Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Chúng tôi có công đưa được ra lời dự báo còn bạn có khả năng đưa ra cách giải quyết thì xin trãi chiếu mời!
  2. Quá ở chỗ nào vậy bạn? Đây không phải là nơi thống kê bao nhiêu người giàu ở vn và bao nhiêu người không muốn đình đám? Mà ACE chỉ muốn bàn luận tướng pháp thế nào mà họ lại đang nắm giữ những cổ phần và tài sản lớn ở vn thôi ! Chắc là xem Topic mà chưa kịp ngẫm nên mới có ý kiến bừa thế này.
  3. Như Thông đoán quẻ hay sao mà đúng vậy? Xem gian trưng bày nhận thấy cả công trình của người trẻ tuổi tài trí cao!
  4. Sự thật người chết sống lại SGTT - Chỉ trong vòng một năm qua, trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã ghi nhận có hơn hai trường hợp người chết sống lại. Sự kiện này đã làm hao tốn không biết bao nhiêu bút mực, công sức tìm hiểu của nhiều người và cũng gây ra không biết bao nhiêu chuyện dở khóc dở cười cho những người còn sống. Vậy đâu là sự thật của những hiện tượng này? Thật ra, trong y văn và trong lịch sử loài người hiện tượng người chết đột ngột sống lại xảy ra không phải là hiếm. Có những công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy, cứ 100.000 người chết thì có một người được cho là sống lại. Vẫn chưa chịu “trở về cát bụi” Trong dân gian cũng truyền tụng rất nhiều câu chuyện về hiện tượng này. Có những người sau khi đã chôn cất tử tế rồi vẫn về báo mộng cho người thân để mở mộ cứu sống mình. Hay là câu chuyện những kẻ đào trộm huyệt để lấy của cải chôn theo người chết đã bỏ của chạy lấy người khi thấy tử thi cử động, thậm chí còn nói được vài lời. Một số người chuyên cải táng mộ theo phong tục của một số vùng phía bắc còn cho biết họ rất hay gặp hiện tượng bộ xương người chết nằm ở nhiều tư thế rất lạ, mặc dù khi được chôn người chết đều được đặt nằm ở tư thế thẳng, ngay ngắn. Phần lớn những trường hợp này xảy ra ở những người chết trẻ và chết đột ngột. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, khi còn sống con người với một cơ thể khoẻ mạnh và hệ thần kinh hoàn hảo đã liên tục phát ra những sóng điện từ với rất nhiều tần số khác nhau. Đã có nhà khoa học cho rằng, những sóng điện từ này có bản chất giống như những tia phóng xạ và nó tăng lên khi hoạt động của cơ thể ở trong những trạng thái đặc biệt như: khi đang kề cận cái chết, tình trạng lên đồng hay ảnh hưởng của một số hoá chất. Ở trong tình trạng này, những chất morphin nội sinh sẽ sản xuất ra nhiều và gây nên tình trạng cận sinh mà khoa học ngày nay vẫn chưa thể hiểu hết được. Bản năng sinh tồn của con người là rất mạnh, nhiều khi nó giúp cơ thể vượt qua được những tình trạng thập tử nhất sinh. Đây là một bản năng tự nhiên, không hề phụ thuộc vào hoàn cảnh, môi trường sống hay việc con người đó có được rèn luyện học tập về khả năng này không. Trong tình trạng hoạt động nội sinh của cơ thể và các phản ứng hoá học tăng cao, có thể sinh ra những hiện tượng mà từ xưa con người đã biết đến gọi là “hiện tượng hồi dương”. Hiện tượng này tạo ra một số hiệu ứng sinh học như con người có thể tỉnh lại, hiện tượng thần giao cách cảm… Giống như ngọn nêon sắp tắt, những đốm lửa cuối cùng cố gắng loé sáng chiếu rọi cho cuộc đời một niềm tin vô tận vào sự bất diệt của muôn loài. Hồi dương nhưng hiếm ai sống lâu Nói đến cái chết, trong y học quan niệm có hai hình thái cơ bản của cái chết, đó là chết lâm sàng và chết thật sự. Hiện tượng chết lâm sàng xảy ra khi bệnh nhân được coi như đã lìa đời với nhịp tim không đếm được, không có hiện tượng hô hấp, có nghĩa là bệnh nhân không còn thở nữa. Tuy nhiên hoạt động của não bộ thì vẫn còn, tương đồng với việc điện não đồ vẫn còn ghi nhận những sóng đặc trưng cho sự sống của con người. Phần lớn những trường hợp gọi là người chết sống lại đều xảy ra ở những tình huống chết lâm sàng này. Còn những trường hợp chết thật sự, cái chết được xác định rõ ràng bằng điện tim, điện não và các dấu hiệu sinh học khác. Ngoài ra còn phải làm lại sau sáu giờ như luật pháp của một số nước tiên tiến quy định. Các xét nghiệm này đều phải cho thấy thật sự người chết đã về cõi vĩnh hằng thì cái chết đó mới được coi là chết thật sự. Trước đây khi còn là thầy thuốc trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm, tôi cũng đã chứng kiến vài lần hiện tượng hồi dương ở một số bệnh nhân nặng kề cận cái chết. Điển hình là những bệnh nhân bị ung thư gan, có nhiều người đã rơi vào tình trạng hôn mê rất nặng, nhịp thở yếu, tim nghe rời rạc, mạch không bắt được, huyết áp bằng không. Bệnh nhân được người nhà xin về để tránh chết ở bệnh viện theo tập tục truyền thống của người Á đông, sau khi đã được các thầy thuốc và nhân viên y tế tận tình giải thích. Nhưng thật kỳ lạ, hôm sau tôi được mời đến xem bệnh và chứng kiến một hiện tượng hy hữu: bệnh nhân ngồi dậy, tỉnh táo hoàn toàn và đòi ăn cháo. Có trường hợp còn đòi xuống giường tập thể dục và gặp người thân. Thấy hiện tượng trên, tôi vừa mừng cho gia đình người bệnh và thật sự lo lắng không biết mình và các đồng nghiệp đã có gì nhầm lẫn trong chẩn đoán hay không? Đang lúc nỗi lo còn chưa tan thì qua hôm sau, tôi được người nhà cho biết bệnh nhân đó đã chết sau khi ăn miếng cháo cuối cùng của cuộc sống. Việc hồi dương là có thật và người chết sống lại cũng là có thật, không phải chuyện mê tín dị đoan. Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ những người sau khi sống lại là thật sự sống, còn lại đều ra đi một thời gian ngắn sau đó. Nhiều chuyện kiện cáo vô bổ đã xảy ra, rốt cuộc đều cho thấy chỉ có người chết là khổ nhất còn người sống thì bi hài đủ kiểu. Để tránh những rắc rối này, các nước phát triển trên thế giới đều có những quy định rất chặt chẽ về việc xác định cái chết của con người. Nhiều trường hợp đòi hỏi phải có sự chứng kiến của những người đại diện cho pháp luật. Việt Nam cũng đã có những quy định tương tự như thế. Ngẫm cho cùng, đó cũng là một cách để cho mỗi người có một cái chết tự tại, thuận theo quy luật tạo hoá... “Người chết sống lại là có thật, không phải mê tín dị đoan. Tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ những người sau khi sống lại là thật sự sống, còn lại đều ra đi một thời gian ngắn sau đó” PGS.TS Nguyễn Hoài Nam nguồn sgtt.com.vn
  5. Rau thì là 13/01/2010 14:23 (TNTT&GT) Tên khoa học Anetholun graveoleus, họ hoa tán. Ngoài tên thì là, còn được gọi là thì là thảo, dương hương xí. Cây thì là sử dụng được cành, lá, trái và hạt chế biến hương liệu. Là rau thơm dùng trong món ăn và chiết xuất dược chất giàu hoạt tính. Các nhà hàng ẩm thực đã dùng thì là ăn kèm với chả cá, thay ngò rí, cần gai, rau om làm gia vị cho các món cháo cá, lươn um, ốc nhồi, canh cá điêu hồng, cá diếc giúp hương vị thêm đậm đà. Về mặt y dược, lá thì là giàu tính ấm, nồng, dễ kích thích thần kinh, vị nhân nhẫn, mùi hăng hắc thơm, kích thích sự bài tiết niệu đạo, giúp nang thượng thận, ngăn chống chất canxi lưu tồn ở bộ lọc, đồng thời cũng ngăn viêm thận cấp. Vị nhẫn còn giúp trị viêm loét dạ dày, khi ăn bị quặn đau chỉ cần uống một thìa nước lá thì là (5ml) sẽ êm dịu dạ dày, cải thiện cơn đau. Dưới đây là một số đơn thuốc chủ yếu từ thì là: - Chữa hơi thở hôi (do viêm dạ dày, viêm thực quản, đường ruột loét) dùng 10g hạt thì là nhai nuốt nước mỗi sáng, tối. Sau 10 ngày hơi thở sẽ thơm hơn. - Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú: luộc 50g thì là, 50g gốc lá hành, 20g lá mướp vừa già (không xơ), với móng lợn nái trong 0,5 lít nước. Còn 250ml, chia làm 5 phần ăn trong ngày, liên tục trong 2 tuần. Sữa dồi dào, ít tắc. - Tuổi trung niên, hay cao niên dễ bị cảm, cúm, đường hô hấp bị khó thở, dùng 30 – 50g thì là ngâm trong nước sôi 80 độ C (50ml), sau 10 phút chắt lấy nước hòa với 3 muỗng mật ong. Chia làm 3 phần uống trong ngày. Sau 5 ngày sẽ bình phục, hô hấp tốt. - Thiếu nữ rối loạn kinh nguyệt, phụ nữ đã sinh con, kinh nguyệt thất thường, đau bụng trước ngày kinh: dùng 100g thì là, 100g cần tây, cho vào 30ml nước, giã nhuyễn (hoặc xay ép), lọc lấy nước, uống 3 lần trong ngày. Cách 3 ngày/lần, sau 9 ngày sẽ dứt hẳn. - Tiêu chảy, kiết lị, mụn nhọt sưng tấy, rối loạn tiêu hóa. Nếu trẻ em dưới 6 tuổi, sắc nhỏ 30g lá thì là nấu nhừ với 20ml nước. Trộn chung với thức ăn. Người lớn, thành niên chưng 20g hạt thì là bốc tinh dầu, pha 1/3 muỗng tinh dầu vào 2 muỗng mật ong, sau 3 ngày sẽ hiệu quả (Lưu ý: uống sau bữa ăn). Đông y sĩ Kiều Bá Long nguồn thanhnienonline.com.vn
  6. Chị laviedt hiện rất bận việc, Đường con cái bạn nên sanh con vào năm Nhâm Thìn (gái)- Quý Tỵ(trai) . Hoặc cả hai đếu là con trai. Các năm Canh Dần, Tân Mão nếu sinh con gái thì tốt. * Mọi việc năm tới dự tính nói chung đều thành công. Nhưng đều rất khó khăn mới thành. * Có học bổng.
