-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
http://youtu.be/MMD6BhWLzx8
-
Xác nhận có sự đóng góp của Nhanqua 1,000,000 đ (một triệu đồng) cho quỹ từ thiện diễn đàn. Quỹ hiện có 1,000,000 đ (một triệu đồng)
-
Tôi sẽ khiến 4 vạn người ở SVĐ Mỹ Đình bị "vong" nhập! Nếu hội đủ điều kiện, chỉ cần một chiếc micro và hệ thống loa với âm thanh chuẩn, anh sẽ khiến khoảng 80% số người có mặt ở sân vận động Mỹ Đình, kể cả già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà bị rơi vào hiện tượng như bị vong nhập ở các trung tâm áp vong tìm mộ. Phần lớn thời gian nhà thôi miên y khoa Nguyễn Mạnh Quân ở nước ngoài. Thi thoảng anh mới về Việt Nam, vài ngày ở Hà Nội, vài ngày lại ở Sài Gòn. Nhà ở và nơi làm việc của anh là khách sạn. Sau nhiều lần hẹn hò, tôi mới gặp được anh Quân. Anh xuống tận lễ tân tiếp đón. Đó là người đàn ông nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, lời nói như gió thoảng, lịch lãm, rất dễ gần. Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân đang thôi miên. Buổi gặp gỡ hôm đó, tôi đi cùng một đồng nghiệp nữ. Mục đích lôi đồng nghiệp nữ đi cùng là để anh Quân làm thí nghiệm, còn tôi tỉnh táo và quan sát một cách trực tiếp. Tôi trình bày hiện tượng áp vong, ma nhập diễn ra rất nhiều ở Việt Nam, thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân thốt lên: “Thưa nhà báo, cách đây 2 năm, về Việt Nam tìm hiểu về chuyện áp vong ở các trung tâm tìm mộ, tôi đã phát biểu với các nhà khoa học, rằng cứ tình trạng áp vong lung tung thế này, sẽ có một ngày cả làng, cả xã, cả huyện phát điên, thậm chí là chết! Điều tôi nói là hơi quá, nhưng không đùa được đâu” Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân cho rằng, sẽ có nhiều người chết và phát điên nếu tình trạng áp vong nở rộ. Nghe điều anh Quân nói, tôi thực sự không thấy đùa chút nào. Thực tế, đã có người chết (chị Cấn Thị Lâm, Phụng Thượng, Phúc Thọ, Hà Nội), còn số lượng người bị tâm thần sau khi đi áp vong thì nhiều vô kể, chưa thống kê hết được. Anh Quân cũng kể rằng, anh đã đến rất nhiều trung tâm áp vong, tìm mộ, lên đồng để tìm hiểu, nghiên cứu, song anh chưa thấy ở đâu có vong nhập thật sự Anh Quân không tin có vong nhập vào người Để tôi thấy tận mắt hiện tượng gọi là vong nhập, ma nhập, anh Quân đã mời tôi chứng thực. Anh đã “áp vong” vào đồng nghiệp nữ đi cùng tôi. Anh Quân bảo, không phải việc áp vong với nữ dễ hơn nam, không phải phụ nữ yếu vía thì dễ bị vong nhập. Việc vong ít nhập vào phụ nữ, là vì cả xã hội, tư tưởng con người mặc định như vậy, nghĩ như vậy, tạo ra sự ám thị nặng nề. Với các chuyên gia thôi miên, thì đàn ông cũng như đàn bà, người già, người trẻ, người khỏe, người yếu, cũng sẽ bị “vong” nhập như nhau. Vì tin vào vong, nên nhiều gia đình đã tha tổ mối về thờ. Để chứng minh cơ thể con người là một bộ máy phức tạp, kỳ lạ nhất, anh đã thử nghiệm sức mạnh cơ thể. Anh yêu cầu đồng nghiệp nữ của tôi đứng dậy, nhắm mắt và thư giãn. Anh nâng cánh tay cô lên, nói vài câu ám thị, rằng cô có một sức mạnh mãnh liệt. Nói xong, anh gọi tôi đến, đề nghị tôi ấn tay đồng nghiệp xuống. Kỳ lạ thay, tôi lấy sức ấn xuống, cánh tay lại bật lên. Cánh tay yếu đuối của cô bỗng khỏe một cách kỳ lạ, tưởng chừng có thể đeo được vật nặng vài chục kg. Nhưng khi anh nói câu ám thị khác, thì cánh tay đó liền rơi thõng xuống, cô không còn chút sức lực nào. Chỉ bằng mấy câu nói, mà cánh tay cô đồng nghiệp của tôi trở nên cứng như thép. Sau khi yêu cầu cô đồng nghiệp của tôi thư giãn, bằng vài câu nói đơn giản, cô đồng nghiệp của tôi đã mất dần ý thức. Anh Quân nói: “Bây giờ, em sẽ không còn tên nữa. Em sẽ không có tên gì cả”. Nói rồi, anh yêu cầu cô mở mắt và hỏi cô tên gì, cô lắc đầu bảo không biết mình tên là gì cả. Thú thực, tôi hơi sửng sốt trước hiện tượng kỳ lạ trước mắt. Cô bạn đồng nghiệp thông minh sắc sảo của tôi đã mất sạch trí nhớ, quên mất cả tên của mình.Anh Quân bảo, sẽ còn nhiều hiện tượng lạ hơn nữa. Anh bảo với cô, đại loại là: “Trước mắt em là một không gian rộng lớn, bằng phẳng, không có một vật gì cản trở, em hãy đi lại một cách tự do”. Vừa nói xong, cô bạn tôi bước đi, liền va vào đủ thứ, ngã dúi dụi. Theo anh Quân, khi anh nói vậy, lập tức cô không nhìn thấy thứ gì cả, trước mắt là không gian rộng lớn, đẹp đẽ, nên cứ rảo bước, nên mới vấp ngã. Anh Quân bảo: "Bàn tay em thật dài", thì cô thấy các ngón tay mình dài ngoẵng như dị dạng. Để thử nghiệm ngược lại, anh đưa cô bạn tôi ra hành lang và nói rằng xung quanh có rất nhiều thứ, cần phải đi lại cẩn thận. Thế rồi, dù hành lang chẳng có vật gì, cô cứ nhón chân từng bước, đi quanh co, né tránh những thứ vô hình.Điều quái gở hơn nữa, là khi anh truyền ám thị rằng, có một con mèo rất đẹp, cô liền đưa tay bế mèo, thơm mèo, rồi nâng niu, nựng nịu như thể bế mèo thật, rồi cho nó đi tiểu, cho nó ăn. Khi anh nói có cô bé dễ thương, cô liền bồng đứa bé và hôn hít, ru ngủ ầu ơ. Nhìn cô bạn tôi lúc này đúng là đang bị tâm thần nặng. Có hay không cái gọi là vong? Để tôi thấy sự kỳ lạ hơn nữa, anh Quân liền truyền ám thị rằng, trước mắt cô bạn tôi là con voi của Hai Bà Trưng, rồi anh yêu cầu cô tả con voi đó. Lập tức, cô bạn tôi tả kỹ lưỡng, chi tiết hình dáng, độ lớn, sự dũng mãnh của con voi do Hai Bà Trưng cưỡi đi đánh giặc. Cô còn kể hai nữ tướng đánh giặc ra sao, hùng dũng thế nào, cứ như thể cô đang trực tiếp đứng xem hai nữ tướng ra trận.Sau khi bắt cô bạn tôi diễn đủ trò để tôi hiểu, thì anh đưa cô bạn tôi về thực tại, tức đưa ý thức trở về điều khiển cơ thể. Theo lời anh Quân, khi anh đưa ra ám thị, nói đến thứ gì, lập tức bộ não của người bị ám thị sẽ “vẽ” ra hình ảnh đó. Hình ảnh sinh động đến mức y như thật, khiến con người không thể phân biệt được. Nếu anh đưa ám thị vào cô bạn tôi, rằng cô là liệt sĩ A nào đó, lập tức cô sẽ là liệt sĩ A, nếu nói cô là Bà Triệu, đưa cho cô thanh đao, thì cô cũng sẽ múa đao, điều binh khiển tướng y như Bà Triệu! Anh Quân tuyên bố có thể khiến cả vạn người ở sân vận động Mỹ Đình bị "vong" nhập! Anh Quân tuyên bố rằng, anh không chỉ có khả năng làm cho cô bạn tôi biến thành người khác, bị đủ các loại “vong” nhập vào, mà còn khiến 80% lượng người ngồi chật kín sân Mỹ Đình xem bóng đá bị vong nhập. Để khiến 40 ngàn người bị vong nhập cùng lúc, điều kiện anh đưa ra là phải chặn xe cộ đi lại trên các con đường xung quanh để tránh gây tiếng ồn, ngoài ra thời tiết cũng phải râm mát. Nếu hội đủ điều kiện đó, chỉ cần một chiếc micro và hệ thống loa với âm thanh chuẩn, anh sẽ khiến khoảng 80% số người có mặt ở sân vận động Mỹ Đình, kể cả già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà bị rơi vào hiện tượng như bị vong nhập ở các trung tâm áp vong tìm mộ.Thạc sĩ thôi miên Nguyễn Mạnh Quân khẳng định có thể làm được điều đó và qua những gì chứng kiến tôi tin anh làm được. Theo lời anh, nếu cùng lúc mấy vạn người có biểu hiện giống bị vong nhập và có trạng thái tương đối giống nhau, thì có nghĩa không phải là vong nhập. Sự thật về vong nhập, ma hành ở các trung tâm tìm mộ được thạc sĩ Nguyễn Mạnh Quân lý giải cặn kẽ, dựa vào kiến thức thôi miên chuyên sâu của mình. Theo Phạm Ngọc Dương VTC News
-
Chính xác là cái điện thoại 10,000 usd và túi xách 5000 usd.Nếu cuộc hỏi đáp giữa bác TS và Mẹ của Trang Nhung là Thật ! ? Trí tưởng bở của tôi là : 1) Fan của Tr Nhung không biết làm từ thiện hoặc không biết làm phép tính nhân ái! 2) Trang Nhung không nhìn xuống những mãnh đời quanh mình. Ví như Trang Nhung từ chối món quà này mà thỏ thẻ biến nó thành 20 căn nhà tình thương có lẽ fan kia cũng phải nghĩ lại ? Vì thế cho nên 1 quy luật vô hình Thằng kẻ cắp thực hiện phi vụ trót lọt qua nó nhiều người sẽ nhận được lộc, bà chủ nhà nơi nó thuê, hàng cà phê đầu ngõ, những món nợ lỡ vay và những ân tình vệ tinh sẽ được nó hào phóng chi tặng....chia đều chia đều như sự công bằng được cài đặt mặc định. Xin phép mọi người xem qua bài viết này, tôi thường có suy nghĩ về luật vay trả một cách khiên cưỡng như thế các bạn ah!
