Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Hôm nay tình cờ Wild search được clip này.http://netlife.com.vn/vn/videoclip/45666/index.aspx
  2. Với sự cố gắng của Anh Thiên Sứ, Chị laviedt và hoang trieu hai ngoài hanoi, đến giờ phút này anh đã không còn thời gian và điều kiện để trao tận tay món quà này cho hoàn cảnh của bài báo đã nêu, dù rằng từ khó khăn, anh có thêm đươc thông tin đây là một cặp vợ chồng, nhưng Wild nhận thấy trường hợp này ACE trên diễn đàn đã có lòng và nguyện vọng tặng cho. Anh nên nhờ ACE ngoài văn phòng Hanoi thay mặt chúng ta làm tiếp công việc liên hệ tìm kiếm để chuyển giao. Vì Wild thiển nghĩ Phần của họ, họ sẽ được ! Mà chúng ta cũng hoàn thành cách này hay cách khác đến được với họ cũng ấm tình người anh ạ !
  3. Thứ Ba, 21/04/2009 - 12:30 PM Những bức ảnh hiếm về Trung Quốc thế kỷ 19 (Dân trí) - Những bức ảnh hiếm có về cuộc sống của người Trung Quốc trong thế kỷ 19 mới đây đã được đem ra trưng bày tại Bắc Kinh. Điều đặc biệt là các bức ảnh do một nhiếp ảnh gia người Scotland chụp. Nhiếp ảnh gia người Scotland John Thomson đã chụp những bức ảnh hiếm có này trong thời gian ông sống ở Trung Quốc từ năm 1868-72. Đây là một trường học ở Bắc Kinh. Hầu hết những trường học này dạy tôn giáo và chữ. Trong chuyến thăm Trung Quốc, nhiếp ảnh gia Thomson cũng chụp ảnh về gia đình người dân nơi đây. Trong ảnh chụp một người phụ nữ danh giá cùng con dâu và các cháu. Người nước ngoài tới Trung Quốc thường được người bán đồ cổ tìm tới. Đường tới lăng mộ của Hoàng đế nhà Minh ở thành cổ Nam Kinh. Một cặp vợ chồng ở Hạ Môn, thành phố cảng đông nam Trung Quốc. Người chồng trong ảnh nhìn ra xa vì thời đó người ta quan niệm sẽ là không đúng phép nếu các cặp đôi nhìn thẳng vào mặt nhau. Nhiếp ảnh gia Thomson tự chụp mình với hai người lính ở Hạ Môn. Một số người Trung Quốc bó chân để có đôi chân "đẹp". Đây là bức ảnh chụp chân bó và chân bình thường. Ảnh chụp một phụ nữ trẻ ở Quảng Châu, miền nam Trung Quốc. Quang cảnh đô thị tráng lệ Ma Cao, là thuộc địa của Bồ Đào Nha cho tới tận năm 1999. Triển lãm ảnh của Thomsom tại Bảo tàng Nghệ thuật thế giới Bắc Kinh kéo dài đến ngày 18/5 này. PHAN ANH Theo BBC
  4. Chưa biết Đúng & Sai ? Nhưng cách giải của Thiên Đồng hay đấy ! Như trang Astrologie, Horocospe của các báo tuần ở Phương tây. Xin có lời ngợi khen ! Chờ đương sự xác nhận đã nhé !
  5. Nhìn hình đoán “tuổi thọ” hôn nhân 15/04/2009 16:56 (TNO) Nếu muốn biết cuộc hôn nhân của mình có bền vững hay không, hãy tìm album hình của chồng/vợ mà xem! Đó là kết quả của một cuộc nghiên cứu khoa học hẳn hoi, do chuyên gia tâm lý Matthew Hertenstein của trường Đại học DePauw (Mỹ) chỉ đạo thực hiện. Trong cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học đã xem ảnh thời đại học của các đôi vợ chồng và đánh giá mức độ cười của họ theo thang điểm từ 1 đến 10. Kết quả là không ai trong nhóm 10% cười nhiều nhất từng ly dị, trong khi nhóm 10% ít cười nhất có tỷ lệ hôn nhân đổ vỡ lên đến 25%. Việc đánh giá thang điểm cười được dựa trên hai yếu tố: miệng kéo dãn ra và các vết nhăn xuất hiện ở đuôi mắt. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng xem ảnh từ thời còn niên thiếu (trung bình 10 tuổi) của một nhóm người 65 tuổi. Họ phát hiện rằng 11% nhóm người cười nhiều nhất từng ly dị, trong khi tỷ lệ này ở nhóm “làm mặt hình sự nhất” khi chụp ảnh lên đến 31%. Sau khi tính toán tổng thể từ tất cả các thử nghiệm, nhóm nghiên cứu kết luận rằng những người thường giữ vẻ mặt nghiêm trang khi chụp ảnh có tỷ lệ ly dị cao hơn những ai hay cười trong ảnh đến 5 lần. Báo điện tử LiveScience dẫn lời các nhà nghiên cứu cho biết họ không tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt quá lớn kể trên. Tuy nhiên, có nhiều giả thuyết được đưa ra. Trưởng toán nghiên cứu Hertenstein cho rằng những người hay cười có lẽ có thái độ sống lạc quan nên dễ có hôn nhân hạnh phúc, hoặc có thể người hay cười thì dễ thu hút được một người hay cười khác sống chung, và hai con người hạnh phúc hẳn sẽ làm nên một cuộc hôn nhân bền vững. Ngoài ra, Hertenstein cho biết ông cũng xem xét đến những khía cạnh khác, chẳng hạn như người hay cười thì thường dễ có nhiều bạn, từ đó có một mạng lưới hỗ trợ rộng lớn để có thể giúp cho cuộc hôn nhân của họ hạnh phúc. Việc một người dễ dàng mỉm cười theo yêu cầu của người chụp hình, chứng tỏ họ là người dễ tùng phục cũng có thể là một yếu tố góp phần làm nên sự bền vững của hôn nhân. Đoan Nhật nguồn thanhnienonline
  6. Tượng Phật Ngọc cho nền hòa bình thế giới được chế tác từ khối ngọc lớn chưa từng thấy, hoàn toàn không tì vết, được phát hiện tại miền Bắc Canada năm 2000. Khối ngọc nặng 18 tấn được đặt tên là “Polar Pride”, nghĩa là "niềm Kiêu Hãnh của Bắc Cực". Khối ngọc này được một nhà nghiên cứu đá quí lừng danh thế giới, ông Fred Ward, đánh giá là "khám phá của thiên niên kỷ". Các nhà nghiên cứu khoa học cho biết loại ngọc này cứng chắc hơn bất cứ loại ngọc thạch Nephrite nào khác. Màu ngọc sáng bóng, chất lượng được đánh giá là loại ngọc quí dùng làm nữ trang. Công ty Jade Thongtavee, một công ty điêu khắc đá quý uy tín nhất Thái Lan đảm nhận việc chế tác tôn tượng. Tượng Phật Ngọc được tạc theo khuôn mẫu Tượng Phật Thích Ca đang được tôn thờ bên trong Bảo Tháp Đại Giác Ngộ (Mahabodhi Stupa) ở Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) dưới sự chứng minh của Đức Đạt Lai Lạt Ma và sự chỉ đạo, cố vấn kỹ thuật từ ngài Lama Zopa Rinpoche, người đã nằm mơ thấy khối ngọc này sáng rực ở Canada. Ngài Lama Zopa Rinpoche đã khuyến phát ông bà Ian Green, người Úc, chủ tịch Hiệp Hội Đạt Lai Lạt Ma ở Úc, qui y từ 35 năm nay thực hiện công việc có ý nghĩa này.
  7. TRÁI TIM CON GÁI Trái tim em là trái tim con gái Rất cả tin và dễ tổn thương Đập lo âu khắc khoải giữa đời thường Bỗng một ngày run lên bối rối Trái tim đập những điều em không nói Dù trước anh em kiêu hãnh lặng im Giọt lệ trào sau hàng mi giấu vội Nuốt vào trong thành nước mắt của tim Trái tim em chẳng một phút bình yên Cứ gào gọi, cư vẫy vùng thôi thúc Muốn vỡ tung và xé toang lồng ngực Để trao anh minh chứng của tình yêu Nhưng trái tim phiền muộn đã nhiều Trước tương lai luôn phập phồng lo sợ Chân trời xa nắng ấm có bao nhiêu Sẽ hạnh phúc hay sẽ là đau khổ Trái tim em trái tim bé nhỏ Trĩu nặng thế em không mang nổi một mình Muốn sẻ bớt nửa thương nhớ sang anh Nhờ anh giữ cùng em trái tim con gái (khỏng rõ tác giả)
  8. Làm sai cũng bằng phá hoại (Dân trí) - Đền thờ Lý Chiêu Hoàng ở Đình Bảng - Bắc Ninh được tu bổ bằng cách đập nát hoàn toàn. Chuyện không thể tưởng tượng đó đã có thật, xảy ra ngay trên chính vùng đất có bề dày văn hóa - lịch sử Bắc Ninh. Đơn vị quyết định san phẳng di tích là UBND phường Đình Bảng, là chủ đầu tư công trình tu bổ di tích nhưng thực sự là xây mới hoàn toàn. Họ quá gan, vài cán bộ của một phường lại dám quyết định đập bỏ một di tích thì quả là làm chuyện tày trời. Mọi lý giải của họ đều không thuyết phục, bởi vì không có một kiểu tu bổ nào dại dột như thế, và không có lối xử lý với di tích tàn bạo như vậy. Từ nay, ngôi đền di tích Lý Chiêu Hoàng biến mất, con cháu mai sau chỉ còn thấy được trong phim ảnh. Nhưng đáng buồn hơn là không chỉ đền Lý Chiêu Hoàng bị con người đối xử như thế. Còn nhiều công trình văn hóa, di tích khác trên đất nước này cũng đang bị biến dạng dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhiều di tích bị xuống cấp nghiêm trọng, nhiều đình làng, đền miếu đã được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia nhưng để trơ gan cùng tuế nguyệt. Nếu có triển khai các dự án trùng tu, thì không ít công trình cổ bị tân trang theo kiểu đình trăm tuổi biến thành một tuổi. Người ta trẻ hóa di tích một cách xấu hổ, u mê và lãng phí. Nhiều tượng phật, cổ vật trong các khu di tích đó bị trộm cắp, thất thoát, chuyển từ tài sản quốc gia thành của riêng. Đình Đông Húc, xã Đông Quang, huyện Ba Vì -Hà Nội bị mất đôi hạc cổ, đẹp và cao lớn nhất trong hệ thống đình 4,5 m. Nhiều nơi, cổ vật được xích lại nhưng cũng vẫn bị mất như đình Đông Viên. Rồi một pho tượng quý ở chùa Bút Tháp bị mất, sau này phải tạc lại để thay thế. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ trong vòng một tháng, mất tới 1000 pho tượng cổ, 37 đạo sắc phong gốc, bốn hạc thờ và nhiều hiện vật cổ quý hiếm khác. Việt Nam không có nhiều di tích, hiện vật cổ quý hiếm, nhưng việc gìn giữ và bảo vệ quá yếu kém nên những thứ quý giá ít ỏi đó tiếp tục bị phá hoại hoặc đội nón ra đi. Giữ gìn di tích như giữ gìn hồn vía của dân tộc, thậm chí là giữ bảo vật chứng minh chủ quyền, lãnh thổ quốc gia. Điển hình mới nhất là tờ lệnh quý của Vua Minh Mạng sắc phong cho gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn - Quảng Ngãi cách đây 175 năm. Đây là một trong những chứng cứ góp phần củng cố thêm vào hồ sơ tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Giữ gìn, bảo vệ, tôn tạo di tích văn hóa không thể làm bừa. Việc này chỉ được giao cho người giàu trí tuệ, có văn hóa, tình yêu nghề nghiệp và có tinh thần trách nhiệm với đất nước. Lê Chân Nhân
