và Giao Chỉ. Chẳng hạn như sự trỗi dậy và hùng cường của các vương quốc Việt tộc như Sở, Ngô, và Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc, hoặc chính nhờ sự hậu thuẫn của Bách Việt nên Triệu Đà mới dám xưng Nam Việt Vũ Đế tạo được thanh thế ngang ngửa với nhà Tây Hán, hay sự đồng loạt hưởng ứng của các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đối với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40, v.v... Nói chung nếu không tiêu diệt và đồng hóa được Bách Việt thì Hán tộc sẽ không bao giờ chiếm và bình định được vùng đất phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh. Bắt đầu chính sách ấy với việc cấm dùng chữ "Việt" nguyên thủy và thay bằng một tên khác, chữ "Việt bộ Tẩu", người Hán đã thành công lấy được toàn cõi Hoa Nam; nhưng chưa dừng lại ở đó, họ vẫn đang tiếp tục tràn xuống và mục tiêu lần này là Biển Đông Nam Á và căn cứ cuối cùng của Việt tộc. Lịch sử Bách Việt chứng tỏ không kém phần phong phú khi được hé lộ qua kỹ thuật đúc gươm, trống đồng, cùng những di tích và cổ vật khác được khai quật trong vài thế kỷ qua, đáng tiếc là nền văn minh và văn hóa ấy đã liên tục bị tiêu diệt trong suốt hơn 1000 năm, lãnh thổ thì mất cả chỉ còn lại một dãi nhỏ hẹp. Bị gián đoạn hơn 10 thế kỷ khiến sử Việt thiếu hẳn phần đầu, có chăng thì cũng mù mờ, đầy bí ẩn; phần sau của lịch sử cũng chỉ mới bắt đầu khi người anh hùng xứ Đường Lâm, Tiền Ngô Vương Ngô Quyền, thành công bảo vệ thành trì cuối cùng của Bách Việt bằng một trận đánh đẫm máu trên sông Bạch Đằng năm 938. Từ kỷ nguyên Internet đọc lại chính sử trên văn tự cổ, trên thanh gươm của vua Câu Tiễn, trên trống đồng, và đời sống thực tế của người Việt cổ, hậu duệ của họ không những có trách nhiệm viết đúng lại tên Bách Việt để phản ảnh sự nhất quán của cổ nhân về tên chủng tộc, mà còn có bổn phận đào xới và minh bạch hóa lịch sử của chủng tộc vốn là chủ nhân của một lãnh thổ rộng lớn và trù phú. Vì vậy, viết lại tên Bách Việt là khởi đầu cho công cuộc làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử bị gián đoạn, đồng thời cũng là lời mở đầu cho một quyển sử mới với hy vọng trong đó có chép cuộc hành trình về lại vùng Lĩnh Nam của hậu duệ người Việt cổ. Thung lũng Hoa vàng Mồng Một Tết Nhâm Thìn tức ngày 23 tháng 1 năm 2012 (*)Tác giả Nguyễn Đại Việt là tiến sĩ trong ngành điện toán, chuyên nghiên cứu và phát triển Integrated Circuits và Microprocessor cho kỹ nghệ Semiconductor. Ông là thành viên trong Ban nghiên cứu Á Châu của Nguyễn Thái Học Foundation.
  23. Viết lại tên Bách Việt Nhận thấy bài viết đề cập cùng chủ đề của blog Bách Việt và tập trung vào hai vấn đề lịch sử có nhiều khuất tất nhất và dường như đang bị "quên lãng" bởi chính người Việt Nam, đó là a) nguồn gốc và mối quan hệ giữa dân tộc Việt Nam và Bách Việt nói chung (?); B) người Việt có chữ viết riêng hay không và tiếng Việt vay mượn tiếng Hán hay ngược lại (?), chủ blog tôi xin giới thiệu để cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho bạn đọc. Hy vọng tài liệu này sẽ góp phần trả lời một số thắc mắc đồng thời thúc đẩy hơn nữa công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc ta theo hướng khách quan và tôn trọng sự thật lịch sử dựa vào không chỉ sử sách cũ mà tất cả các nguồn dữ liệu mới trên cơ sở khoa học khảo cỗ và nhân chủng học hiện đại. Sự hiểu biết đúng đắn và đầy đủ về cội nguồn dân tộc sẽ giúp người Việt Nam thật sự thoát khỏi nỗi mặc cảm truyền kiếp và lấy lại tâm thế đáng có của mình. Viết lại tên Bách Việt Tác giả: Nguyễn Đại Việt(*) Hình 1: Chữ "Việt" (bên trái) viết theo lối chữ Triện thời Tây Hán. Chữ "tẩu" (thứ hai từ trái sang phải) dùng để xác định ý nghĩa và chữ "người cầm qua" (bên phải) dùng xác định cách phát âm. Chữ cuối phát âm là "Việt" có hình tượng giống như một người cầm cái qua (戈). Trong Hán ngữ chữ "qua" (戈) có nghĩa là "cái mác" hoặc "chiến tranh". Trong khoảng từ năm 109 đến năm 91 TCN, Tư Mã Thiên, một sử gia nổi tiếng đời Tây Hán, dùng Hán ngữ biên soạn bộ Sử Ký dài 130 tập, theo chú thích trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, ông là người đầu tiên viết hai chữ Bách Việt trong tập Ngô Khởi Truyện của bộ Sử Ký nổi tiếng đó. "Bách Việt" được dịch sang Hán ngữ hiện đại là 百 越. Sau khi hợp lực đánh đổ nhà Tần năm 206 trước Công Nguyên (TCN), Lưu Bang bất thần xé bỏ hòa ước Hồng Câu xua quân bao vây Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ và diệt nước Sở năm 202 TCN. Cùng năm đó, ông lên ngôi hoàng đế sáng lập ra nhà Hán còn gọi là nhà Tiền Hán hay nhà Tây Hán. Về chữ viết, Hán triều tiếp tục chính sách của Tần Thủy Hoàng trong việc sửa đổi và tiêu chuẩn hóa một loại cổ ngữ thành một hệ thống chữ viết gọi là Hán ngữ. Một bộ sử khác do Ban Bưu khởi xướng, bộ Hán Thư (漢書) gồm 100 tập, cũng được soạn thảo vào thời Tây Hán chép rằng: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Hội Kế (Cối Kê), ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình.” Bách Việt mà hai bộ Sử Ký và Hán Thư đề cập đến chính là chủ nhân của vùng đất rộng lớn, bao trùm toàn cõi Hoa Nam và miền Bắc Việt Nam ngày nay; ngoại trừ Lạc Việt (Việt Nam) các thị tộc Bách Việt khác đều bị Hán tộc tiêu diệt, đồng hóa và chiếm đoạt hết lãnh thổ. Theo Hán ngữ hiện đại, tên các thị tộc của Bách Việt được viết là 於 越 (Ư Việt), 揚 越 (Dương Việt), 閩 越 (Mân Việt), 南 越 (Nam Việt), 東 越 (Đông Việt), 山 越 (Sơn Việt), 雒 越 (Lạc Việt), 甌 越 (Âu Việt), v.v…tất cả các tên đều gắn liền với chữ 越, gọi là "chữ Việt bộ Tẩu". "Tẩu" có nghĩa là "chạy" nhưng không hiểu vì sao sử gia Lê Văn Hưu thời nhà Trần khi biên soạn quyển Đại Việt Sử Ký (大越史記) năm 1272 và sử gia Ngô Sĩ Liên, triều vua Lê Thánh Tông, khi viết quyển Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (大越史記全) năm 1479, vẫn sử dụng chữ "Việt bộ Tẩu" của nhà Tiền Hán. Bài viết này gồm 2 phần. Phần chính giới thiệu chữ "Việt" nguyên thủy