  7. Sao khhông nhờ bác HTH xem hộ! Phu Quân tương lai ngành gì để kiểm chứng nhỉ?
  8. Đấy là lý do khi xem gì đọc gì phải xét và luận có logic không ?
  9. Hi! hôm nay Bác HTH lại vô tình tiết lộ về người tình trăm năm của mình rồi nhỉ? Chẳng biết Cô ấy có ý thức được rằng Cô ấy hư form vì đoàn tụ với bác không nhỉ? Thật tiếc lắm thay! :)
  10. Xác nhận có 1,000,000 đ(một triệu đồng) của langtu góp vào quỹ Từ Thiện Diễn Đàn. Quỹ hiện có 6,150.000 đ + 1,000,000 đ = 7,150,000 đ(bảy triệu một trăm năm mươi đồng)
  11. Tôi cũng tin như bạn! Bạn đã nói thay những điều tôi nghĩ!
  12. Ăn ớt trả vàng Ngày xửa ngày xưa, ở một nhà nọ, có một cặp vợ chồng sinh được hai con trai. Người anh tên Zon, thằng em tên Ton. Cả Zon và Ton đều là cao thủ võ lâm... truyền kì. Ba mẹ cày cuốc được đồng nào, hai anh em... chỉa đi cày game online hết trơn. Hai ông bà buồn lắm, chẳng mấy năm thọ bệnh mà thác, để lại cho hai anh em túp lều lá cùng một... cây ớt! Thời đó chưa có luật sư, hai anh em thỏa thuận, đem... bài ra binh, thằng nào thắng được căn lều, thằng nào thua nhận cây ớt! Zon thắng, dọn vô ở lều. Ton thua ôm chiếu ra nằm gốc ớt. Hôm ấy hết tiền chơi game, Ton nằm dưới gốc ớt nhòm trời, bỗng thấy một con chim bự bằng... con vịt đậu cái chạch xuống cành ớt, mổ miệt mài. Ton quỳ xuống lạy chim: Mày thương tao với, tao đang mong từng ngày, chờ ớt chín, đem bỏ mối lấy tiền chơi game, mày mổ hết trơn, lấy gì tao thu hoạch?! Chim vẫn mổ, vừa mổ vừa cất tiếng người: Ăn quả ớt, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng! Ton nghe thế liền nói: Tao không có túi ba gang, chỉ có cái quần hip hop, cũng có nhiều túi, bận quần đó đi được hôn?! Chim gật. Ba ngày sau, Zon tự nhiên thấy Ton mua về dựng dưới gốc ớt một chiếc Nouvo đỏ chói, lại còn trả hết trơn tiền nợ nơi mấy tiệm net. Thằng anh lấy làm lạ, hỏi ra mới biết, bèn năn nỉ Ton đổi túp lều lấy cây ớt. Ton chịu. Kịch bản lặp lại y hệt, chim ăn ớt rồi hẹn Zon, 7 giờ sáng mai... nhá máy điện thoại, sẽ tới chở đi lụm dzàng! Bữa sau, thay vì may túi ba gang, Zon kêu nguyên một chiếc... taxi tải tới, nhá máy, gọi chim. Chim bay tới, ban đầu hổng chịu, sau Zon năn nỉ quá, đành gật đầu. Chim chở Zon bay trên trời, taxi chạy theo dưới đất. Chim bay mấy tiếng đồng hồ, rốt cuộc cũng tới nơi. Zon lao vô hầm vàng, nhưng kiếm hoài chỉ thấy... một chiếc nhẫn nửa chỉ vàng. Zon gầm lên: Mày gạt tao! Chim lắc đầu: Tui đâu biết, bữa trước vàng trong này quá trời, hay thằng Ton nhà ông nó lượm hết trơn rồi cũng nên! Hổng lẽ đứng cãi nhau hoài, Zon đành lượm chiếc nhẫn, nói chim bay lẹ đặng... xù tiền taxi, chớ nửa chỉ vàng, làm sao trả đủ! Lên đến lưng trời, chim bay lảo đảo, chiếc taxi vẫn bám theo bên dưới. Zon sốt ruột, nắm chùm lông nơi gáy chim nhổ từng cọng một, đặng hối chim bay cho lẹ. Chim điên tiết, lựa đúng lúc một chiếc Boeing 767 bay ngược chiều, bèn dzí đầu Zon vô bụng máy bay. Thế là Zon lộn đầu xuống biển! Ton có cả túp lều, cây ớt, cùng chiếc Nouvo, nhưng nghe đâu sau này, vì vẫn ghiền game, nên lần lượt bán từng thứ một. Cuối cùng hổng biết dọn đi đâu mất tiêu! TUẤN ANH (Đắk Nông) Trích từ Mực tím
  13. Mai mực làm thuốc có độc hại? SGTT - Trong các loại cá mực phổ biến như mực ống, mực lá, mực nang... thì mực nang (có nơi gọi mực ván) là loại mực cho mai để làm thuốc. Mực bắt về, đem mổ lấy thịt, giữ lại mai, rửa sạch muối bám ở ngoài, phơi khô. Cách bào chế cũng tương đối đơn giản, thường người ta lấy mai mực, cạo sạch vỏ cứng ở ngoài, ngâm nước cho đến khi hết mặn, sau đó phơi hoặc sấy khô, khi dùng tán bột, sao kỹ. Trong y học cổ truyền, mai mực (còn gọi ô tặc cốt, hải phiêu tiêu) là vị thuốc được dùng rất phổ biến. Chúng có vị mặn, tính bình, chát, mùi hơi tanh, có tác dụng chỉ huyết, giảm đau. Về thành phần hoá học, trong mai mực có các muối canxi cacbonat, canxi photphat, muối natri clorua, các chất hữu cơ, chất keo. Cho đến nay các sách y học cổ truyền chính thống chưa thấy có tài liệu nào khuyến cáo không được dùng mai mực như một vị thuốc, trừ sách Dược tính bản thảo có lưu ý mai mực có độc ít. Một số nghiên cứu hiện đại cũng không phát hiện có chất nào có khả năng gây độc nguy hiểm trong mai mực. Những tác hại phụ nếu có, có thể do đã dùng phải mai mực không bảo đảm chất lượng. Theo các sách thuốc cổ, mai mực được dùng chữa nhiều bệnh và khá hiệu quả. Trong dân gian, mai mực được dùng chủ yếu làm thuốc chữa các chứng đau, loét dạ dày; ho ra máu; đại tiện ra máu… Ngoài dùng riêng (uống từ 4 – 8g) còn có thể dùng mai mực phối hợp với các vị thuốc khác: Đau dạ dày: kê nội kim (lớp màng màu vàng phủ mặt trong của mề gà đã được phơi khô) 4g, mai mực 4g, tán hai thứ thành bột mịn, bột gạo nếp rang thơm 2g, bột cam thảo đã khử 0,2g. Tất cả trộn thành một gói, mỗi ngày uống hai gói sau bữa ăn. Có thể trộn bột thuốc này với một ít mật ong (hai thìa càphê) khuấy kỹ để uống hàng ngày. Bài thuốc này còn có tác dụng làm tăng hồng cầu. Thổ huyết (nôn ra máu): Lấy mai mực tán thật nhỏ, ngày uống 4 – 5 lần, mỗi lần từ 1 – 2g với nước cơm hoặc nước sắc bạch cập (10 – 20g bạch cập sắc với 300ml nước). Viêm tai có mủ: Lấy bột mai mực rắc hoặc dùng tăm bông sạch thấm thuốc ngoáy vào tai. Cách khác, mai mực 2g, xạ hương 0,4g, tán thật nhỏ, lấy tăm bông sạch chấm thuốc ngoáy nhẹ vào tai. Phụ nữ băng huyết, trẻ em chậm lớn: bột mai mực ngày uống 4 – 8g. Dùng liền 7 – 10 ngày, nghỉ một tuần, sau lại tiếp tục nếu cần thiết. Chữa đại tiện ra máu: mai mực nướng vàng, tán bột, mỗi lần uống 4 – 8g với nước sắc cây mộc tặc (cỏ tháp bút). Khò khè, thở gấp, đờm nhiều: mai mực sấy khô, tán thành bột, mỗi lần uống 15g với ít đường đỏ. Đau mắt hột: mai mực vót nhọn, ngâm vào dung dịch rễ hoàng liên với tỷ lệ 1 – 5%, dùng đánh mắt, tránh để rơi vãi vào mắt. Lở loét nông ngoài da: bột mai mực thật mịn, lượng vừa đủ, bôi lên vùng lở loét cho đầy, đắp gạc vô trùng cố định, sau từ 2 – 3 ngày thay một lần. Phỏng nhẹ: mai mực một cái, đốt thành than, rây bột mịn, trộn với dầu vừng hoặc dầu dừa thành một hỗn hợp sền sệt, bôi ngày hai lần. Khoảng một tuần, vết bỏng sẽ lành. Chú ý nếu bỏng nặng, bỏng sâu và rộng cần đưa đến bệnh viện để điều trị và chăm sóc theo dõi, tránh biến chứng suy mòn và nhiễm khuẩn do phỏng. ThS.BS Võ Thị Thu Giảng viên bộ môn đông dược, học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam
  14. Theo tôi thì một vật gì cao quá và trơ trọi giữa mặt bằng cân thì đều không tốt về Vật lý lẫn Khí !
  15. Kỳ 2: Phục trang cho một bộ phim lịch sử SGTT - Phục trang luôn là vấn đề lớn của phim ảnh, vì nó gắn với con người và hành động. Thế nhưng điện ảnh nước ta đến nay vẫn chưa hề có xưởng may trang phục riêng, mà quay phim nào thì thuê may lần đó. Tất cả đều nghiệp dư, cho đến những phim lịch sử gần đây, và phải dựa vào các xưởng phục trang Trung Quốc là tất yếu. Diễn viên Phạm Tiến Lộc, trong bộ khôi giáp, vai Lý Công Uẩn. Ảnh: Phạm Xuân Hải Người Trung Hoa cũng rất nhanh tay trong việc này, họ kiếm bộn tiền từ những đoàn làm phim lịch sử. Trong suốt quá trình làm phim Lý Công Uẩn, hoạ sĩ phục trang Đoàn Thị Tình kiên trì thuyết phục phía bạn không dùng màu đỏ cho một đám cưới truyền thống Việt Nam, phía Trung Quốc nhất định quan niệm đám cưới phải có màu đỏ, không chấp nhận có người mặc áo đen. Giải pháp trung gian của Đoàn lão bà là cho nhân vật người yêu Lý Công Uẩn ngày cưới mặc áo hồng, rồi khoác ra ngoài áo cánh bằng sa thẫm. Do Bà Đoàn Thị Tình không đi, nên tôi trả lời thay những vấn đề phục trang. Cô hoạ sĩ phục trang Trung Quốc thuyết phục tôi bằng được bỏ cái áo cánh sa đen đó đi. Rồi rất nhiều bộ y phục khác cũng vậy, người Trung Quốc muốn dùng màu sắc rực rỡ, nhiều hoa văn, các chất liệu tơ lụa, trong khi bên ta phần nhiều chỉ dùng màu sắc trầm, ít trang trí, và các loại vải bông, gai. Đây là tập tục văn hoá, hai bên không có cách gì hiểu nhau, nhưng còn vấn đề nữa, chúng ta hoàn toàn không hiểu gì về chất liệu cho trang phục phim, cứ quan niệm vải gai thì thô dày có thể làm cho bộ quần áo cứng cáp, còn lụa thì mềm mại, quá yểu điệu nếu may cho ông tướng. Trái lại, Trung Quốc có những chất liệu lụa chuyên may phục trang phim, cứng và dày, nên các bộ long bào vừa sang vừa có hình khối. Thời đại nào cũng... bán Ở Hoành Điếm có hàng trăm xưởng phục trang và cửa hàng cho thuê, bán phục trang điện ảnh. Thứ gì không mua được thì thuê làm, những thợ may không đông, nhưng họ rất nhanh nhạy và có thể chiều theo ý khách, còn chất liệu thì vô vàn, cũng như các phụ kiện may sẵn, như hoa văn các thời đại. Những đoàn làm phim Việt Nam thường thuê một hoạ sĩ thiết kế trang phục trên giấy ở nhà, rồi đem thiết kế sang Trung Quốc đòi hỏi, trong khi các thiết kế lại không vẽ được cấu trúc y phục. Phía bạn đòi hỏi rất rõ, nếu một cô gái mặc ba cái áo, yếm, áo cánh, áo dài, thì phải bóc tách ra từng cái như thế nào, cài khuy dây hay buộc ra sao. Và tôi rất vất vả khi phải giải trình việc này. Trông thấy một người ăn mặc là một chuyện, còn vẽ ra chi tiết như một thợ may thiết kế là chuyện khác. Hoạ sĩ thiết kế của ta dùng rất nhiều tài liệu từ sách Trung Quốc, nhưng trong các sách đó, người Trung Quốc không bao giờ vẽ rõ cấu trúc từng lớp, và mặt nghiêng, mặt sau y phục, nên các bản thiết kế Việt cũng chung chung như vậy. Hoa văn và trang sức là một vấn đề lớn, anh càng vẽ hươu vẽ vượn, “hảo à” – nhưng đưa nhiều tiền đây, làm được tất, chỗ nào không làm được thì cứ đưa hoa văn Trung Quốc vào và nói một tràng dài không hiểu là gì, thế là phải chấp nhận. Riêng thiết kế trang sức và tóc có một hoạ sĩ riêng, anh ta vấn tôi đủ thứ, và mỗi thứ khó khăn, anh ta lại gửi makét về Bắc Kinh chế tạo với giá, ví dụ hơn 1.000 tệ một cái vòng bạc, mà giá ở Hàng Bạc, có lẽ chỉ chừng vài trăm ngàn. Cụ Nguyễn Khôi Nguyên, diễn viên kỳ cựu đóng vai Lý Khánh Văn, không chịu cạo đầu vì cụ còn đóng dở một bộ phim hình sự ở nhà, nên lại tìm mũ sư cho cụ đội. Chúng tôi đã tìm được một tư liệu cổ, nhà sư đội một cái mũ vải có tà trùm xuống quanh vai, hiện nay giới Phật giáo không dùng nữa. Và người làm trang phục quyết định may như thế. Những vấn đề trên cho thấy, khi một đoàn làm phim lịch sử hợp tác hoặc nhờ phía Trung Quốc, cần cử hoạ sĩ sang trước, mua các mẫu vải, ghi chép các loại phục trang có sẵn, căn cứ trên đó hay thiết kế, không thể ngồi nhà vẽ vời dù có đúng lịch sử, thì cũng không kinh tế chút nào. Tất cả các đoàn làm phim cổ trang và lịch sử Trung Quốc quay ở đây, đều tranh thủ mượn, thuê tối đa cái gì có sẵn, chỉ làm rất ít cái mới. Như vậy lại nảy sinh trường hợp, bộ y phục đó, đạo cụ đó bị cho thuê mất, thì cần có ngay phương án thay thế. Tôi cũng phải liều mạng cắt một cái yếm từ một vuông vải trước mặt thợ may Tàu, cô ta cười rúc rích: ôi thế này thì nom dâm quá. Đúng thế đấy, cái yếm rất gợi tình. Và cô hoạ sĩ Hoa cũng thử nó luôn xem ra sao. Áo giáp Tàu Áo giáp và long bào là trung tâm của phục trang lịch sử. Long bào chúng ta có thể có vài mẫu, nhưng áo giáp thì tuyệt không, ngoài những hình chạm khắc trên các pho tượng võ sĩ, kim cương. Tôi từng nghe có vài bộ áo giáp thờ trong dân gian nhưng chưa từng trông thấy. Để phục vụ cho phim lịch sử khoa chế tạo áo giáp ở Trung Quốc rất phát đạt. Chúng được làm hoặc như thật cả về chất liệu, hoặc bằng các chất liệu nhẹ thay thế, và giá mỗi bộ có thể lên tới 5.000 tệ hoặc hơn nữa. Ở Phù Dung Viên, Tây An, có những bộ áo giáp chế tạo tinh khéo bằng vải và nhựa giả kim loại, mặc rất nhẹ, nhưng hiệu quả phim ảnh trông như thật. Còn ở Hoành Điếm, áo giáp bằng da, vải đóng đinh, kim loại không thiếu, nên rất nặng. Nếu mặc đủ bao gồm một áo tràng vạt (vạt chéo) bên trong và quần vải nhẹ, một áo dài và dày bằng vải gai, hoặc dạ, gối bông đệm ngực cho nở nang, mũ trụ bằng nhựa ốp các miếng trang trí kim loại, và che tai, che gáy bằng giáp vải đóng đinh, hoặc miếng kim loại, áo giáp chính, toàn thân hoặc bán thân, bao tay và thắt lưng to bản, áo bào. Tổng cộng bộ khôi giáp có thể lên đến 12 cân. Không rõ bộ giáp thật thì nặng bao nhiêu, nhưng diễn viên hiện nay mang riêng bộ giáp 12 cân cũng không đơn giản, và binh khí nếu là đao kiếm kim loại cũng rất nặng, còn mang đao kiếm gỗ thì nhẹ nhưng diễn xuất chưa chắc đã hay. Mặc bộ giáp mà thể hiện được thần thái đã là thành công rồi, nhưng cũng khó đấy. Mỗi nhân vật chính trong phim cần vài ba bộ giáp, nhân đôi lên cho cả người đóng thế, vì quay phim thường quay song song, nên đầu tư vào áo giáp là rất tốn kém. Ví dụ mới lâm trận là giáp hoàn chỉnh, đánh nhau giáp tơi tả là bộ khác, chứ không thể kéo rách bộ giáp mới được, cứ thế cứ thế... Các đoàn làm phim Việt Nam sẽ dốc không ít tiền vào những nghi lễ mình tự đặt ra. Các đạo diễn Trung Quốc nhắc đến sự thành công của phim Nàng Dae Jang Geum, mà người Trung Quốc gọi là Đại Trường Lệnh, giản đơn, nhưng thể hiện rõ văn hoá Hàn Quốc. Tôi thấy rằng bộ phim này chỉ có ba loại trang phục chính: vua, quan và dân, thay đổi rất ít, rất thống nhất phong cách, khối y phục khi nhiều người đứng cạnh nhau, may và đầu tư đơn giản. Các phim lịch sử của ta bày biện một cách tuỳ tiện về phục trang, hàng trăm bộ khác nhau, đương nhiên là thời gian cho phục trang, tiền may mặc không nhỏ, mà rất dễ bị Trung Hoa hoá. Phan Cẩm Thượng nguồn sgtt.com.vn