  9. Tượng Phật Ngọc cho hòa bình thế giới 18/04/2009 07:10 (GMT + 7)(TuanVietNam)- Trong sự ngưỡng vọng bình an của tâm hồn, tượng Phật Ngọc cho hòa bình thế giới dừng chân lần đầu tiên ở Việt Nam đã đem thông điệp hòa bình đến với hàng triệu trái tim yêu hòa bình, đồng thời nhắn gửi với bạn bè thế giới, rằng Việt Nam từ lâu đã chuyển từ văn hóa đối kháng sang văn hóa đối thoại. Trong sự ngỡ ngàng, nhiều người vẫn còn thắc mắc rằng vì sao Việt Nam được chọn để trở thành chặng dừng chân đầu tiên của Phật Ngọc cho hòa bình thế giới? Câu trả lời không chỉ dừng lại ở việc lịch sử dân tộc ta được viết bởi chiến tranh, nên tâm thức chúng ta luôn mang những ước vọng to lớn về hòa bình, mà còn bởi từ tượng Phật Ngọc không tỳ vết cho chúng ta thấy rõ hơn những tỳ vết đang hiện lên trong cuộc sống hàng ngày. Quê hương của những ứng xử hòa bình Việt Nam là một đất nước hồi sinh mạnh mẽ từ sau chiến tranh. Điều đó luôn thúc đẩy người dân ý thức giữ gìn nền độc lập tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ. Thế giới từng biết đến Việt Nam như một mảnh đất của những đối kháng. Nhưng Việt Nam còn là quê hương của những ứng xử hòa bình. Dân tộc ta từng được thần Kim Quy cho mượn kiếm thần, nhưng ý nghĩa đích thực không phải ở cây kiếm mà ở người sử dụng kiếm. Người trượng phu dùng kiếm, nhưng luôn ý thức kiếm là vật chẳng lành. Chính vì thế sau khi chiến thắng quân giặc, vua Lê đã trả lại kiếm cho thần Kim Quy, viết lên truyền thuyết về lòng yêu chuộng hòa bình của dân tộc. Hồ Hoàn Kiếm là mảnh đất linh thiêng bao đời nay đã minh chứng cho điều đó.Trong sự ngưỡng vọng bình an của tâm hồn, tượng Phật Ngọc cho hòa bình thế giới dừng chân lần đầu tiên ở Việt Nam đã đem thông điệp hòa bình đến với hàng triệu trái tim yêu hòa bình, đồng thời nhắn gửi với bạn bè thế giới, rằng Việt Nam từ lâu đã chuyển từ văn hóa đối kháng sang văn hóa đối thoại. Đối thoại là một trong những nguyên tắc ứng xử để gìn giữ nền hòa bình lâu dài. Đối thoại để hóa giải những vết thương xung đột còn hằn sâu trong tâm thức mỗi người khi chiến tranh vẫn còn tiềm ẩn đâu đó chung quanh cuộc sống. Dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của mình đã trải qua biết bao đau thương từ những cuộc chiến tranh (nội chiến, ngoại xâm). Chính vì lẽ đó người Việt Nam có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận và hiểu về giá trị của hòa bình, bảo vệ nền hòa bình. Có thể nói, hòa bình đã nuôi lớn lòng nhân nghĩa của dân tộc. Không thể khởi đầu từ tâm thức xung đột Tâm thức chiến tranh của quá khứ thể hiện ý nghĩa của từ “khổ”. Tâm thức hòa bình của hiện tại là ý nghĩa của sự “diệt khổ”. Trong một lằn ranh mong manh của hai tâm thức ấy, chỉ cần dũng cảm bước qua đau thương và thù hận là chúng ta chạm đến ý nghĩa đích thực của hòa bình. Nhưng ở phạm vi xã hội, giá trị của hòa bình không buộc chúng ta phải từ chối toàn bộ tâm thức khổ đau trong quá khứ, mà từ tâm thức ấy, chúng ta sống với những trạng huống hiện tại bằng lòng bao dung, độ lượng, khoan hòa. Điều đó chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta hạnh phúc và an lạc. Ý nghĩa hòa bình được bao quát trong kinh điển đạo Phật có những khác biệt căn bản với học thuyết kinh tế, chính trị xã hội vì nó mang trong mình những giá trị nội tại từ những ước nguyện và sự trải nghiệm sâu xa của cảm thọ và lòng trắc ẩn: tâm bình thế giới bình, tâm an xứ xứ an. Trong sự ngưỡng vọng bình an của tâm hồn, tượng Phật Ngọc cho hòa bình thế giới dừng chân lần đầu tiên ở Việt Nam đã đem thông điệp hòa bình đến với hàng triệu trái tim yêu hòa bình. Ảnh: Dân trí Trong chiến tranh, đôi lúc người ta thừa nhận rằng, những biểu hiện của giận giữ, thậm chí căm thù có thể nhất thời cho người ta sức mạnh, nhưng dù ở mức độ miễn cưỡng nào thì đó vẫn là sức mạnh để gây thương tổn cho người. Sự điều chỉnh từ trong tâm hồn sẽ mang đến cho chúng ta những ý nghĩ tích cực rằng quá trình từ đau thương đến an lạc, từ chiến tranh đến hòa bình không chỉ được hiểu như một khoảng thời gian dài đằng đẵng thử thách lòng kiên nhẫn mà còn là thời gian của tâm thức. Nếu tâm thức bị chi phối bởi những thái độ chính trị khác biệt nhằm phá vỡ mọi giá trị của hòa bình, thì cũng chính tâm thức là nơi để bắt đầu gây dựng lại lòng khoan dung và vị tha. Sự khổ đau, mất mát quá lớn của nhiều thế kỷ, thập kỷ sống trong tâm thức chiến tranh đã khiến chúng ta nghi ngại và không còn đủ bình tĩnh để nhìn nhận đến những giá trị nội tại của hòa bình, trong khi từng ngày, từng giờ, từng phút chúng ta vẫn luôn mong bản thân, gia đình và cộng đồng luôn có được sự bình an và hạnh phúc. Chính những tâm tưởng đang bị vây hãm bởi bất an khiến chúng ta tìm cách đối phó. Đối phó là hình thức ban đầu của chuẩn bị chiến tranh. Thời đại nào dân tộc ta cũng phải đứng trước những thách thức lớn và thời cơ lớn. Có thể thời cơ cũng là một thách thức, nhưng rất có thể thách thức cũng là một thời cơ, để chúng ta trưởng thành hơn khi nhìn nhận những giá trị của hòa bình, và đôi khi là những mất mát, đau thương. Hiểu được cội rễ của những hậu quả mà xung đột gây ra sẽ cho chúng ta một cách nhìn đa chiều hơn về hòa bình, rằng hòa bình không phải là hoàn toàn vắng bóng chiến tranh. Vì cả hòa bình và chiến tranh đều là cơ hội để chúng ta nhận thức nhiều hơn về sự thật của “khổ” và cách thức để “diệt khổ”. Chống trả lại sự đau đớn bằng thù hận và bức hại là thể hiện của một tâm thức tuyệt vọng. Và sự tuyệt vọng đó không chỉ cuốn trôi sự sống của người khác mà cuốn trôi luôn sự sống quý giá của chính bản thân mình. Rõ ràng, chúng ta không thể khuyến khích sự đoàn kết hay hòa hợp khởi đầu bằng tâm thức xung đột, vì điều đó đi ngược lại các giá trị của hòa bình nội tại. "Thế giới bắt đầu từ tâm" Diễn đàn Phật giáo thế giới lần thứ nhất tổ chức tại Trung Quốc vào tháng 4 năm 2006 đã đưa ra thông điệp: “Thế giới bắt đầu từ tâm”, nhằm cổ vũ cho những giá trị của hòa bình nội tại. Hy vọng thông điệp ấy sẽ phủ xanh trên mảnh đất Trung Hoa và lan rộng khắp thế giới. Hòa bình trước nhất phải đến với từng tâm thức cá nhân trước khi có thể tác động lên người khác. Thế giới hiện vẫn đang từng ngày bị xô đẩy bởi tai biến của những làn sóng tranh chấp, xung đột. Vì thế ý chí tự lực tự cường của dân tộc mà chúng ta có thể triển khai đó là nâng cao các giá trị văn hóa, bởi tinh hoa của dân tộc chính là văn hóa. Đó cũng cách thiết thực nhất để chúng ta tiến tới việc xây dựng nền văn hóa hòa bình. Chúng ta suy nghĩ gì trước tượng Phật Ngọc cho hòa bình thế giới khi Việt Nam đang là một trong những nước đứng đầu trong việc nạo phá thai? Chúng ta sống thân thiện với môi trường như thế nào khi chung quanh chúng ta là những dòng sông đang chết? Chúng ta thương yêu nhau thế nào khi nhiều gia đình đang đối mặt với tình trạng hôn nhân đổ vỡ? Chúng ta đã học cách bảo vệ nhau ra sao khi đất nước không có chiến tranh mà người chết vì tai nạn giao thông vẫn ở mức báo động? Làm cách nào để chúng ta bảo vệ công sức và tài sản của nhân dân khi tham nhũng còn đang là quốc nạn? Chúng ta phải hỏi nghiêm túc và phải tìm cách trả lời thẳng thắn cho những câu hỏi ấy, vì tất cả những điều ấy tương quan mật thiết với việc chúng ta xây dựng một nền văn hóa hòa bình. Xây dựng nền văn hóa hòa bình từ trong tâm thức đến hiện thực cuộc sống cũng chính là cách chúng ta giữ gìn nền hòa bình dài lâu dài của dân tộc. Thích Thanh Thắng nguồn tuanvietnamnet
  10. Bạn sẽ dặm được của, và cuộc sống trên mức trung lưu, bạn cũng có vẻ hơi kín tiếng và kiệm ý dù vẻ ngoài là người niềm nở dễ gần . Bạn luôn là người cởi mở nhưng vẫn giữ lại một nữa sự thật cho mình. Tóm lại bạn là người đánh lừa được suy nghĩ của người đối diện. Nếu đúng thì bàn tiếp nếu sai thì xem như tôi lạc quẻ nhé !
