Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

VIETHA

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    967
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    4

Everything posted by VIETHA

  1. 4. Luân hồi và nhân quả Đường Tăng tu hành mười kiếp, đương nhiên là trong luân hồi chuyển sinh thành người mười lần để tu hành. Đường Thái Tông sau khi từ địa phủ trở về, ông thấy được con người đều có sinh tử luân hồi. Đường Thái Tông khi ở địa phủ còn đến nơi gọi là “Lục đạo luân hồi”, trong truyện nói về lục đạo luân hồi như sau: “Người hành thiện được thăng hoa lên Tiên đạo, người tận trung siêu sinh vào Quý đạo, người có hiếu tái sinh vào Phúc đạo, người công bằng vẫn được sinh vào Nhân đạo, người tích đức chuyển sinh vào Phú đạo, kẻ ác độc phải vào Quỷ đạo”. Nói về luân hồi, ắt phải bàn về nhân quả, các ví dụ về phương diện này trong truyện có rất nhiều. Đường Tăng vì khinh mạn Phật Pháp, nên phải trải qua tu hành mười kiếp. Trong hồi thứ 81 “Trấn Hải tự tâm viên tri quái, Hắc Tùng lâm tam chúng tầm sư” có nói rằng, bởi vì Đường Tăng không nghe Phật giảng Pháp mà lại ngủ gật, nên lỡ chân dẫm phải một hạt gạo, do đó mới bị ốm ba ngày. Tôn Ngộ Không năm xưa nhảy từ lò Bát Quái ra, đạp đổ lò luyện đan, những mảnh vỡ vẫn còn dư hỏa rơi xuống hạ giới biến thành Hỏa Diệm Sơn. Thầy trò Đường Tăng gặp trở ngại ở nước Ô Kê, vua nước Ô Kê nhờ làm việc thiện bố thí đồ ăn chay cho tăng nhân nên Phật tổ Như Lai phái Văn Thù Bồ Tát độ ông về Tây. Bồ Tát liền biến thành một tăng nhân, nói vài câu để khảo nghiêm ông, nhưng lại bị ông trói lại, bị ngâm ba ngày ba đêm trong sông Ngự Thủy. Cho nên mới có nạn quốc vương nước Ô Kê ở dưới nước ba năm. Quận Phượng Tiên nước Thiên Trúc, ba năm không có mưa, người dân phải bán cả con cái đi, cuộc sống cùng cực không biết nói sao. Nguyên nhân là do quận hầu của quận Phượng Tiên đem đồ chay cúng Trời đổ cho chó ăn, bị Ngọc Đế nhìn thấy, Ngài lập ra một ngọn núi gạo cao 10 trượng, để cho một con gà mổ từng hạt; một núi bột cao 20 trượng, để cho một con chó nhỏ liếm từng chút một; treo một cái khóa vàng, dùng một ngọn lửa đốt cái chốt khóa. Đợi đến khi gà nhặt hết gạo, chó liếm hết bột, đèn đốt đứt chốt khóa, mới cho phép có mưa. Sau này, Thiên Sư nói với Ngộ Không cách thiện giải, vị quận hầu kia một mặt quy y Phật môn; một mặt mời các thầy tu bản xứ lập đàn làm chay đốt hương kính Phật, tạ ơn trời đất, tự mình chịu trách nhiệm vì đã gây ra tội; mặt khác lại bảo người dân đốt hương niệm phật. Chỉ một niệm như thế, mà làm cho núi gạo núi bột đều biến mất và chốt khóa cũng đứt, và quận Phượng Tiên đã có mưa lớn. 5. Tu luyện và bệnh tật Tôn giáo hiện đại đã sớm loạn từ lâu rồi, dùng nhận thức của bản thân mà giải thích loạn kinh Phật. Có những người sống ở thế gian nhất tâm hướng Đạo, từ lâu cũng không biết không cảm thấy rằng đã tự trộn lẫn bản thân mình vào trong người thường rồi. Ví như nói về cứu độ chúng sinh, vốn là để cho người ta tu luyện, từ đó mà đạt được sự giải thoát của sinh mệnh. Nhưng có nhiều người lại coi việc trị bệnh cho người khác là cứu độ chúng sinh. Một ví dụ nữa đó là thái độ đối với bệnh tật, người thường có bệnh đương nhiên cần phải uống thuốc, nhưng là một người tu luyện, chính là người vượt khỏi người thường rồi. Về việc người tu luyện đối đãi như thế nào với bệnh tật, trong “Tây Du Ký” đã nói rất rõ ràng. Hồi thứ 21 “Hộ Pháp thiết trang lưu Đại Thánh, Tu Di linh cát định phong ma”, Tôn Ngộ Không bị chuột lông vàng Hoàng Phong thổi gió làm cho đau mắt, nước mắt cứ chảy ra; khi nhìn thấy người do Già Lam hộ Pháp hóa thành, lúc xin thuốc trị mắt Ngộ Không còn nói: “Không giấu chi ngài, thầy tôi bảo rằng, người xuất gia chúng ta trước giờ không có bệnh, không biết sao lại đau mắt.” Hồi thứ 55 “Sắc tà dâm hí Đường Tam Tạng, Tính chính tu trì bất hoại thân”, Bát Giới bị con bọ cạp chích độc, Tôn Ngộ Không mời Mão Nhật Tinh Quân đến hàng yêu. Trư Bát Giới nói với Tinh Quân: “Thứ lỗi thứ lỗi! Thân tôi mắc bệnh, không thể hành lễ.” Tinh Quân nói: “Ngài là người tu hành, mắc bệnh gì chứ?” Hồi thứ 81 “Trấn Hải tự tâm viên tri quái, Hắc Tùng lâm tam chúng tầm sư”, Đường Tăng cảm thấy “hoa mắt đầu choáng váng, xương cốt toàn thân đau nhức”. Ngộ Không hỏi Đường Tăng bị sao, ông nói: “Lúc nửa đêm, ta dậy đi tiểu quên không đội mũ, chắc là bị trúng gió.” Trong ba ngày đó, Đường Tăng cảm thấy bệnh tình càng ngày càng nặng, muốn viết “di thư” cho vua Đường. Tôn Ngộ Không nói ra căn nguyên của bệnh: “Chỉ vì sư phụ khinh mạn Phật Pháp, nên mới có đại nạn này.” Ba ngày sau, Đường Tăng không còn chứng bệnh gì nữa. Ba ví dụ kể trên đã nói rõ một vấn đề, đó chính là người chân chính tu luyện thì không có bệnh. Dẫu có xuất hiện những cái gọi là “chứng bệnh” gì đi nữa, đối với người tu luyện mà nói, thì hoặc là để hoàn trả tội nghiệp, hoặc là do sư phụ an bài để khảo nghiệm sự kiên định đối với tu luyện. Nhưng một số người thường không tu luyện lại không hiểu được việc người tu luyện có biểu hiện của bệnh mà không uống thuốc. Thực ra đây chẳng phải cũng là một khảo nghiệm hay sao? Người cổ đại có một kiểu nhận thức tương đối chính diện đối với việc tu luyện, nhưng ngày nay trong môi trường như thế này, người ta không cách nào lý giải được người tu luyện không uống thuốc. Thậm chí một số phương tiện truyền thông bị chính phủ thao túng lại càng tuyên truyền vu cáo một cách không có trách nhiệm. Cho nên với con người ngày nay, đặc biệt là người tu luyện trong thế tục, những khảo nghiệm gặp phải lại càng nhiều càng khó. 6. Thiện ác nhất niệm, Phật ở trong tâm Khi Tôn Ngộ Không nhảy ra từ lò Bát Quái và xảy ra cuộc đại chiến với chúng thần, trong “Tây Du Ký” miêu tả Ngộ Không như thế này: “Có thể thiện, cũng có thể ác, thiện ác trước mắt do mình gây ra. Khi thiện thành Phật thành Tiên, chỗ ác không lông cũng cắm sừng”. Khi Ngộ Không hướng thiện, tiêu dao tự tại ở Thiên Cung, được các thần xưng huynh gọi đệ, chính là một tản tiên; khi làm việc ác, thú tính bộc lộ ra hết, rất ngông cuồng ngạo mạn, chính là một con khỉ hung ác. Trước khi Quan Âm Bồ Tát phụng pháp chỉ của Phật Như Lai tìm người đi thỉnh kinh, Phật Như Lai đưa cho Bồ Tát ba cái vòng và nói: “Bảo vật này gọi là “Khẩn cô nhi” (vòng dùng lúc khẩn cấp), mặc dù là ba cái giống nhau, nhưng cách dùng khác nhau. Ta có ba bài chú ngữ của “Kim khẩn cấm”. Nếu như trên đường gặp phải yêu ma thần thông quảng đại, con phải khuyên nó học hỏi điều tốt, làm đệ tử người đi thỉnh kinh. Nếu nó không nghe, có thể đeo cái vòng này lên đầu nó. Vòng này tự sẽ bám chặt vào đầu. Kẻ bị niệm chú ngữ, mắt sưng, đầu đau như muốn nứt ra. Để quản giáo nó bước vào Phật môn.” Trong ba chiếc vòng này thì một cái ở trên đầu Tôn Ngộ Không, nhìn thấy rất rõ, chính là để Tôn Ngộ Không nghe lời Đường Tăng. Bởi vì Ngộ Không tượng trưng cho tâm của Đường Tăng, nên phải quản chắc cái tâm của mình mới được, do đó Ngộ Không đeo một cái “Khẩn cô nhi”. Khi Bồ Tát thu phục Hắc Hùng Tinh (gấu tinh màu đen), Ngài đeo lên đầu nó lại là một cái “Cấm cô nhi”. Câu chuyện thu phục gấu tinh được ví như người tu luyện cần phải giữ gìn ‘chân tinh nguyên khí’ của chính mình. Trong ngũ hành, màu sắc mà thận tạng đối ứng là màu đen, tinh dịch tồn tại ở thận của con người, dùng Hắc Hùng Tinh để chỉ tinh dịch của người tu luyện, cho nên cần phải “cấm”. Trước khi thu phục Hắc Hùng Tinh, Bồ Tát đã biến thành một yêu quái, Ngộ Không nhìn thấy liền nói: “Tuyệt quá! Tuyệt quá! Là yêu tinh Bồ Tát hay Bồ Tát yêu tinh đây?” Bồ Tát cười nói: “Ngộ Không, Bồ Tát hay yêu tinh, âu chỉ là một niệm. Nếu luận về nguồn gốc, thì đều thuộc về không có.” Bồ Tát nói rõ rằng, Bồ Tát và yêu tinh chỉ sai biệt ở một niệm. Đối với người tu luyện mà nói, chính là khiến những tà niệm vọng niệm bất chính, bất hảo từ bản chất mà biến thành thiện niệm, chính là tu bỏ từng niệm từng niệm, thì người tu luyện tự nhiên sẽ tu thành chính quả. Như vậy, từ khía cạnh này mà nói, Bồ Tát cũng chính là thể hiện của tiên thiên chính giác khi Ngộ Không hướng tâm tu. Do đó, Hắc Hùng Tinh bị Bồ Tát thu phục mang đi, đó chỉ là thủ pháp nghệ thuật tượng trưng của tác giả, thực ra là chỉ rằng Đường Tăng đã đạt đến cảnh giới “cấm dục”. Khi Bồ Tát thu phục Hồng Hài Nhi, chiếc vòng cuối cùng Ngài dùng là “Kim cô nhi”. Hồng Hài Nhi được ví von là hình tượng hóa cho tâm hỏa quá vượng của Tôn Ngộ Không. Thầy trò Đường Tăng muốn qua được quan này, đương nhiên cần phải dập tắt tâm hỏa. Trong truyện khi nói về Tôn Ngộ Không có dùng từ “kim công”, cũng là dùng để chỉ cái tâm, bởi vì tâm thuộc tính hỏa, hỏa khắc kim, Hồng Hài Nhi cũng nhiều lần dùng lửa thiêu Tôn Ngộ Không. Từ góc độ khác mà nói, Hồng Hài Nhi cũng lại là thể hiện của “xích tử chi tâm”, tu luyện Đạo gia giảng rằng tu luyện “phục quy vu anh nhi” (quay trở về hình hài trẻ sơ sinh), một khi anh nhi bị thu phục, cũng chính là chỉ tâm hư hỏa (lửa giả) đã tu bỏ đi rồi, mà một bộ phần tâm tu thành cũng đã là “kim thân bất hoại” rồi, cho nên “Kim cô nhi” mới được đeo trên đầu của Hồng Hài Nhi. Rõ ràng Hắc Hùng Tinh, Hồng Hài Nhi đều đi theo Bồ Tát, thực ra đều ở trên thân của Đường Tăng. Hắc Hùng Tinh ở sau núi Lạc Già, chỗ này là chỉ mặt lưng thận tạng của thân thể người, Hồng Hài Nhi theo gót Bồ Tát, chính là chỉ trong tâm của Đường Tăng. Chương nói về Đường Tăng cứu Tôn Ngộ Không ra khỏi núi Ngũ Hành Sơn, phần mở đầu viết rằng “Phật tức tâm hề tâm tức Phật”; trong hồi thứ 85 “Tâm viên đố mộc mẫu, Ma chủ kế thôn thiền”, Ngộ Không nói với Đường Tăng: “Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu, Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp, Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.” (Phật tại Linh Sơn không cầu đâu xa, Linh Sơn chính ở trong tâm của thầy. Mỗi người đều có một tháp Linh Sơn, Hướng vào tháp Linh Sơn ấy mà tu). Đường Tăng nói: “Đệ tử, sao ta không biết? Nếu dựa vào bốn câu này, thiên kinh vạn điển, cũng chỉ là tu tâm.” Cho nên từ góc độ này mà nói, Linh Sơn và Linh Đài Phương Thốn sơn có gì khác biệt? Phật Như Lai ở Linh Sơn xa xôi, lại nằm ngay tại trong tâm của chính bản thân mình. Đường Tăng trải qua mười vạn tám ngàn dặm, một cân đẩu vân của Ngộ Không cũng là mười vạn tám ngàn dặm. Với Tôn Ngộ Không mà nói việc đến Linh Sơn cũng chỉ là một niệm. Trong truyện cũng có câu: “Nếu có thể một niệm hợp với chân tu, diệt tận biết bao tội nghiệp dơ bẩn; còn có một niệm thiện từ, làm chấn động trời cao; trở về trời chỉ giống như một niệm.” Là một tác phẩm văn học mà nói, chỉ có viết dài dòng như thế này thì mới có thể triển hiện ra quá trình cùng sự tuyệt vời sinh động của tu luyện. Tôn Ngộ Không tranh đấu với Lục Nhĩ Mi Hầu (khỉ sáu tai), thực ra chính là chân ngã và giả ngã đấu tranh với nhau. Bản tính tiên thiên đó là tự kỷ thuần chính, nhưng con người nơi trần thế hình thành các loại quan niệm và cảm thụ, nó cấu thành tự kỷ, nhưng được gọi là tự kỷ hậu thiện. Đối với một việc tốt và xấu, người ta thường cân nhắc đắn đo, đây cũng là quá trình tự kỷ tiên thiên và tự kỷ hậu thiên đang thuyết phục nhau. Với người mà quan niệm hậu thiên quá mạnh, người đó đã hoàn toàn bị quan niệm hậu thiên che đậy rồi, cũng chính là đã đánh mất tự kỷ hậu thiên rồi, loại người này về cơ bản không tin vào tu luyện. Người ta trong quá trình tu luyện chính là phải trừ bỏ tất cả những quan niêm hậu thiên hình thành. Nhưng có khi quan niêm hậu thiên lại ngoan cố chiếm cứ tư tưởng của người đó. Chỉ khi nào bản thân hoàn toàn tĩnh lặng lại, bản tính tiên thiên mới có thể trừ bỏ quan niệm hậu thiên. Cho nên Lục Nhĩ Mi Hầu và Tôn Ngộ Không đại chiến tới mức không phân được thật giả, chỉ có thể dưới sự giám chiếu của bản tính đại giác mới có thể phân biệt ra được. Lúc này Phật Như Lai xuất hiện, cũng có thể coi là sự thể hiện chân thực Phật tính của Tôn Ngộ Không. (còn tiếp…)
  2. Tác giả: Đàn Trần [Chanhkien.org] “Tây Du Ký” từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được sự yêu mến của mọi người. Người ta không chỉ yêu thích các hình tượng nhân vật trong đó, tình tiết trong đó, mà cả tinh thần lạc quan hướng thiện thể hiện trong tác phẩm. Nhận thức của người Trung Quốc đối với tu luyện, Thần Phật, thế giới thiên quốc, yêu ma quỷ quái, rất nhiều đều có liên quan với “Tây Du Ký”. Về nội hàm và ý nghĩa chính của “Tây Du Ký” luôn có nhiều cách nói khác nhau và phức tạp, khó có thể đưa ra được kết luận. Sau khi tu luyện, tôi đã có một tầng nhận thức tương đối sâu, hôm nay chỉnh lý lại, mong muốn chia sẻ cùng quý độc giả. I. Quá trình tu luyện của Tôn Ngộ Không 1. Bản lai diện mục của Tôn Ngộ Không Mở đầu Tây Du Ký là nói về xuất thân của Tôn Ngộ Không, do một tảng đá tiên hấp thụ linh khí của trời đất và tinh hoa của nhật nguyệt mà sinh ra, theo cách nói của Bồ Đề Lão Tổ thì là “Trời Đất sinh ra”. Mục đích tác giả viết về Thạch Hầu này cũng được nói rất rõ ràng, trong truyện có câu thơ như sau: “Tá noãn hóa hầu hoàn Đại Đạo, Giả tha danh tính phối đan thành.” Lại nói, “Lịch đại nhân nhân giai chúc thử, Xưng thánh xưng vương nhậm tung hoành.” Vậy nên từ góc độ này mà nói, tác giả viết về quá trình Thạch Hầu cầu Đạo và tu luyện, cũng là đang giảng giải về quá trình tu luyện của một người. Mỹ Hầu Vương từ Đông Thắng Thần Châu, đi qua Nam Thiêm Bộ Châu, cuối cùng tìm được Tu Bồ Đề Tổ Sư ở Tây Ngưu Hạ Châu. Con đường xa xôi thế này dù sao cũng chỉ là quá trình một người cầu Đạo trải qua, nhưng cuối cùng tìm được Tổ Sư ở nơi nào? Trong truyện viết là, “Linh Đài Phương Thốn sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh động”. Ý hai câu này là nói về một chữ “tâm”, từ xưa người ta thường nói tâm thành “Linh Đài”, còn “Phương Thốn” cũng là để chỉ tâm, “Tà Nguyệt Tam Tinh động” lại càng dễ hiểu hơn, “Tam Tinh” (ba ngôi sao) chính là ba nét chấm của chữ “tâm” (心), “Tà Nguyệt” (vầng trăng khuyết) chính là nét móc nằm ngang. Mỹ Hầu Vương trải qua bao nhiêu gian khổ nguy hiểm, cuối cùng trong tâm của mình đã tìm được “chân Pháp” để tu luyện. Câu nói này rất phù hợp với cách nói của Phật gia, chính là “Phật tại tâm trung”, tức “tâm là Phật”. Nhưng không phải nói rằng trong tâm có ông Phật, mà là nói phải hướng nội mà tu, hướng vào trong tâm của mình mà tu, thì mới tu thành Phật được. Bước đường Mỹ Hầu Vương dù đi qua được bao nhiêu, trải qua bao nhiêu năm tháng, cuối cùng tự trong tâm mình đã ngộ được chân Pháp chân Đạo. Vậy sư phụ Tu Bồ Đề Tổ Sư của Tôn Ngộ không là ai? Ông lẽ nào lại có thể ở trong tim của Mỹ Hầu Vương? Trong truyện viết về Tôn Ngộ Không, có rất nhiều chỗ đều nhắc đến chữ “tâm viên” (tâm viên – ví một người nông nổi, tâm trí bất an như loài khỉ loài vượn luôn chạy nhảy). Hồi thứ 7 “Bát Quái lư trung đào đại thánh, Ngũ Hành sơn hạ định tâm viên” còn một câu tụng nữa: “Viên hầu đạo thể giả nhân tâm, Tâm tức viên hầu ý tứ thâm.” Vậy thì, Tôn Ngộ Không là “tâm viên” của ai? Thực ra Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã, năm vị này hợp lại chính là một người. Tôn Ngộ Không chính là tượng trưng cho cái tâm của Đường Tăng. Xét về Tôn Ngộ Không không thể xét một cách đơn nhất riêng lẻ, Tôn Ngộ Không là những mảnh ghép tượng trưng cho nhiều hình tượng. Một mặt là thể hiện hình tượng hóa của cái tâm con người, mặt khác lại thể hiện ra một người trong tu luyện với ý chí và thân thể mạnh mẽ (cương dương), trong truyện dùng chữ “kim công” chính là để chỉ về Tôn Ngộ Không. “Kim công” là theo cách nói về ngũ hành đối ứng với ngũ tạng trong thân thể người; thỉnh thoảng còn dùng nó để nói về dục trong “lục dục”, ví dụ như, câu thơ mở đầu hồi thứ 17 viết: “Lục bàn thể tương lục bàn binh, Lục dạng hình hài lục dạng tình; Lục ác lục căn duyên lục dục, Lục môn lục đạo đổ thâu doanh”. Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, và ba yêu ma khác chính là chỉ lục dục của con người. Khi Bồ Đề Lão Tổ đặt tên cho Tôn Ngộ Không, ông đã nói: “Tử giả, nhi nam dã; hệ giả, anh tế dã. Chính hợp anh nhân chi bổn luận. Giáo nhĩ tính ‘Tôn’ bãi”. Điều này xét từ góc độ khác có thể thấy rằng một người khi tu luyện đến một tầng thứ nhất định nào đó, thì nguyên anh được sinh ra tại đan điền. Đối với Hoa Quả sơn và Thủy Liêm động mà nói, đó chính là tượng trưng cho thân thể và trái tim của Tôn Ngộ Không. Thạch Hầu sau khi nhảy qua tấm màn bằng nước đã vào được trong Thủy Liêm động, Thủy Liêm được nhắc đến trong truyện, chính là, “Kiều hạ chi thủy, xung quán vu thạch khiếu chi gian, đảo quải lưu xuất khứ, già bế liễu kiều môn” (Nước dưới cây cầu, xông qua huyệt giữa núi đá, chảy ngược ra ngoài, che lấp đi cửa lên cầu), đây cũng là miêu tả hình tượng hóa chữ “tâm”. Tôn Ngộ Không sau khi ngộ Đạo và trong cuộc đại chiến với Thiên binh Thiên tướng, đã phong hai con Xích Khào Mã Hầu và hai con Thông Bối Viên Hầu làm kiện tướng, đó cũng là tứ chi của Tôn Ngộ Không. Cho nên trong khi đại chiến với các vị thần, 72 yêu vương đều có thể bị bắt đi, nhưng 4 kiện tướng này bao gồm cả bầy khỉ, không có một con nào bị bắt đi. Nhưng trước khi Tôn Ngộ Không bị bắt giữ, bốn kiện tướng và bầy khỉ đã bị làm cho phân tán rời rạc. Tôn Ngộ Không là “tâm viên” của Đường Tăng, Tu Bồ Đề lại ở trong tâm của Tôn Ngộ Không, vậy rốt cuộc Đường Tăng và Tu Bồ Đề có quan hệ thế nào? Trong “Tây Du Ký” nói rằng Đường Tăng là đồ đệ thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni – Kim Thiền Tử – chuyển sinh. Nhưng trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni lại không có người nào tên Kim Thiền Tử, điều này nói rõ rằng tác giả dùng cái tên “Kim Thiền Tử” không có thật chỉ là để lấy ý trong “Kim Thiền thoát xác”. Mà trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni lại đúng có vị tên là “Tu Bồ Đề”. Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn khi đó là thời Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Từ khi Tôn Ngộ Không sinh ra đến khi sinh tâm học Đạo đã ở trong núi trải qua hơn 500 năm, rồi đến khi cầu Đạo học Đạo lại trải qua mấy chục năm, cứ tính như thế, thì Tôn Ngộ Không chính là sinh ra trong thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp. Từ một góc độ khác mà xét, Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn 500 năm, cũng vừa khớp với thời gian Đường Tăng tu hành 9 kiếp trước. Lai lịch nguyên gốc của Tôn Ngộ Không, Đường Tăng, Tu Bồ Đề là cùng một thời đại, thông qua miêu tả như trong truyện, ba vị này cũng có thể xem là một người. Bồ Đề Lão Tổ dùng thước đánh vào đầu Ngộ Không ba cái, Ngộ Không liền ngộ được rằng Tổ Sư muốn bảo mình rằng sau canh ba đi học nghệ. Thực ra chuyện này xuất phát từ điển cố “Lục Tổ đàn kinh”, Lục tổ Huệ Năng từng làm bài kệ, “Bồ Đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài; Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nặc trần ai?” (Bồ Đề vốn chẳng phải cây, Gương sáng cũng chẳng phải đài; Xưa nay không có vật gì, Nơi nào không dính bụi trần?) Sau khi Ngũ tổ thấy được Huệ Năng đã có thể ngộ được bản tính, ông sợ Huệ Năng bị người khác hại, nên đã xóa bài kệ đi. Hôm sau, Ngũ tổ lặng lẽ tìm đến Huệ Năng, thấy Huệ Năng đang giã gạo, Ngũ tổ nói vài lời xong, rồi dùng thiền trượng gõ vào cối đá ba cái, đoạn rời đi. Lúc đó Huệ Năng đã hiểu được ý của Ngũ tổ, nên đến canh ba nửa đêm, ông lặng lẽ đến chỗ của Ngũ tổ; Ngũ tổ dùng áo cà sa che ánh sáng của ngọn đèn trước cửa sổ, và giải thích kinh “Kim Cương” cho Huệ Năng. Huệ Năng cuối cùng đã ngộ được hết vạn pháp, không rời tự tính. “Tự tính” ở đây chính là chỉ bản tính của con người, trong “Kim Cương Kinh”, “tự tính” được gọi là “Bồ Đề”. Tâm Bồ Đề được nói đến trong Phật giáo chính là để chỉ bản tính tiên thiên thuần khiết của con người. Mà “Kim Cương Kinh” chính là ghi lại lời đối thoại của Phật Thích Ca Mâu Ni với tôn giả Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề vốn là đệ tử thứ mười của Phật Thích Ca, được gọi là “Giải không đệ nhất”, Bồ Đề Tổ Sư đặt tên cho Ngộ Không là “Ngộ Không” cũng là điều dễ hiểu. Thực ra từ góc độ khác mà nói, đây cũng là Ngộ Không tự đặt tên cho mình mà thôi. Ngay cả Đường Tăng cũng khen Tôn Ngộ Không, nói rằng “tâm không” mà Tôn Ngộ Không giải được là “vô ngôn ngữ văn tự, nãi thị chân giải” (không có lời nói chữ viết, chính là giải được thật sự). Đương nhiên, Kim Thiền Tử và Tu Bồ Đề có phải là một người hay không, chúng ta không cần phải đưa ra kết luận này. Đúng cũng được mà không đúng cũng được, họ chỉ là có mối quan hệ như vậy, Phật gia giảng chính là một chữ “không”, là cái gọi là “vạn Pháp không tướng”. Kỳ thực tác giả sắp đặt như vậy, còn có dụng ý sâu xa hơn nữa, chúng ta hãy từ từ bàn luận. 2. Sự tu luyện của Tôn Ngộ Không Mấu chốt của tu luyện chính là tu tâm. Khi Bồ Đề Tổ Sư hỏi Ngộ Không tên là gì, Ngộ Không nói: “Ngã vô danh, nhân nhược mạ ngã, ngã dã bất não, nhược đả ngã, ngã dã bất sân, chỉ thị bồi cá lễ nhi tựu bài liễu. Nhất sinh vô tính” (Con không có danh tính. Nếu người khác chửi con, con không thấy phiền não; nếu người khác đánh con, con cũng không tức giận; chỉ là lấy lễ đáp lại là được. Một đời không có tên.) Điều này xem ra giống như vô ý đổi chủ đề, nói về Ngộ Không trong quá trình cầu Đạo cũng đã là đang tu tâm rồi. Chính vì có tâm tính cao như vậy, nên Ngộ Không mới có thể nhanh chóng ngộ Đạo. Bồ Để Lão Tổ truyền thụ cho Ngộ Không “Hiển mật viên thông chân diệu quyết”, từ tên gọi mà nói, chính là gộp mật quyết tu luyện của cả hiển giáo và mật giáo trong Phật giáo làm một. Nhưng nội dung trong đó lại hoàn toàn là nội dung tu luyện của Đạo gia. Trong đó: “Nguyệt tàng ngọc thố nhật tàng ô, tự hữu quy xà tương bàn kết. Tương bàn kết, tính mệnh kiên, tức năng hỏa lý chủng kim liên. Toàn thốc ngũ hành điên đảo dụng, công hoàn tùy tác Phật hòa Tiên.” Ở đây bao hàm các thuật ngữ và quy luật tu luyện của Đạo gia. “Nguyệt tàng ngọc thố, nhật tàng ô” có ý là, khi chu thiên vận hành thì nước ở bể thận dâng lên, khí ở tim giáng xuống, từ đó mà đạt được thủy hỏa hòa hợp, cũng chính là nói thủy hỏa ký tế (ký tế – một quẻ trong Bát Quái). Bởi vì thủy thuộc quẻ Khảm trong Bát Quái, nên dùng chữ “nguyệt” (mặt trăng) để hình dung. Hình quẻ của quẻ Khảm (☵) là một hào dương ở giữa hai hào âm, “ngọc thố” chính là chỉ một hào dương kia. Tim trong ngũ hành thuộc về hỏa, nên dùng “nhật” (mặt trời) để ví, hỏa là quẻ Ly (☲), hình quẻ Ly là một hào âm ở giữa hai hào dương, một hào âm kia cũng chính là “ô” (con quạ). Quy xà tương bàn kết, là chỉ âm dương hòa hợp. “Ngũ hành điên đảo dụng” là chỉ thủy thăng hỏa giáng, mộc chìm xuống, kim nổi lên, mà lại dùng thổ (đất) để điều hòa. Điều này cũng là phù hợp với thuyết “hậu thiên trở về tiên thiên” trong tu luyện của Đạo gia. Kết hợp với điều nói ở phần sau của “Tây Du Ký” là “Linh Quy hấp tận Kim Ô huyết” thì có thể hiểu được ngay: Đạo gia cho rằng, con người trước khi sinh ra, thận tạng đối ứng với quẻ vị là Khôn (☷), tâm tạng đối ứng là Càn (☰), quẻ Khôn là ba hào âm tạo thành, quẻ Càn do ba hào dương tạo thành. Con người khi sinh ra, quẻ Khôn liền biến thành quẻ Khảm, quẻ Càn biến thành quẻ Ly. Từ đó quẻ Khảm lấy dương bổ sung vào trong quẻ Ly, quẻ Ly biến thành quẻ Càn. “Kim Ô huyết” trong cách nói “Linh Quy hấp tận Kim Ô huyết” là chỉ hào âm trong quẻ Ly, đặt trong quẻ Khảm, liền biến thành quẻ Khôn. Đây chính là thuyết hậu thiên quay trở về tiên thiên, cũng chính là ý trật tự ngũ hành thay đổi. Kỳ thực, sau khi Bồ Đề Tổ Sư truyền thụ phương pháp tu luyện cho Tôn Ngộ Không, sư đồ Đường Tăng tu luyện trong khi đi thỉnh kinh, thì trên cơ bản chiểu theo phương pháp tu luyện này mà đi. Bồ Đề Tổ Sư truyền thụ cho Tôn Ngộ Không cách tránh “tam tai” trong “thiên lôi, âm hỏa, bị phong”, trong đó toàn là thuật ngữ tu luyện của Đạo gia. Trong truyện cũng nhiều lần nhắc đến Tôn Ngộ Không tu thành “Thái Ất tản tiên”. Ngộ Không học Đạo trở về, việc làm đầu tiên chính là tiêu diệt “Hỗn thế ma vương”. Giới tu luyện giảng, con người có Phật tính, cũng có ma tính, tu luyện chính là quá trình trừ bỏ ma tính, củng cố Phật tính. Vậy Ngộ Không ngộ được bản tính, đương nhiên cần phải thanh trừ ma tính của chính mình. “Hỗn thế ma vương” này chính là tượng trưng cho ma tính của Ngộ Không. Thực ra từ chính mỗi người mà nói, ai mà không có tư tưởng và đặc trưng của hỗn thế (thế gian hỗn loạn). Trong truyện nói rằng Hỗn thế ma vương trú ở phía Bắc Hoa Quả sơn trong“Tam giới khảm nguyên sơn, Từ dưỡng ngũ hành thủy tạng động” thực ra chính là chỉ về bộ phận thận tạng. Thận tạng của thân thể con người trong ngũ hành là thuộc về tính thủy. Mà “Khảm” (☵) trong tám quẻ của Bát Quái lại là chỉ thủy, phương vị thuộc hướng Bắc. Từ chỗ này chúng ta có thể nhìn ra Hoa Quả sơn chính là tượng trưng cho thân thể của Tôn Ngộ Không. Tên hiệu của Hỗn thế ma vương kia và ma tính trong thân người cũng rất phù hợp với nhau. Cho nên, Ngộ Không tiêu diệt Hỗn thế ma vương cũng là một phương diện trong tu luyện của bản thân. Tiêu đề trong hồi này: “Ngộ triệt Bồ Đề chân diệu lý, Đoạn ma quy bản hợp nguyên thần”, chính là nói rõ về vấn đề này. Quá trình Ngộ Không lấy của Long Vương cây Kim Cô bổng, miêu tả làm cho người ta cảm thấy như thân ở trong cảnh, kỳ thực đó cũng chỉ bất quá là tầng thứ tu luyện của Ngộ Không biểu hiện ra như ý mà thôi. Trong truyện nói Ngộ Không từ Thủy Liêm động dưới cầu Thiết Bản mà trực tiếp xuống đáy biển, dưới đáy biển nhìn thấy cây sắt “Định hải thần châm”, cũng gọi là “Như ý Kim Cô bổng”. Ở đây tác giả dùng một cách nói ẩn dụ, là chỉ về định lực và tầng thứ của Tôn Ngộ Không. Bình thường mà nói, thông thường gọi huyệt hội âm là đáy biển, Tôn Ngộ Không từ Thủy Liêm động nhảy trực tiếp xuống biển, đó là nói lên hình tượng hóa của Tôn Ngộ Không khi nhập định. Lại nói về cây sắt định hải thần châm, nó chính là định sự nông sâu của sông biển, làm binh khí cũng chính là thành gậy sắt như ý. Tôn Ngộ Không được phong làm Bật Mã Ôn cũng là có dụng ý. Trong sách ví Tôn Ngộ Không là “tâm viên”, ví Bạch Long Mã thành “ý mã”, có câu thơ như thế này: “Mã viên hợp tác tâm hòa ý, Khẩn phược thuyên lao mạc ngoại tầm”. Trong câu tiêu đề khái quát nội dung của “Tây Du Ký” có câu, “Ý mã ức tâm viên”, cũng là đạo lý này. Tôn Ngộ Không ở trên trời trông nom thiên mã (ngựa trời), ý nghĩa chính là chỉ tâm của một người cần phải quản chắc cái ý của chính mình, không được để tâm mình suy nghĩ lung tung. Sau khi Tôn Ngộ Không được phong làm Tề Thiên Đại Thánh, trong Tề Thiên Đại Thánh phủ còn thiết lập ra hai ti: một ti gọi là ‘An Tịnh ti’, một gọi là ‘Ninh Thần ti’. An tịnh và ninh thần chính là để cho Ngộ Không an tâm định thần. Từ một góc độ khác mà nói, Tôn Ngộ Không tự phong làm “Tề Thiên Đại Thánh” cũng có đạo lý. Đạo gia tu luyện coi thân thể người là một tiểu vũ trụ, sau khi người ta tu luyện đắc Đạo, chính từ tự thân mà nói, thì thọ mệnh của người đó sánh ngang với trời, hợp nhất với trời, gọi là Tề Thiên Đại Thánh cũng chính là chỉ ý này. Có điều “Tây Du Ký” là một tác phẩm văn học, là lấy hình thức văn nghệ để truyền tải nội dung, cho nên biểu hiện bề mặt viết rất hấp dẫn và phức tạp, thực chất biểu hiện ra lại là có dụng ý khác. Lại nói thêm, việc Tôn Ngộ Không tự đặt biệt hiệu cho mình, cũng là để cho bản tính kiêu ngạo được biểu hiện ra. Tôn Ngộ Không sau khi bị bắt cho vào lò Bát Quái để luyện, đó cũng là biểu hiện của một loại hình thức tu luyện khác, Hỏa nhãn kim tinh (đôi mắt lửa sáng ánh kim), Đồng đầu thiết tý (đầu cứng như đồng, tay dẻo như thiếc), cũng là trải qua quá trình luyện trong lò Bát Quái mà thành. Bảy hồi đầu của “Tây Du Ký” viết về xuất thân và quá trình tu luyện của Tôn Ngộ Không. Xem sự dũng mãnh và uy lực mạnh mẽ của Tôn Ngộ Không khi đại náo Thiên Cung, đó cũng là một hình thức biểu hiện của tu luyện. Trong toàn cuốn sách, phần này là hấp dẫn người đọc nhất, Thần tướng khắp trời mà không làm thế nào bắt được một con khỉ. Xem Tôn Ngộ Không học Đạo tiên, mượn binh khí, ăn đào tiên, uống ngự tửu, trộm tiên đan, đánh bại Na Tra, đại chiến Nhị Lang, trong lò Bát Quái luyện mắt vàng, chơi đùa hung dữ trong tay Phật Tổ, thật làm cho người ta hét lên khoái chí. Trong hình thức biểu hiện nhiều lần lặp lại tình huống, điều ẩn giấu chính là nội hàm của một người tu luyện. Tu luyện Đạo gia coi thân thể người là một tiểu vũ trụ, sự tu luyện của Tôn Ngộ Không là hoàn thành chính trên thân thể mình. Thực ra, sự tu luyện của bất kỳ ai cũng là tu luyện thân và tâm của chính mình. Vậy Thiên Cung mà Tôn Ngộ Không đại náo nằm ở đâu? Đó chính là đầu của Tôn Ngộ Không, sau khi nhảy ra từ lò Bát Quái, Tôn Ngộ Không nói với Phật Như Lai rằng muốn ngồi ở Linh Tiêu Bảo Điện, thay thế Ngọc Hoàng Đại Đế. Linh Tiêu Bảo Điện nằm ở đâu? Chính là Nê Hoàn Cung của con người, chủ nguyên thần của người ta chính là ở đó. Tôn Ngộ Không muốn đuổi Ngọc Hoàng Đại Đế đi, làm sao được cơ chứ? Giống như một người, nếu không có chủ nguyên thần, thì những điều khác chẳng cần bàn tới nữa; chủ nguyên thần làm chủ và điều khiển hết thảy tâm và thân một người, sự ngông cuồng của Tôn Ngộ Không chính là tới mức không biết trời cao đất dày là gì, vậy thì đến lúc bị mắc kẹt dưới núi Ngũ Hành Sơn rồi. 3. Sự kiêu ngạo của Tôn Ngộ Không Sự kiêu ngạo của Tôn Ngộ Không thật đáng để chúng ta bàn luận một chút. Tôn Ngộ Không xuất thân tại nước Ngạo Lai ở Đông Thắng Thần Châu, điều này nói rõ rằng Tôn Ngộ Không vốn sinh ra đã kiêu ngạo. Vào đến Thủy Liêm Động được bầy khỉ bái làm Vương. Bản thân là một con khỉ đá, lại tự xưng là “Mỹ Hầu Vương”. Trên Thiên Đình được phong làm Bật Mã Ôn, kiêm chức quan nhỏ, đại náo Thiên Cung, rồi tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh, cuối cùng cuồng vọng đến mức muốn đuổi cả Ngọc Hoàng Đại Đế đi, để ngồi thay vị trí của ông. Trong tay Phật Như Lai nhảy cân đẩu vân, cho rằng đã đến tận cuối trời, để lại ký hiệu cũng ghi là “Tề Thiên Đại Thánh đã đến nơi đây”, cái tâm ngạo mạn đã lộ rõ ra ngoài. Thực ra cái tâm ngạo mạn của Tôn Ngộ Không cũng là ám chỉ và nhắc nhở con người thế gian. Con người sống ở thế gian, theo cách nói của tôn giáo thì đều là có “tội” cả. Nhưng mà, thế gian lại vốn là một không gian mê, con người lại không biết tất cả những gì của bản thân mình đều là do Thần Phật trông nom bảo hộ, một khi có được bản sự rồi, liền bắt đầu cho rằng mình là duy nhất. Đặc biệt trong tu luyện, sự ngạo mạn này chính là bất kính đối với Thần Phật. Với người tu luyện, tất cả mọi thứ của bản thân mình đều là do Thần Phật an bài, diễn hóa, chăm nom bảo hộ, cũng là nói bản thân mình chính là một sinh mệnh mà Thần Phật tạo ra. Một người có cái tâm kiêu ngạo rồi, lại không chỉ là kiêu ngạo đối với một sự việc nào đó thôi, mà là trong tất cả các hành vi của người đó đều thể hiện ra tâm ngạo mạn. Trong “Tây Du Ký” có nói, Đường Tăng là Kim Thiền Tử – đệ tử thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni, chỉ vì khinh mạn Phật Pháp mà bị đọa xuống hạ giới. Kim Thiền Tử vì sao khinh mạn Phật Pháp, đó chẳng phải là ông có tâm kiêu ngạo mới dẫn đến việc ông dám khinh mạn Phật Pháp hay sao? Kết cục cuối cùng là bị đày xuống hạ giới, tu hành lại từ đầu. Sự cuồng ngạo của Tôn Ngộ Không cũng rơi vào kết cục là bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn trong 500 năm. II. Thỉnh kinh và tu luyện “Tây Du Ký” là truyện kể về thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, đúng hơn thì đây là một câu chuyện về tu luyện. Khó khăn và sự ma luyện trên đường đi thỉnh kinh, chính là những ma nạn mà một người trong quá trình tu luyện ắt phải trải qua. Tại sao lại nói là ma nạn ắt phải gặp? Ví như thất tình lục dục của một người, đó là điều mà ai ai cũng có, như trong “Tây Du Ký” dùng bảy con nhện tinh (thất tinh) để hình dung về thất tình. Những ma nạn này, bề mặt thì thấy là những nhân tố bên ngoài, nhưng rốt cuộc đều có liên quan đến tự thân, cũng chính là ma nạn của bản thân mỗi người. Trong giới tu luyện gọi việc trừ bỏ ma tính của bản thân là “luyện ma”. Tiêu trừ ma tính, chính là dựa vào Phật tính của chính mình, đây cũng là một trong những nguyên nhân ở bảy hồi đầu lại chú trong về miêu tả Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không chính là tượng trưng cho Phật tính của Đường Tăng. 1. Ngũ vị nhất thể, trong đó ẩn chứa nhân tố tu luyện Năm vị, gồm thầy trò Đường Tăng cùng với Bạch Long Mã, có thể coi như là một người, trong truyện cũng nhiều lần ám chỉ về điều này. Đoạn cuối cùng của tác phẩm khi viết đến “Ngũ Thánh thành chân” có một bài thơ nói rõ hơn về vấn đề này, trong đó bốn câu mở đầu là: “Nhất thể chân như chuyển lạc trần, Hợp hòa tứ tướng phục tu thân. Ngũ hành luận sắc không hoàn tịch, Bách quái hư danh tổng mạc luận.” “Nhất thể chân như” chính là chỉ một người; “hợp hòa tứ tướng”, là thuật ngữ trong tu luyện. Trong tu luyện của Đạo gia cổ xưa, thường lấy huyền vũ, chu tước, thanh long, bạch hổ để lần lượt chỉ thận, tim, gan, phổi. Trong ngũ hành chúng lần lượt thuộc thủy, hỏa, mộc, kim. Tương sinh trong ngũ hành, đó là mộc sinh hỏa, kim sinh thủy; trong “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nói rằng, long mộc sinh hỏa, thuộc về tâm. Hổ kim sinh thủy, cùng một hệ với thân thể. Tâm không động, thì nguyên khí tụ lại; thân không động, thì tinh khí tụ lại. Tinh ngưng khí tụ, tức là chỉ kim mộc thủy hỏa trộn lẫn với nhau trong thổ (đất). “Hợp hòa tứ tướng” tức là chỉ về điều này. Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã đối ứng với thuộc tính của ngũ hành lần lượt là thủy, kim, mộc, thổ, hỏa. Trong truyện thường dùng “kim công” để chỉ Tôn Ngộ Không, “mộc mẫu” để chỉ Trư Bát Giới. Đối ứng với “mẫu” và “công” cũng chính là âm và dương. Còn có một hàm ý nữa, bởi vì hỏa sinh kim, nên gọi là “kim chi công”, do đó “kim công” cũng là chỉ về hỏa; bởi vì thủy sinh mộc, nên gọi là “mộc chi mẫu”, cho nên “mộc mẫu” cũng hàm chứa thủy trong đó. Từ thuộc tính âm dương mà nói, mộc và thủy cùng thuộc âm, kim và hỏa lại đều thuộc về dương, âm dương hợp lại tất do thổ tương trợ, thổ tức chỉ Sa Hòa Thượng, còn được gọi là “hoàng bà”. Cho nên quá trình đi thỉnh kinh trong “Tây Du Ký”, đều là do ba vị – Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng – trảm yêu trừ ma. Quá trình trảm yêu trừ ma cũng chính là quá trình tu luyện. Sự đối ứng từ trong nội tạng cho đến thân thể của thầy trò Đường Tăng cũng không chỉ là máy móc như trên. Đường Tăng thuộc thủy, ứng với thận tạng. Nhưng Đường Tăng là chủ nguyên thần của người, nơi trú ngụ của chủ nguyên thần chính là trong Nê Hoàn Cung của con người. Trư Bát Giới làm mộc mẫu, cũng là chỉ về thủy, ở vị trí thận tạng. Trong “Tây Du Ký” có mượn lời của Trư Bát Giới để thuyết minh, nói Trư Bát Giới được “Noãn Nhị Thư” kén làm rể. Vị Noãn Nhị Thư này chính là ví như hai quả thận của người ta vậy. Bộ phận tì tạng (lá lách) chính là đối ứng của Sa Hòa Thượng. Bởi vì tác dụng của tì tạng là vận hóa thủy cốc (chuyển hóa thức ăn), vận chuyển phân bố và vận hành thủy dịch. Do đó nơi ở Lưu Sa Hà của Sa Hòa Thượng mới là “Nga mao phiêu bất khởi, Hồ hoa định để trầm”. Tôn Ngộ Không ở bộ vị tâm tạng thì không cần nói nữa, Bạch Long Mã cũng ứng với chỗ này (tâm), bởi vì mã thuộc về hỏa, đối ứng với nội tạng là tâm tạng, lại nói rằng tâm và ý là cùng một thể. Trong “Tây Du Ký”, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới luôn tranh đấu, đố kỵ, châm chọc không dứt, đó chính là âm dương giao phối trong quá trình tu luyện. Trong đó Sa Hòa Thượng đóng vai trò điều hòa. Mãi đến cuối cùng, ba vị này mới đạt đến trạng thái điều hòa một cách hài hòa nhất trí. Trong truyện còn có câu thơ như sau: “Ngũ hành tứ phối hợp thiên chân, Nhận đắc tòng tiền cựu chủ nhân. Luyện kỉ lập cơ vi diệu dụng, Biện minh tà chính kiến nguyên nhân. Kim lai quy tính hoàn đồng loại, Bản khứ cầu tình cộng phục luân. Nhị thổ toàn công thành tịch mịch, Điều hòa thủy hỏa một tiêm trần.” Năm trăm năm trước Tôn Ngộ Không đã tu luyện thành Tiên, Đường Tăng cũng là người tu hành mười kiếp, vậy còn Bát Giới và Sa Tăng? Bát Giới từng kể với Ngộ Không về quà trình tu hành đời trước: “Đắc truyền cửu chuyển đại hoàn đan, Công phu trú dạ vô thời xuyết. Thượng chí đỉnh môn Nê Hoàn Cung, Hạ chí cước bản dũng tuyền huyệt. Chu lưu thận thủy nhập hóa trì, Đan điền bổ đắc ôn ôn nhiệt. Anh nhi sá nữ phối âm dương, Duyên hống tương đầu phân nhật nguyệt. Ly long khảm hổ dụng điều hòa, Linh quy hấp tận kim ô huyết. Tam hoa tụ đỉnh đắc quy căn, Ngũ khí chiêu nguyên thông thấu triệt.” Sa Tăng cũng đã từng bộc bạch rằng: “Nhân thử tài đắc ngẫu Chân Nhân, Dẫn khai đạo kim quang lượng. Tiên tương anh nhi sá nữ thụ, Minh đường thận thủy nhập hoa trì. Trọng lâu can hỏa đầu tâm trạng, Tam thiên công mãn bái thiên nham, Chí tâm chiêu lễ minh hòa hướng.” Còn một vấn đề nữa cần phải nói rõ, đó chính là tại sao năm vị này lại bị đọa xuống hạ giới? Đường Tăng, Ngộ Không đều là vì ngạo mạn; Trư Bát Giới vì trêu ghẹo Hằng Nga; Sa Hòa Thượng vì lỡ tay làm vỡ chén lưu ly; Tiểu Bạch Long vì phóng hỏa đốt viên minh châu. Những tội này tại góc độ con người thế gian mà xét, xem ra cũng chưa là gì, nhưng ở một cảnh giới cao hơn mà xét, đó là vì những sinh mệnh này đã trở nên bất thuần. Từ góc độ tu luyện mà xét thì con người cần phải tu luyện đến vô lậu mới có thể viên mãn. Thế nào là vô lậu? Đó chính là không còn có bất kỳ tâm chấp trước nào, từng suy nghĩ đều là thuần chính, thì mới có thể đắc đạo thành Tiên thành Phật được. Tương ứng như vậy, những vị Tiên gia tu luyện thành tựu tại các quả vị khác nhau, tư tưởng cảnh giới của họ cũng đều là thuần chính cả. Chỉ cần có một chút sai sót thì cũng không thể ở tại tầng thứ đó nữa. Tội của Sa Hoà Thượng xem thì giống như một chút tội nhỏ, nhưng mà một chút tội nhỏ này lại là điều căn bản mà tại cảnh giới đó không được xảy ra. Tại sao lại lỡ tay được đây? Đó chẳng phải là thất thần rồi hay sao? Chẳng phải là trong tâm có tạp niệm hay sao? Từ góc độ này mà nhìn về tu luyện, thấy là việc vô cùng nghiêm túc. Quan hệ nội tại của sư đồ Đường Tăng trong truyện cũng có ám chỉ: Đường Tăng là người tu hành mười kiếp; Tôn Ngộ Không là đồ đệ đời thứ mười của Bồ Đề Tổ Sư; ngay cả vòng đeo ở cổ của Sa Tăng cũng là chín cái đầu lâu của người đi thỉnh kinh. Từ khía canh khác mà nói, bốn thầy trò Đường Tăng lần lượt nói rõ chi tiết về những phương diện của người tu luyện. Đường Tăng bề ngoài nhìn thì không có chút năng lực gì, yếu đuối lại còn nhát gan, nhưng có một niềm tin đi thỉnh kinh vững như bàn thạch; Tôn Ngộ Không là tâm viên, hoạt bát, thông minh lanh lợi, không bị bó buộc, có thể phân biệt rõ thật giả, lại có khả năng trảm yêu trừ ma; Bát Giới thì rất giống lợn, hay ăn không hay làm, lại còn háo sắc, thích an nhàn, muốn chiếm phần hơn, đố kỵ với người giỏi hơn mình; Sa Hòa Thượng biểu hiện cần cù, chăm chỉ, biết thân biết phận, làm tròn bổn phận, thanh tịnh mà lại nhân hậu; Bạch Long Mã tuy không miêu tả nhiều, nhưng cũng lại là một hình tượng âm thầm lặng lẽ, chỉ tiến về phía trước, không ngại gian khổ nguy hiểm. 2. Ngũ Hành Sơn, Lưỡng Giới Sơn và sự hạn chế thần thông của Tôn Ngộ Không Tôn Ngộ Không bị Phật Như Lai đè dưới núi Ngũ Hành Sơn còn có một ẩn ý, Tôn Ngộ Không tượng trưng cho sự tu luyện Đại Đạo cũng đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình (cùng Bồ Đề Tổ Sư) rồi. Theo Phật gia giảng, thì Tôn Ngộ Không đã “minh tâm kiến tính rồi” (tâm đã sáng tỏ, đã thấy được bản tính thật sự của mình); đương nhiên, sau khi “minh tâm kiến tính” chính là “kiến tính thành Phật” (thấy rõ được bản tính của mình thì thành Phật), nhưng đây lại không chỉ đơn giản giống như hai câu nói này. Sau khi Tôn Ngộ Không ngộ Đạo, trở về Hoa Quả Sơn tại sao cần phải thanh trừ Hỗn thế ma vương? Tại sao lại phải đại náo Thiên Cung? Ở trong lò Bát Quái tại sao lại còn phải tu luyện thêm nữa? Cho nên mới nói, mặc dù quá trình tu Đạo của Tôn Ngộ Không đã hoàn thành, nhưng vẫn cần phải tiếp tục tu luyện, để ma tính của bản thân (ví như tâm tự kiêu) phải hoàn toàn ma luyện cho mất đi, thì mới có thể chính thức tu luyện thành công được. Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn chính là để cho anh ta trải qua ma nạn. Ngũ hành trong Ngũ Hành Sơn ý nói là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cũng là nói, trước đây Tôn Ngộ Không tượng trưng cho người tu luyện Đại Đạo, hoàn toàn là là từ góc độ của “tâm viên” mà biểu hiện ra quá trình tu luyện của một người. Mà khi cuồng ngạo rồi bị đè dưới Ngũ Hành Sơn rồi, Tôn Ngộ Không cũng giống như bị chôn vùi nơi trần thế. Đường Tăng cứu Tôn Ngộ Không ra khỏi Ngũ Hành Sơn, nhưng không không phải là Tôn Ngộ Không đã thoát khỏi được nơi trần thế, mà là nói chủ thân thể đã bắt đầu tu luyện, tượng trưng cho cái tâm của Tôn Ngộ Không tự nhiên cũng hợp nhất với chủ nhân mà bắt đầu tu luyện. Trong đó vẫn còn một vấn đề nữa. Rất nhiều người tu Đạo đều hiểu rằng, trước khi một người tu luyện, nói không chừng đời trước của vị ấy, thậm chí đời đời kiếp kiếp vẫn còn đang trong tu luyện, đương nhiên người tu luyện kia, cũng giống với Tôn Ngộ Không ở bảy hồi trước đó, có thể có được những thần thông to lớn. Nhưng một khi người đó chuyển thế, thì ở đoạn thời gian không tu Đạo trước đó, người này giống như đang ngủ, hoàn toàn mê mờ trong người thường. Nếu như bắt đầu tu luyện, phía mặt bản tính của anh ta tỉnh ngộ, thì mới cố thể chân chính tu Đạo. Từ đó quay trở về, có người phải trải qua nhiều lần mới có thể tu luyện viên mãn được. Đường Tăng chính là người tu hành mười đời. Đương nhiên, khi giới thiệu thế này, đã tiết lộ một vấn đề khác, đó là thần thông của Tôn Ngộ Không; tại sao trước khi đi thỉnh kinh cùng Đường Tăng, Thần tướng đầy khắp trời không làm được gì Tôn Ngộ Không, nhưng khi vừa đi cùng Đường Tăng, vì sao lại có nhiều việc không như ý. Đó chính là vì trước khi đi cùng Đường Tăng, biểu hiện của Tôn Ngộ Không hoàn toàn là tâm tính của một người tu luyện, do đó mới để cái tâm tu luyện biểu hiện ra hết, vậy đương nhiên có thể không có bất kỳ sự hạn chế nào trên trời dưới biển. Nhưng khi đi cùng Đường Tăng, cũng bằng như nhiều hơn một nhục thân, do đó thần thông của Tôn Ngộ Không cũng chịu sự hạn chế. Còn một vấn đề nữa, ma nạn trên đường đi thỉnh kinh, bề ngoài thì trông giống như nhắm vào Đường Tăng, nhưng trong tình huống tâm chấp trước của Đường Tăng chưa vứt bỏ, bản sự của Tôn Ngộ Không có lớn đến mấy cũng không thể thi triển ra được. Giống như trận chiến giữa Tôn Ngộ Không và Hồng Hài Nhi, Hồng Hài Nhi là tượng trưng cho tâm hỏa quá vượng của Đường Tăng, cũng có thuộc tính của tâm, thậm chí có thể nói là một bộ phận của tâm. Bởi vì Tôn Ngộ Không tượng trưng cho tâm nên làm sao một gậy có thể đánh chết được Hồng Hài Nhi? Bởi vậy phải đợi mời Bồ Tát đến, sau khi trừ bỏ tâm hỏa, thì tâm mới có thể quy chính được. Ngũ Hành Sơn vì sao lại đổi thành Lưỡng Giới Sơn? Biểu hiện là giới tuyến quốc gia, nhưng thực chất là giới tuyến trước và sau của một người tu luyện. 3. Tám mươi mốt nạn từ đâu đến Lúc đầu Đường Tăng đi thỉnh kinh, trên đường qua chùa Pháp Môn có nói: “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt.” Điều thấy được là tất cả ma nạn đều từ tâm của Đường Tăng mà sinh ra. Cách nói này rất đúng. Chỉ cần có nhân tâm, liền sinh ra ma nạn tương ứng. Ví dụ khi Đường Thái Tông ban cho Đường Tăng hai tùy tùng và ngựa, Đường Tăng rất vui mừng. Điều này lộ rõ một loại tâm ỷ lại, do đó, mãi vẫn loay hoay không ra được biên giới quốc gia, hai người tùy tùng kia liền bị bò tinh, gấu tinh, và hổ tinh ăn thịt. Cần biết rằng, khi qua chùa Pháp Môn ông có nói, “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt”, khi ấy hai người tùy tùng liền cùng đi cùng Đường Tăng. Cũng chính là nói, một người nếu tu luyện sẽ có rất nhiều tâm về căn bản không ý thức được. Tu luyện vốn là việc cá nhân, chỉ có thể hướng nội mà tu cái tâm của bản thân, làm sao có thể ỷ lại vào người khác đây? Bởi vì Đường Tăng bắt đầu tu luyện từ người thường, ông không giống với những đồ đệ của mình, dù cho Ngộ Không có nói với ông là ma đang cản trở, ông cũng không tin. Ma tính của người ta ẩn giấu rất sâu, có một số ma tính khi sinh ra đã có rồi; cũng chính là nói, chỉ cần làm người, trước khi tu luyện đắc Đạo, thì đều có các loại ma tính. Ví dụ, khi Tôn Ngộ Không giết Bạch Cốt Tinh, Bạch Cốt Tinh lần lượt biến thành mỹ nữ, bà lão, ông lão, Đường Tăng làm sao biết được? Tuy nhiên Bạch Cốt Tinh này thì trong mỗi người đều có, gọi là “thây ma”. Đạo gia cho rằng, mỗi người đều có ba cái thây ma, cho nên mới có việc Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Trong hồi thứ 50, Tôn Ngộ Không đi xin đồ ăn chay, người ta không cho, Tôn Ngộ Không liền múc trộm một bát cơm. Mà ở bên này, Bát Giới, Sa Tăng trong một nơi người ta bỏ hoang nhìn thấy áo lót bằng bông, hai người lấy mỗi người một cái, kết quả dẫn đến ma nạn, con yêu ma này lại lấy trộm cái Kim Cương Trác của Thái Thượng Lão Quân xuống nhân gian tác quái. Ví dụ tiếp là Ngưu Ma Vương, có vợ có con, có bạn có bè, những yêu ma này từ đâu mà đến? Tôn Ngộ Không nói rất rõ ràng: “Tự đáo Tây phương vô đối đầu, Ngưu Vương bản thị tâm viên biến. Kim phiên chính hảo hội nguyên lưu, Đoạn yếu tương trì tá ngọc phiến.” Ngưu Ma Vương sao lại là do tâm của Ngộ Không biến hóa? Điều này không thể lý giải ở bề mặt được, ý nghĩa là Đường Tăng có tâm chấp trước, trong tâm tự nhiên liền sinh ra một con yêu ma như vậy. Vậy thì, Thiết Phiến công chúa, Hồng Hài Nhi, Như Ý chân tiên chẳng phải là do sự biến hóa của tâm viên sao? Có tâm chấp trước nào thì chiêu mời ma nạn đúng như thế. Đường Tăng làm sư phụ, đây là một cái tâm. Tại nước Ô Kê, Sư Tử lông xanh bị dồn ép đến nỗi rất lo lắng, cũng biến thành một Đường Tăng. Ở huyện Ngọc Hoa nước Thiên Trúc, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng mỗi người nhận một hoàng tử để truyền thụ võ nghệ, kết quả cái tâm thích làm sư phụ của người khác lại dẫn họ đến một hang của Sư Tử. Có những tâm chấp trước ẩn giấu rất sâu, người tu luyện thật không dễ mà phát giác được. Ví dụ, thầy trò Đường Tăng đi đến nước Thiên Trúc, Đường Tăng nghe nói công chúa nước Thiên Trúc đang ném tú cầu kén phò mã, liền nói với Ngộ Không: “Ta nghĩ người mẹ tục gia của ta cũng là nhờ ném tú cầu kén chồng mà gặp được duyên cũ, kết thành vợ chồng.” Điều này giống như một câu nói vô tình nhưng cũng là một chấp trước, kết quả đã chiêu mời ma nạn đến. Đương nhiên những nạn này là tất nhiên phải xảy ra, cũng có thể nói là định sẵn rồi. Phần cuối “Tây Du Ký” viết về ba con tê giác tinh sau khi bắt Đường Tăng đi, Tôn Ngộ Không từng nói với vị hòa thượng, “sư phụ ta phải có những nạn này”. Hồi thứ 97, bốn thầy trò bị hiểu lầm nhốt vào trong ngục, Tôn Ngộ Không nghĩ: “Sư phụ phải có nạn một đêm trong tù này, cho nên lão Tôn không mở miệng tranh biện, không dùng pháp lực, bịt tai này lại không nghe nữa. Nay đã qua hết canh tư, tai nạn sắp hết, ta phải đi chuẩn bị, trời sáng còn ra khỏi nhà lao nữa.” Đường đi Tây Thiên ma nạn trùng trùng, cớ sao thầy trò Đường Tăng không chọn đi con đường khác? Khi gặp Hỏa Diệm Sơn cản đường đi của Đường Tăng, Bát Giới từng oán trách nói muốn quay trở về nhà vợ cho rồi. Nhưng Thổ Địa lại nói: “Dù có chuyển hướng đi, thì cũng phải vào cửa bên cạnh.” Lại nói, “Sư phụ ngài ngồi ngay ở đường chính, nóng lòng mong chờ các ngài thành công trở lại!” Bao gồm cả nạn bổ sung thứ 81, trở về đi qua sông Thông Thiên, lão rùa hỏi Đường Tăng về việc ông nhờ Đường Tăng hỏi Phật Như Lai đến khi nào ông mới đắc được thân người, Đường Tăng “không biết nói thế nào, lại không dám lừa dối, trầm ngâm một hồi không đáp lời”, kết quả bị lão rùa hất rơi xuống nước. Trong nạn này, biểu hiện của Đường Tăng chính là cái tâm hư danh đang nổi lên. Việc này cùng với lời nói của Đường Tăng khi qua sông Thông Thiên năm xưa, “Việc thế gian duy có danh lợi là coi trong nhất. Tựa như một người vì lợi, quên cả sống chết, đệ tử của tôi phụng chỉ toàn trung, cũng chỉ là vì danh, thì có khác gì với người kia chứ!” lại hoàn toàn khớp. Tại sao lại có biết bao nhiêu yêu ma muốn ăn thịt Đường Tăng? Từ đây chúng ta có thể nhìn ra, bản thân sự tồn tại của yêu ma, khi một người không tu luyện, nó nằm ở trong thân thể người đó, sau khi người đó chết đi, nó liền rời khỏi thi thể người đó. Những ma này chính là khởi tác dụng này. Cho nên, “bệnh” cũng là ma, “chết” cũng là ma, ma tính của chính bản thân chính là ma. Tuy nhiên khi người ta muốn tu luyện một cách chân chính, thì cần phải trừ bỏ những ma chướng này, đương nhiên ma sẽ không chịu để nó bị tiêu trừ. Nó cũng biết, con người nếu tu luyện thành Thần Phật, thì thân thể người đó sẽ vĩnh viễn là thân thể bất hoại. Trong quá trình nhục thân của người thường chuyển hóa thành thân thể của Thần Phật thì bản thân ma tính cũng không chịu để yên, cho nên nó liều mạng ngăn cản người ta tu luyện. Khi thân thể con người chuyển hóa như vậy, những yêu ma kia lại không thật sự nghĩ để cho thân thể người chuyển hóa thành thân thể của Thần rồi mới ăn hay sao? Chúng ăn không được, bởi vì sau khi chuyển hóa xong thì đã là thân thể kim cương bất hoại rồi, yêu ma không thể động tới được, đây cũng là nguyên nhân Đường Tăng không bị ăn thịt. Thân thể trước lúc tu luyện chỉ là thân thể người thường, đó cũng là nơi mà yêu ma sống nhờ; thân thể sau khi tu luyện tốt đã được phong kín lại rồi. Đây là hiểu biết thông thường trong giới tu luyện. II. Thỉnh kinh và tu luyện “Tây Du Ký” là truyện kể về thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, đúng hơn thì đây là một câu chuyện về tu luyện. Khó khăn và sự ma luyện trên đường đi thỉnh kinh, chính là những ma nạn mà một người trong quá trình tu luyện ắt phải trải qua. Tại sao lại nói là ma nạn ắt phải gặp? Ví như thất tình lục dục của một người, đó là điều mà ai ai cũng có, như trong “Tây Du Ký” dùng bảy con nhện tinh (thất tinh) để hình dung về thất tình. Những ma nạn này, bề mặt thì thấy là những nhân tố bên ngoài, nhưng rốt cuộc đều có liên quan đến tự thân, cũng chính là ma nạn của bản thân mỗi người. Trong giới tu luyện gọi việc trừ bỏ ma tính của bản thân là “luyện ma”. Tiêu trừ ma tính, chính là dựa vào Phật tính của chính mình, đây cũng là một trong những nguyên nhân ở bảy hồi đầu lại chú trong về miêu tả Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không chính là tượng trưng cho Phật tính của Đường Tăng. 1. Ngũ vị nhất thể, trong đó ẩn chứa nhân tố tu luyện Năm vị, gồm thầy trò Đường Tăng cùng với Bạch Long Mã, có thể coi như là một người, trong truyện cũng nhiều lần ám chỉ về điều này. Đoạn cuối cùng của tác phẩm khi viết đến “Ngũ Thánh thành chân” có một bài thơ nói rõ hơn về vấn đề này, trong đó bốn câu mở đầu là: “Nhất thể chân như chuyển lạc trần, Hợp hòa tứ tướng phục tu thân. Ngũ hành luận sắc không hoàn tịch, Bách quái hư danh tổng mạc luận.” “Nhất thể chân như” chính là chỉ một người; “hợp hòa tứ tướng”, là thuật ngữ trong tu luyện. Trong tu luyện của Đạo gia cổ xưa, thường lấy huyền vũ, chu tước, thanh long, bạch hổ để lần lượt chỉ thận, tim, gan, phổi. Trong ngũ hành chúng lần lượt thuộc thủy, hỏa, mộc, kim. Tương sinh trong ngũ hành, đó là mộc sinh hỏa, kim sinh thủy; trong “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nói rằng, long mộc sinh hỏa, thuộc về tâm. Hổ kim sinh thủy, cùng một hệ với thân thể. Tâm không động, thì nguyên khí tụ lại; thân không động, thì tinh khí tụ lại. Tinh ngưng khí tụ, tức là chỉ kim mộc thủy hỏa trộn lẫn với nhau trong thổ (đất). “Hợp hòa tứ tướng” tức là chỉ về điều này. Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã đối ứng với thuộc tính của ngũ hành lần lượt là thủy, kim, mộc, thổ, hỏa. Trong truyện thường dùng “kim công” để chỉ Tôn Ngộ Không, “mộc mẫu” để chỉ Trư Bát Giới. Đối ứng với “mẫu” và “công” cũng chính là âm và dương. Còn có một hàm ý nữa, bởi vì hỏa sinh kim, nên gọi là “kim chi công”, do đó “kim công” cũng là chỉ về hỏa; bởi vì thủy sinh mộc, nên gọi là “mộc chi mẫu”, cho nên “mộc mẫu” cũng hàm chứa thủy trong đó. Từ thuộc tính âm dương mà nói, mộc và thủy cùng thuộc âm, kim và hỏa lại đều thuộc về dương, âm dương hợp lại tất do thổ tương trợ, thổ tức chỉ Sa Hòa Thượng, còn được gọi là “hoàng bà”. Cho nên quá trình đi thỉnh kinh trong “Tây Du Ký”, đều là do ba vị – Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng – trảm yêu trừ ma. Quá trình trảm yêu trừ ma cũng chính là quá trình tu luyện. Sự đối ứng từ trong nội tạng cho đến thân thể của thầy trò Đường Tăng cũng không chỉ là máy móc như trên. Đường Tăng thuộc thủy, ứng với thận tạng. Nhưng Đường Tăng là chủ nguyên thần của người, nơi trú ngụ của chủ nguyên thần chính là trong Nê Hoàn Cung của con người. Trư Bát Giới làm mộc mẫu, cũng là chỉ về thủy, ở vị trí thận tạng. Trong “Tây Du Ký” có mượn lời của Trư Bát Giới để thuyết minh, nói Trư Bát Giới được “Noãn Nhị Thư” kén làm rể. Vị Noãn Nhị Thư này chính là ví như hai quả thận của người ta vậy. Bộ phận tì tạng (lá lách) chính là đối ứng của Sa Hòa Thượng. Bởi vì tác dụng của tì tạng là vận hóa thủy cốc (chuyển hóa thức ăn), vận chuyển phân bố và vận hành thủy dịch. Do đó nơi ở Lưu Sa Hà của Sa Hòa Thượng mới là “Nga mao phiêu bất khởi, Hồ hoa định để trầm”. Tôn Ngộ Không ở bộ vị tâm tạng thì không cần nói nữa, Bạch Long Mã cũng ứng với chỗ này (tâm), bởi vì mã thuộc về hỏa, đối ứng với nội tạng là tâm tạng, lại nói rằng tâm và ý là cùng một thể. Trong “Tây Du Ký”, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới luôn tranh đấu, đố kỵ, châm chọc không dứt, đó chính là âm dương giao phối trong quá trình tu luyện. Trong đó Sa Hòa Thượng đóng vai trò điều hòa. Mãi đến cuối cùng, ba vị này mới đạt đến trạng thái điều hòa một cách hài hòa nhất trí. Trong truyện còn có câu thơ như sau: “Ngũ hành tứ phối hợp thiên chân, Nhận đắc tòng tiền cựu chủ nhân. Luyện kỉ lập cơ vi diệu dụng, Biện minh tà chính kiến nguyên nhân. Kim lai quy tính hoàn đồng loại, Bản khứ cầu tình cộng phục luân. Nhị thổ toàn công thành tịch mịch, Điều hòa thủy hỏa một tiêm trần.” Năm trăm năm trước Tôn Ngộ Không đã tu luyện thành Tiên, Đường Tăng cũng là người tu hành mười kiếp, vậy còn Bát Giới và Sa Tăng? Bát Giới từng kể với Ngộ Không về quà trình tu hành đời trước: “Đắc truyền cửu chuyển đại hoàn đan, Công phu trú dạ vô thời xuyết. Thượng chí đỉnh môn Nê Hoàn Cung, Hạ chí cước bản dũng tuyền huyệt. Chu lưu thận thủy nhập hóa trì, Đan điền bổ đắc ôn ôn nhiệt. Anh nhi sá nữ phối âm dương, Duyên hống tương đầu phân nhật nguyệt. Ly long khảm hổ dụng điều hòa, Linh quy hấp tận kim ô huyết. Tam hoa tụ đỉnh đắc quy căn, Ngũ khí chiêu nguyên thông thấu triệt.” Sa Tăng cũng đã từng bộc bạch rằng: “Nhân thử tài đắc ngẫu Chân Nhân, Dẫn khai đạo kim quang lượng. Tiên tương anh nhi sá nữ thụ, Minh đường thận thủy nhập hoa trì. Trọng lâu can hỏa đầu tâm trạng, Tam thiên công mãn bái thiên nham, Chí tâm chiêu lễ minh hòa hướng.” Còn một vấn đề nữa cần phải nói rõ, đó chính là tại sao năm vị này lại bị đọa xuống hạ giới? Đường Tăng, Ngộ Không đều là vì ngạo mạn; Trư Bát Giới vì trêu ghẹo Hằng Nga; Sa Hòa Thượng vì lỡ tay làm vỡ chén lưu ly; Tiểu Bạch Long vì phóng hỏa đốt viên minh châu. Những tội này tại góc độ con người thế gian mà xét, xem ra cũng chưa là gì, nhưng ở một cảnh giới cao hơn mà xét, đó là vì những sinh mệnh này đã trở nên bất thuần. Từ góc độ tu luyện mà xét thì con người cần phải tu luyện đến vô lậu mới có thể viên mãn. Thế nào là vô lậu? Đó chính là không còn có bất kỳ tâm chấp trước nào, từng suy nghĩ đều là thuần chính, thì mới có thể đắc đạo thành Tiên thành Phật được. Tương ứng như vậy, những vị Tiên gia tu luyện thành tựu tại các quả vị khác nhau, tư tưởng cảnh giới của họ cũng đều là thuần chính cả. Chỉ cần có một chút sai sót thì cũng không thể ở tại tầng thứ đó nữa. Tội của Sa Hoà Thượng xem thì giống như một chút tội nhỏ, nhưng mà một chút tội nhỏ này lại là điều căn bản mà tại cảnh giới đó không được xảy ra. Tại sao lại lỡ tay được đây? Đó chẳng phải là thất thần rồi hay sao? Chẳng phải là trong tâm có tạp niệm hay sao? Từ góc độ này mà nhìn về tu luyện, thấy là việc vô cùng nghiêm túc. Quan hệ nội tại của sư đồ Đường Tăng trong truyện cũng có ám chỉ: Đường Tăng là người tu hành mười kiếp; Tôn Ngộ Không là đồ đệ đời thứ mười của Bồ Đề Tổ Sư; ngay cả vòng đeo ở cổ của Sa Tăng cũng là chín cái đầu lâu của người đi thỉnh kinh. Từ khía canh khác mà nói, bốn thầy trò Đường Tăng lần lượt nói rõ chi tiết về những phương diện của người tu luyện. Đường Tăng bề ngoài nhìn thì không có chút năng lực gì, yếu đuối lại còn nhát gan, nhưng có một niềm tin đi thỉnh kinh vững như bàn thạch; Tôn Ngộ Không là tâm viên, hoạt bát, thông minh lanh lợi, không bị bó buộc, có thể phân biệt rõ thật giả, lại có khả năng trảm yêu trừ ma; Bát Giới thì rất giống lợn, hay ăn không hay làm, lại còn háo sắc, thích an nhàn, muốn chiếm phần hơn, đố kỵ với người giỏi hơn mình; Sa Hòa Thượng biểu hiện cần cù, chăm chỉ, biết thân biết phận, làm tròn bổn phận, thanh tịnh mà lại nhân hậu; Bạch Long Mã tuy không miêu tả nhiều, nhưng cũng lại là một hình tượng âm thầm lặng lẽ, chỉ tiến về phía trước, không ngại gian khổ nguy hiểm. 2. Ngũ Hành Sơn, Lưỡng Giới Sơn và sự hạn chế thần thông của Tôn Ngộ Không Tôn Ngộ Không bị Phật Như Lai đè dưới núi Ngũ Hành Sơn còn có một ẩn ý, Tôn Ngộ Không tượng trưng cho sự tu luyện Đại Đạo cũng đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình (cùng Bồ Đề Tổ Sư) rồi. Theo Phật gia giảng, thì Tôn Ngộ Không đã “minh tâm kiến tính rồi” (tâm đã sáng tỏ, đã thấy được bản tính thật sự của mình); đương nhiên, sau khi “minh tâm kiến tính” chính là “kiến tính thành Phật” (thấy rõ được bản tính của mình thì thành Phật), nhưng đây lại không chỉ đơn giản giống như hai câu nói này. Sau khi Tôn Ngộ Không ngộ Đạo, trở về Hoa Quả Sơn tại sao cần phải thanh trừ Hỗn thế ma vương? Tại sao lại phải đại náo Thiên Cung? Ở trong lò Bát Quái tại sao lại còn phải tu luyện thêm nữa? Cho nên mới nói, mặc dù quá trình tu Đạo của Tôn Ngộ Không đã hoàn thành, nhưng vẫn cần phải tiếp tục tu luyện, để ma tính của bản thân (ví như tâm tự kiêu) phải hoàn toàn ma luyện cho mất đi, thì mới có thể chính thức tu luyện thành công được. Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn chính là để cho anh ta trải qua ma nạn. Ngũ hành trong Ngũ Hành Sơn ý nói là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cũng là nói, trước đây Tôn Ngộ Không tượng trưng cho người tu luyện Đại Đạo, hoàn toàn là là từ góc độ của “tâm viên” mà biểu hiện ra quá trình tu luyện của một người. Mà khi cuồng ngạo rồi bị đè dưới Ngũ Hành Sơn rồi, Tôn Ngộ Không cũng giống như bị chôn vùi nơi trần thế. Đường Tăng cứu Tôn Ngộ Không ra khỏi Ngũ Hành Sơn, nhưng không không phải là Tôn Ngộ Không đã thoát khỏi được nơi trần thế, mà là nói chủ thân thể đã bắt đầu tu luyện, tượng trưng cho cái tâm của Tôn Ngộ Không tự nhiên cũng hợp nhất với chủ nhân mà bắt đầu tu luyện. Trong đó vẫn còn một vấn đề nữa. Rất nhiều người tu Đạo đều hiểu rằng, trước khi một người tu luyện, nói không chừng đời trước của vị ấy, thậm chí đời đời kiếp kiếp vẫn còn đang trong tu luyện, đương nhiên người tu luyện kia, cũng giống với Tôn Ngộ Không ở bảy hồi trước đó, có thể có được những thần thông to lớn. Nhưng một khi người đó chuyển thế, thì ở đoạn thời gian không tu Đạo trước đó, người này giống như đang ngủ, hoàn toàn mê mờ trong người thường. Nếu như bắt đầu tu luyện, phía mặt bản tính của anh ta tỉnh ngộ, thì mới cố thể chân chính tu Đạo. Từ đó quay trở về, có người phải trải qua nhiều lần mới có thể tu luyện viên mãn được. Đường Tăng chính là người tu hành mười đời. Đương nhiên, khi giới thiệu thế này, đã tiết lộ một vấn đề khác, đó là thần thông của Tôn Ngộ Không; tại sao trước khi đi thỉnh kinh cùng Đường Tăng, Thần tướng đầy khắp trời không làm được gì Tôn Ngộ Không, nhưng khi vừa đi cùng Đường Tăng, vì sao lại có nhiều việc không như ý. Đó chính là vì trước khi đi cùng Đường Tăng, biểu hiện của Tôn Ngộ Không hoàn toàn là tâm tính của một người tu luyện, do đó mới để cái tâm tu luyện biểu hiện ra hết, vậy đương nhiên có thể không có bất kỳ sự hạn chế nào trên trời dưới biển. Nhưng khi đi cùng Đường Tăng, cũng bằng như nhiều hơn một nhục thân, do đó thần thông của Tôn Ngộ Không cũng chịu sự hạn chế. Còn một vấn đề nữa, ma nạn trên đường đi thỉnh kinh, bề ngoài thì trông giống như nhắm vào Đường Tăng, nhưng trong tình huống tâm chấp trước của Đường Tăng chưa vứt bỏ, bản sự của Tôn Ngộ Không có lớn đến mấy cũng không thể thi triển ra được. Giống như trận chiến giữa Tôn Ngộ Không và Hồng Hài Nhi, Hồng Hài Nhi là tượng trưng cho tâm hỏa quá vượng của Đường Tăng, cũng có thuộc tính của tâm, thậm chí có thể nói là một bộ phận của tâm. Bởi vì Tôn Ngộ Không tượng trưng cho tâm nên làm sao một gậy có thể đánh chết được Hồng Hài Nhi? Bởi vậy phải đợi mời Bồ Tát đến, sau khi trừ bỏ tâm hỏa, thì tâm mới có thể quy chính được. Ngũ Hành Sơn vì sao lại đổi thành Lưỡng Giới Sơn? Biểu hiện là giới tuyến quốc gia, nhưng thực chất là giới tuyến trước và sau của một người tu luyện. 3. Tám mươi mốt nạn từ đâu đến Lúc đầu Đường Tăng đi thỉnh kinh, trên đường qua chùa Pháp Môn có nói: “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt.” Điều thấy được là tất cả ma nạn đều từ tâm của Đường Tăng mà sinh ra. Cách nói này rất đúng. Chỉ cần có nhân tâm, liền sinh ra ma nạn tương ứng. Ví dụ khi Đường Thái Tông ban cho Đường Tăng hai tùy tùng và ngựa, Đường Tăng rất vui mừng. Điều này lộ rõ một loại tâm ỷ lại, do đó, mãi vẫn loay hoay không ra được biên giới quốc gia, hai người tùy tùng kia liền bị bò tinh, gấu tinh, và hổ tinh ăn thịt. Cần biết rằng, khi qua chùa Pháp Môn ông có nói, “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt”, khi ấy hai người tùy tùng liền cùng đi cùng Đường Tăng. Cũng chính là nói, một người nếu tu luyện sẽ có rất nhiều tâm về căn bản không ý thức được. Tu luyện vốn là việc cá nhân, chỉ có thể hướng nội mà tu cái tâm của bản thân, làm sao có thể ỷ lại vào người khác đây? Bởi vì Đường Tăng bắt đầu tu luyện từ người thường, ông không giống với những đồ đệ của mình, dù cho Ngộ Không có nói với ông là ma đang cản trở, ông cũng không tin. Ma tính của người ta ẩn giấu rất sâu, có một số ma tính khi sinh ra đã có rồi; cũng chính là nói, chỉ cần làm người, trước khi tu luyện đắc Đạo, thì đều có các loại ma tính. Ví dụ, khi Tôn Ngộ Không giết Bạch Cốt Tinh, Bạch Cốt Tinh lần lượt biến thành mỹ nữ, bà lão, ông lão, Đường Tăng làm sao biết được? Tuy nhiên Bạch Cốt Tinh này thì trong mỗi người đều có, gọi là “thây ma”. Đạo gia cho rằng, mỗi người đều có ba cái thây ma, cho nên mới có việc Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Trong hồi thứ 50, Tôn Ngộ Không đi xin đồ ăn chay, người ta không cho, Tôn Ngộ Không liền múc trộm một bát cơm. Mà ở bên này, Bát Giới, Sa Tăng trong một nơi người ta bỏ hoang nhìn thấy áo lót bằng bông, hai người lấy mỗi người một cái, kết quả dẫn đến ma nạn, con yêu ma này lại lấy trộm cái Kim Cương Trác của Thái Thượng Lão Quân xuống nhân gian tác quái. Ví dụ tiếp là Ngưu Ma Vương, có vợ có con, có bạn có bè, những yêu ma này từ đâu mà đến? Tôn Ngộ Không nói rất rõ ràng: “Tự đáo Tây phương vô đối đầu, Ngưu Vương bản thị tâm viên biến. Kim phiên chính hảo hội nguyên lưu, Đoạn yếu tương trì tá ngọc phiến.” Ngưu Ma Vương sao lại là do tâm của Ngộ Không biến hóa? Điều này không thể lý giải ở bề mặt được, ý nghĩa là Đường Tăng có tâm chấp trước, trong tâm tự nhiên liền sinh ra một con yêu ma như vậy. Vậy thì, Thiết Phiến công chúa, Hồng Hài Nhi, Như Ý chân tiên chẳng phải là do sự biến hóa của tâm viên sao? Có tâm chấp trước nào thì chiêu mời ma nạn đúng như thế. Đường Tăng làm sư phụ, đây là một cái tâm. Tại nước Ô Kê, Sư Tử lông xanh bị dồn ép đến nỗi rất lo lắng, cũng biến thành một Đường Tăng. Ở huyện Ngọc Hoa nước Thiên Trúc, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng mỗi người nhận một hoàng tử để truyền thụ võ nghệ, kết quả cái tâm thích làm sư phụ của người khác lại dẫn họ đến một hang của Sư Tử. Có những tâm chấp trước ẩn giấu rất sâu, người tu luyện thật không dễ mà phát giác được. Ví dụ, thầy trò Đường Tăng đi đến nước Thiên Trúc, Đường Tăng nghe nói công chúa nước Thiên Trúc đang ném tú cầu kén phò mã, liền nói với Ngộ Không: “Ta nghĩ người mẹ tục gia của ta cũng là nhờ ném tú cầu kén chồng mà gặp được duyên cũ, kết thành vợ chồng.” Điều này giống như một câu nói vô tình nhưng cũng là một chấp trước, kết quả đã chiêu mời ma nạn đến. Đương nhiên những nạn này là tất nhiên phải xảy ra, cũng có thể nói là định sẵn rồi. Phần cuối “Tây Du Ký” viết về ba con tê giác tinh sau khi bắt Đường Tăng đi, Tôn Ngộ Không từng nói với vị hòa thượng, “sư phụ ta phải có những nạn này”. Hồi thứ 97, bốn thầy trò bị hiểu lầm nhốt vào trong ngục, Tôn Ngộ Không nghĩ: “Sư phụ phải có nạn một đêm trong tù này, cho nên lão Tôn không mở miệng tranh biện, không dùng pháp lực, bịt tai này lại không nghe nữa. Nay đã qua hết canh tư, tai nạn sắp hết, ta phải đi chuẩn bị, trời sáng còn ra khỏi nhà lao nữa.” Đường đi Tây Thiên ma nạn trùng trùng, cớ sao thầy trò Đường Tăng không chọn đi con đường khác? Khi gặp Hỏa Diệm Sơn cản đường đi của Đường Tăng, Bát Giới từng oán trách nói muốn quay trở về nhà vợ cho rồi. Nhưng Thổ Địa lại nói: “Dù có chuyển hướng đi, thì cũng phải vào cửa bên cạnh.” Lại nói, “Sư phụ ngài ngồi ngay ở đường chính, nóng lòng mong chờ các ngài thành công trở lại!” Bao gồm cả nạn bổ sung thứ 81, trở về đi qua sông Thông Thiên, lão rùa hỏi Đường Tăng về việc ông nhờ Đường Tăng hỏi Phật Như Lai đến khi nào ông mới đắc được thân người, Đường Tăng “không biết nói thế nào, lại không dám lừa dối, trầm ngâm một hồi không đáp lời”, kết quả bị lão rùa hất rơi xuống nước. Trong nạn này, biểu hiện của Đường Tăng chính là cái tâm hư danh đang nổi lên. Việc này cùng với lời nói của Đường Tăng khi qua sông Thông Thiên năm xưa, “Việc thế gian duy có danh lợi là coi trong nhất. Tựa như một người vì lợi, quên cả sống chết, đệ tử của tôi phụng chỉ toàn trung, cũng chỉ là vì danh, thì có khác gì với người kia chứ!” lại hoàn toàn khớp. Tại sao lại có biết bao nhiêu yêu ma muốn ăn thịt Đường Tăng? Từ đây chúng ta có thể nhìn ra, bản thân sự tồn tại của yêu ma, khi một người không tu luyện, nó nằm ở trong thân thể người đó, sau khi người đó chết đi, nó liền rời khỏi thi thể người đó. Những ma này chính là khởi tác dụng này. Cho nên, “bệnh” cũng là ma, “chết” cũng là ma, ma tính của chính bản thân chính là ma. Tuy nhiên khi người ta muốn tu luyện một cách chân chính, thì cần phải trừ bỏ những ma chướng này, đương nhiên ma sẽ không chịu để nó bị tiêu trừ. Nó cũng biết, con người nếu tu luyện thành Thần Phật, thì thân thể người đó sẽ vĩnh viễn là thân thể bất hoại. Trong quá trình nhục thân của người thường chuyển hóa thành thân thể của Thần Phật thì bản thân ma tính cũng không chịu để yên, cho nên nó liều mạng ngăn cản người ta tu luyện. Khi thân thể con người chuyển hóa như vậy, những yêu ma kia lại không thật sự nghĩ để cho thân thể người chuyển hóa thành thân thể của Thần rồi mới ăn hay sao? Chúng ăn không được, bởi vì sau khi chuyển hóa xong thì đã là thân thể kim cương bất hoại rồi, yêu ma không thể động tới được, đây cũng là nguyên nhân Đường Tăng không bị ăn thịt. Thân thể trước lúc tu luyện chỉ là thân thể người thường, đó cũng là nơi mà yêu ma sống nhờ; thân thể sau khi tu luyện tốt đã được phong kín lại rồi. Đây là hiểu biết thông thường trong giới tu luyện. (còn tiếp…)
  3. Tất cả các câu trả lời đều có trong Kinh Sách của Pháp Luân Đại Pháp. http://www.phapluan....html/index.html http://www.thuvienda..._2005_2004.html - Nếu có vi phạm nội quy diễn đàn về trích dẫn đường link kính mong chú Thiên Sứ xoá giúp cháu
  4. Kính chào Chú Thiên Sứ ! - Cháu chỉ mong điều tốt cho mọi người. Không có ý truy cầu điều gì khác nữa . Cháu đắc được Pháp từ Diễn Đàn vì ngày trước có cuộc tranh luận rất nhiều về Đại Pháp. Cháu thấy có người không đọc không tìm hiểu cũng theo nhau phản đối , vậy nên cháu đọc Kinh Sách tìm hiểu mới biết CHÂN - THIỆN - NHẪN là Chân Pháp. Cháu đã tập hợp một số bài Giảng Pháp của Sư Phụ Lý Hồng Chí theo thời gian . Chú hãy tham khảo xem. Email của cháu: truongxuan@unseen.is mọi người ai muốn tham khảo cháu sẽ gửi kinh sách để tham khảo.
  5. Tôi từ diễn đàn mà đắc được Đại Pháp. Tôi nghĩ còn nhiều người có duyên nên tôi quay trở lại với mong muốn người có cơ duyên có thể đắc được Đại Pháp. Tất cả các câu hỏi sẽ được trả lời hết khi Chân Chính tu luyện và đọc hết các kinh sách của Đại Pháp. Pháp Luân Đại Pháp đang ở cõi người. Gần hay xa đều là duyên phận.
  6. Anh RUBY ! Mấy người đó không phải là học viên Pháp Luân Công, họ không đủ tiêu chuẩn, họ chỉ lợi dụng danh nghĩa Pháp Luân Công thôi. Anh hãy để tâm Suy nghĩ điều này thôi thì anh sẽ rõ: Tại Sao lại có nhiều người tu luyện Pháp Luân Công đến vậy, Tại Sao Pháp Luân Công lại phổ truyền trên toàn thế giới như vậy, vả lại người học đều là mọi tầng lớp xã hội từ Giáo Sư , Tiến sỹ, Bác sỹ, Quan chức Chính Phủ đến thường dân....... ? Cơ Duyên đều ở trong ấy cả
  7. TÌM DUYÊN THÁNH HOA Ở đây, tôi đặc biệt dùng chữ “duyên”, chứ không phải chữ “nguyên” trong từ “uyên nguyên”. Bởi vì trong bài này, tôi muốn nói năm xưa Phật Thích Ca Mâu Ni đã đề cập đến hoa Ưu Đàm Bà La trong tình huống nào, cũng là hồi ứ...c lại một đoạn lịch sử để thuyết minh nhân duyên trong đó. Chứ tôi không muốn nói về căn nguyên sản sinh loài hoa này trên thiên thượng. Trong dạ hội Thần Vận năm 2009, người dẫn chương trình đã dùng ngữ điệu vừa kiên định vừa từ bi vô hạn. Khi giới thiệu màn vũ đạo “Bà La hoa khai”, cô nói: Phật Thích Ca Mâu Ni từng giảng, khi Ưu Đàm Bà La hoa khai nở, là lúc Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân. Loại hoa Ưu Đàm mà Phật Thích Ca Mâu Ni từng nhắc tới này hiện đang liên tục khai nở tại các nơi trên thế giới, chứng tỏ Chuyển Luân Thánh Vương cuối cùng đã hạ thế độ nhân. Bà La hoa đã khai nở rồi, Thần Phật đã trở lại rồi, quý vị có nhìn thấy không? ….. Mỗi khi nghe đến đây, nội tâm tôi lại xúc động đến phát khóc; rất nhiều bạn bè không hiểu, hình như đã coi tôi thành “Lâm muội muội” (nhân vật nữ đa sầu trong Hồng Lâu Mộng) rồi. Đúng là người ta thường nói: Nam nhi rơi lệ đâu đơn giản, Chỉ bởi chưa đến chỗ thương tâm. Tôi phải nói rằng, những giọt nước mắt của tôi là do cảm động mà rơi xuống! Như vậy hôm nay chúng ta sẽ quay ngược thời gian trở lại 2.500 năm trước, để xem Phật Thích Ca Mâu Ni khi ấy đã nói câu này trong hoàn cảnh nào. Kỳ thực trước khi Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh, thì tại Ấn Độ cổ đã lưu truyền câu nói rằng Chuyển Luân Thánh Vương sẽ tới nhân gian truyền Pháp trong tương lai. Vào 2.500 năm trước, sau khi tu luyện khai ngộ, Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu hồng truyền Phật Pháp. Sau đó Phật Pháp mà Ngài truyền dần dần đạt tới thời kỳ cực thịnh, còn các tôn giáo khác dần dần suy bại, đặc biệt Bà La Môn giáo đã hoàn toàn biến thành tà giáo. Từ khi Phật Tổ bắt đầu truyền Pháp, những người của Bà La Môn giáo đã bắt đầu quấy rối và phá hoại. Lịch sử về phương diện này đều có ghi chép. Hôm nay tôi chỉ nói về những điều mà lịch sử ghi lại không đầy đủ. Sau đó, khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Pháp tại tinh xá Chi Viên, người của Bà La Môn giáo một lần nữa làm loạn. Họ giả trang thành tín đồ đến nghe Pháp; trong khi đang nghe, họ ngất xỉu hoặc xuất hiện các hiện tượng kỳ quái khác, làm dao động chính tín của các tín đồ. Có một lần, Phật Thích Ca Mâu Ni đang trực tiếp giảng Pháp cho rất nhiều đệ tử, Ngài nói khi Ngài tại thế thì tín đồ các tôn giáo khác và ma quỷ không thể làm gì Pháp này, nhưng tương lai thì khó nói lắm. Rồi Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói: “Các con đều biết ở đây có một truyền thuyết lưu truyền đã lâu, đó chính là Pháp Luân Thánh Vương sẽ tới nhân gian độ nhân trong tương lai, Pháp Luân Thánh Vương này năng lực vô cùng vĩ đại, … Đến lúc ấy, rất nhiều người trong các con sẽ đắc được Đại Pháp vạn pháp quy nhất ấy! Đến lúc ấy, các con sẽ biết mình may mắn như thế nào. Đến lúc ấy, rất nhiều chư Thần từ thiên thượng sẽ xuống nghe Pháp, và chúng Thần đều trông ngóng ngày đó sẽ tới.” Sau đó trong một lần Pháp hội (lần Pháp hội này được mở tại một nơi rất rộng rãi ở trên núi), khi ấy mười đại đệ tử của Phật Tổ đều có mặt, còn có rất nhiều đệ tử khác, chỉ nghe thấy Liên Hoa Sắc hỏi Phật Thích Ca Mâu Ni: “Thế tôn, Ngài nói tương lai sẽ có Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế truyền Pháp, người ở các nơi khác không biết thì làm thế nào đây?” Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Đến khi có một loại hoa gọi là Ưu Đàm Bà La nở rộ khắp nơi, thì là báo hiệu Thánh Vương đã tới; sau khi đắc Pháp, các con nhất định phải trân quý!” Hoa Ưu Đàm nở tại thành phố Đại Liên, Trung Quốc năm 2011 (Ảnh: Chánh Kiến Net). “Loài hoa này không phải là hoa ở nhân gian, mà mang cùng một điềm lành như Chuyển Luân Thánh Vương. Các vị Phật khác nhau đều có biểu tượng khác nhau, biểu tượng này là một loại điềm lành, báo trước vị tôn Phật này sẽ tới truyền Pháp, giáo hóa chúng sinh. Loài hoa này tại nhân gian 3.000 năm mới nở một lần, nhưng ở không gian khác, phải cần thời gian lâu hơn mới có thể khai nở. Cho dù ở đâu, gặp được Chuyển Luân Thánh Vương đều là sự tình phi thường thù thắng!” “Với những người khéo tích lũy thiện căn trong các con, ta sẽ đi theo bảo hộ các con, tới khi các con gặp được Thánh Vương mới thôi”. “Kiếp này chúng con muốn trở thành Phật!”, một vị đệ tử nói. “Đúng là thành Phật được”. (Từ Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp, chúng ta biết rằng từ xưa đến nay các Đại Giác Giả độ nhân đều gần như là độ phó nguyên thần, chứ không phải độ chủ nguyên thần. Nhưng đối với một cá nhân, chủ nguyên thần mới là tự kỷ chân chính! Còn phó nguyên thần được an bài khởi tác dụng phụ trợ để chủ nguyên thần không làm nhiều việc xấu. Đây là chỗ mê từ thiên cổ. Ý Phật Thích Ca Mâu Ni nói là độ phó nguyên thần, chứ không thể nói rõ ra, còn chủ nguyên thần vẫn tiến nhập vào lục đạo luân hồi.) Lúc này từ không trung mưa rơi lất phất, Phật Thích Ca Mâu Ni nói loài hoa này thân nhỏ như mưa bụi, hoa nở rất bé. Tuy nhìn rất mỏng manh, nhưng không đâu là không thể khai nở. Mục Kiền Liên nói: “Thế tôn có thể mở lòng từ bi, để chúng con nhìn trước một chút Bà La hoa này được không?” “Được thôi! Ta dùng Phật lực để xem có thể mang đến loài hoa này không”. Nói xong Phật Thích Ca Mâu Ni chìa tay ra, chỉ thấy trong tay xuất hiện một đám hoa màu trắng, hoa rất nhỏ nhưng thân rất dài. “Đây là Bà La hoa, tại không gian khác, chúng Thần trên thiên thượng đều muốn sớm thấy loài hoa này, đều muốn sớm đắc được giáo hóa của Chuyển Luân Thánh Vương. Đến khi các con đắc được, ta sẽ mừng thay cho các con!” Lúc ấy trên thiên không xuất hiện rất nhiều thiên nữ mặc y phục bảy màu trong suốt, họ bắt đầu rải hoa, mưa phùn ngừng lại, trên bầu trời xuất hiện một cầu vồng rực rỡ, còn có rất nhiều đám mây bảy màu trôi theo làn gió. Còn xuất hiện rồng và phượng, đúng như câu nói “rồng phượng hiện điềm lành” vậy. Lúc ấy có một người nói: “Đây là một điềm lành tuyệt diệu!” Sau đó Phật Thích Ca Mâu Ni còn nhiều lần giảng về Chuyển Luân Thánh Vương và Ưu Đàm Bà La hoa, nhưng do giới hạn độ dài của bài viết, tôi sẽ không kể thêm nữa. Hiện tại, trong số các đại đệ tử trực tiếp nghe Phật Tổ, Chúa Jesus, Lão Tử và các Thánh giả khác năm xưa giảng Pháp truyền Đạo, rất nhiều người đều đã được Chuyển Luân Thánh Vương tự thân truyền độ. Còn hoa Ưu Đàm Bà La mà Phật Thích Ca Mâu Ni nói đến năm xưa đã khai nở trên toàn thế giới, điều mà chúng sinh chờ đợi và trông mong đã tới rồi. Đối diện tất cả những điều này, chúng ta lựa chọn như thế nào đây? Xin hãy thức tỉnh, hỡi con dân của Thần!!! Ấy chính là: Bà La hoa nở Thánh Vương tới, Xoay chuyển Pháp Luân chính tam tài. Từ bi cứu độ khuyên tam thoái, Minh bạch chân tướng thoát khổ hải. Hy vọng các bạn đều có thể liễu giải chân tướng Đại Pháp, bởi vì liễu giải chân tướng là hy vọng đắc cứu của các bạn, hơn nữa còn là hy vọng duy nhất!!!
