-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Giảng Giải Chú Đại Bi
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Từ trước đến nay, nhiều người đã giảng rộng về Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, nhưng chưa có vị nào giảng giải về chú Đại Bi. Thực vậy, rất khó giảng giải về chú Đại Bi. Vì kinh văn thần chú này thuộc vào hệ mật ngôn chân ngữ. Nay để giảng giải về thần chú này, trước tiên tôi xin đưa ra một bài kệ để thuyết minh cho ý nghĩa của thần chú: Đại bi đại chú thông thiên địa Nhất bách nhất thiên thập vương hoan Đại từ đại bi năng khử bệnh Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền. Nghĩa là: Thần chú Đại bi có công năng thông cả thiên đường, thấu cả địa phủ. Người nào thường trì niệm chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn ngày như thế thì có thể khiến Thập điện Minh vương hoan hỷ. Năng lực Từ và Bi của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời. *Đại bi đại chú thông thiên địa Khi quí vị niệm thần chú này thì trời đất đều chấn động, cả pháp giới chuyển rung. Trên thông cả cõi trời, dưới thấu khắp cả các cõi giới địa ngục. Khắp cả mọi pháp giới trời người đều cảm thông và tán dương công đức. *Nhất bách nhất thiên thập vương hoan Nếu quí vị niệm thần chú này mỗi ngày 108 biến, niệm ngàn ngày như vậy, tức là vào khoảng 3 năm. Niệm thần chú này liên tục trong 3 năm không gián đoạn, không bỏ sót một ngày, bất luận quí vị có bận rộn như thế nào cũng không quên niệm, thì có thể khiến cho mười vị vua điều hành công việc ở chốn địa phủ cũng phải hoan hỷ. Có nghĩa là từ vua Diêm La cai quản điện thứ 10, cùng tất cả các chung sinh đang bị tội báo ở trong 10 địa ngục ấy đều được vui mừng. *Đại từ đại bi năng khử bệnh Năng lực Từ và Bi của thần chú này có thể chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Vì sao gọi là chú Đại Bi? Là vì: “Bi năng bạt khổ”. Nghĩa là Bi có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh được tiêu trừ. Còn “Từ năng dữ lạc”. Lòng Từ thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Vì thần chú này khả năng bớt khổ ban vui cho mọi chúng sinh nên gọi là Chú Đại Bi. Chủ yếu nhất là công năng chữa lành mọi bệnh tật. Bất luận quí vị bị bệnh gì, nếu quí vị trì niệm Chú Đại Bi, thì mọi bệnh khổ đều được tiêu trừ. Có người sẽ thắc mắc: “Tôi đã niệm Chú Đại Bi rồi, tại sao không lành bệnh?” Quí vị chưa lành bệnh là vì quí vị chưa vận hết lòng thành trong lúc trì niệm. Với lòng chí thành, chắc chắn quí vị sẽ có được sự cảm ứng khi niệm chú. *Nghiệt kính nhất chiếu biến cao huyền Khi quí vị trì niệm mỗi ngày 108 biến chú Đại Bi, niệm trong 1000 ngày như thế thì Thập điện Minh Vương vui mừng và tất cả mọi bệnh tật đều được tiêu trừ. Trong suốt 1000 ngày, tức 3 năm này, quí vị đ• thành tựu được khá nhiều công đức rồi. Bởi vì trong 3 năm này, mỗi ngày quí vị đều gia tâm trì tụng thần chú nên không có điều kiện để tạo tác nghiệp nhân. Quí vị không uống rượu, không ăn thịt, không ăn ngũ vị tân. Trong địa ngục có một đài gương báo tội gọi là “nghiệt kính đài”, nếu quí vị gây một nghiệp ác nào thì nghiệp ấy sẽ hiện rõ trong đài gương kia. Cũng giống như hình ảnh đang hiện ra trên màn ảnh xi nê vậy. Ví như một người, đời này gây tội sát nhân, thì trong gương báo tội sẽ hiện ra cảnh người ấy đang giết người. Nếu người ấy gây nghiệp trộm cắp thì trong gương sẽ hiện hình người ấy đang đi ăn trộm. Nếu người ấy gây nghiệp đốt phá nhà cửa người khác thì trong gương sẽ hiện ra rõ ràng hành động đốt nhà ấy. Còn nếu quí vị không gây tạo ác nghiệp gì cả thì sao? Thì chẳng có gì hiện ra trong kính đó cả. Vậy nên, nếu quí vị trì tụng thần Chú Đại Bi trong 3 năm thì khi gương nghiệp soi chiếu đến, tội báo của quí vị sẽ được tẩy sạch. Nơi địa ngục ấy sẽ treo lên một tấm bảng ghi rằng: “Người này đã từng trì tụng Chú Đại Bi, tội báo của người này đều đã được hóa giải toàn bộ.” Tất cả các vị quỷ thần trong địa ngục đều cúi đầu lễ bái sùng kính người trì chú này như lễ bái cung kính chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai vậy. Đồng thời các vị quỷ thần ấy sẽ hộ trì người trì chú cũng như họ thường hầu cận chư Phật vậy, và các vị quỷ thần đều thông báo cho nhau biết là không nên quấy nhiễu người trì chú này. Thần lực của chú Đại Bi thật là không thể nghĩ bàn. CÚ GIẢI (Giảng giải từng câu) 1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da Hàng ngày chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di - đà Phật. Nam mô Bổn sư Thích – ca Mâu – ni Phật. Nhưng quí vị có biết Nam – mô có nghĩa là gì không? Chắc là rất ít người biết được. Cách đây vài năm, có lần tôi đã đặt vấn đề này trong một pháp hội nhưng chưa một người nào có được câu trả lời hoàn chỉnh cả. Nam – mô, phiên âm chữ Nama từ tiếng Phạn. Trung Hoa dịch là “Quy y”; cũng dịch là “Quy mạng kính đầu”. Có nghĩa là: “Con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật”. Cái bản ngã của chính mình không còn nữa. Mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng mình lên chư Phật. Nếu chư Phật cho con sống thì con sống; bảo con chết thì con chết. Con hoàn toàn tin vào chư Phật. Đó gọi là “Quy mạng”. Còn “Kính đầu” có nghĩa là hết sức cung kính và nương tựa vào đức Phật. Đó là ý nghĩa của Nam – mô. Còn “Quy y” có nghĩa là đem hết thân và tâm của mình, đem hết cả mạng sống của mình trở về nương tựa vào đức Phật. Nói tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”. Đó chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên khởi tâm Từ Bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú này. Không những chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường trụ Tam Bảo. Quí vị có biết Tam bảo là gì không? Đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết rằng, trên thế gian này Phật bảo là cao quý nhất. Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo là điều cao thượng và quý báu nhất. Không những cao quý ở thế gian mà còn cao quý đối với những cảnh giới xuất thế gian, cho đến đối với cõi trời phi tưởng phi phi tưởng nữa. Không còn có gì cao quý hơn Tam bảo trong Phật pháp nữa. Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất. Thế nên chúng ta cần phải cung kính quy ngưỡng và tín thọ nơi Tam bảo cao quý, phát khởi tín tâm kiên cố và thâm sâu, không một mảy may nghi ngờ. Có người sẽ hỏi: Quy y Tam bảo sẽ có lợi ích gì? Tối thiểu nhất là khi quí vị quy y Phật rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào địa ngục nữa; khi quí vị quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào hàng ngạ quỷ (quỷ đói) nữa; khi quí vị quy y Tăng rồi thì quí vị không còn bị đọa làm loài súc sinh nữa. Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam bảo. Nhưng khi đã quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và tinh tấn thực hành các việc lành, tương ứng với lời dạy của đức Phật thì mới xứng đáng gọi là quy y. Nếu quí vị vẫn còn giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh, trộm cắp, tà hạnh dâm dục, nói dối, nghiện ngập và làm mọi điều mình thích để thỏa mãn ngũ dục thì quí vị không thể nào tránh khỏi đọa vào 3 đường ác (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh). Bở vì trong Phật pháp không có sự nhân nhượng. Quí vị không thể nói: “Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng rồi, nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa. Vậy nên tôi có quyền làm điều gì tôi muốn…” Quí vị phải thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình và tích cực thực hành những việc thiện, dứt khoát không bao giờ làm những việc ác nữa. Nếu quí vị còn tiếp tục làm những việc xấu ác, thì quí vị sẽ bị đọa ngay vào địa ngục. Đạo Phật không giống như ngoại đạo. Họ tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là niềm tin. Nếu có niềm tin thì dù có làm việc ác, cũng có thể vào được thiên đường. Còn ngược lại, nếu ai thiếu lòng tin, dù có gắng sức làm việc phúc đức, thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục”. Nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các nghiệp ác thì nhất định quí vị sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng sức làm việc phước thiện thì quí vị vẫn được lên thiên đàng. Phật pháp không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu quí vị tin vào đức Phật, thì mọi điều sẽ được như ý.” Ngược lại, nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn không chịu từ bỏ các việc ác thì quí vị vẫn phải bị đọa vào địa ngục. “Được rồi”. Quí vị lại thắc mắc: “Nếu đã tin Phật rồi mà cũng đọa vào địa ngục như không tin, thì tại sao phải quy y Tam bảo?” Chân chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay về đường thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa. Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương”. Khi quí vị trì niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai chướng, quí vị hay thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”, là một trong năm bộ chú hộ ma. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ trước đến nay quí vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường trì tụng chú này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần, lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được gọi là “Tăng ích pháp”. Quí vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi, hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên này thôi: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là “Thành tựu pháp”, bất luận quí vị muốn điều gì, thì sở nguyện sở cầu của quí vị đều được thành tựu như ý muốn. Nếu quí vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh được con trai. Nhưng quí vị phải trì niệm với tâm trí thành, không phải chỉ niệm một hai ngày rồi thôI, mà phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm. Nếu quí vị không có được bạn tốt, mà muốn gặp được một người, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì liền gặp được ngay bạn lành. Nếu quí vị trì niệm được toàn thể bài chú Đại Bi thì quá tốt, nếu không chỉ cần niệm câu đầu tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn. Câu chú này cũng còn được gọi là “Hàng phục pháp”. Năng lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo khi nó nghe đến câu chú này. Tuy vậy, câu chú này không phải là “Câu triệu pháp”. Khi quí vị trì niệm một câu chú thuộc trong “Câu triệu pháp” thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến trình diện và có thể bắt giữ, hoặc sai khiến được chúng. Vậy nên, câu chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công năng rất mạnh, không thể suy lường được. Nếu nói chi tiết, thì không thể nào cùng tận được. Tóm lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da nghĩa là “Lễ”. Nghĩa toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh lễ thường trụ Tam bảo.Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam bảo là vô biên vô tận. 2. Nam mô a rị da Nam mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ – tát”. A rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các bậc Thánh giả, người đã xa lìa tất cả các pháp bất thiện. 