  11. TÌNH YÊU- Ta đem chôn tình yêu Rồi trồng lên bia mộ Lạy chúa! Thế là xong Hai đứa cùng nói khẽ... Nhưng tình yêu vùng dậy Trách móc nhìn chúng ta Các người nói gì vậy ? Ta đang sống đây mà Heinrich Heine
  12. Theo Wild thì mỗi thời đại, các nhà chính sử hay học sử thường có cái nhìn về những nhân vật lịch sử theo mỗi cách khác nhau Anh Trần Phương ạ .
  13. "Quyền mưu xảo thuật" hay là "bà Tấm" của Kinh Bắc? Quan điểm và những cứ liệu mà tác giả Đinh Công Vĩ đưa ra khi bàn về Nguyên phi Ỷ Lan trong tác phẩm của mình là vậy (xem kỳ 1). Nhưng đối chiếu với tín ngưỡng dân gian, khi người dân nhiều nơi lập đền thờ, bái vọng “bà Tấm” làng Dâu, thì rõ ràng là có sự “vênh” nhau. Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu vốn là người được nhân dân tôn thờ, dân chúng gọi bà là “Phật giáng thế” hay “bà Tấm” của Kinh Bắc bởi lòng nhân hậu, thương dân và công lao của Ỷ Lan đối với đất nước dưới vương triều Lý. Hàng trăm ngôi đền thờ Ỷ Lan được xây dựng ở khắp nơi để nhân dân tỏ lòng biết ơn, tưởng nhớ tới ân đức, công lao của bà” - ông Nguyễn Hữu Đức, năm nay đã 74 tuổi, người nắm rõ tích Ỷ Lan Nguyên phi, từng là Trưởng Ban Quản lý di tích đền thờ Ỷ Lan tại xã Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên nhấn mạnh.Anh Đỗ Xuân Tráng, một cán bộ hiện đang công tác tại TP.HCM, bày tỏ: “Ỷ Lan là phụ mẫu, tức là mẹ của muôn dân, dẫu cuộc đời bà có những vết xước nhỏ, nhưng đó cũng là chuyện thường tình của một con người. Không một ai có thể nghĩ sai lệch về công lao, ân đức của bà với nhân dân”. Anh Bình đã vượt cả ngàn cây số xa xôi để về đền thờ Ỷ Lan tự tay lau dọn, tu sửa lại đền thờ “bà Tấm”, chuẩn bị cho ngày hội đền vào tháng 3 (Âm lịch) tới. “Việc Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu giết Thượng Dương Thái Hậu cùng 76 cung nữ, sử sách cũng đều nói. Nhưng bà đã rửa những tội lỗi của mình bằng cách xây dựng các đền chùa để sám hối, chúng ta không vì một sai lầm mà đánh giá sai cả phẩm chất, lòng nhân hậu của bà với dân!” - ông Phùng Đăng Hoàn, Phó BQL di tích đền thờ Ỷ Lan Nguyên phi (Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội) bày tỏ ý kiến. “Dù các nhà sử học có nói gì thì Ỷ Lan Nguyên phi vẫn là người có công lao lớn với nhân dân. Nếu bà là một người mưu mô xảo quyệt, tại sao bà lại được dân chúng cả nước lập đền thờ suốt từ Nam vào Bắc?” - bà Bùi Thị Tình, một người dân ở Thái Bình đến dâng lễ tại đền thờ Ỷ Lan tỏ thái độ . “Cần đánh giá theo quan niệm đạo đức ở thời đó chứ không phải thời nay” Đó là phát biểu của PGS-TS Nguyễn Minh Tường (Viện Sử học Việt Nam). Ông cho rằng: “Chúng ta cần nhìn nhận nhân vật lịch sử một cách biện chứng và với tư duy khoa học. Đánh giá Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan với quan điểm lịch sử ấy có nghĩa là ta đánh giá với người cùng thời với bà và trước thời bà. Bà đã làm gì cho lịch sử dân tộc? Ngay cả vấn đề đạo đức của bà, chúng ta cũng phải xem xét, đánh giá theo quan niệm đạo đức ở thời đó chứ không phải thời nay. Nhiều nhà sử học đã cố tình lờ điều đó đi mà đánh giá một cách méo mó, thiếu khách quan với nhân vật lịch sử. Việc Ỷ Lan Nguyên phi giết 72 cung nữ, hay là 76 là có thực. Tôi không biện hộ cho bà. Nhưng “soi” hành động đó dưới vương triều phong kiến đó, thì nó có nguyên do của nó. Thời kỳ đó có tục “tuận tang”, tức là vua, hoàng hậu hay thái hậu mất thì đôi khi triều đình cũng chôn theo cung phi để hầu. Chính vì vậy, ta cũng phần nào hiểu cho bà. Đó có thể coi là những điểm đen trong cuộc đời của Ỷ Lan. Ỷ Lan có công 8 phần, lỗi chỉ 2 phần. Ngay sau chuyện làm với Dương Thái Hậu, bà đã hối lỗi và xây dựng hàng trăm ngôi chùa để chuộc lỗi của mình. Không nên cho rằng hành động đó là “lợi dụng của cải của nhân dân để xây dựng đền chùa” như Đinh Công Vĩ đã nói. Tôi cho rằng không nên vì 2 phần, cái gọi là lỗi của Ỷ Lan Nguyên phi mà xóa sạch 8 phần công của bà. Không phải ngẫu nhiên mà sau này, nhân dân coi bà là người phụ nữ Kinh Bắc tiêu biểu, một người vừa có sắc, có tài và có khả năng trị quốc!”. Viết trên phương diện tình ái chứ không phải làm đảo lộn những cứ liệu sử học. Đó là cách nhìn của PGS-TS Nguyễn Hải Kế, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường ĐH KHXH&NV. Ông cho rằng: “Những điều mà tiến sĩ Đinh Công Vĩ viết về Nguyên phi Ỷ Lan, chúng ta cũng biết, sử sách cũng viết... nên không có gì lạ khi tác giả đưa ra những giả thiết chủ quan như thế. Nhưng Đinh Công Vĩ không thuộc giới sử học nên tôi không bàn về Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu trong Các chuyện tình vua chúa hoàng tộc. Có điều, tác giả viết và đưa quan điểm của mình về con người của Nguyên phi Ỷ Lan trên phương diện tình ái chứ không phải làm đảo lộn lại những cứ liệu sử học nên tôi cho là điều bình thường. Bởi dù có viết thế nào đi nữa thì những đền thờ Nguyên phi Ỷ Lan ở khắp nơi vẫn tồn tại, công lao của bà vẫn được sử sách và nhân dân ghi nhận. Đinh Công Vĩ nói về Ỷ Lan là một người độc ác, ham quyền lực - cũng không làm thay đổi được về lịch sử các triều đại Việt Nam, cũng như không thể phủ nhận công lao của bà với dân với nước. Xét cả về mặt đạo đức của bà thì trong đức tin của người Việt, Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu vẫn là “bà Tấm” của Kinh Bắc - người mang trái tim nhân hậu, yêu thương của đức Phật che chở cho muôn dân!”. nguồn Phapluat TPHCM online
  14. * Viết cuốn sách Chuyện tình các vua chúa hoàng tộc Việt Nam, trong đó chuyện tình Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, ông căn cứ vào những cứ liệu lịch sử nào? Tiến sĩ Đinh Công Vĩ - Nguồn thứ nhất, cũng là nguồn chủ đạo, đó là chính sử, lớn nhất và đáng tin cậy nhất là bộ Đại Việt Sử ký Toàn thư do Ngô Sỹ Liên biên soạn, được soạn lại vào thời Lê Thánh Tông (Hồng Đức thứ 10), ngoài ra còn có Đại Việt sử lược (khuyết danh) và hàng trăm bộ sử khác. Tôi đã đọc bằng hết rồi đối chiếu, so sánh các bộ sử trong nước để rút ra những điều cần yếu làm tư liệu sáng tác, cũng phải mất cả núi thời gian đấy. Nguồn thứ hai, tôi dựa vào những tư liệu lịch sử là các câu chuyện dân gian bên lề chính sử, những truyện dã sử có được từ những chuyến đi điền dã. Nguồn thứ ba là dựa vào gia phả các dòng họ, các thần tích, thần phả có ở các đền thờ Ỷ Lan. * Tại sao ông lại cho rằng việc Ỷ Lan xây dựng các đền chùa là lợi dụng của cải của nhân dân để sám hối cho tội lỗi của mình? - Có thể là thế, nhưng chúng ta đừng nên nhắc đến chuyện này nhiều. Trong chuyện xây chùa, tốn của công nhưng đồng thời đây lại vấn đề văn hóa tâm linh. Tôi thấy nét tối trong bà nhưng vẫn không phủ nhận đây là “bà Tấm trong lòng dân” và tôi vẫn kính cẩn thắp hương mỗi lần đến nơi thờ bà. * Có người cho rằng, quan điểm của ông thể hiện khi viết về Nguyên phi Ỷ Lan mang tính cực đoan chứ không mang tính biện chứng? - Theo tôi cực đoan hay không cần tìm hiểu thêm, còn về cơ bản là biện chứng vì bên cạnh cái hay, con người nào cũng có cái dở. Theo triết học Đông phương là tương phản, tương thành. Trong bà Ỷ Lan có nét sáng nhiều. Song cũng có một vài nét tối. Tôi muốn nhấn mạnh phần tối để cõi đời này, phần sáng được sáng lên. Ỷ Lan Nguyên phi có cả công và tội. Tôi muốn nói rằng trong 2 mặt tối sáng đó, những công lao của Ỷ Lan cống hiến cho dân tộc vẫn là hơn, dù trong tác phẩm, tôi chưa so sánh rõ rệt. Nhưng tôi cũng muốn nói, cái tội của bà Ỷ Lan vẫn không hề nhỏ. Bây giờ giết một người đã đáng tội tử hình, huống chi Ỷ Lan giết hàng mấy chục người. Nó vừa là ghen tuông, vừa là tham quyền lực. Ghen tuông đi đến việc giết người, hơn nữa lại là giết một nhân vật bề trên mình là Thượng Dương Thái hậu thì đó không phải là cái ghen đơn thuần. Hơn nữa, hành động của nhân vật nào cũng phụ thuộc một phần vào hoàn cảnh sống và thời đại. Nếu không sống trong triều đại và hoàn cảnh cụ thể thì bà Ỷ Lan cũng không làm thế. Con người có những mâu thuẫn nội tâm, viết về Ỷ Lan, tôi không lên án hay tô hồng bà, chỉ muốn chỉ ra những nội tâm của nhân vật mà trước đó, các nhà sử học đã không nói đến. * Theo ông, mảng tối trong cuộc đời Nguyên phi Ỷ Lan có ảnh hưởng đến những công lao của bà cống hiến cho lịch sử hay không? - Chính mảng tối lại làm nổi bật công lao của bà với lịch sử. Cái tối làm nổi bật cái sáng, cái sáng làm nổi bật cái tối. Nói như triết học là tương phản - tương thành. Đó là hai khối mâu thuẫn nhưng thống nhất, nương tựa vào nhau. * Được biết, cuốn sách được viết với sự kết hợp cả tính văn học và sử học. Ngoài việc sử dụng các cứ liệu lịch sử thì tính văn học được thể hiện như thế nào? - Tính văn học chính là việc vận dụng các cứ liệu lịch sử một cách uyển chuyển. Là cách diễn đạt, hành văn, hư cấu thêm. “Riêng với bà Ỷ Lan, không thể cầu toàn được. Hẳn còn những chỗ cần sửa cho tốt hơn để sau mỗi lần tái bản sẽ toàn bích hơn. Nhân đây tác giả xin cáo lỗi với các vị tiền nhân ở các phần chưa được như ý cũng xin các độc giả tha thứ cho những sai sót mà tác phẩm đã có. Tác giả cũng xin được cảm ơn nhận xét của các giáo sư sử học ở số báo trước”. Những gì mà lịch sử đã quá rõ thì mình không thể can thiệp được nhưng những cái mà sử chưa rõ ràng thì chúng ta có quyền hư cấu, có quyền thêm thắt để bày tỏ quan điểm của mình. Đại Việt Sử ký Toàn thư và các cuốn chính sử khác mang tính chất quan phương nhiều hơn, còn tôi đi vào những vấn đề riêng tư của đời sống nhân vật. Tôi không bịa hoàn toàn nhưng viết một cách uyển chuyển. Chỗ nào có thể thêm mắm muối được thì cứ thêm. Cái gì không có thì có thể hư cấu, nhưng những gì sử sách đã rõ ràng rồi thì thôi. Tôi hư cấu bằng văn học trên phương diện lịch sử. Thực chất cuốn sách viết về các chuyện tình mang tính văn học, chất thơ nhiều hơn. Cuốn sách đậm chất sử thi ái tình. Nhưng cũng cần nói rõ hơn những cái sử sách đã rõ, đã cụ thể rồi nếu không biết chọn lọc sẽ dẫn đến sai sót. Như trường hợp truyền thuyết bà Đế trong Các chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam, tôi đã dựa vào tác phẩm Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn một tác phẩm công phu, có giá trị. Song ở chuyện bà Đế, cũng có chỗ vênh với lịch sử, dẫn tới lẫn chuyện của Ân Vương Trịnh Doanh sang Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm (mà ở thời Trịnh Kiểm nhà Mạc còn mạnh nên Trịnh Kiểm chưa bao giờ đến lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn để có mối tình với bà Đế) làm lẫn lộn trong Chuyện tình các vua chúa hoàng tộc của tôi. Ngay sau khi 2 bài báo về cuốn sách đăng tải, tôi đã nhận được nhiều thư của độc giả, trong đó có thư của ông Lê Đồng Thuận và các hậu duệ của chúa Trịnh để chỉ ra những hạt sạn của tác phẩm và cung cấp những nguồn tư liệu quý để lần sau tái bản đạt kết quả tốt hơn. * Chân thành cảm ơn ông !