của người Việt cổ đồng thời chứng minh "chữ Việt bộ Tẩu" của nhà Tây Hán là một bản dịch sai của chữ "Việt" đó. Phần còn lại, phần phụ, trình bày một cái nhìn, một cảm nhận cá nhân về chữ "Việt" của một vị vua sống trong thế kỷ thứ 5 TCN. CHỮ "VIỆT" CỦA BÁCH VIỆT Tại sao chủng tộc Bách Việt lại tự nhận diện qua một cái tên không phản ảnh một chút sắc thái nào của mình? Nguyên do nào khiến tên của một chủng tộc từng làm chủ một lãnh thổ rộng lớn lại mang ý nghĩa bi quan như thế? Ngày nay, khi tìm hiểu ý nghĩa chữ "Việt" giới nghiên cứu không tránh khỏi ngạc nhiên và băn khoăn bởi những câu hỏi tương tự trên đây. Mặc dù có những nổ lực bỏ ra nhằm khám phá những bí ẩn đàng sau chữ "Việt bộ Tẩu", nhưng đến nay tuyệt nhiên vẫn chưa có một giải thích thuyết phục nào được công nhận một cách rộng rãi. Sỡ dĩ có sự bế tắc đó là vì họ đã nghiên cứu một cái tên sai. Quả vậy, chữ 越 hay "Việt bộ tẩu" không phải là do người Việt cổ đặt ra, nó chỉ là một phiên bản được các sử gia và học giả của triều đình Tây Hán dùng Hán ngữ dịch từ chữ "Việt" nguyên thủy vốn đã xuất hiện trước đó ít nhất là 300 năm. Từ văn tự cổ đến trống đồng và những cổ vật khai quật được đặc biệt là thanh gươm của vua Câu Tiễn, chúng ta sẽ tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi Việt là gì, nó sẽ giải tỏa nghi vấn kéo dài suốt hơn 2000 năm kể từ khi Tư Mã Thiên dùng Hán ngữ đặt bút viết chữ " Việt bộ Tẩu" (越) trong bộ Sử Ký của ông đến nay. Trong phần này các chữ "Việt" thuộc thời đại đồ đồng sẽ được trình bày và phân tích. Kế đó, thành phần cấu tạo của chúng sẽ được so sánh với thành phần cấu tạo của chữ "Việt bộ Tẩu" và chữ "Việt bộ Kim". 1. Chữ "Việt" nguyên thủy của người Việt cổ trong thời đại đồ đồng Giáp Cốt văn là loại văn tự khắc chạm trên mai rùa hay xương động vật. Chữ trên mai rùa gọi là Giáp văn còn chữ trên xương những động vật khác gọi là Cốt văn. Chữ viết khắc chạm trên đồng và kim loại gọi là văn tự thời đồ đồng. Cả hai loại văn tự đều có từ đời nhà Thương và Giáp Cốt văn là loại văn tự cổ xưa nhất. Triều đại nhà Thương xuất hiện trong khoảng từ năm 1600 đến 1046 TCN, kinh đô đóng tại đất Ân thuộc tỉnh Hà Nam, Trung quốc ngày nay. Giặc Ân trong huyền sử Phù Đổng Thiên Vương của người Việt chính là nhà Thương này. Hiện nay có hơn 4.000 chữ thuộc văn tự thời đồ đồng được khai quật và trong đó một số chữ "Việt" được ghi nhận. Xin lưu ý là các văn tự đồ đồng và Giáp Cốt văn dùng trong tài liệu này đều được cung cấp từ chineseetomology.org, một website về cổ ngữ rất phong phú và hữu ích của ông Richard Sears. Sau đây là 5 chữ "Việt" viết bằng loại "chữ chim", có nơi gọi là "chữ sâu bọ và chim", một loại cổ ngữ rất phổ biến và thông dụng ở các nước Sở, Việt, và Chu. a) Chữ "Việt" mang ký hiệu B01747 Hình 2: Một chữ "Việt" trong thời đại đồ đồng Nhận xét chữ mang ký hiệu B01747: - Người đeo lông chim trên đầu và thắt lưng. Từ đây về sau sẽ gọi là "Người Chim". - Người Chim đứng với hai chân dang rộng, tay cầm một cây gậy dựng đứng trên mặt đất và trên thân gậy có 2 cái móc nhỏ. - Chữ này chỉ có một thành phần là chính nó. - Niên đại: không rõ. B) Chữ "Việt" mang ký hiệu B01748 Hình 3: Một chữ "Việt" trong thời đại đồ đồng Nhận xét chữ mang ký hiệu B01748: - Thành phần bên phải là Người Chim. - Tay Người Chim cầm một vật giống như cái qua (mác). - Người Chim trong tư