-
Rất cám ơn sự chia sẽ của Thanh huyen, tuy nhiên cho đến lúc này Wild kiểm tra tk vẫn chưa nhận được, bạn nên xem lại có sự nhầm lẫn nào không để điều chỉnh kịp thời.
-
Trị ung nhọt bằng rau mùi tây Rau mùi tây có nơi gọi là ngò tây, tên khoa học là Petroselinum crispum. Đây là loại rau có rất nhiều công dụng trong y học mà dễ chế biến và hiệu quả, nhất là khi điều trị ung nhọt. Để chế biến thành thuốc trị ung nhọt, chúng ta dùng cối giã nhuyễn lá rau mùi tây. Trong lúc giã nên bỏ thêm một ít nước sạch đun sôi để nguội nhằm tạo nên một dịch sánh. Dùng dịch sánh này thoa trực tiếp lên vết ung nhọt, vừa thoa vừa ấn nhẹ (không ấn quá mạnh để tránh đau). Rau mùi tây trị ung nhọt rất tốt. Ảnh: Internet Dùng vải mùng quấn vết ung nhọt trong 15 phút để hạn chế dịch rơi ra ngoài. Sau đó xem thử vết ung nhọt đã mềm chưa, nếu mềm, có thể lấy cùi nhọt ra ngoài, nếu vẫn còn cứng thì tiếp tục dùng dịch thoa và cột vết ung nhọt bằng vải mùng thêm 15 phút nữa. Tiếp đó, dùng vải mùng sạch và nước ấm để rửa vết ung nhọt rồi lấy băng keo cá nhân băng lại cho đến khi vết ung nhọt lành. Thay băng keo mỗi ngày 2 lần.Để tăng hiệu quả trị liệu, nên ép chanh, tỏi, hành lấy dịch thay cho việc dùng nước trong quá trình giã lá mùi tây. Dược sĩ Nguyễn Bá Huy Cường (ĐH Dược Murdoch - Úc)
-
NGÀY XƯA CÓ MẸ Khi con biết đòi ănMẹ là người mớm cho con muỗng cháo Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu Mẹ là người thức hát ru con Bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn là khi tóc Mẹ ngày thêm sợi bạc Mẹ đã thành hiển nhiên như trời đất như cuộc đời - không thể thiếu trong con Nếu có đi một vòng quả đất tròn người mong con mỏi mòn chắc không ai ngoài Mẹ Cái vòng tay mở ra từ tấm bé cứ rộng dần theo con trẻ lớn lên Mẹ là người đặt cho con cái tên riêng trước cả khi con biết bật nên tiếng "Mẹ" Mẹ ! Cái tiếng gọi mà từ khi bập bẹ đến lúc trưởng thành con vẫn chưa hiểu hết chiều sâu Mẹ ! Có nghĩa là bắt đầu cho Sự Sống, Tình Yêu, Hạnh Phúc. Mẹ ! có nghĩa là duy nhất một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng Mẹ không sống đủ trăm năm nhưng đã cho con dư dả nụ cười và tiếng hát Chỉ có một lần Mẹ không ngăn con khóc là khi Mẹ không thể nào lau nước mắt cho con là khi Mẹ không còn Hoa hồng đỏ từ đây hoá trắng... Rồi những đứa bé lại chào đời và lớn lên theo năm tháng biết bao người được làm mẹ trong ngày Tiếng trẻ con gọi mẹ ngân nga khắp mặt đất này thành âm thanh không thể nào vắng lặng Mẹ ! Có nghĩa là ánh sáng một ngọn đèn thắp bằng máu con tim Cái đóm lửa thiêng liêng cháy trong bão bùng cháy trong đêm tối Mẹ ! Có nghĩa là mãi mãi là cho-đi-không-đòi-lại-bao-giờ Cổ tích thường bắt đầu từ: " Ngày xưa có một nang công chúa..." hay "Ngày xưa có một vì vua..." Cổ tích con bắt đầu từ: " Ngày xưa có Mẹ..." Thơ Thanh Nguyên
-
Vào cuối mỗi mùa xuân, công viên Hitsujiyama ở Chichibu, tỉnh Saitama (Nhật Bản) lại như được phù phép trở thành những thảm hỏa rực rỡ sắc màu. Và tất nhiên, nơi đây có sức hút khó cưỡng đối với những tín đồ thích pose ảnh. Hoa Chi Anh thuộc loại thảo, cây hoa chỉ cao từ 20-30 cm vậy nên khi trồng sát với nhau, chúng có thể tạo ra một thảm cây phủ kín, thấp dưới mặt đất. Loài hoa 5 cánh đơn mỏng manh này có nhiều màu sắc khác nhau, có màu tím, tím viền trắng, tím đỏ hay trắng. Ngoài nghề chăn thả cừu truyền thống, Chichibu được biết đến là địa điểm du lịch hấp dẫn, đặc biệt vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5 khi những thảm hoa Chi Anh nở rộ trên những sườn đồi. Tại công viên Hitsujiyama, hoa Chi Anh được trồng theo khóm cùng màu xen kẽ lẫn nhau để tạo ra những họa tiết trong bức tranh hoa tổng thể. Nhìn từ xa, những thảm hoa Chi Anh hệt như những miếng bánh ngọt sặc sỡ trải rộng trên diện tích 16.500 mét vuông của công viên. Để đắm chìm trong thiên đường hoa Chi Anh, các bạn cần 300 yên Nhật (khoảng 80K) để mua vé vào cổng. Công viên Hitsujiyama chỉ cách thủ đô Tokyo 90 phút tàu điện ngầm và 30 phút đi bộ từ ga Yokoze.
-
Nhân Quả Có Thật Không?
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bài viết trên đây Wild đã xem qua! Ngẫm lại một con người khi đi qua những thăng trầm của cuộc đời họ mới có dịp nhìn lại ..... cũng như khi ta có đủ kinh nghiệm (giáp sắt) để đối phó với những cạm bẫy thì cơ hội đã không còn, hay sẽ mệt mỏi mà quay về chánh pháp bởi nhận thức được vô thường. -
Nếu luận theo ngũ hành tương sinh thì bạn đã nghĩ đúng Thổ sinh Kim nhưng còn nhiều yếu tố cần và đủ để bước vào kinh doanh đất đai hay bất động sản đó là một mặt hàng chứa nhiều rủi ro trong thời khủng hoảng này bạn ah.
-
Đã chi cho chuyến viếng thăm Bệnh Nhi Ung bướu http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/21892-den-voi-khoa-nhi-ung-buou/ Chi 12,500,000 đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) Quỹ hiện bằng KHÔNG
-
Trưa qua chúng tôi gồm : Thiên Đồng, Thiên Anh, Thiên Việt và Wild đã đến với các em ở Khoa nhi BV Ung Bướu. Cũng không lâu lắm tôi trở lại nơi này với các em, ai cũng ngao ngán trước cảnh sống của thân nhân bệnh nhi đang điều trị gần như là nhà, Thật quá tải cho một cơ sở vật chất xuống cấp mà số lượng người lưu trú lại tăng cái tỷ lệ nghịch này là điều nhói lòng cho bất cứ ai đi qua và nhìn thấy nó. Giờ đây khoa Nhi (nói riêng) hay BV Ung Bướu là một địa chỉ từ thiện cho nhiều nhà hảo tâm, tiếc rằng nếu chia đều sự dư thừa của những người giàu có (trên thế gian) may ra cân bằng được nỗi khổ của những con người nơi đây..vừa đau đớn tuyệt vọng vừa khốn khó cho con đường đi tiếp. Lạy Đức Phật từ bi! Ngài thương xót chúng sinh hãy đoái tưởng lời vọng mong của con cho những mãnh đời nhiều kiếp nạn. Xin hồi hướng công đức này đến tất cả ACE đã đóng góp hiện tài để chúng tôi có chuyến viếng thăm các em mùa Vu Lan năm 2011. Một ông Bố trẻ có con bị ung thư máu. Và một ông Bố khác cùng cảnh ngộ... Một cháu bé đã được hóa trị nhiều lần và một bà ngoại phải ở lại chăm sóc cháu cho Me cha kiếm sống bởi để cứu cháu bà còn phải dài ngày ở nơi đây Và còn nhiều bà mẹ trẻ khác cùng hoàn cảnh gắn đời mình với căn bệnh quái ác của con mình Chúng tôi đã trao tặng 24 phần mỗi phong bì 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) cho các em có hoàn cảnh đặc biệt từ danh sách của Khoa gọi tên. Và còn nữa những người phụ nữ mồ côi trong đời thường cũng gây cho tôi sự xúc động khi thời khắc gặp tôi họ không có được 100,000 đ cho một liều thuốc giảm đau. Đành phải san sẽ một phần phong bì cho Chị biết đâu được cơ duyên của chúng tôi với Chị chỉ 1 lần này thôi. Sẽ còn còn nhiều nữa nếu chúng ta có khả năng đến với tất cả và chúng tôi cũng đã làm tròn công việc của mình "một chuyến viếng thăm như giọt nước mặn mà nghĩa tình giữa bể khổ của đời người" Riêng tôi cũng không quên gởi kèm một Thần Chú Giải Thoát cho một phong bì với lời dặn dò "Ngoài một chút tiền mặt tặng các em còn có một phần quà khác lớn hơn sẽ giúp cho các em đi qua bệnh tật nhẹ nhàng" Ra về chúng tôi lại gặp ở chân cầu thang những đứa trẻ và tại bãi giữ xe 4 người phụ nữ mà cá nhân tôi không thể giữ lại những đồng tiền hiện có trong túi mình. Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn họ đã cho tôi và các AE những bài học về sự chia sẽ giữa sự an lành và bất hạnh luôn đan chéo nhau trong cuộc sống và chúng ta đã không quên họ. Ngày 12/8/2011 vào lúc 13g30.