  16. LÀM PHIM VIỆT TRÊN ĐẤT TRUNG HOA Bộ phim Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long (*) sẽ được khởi quay tại trường quay Hoành Điếm, Chiết Giang, Trung Quốc vào đầu năm 2010 này. Phan Cẩm Thượng, hoạ sĩ, nhà phê bình mỹ thuật được mời tham gia đoàn làm phim với tư cách cố vấn văn hoá. Ông đã ghi lại những chuyện mắt thấy tai nghe trong những ngày trên đất Trung Hoa qua loạt ký sự nhiều kỳ dành cho Sài Gòn Tiếp Thị. Kỳ 1: Hoa mai trong tuyết Sau lần thất bại của hãng phim truyện Việt Nam, phim Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long được dự định quay ở Hoành Điếm, Hàng Châu (Trung Quốc). Ngày 13.12.2009 thì chúng tôi khởi hành. Từ Hà Nội, Lạng Sơn, rồi qua vài thủ tục, sang đất Bằng Tường, Trung Quốc. Những chiếc xe chở thuê cơ động đưa khách ra bến bãi với giá 50 tệ/người và nhiều người Tàu bán hàng, đổi tiền, chụp ảnh lởn vởn. Từ đây đi xe về Nam Ninh hơn hai tiếng rưỡi, chúng tôi nghỉ tạm ở một trạm bán vé xe ôtô và xe lửa, kiêm hàng ăn, khách sạn. Người Trung Quốc đã có bữa tiệc khoản đãi. 8 giờ 30 lên tàu chạy hai đêm một ngày thì tới thành phố nhỏ Nghĩa Ô cách Hàng Châu hơn 100km, cách Hoành Điếm cũng như vậy. Khung cảnh trong trường quay Hoành Điếm, lâu đài cung điện được dựng lên phục vụ cho ngành công nghiệp điện ảnh. Con sông trong ảnh chính là mô phỏng sông Biện dẫn vào thành Khai Phong, kinh đô cổ Trung Quốc đời Tống. Tàu chạy qua Quảng Tây, Giang Tây rồi đến Chiết Giang, nông thôn Trung Quốc hiện ra ven đường cũng lộn xộn và ô nhiễm như bên ta. Tàu lửa Trung Quốc, nói chung ngăn nắp, nhưng lên ga xuống ga và lên xuống tàu phải leo trèo tương đối vất vả, bởi có nhiều tuyến khác nhau. Bạn phải đi lên cao, hoặc chui xuống hầm rồi đến đúng đường tàu của mình, nhưng không có thang máy. Khổ nhất là với du khách có nhiều đồ, nông dân gồng gánh. Cách thức này có lẽ để hạn chế người ta mang quá nhiều hàng cồng kềnh lên tàu. Vệ sinh trên tàu cũng kém, nhà vệ sinh luôn đông nghịt, xếp hàng cả tiếng đồng hồ, nhiều người hút thuốc bừa bãi trong toa kín khá khó chịu, nước thì lạnh ngắt như đá. Nghĩa Ô, thành phố xinh xắn hiện ra lúc 2 giờ đêm, rồi từ đó chúng tôi chạy một mạch về Hoành Điếm chừng hơn một giờ ôtô. “Nhất bản vạn lợi” Nếu mới đến Hoành Điếm không thể hình dung quy mô và đời sống của nó như thế nào. Đây là một thung lũng lớn nằm giữa những dãy núi cao bao bọc cả một khu vực Giang Nam cổ. Trước kia thuần nông nghiệp, Hoành Điếm nghèo nàn nhưng có vẻ đẹp của thời thái cổ. Một đạo diễn ở đây nhận thấy điện ảnh là một ngành công nghiệp tổng hợp, bèn xắn tay đầu tư xây dựng khu trường quay này khi mới chừng 30 tuổi và làm thay đổi toàn bộ nơi đây. Nhiều khu vực theo các phong cách kiến trúc phong kiến, cận đại và hiện đại Trung Quốc được xây dựng, riêng khu Cố Cung, Tử Cấm thành mô phỏng như tại Bắc Kinh, theo người ta nói, bằng 1/3 tỷ lệ thật, đấy là quy mô, còn các công trình cụ thể thì tương đương. Trong đó có cả một trường cưỡi ngựa bắn cung với hàng trăm con ngựa chiến to cao, mà các diễn viên Việt Nam đang luyện tập. Chúng tôi ở khu Biện Kinh cũng là tên của thành Khai Phong, kinh đô nhà Tống, nên con phố trước mặt là Thanh minh thượng hà đồ, lấy theo tên bức hoạ của Trương Trạch Đoan, hoạ sĩ Bắc Tống, vẽ cảnh tiết thanh minh trên sông Biện dẫn vào thành Khai Phong đương thời. Đã có quay phim thì phải có khách sạn cho du khách và đoàn phim, và các xưởng sản xuất đạo cụ. Không biết hàng ngày có bao nhiêu du khách nhưng vé vào từng khu từ 80 – 100 tệ, không rẻ tí nào, và hôm qua có đến 30 đoàn làm phim cùng quay một lúc, mỗi đoàn có hàng trăm diễn viên, ăn ở đi lại nhộn nhịp. Khách sạn ở đây khá thô sơ, chỉ để ngủ là chính, còn mọi dịch vụ không có gì, cơm ăn là cơm bụi bán theo dạng cơm hộp của các nhà ăn ngoài phố. Tuy nhiên đáng nói nhất là các công xưởng đạo cụ. Bước chân tới đó mới thấy sự giàu có và mạnh tay của các thương gia Trung Quốc. Chúng tôi được hoạ sĩ vẽ phối cảnh Lý Vĩnh Hồng dẫn đi chọn đạo cụ, hôm vừa đến một xưởng to bằng cả sân bóng, với nhiều kho tàng. Một bộ sưu tập xe ôtô còn chạy được từ đầu thế kỷ đến nay vài ba chục chiếc, hàng trăm bộ bàn ghế theo phong cách các thời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh được làm thật, nhưng chỉ để cho thuê. Còn các đồ linh tinh khác thì vô kể. Kỹ nghệ làm đồ giả quay phim cũng đáng nể, tức là trông thì biết ngay là giả, với chất liệu xi măng, xốp, nhựa, nhưng lên hình ảnh nom như thật. Các xưởng may trang phục bạt ngàn. Đẹp nhất là các bộ giáp trụ cầu kỳ, giá tới 5.000 tệ/bộ. Bộ phim Lý Công Uẩn có lẽ dùng tới 300 bộ phục trang may mới, và thuê hơn 700 bộ. Đây cũng là cái mà người Trung Hoa sẽ nhất bản vạn lợi từ các đoàn làm phim, như nước ta. Khoảng cách giàu nghèo Tác giả đứng trước một xe ngựa cổ phục chế. Quanh Hoành Điếm, kề cận các vùng dân cư Giang Nam, nông thôn cổ truyền đã biến đổi hoàn toàn, chỉ còn lác đác vài nhà cổ bằng đất đắp và lợp ngói âm dương xen lẫn những nhà gạch. Người Trung Quốc nhìn chung có đất rộng hơn người nông dân Việt, nên khi xây nhà mới cũng to hơn. Song cũng như nông dân Việt, họ chẳng biết xây kiểu nào cho đẹp, mà phần lớn lấy mẫu từ lối nhà tập thể cao tầng xây cho gia đình mình. Bởi thế, trông từ xa những thôn làng lại tưởng là một khu chung cư nào đó. Thoạt tiên là xây luôn lên ba, bốn tầng bằng gạch trần, sau đó khi có tiền mới ốp gạch men trắng ra ngoài, nhiều nhà cứ để gạch trần nhiều năm trời. Cũng có nhiều nhà tập thể, nhưng lại là chia cho nông dân khi quy hoạch đất. Tầng dưới cùng để bán hàng, sản xuất và công xưởng rất rộng. Mỗi thôn làng quy hoạch khu dân cư khá ngăn nắp. Tất cả các nhà đều quay về một hướng, xen kẽ là đường đi, còn đường quốc lộ rất tốt. Môi trường nông thôn cũng ô nhiễm không kém gì ta, nhiều dòng sông tắc nghẽn đầy rác rưởi, nhiều khu rừng bị phá tan hoang và tất nhiên văn hoá truyền thống cũng tan rã dường như hoàn toàn ở nông thôn. Các doanh nghiệp tư nhân chiếm quá nhiều đất, khiến ruộng nương thu hẹp trông thấy. Ruộng đồng nhiều nơi xác xơ, nhất là trong mùa đông dường như không canh tác được gì. Những khuôn mặt cụ già mệt mỏi như vẫn thường thấy ở Trung Hoa hàng ngàn năm qua, những người nông dân ra thành phố kiếm việc làm nhếch nhác vô cùng, co ro bên các chảo thức ăn ở xó nhà chủ. Đền miếu cổ kính chỗ nào làm du lịch thì được chăm sóc tô vẽ không thể tưởng tượng được, chỗ nào ít giá trị du lịch thì hoang tàn đổ nát buồn bã. Sự phát triển tạo ra nhiều vực thẳm phân cách giàu và nghèo, truyền thống và hiện đại, no nê phè phỡn và bất hạnh đói rét… (*)Chủ nhiệm phim là Trịnh Văn Sơn (tác giả kịch bản), giám đốc công ty CP truyền thông Trường Thành, đạo diễn Cận Đức Mậu (Trung Quốc) và Tạ Huy Cường (Việt Nam),cố vấn kịch bản Kha Chương Hoà, hoạ sĩ Phạm Xuân Hải, hoạ sĩ phục trang Đoàn Thị Tình. bài và ảnh Phan Cẩm Thượng
  17. Miêu Mập ơi! Ý Cô là phần Tác giả lưu ý chúng ta ở PHÍA DƯỚI GÓC TRÁI bức ảnh! Vị trí chiếc ghế ở cánh tay phải người đàn ông là điểm giữa bức ảnh rùi nha! Đừng tìm lan ra ngoài chỗ đó tăng thêm huyền bí bởi ảnh đang bị hắt sáng nữa mừ! Ah quên TRÁI bức ảnh là cánh tay PHẢI người đàn ông hay cánh tay TRÁI? phần áo phía có logo nhỉ? Miêu cũng có lý đó!
  18. Tướng mạo này vừa Phú vừa Trí nữa nhưng khuyết ở cửa sổ tâm hồn gây nên sự bất an cho người hợp tác, ngoài ra Thượng, trung, và Hạ Đình đều cân xứng!
  19. Thấy góc trái bức ảnh ớ nách chiếc ghế có dưới gầm bộ ván có vật lạ! Cách nhìn của Miêu Mâp về chiíếc ghế có gì đáng nói? Chẳng biết có đúng không? Câng mắt ra mà tìm chỉ thấy vậy !
  20. Bạn đưa câu hỏi của mình vào Luận tuổi Lạc Việt nhé !
  21. Lòng mẹ bao dung SGTT - Đứa con mới lọt lòng ràng buộc với mẹ chặt chẽ dường nào. Kỳ diệu dường nào mối ràng buộc trong lòng mẹ. Lá nhau và thai nhi đang phát triển, gắn chặt vào thành tử cung dày cộm đầy chất dinh dưỡng của mẹ, lại không phải là thành phần của cơ thể mẹ. Cái gì ngăn cản cơ thể mẹ loại bỏ thai nhi. Bí ẩn bắt đầu được phơi bày. Kỳ diệu lá nhau Lá nhau là cấu trúc kỳ diệu riêng của loài có vú. Đây là bộ phận duy nhất mọc ra ở tuổi trưởng thành của con người, và cũng duy nhất có thời hạn thải bỏ. Quá trình tiến hoá tạo ra lá nhau khoảng chừng 100 triệu năm trở lại đây. Trước đó, tất cả loài vật đều đẻ trứng, những con vật mới sinh phát triển nhanh và không lệ thuộc mẹ chúng. Các nhà sinh học coi kiểu mang thai – nhau là bước tiến hoá ngoạn mục. Thai kỳ càng dài, khả năng càng lớn để phát triển hệ thần kinh của thai phôi. Lá nhau tiếng Anh placenta có gốc Latinh cake là cái bánh, gốc Hy Lạp plakóenta là dẹp. Lá nhau có hình như cái bánh bò, gắn vào mặt trong của tử cung và nối vào thai phôi bằng dây rốn, như là trạm trung chuyển tiếp máu giữa mẹ và con. Dây rốn kết nối lá nhau với thai nhi. Các chất dinh dưỡng và khí ôxy từ máu mẹ được chuyển đến con, các chất thải từ con trả về mẹ, hai nguồn máu không lẫn lộn nhau. Sau khi trứng thụ tinh, lá nhau là bộ phận phát triển đầu tiên. Khi hợp tử (tinh trùng và trứng hợp nhau thành một tế bào) phân ra hai tế bào đầu, thì một dành tạo ra lá nhau và tế bào kia phát triển thành thai nhi. Ba ngày sau khi thụ tinh, các tế bào của lá nhau đang hình thành, gọi là lá nuôi bắt đầu sản xuất các hormon. Các hormon này bảo đảm lớp mặt trong tử cung sẵn sàng nhận cho thai phôi gắn vào. Khoảng năm ngày sau thụ tinh, các tế bào lá nuôi vây quanh thai phôi đang phát triển, bắt đầu ráp gắn nhau để thành một tế bào khổng lồ nhiều nhân (tiếng Anh gọi là Syncytial trophobast – hợp bào lá nuôi). Khi các bộ phận trong cơ thể thai nhi đang nảy nở và trưởng thành thì chúng còn vô tích sự (trừ trái tim). Lá nhau gồng gánh tất cả. Nhờ máu của mẹ, lá nhau làm việc của lá phổi, hai quả thận, hệ tiêu hoá, gan và hệ miễn dịch, cho đến khi bé lọt lòng. Đẹp thay sự bao dung miễn dịch Thai phôi đang lớn trong lòng mẹ biểu hiện các kháng nguyên nhận được từ cha, xa lạ với hệ miễn dịch của mẹ. Không như các mô ghép xa lạ khác, thai phôi không bị ghét bỏ và thải bỏ. Phép màu gì đây? Sự giúp đỡ kỳ diệu của các virút rêtrô. Một phần của genôm chúng ta có nguồn gốc là DNA của virút rêtrô (các HERV – human endogenous retrovirus, các virút rêtrô nội tại của người). Người ta đã tìm thấy ở chuột, cừu và người (và hầu hết các loài có vú – nhau) nhóm HERV biểu hiện mạnh mẽ ở lá nhau. Hầu hết các virút rêtrô đều có khả năng đè nén miễn dịch, thí dụ điển hình là HIV. Xâu chuỗi các sự kiện, người ta thấy các HERV cổ xưa nhập vào genôm các giống loài có vú rồi phục vụ trong vai trò các gen đè nén miễn dịch cho thai kỳ. Từ năm 2000, các nhà khoa học hiểu được gen Syncytin 1, rồi Syncytin 2 của HERV qua sự tiến hoá nhiều triệu năm có vai trò kết tụ hợp bào hàng triệu nhân (của lá nhau) và góp phần chủ yếu trong sự bao dung miễn dịch của mẹ đối với con. Cơ chế này cũng điều hoà với các cơ chế khác tạo sự bao dung của mẹ với đứa con trong bụng. Gen HLA-G. Năm 1958, Jean Dausset khám phá hệ thống kháng nguyên HLA và các gen HLA nằm ở đôi thể nhiễm sắc số 6, giúp hệ thống miễn dịch nhận diện các tế bào của mình và các kẻ lạ. Ông cũng tìm được gen HLA-G với vai trò bao dung sinh học: cơ thể mẹ không thải bỏ bào thai. HLA-G ngày càng được nghiên cứu sâu rộng. Gây chết tế bào miễn dịch. Vị trí của thai phôi gắn vào tử cung giống như một chỗ bị viêm. Trưởng nhóm nghiên cứu Hy Lạp Chrousos giải thích: CRH, loại hormon được sản xuất do thai phôi thời trứng nước, gây ra sự chết tế bào gọi là FAST. Khi các tế bào miễn dịch đe doạ thai phôi, FAST sẽ gây chết các tế bào này. FAST thành rào cản các tế bào miễn dịch của mẹ. Điều kỳ diệu đẹp đẽ đã hé lộ. Các virút rêtrô nội sinh đã giúp tạo ra lá nhau, giúp cơ thể mẹ bao dung con, phát triển các giống loài có nhau – vú hàng trăm triệu năm trước. GS.BS Nguyễn Chấn Hùng Chim phượng hoàng thần bí Người ta vừa tái tạo được một virút rêtrô cổ xưa. Virút này được đặt tên là Phoenix, chim thần sa mạc A rập sống hàng trăm năm trước khi tự thiêu, lại tái sinh từ tro tàn. Virút rêtrô. Hầu như ai cũng biết bệnh AIDS do HIV gây ra. HIV chính là một virút rêtrô ngoại tại, nghĩa là nó có gốc bên ngoài cơ thể động vật (kể cả người). Virút rêtrô có chu kỳ sống kỳ thú: gắn vào vốn di truyền của tế bào nó gây nhiễm (tế bào chủ). Khi nhập vào tế bào chủ nó dùng bửu bối enzym sao chép đảo ngược hô biến RNA thành DNA và trở thành một loại virút rêtrô nội tại, thành một phần của genôm tế bào. HIV có thể ngủ yên nhiều năm, rồi chợt thức giấc gây nhiễm, thành sát thủ tàn độc của các tế bào miễn dịch làm tê liệt khả năng phòng thủ của cơ thể. Nhiều họ virút rêtrô nội tại nằm trong genôm người (khoảng 8% vốn gen người) cũng như trong các genôm của nhiều sinh vật khác. Khác với HIV, các virút rêtrô cổ xưa này đột nhập vào genôm hàng triệu năm trước, bị đột biến nhiều lần khiến chúng thành bất lực không gây nhiễm nữa. Chúng trở thành các gen di động, nhảy từ chỗ này sang chỗ khác trên các thể nhiễm sắc. Các nhà khoa học coi chúng là DNA rác, chẳng qua là xương tàn của các lần nhiễm trùng trong quá khứ. Virút Phoenix là một virút rêtrô của họ HERV (các virút rêtrô nội tại ở người – Human endogenous retrovirus). Theo Thierry Heidman, trưởng nhóm tái sinh Phoenix thì các HERV đã gây nhiễm vốn gen của các tế bào mầm (tinh trùng và trứng) của loài khỉ 30 – 40 triệu năm trước. Phoenix là HERV trẻ hơn nhiều, nhập vào genôm người khoảng năm triệu năm trước. Các nhà nghiên cứu đã so sánh các trình tự của HERV từ nhiều chỗ trên vốn gen người rồi sắp xếp thành cấu trúc gen giống với virút rêtrô “tiên tổ”. Vậy là đã làm sống lại khả năng gây nhiễm tế bào người bệnh của Phoenix. Đừng sợ, khả năng gây bệnh rất thấp, khoảng 1.000 lần ít hơn HIV. Dư luận rộn ràng. Richard Ebright (đại học New Jersey, Mỹ) bày tỏ trên báo Science “công trình nào nhằm tái sinh một giống loài đã tàn lụi hoặc tác nhân gây nhiễm bị tiêu diệt phải có phép bật đèn xanh đặc biệt, và chỉ thực hiện trong một labô P4”. TS Thierry Heidmann, thuộc viện Gustave - Roussy Paris công bố chim thần Phoenix năm 2006 – ông nhận giải thưởng virút rêtrô học năm 2009 vì sự đóng góp quý báu về vai trò virút rêtrô nội tại trong tiến hoá muôn loài, đặc biệt vai trò của các gen syncytin 1-2 và syncytin A-B trong việc tạo lá nhau và việc bao dung miễn dịch. Chuyện ngộ xứ Mỹ Diễn viên Katie Holmes đã sinh một gái, theo lý thuyết là con của diễn viên siêu sao Tom Cruise. Trong cuộc phỏng vấn do tạp chí GQ vài tuần trước đó, Cruise thông báo là anh ta dự định xơi lá nhau sau khi đứa con ra đời. “Tôi sẽ ăn lá nhau. Tôi nghĩ là ngon đấy. Thật là bổ dưỡng. Tôi sẽ ăn dây rốn và lá nhau ngay lúc đó”. Lá nhau của người kế thừa gần nhất của Donald Trump được bảo quản, nhúng trong vàng lá. Tỉ phú Trump gọi là “một trong những lá nhau hàng đầu của thế giới” và rêu rao một lô chuyện khó tin về những người muốn mua báu vật này. nguồn sgtt.com.vn
  22. Bồ kết - Thuốc kháng khuẩn, chống viêm 11/01/2010 15:57 (GMT +7) Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, quả bồ kết có tên thuốc là tạo giác, có vị cay, mặn, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thông khiếu, hắt hơi, sát khuẩn, khử đờm, tiêu thũng, được dùng trong những trường hợp sau: Chữa viêm xoang, ngạt mũi, khó thở: Bồ kết 1 quả, đốt cháy lấy khói xông vào hai lỗ mũi. Ngày làm vài lần. Chữa trúng phong, cấm khẩu, hôn mê bất tỉnh: Quả bồ kết 40g, giun đất 40g, lông nhím 20g, đốt thành than. Mỗi lần uống 4 - 8g với nước ấm. Ngày hai lần. Kết hợp lấy quả bồ kết và lá bạc hà (lượng bằng nhau) phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, thổi vào mũi để gây hắt hơi làm bệnh nhân tỉnh lại. Chữa ho nhiều đờm, hen suyễn, thở khò khè: Quả bồ kết 1g, quế chi 1g, sinh khương 1g, cam thảo 2g, đại táo 4g. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Cây bồ kết Chữa đau nhức răng, sâu răng: Quả bồ kết để sống hoặc đốt tồn tính, tán nhỏ, đắp vào chân răng, khi nước bọt chảy ra thì nhổ đi, không được nuốt. Hoặc bồ kết 1 quả để cả hạt, nướng cho hơi cháy vỏ ngoài, nghiền nhỏ cùng với diêm sinh lấy từ 10 đầu que diêm. Ngâm với rượu trắng cho thật đặc trong 2 - 3 ngày. Muốn có thuốc dùng ngay, đun dung dịch nhỏ lửa trong vài phút. Khi dùng, nhấp ít một dung dịch ngâm trên, ngậm vào chỗ răng đau trong 10 - 15 phút rồi nhổ đi. Ngày làm 2 - 3 lần.Chữa nhọt mủ: Quả bồ kết và qủa bồ hòn lượng bằng nhau đốt thành than, tán bột mịn, trộn với bồ hóng bếp (bằng nửa lượng của 2 vị trên) và nhựa thông vừa đủ để thành một hỗn hợp nhão nhuyễn, rồi phết lên giấy làm cao dán. Chữa lở ngứa, chảy nước vàng: Bồ kết 20g, chua me đất hoa vàng 30g, nấu nước xông và rửa chỗ bị bệnh. Ngày 1 lần. Gai bồ kết được thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào tháng 9 - tháng 3. Nước sắc gai bồ kết được nghiên cứu dược lý bằng phương pháp khuếch tán thuốc trong môi trường nuôi cấy có tác dụng ức chế tụ cầu khuẩn vàng. Khi dùng, ngâm gai vào nước cho mềm, cắt dọc thành miếng vát mỏng, phơi hoặc sấy khô, để sống hoặc đốt tồn tính. Dược liệu có tên thuốc là tạo giác thích, có vị cay nhẹ, tính ấm, không mùi, có tác dụng chống viêm, sát khuẩn, tiêu ung độc, thông ứ. Chữa viêm mũi, tắc nghẹt: Gai bồ kết nướng tán nhỏ mịn, thổi hoặc hít bột vào lỗ mũi. Ngày làm vài lần. Hoặc gai bồ kết 10g, thạch xương bồ 10g, rễ hoa kinh giới 5g, tán thành bột, gói vào một miếng vải mỏng, rồi nhét vào lỗ mũi, nằm ngửa một lúc mũi sẽ thông. Chữa mụn nhọt, đầu đinh: Gai bồ kết 10g để sống, hạt đỗ đen 20g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Chữa kiết lỵ ra máu mũi lâu ngày: Gai bồ kết và hoa đào để sống, phơi khô; chỉ thực sao với cám. 3 vị với lượng bằng nhau, tán nhỏ mịn, luyện với mật ong làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 viên với nước cơm. Chữa nha chu viêm (chân răng sưng đau, có thể ra mủ): Gai bồ kết 20g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, ngưu bàng 12g, hạ khô thảo 12g, chi tử 12g, xích thược 8g, xuyên sơn giáp 6g, bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Theo TTUT.DSCKII. Đỗ Huy Bích
  23. Những khối đá huyền bí - Bài 1: Phiến đá được phong thần 10/01/2010 22:38 Bức tượng Phật thiên thủ (nghìn tay) có liên quan đến mỹ thuật và hình tượng của Kỳ Thạch phu nhân mà một số nhà nghiên cứu cho là có thể gợi mở thêm về mối liên hệ giữa văn hóa Bà La Môn giáo với Phật giáo trên đất Việt ngày trước - Ảnh: Diệp Đức MinhĐá là vật vô tri vô giác nên người ta thường ghép đá với những tính cách cứng nhắc lạnh lùng. Nhưng không hẳn như thế, bởi trong dân gian và sử sách đã có nhiều câu chuyện về thế giới huyền bí và đời sống sinh động của đá. Mời nghe đọc bài Đầu tiên là chuyện tảng đá khắc hình một nữ thần không mặc áo, để ngực trần, đã chìm xuống sông Trà, nằm im qua nhiều mùa trăng, rồi bất chợt “nổi lên” vào một buổi giông hè. Nữ thần báo mộng Chuyện xảy ra ở xã Thanh Phước, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên ngày trước, mà người viết bài này tình cờ được một cụ già kể cho nghe trong một chuyến về thăm Huế. Rằng ở vùng ngã ba sông Hương và sông Bồ có một ông lão đánh cá nghèo, ngày ngày xuôi dòng nước của con sông chảy qua làng để quăng lưới. Một hôm từ mờ sớm đến mặt trời lên cao vẫn chưa bắt được con cá nào đủ to để ra chợ đổi gạo, ông buồn bã nằm trên vạt cỏ ven bờ, gối đầu lên một tảng đá lớn thiu thiu ngủ. Chợt ông nằm mơ thấy có một người thân hình to lớn, mặt mày đỏ gay giận dữ, tay cầm chiếc gậy dài thúc thúc vào người ông, quát: “Này ông lão kia, sao ông lại dám gối đầu lên người của ta mà ngáy?”. Ông lão sợ quá quỳ mọp xuống, vị thần đá liền trấn an và nêu một câu hỏi nếu ông trả lời được thì vị thần đó hứa sẽ cải biến số phận để ông được sung túc và mạnh khỏe, sống lâu. Câu hỏi đó là: “Thứ gì luôn im lặng và thiêng liêng như đá? Thứ gì luôn luôn ở với người, giúp ích cho người, mà không hề đòi hỏi đền đáp, hoặc lên tiếng kể lể lời nào?”. Ông lão đánh cá ngẩn ngơ, chưa trả lời được, vì ông nghĩ trên đời đâu có thứ gì tốt bụng đến thế. Vị thần đá liền giải đáp: “Đó là hơi thở, nó có mặt để truyền sự sống cho các ngươi từ lúc mới ra đời cho đến khi nhắm mắt mà chẳng đòi ơn nghĩa gì, nó cũng im lặng như các loài đá mà các ngươi vẫn dùng để lót đường, xây nhà vậy”. Trước khi biến mất, thần đá quay lại nói thêm: “Thấy ngươi hiền lành, ta sẽ cho ngươi một món quà, ngươi hãy mau thức dậy và quăng lưới xuống sông, ngươi sẽ nhận được món quà ấy”. (Chúng ta sẽ trở lại với vị thần đá nói trên trong một câu chuyện khác của loạt bài này). Khi giật mình thức giấc, ông lão vội vã quăng lưới xuống nước như lời vị thần ấy dặn. Không lâu sau, ông cảm thấy có vật gì nằng nặng cứ trì lấy chiếc lưới. Ông lặn xuống xem chẳng thấy gì quý báu mà chỉ là một phiến đá to đang làm vướng lưới. Ông gỡ lưới ra khỏi phiến đá rồi lên bờ về nhà lòng không vui. Đêm ấy đang chập chờn, ông lại mộng thấy một phụ nữ xuất hiện với ánh sáng chói quanh người, bảo ông: “Ta là nữ thần dưới sông kia, hồi trưa ngươi đã gặp ta tại sao không đem ta lên bờ? Nếu ngươi đem ta lên ta sẽ phù hộ cho ngươi thoát khỏi cảnh túng thiếu”. Sáng ra, ông lão rủ thêm vài người trong làng lại quãng sông lặn xuống và đem lên hai phiến đá to bên trên có khắc hình một nữ thần với nhiều tay đang vươn cao, chân đang ngồi xếp bằng, chung quanh có hình voi, hình người trông rất lạ mắt. Lúc ấy trời bỗng chuyển giông, mây kéo đen nghịt rồi mưa trút xối xả, hai viên đá sáng lên từng chặp theo những tia chớp trên cao lia xuống. Thấy vậy, người ta hoảng sợ đem các viên đá này vào gần làng, lấy gạch xây một cái bàn thờ để đặt đá lên trên. Hình do họa sĩ Tôn Thất Sa vẽ năm 1915 về “Bững Chàm ở Thanh Phước”, tức phiến đá “Kỳ Thạch phu nhân” (trích từ Bulletin des Amis du Vierx Hue năm 1915) Kỳ Thạch phu nhân chi thần Từ đó hễ ai đem lễ vật dâng cúng cầu gì thường được toại nguyện. Nhất là cứ đến tối 30 hoặc ngày rằm âm lịch mỗi tháng, người trong làng thường thấy bóng một nữ thần từ trong tảng đá bay ra, ban đêm ít ai dám lai vãng đến chỗ thờ. Nghĩ đây chỉ là chuyện truyền khẩu, nhưng về sau chúng tôi được một nhà nghiên cứu cho biết chuyện trên được chép lại hẳn hoi trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn với một số chi tiết có khác với lời kể của dân gian, song cốt lõi của chuyện vẫn giống nhau, với đoạn cuối khá huyền bí: “...Hai viên đá vuông to bằng tấm chiếu, sắc xanh trắng, mặt đá có nét chạm thân người mặt thú, 20 tay và 4 chân, người chài sợ cho là thần đem để ở chỗ sạch sẽ rồi dựng đền tranh để thờ. Từ đấy tỏ ra linh ứng. Hồi đầu bản triều (Nguyễn) phong làm “Kỳ Thạch phu nhân chi thần”. Gặp năm đại hạn, sai quan đến cầu đảo hàng mấy tuần không được mưa, bèn sai dời hai viên đá đến bờ sông, đêm hôm ấy liền nổi gió to mưa lớn, sáng hôm sau ra xem, thấy mất một viên, còn lại một viên, bèn rước về tế tạ. Viên đá ấy nay vẫn còn...”. Vậy sự tích Kỳ Thạch phu nhân ra sao? Do đâu trên phiến đá to và dài một mét được triều đình phong thần kia lại khắc nhiều hình mà người ta cho là quái dị để mô tả cảnh thiên đường lẫn địa ngục? (Còn tiếp) Giao Hưởng nguồn thanhnienonline
  24. Chị kết luận như trên vì Chị đã có dịp nhìn thấy Cậu này ở ...không phải chốn ăn chơi! Tất nhiên nhìn được cả sắc diện và phong cách.
  25. Chủ đề này đã trao đổi đến đây, Wild xin phép cung cấp bài viết này từ Thế Giới Tâm Linh của GS, TS PHẠM ĐỨC DƯƠNG để các bạn ngẫm. THẾ GIỚI TÂM LINH Tạo hóa đã bày đặt cho con người một nghịch lý vĩ đại mà con người từ khi xuất hiện cho đến mãi mai sau, dù thuộc màu da gì, thuộc dân tộc nào và sống bất cứ đâu trên trái đất này đều phải vượt qua nhưng không bao giờ vượt qua được. Đó là mối quan hệ giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữa cái trần tục và cái thánh thiện. Đó là nghịch lý giữa CON và NGƯỜI trong con người. Là con cho nên con người chỉ là hữu hạn trên tất cả mọi bình diện của cuộc đời. Điều mà nó quan tâm nhất là sự sống và cái chết và con người biết mình phải chết. Như ông Bành Tổ có sống đến 800 tuổi rồi cũng chết? Nhưng là người, con người muốn trường sinh bất tử, muốn trở thành vô hạn. Là con, trong con người chứa chất đầy tham vọng mang tính trần tục: ăn nhiều, yêu lắm. Lòng tham của con người là vô đáy... Nhưng là người, nên con người lại muốn trở thành thánh thiện, trở thành cao thượng, linh thiêng đúng với nghĩa con người (chứ không phải thú vật). Cái nghịch lý nằm ngay trong anh, trong tôi, trong tất cả mọi người và từng phút, từng giây trong từng ngóc ngách sâu kín của cuộc đời. Đâu đâu, bất cứ lúc nào con người cũng luôn luôn đối diện với chính mình trong tình trạng nghịch lý ấy. Ranh giới có khi chỉ mỏng manh như một sợi tóc. Loài người đi tìm những giải pháp để cho cuộc sống được an sinh, cân bằng. Theo tôi, ít nhất loài người cũng đã tìm ra ba giải pháp: - Bên cạnh cuộc đời thực hữu hạn và trần tục, họ xây dựng cho mình một thế giới bên kia vĩnh hằng, thánh thiện, linh thiêng. - Tập trung mọi cố gắng lập nên những sự nghiệp để "lưu danh thiên cổ" trường tồn với non sông đất nước. - Sinh con đẻ cái để kéo dài đời mình, dòng họ của mình. Đi vào giải pháp thứ nhất chúng ta thấy trí tuệ và trí tưởng tượng của con người vô cùng vĩ đại, vô cùng phong phú. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều xây dựng cho mình những biểu tượng về một thế giới bên kia, vừa nối tiếp thế giới bên này vừa là một thế giới vĩnh hằng, ở đó con người trở nên bất tử và hạnh phúc, rất khác biệt với đời thực. Thế giới bên kia chính là thế giới tâm linh Thế giới bên kia được nhận thức từ cái chết. Sự sống và cái chết là nỗi bận tâm lớn nhất của con người, vì ai cũng muốn sống, không ai muốn chết, và họ rất sợ chết. Manimovski đã từng nói: "Cái chết là sự khủng hoảng tối quan trọng và cuối cùng của cuộc sống". Cái chết của một thành viên trong cộng đồng gây nên một sự sợ hãi, ngay trong những giấc mơ con người bàng hoàng hoảng sợ khi thấy mình bỏ xác đi lang thang trong một thế giới lờ mờ và nhất là khi thấy những người thân đã chết hiện về thậm chí còn đòi hỏi cái này, cái nọ... Từ đó con người cảm nhận rằng con người có cả xác và hồn. Xác là cái trông thấy được, hồn là cái vô hình. Hồn và xác như là bóng với hình không thể thiếu vắng, do đó cuộc sống gắn liền với cái chết, người sống gắn liền với người chết. Phải chăng khi chết hồn sẽ rời khỏi xác và bay về thế giới bên kia. Với tâm thức đối xứng, con người cho rằng "hễ c ó cái này thì phải có cái kia"? Có thế giới bên này cho người sống thì phải có thế giới bên kia cho người chết. Nhưng con người không thể thấy được cái thế giới vô hình đó. Bằng phương pháp suy luận, con người tưởng tượng ra thế giới bên kia như cùng tồn tại với thế giới bên này. Vì con người đã bày đặt ra các nghi thức thờ cúng để tỏ lòng tôn vinh và sự kính trọng các thần linh đầy uy lực siêu việt. Và sự gặp gỡ giữa người sống và người chết trong khi thờ cúng là những giây phút linh thiêng nhất. Đó là cội nguồn của cái thiêng trong đời sống tâm linh. Người Việt thường nói "có thờ có thiêng". Cho nên cái linh thiêng ấy bao trùm lên cả sự sống và cái chết, nó nối cái tâm của người sống với tổ tiên ông bà. Người ta đối xử với người chết cũng như người sống (Sự tử như sự sinh - Khổng Tử) nhưng với thái độ sùng kính. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy từ thời đại đồ đá cũ con người đã thực hành những nghi thức chôn cất người chết như rắc một lớp đất thổ hoàng dưới mộ, chôn người chết theo tư thế ngồi, sau này chôn theo đồ tùy táng (minh khí) rồi cắm bia, xây mộ... Bằng cách đó con người làm cho người chết trở thành không chết, cùng nghĩa với người sống cũng thành bất tử, tức là biến cái hữu hạn thành cái vô hạn. Có thể nói sự chết mở ra thế giới tâm linh và đó là một tình cảm chỉ có ở con người, không thể có ở bất kì loài động vật cao cấp nào. C.Mac gọi đó là "Tình cảm tôn giáo" không thể thiếu vắng trong cuộc sống con người. Ông viết: "Nếu trong trái tim con người có một tình cảm xa lạ với tất cả số còn lại của các loài động vật, một tình cảm cứ tái sinh lại mãi, dù cho vị trí con người ở đâu, phải chăng tình cảm đó là một quy luật cơ bản của bản chất con người? Theo chúng tôi đó là tình cảm tôn giáo". Socrate cũng đã từng nói: "Cuộc sống là chung cho một cây cỏ nhưng chỉ con người mới có linh hồn. Con người sở dĩ thành con người một phần căn bản là do nó có đời sông tâm linh, nghĩa là tuân theo, tôn thờ những giá trị không vụ lơi, những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng và cái bí ẩn, hai yếu tố tạo thành đời sống tâm linh". Vì thế bản chất của con người là hướng tới tâm linh và tâm linh lại là thế giới vô hình, linh thiêng mà huyền bí, nó như là những ma lực hấp dẫn, kích thích con người hướng vào đó để giải đáp câu hỏi lớn của con người: ta là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu? mà trí tuệ của con người không thể giải thích được. Đó là cội nguồn của tư duy tôn giáo: cái thế tục và cái linh thiêng, cái hiện hữu và cái vô hiện hữu, cái có hạn và cái vô hạn... gắn kết với nhau như hình với bóng. Vì vậy, còn loài người là còn đức tin tôn giáo, khoa học đẩy lùi mê tín dị đoan, nhưng lại đồng hành với đức tin tôn giáo. Hegel gọi cái tôn giáo là cái không cần bằng chứng, không thể chứng minh được, khoa học là cái phải có bằng chứng để chứng minh, còn nghệ thuật chỉ là cái cớ (nói cây ná, giá cây tre). Khi con người hướng tới cái tâm linh thì con người cũng hướng tới cái thánh thiện, tới cái đẹp bởi vì cái thiêng là chất keo kết dính và chuyển tải những giá trị đạo đức và thẩm mĩ của con người và cố kết cả một cộng đồng tộc người với nhau trong sự giao cảm thuần khiết. Và con người tưởng tượng ra một thế giới bên kia rất tốt đẹp không giống với thế giới bên này, thế giới trần tục mà con người còn nặng nợ với những dục vọng của trần ai. Từ "dieu” (thần thánh) có gốc của ngạn ngữ Ấn - Âu dieros = rực sáng ở trên trời, khu biệt với tối tăm ở dưới trần - nơi ấy đầy ánh sáng và vĩnh hằng. Muốn đến được nơi đó con người phải sống hướng thiện! Như vậy từ thời ăn lông ở lỗ cho đến hôm nay, loài người dù sống bất cứ nơi đâu thuộc bất cứ dân tộc nào đều xác lập hai thế giới: thế giới trần gian bên này và thế giới tâm linh bên kia. Thế giới tâm linh trước hết là thế giới của thần thánh. Ở đấy có hai loại thần: nhân thần và tự nhiên thần và có sự chuyển hóa theo hướng "nhân hóa" các vị thần tự nhiên. Tất cả những thần linh này ở trong thế giới tâm linh vô hình, huyền bí đều được con người xây dựng thành những biểu tượng và được hiện diện trong các lễ hội, nơi đó con người làm lễ để thông quan với thần thánh, và mở hội để xây dựng quan hệ cộng cảm trong cộng đồng dưới sự chứng giám của thần linh. Vì thế trong phần lễ bao giờ cũng.có các chất thiêng và sự xuất thần, còn trong phần hội luôn luôn phải vui và thăng hoa, nó là sự thể hiện giữa mối quan hệ giữa "đạo và đời". Để giao tiếp với thần linh, con người đã "mượn" những "vật thiêng" làm trung gian. Đó là những người thiêng (thầy cúng, ông mo, bà đồng...), những vật thiêng (mặt nạ, con rối...), những lời thiêng (lời khấn), những chữ thiêng (bùa chú), những hành vi mô phỏng hay dọa nạt, những điệu múa phấn khích, những lời tụng ca. Những thứ này đều được cách điệu hóa mang tính biểu tượng cao. Kèm theo những hành vi là