  8. Thôn “Thái Cực” ở Trung Quốc Bản in Tác giả: Nhất Như [Chanhkien.org] Thật khó mà tin rằng sau khi trải qua một quá trình cải tạo lại thiết kế và bố cục dựa trên Thái Cực Tinh Tượng Đồ (bản đồ chiêm tinh Thái Cực) của Đạo giáo Trung Quốc, một ngôi làng nhỏ đã từng thường xuyên bị hạn hán và lũ lụt, trong hơn 600 năm qua chưa từng trải qua bất kỳ một cơn hạn hán hay một trận lũ lụt nào. Cũng kể từ đó, người dân làng được an cư lạc nghiệp, kèm theo đó là rất nhiều hiện tượng kỳ bí khó mà tin được. Được phát hiện cách đây không lâu tại huyện Vũ Nghĩa, trung tâm tỉnh Chiết Giang, đó chính là thôn Du Nguyên, mang theo trong mình nhiều sắc thái thần bí của Đạo giáo. Những cánh đồng được tạo hình để thể hiện Thái Cực đồ, nhà cửa được quy hoạch chiểu theo chiêm tinh học Từ trên đồi Mộng San phía sau lưng thôn Du Nguyên nhìn xuống, người ta thấy một dòng suối từ lòng núi chảy vào trong làng từ hướng Đông Nam. Dòng suối này đổi qua hướng chảy từ Đông sang Tây, cắt ngang thôn làng cho tới chân đồi ở tận cùng phía Tây, rồi lại đổi dòng sang hướng Bắc và tạo thành một hình chữ “S” trước khi rời khỏi thôn để chảy vào đồng ruộng. Dòng suối hình chữ “S” cũng với những vùng đồi bao quanh đã tạo nên một Thái Cực đồ hình khổng lồ ngay tại cổng thôn. Dòng suối chữ “S” là đường cong tách rời Âm và Dương, chia những cánh đồng ra thành “lưỡng nghi” (hai cực hoặc hai nửa Âm Dương ngư hình con cá) của Thái Cực. Con cá Âm ở phía Nam của dòng suối được bao phủ bởi các loại cây cổ thụ mọc vươn cao, có một con đường chạy dọc theo khóe “mắt” của con cá. Con cá Dương nằm ở phía Bắc của dòng chảy là một cánh đồng lúa trù phú, với các loại cây hoa màu trên cạn được trồng ở “mắt” của con cá. Thái Cực đồ hình này có đường kính 320 mét, chiếm diện tích 8 héc-ta. Theo dân gian lưu truyền về việc đặt Thái Cực đồ hình tại cổng vào phía Bắc của thôn, chính là được thiết kế với hai lý do: thứ nhất là để chặn không khí lạnh từ phương Bắc và “tà khí” ["khí" nghĩa là sinh lực], và thứ hai là để dựng lên một “tấm chắn khí” để ngăn không cho vận may và “chính khí” của thôn bị phát tiết ra ngoài. Kết quả khảo sát của các chuyên gia còn tiết lộ rằng tất cả nhà cửa trong thôn Du Nguyên đều được bố cục chiểu theo tinh tượng đồ (bản đồ chiêm tinh) của “Thiên Cang dẫn nhị thập bát tú, Hoàng đạo thập nhị cung hoàn nhiễu” (Thiên Cang dẫn dắt 28 vì tinh tú, bao bọc bởi 12 cung Hoàng đạo), giống hệt như những gì khai quật được trong mộ Liêu ở Tuyên Hóa, tỉnh Hồ Bắc vào năm 1974. Thái Cực đồ hình tại cổng thôn là “cung Song Ngư” cùng với 11 ngọn đồi xung quanh thôn tạo thành 12 cung Hoàng đạo. Còn 28 nhóm công trình cổ trong thôn được quy hoạch căn cứ theo sự bài trí của 7 ngôi sao Thanh Long ở phương Đông, 7 ngôi sao Huyền Vũ ở phương Bắc, 7 ngôi sao Bạch Hổ ở phương Tây, và 7 ngôi sao Chu Tước ở phương Nam, và 7 ao nước (còn gọi là “Thất Tinh Đường” hay “Các ao nước của 7 ngôi sao”) trong thôn được xếp theo trình tự của 7 ngôi sao chính của chòm sao Đại Hùng, tất cả chúng tạo nên hình ảnh của Thiên Cang dẫn dắt 28 vì tinh tú [Chú thích của dịch giả: Thiên Cang là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Đại Hùng hay còn gọi là sao Bắc Đẩu]. Xảo diệu hơn nữa, sao Khuê ở phần đầu của Bạch Hổ phương Tây lại nằm gọn bên trong “cái đấu” của chòm sao Đại Hùng. Nhiều ẩn đố khó lý giải Thôn Du Nguyên có dân số hơn 2.000 người sống trong hơn 700 hộ gia đình. Đây là nhóm các gia đình sống chung mang họ “Du” lớn nhất Trung Quốc ngày nay. Theo dân làng thuật lại, bố cục của thôn do đích thân Lưu Bá Ôn (còn gọi là Lưu Cơ) – cố vấn trụ cột cho Hoàng đế đầu tiên của triều Minh. Lưu Bá Ôn là một nhà chiến lược gia, nhà lập pháp trứ danh trong lịch sử Trung Quốc, tinh thông phong thủy và các thuật loại khác. Hình tượng của ông theo truyền thuyết dân gian miêu tả là một người đa mưu túc trí, có cốt cách của thần tiên, và là một nhân vật được trọng vọng giống như Gia Cát Lượng [một chiến lược gia, quân sư trong thời kỳ Tam Quốc của lịch sử Trung Quốc]. Theo như ghi chép trong “Du Thị Tông Phổ” (gia phả họ Du), Du Lai, con trai đời thứ 5 của gia tộc họ Du trong thôn Du Nguyên, đã từng là bạn đồng môn và là bằng hữu rất thân thiết với Lưu Bá Ôn. Vào năm Chí Chính thứ 9 (1349), khi Lưu Bá Ôn từ chức quan và lui về quê nhà, ông dừng chân tại thôn Du Nguyên để thăm Du Lai. Thời đó thôn Du Nguyên thường xuyên phải hứng chịu hạn hán, ngập lụt, hỏa hoạn và dịch bệnh, và dân làng phải rất vất vả để cầm cự mạng sống. Du Lai nhờ Lưu Bá Ôn tìm kế sách. Nhờ vào trí tuệ tinh thông thiên văn địa lý của mình, sau khi khảo sát chi tiết địa thế nơi ấy, Lưu Bá Ôn phán rằng: Thôn Du Nguyên được bao bọc bởi 11 ngọn núi, sở hữu “khí” [năng lượng sống] của sự tài hoa và vận may, nhưng do dòng suối chảy thẳng một mạch xuyên qua làng tạo thành “ngạnh” (khắc nghiệt), làm tẩu tán “khí” tốt ra khỏi thôn. Nếu thay đổi sao cho dòng suối chảy uốn cong vào thôn, dựa theo bố cục của Thái Cực, cùng với 11 ngọn đồi hình thành nên 12 cung Hoàng đạo, thì “khí” tốt của thôn sẽ được bảo trì. Sau đó ông thiết kế ra bố cục Thiên Cang dẫn nhị thập tú, khuyên dân làng đào 7 ao nước mới trong thôn Du Nguyên và đối chiếu chúng với hình dạng của chòm sao Đại Hùng, đồng thời yêu cầu hậu duệ của dòng họ Du khi xây dựng thôn làng phải tuân thủ nghiêm ngặt theo cách bài trí này. Thật đáng kinh ngạc, kể từ đó, thôn Du Nguyên không còn phải bận tâm về hạn hán và lũ lụt nữa, mà họ luôn sống trong hòa bình và thịnh vượng. Không chỉ giàu mạnh về kinh tế lâu dài từ triều Minh sang triều Thanh, thôn còn sản sinh ra 260 nhân vật đỗ đạt cao được bổ nhiệm vào các vị trí khác nhau của triều đình hay còn gọi là tước vị [thượng thư, đại phu, phủ đài, tri huyện, tiến sĩ, cử nhân, v.v] và được ca tụng là “phong thủy bảo địa”, nghĩa là nơi có người tài và đất quý. Phép màu không phải chỉ có thế: cũng kể từ đó, thôn Du Nguyên luôn có mưa vào ngày 26 của tháng thứ 6 Âm lịch và không có ngoại lệ; 8 con cá chép điêu khắc bằng gỗ trong Thanh Viễn Đường luôn thay đổi màu sắc tương ứng với sự luân chuyển của các mùa; trong số những cây sồi trắng mọc trên phần đất hình con cá Âm của Thái Cực đồ tại cổng thôn, có một cây đã hơn 600 tuổi và cao 27 mét, được mệnh danh là “Bạch Lịch vương” ở tỉnh Chiết Giang; còn về cái ao thứ 3 tên Ngọc Hành Đường của Thất Tinh Đường, hễ khi nào dân làng cố lấp nó lại để xây nhà cửa lên trên thì chắc chắn sẽ có hỏa hoạn. Còn có khoảng 20 đến 30 điều kỳ lạ khác ở thôn Du Nguyên kích thích trí tưởng tượng và suy đoán của người ta về ngôi làng đặc biệt này. Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn không thể không đặt ra câu hỏi rằng, có lẽ nào tất cả những việc này chỉ đơn giản là một minh chứng rõ ràng cho thuật phong thủy cổ xưa? Xem thêm: >> Những dự ngôn vĩ đại về thời đại ngày nay (8): «Thiêu Bính Ca» của Lưu Bá Ôn
  9. Bí Mật Phong Thủy (Phần 2) : Thầy Phong Thủy Trong lịch sử, Trương Tam Phong được vinh danh là thái cực tôn sư, võ lâm bắc đẩu, đạo gia tu luyện gọi là chân nhân, đồng thời ông cũng là một bậc thầy về Phong Thủy (Vẽ: Zhiqing) Thầy Phong Thủy Trong lịch sử, Trương Tam Phong được vinh danh là thái cực tôn sư, võ lâm bắc đẩu, đạo gia tu luyện gọi là chân nhân, đồng thời ông cũng là một bậc thầy về Phong Thủy. Trương Tam Phong trong Kham Dư Thiên thuộc “Thiên Khẩu Thiên” (Trương Tam Phong toàn tập) có nói: “Duy Thiên Phú Thiện Ác, Duy Địa Tải Thiện Ác, Duy Tiên Sư Vi Thiên Địa Mai Tàng Thiện Ác. Thiên Vô Tư Phú, Địa Vô Tư Tải, Tiên Sư Vô Tư Ân … ”. Từ đó cho thấy mục đích của các thầy phong thủy là thay trời hành sự, là có sự yêu cầu nghiêm khắc về tâm tính, Trương Tam Phong cũng phải kính nể họ ba phần, nên gọi họ là “Sư Tiên” Thầy phong thủy bắt buộc phải được sự chân truyền của Sư Phụ, phải đạt được năng lực câu thông với thần, ngoài ra còn phải có khả năng quan sát “hình”. Trung Quốc cổ đại có một số nhà phong thủy sau khi tu luyện đến một trình độ nhất định, trên thân thể đều xảy ra những biến hóa rất lớn. Rất nhiều truyền thuyết kể rằng, một số cao nhân có khả năng đặc biệt, vào những thời kỳ nóng nhất trong hè họ không bị đổ một giọt mồ hôi nào, vào mùa đông họ chỉ mặc 1 chiếc áo cũng không cảm thấy lạnh, một số người còn có thể bay, có nhiều người đã tận mắt nhìn thấy. Ngoài ra thân thể của họ còn có thể tiến nhập sang không gian khác, cho nên có một số người thấy họ đang ở trước mặt trong chớp mắt bỗng biến mất không dấu vết. Các thầy phong thủy thường xuyên đi đến những nơi rừng sâu núi thẳm, một bước đi của họ có thể di chuyển được hàng mấy trăm mét, ở đó họ có thể tự do bay qua bay lại。 Trong kinh thơ Đại Nhã Lưu Công có nói về “Trắc cương”, “Giáng nguyên”, “Thệ thủy”, “Quan kinh” đều là để nói về những điều này, do vậy có người còn gọi các thầy phong thủy là “Địa Tiên”. Tại nhân gian, người ta cho rằng thầy phong thủy là người chuyên xem phong thủy, bị gọi là âm dương tiên sinh hay phong thủy tiên sinh. Từ xưa đến nay có rất nhiều giang hồ thuật sỹ học được một ít kiến thức bề ngoài nông cạn của phong thủy đã treo biển xem phong thủy nhằm mục đích kiếm tiền. Thầy phong thủy và những giang hồ thuật sỹ đó có sự khác biệt rất lớn. Giang hồ thuật sỹ không tu luyện, họ bất quá chỉ hiểu được một chút kỹ năng, biết được một chút thủ thuật mà thôi. Những điều họ xem đều là thuộc về xem “hình”, dựa vào kinh nghiệm của những người xưa tổng kết lại mà tiến hành thực hiện những thủ đoạn mưu sinh ở xã hội. Họ chủ yếu là xem cho dân thường về địa thế, đất đai, thời hạn … Mặc dù giang hồ thuật sỹ và thầy phong thủy có sự khác biệt rất lớn, thế nhưng từ xưa đến nay, tại xã hội Trung Quốc đều có những giang hồ thuật sỹ như thế tồn tại, đó là vì nguyên nhân gì ? Con người là có phân chia tầng thứ, bách tính phổ thông bình thường thì có hiểu biết rất nông cạn, thế nên năng lực của những thuật sỹ đó cũng đã đủ dùng rồi. Tại tình huống thông thường, trong phạm vi bán kính 100 dặm, ắt có dị nhân, hoặc là người biết phong thủy, hiểu kinh dịch, biết bói toán, v.v… năng lực lớn nhỏ không giống nhau. Các thuật sỹ mặc dù không hiểu nguyên lý cao thâm, nhưng cũng có thể giúp đỡ các thầy phong thủy truyền bá đạo lý tích đức hành thiện, chỉ cho con người biết thuận theo thiên thời địa lợi, biết được đạo lý phải tích đức cho con cháu đời sau, chỉnh thể là có tác dụng tích cực đối với việc duy hộ đạo đức cho xã hội. Tiêu chuẩn đạo đức của người xưa là tuân theo các điển cố của thánh hiền, mọi người đều biết tích đức, chí ít thì cũng có xu hướng thủ đức, cho nên những giang hồ thuật sỹ đó mặc dù không có sư phụ chân truyền, những cũng có thói quen tĩnh tâm điều tức, nhắm mắt đả tọa, đối với thân tâm của họ đều có điểm tốt. Nếu như tâm họ thành khẩn, cũng có thể làm cảm động bề trên, họ có thể được một sư phụ chân chính nào đó điểm hóa, truyền đạo cho họ. Bên cạnh đó cũng có nhiều giang hồ thuật sỹ cầu danh cầu tài, đằng sau họ đều là phụ thể cáo chồn khởi tác dụng, đặc biệt ngày này có nhiều thầy xem bói, thầy phong thủy đều là như thế, họ không phải thực sự muốn sử dụng năng lực của những con cáo chồn phụ thể đó, mà đều là do cái tâm tham tiền không trọng đức chiêu mời đến, thực sự là rất đáng thương. Có một số người có thể hiểu được một ít tác dụng của việc xem phong thủy thời cổ đại. Vì phong thủy tại xã hội công chúng đã bị thất truyền rất nhiều năm, cho nên đều không hiểu rõ nguyên lý của nó. Bình thường khi đi tìm một giang hồ thuật sỹ xem phong thủy cho bản thân, người ta toàn bị lừa. Những người trong giang hồ họ chỉ đi tham khảo giá cả, mảnh đất này bao nhiều tiền, các loại giá thành từ vài vạn đến vài trăm vạn họ đều biết, nhưng họ có thể nhìn được điều gì chân chính đây ? Trương Tam Phong từng nói: những lớp người ngày nay tại thế nhân toàn nói mò về phong thủy, dám mạo phạm thần linh, lấy hài cốt của người thân để cầu tài lộc, tùy tiện đàm luận phúc họa vận mệnh, gạt người kiếm tiền, mong cầu người khác khen ngợi mình, nhân tâm như thế liệu có biết thiên lý là gì chăng ? Mười người biết phong thủy thì chín người là nghèo, cho nên cũng thật khó trách ! Chân nhân thanh tĩnh như Trương Tam Phong cũng đã đưa ra những lời phê bình như vậy đối với những kẻ giả mạo và những hành vi lừa người kiếm tiền bất chính. Địa huyệt tốt xấu là có liên quan đến đạo đức. Nếu có thể tìm được huyệt tốt, chọn được huyệt như thế nào là có quan hệ với hành vi đạo đức của thầy phong thủy, nếu không có đạo hạnh cao thâm thì không thể nào làm được sự việc chân chính ấy. Rất nhiều giang hồ thuật sỹ lợi dụng một chút vỏ ngoài nông cạn của phong thủy, cũng dám thực hiện những hành vi xem phong thủy lừa đảo gạt người. Bọn họ có thể lừa người để kiếm tiền, kỳ thực là họ lợi dụng sự sơ hở của những người mà luôn coi trọng cái lợi trước mắt. Những người đi xem phong thủy ấy đa phần đều muốn dựa vào lực lượng của phong thủy để thăng quan phát tài, thậm chí sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn để đạt được mục đích, nhưng thực sự họ đều đang thực hiện những việc làm vô ích. Từ trước đến nay sự hưng thịnh của một cá nhân hay một gia tộc là thuận theo quy luật tự nhiên của đất trời mà vận hành. Nguời vô đức mà tự nhiên đạt được những điều tốt thì sớm muộn cũng bị trời lấy lại. Những người lấy tiền mua đất đa phần đều là người giàu có hoặc cao quan, tham nhũng tràn lan, đạo đức xuống cấp, tiền của họ đa phần đều là đến từ những việc làm bất chính, đầu cơ trục lợi, vi phạm pháp luật, ức hiếp dân lành. Những người không có thiện niệm, không có chính niệm làm sao có thể mua được đất tốt chứ ? Theo thiên lý, người có phúc đức sẽ mua được mảnh đất tốt, nếu sau đó họ làm những điều không tốt cho xã hội thì mảnh đất tốt ấy cũng sẽ dần dần biến thành xấu. Cho nên những kẻ giang hồ thuật sỹ bán đất đa phần là bán những mảnh đất không tốt, nếu mua vào sẽ làm cho phúc phần của người mua tiêu tan hết, cuối cùng chẳng còn gì. Thầy phong thủy chân chính là có thiện tâm giúp người, không kể danh tiếng, không ham tiền bạc, họ làm việc gì cũng đều là thuận theo thiên mệnh, tất cả những mảnh đất mà họ chỉ điểm thông thường đều có liên quan rất lớn đến sự hưng thịnh của triều đại và sự biến đổi của lịch sử. Cho nên thường không phải chỉ là chọn một mảnh đất mà thực tế là vẽ ra một bối cảnh. Bởi vì những người đắc đạo, trên thân thể có mang năng lượng, họ có thể có năng lực “quyết định” các sự tình, giang hồ thuật sỹ không thể làm được điều này. Đương nhiên chữ “định” này cũng phải tuân theo sự biến hóa của thiên tượng và phúc đức cùng nhiều nhân tố khác nhau để xem xét. Có một vài người thường không tin vào phong thủy, họ thường nói một câu như thế này: Phong thủy nếu lợi hại như thế, thì tại sao các thầy phong thủy vẫn nghèo khổ như vậy, tại sao chẳng có một ai phát tài ? Chúng tôi thấy những người có cách nghĩ như vậy đều là do không biết chân tướng sâu xa bên trong. Những thầy phong thủy có trình độ, rất nhiều những người giàu sang phú quý thậm chí làm quân vương thiên hạ, ví dụ như tổ tiên gia tộc của Chu Triều Cơ, hay rất nhiều người cổ đại, họ đều là những cao nhân tinh thông các chủng thuật loại. Từ nhiều năm trước họ đã bố trí phong thủy, vì hậu nhân triều Chu mà thiết lập cơ nghiệp 800 năm. Đương nhiên có thể làm như thế cũng là phải thuận theo thiên mệnh. Gia tộc này cũng là được trời cho phép nên mới có thể thực hiện thành công. Nhân loại của chúng ta là một bộ phận của một hệ thống sinh thái tuần hoàn của quả địa cầu, là một tế bào của đại tự nhiên. Mà quả địa cầu lại là một lạp tử tinh cầu trong thái dương hệ, thái dương hệ lại là một bộ phận của hệ ngân hà, mà hệ ngân hà lại là một lạp tử, một bộ phận của vũ trụ. Cho nên có thể nói địa cầu là một tế bào của thể hệ. Điều này rất giống với thuyết di truyền của ngành sinh vật học hiện đại: mỗi một tế bào trong cơ thể đều bao gồm tín tức của toàn bộ cơ thể, mỗi một tế bào đều có quan hệ đối ứng với cả cơ thể. Cho nên dựa vào mối quan hệ này, ta có thể từ những cái nhỏ mà nhìn được những thứ to lớn, từ cục bộ mà suy ra được chỉnh thể. Ví như thầy phong thủy, vì họ tu luyện có đạo, cho nên nhục thể của họ có mạch lạc chu thiên, có năng lượng lưu chuyển. Đất đai cũng như nhân thể, cũng có mạch lạc gọi là long mạch, cũng có năng lượng lưu chuyển. Cùng với cái lý ấy, tinh hệ vũ trụ cũng có mạch lạc chu thiên, cũng có năng lượng lưu chuyển. Chủng loại mạch lạc chu thiên này có thể không chỉ một loại, mà có rất nhiều loại. Chúng ta đều biết, các tinh cầu trong thái dương hệ chuyển động xoay quanh mặt trời đều có quy luật, mà thái dương hệ cũng đang chuyển động với một quy luật cố định, hệ ngân hà cũng đang chuyển động. Sự vận động biến hóa tương hỗ giữa các tinh cầu sẽ gây ra những sự thay đổi khí tượng. Các khoa học gia cũng đã phát hiện ra điều đó, Newton nói chỉ có thượng đế mới có thể tạo ra được những thứ ấy. Người Trung Quốc gọi sự vận hành này gọi là sự biến hóa của “Thiên tượng”. Sự biến hóa này là đại biểu cho thiên ý. Giả sử có thượng đế, có thần, có các sinh mệnh cao cấp tồn tại, thì đây chính là điều đại biểu cho những điều mà họ muốn truyền đạt. Trong những thời kỳ khác nhau, các tinh hệ trong vũ trụ có sự vận hành biến hóa khác nhau, đại biểu cho những thiên ý khác nhau. Mà thiên ý trong các không gian khác nhau thì lại cần sự thúc đẩy vận hành khác nhau. Lấy một ví dụ: thiên tượng biến hóa muốn thay đổi một triều đại nào đó, thì ở phía dưới phải có một gia tộc hoặc một cá nhân nào đó hành thiện tích đức, đến khi phúc đức đầy đủ, thì có thể đăng cơ làm hoàng đế, nếu một thầy phong thủy nào đó có khả năng câu thông với trời đất, nhận được pháp chỉ, tìm được gia tộc này, vì gia tộc đó mà tìm long mạch và huyệt vị, sắp xếp long mạch cho tổ tiên của họ. “Nhân” và “Địa” tương hợp, đối ứng với “Thiên”, trời sẽ sắp xếp thiên thần (hoặc người tu luyện tích lũy được uy đức cực lớn) chuyển thế vào gia tộc đó, sau này sẽ trở thành hoàng đế, như thế gọi là tam tài hợp nhất, bảo đảm rằng thiên ý sẽ được thực hiện thành công. Trên thực tế chúng ta phát hiện ra rằng, những gia tộc như thế đều là được trời chọn lựa, tổ tiên của họ rất nhiều đều là người tu luyện và tu luyện có thành tựu, đa số biết xem phong thủy, có thể sử dụng công năng hoặc thần thông để tìm ra huyệt vị. (Theo Việt Đại Kỷ Nguyên)
  10. Bí Mật Phong Thủy ( Phần 1 ) : Nói Sơ về Phong Thủy Lời nói đầu Tại các nước châu Á, có rất nhiều rất nhiều người yêu thích Phong Thủy. Bọn họ từ những điều được lưu truyền và các sách cổ đã đạt được một số hiểu biết về lý luận Phong Thủy. Trải qua nhiều năm gian khổ tìm kiếm và kiểm chứng, họ phát hiện Phong Thủy đích thực có những tác dụng nhất định. Các nhà khoa học gia Tây phương cũng đã phát hiện có sự lưu chuyển năng lượng và điện lưu ở các vùng đất lớn và một số hiện tượng khác, những điều đó hoàn toàn trùng hợp với các lý luận trong Phong Thủy. Rất nhiều công ty lớn ở phương Tây và các đại phú hào ở Đông Nam Á thậm chí đã thuê hẳn các thầy Phong Thủy về để tham khảo ý kiến mỗi khi có sự tình xảy ra. Phong Thủy có khởi nguồn từ Trung Quốc, đây là điều đã được công nhận. Tại Trung Quốc trong dân gian có một kiểu nói thế này: Thứ nhất là mệnh, thứ nhì là vận, thứ ba là Phong Thủy, thứ tư là tích âm đức, thứ năm là đọc sách. Ba điều đầu là thiên định, hai điều sau là do con người. Tác dụng của Phong Thủy được liệt vào những thứ do trời định, hoàn toàn siêu xuất khỏi những học thuyết trong sách về cải biến vận mệnh. Trong lịch sử trên dưới 5000 năm của đất nước Trung Hoa, Phong Thủy đã hòa nhập vào cuộc sống của mọi người và trở thành một bộ phận trọng yếu. Từ Hoàng Đế cho đến dân thường, từ Hoàng cung đại điện cho đến những góc phố nhỏ bé, mọi người hầu như đều đã từng biết về Phong Thủy. Không kể là chọn lựa bố cục cho thủ đô, kiến tạo thiết kế cho thành thị, hay là định hướng âm trạch dương trạch, sắp đặt đồ đạc trong nhà v.v… đều cần tìm người để xem Phong Thủy, tính toán xem trình tự vận hành thế nào, sao cho đạt được Thiên Nhân hợp nhất, đón cát tránh hung. Thuận theo quá trình công nghiệp hóa trong 100 năm gần đây, Phong Thủy và văn hóa chính thống của Trung Hoa đã trở nên ngày càng xa lạ đối với chúng ta. Trong tiềm ý thức của mọi người đều cho những danh từ này là “lạc hậu”. Tuy nhiên sự thực có đúng như vậy không ? Xin bạn hãy tiếp tục xem bài viết của chúng tôi, nó nhất định sẽ đem lại cho bạn những cảm thụ và nhận thức hoàn toàn mới ! Thế kỷ 16 thời kỳ văn nghệ phục hưng tại châu Âu, sự huy hoàng của nền văn minh Hy Lạp và Roma cổ đã đưa đến các ngành công nghiệp hiện đại. Từ đó dẫn đến sự phát triển của nền văn minh ngày nay và mang lại cho chúng ta một xã hội hiện đại với khoa học kỹ thuật tương đối phát đạt. Chúng tôi tin rằng, việc phục hồi văn hóa Trung Hoa chính thống cũng sẽ mang lại một tương lai tươi sáng cho con cháu người Hoa. Chúng tôi hy vọng có thể cùng với nhiều người yêu thích Phong Thủy nghiên cứu và thảo luận về văn hóa chính thống Trung Hoa. Từ đó đẩy mạnh sự phục hưng và thịnh vượng của văn hóa Trung Hoa đồng thời mang lại phúc âm cho người dân tại các quốc gia trên thế giới. Phong Thủy thoạt nghe tưởng chừng như mê tín, kỳ thực đó là một trong những sản phẩm trí huệ của người Trung Quốc cổ xưa. (AFP) Những điều trong bài viết này, cũng chỉ là những điều thuộc một phạm vi thiên địa nhất định, bởi vì tầng thứ tu luyện của chúng tôi có hạn, có thể có những chỗ còn thiếu sót hoặc nhầm lẫn, xin các bạn bỏ qua. Nếu có thể giúp đỡ chỉ ra những sai sót đó, chúng tôi vô cùng cảm tạ. Bài viết này đã nhận được rất nhiều ý kiến và trích dẫn của khá nhiều đồng đạo, tại đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các bạn. Chương I: Nói Sơ về Phong Thủy Nhắc đến Phong Thủy, chắc chắn có rất nhiều người đặt ra các câu hỏi, ví dụ như: Phong Thủy rốt cuộc là gì ? Tại sao Phong Thủy có thể khởi tác dụng ? hoặc là Phong Thủy có nguồn gốc từ đâu v.v…. Những vấn đề này nếu như không giảng rõ ràng, sẽ gây ra rất nhiều chướng ngại cho những người muốn nhận thức về Phong Thủy, đặc biệt là một số người ở Trung Quốc Đại Lục, họ thường cho những điều này thuộc về mê tín từ đó bài trừ chúng. Chúng ta hãy bắt đầu từng bước một, xin bắt đầu từ việc liễu giải về nguồn gốc của danh từ Phong Thủy. 1. Nguồn gốc Phong Thủy Danh từ “Phong Thủy” bắt nguồn từ thời Ngụy Tấn, trong “Táng Thư” của Quách Phác, trong sách Quách Phác đã đưa ra định nghĩa về Phong Thủy như sau: “Táng giả, Tạng dã, Thừa sinh khí dã. … khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ”. Quách Phác đã đưa ra khái niệm về “khí”, đồng thời đưa ra những phát hiện ngắn gọn về biểu hiện của hai loại nhân tố Phong và Thủy, từ đó nhận thức về sự xuất hiện và kết thúc của “khí”. Do tác giả trong cuốn “Táng Thư” đã lần đầu tiên đưa ra danh từ Phong Thủy, cũng như đặt ra cái khung lý luận cho Phong Thủy, cho nên được coi là ông tổ trong giới Phong Thủy. Kỳ thực nghề Phong Thủy có lịch sử lâu dài hơn nhiều so với lịch sử của “Táng Thư”. Các giới học giả Phong Thủy sau này đều đã nhận thấy rằng trong “Đại Nhã Kinh Thi – Lưu Công” trước đó đã có những miêu tả về sự hoạt động của Phong Thủy Đốc công lưu, ô tư tư nguyên, ký thứ ký phồn … trắc tắc tại hiến, phục giáng tại nguyên Đốc lưu công, thệ bỉ bá tuyền, chiêm bỉ phổ nguyên, nãi trắc nam cương, nãi quan ư kinh. Kinh sư chi lý, ư thời xứ xứ, ư thời lư lữ, ư thời ngôn ngôn, ư thời ngữ ngữ. Đốc lưu công, ký phổ ký trường, ký cảnh nãi cương, tương kỳ âm dương, quan kỳ lưu tuyền … độ kỳ thấp nguyên … độ kỳ tịch dương, u cư doãn hoang. Qua mấy đoạn thơ mang đầy thi tình họa ý trên, chúng ta dường như nhìn thấy cổ nhân là “Tư Vũ”, lúc thì là “Trắc Cương”, lúc thì là “Giáng Nguyên”, lúc thì là “Thệ Thủy”, lúc thì là “Quan Kinh”, quá trình này có sự tương đồng với bốn bộ phận trong Phong Thủy của các học giả sau này là: “Mịch Long”, “Sát Sa”, “Quan Thủy”, “Điểm Huyệt” Trong 《Đại Nhã Miên》 thuộc 《Kinh Thi》 cũng có những miêu tả liên quan như: “Cổ công đản phụ, lai hồ tẩu mã, súy tây thủy hử, chí ư kỳ hạ. Viên cập khương nữ, duật lai tư vũ”. Cổ công đản phụ là phụ thân của Quý Lịch, là tổ tiên của Chu Văn Vương, người đã dẫn đầu cả gia tộc chuyển đến Kỳ Sơn. Trong thơ “Tư Vũ” có nghĩa là xem xét kỹ lưỡng, chi tiết. Những hoạt động Phong Thủy này, được người thời đó gọi là tướng địa hay hình pháp Phong Thủy còn được gọi là Kham Dư, vậy cách nói Kham Dư này có nguồn gốc từ đâu ? Danh từ này đã được xuất hiện rất sớm từ thời Tây Hán Hoài Nam Vương Lưu An trong quyển thứ ba 《Thiên Văn Huấn》 thuộc tác phẩm 《Hoài Nam Tử》, trong đó bao hàm các đạo lý về sự vận hành của trời đất. Phong Thủy còn được gọi là Địa Lý, Địa Lý là từ xuất hiện trong 《Hệ Từ》 của 《Chu Dịch》: “Dịch ư thiên địa chuẩn, cố năng nhị luân thiện địa chi đạo. Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố.” Đến 《Táng Thư》 của Quách Phác viết, kỳ thực là đã đứng trên vai của rất nhiều người, ngoài việc chỉnh lý một vài lý luận Phong Thủy, ông chủ yếu là quyết định chọn từ “Phong Thủy”. Giống như danh từ “Khí Công”, nếu như không tiến hành nghiên cứu, rất khó để có thể nhìn thấy được nội hàm rộng lớn và thiên ý sâu xa từ bề ngoài của từ “Phong Thủy”, Không kể là Khí Công hay Phong Thủy, đều giảng về “Khí”, hiện nay có rất nhiều người lại lý giải thành luồng không khí, kỳ thực không phải. Hiện nay ký tự tiếng hán bị đơn giản hóa quá nhiều, rất nhiều từ đều bị vứt bỏ đi không dùng nữa, từ đó khiến nhiều nghĩa của từ bị lý giải sai lệch. Khí ở đây cần phải được lý giải là “炁” (vô hỏa) thì sẽ chính xác hơn. Từ này được bắt nguồn từ văn hóa của Đạo gia trong xã hội Trung Quốc cổ xưa, nó đại biểu cho năng lượng. Trước giờ, đa phần mọi người lý giải “Phong Thủy” đều theo những lý luận từ khi phổ cập minh thanh phong thủy, tại thế gian tiểu đạo chỉ lưu truyền những điều vỏ ngoài nông cạn, cùng với một số thuật lại khác. Hình thành nên “Huyền Không”, “Lục Hào”, “Lý Khí” … các tông phái khác nhau trong Phong Thủy. Hiện nay các nhà Phong Thủy học nhìn nhận Phong Thủy dưới hai loại hình chủ yếu: một là hình pháp, hai là lý khí. Hình pháp chủ yếu là chỉ: loan đầu, long, huyệt, sa, thủy, tất cả hướng về năm yếu quyết. Về lý khí, nguyên tắc là trên các cơ sở như thế mà thêm vào các lý luận dịch học như cửu cung bát quái, âm dương ngũ hành v.v… Kỳ thực họ chỉ là tổng kết lại một số kinh nghiệm của các nhà phong thủy trong quá khứ, nếu không được chân truyền thì chỉ là dựa vào những kinh nghiệm này mà suy tính. Họ chỉ biết về “Hình” chứ không biết gì về “Thần” cả, họ chỉ lòng vòng nghiên cứu các lý luận về “Hình”, không chỉ vậy lại còn tranh chấp lẫn nhau mà phân chia thành các bè phái. Ví dụ cùng một vị trí, phái “Huyền Không” nói đất ở đây có thể mai táng, “Lý Khí” lai nói là không thể, nhưng sau khi mai táng thì quả thực là có phát. Một trường hợp khác “Lý Khí” nói là được, “Huyền Không” lại nói không được, kết quả sau khi mai táng thì lại có thể phát. Cuối cùng là “Huyền Không” đúng hay là “Lý Khí” đúng đây ? Trong các hoạt động về Phong Thủy, chúng tôi phát hiện, kỳ thực để xem một vị trí có phải là “chân huyệt” hay không, thì phải xem ở huyệt vị đó có thần hay không. Chúng tôi gọi người chấn thủ huyệt vị đó gọi là “Địa Linh Thần”. Đồng thời còn phụ thuộc vào việc thầy Phong Thủy kia có đủ uy đức để câu thông với vị Địa Linh Thần đó không, nó không chỉ đơn giản là việc xem hình thế đất. Có người cho rằng học vấn về Phong Thủy là được hình thành từ một quá trình tích lũy kinh nghiệm khảo sát địa hình lâu năm mà nên. Nếu như thật sự là như vậy, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày nay, ai muốn làm hoàng đế, thì khởi động các bộ máy cơ khí để hình thành các địa hình theo tổng kết kinh nghiệm, rồi tạo ra các địa huyệt là xong rồi phải không ? Tại sao lại không thể làm được ? Nguyên nhân là vì con người có thể tạo thành các địa thế theo mô hình phong thủy, nhưng không có cách nào an bài các vị Địa Linh Thần chấn thủ nơi đó được. Phong Thủy được quy về thế gian tiểu đạo trong Đạo Gia, văn hóa Đạo Gia cho rằng sinh mệnh của con người có nguồn gốc từ trên thiên thượng. Mục đích của nhân sinh là thông qua tu luyện mà dần dần tiếp cận và đồng hóa với bản tính tiên thiên của chính mình, trở về nguồn cội. Các thầy Phong Thủy tu Đạo chân chính trong quá trình quay trở về bản tính tiên thiên của mình, họ dần dần có được các năng lực thần diệu, xuất hiện các công năng đặc dị, có thể nhìn thấy “Khí” của địa huyệt, có thể nhìn thấy quang ảnh trên thân các “Địa Linh Thần” đối ứng với các địa huyệt, trên thân họ đều có mang năng lượng. Có một số công năng cao cấp còn có thể trực tiếp nhìn thấy hình tượng của những Địa Linh Thần đó. Địa Linh Thần đối ứng với huyệt vị càng lớn thì huyệt vị ấy càng tốt. Cho nên sở dĩ Phong Thủy có thể khởi tác dụng thực chất là do có tác dụng của “Thần” đằng sau những biểu hiện về hình thế bề ngoài. Văn hóa truyền thống của Trung Hoa là văn hóa sùng bái “Thần”, rất nhiều sách cổ và những truyền kỳ cổ xưa đều có ghi chép và lưu truyền về vùng đất Đại Địa Thần Châu của chúng ta. Ở đó thời xưa đã từng là nơi mà người và thần cùng tồn tại, lúc đó các vị thần tiên thường xuyên xuất hiện ở nhân gian để truyền cho những người dân nguyên thủy các loại văn hóa và kỹ nghệ, con người thời đó cùng không cần bói quẻ, họ có thể trực tiếp trao đổi với thần để hiểu rõ về thiên ý. Tương truyền có một người rất đức hạnh được thần tiên truyền thụ trở thành thầy Phong Thủy. Nhân gian tương truyền về Đại sư Phong Thủy triều Đường Dương Thanh Tùng tại Sơn Đông đã gặp được Cửu Thiên Huyền Nữ, đắc được chân truyền, trở thành người tinh thông Phong Thủy, trở thành Nhất Đại Thái Gia, cho nên những người trong gia tộc họ Dương đắc được chân truyền sau này đều cúng bái Cửu Thiên Huyền Nữ làm tổ sư. Nhưng trong giới Phong Thủy có một cái tên được cho là vị Thầy Phong Thủy đầu tiên: “Thanh Đảo Tử”. Có ghi chép nói rằng thời kỳ hoàng đế đại thần, hồng truyền văn minh phương đông đã thuật lại như vậy, Phong Thủy cũng là bắt đầu từ thời đó. 2. Tại sao Phong Thủy có tác dụng Hiện nay không ít người cho rằng Phong Thủy là mê tín. Ví dụ như qua việc chọn một địa huyệt tốt để chôn cất hài cốt tổ tiên sẽ ảnh hưởng đến họa phúc của con cháu sau này. Mặc dù các sự việc như thế trong lịch sử đã được ghi chép lại, nhưng rất nhiều người hiện đại vẫn cảm thấy khó mà tưởng tượng được, không biết nguyên lý ở chỗ nào ? Họ cảm thấy thật không thể nào có chuyện như vậy. Kỳ thực khoa học vật lý hiện đại đã phát hiện rằng giữa vật chất với nhau có một loại liên đới vượt qua thời gian và không gian, trong vật lý học lượng tử gọi đó là làm nhiễu động lượng tử. Nói ra thì rất dài, bởi sự ra đời của khoa học kỹ thuật tại Tây phương ngày nay là có hình thức bề ngoài đối lập với các tôn giáo của người Tây phương cổ đại, đối lập với triết học và thuật luyện kim, nhưng trong mối liên hệ nội tại thì tuyệt nhiên không thể phân tách được. Trong Thánh Kinh viết Thượng Đế tạo ra vũ trụ, ngày thứ nhất, cần có ánh sáng. Từ đó ánh sáng được tạo ra, dần dần Thượng đế vì con người mà tạo ra vạn sự vạn vật, chuẩn bị cho con người một hoàn cảnh sống đầy đủ, đến ngày thứ sáu thì bắt đầu tạo ra con người. Ngày thứ bảy thượng đế bắt đầu nghỉ ngơi, kỳ thực ông đã tạo ra sự nghỉ ngơi cho con người, cho con người có được phúc khí của sự nghỉ ngơi. Con người đã sống trong môi trường mà Thượng Đế tạo ra để mà tu dưỡng và sinh sôi cho đến tận ngày nay Thuận theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, con người ngày càng hiểu rõ hơn về vũ trụ, những người được sinh ra vào ngày thứ sáu đang nghiên cứu ánh sáng làm thế nào được sinh ra vào ngày thứ nhất, từ đó xuất hiện một loại vật lý học rất lạ gọi là vật lý lượng tử. Đối với vật lý đương thời, triết học và tôn giáo có một ảnh hưởng cực kỳ lớn. Căn cứ vào giải thích của vật lý lượng tử, ánh sáng là một loại sóng, đồng thời cũng là một loại hạt. Loại đặc tính này gọi là lưỡng tính sóng hạt. Nhưng mà ánh sáng lại là loại vật chất không xác định rõ tính, có nghĩa là bạn có xác định được vị trí của nó thì không thể đo được tốc độ của nó, còn nếu bạn đo được tốc độ của nó thì lại không có cách nào xác định được vị trị của nó. Các khoa học gia từ góc độ vật lý học truyền thống nhìn những thứ lừa chẳng phải lừa, ngựa chẳng phải ngựa này gọi là lượng tử, vì để nghiên cứu nó, các khoa học gia đã tạo ra một môn học vấn mới gọi là vật lý học lượng tử. Giới vật lý học lượng tử xuất hiện rất nhiều cao nhân, những lý luận thần kỳ của họ khiến con người ngày càng không thể phân biệt rõ ai là khoa học gia, ai là triết học gia … ví dụ một nhà khoa học gia người Anh là Penrose đã đề xuất lý luận về “Đa vũ trụ”, ông cho rằng, vũ trụ mà chúng ta đang ở đang không ngừng phân tách, mỗi lần chúng ta “quan sát” (đây là từ trong chủ nghĩa duy tâm) nó thì nó phân tách một lần, tất cả các vũ trụ được phân tách đều tồn tại ở cũng một chỗ, vì tất cả các trường hợp xảy ra cũng đều đồng thời tồn tại. Nhưng chúng ta chỉ sinh sống tại một trong các vũ trụ đó và không thể cảm giác được các vũ trụ khác. Tại các vũ trụ khác, Hitler có thể tạo ra bom nguyên tử trước Mỹ, Kennedy có thể không bị thích sát, cha mẹ của bạn có thể không yêu nhau, có lẽ bạn cũng không tồn tại …. Trong vật lý học lượng tử có một hiện tượng thu hút rất nhiều người quan tâm, gọi là hiện tượng liên đới lượng tử. Các nhà khoa học nói rằng: giữa hai hoặc nhiều lượng tử với nhau có tồn tại một vùng không xác định, có một sự liên hệ rất cường mạnh. Nói trắng ra thì là: bất luận hai lạp tử có khoảng cách bao xa, nếu như một lạp tử xảy ra biến hóa thì lạp tử còn lại cũng bị ảnh hưởng. Hai lạp tử ấy bất luận có cách xa nhau bao nhiêu, đều không chịu ảnh hưởng của không gian và thời gian, nó cũng không cần một sự liên kết nào, chúng vẫn có thể “hiểu được lòng nhau”. Hiện tượng này thật sự là Thiên Phương Địa Đàm, chẳng trách nhà lượng tử học Pauli đã nói: “Vật lý học lượng tử là khoa học thoát thai từ thuật luyện kim, hiện nay so với thuật luyện kim nó càng trở nên thần bí hơn”. Những điều được đề cập ở trên nghe như hoang đường nhưng nó lại là những thành quả kỹ thuật tồn tại một cách thực sự. Không chỉ vậy rất nhiều người đều từ những lý luận kỳ lạ này mà đạt được giải Nobel. Đọc đến đây, bạn chắc hẳn vẫn chưa nhận thức được ý nghĩa của những lí luận đó là gì, nói thẳng ra, nếu như hiện tượng liên đới lượng tử được nghiên cứu thấu triệt, thì con người chúng ta hôm nay có thể thông qua những sự việc ngày nay mà xuyên việt thời không để thay đổi những sự việc trong quá khứ cũng như tương lai … cho nên từ góc độ lý luận lượng tử, những thần tích của các thuật sỹ thần tiên thời cổ đại là không kỳ lạ chút nào. Tại hải ngoại còn có học giả tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm đối với Phong Thủy, giới Phong Thủy cho rằng, con người là do máu huyết của cha mẹ kết tinh mà thành và có mối liên hệ tiềm tại về huyết mạch thể hệ. Căn cứ vào một thực nghiệm như sau: họ lấy tinh trùng của một vài người, sau đó đặt nó tại những nơi cách rất xa những người đó, rồi từ phía sau họ bất ngờ đánh một cái thật mạnh vào một trong những người tham dự thực nghiệm, điều này đã khiến người đó giật mình. Kết quả là tại phòng thí nghiệm đặt ở rất xa, người ta thấy rằng, tinh trùng của người đó cũng có biểu hiện giật mình y như vậy. Thực nghiệm này tại hải ngoại đã được phát sóng trên đài truyền hình chủ lưu, rất nhiều người cũng đã xem nó. Cho nên có thể nói, khoa học nghiên cứu ngày nay cũng đã đột phát được rất nhiều rào cản, vô luận là từ lý luận hay là từ thí nghiệm thực tiễn, từ góc độ khoa học đã có thể chứng minh được tác dụng của Phong Thủy. Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã đi theo một con đường khoa học hoàn toàn khác, là trực tiếp nghiên cứu vũ trụ, nhân thể, thời không. Việc đả tọa tu luyện, khai mở tiềm năng nhân thể cũng là một con đường khoa học để phát triển, điều này so với con đường của khoa học chứng thực Tây phương là hoàn toàn không giống nhau. Thực sự là thế, hiện nay dùng những lý luận và kiểm chứng của khoa học thực chứng Tây phương cũng có thể kiểm nghiệm được độ chính xác của văn hóa Trung Quốc. Những nhà hiền triết Trung Quốc đối với sự kỳ diệu của đại tự nhiên và sự huyền ảo của vũ trụ đã đưa ra rất nhiều tinh hoa luận thuật. Ví dụ tại 《Kinh Dịch – Hệ Từ》 đã nói: “Vô hữu viễn cận u thâm, toại tri lai vật. Phi thiên hạ chi chí tinh, kỳ thục năng dự ư thử”, nói về sự ứng nghiệm của chiêm tinh đoán quẻ, bất luận là thời gian địa điểm xa hay gần, đều có thể biết được sự việc trong tương lại. Cho con người biết “tán thán dịch đạo chi chí tinh, tán thán thánh nhân chi đại đạo”. “Dịch vô tưởng dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố. Phi thiên hạ chi chí thần, kỳ thục năng dự ư thử”. Dịch là vô phương giả. Nếu như hữu tưởng hữu vi, tắc hữu phương hĩ, cũng không phải là dịch. Cảm nghĩa là tâm thông tâm, từ đó mà thông hiểu tâm của thiên địa vạn vật. Vật chi kỉ phân động tĩnh giả dã, chí thần, vị sở phát giai động dĩ tự nhiên dã. Qua đó có thể thấy, hiện nay đỉnh cao của khoa học nghiên cứu vật lý lượng tử đã vô tình trùng khớp với luật thuật trong 《Kinh Dịch》 từ hàng ngàn năm trước của Trung Quốc. Sự vận động và quy luật của lượng tử và quy luật được miêu tả trong 《Kinh Dịch》 là hoàn toàn tương đồng. 3. Phong Thủy có tác dụng gì ? Đạo gia cho rằng vũ này là do âm dương cấu thành, giống như thái cực. Tam giới chỉ là một phạm vi cục bộ của vũ trụ do ngũ hành tạo nên. Vì thế vũ trụ diễn hóa ra Tam giới, âm dương diễn hóa thành ngũ hành. Ngũ hành chỉ phù hợp với tầng thứ thuộc trong Tam giới này, vượt quá phạm vi này thì chỉ sử dụng đạo lý về âm dương chứ không thể dùng đạo lý về ngũ hành làm chỉ đạo nữa. Giống như các sinh mệnh tồn tại trên quả địa cầu là cần có “trọng lực”, nhưng nhận thức này của khoa học chỉ có thể là chân lý nội trong phạm vi quả địa cầu, vượt qua quả địa cầu mà tiến nhập vào phạm vi của thái dương hệ thì nó lại trở thành sai. Con người rơi vào không gian vũ trụ, khi đến các tinh cầu khác thì sẽ bị mất trọng lượng, có thể phiêu đãng bay lên. Phong Thủy học tại Trung Quốc còn được gọi là Âm Dương học, thầy Phong Thủy tại nhân gian còn được gọi là thầy Âm Dương, vậy chúng ta có thể từ đó mà đoán ra được nguồn gốc của Phong Thủy là đến từ tầng rất cao, chẳng phải đạo lý của nó ít nhất cũng có thể dùng được trong phạm vi vũ trụ này sao ? Thích Ca Mâu Ni đã từng nói về “tứ đại”: đất, nước, gió, lửa. Ông cho rằng vạn sự vạn vật trên thế giới này đều được cấu thành từ “tứ đại”. Lấy “con người” làm ví dụ: xương cốt thân thể chính là “địa”, là cơ sở chịu tải trọng của cả sinh mệnh, máu huyết lưu động dưới dạng lỏng được cho là “thủy”, nhiệt độ thân thể được điều hòa một cách tài tình ở 37 độ, tăng thêm 1 độ hoặc giảm đi 1 độ con người đều không chịu nổi, đó chính là “hỏa”, mà con người lại không thể sống được nếu không thở, như thế hô hấp chính là “phong”. Từ nhận thức về biểu hiện của không gian tại thế gian này mà nhìn, Phong Thủy cũng có liên quan đến ba nhân tố phong, thủy, địa trong “tứ đại”. Cho nên từ nhận thức đối với phạm vi vũ trụ của Thích Ca Mâu Ni mà xét thì Phong Thủy cũng là rất cao rồi, ít nhất cũng chiếm được ba yếu tố, cũng là để nói nguồn gốc của Phong Thủy là rất cao, chí ít cũng phù hợp với phạm vi vũ trụ rộng lớn mà Thích Ca Mâu Ni nhận thức được. Bất luận là Đạo gia hay là Thích Ca Mâu Ni, đều có giảng về quan hệ giữa người và vũ trụ. Phong Thủy tại Trung Quốc, bị liệt vào thế gian tiểu đạo của Đạo gia. Đạo gia tu luyện giảng “Chu Thiên”, giảng “Huyệt vị”, ngoài ra còn giảng thân thể người là một tiểu vũ trụ, rất nhiều người dù ít dù nhiều đều biết một chút tri thức về chu thiên và huyệt vị của con người, nhưng các loại chu thiên chân chính tồn tại trong cơ thể người, cùng các kinh mạch và huyệt vị, người thường rất khó để có thể biết được rõ ràng, bởi vì đây là những điều bí mật trong giới tu luyện , họ không muốn công khai nó ra một cách dễ dàng. Trung Quốc cổ đại trực tiếp nghiên cứu các ảo bí về trời và đất, đề ra lý luận về “Thiên địa hợp nhất”, cũng là để nói: Thiên, Địa, Nhân – Tam tài đối ứng. Trong 《Đạo đức kinh》 có viết: “Nhân Pháp Địa, Địa Pháp Thiên …” như thế mọi người thử nghĩ xem, nếu thật sự là như vậy thì có phải là trên trời cũng có chu thiên và huyệt vị không ? Chỉ là lúc này huyệt vị không còn được gọi là huyệt vị nữa mà gọi là thần vị, cũng là điều Đạo gia thường nói về Chu Thiên tư chức thần, cách nói này cho rằng có 365 cái, họ phân biệt ra đối ứng với 365 huyệt vị trên thân người. Hai từ chu thiên có hàm ý chỉ sự tuần hoàn giữa trời và đất, con người có chu thiên, thì thiên địa tự nhiên cũng phải có chu thiên tồn tại. Đồng dạng như vậy, “Địa” có khi nào cũng là một thể hệ, “Địa” liệu có phải là một thể sinh mệnh, “Địa” phải chăng cũng có mạch lạc, chu thiên và huyệt vị ? Kỳ thực nói thẳng ra, tại một góc độ nào đó mà nhận thức, địa cũng là thiên, cũng là nhân. Thiên cũng là địa, cũng là nhân. Nhân cũng đồng thời là địa, cũng là thiên. Ví dụ trong Trung Y, cơ thể người đồng thời có tồn tại ba bộ phận Thiên, Địa, Nhân. Bộ phận phía dưới con người là địa, bộ phận ở giữa chính là nhân, còn bộ phận bên trên là thiên. Nếu như những luận thuật ở trên là đúng, vậy phải chăng chúng ta có thể nói rằng – Phong thủy, là một hoạt động ảo bí để tìm kiếm “địa”. Bất luận gọi là Kham Dư cũng vậy, gọi là Địa Lý, gọi là Hình Pháp hay gọi là Phong Thủy cũng vậy. Mặc dù cách gọi không giống nhau, nhưng đều không cách ly với nguồn gốc, đều là quá trình chiểu theo vị trí sắp xếp của trời đất mà tìm kiếm “địa”. Từ đây mà phát triển lý luận thêm, con người đã biến nó trở thành Phong Thủy học, và quá trình sử dụng các phương pháp cụ thể trong đó được gọi là thuật Phong Thủy. Từ ẩn nghĩa mà xét, quá trình này là hợp nhất với quá trình tu luyện phản bổn quy chân của sinh mệnh. Vì thế đây là một quá trình tu luyện đề cao của sinh mệnh. Trong quá trình tu luyện ấy có thể tu xuất ra được những điều thuộc về thể hệ “địa” cùng các thuật loại có liên quan đến hoạt động phong thủy hay các năng lực đặc biệt được người ta gọi là thuật Phong Thủy. (Còn nữa) Theo Vietdaikynguyen
  11. Nguyên Nhân Của Khổ Muốn thoát ly bể khổ thì chỉ có phương pháp duy nhất là tu luyện(Ảnh: EET / The Epoch Times) Một ngày, A Na Luật cùng 4 vị đồng tu mới gia nhập ngồi thảo luận với nhau: Cái gì là khổ nhất? Một vị nói: “Con người khổ nhất là lòng tham dục, khi lòng tham dục không được thỏa mãn, thật sự là khổ. Không ngôn ngữ nào diễn tả được”. Một vị nói: “Trong nhân sinh, khổ nhất là không được ăn no, dạ dày cứ kêu réo mãi, thật là khổ khó có gì sánh được”. Một vị nói: “Con người khổ nhất là khi tức giận, oán thù, nộ khí bốc lên, lửa từ mắt phóng ra, khi đó cái tâm thật là quá khổ”. Một vị lại nói: “Con người khổ nhất là sự nhát gan, trước sợ lang sói, sau sợ hùm beo, không có một giây phút nào cảm thấy bình an”. Đúng lúc Phật đi qua nghe thấy bọn họ đàm luận bèn đưa ra lời giáo huấn: “Các con đều chưa nói được cái gốc của khổ, tất cả những điều các con nói đều xuất phát từ những thói quen từ tiền kiếp dưỡng thành, nó khiến cho các con đưa ra những thiên kiến đó. Trong số các con, có người từng là chim bồ câu chuyển thế, vì vậy nên cho rằng dục niệm là khổ; có người kiếp trước là con chim ưng bị đói chuyển thế nên cho rằng đói là khổ, có người là rắn độc chuyển sinh nên nghĩ sân hận là khổ, có người kiếp trước là thỏ nên luôn cảm thấy sợ hãi là khổ. Tất cả những điều khổ nhất trên thế gian này, đều xuất phát từ thân thể”. Bị làm người chính là phải chịu khổ. Vì thế nếu muốn thoát ly bể khổ thì chỉ có phương pháp duy nhất là tu luyện. (Theo “Pháp Cú Kinh”)
  12. Ý Nghĩa Thực Sự Của Khỏe Mạnh? 5 Điểm Khác Nhau Giữa Trung Y Và Tây Y Y học Trung Hoa ngày càng được ưa chuộng và được coi như một phương pháp điều trị thay thế. Và mặc dù y học hiện đại từ Tây phương không thể giải thích thỏa đáng cách thức nó hoạt động, thì những kỹ thuật điều trị của Trung y ví dụ như châm cứu lại được công nhận là liệu pháp hiệu quả để chữa trị một số bệnh. Nhưng không chỉ là một nhánh y học thay thế, mà Trung y còn chính là một hệ thống đầy đủ và rộng lớn với bề dày ước chừng khoảng 5000 đến 7000 năm lịch sử. Dưới đây là 5 điểm khác biệt căn bản giữa y học Trung Hoa và y học Tây phương. 1. Nhân Thể: Chỉ Là “Cơ Thể” Hay Còn Hơn Thế Nữa? Trung y: Triết lý của Trung y có thể được hiểu từ góc độ Đạo gia. Các bác sĩ Trung Quốc xem cơ thể người là một vũ trụ được liên kết một cách phức tạp, và dù đó là tầng lạp tử ở vi quan, thì đều bao gồm năm yếu tố – Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ – và được chi phối bởi Âm và Dương. Tây y: Y học Tây phương hiện đại nghiên cứu cơ thể người như những bộ phận riêng biệt, và có thể được kiểm tra một cách độc lập với toàn bản thể. Cách tiếp cận này bắt nguồn từ hiểu biết về các vi sinh vật từ thế kỷ 19, và từ “thuyết vi trùng” (“germ theory”) được xây dựng bởi Louis Pasteur (1822–1895) và nhà vi khuẩn học người Đức Robert Koch (1843-1910). 2. Cuộc Chiến Với Vi Sinh Vật và Hoạt Động Cân Bằng Trung y: Trung y đặt nền tảng vào việc phải đảm bảo cân bằng giữa Âm và Dương trong cơ thể, và đảm báo phải điều hòa “khí” – vốn là năng lượng thiết yếu của con người. Bệnh tật sẽ xuất hiện khi bị mất cân bằng âm dương, hoặc nếu như các kinh lạc bị tắc nghẽn ở vị trí nào đó, nó sẽ cản trở dòng chảy của khí. Tây y: Tây y, trái lại, lại coi yếu tố vi khuẩn là quan trọng nhất. Phát hiện vi khuẩn, cô lập vi khuẩn, và ngăn chặn chúng lây lan là chìa khóa để chiến thắng mọi bệnh tật. 3. Dược Phẩm Tự Nhiên và Dược Phẩm Tổng Hợp Trung y: Theo thần thoại Trung Quốc, Thần Nông đã tìm ra 365 loài thảo dược có khả năng trị bệnh từ 5000 năm trước đây, và từ đó, các dược sĩ Trung Hoa đã bổ sung cho danh sách các loài thảo dược trị bệnh. Họ cũng sử dụng cả các khoáng chất, côn trùng, động vật biển, và bộ phận cơ thể từ các động vật lớn. Những thành phần này được trộn tạo thành nước uống hoặc viên, và nhằm mục đích khôi phục trạng thái cân bằng âm dương trong cơ thể. Tây y: Tây dược cũng xuất phát từ nhiều loại cây cỏ khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết các loại thuốc ngày nay không được sử dụng trong trạng thái tự nhiên. Thay vào đó, chúng được tổng hợp từ các chất hóa học trong quá trình pha chế. Chúng cũng được thiết kế chủ yếu để nhắm vào các triệu chứng nhất định hoặc bộ phận nào đó trên cơ thể. Và một điều khá phổ biến là vẫn cần một loại thuốc để chống lại các hiệu ứng phụ của loại thuốc khác, và lại một loại thuốc nữa để ngăn ngừa phản ứng phụ của loại khác, và cứ như vậy. 4. Hai Lối Tư Duy Khác Biệt Về Một Sức Khỏe Tốt Trung y: Ngoài thảo dược, Trung y còn có nhiều phương pháp điều trị khác, như: châm cứu, ngải cứu (đây là cách điều trị bằng cách đốt một loại cây hương liệu tên là ngải cứu), thôi nã ( tuina: một phương pháp mát xa để điều trị các chứng cơ xương khớp), và khí công (là các bài tập điều hòa khí, thường có bao gồm bài thiền định). Dùng đến kim châm cứu, kỹ thuật giác hơi, và những bài luyện tập nhẹ nhàng – là những cách điều trị khác nhau – nhưng đều cùng chung một mục đích chính: khôi phục cân bằng âm-dương và điều hòa khí để điều trị và ngăn ngừa bệnh tật. Tây y: Ngoài thuốc men và phẫu thuật, Tây y không có biện pháp điều trị nào khác. Để đảm bảo cơ thể luôn cân đối và không bệnh tật, Tây y khuyến khích tập thể dục, ăn uống lành mạnh, và uống các vitamin thiết yếu thường xuyên. Các biện pháp này có thể chữa trị các triệu chứng, nhưng lại thiếu đi các nguyên lý bên trong để đảm bảo sức khỏe toàn diện của cơ thể. 5. Những Siêu Nhân Cổ Đại so với Những Siêu Máy Móc ? Tây y: Để quan sát bên trong cơ thể mà không cần mở ra xem, các bác sĩ Tây y cần phải sử dụng máy X-quang cồng kềnh và các máy chụp MRI. Trung y: Những bậc lương y và danh y Trung Quốc có cách chẩn đoán bệnh đặc biệt hơn. Giống như những ‘siêu nhân’ được mô tả trong truyện tranh, rất nhiều danh y lừng lẫy Trung Hoa xưa kia đều có công năng nhìn thấu giống như tia X-quang. Họ có thể nhìn thấy bệnh nhân có khối u não hoặc các triệu chứng bệnh nghiêm trọng khi chưa hề có biểu hiện bên ngoài. Họ cũng có thể kiểm tra xem một người nào đó [được coi là đã chết] đã thực sự chết hay chưa. Theo Đại Kỷ Nguyên
  13. Bằng Chứng Mới Về Một Đại Dương Đã Từng Tồn Tại Trên Sao Hoả Bề mặt Sao Hỏa. (NASA) Một giả thiết mới về nguồn gốc của các bãi đá cuội trải khắp bề mặt phía bắc Sao Hỏa có thể sẽ được thêm vào chuỗi những dữ kiện về một đại dương đã một lần bao phủ bề mặt rộng lớn của hành tinh này. Trong tháng này, Lorena Moscardelli, một nhà địa chất học ở Đại Học Texas, đã xuất bản một nghiên cứu trên tạp chí của Hội Địa Chất Quốc Gia Mỹ, GSA Today, trong đó bà đưa ra giả thuyết rằng lớp đá cuội này có thể được tích lũy dần dần qua các vụ sạt lở đất trên đáy đại dương. Hiện tượng này đã từng được nghiên cứu với lớp địa chất trên bề mặt Trái Đất. Chẳng hạn, các khối đá sa thạch lớn được biết đến với cái tên Jackfork Group hiện vẫn còn sót lại ở một nơi đã từng là một lưu vực biển ở phía Nam trung tâm bang Arkansas. Moscardelli phủ nhận lý thuyết cho rằng đá cuội trên Sao Hỏa là phần còn sót lại của thiên thạch. Bà lưu ý rằng không hề có vết tích của các hố thiên thạch ở một số khu vực. “Trong khi giả thuyết về hố thiên thạch có thể giải thích rõ ràng sự xuất hiện của một vài lớp đá cuội ở vùng bình nguyên phía Bắc của Sao Hỏa, đặc biệt là trong phạm vi xung quanh các hố thiên thạch, nhưng nó lại không cung cấp được một cơ chế đầy đủ để giải thích được sự phân bổ rộng rãi và dàn trải của những lớp đá cuội ở những vùng đất này,” bà viết. Lý thuyết của bà về những thảm đá cuội này cần phải được nhìn nhận trong một hoàn cảnh mà đã có rất nhiều bằng chứng chỉ ra sự tồn tại của một đại dương trên Sao Hỏa, chứ không chỉ như một bằng chứng độc lập duy nhất, bà nói. Vào tháng Bảy năm 2013, các nhà nghiên cứu tại Viện Công Nghệ Caltech đã tìm thấy những bằng chứng mà theo họ là thuyết phục nhất từ trước tới nay để chứng minh sự tồn tại của một đại dương trên Sao Hỏa. Qua việc dò xét lưu vực một con sông ở phía bắc bằng công nghệ vẽ bản đồ địa hình chi tiết, họ tìm thấy một con sông rất có khả năng chảy vào một vùng châu thổ. Một vùng châu thổ hình thành khi dòng nước chảy vào một vùng nước đứng, như là đại dương hay hồ. Mặc dù các bằng chứng của vùng châu thổ đã được phát hiện trong quá khứ, nhưng chúng lại chảy vào các hố thiên thạch hoặc các ranh giới địa chất khác. Dòng nước sẽ bơm đầy cái hố thiên thạch, tạo ra một cái hồ, chứ không phải một đại dương rộng lớn. “Đây có lẽ là một trong những bằng chứng thuyết phục nhất về sự tồn tại của một vùng châu thổ trong một khu lãnh thổ không giới hạn – và các vùng châu thổ này chỉ ra sự tồn tại của một khu vực chứa nước rộng lớn ở bắc bán cầu cầu của Sao Hỏa,” Roman DiBiase, một nghiên cứu sinh sau tiến sỹ tại học viện Caltech và là trưởng ban nghiên cứu nói, theo một bài báo của học viện này. Moscardelli trích dẫn các nghiên cứu trước đây mà gợi ý rằng các khối trầm tích xung quanh vành đai núi lửa Olympus Mons của Sao Hỏa cũng là các bằng chứng của các vụ sạt lở nước ngầm; chúng được biết đến với cái tên khối trầm tích chuyển vận (MTDs). Những khối trầm tích này được diễn tả giống với các khối ở Quần Đảo Ha-Wai. “Cách hiểu này ám chỉ rằng tổng thể tích lượng nước ở khu vực bình nguyên phía Bắc của Sao Hỏa vào khoảng [350 triệu kilômét khối nước],” Bà viết. Theo Viện Khí Tượng và Thủy Văn Quốc Gia Mỹ, nếu so sánh một cách tương quan, Đại Tây Dương có dung tích khoảng 310 triệu kilômét khối nước.