3. Bà lô yết đế thước bát ra da Bà lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là “quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô - giá - na) nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch là: “Sở quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được quán sát đến. Thước bát ra da có nghĩa là “tự tại”. Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại. Đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại. 4. Bồ đề tát đỏa bà da Mọi người đều biết Bồ đề xuất phát từ tiếng Phạn là Bodhi. Có nghĩa là Giác. Tát đỏa có nghĩa là “độ” là vượt qua (bể khổ) cũng như đưa người khác vượt qua (bể khổ) đến bờ giải thoát. Bồ Đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát và giúp cho mọi chúng sinh được giác ngộ giải thoát như mình. Bà da có nghĩa là “đảnh lễ”. Da có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ. Cúi đầu đảnh lễ ai? Đảnh lễ các vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi, còn giúp cho người khác được giác ngộ giải thoát. Câu thần chú này là muốn nhắc đến Bồ – tát Bất Không Quyến Sách áp đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần chú này thì Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của cõi trời đến để hộ trì cho quí vị. 5. Ma ha tát đỏa bà ha Ma – ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và Thắng: hoàn hảo. Ma – ha với nghĩa là Đại: tức chỉ cho người phát tâm bồ đề rộng lớn. Ma – ha với nghĩa là Đa: tức chỉ cho số lượng. Có rất nhiều người phát tâm bồ đề. Ma – ha với nghĩa là Thắng: tức nói đến những người đã phát tâm bồ đề rộng lớn đều đạt đến chỗ thành tựu viên mãn, được nhiều lợi lạc rất thù thắng. Tát - đỏa nghĩa của chữ Tát - đỏa trong câu chú này không giống như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên, Tát - đỏa có nghĩa là “độ” – vượt qua bờ bên kia. Có nghĩa là giải thoát. Còn trong câu chú này. Tát - đỏa có nghĩa là “Dõng mãnh giả” là người can đảm, không sợ hãi. Cũng có nghĩa là “Tinh tấn giả”, là người tu hành rất siêng năng. Bà - Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ” nghĩa là: “Con xin đê đầu đảnh lễ các vị đại Bồ – tát, là những người rất dõng mãnh, rất tinh tấn, không bao giờ sợ hãi, và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ – tát này.” Các vị đại Bồ – tát đã tự giác ngộ, giải thoát cho chính mình rồi còn phát nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được giác ngộ và giải thoát như mình. 6. Ma ha ca lô ni ca da Ma – ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên đã giảng. Ca – lô Hán dịch là “Bi”. Ni – ca nghĩa là “Tâm”. Hợp lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”. Da có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà - la – ni.” 7. Án Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật. Mẹ của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”. Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày. 1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự. 2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu. 3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì. 4. Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La Mật. 5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì. 6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành. 7. Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy. Tuy nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận. 8. Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt được sự thành tựu. 9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh tịnh. 10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng. Như vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn. 8. Tát bàn ra phạt duệ Tát bàn ra, Hán dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị trì tụng thần chú này, thì Tứ đại thiên vương đều đến làm Hộ pháp cho quí vị. Phạt duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn. Nguyên câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự tại Thánh tôn, tức là Đức Phật tự tại, ý là xưng tán Phật bảo. 9. Số đát na đát tả Chữ Số có hai âm là Shù và Shùo. Người ta thường niệm là “Shù”. Số Đát Na có nghĩa là “pháp” (Dharma). Pháp gì? Pháp này còn gọi là “Diệu thắng pháp”. Cũng gọi là “Cao thượng thắng sinh”. Có nghĩa là không có gì vượt trội hơn pháp này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp này xuất sinh ra năng lực rất thù thắng. Còn một cách dịch khác của chữ Số là “Diệu sinh” hoặc “Thắng thân”. Diệu sinh tức là vượt lên trên mọi sự vi diệu. Thắng thân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù thắng. Còn có một cách dịch khác nữa của chữ Số, là “Tối thượng thừa địa”. Nghĩa là cảnh giới của hành giả sẽ trải qua sau khi chứng được Thập địa của hàng Bồ – tát. Đát Na là biểu tượng của Pháp bảo. Đát Tả là biểu tượng cho Tăng bảo. Cho nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu tượng cho Tam bảo. Có nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện đến sự gia hộ của Tam bảo. Nên khi trì niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là thỉnh cầu, ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam bảo. Đát tả còn có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy các loài quỷ thần và dùng thần chú để triệu tập quỷ thần đến mà dạy bảo chúng theo tinh thần chánh pháp. 10. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da Xưa nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một người nào khác chứ chưa bao giờ Nam mô với chính mình. Người tu hành không cần phải đi Nam mô một khách thể nào khác mà phải Nam mô ngay với chính mình. Nam mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam bảo vô cùng vô tận khắp mười phương. Nam mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập trọn vẹn vào cả pháp giới khắp cả mười phương. Tức là thể nhập vào Tam bảo vô cùng vô tận khắp cả mười phương. Tất kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem hết toàn tâm, toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam bảo. Đỏa y mông có nghĩa là “Ngã”. Đó chính là cái Ngã của Vô Ngã. Nên quí vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã. Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi, quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí vị thấy như thể không có việc gì xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng phép nhẫn nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong trường hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”, vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhân và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”. Đó gọi là Ngã của vô ngã vậy. A lị da ở trên đã giảng qua, có nghĩa là “Thánh giả”. ở đây tức là phải hết lòng đảnh lễ “cái ngã” ấy của Thánh giả. Vô lượng vô biên chư Bồ Tát, hết thảy Thiên Long bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã của bậc Thánh giả. Cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ trụ. Có rất nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Dưới đây, tôi sẽ giảng rõ. 11. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà Bà lô kiết đế dịch là “Quán”. Thất Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm thanh ở trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Bà lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm, cũng chính là Quán Tự Tại. Hai danh hiệu này không nhất định phải là Bồ – tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm, mà nếu khi quí vị đã đạt được tự tại rồi, thì quí vị chính là Bồ – tát Quán Tự Tại. Khi quí vị có được năng lực cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh, thì quí vị chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy, một khi quí vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này rồi thì chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu tôi đạt được tự tại trong việc vận dụng pháp này thì chính tôi cũng là hóa thân của Bồ – tát Quán Thế Âm. Lăng đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho núi Phổ Đà (Potala), nơi Bồ – tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách nói núi Phổ Đà ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa trắng nhỏ” vì nơi núi ấy có loài hoa trắng nở rất nhiều. Trên núi có một cung điện được kiến tạo ở trong hang đá gọi là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ châu báu: vàng, bạc, xà cừ, pha lê, trân châu, ngọc bích, mã não. Nhưng không phải ai cũng đến được nơi cung điện này. Bà lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát có đầy tâm nguyện đại từ bi. Lăng đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan Thế Âm thường thị hiện. 12. Nam mô na ra cẩn trì Trong câu chú này, Nam mô vẫn có nghĩa là “quy y” và “quy mạng kính đầu”. Na ra dịch nghĩa là “Hiền” – bậc hiền giả, chỉ cho hàng Bồ Tát. Cẩn trì dịch là “ái”, có nghĩa là tình thương yêu. Trong ý niệm lòng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên lòng từ bi của bậc Hiền giả (Bồ – tát) thường đem đến sự bao bọc, che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đã giảng về 10 loại tâm được đề cập trong Kinh Đại Bi Tâm Đà - la – ni. Quí vị nên y cứ theo mười loại tâm này mà công phu tu tập. Na ra cẩn trì, Hán dịch là “Hiền ái thiện hộ” có liên quan đến nghĩa thứ nhất, nghĩa là thứ 6 và nghĩa thứ 10 trong 10 loại Tâm: Đó chính là Tâm Đại Bi, Tâm Cung Kính và Tâm Vô Thượng bồ đề. Câu chú này đại biểu cho 3 loại tâm như trên. 13. Hê rị ma ha bàn đa sa mế Hê rị có nghĩa là “Tâm”. Tâm này có ý nghĩa gì trong 10 nghĩa? Nghĩa thứ 4 là vô nhiễm trước tâm. Tâm này giúp cho quí vị duy trì bản tâm thanh tịnh của mình. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh tịnh. Ma ha có nghĩa là “Đại”, cũng có nghĩa là “Trường”. Bàn đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói, chắc chắn quí vị chẳng thể nào biết được. Nên quí vị muốn biết thì trước tiên tôi phải giảng. Lúc đó quí vị mới hiểu được. Quí vị mới nói rằng: “Thì ra ý nghĩa của cân chú ấy là như thế”. Bàn đà sa mế có nghĩa là “đại quang minh” nghĩa là hào quang rực rỡ chiếu khắp. Bàn đà sa mế lại còn được dịch là “Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi. Nguyên câu Hê rị ma ha bàn đa sa mế có nghĩa là “Tâm đại quang minh”. Nghĩa là ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp, mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng, thời gian vô tận; từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy. Quí vị sẽ nói: “à, cái đại quang minh của tâm ấy, tôi đã nghe trong kinh giảng nói rất nhiều rồi, và…” Vâng, nhưng trừ phi quí vị không nghe tôi giảng giải thần Chú Đại Bi thì quí vị không thể nào biết được. Tôi sẽ giảng cho quí vị rõ. Thật là khó gặp được người nào có thể giảng giải về Chú Đại Bi một cách rõ ràng tường tận. Thực vậy, hoàn toàn thực tình mà nói, không mấy người thể nhập được rốt ráo ý nghĩa của thần chú Đại Bi hoặc là chuyển được ý nghĩa của thần chú. Sẽ có người hỏi: “Thế làm sao Sư phụ biết được?” Quí vị khỏi cần phải hỏi tôi. Vì tôi đã không hỏi thì thôi, chứ quí vị đừng nên hỏi tôi tại sao mà tôi biết được. Dĩ nhiên là tôi phải biết. Nếu tôi không biết, tôi không thể nào giảng giải cho quí vị nghe được. Vì thế đừng nên hỏi tại sao tôi lại biết. Thay vì quí vị hỏi tại sao tôi biết, thì quí vị hãy quay trở lại hỏi chính mình. Tại sao mình lại không biết? Nếu quí vị biết được lý do tại sao mình không biết, thì quí vị sẽ rõ được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu quí vị không thể nào rõ được tại sao quí vị không biết, thì quí vị cũng không thể nào rõ được lý do tại sao tôi biết. Đó chính là điều làm nên sự kỳ diệu vậy. Chẳng hạn có người đã hỏi tôi rằng: “Tại sao Thầy làm người xuất gia?” Tôi đã không trả lời câu hỏi đó mà hỏi lại rằng: “Tại sao anh lại không làm người xuất gia? Nếu anh biết được lý do vì sao anh không xuất gia, thì anh sẽ hiểu được vì sao tôi lại xuất gia”. Hỏi về đạo lý trong Phật pháp cũng như vậy. Thay vì quí vị hỏi: “Làm sao mà tôi hiểu được đạo lý ấy?”, thì quí vị hãy tự hỏi lại chính mình tại sao mình không hiểu được. Khi quí vị đã hiểu được tại sao mình không biết thì quí vị sẽ hiểu được tại sao tôi lại biết được đạo lý ấy. Nay quí vị đều là những người có nhiều thiện căn nên được dự pháp hội giảng chú Đại Bi. Vậy quí vị phải nên hộ trì, bảo trọng cho thiện căn của mình. Tự mình phải khéo vận dụng thiện căn ấy để tu học và liễu nhập Phật pháp, đừng để hoài phí một phút giây nào cả. Hiện tại chúng ta đang sống vào thời mạt pháp. Chư Phật và Bồ – tát rất ít thị hiện ở thế gian. Thời gian này, lòng người đang tiến dần đến chỗ hoang liêu, điêu tàn, không dễ gì gặp được chánh pháp, cũng không dễ gì gặp được bậc chân thiện tri thức. Có lần tôi bảo các đệ tử rằng: “ở Đài Loan có mở Đại giới đàn, năm huynh đệ các con nên đến đó cầu thỉnh để được thọ giới pháp”. Các đệ tử gửi thư cho tôi biết nhiều người ở Đài Loan nói với họ rằng: “Chẳng cần phải tu hành gì cũng có thể thành tựu đạo nghiệp”. Các đệ tử của tôi trả lời rằng: “Chúng tôi cũng là những con người như những con người khác, nếu không chịu tu hành thì làm sao có thể tựu thành Phật đạo? Nếu không công phu hành trì thì làm sao liễu ngộ được chánh pháp”. Nếu quí vị nói rằng không cần phải dụng công tu tập mà cũng thành Phật, liễu đạo thì trước đây đức Phật chẳng cần vào núi Tuyết tu suốt sáu năm làm gì, rồi sau đó đến ngồi dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền định suốt 49 ngày, đến khi sao Mai vừa mọc thì Ngài tựu thành chánh giác. Đức Phật còn phải tu hành mới thành tựu chánh giác. Còn mỗi chúng sinh như chúng ta, nếu không tinh tấn tu hành thì làm sao có thể thành Phật được? Ai ai cũng đều biết phải nhờ vào tu hành mới đạt được Phật quả, nhưng người chân thật tu hành thì rất ít; và ai cũng đều biết nếu không chịu tu hành thì đều có thể bị đọa vào địa ngục, nhưng người không chịu tu hành thì không sao kể xiết. Nghiệp lực thế gian thật là không thể nghĩ bàn! Quí Phật tử! Sống trong thời mạt pháp mà có được điều kiện để nghiên cứu Phật pháp thì nên dõng mãnh tinh tấn lên, không nên biếng nhác, hãy siêng năng công phu, tinh cần đạo nghiệp mới mong có ngày thành tựu. Nếu không tinh tấn dõng mãnh mà mong thành tựu đạo nghiệp thì không thể nào có được.Vì thế nên quí vị đừng ngại gian nan, khổ nhọc, chướng duyên, tai ách… mọi thứ nên quên. Phải đánh trống dõng mãnh lên để cho tinh thần phấn chấn, chỉ một hướng thẳng đến công phu mới mong có ngày thành tựu quả vị Phật. Tôi đang nói về sự vi diệu của Phật pháp. Nếu quí vị không phát khởi niềm tin vào trí tuệ siêu việt thì đạo lý này đối với quí vị cũng chẳng có lợi ích gì. Quí vị có thể thâm nhập Phật pháp từ mọi sinh hoạt trong cuộc sống, từ mỗi bước chân lặng lẽ của thời gian trong toàn thể pháp giới… Trong Phật pháp, điều gì quí vị cũng muốn diễn bày cho rõ ràng minh bạch thì thường bị đánh mất những nghĩa lý sâu mầu vi diệu. Nay tôi dù có trình bày hết về diệu lý của Phật pháp, nhưng nếu quí vị không tin sâu và không hành trì thì điều tôi giảng không còn là diệu pháp nữa. Hơn nữa sự hành trì cần phải thường xuyên vào mọi lúc, mọi nơi với tinh thần tinh tấn, không lui sụt, không biếng nhác. Đây là điều khẩn thiết nhất. Nếu quí vị mọi thời, mọi lúc đều hướng về phía trước mà nỗ lực công phu thì nhất định một ngày kia sẽ trực nhận ra “mặt mày xưa cũ” của chính mình. Bàn đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay “trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua “quán tâm không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả mới có được quang minh. Có được quang minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp giới được. Tức là không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn vô minh. Sao gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị không có được “đại quang minh”. Nếu quí vị có được “đại quang minh” thì tâm quí vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hóa sạch rồi, thì pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị. Thuở xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa có Thiền sư Chí Công là một bậc Đại đức cao tăng. Không sử sách nào ghi lại song thân của Thiền sư là ai. Người ta thường kể với nhau rằng: Một hôm nọ, có người phụ nữ nghe tiếng khóc của một hài nhi trên cành cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một hài nhi nằm trong tổ chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài nhi này hoàn toàn giống như người nhưng những móng tay, móng chân giống như móng chim ưng. Khi trưởng thành, xuất gia tu đạo, chứng được ngũ nhãn lục thông. Không biết cha mẹ Ngài là ai, chỉ biết Ngài sinh trong tổ chim ưng nên mọi người đều phỏng đoán Ngài được sinh ra từ trứng chim ưng vậy. Thời ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính trọng và tin phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp những sự kịên gì trong đời sống, như sinh con, cha mẹ qua đời, cưới hỏi… họ đều cung thỉnh các Thiền sư đến để tụng kinh chú nguyện. Một hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền nói: “Thật cổ quái, thật cổ quái!” “Cháu cưới bà nội” “Thật cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường. Trong nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó được!” Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng: - Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó. Diêm vương đáp: - Được rồi, bà hay trở lại dương gian chăm sóc cho nó Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không? Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao? Quí vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công biết được điều ấy?” Thiền sư biết được là vì Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, là Ngài liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu vốn là bà nội của chú rể. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người, và làm vợ của đứa cháu nội mình. Một niệm lành còn như thế huống gì là niệm ác, hoặc khởi trùng trùng niệm ác thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt, biết bao giờ mới mong ra khỏi. Thiền sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới, có một bé gái đang ăn thịt, Ngài nói: “Con gái ăn thịt mẹ”. Vì miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn là mẹ của em bé đầu thai lại. Kiếp trước bà ta đã tạo nghiệp ác quá lớn nên đã phải đọa làm dê. Nay lại bị chính con mình ăn thịt. Vòng oán nghiệp khởi dậy do vô minh của chúng sinh không lời nào kể hết được. Chư Bồ Tát thương xót, phát tâm cứu độ chúng sinh là do điểm này. Khi Thiền sư nhìn các nhạc công, thấy có vị đang đánh trống. Ngài nói: “Con trai đang đánh bố”. Vì cái trống ấy bịt bằng da lừa. Con lừa này chính là cha của anh nhạc công đầu thai vào. Con lừa này bị giết thịt, lấy da làm mặt trống. Thật là đau thương cho kiếp luân hồi. Ngài nhình quanh đám cưới, nói tiếp: “Heo dê ngồi ở trên” Ngài thấy có vô số loài heo, cừu, dê, gà được đầu thai trở lại làm người, nay họ đều là bà con thân quyến của nhau nên cũng đến dự đám cưới này. Nhìn trong bếp, Ngài nói: “Lục thân bị nấu trong nồi”. Chính là cha mẹ, anh em, bà con, bè bạn do kiếp trước đã sát sinh heo, gà quá nhiều để ăn, nay lại bị đọa làm heo, dê, gà trở lại; rồi bị giết thịt, bỏ vào nồi chiên nấu trở lại. Ngài nói tiếp: “Mọi người đều vui vẻ chúc mừng nhau” Mọi người đến dự đám cưới đều rất vui vẻ mà chúc tụng nhau. Ngài tự than với mình rằng: “Trông thấy cảnh ấy mà lòng đau xót, ta biết đó chính là những oán nghiệp xoay vần vay trả, tạo nên nỗi khổ chất chồng”. Thiền sư Chí Công biết rõ nhân quả khi nhìn vào gia đình này. Làm sao chúng ta có thể hiểu được hết chuỗi nhân quả của từng gia đình với trùng trùng khác biệt nhau ra sao. Cho nên những người tu đạo phải rất cẩn trọng trong khi tu nhân, vì khi nhân duyên chín mùi sẽ gặt lấy quả tương ứng với nhân đã gieo. Tại sao người lại trở lại làm người? Là để trả nợ, trả những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu quí vị không tìm cách trả món nợ này thì nợ nần vẫn tiếp tục, như món nợ đã vay của ngân hàng vậy. Tôi nhớ một câu chuyện này nữa. Có một gia đình nuôi một con lừa, dùng nó để kéo cối xay và chuyên chở. Người chủ thấy lừa quá chậm chạp nên thường dùng roi đánh nó để thúc giục. Con lừa làm việc miệt mài trong cực nhọc cho đến khi chết. Nó được đầu thai làm người. Khi người chủ hay đánh đập lừa chết, lại đầu thai làm một người phụ nữ. Khi cả hai người này đến tuổi thành hôn thì họ cưới nhau. Quí vị có biết cặp vợ chồng này sống với nhau như thế nào không? Suốt ngày người chồng đánh đập người vợ. Ông đánh vợ bất kỳ lúc nào, bất luận đang cầm vật gì trên tay, cả lúc đang ăn cơm cũng đánh vợ bằng đũa. Ông ta vừa đánh vừa chửi, cho dù người vợ chẳng làm điều gì sai trái. Một hôm Thiền sư Chí Công đi qua nhà họ. Người phụ nữ bèn thưa với Ngài: - Chồng con ngày nào cũng đánh và chửi con qúa chừng mà con không biết tại sao. Bạch Ngài, xin Ngài hãy dùng ngũ nhãn, lục thông bảo cho con biết mối tương quan nhân quả của chúng con đời trước ra sao mà đời này chồng con đánh đập và chửi mắng con hoài vậy? Thiền sư Chí Công đáp: - Tôi sẽ nói rõ tương quan nhân quả của hai người cho mà nghe. Trong đời trước, bà là một người đàn ông. Ngày nào bà cũng đánh đập chửi mắng con lừa, thúc giục nó phải kéo cối xay bột. Ông chủ ấy thường đánh con lừa bằng cái chổi tre. Nay ông chủ được đầu thai lại làm người phụ nữ, đó chính là bà. Còn con lừa thì được đầu thai làm người chồng. Nay ông ta thường hay đánh đập chửi mắng bà cũng như kiếp trước bà đã thường đánh chửi ông tức là con lừa vậy. Nay bà đã hiểu rõ nhân quả tương quan với nhau rồi, tôi sẽ bày cho một cách để chấm dứt vòng oán nghiệp này. Bà hãy cất giấu tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại trừ cái chổi đuôi ngựa (chổi dây). Khi người chồng thấy chẳng còn vật gì dùng để đánh cô, anh ta sẽ cầm chổi dây này để đánh. Cứ để cho anh ta đánh vài trăm roi, thì nợ cũ của bà mới được trả. Lúc đó, bà mới báo cho anh ta biết nhân đời trước và quả đời sau báo ứng với nhau rất rõ ràng như tôi vừa giải thích cho bà. Anh ta sẽ không còn đánh bà nữa. Người phụ nữ làm đúng như lời Thiền sư Chí Công chỉ dạy. Khi người chồng về đến nhà, ông ta liền kiếm vật gì đó để đánh vợ. Chỉ còn thấy chiếc chổi đuôi ngựa, ông ta cầm lấy và đánh. Thông thường như mọi khi, cô ta tìm cách chạy trốn. Nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó chịu đòn cho đến khi ông chồng ngừng tay. Thấy lạ, ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy. Cô ta kể lại việc được Thiền sư Chí Công giải thích cặn kẽ tương quan nhân quả của hai người. Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ: “Như thế thì từ nay ta không nên đánh chửi cô ta nữa. Nếu còn đánh, thì kiếp sau cô ta sẽ đầu thai trở lại rồi tìm ta để đánh chửi”. Từ đó ông chồng không còn đánh mắng người vợ nữa. Thế nên quí vị phải biết mọi người đều có sự quan hệ với nhau tương ứng với nhân đã tạo. Quí vị chẳng thể nào biết được trong đời trước, ai đã từng là mẹ, là anh, là cha hay là chị em của mình. Cái nhân đã tạo ở đời trước sẽ tạo thành quả đời này và nhất định có liên quan đến bà con quyến thuộc của mình. Nếu quí vị hiểu được đạo lý nhân quả, thì quí vị có thể chuyển hóa, biến cải được nhân bằng cách từ bỏ những việc ác. Còn một chuyện nữa về Thiền sư Chí Công. Một ngày Ngài ăn hai con chim bồ câu. Ngài rất thích món ăn này. Người đầu bếp nghĩ rằng món thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày nọ anh ta quyết định nếm thử. Anh ta làm việc này với hai ý nghĩ: một mặt là muốn thử xem thức ăn hôm nay mình làm có ngon hay không? một mặt khác anh ta nghĩ rằng Ngài Chí Công ngày nào cũng thích ăn bồ câu, nhất định đây là một món ăn rất ngon, nên muốn thưởng thức một chút rồi mới đem đến cho Thiền sư dùng. Khi người đầu bếp mang thức ăn đến. Ngài nhìn đĩa thức ăn và hỏi: - Hôm nay có ai nếm trộm thức ăn này? Có phải chính anh không? Người đầu bếp liền chối. Thiền sư liền bảo: - Anh còn chối. Tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là người nếm trộm. Hãy nhìn đây! Ngài liền ngồi ăn. Ăn hết hai con bồ câu rồi, Ngài liền há miệng rộng, trong đó, một con bồ câu liền vẫy cánh bay ra còn con kia thì bị mất một cánh, không thể bay lên được. Thiền sư mới bảo: - Anh thấy đó, nếu anh không nếm trộm thì tại sao con bồ câu này không thể bay được? Chính là vì ông đã ăn hết một cánh của nó. Chuyện này làm cho anh đầu bếp biết Thiền sư Chí Công không phải là người thường. Ngài chính là hóa thân của Bồ – tát. Thế nên Ngài có năng lực biến những con bồ câu bị nấu thành thức ăn rồi thành bồ câu sống. Không phải là Bồ – tát, không làm chuyện này được. Thiền sư Chí Công còn thường ăn một loại cá gọi là Tuệ Ngư. Cũng đem cá ra nấu nướng rồi Ngài ăn từ đuôi lên đầu. Nhưng sau đó Ngài lại há miệng ra làm cá sống lại. Vì vậy, những việc này là rất thường đối với cảnh giới của hàng Bồ – tát. Thiền sư Chí Công là một vị Bồ – tát, nhưng không bao giờ Ngài nói: “Các ngươi biết không, ta là một vị Bồ – tát, ta đang giáo hóa chúng sanh, ta có đại nguyện này, hạnh nguyện kia…” Các vị không bao giờ mong khởi ý niệm ấy. Cho nên chúng ta là hàng phàm phu, dù có thấy Chư Phật hay Bồ – tát cũng không thể nào nhận biết được. Việc làm của Bồ – tát cũng gần như hành xử của người thường, nhưng thực chất lại không giống nhau. Là vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình, không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác. Còn Bồ – tát thì chỉ nghĩ đến lợi ích của người khác mà không nghĩ đến mình. Khác nhau là ở điểm này. Bồ – tát thì tự làm lợi ích cho mình còn lo làm lợi ích cho người khác. Tự giác ngộ mình xong rồi giúp cho người khác giác ngộ. Tự độ hoàn toàn, lợi tha hoàn toàn. ý nghĩa của chú Đại Bi mà tôi đang giảng cũng nằm trong đạo lý này vậy. 14. Tát bà a tha đậu du bằng Câu chú này chia làm ba phần. Khi trì tụng lên, câu chú có ba nghĩa khác nhau: Tát bà có nghĩa là “tất cả”. Còn có nghĩa là “bình đẳng”. Nên Tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là “bình đẳng tâm”. A tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp. Còn dịch nghĩa là “như ý bất diệt”. “Như ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tựu. “Bất diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất. Trong mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú lạc vô bần” và “như ý bất diệt”. Du bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự lo phiền, ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy. Nên với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm. 15. A thệ dựng A thệ dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô tỷ pháp”. Không có pháp nào có thể so sánh được với pháp này. Còn có nghĩa là “vô tỷ giáo” nghĩa là không có đạo giáo nào có thể so sánh được. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy, được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám, gọi là “vô tạp loạn tâm”. Đây chính là pháp thanh tịnh, không chút cấu nhiễm, chính là pháp bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ – tát. Mười loại tâm này là tướng của Đà - la – ni, chúng ta phải đem những đạo lý này hành trì không xao nhãng và gián đoạn. Chúng ta tu tập theo tinh thần của kinh Đại bi tâm Đà la ni thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp, đắc thành chánh quả. 16. Tát bà tátđá, na ma bà tát đa, na ma bà già Tát bà tát đá là tiếng Phạn, dịch là “Đại thân tâm Bồ – tát”. Na ma bà tát đa. Hán dịch là “đồng trinh khai sĩ”, là tên gọi khác của pháp vương tử, cũng là hàng Bồ – tát. “Đồng trinh” biểu tượng cho bản tánh. Còn “khai sĩ” cũng là một danh hiệu khác của Bồ –tát, có nơi gọi là “đại sĩ”. Các vị Bồ – tát lúc sắp thành tựu Phật quả, đều được gọi là pháp vương tử, tên gọi của hàng Thập địa Bồ – tát. Na ma bà già. Hán dịch là “Vô đẳng đẳng”. Giống như ý nghĩa trong Bát nhã tâm kinh “Cố tri Bát – nhã ba – la – mật - đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô lượng chú, vô đẳng đẳng chú”. Quí vị có thể hỏi: “Cái gì không thể sánh bằng?” “Đó là bà già, Hán dịch là Thế tôn”. Bà già là chư Phật thường trụ ở khắp trong mười phương. 17. Ma phạt đạt đậu Ma phạt đạt đậu dịch nghĩa là “Thiên thân, thế hữu”. Câu chú này có nghĩa là: “Kính lạy chư Bồ – tát, xin hãy duỗi lòng từ cứu giúp con. Xin các Ngài hãy là thân quyến ở cõi trời của chúng con và là người bạn ở cõi thế gian này của chúng con, để hộ trì cho mọi thiện pháp được thành tựu”. Câu chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật và chư Bồ – tát. 18. Đát điệt tha - án Trong Bát nhã tâm kinh có nói: “Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết...” Đát điệt tha Hán dịch là “tức thuyết chú viết”. Còn dịch là “Sở vị”. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Tâm đại bi mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các chủng tự của Phạm Thiên. Đát điệt tha còn có nghĩa là “thủ ấn” nghĩa là kết ấn bằng tay. Cũng gọi là “trí nhân” nghĩa là khai mở con mắt trí tuệ của chúng sinh. Đát điệt tha lại còn có nghĩa là vô lượng pháp môn tu học và trí huệ nhãn vô lượng. Đó là ý nghĩa của “Sở vị”. Chữ án như đã nói ở trước, khi quí vị trì niệm trì niệm đến chữ án thì quỷ thần đều phải chắp tay cung kính, lắng nghe người niệm chỉ giáo. Chữ án còn có công năng lưu xuất nhiều pháp môn sau đây. 19. A bà lô hê A bà lô hê chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là “quán sát”. Dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh oqr thế gian. Trong thế gian có nhiều loại âm thanh. Bồ – tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh, tiếng kêu than cầu xin cứu khổ của người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nổi những khổ nạn. 20. Lô ca đế Lô ca đế nghĩa là “Tự tại” hoặc là “Thế Tôn”. Hợp lại hai câu trên A bà lô hê lô ca đế nghĩa là Bồ – tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian. Chính là danh hiệu của Bồ – tát Quán Thế Âm. (còn tiếp) -
Giảng Giải Chú Đại BiXEM KINH VỚI LÒNG THÀNH Kẻ hậu học khi xem kinh, nên có tâm thái như sau: ba nghiệp tâm, khẩu, ý phải được thanh tịnh. Ba nghiệp trên được lắng trong thì phước huệ tròn đầy. 1. Nên thẳng mình ngồi ngay như ngồi trước đức Phật. Đó là thân nghiệp được thanh tịnh. 2. Miệng không nói lời sai trái, không cười đùa. Đó là khẩu nghiệp được thanh tịnh. 3. ý không tán loạn, dứt sạch tâm phan duyên. Đó là thanh tịnh ý nghiệp. Khi tâm an tịnh thì ngoại cảnh lắng trong, đó là khế ngộ nguồn tâm, diệu nhập pháp lý. Khi nước lắng trong thì vẻ sáng của ngọc tự chiếu soi, mây tan trăng tự hiển bày, đại nguyện thành tựu cũng như nhập vào biển diệu nghĩa. Thấu đạt ý kinh cũng chính là đến được đỉnh núi cao trí tuệ. Nếu hành giả muốn dễ thành tựu, phải gieo trồng Đại nguyện. Khi tâm, pháp đều quên, thì mình cùng pháp giới chúng sinh đều chung lợi lạc. Có được như thế mới mong báo đáp ân sâu của Chư Phật. CHÚ ĐẠI BI (Phần kinh văn ) 1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da 2. Nam mô a rị da 3. Bà lô yết đế thước bát ra da 4. Bồ đề tát đỏa bà da 5. Ma ha tát đỏa bà da 6. Ma ha ca lô ni ca da 7. Án 8. Tát bàn ra phạt duệ 9. Số đát na đát tả 10. Nam mô tất kiến lật đỏa y mông a lị da 11. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà 12. Nam mô na ra cẩn trì 13. Hê rị ma ha bàn đà sa mế 14. Tát bà a tha đậu du bằng 15. A thệ dựng 16. Tát bà tát đá, na ma bà tát đa (*) na ma bà già (*) Các bản hiện đang lưu hành, được trì tụng rộng rãi ở Việt Nam thiếu năm chữ này. 17. Ma phạt thị đậu 18. Đát điệt tha, án 19. A bà lô hê 20. Lô ca đế 21. Ca ra đế 22. Di hê rị 23. Ma ha bồ đế tát đỏa 24. Tát bà tát bà 25. Ma ra ma ra 26. Ha hê ma hê, rị đà dựng 27. Cu lô cu lô yết mông 28. Độ lô độ lô phạt già ra đế 29. Ma ha phạt già ra đế 30. Đà la đà la 31. Địa lỵ ni 32. Thất phật ra da 33. Giá ra giá ra 34. Ma ma phạt ma ma 35. Mục đế lệ 36. Y hê di hê 37. Thất na thất na 38. A ra sam phật ra xá lợi 39. Phạt sa phạt sam 40. Phật ra xá da 41. Hô lô hô lô ma ra 42. Hô lô hô lô hê rị 43. Ta ra ta ra 44. Tất lỵ tất lỵ 45. Tô rô tô rô 46. Bồ đề dạ - bồ đề dạ 47. Bồ đà dạ - bồ đà dạ 48. Di đế rị dạ 49. Na ra cẩn tri 50. Địa lỵ sắt ni na 51. Ba dạ ma na 52. Ta bà ha 53. Tất đà da 54. Ta bà ha 55. Ma ha tất đà dạ 56. Ta bà ha 57. Tất đà du nghệ 58. Thất bàn ra dạ 59. Ta bà ha 60. Na ra cẩn trì 61. Ta bà ha 62. Ma ra na ra 63. Ta bà ha 64. Tất ra tăng a mục khư da 65. Ta bà ha 66. Ta bà ma ha a tất đà dạ 67. Ta bà ha 68. Giả cát ra a tất đà dạ 69. Ta bà ha 70. Ba đà ma yết tất đà dạ 71. Ta bà ha 72. Na ra cẩn trì bàn đà ra da 73. Ta bà ha 74. Ma bà lợi thắng yết ra dạ 75. Ta bà ha 76. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da 77. Nam mô a lị da 78. Bà lô kiết đế 79. Thước bàn ra dạ 80. Ta bà ha 81. Án tất điện đô 82. Mạn đà ra 83. Bạt đà dạ 84. Ta bà ha KỆ TỤNG CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH TUYÊN HÓA Thủ nhãn thông thiên đại tổng trì Chấn động tam thiên thế giới thì Hữu duyên vô duyên hàm nhiếp hóa Từ bi phổ độ Diêm phù đề http://tinhdo.net/luangiaikinhsach/47-gian...bi.html?start=1