những ma thuật với những năng lực đặc biệt: dẫm chân lên lưỡi cày nung đỏ, xuyên sắt qua cổ, qua bụng, phun ra lửa, dùng nước thánh chữa bệnh... Theo C.A. Van Peurson, nhà triết học Hà Lan, thì trong nền văn minh nông nghiệp, khi con người và tự nhiên cùng với thế giới thần linh còn hòa đồng chưa có sự cách biệt thì vật siêu nghiệm có ở khắp nơi cùng với tồn tại xã hội. Thế giới là hiện thân của thần thánh. Ta gọi đó là văn hóa thần thoại, một nền văn hóa mở, trong đó con người gia nhập vào thần lực của vũ trụ bằng những câu chuyện và những biểu trưng. Khi ma thuật, phù phép xuất hiện cùng với thầy phù thủy nhằm biến quyền lực của thần thánh thành quyền lực của cá nhân, một thứ độc tài thì mô hình văn hóa trở nên khép. Con người chìm đắm trong mê muội, trong sự sợ hãi đối với ma thuật. Sau này, trên cơ sở tín ngưỡng dân gian mà loài người xây dựng những đức in mới - tôn giáo. Chúng đều là những phương thức để nhận thức và cải tạo hiện thực theo ý của con người, chúng chỉ khác nhau về tính lịch sử. Khi con người xây dựng nên thế giới bên kia, con người càng cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của cuộc sống bên này và do đó con người rèn luyện cho mình một tinh thần nhân ái và thánh thiện hơn, kìm chế bớt những tham vọng của trần tục. Đó là cách cải tạo hiện thực như người ta nói, làm cho con người hướng theo tính thiện. Xét về mặt đó, thì mọi tín ngưỡng, mọi tôn giáo đều có ý nghĩa góp phần giải phóng con người bắt đầu từ khi nó là người trong mối quan hệ với tự nhiên giữa con người và người trong con người. Tín ngưỡng hay tôn giáo đều hướng con người vươn tới nơi thần thánh linh thiêng, nơi niết bàn cực lạc hay nơi thiên đường của Chúa Giêsu, của Thánh Allah! thoát khỏi bị trở thành ma quỷ hay lũ Satăng nơi địa ngục. Muốn vậy con người phải kiềm chế những dục vọng và sống với nhau sao cho hợp đạo. Đó là giá trị đích thực của những đức tin thánh thiện. Những điều nghịch lý là: các trào lưu tư tưởng tiến bộ mà con người đã nghĩ ra và dồn mọi sức lực để thực hiện nhằm mục đích cao đẹp đó, thì trong thực tiễn xã hội lại cho thấy kết quả mang lại đều không như mong muốn, thậm chí có khi còn ngược lại. Con người đang vật lộn trong quá trình tha hóa bởi chính những cái nó sáng tạo lên. Các tôn giáo muốn giải thoát con người ra khỏi cái hữu hạn để đi vào cái vô hạn, nhưng rút cuộc, các giáo hội cũng không vượt qua được cái hữu hạn của con người, họ tự xây tường cao trong bóng tối để không nhìn thấy con người thực của mình! Giải pháp xây dựng một thế giới bên kia vĩnh hằng và thánh thiện và xây dựng một đức tin chết không phải là hết, theo tôi là một giải pháp tích cực giúp cho con người sáng tạo nên nhiều giá trị văn hóa, yêu cuộc sống hơn và không quá sợ hãi khi phải đối diện với cái chết. Từ cái đức tin ấy mà con người sáng tạo nên biết bao những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tạo nên bản sắc dân tộc - những biểu tượng văn hóa. Đó là những lễ hội những phong tục tập quán, những kho tàng văn nghệ dân gian, những chùa chiền miếu mạo, những di tích văn hóa. Điều mà ai cũng nhận thấy rằng vì coi thế giới bên kia là vĩnh hằng, là thiêng liêng nên con người đã tập trung trí tuệ, mọi năng lực sáng tạo, mọi của cải vật chất để xây dựng nên những kì tích mà họ không thể làm cho cuộc đời thường được. Một cái nhà ở (trần tục dù anh có ý định xây dựng đẹp bao nhiêu cũng không thể bằng khi người ta xây một ngôi chùa, một kim tự tháp làm nơi thờ cúng thần linh linh thiêng). Vì vậy các giá trị văn hóa của các dân tộc còn lại cho đến ngày nay đều mang dấu ấn của đức tin ấy và nó được xem là một trong những động lực tạo nên những giá trị văn hóa và sự đa dạng của các biểu tượng làm cho những di sản này sống mãi với dân tộc, với non sông đất nước. Và, như trên đã nói, con người quan niệm có linh hồn và thể xác và chúng tồn tại như hình với bóng, do đó cái thiêng liêng bao trùm lên cả thế giới tâm linh và thế giới trần tục. Và từ đó con người cũng linh hóa những biểu tượng, những sự kiện trong đời sống thường ngày. Người Việt Nam coi đất nước cũng có linh hồn. Do đó biểu tượng "hồn nước và tình yêu Tổ quốc là cái thiêng liêng đối với mỗi con người Việt Nam, rồi những quan hệ, những tình cảm trong cộng đồng đều có chất thiêng của nó (tình mẫu tử tình yêu, tình đồng chí…). Và chính cái chất thiêng đó đã trở thành chất men kích thích, gắn bó con người hướng tới cái thánh thiện ngay trong cuộc sống đời thường. Như vậy là con người ở đâu cũng phải sống cân bằng giữa đạo và đời, cân bằng giữa tâm và vật. Ở đâu và lúc nào, mất sự cân bằng đó sẽ tạo nên trạng thái hẫng hụt, rối loạn. Ở đây chúng ta nói đến đức tin của con người về một thế giới bên kia, còn thế giới ấy tồn tại thực hay không là một chuyện khác. Dù cho văn hóa của loài người rất đa dạng, nhưng con người vẫn tin rằng bên cạnh đời sống thực của họ còn có một thế giới bên kia - thế giới tâm linh, và với khát vọng khám phá, loài người từ khi sinh ra vẫn mải mê để tìm kiếm và bằng trí tuệ được tích lũy con người muốn giải thích... Và đó là một nhu cầu, thậm chí một nhu cầu mãnh liệt mà không một ai có thể ngăn cản được. Trong một hội thảo quốc tế về văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, có một giáo sư người nước ngoài hỏi tôi có tin vào thế giới bên kia không? Tôi trả lời là tôi tin và chắc rằng nhiều người Việt Nam cũng tin như tôi về thế giới bên kia. Họ quan niệm "sống gửi thác về” và vì thế sống ở trên đời phải "tu nhân tích đức” để về thế giới linh thiêng ở bên kia. Ngày nay với tư duy khoa học, người ta muốn xây dựng một ngành học mới, ngành tâm linh học để tiếp cận với thế giới bên kia. Người ta dựa vào các dữ liệu sau: 1) Câu chuyện kể lại của những người cận tử - những người chết đi sống lại. Đó là những điều mà họ đã gặp trong thời gian hồn rời khỏi xác, 2) Tư liệu về những hiện tượng đầu thai tái sinh. Ví như gần đây báo chí đã nói tới một số hiện tượng đầu thai tái sinh của các em bé ở Bá Thước tỉnh Thanh Hóa. Những người này đã kể rất rõ về lai lịch cuộc sống trước kia của họ và những đấu vết cũ được ghi lại trên hình hài, tính cách trong cuộc sống tái sinh. 3) Những tư liệu sưu tầm và phân tích những giấc mơ (như là giấc mơ báo tin của Lômônôxôp về việc nhà bác học này tìm được xác cha, giấc mơ của Đan - nhà triết học Anh về hạm đội của Napoléon bị đắm 4000 người chết gần đảo Hêlen, sau đó thành hiện thực không chỉ có 400 người chết, những giấc mơ báo tin của những người đã khuất… 4) Tư liệu về những người có khả năng xuất hồn và nhập hồn (xung quanh những việc tìm mộ của những nhà ngoại cảm, những cuộc nói chuyện với người đã chết qua một người sông - mà ở Việt Nam gọi là lên đồng" ...). 5) Thế giới ma và những căn nhà có ma.. Thời nào cũng có và ngày nay lại càng nhiều câu chuyện được kể gây cho con người một tâm trạng "bán tín bán nghi". Tuy nhiên chúng ta cần phải lưu ý hai điều: một là, chúng ta phải tỉnh táo chống mê tín dị đoan và những kẻ lợi dụng đức tin để kiếm lợi và lừa dối quần chúng để thực hiện những ý đồ đen tối của chúng! hai là, nếu giả thiết rằng có một thế giới bên kia, thì muốn tiếp cận được chắc chắn người ta không thể dùng những phương pháp khoa học như chúng ta đang dùng hiện nay để tiếp cận với thế giới bên này, mà phải có một hệ thống phương pháp khác. Mọi suy luận của chúng ta về thế giới bên kia chỉ là những suy luận theo cảm thức đối xứng: bên này có gì thì bên kia có nấy, khác chăng bên kia là một thế giới ảo và ở đó chính là miếng đất của trí tưởng tượng. Con người chỉ có thể bằng trực cảm, bằng trải nghiệm mà cảm nhận được, chứ không thể lý giải được. Vì thế Hegel mới gọi tôn giáo là cái không giải thích được. Do vậy, những lý giải về thế giới bên kia, chúng ta có thể coi như những giả thiết chưa được kiểm chứng. Cuối cùng thì tin hay không tin là quyền của mỗi con người, nhưng đã là con người thì ai cũng rất bận tâm đến thế giới tâm linh và khát vọng hướng tới nó. Nguồn: Đổi mới phương pháp dạy - học văn hóa.
×
×
  • Create New...