  14. Nhà Phong Thủy nổi tiếng Hàn Quốc sau khi xem Thần Vận phát biểu: Sáng Thế Chủ sẽ hạ thế để cải biến thế giới ( phóng viên báo Đại Kỷ Nguyên – Lý Chân báo cáo tại Gwacheon Hàn Quốc) “Trường khí tại buổi diễn xuất Thần Vận cực lớn, có sự bao hàm dung hợp năng lượng của toàn thế giới” “Có cảm giác Sáng Thế Chủ của vũ trụ sẽ hạ thế để cải biến thế giới này”. Thầy phong thủy Park Min Chan là người đã đưa ra nhiều dự đoán chính xác cho mấy kỳ tổng thống của Hàn Quốc, tối ngày 13 tháng 2 tại thành phố Gwacheon, sau khi xem xong buổi biểu diễn Thần Vận ông đã cảm thấy vô cùng cảm khái Trường khí của Thần Vận rất lớn Đây là lần thứ 2 trong năm, Park Min Chan đến xem biểu diễn Thần Vận, ông nói: từ góc độ phong thủy mệnh lý mà nói, trường khí thoát ra từ Thần Vận cực kỳ tốt lành. “Thần Vận cho tôi cảm giác mọi thứ như hòa hợp làm một” . Hy vọng sẽ có nhiều người trên toàn thế giới biết đến diễn xuất của Thần Vận. Trong phong thủy người ta lợi dụng “Trường Khí” để nghiên cứu, người ta phân biệt khí ra thành khí dương và khí âm, buổi diễn xuất này đã phát ra trường khí tốt lành phi thường, tôi cảm giác trường khí này đang dung hòa cả Thế Giới. Nói đến đây ông không thể không sử dụng tay để miêu tả về sự to lớn của trường năng lượng trong buổi diễn xuất “Ngay từ khi buổi biểu diễn bắt đầu tôi đã cảm thấy sự tích tụ của trường khí, cuối cùng tôi đã tiếp thu được tín tức của Sáng Thế Chủ, rằng ngài sẽ hạ thế để cải biến Thế Giới, wow, thật là quá tuyệt diệu ! ” Rất nhiều khán giả xem Thần Vận có cảm giác mình được cứu độ, Park Min Chan cũng có cảm giác ấy. Ông nói: “Tôi có một cảm giác hoàn toàn mới lạ, cảm giác rằng Sáng Thế Chủ của vũ trụ sẽ đến cải biến Thế Giới này”. Đặc biệt là màn trình diễn cuối cùng của Thần Vận – “Phật Ân Hão Đãng”, trên màn ảnh sân khấu hiện ra dòng chữ “khai mở tương lai”, ông khẳng định một cách chắc chắn rằng: “Đúng thế, chính là Sáng Thế Chủ”, ngài sẽ xuất hiện để cải biến Thế Giới này. Sáng Thế Chủ nhất định sẽ xuất hiện Ông nói: “Trong kinh Phật giáo có viết rằng khi mà Hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, cũng là lúc mà Sáng Thế Chủ xuất hiện”. Park Min Chan cho biết những thông điệp được truyền tải trong buổi biểu diễn Thần Vận là quan trọng phi thường: “Đã đến thời đại phải xảy ra biến hóa, Thế giới cần phải cải biến, cần phải có sự xuất hiện của những nhân tố mới đến để thay đổi nhân loại và thế giới. Hiện tại đã chính là thời điểm đó rồi, chính là cần một thời cơ để phát sinh biến hóa” Ông nói: “Thời đại mà nhân loại trên toàn thế giới thông qua tự nhiên có thể sống hạnh phúc, vui vẻ và hòa bình sắp tới rồi, tôi nghĩ hiện tại chính là thời điểm bắt đầu của thời kỳ đó” Park Min Chan hi vọng có nhiều người hơn nữa có thể được xem diễn xuất Thần Vận: “Buổi biểu diễn Thần Vận có sự tập trung của trường khí trên cả Thế giới. Nếu thường xuyên được xem những buổi biểu diễn như thế này, có thể làm cho đầu óc thông minh, tăng cường khả năng tập trung, ngoài ra còn có tác dụng giúp biến đổi tâm linh thành tốt, v.v….” Ông một lần nữa lại khẳng định: “Thế giới cần phải được cải biến, cần thường xuyên xem các buổi biểu diễn Thần Vận, để có thể cải biến tư tưởng, cải biến nhận thức, đồng thời khai mở một cánh cửa mới về thế giới và tâm linh” Park Min Chan năm 1986 được chỉ định là hậu duệ đời thứ 34 của pháp sư Doseon. Năm 2009 ông được ghi vào danh sách một trong 33 danh nhân thời đại của Hàn Quốc, từ năm 2012 đến nay ông đã nhậm chức viện trưởng của Viện Nghiên cứu Khoa học về Địa lý Phong thủy và Hệ vật Thần Nhãn. Ông đã sử dụng các phương pháp khoa học để chứng minh sự tồn tại của phong thủy địa lý, ông cũng đã đưa ra nhiều dự đoán chính xác cho mấy đời tổng thống của Hàn Quốc, việc cựu tổng thống Roh Moo Hyun tự sát cũng đã được ông dự đoán được trước đó 2 tuần. [Theo Epoch Times ngày 14 tháng 2 năm 2014]
      • 1
      • Like
  15. Xôn xao về vật thể lạ nghi đĩa bay xuất hiện ở Thanh Hóa Một người dân ở xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa vô tình chụp được bức hình trong đó có vật thể lạ nghi đĩa bay. Câu chuyện trên khiến nhiều người dân bàn tán xôn xao. Tác giả của bức ảnh trên là em Lê Khắc Đạt (19 tuổi, trú tại thôn 3, xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hóa. Theo tác giả bức ảnh cho biết, nó được chụp vào khoảng 17 giờ, ngày 9/12/2012. Bức ảnh do em Đạt chụp lại có hình vật thể lạ trông giống đĩa bay Trong lúc đang chụp, em Đạt không hề phát hiện thấy gì. Tuy nhiên sau đó khi xem lại những bức ảnh mà mình vừa chụp xong thì Đạt rất bất ngờ phát hiện trong đó có hình một vật thể lạ trông giống chiếc đĩa bay. Đạt kể lại: “Hôm đó, em ở nhà trông hàng cho mẹ, khi không có khách mua hàng nên em ra ngoài bờ ao trước nhà đứng chơi rồi lấy máy điện thoại chụp cảnh vật xung quanh nhà. Khi xem lại những bức ảnh mới chụp được em vô cùng bất ngờ nhìn thấy một hình ảnh xuất hiện trong bức ảnh đã chụp giống như một chiếc đĩa bay. Em zoom lại gần nhìn cho rõ và so sánh thì hình lạ này giống như hình một chiếc đĩa bay mà em đã từng nhìn thấy trên mạng. Em cho nhiều xem thì mọi người cũng khẳng định là giống hình chiếc đĩa bay”. Em Lê Khắc Đạt – tác giả bức hình Ông Lê Khắc Thành (bố em Đạt) cho biết: Lúc đầu tôi cũng không tin chuyện xuất hiện hình giống chiếc đĩa bay là có thật, nhưng khi xem lại thì đúng là hình giống một chiếc đĩa bay mà tôi đã được xem trên tivi”. Điện thoại em Đạt đã chụp được bức hình trên Nhiều người dân xung quanh khi nghe chuyện em Đạt chụp được bức hình có vật thể lạ đã đến nhà em Đạt để xem thực hư. Một số người còn nghi ngờ bức hình được chỉnh sửa hình ảnh. Nhưng khi xem bản gốc đã lưu trong máy điện thoại thì ai cũng khẳng định hình ảnh là thật rất giống hình một chiếc đĩa bay. (theo soha)
  16. Lời tiên tri của bà Vanga và 18 năm tìm con ở đất Nga Khi bị lạc mất cô con gái yêu, trong lúc tuyệt vọng nhất, nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng đã được bà vanga dự đoán anh sẽ gặp lại con…. Bà Vanga – nhà tiên tri nổi tiếng thế giới còn cho biết, cô con gái xinh đẹp, giỏi giang của anh vẫn còn sống. Nơi hai cha con gặp nhau sẽ là ở nước Nga. Câu nói của nhà tiên tri mù từng dự báo được Đại chiến Thế giới 2 và sự kiện 11/9 ở Mỹ, cùng với niềm hy vọng không bao giờ tắt của một người cha, đã giữ anh lại nước Nga suốt 18 năm qua… Ngày định mệnh ở Sochi Cuộc trò chuyện thường xuyên bị ngắt quãng bởi những tiếng ồn ào xe cộ qua lại, bởi tiếng chuông điện thoại réo liên tục, nhưng sự ồn ào của phố thị, tôi vẫn cảm thấy lặng đi khi nghe câu chuyện của anh, câu chuyện của một người cha 18 năm qua vẫn miệt mài đi tìm đứa con gái mất tích, người cha đã bạc trắng mái đầu vì mất con… Quê Nguyễn Huy Hoàng ở Hà Tĩnh. Bao năm sống ở xứ người, anh vẫn giữ cái giọng Hà Tĩnh đặc sệt. Gia đình anh có truyền thống văn chương, khoa cử. Nguyễn Huy Hoàng học chuyên Văn từ nhỏ và mê đọc sách như một điều đương nhiên, máu thịt với những người con của dòng họ Nguyễn Huy.Thế hệ anh thuở đó, không ai là không yêu văn học Nga. Những tác phẩm văn học Nga là những cuốn sách gối đầu giường của anh. Cũng vì tình yêu đó, anh trở thành giảng viên văn học Nga tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thuở mới bước vào đời, Nguyễn Huy Hoàng chọn cho mình con đường của một nhà giáo, nhà nghiên cứu, suốt đời tận tụy cống hiến cho sự nghiệp trồng người ở quê nhà. Nhưng có lẽ số phận của anh là ở nước Nga, hạnh phúc của anh, nỗi đau của danh, chính là nước Nga. Cuối năm 1980, Nguyễn Huy Hoàng sang Liên Xô làm luận văn phó tiến sĩ. Vợ anh – giảng viên khoa tiếng Nga của trường đại học ngoại ngữ cũng sang đó sau một năm. Anh quyết định đưa con gái đầu lòng sang Nga học tập, để cả gia đình được đoàn tụ. Nhưng cũng chính ở nước Nga, gia đình anh đã phải trải qua một cuộc chia ly không hề được báo trước. Nguyễn Huy Hoàng thường nhắc về con gái với tất cả tình yêu thương trìu mến và sự tự hào, hãnh diện của một người cha. Khi ngồi nói chuyện bên quán trà đá ven đường buổi chiều trước khi anh đi, những lúc nghe anh kể về con gái, tôi nhìn thấy hình như trong đáy mắt anh có nước. Quỳnh Nga sang Nga lúc đã 9 tuổi, cô bé được cho học tại trường Phổ thông 222 – một trường khá nổi tiếngở Matxcơva khi ấy trong tình trạng một chữ tiếng Nga cũng không biết. Nhờ sự giúp đỡ của bố mẹ và các cô chú người Việt, chỉ sau 3 năm, Quỳnh Nga đã trở thành học sinh xuất sắc của trường – điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử trường 222.Hôm Quỳnh Nga được trao thưởng về thành tích học tập cuối kỳ, cô Hiệu trưởng Phổ thông 222 đã nói: “Các em học sinh người Nga, các em hãy nhìn Quỳnh Nga và hãy xấu hổ vì mình đã thua cô bé người Việt Nam nhỏ bé nhưng kiên cường này”. Quỳnh Nga là niềm tự hào của vợ chồng Nguyễn Huy Hoàng. Cô bé xinh xắn, hoạt bát, gặp ai cũng cởi mở, cũng trò chuyện vui vẻ, nên đi đâu cũng được quý mến. Năm đó, Nguyễn Huy Hoàng có hứa với con gái: “Nếu kỳ này con được kết quả học tập xuất sắc, bố sẽ cho con đi du lịch”.Và anh đã thực hiện lời hứa đó với con gái. Nhưng thời điểm đó, vợ chồng anh đang gấp rút chuẩn bị tài liệu để bảo vệ luận án tiến sĩ. Khi nghe vợ chồng người bạn dự định đi du lịch Sochi (một thành phố du lịch nổi tiếng ở Nga), anh đã gửi con gái đi cùng. Chẳng ngờ rằng, chuyến đi đó là chuyến đi định mệnh… Ở Matxcơva, giữa lúc đang quay cuồng vì luận án phó tiến sĩ, Nguyễn Huy Hoàng nhận được điện thoại từ Sochi của vợ chồng người bạn báo tin con gái anh đã mất tích. Chiều hôm đó, khi vợ chồng người bạn xuống tắm biển, Quỳnh Nga đã ngồi trên bờ nói chuyện với một người phụ nữ Nga. Lúc lên bờ, họ không thấy cô bé đâu nữa… Ngay khi nhận được cuộc điện thoại ấy, Nguyễn Huy Hoàng vượt 2000 cây số xuống Sochi tìm Quỳnh Nga. Nguyễn Huy Hoàng kể, cả tuần trời sau khi con gái mất tích, anh không buồn ăn, không buồn ngủ, không buồn soi gương. Đến khi tình cờ nhìn thấy mình trong một tấm kính ở cửa hiệu bên đường, anh đã thấy tóc mình bạc trắng sau 10 ngày mất con. Suốt 6 tháng trời sau đó, vợ chồng anh thuê một căn phòng ở Sochi và lang thang kiếm con. Anh làm tất cả những gì có thể trong nỗi tuyệt vọng khôn cùng: dán tờ rơi, đăng ảnh con gái và đi hỏi từng người, từng người một. Nhưng mọi cố gắng của anh đều đi vào ngõ cụt. Vợ chồng anh quay lại Moscow khi vợ anh đã hoàn toàn suy kiệt vì đau đớn, chị chỉ còn nặng 38kg. Lời sấm của nhà tiên tri và tình phụ tử vĩnh cửu Những ngày mất con có lẽ là vùng ký ức đáng quên nhất trong cuộc đời Nguyễn Huy Hoàng, trừ một điều tốt đẹp: trong nỗi đau ấy, anh cảm nhận được tình cảm của những người bạn, người thầy và cả những người không quen biết dành cho anh. Hôm ngồi trên máy bay quay trở lại Moscow, anh ngồi lặng lẽ, u buồn, không ăn không uống. Cô tiếp viên hàng không biết được câu chuyện của anh, đã đưa cho anh một tờ báo có đăng mục rao vặt và bảo anh hãy đăng tin tìm con gái trên đó, biết đâu điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Anh đã làm như thế. Một ngài Đại tá quân đội Nga đọc được câu chuyện của anh trên báo, đã đến tận nhà tìm anh. Ở Nga ngày đó, gặp được Đại úy quân đội đã khó, gặp được Đại tá là gần như là điều không tưởng. Nhưng vị Đại tá không quen không biết đó đã đích thân đến nhà anh và sau này, mỗi tháng, ông đều quay trở lại nhà anh một lần.Ông động viên vợ chồng anh và bằng sự ảnh hưởng của mình, ông đề nghị các đài truyền hình, các tờ báo đăng tải câu chuyện của anh miễn phí, với hy vọng một ngày nào đó, có thể có người tình cờ gặp con gái anh. Còn bạn bè anh, họ đã sẵn sàng góp từng đồng tiền để chẳng may nếu con gái anh gặp phải bọn bắt cóc tống tiền, anh sẽ có tiền chuộc con. Những người bạn Nga đã giúp đỡ Nguyễn Huy Hoàng trong những ngày tháng khó khăn đó, là những người giúp nỗi đau đớn và tuyệt vọng trong anh dịu đi phần nào. Có vị tiến sĩ dạy học ở trường Đại học Lomonosov vì thương anh, đã giới thiệu anh đến gặp nhà tiên tri Vanga, người nổi tiếng thế giới với những lời tiên tri đoán trước số phận. Thường thì chỉ có những nguyên thủ quốc gia mới có cơ hội gặp nhà tiên tri Vanga. Nhưng khi nghe kể về câu chuyện của Nguyễn Huy Hoàng, bà Vanga đã cho vợ chồng anh một cuộc hẹn. Ngày đó, việc đi lại của người Việt Nam từ nước Nga sang các nước khác vô cùng khó khăn. Phải vất vả lắm, vợ chồng anh mới xin được visa sang Bungary. Nhưng đúng đến ngày lên máy bay, ở cửa sân bay, visa của vợ chồng anh lại trục trặc. Không thể sang tận nơi bà Vanga, bà đã gợi ý vợ chồng anh gửi cho bà những món đồ cũ của con gái anh để lại: một cái áo, một viên sỏi, một cây bút… Theo gợi ý của một người bạn tiến sĩ, Nguyễn Huy Hoàng còn gửi tặng bà Vanga một chiếc khăn choàng và một con búp bê làm quà.Một thời gian sau đó, anh nhận được thư trả lời của bà Vanga. Bà nói: “Ta không thể nói cho anh biết anh sẽ tìm được con gái của anh như thế nào nhưng con bé vẫn còn sống. Và vợ chồng anh sẽ gặp lại con bé ở nước Nga”. Câu nói của nhà tiên tri mù và tình yêu của người cha, niềm hy vọng của một người cha đã làm đảo lộn mọi kế hoạch của vợ chồng Nguyễn Huy Hoàng.Trước đó anh dự định sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ sẽ trở về Việt Nam giảng dạy. Nhưng dự định của anh đã thay đổi hoàn toàn. Anh chấp nhận từ bỏ sự nghiệp hứa hẹn ở Việt Nam, chấp nhận một cuộc sống bấp bênh, không ổn định ở nước Nga trong thời điểm nước Nga vô cùng khó khăn. Anh bắt đầu viết báo, làm cộng tác viên khoa học cho trường Lomonosov và đủ thứ nghề khác để kiếm sống. Vợ anh cũng làm công việc phiên dịch cho các tổ chức từ thiện. Nguyễn Huy Hoàng bắt đầu làm thơ từ khi con gái anh mất tích. Anh nói, khi cần giãi bày nỗi lòng, khi cần sự chia sẻ, khi nhớ con, anh làm thơ. Quỳnh Nga mất tích đã 18 năm. 18 năm đó, mỗi khi ăn cơm, đọc sách, khi nhìn thấy một bộ quần áo con gái, khi thấy một nụ cười của một thiếu nữ Nga, anh đều nhớ đến con gái mình.18 năm qua, anh đã đặt chân lên khắp đất nước Nga để tìm con gái, vẫn luôn hy vọng rằng một ngày nào đó, khi anh đang bước đi trên đường, con gái anh sẽ xuất hiện trước mặt anh và anh sẽ nhận ra cô bé. Nguyễn Huy Hoàng luôn nói, điều quý giá nhất mà anh đã học được trong đời là luôn biết tin vào tương lai. Anh tin cuộc đời mình do số phận sắp đặt, việc anh thất lạc con gái cũng là số phận, nhưng anh cũng tin lời của nhà tiên tri Vanga cũng chính là số phận của mình: rồi một ngày nào đó giữa nước Nga mênh mông này, anh sẽ gặp lại cô con gái yêu…
  17. Đám mây xoắn khổng lồ trong vũ trụ Một nhóm chuyên gia thiên văn tại Nhật Bản phát hiện đám mây phân tử khổng lồ có hình dạng giống chiếc đuôi xoắn ở trung tâm dải Ngân Hà. Đám mây xoắn có hình dạng khổng lồ ở giữa dải Ngân Hà. Ảnh: Đại học Keio. Shinji Matsumura – một nghiên cứu sinh tiến sĩ của khoa Vật lý thuộc Đại học Keio tại Nhật Bản – cùng các đồng nghiệp phát hiện hai đám mây khổng lồ ở trung tâm của dải Ngân Hà nhờ kính thiên văn radio của Đài Thiên văn Quốc gia Nhật Bản. Chúng cách hệ Mặt Trời khoảng 30.000 năm ánh sáng và xoay theo hai quỹ đạo khá gần nhau. Một trong hai đám mây có dạng xoắn giống đuôi lợn. Quỹ đạo của nó và đám mây kia giao nhau ở phần cuối của “đuôi”, Science Daily đưa tin. Trước đây giới thiên văn từng phát hiện hai đám mây xoắn khổng lồ ở trung tâm dải Ngân Hà, song đám mây mà nhóm nghiên cứu của Đại học Keio tìm ra có cấu trúc xoắn rõ rệt hơn hai đám mây kia. Nó là một manh mối quan trọng đối với nỗ lực nghiên cứu đặc tính và chuyển động của những đám mây khí trong vành đai vật chất của thiên hà cũng như cấu trúc của các trường điện từ. “Mật độ các chất khí trong đám mây lớn dần theo thời gian. Một ngày nào đó trong tương lai, chúng sẽ cô đặc thành một ngôi sao”, Matsumura nhận định. (theo vnexpress
  18. Một siêu Trái đất mới vừa được phát hiện trong khu vực có thể tồn tại sự sống quanh ngôi sao lùn đỏ Gliese 163. Sử dụng kính thiên văn HARPS tại Đài quan sát European Southern Observatory, một nhóm các nhà thiên văn học châu Âu đến từ Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ và Bỉ, đã phát hiện thấy một một hành tinh khổng lồ mới quay quanh ngôi sao lùn đỏ Gliese 163 – nằm trong chòm sao Dorado cách Trái đất 49 năm ánh sáng. Hành tinh mới phát hiện được đặt tên là Gliese 163c, có khối lượng lớn gấp 6,9 lần so với Trái đất và quỹ đạo 1 vòng quay quanh ngôi sao mẹ là 26 ngày. Trong khi đó, bán kính của Gliese 163c lớn hơn bán kính của Trái đất từ 1,8 đến 2,4 lần, tùy thuộc hành tinh này cấu tạo chủ yếu từ đá hay nước. Hành tinh Gliese 163c nhận trung bình 40% ánh sáng từ ngôi sao mẹ nhiều hơn so lượng ánh sáng Trái đất nhận từ Mặt trời. Điều này, khiến hành tinh mới nóng hơn nhiều so với Trái đất của chúng ta. Ảnh mô phỏng và ảnh quan sát qua kính thiên văn của siêu Trái đất Gliese 163c “Chúng tôi không biết các đặc tính của bầu khí quyển quanh hành tinh Gliese 163c, nhưng nếu giả định hành tinh này có bầu khí quyển tương tự Trái đất, nhiệt độ trên bề mặt của nó khoảng 60 độ C”, một thành viên nhóm nghiên cứu cho biết. Phần lớn sinh vật sống phức tạp trên Trái đất – như cây, động vật và thậm chí con người – không thể sống sót ở nhiệt độ trên 50 độ C. Tuy nhiên, nhiệt độ cao như thế này có thể chịu đựng được bởi rất nhiều tổ chức sống khác nhau. Trong công bố mới nhất của mình, nhóm các nhà thiên văn học cũng phát hiện một hành lớn hơn quay quanh ngôi sao lùn Gliese 163c và được đặt tên là Gliese 163b. Nhưng hành tinh này không được coi là siêu Trái đất vì nó nằm quá gần ngôi sao mẹ không đủ điều kiện thuận lợi để sự sống phát triển. Theo Khampha
  19. Sờ tượng là… mang bầu Có hơn 2.000 phụ nữ cho biết đã mang bầu sau khi sờ tượng. “Đừng Sờ Tượng Kẻo Mang Bầu!” – Đó là lời cảnh báo ở Viện bảo tàng có tên là Ripleýs Believe It or Not ở Myrtle Beach (miền Nam Cali, Mỹ). Tại đây có cuộc triển lãm cặp bức tượng gỗ rất hy hữu với bảng cảnh báo người xem chỉ được xem thôi chứ không được sờ vào tượng kẻo có bầu! (“Please Don’t Touch – Unless You Want a Baby!”). Thật lạ là đã có hơn 2.000 phụ nữ đều cho biết là đã mang bầu sau khi sờ tượng và các bậc cha mẹ hoặc cặp vợ chồng được vào sờ… miễn phí.Tưởng như đây là điều không thật được dựng lên để thu hút khách đến thăm quan bảo tàng. Nhưng nhiều minh chứng lại cho thấy đó là chuyện có thật và rất nghiêm túc dù chưa được giải thích ngọn nguồn. Nó nghiêm túc đến độ mà khách là đàn ông chỉ dám đứng từ xa nhìn mà không dám đến gần chứ không nói đến viêc sờ vào… vì sợ mang họa. Thật sự có hoàn toàn đúng như vậy hay không thì chưa ai biết chắc. Thế nhưng nhiều phụ nữ đã mang thai sau khi sờ tượng mà Viện bảo tàng Ripley’s Believe It or Not đã trưng bày trong một cuộc triển lãm những chuyện kỳ lạ trên thế giới. Một trong những điều hy hữu là những bức tượng gỗ từ Bờ biển Ngà, châu Phi cao 5 feet (1,52 mét) mà Ripley đã mua được vào năm 1993.Công ty Ripley nói rằng, kể từ khi những bức tượng được mang về trụ sở ở Orlando, Florida thì chỉ trong vòng vài tháng đã có 13 phụ nữ làm việc tại đây bỗng mang thai sau khi vô tình chạm tay vào tượng. Những người phụ nữ chỉ cần viếng thăm viện bảo tàng ở Myrtle Beach này, sờ mấy bức tượng “tạo bầu” là bỗng nhiên… có bầu.Nếu cặp đôi nào muốn có con dễ dàng hơn thì hãy dành thời gian tới bảo tàng Ripley’s Believe It Or Not ở Myrtle Beach, Nam California (Mỹ) và sờ vào các “bức tượng sinh sản”. Kể từ khi các bức tượng gỗ Phi châu này được trưng bày trên khắp thế giới thì đến nay đã có hơn 2.000 phụ nữ mang thai sau khi họ sờ tay vào chúng.Tượng chữa… vô sinh?Rachel Taylor – một phụ nữ sống tại khu New Jersey ở miền Trung nước Mỹ, đã kể lại câu chuyện thật của mình – một chuyện lạ khó tin mà tưởng như chỉ có ở những câu chuyện cổ tích. Trước đây, chị đã được các bác sĩ chẩn đoán không có khả năng mang thai. “Suốt 8 năm trời đi khám và điều trị khắp nơi, vợ chồng chị càng khao khát và thèm cảm giác được làm cha, làm mẹ thì dường như thấy điều đó xa vời vợi”, chị Rachel trầm tư kể.Cho đến 3 năm trước, Rachel Taylor tình cờ nghe một người bạn kể chuyện bức tượng “tạo con” linh nghiệm trong chuyện cầu mong con cái. Vốn không tin vào những câu chuyện huyễn hoặc, nhưng vì lòng mong muốn có được hạnh phúc làm mẹ, lại được sự ủng hộ của người chồng là anh Jornd, 2 anh chị đã tìm tới Viện bảo tàng trên.Trước cổng bảo tàng treo một tấm biển lớn “Believe It or Not” (Tin điều đó hoặc không tin). Trong tâm trạng hồi hộp, sau khi thăm quan toàn bộ bảo tàng, Rachel nhẹ nhàng tiến gần về phía cặp đôi bức tượng “tạo bầu” và sờ tay vào bức tượng cùng điều cầu ước có con. Chị không cảm thấy một điều gì khác lạ, nhưng hình ảnh bức tượng mẹ bồng con hằn sâu trong tâm tưởng của Rachel.Thật bất ngờ và bí ẩn, sau đó chừng hơn 2 tháng, Rachel bắt đầu có những triệu chứng lạ, dấu hiệu nghén của kỳ mang thai như: mệt mỏi, buồn nôn, rồi ngực căng, đi tiểu thường xuyên… Khi đi khám ở bệnh viện, kết quả cho thấy, Rachel đã có thai ở tuần thứ 11. “Tôi thực sự không dám nghĩ đến việc mình có thai. Nhưng khi bác sĩ chính thức xác nhận. Tôi đã ôm chồng khóc vì quá hạnh phúc”, chị Rachel kể lại.Trở thành “vật linh thiêng” xin cầu tựTheo giới khoa học, xét về mặt y – khoa thi thực tế, một số trường hợp hiếm muộn không có nguyên nhân rõ ràng, sau khi thay đổi điều kiện, môi trường sống, thì có thể có thai. Cũng có những người đã chấp nhận số phận để tìm con nuôi nhưng sau đó lại có con đẻ của chính mình. Điều này có thể giải thích rằng, khi một số yếu tố căng thẳng tâm lý được giải tỏa, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc rụng trứng và thụ thai. Ðiều đáng nói ở đây là các trường hợp nêu ra đều được các xét nghiệm y khoa cho thấy là khó hay không thể có thai.Bảo tàng Ripley’s Believe It or Not được biết đến là một bảo tàng chuyên sưu tập, trưng bày những đồ vật độc đáo chỉ có thể tìm thấy ở đây. Họ đã nhận được rất nhiều lời cảm ơn từ những cặp hiếm muộn “bỗng” có con sau khi sờ vào bức tượng “tạo bầu” ấy.Ripley thông báo những cặp vợ chồng nào muốn có con thì hãy đến sờ tượng miễn phí. Bảo tàng mở cửa vào thứ năm hàng tuần. Thật sự có hoàn toàn đúng như vậy hay không thì không ai khẳng định dù nhiều phụ nữ đã mang thai sau khi sờ tượng. Trường hợp “bỗng có con” của chị Rachel Taylor là một trong số đó.Theo ANTĐ
  20. Xôn xao UFO xuất hiện tại lễ khai mạc Olympic Vật thể bay không xác định đã lọt vào máy quay của đài truyền hình và khiến dư luận hoang mang. Mới đây, một vật thể lạ đã xuất hiện tại lễ khai mạc Olympic London 2012. Vật thể bay không xác định này bay trên bầu trời cùng thời điểm với màn bắn pháo hoa. Hiện tại vẫn chưa có lời giải thích chính xác về sự việc. Trong đoạn clip được quay bởi đài truyền hình NBC, vật thể lạ có một vòng ánh sáng bao quanh, di chuyển với tốc độ chậm. Một số người cho rằng đó là đĩa bay của người ngoài hành tinh, số khác lại khẳng định đó chỉ là một máy bay trực thăng hay khinh khí cầu. Hình ảnh từ clip được ghi lại bởi đài truyền hình NBC tại lễ khai mạc Olympic. Tháng trước, ôngNick Pope, một chuyên gia hàng đầu tại nước Anh về UFO đã từng dự đoán rằng, các sự kiện lớn trong mùa hè của thế giới sẽ là cơ hội để người ngoài hành tinh tiếp cận.Ông nói:“Với các sự kiện trong mùa hè, chúng tôi tin rằng, tất cả sẽ cảnh giác với chủ nghĩa khủng bố. Nhưng chúng ta cũng nên sẵn sàng trước một vài chuyến viếng thăm của người lạ đến từ hành tinh khác”.Hiện tại đang có rất nhiều tranh cãi về đoạn clip UFO xuất hiện ở lễ khai mạc Olympic. Rất có thể đây là một tín hiệu do người ngoài hành tinh nhắn gửi, nhưng cũng có thể chỉ là trò đùa trên mạng. Vật thể bay không xác định có hình dáng giống đĩa bay của người ngoài hành tinh.
  21. Băng Greenland bất ngờ tan chảy ồ ạt Gần như toàn bộ sông băng lớn của Greenland, đảo băng lớn nhất hành tinh, đột ngột tan chảy một phần trong tháng 7 khiến và các nhà khoa học bất ngờ. Hai bức ảnh do vệ tinh chụp cho thấy diện tích bề mặt băng tan chảy (được minh họa bằng màu đỏ) trên đảo Greenland tăng từ 40% hôm 8/7 lên 97% hôm 12/7. Ảnh: AP. Ba vệ tinh của NASA phát hiện hầu như toàn bộ sông băng trên đảo Greenland bắt đầu tan chảy hôm 8/7 và quá trình đó kéo dài 4 ngày, AP đưa tin. Mặc dù băng trên đảo Greenland vẫn tan vào mùa hè và lượng băng tan chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, song điều bất thường là hiện tượng băng tan diễn ra trên toàn bộ đảo. Ngay cả trạm Summit, nơi lạnh nhất và cao nhất trên đảo Greenland, cũng bắt đầu tan chảy. Các tài liệu cho thấy cứ khoảng 150 năm hiện tượng các sông băng tan chảy hàng loạt trên đảo Greenland xảy ra một lần. Năm 1889 là thời gian gần nhất mà con người chứng kiến hiện tượng này. “Băng tan chảy diện rộng trên đảo Greenland do một luồng khí ấm tràn qua đảo”, Tom Wagner, một chuyên gia về băng của NASA, nhận xét. NASA cho biết, tổng diện tích của những vùng băng tan chảy tăng từ 40% lên 97% trong vòng 4 ngày. Khu vực tan chảy chưa bao giờ vượt quá 55% diện tích Greenland trong ba thập niên qua. “Khi thấy băng tan ở những nơi mà không ai ngờ, chúng ta buộc phải đặt câu hỏi: Điều gì đang xảy ra?”, Waleed Abdalati, một nhà nghiên cứu cao cấp của NASA, nói. Wagner và một số nhà khoa học khác thừa nhận rằng họ chưa thể xác định hiện tượng tan chảy trên diện rộng ở đảo Greenland là hậu quả của tình trạng ấm lên toàn cầu hay chỉ là một sự kiện tự nhiên. Theo VNE
  22. Kinh hoàng trận mưa máu ở Ấn Độ Một cơn mưa bất thường đã trút xuống khu vực Kannur (Ấn Độ) gây ra sự tò mò lẫn sợ hãi cho người dân. Theo Weirdworldnews, không phải mưa đá, cũng chẳng phải mưa tuyết mà là mưa… máu. Hiện tượng kỳ lạ trên xảy ra vào buổi sáng cuối tuần trước và kéo dài trong vòng 15 phút. Người dân đã bàng hoàng khi sáng ra mở cửa nhìn thấy trước sân mình có nhiều vũng nước màu đỏ loang khắp nơi, thậm chí những giọt nước có màu đỏ như máu còn đọng lại trên lá cây và tí tách rơi xuống đất. Nước mưa có màu đỏ như máu làm cho người dân sợ hãi – Ảnh: Weirdworldnews Từ đó, có nhiều giả thuyết được đặt ra. Người cho rằng ai đó đã giết chết một số động vật và máu của chúng hòa theo nước mưa chảy xuống. Kẻ cho rằng các chất ô nhiễm trong không khí hòa tan trong nước mưa nên dẫn đến hiện tượng trên. Tuy nhiên, những giả định đó xem ra vẫn chưa thuyết phục được người dân. Cơ quan chức năng đã lấy mẫu nước mưa để phân tích tìm hiểu nguyên nhân. Theo cơ quan khí tượng thủy văn, mặc dù mưa có màu đỏ là hiện tượng hiếm nhưng chắc chắn không gây hại gì cả.
  23. Nhìn thấy phật đà! Nước Tỳ Xá Ly có 500 người mù, bởi vì họ không nhìn thấy được, không làm được bất kỳ công việc gì, chỉ có thể tự mình xin ăn để qua ngày, chịu tận sự kỳ thị của mọi người Lúc này, thái tử Thích Đạt Đa đã thành phật. Tin tức Phật Đà xuất hiện tại thế gian đã truyền đến bên tai của 500 vị người mù này, trong lòng họ đã không thể bình tĩnh lại được nữa, bởi vì phàm là người thấy được Phật đà, thì mọi sự đau bệnh thống khổ đều có thể quyết sạch hết cả, tất cả sự đau khổ đều có thể hóa giải, mọi sự âu lo, phiền muộn đều có thể giải thoát. Thế là, 500 người mù này cùng nhau thương lượng nói: "Chúng ta cần thiết phải gặp được Phật đà biết dường nào! chỉ cần gặp được phật đà, chúng ta sẽ có thể nhìn thấy được ánh sáng rồi!" Một người mù dẫn đầu nói: "Đúng, chúng ta nên đi gặp phật đà, chứ không phải chờ ở đây để phật đà đến gặp chúng ta, mọi người nói có phải không nào?" "Nhưng mà chúng ta phải đi như thế nào? chúng ta vốn dĩ không nhìn thấy đường đi!" Vài người mù nói một cách bất lực. Người mù dẫn đầu đó nói: "Nếu như mọi người thật sự muốn đi gặp phật đà, thì nhất thiết phải mời người dẫn đường. Thế này nhé! Mỗi người chúng ta nghĩ cách để xin đủ một đồng tiền vàng, dành đủ 500 đồng sẽ mời người dẫn chúng ta đi" Thế là mọi người chia nhau ra để đi xin tiền. Trải qua rất nhiều ngày, đã chịu không ít cực khổ, 500 người mù này mới dành đủ 500 đồng tiền vàng, mời được một người đến dẫn đường cho họ Người dẫn đường ở phía trước nhất, còn những người khác từng người từng người kéo áo của nhau, đứng xếp thành một hàng, quanh co ngoành nghèo, uy nghi vô cùng Họ xuất phát về phía nơi ở của phật đà, dọc đường trải qua mọi loại gian khổ,nhưng càng đi thì trong lòng càng tươi sáng,dưới đôi chân dường như cũng nhẹ nhõm. Tuy nhiên lúc sắp đi đến được nước Ma Kiệt, phải đi qua một mảnh đồi núi, người dẫn đường nọ nhìn thấy đường đi gian nan, bèn mượn cớ rồi chuồn mất. Những người mù cứ chờ chờ mãi, trước sau cũng không thấy người dẫn đường nọ quay lại. Số đông các người mù lo sợ nói: "tâm huyết của chúng ta đã mất trắng cả rồi, kẻ xấu xa đó lấy mất tiền của chúng ta đi rồi bỏ mặc chúng ta, giờ phải làm thế nào đây?" Ngay lúc mọi người hoang mang không biết xoay sở, tiến thoái không được, thì người mù dẫn đầu ấy nghe thấy phía trước có tiếng nước, thế là bèn kêu mọi người tay nắm tay nhau rồi mò về hướng đó. Đi mãi đi mãi, đột nhiên họ nghe thấy một trận chửi mắng giận dữ: "Bọn súc sinh các người, mù cả mắt rồi sao? đạp chết hết cây giống mới nảy mầm mà già đã trồng rồi ! "Ôi! thật sự xin lỗi, chúng tôi thật sự là không nhìn thấy được! nếu như nhìn thấy được cũng sẽ không phạm phải chủng sai lầm này. Người tốt bụng ơi! mong Ông đại phát từ bi, xin chỉ cho chúng tôi một con đường đến Xá vệ quốc với! tiền của chúng tôi đã bị lừa đi mất rồi, chỉ có đợi đến sau này mới lại đến để đền lại vườn ơm cho ông được, chúng tôi tuyệt đối không nuốt lời!" Điền chủ cảm thấy 500 người mù này cũng đích thực là đáng thương, than một tiếng dài nói: "được rồi, các người theo tôi nào! tôi kiếm người dẫn các người đến nước Xá Vệ là được rồi!" "Hôm nay đã gặp được người đại tốt rồi!" Các người mù vừa mừng vừa lo, vội cảm ơn không ngớt. Điền chủ phái người dẫn các người mù đến nước Xá Vệ, chờ đến được thành Xá Vệ rồi, các người mù vui mừng khôn siết, không ngờ chủ trì ở trong chùa nói: "các người đến trễ mất rồi, phật đà đã trở về nước Ma Kiệt rồi." Các người mù thất vọng vô cùng, bèn lại cực nhọc quay về nước Ma Kiệt. Chịu khổ chịu mệt dọc đường đi, rất khó khăn đến được nước Ma Kiệt, ai ngờ được phật đà đã lại trở về nước Xá Vệ. Các người mù mặc dù đã hết sức vất vả, nhưng họ vẫn kiên định tin rằng có thể gặp được phật đà, thế là lại quay đầu xuất phát về nước Xá Vệ. Họ đã hạ quyết tâm, không gặp được phật đà tuyệt không bỏ cuộc. Đáng tiếc là, lần này đến nước Xá Vệ cũng chưa gặp được phật đà "Phật đà đã đi nước Ma kiệt rồi" chủ trì của chùa nói một cách đồng tình, các người mù lại đành quay lại nước Ma Kiệt Khi những người mù này tổng cộng đã đi hết 7 lần đi đi về về rồi, phật đà thấy thiện căn của họ đã thành thục, bèn ở tịnh xá của nước Xá Vệ chờ đợi họ Ánh sáng từ bi lấp lánh của phật đà, chiếu rọi đến nỗi đôi mắt của những người mù phát sáng, cuối cùng họ đã thấy được phật đà mà đã trông mong bấy lâu "Phật đà cứu khổ cứu nạn ơi!" xin ban cho con ánh sáng, cho con một lần nhìn thấy vị phật đà sáng chói tựa bầu trời" 500 người mù theo nhau quỳ xuống, hành lễ một cách cung kính nhất, đỉnh lễ tạ ân Phật đà thấy họ thành kính như vậy, liền nói cùng họ: "các người thành kính như vậy, gian khổ suốt con đường dài, Ta đồng ý cho các người nhìn thấy lại ánh sáng" "Tạ ơn sự từ bi của phật đà!" 500 người mù ngay lúc đó đã nhìn thấy lại ánh sáng, toàn bộ họ đều quỳ xuống dưới đất nói một cách cảm ân: "Cảm tạ sự vô lượng của phật đức! Nguyện phật đà thụ giới cho chúng con, vạn đời vạn thế chúng con mãi mãi đi theo Người, cung dưỡng Người!" Phật nói: "Được rồi, các đệ tử của ta! " Thế là 500 người đã thành đệ tử của phật đà, tận tâm tu hành, sau cùng đều trở thành A la hán Tuy rằng thế giới của người mù đen tối không thấy được sự vật xung quanh, nhưng nội tâm của 500 người mù này lại vô cùng sáng chói, khát vọng đối với phật pháp giống như là Vàng vậy chiếu rọi bốn phương. Trong quá trình tìm kiếm phật đà, bất kể gặp phải khó khăn và sức ngăn cản lớn thế nào, đều không thay đổi được kiên định tin tưởng của họ đối với phật pháp Có người nói tôi không tin tu luyện, nhìn thấy rồi tôi mới tin, vậy bạn mãi mãi cũng nhìn không thấy, bởi vì tâm của bạn đã nhìn không thấy trước rồi, con mắt lại có tác dụng gì chứ? Có người không hiểu được những người tín ngưỡng phật pháp, cho rằng họ rất ngốc nghếch, không thấy được lợi ích của trước mắt, thật không sai, lúc này họ đích thực là giống như người mù, nhìn không thấy cảnh tượng đẹp đẽ của trước mắt Có người cho rằng tu luyện là rất thần bí, không phải người thường có thể làm được, kỳ thực tất cả những điều này không phải là rất khó hiểu, chỉ cần một trái tim trong sạch thì có thể được cả.
  24. Đây rất giống Pháp Luân chắc gần đấy có học viên Pháp Luân Công
  25. Động đất mạnh rung chuyển Philippines Một cơn địa chấn xảy ra sáng sớm nay tại phía bắc của Philippines nhưng không có cảnh báo sóng thần nào được đưa ra. Bản đồ cho thấy vị trí của trận động đất. Đồ họa: USGS AFP dẫn lời Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) cho hay trận động đất mạnh 6,1 độ Richter xảy ra ở độ sâu 35 km lúc 6h18 sáng nay theo giờ địa phương. Tâm chấn cách thành phố Baguio khoảng 143 km về phía tây nam và cách thủ đô Manila 182 km về phía tây bắc. Viện Địa chấn học và Núi lửa học Philippines đánh giá trận động đất mạnh 6 độ Richter. Hiện chưa có thông tin gì về thương vong sau cơn địa chấn này, dù chấn động của nó có thể được cảm nhận ở nhiều khu vực, trong đó có cả thủ đô Manila. Philippines nằm trên Vành đai Lửa Thái bình dương. Đây là một vành đai bao quanh đại dương lớn nhất thế giới với nhiều núi lửa đang hoạt động và các rãnh đại dương không ổn định. Hồi tháng hai, một cơn địa chấn mạnh 6,7 độ Richter xảy ra ơ miền trung của Philippines kéo theo lở đất khiến hơn 100 người thiệt mạng và mất tích. Có một đường đứt gãy địa chất chạy ngay phía dưới thủ đô Manila, một đại đô thị với hơn 12 triệu dân. Các nhà địa chấn học của chính phủ Philippines cảnh báo rằng Manila chưa sẵn sàng cho việc đối phó với một trận động đất lớn. Theo VNE Động đất mạnh 6,4 độ richter rung chuyển Đông Nhật Bản Cơn địa chấn có cường độ 6,4 độ Richter làm rung chuyển một vùng biển của Nhật Bản sáng nay, song giới chức không ban bố cảnh báo sóng thần. Tâm chấn của trận động đất (hình ngôi sao) hôm 18/6 nằm ngoài biển và cách thành phố Sendai khoảng 140 km về phía đông. Vùng biển phía đông đảo Honshu rung chuyển vì địa chấn. Đồ họa: Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ. Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ cho biết, trận động đất xảy ra vào lúc 4h32 sáng nay, giờ địa phương. Tâm chấn nằm ở độ sâu gần 32 km và cách thành phố Sendai trên đảo Honshu khoảng 140 km về hướng đông. Honshu là đảo lớn nhất trong quần đảo Nhật Bản. Vùng biển phía đông hòn đảo Honshu rung chuyển sau địa chấn, song cảnh báo sóng thần không được ban bố. Quần đảo Nhật Bản là nơi hội tụ của một số mảng kiến tạo. Sự bất ổn về địa chất khiến Nhật Bản hứng chịu khoảng 1.000 cơn địa chấn mỗi năm. Vào ngày 11/3 năm ngoái, trận động đất có cường độ 9 độ Richter ở khu vực bờ biển phía đông bắc của Nhật Bản đã gây nên một trận sóng thần khiến ít nhất 19.000 người chết và mất tích, một vùng rộng lớn trên đất liền bị tàn phá và nhà máy điện hạt nhân Fukushima I rơi vào khủng hoảng. Philippines cũng rung chuyển bởi một cơn địa chấn 6,1 độ Richter vào sáng hôm qua. Động đất xảy ra ở độ sâu 35 km và cách thủ đô Manila chừng 182 km về phía tây bắc. Giới chức Philippines không ban bố cảnh báo sóng thần sau động đất và chưa công bố thông tin về thương vong và thiệt hại tài sản. Theo VNE
×
×
  • Create New...