-
Wild đóng góp 286,000 đ (hai trăm tám mươi sáu ngàn đồng) cho Quỹ từ Thiện .Quỹ hiện có: 12,214,000 đ + 286,000 đ = 12,500,000 đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng)
-
Nhân Quả Có Thật Không?
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tri thức về thực chất của sự vật là vô thường và vô ngã là điều kiện để cho khả thể giải phóng. Giải thoát theo Phật có điều kiện tiên quyết là trí tuệ. Từ đó tri thức luận và giải thoát luận liên hệ chặt chẽ với nhau. Đức Phật cho biết giải thoát cần đến sự liễu tri sự vật trong bản chất thực sự của nó: chính là sự vật nằm trong điều kiện tính hay trong chuỗi điều kiện. 2 C-. Thập nhị nhân duyên Khởi điểm là một chủ thể, một vô ngã có thói quen chấp ngã như là một thực thể bất biến trong dòng đời của nó (vô minh). Với chấp trước này, cái ngã ấy đã được bồi dưỡng một cách giả tạo như là cái gì bất biến trong thế giới luôn luôn biến đổi. Ngoài ra cái ngã vô minh này còn tìm mọi cách để đứng vững trong chuổi luân hồi. Ý niệm chủ thể này bao lâu có ý thức và có sắc thân sẽ được xuất hiện qua sáu giác quan. Nhờ sáu giác quan nó va chạm với thế giới bên ngoài và huân tập tri thức. Qua tri thức chủ thể biết được thế giới bên ngoài. Khi biết được thế giới bên ngoài thì phát sinh sự ham muốn cho rằng cả thế giới đều là một ngã bất biến. Chính cái ngã bất biến này tìm sự thoả mãn và tránh xa những khó chịu, những bấp bênh, ví dụ ở với người mà mình không thích, xa người mà mình thích sẽ đem đến khổ đau, muốn giữ mãi niềm vui vừa có được, nhưng bất hạnh, là nạn nhân của tai ương, và chiến tranh…Chính sự chấp trước vào ngã và thế giới bên ngoài đã tạo nên tái sinh và với tái sinh sinh lão bệnh tử sẽ đi kèm theo. Đó là nội dung của thập nhị nhân duyên Lý thuyết này giải thích toàn bộ sự xuất phát của khổ và bao lâu cái khổ này không được chấm dứt thì luân hồi sẽ tiếp diễn và toàn bộ luân hồi là nguyên nhân của khổ. Quan điểm này là nội dung của hai diệu đế đầu. Diệu đến thứ ba và thứ tư đưa ra viễn tượng giải thoát và phương pháp thực hiện giải phóng ra khỏi khổ đau. 7 Chính từ kinh nghiệm KHỔ, hay ý niệm KHỔ, đạo đức học Phật giáo khởi sự. Có thể nói đạo đức học Phật giáo có hai tầng lớp: đạo đức học về giải phóng toàn diện nỗi khổ của con người và thực hiện giải thoát. Từ viễn tượng giải thoát hoàn toàn này Đức Phật đưa ra những chỉ dẫn cách sống ở trong vòng luân hồi, cách xử thế và đối xử giữa con người với nhau cũng như những hướng dẫn sống theo trì giới. 2d. Dị biệt với đạo đức học siêu nghiệm của Kant: Có thể nói rằng với khổ đế như là khởi điểm và động cơ thúc đẩy con người hành động đạo đức, theo Kant, chưa phải là nền tảng của đạo đức học bởi vì nền tảng của đạo đức học như chúng ta đã thấy dựa trên cơ sở của một chủ thể tự do với một ý chí tự do. Một nền đạo đức học xây dựng trên ý niệm khổ đối với Kant thật xa lạ, có vẻ không có tính phổ quát khách quan cũng như còn bị lệ thuộc vào kinh nghiệm thường nghiệm. Những yếu tố chủ quan như lòng mong muốn xây dựng tính bản thiện, ước mong hạnh phúc, ước mong được nhiều của cải là những ước muốn chung của tất cả mọi người, nhưng phương pháp để thực hiện mục đích này lại khác nhau ở mỗi người. Nếu các qui luật đạo đức được triển khai một cách thường nghiệm theo sở thích và thị hiếu của mỗi cá nhân thì không thể được xem như là những qui luật phổ quát. Theo Kant “Trong tất cả mọi trường hợp, mỗi khi một đối tượng của ý muốn được đưa ra làm cơ sở hành động cho riêng mình thì qui luật này không gì khác hơn là dị biệt; tính cách mệnh lệnh bị điều kiện hoá” bởi nó tùy thuộc vào những động lực thúc đẩy từ bên ngoài. Theo Kant, môt qui luật được xem là đạo đức phải phổ quát và tiên thiên. Trước hết nó phải được diễn dịch từ một ý chí độc lập với sở thích lợi ích cá nhân. Ý chí độc lập theo Kant luôn luôn là một ý chí tự do. Tất cả những lý do hành động đều đi ngược lại tự do ý chí như: bản năng, nhu cầu, ham muốn, kiêu ngạo, tự ái, thế lực, độc quyền…những lý do này không phải là nội dung mà ý chí tự do bao hàm. Theo Kant chúng chỉ là những động cơ bên ngoài qui định ý chí cho nên chúng chưa phải là động cơ chính của hành động đạo đức. Ý chí chính nó trong bản chất không đặt cho mình một mục đích khi nó muốn cái gì, với tư cách là ý chí tự do, ý chí tự xác nhận mình chỉ khi nào nó gột rửa tất cả những nội dung. Tự do tự chủ là một đặc tính của ý chí, được hiểu theo Kant, có nghĩa tự cho mình là qui luật của chính mình. Kant đã đưa ý niệm tự do như là đặc tính của ý chí cho tất cả những thực thể có lý tính, theo đó tự do là điều kiện thực hiện của ý chí. Không có tự do này thì con người sẽ không thể nào đưa ra những qui luật thoát khỏi những ham muốn. Tự do có nghĩa độc lập khỏi những ham muốn riêng tư, là một ý niệm phổ quát. Tự do theo Kant là cơ sở của tất cả những hành động đạo đức. Ngược lại khi chúng ta quan sát lý thuyết nhân duyên của Đạo Phật, chúng ta thấy rằng hầu như tất cả mọi ý chí đều hoàn toàn nằm trong chuỗi điều kiện, do đấy ở đây vắng mặt khái niệm ý chí tự do và ý niệm tự do tiên thiên. Trong chuỗi điều kiện tính ấy mọi ý muốn đều bị qui định và thường được xem như là tiêu cực, vì chính ý muốn, theo Đạo Phật, là nguyên do của tái sinh. Tuy nhiên, Đạo Phật cho rằng, chính trong chuỗi điều kiện này,- có nghĩa trải nghiệm khổ đế- con người mới cảm nhận được ý chí muốn thoát khỏi phiền não và luân hồi, như một người mang bệnh, sống trong bệnh thì ý muốn thoát khỏi bệnh cụ thể hơn tất cả mọi lý thuyết về bệnh tật. Chính vì con người, như Đức Phật đã nói, là một thực thể chịu khổ não nhưng đồng thời con người cũng có khả năng diệt khổ. Khả năng diệt khổ này con người có được từ tri thức đúng đắn về nguyên nhân của mọi khổ não mà con người đang hứng chịu. Như trên đã nói chính tri thức về mọi nguyên nhân của khổ não cho ta cơ hội để diệt khổ, có nghĩa con người có khả năng hành động đạo đức. Có thể nói cách khác hay để dùng thuật ngữ của Kant về Ý chí, thì chính ý muốn giải thoát khỏi khổ não là động lực nội tại để con người hành động diệt khổ. Nền tảng đạo đức học của Phật Giáo như thế khởi từ ý chí muốn trở thành tự do hay nói cách khác ý muốn thoát khỏi khổ não là điều kiện để giải thoát khổ não. Tự do do đấy theo đạo đức học Phật giáo là viễn tượng thoát khổ, trong đó quá trình giải phóng mới thật sự là quá trình thực hiện đạo đức học . Xét về cơ cấu của quá trình này ta có hai điểm chính cần triển khai: 3. Nền tảng đạo đức học Phật giáo. a) Ý niệm về khổ như là lý do thúc đẩy hành động đạo đức: Phật giáo quan niệm chữ khổ không chỉ là một cảm giác chủ quan cũng không phải là một cái nhìn yếm thế, cũng không theo định mệnh bị bắt buộc trong biển khổ của nhân loại, cũng không phải là sự chán nãn văn minh đã bị lão hoá. Theo Đức Phật KHỔ phổ quát hơn cả ý niệm tự do, nếu không có khổ, nếu không bị ràng buộc thì tự do không được biện minh. 1a. Khổ đế có một ý nghĩa bao trùm cả vũ trụ khởi từ suy nghĩ này: không phải sinh vật nào cũng biết tư duy (chỉ riêng con người hãnh diện biết suy tư, theo Pascal) nhưng mọi sinh vật có thể trải nghiệm đau khổ. Ví dụ: lão, bệnh, tử là những kinh nghiệm có thể dùng làm gạch nối giữa thế giới con người và thế giới loài vật, thế giới cỏ cây. Từ ý niệm KHỔ, con người trở nên một một “LIÊN CHỦ THỂ”, một thứ vô ngã như khả năng mở ra với tha nhân và thế giới. Khởi từ cảm nghiệm khổ về thân xác và khởi từ kinh nghiệm khổ về tinh thần, ước mong diệt khổ không những chỉ cho cá nhân riêng lẻ hay xã hội loài người mà trở nên một ước muốn phổ quát và thiết yếu cho tất cả mọi chúng sinh. Kinh nghiệm khổ do đấy là một kinh nghiệm có thể giúp ta thông cảm với tất cả muôn loài, từ đó ta có thể hiểu được một nguyên tắc cơ bản thường được nêu ra trong các học thuyết đạo đức như Đức Phật đã nói trong kinh Pháp cú: “Mỗi chúng sinh đều không thích đau khổ” và “Mọi chúng sinh đều sợ chết”. Do đó cần phải tự biết bản lai của mỗi thể tính và hãy đừng hành hạ cũng như hãy đừng giết chết các sinh vật. AHIMSA (Bất bạo động, không giết hại) là nguyên lý đạo đức của Đạo Phật Đó là mệnh lệnh đạo đức tiên thiên và quyết liệt hơn cả “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” không xa lạ từ Khổng Tử cho đến Aristote, Kant và những học thuyết đạo đức Đông Tây: “Điều gì mình không muốn thì không nên làm điều ấy cho người khác” ”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân.” "Ne faites pas à autrui ce que vous ne voudriez pas qu'on vous fit." Chính khả năng có thể cảm thông với nỗi khổ người khác qua kinh nghiệm về cái khổ của bản thân, ta tránh không làm hại người khác. Khổ không phải là một ý niệm suông mà là một trải nghiệm phổ quát. Có thể nói đây là khởi điểm của hành động đạo đức trong Phật giáo, trong đó khái niệm cơ bản về bất bạo động đóng một vai trò chính yếu trong lời dạy của Đức Phật, không những cho con người mà cho mỗi chúng sinh. Từ trải nghiệm thấu đáo sự khổ, TỪ BI phát sinh, hành động đạo đức, diệt dục, giới hạnh phát sinh. Đạo đức học Phật giáo căn cứ vào hai yếu tố quan trọng là “trí” và “bi”. Trí cho ta khả năng nhận định nguyên nhân của khổ, đồng thời cho ta biết được chân tướng hay thể tính của sự vật từ đó tìm ra được con đường đúng đắn cho đạo đức. “Bi” cho ta khả năng hành động theo đúng với tinh thần đạo đức (không làm điều ác, thực hiện điều lành) dàn trải cho tất cả chúng sinh (vật thi ư nhân). Tri thức luận do đó là điều kiện cho giải thoát luận Ngày hôm nay đạo đức học của Phật giáo, hiểu theo nghĩa năng động của chính lời dạy Đức Phật về khổ và vô ngã, về liên chủ thể chúng sinh (-bởi lẽ cảm nghiệm khổ là chứng thực vô ngã, không có một ngã trường tồn) thích hợp với tư duy khoa học và cảm nghĩ của thời đại hơn những phán đoán mệnh lệnh có tính tiên thiên về NGÃ, THỰỢNG ĐẾ, BẤT TỬ. Do đó đạo Phật được truy nhận như một nền đạo đức học chân chính và khả thi. Nhưng cũng cần nhấn mạnh là đạo đức học Phật giáo không lấy sự phân biệt giữa thiện và ác làm tiêu chuẩn của hành động giải phóng. Hành động giải phóng này nằm trong tiêu chuẩn lành và không lành (có tính cách trị liệu bệnh lý chứ không có tính cách phán xét thiện ác). 2a. Ý niệm chuyển nghiệp: Khái niệm KHỔ được phân tích gồm khổ thân xác (lão, bệnh, tử), khổ tinh thần, và nhất là khổ trên bình diện thể tính, con người nằm trong điều kiện tính, mắc xích của sự trở thành, biến đổi, có nghĩa vô thường và vô ngã nhưng lại chấp ngã do vô minh. Nằm trong chuỗi thập nhị nhân duyên, điều kiện sống của con người là quả của nghiệp (hành động) do con người tạo ra. Con người chịu nhận nghiệp quả nhưng đồng thời tạo nên nghiệp quả trong quá trình biến đổi, vô thường. Nghiệp không phải là một khái niệm định mệnh, nghiệp bao gồm cả quả lẫn nhân, trong nghĩa con người nhận nghiệp quả của mình tạo ra nhưng cũng có thể là nguyên nhân của chuyển nghiệp, chính nhờ sự biến đổi như là vô thường và vô ngã. Như thế khác hẳn với lối giải thích hành động đạo đức tiên thiên từ một ý niệm tuyệt đối và mệnh lệnh của đấng toàn năng, mà Đức Phật cho là có hại cho việc tu chứng giác ngộ, diệu đế thứ nhất hay Khổ đế của Đức Phật đã xây dựng tiền đề cho một nền tảng đức lý từ chuỗi tương quan nhân quả hay từ điều kiện tính của chúng sinh trên thế gian. Liễu tri bản thể của tương quan nhân quả (như là hiện tượng vô ngã, vô thường) là điều kiện nội tại cho tiến trình chuyển nghiệp.Ý muốn chuyển nghiệp (thoát dữ làm lành) là khởi điểm để con người có thể thay đổi nghiệp cũ. Muốn thay đổi nghiệp cần có trí tuệ phá vô minh, chuyển đổi ngã chấp và tạo nên nghiệp lành cho những quả về sau. Có thể nói tiến trình thay đổi GÓC NHÌN (tri thức) để phá tất cả những ảo tưởng, ảo vọng, ảo hoá từ chấp NGÃ là một tiến trình thực hiện giải phóng khỏi mọi ràng buộc mà con người hứng chịu để thực hiện tự do. Như thế mô hình đạo đức học Phật giáo không viện dẫn đến một đấng tuyệt đối toàn hảo làm khởi điểm, mà ngược lại chủ trương chính cuộc đời vô thường vừa là nguyên nhân và môi trường cho sự thực hiện đạo đức cứu khổ. Với khái niệm chuyển nghiệp trong dòng biến đổi luân hồi, ý muốn tự do và cùng với nó, ý chí tự do phát khởi nhằm xây dựng con đường hành động giải phóng khổ đau, giác ngộ chân lý mà diệu đế thứ ba và thứ tư đã đưa ra. Tự do như thế vừa là nền tảng vừa là mục đích của đạo đức học Phật giáo. Ở đây ta thấy, nếu bỏ những vướng mắc về ý niệm Thượng đế, Linh hồn bất tử, tư tưởng của Kant có thể gặp Phật giáo khi cho rằng tương quan nhân quả là hòn đá tảng của tri thức lý thuyết và hành động con người. b. Hành động đạo đức 1b. Tuy nhiên Kant có thể không công nhận khái niệm “khổ” như là động cơ cho hành động đạo đức. Bởi vì “khổ”, khác với tự do, là một cảm giác chủ quan, riêng lẻ cho từng cá nhân, không thể là động cơ thực sự cho hành động đạo đức. Ngay cả khái niệm hạnh phúc theo nghĩa mục đích luận đạo đức của Aristote cũng không được Kant công nhận là động cơ và mục đích của hành động đạo đức vì hạnh phúc là một khái niệm thường nghiệm do đấy không thể được xem là một động cơ nền tảng cho qui luật đạo đức phổ quát. Ngay cả quyền lợi của xã hội cũng không được xem là nguyên do thúc đẩy hành động đạo đức. Theo Kant tất cả những lý do dùng làm động cơ thúc đẩy hành động đạo đức đều bị loại trừ do tính ước lệ ngoại tại của nó. Bởi vì một qui luật đạo đức phải được có giá trị cho tất cả mọi thực thể có lý tính và tiên thiên chứ không phải thường nghiệm hay thực nghiệm. Bao lâu người ta có một dụng ý hay là một mục đích thì người ta đã bị vướng theo qui luật dị biệt của thiên nhiên. Kant cho rằng nơi mỗi thực thể có lý tính đã có sẵn một thiện chí tốt. Thiện chí này nhất thiết phục tùng qui luật đạo đức bởi vì thiện chí này là một ý chí tự do. Người ta có thể nói động cơ thúc đẩy hành động đạo đức đến từ lý tính thực tiễn “thích thiện”, đến từ ý chí đã có sẵn trong mỗi thực thể có lý tính từ trong bản chất của nó. Ý muốn thực hành điều thiện như vậy là nguyên nhân và động cơ cho hành động đạo đức. Kant đã nhấn mạnh nhiều lần rằng trong hành động đạo đức thực thụ, không có cảm giác đạo đức bao hàm. Ngay cả sự thoả mãn sau khi đã làm trọn nghĩa vụ đạo đức cũng bị ông từ chối. Kant cho rằng …qui luật đạo đức có giá trị không phải vì nó hấp dẫn chúng ta. Hấp dẫn không phải là tiêu chuẩn của hành động đạo đức. Sở dĩ nó hấp dẫn vì nó có giá trị cho tất cả mọi người, trong mọi trường hợp. Qui luật ấy phát xuất từ ý chí của một thực thể trí tuệ thuần tuý, không phải là hiện tượng Mệnh lệnh đạo đức như “ điều gì mình không thích thì đừng làm cho người khác” có giá trị phổ quát vì nó làm nền tảng cho mọi hành động đạo đức, và như thế trở nên mệnh lệnh phạm trù. Kant nêu ra điều kiện mà từ đó mệnh lệnh này có khả năng hiện hữu đó là khái niệm về tự do. Nhưng khi viện dẫn “bản tính thiện của lý tính” ông đã không chứng minh tại sao lại “lý tính thiện” mà không là “ác”,- trong lúc cái ác đang vận hành,- là nền tảng đạo đức. 2b. Đạo đức học Phật giáo đi từ một hướng khác: thay vì đưa ra một tiền đề có tính đất yếu và xác quyết siêu nghiệm, đạo đức học Phật giáo tìm cách triển khai khả năng thực hiện giải phóng. Hay nói cách khác đạo đức học Phật giáo chuẩn bị một không gian trong đó hành động đạo đức được xảy ra tự do như Kant đã đề ra. Nếu ta trở lại sơ đồ về tương quan giữa trí tuệ và từ bi thì ta có thể nói rằng trí tuệ đã lấy khởi điểm tự do của Kant để có một cái nhìn siêu việt về thể tính của sự vật trong đó có chủ thể lẫn khách thể nằm trong tương quan nhân quả. Như trên đã nói, triết học Phật giáo tìm cách triển khai nguyên nhân của KHỔ và nhận ra quan niệm về chủ thể tuyệt đối, về ngã bất biến là sai lầm cơ bản trong tri thức luận của con người. Đức Phật cho rằng nếu Tự Ngã được định nghĩa như là một thực thể trường tồn và là nguyên nhân của chính nó, nghĩa là không cần có một nguyên nhân nào khác thì ý niệm tự ngã này không thể có trên thế gian. Trên thế gian, tính vô thường của chủ thể là hiện tượng vô ngã. Chủ thể vô ngã này là một tập hợp của ngũ uẩn và cần phải nhìn nó trong tương qua với khách thể trong ý nghĩa của một thể tính trở thành. Chính ý niệm trở thành này là cơ hội để cho sự chuyển nghiệp có thể thực hiện được. Do đấy chủ thể cần phải huỷ bỏ ảo tưởng sai lầm, nó là một thực thể bất biến vĩnh cữu. Chính ý niệm sai lầm này là nguyên nhân của sự khổ và luân hồi. Sự thấu triệt bản chất của sự vật trong bản chất vô thường của nó làm cho con người có thể phát triển được đức tính từ bi và đức tính từ bi này đã giúp cho con người có thể cảm thông với người khác. Đức Phật tìm ra phương thức tu chứng có hiệu quả đoạn trừ chấp trước mà chính Đức Phật đã thực chứng. Thực hành bát chánh đạo có thể giúp ta đạt được giải thoát khổ đau và giác ngộ Niết bàn Ngoài ra Đức Phật cũng đưa ra ngũ giới cho người thường và sáu giới luật để người hành đạo có thể thực hiện. Ngũ giới và sáu giới hạnh bao gồm hai khía cạnh. Giới thuộc khía cạnh thực tiễn, hành vi thực tiễn và hành động thực tiễn có thể giúp kẻ thống khổ vượt khổ. Đồng thời Tuệ giúp ta chánh kiến về bản chất và tương quan với thế giới, trí tuệ này hướng dẫn hành động thực tiễn của người hành đạo bằng cách chỉ cho thấy những con đường ra khỏi những giới hạn ngẫu nhiên. Sáu giới hạnh đó là: bố thí (giảm thiểu tính ích kỷ), đức hạnh (nhân từ đối với người khác), đạo đức, kiên nhẫn (không bị giận giữ, thực hiện điều lành), quán tưởng (tĩnh tâm và tuệ), từ bi với tất cả mọi chúng sinh và tâm cùng trí phát triển từ bi. Trí tuệ còn được gọi là mẹ của Bồ Tát, không có nghĩa gì khác hơn là tri thức chân thực đem đến giải thoát, trong lúc từ bi diễn tả sự ước muốn, hạnh nguyện của vị Bồ Tát được thoát khỏi luân hồi. 3b. Biểu hiệu của tự do: Nhưng hành trạng đạo đức đặc thù nhất của vị Bồ Tát, theo quan điểm Đại thừa, lại nằm ở chí nguyện bất ngờ này: Bồ Tát mong muốn được giải thoát (ra khỏi luật nhân quả) nhưng khi được giải thoát lại không chấp nhận giải phóng cho riêng mình mà tự nguyện trở lại thế gian để cứu độ chúng sinh. Ý muốn trở lại thế gian là ý muốn hoàn toàn tự do, không còn bị hấp lực của luân hồi. Hành động của vị Bồ Tát hoàn toàn vô bị lợi chỉ dựa vào tâm từ bi. Chính tâm từ bi này làm cho vị Bồ Tát trở lại thế gian mặc dù vị Bồ Tát đó đã hoàn tất hành trình giải phóng, không trở lại thế gian (Bất hối Bồ Tát). Khi Bồ Tát hành động như thế thì Bồ Tát có thể chọn lựa một cách tự do thế gian hay hạnh nguyện Bồ tát đã giải thoát. Trong lúc Bồ Tát quyết định giúp đỡ cho chúng sinh để đem lại an lành cho chúng sinh, Bồ Tát cũng chứng minh được các sự mong muốn được giải thoát của chính mình và qua đó có thể chuẩn bị cho sự viên tròn Phật tính trong chính bản thân của Bồ Tát. Theo ngài Long Thọ, giải phóng luận có nghĩa là ngay trên đường hành đạo thực hiện hạnh Bồ Tát, Phật tính được trọn thành và từ đó con người được giải phóng hoàn toàn. Nằm trong hệ tư tưởng nhất nguyên, vị Trưởng lão của phái Không Luận đã từng tuyên bố, mục đích rốt cùng của tri thức luận về tính không chính là để phơi bày khả thể của hành động đạo đức, ở đây, là hành trạng và hạnh nguyện của vị Bồ Tát. Đối với nhà Không luận tuyệt hảo của Phật giáo,- người đã sử dụng lý thuyết nhân duyên để hủy cấu trúc của mọi lý thuyết và chỉ ra Tính Không của tất cả các pháp,- không phải lý thuyết Phật giáo, mà chính đạo đức Phật giáo là điều có ý nghĩa nhất cho con người trong viễn tuợng tự do. Tự do trong nghĩa đem đến hoà bình và an lạc. Long Thọ đã nhìn thấy vị Bồ Tát toàn hảo trong Đức Phật và đã ca ngợi hết lời Ngài là Đạo sư đẫn đường cho cuộc giải phóng rốt ráo với vô lượng từ bi. Đức Phật là hiện thân của nhất thể Bi-Trí-Dũng trên phương diện đạo đức. Hủy bỏ mọi cấu trúc lý thuyết, đó là công việc trí tuệ mà Long Thọ đã sử dụng triệt để, nhưng khác với thuyết hủy cấu trúc (Deconstructionisme) của Jacques Derrida (1930-2004) trong trào lưu hậu hiện đại Tây phương, công việc của Long Thọ duy nhất nhằm mục đích độ con người lên đường thực hiện đạo đức để tự giải phóng. Là nhà ảo thuật tuyệt hảo của tư duy, Long Thọ vẫn dựa lưng vào Đức Phật như nguồn suối chảy không ngừng của trái tim vô lượng đại bi, ý nghĩa của cuộc sống. Long Thọ Bồ Tát đã để lại những tác phẩm diễn giải và hướng dẫn thực tiễn về tu chứng không những cho người đi tu mà còn cho cư sĩ. Ngài ghi:“Pháp của Phật dạy cho chúng ta hai điều là tránh việc không an lành và hướng về những điều an lành với thân, khẩu, ý” Phương pháp của giải phóng luận này bao gồm con đường thực tiễn được đưa ra để có thể đạt được mục đích cao đẹp. Ngài Long Thọ đã đưa ra những lời khuyên cụ thể về chánh kiến (nhìn rõ bản chất sự vật), quán sát (thấm đượm sự khổ qua chuỗi điều kiện nhân duyên, luân hồi) và hội nhập ý thức (cởi bỏ tâm phân biệt, tư duy, hoà nhập thể tính). Những lời khuyên về hành động chuyển nghiệp gồm có 10 điều liên hệ đến thân khẩu ý như không được uống rựợu, không được sát hại, nói sai sự thật, tránh tà kiến… và phải phát triển sở thích sống tinh tấn. Những hướng dẫn về thực hành đạo lý trong lối sống thường nhật như kính trọng cha mẹ, hiếu thảo với anh em và người ngoài đều được ngài nêu ra cho cư sĩ tại gia.Với tư cách tu sĩ thì phải giữ các hạnh giới như nhẫn nhục, không được ganh ghét, phải quan sát các giác quan của mình, đừng luôn luôn tự mãn. Về việc thực hành quán tưởng còn có những lời khuyên phải luôn luôn thức tỉnh để thấy rõ hoàn cảnh xung quanh của mình, nên tập thiền quán cũng như tập nhìn tất các sự việc trong sự toàn diện của nó và thử nghiệp để biết điều gì, hành động nào có thể đem đến an lành và hành động nào gây ra sự bất an và phải luôn luôn thâm nhập vào trong mỗi kinh nghiệm. Nói tóm lại đạo đức học Phật giáo, không chỉ chú trọng đến giải thoát khỏi luân hồi mà còn đưa ra tất cả những lời khuyên bao gồm phương pháp thực hiện để đạt được một đời sống lợi lộc cho sự giải thoát khổ đau. 4b. Bồ Tát và mệnh lệnh phạm trù: Có thể nói với hình ảnh con người hành động Bồ Tát thích hợp với khái niệm con người có ý chí tự do theo Kant. Với sự tự chủ và ý chí tự do, con người có thể xây dựng qui luật đạo đức và qui luật đó là bao gồm mệnh lệnh phạm trù. Qui luật phạm trù này cho phép con người rút ra bổn phận của mình trên nguyên tắc mà không bị điều kiện thường nghiệm hay vô thường chi phối. Theo Kant, chỉ khi nào ý chí không bị những ham muốn cảm tính thu hút, thì ý muốn có thể trở thành “bổn phận nên làm” có tính cách phạm trù đạo đức. Ý niệm của tự do được nổi bật qua tính độc lập của nó đối với một số nguyên nhân có được trong thế giới cảm năng. Ngoài ra, mệnh lệnh phạm trù còn được Kant nhấn mạnh là hoàn toàn độc lập với tất cả những mục đích ngay cả khi mục đích này là tính toàn diện hoàn hảo hay là hạnh phúc của con người. Một hành động đạo đức theo Kant chỉ được xem là thích hợp với hành động phạm trù khi hành động này hoàn toàn thuần tuý và không bị nhiểm bởi ý thức vụ lợi nào, ngay cả khi ý thức vụ lợi này là hạnh phúc chung cho nhân loại. Từ nhận định trên, thoạt tiên dễ bị cám dỗ để phủ nhận tất cả những động cơ thúc đẩy cho một vị Bồ Tát hành động cứu khổ nhân loại, vì chúng vẫn còn là hành động được ấn định bởi một mục đích bên ngoài nhưng nếu chúng ta khảo sát sâu hơn ý niệm giải phóng của Phật giáo thì chúng ta sẽ thấy ý niệm giải phóng này là tiến trình của sự vươn tới cũng như thực hiện ý niệm tự do bởi vì Niết Bàn mà các vị Bồ Tát mong muốn cho tất cả chúng sinh đạt tới là môt Niết Bàn hoàn toàn độc lập không còn dính líu đến thực nghiệp. Sự giải phóng này được thực hiện khi con người thấy được tính không của tất cả các pháp (Dharma). Thấy được tính không hay nguyên nhân của khổ là điều kiện giúp con người đạt được hoà bình vĩnh cữu. Hoà bình vĩnh cữu không phải là một ý niệm chính trị mà là một ý niệm hội nhập vào thể tính trong đó mọi con người đều đồng đẳng theo đúng với mệnh lệnh đạo đức đã được xem như là qui luật phổ quát: “điều gì ta không muốn làm cho mình thì cũng không nên làm cho người khác”. Châm ngôn này là một trong những châm ngôn làm thành qui luật phổ quát của nhân loại, được thực hiện bằng hạnh Bồ Tát cứu khổ. Tương đương với mệnh lệnh phạm trù của hành động đạo đức trong nghĩa hoàn toàn độc lập với mục đích của chính hành động đạo đức, chúng ta cũng có thể tìm thấy trong Phật giáo điều kiện khả thể của hành động đạo đức qua lời phát biểu trong kinh Kim Cương: Mỗi một đức hạnh được thực hiện đều nên được thực hiện với một ý niệm như sau: “Bồ Tát bố thí cho chúng sanh nhưng khi bố thí lại không được dấy lên một ý nghĩ nào về người bố thí”. Điều đó có nghĩa, hành động bố thí chỉ nên được hoàn tất duy nhất từ ý chí tự do, tự do ngay cả đối với chủ thể là người hành động đạo đức. Bố thí trong trường hợp này mới chính là bố thí, trong đó “cho” và “nhận” đều bình đẳng. Con người bình đẳng trong “sợ chết” cũng như trong thành tựu “đạt Niết Bàn”. Theo Đạo Phật đây mới là khái niệm tự do tuyệt đối mà con người vươn tới để có thể thiết lập một thế giới hoà bình bao gồm tương quan giữa cái ta với toàn thể vũ trụ. Tất cả những suy nghĩ trên cho ta nhận thấy rằng tuy đi hai con đường Đông Tây khác nhau nhưng sự đòi hỏi hành động đạo đức rốt cùng cũng chỉ là một. Trong đó: tự do của con người vừa là điều kiện vừa là mục đích của hành động đạo đức theo Kant và của hành trạng thể hiện Phật tính vì Phật tính trong mỗi chúng sinh đều không khác theo Đức Phật. Cơ hội thành Phật là của tất cả mọi chúng sinh. Cơ hội ấy con người có được tốt nhất khi trải nghiệm “nỗi khổ chung” của nhân quần và chúng sinh và phát tâm cứu độ chúng sinh. Hoàn tất mùa Phật Đản 2011 1 K. Schmidt, Leer ist die Welt, Nxb Christiani, Konstanz, 1953. Tiểu luận “Leer ist die Welt”, Thái Kim Lan dịch Việt “Thế giới rỗng không” đã đăng trên trang talawas ngày 22. 4. 2004. 2 D. Hume (1711-1776, người Scottland), triết gia của học thuyết thường nghiêm Anh, cho rằng tương quan nhân quả là chuỗi liên hệ mà con người nhận ra do kinh nghiệm được lặp lại nhiều lần, từ đó do thói quen được huân tập lại, vì thế mang nhiều tính chủ quan hơn là tiên thiên và phổ quát. Thái Kim Lan (Tia Sáng) -
Những cảnh quay giá trị. http://www.youtube.c...lOz4UQ&vq=large
-
Lương Y Yên Được Tiếp Tục Chữa Bệnh
wildlavender replied to wildlavender's topic in Thông Tin Cập Nhật
Vì sao Lương y Yên được tiếp tục chữa bệnh cứu người? Thứ Sáu, 12/08/2011 07:00 (NLĐO)- Như Báo Người Lao Động đã thông tin, UBND tỉnh Bình Phước đã chấp thuận cho ông Võ Hoàng Yên tiếp tục chữa trị bệnh nhân thuộc nhóm câm điếc, bại liệt, thoái hóa cột sống đã đăng ký hoặc đã được điều trị từ 1-3 lần. Hội Đông y tỉnh trực tiếp theo dõi, giám sát quá trình chữa bệnh của ông Yên (tại chùa Quang Minh, thị xã Đồng Xoài và 1 điểm tại thị xã Phước Long). Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng chấp thuận các đề xuất của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật của tỉnh vận động ông Yên vào thành viên Hội Đông y tỉnh Bình Phước để ông có pháp nhân đăng ký thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh. Hội đồng khoa học tỉnh bổ sung thêm danh mục đề tài nghiên cứu khoa học “Dùng phương pháp xoa bóp day ấn huyệt để phục hồi chức năng một số bệnh câm điếc, bại liệt, thoái hóa cột sống” vào nhóm đề tài nghiên cứu được xét duyệt trong năm 2011 (thực hiện đề tài từ 6 tháng đến 1 năm). Sau khi nghiệm thu đề tài, UBND tỉnh chỉ đạo cho ngành y tế có thẩm quyền xem xét nếu được thì cấp phép cho ông Yên được điều trị bệnh lâu dài tại tỉnh. Theo Giáo sư Hoàng Bảo Châu, nguyên Viện trưởng Viện Y học cổ truyền Việt Nam: “Cách chữa trị của lương y Yên cho thấy bước đầu đạt kết quả. Cách chữa trị này áp dụng kiểu xoa bóp trong võ thuật, tác động chủ yếu lên gân cơ bị tổn thương. Việc móc ngay cổ họng bệnh nhân nhằm cố gắng phục hồi thanh quản đã không vận động trong thời gian dài. Thứ hai, cầm lưỡi kéo ra, trong y học hiện đại không có thủ thuật nào cầm lưỡi kéo và quay, mục đích chính nhằm phục hồi cơ ở lưỡi, vì lưỡi mềm mại mới nói được. Trên cơ sở đó mọi người đều thấy bệnh nhân nói được ngay. Phương pháp này có cơ sở khoa học, đó là tác động trực tiếp vào những cơ quan bị rối loạn. Còn về lâu dài do các căn bệnh trên (câm điếc, liệt) do tổn thương ở não, nếu tổn thương não nặng thì phục hồi chậm còn nhẹ thì phục hồi nhanh. Vì vậy, nếu bệnh nhân được chẩn trị thường xuyên sẽ chóng phục hồi” Lương y Võ Hoàng Yên (đứng, bên trái) đang chữa bệnh cho bệnh nhân câm, điếc. Bác sĩ Nguyễn Hoàng Sơn, Phó Vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền (Bộ Y tế), nói: “Phải nghiên cứu, đánh giá tính an toàn, hiệu quả của phương pháp chữa bệnh của lương y Võ Hoàng Yên và phải có đề tài nghiên cứu. Khi thực hiện đề tài này cần có đơn vị tham gia đánh giá trước, trong và sau quá trình điều trị. Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận xác đáng về tính an toàn và hiệu quả của nó. Khi có kết quả nghiên cứu, chúng tôi sẽ báo cáo với Bộ Y tế và có hướng thực hiện những bước tiếp theo”. Bài - ảnh: Tân Tiến -
Mời xem! không thể bỏ qua cho những phút giải trí! http-~~-//www.youtube.com/watch?v=yFvkUnnhuUo
-
Lương y Yên được tiếp tục chữa bệnh (NLĐO) – Ngày 9-8, UBND tỉnh Bình Phước cho biết đã có văn bản đồng ý để lương y Võ Hoàng Yên (SN 1975, người thường được những bệnh nhân tại một số tỉnh, thành gọi là “thần y”), được tiếp tục chẩn, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Bệnh nhân đang chờ đến lượt được “thần y” chữa bệnh Theo đó, UBND tỉnh chấp thuận cho ông Võ Hoàng Yên tiếp tục chữa trị bệnh nhân thuộc nhóm câm điếc, bại liệt, thoái hóa cột sống đã đăng ký hoặc đã được điều trị từ 1-3 lần. Hội Đông y tỉnh trực tiếp theo dõi, giám sát quá trình chữa bệnh của ông Yên tại chùa Quang Minh, phường Tân Đồng, thị xã Đồng Xoài và 1 điểm tại thị xã Phước Long.Bên cạnh đó, chấp thuận các đề xuất của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật như vận động ông Yên vào thành viên Hội Đông y tỉnh Bình Phước để ông có pháp nhân đăng ký thực hiện đề tài khoa học cấp tỉnh. Hội đồng khoa học tỉnh bổ sung thêm danh mục đề tài nghiên cứu khoa học “Dùng phương pháp xoa bóp day ấn huyệt để phục hồi chức năng một số bệnh câm điếc, bại liệt, thoái hóa cột sống” vào nhóm đề tài nghiên cứu được xét duyệt trong năm 2011 (thực hiện đề tài từ 6 tháng đến 1 năm). Người dân đang đăng ký để “thần y” khám chữa bệnh Lương y Võ Hoàng Yên (đứng, bên trái) đang chữa bệnh cho bệnh nhân câm, điếc Sau khi nghiệm thu đề tài, UBND tỉnh chỉ đạo cho ngành y tế có thẩm quyền cấp phép cho ông Yên được điều trị bệnh lâu dài tại tỉnh. Khi có pháp nhân, ngoài việc điều trị cho bệnh nhân tại các cơ sở y tế công lập, cơ quan chức năng sẽ cho phép ông Yên được phối hợp với các cơ quan chức năng vận động thành lập Trung tâm khoa học điều dưỡng phục hồi chức năng cho người già, người tàn tật tại tỉnh.Tin - ảnh: T.Tiến
-
Hiện Tượng “Áp Vong”: “Hồn Nhập” Hay Ám Thị?
wildlavender replied to wildlavender's topic in Thông Tin Cập Nhật
Thực hư chuyện đoàn tìm mộ gặp “ma” ở Trường Sơn! Gió từng hồi rít lên làm các ngọn cây nghiêng ngả. Nửa đêm, bỗng dưng ông B. bật nhỏm dậy nói chuyện to tướng với một… liệt sĩ. Ông nhắc liệt sĩ đi đi, đừng làm mọi người sợ. Bảo liệt sĩ đi rồi, ông B. kể, ông vừa nhìn thấy đồng đội đứng gốc cây cạnh hố bom nhìn ông cười. Đoàn tìm mộ ở Đa Krông (Quảng Trị) chia làm hai phương pháp tìm kiếm. Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài chỉ nhận tìm một liệt sĩ mà chị đã chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước. Nhà ngoại cảm này làm việc khá thận trọng. Chị nắm rất rõ lý lịch của người đã mất, thuộc đơn vị nào, đóng quân, chiến đấu và hy sinh ở đâu, hy sinh giờ nào, hy sinh trong hoàn cảnh nào… Sau khi có đầy đầy đủ thông tin mà việc tìm kiếm vẫn không có kết quả, chị mới sử dụng khả năng đặc biệt của mình để tìm kiếm. Nhà ngoại cảm Hoàng Thị Thiêm đang bắt "ma"! Riêng chị em “nhà ngoại cảm” Hoàng Thị Thiêm thì không cần bất cứ thông tin gì, chỉ cần đến địa điểm, gọi tên liệt sĩ, hễ vong nhập là tiến hành tìm mộ. Theo Thiêm, nếu vong nhập, vong sẽ chỉ chỗ nằm, đào lên, ắt sẽ thấy xương cốt. Việc tìm mộ nghe có vẻ đơn giản quá, nên hai chị em Thiêm và Thuy rất tự tin. Có mặt ở quả đồi nơi diễn ra trận chiến ác liệt, cựu binh Nguyễn Văn B. của Sư đoàn X. rưng rưng nhớ lại cảnh quân đội Mỹ - Ngụy dội bom, nã pháo trúng bệnh viện dã chiến, khiến hàng chục người tan xác, bị chôn vùi. Các chiến sĩ giành giật từng tấc đất để bảo vệ anh em thương binh đang chờ chuyển xuống tuyến dưới cũng trúng bom vùi xác dưới lòng đất. Hàng trăm hố bom nham nhở khắp quả đồi vẫn còn đó như chứng tích của sự khốc liệt. Nhìn những hố bom cày xới từng mét đất, đoàn tìm mộ chúng tôi rưng rưng xúc động. Thật đau lòng khi không vái liệt sĩ, mà lại vái... tổ mối Cựu binh Nguyễn Văn B. đã cùng nhiều gia đình, đồng đội vào khu vực này vài lần tìm kiếm hài cốt, song không có kết quả. Ông và các gia đình chỉ còn biết trông mong vào khả năng của các nhà ngoại cảm. Đêm ấy, chúng tôi dựng trại ngủ ngay trên ngọn đồi trên dãy Trường Sơn. Gió từng hồi rít lên làm các ngọn cây nghiêng ngả. Nửa đêm, bỗng dưng ông B. bật nhỏm dậy nói chuyện to tướng với một… liệt sĩ. Ông nhắc liệt sĩ đi đi, đừng làm mọi người sợ. Bảo liệt sĩ đi rồi, ông B. kể, ông vừa nhìn thấy đồng đội đứng gốc cây cạnh hố bom nhìn ông cười. Ông còn trấn an mọi người rằng, liệt sĩ này là đồng đội, là bạn thân của ông, tính nết hiền lành lắm, nên không ai phải sợ. Nghe ông B. kể thế, chị Thiêm cũng chen vào: “Suốt từ chiều tôi nhìn thấy rất nhiều vong, nhưng mọi người mới đến còn mệt, nên tôi chưa kể, sợ mọi người lo lắng. Tình hình vong lên nhiều thế này, ngày mai áp vong sẽ dễ lắm”. Nghe ông B. và chị Thiêm kể thế, ai cũng sợ xanh mắt. Có người sợ quá không ngủ được cứ khóc thút thít, nhảy vào giữa đám đông ngồi. Riêng tôi căng mắt nhìn ngó xung quanh, song chả thấy vong đâu. Từ bé tôi đã không sợ bóng đêm, rất mong được nhìn thấy ma, nên rủ một đồng nghiệp dạo vòng quanh đồi giữa đêm khuya, hy vọng được diện kiến ma một lần. Tuy nhiên, tôi và anh bạn đồng nghiệp chẳng thấy cảm giác gì ngoài sự thanh bình của núi rừng Trường Sơn giữa đêm trăng sáng. l Bốc đất mà tưởng là xương. Sáng hôm sau, nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài đi theo hướng khác tìm một liệt sĩ theo kế hoạch từ trước, chị em Thiêm tìm hài cốt ở ngay hố bom cạnh chỗ chúng tôi dựng trại. Tôi quyết định theo đoàn hài cốt của Hoàng Thị Thiêm, vì chị Thiêm phụ trách tìm nhiều liệt sĩ và phương pháp tìm của chị lúc đó rất mới mẻ.Khi mặt trời lấp ló sau dãy núi phía Đông, rọi những tia nắng ấm áp qua những kẽ lá, đoàn tìm mộ tập trung quanh hố bom làm các thủ tục cần thiết. Hương hoa bày ra đất, khói nhang nghi ngút báo cáo thần linh, thổ địa và mời hương hồn các liệt sĩ về. Tổ mối nhưng nhà ngoại cảm khẳng định là xương sọ. Chị Thiêm và Thuy yêu cầu mọi người ngồi xuống cạnh hố bom, nhắm mắt, tĩnh tâm, hướng suy nghĩ về các liệt sĩ. Hai chị em Thiêm đến trước mặt từng người gọi tên các liệt sĩ. Chị luôn miệng gọi: “Bác K. à, bác về rồi, sao không lên tiếng. Bác C. đấy phải không, sao bác không nhập vào để trò chuyện?”. Chị Thiêm và Thuy liên tục gọi, song chẳng thấy vong nhập vào ai.Nghỉ ngơi một lát, chị Thiêm đến cạnh bác G. nói chuyện: “Bác Q. đấy à, bác có khỏe không? Sao bác không nói gì, bác phải lên tiếng đi chứ, mọi người đều mong mỏi bác. Bác chết thảm lắm phải không? Mấy chục năm không về, bác tủi thân lắm nhỉ? Bác cứ khóc đi cho nhẹ lòng, rồi chỉ cháu chỗ bác nằm, để cháu đưa bác về cho đỡ lạnh...”. Nhà báo Đào Thanh Tuy và một tổ mối cùng đất đen, song lại được coi như hài cốt liệt sĩ. Chị Thiêm cứ nói, còn bác G. cứ khóc rưng rức. Thuy trò chuyện với chị L., con gái của liệt sĩ, và chị L. cũng khóc như mưa. Tuy nhiên, hai người khóc một lúc thì dừng lại. Khi bác G. tỉnh, tôi hỏi bác thấy thế nào, bác bảo chị Thiêm nhắc đến bác Q., làm bác xúc động quá không kìm được nước mắt, chứ không phải vong nhập. Bình thường, khi đến cơ sở của chị Thiêm, vong nhập rất dễ dàng, song buổi sáng hôm đó, chị em Thiêm chạy toát mồ hôi, gọi mỏi cả miệng, mà vong chẳng chịu về. Cũng có thể, trong cảnh rừng núi thanh bình, không gian thoáng đãng, vong khó nhập hơn. Một ngày đào được 8 bộ hài cốt, nhưng không có mẩu xương nào. Đang lúc không biết bấu víu vào đâu, thì chị Cao Thị H., người của trung tâm tổ chức cuộc tìm mộ rú lên một tiếng rồi lăn ra đất. Ngay lập tức, chị Thiêm và Thuy chạy đến đỡ. Chị H. nói rõ to: “Tao là Trần Văn D. đây!”. Nghe vậy, một chị là em của liệt sĩ chạy ngay đến ôm chị H. khóc lóc. Chị Thiêm chỉ hỏi dăm ba câu, “vong” nhập chị H. liền tả vanh vách các liệt sĩ chết thế nào, nằm ở đâu, rồi chỉ lần lượt nơi các liệt sĩ, các đồng đội của liệt sĩ D. nằm. Khỏi phải nói, mọi người vui mừng, xúc động như thế nào. Nhưng khi đó, tôi rất nghi ngờ, bởi vì, người nhà của các liệt sĩ thì chẳng bị vong nhập, mà vong lại nhập vào người của trung tâm tìm mộ! Khi chị H. chỉ chỗ có hài cốt, đoàn tìm mộ tiến hành khai quật ngay. Cô Thuy chỉ lấy chiếc bay gạt lớp đất mỏng đã reo lên: “Đây rồi, đầu lâu liệt sĩ đây rồi, vẫn còn trắng tinh”. Theo Phạm Đặng Nguyệt Diễm VTC News -
Bạn vào đây! Dễ dàng thôi mà !http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/19985-than-chu-giai-thoat-qua-su-nhin-ngam/
-
'Thời trang' cho người cõi âm Những bộ đầm màu sắc trẻ trung, giày cao gót kiểu dáng hiện đại, áo sơ mi lịch lãm, Iphone... bằng giấy xuất hiện tràn ngập trên phố cổ Hà Nội dịp lễ Vu Lan. Vài ngày nữa là rằm tháng bảy, trên phố Hàng Mã các đồ dùng bằng giấy để hóa gửi cho người cõi âm lại được bày bán. Một chiếc váy đỏ có đai quấn quanh được bày bán cùng ma nơ canh. Đôi giày cao gót rất kiểu cách, "hợp thời trang" được bọc cẩn thận trong túi nylon với giá 60.000 đồng. Áo cho phụ nữ mặc ở nhà, mặc đi ngủ... được thiết kế như thật với nhiều hoa văn, màu sắc . Áo sơ mi dành cho nam giới với cà vạt và bộ đồ ngủ phụ nữ bày tràn lan dưới vỉa hè. Đồng hồ đeo tay thời trang, điện thoại nhái theo kiểu Nokia cùng dây lưng, sữa tắm, dầu gội đầu được bán cả hộp Một chiếc váy cho trẻ em giá 40.000 đồng cùng đôi dép quai hậu 30.000 đồng đang được khách hỏi mua. Nhiều người quan niệm ở dưới cõi âm cũng giống như trên trần gian. Vì vậy người chết phải được hưởng thụ những gì hiện đại nhất, mới nhất. Những chiếc xe hơi, xe máy hạng sang, nhà cao tầng không còn là lạ vào mỗi dịp mùa báo hiếu. Đặt hàng ngay trên lề đường. "Chỉ cần khách hàng yêu cầu loại đồ dùng gì, chúng tôi sẽ làm theo đúng như thế không có gì khó khăn, kể cả Iphone, máy tính bảng, làm được hết", một người bán hàng khẳng định. Các loại đồ dùng này năm nay được các cửa hàng bọc kín đáo cho khách tránh sự ngại ngùng khi mang vác ngoài đường. Đi xe Mercedes dòng S đến mua đồ dùng cõi âm. Các vị khách nước ngoài tỏ ra lạ lẫm và ghi lại một số hình ảnh. Hoàng Hà vnexpress.net Thật đáng buồn! Qua hiện tượng này mới biết giới làm hàng mã cũng nhận thức được thế giới Âm ngày nay quá nhiều người chết trẻ! Vì nhiều lý do khác nhau trong đó vấn nạn ma túy và suy đồi lối sống mà họ hưởng dương ngắn ngủi.
-
Nhân Quả Có Thật Không?
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Đây có lẽ là điều giản dị để cho chúng sinh dễ hiểu chăng? Ý muốn đề cao bậc chứng đắc Bồ Tát mà còn biết sợ NHÂN xấu lỡ gieo trong vô thức thì chúng sinh vô minh chỉ đến khi nhận QUẢ họ mới ý thức được NHÂN hữu hình. -
Nhân Quả Có Thật Không?
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Mặt tích cực nằm trên lãnh vực kinh tế: lý thuyết mới này cho phép chúng ta giải thích thế giới mà không cần đến một đơn vị tuyệt đối, tiết kiệm bút mực và công sức, bớt đi chướng ngại cản trở con đường đi đến sự thật và giác ngộ. Với phương thức này tất cả những thử nghiệm tìm cho được một đơn vị tuyệt đối trong thế giới này và xem nó như là một đơn vị bất biến là không cần thiết, không những không cần thiết mà còn không thể đứng vững được. Đức Phật bác bỏ ngay cả ý niệm tuyệt đối của tiểu ngã của tư tưởng Upanishaden (Upaniṣaden) trong chính lý luận của các triết gia Upanishaden khi họ cho rằng: Nếu tất cả những gì trong thế giới đều được thấy rõ là phù du vô thường và không vững chắc trên phương diện tri thức luận; và nếu mặt khác muốn hiểu thế giới này thì cần phải chấp nhận một thực thể tuyệt đối hoàn toàn vượt ra khỏi tất cả những vô thường và bất định. Nếu đó không phải là Đại ngã bên ngoài thì điều gì có thể tuyệt đối hơn và thực chất hơn là chính người đã đưa ra suy nghĩ này? Ngoài ra nếu cần thiết nhìn thế giới mà không cần đến sự núp bóng vào trong một thực thể tuyệt đối thì giả thuyết chính con người là nơi trú ẩn chắc chắn nhất, duy nhất đối với sự vô thường của thế giới bên ngoài có thể đứng vững. Nói khác đi, chính con người với tư cách là thực thể cá nhân đồng thời cũng là thực thể tuyệt đối phổ quát được giả định trên lý thuyết, đó chính là cái NGÃ bất biến.. Theo Đức Phật, chính giả thuyết này lại là một sai lầm cơ bản, vì đã xây dựng cả cuộc sống của cá nhân con người trên một tiền đề không được biện minh. Sự xây dựng toàn thể thế giới và đời người trên cơ sở của một cái NGÃ bất biến đem đến thất vọng thay vì sự thật và hạnh phúc. Đức Phật dùng khái niệm KHỔ cho sự thất vọng này. Thất vọng hay khổ phát sinh do sự chấp trước hay tin tuyêt đối vào NGÃ là cái gì tồn tại vịnh cữu. Khái niệm KHỔ trong diệu đế thứ nhất và phân tích KHỔ trong diệu đế thứ hai chỉ rõ tính cách vô thường hay bị điều kiện hoá. Chính tính vô thường, sự biến đổi của sự vật trên thực tế phản bác lại sự thường còn ảo tưởng và từ đó sự khổ đến từ ý thức về ngã một cách sai lầm. Khổ chỉ tồn tại bao lâu người ta không biết tính sai lầm của tiền đề chủ trương tất cả mọi vật đều là thường còn. (còn tiếp) -
Nhân Quả Có Thật Không?
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
III. Tương quan nhân quả theo tư tưởng Phật học. 1. Khái niệm “con người” Tương đương với khái niệm lưỡng tính về con người trong triết học của I. Kant : “Con người không chỉ là hiện tượng của các giác quan, mà qua thông giác thuần túy con người còn tự biết mình như một thực thể tư duy và ý chí, một thực thể được bẩm sinh tính tự khởi, mà khả năng tinh thần của nó hoàn toàn không có cảm tính. Đặc biệt lý tính của con người khác biệt với những năng lực tùy thuộc thường nghiệm, bởi vì lý tính chỉ quyết định đối tượng theo ý niệm của nó mà thôi. Và lý tính này sở hữu tính “nhân quả.”5 Đức Phật đã phác hoạ chân dung con người như sau: “Trong tấm thân sáu trượng này cùng với tâm thức của nó có sự khởi đầu của biết (ý thức, tâm, ghi chú của người viết) và khổ đồng thời khả năng thoát khổ”. Con người- như một tương hợp của ngũ uẩn- nằm trong điều kiện tính của thập nhị nhân duyên và luân hồi- trầm luân trong bể khổ nhưng chính con người có khả năng diệt khổ, thoát khỏi trầm luân. Có thể nói, lý thuyết nhân quả và nghiệp của Đạo Phật là yếu tố phổ thông và phổ quát nhất trong quá trình tìm hiểu, thực hành, tu chứng của người nghiên cứu cũng như của Phật tử. Nó quan trọng đến nỗi hầu như thấy được yếu tính của nó là có thể quán triệt hệ thống tư tưởng Phật học, như ngài Long Thọ (Nagarjuna)6 đã xác nhận. 2. Tương quan điều kiện tính. Khác với Kant, đạo Phật chỉ có một mô hình tương quan nhân quả áp dụng cho tất cả các lĩnh vực thường nghiệm cũng như siêu nghiệm. Thay vì khái niệm “nhân quả” đường thẳng, từ đó đưa đến ý niệm có một đấng toàn thể là nguyên nhân cuối cùng, tương quan điều kiện tính hay cũng được gọi là chuỗi điều kiện hay nhân duyên (Pratītyasamutpāda) trong đạo Phật được quan niệm như một phức hợp của nhiều điều kiện gây nên quả. Chuỗi tương quan điều kiện này được áp dụng cả trên bình diện tri thức (tuệ) lẫn bình diện đạo đức (giới). Cả hai bình diện là hai phần tử thiết yếu của hệ thống tri thức Phật học. Thấu triệt chuỗi tương quan nhân quả trong toàn bản thể của nó (tuệ) là điều kiện hay nguyên nhân để hành động đạo đức được thiết lập. Triết học Phật giáo không đi từ sự tách rời hai bình diện lý thuyết và thực hành như Kant đã làm mặc dù sự tách rời này trước tiên được xem như là bước đầu có tính phương pháp học để khảo sát các đối tượng trong tinh thần phân tích khoa học. Triết học Phật giáo đi từ lối nhìn toàn diện và nhất thể bao gồm ba khả năng: Tri, Hành và Định (hội nhập) mà Đức Phật đã đưa ra làm nền tảng cho phương thức cứu đời hay phương thức chữa lành khổ não của con người. Định (Samadhi) Tuệ Giới Prajna (Wissen) Sila (sittliches Handlung) Đức Phật cho rằng tri thức của nhân loại là vô cùng nhưng có một loại tri thức đúng đắn về sự vật và thế giới giúp ta mở được cánh cửa giải thoát khỏi điều kiện tính. Trong phương thức trên, “Tuệ” hay khả năng tri thức sự vật hay thực tại của sự vật đúng thật bản chất của sự vật có thể làm nền tảng cho hành động đạo đức, hay nói cách khác hành động đạo đức trên quan điểm của Phật giáo có lý do phát khởi qua sự liễu tri toàn diện về sự vật. Ta hãy tìm hiểu điều kiện khả thể của khái niệm nhân quả trong Phật giáo để biết tương quan chặt chẽ giữa tri thức và đạo lý. Hai bình diện này có một liên quan chặt chẽ- một liên quan có tính nhân quả khác hẳn với qua điểm nhị nguyên của Kant cho rằng giữa tri thức lý thuyết và hành động đạo đức có một dị biệt về thể tính không thể vượt qua được và do đấy phải viện dẫn ý niệm chủ thể tuyệt đối (ý niệm Thượng đế) đầy quyền năng sáng tạo và bất tử. 2a. Ngược lại với truyền thống tư duy của thời đại ngài sinh ra, Đức Phật đã sáng tạo ra một phương thức giải thích sự hình thành tri thức về thế giới mà không cần viện dẫn ý niệm tuyệt đối. Trong lúc những nhà tư tưởng của hệ thống Upanishaden cho rằng để giải thích sự hình thành thế giới vốn vô thường và giới hạn, sự hiện hữu của một thực thể tuyệt đối, bất biến, vô điều kiện là cần thiết. Đức Phật bác bỏ điều ấy và cho rằng chúng ta không cần phải viện lý một thực thể bất biến như vậy, chúng ta chỉ cần nhìn thế giới như một toàn thể mà trong đó mỗi yếu tố là điều kiện phát sinh ra một yếu tố khác: “Nếu cái này có thì cái kia có, nếu cái này phát sinh ra thì cái kia phát sinh ra. Nếu cái này không có thì cái kia không có. Nếu cái này được chấm dứt thì cái kia cũng được chấm dứt” điều đó có nghĩa, thế giới có thể tri thức được một cách thường nghiệm là một tập thể bao gồm nhiều phần tử, những phần tử này nằm trong một liên hệ với nhau là nếu một phần tử P hiện diện thì phần tử Q sẽ phát sinh và ngược lại nếu người ta bỏ P đi thì Q cũng sẽ không còn nữa. Trong chuỗi tương quan điều kiện này hai điểm có tính tri thức luận cần nêu rõ là: - Đức Phật đã khai triển một phương pháp có thể cho phép ngài giải thích thế giới mà không cần phải dựa dẫm đến ý niệm tuyệt đối hay tương quan nhân quả tuyệt đối - Thay vào chỗ những đơn vị tuyệt đối bất biến riêng lẻ, chúng ta phải nhìn thế giới ở trong chuỗi liên hệ của những điều kiện. Tri thức về chuỗi điều kiện này là chìa khoá nhận thức bản chất thực của mọi sự vật trên thế gian: là vô thường và vô ngã, ngay cả cái tôi chủ thể đang tri thức. 2b. Đức Phật dạy rằng chúng ta có thể có một khái niệm về thế giới mà không cần đến ý niệm tuyệt đối. Khám phá của Ngài bác bỏ giả thuyết về một tiểu ngã bất biến (Atman) mà các nhà lý thuyết Upanishaden chấp nhận, sau khi loại trừ ý niệm đại ngã của Bà La môn, có thể xem là một cuộc cách mạng tư tưởng gấp đôi. -
Đề nghị Ban Quản Trị xét và tạo điều kiện thuận lợi cho VU LONG trong việc truyền dạy kiến thức đến tất cả ACE như lời trên đây, tôi rất ủng hộ nghĩa cử này của VULONG.