  15. Về “Các chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam”: Kỳ 1: Phải chăng Ỷ Lan là người “quyền mưu xảo thuật”? 15-04-2009 17:02:41 GMT +7Theo Hà Giang (TT&VH) Trong 70 “chuyện tình” được kể trong cuốn sách trên thì chuyện tình của Nguyên phi Ỷ Lan và vua Lý Thánh Tông được tác giả Đinh Công Vỹ kể một cách chi tiết. Qua đó người đọc bất ngờ thấy quá trình thực hiện những “quyền mưu xảo thuật” của Ỷ Lan để thỏa mãn “tham vọng quyền lực và sự ích kỉ cá nhân” của mình (???) Tuy nhiên, nếu nhìn nhận vấn đề dưới góc độ lịch sử, thì sự phán xét đó mang tính chất phản biện, hay chỉ nhằm mục đích “mua vui cũng được một vài trống canh” như những cuốn sách giải trí thông thường? 1. Tác phẩm Các chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam của tiến sĩ Đinh Công Vỹ sau khi được nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành tháng 9 năm 2006 đã cho thấy quan điểm khác biệt của tác giả trong việc đánh giá các nhân vật lịch sử. Hơn 500 trang sách tập hợp 70 chuyện tình của các vua chúa hoàng tộc Việt Nam trải dài trên 4000 năm lịch sử dân tộc từ Vua Hùng dựng nước đến triều vua Bảo Đại. Tác phẩm Các chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam. Khi viết về Nguyên phi Ỷ Lan (ở phần 2, mục 8 (từ trang 77 đến trang 85 của cuốn sách), dù không phủ nhận công lao, nhưng tác giả Đinh Công Vỹ đưa ra rất nhiều dẫn chứng để thuyết phục độc giả về “tội” của bà với triều đình, với nhân dân, đất nước. Nói về việc kết hôn giữa Ỷ Lan với vua Lý Thánh Tông, cuốn sách Hoàng Thái hậu Ỷ Lan do Hội Sử học Việt Nam cùng UBND xã Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên (quê ngoại của nguyên phi Ỷ Lan) kết hợp biên soạn gọi đó là mối thiên duyên giữa con trời với một cô gái thôn quê. Nhưng tác giả Đinh Công Vỹ cho rằng: “Vua rước Ỷ Lan về cung vì nàng khéo léo, muốn làm kiểu độc đáo để cho vua để ý: trong khi nhiều cô nàng trang điểm đẹp đẽ đến gần kiệu vua thì Ỷ Lan lại kiêu kì đứng ở nơi khuất, cao giọng hát đến tai vua. Giọng hát cực kì du dương khiến vua phải đón về làm vợ”. Ngay sau đó, tác giả bình luận thêm: “Như thế sự toan tính, cầu công danh phú quí của Ỷ Lan đã có, đâu phải tình yêu của đôi lứa trai tài gái sắc cảm nhau theo kiểu thường tình”. Năm 1069, Lý Thánh Tông đem quân đi đánh giặc, Ỷ Lan nguyên phi được vua giao việc nước. Nói về việc này, Đinh Công Vỹ phân tích đây là kết quả của “cơ may, vận hội cực kì hiếm đã rơi vào tay Ỷ Lan và con trai bà” bởi “từ nay trở đi, bà có chỗ mà thi hành mọi tài năng, đặc biệt là mọi quyền mưu xảo thuật trước bàn dân thiên hạ”. Đồng thời, tác giả cũng lý giải rằng vua vì quá yêu Ỷ Lan bởi bà đã sinh con cho Thánh Tông nên mới trao quyền nhiếp chính. “Lý Thánh Tông có thể rất yêu, rất mê Ỷ Lan, còn về phía Ỷ Lan có thực sự yêu Thánh Tông hay chỉ yêu quyền chức lợi lộc lại là vấn đề khác?” 2. Một trong những quyền mưu xảo thuật của Ỷ Lan được tác giả nhấn mạnh nhiều nhất là lúc bà nhiếp chính lần thứ 2 – lúc này bà được phong là Hoàng Thái Phi khi vua Lý Thánh Tông băng hà (1072) và vua Càn Đức lúc đó mới 7 tuổi lên ngôi. Đinh Công Vỹ viết một cách đanh thép: “Bà đã phạm tội giết hại vợ đích của chồng là Thượng Dương Thái Hậu cùng 76 cung nữ”. Nói về sự việc này, Đại Việt sử kí toàn thư có ghi: “Năm 1073, giam Hoàng Thái Hậu họ Dương, tôn Hoàng Thái phi làm Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Linh Nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không dự chính sự mới kể với vua rằng: “Mẹ già này khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quí người khác được hưởng, toan để mẹ già này ở đâu?”. Vua bèn sai Dương Thái Hậu và 76 thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết”. Phân tích sự việc này, Sử thần Ngô Sĩ Liên cũng như nhiều cuốn sách sử khác bàn rằng đó chỉ là “do cái ghen thường tình của người đàn bà”. Nhưng Đinh Công Vỹ lại bình luận: “Ông (tức Ngô Sỹ Liên) đổ cho “ghen là thường tình”, đổ cho vua là “trẻ thơ” thì làm sao chỉ ra được kẻ có tội nữa, đều là vô trách nhiệm”(!). Và tác giả nhận xét bản chất sự việc như thế này: “Sự tham lam quyền lực, sự ích kỉ cá nhân đã giết chết hết mọi nhân tính của Ỷ Lan. Giết 76 cung nữ cùng 1 lần với Dương Thái Hậu chứ có phải ít đâu!”. Đền thờ Ỷ Lan tại Như Quỳnh (Hưng Yên) Ở phần kết thúc, Đinh Công Vỹ kết luận: “Và kết quả của tình dẫn đến cái ghen ấy là Ỷ Lan dùng quyền hành của mình, lấy tiền bạc của dân, của nước ban ân đức hoặc xây dựng nhiều công trình chùa tháp vô cùng tốn kém để sám hối về tội lỗi do chính mình gây ra. Phật giáo hay nói đến duyên kiếp, quả báo. Những tội lỗi ấy phải chăng đã có quả báo đến chính con cái bà…”. 3. Trong cuốn Trái tim đồng điệu – cuốn sách tập hợp những bài giới thiệu về các cuốn sách sử của Đinh Công Vỹ, người giới thiệu đã gọi Ỷ Lan Hoàng Thái hậu là "bông hoa đồng nội biến thành hoa ác lụi tàn" khi ca ngợi Chuyện tình các vua chúa hoàng tộc là cuốn sách hay, tin cậy, nên đọc. Như vậy, có thể thấy rằng, qua các cuốn sách Đại Việt sử kí toàn thư, Nhìn lại lịch sử (Lã Duy Lan), Đại Việt sử lược… khi viết về Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan, các tác giả đều nhận xét cuộc đời bà có vết đen và vết đen ấy do tính ghen của người đàn bà gây ra khi bà đã giết Thượng Dương Thái Hậu cùng 76 cung nữ. Nhưng tác giả của Chuyện tình vua chúa Hoàng tộc thì thấy rằng vì vốn dĩ con người Ỷ Lan đã có những “mưu mô xảo quyệt” ngay từ khi kết hôn với vua nên bà đã “làm nên tội lớn” với triều đình, nhân dân!!!. nguồn phapluat TPHCM online
  16. Ảnh 'bóng ma' trong lâu đài đổ nát Một nhiếp ảnh gia nghiệp dư thăm lâu đài cổ Tantallon tại Scotland vào năm ngoái và chụp một bức hình. Sau khi rửa ảnh anh phát hiện một phụ nữ cao tuổi trong đó. Lâu đài Tantallon và vị trí mà người phụ nữ bí ẩn xuất hiện. Ảnh: Christopher Aitchison. Lễ hội khoa học quốc tế Edinburgh được tổ chức vào tháng 4 hàng năm tại thành phố Edinburgh, Scotland trong 12 ngày. Năm nay các nhiếp ảnh gia nghiệp dư gửi tới hơn 250 ảnh ma. Khoảng 250.000 người đã bỏ phiếu bình chọn bức ảnh đẹp nhất. Tác phẩm của Christopher Aitchison đã giành giải quán quân với 39% phiếu. Christopher Aitchison chụp lâu đài đổ nát Tantallon tại thành phố North Berwick, Scotland vào tháng 5 năm ngoái. Trong bức ảnh người ta thấy một người phụ nữ cao tuổi đứng sau song sắt của một cửa sổ và nhìn ra ngoài. Người này mặc trang phục của nhiều thế kỷ trước. Aitchison khẳng định chẳng có thứ gì ở cửa sổ đó khi anh ngắm và lấy nét. Người phụ nữ già nua phía sau song sắt cửa sổ. Ảnh: Christopher Aitchison. "Tôi chụp bức hình vào khoảng 3 giờ chiều. Tôi không nhìn thấy người hay vật nào ở chỗ đó và chỉ nhận ra điều bất thường khi về nhà", anh kể. Các chuyên gia đã kiểm tra kỹ lưỡng bức ảnh nhiều lần và kết luận rằng Aitchison không sử dụng kỹ xảo. Một số người cho rằng bà cụ trong ảnh là một vị khách nào đó cũng tới thăm lâu đài song Aitchison không để ý. Nhiều người khác nói hình ảnh bà cụ được tạo ra bởi sự phản chiếu ánh sáng bất thường giữa tường và song sắt. Lâu đài Tantallon được xây dựng vào năm 1350 và là lâu đài cuối cùng được xây dựng tại Scotland trong thời trung cổ. Phần lớn công trình được tạo nên từ đá. Sau đúng 300 năm kể từ khi ra đời, Tantallon bị bỏ hoang vào năm 1650. Ngày nay nó chỉ còn là một tòa lâu đài đổ nát và thuộc quyền quản lý của chính phủ. Người ta mở cửa lâu đài quanh năm để người dân có thể viếng thăm. Minh Long (theo Daily Mail) nguồn vnexpress.net