-
Một mình cố thủ nghề tranh dân gian Hàng Trống - Học nghề vẽ tranh Hàng Trống gia truyền từ 9, 10 tuổi, hiện nay nghệ nhân Lê Đình Nghiên là người duy nhất vẫn còn kiên trì theo nghề.Tranh Hàng Trống xưa chủ yếu do những người thợ sống ở phố Hàng Trống và Hàng Nón (Hà Nội) vẽ, tranh được chia làm 2 loại, tranh dùng để thờ cúng và tranh treo ngày Tết. Tranh dân gian Hàng Trống xuất hiện từ lâu ở nước ta nhưng nó thực sự phát triển rực rỡ vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đến cuối thế kỷ 20 thì nghề này mai một dần. Đặc biệt từ sau chiến tranh chống Mỹ hầu như các nhà làm tranh đều bỏ nghề do thị hiếu người dân thay đổi, tranh không bán được. Ông Nghiên cho biết, không giống như tranh dân gian Đông Hồ hoàn toàn được in bằng ván khắc, tranh dân gian Hàng Trống chỉ in những nét cơ bản bằng ván khắc còn công đoạn tô màu hoàn toàn bằng tay, thậm chí có nhiều bức tranh ông vẽ hoàn toàn bằng tay. Hiện ông Nghiên còn giữ được hơn 300 mẫu tranh khắc Hàng Trống, trong đó rất nhiều bản khắc cổ 2 mặt được làm từ gỗ cây Thị hàng trăm năm tuổi. Có nhiều bản khắc cổ không còn, ông Nghiên phải thuê thợ khắc giỏi phục chế lại bằng gỗ cây Lồng vực, vì gỗ bản to không kiếm được nên bản khắc mới thường chỉ có kích thước nhỏ. Ông Nghiên giải thích, nếu ghép, bản khắc dễ cong vênh không sử dụng được. Mực in xưa được chế từ cây lá thiên nhiên không tốt bằng mực tàu hiện nay ông Nghiên thường dùng . Sau khi bôi mực tàu, một tờ giấy dó được đặt lên rồi dùng loại bàn chải đặc biệt chà đều, hình ảnh sẽ hiện dần lên càng sắc nét, càng đẹp. Sau khi tranh in được phơi khô, đến công đoạn bồi giấy, giấy bồi cũng là giấy dó. Tùy theo từng bức tranh cụ thể, có thể bồi 1 lớp, 2 hay 3 lớp. Bồi giấy là công đoạn cực kỳ quan trọng, bức tranh đẹp hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này. Để bức tranh được bồi phẳng phiu không nhăn nhúm ông Nghiên phải tính toán rất khéo léo từ khâu quấy hồ, bồi và thậm chí phải tính cả độ ẩm không khí để xử lý. Công đoạn phơi cũng đòi hỏi rất cẩn thận vì lúc này tranh dễ rách, dễ nhăn. Tranh in phải thật khô mới đến công đoạn tô màu. Ông Nghiên cho biết, màu dùng để tô xưa các cụ dùng phẩm tự nhiên, nay ông thường dùng bột màu ngoại nên màu sắc cũng rực rỡ hơn. Không giống bút lông dùng để vẽ tranh hiện đại, bút lông vẽ tranh Hàng Trống khi tô nét phải nửa màu, nửa nước và cũng do người vẽ tự chế. Tranh dân gian Đông Hồ không vượt quá kích thước 50 cm mỗi chiều, còn tranh Hàng Trống lại không giới hạn kích thước vì có thể vẽ hoàn toàn bằng tay. Không sản xuất hàng loạt nhiều như tranh Đông Hồ vì có những bức tranh Hàng Trống phải mất 5 đến 7 ngày mới hoàn thành . Tranh thờ Hàng Trống không chỉ treo trên bàn thờ gia đình mà còn thường hay treo ở các đền, phủ. Tranh chơi Tết màu sắc rực rỡ, cầu kỳ, đắt tiền hơn tranh Đông Hồ, kích thước lại có thể làm lớn nên phù hợp với những gia chủ nhà cao cửa rộng chốn thị thành xưa. Hiện nay, con trai ông Nghiên, anh Lê Hoàn là người con duy nhất trong gia đình theo nghề gia truyền của dòng họ. Anh Lê nguồn vietnamnet.vn
-
- 2
-
-
Cách dùng hoa ngọc lan chữa bệnh Ảnh: V.Q.T Loài hoa ngọc lan không chỉ cho hương thơm dịu nhẹ mà còn dùng để chữa được nhiều loại bệnh khác nhau. Nhiều bạn đọc gửi thư về Báo Thanh Niên hỏi về việc có thể dùng hoa ngọc lan để pha trà uống được không; có tác dụng cụ thể gì không… Chúng tôi xin cung cấp giúp bạn đọc những thông tin về loài hoa này: Theo y học cổ truyền, hoa ngọc lan có tính ôn, vị hơi cay, có công năng tiêu đờm, ích phế hòa khí. Có thể dùng pha trà để uống, với nhiều cách khác nhau, cho nhiều công dụng khác nhau như dưới đây: Giúp da thêm trắng Nguyên liệu gồm: hoa ngọc lan 10g, trà xanh 8g Cách chế: Bóc từng cành hoa ngọc lan, rửa sạch hoa bằng nước muối, để ráo nước, cho vào trong chén. Rót nước đang sôi vào chén, sau đó cho trà xanh vào, đợi có mùi hương bay ra là có thể uống. Có tác dụng tăng cường chuyển hóa cơ bản, giúp da thêm trắng. Thanh nhiệt, giải khát Nguyên liệu gồm: hoa ngọc lan 20g, đậu xanh 150g, đường phèn 50g. Cách chế: Đậu xanh rửa sạch, cho cùng 4 chén nước, nấu đến sôi thì chuyển sang đun nhỏ lửa. Bóc từng cánh hoa ngọc lan rửa sạch, để ráo. Khi ninh đậu xanh được 30 phút, đậu nhừ, cho thêm đường phèn trộn đều, tắt lửa, rắc hoa ngọc lan vào. Tác dụng, thanh nhiệt tiêu thử, giải khát. Chữa ho Dùng hoa ngọc lan 20g, đem tẩm mật ong trong 3 ngày rồi sắc (nấu) uống như trà. Có tác dụng dưỡng phế nhuận yết hầu, điều lý trường vị, chữa trị ho do không khí không tốt, đầu váng, mắt hoa… Chữa đau bụng kinh Nguyên liệu: Dùng hoa ngọc lan 12g (hoa chưa nở hết) đem sắc uống thay trà, vào lúc sáng sớm; cứ 30 ngày là một liệu trình, có thể cải thiện đau bụng kinh ở nữ. Ngoài ra, hoa ngọc lan còn có những công dụng như: chống quá mẫn, chống viêm; tác dụng hạ huyết áp; tác dụng hưng phấn tử cung; chống ngưng máu, vón huyết tiểu cầu; kháng vi-rút… Vũ Quốc Trung nguồn thanhnien.online
-
- 1
-
-
Chuyến Du Lịch đến Hạ Long Dịp 30/4 Của Rin86
wildlavender replied to Rin86's topic in Tâm Sự - Giao Lưu
:P -
Xin Phép Bqt Xóa Giúp Topic Của Cháu
wildlavender replied to NguyenHoang2010's topic in Thắc Mắc - Thông Báo Lỗi
Theo Wild thì đổi chủ đề là được rồi! Vì câu chuyện liền mạch không thể cắt cut vậy được đâu bạn ạ! -
Hòn trống mái ở Vịnh hạ long và Hòn chồng ở Nha Trang! và vì vậy Wild nghĩ trên đất nước nào đó có như nước ta.
-
Xin Phép Bqt Xóa Giúp Topic Của Cháu
wildlavender replied to NguyenHoang2010's topic in Thắc Mắc - Thông Báo Lỗi
Để giải quyết lý do bạn nêu do tra google, Wild có thể giúp bạn đề nghị sửa Chủ đề? -
Hiện tượng ma nhập trong mắt nhà khoa học 04-05-2010 16:26Hình minh họa (internet) Nhà có hai chị em gái. Do xinh xắn và học giỏi nên cô em được cưng chiều hơn, khiến cô chị xem mình bị bỏ rơi. Một ngày, cô chị bị hồn ma thanh niên "nhập" vào người. Cô ngồi vắt chân chữ ngũ, thở khói thuốc thành vòng, và bằng giọng đàn ông mắng cô em và lũ trẻ hàng xóm, những kẻ vẫn thường bắt nạt cô. Rồi gia đình tổ chức cúng lễ "trừ tà". Khi trở lại bình thường, vị thế của cô trong gia đình được cải thiện rõ rệt. Mọi nền văn hóa đều có nhu cầu giải thích những hành vi và cảm xúc lạ thường như trên, khi cho rằng chúng là hệ quả của "ma nhập". Người bị ma nhập cảm thấy dường như có một "thực thể vô hình" nào đó xâm chiếm thể xác và tâm hồn, điều khiển mọi hành động và lời nói, và họ thì không có cách nào cưỡng lại được. Ma nhập là niềm tin xuất hiện từ quan niệm vạn vật hữu linh có từ thời xa xưa, khi cho rằng mọi thực thể trong vũ trụ, dù là con người, động thực vật hay ngọn núi, con sông - đều có linh hồn điều khiển hành vi. Và một linh hồn mạnh mẽ hơn sẽ có khả năng "nhập" và điều khiển một linh hồn yếu ớt. Một số nhà dân tộc học cho rằng, vạn vật hữu linh và quan niệm ma nhập có vai trò gắn kết các cá nhân trong một nhóm xã hội, khi sự chia sẻ niềm tin siêu hình đóng vai trò chất keo kết nối, đồng thời tạo ra mối lo sợ có lợi cho đạo đức xã hội. Ở mức cá thể, giới tâm lý học xem ma nhập là ví dụ điển hình của trạng thái ý thức phân ly. Nó có thể xuất hiện do sự kết hợp giữa các cảm xúc mạnh, điều kiện xã hội, ý muốn cá nhân, sự ức chế kéo dài và những hoạt động bất lợi của não dưới ảnh hưởng của một kích thích lặp kéo dài. Và một thay đổi đột ngột, dường như ma quái xuất hiện ở cảm giác, trí nhớ, cảm xúc, động cơ, cũng như ở hành vi tự điều khiển và cách cảm nhận thế giới bên ngoài. Các nhà tâm thần có xu hướng xem ma nhập là hệ quả của những ức chế thể chất và tinh thần quá mức và kéo dài. Nó tạo ra một cách thức chấp nhận được về mặt xã hội để xả bớt những ẩn ức tâm lý bên trong. Ở mức vô thức, người "bị nhập" được thôi thúc vì mong muốn được làm giảm nhẹ những bức xúc cá nhân. Tùy theo "khẩu vị văn hóa" đang thắng thế, hiện tượng "nhập" có thể được chấp nhận hay bị cấm đoán. "Quỷ nhập" thường được xem là nguyên nhân của vận xấu, bệnh tật hay bất hạnh. Ngược lại, khi được thiên thần chiếu cố, một người bình thường có thể trở thành nghệ sĩ có tài, có khi tự nhiên vẽ tranh rất đẹp hay làm thơ rất hay. "Ma nhập" như một sự phân ly Phần lớn các nhà khoa học xem phân ly nhân cách là lời giải thích tốt nhất cho hàng loạt hiện tượng "nhập", theo đó phân ly là phá vỡ sự đồng bộ của các hoạt động tinh thần có tính tích hợp cao. Trong trạng thái thông thường, ký ức, tri giác, tư duy, cảm xúc cùng các hoạt động tinh thần và thể chất khác tạo thành một mạng lưới thống nhất giúp ta nhận rõ bản thân và thế giới. Song, một cú sốc thể chất hay tâm lý có thể khiến các tiểu hệ thống phân ly khỏi mạng lưới chung, khiến bản chất tích hợp của hệ ý thức bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả là hoạt động sinh lý và nhận thức trở nên bất thường. Cùng với cảm giác bị điều khiển từ bên ngoài, còn thấy những biểu hiện ký ức phân ly, khiến mọi người có xu hướng xem họ đúng là bị "ma nhập". Một số nhà nghiên cứu cho rằng, sự mất trí nhớ là phản ứng bảo vệ đối với chấn thương, khi thường thấy mất các ký ức đau khổ (như bị lạm dụng đòn roi lúc còn bé), vốn rất khó tiếp nhận ở mức ý thức. Nhiều nhà điều trị dùng rối loạn đa nhân cách, với nhiều biểu hiện bên ngoài giống "ma nhập" để giải thích hiện tượng. "Ma nhập" và bệnh tâm thần Từ thời La Mã, động kinh đã được gọi là "bệnh quỷ", khi người bệnh được xem là "nhập hồn". Niềm tin cổ xưa về mối liên hệ với hồn quỷ nhập là căn nguyên của thuật ngữ động kinh. Trong tiếng Hy Lạp, động kinh có nghĩa là "chiếm đoạt và bắt đi". Một số hình thái động kinh rất thích hợp để mô tả hiện tượng "ma nhập". Tâm thần phân liệt cũng có biểu hiện của trạng thái này. Cho dù cảm giác và hành vi của nạn nhân giống như bị "nhập", những tiến bộ mới trong việc nghiên cứu cấu trúc và hoạt động của bộ não đã đưa ra quan điểm khác với niềm tin tôn giáo và huyền bí truyền thống. Theo đó, bản thể là một tập hợp thống nhất các tiểu hệ thống bán tự động đa dạng. Dưới tác động tâm lý và thần kinh nào đó, các tiểu hệ thống có thể mất tính đồng bộ và bắt đầu hành động độc lập, thậm chí trái ngược nhau. Kết quả là nạn nhân thấy bản thân như một thế lực vô hình và mạnh mẽ nào đó xâm chiếm và điều khiển mọi hành vi. Riêng với cô bé ở đầu bài viết, vấn đề còn đơn giản và rõ ràng hơn nhiều. Cô đã tự nguyện bị "ma nhập" để tìm cách thoát ly và cải thiện cái thực tế không được tốt đẹp cho lắm theo quan điểm của cô. Và dường như cô đã thành công ở một mức độ nào đó. Đỗ Kiên Cường Theo Nguoiviet
-
Uh ! Cám ơn HGL! Sao Chị không nghĩ ra nhỉ? Nếu có thật từ thiên nhiên cũng thú vị dưới tuyệt tác của tạo hóa và thời gian.
-
Wild vừa nhận được những bức ảnh này với câu hỏi, những tác phẩm kỳ thú này có tại đất nước nào?
