Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Luân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    7118
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    134

Everything posted by Thiên Luân

  1. VN Trung tâm nông nghiệp lúa nước, công nghiệp đá xưa nhất thế giới Sưu tầm từ TTVNOL Trong Việt Nam Sử lược, sử gia Trần Trọng Kim đã viết: "Tích Quang và Nhâm Diên sang làm thái thú tại Giao Chỉ và Cửu chân (2 quận lớn trong 9 quận của Việt Nam cổ), dạy dân điều lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng, dùng cày bừa mà cày cấy ruộng, vì trước đó dân Giao Chỉ chỉ biết săn bắn và chài lưới..." Sử gia Đào Duy Anh cũng viết "Họ (Trung Hoa) làm thầy khai hóa cho ta và các dân tộc Á Đông khác." Sách vở của các vị sử gia trên đã dạy dân học suốt bao thế kỷ. Người Việt Nam cứ cong lưng theo thế mà học về lịch sử nước nhà. Có lẻ hai ông sử gia trên đã dựa một cách tiêu cực vào sử Trung Hoa mà không cố tình suy luận và phán đoán về sử liệu nước nhà (một gương sáng mà chúng cần lưu ý: Đại Hàn và Trung Hoa phản kháng 35 điểm viết sai trong lịch sử giáo khoa Nhật Bản hiện nay). Mặc dầu rằng 2 ông sử gia nói trên đã có công viết nên lịch sử nước nhà để dạy dân. Nhưng không hiểu vì sao 2 ông không hề quan tâm nghiên cứu tệ lắm là những gì quí báu ghi chép trong những bộ sử nước ta vào thế kỷ 13 là bộ Đại Việt Sử Ký do 2 sử gia Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên biên soạn dưới thời nhà Trần; và bộ Sử Ký Toàn Thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời nhà Lê, cùng nghiên cứu các sách vở khác của Trung Hoa. Từ đầu thiên niên kỷ thứ I, nhất là dưới thời Nhà Trưng Vương, chắc hẳn chúng ta đã có nhiều tài liệu lịch sử cũng như luật pháp và văn chương. Bằng chứng là Mã Viện đã tâu với vua Quang Võ nhà Đông Hán là luật của Trưng Vương có 10 điều khác với luật Tàu cần hủy bỏ để trói buộc họ (xem hình chụp lời của Mã Viện sau). Sở dỉ ngày nay chúng ta không còn một dấu tích gì về các bộ luật cổ, sử điĩa cổ, văn chương cổ mà điển hình là luật đời Trưng Vương vì Tàu đã tiêu hủy hay cướp đem về Tàu tất cả. Xin mở ngoặc ở Việt Nam đây: một trường hợp điển hình GS Lê Hữu Mục vừa cho Việt Nam biết là Trung hoa đã cho xuất bản một quyễn sách mà tác giả là Lê Quý Đôn: đây là một trường hợp hi hữu đáng khen vì tuy sách bị cướp nhưng tên tác giả còn được giữ. Như vậy biết bao là tài liệu về lịch sử Việt Nam văn chương v.v... của tổ tiên chúng ta đã bị cướp phá và tiêu hủỵ Xin đóng ngoặc. Tưởng cũng hữu ích khi trở lại thời tiền sử Trung Hoa và Việt Nam. Sử Trung Hoa chép, khoảng 3000 năm trước TC, dân du mục Mông Cổ vượt sông Hoàng Hà đánh chiếm nước Bách Việt từ sông Hoàng Hà đến sông Dương Tử của Đế Lai . Đế Lai nối nghiệp cha là Đế Nghi, cháu nội Đế Minh. Đế Minh là cháu 3 đời của vua Đế Viêm tức Thần Nông, xưng là thiên tử, làm vua các thị tộc Bách Việt phương Bắc nằm giữ 2 con sông lớn Hoàng Hà đến Dương Tử. Trước đó Đế Minh đi ngao du đến núi Ngũ Lĩnh (tỉnh Vân Nam ngày nay) gặp một tiên nữ (ngưởi tài giỏi và rất đẹp nên được người đời tặng biệt hiệu là tiên nữ), đẻ ra Lộc Tục. Như vậy Lộc Tục là em khác mẹ của Đế Nghi, chú Đế Lai . Đế Minh cho Lộc Tục làm vua phương Nam từ Dương Tử Giang đến tận Việt Thường. Lộc Tục làm vua các thị tộc Bách Việt phương nam đặt tên nước là Xích Quỉ, xưng hiệu là Kinh Dương Vương lấy nàng Long Nữ con Động Đình Quân đẻ ra Sùng Lãm tức Lạc Long Quân (như vậy là Lạc Long Quân là con Nữ Rồng và cháu nội của Nữ Tiên: do đó mà chúng ta được gọi là con Rồng cháu Tiên chăng). Lạc Long Quân nối nghiệp Kinh Dương Vương làm vua phía Nam sông Dương Tử. Đế Lai đem con gái Âu Cơ gả cho Lạc Long Quân. Sau đó Đế Lai cùng Lạc Long Quân lập liên minh Xích Quỉ đánh nhau với du mục Mông Cổ tại Trác Lộc trên song Hoàng Hà (3.000 tr. T C). Mông cổ thắng trở thành Hán tộc. Người Hán rất ghét thủ lãnh Liên Minh Xích Quỉ là Đế Lai nên gọi ngài là Xi bưu (xấu xí láo lếu). Đế Lai tử trận. Theo truyền thuyết thì sau khi Đế Lai chết Lạc Long Quân đem tàn quân chạy ra biển tản mác khắp nơi trên Thái Bình Dương. Mông Cổ chiếm bình nguyên Hoàng Hà xưng là Hoàng Đế lập nên Trung Quốc và cũng bắt chước Đế Lai xưng là Thiên tử. Một số thị tộc Bách Việt mà Hán Mông cổ gọi là man di, ở lại sống chung rãi rác khắp nơi với Mông Cổ lập nên nước Trung Hoa. Vợ Lạc Long Quân là nàng Âu Cơ, con gái Đế Lai kéo quân qua sông Dương Tử trở lại chốn rừng núi phía nam tức là nước Xích Quỉ, chia các con cai trị, dần dà sinh ra 18 dòng họ Hùng Vương. Cho tới Bắc thuộc lần thứ I, biên giới nước ta kéo dài từ Dương Tử Giang xuống đến Việt Thường (vì thế trong Việt Nam Sử Lược, SG. Trần Trọng Kim đã nói về biên giới nước Xích Quỉ tây giáp Tứ Xuyên, và nhà Thục từ Tứ Xuyên đánh họ Hồng Bàng lập nên Nhà Thục .Nếu so sánh giữa hai sắc dân, Mông Cổ du mục và Bách Việt nông nghiệp sống định cư thì chúng ta dễ hiểu rằng nguồn gốc nông nghiệp của Tàu là do dân Miêu tộc hay man di (tên người Hán gọi Bách Việt ở lại với Tàu). Dân Bách Việt vốn đã có nghề nông từ lâu đời, và các vị Thần Nông, Phục Hi, Nữ Oa, v.v... Tổ sử nghề nông là tổ tiên của Bách Việt đã chết lâu đời trước trận Trác Lộc tức trước khi Mông Cổ đến lập nước Trung Hoa, vậy nên Hán tộc gốc Mông Cổ hoàn toàn không liên can gì đến sự nghiệp nhà nông của các Vị Thần Nông Nữ Oa nói trên. Và dân Bách Việt cũng đã thạo thành về nông nghiệp lâu đời từ trước khi Mông Cổ chiếm đất đai Chúng ta thử chứng minh nhận xét hoàn toàn hợp lý trên đây Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ nét rằng Việt Nam có nguồn gốc Bách Việt và luôn tự xưng là Bách Việt, mà là Bách Việt thuộc thành phần chính thống, trung kiên, bất khuất, lãnh đạọ Lúc bị dân du mục Mông Cổ đánh bại tại Trác Lộc, Lạc Long Quân vua nước Xích Quỉ bị tử trận hay chạy ra biển nhưng nước Xích Quỉ được bà Âu Cơ giữ gìn nguyên vẹn. Một số người Bách Việt phương Bắc ra đi đến nước Xích Quỉ phải là tầng lớp lãnh đạo Bách Việt. Kẻ ở lại bị coi là dân man di nô lệ, chung sống với dân Mông Cổ mà thành dân Trung Hoa ngày nay. Nói như thế chỉ để chứng minh rằng nền văn minh nông nghiệp của dân Bách Việt không phải do du mục Mông Cổ khai sáng. Đó là tàng tích Bách Việt hoàn toàn. Nếu phải nói một cách công bằng thì văn minh nông nghiệp Bách Việt là tài sản chung của toàn thể Bách Việt mà Việt Nam là chủ yếụ Trung Hoa có nông nghiệp từ thời tiền sử là nhờ vào dân Miêu tộc man di ( vậy cả hai dân tộc Trung hoa gốc man di Bách Việt và Việt Nam gốc Bách Việt chính thống đều là dân đã làm nên nền nông nghiệp từ rất nhiều thiên niên kỷ trước khi Mông Cổ đến xâm lăng đất đai). Người Hán gốc Mông Cổ cai trị Trung hoa lâu đời, và đô hộ Việt Nam non 1000 năm, nên lòng người man di Trung hoa gốc Bách Việt cũng như lòng người Việt Nam dần lãng quên gốc gác của mình mà tưởng rằng văn minh nông nghiệp là do Tàu Mông cổ (Hán) khai hóa.Đối với dân tộc Trung quốc thời bấy giờ, người Hán có nguồn gốc Mông Cổ là lớp quí tộc chủ nhân, lớp lãnh đạo quyền uy giàu có. Miêu tộc tuy đông, làm nghề nông bị liệt vào hàng bần cùng, nô lệ, bị coi là man di. . Trở lại Việt sử, trong 2 bộ sử xưa của Việt Nam là bộ Đại Việt Sử Ký do 2 sử gia Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên biên soạn dưới thời nhà Trần, và bộ Sử Ký Toàn Thư do Ngô Sĩ Liên biên soạn dưới thời nhà Lê đã ghi: "Trước họ Hồng Bàng (Kinh Dương vương) còn nhiều đời vua nhưng không kể đến... (đó là các vua Phục Hy, Đế Viêm, Đế Minh, Đế Nghi, v.v...)," và rằng... "từ họ Hồng Bàng (2879 tr. TC) dân ta cầy cấy mà ăn, đào giếng mà uống..." rằng "Vua Kinh Dương Vương nối nghiệp con cháu Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình Quân, tỏ rỏ đạo vợ chồng, nắm ngay gốc văn hóa, lấy đức mà cảm hóa dân... đó chẳng phải là phong tục thái cổ từ Viêm Đế ử" Có lẽ Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh cho là tưởng tượng huyễn hoặc, nên không tin vào đoạn sử nầy. Trong lúc đó sử gia Trần Trọng Kim viết, họ Hồng Bàng có vua Kinh Dương Vương (2879 258) là dòng dõi Vua Thần Nông có quốc hiệu là Xích Quỉ, có con là Lạc Long Quân nối ngôi (2.804 năm tr. TC). Đã gọi là con cháu vua Thần Nông thì tại sao không rành về nghề nông mà phải đi nhờ dân gốc Mông Cổ dạy!. Như thế, rõ ràng 2 sử gia Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh chỉ biết dựa trên sử của một quốc gia đã xâm lăng nước ta lâu đời và luôn có khuynh hướng chiếm, phá hoại hay xuyên tạc văn hóa tiền sử và lịch sử của dân tộc Bách Việt. Tuy nhiên nhờ vào di vật của tổ tiên còn để lại trong lòng đất, các học giả khảo cổ học ngoại quốc và Việt Nam đã chứng minh cho chúng ta và thế giới ngày càng thấy rõ sự thật, rằng chính dân Bách Việt nông nghiệp Bách Việt đã ảnh hưởng giáo dục lễ nghĩa, nông nghiệp và công nghiệp cho khắp lục địa Nam Á trước khi Mông Cổ tới nhiều nghìn năm (sẽ chứng minh rõ sự kiện nầy). Với Việt Nam cổ Bách Việt, thì rằng khi dân du mục Mông Cổ đánh liên minh Xích Quỉ của Đế Lai và Lạc Long Quân mà chiếm bình nguyên sông Hoàng Hà có thể coi đó là Bắc xâm lược lần thứ I (3000 năm tr. TC). Lúc Tần Thủy Hoàng chiếm nước Việt Âu Lạc của Thục An Dương Vương là Bắc thuộc lần thứ II (246 206 tr. TC). Lúc nhà Hán dứt nước Nam Việt của Nhà Triệu là Bắc thuộc lần thứ III. Nhà Đông Hán đánh chiếm nước Lĩnh Nam của Trưng Vương là Bắc thuộc lần thứ IV, v.v...."Tích Quang và Nhâm Diên sang làm thái thú tại Giao Chỉ và Cửu Chân (2 quận lớn nhất được coi là kinh đô của Việt Nam cổ), dạy dân điều lễ nghĩa, cưới vợ hỏi chồng, dùng cày bừa mà cày cấy ruộng...." Qua những tài liệu trên làm sao tin được sự kiện lịch sử nầy chứ? Chúng ta hãy nghe những câu nói của Đức Khổng Tử sau đây. Khi một môn đồ xuôi Nam đến đất Việt, xin Khổng Tử chỉ dạy, Khổng Tử nói "... người Bách Việt miền nam (phía nam Dương Tử Giang) có lối sống, tiếng nói, luật lệ, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng..." ,... "... dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà." Một lần khác Khổng Tử xác nhận: "Những đạo lý (Khổng Tử) viết ra điều là những điều đã có sẵn trong dân gian (dân chúng gốc Bách Việt)". Chính những đạo lý đó Mông Cổ hoàn toàn không có vì với Mông Cổ chỉ có đạo lý của sức mạnh. Vì thế Khổng Tử mới lấy đạo lý từ dân gian, viết ra để dạy cho vua quan là giòng giỏi Hán tộc Mông Cổ. Khổng Tử còn nói rằng: "Dân Bách Việt rất thích ca múa, vừa làm việc vừa ca vè, hát đối, nói vận (vè, thơ, ca dao), lấy lá cây mang vào người, trá hình múa hát...." Và Khổng Tử cho rằng: "xướng ca vô loài, chẳng nên ca múa như dân nam Man". Nên trong thời gian đô hộ quan Tàu cấm dân ta múa hát trong những ngày lễ lạc. Nhưng hát bội hay hát bộ (vừa hát vừa làm bộ điệu) gốc Bách Việt mà Tàu rất thích nên họ phát triển hát bộ (sau nầy lại đem truyền qua cho Việt Nam phương thức hát bộ mới, được chế biến thêm. Miền Nam Việt Nam lại cải biến thêm thành Cải Lương, Tàu lại lấy chế biến thành cải lương Hồ Quãng). Sách Hậu Hán Thư quyển 14 viết lại "Dân Giao Chỉ (thủ đô của Bách Việt phương nam) biết nhiều thủ công nghiệp, luyện đúc đồng và sắt, v.v...." Sách Cổ Kim Đồ Thư, Thảo Mộc Điếm của Trung Hoa chép: "Mã viện tâu vua Tàu, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có thứ cây mía ngọt, đem ép lấy nước rồi làm đường phèn."... "Giao Chỉ làm giấy mật hương: giấy mật hương làm bằng lá và vỏ cây mật hương trồng ở Giao Chỉ, giấy mềm, giai và thơm, ngâm nước không bở không nát." Vậy mà trong quyển ART DE LA CHINE của ông Jean Buhot Les Eúditions du Chène, Paris xuất bản tháng Tư năm 1951, tác giả đã viết "Le papier ayant inventé par la Chine dès la dynastie de Hán probablement, on peut croire quil connaissent depuis la même époque deux procédés: lestampage et limpression..." . "Giấy đã được Tàu phát minh ra từ thời nhà Hán, chắc như vậy, và người ta có thể tin rằng cũng vào thời ấy người Tàu đã biết 2 kỹ thuật: rập khuôn bằng tay và in ấn..." Xem như vậy thì thấy những sự hiểu biết của người Âu Châu về Trung Hoa và Việt Nam vô cùng lệch lạc sai lầm. Các sách cổ khác của Trung quốc như Giao Châu Ký, Tam Đô Phủ, Ngô Lục Địa Lý Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng, v.v... đều chép đại lược rằng: "Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà mà uống..." ;... "... họ biết uống nước bằng lổ mũị.." (một cách uống rượu ché ?);... "... nuôi tằm mà dệt vải.." ;... "... dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng phơi khô làm thức ăn quí, dùng làm quà quí để đi hỏi vợ..." ;... "... dùng đá màu làm men gốm..." ; "... dùng mu rùa mà bói việc tương lai.." ;... "... họ dùng một khúc tre dài chừng 1 thước hơn, một dầu có trụ cao làm tay cầm, có giây buộc vào trụ nối lại đằng kia mà làm đàn gọi là độc huyền cầm...". "... họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba trời sinh con cọp ... (chuyện thần thoại của người Dao: gốc tích của 12 con giáp của tử vi ngày nay). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (tức thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh (lễ giác bầu{châm} ), lấy đá (lá) hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh...( đốt thuốc ngải cứu {Cứu}) "; "... Họ rất quí các loài chim, biết tập chim biết nóị.. họ có nuôi nhiều chim trỉ sống trên núi rất đẹp (mà sau nầy Tàu gọi là phụng hoàng)." Sử Tàu kể rằng vào thời nhà Châu bên Tàu dân Bách Việt quận Việt Thường đem tặng vua nhà Châu cặp chim trĩ, sau đó nhờ Tàu dùng những ghi chép thường có tính cách kỳ thị là man dị. Nhưng những chuyện huyền thoại cổ của man di như chuyện ông Bàn Cổ gốc người Dao (xem Bàn Cổ của Nguyễn Văn Diễn), chuyện bà Nữ Oa biết đội đá vá trời tức có kinh nghiệm về thời tiết mưa gió, dạy dân theo thời tiết mà trồng trọt, Thần Nông dạy dân làm ruộng, Viêm Đế (vua xứ nóng Bách Việt) thì dân Mông Cổ chiếm lấy làm của riêng. Thật ra lúc đầu người Hán không quan tâm đến những câu chuyện hoang đường của dân Bách Việt. Nhưng khi họ hiểu ý nghĩa triết lý sâu xa của những câu chuyện hoang đường về các Vị, thì họ chép ngay câu chuyện và nhận ngay các Vị có gốc Bách Việt ấy làm tổ tiên của họ. Họ cũng có lý một phần, vì dân Miêu tộc Trung hoa có gốc Bách Việt. Nhưng họ phải hiểu rằng dân Việt Nam mới là con cháu đính thị của các Vị này. Tuy người Tàu vẫn biết tổ tiên của người Hán có nguồn gốc Mông Cổ, có con vật tổ là cọp trắng, với nhà truyền thống cổ là nhà gốc du mục hình tròn. (Xem Les premières civilisations La Chine Ancienne, trang 28 29, của ông William Watson xuất bản năm 1969 tại Grande Bretagne). (Xem hình 3 của Bs Thanh vẽ lại dựa theo hình nhà khảo cổ của ông William Watson). Trong lúc đó nhà cổ của Bách Việt là nhà sàn hình chữ nhật làm bằng tranh và tre cong cho chắc chắn, dần dà sinh ra mái cong. (Xem hình 4, phỏng theo loại nhà minh khí {nhà chôn theo người chết} bằng đất nung thời Hùng Vương tìm thấy trong văn hóa Đông Sơn 2.000 ans tr T C). Ngày nay thế giới và cả người Việt Nam cũng đều lầm tưởng rằng rồng (chỉ là hiện thân của con cá sấu) và chim phụng hoàng (chim trĩ) vật tổ của Trung Hoa, và mái nhà cong là văn hóa cổ truyền của họ luôn. Ngày nay nhờ khảo cổ học mới có thế chứng minh được sự thật. Dầu sao thì cũng nhờ vào ảnh hưởng Bách Việt mà Trung quốc phát triển về mọi mặt văn hóa sau này và cả Nhật bản và Đại Hàn cũng nhờ vào ảnh hưởng Bách Việt qua Trung Hoa Trong lúc đó thế giới đặt biệt là người Pháp cứ cho là Việt Nam bắt chước Tàu chẳng hạn việc bà Daisy Lion Goldschmidt tác giả quyển Les Poeries et Porcelaines Chinoises, đã cho rằng dân Annam bắt chước gốm Hoa lam của Tàu (trang 4). Trong khi chính Việt Nam có gốm hoa lam trước Tàu và thợ gốm giỏi Việt bi Tàu bắt qua Tàu để làm gốm từ đầu thiên niên kỷ thứ . Đồ Gốm hoa lam Việt từ rất sớm chỉ dùng màu xanh nội địa, có trước Tàu và hoàn toàn có những đặc tính độc đáo khác Tàụ Ngay cả dân Việt Nam cũng lầm lẫn và lẩm cẩm cho rằng văn hóa Việt Nam nhờ ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa Tệ lậu hơn nữa, hiện nay có nhiều nhà khoa bảng Việt Nam còn không biết văn hóa là gì, còn cho là dân mình không có văn hóa nữa kia, hoặc có chăng chỉ là cái búi tó trên đầu (bài Bảo tồn Văn hóa! của nhà khoa bảng bác sĩ giáo sư Đại học kiêm nhà văn Vũ Đình Minh biệt hiệu là Mai Kim Ngọc đăng trên nhiều báo đặc biệt là báo Y giới: bài viết có tính cách mĩa mai Việt Nam không có văn hóa gì để mà bảo tồn hết trơn hết trọi, Trở lại nông nghiệp của dân Bách Việt. Làm ruộng cần công cụ. Nông nghiệp sinh công nghiệp. Công nghiệp đá sản xuất công cụ cho thợ đá (để làm cày cuốc), kỹ nghệ đá; cho thợ đồng, kỹ nghệ đồng và các thứ tiểu công nghiệp khác như nghề nuôi tằm dệt vải, làm đồ gốm của nước ta từ trước rất xa thời các vua Hùng cho đến thời Bắc thuộc năm 111 tr TC, đã phát triển xa hơn Tàu và không hề nhờ phương bắc giáo huấn. Trái lại các thợ giỏi và kỹ thuật cao của nước ta bị sức mạnh cướp lấy để phát triển, dành lấy làm văn hóa của mình. Trong những thời gian bị đô hộ, dân Việt cổ bị cấm tuyệt mọi sinh hoạt kỹ nghệ bản địa công khai. Vì vậy những nền văn hóa thời tiền và sơ sử Việt Nam bị ngưng hẳn từ thời Bắc thuộc lần đầụ Thế giới cũng hiểu rằng Trung quốc đã ngăn chặn những nền văn minh tiền sử Việt Nam và đã xung phong vào để tiếp nối những nền văn minh tiền sử đó (có bằng chứng rõ về sau). Từ trước đến nay chúng ta chưa khẳng định được những điều nói trên mà phải chờ di vật cổ tổ tiên để lại trong lòng đất mới có đủ luận cứ thuyết phục cho chính chúng ta và thế giới Khảo Cổ học đã nói lên cho chúng ta biết rất nhiều điều bí ẩn mà ngoại quốc đã hiểu lầm hoặc che dấu và xuyên tạc. Nhờ vậy ngày nay rất nhiều học giả Trung Hoa đã công nhận sự thật về nguồn gốc Bách Việt trong văn hóa Tàu. Từ khi người Pháp qua cai trị nước ta, họ chiếm độc quyền về khoa khảo cổ. Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khảo cổ học đã tìm ra ở trên đất nước chúng ta từ miền Bắc đến miền Trung là đất cổ Việt Thường. Cho đến nay người ta đã tìm thấy rất nhiều nền văn minh tiền sử Việt Nam cổ liên tục nối đuôi nhau trên đất Bắc và Trung Việt. Thường khi tìm được di chỉ văn hóa ở đâu đầu tiên người ta lấy tên địa phương mà đặt cho nền văn hóa đó. Văn hóa Việt cổ xưa nhất còn gặp nhiều di vật cách đây từ 30.000 năm trở lại được tìm thấy ở núi Đọ, thôn Sơn Vi tỉnh Vĩnh Phú được đặt tên là văn hóa Sơn Vi hay Tiền Hòa Bình. Nền văn hóa nầy được tìm thấy rải rác khắp miền Bắc và Trung Việt. Tuy việc tìm kiếm là ngẩu nhiên, nhưng nhờ vào sự giàu thịnh nên người ta đã tìm thấy rất nhiều nền văn hóa có tính cách liên tục nối tiếp nhau từ văn hóa Sơn Vi (30.000 năm tr, TC) qua Hòa Bình (16.000 7.000 tr. TC) đến Bắc Sơn rực rỡ, Quỳnh Văn, Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Hoa lạc, v.v... dần dần đến văn hóa Đông Sơn huy hoàng có niên đại từ 800 năm đến 111 năm tr TC là thời gian bị Bắc thuộc lần đầu theo sử hiện đại. Rồi từ 111 tr TC dưới ách đô hộ của Tàu, văn hóa nước ta ngưng chìm lỉm hẳn, không tiến và hầu như, biến hẳn, vì sao hỏi tức nhiên là đã trả lời dư âm của các nền văn hóa trên còn âm thầm kéo dài thêm vài thế kỷ sau Bắc thuộc rồi bị Tàu thôn tính và ẳm đi luôn. Trong những nền văn hóa tiền sử nước ta khi nói đến văn hóa Hòa Bình (di chỉ tìm thấy ở tỉnh Hòa Bình Bắc Việt) thì từ lâu giới khảo cổ học và trí thức thế giới đều biết rằng đó là một trung tâm nông nghiệp và công nghiệp đá xưa nhất thế giới. Nhưng vì sao dân tộc ta như các sử gia Trần Trọng Kim, và Đào Duy Anh cứ luôn cho mình là dân man di, được Hán khai sáng, dạy cho cưới vợ hỏi chồng, dạy cho nông nghiệp.... Suốt 1000 năm cai trị, Hán lấy tài nguyên sản vật quí, và bắt thợ giỏi, gái đẹp cùng ngăn cấm dân truyền tụng văn hóa cổ, ngăn cấm dân ta phát triển kinh tế, và đập phá tất cả mọi công trình công nghiệp điển hình là gốm, lò luyện kim, lò đúc đồng trống đồng, đúc sắt. Dân Việt sợ, ai có đồ gốm và đồ đồng, trống đồng thì đem chôn dấụ May thay khảo cổ học đã lấy lên từ lòng đất những sự thật về văn hóa tiền sử và lịch sử nước nhà. Nghiên cứu tài liệu khảo cổ, đối chiếu với tài liệu sử học là việc làm có bằng chứng khoa học vững vàng giúp chúng ta tìm hiểu nguồn gốc văn hóa dân tộc. Lịch sử văn hóa mỹ thuật dân tộc Việt Nam cần được soi tỏ dưới ánh sáng khoa học một cách công minh. Khác với lịch sử, sử gia có thẩm quyền ghi chép nhiều ít theo ý mình những sự việc xẩy ra, văn hóa mỹ thuật lịch sử cần những sự thật cụ thể được chứng minh bằng khoa học. Lịch sử phụ thuộc sử gia, trong lúc văn hóa mỹ thuật lịch sử là công trình của tiền nhân để lại một cách đích thực, hiển nhiên, không thể chối cãi hay làm méo mó sự thật được. Văn hóa mỹ thuật lịch sử giúp tìm hiểu tâm lý, hoàn cảnh sống, nghệ thuật, trình độ tiến hóa, sinh hoạt gia đình làng xã, quan niệm hôn nhân. Thế cho nên văn hóa mỹ thuật là một khoa học lịch sử tuy khó khăn nhưng vô cùng sống động, quí báu và lý thú. Những cổ vật là vô tri, nhưng qua đó chúng ta có thể tìm hiểu được cách sống, tư tưởng, cá tính, tinh thần tập thể, tình cảm, hoài bảo và tư tưởng triết thuyết trong cuộc sống vật chất và tinh thần của tiền nhân. Vì vậy có thể nào chấp nhận lịch sử văn hóa nước nhà qua hành động và lời lẻ khinh bạc, dìm dập, xuyên tạc của thực dân ngoại lai Tây và tay sai trong nước của họ. Trở lại các thị tộc du mục Mông Cổ, thủy tổ nhà Hán vượt sông Hoàng hà đến chiếm dần dà trung nguyên bao la rộng lớn mà lập nên nước Tàu vĩ đại nghề nông là do dân Bách Việt làm từ lâu đời trước khi Mông Cổ đến chiếm, họ tiếp tục làm. Vị tù trưởng Mông Cổ lên ngôi đầu tiên xưng là Hoàng đế và biến dân Bách Việt thành nô lệ chỉ được quyền làm nghề nông hay làm lính. Như vậy khi đến chiếm lục địa trung nguyên dân Mông Cổ được thừa hưởng tài sản nông nghiệp của bao nhiêu đời Bách Việt truyền lại, tuy vậy xưa kia Hán tộc Mông Cổ rất kỳ thị, khinh miệt và đối xử tàn ác với Miêu tộc Trung Hoa, do đó mới sinh ra chế độ nô lệ Man Di, dân nô lệ Bách Việt thường chỉ được sống với nghề bản xứ, trồng trọt, đánh cá hay đánh giặc. Dân Hán là dân nắm chính quyền vẩn còn nhớ, yêu thích nghề du mục xưa, nên rất ưu thích săn bắn, làm thành một thú tiêu khiển cho hàng vương giả. Sau trận Trác Lộc, lớp Bách Việt thuộc hàng lãnh đạo bỏ chạy qua sông Dương Tử giữ nước Xích Quỉ. Rồi cũng lại bị nhà Hán đến đô hộ, và sự đô hộ kéo dài ngót 1.000 năm. Nhà Hán vừa chiếm Việt cổ họ thi hành ngay chính sách thực dân, thâu nạp không những của cải vật chất, mà họ còn rất chú trọng đến tài nguyên trí tuệ. Nhà Hán đã chiếm văn hóa tiền và sơ sử của Bách Việt trên lục địa Trung Hoa từ trước. Nay lại chiếm luôn cả văn hóa sơ sử Việt Nam của nước Lĩnh Nam của Trưng Trắc từ Động Đình Hồ trở xuống miền Bắc và miền Trung Việt Nam cổ. Họ có thâm ý làm cho người Trung hoa gốc Bách Việt và người Việt cổ quên hẳn quá khứ của giống nòi hầu dễ dàng buộc họ đồng hóa và chấp nhận rằng chính nhà Hán Mông Cổ khai hóa ra Bách Việt. Sự thật người Trung quốc gốc Mông Cổ bị đồng hóa với Bách Việt. Và nhà Nguyên Mông cổ và nhà Thanh Mãn Châu sau nầy cũng lại bị Trung Hoa đồng hóa luôn. Như vậy Mông Cổ và Mãn Thanh đã bị man di Miêu tộc Bách Việt đồng hóa thành Trung Hoa Như đã nói trên, người Tàu Mông Cổ vốn có vật tổ là cọp trắng, và nhà cổ là nhà hình tròn gốc du mục nhưng khi họ thấy vật tổ Bách Việt rồng phụng, và nhà cổ Bách Việt mái cong, có vẻ đẹp tao nhã mỹ thuật, họ chiếm ngay văn hóa nhà cổ và Rồng Phụng Bách Việt làm của họ và người mình không hề dám hé môi hay trăn trối với con cháu. Gần đây đào được trống đồng ở Vân Nam, khảo cổ gia Tàu cũng tuyên bố ầm ỷ là trống đồng do Mã Viện và Gia Cát Lượng sản xuất! Sao họ có thể quên Hậu Hán Thư quyển 14 ghi rõ: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận...." Chính vua Quang Võ nhà Đông Hán đã ra lệnh cho Mã Viện phải phá hủy trống đồng Bách Việt của Trưng Vương. Vì thế trên đất Hoa Nam hiện tại là đất Việt cổ tìm thấy trống đồng là việc đương nhiên. Hậu Hán Thư quyển 14 chép: "Mã Viện là người thích cưỡi ngựa giỏi, biết phân biệt ngựa tốt. Lúc ở Giao chỉ Mã Viện lấy được trống đồng đem đúc ngựa..."Mã Viện cũng đã phá trống đồng để đúc cột đồng trụ để chiếm cho chắc ăn phần đất từ Động Đình Hồ trở xuống Ải Nam Quan của nước Lĩnh Nam. Và vì sợ dân Giao Chỉ lấy cột đồng đúc trống và phá hủy biên giới do Mã Viện đề ra, nên Mã Viện ghi "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" để dọa dân Việt Cổ. Nhưng rồi chắc là dân ta cũng đã lén lấy đồng trụ để đúc trống vì thiếu đồng, nên đồng trụ biến mất. Ngoài ra, vì cần đồng để đúc trống nên dân Việt thường đem vàng bạc ngọc ngà hạt trai, sản phẩm quí đồi lấy tiền đồng của người Hán. Trước đó chính bà Lữ Hậu vợ vua Thái Tổ nhà Hán là Lưu Bang đã ra lệnh cấm bán, đổi chác tiền đồng cho dân Giao Chỉ. Riêng Mã Viện, từ khi thắng Trưng Vương, biết dân Giao Chỉ coi trống đồng như là một linh vật giữ nước. Mã Viện, có kinh nghiệm về việc Trưng Vương ra trận dùng trống đồng thúc quân, thấy uy lực trống đồng của Bách Việt rất lớn, giúp họ đánh giặc rất hăng. Việc đúc ngựa, đúc đồng trụ chỉ là cái cớ để tiêu hủy linh vật của Bách Việt mà thôi vậy ai dám bảo trống đồng do Mã Viện và Gia Cát Lượng đúc thì thật là xuyên tạc lịch sử mỹ thuật Việt Nam một cách trắng trợn. Nhân đây xin kể một trường hợp xuyên tạc, bình gốm Hoa Lam cổ, trưng bày ở viện bảo tàng Istambul, cách đây trên 50 năm, Tàu và Nhựt tìm xem có thể là của họ không. Nhưng đến khi thấy niên hiệu ghi trên bình là niên hiệu vua Việt "Thái Hòa Bát Niên..., Bùi Thị Hi bút" (xem hình 6), người Tàu bèn bảo đó là ... của một ông thầy Tàu qua Việt Nam chơi, làm để lạị... Và họ cho Bùi Thị là một người Nam, đọc là "Thái hòa bát niên Bùi Thị hí bút". Vào Thời kỳ đó người ta hoàn toàn chưa biết Việt Nam đã có lò gốm hoa lam rất sớm từ thế kỷ 12, 13 với màu xanh bản địa chứ không nhập cảng màu xanh tươi của Ba Tư như Trung Hoa. Phải mất 30 năm sau, khi khảo cổ học Việt Nam tìm thấy dấu tích nhiều lò nung gốm cổ hoa lam trên đất Bắc từ thế kỷ 12, 13 cùng những sản phẩm phế thải của lò và những gốm Việt Nam cổ có hoa văn giống hoa văn trên độc bình ở Istambul, mới chứng minh đích thực bình cổ danh tiếng ở bảo tàng viện Istambul là của Việt Nam do một phụ nữ là Bùi Thị Hi ( hoặc nghệ nhân học Bui vui tay viết ) trang trí. Trở với dân du mục Mông Cổ, họ sống bằng săn bắn và du mục. Do đó họ không thể nào là những người đã phát sinh ra nền văn hóa nông nghiệp. Và như thế họ cũng chẳng bao giờ có họ hàng và cần thiết có họ hàng với các ông Thần Nông (người tài giỏi về làm ruộng), bà Nữ Oa đội đá vá trời (tức là người tìm hiểu và kinh nghiệm nhiều về thời tiết giúp nhà nông làm ruộng). Dân du mục phải thường xuyên chống chọi với thú rừng, cũng như chống chọi với các đoàn du mục khác, họ phải đấu tranh không ngừng. Vì thế họ là một chủng tộc mạnh, tài nghệ bắn cung, cưởi ngựa, đô vật, đâm chém của họ rất cao, chính nhờ vào tài nghệ nầy mà họ đã thành công trong việc chiếm lục địa Trung Hoa và chiếm Việt Nam sau nầy, giòng máu du mục buộc họ luôn sẵn sàng chiến đấu, từ đó nảy sinh giòng máu xâm lăng. Vả lại khí trời miền bắc lạnh, nên bản chất họ rất khỏe, họ rất sợ khí nóng ở miền nhiệt đới nông nghiệp mà họ coi là nơi âm phong chướng khí. Cũng vì lý do trên, người Trung Hoa gốc Mông Cổ không thể có các vị vua Thần Nông "vua trồng trọt xứ nóng" tức là vua Viêm Đế, cần thiết của nhà nông. Dân Bách Việt hiền lành ở miền Nam lo nghề nông, không quen đánh giặc bị họ chiếm hết đất đai và văn hóa Suốt trên hai nghìn năm chúng ta hầu như chỉ học cho biết rằng Việt Cổ là một đất nước vô văn hóa, man di, được nhờ Tàu Mông Cổ khai hóa, dầu rằng Tàu gốc Mông Cổ không chứng minh được nguồn gốc văn hóa của họ. Như thế đủ thấy ảnh hưởng của việc bị đô hộ Tàu, kể cả Tây sau nầy, là nguy hiểm như thế nào!. Chính vì vậy mà LM Triết Gia Kim Định đã gia công nghiên cứu một triết lý An Việt và nói đến "... một nền văn hóa Việt Nam cổ mồ côi.." . Nhưng văn hóa tiền sử Việt Nam đã bị che dấu và cướp đoạt vì sức mạnh, chứ nhất thiết không hẳn là một văn hóa mồ côi văn hóa Việt cổ có mẹ đẻ từ các nền văn hóa tiền sử Việt Nam, và đã sinh đứa con khổng lồ là nền văn hóa ?~siêu việt?T Trung Quốc. Chính văn hóa Trung Quốc lúc không nhận là con đẻ của văn hóa Bách Việt, là một văn hóa mồ côi lúc Tưởng Giới Thạch ra lệnh nghiên cứu về văn hóa Trung Hoa từ ngày nay trở về trước. Nhưng khi lên đến nhà Hán và thời Khổng Tử, các nghiên cứu gia Trung Hoa Dân Quốc đành bỏ dở vì vấp phải nguồn gốc văn hóa Bách Việt!. Với thực dân Pháp, trong vòng 80 năm đô hộ Việt Nam, chúng đã lấy biết bao tài sản của đất nước ta đem về cất giữ và xây dựng đất nước họ, làm giàu Viện Bảo Tàng của họ (ví dụ đàn đá báu vật hiếm quí, nào 4 quyển sách trước tác của cụ Nguyễn Du, v.v. và v.v... Pháp cướp về nước tất). Tương lai gần chúng ta nhất định phải đòi lại tài sản bị cướp, đòi bồi thường và đòi Pháp phải xin lỗi dân tộc Việt Nam. Như đã nói trên trong thời gian bị thực dân Pháp đô hộ, việc khảo cổ trên đất nước ta chỉ dành độc quyền cho người Pháp. Chuyên gia và khảo cổ gia Việt Nam có đóng góp công lao ý kiến cũng không được ghi lại người Pháp mà tiêu biểu là ông H. Mansuy đã có những phán đoán sai lạc, lập luận lầm lẫn về văn hóa mỹ thuật tiền sử và lịch sử Việt Nam. Trước những khám phá về văn hóa tiền sử và lịch sử Việt Nam, ông ta luôn có thành kiến rằng, bao nhiêu nền văn hóa xa xưa của Việt Nam cổ từ thời tiền sử vốn chỉ là "... hàng nhập cảng...", "... hàng vay mượn... hàng thiên di, v.v... của phương Bắc hay phương Tây..." ! . Từ trước, với phong cách thực dân khi Ông H. Mansuy khi nhìn thấy những viên gạch lót nền nhà cổ có hoa văn đẹp (xem hình gạch lót nhà có hoa văn), đào lên từ lòng đất, đã nói rằng: Đây là gạch nhập cảng để làm bàn thờ chứ không thể lót nền nhà. Ngày nay chúng ta đã tìm thấy nhiều lò gạch cổ sản xuất gạch có khắc hoa văn ở Bắc Hà, và đã đào được nền nhà lót gạch có hoa văn thời nhà Trần, ví dụ nền nhà có lót gạch hoa văn của Hưng Đạo Vương tại Vạn Kiếp. Các nhà học giả về khảo cổ học khắp thế giới và Việt Nam đã chứng minh về tính chất bản địa của những nền văn hóa tiền sử xưa nhất và phát triển nhất trên đất nước Việt Nam mà đặc biệt là văn hóa Hòa Bình với sự ra đời sớm nhất thế giới của nông nghiệp lúa nước cũng như các nền văn hóa lịch sử sau nầy. Nhà học giả Sauer Hoa Kỳ đã viết trong quyển Đồng Quê: "Đúng là nông nghiệp đã tiến triển qua 2 giai đoạn, mà giai đoạn đầu là giai đoạn của văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt), lúa nước đã được trồng cùng một lúc với củ môn nước (khoai sọ)."đến nay tất cả các nhà khảo cổ học, sử học Hoa kỳ như các ông C. Sauwer, R. Somhein, Trương Quang Trực (Ông Trực là người Mỹ gốc Trung hoa), ông Jorhman và học giả Nga Sô là ông N. Vavilow đều công nhận: "Đông Nam Á mà chủ đạo là Việt Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rất sớm sủa, tiên tiến và nhanh chóng, sáng tạo và sống động chưa từng thấy một nơi nào khác trên thế giới". Chúng ta hãy nghe mấy dòng sôi nổi của ông C.O Sauer viết trong quyển Agricultural Origins and Dispersals Xuất bản ở New York: "Tôi đã chứng minh Đông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ nàỵ Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Đông Nam Á,và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỷ thuật trồng trọt và cải biến cây cối bằng cách tái sinh sản thực vật." Trước đây người ta vẫn ca tụng địa điểm văn minh tân thạch khí ở vùng Tây Á Tiểu Á và cho rằng đây là một xứ nông nghiệp xưa nhất thế giớị Vì đã có những niên đại C14 lên đến thiên niên kỷ thứ VI, việc phát hiện ra nền nông nghiệp tại Hòa Bình cách đây trên 10.000 năm đã làm cho thế giới rung chuyển, chao động. Như vậy trung tâm nông nghiệp xưa nhất không còn là vùng Lưỡng Hà mà là Đông Nam Á mà chủ đạo là Việt nam. Việt Nam đóng vai trò quan trọng nhất vì nơi đây là điểm phát xuất chính. Chúng ta hãy nghe lời bình luận xác đáng của ông W. G. Solheim II đã viết từ năm 1967. "Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Đông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát giác ra rằng việc thuần thục hóa cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) hoàn thành vào khoảng 10.000 năm trước TC..." "... Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn (Việt Nam)..." "... Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Đông Nam Á có những văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài láng đầu tiên của Châu Á, nếu không nói là đầu tiên trên thế giới và đồ gốm đã được phát minh..." "... Rằng không phải là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tuởng về nông nghiệp cho phương Tây và sau nầy một số cây đã được truyền đến Ấn Độ và Phi Châụ Và Đông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiền tiến ở Viển Đông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 tr TC tức khoảng 1500 tr TC." (Nữa đầu thiên niên kỷ thứ 2 tr. TC tức khoảng 1500 sau khi Mông Cổ chiếm lục địa Trung Hoa non 1500 năm.) Như đã nói trên, Trung quốc thừa hưởng văn hóa nông nghiệp phát triển nhờ dân Bách Việt còn lại trên hoa lục. Chính nhờ sự phát triển của những sắc dân Bách Việt nầy mà Trung quốc rộng lớn có đủ tư cách thay thế xung lực phát triển nông nghiệp Đông Nam Á vào khoảng năm 1500 tr TC. Như vậy chứng tỏ chính dân Bách Việt tức Việt cổ dạy Tàu nông nghiệp chứ không phải ngược lại như Trần Trọng Kim đã viết trong Việt Nam Sử Lược. Chúng ta phải xúc động trước những lập luận rất vô tư, công bằng và rất khoa học của Solheim II, cũng như rất xúc động trước nắm gạo bị cháy dở hóa thạch đã tìm thấy ở Đồng Đậu Vỉnh Phú có niên đại 5.500 năm trước TC tức cách đây 7.500 năm, nắm gạo nầy đã đươc thử nghiệm bằng carbone14 (xem hình nắm gạo cháy). Nắm gạo cháy dở của thời phát trịển trồng lúa nước nầy cũng chứng minh cho chúng ta rằng lúa nước đã được trồng từ rất lâu không ai biết được trước lúc nắm gạo bị cháy như ông Sauer đã cho rằng lúa nước đi đôi với nghề đánh cá Những sự kiện trên đây đã được công bố lên thế giới từ lâu với C.O Sauer chẳng hạn, trong quyển Agricultural Orgins and Dispersals, New York 1952, với Wilhelm G. Solheim trong quyển Southeast Asia and the West. Science vol. 157, 1967, p.899. Ít nhất là 3 năm trước thời gian mà ông Trần Văn Tốt xuất bản quyển Introduction à lart ancien du Việt Nam bằng tiếng Pháp năm 1969. Chúng tôi nói ngay với ông Trần Văn Tốt rằng một trong các văn hóa tiền sử Việt Nam, văn hóa Hòa Bình của Việt Nam không phải là đứa con nuôi, con vay mượn, con hoang, hay con mồ côi, nó chính là con đẻ của văn hóa Sơn Vi kéo dài từ rất xa xưa có thể lên đến 500.000 năm đến 25.000 năm trrước Tây Lịch . Thường người ta lấy một niên đại tượng trưng gần nhầt là 30.000 năm làm mốc trung gian. Và để tiếp tục cuộc đời, văn hóa Hòa Bình đã dẩn đưa nhanh chóng đến một nền văn hóa nổi danh thế giới của Việt Nam là văn hóa Bắc Sơn. Và từ văn hóa Bắc Sơn đến các nền văn hóa Quỳnh Văn, Bầu Tró, Hoa Lạc, Phùng Nguyên, Gò Mun, Đồng Đậu và cuối cùng là Đông Sơn. Sự liên tục của các nền văn hóa luôn được duy trì bằng những chứng minh cụ thể. Thật vậy các nền văn hóa Việt Nam cổ ngày càng được tìm thấy là có những bước tiến mạnh mẽ, những nét phát triển huy hoàng. Mãi cho đến thời Bắc thuộc lần thứ I thì, văn hóa Đông Sơn nước ta, bắt nguồn từ thời tiền sử, bị ngưng hẳn. Chính giặc Mông Cổ là những người đã xâm lăng các nền văn hóa tiền sử và sơ sử Việt cổ từ trên đất Trung Nguyên cho đến Việt Nam. Họ lấy hết cả, vừa đất đai, vừa công trình, vừa công cụ, vừa con người, vừa những người thợ tài giỏi Việt cổ đem về Tàu để phát triển nên nền văn hóa ?~siêu việt?T của Trung Hoa sau này đồng thời cướp lấy, họ phá hoại, họ cấm cản mọi sự phát triển văn hóa địa phương của kẻ bị trị: trong suốt non 1000 năm đô hộ, họ đã cố tâm cướp đoạt, hủy hoại, cấm đoán, dìm dập và dấu diếm tất cả mọi vết tích, mọi hình thức phát triển của văn hóa lịch sử Việt Nam. Lòng đất đã được phơi bày mọi sự thât. Chính sách vở và các học giả Trung Hoa hiện đại cũng đã nhìn nhận những sự thật trên. Văn hóa Việt Nam bị tê liệt, bị biến mất do xâm lăng và cướp giựt của Trung quốc. 1000 năm quá dài, con cháu không được truyền đạt, nên dần dà người Việt nam tự cho là mình đã được người Tàu khai hóa như các sử gia Trần Trọng Kim và Đào duy Anh nói trên, thật là hổ thẹn với tiền nhân thay!!. Từ rất sớm, năm 1932, tại Đại Hội Nghị Quốc tế của các nhà khảo cổ tiền sử học Viễn đông, vấn đề văn hóa Hòa Bình nước ta đã được xác nhận một cách chính đáng. Vấn đề thực tiễn là nền văn hóa Hòa Bình có mặt trên toàn thế giới nhưng điều quan trọng ở đây là nền văn hóa nầy đã được tìm thấy ở Việt Nam sớm hơn đâu cả, nghĩa là có trước những nơi khác trên thế giới và tìm thấy ở Hòa Bình một làng nhỏ Việt Nam, ở vào một thời gian xa xưa nhất (cách đây trên 16.000) đối với các nơi khác trên thế giới. Điều nầy có nghĩa là người Việt cổ tại Hòa Bình Việt Nam đã làm nên nền văn hóa Hòa Bình trước nhất trong nhân loạị Nói một cách khác, người Hòa Bình trên đất Việt Nam đã có một thời văn minh xưa nhất thế giới, đó là sự thật mà khoa khảo cổ học thế giới minh chứng và xác quyết. Thế nên khảo cổ học thế giới đã lấy tên của một làng quê Hòa Bình Bắc Việt đặt tên cho nền văn hóa nầy gọi là văn hóa Hòa Bình cho toàn thế giới (xem Encyclopédie d''Archéologie). Thế là Hòa Bình tại Việt nam đã được coi là trung tâm văn minh tiền sử đầu tiên của nhân loại về nông nghiệp lúa nước và về công nghiệp đá. Chẳng những nền văn minh tiền sử nầy ngang hàng với Trung Mỹ và miền Lưỡng Hà về phương diện kỷ thuật. Một điểm rất đáng hảnh diện là: "Hòa Bình đã được thế giới xác nhận là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới". Trung tâm nông nghiêp cùng chăn nuôi đầu tiên trên thế giới tại Hòa Bình Việt Nam đã có trước vùng Lưỡng Hà đến 3000 năm. Như vậy thì còn điểm nào nghi ngờ rằng nơi nào nhập cảng nơi nào!. Hòa Bình, trung tâm văn minh nông nghiệp đầu tiên của nhân loại trên thế giới, để rồi từ đó nền văn minh trên được lan tràn khắp vùng Đông Nam Á: Trung Quốc, Nhựt Bản, Mã Lai, Thái Lan, Ấn Độ, v.v.... Mà ở Hòa Bình là nơi sầm uất, giàu thinh hơn đâu hết và đã có vị vua Viêm Đế (vua Nóng tượng trưng cho mùa trồng trọt) tức là Thần nông, người đã nghiên cứu dạy nghề nông và được tôn sùng như một vị vua, và bà Nữ Oa là người đã nghiên cứu thời tiết nắng mưa, cùng các ngày lễ, ngày Tết phù hợp với mùa màng và sự nghỉ ngơi của người nông dân sau khi mùa đã thâu hoạch. Bà Nữ Oa đã nghiên cứu thời tiết lúc gieo, lúc cấy, lúc gặt, mà dạy dân làm ruộng không thất mùạ Vì thế dân gian coi bà Nữ Oa như một vị thần linh có khả năng "lấy đá vá trời". Văn hóa tiền sử nước ta đã thu hút thế giới vào văn hóa Hòa Bình. Một trung tâm kinh tế sản xuất đầu tiên trên thế giới một trung tâm kỹ nghệ đá đầu tiên của nhân loại, trước rất xa văn hóa Lưỡng Hà và Trung Mỹ (Mexico hiện tại) đến cả 3 thiên niên kỷ. Bước tiến này nhảy vọt mạnh với văn hóa Hòa Bình, có lẻ một phần cũng nhờ ở biến cố thiên nhiên là trận Đại hồng thủy thế giới đã xẩy ra thời văn hóa Hòa Bình (sẽ nói rõ sau). Nói chung đó chỉ là một suy luận, nhưng thật chất là đã có sự phát triển liên tục và rõ ràng từ văn hóa Sơn Vi đến Hòa Bình. Tiềm lực của văn hóa Hòa Bình là càng ngày càng đưa con người thích nghi nhu cầu sự sống với một cố gắng như là một cuộc cách mạng. Đó là cuộc cách mạng sinh sống bằng kỷ nghệ sản xuất công cụ để bán đi khắp nơi cho thợ đá. Và dụng cụ nông nghiệp đá cho người dùng. Với nhu cầu sản xuất nông nghiệp mới nầy, tất nhiên kỷ nghệ đồ đá phải phát triển. Văn hóa Hòa Bình là văn hóa đá giữa, nên nó có một ảnh hưởng sâu rộng về nghệ thuật đá mới vì chính nơi đây, Hòa Bình, trên đất nước Việt cổ, là điểm phát xuất ra nhũng nền văn hóa thuộc nền cách mạng đá mới của các nước Trung quốc, Nhật Bản, Philippine, Indonesia, Mã đảo và cả miền Địa Trung Hải, v.v.... Chính vì vậy, Việt Nam chính là trung tâm cách mạng sản xuất đá mới đã được thế giới khẳng định. Có rất nhiều tầng văn hóa của các nước trên thế giới thuộc văn hóa Hòa Bình nhưng trẻ trung hơn, tức ra đời sau hơn nhiều, so với Hòa Bình, đã được nghiên cứu đến và đều được qui về văn hóa Hòa Bình. Thế giới đã khẵng định rằng trong những nền văn hóa ấy không hề có thuật chế tạo đá sỏi như ở Việt Nam. Đá sỏi hay đá cuội là lỏi đá rất cứng với đá nầy chế tác ghè đẻo rất khó. Nhưng không có công cụ bằng đá sỏi, thợ đá không làm nghề đục dẻo gọt dủa mài đá được. Vậy nên chỉ có thợ làm công cụ bằng đá sỏi mới làm nên đồ nghề bán cho thợ đá làm việc chế tác nên dụng cụ đá cho mọi người xử dụng. Thời gian, mưa gió và ánh nắng mặt trời đã làm tan vở rồi bào mòn và tẩy sạch những tảng đá lớn. Hạt nhân đá còn lại có độ cứng rất cao gọi là đá sỏi hay đá cuội chế tạo những hòn đá cứng nầy rất khó khăn. Nhưng người ta cần những rìu đá, búa đá, dao đá bằng đá sỏi mới có thể sản xuất ra những rìu, búa, dao, cày đá bằng đá tảng mềm hơn cho người nông dân. Ghè đẻo trên đá sỏi cứng rất khó, nhưng rất cần thiết. Vì những công cụ bằng đá sỏi cứng dùng để chế ra các công cụ đá tảng dễ dàng hơn. Chỉ ở Hòa Bình mới có nghệ thuật chế tác đá sỏi cứng, với số lượng rất cao, dùng để bán đi khắp nơi cho thợ đá chế tạo những dụng cụ bằng đá. Thợ đá dùng công cụ đá sỏi cứng của Hòa Bình mà chế tác các dụng cụ nông nghiệp đá tảng mềm hơn đá sỏi, khắp nơi trên địa cầu có rất nhiều học trò về chế tạo đá của các bậc thầy đá Hòa Bình Việt Nam. Điều nầy chứng minh rõ ràng là chỉ trong nền văn hóa Hòa bình tại Việt Nam mới có việc sản xuất công cụ đá cứng cho người thợ đá xử dụng như là dụng cụ chế tạo đá. Vậy còn ai hoài nghi Hòa Bình không phải là trung tâm đẻ ra nghiệp vụ đá cho nhiều quốc gia trên thế giới văn hóa Hòa Bình là một nền Văn hóa cách mạng ra đời,trước văn hóa Bắc Sơn, và như trên đã nói, lẽ dĩ nhiên trước Đông Sơn rất lâu, ít nhất đến cả từ 6.000 đến 8.000 năm. Và chính Hòa Bình là mẹ đẻ ra nền văn hóa nổi danh Bắc Sơn và sau nầy là văn hóa Đông Sơn rực rỡ huy hoàng. Văn hóa Đông Sơn kéo dài cho tới khi Tàu qua chiếm nước ta lần đầu tiên thì ngừng hẳn. Điều nầy chứng minh rõ ràng Tàu đã đến cướp mất, phá hoại, cấm chỉ sự phát triển văn hóa của nước Việt cổ. Rõ ràng cũng nhờ cướp bóc lỏi cốt văn hóa Bách Việt cộng với sự giàu mạnh của cải và quân lực mà văn hóa Trung Hoa tiến nhanh sau nầy. Thật vậy, nhờ vào khảo cổ học mà mọi bí ẩn của tiền sử đã được làm sáng tỏ. Và thế giới đã công nhận Việt Nam, tiêu biểu là văn hóa Hòa Bình mà tên tuổi đã được thế giới hóa (Encyclopédie d''Archéologie), đã được thế giới xác nhận là nơi có một nền nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới. Có thể vì văn hóa Hòa Bình nằm vào thời điểm của trận Đại hồng thủy cách đây từ 17.000 năm đến 6.000. Cuộc Đại hồng thủy nầy bao gồm cả thế giới, theo đó chắc nó ăn khớp và trùng hợp với cuộc Đại hồng thủy đã được diễn tả trong Cựu Kinh Ước của đạo Do Thái và Đạo Công Giáọ Vì vậy theo khoa học, rõ ràng trước và sau Đại hồng thủy loài người đã có mặt thậm lâu trên miền Đông Nam Á, mà quan trọng là tại Việt Nam. Sau vụ đại hồng thủy nầy, nơi trên thế giới nguy hại nhiều nhất, chính là Lục Địa Đông Nam Á. Vì một phần đất lớn của miền nầy đã sụp xuống biển, mở rộng thêm Thái bình dương. Xét theo thềm lục địa Đông Nam Á, các nhà khảo cổ nhận thấy Đại hồng thủy lên và lui rất chậm chạp, vì thế không xẩy ra tai nạn chết người tập thể. Và như vậy số người đã sống trên bình nguyên Đông Nam Á cũ mà nay là biển đã di tản nguyên vẹn ra khắp các lục địa Đông Nam Á, và Úc Châu còn lại có lẽ đó là lý do chính của sự hỗn hợp nhiều chủng tộc trên miền Đông Nam Á. Phần đất còn sót lại sau Đại hồng thủy trở nên quá ít đối với số dân sống bằng hái lượm trước kia do đó vấn đề cần thiết cho sự sinh sống của người Đông Nam Á mà trong đó người Bách Việt cổ là căn bản là đi tìm thức ăn. Người Bách Việt cổ đã di tản lên chốn cao nguyên tức là lục địa Bách Việt cổ mà nay là miền Nam Trung Hoa và đồng bằng Bắc Việt và thẳng đến miền duyên hải Trung Việt (vùng Quảng Trị Quảng Hóa tức là Thừa Thiên). Người Việt cổ bắt buộc phải nghỉ đến cách làm tăng số lượng thực phẩm cần thiết để sinh sống mà trước đây họ chỉ cần tìm thấy dễ dàng trong thiên nhiên. Đây có lẽ là nguyên nhân phát triển nghề nông của các chủng người đã di tản đến Đông Nam Á mà chủ yếu là Việt Nam cổ. Nguồn : TTVNOL
  2. Hoan nghênh, hoan nghênh, bể học bao la, nhận thức thì có hạn. Chúng ta cũng chỉ là nghiên cứu thôi!
  3. Trong dân gian thì còn rât nhiều môn, khó mà nắm bắt hết được, nhưng quan trọng là phải được kiểm nghiệm. Không bàn việc số vợ chồng tốt hay xấu nữa vì Tuổi chỉ là 1 điều kiện ban đầu tiên quyết trong 1 mối quan hệ. Trong cuộc sống có vô vàng điều tác động nên chuyện vợ chồng thế này hay thế kia là chuyện bình thường. Chỉ cần nắm bắt được bản chất thì có thể hóa giải được. Còn ở bảng thứ 2 có lẽ là 1 pp tồn tại từ lẩu rồi, từ thời người nam còn được lấy nhiều vợ nên mới có bảng lập ra để coi có khả năng có bao nhiêu vợ. Vấn đề này theo TL thì xem tử vi chính xác hơn! Riêng môn Luận tuổi theo phương pháp của sư phụ Thiên Sứ cũng đã được sư phụ áp dụng lâu rồi, TL thấy tỷ lệ chính xác rất cao, nếu có không hợp thì có cách hóa giải! Chính vì thế mới rut ra kết luận "Yêu nhau cứ lấy" chứ không đặt vấn đề xung hay kỵ rồi để đó. Vì vậy mà hiện nay một số người coi tuổi chỉ có thể luận mà không có giải pháp, như vậy cũng là hạn chế và ảnh hưởng đến hạnh phúc của người khác, vô tình bản thân người luận lại vướng vào nghiệp!
  4. Thế sách có nói cách khắc phục ko? Một khi đã có Kỵ thì phải có cách hóa giải! Đặt ra vấn đề thì phải có giải quyết vấn đề!
  5. Ngày giờ phục vụ cho việc xem Tử Vi. Còn về cưới hỏi thì chỉ tính tuổi theo năm sinh là được! Theo TL thì chưa chính xác vì chỉ là tháng sinh, còn chưa kể năm sinh! Đọc qua thì thấy cũng xoay quanh các tháng Dần Thân Tỵ Hợi, Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuât Sửu Mùi. Nếu tính vận hạn theo tuổi thì xét tới tháng và ngày. Còn tính việc xem tuổi giữa 2,3 hoặc nhiều đối tượng thì tính năm là đủ! Vả lại VuiSong xét lại KỴ là KỴ như thế nào và ảnh hưởng của chữ KỴ này là gì? Sức khỏe? tiền bạc? tai ương? Nếu chỉ nói đơn giản là KỴ mà không xác định được cụ thể KỴ như thế nào thì phương pháp này vẫn chưa có tính hợp lý và cần phải có thời gian kiểm chứng! Thân mến.
  6. Đọc lại các bài trên nhé, có giải thích đầy đủ rồi!
  7. Dương mộc với âm Mộc là hợp, do có âm có dương trong 1 hành nên hợp!
  8. Giết người chặt đầu = bệnh nan y ??? So sánh không đồng đẳng! Nên nhớ không phải lúc nào tha cũng là nhân đạo. Tử hình cũng là hình phạt nhân đạo đấy bạn (không xét trong chiến tranh)!
  9. Phong cách "Chí Phèo" và văn hóa phản biện Nếu nhìn nhận một cách nghiêm túc, chúng ta có quá nhiều "chuyên gia" trong nhiều lĩnh vực. Kết quả là, người ta cứ nghĩ chỉ cần nói ngược lại những điều nhà nước nói, những quyết sách lớn có nghĩa là phản biện, có nghĩa là "sành sỏi". Một loạt chủ nhân các blog đã gặp quá nhiều rắc rối về mặt pháp luật vì lí do này. Đẽo cày giữa đường Cùng một sự kiện, một hiện tượng đôi khi có thể có các góc nhìn khác nhau. Chuyện một anh nông dân ra giữa đường ngồi đẽo cày. Nhiều người qua lại. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc làm của anh. Anh đẽo được một lúc thì một người đi qua chê: "Bác đẽo thế không phải rồi, bác đẽo to quá", anh nông dân nghe thấy có lý bèn làm theo. Anh làm được một lúc lại có một người đi qua bảo "Bác đẽo thế này không cày được đâu,cái đầu cày bác làm to quá...." Anh nông dân nghe có lý hơn, lại chỉnh sửa theo lời khuyên. Đẽo được một lúc lại một người đi qua nói"Bác đẽo thế không ổn rồi,cái cày bác làm dài quá không thuận tay", anh nông dân nghe lại có lý hơn, lại chỉnh sửa theo. Và cuối cùng hết ngày hôm đấy anh nông dân chỉ còn một khúc gỗ nhỏ, anh không còn cơ hội để đẽo cái cày theo ý mình nữa, cây gỗ quý đã thành một đống củi vụn. Anh buồn lắm nhưng cuối cùng anh đã hiểu "Làm việc gì cũng vậy, mình phải có chính kiến của mình và kiên trì với một con đường đã chọn" Tư duy phản biện Tác giả không có ý làm méo mó đi ý nghĩa của từ phản biện. Do vậy xin bạn hiểu từ phản biện theo đúng nguyên nghĩa của nó. Phản biện là một việc làm cần thiết. Đặc biệt trong bối cảnh xây dựng đất nước thời hội nhập tư duy phản biện càng trở nên quan trọng trước những thông tin đa chiều và trước những sự kiện mà đôi khi cái giá phải trả cho các quyết định sai lầm là không thể tưởng tượng được. Việc phản biện được nhìn nhận từ hai phía: Từ phía người tiếp nhận ý kiến phản biện và người phản biện. Người tiếp nhận ý kiến phản biện phải có được cái nhìn rộng mở, bao dung. Có phải vì thế mà Mác đã từng nói "cái mới là hợp qui luật nhưng cũng là cái xuất hiện sau, yếu thế.....". Phải chấp nhận cái mới nếu cái mới này đúng. Ảnh minh họa. Trong trường hợp người tiếp nhận ý kiến phản biện là người tôn thờ tư duy "nhất thắng, nhì hòa, không chịu thua" thì phản biện chỉ là là những tô điểm cho một nền dân chủ hình thức.Mặt khác nếu người tiếp nhận phản biện không có được một sự vững vàng về mặt lập trường cùng với một nền tảng kiến thức tốt trong lĩnh vực mà người này đang đảm nhận, e rằng tình trạng phân vân theo tư duy "đẽo cày giữa đường" không phải là không có khả năng xảy ra. Đôi khi người ta chỉ nhìn nhận phản biện ở góc độ của người tiếp nhận ý kiến phản biện mà quên mất đi nguồn gốc của phản biện đến từ đâu. Trên thực tế, người ta có thể thấy những lời than trách đại loại như: phi dân chủ, dân chủ hình thức, không thể hiện được ý chí của người dân....khi ý kiến phản biện không được đoái hoài. Trở lại với câu chuyện đẽo cày giữa đường. Người ta thấy, nếu anh nông dân kia có một kiến thức nhất định về việc đẽo cày và những "quân sư" cũng là người giỏi về việc này. Chúng ta có quyền kì vọng và hoàn toàn có cơ sở để kì vọng sẽ có một cái cày hoàn mỹ. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu những người "quân sư" hoàn toàn không biết gì về việc đẽo cày? Hoặc cũng có thể những người này mang trong mình một toan tính đầy nhẫn tâm "phá cho bõ ghét"? Tự do ngôn luận và hư danh thế giới ảo Một trong những quyền được thừa nhận rộng rãi và hầu như không có nhiều tranh cãi trong một xã hội dân chủ là quyền tự do ngôn luận. Tự do ngôn luận là việc một người được tự do bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai mà không bị (hoặc lo sợ) những chế tài bất lợi từ phía nhà nước. Tuy vậy, cũng cần phải làm rõ, quyền tự do này có những giới hạn nào không? Chữ tự do có thể được hình dung một cách dí dỏm qua câu chuyện vui như sau: Ông A có một con gà trống. Luật pháp thừa nhận ông là chủ sở hữu của con gà, ông có toàn quyền, nói cách khác là tự do trong các hành xử với con gà. Muốn nuôi cho vui, nuôi làm gà đá thậm chí là.... làm thịt con gà. Quyền này được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nhưng vấn đề rắc rối là cứ 3h sáng con gà lại quay đầu sang nhà hàng xóm gáy làm cho hàng xóm không ngủ được. Nếu bạn là người hàng xóm, bạn sẽ hành xử như thế nào? Lúc đó bạn có còn vui với con gà thuộc quyền sở hữu của ông A hay không? Do đó, quyền tự do, trong trường hợp chúng ta đang bàn là tự do ngôn luận, được nhìn nhận trong tương quan với quyền lợi của người khác. Việc thực hiện quyền này thế nào là tùy bạn. Nhưng nếu việc hành xử này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác thì giới hạn quyền tự do của bạn được dựng lên. Đôi khi, có thể thấy có nhiều quyết sách lớn không đạt được sự đồng thuận (tất cả mọi người) từ người dân. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu bởi trong bối cảnh tồn tại nhiều nhóm lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau thì việc đưa ra một giải pháp nhằm làm hài lòng tất cả các nhóm lợi ích hầu như là một điều không thể. Điều này không chỉ là bình thường ở Việt nam mà là điều rất đỗi bình thường ở bất kì quốc gia nào khác trên thế giới. Trong trường hợp ý kiến phản biện không được chấp thuận, chắc hẳn tâm lí không hài lòng âu cũng là chuyện bình thường nếu xét trong bối cảnh qui luật tâm lí. Nhưng đâu đó vẫn tồn tại ý tưởng rằng việc phản biện không hề có tác dụng tích cực. Từ đó, dẫn đến cách hành xử theo phong cách "Chí Phèo" trong hoạt động phản biện. Dạo một vòng qua các diễn đàn, những trang cá nhân những lời "phản bác" càng đao to búa lớn càng nhận được sự ủng hộ nhiệt lệ của cộng đồng cư dân mạng. Chính "hào quang" từ những comment (bình luận) kia đã làm cho tác giả những "phản bác" lâng lâng bay bổng mà quên mất mình đang dần bước ra khỏi ranh giới của quyền tự do ngôn luận mất rồi. Kết quả là những người này bị tuýt còi. Càng có thêm "tư liệu" cho những người theo trường phái "phản bác" đại loại như "nói không đúng đối tượng nên bị xử lí..." Nếu nhìn nhận một cách nghiêm túc, chúng ta có quá nhiều "chuyên gia" trong nhiều lĩnh vực. Kết quả là, người ta cứ nghĩ chỉ cần nói ngược lại những điều nhà nước nói, những quyết sách lớn có nghĩa là phản biện, có nghĩa là "sành sỏi". Một loạt chủ nhân các blog đã gặp quá nhiều rắc rối về mặt pháp luật vì lí do này. Hào quang của thế giới ảo mới ghê gớm làm sao. Nhìn nhận lại Hoạt động phản biện nói riêng và tự do ngôn luận nói chung là một quyền năng được ghi nhận trong một xã hội dân chủ. Để hoạt động phản biện có hiệu quả, trước hết giới cầm quyền phải chấp nhận việc phản biện. Nhưng mặt khác, để hoạt động phản biện thực sự là một hoạt động có ý nghĩa, bản thân người phản biện phải là người am hiểu về vấn đề đang phản biện. Trong trường hợp những lời phản bác (í quên phản biện chứ!) chỉ là một trò chơi chơi nổi nhằm tạo hư danh trên cộng đồng mạng thì vấn đề đã khác đi rồi. Tuanvietnam.net
  10. Nếu vậy thì sinh Quý Tỵ 2013!
  11. Hình như đây ko phải lá số của ngocnghech, có 1 topic khác đã hỏi rồi mà! http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...amp;#entry99915
  12. Diến đàn không xem cho người không phải thành viên, bạn thông cảm, vì một số lý do tế nhị khi đề cập đến những vấn đề của 1 người mà người đó không được biết!
  13. Nhà chị nên sinh con năm Sinh năm Nhâm Thìn 2012 hoặc Quý Tỵ 2013. Sau này sức khỏe người mẹ sẽ suy giảm nhưng gia đình sẽ khá hơn bây giờ, có điều kiện bồi bổ cho người mẹ!!!
  14. Không, xét thì xét cả cha mẹ, xét thiên can, địa chi và mạng. Âm mộc thì chắc chắn ko sinh âm mộc, cùng hành thì không sinh. Âm sinh âm vd như kỷ âm thổ sinh tân âm kim. Mão dậu là trực xung. Địa chi có Lục xung, Tứ tuyệt, lục hại... tam hợp nhị hợp..
  15. Là song nguyên nhưng để tốt thì con út phải hợp mẹ. Ở trường hợp này thì Mão - Dậu xung, 2 mạng âm Mộc nên cái tốt này chưa trọn vẹn!
  16. Trường hợp của anh là như thế nào? Vợ chồng tuổi gì?
  17. Ở đây http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...349&st=1140
  18. Tản mạn về chữ Việt cổ (chữ trên trống đồng Lũng Cú) - Khái lược về chữ Việt cổ: Trần Thi Từ hàng nghìn năm qua, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều khẳng định: Việt Nam có chữ viết từ rất sớm, trước chữ Hán cả nghìn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu, Anh, Tiệp xác nhận: “Ngay từ trước công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh – loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: lưỡi cày, lưỡi xéo, đặc biệt là trống đồng…cùng các hình vẽ chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần. Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ “khoa đẩu”. Ở Việt Nam, từ lâu, những nhà nghiên cứu như: Trương Vĩnh Ký, Vương Duy Trinh, Lê Huy Nghiệm, Lê Trọng Khánh, Hà Văn Tần, Trần Trọng Thêm, Phạm Ngọc Liễn, Đỗ Văn Xuyền… cùng đông đảo các nhà nghiên cứu Việt kiều đã có những thành công đáng kể. Qua các di chỉ khảo cổ, đặc biệt là các di chỉ thuộc nền văn minh Đông Sơn, trống đồng Lũng Cú, các bản khắc đá cổ… các nhà khoa học đã có những luận cứ chắc chắn, khoa học chứng minh cho sự tồn tại của chữ Việt cổ – chữ “khoa đẩu” mà thuở xưa Hùng Quốc Vương cho khắc trên lưng rùa bản tóm tắt lịch sử nước ta tặng cho vua Nghiêu để tỏ tình hòa hiếu – (Theo cổ sử Trung Quốc “vào thời Vua Nghiêu ( năm 2357 trước công nguyên) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà – tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau”. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của ta cũng ghi rõ điều này. Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông cũng ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” nghĩa là thời vua Nghiêu, nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu). Đó chính là bộ chữ ẩn trong bộ chữ “hỏa tự” do Tri châu Phạm Thận Duật tìm thấy ở Tây Bắc năm 1855 – 1856, cùng nhiều tài liệu khác có cùng cấu trúc đồng dạng – (Vương Duy Trinh năm 1903 là Tổng đốc Thanh Hóa, ông viết trong “Thanh Hoá quan phong” in năm 1903 đã cho rằng chữ Thái là chữ Việt cổ còn sót lại ở Tây Bắc. Vương Duy Trinh viết: “Vì thập châu (vùng Tây Bắc) là nơi biên viễn (biên giới xa) nên dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp (186) bắt bỏ hết để học Hán tự”. Bộ chữ Thái thổ tự của Phạm Thận Duật phát hiện năm 1855 cũng ở vùng Tây Bắc). Các nhà khoa học cho rằng văn tự này có thể là một biến thể của chữ “Khoa đẩu” hay “Hoả tự” đã ghi trong cổ sử. Thứ chữ đã tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt – Mường. Do không được sử dụng phổ biến, bộ chữ này bị đóng băng, không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Bộ chữ khoa đẩu ấy hình thành và phát triển đồng hành với dân tộc Lạc Việt cả về thời gian, không gian và quá trình lịch sử. Bộ chữ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt cổ trước công nguyên, tồn tại song hành cùng ngôn ngữ Việt, thích ứng với đặc điểm ngôn ngữ Việt. Cũng chính vì tìm được cách giải mã chữ Việt cổ mà các nhà nghiên cứu hiện nay có thể đọc được dễ dàng những trang sách chữ Quốc ngữ có tuổi hàng mấy trăm năm, nay chỉ còn lưu giữ giải rác trong dân và trong thư viện Lisbon, Pari, Roma… mà đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Đặc biệt theo: “Những tín hiệu thu được từ bản lược đồ địa danh ngôn ngữ Việt cổ” của giáo sư Lê Trọng Khánh, thì không gian phân bố của chữ Việt cổ vô cùng rộng lớn, góp phần vào việc vạch phương hướng tìm hiểu cương vực và nguồn gốc người Việt cổ. Như vậy “Chữ viết đóng góp quyết định vào nền văn minh Việt cổ” và: “Sự đồng nhất ngôn ngữ trên chữ viết và địa danh cổ càng khẳng định tính chất bản địa của người Việt cổ có nguồn gốc Đông Sơn và rất gần với nhau. Vấn đề này có liên quan đến việc phân bố dân cư cổ đại có nguồn gốc chung trên một địa bàn. Sự đồng nhất ngôn ngữ trên chữ viết và địa danh cổ, tổ tiên trực tiếp của chúng ta ngày nay. Người Lạc Việt đã sáng tạo văn minh Đông Sơn, có ảnh hưởng rất lớn đối với các dân tộc khác trước công nguyên” – (Lê Trọng Khánh). Cũng chính vì vậy mà bao năm Sỹ Nhiếp ra lệnh triệt phá, tàn sát, bộ chữ “khoa đẩu” của người Việt cổ vẫn có một sức sống bất diệt. Do tính chất khoa học và tiến bộ đặc biệt của bộ chữ Việt cổ đã được sáng tạo theo kiểu Alphabet, nên chỉ cần điều chỉnh đôi chút, các dân tộc Bách Việt đã có thể sử dụng để ghi tiếng nói của dân tộc mình, cũng như của Tổ Tiên Bách Việt. Một trong những thành tựu rực rỡ nhất mà ông cha ta xây dựng nên từ thời tiền sử là thành tựu giáo dục. Thời Hùng Vương chúng ta đã có một hệ thống giáo dục với các trường học, các thầy cô giáo và các học sinh. Cha ông ta đã phát minh ra giấy viết. Các nhà nghiên cứu đã dầy công tìm hiểu và có được chính xác được tên tuổi 18 thầy giáo từ thời Hùng Vương từ thời Hùng Vương thứ 6 và nhiều tên tuổi các học trò nổi danh trong lịch sử. Theo một cuộc điều tra của Pháp những năm 30 về hệ thống đền, đình ở nước ta – tài liệu vẫn còn lưu trữ ở Viện Hán – Nôm, thì toàn miền Bắc và miền Trung có hơn 40 đền thờ các thầy cô giáo và những học trò thời trước Hán, tức là thời Hùng Vương đến thời An Dương Vương. Tại thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, Thành phố Việt Trì (Phú Thọ) nằm trong địa phận của Kinh đô Văn Lang xưa, có đền Thiên Cổ Miếu, nơi tương truyền thờ hai vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang, đời Hùng Vương thứ 18, dạy hai công chúa của Hùng Duệ Vương là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Cho đến nay, qua những chứng tích còn lại, đấy là ngôi đền thờ thầy cô giáo, tôn vinh sự học cổ nhất ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu cũng thống nhất được bộ chữ Quốc ngữ được các giáo sỹ phương tây cùng những trí thức Việt Nam La Tinh hóa tên cơ sở bộ chữ “Khoa đẩu”, mà công đầu là của hai giáo sỹ Bồ Đào Nha: Cha Gaspan do Amaral và Cha Antonio Barbosa cùng đội ngũ những trí thức người Việt bằng những căn cứ khoa học không thể chối cãi đã được giới nghiên cứu trong và ngoài nước thừa nhận. Trên cơ sở công trình đó, sau này Alexandre de Rhodes hệ thống hóa và chỉnh lý hoàn thiện thêm. Như vậy, các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước qua hệ thống di chỉ khảo cổ, qua khảo cứu ngôn ngữ: thư tịch cổ, địa danh ngôn ngữ… đã khẳng định chắc chắn: Chữ Việt cổ đã từng tồn tại và phát triển ở trình độ cao từ rất sớm. - Đôi điều suy nghĩ: Các công trình nghiên cứu mới mang tính tự phát, xuất phát từ cái tài, cái tâm của một số nhà khoa học; chưa được các cơ quan chức năng coi trọng đúng mức; chưa có sự tổ chức tham gia của nhiều nhà khoa học và chuyên nghành liên quan; chưa có các hội thảo khoa học đúng nghĩa mang tầm quốc gia về vấn đề này. Bởi vậy ngay trong giới nghiên cứu cũng chưa có tiếng nói chung, con đường đến đích cũng vì thế mà dài thêm và không tránh khỏi có những vấn đề còn phải bàn bạc. Gần đây có những công trình rất đáng chú ý, như: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu”, của giáo sư Lê Trọng Khánh. Bằng những cứ liệu khoa học và khảo cứu ngôn ngữ mang tính bản địa đặc thù và nhất quán, giáo sư đã chỉ ra được sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ từ thấp lên cao. Công trình cả cuộc đời ấy có giá trị to lớn, đặt nền móng cơ sở vững chắc cho các công trình nghiên cứu tiếp của các họcc giả khác. Trong công trình này có những phần đặc biệt quí giá như: “Những tín hiệu thu được từ bản lược đồ địa danh ngôn ngữ”. Theo giáo sư nghiên cứu địa danh cổ là cơ sở để suy nghĩ về nguồn gốc người Lạc Việt. Và cùng từ lớp địa danh cổ này, khẳng định một vấn đề quan trọng, người Lạc Việt là cư dân bản địa, bắt nguồn từ một cộng đồng người cổ, vốn đã sinh sống trong tiền sử trên đất nước ta. Người Lạc Việt từ Hai Bà Trưng trở về trước, trong ngôn ngữ có lớp từ cơ bản là thống nhất; chính sự xâm nhập của người Hán – là yếu tố cơ bản có tác động đến sự chuyển hóa dần dần tiếng nói của người Lạc Việt thành những nhóm ngôn ngữ có yếu tố khác nhau trong lịch sử. Những dẫn liệu về địa danh cổ không dừng lại ở giới hạn sử liệu khô khan mà còn nêu lên nguyên nhân cơ bản lịch sử, đặc biệt từ sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, phương Bắc đã chiếm đất và đồng hóa một bộ phận người Lạc Việt ở Lưỡng Việt và làm phân liệt về tộc người thành các bộ phận khác nhau. (trong một ngày gần đây cuốn: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu” được xuất bản và phát hành rộng rãi trong và ngoài nước). Giáo sư vẫn ao ước có một sự tài trợ đúng mức về tinh thần và vật chất để hoàn thành công trình: “Yếu tố Mường – Việt trong ngôn ngữ Thái”, thêm một cứ liệu cho công trình chữ Việt cổ. Ở tuổi 87 trí tuệ còn rất minh mẫn, sức khỏe còn tốt, bầu nhiệt huyết với văn hóa dân tộc vẫn tràn đầy, song tiếc thay..! Ông Đỗ Văn Xuyền ở thành phố Việt Trì, năm nay đã gần 80 tuổi, đã mấy chục năm nghiên cứu về chữ Việt cổ. Theo ông là đã giải mã được bộ chữ Khoa đẩu, dùng bộ chữ ấy ghi lại được các mặt đời sống xã hội từ cổ đại cho đến hiện đại. Ông cũng dày công tìm được hệ thống thầy cô giáo thời Hùng Vương trên khắp đất nước và khao khát công trình được nghiệm thu, chữ Việt cổ được công khai thừa nhận và được đưa vào giảng dạy trong nhà trường… Dư luận trong và ngoài nước quan tâm rất cảm phục cái tài, cái tâm của các nhà nghiên cứu chữ Việt cổ, song không khỏi băn khoăn: Cứ liệu để khẳng định sự tồn tại của chữ Việt cổ qua di chỉ còn ít. Trong công trình của một nhà nghiên cứu, Chữ “khoa đẩu” tìm được giống chữ Thái Việt Nam tới trên 70%, nhưng việc chứng minh chữ Thái có nguồn gốc từ chữ Khoa đẩu chưa đủ tính thuyết phục. Ngay cách đọc các chữ cái khoa đẩu cũng giống người Thái đọc. Vậy ngày xưa ngôn ngữ nói của người Việt cổ như thế nào? Yếu tố Việt trong ngôn ngữ Thái còn đến bây giờ như thế nào? Hiện nay còn bao nhiêu phần trăm còn trong ngôn ngữ nói hiện đại? Cũng theo nhà nghiên cứu đó, chữ khoa đẩu có thể ghi âm được mọi mặt sinh hoạt trong xã hội hiện đại, vậy xã hội mà khi chữ khoa đẩu cực thịnh đã phát triển tới mức nào..? Trong khi mỗi ngôn ngữ là sản phẩm và chỉ phản ánh một giai đoạn lịch sử nhất định. Không có một thứ chữ nào thích ứng với mọi thời đại?! Và tại sao cho đến nay công trình nghiên cứu chữ Việt cổ chưa được trở thành công trình mang tầm quốc gia…? - Thay lời kết: Sự tồn tại và phát triển của chữ Việt cổ là một sự thật khách quan, được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước thừa nhận, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Việc nghiên cứu, tìm và giải mã được chữ Việt cổ có tác dụng to lớn giúp ta hiểu thêm về lịch sử nước nhà, tăng cường lòng tự hào dân tộc. Công trình chữ Việt cổ của các nhà nghiên cứu, dù thành công ở mức nào cũng rất đáng trân trọng. Bởi tất cả những tư liệu quí báu đó như những đốm lửa làm nên ngọn lửa, soi sáng cho chúng ta trên con đường tìm được, giải mã được, khẳng định được chữ Việt cổ của Tổ Tiên! Mong sao công trình chữ Việt cổ của các nhà nghiên cứu được chú trọng và đầu tư đúng mức trong lúc còn chưa quá muộn. Vanhac.org
      • 5
      • Like
  19. Tính hòa đồng của những ngôi chùa cổ Việt Nam Những ngôi chùa cổ Việt Nam đều có qui chuẩn vô cùng tinh tế, đó là tam giới giao hòa: mái tượng trưng cho tầng trời, với đất; thân là nơi thần và người tiếp cận, thông nhau, âm dương giao hòa. Đạo Phật được nhân dân ta rất tôn trọng bởi sự gần gũi với tín ngưỡng cổ của người Việt: đạo Mẫu, bắt nguồn từ đời nguyên thuỷ từ mấy nghìn năm trở về trước. Chiêm bái những ngôi chùa cổ trên dải đất hình chữ S, ta đều thấy có sự tương đồng trong kiến trúc. Đó là qui mô không lớn, thấp thoáng bên những ngôi nhà bình dị, hiền lành của những người dân một nắng hai sương, là những ngôi chùa nhỏ, gần gũi nhưng nhưng trang nghiêm, thầm lặng tỏa ra sức mạnh vô hình của đạo Phật và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Có lẽ xuất phát từ Đạo Phật dạy con người đi tìm sự đơn sơ nhưng thuộc về bản chất tốt đẹp nhất của con người, giúp con người ta luôn hướng tới những giá trị tốt đẹp của Chân – Thiện – Mỹ với đức từ bi hỷ xả. Bước chân vào những ngôi chùa nhỏ, con người ta thấy như được hoà vào thiên nhiên, hoà vào vũ trụ, hoà với thế gian của bản thân họ và họ tự nguyện, tin tưởng, thành tâm hướng về chính đạo, chứ hoàn toàn không bị áp chế do một áp lực tinh thần nào. Sự vĩ đại của đạo Phật và người theo đạo là ở cái tâm thánh thiện chứ không phải hình thức. Cũng chính vì vậy đạo Phật có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống nhân dân, ngay những người không theo đạo Phật cũng có lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm… Phật giáo ngay từ khi xuât hiện tại Việt Nam đã được bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Bởi vậy Phật giáo đã cùng sinh tồn cùng dân tộc trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, nhiều triều đại, đạo Phật được coi là Quốc Đạo. Những ngôi chùa cổ Việt Nam đều có qui chuẩn vô cùng tinh tế, đó là tam giới giao hòa: mái tượng trưng cho tầng trời, với đất; thân là nơi thần và người tiếp cận, thông nhau, âm dương giao hòa. Vì thế nền thường để đất mộc, hoặc có lát gạch với những mạch rộng hoặc dùng gạch bát thấm nước… rất gần gũi, không cao sang, nhưng thâm trầm, nghiêm cẩn. Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, trong đó, Phật điện là nơi cao nhất. Bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được “Phật hóa”. Các pho tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật. Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẻ đẹp, mà một trong những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế và khuôn mặt đầy lòng từ mẫn… Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa “tiền Phật, hậu thần” hay “tiền Phật, hậu Mẫu”. Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất. Những điều đó hoàn toàn không mang tính mê tín dị đoan, mà phù hợp với truyền thống đạo đức của người Việt. Đạo Phật và ứng xử với đạo Phật của mỗi người đi vào được bản chất tốt đẹp sâu xa của đạo, của phần “người” hơn. Mỗi người đi hành hương, chiêm bái hay dự các lễ hội cũng là trở về với thiên nhiên và nguồn cội tâm linh. Hiện nay do nhiều yếu tố, một số ngôi chùa được xây dựng với qui mô to lớn nhằm những mục đích nhất định, xa rời không gian văn hóa kiến trúc truyền thống. Chưa nói đến một số ngôi chùa người ta nhập vào nhiều thứ không phải Phật, mà nhiều khi gắn với mê tín dị đoan... Người ta đi đến những ngôi chùa đó như một địa điểm du lịch, để thỏa chí tò mò, để ngắm nhìn thán phục trước sự to lớn rất đời thường của công trình mang cái vỏ đạo Phật, để cầu lợi… Thực tế những kiến trúc được gọi là chùa đó đã vô hình bóp chết cái tâm trong sáng trong mỗi con người. Thậm chí qui mô to lớn, có phần thái quá của một số ngôi chùa hiện nay làm cho người ta cảm thấy nhỏ bé, choáng ngợp trước thiên nhiên, bị qui phục, chứ không xuất phát từ cái tâm trong sáng. Nếu những ngôi chùa cổ mang một vẻ đẹp văn hóa truyền thống của người Việt, thì những ngôi chùa đồ sộ kia chỉ thuần tính tôn giáo, xa rời với bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì vậy, việc giữ gìn và bảo tồn những ngôi chùa cổ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi đó là tiếng nói của tổ tiên, là di sản văn hóa của dân tộc trên con đường phát triển. Đồng thời đã đến lúc cần có những qui định cho kiến trúc một ngôi chùa, dân tộc, hiên đại, phù hợp với đạo đức và tâm hồn người Việt trên con đường hội nhập và phát triển. Trần Thi Nguồn: http://www.hoalinhthoai.com/?option=ban_ti...991&lang=vn
  20. Yếu Tố Việt-Mường và Tày-Thái Trong Nền Tảng Văn Hóa Đất Tổ Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ được mang tên theo ngữ hệ Tày - Thái cổ là dòng Nậm Tao, sau gọi Sông Thao. Dọc bờ hữu ngạn sông Thao xa xưa là địa vực cư trú của người Tày - Thái cổ. Thời Hùng Vương bộ tộc người Tày, họ Ma cư trú ở vùng chân núi Đọi Đèn thuộc huyện Sông Thao. Ông tổ họ Ma, tên là Ma Khê được vua Hùng phong làm Lương tướng. Vị Lương tướng họ Ma thường hội kiến với vua Hùng và thánh Tản Viên ở làng Văn Khúc. Đình làng Văn Khúc thờ Ma Khê có sắc phong ông là "Phụ quốc đại thần đại tướng quân Ma Khê" vì tương truyền ông được vua phong chức quan đầu triều lo về chính sự thay vua cha khi già yếu và giúp vị vua trẻ lúc mới kế vị ngai vàng. Ma Khê lấy người con gái ở chân núi Vi, cạnh đền Hùng. Về sau ông chuyển cả bộ tộc sang tả ngạn sông Thao. Cháu chắt ông là Ma Xuân cho đắp thành trồng lũy gọi là Ma Thành, gọi chệch là thành Mè. Ngày nay thị xã Phú Thọ có chợ Mè, nền móng thành Mè và ở phố Phú An có đền thờ ông là vì vậy. Vào thời 12 sứ quân cát cứ, cháu chắt Ma Khê là Ma Xuân Trường cầm đầu Ma tộc trấn giữ Thành Mè. Khi thành Hội Hồ (ở làng Văn Khúc) bị thất thủ, tướng quân Kiều Công Thuận chạy sang Ma Thành cùng với Ma Xuân Trường chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Kiều Công Thuận tử trận. Ma Xuân Trường chạy lên Tuần Quán, Trấn Yên, Yên Bái. Sau mất ở đấy, được dân làng lập đền thờ và Đinh Bộ Lĩnh vì thán phục uy đức mà truy phong ông là "Ma tộc thần tướng". Nay ở Làng Trù Mật, thị xã Phú Thọ cũng có đền thờ Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường. Dòng họ Ma nay cư trú ở thị xã Phú Thọ, Lâm Thao hậu duệ của bộ tộc ấy hiện có một chi nhánh cư trú ở Việt Trì có gia đình cụ Ma Văn Thực là thân sinh ca sĩ Ma Thị Bích Việt. Hiếm có dòng họ nào lưu giữ được thần phả, gia phả từ thời Hùng Vương như họ Ma ở Phú Thọ. Họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà... là những nhóm cư dân Việt cổ phát triển lên thành người Việt hiện nay. Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của hai nhóm Việt Mường và Tày - Thái ở Phú Thọ. Tản Viên là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hóa đến hoang đường, nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại, ta vẫn tìm được lõi thật lịch sử: ông là con một bà người Mường có tên là Đinh Thị Đen quê ở chân núi Thu Tinh làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở Động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng đắp vẽ thành một thần tượng của cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hóa. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thủy Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng gốc Tày - Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng. Yếu tố Việt - Mường và Tày - Thái còn biểu hiện ở sự pha trộn ngôn ngữ. Ngôn ngữ Tày - Thái cổ gọi tre là pheo, gọi chim là chóc gọi chó là má, gọi thật là chân để đan xen thành những từ ghép trong tiếng Việt như: tre pheo, chim chóc, chó má, chân thật. Cũng ghép như vậy với tiếng Mường để có các từ ghép: cá mú, nắng nôi, v.v. Ở khu di tích đền Hùng có ba quả núi. Trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày - Thái: Nỏn là út, vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi út. Ở xã Hy Cương, nơi có Đền Hùng, bên cạnh núi Nghĩa Lĩnh, nay vẫn còn một xóm có tên là xóm Bản Pheo. ắt hẳn người Tày - Thái cổ đến cư trú lập bản ở đây. Do có nhiều tre nên người ta gọi xóm bản của mình là Bản Pheo (pheo là tre) ngày nay xóm Bản Pheo vẫn chìm ngập trong bóng tre. Xòe là múa dân gian của đồng bào Thái. Người Mường ở các xã sát Sơn La, Nghĩa Lộ xưa cũng hay xòe. Phụ nữ Mường ở các xã đó tuy mặc áo cóm và áo dài kiểu Mường truyền thống, nhưng khuy cài cúc cũng khâu dải ngang. Cổ và hai nẹp áo trước ngực cũng thêu như áo phụ nữ Thái, và đầu vấn khăn "piêu" theo kiểu Thái. Người Mường ở vùng này cũng gọi quan đầu Mường của mình là ông quan ngài như người Thái. Có một họ Hà thờ con cuốc vì truyền thuyết họ Hà này cùng họ hàng với Thục Đế (họ Thục Phán). Con cuốc là tổ tiên của Thục Phán. Vùng Mường ở Phú Thọ vì thế có pha trộn văn hóa Tày - Thái ở cận kề. Tiếng Mường và Tày - Thái đều gọi ruộng là "na" hoặc gọi chệch "na" thành "là". ở vùng người Việt (Phú Thọ) cũng nhiều nơi gọi ruộng là "na" như ở Tứ Xã, Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thụy Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Là Pheo, Là Giũa, Là Đỏ, v.v. Một tấm bia trên đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là na như na Hưu, na Dầu, na Lao, na Hoàng, v.v. Vì nước Văn Lang thời các Vua Hùng là nước của người Lạc Việt (Việt - Mường) nên yếu tố Mường đậm đặc hơn yếu tố Tày - Thái trong nền văn hóa dân gian vùng Đất Tổ. Tổ tiên người Việt cổ ở Phú Thọ thời hồng hoang ắt hẳn sống trong các hang động có rất nhiều ở huyện miền núi Thanh Sơn. Phải chăng vì thế mà sau này khi rời hang động ra sống ở ngoài trời, người ta lấy động làm tên gọi điểm tụ cư như người Việt gọi là kẻ, chạ, thôn, làng. Trước đây người Mường thường vẫn gọi điểm tụ cư của mình là động. Triều đình cũng gọi là các động. Ở Phú Thọ cũng có các địa danh gọi là động như động Khuất Lão ở huyện Tam Nông, động Lăng Xương ở Thanh Thủy, thị xã Phú Thọ cũng có thời gọi là Phú An động. Thị trấn Hưng Hóa gọi Hoa Nham động. Làng Cự Đà (Phù Ninh) thời nhà Lý còn gọi là động Cự Đà, v.v. Riêng Phú Thọ gọi các ông già bà lão là bủ, do ảnh hưởng phong tục Mường. Người Mường Phú Thọ gọi những người già đã có chắt (cháu 4 đời) là bủ. Những người có chắt nội người Mường gọi là ông bủ hoặc bà bủ. Người có chắt ngoại được gọi là bủ vãi ông hoặc bủ vãi bà. Người chưa có chắt nhưng anh hoặc chị mình có cháu 4 đời cũng được gọi là bủ anh hoặc bủ em nếu anh, em ruột mình có chắt nội và được gọi là bủ vãi anh hoặc bủ vãi em nếu anh, chị mình có chắt ngoại. Từ đấy người Việt ở Đất Tổ gọi gộp những người già sáu bảy mươi tuổi trở lên là bủ để tỏ lòng tôn kính. Người Mường có tục gọi vía lúa. Những năm mất mùa, người ta phải đi gọi vía lúa về làng bản của mình. Người ta phải làm lễ cúng vía lúa, rồi thầy mo hoặc một người hát "rang" gọi vía lúa, rủ rê vía lúa về với mình. Nhiều làng Việt cũng có tục rước bông lúa thần trong lễ hội làng mình. Người Việt gọi là thần lúa cũng bắt nguồn từ người Việt - Mường gọi thần lúa là vía lúa. Vì có truyền thuyết vua Hùng từng đứng trên núi Nghĩa Lĩnh gọi vía lúa, nên ở Đền Hùng xưa cũng thờ hòn đá tượng trưng lúa thần. Nếu như người Mường thuộc Mường Kịt có bài hát "rang" gọi vía lúa như sau: .. Lúa nương thì ở phương xa" "Lúa nhà thì ở phương gần" "Về cúng mâm cơm mâm rượu" "Vui từ cửa từ nhà" "Sáng ngày mai vui ra đồng ruộng"... thì người Việt ở làng Nam Cường (huyện Tam Nông) lại có tục múa mo. Có chúa mo đứng chủ trò. Chúa mo có nguồn gốc từ các ông mo là người hoạt động tín ngưỡng của các cộng đồng người Mường. Chúa mo ở Nam Cường hát gọi: "Trong làng cây muống" "Làng ta làm ruộng" "Lúa tốt đề đa" "Là hú ha ha!" "Là hú hơ hơ!" Các lễ hội về mùa màng của người Việt cũng gần giống như của người Mường: lễ hạ điền, thượng điền, cơm mới, v.v. Nhiều làng Mường và Việt ở Phú Thọ cùng thờ Tản Viên làm Thành hoàng. Nếu như nhiều làng Mường thờ dâm thần như ở Thu Cúc xưa có đình miếu thờ nam thần dâm ở xóm Quẽ, nữ thần dâm ở Đồng Than, thì nhiều làng Việt ở Tam Nông, Lâm Thao, Sông Thao cũng có tục cầu thờ sinh thực khí như thờ nõ nường ở Tứ Xã, Sai Nga. Thờ kén (30 cặp sinh thực khí nam) ở làng Dị Nậu, v.v. Nếu như người Mường làm nhà mồ chia của cho người chết, thì người Việt cũng có tục đem theo đồ dùng cho người chết gọi là đồ tùy táng. Các hình thức cưới xin của người Việt cũng tương tự người Mường như tục nòm (ăn hỏi) đưa đón dâu, của hồi môn, v.v. Người Việt và người Mường đều có các trò chơi ném còn, cướp phết; từ đu cọn của người Mường, người Việt đã làm ra đu tiên. Cả hai dân tộc đều hát ví, hát đúm, đều ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình... Người Mường Thanh Sơn có tục hát nàng bung nàng bạn. Những đêm trăng thanh gió mát, các nhà mày (đạo diễn) trải 6 chiếc chiếu ra bãi cỏ cho nam thanh nữ tú vào hát đua tài. Có hát các tích truyện thơ Mường. Chỉ có hát mà chưa có diễn. Có tích nhưng chưa dịch ra trò. Phải chăng chiếu "nàng bung nàng bạn" là tiền thân chiếu chèo của người Việt ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Văn hóa vùng Đất Tổ là sự kế thừa phát huy văn hóa gốc Lạc Việt (Việt - Mường), Tày - Thái, và tiếp thụ các dòng văn hóa khác qua hàng nghìn năm giao lưu, với các vùng khác, các tộc người khác. NGUYỄN HỮU NHÀN
      • 1
      • Like
  21. Sau khi sinh bé Tân Mão thì công việc của anh Phamhung sẽ có chút xáo trộn (hoặc bây giờ đang có dấu hiệu xáo trộn) nhưng không phải lo, ít ra thì sẽ không xáo trộn như sinh lúc sinh đứa đầu, năm Tân Mão mạng con hóa giải xung mạng của bố và mẹ. Về cơ bản như vậy là tốt!
  22. Thì nó vẫn là giếng, chứ không thể biến thành cái khác được!
×
×
  • Create New...