  17. Có ý nhỏ đóng góp với Anh ! Địa Lý Nước Mỹ qua tầm nhìn Phong Thủy Việt được không anh ?
  18. Oh ! Cám ơn sự wan tâm của P.C và ban điều hành Văn phòng Hà nội đã đề nghị Kỷ Niệm Chương cho Wild, mà xét thấy mình chưa đúng tầm với danh xưng "Trái tim từ thiện" nếu là "Đôi chân từ thiện" thì an tâm thụ hưởng vinh dự này đấy ạ ! P.C thấy chị trên các trang từ thiện được rồi mà! Chị không muốn thành Star của diễn đàn đâu! Hãy làm việc thầm lặng mà không lặng thầm là ổn lắm rùi em ạ !
  19. Một cách tính tuổi thọ thiên đĩnh thứ 2 theo KMDGNT ________________________________________ Có một cách tính TTTĐ thứ 2 xin đưa lên để các bạn tham khảo thêm và đối chiếu với cách trên xem sao . Nguyên lý cách tính này là :Với tuổi thọ hàng chục thì người xưa dùng số cung còn với hàng đơn vị thì mới dùng theo số đếm thứ tự của sao khí . Ví dụ : Cũng người sanh giờ Ất sửu hướng Chính nam như trên trong bảng số mẫu thì số tuổi thọ hàng chục là 4 vì cửa Tử nằm ở cung 4 . Sau đó ta vẫn tính từ sao khí Thiên bồng là 1 đi suốt 9 sao khí nhiều vòng thì sẽ gặp cửa Tử ở các số : 5 ,14 ,23, 32, 41, 50...Vậy TTTĐ của người sao khí bản mệnh Thiên bồng là 41 ( hoặc 50 ) vì hàng chục 4 là từ 41 đến 50 . Còn các số trước là những năm có nguy cơ tử vong . Theo cách tính này thì người sanh cùng giờ dù ở cung nào cũng đều có TTTĐ hàng chục như nhau , chỉ khác nhau hàng đơn vị do cung sanh khác nhau mà thôi . Nhân đây xin lưu ý thêm về cách tính giờ trong Tam thức xưa : Cũng như Tháng cứ 2 tiết là 1 tháng nhưng khác với Lịch kiến dần là: Đông chí + Tiểu hàn là tháng Tý Đại hàn + Lập xuân là tháng Sửu ....................vv Còn Lịch kiến dần thì :Đại tuyết + Đông chí là tháng Tý Tiểu hàn + Đại hàn là tháng Sửu ................vv Ở Giờ cũng vậy từ Chính ngọ ( lúc bóng mặt trời ngắn nhất) kéo dài suốt 2 giờ đồng hồ sau đó là giờ Ngọ chứ không phải :trước chính ngọ 1 giờ đồng hồ + sau chính ngọ 1 giờ đồng hồ là giờ Ngọ vì nếu tính kiểu này thì khởi đầu giờ Tý sẽ còn thuộc ngày hôm trước .Các giờ sau thì mỗi cách đều tính tiếp tục theo khởi điểm của mình . Tức là điểm khởi đầu cho Tháng và Giờ của 2 loại lịch Kiến Dần và Kiến Tý là khác nhau mà trong Tam thức xưa thì đều dùng Lịch Kiến Tý cả nên nếu chúng ta dùng Tháng hoặc Giờ của Lịch KD để tính toán thì sẽ thiếu chính xác . Thiện Nhơn .
  20. Cách tính tuổi thọ theo KMDGNT. Muốn tính tuổi thọ một người ta lập bảng số giờ sanh để xem cung sanh người đó mang sao khí gì .Vùng Động Đình Hồ TH là tâm địa bàn Lạc thư nên ở VN thì khoảng từ Huế trở ra là cung Tây nam ,còn trở vào là cung Chính nam . Lấy sao khí cung nơi sanh làm sao khí bản mệnh và tính là 1 tuổi ( Vì 1 giờ tương ứng với 1 năm) rồi tuần tự tính thuận hay nghịch (tuỳ Dương hay Âm độn) mỗi sao khí 1 năm theo thứ tự 9 sao khí .Mà mỗi sao khí thì ở một cung mang một Cửa nào đấy nên đến năm nào gặp cửa Tử là năm có nguy cơ tử vong . Ví dụ: Theo bảng số mẫu sách KMDGNT thì người sanh giờ Ất sửu lý thuyết ở cung Chính nam mang sao khí bản mệnh là Thiên bồng .Vậy: Thiên bồng là 1 tuổi ở cung mang cửa Kinh . ........nhuế ...2 ..............................Thương ........xung ...3................................Khai .........phụ.....4...........Trung cung ........ cầm....5................................Tử (năm có nguy cơ) .........tâm ....6................................Cảnh ..........trụ ....7................................Sinh .........nhậm ..8................................Hưu ..........anh ...9................................Đổ Những năm có nguy cơ là năm xấu .Nếu các sao khí bên Hệ mặt trời ở cung sanh cũng xấu + các sao khí năm đó khắc sao khí bản mệnh thì cũng có thể dẫn đến tử vong . Nhưng năm nguy cơ không phải là năm tuổi thọ thiên định .Theo nguyên lý TSLT thì nếu giờ này sao khí Thiên bồng mang sử Tử ở cung 9 thì 10 giờ sau sao khí Thiên nhuế sẽ mang sử Thương và ở cung 1 như trong bảng số mẫu ,tức là mỗi một sao ở một cung vừa tương ứng với 1 năm vừa tương ứng với 10 năm, mà vận lớn là tổng thể nên tuổi thọ thiên định của người đó thuộc hàng chục là 5 có nghĩa là từ 51 đến 60 tuổi . Sau khi đếm hết 9 sao khí ta lại tiếp tục : Thiên bồng 10 tuổi ở cung cửa Kinh cũ ,rồi Thiên nhuế 11 tuổi ...vv ta sẽ gặp nhiều năm có nguy cơ tử vong nữa đều cần phải lưu tâm chú ý ...nhưng riêng năm 59 tuổi thì vừa là năm hàng chục vừa là năm hàng đơn vị ở cung mang cửa Tử ( cung mang sao khí Thiên cầm trong bảng số mẫu ) nên đó là năm tuổi thọ thiên định của người nói trên .Nhưng điều cần nhớ là 1 năm theo TSLT tính từ Đông chí này đến Đông chí sau nên theo Lịch Kiến Dần thì sẽ nằm ở cả 2 năm 59 và 60 tuổi . Hỏi: Nếu vậy thì tất cả mọi người sanh cùng giờ và cùng cung đều mang tuổi thọ thiên định như nhau hay sao ? *Tuy sanh cùng giờ, cùng cung (tức là cùng một sao khí) nhưng kẻ sanh nơi này người sanh nơi kia tuỳ thuộc vào Địa khí quả đất nơi sanh, rồi nơi ở, cách sống cũng khác nhau ...vv Hơn nữa tuy cùng sanh một giờ nhưng người trước kẻ sau nên cách tính trên chỉ là nguyên lý chung còn tuổi thọ thực tế thì phải có sai số + và - nhiều ít nào đó vậy . Dù sao thì đây cũng là một phương pháp tính tuổi thọ của người xưa có tính logic và xác xuất cao nên xin đưa lên để các bạn cùng tham khảo chụng Thiện Nhơn .
  21. Qua bài viết của tác giả, tôi lại đang chập chững là học trò môn Phong Thủy Lạc Việt. Tôi không dám đặt vấn đề nhưng có thắc mắc về phương pháp lý giải phong thủy của một hình thể đất nước . Nếu phân tích như thế Italia và Brazil mang hình chiếc giày chỉ thành công ở môn bóng đá? Vậy thì nước Nhật mang hình cánh cung lại thành công ở nền công nghiệp Điện tử, và còn nữa Singapour chỉ là một đảo quốc lại là một trong những nước giàu của Châu á? Nước Pháp tự hào về nên văn minh lại mang hình Hexagone (tám cạnh) thì giải thích hình thể địa lý thế nào đây !
  22. Trị rụng tóc với hà thủ ô 12/04/2009 10:45 Từ khi dầu gội đầu có mặt trên thị trường, đồng hành với sự tiện lợi mà nó mang lại là hiện tượng rụng tóc. Chưa tính đến chuyện chất lượng của mỹ phẩm trôi nổi, có mặt khắp nơi, dù là dầu gội có thương hiệu thì với các hóa chất làm sạch chân tóc, dầu gội sẽ “tiện thể” bào mòn da đầu, khiến cơ chế bảo vệ tóc sẽ kém hơn hẳn. Đây chính là nguyên nhân khiến tóc rụng nhiều hơn. Trong đông y có phương thuốc khá hay để trị chứng rụng tóc. Cách chế biến tuy không đơn giản nhưng dễ thực hiện. Chọn mua hà thủ ô đỏ (tên khoa học Poly Multiflorum Thunb), rửa sạch, cắt khúc, lưu ý không dùng hà thủ ô trắng cho bài thuốc này. Chưng hà thủ ô với đậu đen và nước theo tỉ lệ 1 kg hà thủ ô, 100 g đậu đen, 2 lít nước. Để lửa nhỏ, đảo đều tay để hà thủ ô và đậu chín đều. Chưng nhiều lần hoặc đun trực tiếp cho đến khi hỗn hợp gần cạn thì lấy hà thủ ô đem phơi khô. Sau đó, lấy nước hầm còn lại trong nồi tẩm vào hà thủ ô, rồi tiếp tục phơi cho khô. Hầm tiếp 100 g đậu đen và 2 lít nước với hà thủ ô đã khô. Lặp lại thao tác đủ 9 lần thì sao hà thủ ô khô đã qua chưng, phơi trên chảo nóng cho khô vàng. Cuối cùng, xay hà thủ ô khô thành bột, dùng uống mỗi ngày 1 đến 2 lần, mỗi lần khoảng 15 g-20 g. Tác dụng của bài thuốc này là chống rụng, giúp đen tóc. Tuy nhiên, điểm hạn chế là khi dùng nhiều hà thủ ô sẽ dẫn đến táo bón. Vì vậy nên kết hợp với việc ăn rau củ có tính nhuận tràng như rau lang, khoai lang, rau sam... để quân bình cho bộ máy tiêu hóa. Bên cạnh việc cung cấp dưỡng chất bên trong cơ thể, cũng cần chăm sóc tóc từ bên ngoài. Nếu tóc rụng quá nhiều, nên dùng quả bồ kết, chế dưới dạng cao đặc để gội đầu. Cách làm cũng không phức tạp. Nướng bồ kết trên than hồng, sau đó bẻ nhỏ, bỏ hạt. Nấu với nước cho đến khi đặc lại thành cao, cho vào lọ, bảo quản lạnh để dùng dần. Cơ chế tan trong nước sẽ giúp cao bồ kết thấm qua da, nuôi dưỡng chân tóc từ bên ngoài. Theo Dược sĩ Quang Mười / Người Lao Động
  23. Phong thủy Đại Việt Thường theo phong tục hay thói quen vào dịp đầu năm, đa số người Việt thích tìm hiểu vận mạng cho mỗi cá nhân và người thân trong năm mới như thế nào qua các bộ môn tử vi, bói bài, xin xăm v.v, hay nói chung các môn khoa học huyền bí. Đi xa hơn và có tính cao cấp hơn nữa là một số ít các “Tử Vi Gia”, lại dùng phương tiện đó để đoán chơi vận mệnh cho cả nước! Đúng sai lành dữ như thế nào thì ít có ai chứng nghiệm được liền, vì đa số chắc sẽ quên đi và coi như là những chuyện đọc cho vui trong mấy ngày xuân lai rai. Không ngoài thông lệ nói trên, người viết cũng muốn nhân dịp năm mới sắp tới, gởi đến quýđọc giả một vài dòng đặc biệt về khoa Điạ Lý Phong Thuỷ cho Việt Nam, với hy vọng rằng mọi chuyện sẽ xảy ra tốt đẹp cho tương lai cuả đất nước và dân tộc. Trong tất cả các loại khoa học “huyền bí “ còn sót lại cho đến hiện tại cuả văn minh Trung Hoa, có lẽ khoa Phong Thủy (Feng Shui) là còn được ưa chuộng một cách rộng rải, không những phổ biến ở nhiều nơi trong vùng châu Á mà còn lan truyền sang cả những nơi chốn văn minh nhất phương Tây. Đa số chúng ta chắc sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe nói, có những ông chủ cơ sở hàng trăm triệu đô ở Cali hay New York, đã mời những ông “Thầy Địa Lý” tận bên Hồng Kông hay Đài Loan làm cố vấn về “Phong Thuỷ” cho các công trình sắp xây dựng! Mặc dù được phổ biến rộng rãi như vậy, nhưng có một ứng dụng nhỏ trong khoa phong thuỷ liên hệ đến bộ môn hình tượng học, thì lại có thể coi như là bị thất truyền, vì không thấy có sách vở nào ghi chép lại rõ ràng mạch lạc cho có phương pháp theo khoa học. Điều nghịch lý ở đây là trong các câu chuyện truyền miệng cuả dân gian về khoa Điạ lý âm phần, bộ môn chuyên đi tìm các thế đất tốt để an táng cho thân nhân qua đời, với hy vọng là con cháu sẽ hưởng được hồng phúc cuả tổ tiên, thì đa số lại đều có nhắc tới. Cụ thể như thế đất hình cái “Yên Ngựa” thì có nhiều con cháu ra làm quan, thế đất có hình “Bút Nghiên” thì con cháu thi cử đỗ đạt cao, hay thô tục bình dân hơn là: “ Thế đất làng giống như ...cuả đàn ông, nên con gái làng thường bị chửa hoang!” v.v. Thắc mắc lớn ở đây là bằng cách nào, các nhà Điạ lý Phong Thủy có thể liên tưởng và nghiệm ra được những kết quả như vậy? Thú thật là không có câu trả lời và phải nhìn nhận là rất “siêu hình”, nếu không nói là “Phi khoa học”, vì không ai có thể giải thích được. Nhưng không phải là hoàn toàn vô lý. Ai có thể giải thích được hiện tượng tại sao nước Ý (Italy) có hình dáng giống y hệt như một chiếc giày bốt, đã là quốc gia đoạt giải vô địch bóng đá (world cup) nhiều nhất thế giới với tất cả là bốn (4) lần? Nếu cho là tình cờ ngẫu nhiên thì tại sao nước thứ hai sắp hạng sau đó là Ba Tây (Brazil) với cầu vương Pélé và hai lần đoạt giải vô địch thế giới, cùng có bản đồ quốc gia giống như chiếc giày(tennis) thể thao! Cũng đừng quên chuyện dân Ý ở các vùng đảo Sicily ngay trước cái chân, vốn nổi tiếng là tay anh chị giang hồ về “đấm đá” nhất thế giới. Nếu còn chưa đủ để thuyết phục thì hãy nhìn cả Châu Âu giống như một con khủng long với cái chân là nước Ý muốn đá Phi Châu, và Tây Ban Nha (Spain) là cái đầu (giống đầu bò tót) như đang muốn húc Phi Châu. Trong khi nước Anh (Britain) thì giống như đang ngồi cỡi trên lưng (Pháp) và bụng (Đức) cuả con khủng long. Kết quả thật sự là nước Anh đã từng làm bá chủ trên chính trường Châu Âu, và cuối cùng là Âu Châu đã “đá và húc” cho tan nát cả lục địa Phi Châu . Ngoài ra, Tây Ban Nha cũng đã tiên phong dẫn đầu Âu châu trong việc thám hiểm thế giới và chiếm đất làm thuộc địa. Chưa nói đến tại sao dân Tây Ban Nha lại có trò chơi đấu bò rừng độc đáo nhất thế giới! Cũng tương tự, không biết có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa truyền thuyết “con Rồng” và hình dạng cuả nước Việt Nam? Nếu khách quan nhìn vào hình thể bản đồ điạ lý, thì quả thật là hình thể nước Việt Nam trông giống như con “Rồng” đang uốn lượn thân mình bên bờ Thái Bình dương. Những gì mô tả sau đây hoàn toàn là do kết quả tổng hợp từ nhiều nhà Điạ Lý Phong Thuỷ nghiệp dư và chuyên gia người Việt, trong đó thân thể con “Rồng Đại Việt ” gồm có ba phần Đầu, Mình, và Đuôi (hay chân tay): Đầu con Rồng ở miền Bắc với Hà Nội là con mắt, nhìn ra mũi rồng nằm ngay cảng Hải Phòng. Râu Rồng là tập hợp cuả những hòn đảo ở vịnh Hạ long (Có người cho mấy ngàn hòn đảo nhỏ là do rồng “nhả ngọc phun châu”). Miệng Rồng chính là vùng tam giác đồng bằng trù phú gồm có Thái Bình, Hải Dương và Nam Định, dùng để nuôi ăn hay cung cấp luá gạo cho miền Bắc. Theo luật thiên nhiên, bao giờ phần đầu cũng phải nắm giữ vai trò lãnh đạo chỉ huy tất cả các bộ phận khác còn lại cuả thân thể. Bởi vậy cho nên gần 800 năm lịch sử của Đại Việt, Thăng Long (Hà Nội) luôn đóng vai trò là kinh đô, nơi ngự trị sinh sống cuả các bậc Vua Chúa, quan lại và tầng lớp trí thức khoa bảng của cả nước Đại Việt. Khuyết điểm nếu có là tầm nhìn xa của Rồng Đại Việt ra Thái Bình Dương bị che khuất mất bởi đảo Hải Nam. Theo phong thuỷ thì ví như là Rồng bị bịt mắt! Nhưng trầm trọng nhất chính là những gì đang nằm ở phiá trên cuả cái đầu Rồng. Nếu nhìn thật kỷ thì từ vùng Cao Bắc Lạng qua tận Lào Cai và Lai Châu trông giống như cái sừng hay cái chóp đỉnh đầu bị kềm kẹp lại bởi đại lục Trung Hoa và xứ Lào. Còn nói theo cách Phong Thuỷ là con Rồng VN bị đè đầu, giống như câu chuyện “Tề Thiên Đại Thánh” bị núi Ngũ Hành nặng cả ngàn (tỷ) cân đè nhốt xuống, ngóc đầu lên thoát ra không nổi! Suốt gần 800 năm, tuy bề ngoài có vẻ như tự chủ độc lập, nhưng thực tế cho thấy là Đại Việt bị chi phối và khống chế toàn diện về văn hoá lẫn chính trị từ Trung Quốc. Cứ mỗi ba năm là phải làm lễ triều cống. Mỗi lần muốn lập Vua mới lên ngôi đều phải xin phép, và sau đó đích thân Vua phải làm lễ quỳ lạy về phương Bắc để nhận lãnh “Sắc Phong Vương” từ Thiên Triều. Không vị vua Đại Việt nào dám xưng Đế, cho mãi đến đời vua Quang Trung hay Nguyễn Huệ (nên bị giảm thọ chết một cách bất ngờ?) và các đời Vua nhà Nguyễn sau này, do nhờ có bảo hộ của thực dân Pháp. Tuy nhiên cũng có lập luận cho rằng đó là khôn khéo cuả các bậc Vua Chúa Đại Việt nhằm xoa dịu tự ái Bắc Triều, hầu tránh khỏi cảnh chiến tranh và để giữ vững bờ cõi đất nước. Dù đúng sai như thế nào thì kết quả cũng cho thấy hiển nhiên là trong quá khứ, Đại Việt luôn luôn phải chịu ảnh hưởng, nếu không muốn nói là chịu sự bảo hộ từ các triều đại Trung Hoa. Miền Bắc Trung Phần coi như thuộc về nữa trên thân mình gồm có phần ngực bao gồm từ Nghệ An, Hà Tỉnh cho tới Quảng Trị. Ưu điểm chính là sông núi nơi đây có khí thế mãnh liệt, biểu tượng giống như “trái tim và hơi thở” cuả tổ quốc, nên dân cư vùng này thường có tinh thần quốc gia và lòng ái quốc cao độ. Trong gần cả ngàn năm với bao nhiêu cuộc chiến tranh chống xâm lăng, con dân sinh ra từ các vùng này đã đóng góp và hy sinh xương máu nhiều nhất cho đất nước. Ngược lại, khuyết điểm chính là vùng lãnh thổ nơi đây có bề ngang rất hẹp, nên cũng có hình dạng của “Bộ ngực lép, hơi thở yếu, không được khoẻ mạnh và không có nhiều sữa nên khó nuôi con!”. Tuy những nhà lãnh đạo cai trị đất nước xuất thân từ các miền đất này thì rất là tài giỏi đảm lược trong thời chiến tranh chống xâm lăng, nhưng lại quá bảo thủ và thường gặp khó khăn về quản lý kinh tế đất nước trong thời bình. Miền Nam Trung Phần từ Quảng Nam cho đến Khánh Hoà coi như thuộc phần bụng, hơi phình to ra ở Bình Định, Phú yên và Khánh Hoà giống như cái bụng cuả người đàn bà có thai nghén sắp sinh. Theo khoa phong thủy nếu nằm ngay bụng Rồng thì số rất nhàn và sung sướng, hưởng được lộc trời cho. Nhưng cũng chính vì vậy nên người dân có khuynh hướng sống cầu an và thích hưởng nhàn. Đại đa số không muốn tranh đấu để đạt tới đỉnh cao cuả quyền lực, danh vọng hay tột đỉnh cuả sự giàu sang. Có thể nói đây là vùng đất “rừng vàng biển bạc”, tài nguyên thiên nhiên dồi dào nhất nước. Những nhận xét nói trên, nếu nghiệm lại thì thấy khá đúng. Không kể đến nguồn tài nguyên thiên nhiên trên rừng dưới biển có khá nhiều và những mỏ dầu nằm dưới lòng đất ở ngoài biển khơi, số dân sinh sống trong những vùng này đã di cư (hay vượt biên sau 1975) ra hải ngoại nhiều nhất so với cả nước, vì nhờ có điạ hình rất thuận lợi. Chính nhờ số cư dân sống ở nước ngoài đông nên số ngoại tệ gởi về VN khá nhiều, giúp cho đời sống ở những vùng này thêm phần thoải mái. Hiện tại cho thấy tiềm năng phát triển du lịch quốc tế tại các vùng ven biển này rất lớn, hứa hẹn chắc chắn sẽ tạo ra nguồn lợi tức dồi dào không khác gì được hưởng lộc trời cho. Tất cả cũng vì nhờ nằm trên cái bụng Rồng! Dĩ nhiên là trong cái may bao giờ cũng có rủi vì một số những chuyện không hay. Vịnh Cam Ranh nổi tiếng là tốt nhất trong vùng Đông Nam Á, vị trí nằm dưới bụng Rồng lại có hình dáng giống như bộ phận sinh lý phái nữ, đắc địa hoàn toàn nên hổ trợ thêm cho cách “Hồng Nhan Bạc Phận” cuả Rồng Việt Nam. Có thể kiểm chứng lại bằng các dữ kiện lịch sử. Khu vực vịnh Cam Ranh trong thời chiến tranh đã trở thành một nơi chốn có kỹ nghệ ăn chơi công khai và nỗi tiếng cả nước, chỉ dành riêng cho quân đội đồng minh giải trí. Nhưng trên hết vẫn là một câu chuyện thuộc vào loại "huyền bí sử“ cuả đất nước Việt nam. Vịnh Cam Ranh đã đóng vai trò như một “Mỹ Nữ Giai Nhân” làm cho điêu đứng biết bao nhiêu là đấng anh hùng trong thiên hạ, nếu đụng vào! Sử thế giới ghi chép là hạm đội Nga Hoàng chỉ ghé tạm vài ngày để nghĩ ngơi, thì liền sau đó đã bị hạm đội Nhật chận đánh cho tan hàng ở eo bể Đối Mã (?)! Các hạm đội Pháp, Nhật, Mỹ, và sau cùng là Liên Sô cũng đều phải chịu rút lui, trong khi các tai họa lớn nhỏ theo sau xảy đến cho cả nước! Nghe nói xa hơn nữa là Thuỷ Sư Đô đốc Trịnh Hòa cuả nhà Minh cũng có ghé qua Cam Ranh để tiếp tế hay tránh bão gì đó, rồi cuối cùng cũng “thân bại danh liệt”! Bởi vậy nếu khách quan đem ra so sánh thì Vịnh Cam Ranh còn “kinh khủng” hơn là cô Thuý Kiều cuả ông Nguyễn Du gấp bội phần. Có lẽ cũng chính vì thế mà dù có dư sức để thuê bao “giai nhân” hoàn toàn vĩnh viễn, nhưng “anh hùng” Bắc Kinh vẫn còn lo ngại trước viễn cảnh “khuynh thành đổ nước” cuả vịnh Cam Ranh, nên chưa dám nhào vô (!?) Dù sao, theo các nhà Phong Thủy thì cũng có cách hoá giải để biến vịnh Cam Ranh thành một nơi thu hút tiền bạc vô cùng tận cuả cả thế giới. Bằng cách là trồng thật nhiều cây xanh để che phủ hết các vùng đồi cát, nhất là cần nên biến Cam Ranh thành vùng kinh tế với tự do mậu dịch, hay trở thành khu vực quốc tế hoá và cho tự do ra vào buôn bán như ở Hồng Kông hay Tân Gia Ba (Singapore) trước kia. Sau cùng là từ Bình Thuận vào tới mũi Cà Mau coi như cái đuôi hay tứ chi (Chân Tay) cuả Rồng. Đặc điểm cuả miền Nam là sông nước thì nhiều nhưng thiếu núi non cao lớn và hùng vĩ. Đất sao thì người vậy, các nhà Phong Thuỷ dựa vào đó để cho rằng cuộc đất miền Nam tuy cũng có nhiều nhân tài, nhưng đa số lại thiếu bản lãnh, nên không có được những nhà lãnh đạo xuất chúng hay nhân tài có tầm vóc quốc tế. Nhìn lại quá khứ từ thời miền Nam được khai sinh ra cho đến hiện tại thì thấy cũng ăn khớp. Suốt hơn mấy trăm năm, miền Nam chỉ có thể cho ra những ông “Phó Vương” hay bà “Hoàng Hậu” mà thôi. Kể luôn trong các lãnh vực khác cũng vậy, từ Văn Chương Nghệ Thuật cho đến Khoa Học Kỹ Thuật, không thấy có những nhân tài nổi trội vượt bực với tầm cở đứng đầu cả nước hay thế giới. Ưu điểm nếu có là ăn vào cách “Tay Chân” của Rồng. Từ thời xa xưa mới tới, đồng bào miền Nam chuyên cần làm việc, khai khẩn đất hoang thành những cánh đồng ruộng lúa cò bay thẳng cánh, biến miền nam thành vựa lúa gạo khổng lồ, không chỉ nuôi ăn cho cả nước mà còn sản xuất bán ra khắp thế giới. Ngoài ra còn có thêm một điều trùng hợp kỳ lạ nhất đã xảy ra mà chỉ khoa học huyền bí may ra mới có thể giải thích được. Cư dân miền nam Việt Nam nhờ có nguồn gốc nằm ở phần chân tay cuả rồng, nên có năng khiếu sở trường về dịch vụ làm đẹp móng tay móng chân! Hiện nay ai cũng biết là Việt kiều, nhiều nhất là ở Mỹ, chiếm hầu hết đa số thị trường làm về nghề móng tay. Đáng ngạc nhiên hơn cả là tuy Việt kiều ở Mỹ sinh ra từ miền Trung hay Bắc Việt Nam cũng có khá đông, nhưng đa số lại chỉ chuyên về làm tóc (!?) Đến đây, dám chắc là đa số đọc giả sẽ thắc mắc: Liệu như vậy thì tương lai sẽ ra làm sao, con Rồng Việt Nam có bị chèn ép và đè đầu mãi mãi không? Câu trả lời khách quan sẽ là: Không! Xin đừng thất vọng! Sông có khúc, thì người cũng có lúc. Trong vũ trụ này không có gì là cố định mãi mãi cả. Tất cả đều thay đổi (Dịch) theo đúng quy luật tuần hoàn cuả vũ trụ. Vận may mắn của dân tộc Việt đã và đang tới trong thiên niên kỷ này vì “đại địa cuộc “ đất đã chuyển mình, thay đổi hẳn từ trục Bắc-Nam sang trục Đông-Tây. Có thể giải thích một cách ngắn gọn như sau: Các nền văn minh nhân loại đầu tiên khởi động theo trục Bắc-Nam. Bắt đầu từ vùng xích đạo, văn minh Phi Châu mà đại diện cuối cùng là Ai Cập (Egypt) với những Kim Tự Tháp còn lưu dấu vết lại, đã từ phương Nam theo dần lên phương Bắc. Lần lượt sau đó, nền văn minh Ai Cập đã được chuyển giao qua hai nhóm chính về phương Bắc. Một nhóm các nền văn minh Trung Đông qua Hy Lạp (Greek), La Mã (Rome) thuộc Điạ Trung Hải v.v. Nhóm thứ hai qua Ấn Độ, đi dọc theo Vịnh Thái Lan vào Việt Nam lên phương Bắc, rồi cuối cùng đã dừng lại và phát triển ra tột đỉnh ở Trung Hoa. Đỉnh cao cuả nền văn minh Trung Hoa được đánh dấu bằng những đoàn kỵ mã thần tốc cuả Thành Cát Tư Hãn, đã “dẫm nát khắp Âu Châu làm cho cỏ cũng không mọc nổi!”. Nhưng đồng thời theo sau vó ngựa cuả các đoàn quân Mông Cổ, cũng tình cờ là những chuyển giao về Khoa Học và Kỹ Thuật cho các nền văn minh khác. Các nền văn minh sau đó lần lượt qua hết Châu Âu rồi dừng lại ở Anh Quốc, trước khi tiếp tục cuộc hành trình băng qua Đại Tây Dương và ghé vào Bắc Mỹ, theo phong trào tìm vàng về miền Viễn Tây và cuối cùng thì dừng lại ở California. Chẳng có gì lạ khi biết nền kinh tế cuả riêng California không những đứng hạng thứ 5 trên thế giới, còn là nơi dẫn đầu cuộc cách mạng về công nghiệp thông tin cho cả nước Mỹ và thế giới! Nhưng hành trình cuả trục văn minh Đông-Tây chắc sẽ không ngừng ở California mà còn tiếp tục hoàn tất nhiệm vụ sau cùng là vượt qua Thái Bình Dương để đi đúng một chu kỳ vòng tròn. Điều đó đã được nói tới như một lời tiên tri cuả cố Tổng Thống Reagan trong diễn văn đọc trước quốc hội là: “Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Thái Bình Dương”. Trong quá khứ, đa số đều bị nhầm lẫn cho rằng chỉ có Thăng Long (Hà Nội) mới xứng đáng làm kinh đô cuả nước Việt Nam! Dĩ nhiên là không sai, nếu cuộc diện thề giới còn chịu ảnh hưởng theo trục văn minh Bắc-Nam và nếu chỉ tính có riêng một mình nước Việt Nam thôi. Nhưng vật đổi sao dời, biển rộng mênh mông còn biến thành ruộng dâu, thì có cái gì là bất diệt mãi mãi! Ngày nay nhân loại đang đi vào thế toàn cầu hóa, trục văn minh Đông-Tây đang thành hình rõ rệt trên thế giới khi xuất hiện các tổ chức liên hiệp Âu Châu (EU), Liên Minh Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Châu Á –Thái Bình Dương (APEC), v.v. Và gần đây nhất là sự kiện khai thông “Hành Lang Kinh Tế Đông-Tây” qua 4 nước Việt, Lào, Thái và Miến, tới tận Ấn Độ. Do đó, nếu nhìn lại vào bản đồ theo hướng Đông-Tây thì chắc chắn nhiều người sẽ rất ngạc nhiên vì thấy Việt Nam không còn là con Rồng bị kềm kẹp nữa, mà đã xuất tướng nhập tướng, biến hoá tài tình thành ra”Phượng Hoàng” (Phoenix), với con mắt nằm ngay tại Sài Gòn, cái mỏ bén nhọn tại Mũi Cà Mau và cái đỉnh đầu cong vòng rất đẹp (chính là cái bụng phệ cuả con rồng trước kia). Trong khi đó thì Thăng Long (Hà Nội) và miền Trung Bắc lại trở thành cái cổ để bảo vệ yết hầu, Campuchia biến thành cái miệng (với biển Hồ như là tuyến dịch vị) và Thái Lan trở thành cái “Bọc Diều” khổng lồ để dự trử thức ăn mới nuốt vô Nhìn kỹ hơn vào tấm hình chụp không ảnh trên còn cho thấy, đây là một con Phượng Hoàng khổng lồ với cái lưng gồ lên là Trung Quốc, cái bụng và đuôi là Nga Sô, đang xoè cánh (bán đảo Thái Lan) như muốn bay ra xuống Nam Dương hay lục địa Châu Úc. Vấn nạn làm đa số vẫn còn thắc mắc là phong thủy miền Nam về cơ bản vẫn thiếu núi non cao lớn hùng vĩ (?). Thắc mắc này sẽ được giải quyết dễ dàng bằng số cao ốc chọc trời với nhiều hình dáng đẹp mắt sẽ mọc lên khắp nơi trong vùng Sài Gòn và phụ cận, thay thế cho núi cao. Điều kỳ lạ nhấn mạnh ở đây không phải chỉ là hình dạng điạ lý mà còn có những tín hiệu hay “ẩn ngữ” đã được báo trước từ lâu như là những lời tiên tri chứng nghiệm cho sự việc đã xảy ra. Theo sách sử có ghi lại, ngoài sự tích “Rồng Tiên”, còn có nói đến biểu tượng cuả dân Việt là các loài chim Hồng chim Lạc, hay nói vắn tắt là thuộc dòng giống Lạc Hồng. Như vậy, sự việc đó không phải chỉ là một huyền thoại đã có trước từ ngàn xưa về biểu tượng của dân Việt là chim thần ưng Phượng Hoàng, đã được vẽ trên mặt trống đồng để lưu truyền lại cho hậu thế, mà còn là một sự kiện hiển nhiên nhìn thấy rất đúng thực tế, không phải là vô tình hay do một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào. Sự kiện bắt đầu từ Vua Quang Trung và tiếp theo sau đó là các vị Vua nhà Nguyễn. Tuy vẫn biết chọn kinh đô ở Huế không phải là chỗ vượng điạ hơn nếu so với đất Thăng Long, nhưng là một sự lựa chọn chiến lược khôn khéo, nhằm tránh khỏi áp lực trực tiếp quá mạnh từ phương Bắc, cho đến khi thực dân Pháp qua cai trị Việt Nam. Kế đến là trong cái rủi bao giờ cũng có cái may, xương máu của dân Việt đã phải trả trong hơn 80 năm thuộc địa đó, cũng chỉ để thay đổi thế đất rồng bị vòng kim cô niền đầu, bằng thế đất Phượng Hoàng tung cánh gió ở phương Nam. Và cho đến khi người Pháp rời khỏi Việt Nam, thì Sài Gòn đã là “hòn ngọc Viễn Đông” (chính là con mắt cuả phượng hoàng!). Điều đáng nói là trong lúc tháo lui ở VN, người Pháp đã vô tình hay cố ý làm hồi sức mạnh lại cho Rồng phương Bắc. Trong khi đó thì Phượng Hoàng ở miền Nam còn non trẻ, lại bị làm suy yếu thêm do bởi liên minh Đông Dương (Việt Miên Lào) tan rã theo chân Pháp, nên đã xảy ra thảm cảnh “Sơn Tinh Thuỷ Tinh” kéo dài trong hơn 20 năm. Sau cùng và trên hết tất cả, là một sự kiện trùng hợp rất hy hữu gần như rất siêu hình, gắn liền với định mệnh cuả đất nước Việt. Từ ngày lập quốc hơn 200 năm, nước Mỹ đã chọn chim ưng làm biểu tượng cho quốc gia, còn gọi là quốc huy hay quốc hồn. Nhìn lại lịch sử chiến tranh cho thấy, khi Mỹ thay chân Pháp ở VN sau 1954, thật sự đó là một cuộc gặp gỡ kỳ diệu đầy may mắn cho cả hai về sau này trong tương lai, tượng trưng cho một cặp thần ưng hoà nhập vào nhau để biến thành Phượng Hoàng. Đúng là duyên nợ tiền định cho hậu duệ cuả hai nhóm tách ra từ một nền văn minh, sau mấy ngàn năm lưu lạc bây giờ mới gặp lại nhau. Một bên là tinh hoa của Châu Á (nhóm thứ hai), thuộc dòng dõi của vua chúa Đại Hán từ Trung Hoa còn sót lại, bởi thất thế chạy giặc lánh nạn qua đất Việt nên được các Vua Lê Chúa Nguyễn cho khẩn hoang các vùng từ Bình Định Quy Nhơn vào tới tận trong Nam, theo trục văn minh Bắc Nam. Còn một bên là tinh hoa của Châu Âu (nhóm thứ nhất) đã vượt Đại Tây Dương qua Bắc Mỹ để lánh nạn, theo trục văn minh Đông-Tây. Nhóm dân tị nạn Âu Châu này có đủ mọi thành phần, bao gồm hậu duệ cuả các vương quyền bị thất sủng, các tín đồ tôn giáo bị khai trừ ra ngoài xã hội, và sau cùng là các nhóm sắc dân (như dân Do Thái) bị kỳ thị chủng tộc. Tuy nhiên, sự kết hợp tiền định giữa hai giống thần ưng đã gặp nhiều thữ thách ban đầu cuả định mệnh, do bởi lòng ganh tức và giận dữ cuả những Rồng mẹ ở mãi tận phương Bắc. Một cuộc chiến tranh khốc liệt đã xảy ra giữa Rồng phương Bắc và Phượng Hoàng phương Nam. Kết quả là cả hai đều bị trọng thương. Nhưng trong lúc Rồng phương Bắc đang cố hàn gắn vết thương để phục hồi sinh lực, thì những gì đã xảy ra sau đây ở phương Nam mới chính thật là “huyền thoại” cuả Phượng Hoàng: Theo huyền thoại sử của văn minh Ai Cập, thì giống chim thần ưng Phượng Hoàng (Phoenix) khi bị trọng thương hay biết mình già yếu sắp chết, bèn tự nổi lửa thiêu đốt thân xác cuả mình cháy ra tro. Để rồi từ đó gom lại bụi tro trong đống lửa tàn, một Phượng Hoàng sơ sinh sẽ sống lại và bay lên với một năng lực sống động và mãnh liệt hơn trước rất nhiều. Nghĩ a là Phượng Hoàng luôn luôn bất tử và sống hùng sống mạnh với thời gian! Phượng Hoàng Việt Nam đã làm đúng theo huyền thoại của chính mình. Sau cơn binh lửa oan nghiệt đã tự thiêu đốt mình ra tro, để rồi từ trong đống tro tàn cuả cuộc chiến tranh đó, một Phượng Hoàng đổi mới tươi trẻ vùng lên, với sức sống sinh động mãnh liệt hơn, đã chuẩn bị và sẽ vươn mình bay vút lên cao mang theo vòng nguyệt quế. Một phần đám tro tàn cuả thân xác Phượng Hoàng miền Nam sau cơn bão lửa cũng đã bay theo ra khắp năm châu để biến thành những Phượng Hoàng mới cuả các nền văn minh tột đỉnh trên thế giới. Và, cũng chính nhờ vậy mà trong vài thế hệ nữa, nơi chốn sinh ra những thiên tài cuả nền văn minh “Siêu Linh” sẽ nằm rải rác đâu đó trên đầu con Phượng Hoàng phương Nam này. Thăng Long Đất Bắc, Phượng Hoàng Trời Nam. Nguyễn Cường Sacto, 12/
  24. Hôm nay Wild vừa nhận được 500.000 đ(năm trăm ngàn) của Paypal tặng cho trường hợp "gần 20 năm cõng anh đi xin tiền chữa bệnh" Wild cũng đã liên hệ đến Chú Thiên Sứ nhập vào số 5.000.000 đ(năm triệu động) của quỹ. Tổng số tiền dành cho trường hợp này là 5.500.000 đ(năm triệu năm trăm ngàn đồng). Quỹ hiện nay đã bằng 0.
  25. Wild đã tổng hợp Quỹ Từ thiện để Chú Thiên Sứ ra hanoi tìm đến tặng, hôm nay Wild cũng đã kiểm tra tk có nhận của Paypal 500.000 đ (năm trăm ngàn) với chỉ định tặng cho hoàn cảnh nêu trên. Wild vội liên hệ với Chú qua đt để ứng trước 500.000 đồng cho trường hợp này và sẽ nhận lại sau khi về Tp. Vậy tính đến nay từ những tấm lòng của ACE, Anh Thạnh và Chị Tuyết sẽ nhận được 5.500.000 đ (năm triệu năm trăm ngàn đồng) của chúng ta.
×
×
  • Create New...