-
Muốn Nhờ Bác Haithienha Xem Giúp Tử Vi, Có Cách Nào Không ạ
wildlavender replied to linh1984's topic in Tử Vi
Nhờ Bác HTH giải 1 lá số không khó nhưng đắt lắm bạn ah! tuy rằng không lấy tiền nhưng để đến nhà bác chúng ta phải tốn chi phí khá lớn mà chẳng biết có xin được visa với lý do này không? -
Những “tuyệt chiêu” nhỏ bài độc trong cuộc sống (Dân trí) - Thường xuyên dùng thức ăn nhanh, đóng gói tiện gọn nhiều chất béo, chất đường, giàu năng lượng, trong thời gian dài, tất cả những điều này sẽ làm cho cơ thể sản sinh nhiều độc tố, ảnh hưởng đến sức khỏe. Một vài sự trợ giúp cơ thể bài độc liệt kê dưới đây sẽ là những “tuyệt chiêu” nhỏ: Bài độc sáng sớm Mỗi sáng thức dậy lập tức đi đại tiện, bài ra những “độc tố” tích lũy cả một đêm qua. Các chất bẩn, chất bã trong ruột cần không ngừng làm sạch kịp thời, bài ra ngoài cơ thể thì mới không “giữ độc”, đảm bảo các chức năng sinh lý bình thường của cơ thể. Trong lý thuyết lão hóa của nghiên cứu y học hiện đại, có một học thuyết ngộ độc bản thân cho rằng: “Lão hóa là do trong quá trình chuyển hóa các chất của bản thân cơ thể không ngừng sản sinh ra những độc tố, dần dần tạo cho cơ thể xảy ra ngộ độc mạn tính”. Đại tiện không thông thoáng (hay táo bón) rất dễ làm cho bản thân cơ thể phát sinh ngộ độc, dẫn đến lão hóa. Nói “tạm biệt” với rượu Cho dù uống rượu vừa phải vẫn có thể tăng tỷ lệ mắc ung thư vú, những bạn gái hàng tuần hấp thu hơn 4 cốc thức uống có cồn, thì tỷ lệ mắc ung thư vú sẽ tăng 7% với từng cốc uống. Nếu vì xã giao không thể từ chối uống rượu, kiến nghị nên chọn uống rượu vang đỏ, bởi vì vang đỏ là loại rượu có ích cho sức khỏe, do vang đỏ có chứa nhiều chất chống oxy hóa, giúp dự phòng bệnh tim mạch. Đương nhiên, phần đông chuyên gia vẫn kiến nghị rằng tốt nhất là bỏ rượu hoàn toàn, thì mới đạt hiệu quả bài độc. Nói “good bye” với đồ ngọt Rất nhiều người vốn thích đồ ngọt một cách không thể chống cự, bởi vì ăn đồ ngọt sẽ kích thích đám rối thần kinh, làm cho ta cảm thấy hưng phấn, tác dụng hầu như tương đương với caffein, thế nhưng ta phải trả giá cho cảm giác sảng khoái này. Những thức ăn ngọt thường có thành phần giàu chất béo, nhiều năng lượng, dễ làm tăng cân, cũng như tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch. Hơn nữa, đường dễ gây sâu răng. Do vậy, nhất định cần hạn chế ăn đồ ngọt.Phòng ngừa làn da rám nắng Phần da bộc lộ trực tiếp dưới ánh nắng, rất dễ sản sinh những gốc tự do, tạo ra hiện tượng xuất hiện nếp nhăn nhỏ, nám, sạm màu… Cố gắng chọn chất bảo dưỡng hoàn hảo về cơ chế chống gốc tự do (chống oxy hóa) là “tình huống” không thể bỏ sót trong việc bảo dưỡng làn da. Chất bảo dưỡng có tác dụng bài độc trên thị trường, thực tế là tận dụng việc chống gốc tự do để thực hiện bài độc, đạt mục tiêu trong việc bảo dưỡng làn da. Hàng ngày uống đủ lượng nước sạch 65% tế bào cơ thể là nước, thành phần chính ngoại dịch tế bào cũng là nước. Nếu không uống đủ nước thì tế bào sẽ không chuyển hóa các chất bình thường, lượng mồ hôi, nước tiểu bài ra sẽ không đủ, rồi sẽ không đạt mục tiêu bài độc. Nước là “vua của trăm loại thuốc”, có thể pha loãng độc tố, tăng tốc độ chuyển hóa, thúc đẩy độc tố bài ra ngoài từ nước tiểu kịp thời. Hoãn giải sức ép Đời sống thành thị căng thẳng, hối hả, làm cho ta ngày càng nhiều stress. Sức ép lớn theo đó làm cho ta sản sinh “độc tố tinh thần”, đòi hỏi chúng ta cần tiến hành bài giải định kỳ, tức chúng ta phải tiến hành tự điều tiết. Có rất nhiều phương pháp hoãn giải stress, chẳng hạn như: thể thao, xông hơi, tập yoga… thông qua những hoạt động giúp điều tiết cảm xúc đạt hiệu quả, giảm áp lực căng thẳng. Hàng ngày tập hít thở sâu Hít thở không chỉ duy trì sự sống, còn có tác dụng bài ra độc tố trong cơ thể, đặc biệt là hít thở sâu, nhưng khi ta hít thở sâu, thường “nâng ngực” một cách không tự giác, co dúm vùng bụng, mỗi lần như vậy phần phổi chỉ có 1/3 thể tích được tận dụng mà thôi. Phương pháp hít thở sâu chính xác là: tìm một nơi không khí trong lành, dùng mũi hít thật sâu một cách bình ổn, khi ấy dùng những đầu ngón tay đè lên vùng bụng sẽ thấy căng lên, cho đến khi cả vùng phổi nạp đủ hơi, có thể giữ hơi trong phổi 4 giây, rồi dùng miệng “xả hơi” ra một cách chầm chậm. Vận động vừa phải Vận động giúp thúc đẩy tuần hoàn máu, tăng cường chức năng tim phổi. Nhiều mồ hôi sản sinh trong quá trình tập luyện thể thao thông qua làn da, đưa những chất bã và độc tố từ trao đổi chất bài ra ngoài cơ thể. Không ăn quá nhanh Khi ăn, không ăn quá nhanh, nhai kỹ, theo đó sẽ bài tiết nhiều dịch vị, trung hòa các chất mang độc tính, gây nên chuỗi phản ứng lành tính, độc tố bài ra càng nhiều. Hạn chế cà phê Cafein trong cà phê rất dễ gây nên những vấn đề về thần kinh, chẳng hạn như âu lo và bất an… cho nên cần hạn chế dần lượng dùng cà phê một cách trình tự. Nếu như thói quen trước nay dùng 5 tách cà phê trong ngày, hãy bắt đầu thử cứ mỗi 2 - 3 ngày thì giảm đi một tách trong ngày, bớt dần những bất ổn trong quá trình hạn chế cà phê, theo đó giảm cảm giác âu lo đến mức thấp nhất. Cũng có thể thử thay thế bằng một ly nước chanh nóng pha mật ong. Hàng ngày hãy cho tâm khảm trống vắng trong 5 phút Dùng 5 phút để tán gẫu có lẽ không đủ, nhưng 5 phút “gởi thông điệp” cho nhau sẽ mang đến kết quả làm ta được an ủi. Một câu nói ấm áp, một nụ hôn, đủ mang đến cho bạn cả một ngày đẹp đẽ! Cho nên, đừng tiếc với những lời đường mật, bạn và “người ấy” của bạn đều cần những xoa nắn tâm hồn như vậy. 5 phút của bạn cộng thêm 5 phút của “người ấy” dùng chia sẻ yêu thương, chỉ số hạnh phúc của bạn làm sao không lay động được chứ! Hàng tuần ăn chay 2 ngày Hàng tuần ăn chay 2 ngày, tạo cơ hội cho đường ruột “nghỉ ngơi”. Bởi lẽ ăn quá nhiều thức ăn béo ngậy hay mang tính kích thích, sẽ làm cho quá trình trao đổi chất sản sinh nhiều độc tố, tạo ra gánh nặng lớn cho đường ruột. Tránh xa bức sóng điện từ Hiện nay ta sống trong môi trường khắp nơi đều tràn ngập sóng điện từ. Chẳng hạn đồ dùng điện trong nhà, máy tính, bàn phím, tivi, lò viba… đều sản sinh sóng điện từ. Sóng điện từ không màu, không hình dáng, nhưng tần sóng của chúng sẽ gây tổn hại cho sức khỏe. Cho nên, trong sinh hoạt chúng ta cố gắng tránh xa bức sóng điện từ. Thời gian sử dụng điện thoại di động không quá lâu, không mang theo điện thoại suốt ngày đêm. Thời gian sử dụng máy tính cũng không quá lâu, tốt nhất gắn lên tấm chắn màng hình hay mặc áo phòng chống bức xạ. Hàng tuần xông hơi 1 lần Có thể tận dụng xông cho vã mồ hôi bài độc, cũng tức là tận dụng diện tích lớn nhất của làn da để làm hệ thống bài độc từ đường mồ hôi. Thông qua xông vã mồ hôi, tăng tốc tuần hoàn máu, thúc đẩy trao đổi chất, giúp các lỗ chân lông co giãn. Người bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch thận trọng với xông hơi. Nếu người bệnh cảm thấy lo sợ thì không nên xông hơi, bởi vì tâm lý sợ sệt sẽ làm huyết áp tăng cao, người bệnh nặng trái lại sẽ khó bài ra mồ hôi. Hàng ngày tập ho chủ động Phổi là nơi rất dễ tích lũy độc tố, thỉnh thoảng tập ho chủ động vài tiếng, sẽ đạt tác dụng giúp làm sạch vùng phổi. Theo Lương y Bàng Cẩm Sức khỏe & Đời sống
-
- 3
-
-
Thi Sĩ "lá Diêu Bông" Về Trời
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Thơ Ca Văn Chương Nghệ Thuật
Sông Đuống nay vắng bóng Hoàng Cầm Nhà thơ nay đã hóa hư không Trời Nam một góc sầu li thế Bắc Ninh một góc nín lặng câm… -
Vẫn chiếc xe hôm nào, nhưng với cái nắng đổ lửa này, chị nhờ người quen thiết kế cho cháu một tấm nhựa che nắng và cháu đã cùng mẹ rong ruỗi cho hết xấp vé số trên tay. (lần gặp nào Wild cũng mua giúp Chị vài vé với hy vọng biết đâu...giúp Chị và cháu phần nào đó) Tôi chỉ thông báo đến các bạn khi nào vé số tôi mua là tờ độc đắc. Tuần lễ vừa qua, Gia đình Compack đã gởi tặng em bé bị Não úng Thủy 4 hộp sữa Nuti (4gói x 1kg= 4kg). Nay Wild tìm đến nơi Chị đẩy xe đi bán ở khu vực Tân bình để trao tặng. Đây là nụ cười của Bé và là hạnh phúc của tôi, công việc này luôn cho tôi những nụ cuời như thế! Tôi thay mặt Chị Tiết gởi lời cám ơn đến Gia đình Compack đã có phần quà cho cháu.
-
Tôi đã tìm bài Giải hạn giảm họa ở Diễn đàn này cho bạn, nhưng chưa tìm được, tuy nhiên tôi có thể tóm lược để hướng dẫn cho bạn. Bạn mua 5 món thực phẩm ví du : đường, gạo, muối, tương, dầu ăn v.v... đại loại thực phẩm chay. Phù hợp với số tuổi của người bị hạn. Như 30 kg gạo tương đương 30 tuổi. Lấy một mãnh giấy nhỏ ghi tên, tuổi "xin gởi tặng cho bếp ăn từ thiện bệnh viện Ung bướu" đặt vào từng phần thực phẩm trao tặng. Đến tận nơi trao tặng cho họ không qua trung gian. Đây là cách giải hạn hiệu quả nhất nếu mệnh phúc còn. Chúc gia đình bạn tai qua nạn khỏi. Nam mô A Di Đà Phật.
-
Phạm vào "Lời ăn tiếng nói" nhẹ vạ miệng, nặng vạ thân. Hay thị phi điều tiếng.
-
Xin Hướng Dẫn Cách Thỉnh Cốt đi Cải Táng ?/
wildlavender replied to kevin33's topic in Các Môn Dự Đoán Khác
Bạn ở Tp HCM hay Hà Nội? Nhưng dù ở đâu bạn nên trình bày điều này với Thầy trụ trì nơi để cốt và lĩnh ý Thầy. Thầy sẽ phụ trách luôn việc an cốt nơi mộ táng. Trường hợp Thầy từ chối bạn ở Tp HCM, tôi sẽ giúp bạn. -
Trao tặng bức ảnh chân dung tướng Giáp khổ lớn Nhân dịp kỷ niệm 56 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2010), và hướng tới chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp 100 mùa xuân (Đại tướng sinh ngày 25/8/1911), Hôm nay, tại Hà Tĩnh, sau khi kết thúc Triễn lãm Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Những khoảnh khắc bình dị (diễn ra từ 26/4) nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng, (báo QĐND) đã trao lại bức ảnh chân dung khổ lớn (15m2) chụp tướng Giáp cho Tỉnh ủy Hà Tĩnh. Bức chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp (khổ 15m2) được trao cho Hà Tĩnh. Từ Hà Tĩnh, nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng cho biết: Thật vui và vinh dự khi được làm triển lãm về tướng Giáp tại quê nhà (Hà Tĩnh là quê gốc của Trần Hồng - PV) và thật xúc động khi đồng chí Bí thư tỉnh ủy đến xem triển lãm Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Những khoảnh khắc bình dị sau đó lại còn đề nghị tôi tặng lại cho Tỉnh ủy Hà Tĩnh một bức chân dung tướng Giáp. Hơn 2000 bức ảnh tôi chụp về tướng Giáp, theo chủ quan cá nhân thì chỉ thấy bức chụp về cụ năm 1994 khi cụ đến thăm Bảo tàng Quân đội (Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam) nhân dịp tròn 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ là ưng ý nhất. Tôi quyết định phóng bức ảnh này tặng lại cho Tỉnh ủy Hà Tĩnh như một món quà ý nghĩa không chỉ cho quê hương lâu ngày gặp lại mà còn tạo thuận lợi cho cán bộ, chiến sỹ cũng như nhân dân Hà Tĩnh hiểu sâu hơn, cụ thể hơn và trực quan hơn về đời một vị Đại tướng - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Trần Hồng còn cho biết thêm trong triển lãm này, ông dự định sẽ chọn ra khoảng 400 ảnh được cho là đẹp nhất về Đại tướng Võ Nguyên Giáp để in thành một cuốn sách ảnh. Trước khi in sách ảnh, nghệ sĩ Trần Hồng sẽ mang số ảnh này đến xin ý kiến “chỉ đạo” của Đại tướng để giới thiệu cho đông đảo người xem về chính những khoảnh khắc bình dị của bậc thiên tài, cao minh, tuấn kiệt, thân dân, hồn đạo… của dân tộc. Theo TT&VH
-
Sao bài viết này không đề cập đến cuộc trò chuyện trao đổi với tên đồ tể này thế nào nhỉ? hắn có ăn năn không? hay chỉ lánh xa hế sự vì sự yếu kém quyền lực hiện nay?