thế của một vũ điệu. - Thành phần bên trái là ký tự gồm một hình tròn nằm trên chữ mang hình tượng có đầu tròn to với một cái đuôi. - Niên đại: không rõ. c) Chữ "Việt" mang ký hiệu B01750 Hình 4: Một chữ "Việt" trong thời đại đồ đồng Nhận xét chữ mang ký hiệu B01750: - Thành phần bên phải là Người Chim. - Thành phần bên trái gồm một hình tròn nằm trên ký tự có hình tượng giống thân rắn với 2 sừng. - Niên đại: không rõ. d) Chữ "Việt" mang ký hiệu B01751 Hình 5: Một chữ "Việt" trong thời đại đồ đồng Nhận xét chữ mang ký hiệu B01751: - Thành phần bên phải là Người Chim trong tư thế nhảy múa. - Người Chim không cầm qua hoặc binh khí. - Thành phần bên trái là một hình tròn nằm trên một cái đầu có đuôi cong. - Niên đại: không rõ. e) Chữ "Việt" mang ký hiệu B01749 Hình 6: Một chữ "Việt" trong thời đại đồ đồng Nhận xét chữ mang ký hiệu B01749: - Thành phần bên phải là Người Chim. - Tay phải của của Người Chim cầm một vật có hình dạng của một cái qua. - Thành phần bên trái gồm một hình tròn có chấm bên trong và nằm ngay trên ký tự có hình tượng uốn lượn như thân rắn với một cái đầu to, miệng (hoặc 2 sừng) và mắt. - Niên đại: 496 - 465 TCN. Đây là chữ "Việt" được khắc trên thanh gươm của vua Câu Tiễn nước Việt (khác với Việt Nam). Kết luận: Khảo sát các chữ "Việt" trên đây chúng ta rút ra được 2 điểm quan trọng, - Thứ nhất, chữ "Việt" nguyên thủy của người Việt cổ có niên đại trong khoảng từ 496 đến 465 TCN, nghĩa là chúng xuất hiện trước chữ "Việt bộ Tẩu" của nhà Tiền Hán ít nhất 3 thế kỷ. - Thứ hai, yếu tố chủ đạo của các chữ "Việt" là "Người Chim". "Qua" hay binh khí là yếu tố phụ. 2. Chữ "Nước" (Quốc gia) trong thời đại đồ đồng Theo định nghĩa của chữ 邑 (ấp), một trong các ý nghĩa của nó là "nước" hay "quốc gia". Ví dụ như "nước Chu" (邾: Chu quốc) hay "nước Hàn" (邗: Hàn quốc) thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Hình 7: Chữ "ấp" trong thời đại đồ đồng. Chữ này có nghĩa là "nước", "quốc gia", "kinh đô, "thành thị" hoặc là vùng đất được vua ban cho. Hình 8: "Chu quốc" nghĩa là "nước Chu" theo cách viết trong thời đại đồ đồng (trái) và thời chữ Triện (phải). Trong chữ "Chu quốc" nghĩa là "nước Chu" (hình 8), chữ "nước" được đặt sau chữ "Chu", khác với cách viết của người Việt là chữ "nước" được đặt trước như trong các chữ "Việt" của thời kỳ đồ đồng và cách viết hiện nay của người Việt Nam. Tương tự, chữ "nước" được dùng trong chữ "Hàn quốc" (nước Hàn) trong hình 9. Hình 9: "Hàn quốc" nghĩa là "nước Hàn" theo cách viết trong thời đại đồ đồng (trái) và theo lối chữ Triện (phải) Hiện nay có tất cả 31 chữ "邑" (ấp) thuộc thời kỳ đồ đồng (hình 7) được ghi nhận. 3. Chữ "Tẩu" trong thời đại đồ đồng Chữ 走 (Tẩu) là thành phần bên trái của chữ 越, chữ "Việt bộ Tẩu", viết theo Hán ngữ hiện đại. Hình 10: Chữ "Tẩu" (Hán ngữ hiện đại: 走) trong thời kỳ đồ đồng. So sánh chữ "nước" (hình 7) với chữ "tẩu" của thời kỳ đồ đồng (hình 10) thì hai chữ này hoàn toàn khác nhau từ hình thức đến nội dung. Hơn nữa "nước" là một danh từ còn "tẩu" là một động từ. Hiện có 17 chữ "Tẩu" thuộc thời đại đồ đồng được ghi nhận (hình 10). 4. Chữ "Kim" thời đại đồ đồng Trong hình 11 và phía trên là một số cách viết chữ "Kim" trong thời đại đồ đồng. Ở dưới và bên phải là chữ "Gươm", chữ cuối trong 8 chữ được khắc trên thanh gươm của vua Câu Tiễn. Thành phần bên trái của chữ "Gươm" chính là chữ "Kim". Hình 11: Các cách viết chữ "Kim" trong thời đại đồ đồng (trên). Chữ "Kim" là phần trái của chữ "Gươm" (hình dưới, bên phải) và chữ "Nước" là phần trái của chữ "Việt" (hình dưới, bên trái) trên thanh gươm của vua Câu Tiễn. Cũng trong hình 11, ở dưới và bên trái, chữ "Việt" là chữ đầu tiên trong 8 chữ cổ trên thanh gươm của vua Câu Tiễn. Phần bên trái của chữ "Việt" không thể là chữ "Kim" vì không bao giờ có 2 chữ "Kim" khác nhau được khắc trên cùng một thanh gươm, nhất là thanh gươm của một ông vua. Hơn nữa về hình thức thì 2 chữ 邑 (Ấp, hinh 7) và 金 (Kim, hình 11) hoàn toàn khác nhau. Hiện nay có tất cả 82 chữ "Kim" thuộc thời đại đồ đồng được ghi nhận. Kết luận: Thành phần bên trái của chữ "Việt" nguyên thủy chính là chữ "邑" (ấp) và được viết bằng "văn tự chim", một loại chữ cổ có trước Hán ngữ và rất thông dụng ở các nước Sở, Việt, và Chu. 5. Chữ "Người Chim" trong chữ "Việt" nguyên thủy và chữ "người cầm qua" (戉) trong "chữ Việt bộ Tẩu" của nhà Tây Hán Chữ "Việt bộ Tẩu" của triều đình nhà Tây Hán viết theo Hán ngữ hiện đại gồm 2 thành phần. Phần bên trái là chữ "Tẩu" dùng để xác định ý nghĩa của toàn chữ và phần bên phải là chữ "Việt" dùng để phát âm (hinh 12). Hình 12: "Việt bộ tẩu" viết theo Hán ngữ hiện đại. Chữ bên phải của chữ "Việt bộ Tẩu" mang hình tượng một người cầm qua, chữ này có gốc từ chữ 戈 của Hán ngữ và có nghĩa là "Qua", 'Mác" hay "Chiến tranh". Chữ 戉 (người cầm qua) trong chữ "Việt bộ Tẩu" không phải là thành phần cấu tạo của chữ "Việt" nguyên thủy. Hình 13: Một cách dịch chữ "Người Chim" của người Việt cổ sang Hán ngữ hiện đại. Lưu ý là Hán ngữ không có chữ này. Thật vậy, từ chữ "Việt" trong thời kỳ đồ đồng đến hàng trăm trống đồng được khai quật ở Việt Nam và vùng Hoa Nam, tất cả đều thể hiện một quan niệm đồng nhất của người Việt cổ khi dùng các yếu tố chủ đạo để tự nhận diện và yếu tố đó chính là "Người Chim" tay cầm qua hay binh khí (hình 13). Hình 14: "Người Chim" trên trống đồng Ngọc Lũ. Nguồn: Wikipedia. Cho đến nay số lượng chữ "Việt" thuộc thời đại đồ đồng khai quật được tuy không nhiều nhưng quan trọng là tất cả đều thể hiện tính nhất quán cả về nội dung lẫn hinh thức. Vì vậy, có thể tiên đoán rằng đối với bất kỳ chữ "Việt" nào có trước thời Tiền Hán và được viết theo "văn tự chim" thì xác xuất để nó mang cùng nội dung và hình thức với 5 chữ "Việt" trình bày trên đây rất cao. Hình 15: Một ví dụ của chữ "Việt" được dịch sang Hán ngữ hiện đại từ chữ "Việt" nguyên thủy. Bên trái là chữ ấp (邑: nước), bên phải là chữ "Người Chim" tay cầm qua và phát âm là "Việt". Toàn chữ viết và đọc là "nước Việt". Trong Hán tự không có chữ này. Hán ngữ hiện đại dùng chữ 國 (quốc, nước, quốc gia) thay thế cho chữ 邑 (ấp, nước, quốc gia). Kết luận: Chữ "Việt" nguyên thủy của người Việt cổ có niên đại từ 496 - 465 TCN, viết bằng "văn tự chim", xuất hiện trước chữ "Việt bộ Tẩu" bằng Hán ngữ của nhà Tây Hán ít nhất 300 năm. Chữ "Việt" của Bách Việt được cấu tạo bởi hai thành phần duy nhất là chữ "Nước" (邑: ấp, quốc gia) ở bên trái và chữ "Người Chim" tay cầm qua ở bên phải. "Người Chim" là yếu tố chủ đạo, phát âm là "Việt", "qua" hay binh khí là yếu tố phụ (hình 15). oOo
  24. Ủa, ông Bùi Quốc Hùng (dienbatn) thuộc Trung tâm nghiên cứu lý học đông phương hả mọi người.
  25. Hi hi. Công nhận giống nhau thật.
×
×
  • Create New...