Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Như Thông

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    889
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Như Thông

  1. Phát biểu câu nào, bị xóa câu đó, 3,4 lần bị xóa nick thì phải hiểu mình là người như thế nào. Anh là tiến sĩ ư ? OK. Theo tôi anh là một tiến sĩ lùn cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Học ở đâu, trường nào dạy.. cái thói chê bai Việt Nam, gặp đâu chê đó. Việt Nam nào mà chưa sản xuất ốc vít, bấy nhiêu đấy thôi cũng đã biết anh chẳng hiểu gì về quê hương, anh sống trên mây, đầu óc bị nhồi nhét tư tưởng hận thù, bả đậu. Tôi nghỉ, chắc có lẽ anh nghĩ rằng VN vẫn còn ở thời kỳ trước giải phóng chăng? Hi p/s: tôi hứa với anh, nếu anh có ở VN hay là việt kiều về VN. Riêng cái nhà anh đang cư trú, tôi sẽ đổ đầy nhà anh các loại ốc vít made in Việt Nam để anh bỏ cái thói chê bai Việt Nam luôn.
  2. Thưa chú, cháu cũng 32 tuổi (ở VN 18 tuổi đã cấp thẻ CMND, có quyền công dân), có gia đình,cũng mới có em bé, làm chủ 01 công ty chứ không phải trẻ con đâu chú. Cháu chưa bao giờ bỏ sót bài nào trên diễn đàn này và cháu là thành viên thứ 66 của diễn đàn từ ngày thành lập, trước cả chú đấy. Tất nhiên chú Vuivui là tiền bối thâm sâu lãnh vực dịch học, cháu hiểu điều đó. Cháu chẳng cần thiết phải adua ngay cái diễn đàn ảo này
  3. Triều Tiên càng nóng bỏng, thì thằng ba Tầu nó càng có lợi trong tranh chấp biển Đông. Hic
  4. Các đại giáo sư, tiểu giáo sư, tiến sĩ, tiểu tiến sĩ ...cách tốt nhất là hãy chỉ ra những mắc xích sai trong hệ thống luận thuyết của chú Thiên Sứ và chú cũng đã nói rõ ràng chỉ cần hệ thống luận thuyết của chú nếu sai thì cái việc nhân danh hoàn toàn sụp đổ. Chứ đừng nên bắt câu bẻ chữ nhân danh hay không nhân danh, giống các mụ đàn bà lắm. p/s: Chú Thiên Sứ ơi, đúng như chú nhatnguyen52 đã từng nói: cái đáng sợ nhất bây giờ là tuổi tác và thời gian của chú và chú nhatnguyen52 không còn nữa. Thiết nghĩ, chú hãy tập trung từng phút, từng giây nghiên cứu nền văn minh Tổ tiên và có vô số câu hỏi các bạn cần chú tư vấn và trả lời kìa, mất thời gian chi với các bác thân sâu hồn bướm. Hi
  5. Tình đầu cũng là tình cuối Chợt tỉnh tình cuối, cái đầu còn đâu.
  6. Bài viết của chú nhatnguyen52 khí thế và hào hùng quá đi mất. Cố gắng lên nghen chú. Chúc chú thành công. Hi
  7. Các bác, các chú, tranh luận thì nhẹ nhàng dùm chút. Ví như chú quangnx vậy đó, tranh luận, phản biện vừa nhẹ nhàng, thật là hay, để lớp trẻ học hỏi phát triển, trưởng thành.Ví như cụ HaUyen (nếu nhớ không lằm trong topic nào đó cụ cũng 80 tuổi rồi) cùng tham gia với anh VinhL nhẹ nhàng, thâm sâu về dịch học vô cùng.Một cụ, một trẻ vui vẻ giúp nhau hiểu biết thêm về dịch học. Vả lại, đọc xuyên xuốt các vấn đề từ lúc chú VoTruoc tham gia diễn đàn đến giờ chú ấy có làm mất lòng, hay chê bai một ai đâu. Còn các bác, các chú có là giáo sư, đại giáo sư cứ được vài câu thì lại nổ ra chê bai ông này lỡm khởm, ông kia rẽ tiền, nói xiên nói xỏ. Ôi, thiệt là chẳng có gì phải học hỏi. MỆTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTTT NÃO.
  8. Hé hé. Mấy bố đó thì cứ loăng qua, loăng quăng Thời đại Hùng Vương cỡi trần đóng khố thôi. Được cái giỏi nhậu thôi à. Chú ơi, ai mà có tài liệu cái đoạn này thì ngon à :" Gần đây, có một báo cáo TQ vừa khám phá những văn bản tiếng Phạn thượng cổ tại Tây Tạng và đã gửi chúng về trường đại học Chandrigarh ở Ấn Độ để dịch. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy những tài liệu này chứa những chỉ dẫn chế tạo các phi thuyền vũ trụ."
  9. Thế giới thiệt là khó hiểu và hóc búa quá đi mất. Lại có thêm bằng chứng về hỉnh ảnh máy bay, trực thăng chiến đấu :) Vào năm 1848, một đoàn nghiên cứu khảo cổ làm việc tại Ai Cập đã khám phá ra những ký hiệu bí mật kỳ lạ trên một đoạn rầm trên trần tại một ngôi đền cổ tại Abydos, vài trăm dặm về phía Nam Cairo. Những ký hiệu này đã được sao chép cẩn thận và gửi về Châu Âu. Bí ẩn của những hình vẽ này đã gây tranh cãi nóng bỏng trong những nhà Ai Cập học lúc bấy giờ, tuy nhiên dần dần, do không thể hiểu các hình vẽ đó nói về điều gì, họ đã gạt nó sang một bên như là những vật thể kỳ dị mà không ai có một giải thích thỏa đáng nào, rồi rơi vào quên lãng. Vào giữa thập kỷ 90 thế kỷ trước, những bức ảnh và phim video, được chụp đầu tiên bởi những du khách viếng thăm Abydos, bắt đầu xuất hiện trên internet. Chúng mô tả “những ký hiệu tượng hình về những cỗ máy kỳ lạ” vốn đã được khám phá vào thế kỷ 19. Ngôi đền mà người ta tìm thấy những ký hiệu tượng hình này được xây dựng vào thời Pharaong Seti I khoảng 3000 năm trước. Đối với những người quan sát hiện đại chúng rõ ràng đó là những cỗ máy kỳ lạ, nhưng lại hết sức bí ẩn đối với những người thuộc thời của nữ hoàng Victoria. Thực tế chúng là nhiều chủng loại khác nhau của các thiết bị bay cùng với một chiếc xe tăng, và trong số những thiết bị bay là một chiếc máy bay trực thăng! Đó là một trong những khám phá gây sửng sốt nhất được tìm thấy tại Ai Cập. Gần đây, tờ báo uy tín của A Rập “Al-Sharq Al-Awsat” đã phát hành nhiều ảnh được chụp tại một ngôi đền Ai Cập khác, đền thờ Amon Ra tại Karnak. Các bức ảnh là những chạm khắc khoảng 3000 năm trước đây. Chúng tỏ ra rất giống với những hình chạm khắc tìm thấy tại Abydos. Đó là một máy bay trực thăng chiến đấu với một động cơ và một bộ đuôi, và gần đó, một thiết bị bay hiện đại. Thế là, trong thực tế thì không phải 1, mà có đến 2 bộ hình chạm như thế tại Karnak and Abydos. Vậy nếu những người Ai Cập cổ không có công nghệ để chế tạo các trực thăng hay các thiết bị bay khác, thì những hình ảnh về các cỗ máy bay đó nguồn gốc từ đâu? Cái lịch sử loài người mà ta được học hiện nay lại một lần nữa bất lực. Có nhiều thư viện huyền thoại cổ xưa, như là Thư viện Alexandria và những thư viện cổ Trung Hoa đã bị tiêu hủy. Nhiều trong số các bằng chứng vô giá về quá khứ xa xăm đã bị xóa sạch. May thay, những văn bản cổ đại vẫn còn được lưu giữ, một phần tại Ấn Độ. Vô cùng kinh ngạc khi biết rằng một vài trong những ghi chép tiền sử ấy kể về những thiết bị bay tinh xảo cao cấp. Hình chạm này thể hiện cái gì, nếu không phải là một cái xe tăng? Gần đây, có một báo cáo TQ vừa khám phá những văn bản tiếng Phạn thượng cổ tại Tây Tạng và đã gửi chúng về trường đại học Chandrigarh ở Ấn Độ để dịch. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy những tài liệu này chứa những chỉ dẫn chế tạo các phi thuyền vũ trụ. Những bằng chứng thêm nữa cho thấy thứ được gọi là “Đế chế Rama” miền Bắc Ấn và Pakistan là cổ xưa hơn nhiều so với những gì họ từng nghĩ trước đây. Tàn dư của những thành phố tân kỳ vẫn được tìm thấy trong sa mạc Pakistan, và tại Bắc và Tây Ấn Độ. Theo những văn bản Ấn Độ cổ, Đế chế Rama có những thiết bị bay được gọi là “Vimana”. Có vô số văn bản về Vimana được miêu tả hết sức chi tiết. Những người Ấn Độ tiền sử đã viết toàn bộ các chỉ dẫn sổ tay và sách học về cách điều khiển nhiều loại Vimana khác nhau, nhiều sách trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; một số đã được dịch sang Anh ngữ. Những loại Vimana khác nhau được miêu tả, một số thì hình đĩa, số khác thì hình điếu xì gà. Vimana có vẻ được cung cấp năng lượng bởi vài loại thiết bị phản trọng lực, khiến nó có thể cất cánh theo chiều thẳng đứng và bay lượn trong không gian. Các chuyên gia Ai Cập học đều biết nhiều bí ẩn của Ai Cập thời thượng cổ là không thể giải thích được nếu sử dụng cái khung hạn hẹp của cách nghĩ truyền thống. Ví dụ họ hoàn toàn không thể giải thích thấu đáo làm thế nào các kim tự tháp được xây dựng nên, và làm thế nào nền văn minh Ai Cập thượng cổ xuất hiện một cách đột ngột với trình độ rất cao ngay từ thủa khai sinh? Nguyên nhân nào Kim tự tháp lớn Giza lại được xây dựng với công nghệ cao hơn nhiều so với các kim tự tháp nhỏ được xây dựng sau nó? Có rất nhiều mẫu vật đáng tin cậy như những gì chúng ta đã thấy từ đầu thường không được một số “khoa học gia” và các “chuyên gia” để ý một cách đúng mực, họ cũng không khách quan nghiên cứu và tìm hiểu nghiêm túc, chính là bởi vì : nó quá trực quan, đối nghịch với thành kiến của họ, và nó không nằm lọt thỏm trong cái khung hạn hẹp của những “hiểu biết” mà họ được những đàn anh bơm vào não từ khi còn là học sinh tiểu học. Họ nghi ngờ và loại bỏ tất cả những gì không nằm trong cái khung ấy, cũng như cố gắng bằng mọi giá uốn ép những bằng chứng khách quan cho vừa vặn lọt vào cái khung, chứ không muốn cải biến chính cách tư duy sao cho toàn diện và khoa học hơn, cho phù hợp với thời đại và thực tiễn khách quan. Hầu như tất cả chúng ta đều khẳng định 100% những hình chạm khắc trên thể hiện những chiếc trực thăng và những thiết bị bay công nghệ cao – nếu họ chưa biết chúng được tìm thấy ở đâu. Thú vị hơn nữa, là hình chạm khắc thượng cổ đó lại thể hiện như một chiếc trực thăng chiến đấu, một phương tiện chiến tranh. Bài này trích trong quyển sách : "Bằng chứng nền văn minh tồn tại trước thời nhân loại hiện nay"
  10. Tượng thầy trò Vũ Thê Lang được thờ trong Thiên Cổ Miếu Qua quá trình nghiên cứu của nhà giáo về hưu Đỗ Văn Xuyền, các thư tịch cổ ở nhiều nơi trong cả nước đã ghi lại danh sách các thầy giáo và học trò thời Hùng Vương. Bước đầu chúng ta biết từ Hùng Huy Vương – Hùng Vương thứ 6 đến An Dương Vương có 19 thầy giáo dạy 18 trường ở kinh đô và địa phương, với số học trò được biết là 23 người. Học trò học ở các trường mà trong thần tích, thần phả không nêu tên thầy giáo là 17 trường với số học trò là 35 người. Như vậy có 19 thầy giáo và 35 trường học rải khắp các địa bàn trong cả nước và 58 học trò tiêu biểu. Ta khiêm tốn gọi đó là những dấu tích của nền giáo dục thời Hùng Vương. Cũng trong quá trình nghiên cứu đó, ông Xuyền còn tìm thấy thời Bắc thuộc lần thứ I từ năm 111TRCN đến năm 39 – thời Bà Trưng có 10 thầy giáo, 68 học trò và 36 trường ở các địa phương. Sau đây là danh sách các thầy giáo và học sinh thời Hùng Vương của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền tìm ra: 1. Danh sách 18 thầy giáo 1 Thời Hùng Vương thứ 6 – Hùng Huy Vương có thầy Lý Đường Hiên Dạy học ở Yên Vĩ huyện Hoài An phủ ứng Thiên đạo Sơn Nam nay là huyện Ứng Hoà Hà Tây. Thầy có hai học trò là Cao Đường và Lý Đá học giỏi thấu tỏ mọi lẽ kinh sách, người đường thời ai cũng khen là thần đồng. 2 Lý Đá và Cao Đường Mở trường dạy học tại Xuân La Nguyễn Xá trang Diên Phú huyện Diên Hà phủ Tiên Hưng trấn Sơn Nam. Giặc Ân xâm lược, hai ông theo Phù Đổng đánh giặc, giặc tan về đến núi Sóc Sơn ông cùng Phù Đổng bay về trời. Nhân dân Xuân la Nguyễn Xá trang Diên Phú huyện Diên Hà phủ Tiên Hưng Trấn Sơn Nam lập đền thờ phụng. 3 Thời Hùng vương thứ 9 - Thầy Lỗ Công Dạy ở kinh thành Văn Lang, là cháu ngoại vua Hùng Định Vương. Có học trò là Hoàng Trù ở xã Bồng Lai huyện Từ Liêm Hà Nội theo học. 4 Thời Hùng Vương thứ 16 – Thầy Ngô Tiên Dạy học ở Xuân Áng xã Thuỵ Trang huyện Đường Hào phủ Thượng Hồng lộ Hải Dương có người học trò là Phan Hộ mày hổ, mũi rồng, tiếng như chuông, mới sinh ra đã có răng, học được một năm giỏi giang, văn võ tinh thông, tài trí khác đời. Ông vào chữa bệnh cho Thái Phi vua thấy tài giỏi, phong “Đốc trưởng tiền quên ngự đô lực sĩ, Đông Đại tướng quân thiên hộ hầu. 5 Thời Hùng Vương thứ 18 – thầy Cao Đường Dạy học ở khu Khổng Tước Châu Hoan, học trò là Hùng Duệ Vương. Còn có người học trò là Chu Hoằng theo học được hơn 4 năm mà văn chương thông thái, võ bị tinh thường. Ông theo Tản Viên Sơn Thánh, trở hành vị tướng đánh Thục giỏi được vua phòng: Cai số Đại vương. Ngày 10 tháng 11 ông tự hoá, nhân dân khu Bùi Trang Hạ Bái huyên Diên Hà lập đền thờ phụng. 6 Thầy Nguyễn Thiện Quê ở làng Yên Vỹ, động Hương Tích, huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam đến học ở Thượng Khu xã Vĩnh Lai, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Ông có hai người con trai cùng sinh giờ ngọ ngày 12/8 năm Bính Tý, lại là hai học trò văn võ toàn tài, thao lược hơn người. Khi cha chết hai anh em đến Sơn Tây vào yết kiến Tản Viên Sơn Thánh và kết nghĩa anh em cùng nhau đánh Thục thắng lơị, được Hùng Duệ Vương phong: Đại tướng công. 7 Thầy Hải Đường Dạy học ở kinh thành Văn Lang có người học trò tên là Nguyễn Mục sinh ngày 12-9 năm GIáp Ngọ, con ông Nguyễn Danh Huyên và bà Đào Thị Túc ở trang Đông Đồ huyện Kim Hoa phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc, đến ở nhà cậu rột là ông Đào Công Hải làm huyện Doãn Châu Phong (Bạch Hạc) để đi học. Mới học được vài năm mà Nguyễn Mục văn chương võ nghệ tinh thông. Hùng Duệ Vương yết bảng chiêu hiền. Nguyễn Mục ứng thi được vua ban chức: Đại Phu tham gia triều đình chính sự. Quân Thục xâm lược, Nguyễn Mục cầm quân đánh thắng giặc trở về được Vua phong: Y Mục đại vương. Ngày 2 tháng chạp năm Kỷ Dậu ông hoá, vua truy phong Thượng đẳng thần tối linh. Nhân dân trang Bối Khê huyện Đông Yên phủ Khoái Châu lập đề thờ phụng. 8 Thầy Lã tiên sinh Dạy ở Hồng Châu Hải Dương có hai người học trò là Cao Sơn và Quý Minh vă võ đã hơn người. Bấy giờ Hùng Duệ Vương hạ chiếu kén nhân tài. Hai ông ứng thi trúng tuyển, vua phong cho hai người chức Chỉ Huy Xứ: Tả Hữu tướng quân. Vâng mệnh vua hai ông đưa quân trấn thủ ở sông Lô, sông Thao, sông Đà đề phòng quân Thục xâm lược. Hai ông lập đồn ở xã Tiên Du huyện Phù Khang phủ Tạm Đái đạo Sơn Tây về sau là xã Tiên Du tổng Hạ Giáp huyện Phù Ninh Phú Thọ… Ngày 10 tháng 11 hai ông đã hoá, nhân dân nơi đây đã tôn thờ làm Thành Hoàng làng. 9 Thầy Lỗ tiên sinh Dạy học ở xã An Canh huyện Thiên Thi nay là huyện Ân thi, Hưng Yên. Thầy có 3 người học trò là Nguyễn Tuấn, Nguyễn Chiêu, Nguyễn Minh là con ông Nguyễn Xuân và bà Đoàn Thị Nghi. Ba người cùng sinh một bọc ngày 10-3 năm Bính Thìn, thật là khôi ngô kỳ vỹ. Năm lên 9 tuổi ba anh em đều theo học thầy Lỗ tiên sinh, học được ba năm đã tinh thông văn võ. Năm 15 tuổi tài năng của 3 ông đã nổi bật, nhân dân và hào kiệt trong vùng đều khâm phục. Năm 19 tuổi Hùng Duệ Vương ra bảng kén chọn nhân tài, ba ông đều trúng tuyển. Vua hài lòng phong cho ông Tuấn chức: Tư Tào điển lạc quan, ông Chiêuk chức: Tả Tư tào phán quan, ông Minh chức: Hữu Tư tào phán quan. Quân Thục đến xâm lược, ba ông theo Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc. 10 Thầy Lỗ Đường Tiên sinh Dạy ở xã Đại Đồng thuộc huyện An Đường phủ Thượng Hồng tỉnh Hải Dương. Có người học trò là Trương Sơn Nhạc sinh giờ Thân ngày 8 tháng giêng năm giáp Thân, rất kỳ lạ, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, trong bụng có điểm nét chữ “son” trông tựa như chữ thần tiên. Một tuổi đã biết nói, năm lên 7 theo học thầy Lỗ Đường, chẳng bao lâu văn võ kỳ tài, được Hùng Duệ Vương giao cho chức Bố Chính Quan. Quân Thục đến xâm lược, ông là vị tướng đã đáh thắng giặc rồi tự hoá.. Nhân dân làng Nhiễm Dương tổng Nghĩa Xá, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh lập đền thời phụng. 11 Thầy Niệm Hưng Quê ở Mộ Trạch Hải Dương được nhân dân làng Lỗ Khê phủ Từ Sơn Bắc Ninh đón về dạy hỏi: Năm 23 tuổi nhà vua hạ chiếu kén anh tài. Niệm Hưng ứng tuyển được Hùng Duệ Vương phong chức: Chỉ Huy xứ. Quân Thục xâm lược, ông lĩnh chức Tiền Đạo đại tướng quân, đánh thắng quân Thục ông trở về Lỗ Khê tự hoá, nhân dân tôn thờ làm Thành Hoàng Làng. 12 Thầy Nguyễn Minh Quê ở huyện Lôi Dương Châu Ái đến xã Màn Xuyên tổng Đông kết huyện Đông An mở trường dạy học. Bấy giờ Hùng Duệ Vương mở khoá thi, vào thi Đình nhà vua chấm ông đỗ đầu khoá, được vua gả công chúa Ngọc Nương – công chúa thứ ba, ông cùng với Tản Viên Sơ Thánh đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi được vua phong: Trấn Chiêm Thành cửa ải đại tướng quân. 13 Thầy Lỗ tiên sinh Dạy học ở Động Lăng Xương huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng đạo Hưng Hoá, có ba người học trò là Cao Hiển công, Cao Minh công, Cao Tùng công quê gốc ở Châu ái đến ngụ cư ở Lăng Xương. Ba học trò này thật là dị tướng, hai gồ má cao vọi, tay dài chấm gối, bàn chân có 7 cái lông dài. Học mới 3 năm mà đã am hiểu nghĩa lý, kinh sử lầu thông. Vì có công đánh giăc Thục khi hoá được vua phong Thượng đẳng phúc thần. 14 Thầy Phạm Công Tuyển Quê ở trang Hội Triều huyện Hoàng Hoá phủ Hà Chung Châu ái làm quan ở châu Xích Đằng phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam. Ông là Người văn chương nổi tiếng. Sau khi vợ chết ông tư quan về dạy học ở Châu Xích Đằng phủ Khoái Châu, sau lại chuyển về khu Đăng Xuyên xã Đăng Định huyện Thiên Thi… Sau khi chết nhân dân xã Đăng Xuyên huyện Ân Thi tôn thờ Thành Hoàng làng. 15 Thầy Vũ công Ở Mộ Trạch Hải Dương dòng dõi thi thư lên cung thành kinh đô Văn Lang, ở thôn Hương Lan, ngày nay thuộc xã Trưng Vương – Việt Trì dạy học. Hai ông bà sinh được người con đặt tên là Vũ Thê Lang, khi trưởng thành Vũ Thê Lang đã dạy hai công chúa của Hùng Duệ Vương là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Nhân dân đã lập đền thờ vợ chồng Vũ Thê Lang, đền này có tên là “Thiên Cổ Miếu”. 16 Thầy Lý Đường tiên sinh Dạy học ở động Lăng Xứơng huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng, đao Hưng Hoá xứ Sơn Tây. Nguyễn Chiêu học thầy 3 năm liền. Sau này Nguyễn Chiêu gọi là Tả Viên Sơn Thánh phò mã của Hùng Duệ Vương. 17 Thầy Ngô tiên sinh Dạy học ở thôn Trì La Huyện Thiên Thi Xứ Sơn Nam. Có hai người học trò tên là Phạm Đá, Phạm Dũng cùng sinh một bọc ngày 9/3 năm kỷ Mùi, con ông PHạm Đạt và bà Đinh THị Duyên, quê nội ở sách Biện Sơn huyện Lôi Dương phủ Thuận Thiên Châu ái. Hai học trò này hình dáng kỳ dị, mày ngài hàm én, tay dài chấm gói, bàn tay có 7 chiến lông mọc dài, năm lên tám tuổi hai anh em đến học thầy Ngô tiên sinh, mới học được vài năm đã thông kinh sử. Thời An Dương Vương có giặc Đại Man đến cướp phá Cao Bằng, Hưng Hoá. Nhà vua truyền hịch tuyển lựa chọn nhân tài. Hai ông ứng tuyển được nhà vua phong cho ông Phạm Đá là Bình Man Đô nguyên soái, ông Phạm Dũng là Thiên Quan đại tướng công. Hia ông dẹp yên giặc lại trở về Trì La, khi hoá nhân dân tôn Thành Hoàng làng. 18 Thầy Dương Như Tồn tiên sinh Dạy học ở Lỗi Giang, Tề Giang xưa, nay thuộc Thọ Xuân Thanh Hoá là thầy dạy tể tướng Lữ Gia thời nhà Triệu. 2. Danh sách 23 học trò Thời Hùng Vương thứ 6 - ông Tạ Quang và bà Trần Thị Ở xã An Phú huyện Từ Sơn Bắc Ninh có 5 con học ở xã Điềm Xá huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu Hưng Yên. Năm người con này khi trưởng thành đã cùng với Hùng Đức huyện quan Tiên Lữ đánh giặc ở Châu Quỳnh Nhai, Tuyên Quang…. được vua phong: Ngũ vị đại vương. 2 Người con giai là Vũ Nghị Con ông Vũ Huy Hiển, bà Hoàng Thị Việt. Năm 12 tuổi ha mẹ cho đi học ở thôn Trung xã Vĩnh Lại tên nôm là làng Giải Thượng huyện Cẩm Giàng – Hải Dương. Thời Hùng Hy Vương có giặc Cao Man giặc Ân ông đã cùng với người cậu là Hoàng Công Độ, lạc tướng ở kinh thành Văn Lang đi đánh giặc lập nhiều chiến công. Ông Vũ Nghị đã hoá theo Thánh Gióng ở núi Sóc Sơn. 3 Đời Hùng Vương thứ 6 có Vũ Lang Lữu Sinh giờ Dần ngày 20 tháng giêng năm ất sửu là con ông Vũ Sùng và bà lê Thị Ngọc, học ở sách Lam Sơn, Ái Châu, Thanh Hoá. Sau lại chuyển đến học ở huyện Nam Xang phủ lý Nhân đạo Sơn Nam. ông thông thạo văn chương, thượng thiên văn, hạ địa lý, không một vật gì không biết, không một việc gì không hay, đời bấy giờ khen là: ông thánh trẻ. Giặc Ân xâm lược nước ta Vũ Lang Lữu cùng Thánh Gióng đánh tan giặc. Ông được vua phong: Võ Gia Hỗu giám sát đại tướng quân. Khi ông mất làng Vũ Xá tổng ngu Nhuế phủ Lý Nhân tỉnh Hà Nam lập đền thờ phụng. 4 Hoàng tử Hùng Bảo, Hùng Chân Con Hùng Huy Vương và con Hoàng hậu Phương Dung. Hoàng tử Bảo sinh ngày 12/02 năm Giáp Tí. Hoàng Tử Chân sinh ngày 10 tháng giêng năm đinh mão. Hai hoàng tử này học ở kinh thành Văn Lang, với tư chất thông minh, chăm học, ngay từ thuở thiếu niên đã tỏ ra người có tài văn võ. Lúc bấy giờ có giặc xâm lược vua cử hai hoàng tử làm tướng, phong cho hoàng tử Bảo là Bảo quốc lạc hầu, Hoàng tử Chân là Chân Võ đại tướng quân. 5 Nguyệt tinh công chúa Cháu của Hùng Tạo Vương – Hùng Vương thứ 16 học ở kinh thành Văn Lang, 19 tuổi văn võ kỳ tài, đi 7 bước làm xong bài thơ. 6 Hoàng tử Mang Công Con của Hùng Nghị Vương – Hùng vương thứ 17 học ở kinh thành Văn Lang, là người thiên tư mẫn tuệ. Năm 17 tuổi Mang công lầu thông thiên kinh vạn quyển, hiểu rõ ngọn ngành của mọi nghĩa lý. 7 Thời Hùng Duệ Vương có Lương Cội công Con ông Lương Nhạc và bà Trần Thị Ái, cha mẹ cho Cội công đi học ở động Chung Sơn quận Cửu Chân, Hoan Châu. Cội công rất thông minh, văn tài võ lược đều giỏi, được vua trọng dụng phong làm tướng cử đi đánh giặc, thắng lợi trở về vua lại truy phong; Đài vàng Cội Công Uy linh đại vương. Ông mất, Trang Minh Lương (tức Mỹ Lương) huyện Diên Hà phủ Tân Hưng làm đền thờ phụng. 8 Bốn người con: Liêm , Vĩnh, Dũng, Bùi Vợ chồng ông Đinh Công Bách và Tô Thị Công Nghị quê ở Châu Ái, Thanh Hoá có 4 con theo học ở làng Pó Hoa trấn Sơn Nam Thượng phủ Thường Tín huyện Thượng phúc đạo Sơn Nam. Bốn người con đều đi học chăm chỉ, đều tài giỏi cả văn lẫn võ, tài trí thông minh lẫy lừng thiên hạ, danh tiếng đến tai vua. Hùng Duệ Vương mời 4 chàng trai vào triều để giúp vua trị nước. 9 Chàng Ngọ Ông Nguyễn Trường vợ là Đinh Thị Khương ngày 8 tháng giêng năm Bính Ngọ sinh được người con trai phong tư đẹp đẽ, khí vu hiên ngang đặt tên là Ngọ. Cha mẹ cho Ngọ đi học ở khu Tập Ninh xã Vân Lung động Hoa Lư phủ Trường Yên Châu Ái. Chàng thông hiểu văn chương, tinh thông võ nghệ được Hùng Duệ Vương phong: Trung Thư Lệnh, Quân Thục đến xâm lược, ông là võ Tướng chỉ huy đánh thắng giặc rồi ông tự hoá, làng Tập Ninh xã Vân Lung huyện Hoa Lư – Ninh Bình lập đền thờ phụng. 10 Tam Quan học Hùng Thiện Công và Nguyễn Thị Phương có người con trai tên là Tam Quan học ở trang Cao Xá thuộc tổng Lai Cách phủ Bình Giang nay là xã Ca An huyện Cẩm Giàng Hải Dương: Tam Quan học rất giỏi võ nghệ tinh thông, pháp thuật cao cường được Hùng Duệ Vương tuyển dụng phong: Tam Quan địa vương. 11 3 người con giai: Tuấn, Chiêu, Minh Ông Nguyễn Xuân và vợ là Đoàn Thị Nghị ngày 10/3 sinh một bọc được 3 người con giai thật là kỳ vỹ. Con thứ nhất đặt tên là Tuấn, con thứ 2 đặt là Chiêu, con thứ 3 đặt là Minh. Năm lên 9 tuổi cả 3 anh em đều đi học ở làng cổ Lễ xã An Canh huyện Thiên Thi nay là Ân Thi Hưng Yên. Ba ông có công đánh quân Thục xâm chiếm, khi hoá nhân dân Cỗ Lễ thờ; “Tam vị Thành Hoàng” 12 2 con giai: Minh Đức, Chiêu Chung Đặng Cẩn vợ là Phùng Thị Thuần ngày 10 tháng 4 năm Nhâm Thân sinh được 2 con giai , dung mạo khôi ngô kỳ lạ. năm lên 7 tuổi cha mẹ cho 2 anh em đi học ở Châu Quỳnh Nhai. Năm 16 tuổi lực học hai cậu tinh thông, tài năng võ nghệ khiến vạn phu không địch nổi. Năm 20 tuổi, giữa lúc Hùng Duệ Vương dựng lầu kén rể ở thành Văn Lang để mộ người thông minh tài trí, đức độ hơn người, kén chọn bậc vương lấy công cháu Ngọc Hoa rồi vua trao ngôi báu. Hai ông vào ứng thi tài văn võ ứng đối lưu loát nhưng toàn tài chưa có. Vì thế vua chỉ phong cho 2 ông chức: chỉ huy xứ tả hữu tướng quân. Quân Thục đến xâm lược, hai ông cầm quân đánh thắng giặc trở về và tự hoá ngày 3 tháng 12 nhân dân Nghĩa trang Lưu Thượng, Lưu hạ đạo Hải Dương lập đền thờ phụng. 13 Thời Hùng Duệ Vương - Vũ Uy Ông Vũ Phục vợ là Quế Hoa ngày 18 tháng 3 giờ Tý năm Nhâm Dần sinh được người con trai đặt tên là Vũ Uy, năm 14 tổi cha mẹ cho Vũ uy học ở xã Đan Tràng tổng Đan Tràng huyện Cẩm Giàng phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương, võ nghệ tinh thông, học một biết mười, quân Thục đến xâm lược, ông xin nhà vua cầm quân đánh giặc, chiến thắng ông trở về bản quán xã Đan Tràng và tự hoá được vua phong: “Thượng đẳng phúc thần” 14 Con trai tên Hoằng Ông Nguyễn Lương vợ là Đinh Thị Tố ngày 10-8 năm Giáp thân sinh người con trai đặt tên là Hoằng, có nước da trắng ngần, mắt sáng như sao, sau lưng có 28 nốt ruồi, dười đùi có 7 cái lông. năm 12 tuổi ông kết bạn với Sơn Thánh và đến bái yết Hùng Duệ Vương được vua pong “Dũng lược tướng quân” hộ giá nhà vua. Ông có công đánh thắng quân Thục được vua gia phong: Hoằng tướng quân đại vương. Khi ôg hoá làng Cổ Viễn, Bình Lục, Hà Nam lập đền thờ phụng. 15 2 con trai: Mang công, Mỹ công. Ông bà Cao công ngày 2 tháng 2 năm Giáp thân sinh một bọc được 2 con trai đặt tên là Mang công, Mỹ công. năm 11 tuổi cha mẹ cho hai anh em đi ọc ở Vũ Ninh, học được 5 năm văn võ rất giỏi. Quân Thục xâm lược Hùng Duệ Vương triệu hai ông về triều, cử đi đánh giặc. Thắng giặc trở về hai ông tự hoá ngày 10-6 được vua truy phong: “Thượng đẳng phúc thần”. Làng Mão Cầu Phủ Lý Nhân Hà Nam lập đền thờ phụng. 16 Đời vua Hùng Vương thứ 18 - Cao Sơn, Cao Minh Ông Nguyễn Tùng vợ là Lê Thị Diêu ngày 14 tháng giêng năm Nhâm Dần sinh được hai con trai mặt mũi khác thường đặt tên là Cao Sơn và Quý Minh – Năm lên 6 tuổi cha mẹ cho đi học ở Hồng Châu Hải Dương. Năm 16 tuổi cả hai anh em đều tinh thông võ nghệ. Vua hạ chiếu tìm người tài giỏi. Hai anh em đến bái yết nhà vua được vua phong cho hai người làm: Đô chỉ huy xứ tướng quân Cao sơn và Quý Minh là hai nhân vật từng được thờ rất nhiều với những lai lịch sự tích mỗi nơi một khác. Có nơi cho Cao Sơn và Quý Minh là Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh là Nguyễn Hiển và Nguyễn Sùng anh em con chú con bác với ản Viên. Cao Sơn và Quý Minh là anh em kết nghĩa với Tản Viên. Có người lại cho rằng Cao Sơn và Quý Minh là tước hiệu tránh viết tên huý.. 17 Chung công ý Công Hiển vợ là Đinh Thị Huyền ngày 10-2 năm Mậu Thân sinh được người con trai tay dài quá gối, chân có 7 cái lông dài, cha mẹ đặt tên là Chung công. Một tối Chung công đã biết nói, 7 tuổi đi học ở động Lăng Xương huyện Thanh Châu phủ Gia Hưng đạo Hưng Hoá xứ Sơn Tây. Mới học được mấy năm đã thông hiểu cả văn võ. Lớn lên cùng với Sơn Thánh cầm quân đánh Thục. 18 Đời Hùng Vương thứ 18 - Nam Định Ở làng Lưu Xá huyện Thượng Hiền phủ Nghĩa Hưng đạo Sơn Nam có ông Trương Tùng vợ là Phùng Thị ích đến ngụ cư ở trang Trịnh Xá khu Nguyên Xá huyên Đông Ngàn phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc. Ngày 10/3 năm Quý Tỵ sinh được cậu con trai đặt tên là Nam Định. Lên 3 tuổi đọc thông sử sách, lại giỏi võ nghệ, đám học trò thời ấy thán phục và khen là thần đồng. Năm 21 tuổi, lúc này Hùng Duệ Vương xuống chiếu cầu hiền Nam Định ứng tuyển, trả lời các câu hỏi của vua đều lưu loát, vua khen và ban danh là Trung Định Công và giao cho chức chỉ huy xứ ở huyện Thượng Hiền đạo Sơn Nam. Hùng Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa nhưng đều nối gót lên tiên cả, chỉ còn lại 2 công chúa. Con gái lớn là Tiên Dung đã gả cho Chử Đồng Tử còn công chúa Ngọc Hoa duyên đẹp thời lành chưa định. Vì vậy mà giao cho Trung Định công dựng lầu ở cửa Việt Trì gọi là “Tuyển tế đại hiền lau” – Lễ đón người hiền, chọn rể, đề biển là: “Ngoan nguyệt cầu hiền” nghĩa là ngắm trăng cầu hiền - để nhà vua gả công chúa và truyền ngôi báu cho. Lúc bấy giờ chỉ có Sơn Thánh họ Nguyễn tên Tùng người Đạo Sơn Nam có nhiều phép lạ, vua cho rằng đó là người kỳ tài bậc nhất thiên hạ, vua đã gả công chúa và nhường ngôi báu. Quân Thục đến xâm lược Trung Định công được vua phong: Tiền đạo đương lộ tướng quân, đi giết giặc. Thắng giặc trở về ông tự hoá ngày 15/7 nhân dân khu Nguyên xá tôn thờ làm thành hoàng. 19, 20, 21, 22 4 con trai của Hùng Vương thứ 18 Hùng Vương thứ 18 ở Châu Quỳnh Nhai có ông Cao Bảo và Cao Hình lấy vợ ở Thanh Ba làng Vũ Lao. Năm Đinh Sử tháng 3 ngày 10 vợ ông anh sinh 2 con trai và một con gái. Ngày 10-8 năm ấy vợ ông em sinh một bọc 2 con giai. Thế là hai anh em sinh được 4 giai một gái. Bốn con giai thân thể lẫm liệt, cao to, môi rồng, mặt phượng, hàm én, mày hùm. Con gái thì phương phi, mặt như gương sáng, nhan sắc như tiên nữ. lên 3 tuổi người anh đặt tên cho con là Minh Công, Tín Công và con gái Dung nương. ông em đặt tên cho con là Cao công, Bạch công. năm lên 7 tuổi hết thảy đều thông minh, trí tuê, khí độ hơn người. Nam anh hùng, nữ tuấn tú. Lúc bấy giờ ở châu Quỳnh Nhai có người họ Đinh là nhà cự tộc gia thế, tìm cách giết chết 2 anh em giai và người vợ ông em. Bà vợ ông Cao Bảo đưa 3 con và 2 cháu đi chốn ở làng Thượng Nông huyện Tam Nông phủ Lâm Thao, ở nhà bà Ma Thị Chính và cho các con, các cháu học ông thầy ở làng Đào Xá Thanh Thuỷ. Học được 4 năm, tài chí của con trai và con gái khác thường. Bốn con trai giúp nhà vua đánh Thục còn Dung nương thì lấy vua làm thập tứ cung phi (cung phi thứ 14) Giả thuyết chữ Việt cổ đầu tiên là khi nào và chữ Việt cổ còn lưu lại ở những đâu? Trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do Viện Văn hoá in năm 1986, tác giả Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Vào năm 1903 Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh công bố việc tìm ra một văn bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa vờn cháy mà Ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh ông dịch được nội dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề "Mời trầu" có nội dung ca ngợi tình yêu. Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của tổ tiên ta từ thời các vua Hùng. Do âm mưu đồng hóa của kẻ thù, chúng tìm cách triệt phá, không để lại dấu tích của thứ văn tự cũ, nay vẫn còn truyền lại và lưu hành trong một bộ phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì:" Thập châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thư chữ này" Văn bản chữ Việt cổ còn lại những gì? Đúng là tài liệu của ta vừa bị giặc nước huỷ diệt, vừa bị ta không biết cách bảo tồn, thí dụ đã từng có một tài liệu về chữ Việt cổ của gia đình cụ Lê Huy Nghiệm sau cách mạng Tháng Tám đã bị mất. Dù giặc ngoại xâm đã tước đoạt, đã thiêu huỷ những tài liệu quý báu của tổ tiên chúng ta như Mã Viện đã tịch thu tất cả những trống đồng có khắc chữ trên đó để đúc ngựa dâng cho Hán Quang Vũ và đúc cột đồng trụ. Năm 207 sau công nguyên, Sỹ Nhiếp du nhập sang nước ta chữ Hán đồng thời ra lệnh thiêu huỷ sách vở và cấm nhân dân không được dùng thứ chữ viết của tổ tiên ta. Nhưng chữ Việt Cổ càng ngày càng phát lộ nhiều: Trên trống đồng, trên qua đồng, trên vách các hang động, bãi đá cổ ở Sapa, ở Pá Màng xã Liệp Tè Thuận Châu Sơn La, chữ Việt Cổ còn tồn tai vùng biên viễn Thập Châu. Thư viện Sơn La đã sưu tầm được gần 1500 cuốn sách, Bảo Tàng Sơn La cũng sưu tầm được gần 1000 cuốn sách trong đó là chữ Thái hay chữ Việt Cổ mà chưa nghiên cứu vấn đề này. Nhất định chúng ta tìm thấy và giải mã được chữ Việt Cổ, chữ của tổ tiên để lại. <a name="Giai-ma">Ông Xuyền đã giải mã hình dạng chữ Việt cổ như thế nào? Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1855) đã phát hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự , trong đó có một bộ chữ cái có kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần chắc. Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần bằng, 15 thể chữ cái theo vần chắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà Ông gọi là "tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu" (tức là có thể chuyển ngữ cho chữ Hán). Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, Đỗ Văn Xuyền sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là: - Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ? - Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của kí tự đó không ? - Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm) Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ la tinh của phương tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí (Tứ bàng phụ hoạ). Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông Xuyền mới tìm ra qui luật - Qui luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được qui luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, Những nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ. Nhóm nghiên cứu rất cần sự ủng hộ của các nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu khoa học của nhà nước để hoàn thiện công trình khoa học này. www.chungta.com
      • 1
      • Like
  11. Bài hát Việt nhân ca xuất hiện trên văn đàn cổ Trung Hoa trong một bối cảnh hết sức đặc biệt. Thời Xuân Thu, Tử Tích (thế kỷ 6 trước Công nguyên) là vương tử nước Sở, em trai Sở Linh Vương, được phong chức lệnh quân vùng Ngạc Ấp nên được người dân gọi là Ngạc Quân Tử Tích. Một ngày nọ, Ngạc Quân Tử Tích cùng đoàn tùy tùng đi du ngoạn Phán Hồ (nay là hồ Lượng Tử thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc) để thăm thú lãnh địa của mình. Vị vương gia đi trên một con thuyền lớn do một thiếu nữ Dương Việt (một nhóm trong Bách Việt) cầm chèo. Được diện kiến Ngạc Vương Tử Tích, cô thiếu nữ cảm thấy rất hãnh diện, vừa nhịp tay chèo vừa cất cao giọng hát trong cái lãng mạn của xuân cảnh hữu tình và âm thanh rộn ràng của tiếng trống: Dưới đây là bài Việt nhân ca được ghi lại theo âm Việt cổ và bằng chữ viết của nước Sở cổ Dịch thơ (dựa theo lời dịch của tác giả Lâm Hà, dân tộc Đồng): Hôm nay là ngày gì ấy nhỉ? Thuyền xuân đón khách, khách là ai? Thì ra khách là người vương tử! Triệu kiến người trên chiếc thuyền xuân Việt nữ tôi - lòng cảm tạ vô ngần Hôm nay là ngày gì ấy nhỉ? Vương tử cùng lướt sóng ngao du Tâm can tôi nghe hớn hở vô cùng. Ngạc Quân Tử Tích nghe giai điệu thánh thót rất hay nhưng không hiểu Việt ngữ nên yêu cầu người thông ngôn (cũng là người Dương Việt) dịch cho nghe. Nghe xong, Ngạc Quân Tử Tích lấy làm thích thú, cho triệu kiến cô gái chèo thuyền. Gặp mặt cô gái, Tử Tích không chút do dự “xắn ống tay áo, ôm chầm lấy cô gái Việt”, còn “lấy một chiếc đai gấm quấn quanh eo cô gái” nhằm bày tỏ lòng biết ơn. Ngạc Quân Tử Tích liền hạ lệnh cho tùy tùng ghi lại bài hát và lưu truyền trong dân gian. Bài Việt nhân ca ra đời từ đó. Cố sự này được Lưu Hướng (79-8 trước CN) ghi lại tỉ mỉ trong cuốn Thuyết Uyển (bài Việt nhân ca) vào thời Tây Hán. Người đời sau dịch lại bài hát này ra tiếng Hán (có thêm bớt), song cốt cách, tình cảm và cái hồn của bài hát bản tiếng Hán đã vơi đi ít nhiều. Việt nhân ca là một bài tình ca độc đáo của dân gian Dương Việt, đặc biệt là đối với người dân Bách Việt di chuyển bằng thuyền độc mộc khắp vùng phía nam Dương Tử đầy sông nước. Nó độc đáo vì chỉ là lời tâm sự của một cô gái Dương Việt tuổi xuân thì song lại chứa đựng nhiều đặc trưng văn hóa Bách Việt phương Nam: quen với sông nước và thạo chèo thuyền; thích lãng mạn, phóng khoáng nhưng cũng rất tinh tế; không ưa giáo điều hay các qui tắc phân biệt tầng lớp xã hội. Cho đến hôm nay, nhiều dị bản của bài Việt nhân ca vẫn còn lưu truyền trong dân gian một số dân tộc Nam Trung Hoa như Choang, Đồng..., nơi dòng chảy của văn hóa Bách Việt cổ còn tồn tại và lưu truyền. TTCT - Th.s NGUYỄN NGỌC THƠ (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM)
  12. Xin bổ sung sưu tầm được cái ấn vàng của Triệu Đà . Nguồn www.nga.gov "Văn đế hành tỷ"
  13. Sống kế bên thằng khổng lồ, vừa gian, vừa thâm, vừa nguy hiểm thì thật là mệt mỏi.Nhưng cũng còn may là , người tiêu dùng khá nhiều người đã nhận thức được hàng Trung Quốc là hàng lõm, không chất lượng. Nhưng cũng còn cái khúc mắc nữa là không dùng hàng Trung Quốc thì không được, vì còn nhiều khoản A,B,C ... khác nữa. Hé hé.
  14. Thưa chú, góp gió thì thành bão chú à. Các học giả nước ngoài có nhìn vào, có cười chê thì mặc xác họ. Mình tìm hiểu về tổ tiên của mình thì kệ mình, Nội cái đơn giản, ông bộ trưởng Anh Quốc hứa sẽ trả lời 05 câu hỏi được nhiều người bình chọn, câu hỏi của chị Rin86 rất đơn giản nhưng ông ấy nào trả lời được. Nếu như ai cũng sợ cười chê như quan điểm của chú thì chắc có lẽ 1triệu năm sau, nguồn gốc Tổ Tiên từ đâu mà tới, nền văn hiến từ đâu mà ra. Các sử gia, nhà nghiên cứu TQ họ chắc gì biết đến những gì họ nói nhưng họ cứ nói, cứ viết sách, tích gió thành bão riết 1 thời gian tất cả là của họ. Chú không có ý định viết sách, cháu thiết nghĩ là đúng rồi đó ạ.
  15. So sánh 02 cái hình và cách giải thích này thử xem nhé. Với độ dài không đổi, một năm Mặt trời được chia thành 18 tháng, mỗi tháng 20 ngày (dùng hệ đếm cơ số 20), 5 ngày còn lại được đưa vào cuối năm. Mỗi tháng có một tên gọi dường như không hề có liên quan gì với mùa vụ hoặc lễ hội. Tên gọi các tháng được truyền theo truyền thống hoặc thậm chí có khả năng được mượn từ các thứ tiếng khác hoặc các nền văn hóa khác. Chúng cũng chỉ có ý nghĩa trong lịch sử chứ không giống như tên tháng trong các ngôn ngữ châu Âu hiện nay, có nguồn gốc từ tiếng Latinh mà nguyên nghĩa của nó hiện nay vẫn còn một số người hiểu được. Các ngày trong tháng được ghi bằng số thứ tự từ 0 đến 19 đặt trước tên tháng (Từ 0 đến 4 cho tháng thiếu, cuối năm chỉ có 5 ngày). Như thể, mỗi ngày được định tên chính xác trên trục thời gian. Các năm nối tiếp nhau không ngừng và không có năm nhuận. Cách đếm ngày và đêm Năm âm lịch theo kinh nghiệm nhiều đời nghiên cứu mặt trăng, vẫn được tính là 354 ngày ( dương lịch tính 365 ngày ) chia ra cho 12 tháng, thì mỗi tháng 29 ngày gọi là tháng thiếu và có dư 6 ngày để thêm vào cho 6 tháng khác gọi là tháng đủ. Vậy một năm âm lịch có 6 tháng 29 ngày và 6 tháng 30 ngày. Cứ năm năm lại có hai năm mỗi năm dư 1 tháng, gọi là năm dư tháng nhuận. Và cứ sau năm thứ 18, qua năm thứ 19 gọi là 1 chương thì lại không tính là năm dư, chỉ có 12 tháng thôi, kể như là năm thường vậy. Do đó, vòng hình vẽ 18 con chim mỏ dài cánh lớn ở ngoài cùng là hình vẽ một chu kỳ 18 năm, mỗi con chim ấy là 1 năm. Chưa kể những chữ số giống như ký hiệu của Âm Dương Ngũ hành, vậy những gì chú Thiên Sứ quả quyết rằng: Tổ tiên Hùng Vương không bao giờ cởi trần đóng khố là đúng roài chứ còn gì nữa. Và nền văn minh Lạc Việt là hậu duệ .Hé hé nguồn: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...c=642&st=20 Đây nữa, khỏi cải lun, quá chính xác roài. Hình 02 người chụp cái đầu vào nhau, y chang hình của lịch Maya. Khà khà Nguôn:http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?showtopic=642&st=0
  16. Nhìn cái bản đồ lịch sao có nhiều chi tiết giống Trống đồng thế nhỉ ? Xin, ACE cho ý kíên
  17. Toán học của người Maya Một số người da đỏ ở Gatêmala, miền Nam Mexico và Bêlidê ngày nay vẫn còn dùng tiếng Mam, tiếng Quiche, tiếng Cakchiquel, tiếng Kekchi và tiếng Myathan, là các thứ tiếng trong khoảng hơn ba chục thứ tiếng nói của người Maya. Điểm chung của các ngôn ngữ khác nhau đó là cách gọi tên một hệ số rất hoàn chỉnh, và gần giống nhau. Nhiều thế kỷ tồn tại của các chế độ thực dân và nhất là sự xuất hiện của kinh tế thị trường đã làm cho các từ thổ ngữ chỉ các con số bị thay dần bằng các từ vay mượn tiếng Tây Ban Nha. Đã nhiều thập kỷ nay người ta không còn dùng thổ ngữ để gọi các số lớn, và ngay cả tên gọi các số hàng đơn vị bằng thổ ngữ cũng dần dần mai một. Những con số thường nhật Ngành khảo cổ cho biết rất ít thông tin về việc dùng các số trong kinh tế ở châu Mỹ thời tiền Christophe Colomb. Tuy nhiên, chúng ta biết chắc hệ số Maya được sáng tạo ra bằng cách đếm trên đầu ngón tay và ngón chân. Ví dụ trong tiếng Quiche, từ chỉ số 20 là huvinak, có nghĩa là "toàn thân". Cách đếm này trong hệ đếm thập phân: 11 là hulahuh có nghĩa là hun (1) cộng với lahuh (10). Các con số rõ ràng được sử dụng rất giống với cách chúng ta sử dụng để đếm ngày nay, nhưng có một khác biệt là người Maya phải dùng đến những từ phân loại để miêu tả các vật được đếm, chỉ rõ vật được đếm có hình tròn, dài hay ở trạng thái đặc, lỏng. Ví dụ, nói về thuốc lá, người Yucatec nói: "Đây là hun (một) dzit " (vật thể dài, hình trụ) gọi là chamal (điếu thuốc lá) chứ không nói là "đây là một điếu thuốc lá" Lịch Mặt trời chính thức Lịch Maya được xây dựng trên cơ sở năm Mặt trời với 365 ngày, do người Maya kế thừa các nền văn minh cổ Zapotecs (ở Mont Alban) và Olmecs (ở La venta và Tres Zapotes). Với độ dài không đổi, một năm Mặt trời được chia thành 18 tháng, mỗi tháng 20 ngày (dùng hệ đếm cơ số 20), 5 ngày còn lại được đưa vào cuối năm. Mỗi tháng có một tên gọi dường như không hề có liên quan gì với mùa vụ hoặc lễ hội. Tên gọi các tháng được truyền theo truyền thống hoặc thậm chí có khả năng được mượn từ các thứ tiếng khác hoặc các nền văn hóa khác. Chúng cũng chỉ có ý nghĩa trong lịch sử chứ không giống như tên tháng trong các ngôn ngữ châu Âu hiện nay, có nguồn gốc từ tiếng Latinh mà nguyên nghĩa của nó hiện nay vẫn còn một số người hiểu được. Các ngày trong tháng được ghi bằng số thứ tự từ 0 đến 19 đặt trước tên tháng (Từ 0 đến 4 cho tháng thiếu, cuối năm chỉ có 5 ngày). Như thể, mỗi ngày được định tên chính xác trên trục thời gian. Các năm nối tiếp nhau không ngừng và không có năm nhuận. Bản đồ lịch của người Maya Lịch của các thày bói Ngày xưa, những người da đỏ Quiche, Ixil và Mam vẫn dùng lịch Maya truyền thống có 260 ngày để dự đoán tương lai. Tại sao lại có 260 ngày? Sau khi phỏng đoán nhiều thày bói ở Chichicastenango và Momstenango, nhà nhân chủng học Đức Leohard Schultze Jena đã phát hiện ra rằng việc chọn độ dài này không phải ngẫu nhiên, mà do phù hợp với thời gian mang thai của con người. Bất luận nguồn gốc thế nào hệ đếm hai mươi cho phép chia năm có 260 ngày thành 13 tháng, mỗi tháng 20 ngày. Mỗi ngày được định tên bằng một số từ 1 đến 13, kết hợp với một trong 20 tên gọi các con vật, các lực lượng tự nhiên, các quan niệm hoặc khái niệm trừu tượng mà ý nghĩa đến nay đã mất đi. Cũng giống như lịch Mặt trời, lịch bói toán có chu kỳ, ngày cuối cùng của chu kỳ trước tiếp nối bằng ngày đầu của chu kỳ sau. Chu kỳ lịch Hoán vị lịch 260 ngày với lịch 365 ngày cho ta một chu kỳ 52 năm, trong đó mỗi ngày được gọi bằng một tên khác nhau. Chu kỳ 18980 ngày (52 năm lịch Mặt trời với 365 ngày một năm, hoặc 73 năm lịch bói toán với 260 ngày một năm) này được biết như một đơn vị lớn nhất để đo thời gian của phần lớn các dân tộc Trung Mỹ thời kỳ tiền Christophe Colomb. Không giống người Mextec và Aztec, người Maya quen với nhiều hệ đếm khác nhau và họ sử dụng các đơn vị khác nhau để đo các chu kỳ thời gian dài hơn, nhưng người Maya là ngoại lệ trong những nền văn hóa lớn thời kỳ trước Christophe Colomb. Chữ tượng hình Chúng ta biết rằng ngày tháng được đặt tên, và một phần đa số hóa. Ngày nay, nhiều thầy bói người da đỏ vẫn dùng tiếng nói riêng của họ để gọi tên ấy. Người Maya thời tiền Christophe Colomb có thể viết tên tất cả các ngày trong một chu kỳ lịch bằng chữ tượng hình. Có 4 tập sách dùng chữ tượng hình còn lại đến ngày nay, hiện được lưu giữ ở Paris, Dresden Madrid và Mexico city. Vô số những chữ khắc trên đá, một số tranh khắc trên tường và rất nhiều đồ gốm trang trí luôn là những tư liệu đáng khâm phục về hệ thống chữ viết độc đáo này. Cách đơn giản nhất để ghi các con số từ 0 đến 19 là những dấu chấm (cho các đơn vị). Với các con số lớn hơn, người ta dùng một ký hiệu cho 20. Để ghi số lớn hơn 40, hệ thống ghi giá trị theo vị trí được sử dụng với một ký hiệu đặc biệt tương đương với số 0 của chúng ta tại vị trí trống. Mỗi vị trí đại diện của lỹ thừa 20, cho đến vị trí thứ ba thì nhân với 18, cụ thể là: vị trí thứ nhất 200 = 1; vị trí thứ hai 201 = 20; vị trí thứ ba 18 x 201 = 360; vị trí thứ 18 x 202 = 7200; vị trí thứ năm 28 x 203 = 144000,v.v... Chữ tượng hình của người Maya Đếm ngày Rất sớm, và không muộn hơn kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, người da đỏ Trung Mỹ đã sáng chế ra một cách để tính thời gian: đánh số ngày (cuenta larga, có nghĩa là "đếm dài"). Hệ thống này độc lập với các chu kỳ lịch đã nói trên, đếm ngày tiếp ngày bắt đầu từ một ngày xa xưa ít nhiều mang tính thần bí. Hệ thống ngày rất chính xác này đã trợ giúp đắc lực cho các nhà nghiên cứu hiện đại đầu thế kỷ XX khi người ta thiết lập được tương quan giữa nó và lịch của chúng ta. Mục đích nguyên thủy của hệ thống ghi ngày tháng này là phục vụ cho người Maya trong việc hệ thống hóa các ngày lịch sử quan trọng có liên quan tới các thần thánh, hay lãnh tụ của họ. Những chu kỳ lịch khác. Người Maya xưa còn sử dụng những chu kỳ lịch khác nữa cho các mục đích lịch sử, bói toán hoặc suy đoán. Chẳng hạn từ chữ tượng hình G1-G9 người ta còn biết sự tồn tại của một chu kỳ lịch 9 ngày (hoặc đêm), dành cho 9 vị thần. Hơn thế, một tổ hợp các chu kỳ ngắn 7, 9 và 13 ngày, mỗi chu kỳ dành cho một loại thần linh khác nhau, tạo thành một chu kỳ 819 ngày phục vụ mục đích bói toán. Thiên văn Không dừng lại ở việc quan sát các ngôi sao và dự đoán gần đúng chuyển động của các thiên thể, các nhà thiên văn Maya đã sử dụng một hệ thống số và bảng tính rất tinh xảo, kết hợp với chữ tương hình để thực hiện các phép toán phức tạp với các con số hàng triệu. Đầu tiên, các nỗ lực của họ hướng về phía Mặt trời và Mặt trăng. Họ dùng các năm có độ dài khác nhau về mặt bản chất. Thông thường, năm chuẩn dài 365 ngày được coi là cơ sở, nhưng cũng có thể có những năm 364 ngày hay 365 1/7 ngày, tương tự như lịch Julilan (lịch của Jules César) Mặt trăng luôn có mặt trong các lịch chạm trên đá. Lịch này thường bắt đầu bằng một ngày căn cứ vào pha của Mặt trăng và vị trí của ngày đó trong một lịch của 6 tháng Mặt trăng. Các nhà thiên văn Maya cũng đã tính được quỹ đạo của sao Kim và kết quả 584 ngày gần đúng một cách đáng kinh ngạc so với kết quả tính toán của các nhà thiên văn học hiện đại. Nhưng họ chưa dừng ở đây, sách chép tay Maya ở Dresden còn các bảng hiệu đính, cho phép hiệu chỉnh các sai lệch rất nhỏ so với các giá trị đó, để phát hiện những sai lệch này cần có thời gian quan sát kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, người Maya đã thành công trong việc tính toán chuyển động của nhiều hành tinh khác như sao Hỏa hay sao Mộc, nhưng điều này chưa được chứng minh. Bước vào toán học thuần túy Với người Maya, lý do cơ bản khiến họ xây dựng các loại lịch, cách tính toán thiên văn là tôn giáo, bói toán và đoán định tương lai. Các chuyên gia về lịch của họ đã dành thời gian để thiết lập tương quan giữa các chu kỳ lịch khác nhau, dùng bội số chung nhỏ nhất và các phương pháp khác để tiên đoán tương lai, hoặc nối hiện tại với những sự kiện quan trọng trong quá khứ. Bằng cách này họ cũng có thể khám phá đôi chút về số mệnh của các thân của chủ của họ - dù đó là thủ lĩnh hay cá nhân khác. Những tính toán thực tế đã giải được các thuật toán phối hợp và các lý thuyết có đặc trưng xác suất. Nhiều tính toán đã được đẩy xa về quá khứ và tương lại tới mức gây cho người ta ấn tượng các giáo sĩ phụ trách về lịch mong muốn trước tiên thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của bản thân mình, và thăm dò những giới hạn của khả năng toán học của mình. Điều đó cho phép chúng ta nói rằng người Maya cũng như trước và sau họ, người Babylone, người Hy Lạp, người Ả Rập và người Ấn Độ đều đã có một trực giác toán học thuần túy tuyệt vời. Berthold Riese người Đức, chuyên gia về các nền văn hóa của người Mỹ da đỏ. Ông đã xuất bản Maya Kalender und Astronomic, một công trình tập thể do Ulrich Kohler chủ biên (1988) Chữ số Maya từ 1 đến 13 dùng chấm và gạch Ai dạy người Maya cách tính lịch? Người Maya sáng tạo được một nền toán học phát triển vượt bậc, để có thể ghi chép các sự kiện theo năm tháng nhằm quyết định thời gian gieo trồng và thu hoạch, tính toán một cách chính xác thời tiết và những ngày mưa nhiều nhất trong năm. Kỹ thuật toán học của họ trong các dân tộc thời cổ đại nguyên thủy khiến các nhà khảo cổ không khỏi kinh ngạc, nhất là việc họ rất thành thạo khái niệm về số "0". So với các nhà buôn Ả Rập vượt sa mạc đưa khái niệm số "0" truyền từ Ấn Độ sang châu Âu thì người Maya sớm hơn 1000 năm. Người Maya tính ra mỗi tháng có 20 ngày, mỗi năm có 18 tháng cộng thêm mỗi năm có 5 ngày kiêng kỵ không đưa vào tháng nào. Nhờ vậy số ngày thực chất trong một năm là 365 ngày. Số đó vừa vặn trùng hợp với nhận thức quay về thời gian Trái đất tự quay và quay quanh Mặt trời hết một chu trình. Người Maya ngoài sự hiểu biết về lịch Trái đất chuẩn xác, họ còn rất am hiểu về lịch năm của sao Kim. Một năm của sao Kim, tức là thời gian để sao Kim quay quanh Mặt trời hết một chu trình, người Maya tính ra một năm sao Kim dài 584 ngày. Còn ngày nay tính ra một năm sao Kim dài 583,92 ngày. Đó là một con số chuẩn xác đến kinh ngạc mà người Maya đã có phương pháp tính lịch từ mấy ngàn năm trước. Quan sát sao Kim trên đài thiên văn Chichen Itza rong thực tiễn xã hội và sản xuất, phần đông các dân tộc căn cứ vào con số ngón tay để sáng tạo ra phép đếm cơ số 10. Còn người Maya lại căn cứ vào số ngón tay và ngón chân cộng lại để sáng tạo ra phép đếm cơ số 20. Ngoài ra họ còn sử dụng thêm cả phép đếm cơ số 18, phép đếm này gợi ý về cái gì? Lấy cái gì làm căn cứ? Người Maya còn là dân tộc đầu tiên trên thế giới nắm vững khái niệm cơ số "0", nhận thức và vận dụng số "0" trong toán học đánh dấu trình độ nhận thức của một dân tộc. Về vấn đề này, người Maya so với người Trung Quốc và người châu Âu đã sớm hơn được 3800 năm và 1000 năm. Kim tự tháp mà người Maya căn cứ vào lịch pháp của mình để xây dựng nên, thực chất là một đàn cúng tế thần linh kiêm đài quan trắc thiên văn. Đài thiên văn ở Chichén Itzá là đài thiên văn số Một do người Maya xây dựng nên cũng là đài thiên văn cổ nhất. Đỉnh chóp của đài thiên văn này cao trội hẳn lên trên các ngọn cây trong rừng rậm, bên trong có một cầu thang tròn lên tận đỉnh chóp của đài quan sát. Trong đỉnh chóp có các cửa sổ để quan trắc các tinh tú. Bên ngoài vách đá của tháp có trang trí hình khắc thần mưa, còn có cả hình khắc phù điêu hình người vươn cánh tay bay vào Vũ trụ. Tất cả cái đó làm các nhà khảo hổ học và khoa học có nhiều suy nghĩ và giả thiết. Cửa sổ đài thiên văn Chichén Itzá của họ không phải hướng về những vì sao sáng nhất mà họ hướng về nơi màn đêm trầm lặng bên ngoài dải Ngân Hà. Còn lịch pháp của họ thì có thể duy trì được đến 400 triệu năm sau, nó được dùng để làm gì? Ngoài ra họ tiếp thu từ đâu mà tính ra được năm Mặt trời và năm sao Kim với độ chính xác chỉ sai ở những con số sau dấu phảy? Rất hiển nhiên, tất cả những kiến thức đó đã vượt ra ngoài nhu cầu thực tế của người Maya đang sống trong thời kỳ xã hội nông nghiệp và khiến cho các nhà khảo cổ chưa thể giải thích được. Đã nằm ngoài nhu cầu của họ thì chứng tỏ những kiến thức đó không phải do người Maya sáng tạo ra. Vậy ai đã truyền cho người Maya những kiến thức đó? Trong thời đại mà tất cả mọi dân tộc trên Trái đất đều đang sống trong mông muội, ai đã nắm được những kiến thức tiên tiến như vậy? Hạn hán theo chu kỳ đã tiêu diệt nền văn minh Maya án đảo Yucatan ở Trung Mỹ, quê hương của nền văn minh Maya nổi tiếng, dường như là nạn nhân của các đợt hạn hán lặp lại sau 208 năm, trùng với chu kỳ hoạt động 206 năm của mặt trời. Đây là công bố mới nhất của các nhà nghiên cứu Mỹ. Hạn hán theo chu kỳ vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay Đợt hạn hán tồi tệ nhất dường như đã đóng vai trò quyết định trong sự sụp đổ của nền văn minh này vào khoảng năm 900 sau Công nguyên (CN). Maya nằm trong số những nền văn minh cổ xưa vĩ đại của Trung Mỹ, đạt đỉnh cao vào thế kỷ 9. Người Maya đã tạo ra những thành phố tôn giáo vĩ đại, hệ thống lịch và toán học phức tạp, hệ thống chữ viết tượng hình, các tác phẩm điêu khắc, tranh vẽ tinh xảo... Đặc biệt, họ đã xây dựng các kim tự tháp bằng đá cao vút ở nhiều nơi, chẳng hạn Tikal ở Guatemala, Palenque ở Mexico và Copan ở Honduras. Dấu vết hạn hán Vào năm 1993, Giáo sư David Hodell và cộng sự tại Đại học Florida, Mỹ, đã thu thập các mẫu trầm tích từ đáy hồ Chichancanab, Mexico, phía bắc bán đảo Yucatan, để thành lập “hồ sơ” biến đổi khí hậu trong vùng. Họ tìm thấy ở đây lượng lớn thạch cao (canxi sun-phát) tập trung tại các tầng ngẫu nhiên. Các nhà nghiên cứu cho rằng, khi lượng mưa giảm đi, nước hồ bốc hơi đã khiến muối lắng đọng xuống đáy, tạo thành các lớp thạch cao mỏng. Như vậy, các tầng thạch cao tìm thấy ở hồ Chichancanab chính là bằng chức xác thực cho các giai đoạn hạn hán trong lịch sử vùng này. Chu kỳ hạn hán khá đặc biệt, lặp lại cứ sau 208 năm. Khoảng thời gian này gần như trùng hợp với biên độ hoạt động của mặt trời đã được biết trước đây: Mặt trời phát năng lượng cực đỉnh sau 206 năm. “Dường như sự thay đổi trong năng lượng toả ra từ mặt trời đã tác động trực tiếp lên khí hậu vùng Yucatan và gây ra những đợt hạn hán tái diễn, lần lượt ảnh hưởng đến sự tiến hoá của người Maya”, GS Hodell cho biết. “Không chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên” Các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy một số thời kỳ hạn hán khác trùng hợp với sự suy giảm hoạt động xây dựng của người Mayan. Đó là năm 475-250 trước CN và 125-210 sau CN. Đợt hạn hán khắc nghiệt nhất diễn ra vào năm 750-850 sau CN, trùng hợp với thời kỳ nền văn minh Maya rơi vào quên lãng. Những bằng chứng cho thấy hạn hán đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền văn minh Maya. Điều này không đồng nghĩa là kết luận, nhưng “khó có thể chỉ là sự trùng hợp thông thường”, Hodell nhận định. Ông cũng cho biết: “Tôi nghĩ hạn hán đã đóng một vai trò quan trọng, nhưng sẽ còn những nhân tố khác, chẳng hạn tăng dân số, suy thoái đất trồng và những thay đổi về chính trị - xã hội, đã phối hợp tác động”. Các nhà nghiên cứu khí hậu khác khi sử dụng phương pháp tính tuổi vòng cây cũng đã tìm thấy bằng chứng của chu kỳ hạn hán lặp lại sau mỗi hai trăm năm, cùng với nhịp điệu biến động của mặt trời. Nguồn:http://vietnamcayda.com./diendan/showthread.php?t=592
  18. Đây là đường link của trang web luatgiapham.com, đầy đủ tài liệu về Hải quan, anh tham khảo xem sao: http://www.luatgiapham.com/phap-luat/hanh-...292001qh10.html Theo mình, thị trường đồ cổ Việt Nam báo nháo, lộn xộn, không ổn định. Anh hãy liên hệ ở những cơ quan có chức năng chuyên nghiệp, uy tín nhé.
  19. Trống đồng Đông Sơn thuộc loại quý của quốc gia. Tốt nhất là đừng giao dịch mua bán dù là thật hay giả. Không khéo tiền mất tật mang đấy bạn.
  20. Hình như có liên quan đến bãi đá cổ Sapa thì phải. Mời ACE tham khảo Những hình chạm khắc tại Ai Cập 3000 năm trước Vào năm 1848, một đoàn nghiên cứu khảo cổ làm việc tại Ai Cập đã khám phá ra những ký hiệu bí mật kỳ lạ trên một đoạn rầm trên trần tại một ngôi đền cổ tại Abydos, vài trăm dặm về phía Nam Cairo. Những ký hiệu này đã được sao chép cẩn thận và gửi về Châu Âu. Bí ẩn của những hình vẽ này đã gây tranh cãi nóng bỏng trong những nhà Ai Cập học lúc bấy giờ, tuy nhiên dần dần, do không thể hiểu các hình vẽ đó nói về điều gì, họ đã gạt nó sang một bên như là những vật thể kỳ dị mà không ai có một giải thích thỏa đáng nào, rồi rơi vào quên lãng. Vào giữa thập kỷ 90 thế kỷ trước, những bức ảnh và phim video, được chụp đầu tiên bởi những du khách viếng thăm Abydos, bắt đầu xuất hiện trên internet. Chúng mô tả “những ký hiệu tượng hình về những cỗ máy kỳ lạ” vốn đã được khám phá vào thế kỷ 19. Ngôi đền mà người ta tìm thấy những ký hiệu tượng hình này được xây dựng vào thời Pharaong Seti I khoảng 3000 năm trước. Đối với những người quan sát hiện đại chúng rõ ràng đó là những cỗ máy kỳ lạ, nhưng lại hết sức bí ẩn đối với những người thuộc thời của nữ hoàng Victoria. Thực tế chúng là nhiều chủng loại khác nhau của các thiết bị bay cùng với một chiếc xe tăng, và trong số những thiết bị bay là một chiếc máy bay trực thăng! Đó là một trong những khám phá gây sửng sốt nhất được tìm thấy tại Ai Cập. Gần đây, tờ báo uy tín của A Rập “Al-Sharq Al-Awsat” đã phát hành nhiều ảnh được chụp tại một ngôi đền Ai Cập khác, đền thờ Amon Ra tại Karnak. Các bức ảnh là những chạm khắc khoảng 3000 năm trước đây. Chúng tỏ ra rất giống với những hình chạm khắc tìm thấy tại Abydos. Đó là một máy bay trực thăng chiến đấu với một động cơ và một bộ đuôi, và gần đó, một thiết bị bay hiện đại. Thế là, trong thực tế thì không phải 1, mà có đến 2 bộ hình chạm như thế tại Karnak and Abydos. Vậy nếu những người Ai Cập cổ không có công nghệ để chế tạo các trực thăng hay các thiết bị bay khác, thì những hình ảnh về các cỗ máy bay đó nguồn gốc từ đâu? Cái lịch sử loài người mà ta được học hiện nay lại một lần nữa bất lực. Có nhiều thư viện huyền thoại cổ xưa, như là Thư viện Alexandria và những thư viện cổ Trung Hoa đã bị tiêu hủy. Nhiều trong số các bằng chứng vô giá về quá khứ xa xăm đã bị xóa sạch. May thay, những văn bản cổ đại vẫn còn được lưu giữ, một phần tại Ấn Độ. Vô cùng kinh ngạc khi biết rằng một vài trong những ghi chép tiền sử ấy kể về những thiết bị bay tinh xảo cao cấp. Hình chạm này thể hiện cái gì, nếu không phải là một cái xe tăng? Gần đây, có một báo cáo TQ vừa khám phá những văn bản tiếng Phạn thượng cổ tại Tây Tạng và đã gửi chúng về trường đại học Chandrigarh ở Ấn Độ để dịch. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy những tài liệu này chứa những chỉ dẫn chế tạo các phi thuyền vũ trụ. Những bằng chứng thêm nữa cho thấy thứ được gọi là “Đế chế Rama” miền Bắc Ấn và Pakistan là cổ xưa hơn nhiều so với những gì họ từng nghĩ trước đây. Tàn dư của những thành phố tân kỳ vẫn được tìm thấy trong sa mạc Pakistan, và tại Bắc và Tây Ấn Độ. Theo những văn bản Ấn Độ cổ, Đế chế Rama có những thiết bị bay được gọi là “Vimana”. Có vô số văn bản về Vimana được miêu tả hết sức chi tiết. Những người Ấn Độ tiền sử đã viết toàn bộ các chỉ dẫn sổ tay và sách học về cách điều khiển nhiều loại Vimana khác nhau, nhiều sách trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; một số đã được dịch sang Anh ngữ. Những loại Vimana khác nhau được miêu tả, một số thì hình đĩa, số khác thì hình điếu xì gà. Vimana có vẻ được cung cấp năng lượng bởi vài loại thiết bị phản trọng lực, khiến nó có thể cất cánh theo chiều thẳng đứng và bay lượn trong không gian. Các chuyên gia Ai Cập học đều biết nhiều bí ẩn của Ai Cập thời thượng cổ là không thể giải thích được nếu sử dụng cái khung hạn hẹp của cách nghĩ truyền thống. Ví dụ họ hoàn toàn không thể giải thích thấu đáo làm thế nào các kim tự tháp được xây dựng nên, và làm thế nào nền văn minh Ai Cập thượng cổ xuất hiện một cách đột ngột với trình độ rất cao ngay từ thủa khai sinh? Nguyên nhân nào Kim tự tháp lớn Giza lại được xây dựng với công nghệ cao hơn nhiều so với các kim tự tháp nhỏ được xây dựng sau nó? Có rất nhiều mẫu vật đáng tin cậy như những gì chúng ta đã thấy từ đầu thường không được một số “khoa học gia” và các “chuyên gia” để ý một cách đúng mực, họ cũng không khách quan nghiên cứu và tìm hiểu nghiêm túc, chính là bởi vì : nó quá trực quan, đối nghịch với thành kiến của họ, và nó không nằm lọt thỏm trong cái khung hạn hẹp của những “hiểu biết” mà họ được những đàn anh bơm vào não từ khi còn là học sinh tiểu học. Họ nghi ngờ và loại bỏ tất cả những gì không nằm trong cái khung ấy, cũng như cố gắng bằng mọi giá uốn ép những bằng chứng khách quan cho vừa vặn lọt vào cái khung, chứ không muốn cải biến chính cách tư duy sao cho toàn diện và khoa học hơn, cho phù hợp với thời đại và thực tiễn khách quan. Hầu như tất cả chúng ta đều khẳng định 100% những hình chạm khắc trên thể hiện những chiếc trực thăng và những thiết bị bay công nghệ cao – nếu họ chưa biết chúng được tìm thấy ở đâu. Thú vị hơn nữa, là hình chạm khắc thượng cổ đó lại thể hiện như một chiếc trực thăng chiến đấu, một phương tiện chiến tranh. Hết phần 1.
  21. Thực tế Piri Re’is bản thân cũng khẳng định ông đã lấy những bản đồ cổ hơn làm nguồn; và những bản đồ này đã được dùng như là nguồn gốc cho những người đã vẽ những tấm bản đồ khác nhau mà cho đến lúc đó vẫn ở độ chính xác tuyệt vời. Ấn tượng là “Dulcert's Portolano” “Bản đồ của Dulcert” năm 1339, vĩ độ của Châu Âu và Bắc Phi là hoàn hảo, và tọa độ kinh độ của Địa Trung Hải và Biển Đen là chính xác đến từng nửa độ. Và đáng kinh ngạc hơn là “Zeno's chart”, “Bản đồ của Zeno”, vẽ năm 1380. Nó cho thấy một vùng rộng lớn ở phía Bắc, chạy dọc đến Greenland; độ chính xác của nó gây sửng sốt. Một bản đồ gây sửng sốt nữa được vẽ bởi Hadji Ahmed người Thổ Nhĩ Kỳ, vào năm 1559, trong đó ông thể hiện một dải đất liền khoảng 1600km chiều rộng, nối liền Alaska và Siberia. Giống như một cây cầu tự nhiên từng tồn tại, đã bị bao phủ bởi nước vào cuối kỷ Băng Hà vừa rồi khi mực nước biển tăng lên. Oronteus Fineus là một người khác đã vẽ một tấm bản đồ chính xác khó tin khác. Ông đã vẽ Nam Cực không có băng, vào năm 1532. Có những tấm bản đồ thể hiện Greenland làm 2 phần tách biệt, đúng như sự khẳng định của đội thám hiểm địa cực người Pháp đã khám phá ra có một tảng băng rất dày nối liền 2 hòn đảo tách biệt để tạo thành Greenland. Như ta đã thấy, nhiều bản đồ là thuộc về những thời kỳ rất cổ xưa, và ta có thể nói rằng toàn thể hành tinh đều đã được vẽ trên bản đồ vào thời đó. Chúng dường như là những mảnh nhỏ của một tấm bản đồ thế giới cổ đại, được vẽ bởi những người bí ẩn sở hữu những công nghệ rất cao ngay cả so với ngày nay. Khi toàn thể loài người có lẽ còn sống trong thời kỳ hoang sơ thì ai đó đã “vẽ ra giấy” toàn bộ bề mặt địa lý của hành tinh. Và nó là một kiến thức phổ biến, bằng một cách nào đó bị chia cắt thành nhiều mẩu nhỏ để rồi lại được tập hợp đây đó bởi một vài người, và họ chỉ sao chép những gì họ có thể tìm thấy trong các thư viện, các khu chợ Đông Phương và bất cứ nơi nào họ tìm thấy chúng. Hapgood đã vạch rõ những điều kinh ngạc hơn nữa: Ông đã tìm thấy một tài liệu bản đồ được sao chép bởi một nguồn cổ hơn được vẽ trên một cột đá, ở TQ, vào năm 1137. Nó thể hiện cũng một trình độ kỹ thuật công nghệ cao như thế, với cùng một phương pháp lưới ô, với cùng sự sử dụng phương pháp lượng giác hình cầu như vậy. Nó có quá nhiều điểm chung với những bản đồ Châu Âu khác, khiến ta phải nghĩ rằng phải có một nguồn gốc chung: có thể nó thuộc về một nền văn minh đã diệt vong nhiều ngàn năm trước? Như chúng ta có thể thấy bên dưới, một phép chiếu góc cực (nhìn Địa Cầu từ một điểm trên cao), từ một điểm bên trên Cairo, Ai Cập thuộc châu Phi cho thấy tấm bản đồ của Piri Re’is hoàn toàn tương đương với một bản đồ vệ tinh hiện đại
  22. Nguồn:vietnamcayda.com Có nhiều khám phá rải rác trên phạm vi toàn thế giới chứng tỏ từ thời xa xưa, trên hành tinh Trái Đất nhỏ bé của chúng ta đã từng tồn tại ít nhất một nền văn minh toàn cầu có trình độ kỹ thuật cao không kém gì so với nền khoa học kỹ thuật hiện đại của chúng ta ngày nay, thậm chí về một số mặt còn vượt trội hơn. Bằng chứng đầu tiên: Điện đã từng được biết đến và sử dụng trong nhiều nền văn minh tiền sử. Pin điện tiền sử. Tại I Rắc: Năm 1936, trong các cuộc khai quật một ngôi làng cổ 2000 năm tuổi ở phía Đông Ai Cập vài trăm km, ngày nay thuộc I Rắc, những người công nhân đã khám phá ra những bình gốm nhỏ kỳ lạ. Những bình này có chứa các trụ đồng được ngâm trong một loại dung dịch đã đông đặc, gắn vào bình bằng nhựa đường, được định niên vào khoảng từ năm 248 trước công nguyên đến 226 sau công nguyên. Trong số này có một bình bằng đất nung cao 6 inch, màu vàng sáng có chứa một trụ đồng kích thước 5 inch chiều dài x 1,5 inch đường kính tiết diện. Ở giữa các trụ bằng đồng là một lõi thép cũng được gắn vào bằng keo nhựa đường. Nhà khảo cổ học nổi tiếng người Đức Wilhelm Konig, đã kiểm tra mẫu vật và đưa ra một kết luận đáng ngạc nhiên : cái bình gốm này không có gì khác hơn chính là một pin điện thời tiền sử. Pin điện tiền sử, được trưng bày tại Viện bảo tàng Baghdad Pin điện tiền sử tại viện bảo tàng Bát Đa, cũng giống như những bình pin gốm khác được đào lên, tất cả đều được định niên từ năm 240 TCN đến năm 226 sau công nguyên trong thời chiếm đóng của đế chế Parthi. Tuy nhiên, tiến sĩ Konig còn phát hiện được những bình đồng mạ bạc khác trong viện bảo tàng Bát Đa, được khai quật từ những vùng đất cổ của người Sumer ở miền Nam I Rắc, qua giám định niên đại cho thấy ít nhất có từ 2500 năm trước công nguyên. Khi những cái bình này được dùi nhẹ vào, một lớp gỉ đồng tách ra từ bề mặt, có đặc điểm của một vật được mạ điện bạc lên một vật bằng đồng. Điều này làm ta không thể không nghĩ rằng những người Pathi đã thừa kế những Pin này từ nền văn minh Sumer, một trong những nền văn minh sớm nhất được biết đến. Vào năm 1940, Willard F.M. Gray, một kỹ sư từ General Electric High Volatage Laboratory tại Pittsfield, Massachusetts, Mỹ, đã đọc những lý luận của Konig. Dùng những bản vẽ và các chi tiết được cung cấp bởi nhà khoa học hỏa tiễn người Đức Willy Ley, Gray đã làm ra một bản sao từ Pin này. Dùng dung dịch Đồng Sunphát, nó cho một dòng điện khoảng nửa Vôn. Vào thập kỷ 70 thế kỷ trước, Nhà Ai Cập học người Đức, Arne Eggebrecht đã làm ra một bản sao của Pin Bát Đa và dùng dung dịch nước nho ép nguyên chất mà ông phỏng đoán những nhà khoa học tiền sử đã dùng. Bản sao này đã sinh ra dòng điện 0,87V. Ông đã dùng dòng điện này để mạ vàng cho một bức tượng bằng bạc. Thí nghiệm này đã chứng minh rằng những Pin điện đã được sử dụng khoảng 1800 năm trước khi viên Pin đầu tiên được phát minh bởi Alessandro Volta năm 1799. Cũng dễ nhận thấy việc sử dụng những pin tương tự có thể đã được những người Ai Cập cổ đại biết đến, nơi mà vài mẫu vật với dấu vết mạ điện những kim loại quý được tìm thấy tại nhiều địa điểm khác nhau. Có vài khám phá dị thường từ nhiều vùng khác nhau, cho phép khẳng định điện đã được sử dụng trong một quy mô lớn. Bằng chứng thứ 4: Kỹ thuật hàng không vũ trụ thời tiền sử Từ những tấm bản đồ cổ đại … Bản đồ Piri Re’is Vào năm 1929, một nhóm các nhà sử học đã tìm thấy một bản đồ kì lạ được vẽ trên da linh dương gazel. Nghiên cứu cho thấy đó là một bản đồ thật được vẽ vào năm 1513 bởi Piri Re’is, một đô đốc hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ thứ 16. Niềm yêu thích của ông ta là nghệ thuật vẽ bản đồ. Địa vị cao trong hàng ngũ hải quân Thổ khiến ông được phép tiếp cận với Thư viện Hoàng gia Côngstantinốp. Ông khẳng định rằng bản đồ mà ông biên soạn là sao chép lại dữ liệu từ nhiều bản đồ khác nhau, một vài trong số đó có giám định niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Bản đồ thể hiện vùng bờ biển Tây Phi, bờ biển Nam Mỹ, và bờ Bắc của Nam Cực. Đường bờ biển Nam Cực được vẽ chi tiết đến hoàn hảo. Tuyến bờ biển dọc Nam Mỹ và Bắc Mỹ, thậm chí cả hình dáng của Cực Nam cũng đều được vẽ một cách tỷ mỷ trong bản đồ Re’is. Ở đó không chỉ thể hiện hình dáng của đại lục, vẽ tỷ mỷ sự phân bố địa hình trong đất liền mà còn chứa đựng những điểm cực kỳ chính xác, biểu thị đầy đủ núi, dãy núi, đảo, sông, suối và cao nguyên. Điều khiến người ta kinh ngạc là dãy núi ở cực Nam đến năm 1852 mới phát hiện ra, nhưng nó đã được vẽ đầy đủ trên bản đồ Re’is. Tuy nhiên câu hỏi làm sao Piri Re’is có thể vẽ một bản đồ chính xác đến thế của vùng Nam Cực đến 300 năm trước khi nó được khám phá không phải là câu hỏi lớn nhất, mà việc bản đồ thể hiện đường bờ biển Nam Cực nằm dưới lớp băng dày mới là bí ẩn khó giải thích nhất. Các bằng chứng địa chất khẳng định rằng thời điểm mà vùng đất Queen Maud Land của Nam Cực không có băng giá gần đây nhất là vào khoảng 4000 năm trước công nguyên. Vào ngày 6/7/1960 Không lực Hoa Kỳ đã trả lời giáo sư Charles H. Hapgood của trường đại học Keene College một cách chính xác các thỉnh cầu của ông về việc thẩm định giá trị của bản đồ tiền sử Piri Re’is. Nội dung bức thư như sau: 6, July, 1960 Subject: Admiral Piri Reis Map TO: Prof. Charles H. Hapgood Keene College Keene, New Hampshire Dear Professor Hapgood, Your request of evaluation of certain unusual features of the Piri Reis map of 1513 by this organization has been reviewed. The claim that the lower part of the map portrays the Princess Martha Coast of Queen Maud Land, Antarctic, and the Palmer Peninsular, is reasonable. We find that this is the most logical and in all probability the correct interpretation of the map. The geographical detail shown in the lower part of the map agrees very remarkably with the results of the seismic profile made across the top of the ice-cap by the Swedish-British Antarctic Expedition of 1949. This indicates the coastline had been mapped before it was covered by the ice-cap. The ice-cap in this region is now about a mile thick. We have no idea how the data on this map can be reconciled with the supposed state of geographical knowledge in 1513. Harold Z. Ohlmeyer Lt. Colonel, USAF Commander. Giáo sư Hapgood thân mến, Thỉnh cầu thẩm định các đặc điểm bất thường của bản đồ Piri Re’is được vẽ năm 1513 tới chúng tôi đã được xem xét. Lời khẳng định rằng phần dưới của bản đồ biểu thị bờ biển Princess Martha của Queen Maud Land Nam Cực và Bán đảo Palmer là hợp lý. Chúng tôi thấy rằng đây là một kết luận hợp lôgic nhất và có khả năng đúng nhất. Các chi tiết địa lý thể hiện trong phần dưới của bản đồ cực kỳ giống với các kết quả của phương pháp đo đạc dùng sóng địa chấn xuyên qua đỉnh của chỏm băng bởi các nhà thám hiểm Thụy Điển – Anh vào năm 1949. Điều này cho thấy đường bờ biển đã được vẽ trước khi nó bị băng bao phủ. Chỏm băng trong khu vực hiện nay dày khoảng 1 dặm. Chúng tôi không thể hiểu nổi làm thế nào dữ liệu trên tấm bản đồ này có thể được biết đến với tình trạng kiến thức địa chất vào năm 1513. Khoa học chính thống khẳng định rằng chỏm băng bao phủ Nam Cực là hàng triệu tuổi. Bản đồ Piri Re’is cho thấy vùng phía Bắc của lục địa Nam Cực đã được vẽ trước khi nó bị băng bao phủ. Điều này không khỏi khiến ta nghĩ rằng nó đã được vẽ ra hàng triệu năm trước, nhưng điều đó là không thể bởi con người theo thuyết tiến hóa* chưa tồn tại vào thời điểm đó. Và các nghiên cứu xa hơn và chính xác hơn đã chứng minh thời kỳ Không Băng gần đây nhất kết thúc vào khoảng 6000 năm trước đây. Vẫn có những nghi ngờ về thời điểm bắt đầu của thời kỳ Không Băng này, được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau dao động vào khoảng từ 13 đến 9 ngàn năm trước công nguyên. Câu hỏi đặt ra là: Ai đã vẽ Queen Maud Land của 6000 trước. Nền văn minh chưa được biết đến nào có công nghệ cần thiết để làm được điều này? Ngày nay người ta cho rằng nền văn minh sớm nhất của loài người, theo lịch sử truyền thống được dạy trong trường, đã phát triển tại Trung Đông vào khoảng năm 3000 trước công nguyên, không lâu sau là nền văn minh thung lũng Indus Ấn Độ, nền văn minh cổ Ai Cập và nền văn minh Hoàng Hà TQ. Vì thế, không có nền văn minh đã biết nào có thể làm công việc này. Ai đã ở đây 4000 năm TCN, để có thể làm những việc mà chúng ta đến tận bây giờ mới làm được với các công nghệ tối tân? Vào thời Trung Cổ đã tồn tại một số bản đồ hàng hải được gọi là "portolani", là thứ bản đồ chính xác của các con đường biển, các đường bờ biển đã biết, các bến cảng, các eo biển, các vịnh … thông thường nhất. Phần lớn những bản đồ này tập trung tại vùng Địa Trung Hải và các biển Aegean, và những con đường được biết khác, như là quyển sách hàng hải mà chính Piri Re’is đã viết. Nhưng một vài báo cáo của những vùng đất vẫn chưa được biết đến, và lưu thông trong một số rất ít thủy thủ có vẻ đã cố gắng giữ kín những kiến thức của họ về những tấm bản đồ đặc biệt đó càng bí mật càng tốt. Piri Re’is có thể đã được tiếp cận với một số bản đồ như thế khi đến Thư viện của Alexandria, thư viện quan trọng nhất nổi tiếng trong thời kỳ cổ đại. Chiểu theo suy luận của Hapgood, những bản copy của những tài liệu này và một số trong những bản đồ gốc đã lưu chuyển đến những trung tâm nghiên cứu khác, và mang chúng tới Côngstantinốp. Thế là vào năm 1204, năm của lần Thập tự chinh thứ tư, khi những người Venetian xâm nhập Côngstantinốp, những bản đồ này bắt đầu quay vòng trong những thủy thủ Châu Âu. Để vẽ tấm bản đồ của mình, Piri Re’is đã dùng nhiều nguồn khác nhau, thu thập đây đó trong suốt những chuyến đi của mình. Chính ông đã ghi chú lại nhiều trên tấm bản đồ này nhờ đó chúng ta có thể hình dung được công việc ông đã làm với tấm bản đồ này. Ông bảo ông không chịu trách nhiệm về các nguồn dùng để vẽ nên bản đồ này. Vai trò của ông đơn thuần là của một người soạn thảo dùng một số lớn các nguồn bản đồ gốc khác nhau. Ông cũng nói rằng một vài trong những bản đồ gốc đã được vẽ bởi một số thủy thủ đương thời, trong khi một số khác là từ các bản đồ rất cổ, có niên đại từ khoảng thế kỷ 4 TCN trở về trước. Sự chính xác tuyệt đối của các bản đồ gốc mà Piri Re’is dựa vào có thể nhận thấy trên tấm bản đồ của ông. Những điểm không chính xác hiếm hoi của bản đồ Piri Re’is là các lỗi của chính Piri Re’is tự gây ra trong quá trình tổng hợp từ các bản đồ tiền sử, mà chủ yếu là : tổng hợp các bản đồ gốc không cùng một tỉ lệ, tổng hợp sai phương vị theo một góc quay lệch. Vào năm 1953, một sỹ quan hải quân gửi tấm bản đồ Piri Re’is đến Thủy Cục Hải Quân Hoa Kỳ. Để giám định nó M.I. Walters, Kỹ sư trưởng của Cục, đã tham vấn Arlington H. Mallery, một chuyên gia lớn về các bản đồ cổ, người đã từng làm việc với ông ta. Sau một nghiên cứu dài hơi, Mallery đã khám phá ra phép chiếu đã được sử dụng trong bản đồ. Để kiểm tra mức độ chính xác của bản đồ, ông đã tạo ra một hệ lưới ô và dịch chuyển bản đồ của Piri Re’is vào quả cầu: bản đồ hoàn toàn chính xác. Ông phát biểu rằng cách duy nhất để vẽ nên một tấm bản đồ chính xác đến thế chỉ có thể là ở góc nhìn từ trên cao, nhưng ai, 6000 năm trước, có thể có máy bay để mà vẽ bản đồ Trái Đất ?? Thủy Cục Hải quân không thể tin nổi vào mắt mình: họ đã, thậm chí có thể sửa lại những lỗi sai trong cái bản đồ hiện đại mà họ đang dùng lúc đó !! Độ chính xác dựa trên sự kiểm tra tọa độ kinh độ, mặt khác, cho thấy để vẽ được bản đồ cần thiết phải dùng phương pháp Lượng giác hình Cầu, một thành tựu chưa được phát minh cho đến giữa thế kỷ 18. Hapgood đã chứng minh rằng bản đồ Piri Re’is là được vẽ trong hình học phẳng, chứa các kinh và vĩ độ vuông góc trong một “lưới ô” truyền thống; bởi thế nó đã được sao lại từ một bản đồ trước mà đã được chiếu ra sử dụng phép lượng giác hình cầu! Không chỉ rằng những người làm ra cái bản đồ gốc đó biết rằng quả đất hình cầu, mà họ còn có kiến thức về chu vi Trái Đất với sai số nhỏ hơn 50 dặm! Hapgood đã gửi bộ sưu tập những bản đồ cổ (chúng ta có thể thấy bản đồ Piri Re’is không phải là bản đồ duy nhất như thế …) đến Richard Strachan, tại Học viện Công nghệ Massachusetts. Ông muốn biết chính xác cấp độ toán học cần thiết để vẽ nên các bản đồ gốc cao đến đâu. Strachan đã trả lời năm 1965 rằng, cấp độ đó phải rất cao. Thực tế Strachan đã nói để vẽ những tấm bản đồ như thế, các phương pháp hình chiếu, kiến thức cần thiết là của một cấp độ cực cao. Xem bản đồ Piri Re’is với các kinh và vĩ độ được chiếu ra: • Bản đồ thứ 1 • Bản đồ thứ 2 Cái cách mà bản đồ Piri Re’is thể hiện Queen Maud Land, các đường bờ biển của nó, các con sông, dãy núi, các sa mạc, các vịnh, có thể được xác nhận bởi một nhóm thám hiểm Anh – Thụy Điển đến Nam Cực (như đã nói bởi Olhmeyer trong thư gửi Hapgood); những nhà nghiên cứu, dùng các thiết bị sonar và sóng địa chấn, đã khẳng định những vịnh và sông, vv … là đang nằm dưới chỏm băng dày khoảng 1 dặm. Charles Hapgood, vào năm 1953, đã viết một cuốn sách tựa đề "Earth's shifting crust: a key to some basic problems of earth science" – “Sự dịch chuyển vỏ Trái Đất: chìa khóa cho những vấn đề cơ bản của khoa học về Trái Đất”, ở đây ông đã xây dựng một thuyết để giải thích làm thế nào lục địa Nam Cực có thể Không Băng cho đến 4000 năm TCN. Bạn đọc quan tâm đến nội dung của thuyết này có thể xem thêm tại đây. Thuyết này có các luận điểm chính như sau: 1. Nguyên nhân Nam Cực không có băng phủ, và vì thế ấm hơn nhiều, là vào một thời kỳ quá khứ xa xôi, địa điểm của nó không phải nằm ở vị trí hiện nay trên vỏ Trái Đất. Nó ngày xưa nằm tại vị trí khoảng 2000 dặm về phía Bắc so với hiện tại. Hapgood nói rằng “có thể đặt nó ra ngoài vòng Nam Cực trong một khí hậu ôn hòa hoặc tương đối lạnh”. Đọc thêm về thuyết Trái Đất đổi trục tại đây. 2. Nguyên nhân lục địa này di chuyển xuống đến địa điểm như ngày nay có thể được tìm thấy trong một cơ chế gọi là “sự trượt vỏ Trái Đất”. Cơ chế này, không nên nhầm lẫn với thuyết về kiến tạo mảng hoặc là sự trượt lục địa, là một thứ nhờ đó mà quyển đá, toàn thể vỏ ngoài của trái đất “có thể dịch chuyển theo thời kỳ, dịch chuyển trượt qua phần dẻo hơn bên trong, giống như là da của một trái cam, nếu nó lỏng lẻo, có thể dịch chuyển trên phần bên trong của quả cam toàn thể đồng thời”. (Charles Hapgood, trích dẫn trong sách "Maps of the ancient sea-kings", Bạn có thể vào đây để tìm thêm thông tin). Thuyết này đã được gửi cho Albert Einstein, và ông rất hứng thú nhiệt tình trả lời một cách nhanh chóng. Mặc dù các nhà địa chất dường như không chấp nhận thuyết của Hapgood, Einstein có vẻ còn cởi mở phóng khoáng hơn cả Hapgood khi phát biểu: “Trong một vùng địa cực có một sự tan rã dần dần của băng tuyết, không được phân phối đồng đều xung quanh cực. Sự xoay chuyển của Trái Đất dựa trên những khối lượng bất đối xứng, và gây ra một xung lượng ly tâm truyền đến lớp vỏ cứng của Trái Đất. Sự tăng dần đều của xung lượng bất đối xứng được sản sinh ra khi đến một điểm giới hạn nào đó, sẽ gây ra một chuyển động của lớp vỏ cứng Trái Đất phía trên phần bên trong của nó”. Lời dẫn của Einstein cho cuốn sách “Sự dịch chuyển lớp vỏ cứng của Trái Đất”, trang 1 "In a polar region there is a continual deposition of ice, which is not symmetrically distributed about the pole. The earth's rotation acts on these unsymmetrically deposited masses, and produces a centrifugal momentum that is transmitted to the rigid crust of the earth. The constantly increasing centrifugal momentum produced in this way will, when it has reached a certain point, produce a movement of the earth's crust over the rest of the earth's body...." (Einstein's foreword to "Earth's shifting crust" p.1) Dù sao, dẫu Hapgood đúng, bí ẩn vẫn nhiều. Bản đồ Piri Re’is là một thứ gì đó có vẻ hoang đường. Dường như không có cách nào mà một người ở trong thời đại xa xưa có thể vẽ một tấm bản đồ chính xác như thế; thực tế các tọa độ kinh độ là hoàn toàn chính xác. Và đó là thể hiện của một trình độ kỹ thuật công nghệ không tin nổi: phương tiện tính toán vĩ độ chính xác tương đối đầu tiên mới chỉ được phát minh vào năm 1761 bởi một người Anh tên là John Harrison, tức là sau Piri Re’is 248 năm. Và trước đó không có cách nào có thể tính toán vĩ kinh độ chính xác đến mức có thể chấp nhận được: phải có những lỗi đến hàng trăm km. Và tấm bản đồ Piri Re’is chỉ là một trong nhiều bản đồ thể hiện những vùng đất chưa được biết đến, những kiến thức không thể tin nổi, với độ chính xác mà ngày nay chúng ta cũng phải kinh ngạc.
  23. Bùi Ngọc Tuấn 14.08.2006 © 2006 talawas Sử liệu cho thấy ông cha ta trên tường chùa làm vào thời Lý thời Trần có những bức vẽ lớn, trong chốn triều đình, sử liệu cũng ghi lại những bức chân dung Khổng Tử và chư thánh được thờ trong Văn Miếu, khi Văn Miếu được xây dựng [1] . Nhưng có phải đến lúc ấy họ mới vẽ tranh đâu? Có phải đến thời ấy họ mới xây dựng đền chùa, cung điện đâu? Qua đường biển, đạo Phật được truyền trực tiếp từ Ấn Ðộ vào Việt Nam trước khi được truyền sang Tàu. Thiền uyển tập anh (viết năm 1337) nhắc lại truyện sư Ðàm Thiên rằng vào cuối thế kỷ thứ 2, đã có 20 chùa, 500 vị sư và đã dịch được 15 bộ kinh [2] . Như vậy, đạo Phật phải được truyền vào nước ta từ khoảng thế kỷ thứ 1 (hay trước đó) và trên tường chùa thời ấy đã hẳn phải có tranh vẽ rồi. Tiếc thay, tranh vẽ trên giấy, trên lụa, trên tường, trên tiền giấy… của ông cha ta đã theo thời gian, đã bị quân Minh hủy diệt, đã bị chiến tranh tàn phá, còn chăng chỉ là lời nhắc trong bia chùa, trong sử sách [3] . Tranh mộc bản của làng Ðông Hồ là tranh thuần Việt, nhưng cũng còn là tranh khá mới, chắc chỉ bắt đầu xuất hiện từ khoảng từ thế kỷ 19, hay 18 mà thôi. Tuy nhiên, hãy trở ngược dòng lịch sử để tìm dấu tích nét vẽ dân gian của ông cha ta. Thử tìm dấu vết nền hội họa cổ truyền Việt Nam trên các món đồ còn sót lại của nền văn hóa thuần Việt. Ðình, chùa, cung điện, tranh vẽ dầu đã mất rồi, nhưng chúng ta vẫn còn lại những hình vẽ trên trống đồng Ðông Sơn, trên những món đồ gốm cổ, với những hình vẽ biểu hiệu đời sống Việt Nam. Ông cha ta đã bắt đầu dùng hình vẽ để trang trí từ rất lâu. Những di tích của đồ gốm thời văn hóa Hòa Bình (mười ngàn năm trước đây) có những hình giây in, trong hang Ðồng Nội ở Hòa Bình đã có hình khắc ba mặt người và một mặt thú, mũi dùi bằng xương ở Lam Gan (Hòa Bình) khắc nhánh cây với sáu lá mọc so le... Rồi những mảnh gốm của văn hóa Phùng Nguyên cách nay hơn bốn nghìn năm cũng cho thấy ông cha ta đã vẽ các hình trang trí như biểu thị sóng nước, cành lá… Hình vẽ những hình kỷ hà và các sinh hoạt dân gian trên trống đồng Ðông Sơn (hơn hai nghìn năm trước) cho thấy nghệ thuật đã đạt đến mức rất cao. Ðồ gốm vào các thế kỷ đầu của thời Bắc Thuộc được trang trí bằng những giọt men xanh chảy loang lổ mà không có các hình vẽ trên nền gốm. Từ thế kỷ thứ 11 trở đi cho đến đầu thế kỷ 17 (khi đồ gốm Chu Ðậu tàn lụi), hình vẽ trên đồ gốm trở nên vô cùng phong phú, nhiều chi tiết, tỏ rõ những đặc điểm văn hóa của từng thời kỳ. Số lượng đồ gốm làm trong sáu, bảy thế kỷ này còn lại rất nhiều và là nguồn vui của những kẻ sưu tầm, gìn giữ gia sản văn hóa ông cha. Vào lúc trời khuya, đêm tịch mịch, ấm trà Thái Nguyên đậm đà hương vị, cầm trên tay những món đồ gốm cổ của ông cha ta mà xăm soi ngắm nghía những nét vẽ dân tộc, tưởng rằng không còn gì vui sướng hơn. Nhìn vào nét vẽ dân gian trên đồ gốm cổ Việt Nam, ta nhìn qua hai khía cạnh: nét bút và đề tài. 1. Nét bút Trên những mảnh gốm cổ trước thời Bắc Thuộc, hình trang trí thường được vẽ bằng cách dùng mũi nhọn chấm lên nền gốm ướt, trước khi nung, tạo nên các đường dấu chấm. Sang đến những thế kỷ sau, người ta không dùng mũi nhọn để vẽ bằng các đường dấu chấm nữa, mà dùng mũi nhọn vẽ những đường liên tục, thẳng, cong và tròn như thường thấy trên trống đồng Ðông Sơn. Trên trống đồng, những hình kỷ hà có nét vẽ rất đều đặn, cân đối, hình tròn rất tròn, những đường gẫy, đường cong rất đều nhau, hình người, hình chim, hình thuyền rất linh động, chứng tỏ tài cầm bút của những nghệ sĩ này đã rất cao. Ðồ gốm tráng men xanh, men nâu vàng vào thế kỷ thứ 5 trở đi thường có những nét vẽ đơn giản. Những nét vẽ càng trở nên phức tạp, chi tiết dần từ khoảng thế kỷ thứ 10, thứ 11, đầu đời Lý. Rồi từ thế kỷ 14 cho đến hết thế kỷ 16, thời kỳ của đồ gốm Chu Ðậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, nét vẽ trở nên rất linh động, thể hiện rõ ràng từng bản sắc cá nhân của người nghệ sĩ. Nét vẽ trên đồ gốm đời Lý không chỉ là bằng mũi nhọn khắc trên nền men, mà còn bút lông vẽ men nâu hay nâu đen trên nền gốm trắng. Nhiều khi nét vẽ rất chi tiết, linh động, nhiều khi nét vẽ là do lưỡi dao tre cạo xuống nền men, cho trơ đất mộc ra rồi vẽ bằng bút lông với men nâu vào trong các hình khắc đó. Những nét vẽ trên đồ gốm Chu Ðậu loại đẹp (với những món còn giữ được ở các viện bảo tàng ở châu Âu và Ả Rập) cho thấy người ta đã bỏ nhiều thì giờ, nhiều công lao, nhiều chú tâm và nhiều sáng tạo vào nét vẽ, hình vẽ tương đương với những công sức của việc nặn, nung các món đồ gốm ấy. Người ta cũng quý trọng các bản vẽ ấy đến độ ký tên và đề năm tháng trên các món đồ gốm này. Dù có những món đồ gốm mà hoa văn vẽ bằng bút lông, nhưng nét bút của đồ gốm thời Lý phần lớn vẫn là nét bút của mũi dao, trong khi nét bút của đồ gốm Chu Ðậu là nét vẽ của bút lông với mực là màu men lỏng. Nét vẽ thanh tú, khi đậm, khi nhạt, khi to, khi nhỏ, khi thì rất chi tiết, khi thì nhanh tay phóng túng. Những nét vẽ và màu men của đồ gốm Chu Ðậu ăn đứt đồ gốm đời nhà Minh và mặc dù được làm trước thời đồ gốm nhà Thanh bên Tàu, nhưng so ra thì đẹp còn có phần hơn đồ gốm nhà Thanh vốn thường được quý chuộng. Hãy cứ thử so sánh những bình như bình mà Duke of Florence tặng cho Prince-Elector of Saxony năm 1590 với những bình Khang Hy, ta sẽ hãnh diện vô cùng về nét vẽ, màu men của những người làm đồ gốm ở Hải Dương thời đó. (Ôi! Ðau đớn thay cho nghệ thuật, văn hóa Việt Nam, đã bị thảm hại, bởi chiến tranh mà lại còn không được biết đến, không được yêu quý bởi chính cả người Việt). Sau thời Chu Ðậu, ta thấy đồ gốm Bát Tràng trở nên lem luốc, màu men đục lờ, nghệ thuật không còn được chú trọng, được phát huy, nét vẽ trở nên những đường vụng về, như là vẽ để sơn phủ màu men lên nền gốm mà thôi. Với những món đồ thuộc loại Men lam Huế của thế kỷ 18, 19, nét vẽ là của thợ gốm người Tàu đời Thanh. Kể cả bộ trà Mai Hạc do cụ Nguyễn Du đặt làm (với hai câu thơ nôm bất tử: 'nghêu ngao vui thú yên hà - mai là bạn cũ hạc là người quen', với hình cỗi mai già và chim hạc đứng lẻ) thì cũng vẫn là nét vẽ của người thợ Tàu vẽ lại trên nền men trắng. 2. Ðề tài Những hình vẽ trên các mảnh gốm cổ của văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Ðông Sơn, của những món đồ gốm làm dưới thời Bắc Thuộc là những hình kỷ hà, dùng để trang trí. Nhưng nhìn vào các hình vẽ trên những trống đồng Ðông Sơn, cho dù chúng ta còn thắc mắc về ý nghĩa của biểu tượng mặt trời, của chim hạc, của những hình kỷ hà tròn, xoắn và tam giác… ta cũng phải nhận rằng bên cạnh các nét ấy, rõ ràng những cảnh sinh hoạt rất sống đông của ông cha ta nhiều ngàn năm trước. Nào là cảnh múa hát, cảnh bơi thuyền, cảnh nhà với sinh hoạt của người và gia súc, chim chóc, gà, trâu, hươu, nai… Phải chăng đây là dấu tích xưa nhất của nền hội họa dân gian? Sang đời Lý, ảnh hưởng Phật giáo trùm khắp. Vua Lý Thái Tổ vừa lên ngôi được hai năm, cung điện, thành quách chưa xây mà đã cho xây tám ngôi chùa [4] . Nhu cầu tạo dựng chùa và cung điện tạo ra nhiều phát triển của nền hội họa (để vẽ tranh trong chùa, trong cung và để làm các món đồ gốm tế tự. Bình hương, bình trầm, chân đèn, bát chén… được sản xuất rất nhiều). Nghệ thuật đạt lên mức rất cao với những hình vẽ có đề tài Phật giáo, khi thì là đề tài với ảnh hưởng Ấn Ðộ, khi thì là đề tài Phật giáo dân gian Việt Nam. Xem mười món đồ gốm thời Lý thì chín món có những hình vẽ biểu tượng của Phật giáo, trong đó hoa sen và hoa cúc là đề tài chính. Hoa cúc được vẽ rất nhiều trên đồ đời Lý, vì với Phật giáo Việt Nam đời Lý, hoa cúc và hoa sen là biểu tượng chính. Hoa sen là biểu tượng Phật giáo Ấn Ðộ, còn hoa cúc là đề tài riêng của Phật giáo Việt Nam. Trên đồ gốm đời Lý, hoa sen được vẽ rất nhiều, trình bày qua rất nhiều dạng thức, khi thì là hoa sen nở nhìn từ trên xuống, cánh xòe ra kín cả mặt chén, mặt đĩa; khi thì là hoa sen búp, nhìn nghiêng; khi thì cả cành sen từ ngó đến lá đến hoa; khi lại là những bông sen xoắn quấn quít nhau cùng khắp. Nhiều món vẽ cả hoa sen lẫn hoa cúc, nhiều món lại vẽ riêng, trên vành chén đĩa là những cành lá cúc uốn quanh. Hoa cúc có khi được vẽ cùng cành lá, nhiều khi lại được vẽ ở giữa, trong lòng những vòng đồng tâm có mây có lá. Ảnh hưởng Phật giáo Ấn Ðộ còn thấy qua những hình vẽ bát bửu, hay thể hiện qua các hình vẽ trang trí bằng những hình lục giác nối tiếp nhau che kín lòng đĩa, trong hình lục giác thường thấy vẽ chữ Vạn. Ngoài ra, đồ gốm đời Lý-Trần cũng mang những hình vẽ có đề tài bắt nguồn từ đời sống hàng ngày, như hình khóm lan, hình nhành lá dài trông như hình cành rau muống, hình chim tha mồi, gà mổ thóc giữa vùng cây lá, hay hình voi, và đặc biệt là những hình vẽ các chiến sĩ mang khiên đấu gươm… Trong thời kỳ của gốm Chu Ðậu, đề tài phong phú vô cùng mà rất linh động. Hoa mẫu đơn trở nên phổ thông, được vẽ nhiều hơn hoa sen. Chim sẻ, chim chích choè nhảy múa, ca hót, giang cánh bay, hay đứng trên cành mai nở, đậu trên khóm trúc là những đề tài thường thấy. Rồi chim hạc, chim công xoè cánh trong vườn mẫu đơn, chích chòe bay trên cánh đồng, giữa cây giữa lá, cảnh chim bói cá bắt mồi trên ao sen, cá bống, cá chép, chuồn chuồn, tôm, đàn vịt bơi dưới ao sen có bươm bướm bay la đà, cảnh sơn thủy có đảo, có núi, có cây, có lâu đài, cảnh hươu nai chạy nhảy, hình con nghê cùng cành mai, khóm trúc, bao quanh bởi hoa mẫu đơn. Trong lòng bát cũng thường thấy vẽ bụi lan, cây lúa, tàu lá chuối, vành quanh miệng đĩa chén là những vòng hoa cúc, hoa sen, vòng quanh bình, ấm là những ô vẽ ngựa, vẽ hoa, vẽ sóng nước, vẽ cây lúa, đặc biệt là những ô xen kẽ dương bản và âm bản, ô trắng hoa xanh, ô xanh hoa trắng rất đẹp. Có những đề tài lạ, rõ ràng là làm theo ý người đặt, rất linh động, vẽ cảnh hải chiến giữa hai tàu buồm lớn, người tử trận trôi dưới biển đang bị cá lớn đớp. Rồng cũng là đề tài lớn, được vẽ thường trên bình, trên nậm và nhiều nhất là trên chân hương, chân đèn. Vẫn là con rồng Việt Nam, thân dài, uốn khúc, uyển chuyển, chân như chân gà, bờm tóc dài, có râu và có túm lông ở khuỷu chân, vẫn giữa cây giữa lá, là phối hợp mà nghệ sĩ Tàu không bao giờ vẽ, vì với họ, rồng chỉ đi cùng với mây, cao xa trên trời thôi, không gần gũi với dân gian như con rồng-rắn của chúng ta. Những bình, đĩa đẹp của thời Chu Ðậu vẽ hoa mẫu đơn cùng khắp, hình vẽ sống động, chi tiết, bố cục chặt chẽ, cân đối [5] . Sau này sang đến gốm Bát Tràng của thế kỷ 17, 18 thì đề tài được giới hạn lại, thường là vẽ rồng, cành mai, khóm trúc. Rồi thế kỷ 18, 19 với những món đồ men lam Huế, đặt làm bên Tàu bởi Trịnh Sâm, bởi các vua đời Nguyễn thì đề tài lại khác hẳn đi. Trịnh Sâm ưa vẽ rồng và lân, ưa dùng điển Tàu, biểu tượng Tàu. Ðồ do nhà Nguyễn đặt cũng là đồ đời Thanh, hình vẽ có đề tài Trung Hoa. Thảng hoặc mới thấy những món có thơ nôm, như bộ trà mai hạc, như cái tô ký hiệu chữ nhật (hiệu ký của đồ gốm các vua triều Nguyễn) có vẽ cảnh sông nước mà có người bảo là cảnh cửa biển Tư Dung… Tóm lại, đi tìm sắc thái hội họa cổ truyền của ông cha, ta chỉ còn có thể nhìn thấy qua những món đồ gốm cổ còn sót lại. Nhìn vào đó, ta có thể kết luận rằng: ông cha ta đã vẽ hình để trang trí, để thờ cúng, để diễn tả tình cảm, xúc động, để làm đẹp cho đời sống từ thời văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn nhiều ngàn năm trước. Những hình vẽ trên đồ gốm còn cho thấy rằng ảnh hưởng Trung Hoa trên các nét vẽ Việt Nam không có là bao, và nghệ thuật vẽ hình trên đồ gốm của ông cha ta, dưới đời Lý, đời Trần, đời Hậu Lê, đời Mạc đã rất cao. Những hình vẽ ấy thường là những hình ảnh của sinh hoạt dân gian, của những biểu tượng nông thôn, của hồn Việt tinh khiết, không ô bị nhiễm bởi văn hóa Nho giáo. Ðó chỉ là mới nhìn qua những hình vẽ trên đồ gốm mà khuôn khổ, màu sắc và chất liệu còn thu gọn tài năng của người nghệ sĩ rất nhiều. Hẳn rằng những tranh lụa, tranh tường, tranh mực tàu dưới những thời ấy còn đẹp bội phần. Hẳn rằng tài nghệ người họa sĩ dân gian Việt Nam, hẳn rằng nền hội họa thuần Việt thời đó đã đạt đến mức tuyệt vời. Nếu chúng ta đã may mắn còn giữ lại được các tranh vẽ ấy thì chắc rằng ai cũng phải nhận rằng tranh vẽ Việt Nam rất đẹp và rất cá biệt, và ai cũng rất hãnh diện, rất yêu thích nét vẽ dân gian, thuần Việt. Nhưng tiếc thay nhà Minh đã hủy diệt hầu hết và số nhỏ còn lại thì thời gian, chiến tranh và thói 'bụt chùa nhà không thiêng' đã hủy diệt phần còn lại. Người Nhật, người Tàu thời ấy hơn gì ông cha chúng ta đâu. Chẳng qua là họ khéo gióng trống, khéo rung chuông xưng tụng văn hóa của họ. Trong lúc đó, chúng ta coi thường, chúng ta bỏ bê, chúng ta để cho mai một những cái đẹp, cái hùng của tổ tiên, mà ngợi ca những cái đẹp của người, mà học đòi làm giống như người, mà truyền dạy nhau những điều sai lầm về nguồn gốc, về văn hóa Việt Nam, rồi giang tay ôm choàng những chủ thuyết, những cặn bã văn hóa ngoại lai, rồi lại còn cho thế là tân tiến! Ðể ngày nay, mỗi lần nghĩ tới văn hóa ông cha, mỗi lần thấy đồ Tàu, đồ Nhật được tán dương, được trân quý, ta không khỏi bùi ngùi chua xót. Tài liệu tham khảo: Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục, Sài Gòn 1971. Khảo về đồ sứ cổ men lam Huế, Vương Hồng Sển, viết xong 1972, xuất bản năm 1993. Khảo về đồ sứ men lam Huế, Vương Hồng Sển, viết xong 1975, xuất bản năm 1994. Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam, Nguyễn Khắc Ngữ, Tủ sách Nghiên cứu Sử Ðịa xuất bản, Montreal, Canada 1981. Ðại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội, dịch theo bản khắc in năm 1697, Hà Nội 1998. Gốm Chu Ðậu, Tăng Bá Hoành. Bảo tàng tỉnh Hải Dương, Kinh Books xuất bản, Việt Nam 1999. Vietnamese Ceramics, A Separate Tradition, John Stevenson & John Guy, nhà xuất bản Art Media Resources và Avery Press, Chicago 1997. Gốm Bát Tràng, Phan Huy Lê, Nguyễn Ðình Chiến, Nguyễn Quang Ngọc, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội 1995. Hán Việt tự điển, Thiều Chửu, nhà xuất bản Ðuốc Tuệ, Hà Nội 1942. Mỹ thuật Lý Trần - mỹ thuật phật giáo, Chu Quang Trứ, nhà xuất bản Mỹ Thuật, Hà Nội 2001. “A new light on a forgotten past”, Dr. Wilhelm Solheim II, National Geographic vol. 139. No. 3, 1971. Lịch sử âm nhạc Việt Nam: từ thời Hùng Vương đến thời Lý Nam Ðế, Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Sài Gòn 2001. Chơi chữ, Lãng Nhân, Nam Chi Tùng Thư xuất bản lần thứ tư, Sài Gòn 1974. Những trống đồng Ðông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên và Hoàng Vinh, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam xuất bản, Hà Nội 1975. Bộ sưu tập đồ gốm cổ truyền Việt Nam của Bùi Ngọc Tuấn. © 2006 talawas -------------------------------------------------------------------------------- [1]Ðại Việt sử ký toàn thư: “Tháng tám năm Thần Vũ thứ hai (1070) Lý Thánh Tông cho xây văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối (Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử), vẽ chân dung Thất thập nhị hiền để thờ”. [2]Thiền uyển tập anh: Năm 1016, Quốc Sư Thông Biện khi trả lời Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (mẹ vua Lý Nhân Tông) đã dẫn sách Tục Cao Tăng: Sư Ðàm Thiên (542-607) trả lời vua Tùy Cao Tổ rằng ‘Một phương Giao Châu, đường thông Thiên Trúc, Phật Pháp lúc mới tới thì Giang Ðông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tang hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy có Khâu Ðà La, Ma La Kỳ Vực, Thương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó’. Các vị sư Ấn Ðộ này sống vào thời Sĩ Nhiếp đang làm Thái Thú Giao Châu (187-226) như vậy để có chừng đó ngôi chùa và dịch chừng đó kinh thì đạo Phật đã vững vàng lắm ở đất ta, như thế chắc đã phải truyền vào cả trăm năm trước. [3]Ðại Việt sử ký toàn thư cũng cho biết ở hồ Linh Chiểu chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) có hành lang trạm vẽ chạy chung quanh. Trong Mỹ thuật Lý Trần - mỹ thuật Phật giáo, Chu Quang Trứ dẫn các bia ở chùa Sùng Nghiêm, chùa Linh Xứng, chùa Vạn Phúc nhắc đến các tranh vẽ chư duyên nhân quả, cực quả mười phương, sao Ngưu sao Ðẩu, cung Quảng Hàn... Vua Trần Anh Tông vừa giỏi thơ văn vừ giỏi hội họa, sử chép rằng tập Thủy vân tùy bút là tập hợp các bài thơ và các bức vẽ phong cảnh của ngài. Nhưng khi băng hà, ngài đã ra lệnh ‘hóa’ đi tất cả. Vua Trần Minh Tông, để ca ngợi hai vị quan dưới triều mình, đã sai vẽ chân dung Bùi Mộc Ðạc năm 1321 và Trần Bang Cẩn năm 1324. Trần Phế Ðế cũng sai vẽ tranh “Tứ Phụ” (Chu Công, Hoắc Quang, Gia Cát Lượng và Tô Hiến Thành) để ban cho Hồ Quý Ly năm 1394. Tiền giấy, do Hồ Quý Ly ban hành năm 1396 vẽ các hình sau: giấy 10 đồng vẽ rong, giấy 30 đồng vẽ sóng, giấy 1 tiền mây, giấy 2 tiền vẽ rùa, giấy 3 tiền vẽ lân, giấy 5 tiền vẽ phượng và giấy 1 quan vẽ rồng. Còn lại và đã bị sửa chữa nhiều là chân dung Nguyễn Trãi mà tương truyền là do vua Lê Thánh Tông ra lệnh vẽ sau khi đã minh oan cho ông. Ngoài ra ở đền thờ Lê Thánh Tông (Lam Sơn, Thanh Hóa) có hai bức tranh lụa vẽ nhà vua và hoàng hậu rất đẹp. Nhà nho ta thường theo chủ trương: “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” nên chắc đã vẽ rất nhiều tranh thủy mặc. Nhưng khi vua nhà Minh ra lệnh cho quan quân mình thiêu hủy tất cả những gì có chữ viết thì các tranh này đã cùng bị đốt cháy trong cuộc phần thư đó. [4]Ðại Việt sử ký toàn thư: Lê Văn Hưu nói: ‘Vua (Lý Thái Tổ) lên ngôi mới được hai năm, Tông Miếu chưa dựng, đàn Xã Tắc chưa lập mà trước đã dựng tám ngôi chùa ở phủ Thiên Ðức, lại sửa chữa chùa quán ở các lộ và cấp độ cho làm tăng hơn nghìn người ở kinh sư…’ [5]Những bình bán được hàng chục ngàn đô la ở cuộc bán đấu giá của nhà Butterfields Auctioneers tại San Francisco là những món đồ gốm Chu Ðậu loại đẹp và hiếm mà xem ra cũng vẫn thua xa những bình Chu Ðậu còn lưu giữ ở viện bảo tàng Topkapi Saray (Thổ Nhĩ Kỳ) hay viện bảo tàng Johannaunn (Thụy Ðiển), viện bảo tàng Fine Arts Boston, viện bảo tàng Honolulu Academy of Arts, viện bảo tàng Nasional Jakarta (Nam Dương)… hay trong bộ sưu tập của một số tư nhân khác (Như Quỳnh Kiều, R.P. Piccus, John R. Menke, Beiyuzhai…) mà John Guy và John Stevensen đã chụp lại trong sách: Vietnamese Ceramics, A separate Hình: Tranh dân gian Hai Bà Trưng, Làng Đông Hồ. Nguồn: vietnamreview.com
×
×
  • Create New...