-
Phá Hoàng thành Thăng Long làm đường giao thông Tác giả: Khánh Linh (thực hiện)Bài đã được xuất bản.: 06/05/2010 06:00 GMT+7 Đường Hoàng Hoa Thám là một con đường giao thông được xây dựng trên một đoạn Hoàng thành Thăng Long xưa... Nguyên nhân căn bản là cho đến nay Thủ đô Hà Nội vẫn chưa xây dựng được một qui hoạch khảo cổ học... LTS: Việc làm đường giao thông ở một đoạn đường Hoàng Hoa Thám đang gây ra những dư luận xã hội khá bức xúc, với nghi vấn đó là di tích Hoàng thành Thăng Long. Để sáng tỏ vấn đề này, mới đây, Tuần Việt Nam đã phỏng vấn GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Tôi khẳng định đây là một đoạn Hoàng thành Thăng Long Gần đây, một số nhà khoa học đã lên tiếng về đoạn đường Hoàng Hoa Thám khá dài (gần ngã cắt với phố Văn Cao) đang bị đào bới, hình như để làm cầu vượt, và cho rằng đó là di tích Hoàng thành Thăng Long. GS có ý kiến gì về vấn đề này? GS Phan Huy Lê:- Tôi có theo dõi việc này và đã gần đây có nhận được thư của các cụ lão thành cách mạng, cán bộ và nhân dân phường Thụy Khuê (50 người ký tên) gửi cho cá nhân tôi và Hội Khoa học lịch sử VN "báo động" về việc này, khẩn thiết đề nghị cần bảo tồn di tích thành Thăng Long mà nhân dân địa phương quen gọi là "đường thành". Ngày 29/4/2010, tôi cùng PGS Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, và một số chuyên gia khảo cổ học, sử học, đã đến tận nơi để điều tra, xem xét thực trạng. Bản đồ thành Đông Kinh thời Lê Sơ, so sánh với bản đồ Hà Nội ngày nay, đoạn màu tím chấm đã bị phá hủy Trước hết tôi khẳng định đường Hoàng Hoa Thám là một con đường giao thông được xây dựng trên một đoạn Hoàng thành Thăng Long xưa. Chỉ cần xem lại bản đồ thành Đông Kinh (tên gọi thành Thăng Long thời Lê sơ) trong tập Bản đồ Hồng Đức vẽ năm 1490 mà hiện nay còn lưu giữ nhiều bản vẽ lại thời cuối Lê đầu Nguyễn, đem đối chiếu với bản đồ Hà Nội hiện nay thì có thể xác định đoạn đường Hoàng Hoa Thám. Theo bản đồ Hồng Đức thì đoạn Hoàng thành phía bắc giáp sông Tô Lịch, có hai lớp thành. Lớp thành ngoài giáp bờ sông Tô là một vấn đề mà các nhà khoa học còn có ý kiến khác nhau. Có người cho đó là thành Đại La, có người cho đó là đoạn Hoàng thành do vua Tương Dực mở rộng năm Bính Tý (1516). Còn lớp thành phía trong thì rõ ràng là đoạn Hoàng thành Thăng Long thời Lê sơ và có thể xác định chính là đường Hoàng Hoa Thám hiện nay, từ vườn hoa Bách Thảo đến Bưởi (màu tím liền). Đoạn bị cắt thẳng theo đường Liễu Giai (màu trắng), qua vết cắt và các di vật, cho thấy phía trên là cát, đất bồi, lớp dưới cùng đã xuất hiện một số di vật thời Nguyễn và Lê, đúng như nhận xét của PGS khảo cổ học Trịnh Sinh. Nếu tiến hành khai quật theo phương pháp khảo cổ học cho đến hết chân thành, đến lớp sinh thổ thì sẽ cung cấp nhiều cứ liệu có giá trị khoa học cao để góp phần nghiên cứu lịch sử bồi trúc của đoạn thành này, mối quan hệ giữa thành thời Lê sơ với thời Lý, Trần trước đó. Cho đến nay, giới khoa học còn bàn cãi về phạm vi của Hoàng thành thời Lý, Trần có mở rộng về phía tây như Hoàng thành thời Lê sơ không. Cũng theo bản đồ Hồng Đức, Hoàng thành thời Lê tiếp tục chạy theo bờ phía đông của sông Tô Lịch cho đến Cầu Giấy rồi chuyển sang hướng đông theo đường La Thành, rồi lại chuyển hướng đông bắc, theo phố Giảng Võ đến khoảng Kim Mã trên phố Nguyễn Thái Học. Trên bản đồ Hồng Đức, trên đoạn Hoàng thành phía Nam có ghi cửa Bảo Khánh. Địa danh Bảo Khánh còn được lưu giữ qua tên thôn Bảo Khánh, cổng đình Bảo Khánh thuộc trại Giảng Võ, tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận thời Nguyễn mà dấu tích vẫn còn ở gần cổng đình Giảng Võ hiện nay. Khu vực hình gần tam giác giữa phố Kim Mã, đường La Thành và phố Giảng Võ, tức khu Giảng Võ hiện nay, do Lê Thánh Tông mở rộng Hoàng thành năm 1490. Đoạn Hoàng thành từ Bưởi đến Cầu Giấy và từ Cầu Giấy theo đường La Thành đến phố Giảng Võ trùng với La thành và di tích còn khá rõ. Còn đoạn phố Giảng Võ thì di tích vẫn còn, nhất là đoạn đường phố cao cho đến gần phố Cát Linh. Còn phần Hoàng thành phía Đông, gồm các đoạn Hoàng thành phía bắc, phía đông và phía Nam thể hiện bằng đường màu tím chấm chấm thì đã hoàn toàn bị san bằng và các nhà khoa học phải xác định một các tương đối dựa trên bản đồ cổ kết hợp với nhiều tư liệu khác và một số di tích đền chùa liên quan. Di tích thời Trần dưới nền Đoan Môn Phần Hoàng thành phía đông đã hoàn toàn bị san bằng Vậy là dù vô tình hay hữu ý, chúng ta cũng đã phá hủy một phần không nhỏ của Hoàng thành Thăng Long xưa. Giờ thì đoạn đường Hoàng Hoa Thám chỗ cắt với phố Văn Cao cũng đang "chịu chung số phận"? GS Phan Huy Lê: - Thành Thăng Long từ thời Lý đã gồm ba vòng thành: vòng ngoài cùng gọi là thành Đại La hay La thành, vòng thành giữa từ thời Lê gọi là Hoàng thành và vòng thành trong cùng thời Lý gọi là Cấm thành hay Cấm trung, thời Lê gọi là Cấm thành hay Cung thành. Cấm thành đã hoàn toàn bị san bằng khi nhà Nguyễn xây dựng tòa thành mới làm trị sở Bắc Thành theo kiểu Vauban mà từ năm 1831 gọi là thành Hà Nội. Qua thời gian, La thành và Hoàng thành Thăng Long chỉ còn lại một số đoạn. Trước hết tôi nói về di tích Hoàng thành Thăng Long. Nói đến di sản Thăng Long-Hà Nội, chúng ta đã xác định đúng là gồm di sản vật thể và phi vật thể. Về di sản vật thể, những di tích còn lại trên mặt đất không còn bao nhiêu và chúng ta thường quan tâm nặng về các di tích đền, chùa, đình, miếu, quán nghĩa là các di tích tôn giáo, tín ngưỡng. Những di tích này đều trải qua nhiều lần trùng tu và những yếu tố gốc còn giữ lại được phần lớn là từ thời Lê Trung hưng, hầu hết là thời Nguyễn. Dù niên đại của di tích còn lại không sớm lắm nhưng rất quý và cần được bảo tồn nghiêm ngặt, nhất là khi trùng tu phải đặc biệt coi trọng việc giữ gìn các yếu tố gốc như qui định của Luật di sản văn hóa. Một số di tích kiến trúc cung đình còn lại trên mặt đất rất ít như nền điện Kính Thiên, Đoan Môn... Di tích cổ xưa nhất của thành Thăng Long được bảo tồn trong lòng đất mà thỉnh thoảng được phát hiện ngẫu nhiên qua việc đào móng xây nhà, đào giếng...và đặc biệt qua các cuộc thám sát và khai quật khảo cổ học. Những hố đào thám sát nền Đoan Môn, Hậu Lâu, Cửa Bắc... và tiêu biểu nhất là việc phát lộ khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long ở 18 Hoàng Diệu với diện tích khai quật 19.000 m2, cho thấy trong lòng đất kinh thành Thăng Long, nhất là trong những khu vực quan trọng như Cấm thành, Hoàng thành, còn lưu giữ một kho tàng di tích và di vật phong phú, vô cùng quý giá. Khu di tích 18 Hoàng Diệu Coi di tích chỉ là đường giao thông nội đô (!) Với những đoạn thành đã sử dụng làm đường giao thông, hình như chúng ta chỉ ứng xử như vô vàn những con đường giao thông khác? Đúng là còn một số đoạn di tích Hoàng thành và La thành Thăng Long thì rất tiếc là gần như bị lãng quên và bị xâm hại. Trước đây, trong khu Kim Liên, trên giải đất giữa phố Đào Duy Anh và đền Kim Liên có một đoạn La thành của "đường đê La thành" bị cắt ra, còn khá nguyên vẹn. GS Trần Quốc Vương và tôi đã đề nghị bảo tồn, nhưng chẳng được ngành văn hóa quan tâm và nay đã bị san bằng để xây dựng hai tòa nhà cao tầng. Một đoạn đường Hoàng Hoa Thám bị đào gần đây cũng vì người ta coi đây chỉ là đường giao thông nội thành. Nguyên nhân căn bản là cho đến nay Thủ đô Hà Nội vẫn chưa xây dựng được một qui hoạch khảo cổ học, trên đó chỉ rõ những di tích trên mặt đất cần được bảo tồn, kể cả những di tích đã được xếp hạng và những di tích chưa được nghiên cứu, chưa lập hồ sơ và xếp hạng. Cả những khu vực có khả năng có những di tích trong lòng đất cần quan tâm khi lập qui hoạch xây dựng hay cần thám sát, khai quật khảo cổ học trước khi xây dựng công trình mới. GS Phan Huy Lê: Tôi vẫn kiên trì kiến nghị. Thiếu qui hoạch khảo cổ học, thiếu hiểu biết về lịch sử văn hóa Thăng Long-Hà Nội và có thể do cả thiếu tinh thần trách nhiệm nên người ta đã đối xử với một di tích lịch sử như một con đường giao thông đơn thuần - GS Phan Huy Lê. Hà Nội "treo" kiến nghị khảo cổ! Nghĩa là giới khảo cổ đã lên tiếng về sự cần thiết phải quy hoạch khảo cổ học từ rất lâu nhưng vẫn không được Hà Nội chấp nhận? GS Phan Huy Lê: - Đề xuất này đã được nêu lên từ lâu và đã từng được UBND Hà Nội giao cho Viện Khảo cổ học nghiên cứu như một đề tài khoa học. Đề tài đã được nghiệm thu, nhưng qui hoạch khảo cổ học thì cũng gần như bị lãng quên. Điều 37, điểm 1 của Luật Di sản được sửa đổi, bổ sung năm 2009, có hiệu lực từ 1-2010, qui định: "Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức việc lập qui hoạch khảo cổ học ở địa phương, phê duyệt và công bố qui hoạch sau khi được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch". Điểm 2 qui định tiếp: "Chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng công trình ở địa điểm thuộc qui hoạch khảo cổ học có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch tiến hành thăm dò, khai quật khảo cổ học trước khi triển khai dự án và thực hiện việc giám sát quá trình cải tạo, xây dựng công trình đó". Giá như Hà Nội có một qui hoạch khảo cổ học thì chắc chắn không xẩy ra hiện tượng đào phá một đoạn đường Hoàng Hoa Thám vốn là một đoạn Hoàng thành Thăng Long. Thiếu qui hoạch khảo cổ học, thiếu hiểu biết về lịch sử văn hóa Thăng Long-Hà Nội và có thể do cả thiếu tinh thần trách nhiệm nên người ta đã đối xử với một di tích lịch sử như một con đường giao thông đơn thuần. Vì vậy kiến nghị thứ nhất của tôi là UBND mà cơ quan chức năng là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cần sớm xây dựng Qui hoạch khảo cổ học Hà Nội. Hơn bất cứ một tỉnh, thành phố nào, Hà Nội là Thủ đô, có bề dày lịch sử văn hóa nghìn năm, chưa kể thời tiền Thăng Long hàng mấy thế kỷ trước đó, đặc biệt là khu trung tâm tức khu kinh thành Thăng Long xưa, các loại hình di tích phân bố khá dày đặc trên mặt đất và dưới mặt đất là cả một Thăng Long trong lòng đất, nên việc xây dựng một Qui hoạch khảo cổ học đặt ra rất cấp thiết, bức xúc. Có một Quy hoạch khảo cổ học có chất lượng cao thì công việc qui hoạch, xây dựng sẽ được triển khai một cách chủ động, có kế hoạch trên cơ sở kết hợp giữa bảo tồn và phát triển một cách hài hòa. Bản đồ Hà Nội năm 1831 Vậy với đoạn đường Hoàng Hoa Thám đã bị đào bới, nhiều đoạn xuống rất sâu, thì sao, thưa GS? Ta có thể làm gì để "chữa cháy" bây giờ? GS Phan Huy Lê: - Đối với đoạn bi đào trên đường Hoàng Hoa Thám, tôi kiến nghị cần xử lý theo đúng Luật Di sản văn hóa. Điều 32, điểm 3 qui định: "Trong quá trình cải tạo xây dựng công trình mà thấy có khả năng có di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc phát hiện được di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thì chủ dự án phải tạm ngừng thi công và thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch. Khi nhận được thông báo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch phải có biện pháp lý kịp thời để bảo đảm tiến độ xây dựng. Trường hợp xét thấy cần đình chỉ xây dựng công trình tại địa điểm đó để bảo vệ di tích thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa, thể thao và du lịch phải báo cáo lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền quyết định". Vì chưa xếp hạng, chưa có qui hoạch khảo cổ học nên việc đào phá đoạn đường Hoàng Hoa Thám không thể nói là đã phạm luật. Nhưng khi đã phát hiện di tích, di vật và đã được báo chí, một số nhà khoa học nêu lên mà chủ dự án không tạm dừng thi công để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền xem xét là vi phạm Luật Di sản văn hóa. Đối với đoạn Hoàng thành còn lại đến nay, theo tôi cần nhìn nhận là một di tích quý giá. Do đó, cơ quan có trách nhiệm của Hà Nội và Bộ VH-TT-DL nên tổ chức hội thảo khoa học hay lập hội đồng khoa học để xem xét, thẩm định một cách khoa học và kiến nghị phương án bảo tồn. Đối với đoạn đã bị đào phá thì cần cân nhắc kỹ và đưa ra phương án xử lý thỏa đáng. Dù chọn phương án nào thì luôn luôn phải ứng xử một cách văn hóa đối với một di sản văn hóa của Thăng Long nghìn năm văn hiến, nhất là khi đang chuẩn bị kỷ niệm nghìn năm Thăng Long. Bản đồ Hà Nội năm 1873 Không chỉ phá Hoàng thành, La thành cũng đã bị phá! Còn đối với đoạn di tích La thành thì ý kiến GS thế nào? GS Phan Huy Lê: - Trước hết cần phân biệt La thành của kinh thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê sơ, Mạc, Lê - Trịnh và La thành của thành Đại Đô cuối thời Lê - Trịnh, thành Bắc Thành rồi thành Hà Nội thời Nguyễn. Năm 1749 do sự đe dọa của khởi nghĩa nông dân, chúa Trịnh Doanh cho đắp lại La thành và thu nhỏ lại, loại bỏ phần phía tây ra khỏi kinh thành. Thành này mang tên thành Đại Đô. La thành mới bắt đầu từ Yên Phụ (Yên Hoa), qua đường Thanh Niên, tiếp theo một đoạn đường Hoàng Hoa Thám, vòng theo đường Ngọc Hà, ôm lấy vườn hoa Bách Thảo, theo phố Giảng Võ, đường đê La Thành, đường Đại Cồ Viêt, phố Trần Khát Chân đên Ô Đống Mác rồi theo đê sông Hồng nối với Yên Phụ. Khi mới xây dựng, thành này mở 8 cửa, mỗi cửa có hai cửa ô tả và hữu. Nhưng trong thời nhà Nguyễn, số cửa ô và tên cửa ô có nhiều thay đổi, điều này đã từng gây ra cuộc thảo luận về số lượng và tên gọi các cửa ô. Bản đồ Hoài Đức phủ toàn đồ do Lê Dức Lộc, Nguyễn Công Tiến vẽ năm 1831 mà nguyên bản đang bảo quản tại Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội, chưa công bố, tạm dùng bản vẽ lại của Trần Huy Bá, bản đồ Hà Nội do Phạm Văn Bách vẽ năm 1873 và Sở địa chất Đông Dương in năm 1916, cho thấy khá rõ qui mô và các cửa ô của thành Đại Đô thời Lê-Trịnh và thành Hà Nội thời Nguyễn. Trong bài này, tôi chưa phát biểu về La thành của thành Đại Đô/Hà Nội này. Còn La thành của kinh thành Thăng Long thì ngoài những đoạn có thể trùng với Hoàng thành thời Lê sơ, chỉ còn một đoạn khá rõ nét là đoạn đường đê La Thành từ Giảng Võ đến Kim Liên. Trên đoạn này, còn dấu vết cửa ô Trường Quảng thời Lý, Trần, sau gọi là cửa ô Thịnh Quang, tên dân gian là Ô Chợ Dừa, phía nam là di tích đàn Xã Tắc đã phát lộ và được bảo tồn theo phương pháp lấp cát rồi gia cố trong lòng đất. Cửa Tây Dương hay Cửa Tây tại vị trí Cầu Giấy hiện nay cũng là một cửa ô của La thành nhưng gần như trùng với Hoàng thành thời Lê sơ. Những di tích này cũng cần đưa vào Quy hoạch khảo cổ học và cần có giải pháp bảo tồn trong tổng thể các di tích của kinh thành Thăng Long gắn liền với di tích Thăng Long tứ trấn (đền Kim Liên là Trấn Nam phương mới dựng từ thời Lê). Tôi vẫn kiên trì kiến nghị Cá nhân GS và Hội Khoa học lịch sử VN sẽ kiến nghị gì về việc bảo tồn di tích Hoàng thành và La thành của kinh thành Thăng Long? GS Phan Huy Lê: - Riêng tôi, tôi đề nghị trước hết cần nhận thức cho đúng giá trị của di tích Hoàng thành và La thành của kinh thành Thăng Long. Đây là những đoạn thành trải qua nghìn năm còn may mắn tồn tại cho đến nay, cho đến đại lễ nghìn năm Thăng Long. Những đoạn thành này, ngoài bộ phận tồn tại trên mặt đất còn có bộ phận nằm trong lòng đất và mang dấu tích của nhiều lần xây dựng, bồi trúc qua các thời kỳ lịch sử. Có thể nói những đoạn thành đó chứa đựng những thông tin có giá trị như một bộ sử bằng di tích, di vật về quá trình xây đắp và chỉnh sửa, thay đổi của các vòng thành của Thăng Long từ thời Lý đến Lê Trung hưng, từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XVIII. Do đó, cần khẳng định đây là những di tích quý giá, một bộ phận gốc tạo thành di sản vật thể của kinh thành Thăng Long. Từ nhận thức trên, tôi có mấy đề xuất sau: 1. Đối với đoạn thành tại đường Hoàng Hoa Thám đã bị đào phá, cần tạm đình chỉ thi công để các nhà khảo cổ học đến khảo sát, khai quật sâu cho đến hết chân thành, xác định quá trình xây đắp, tu bổ qua các thời kỳ. Trên cơ sở đó, lập hồ sơ khoa học cung cấp những cứ liệu khoa học hết sức quan trọng để góp phần nghiên cứu lịch sử các vòng thành. Các di vật cần thu thập, chỉnh lý, lập hồ sơ khoa học, đưa vào trưng bày tạo Bảo tàng Hà Nội. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và đánh giá đó, các nhà khoa học sẽ đề xuất giải pháp xử lý theo đúng Luật Di sản văn hóa và cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét, quyết định. 2. Toàn bộ những đoạn Hoàng thành và La thành còn tồn tại đến nay, cần nghiên cứu, xác minh rõ ràng và lập hồ sơ xếp hạng di tích quốc gia, đưa vào kế hoạch bảo tồn. Trên thực tế, những đoạn thành này từ lâu đã được sử dụng làm đường đi mà nhân dân quen gọi là "đường thành", "đường đê La thành". Trong tình trạng của giao thông vùng nội đô của Hà Nội hiện nay, chức năng giao thông đó cần được tiếp tục, nghĩa là vừa bảo tồn toàn bộ, vừa sử dụng mặt trên làm đường giao thông, kết hợp giữa bảo tồn với phát triển. Trong trường hợp cần thiết phải cắt hay sử dụng một đoạn nào đó trong kế hoạch cải tạo giao thông của thành phố, cần xử lý theo đúng Luật Di sản văn hóa, nghĩa là phải được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định và nhất thiết phải tiến hành khai quật khảo cổ học trước khi sử dụng. Trển đây là ý kiến của cá nhân tôi, còn Hội KHLSVN, chúng tôi sẽ bàn và có kiến nghị khẩn trương lên cấp có thẩm quyền trong vài ngày tới. Xin cảm ơn GS, và mong sao những đề xuất của GS sẽ sớm được chấp thuận. Tác giả: Khánh Linh (thực hiện)Bài đã được xuất bản.: 07/05/2010 06:00 GMT+7 nguồn tuanvietnamnet.vn
-
Chuyến Du Lịch đến Hạ Long Dịp 30/4 Của Rin86
wildlavender replied to Rin86's topic in Tâm Sự - Giao Lưu
Sao Rin86 không vác nhiều nhiều về làm quà cho người không có điều kiện ra Vịnh nhỉ? Oh! mà cái khó bó tấm lòng của Rin86 rồi thì phải! Đùa thôi! Có của ngon vật lạ đem ra giới thiệu là quí rùi! -
Giấc mơ được hình thành từ các khát vọng sâu xa thầm kín, hoặc từ sự kiện của ngày xâu chuỗi lại tái hiện về đêm được lưu trữ trong não bộ và tự động xử lý để giải tỏa. Đó là nguyên lý sinh học. Về nguyên lý thần học có thể giải thích giấc mơ này báo trước bạn sắp đón nhận một niềm vui nhỏ nhưng phải đánh đổi bằng sự đấu tranh gian khó để đạt được và bạn sẽ sở hữu nó trong giả tạm. Vài lời luận đoán! bạn hãy chờ xem những kiến thức của các cao nhân khác!
-
ChÂm CỨu ĐÔng Y VÀ 5000 NĂm VĂn HiẾn ViỆt
wildlavender replied to TheTrung's topic in Chú Ý - Các Bài Viết Quan Trọng
Từ thảo mộc khi trở thành thảo dược cũng được việt hóa nhiều rồi, đừng quá lo! Thậm chí các cây cỏ cũng mọc từ vùng đất núi của người Việt. -
Mẹ Nằm Chờ Chết, 3 Con Thơ Không Tết
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Lẽ ra việc này Wild thực hiện nhưng vì bận rộn một số việc nhà, đành phải nhờ Thiên Đồng giúp để chuyển giao. Cám ơn Thiên Đồng đã hoàn thành nhiệm vụ không phải của mình. :lol: