Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

nhatnguyen52

Hội viên
  • Số nội dung

    150
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2

Everything posted by nhatnguyen52

  1. Dịch học họ HÙNG . bài 12 1/ Đồ hình Bát quái hay 8 quẻ thiên nhiên . Giữa đồ hình bát Quái này và Lạc đồ có sự tương thông về hình thức và nội dung Số 1 = độc →đục → đặc , chất đục nặng cô đọng thành đất , đất dày là tượng quẻ khôn . Số 2 hai → hà – hồ , quẻ Đoài = cái hồ Số 3 – tam- xám → xẫm , quẻ Khảm = màu đen . Số 4 – tứ →tây = phương tây , quẻ Tốn chỉ phương tây . Số 5 -trung tâm tức ngũ lãnh . Số 6 – lục = màu xanh ; màu xanh chỉ phương đông , quẻ Chấn – Thìn chỉ phương đông Số 7 – sách →xích = màu đỏ , quẻ Ly = màu đỏ . Số 8 – bạt → bệ = nền , cấn – căn = nền , người ta thường dùng ‘đất liền’ đối với ‘bể cả’ , đây là câu nói sai chính xác phải là ‘đất nền’, quẻ cấn tượng là đất , cấn = căn = nền . Số 9 – cửu → cao , trời cao là tượng quẻ Kiền , dân gian Việt thường nói 9 tầng trời cũng vì lẽ này . Nhờ sự tương thông ý nghĩa ta xác định được 1 bát quái đồ, gọi tên là Bát Quái – Lạc đồ hay đồ hình 8 quẻ Trời mà một phần ý nghĩa của nó ta đã luận ở phần hệ toạ độ không – thời gian 4 chiều trên . Ý nghĩa của Bát Quái trong đồ hình này là gì? Đó là sự nhìn nhận của Tiền nhân người Việt về thế giới và cuộc đời, tức những ý niệm rất căn bản, rất sơ nguyên nhưng lại là sự bao trùm toàn diện. Cặp đối: Kiền -Khôn chỉ thế giới tự nhiên hay một không gian bao la gồm hết cả những thứ thấy và không thấy . Cặp đối: Ly - Khảm chỉ thời gian , ly là mặt trời Khảm là mặt trăng , sự soay vần đến đi tự nhiên tạo thành ngày đêm nên thánh nhân dùng hình tượng này chỉ thời gian , người Việt thường nói : ba bảy hăm mốt ngày chỉ thời gian chóng qua , 3-7 chính là số của Lạc đồ ( xem hình trên ) . Cặp đối: Chấn -Tốn chỉ tại thiên thành tượng; cặp Đoài -Cấn chỉ tại địa thành hình; Thiên và địa, trời và đất là cái nôi nuôi sống loài người, thế giới hiện thực, sinh động, bầu trời là tập hợp, những chất nhẹ- trong, nên đâu có hình, chỉ có thể nhận biết qua các hiện tượng mà cổ nhân chọn biểu diễn là: sấm sét và gió bão, đất thì lấy thế cao thấp để tượng trưng phần lõm xuống là đại dương mênh mông chỉ định bởi quẻ Đoài và phần lồi lên là đất liền tượng trưng bằng Quẻ Cấn. ( Chính xác là ‘đất nền’ ) . Trong Việt ngữ chữ Kiền Khôn lớn hơn chữ vũ trụ nhiều lắm, vũ trụ chỉ phần không và thời gian hay nói theo thuyết tương đối là vũ trụ 4 chiều. Càn - Khôn bao trùm cả những gì vượt qui luật hay là 1 siêu “không – thời gian”, vũ trụ chỉ là1 bên còn bên kia là siêu vũ trụ, đạo giáo gọi là thượng giới, Thiên Quốc của Ngọc hoàng Thượng đế v.v… Bát Quái – Lạc đồ chính với kết cấu : Mẹ tròn –con vuông là thế giới quan của họ Hùng; thể hiện rõ sự cố gắng vượt qua chính mình của con người, siêu nhiên là sự vượt qua tầm với của khả năng nhận thức, quá khả năng phán đoán của não bộ… nhưng vẫn xác quyết là có đấy; nó tồn tại như mặt đối của tự nhiên theo đúng luật lưỡng lập. 2/ Bát quái Tiên thiên hay 8 Quẻ con Người . Đồ hình 8 quẻ con người lấy con người làm đối tượng , nó diễn tả vị trí và sự tương tác trong guồng máy vĩ đại :con người – thiên nhiên – xã hội . 4 quẻ Càn, Khôn, Ly, Khảm là nội quái, là các thành phần bên trong làm nên phần tinh thần của mỗi con người, đồ hình 8 quẻ người diễn tả sự tương tác nội thân đồng thời tương tác với môi trường. a. Trục Càn – Khôn . Kiền là lớn mạnh, là ý chí tự chủ của con người. Khôn là bản năng sinh lý, thể xác con người cũng chỉ là 1 sinh vật nó cũng bị chi phối bởi các qui luật sinh hóa và vật lý. Khuynh hướng của quẻ Khôn rất là hoang sơ, hoang sơ như loài thú vậy, nhưng sở dĩ con người vượt trên mọi loài vì Khôn phải quy phục cái lớn mạnh tức quẻ Kiền hay Cường; sự tuân phục này ngôn ngữ Việt Nam gói trong từ kép “khôn ngoan”, khôn tức bản năng đã được chỉ định trong tượng tin quẻ Khôn, ngoan là nghe theo (từ Việt). Ta thấy ý nghĩa rất rõ ràng, tương tự với quẻ Kiền Việt ngữ có từ “lớn mạnh” ngắn gọn nhưng đầy đủ về ý nghĩa, tương đương với cả câu của đại tượng: “Thiên hành kiện quân tử dĩ tự cường bất tức” Tới đây có thể nói không quá lời là với người Việt thì Dịch là văn và văn chính là Dịch; nghĩa là trong 1 câu nói rất dân giả chẳng cần chút trí thức nào cũng đã vận dụng Dịch lý nhuần nhuyễn như cơm ăn, áo mặc vậy. Thí dụ: mong con cái khôn lớn như những dòng trên đã chỉ ra: khôn lớn chính là 2 quẻ Kiền, Khôn đấy. Khôn ngoan và lớn mạnh là tiêu chí của trưởng thành tức là thành “người lớn” từ ‘quân tử’ trong Nho giáo cũng chỉ có nghĩa là người lớn – người trưởng thành , đám Tàu ô ấm ớ biến ‘quân tử’ thành ‘con vua’ làm ô danh Nho giáo . , họ cũng biến Quẻ Khôn chỉ bản năng thành đối tượng … của khuynh hướng triết lý khinh rẻ thân xác dạy con người phải “khắc kỷ - diệt dục ” ; đã là bản năng hay sinh lý tức là cái gì đó rất bình thường, vấn đề là thỏa mãn nó như thế nào thôi, đói thì ăn khát thì uống là lẽ tự nhiên , nhưng phải ăn uống trong cái đạo lý … công bình, chiếm đoạt của người khác để thỏa lòng mình mới là điều phải lên án. b. Trục Ly – Khảm Ly - Khảm tức Lý và Tình hay Lý trí và Tình cảm. Lý trí là sự sáng suốt của con người. Nhờ có lý trí con người mới phân biệt được đúng sai phải trái. Quẻ Ly “chủ trì” sự tương tác “con người – tự nhiên”, tự nhiên vận động theo qui luật của tự nhiên, việc khám phá và vận dụng các qui luật là chức năng của lý trí con người. Người ta thường nói ‘công lý’ vì lý đúng với mọi người mọi nơi mọi lúc không có ngoại lệ, ngược lại tư tình là tình cảm riêng biệt cho từng đối tượng, người có thân có sơ, có yêu có ghét không ai giống ai. Còn khi đạo đức hay triết học nói đến yêu người hay lòng nhân ái tức nói đến một con người chung, hay đại biểu “người”, lòng nhân ái là 1 đức hạnh phi vật thể đó là sự chia xẻ vật chất, nhường cơm xẻ áo, lý và tình đâu có đối lập? mà là 1 sóng đôi- lưỡng lập của Dịch học. Lý trí và tình cảm là 1 lưỡng nghi hợp với sóng đôi của nó là cặp ý chí – bản năng hình thành tứ tượng bên trong hay nội thân . Tứ tượng bên trong sóng đôi với Tứ tượng bên ngoài diễn tả sự tương tác giữa con người và môi trường, 1 bên là môi trường xã hội bên kia là môi trường tự nhiên. Con người là 1 sinh vật xã hội, nói như thế tức khẳng định không thể nào tìm được con người độc đinh chỉ 1 mình vì ngay từ khi sinh ra rồi lớn dần thì trong não bộ thông qua giao tiếp đã mang cái vốn trí thức của cộng đồng . loài người là sinh vật cao cấp nhất sinh sống trong môi trường kép khác với loài vật chỉ có môi trường tự nhiên mà thôi . c. Trục Đoài – Chấn Đối với môi trường tự nhiên thì con người tương tác với 2 dạng thức: - Hiểu biết về tự nhiên, phát hiện các qui luật vận động trong giới tự nhiên và lợi dụng các qui luật này để phục vụ cho chính mình, nói chung sự hiểu biết này gọi là tri thức được Dịch học tượng trưng bằng quẻ Đoài hay Điều, Điều là lời lẽ, điều tiếng trong tiếng Việt nó còn có nghĩa là “cái đúng, lẽ phải”. Thí dụ : tên cướp hù dọa mọi người biết “điều” thì đứng yên. - Tác động vào tự nhiên được Dịch học biểu thị bằng quẻ Chấn. Ban đầu con người tác động vào tự nhiên chỉ bằng sức cơ bắp, sau này dần tăng lên với sức máy móc, người chỉ còn tham gia bằng trí tuệ, sức mạnh tác động ngày càng lớn đem lại của cải vật chất ngày càng nhiều, và đời sống con người ngày một thêm phong phú. d. Trục Tốn – Cấn Xét cho cùng xã hội cũng là 1 cơ thể sống, bản thân nó cũng có nhiều cơ phận, làm sao để thống nhất điều khiển hoạt động của các cơ phận đó? Như vậy xã hội cũng cần có bộ não, với con người thì các bộ phận trong cơ thể là cấu tạo “tự nhiên, ý muốn của con người không can thiệp vào được, nhưng đối “cơ thể” xã hội hay cộng đồng người thì khác, việc tổ chức xã hội ra sao do con người quyết định, cơ chế vận hành cũng do con người ấn định không có sự “đương nhiên” ở đây. Ta thấy ngay thế giới đương đại cũng tồn tại nhiều thể chế khác nhau từ độc tài tới dân chủ . Việc tổ chức quốc gia, tuyển chọn người lãnh đạo và mối tương quan hiến định giữa các cơ quan … hợp thành nền chính trị ; Dịch học biểu thị bằng quẻ Tốn hay Toán, từ kép của Việt ngữ ‘lo toan’, ‘gánh vác’ là mô tả quyền hành chính trị quốc gia rất đúng nghĩa, Dịch học gọi là Tề hồ Tốn tức quẻ Tốn là sắp đặt, tổ chức và quản trị (Tề). Tóm lại: quẻ Tốn chỉ nền chính trị của một quốc gia . - Chế độ kinh tế là sự cố kết giữa người và người để tác động vào thiên nhiên làm ra của cải, phân phối và tiêu thụ số của cải đó, Dịch học tượng trưng chế độ kinh tế bằng quẻ Căn hay Cấn, tại sao lại là Căn? Căn là cái nền, những gì xây dựng trên phải tựa vào nó. Nếu Căn là chế độ kinh tế thì cái xây dựng trên nó chính là chế độ chính trị, kinh tế là cái nền của chính trị Là ý nghĩa của quẻ Cấn- căn . Còn kinh tế đối với trình độ kỹ thuật hay công cụ sản xuất lại là Cản. Với mỗi trình độ kỹ thuật hay mức tiên tiến của công cụ mà con người sử dụng để tác động vào tự nhiên cho ta 1 cơ cấu tổ chức kinh tế khác nhau. Sự phù hợp cho ta kết quả tối ưu với năng suất ở mức cao nhất, do sự phân phối quyền và lợi trong bản thân chế độ, kinh tế thường cản trở sự cải tổ chính trị làm sự chuyển biến thay đổi chế độ xã hội thường chậm so với yêu cầu khách quan. Quẻ căn còn 1 nghĩa nữa là ‘Cán’, cán là cái người sử dụng phải nắm lấy, cầm lấy để điều khiển công cụ . Tư tưởng nắm lấy “tiền của” để điều khiển, kiểm soát sự vận hành guồng máy xã hội đã có ngay trong Dịch học, cụ thể là Chu Dịch thời 3.000 năm về trước. Đồ hình 8 quẻ con người với kết cấu : tròn ẩn trong vuông chính là nhân sinh quan của họ HÙNG Chỉ với từ ‘Cấn’ biến thành Căn, Cản, Cán cũng cho thấy Dịch học không thể phiên dịch qua ngôn ngữ khác được, ngay cả Hán ngữ cũng không ngoại lệ.
  2. Dịch học họ HÙNG . bài 10 III. Dịch học tượng vạch hay vạch quẻ Dịch học được diễn giải bằng các vạch là sự tiếp nối Dịch nút số vì nút là các nút thực thể có trước khi loài người biết đến ký hiệu: những ký hiệu đầu tiên là khắc vạch , khắc vạch là từ thuần Việt nghĩa là vết cắt . Cổ nhân tìm ra cách phân chia thời gian bằng cách dùng bóng nắng cây sào so với các vạch trên mặt đất , 5 vạch chỉ 5 mồng ban ngày và tưởng tượng ra 5 canh ban đêm; vì lẽ này ta có từ kép thời – khắc ; từ này minh định các khắc vạch ban đầu tạo ra do nhu cầu đo bóng nắng định thời gian; từ khắc thực ra chỉ là biến âm của từ cắt trong Việt ngữ về sau những vạch này trở thành những chữ , rất có thể đây chính là những chữ đầu tiên và cũng là mẫu mực cho sự hình thành chữ Trung hoa về sau . Tập tục cổ xưa đo bóng nắng bằng cây sào tre ngày nay còn lưu giữ trọng việc trồng cây nêu ngày Tết , việc này giúp ta minh định : việc đo bóng nắng định thời khắc chỉ có thể phát sinh ở vùng nhiệt đới vì ở đấy mới có tre dài mọc tự nhiên , điều này giúp xác định quê hương của Dịch học là vùng nhiệt đới. Việc phát minh và sử dụng khắc vạch như 1 ký hiệu có chứa thông tin đã là bước khởi đầu của con đường dài bất tận, đường đi đến văn minh mà chuẩn mực cứ mỗi ngày nâng cao thêm nên trở thành bất tận , làm gì có điểm dừng gọi là văn minh tột đỉnh ? A. Đôi ngôi Âm - Dương Dịch của người Tàu gọi là : Lưỡng Nghi Âm và dương nghĩa cơ bản là thấy và không thấy; phơi bày ra và ẩn giấu đi, dương là cái cụ thể âm là trừu tượng; dương là hữu hình âm là vô hình. Dương biểu thị bằng vạch đứt ___ ___ Âm biểu thị bằng vạch liền ________ Ấn định như vậy của Dịch học Họ Hùng ngược hẳn Dịch học thông hành của người Tàu hiện nay Ta xác định được vậy nhờ 2 cụm từ trong tục ngữ Việt – êm xuôi trót lọt và giang dở đứt đoạn. Giang dở hay dương dở chỉ sự việc chưa hoàn thành, bị cắt ngang nó được giải thích bằng từ kép đi kèm đứt đoạn Chữ dương này chính là chữ dương trong âm dương. Hình ảnh chỉ dẫn ở câu trên đúng là vạch đứt. Ngược lại cụm từ: êm suôi trót lọt chỉ sự tiến triển liên tục đưa đến hoàn thành tốt đẹp, hình ảnh nó gợi ra không gì khác hơn là vạch liền; êm → âm Tóm lại: âm tượng trưng bởi vạch liền, dương tượng trưng cho vạch đứt Vạch liền chỉ những gì không thấy được, vô hình vô ảnh không khối lượng nên liên tục Ngược lại: vạch đứt chỉ những gì có thể nhìn thấy được hay hữu hình do đó gián cách đứt đoạn . Mọi vật hiện hữu đều có thể qui vào 2 khuôn khổ trên và người ta thường lầm lẫn những gì đối nghịch nhau là 1 lưỡng nghi hay đôi ngôi Như nóng là âm lạnh là dương, nhẹ là âm nặng là dương, đàn ông là dương đàn bà là âm v..v.. Thực ra có 1 cặp đối nghịch không nhất thiết là có đôi ngôi hay lưỡng nghi Ta chỉ có 1 lưỡng nghi khi 2 thành phần phối hợp để tạo thành 1 chỉnh thể hay sinh ra 1 cái gì mới . Thí dụ: đàn ông là âm, đàn bà là dương (Dịch học họ Hùng ngược với Dịch của Tàu) không hề là 1 lưỡng nghi nhưng vợ và chồng lại là đôi ngôi trong cái chỉnh thể “gia đình” Con người là 1 lưỡng nghi điển hình : thân xác là Dương chứa cái tinh anh là tinh thần ở trong ; âm (ém ở trong) Thí dụ nữa : chữ là 1 lưỡng nghi trong đó phần dấu hiệu là dương ở ngoài, phần thông tin là âm tàng chứa ở trong. Hình ảnh chày cối cũng là 1 lưỡng nghi điển hình; chày dã xuống cối chặn lại hợp công biến thóc thành gạo. Chày là đoạn cây dài, chính là hình tượng vạch liền, cối có chỗ lõm đựng thóc là nơi nhận đầu cây chày đâm xuống, chỗ lõm cho ta tượng vạch đất và chày → chài - chai, trai; cối → cái – gái Chày cối chính là 1 gợi ý cho âm dương, cối là dương, chày là âm. Người Tàu âm chữ ‘chày – cối’ thành ‘chử – cửu’, sở dĩ ta dám nói dịch học khởi phát ở Việt nam chính vì biến âm chày →chai- trai; cối → cái – gái còn chử - cửu của người Tàu chẳng liên quan gì tới âm – dương trai gái cả. Hán văn biến từ ‘cối’ thành ‘cổ’ nghĩa là cái trống , đồng cổ là trống đồng , khi liên kết dãy từ ngữ : âm-dương , chày cối , cối đồng , dã (gạo) , quẻ Lôi địa Dự và nước Dạ lang thì phát hiện ra ̣điều vô cùng quan trọng mang tính quyết định đối với lịch sử Việt – Hoa . ( xem Sử thuyết họ Hùng ). Có học giả Trung Hoa đưa ra kiến giải : vạch đứt vạch liền chính là hình ảnh sinh thực khí nam và nữ, kiến giải này có sự hợp lý của nó; thực đơn sơ nhưng cũng rất chính xác vì: sinh sinh chi vị Dịch, quy luật cốt cán của Dịch học là sinh ra, đẻ ra mà muốn sinh đẻ thì trước hết phải có thai, muốn có thai thì phải có sự giao hợp của nam và nữ. Từ đôi ngôi hay lưỡng nghi ta nhận biết định luật quan trọng nhất của Dịch học. Trong vũ trụ không có sự vật chuyển biến đơn lập, một vật luôn luôn thay đổi cùng với mặt đối của nó. Không có thấp sao có cao . Có kẻ mất thì có người được Bên bán phải cùng có với bên mua Chết là bước khỏi cõi tự nhiên đồng thời là bước vào cõi siêu nhiên. Viên đạn bắn đi thì khẩu súng giật ngược lại. Nơi đây được làm lạnh thì chỗ khác phải nóng lên . Sự khác biệt giữa tư duy Dịch học và sự suy nghĩ thông thường tương tự như sự khác biệt giữa kế toán đơn và kế toán kép, 1 phát sinh trong kế toán kép luôn luôn có 1 đối ứng, mọi chuyển biến trong vũ trụ đều như thế, luôn luôn có đối ứng nên tư duy Dịch học là tư duy sóng đôi hay lưỡng lập. B. 4 dạng hay Tạng: Dịch học người Tàu chuyển ngữ thành tứ tượng Ở trang trên đã nói đến Luật sóng đôi hay lưỡng lập; khi đã có 1 lưỡng nghi thì đồng thời cũng có 1 lưỡng nghi sóng đôi với nó: 4 Tạng = 2 (2 ngôi) Hán Tự : Tứ Tượng = 2 (Lưỡng Nghi) 1 lưỡng nghi là: Thái âm – Thái dương 1 lưỡng nghi là: Thiếu âm – Thiếu dương Đồ hình 4 dạng hay Tạng Ta thấy: 4 tượng hình thành bởi 2 tầng âm dương, quy luật sắp đặt và chuyển từ cực này sang cực kia như sau: Xuống 1 tầng thì độ số nhân đôi nếu : - Tượng vạch 1 tầng ta có : ..................................................Âm ................ Dương - Tương tự với tượng vạch 6 tầng. Ta có: 64 quẻ sắp xếp theo độ số: 1 ______ 2 ______ 4 ______ 8 ______ 16 ______ 32 ______ Tượng vạch chuyển từ: thuần Kiền đến thuần Khôn. 63___ sang 0___ 0 _ _ sang 63 _ _ Sự chuyển biến tuần tự theo quy luật giảm 1, tăng 1 cho tới khi chuyển hẳn thành mặt đối. Ý nghĩa của 4 tượng: Ta đã thấy tượng vạch 1 tầng đã quy mọi vật thể trong vũ trụ vào 2 khuôn khổ, âm và dương, ở tầng vật thể các quy luật vật lý chi phối sự tồn tại và biến hoá, chuyển động của sự vật. Sang tới tượng vạch 2 tầng, tức là tứ tượng của Dịch học, đây là thế giới của những cơ thể nói khác đi, đây là tầng sinh vật gồm 2 ngành chính là thực vật và động vật. Sinh vật cũng là 1 vật thể nên cũng chịu sự chi phối của quy luật vật lý, cùng lúc ấy vì ở tầng cao hơn cơ thể còn chịu sự chi phối của các quy luật sinh học. 1 cơ thể luôn có phần nội thân xác lập bởi 1 âm – 1 dương và bản thân cơ thể ấy luôn tồn tại trong 1 môi trường: cũng là 1 âm + 1 dương. Như thế 1 cơ thể luôn có sự tương tác giữa 1 âm 1 dương ở bên trong và bên ngoài giữa bản thân và môi trường. Nếu sự tương tác trao đổi chất diễn ra đều đặn, liên tục trong 1 thời gian nhất định, thì thời gian đó gọi là thời gian sống. Đồ hình mô tả chung như sau: Về mặt thân xác thì con người cũng chỉ là 1 sinh vật như bao sinh vật khác cũng chịu sự chi phối của 2 tầng quy luật tầng vật lý và tầng sinh lý. Tứ tượng mô tả con người trong vũ trụ như sau: Thái âm chỉ tinh thần Thái Dương chỉ thân thể Thiếu âm chỉ môi trường tự nhiên Thiếu dương chỉ môi trường xã hội Con người là 1 sinh vật xã hội nên vận dụng tứ tượng để mô phỏng cũng có những nét riêng, nét đặc thù chỉ có đối với xã hội loài người con người là sự lưỡng hợp vừa là thần vừa là vật, thần linh nhập trong xác phàm đấy là định nghĩa chữ “người” của Dịch học. Khi nhìn ở tầm “siêu” vĩ mô nghĩa là xét mối tương quan của cả loài người và vũ trụ, Dịch học mô tả và diễn giải ở 3 phần khác nhau, chỉ khi nào tổng hợp ý nghĩa 3 phần đó ta mới có thể hiểu điều Dịch học muốn nói. Thứ 1 là Hà Thư Thứ 2 là Tứ tượng hay 4 dạng Thứ 3 là Ngũ hành hay 5 hình Chúng ta sẽ nói rõ điều nay sau phần ngũ hành hay 5 hình. Dịch học họ HÙNG bài 11 - bát quái hay 8 quẻ xin xem phần trước .
  3. Dịch học họ HÙNG . bài 9 - 1. Tổng quan về Lạc đồ Hiện nay nhiều học giả cả đông lẫn Tây thường cười nhẹ nhàng hóm hỉnh về quan niệm trời tròn đất vuông của Dịch học, và phương Tây rất hãnh diện với việc Galliléo “Tuẫn đạo” khi công bố trái đất tròn cách đây vài trăm năm; có thực tiền nhân ta cho là đất hình vuông? Người Việt vẫn gọi từ xưa đến nay là Bầu trời và Trái đất hay Quả đất; Bầu nghĩa là Hình cầu, Bầu biến âm thành Bào, bao bầu trời nghĩa là trời hình cầu bao bọc quanh ta, còn với từ trái đất cũng hình cầu nhưng rất nhỏ nhắn so với “Bầu trời” Khái niệm Trời tròn đất vuông của Dịch lý là quan niệm triết học không phải là ý niệm vật lý. Trời là ý chí, đất là bản năng Trời là Đức, đất là Tài Trời là Đức độ, Đất là Lý trí Trời là Minh triết, đất là Khoa học Đó là vài thí dụ để hiểu ý niệm trời tròn đất vuông trong Dịch học. Lạc đồ là đồ hình không thời gian có thể gọi là không thời đồ . -Người xưa lấy chính mình làm trung tâm và bổ cái gọi là “Bầu trời” bằng 1 lát cắt theo chiều dọc từ trên xuống dưới. Ta có đồ hình thời gian như sau: Số 7: Ban sáng – Mùa Xuân Số 9: Ban trưa – Mùa Hạ Số 3: Ban chiều – Mùa Thu Số 1: Ban đêm (tối) – Mùa Đông Đó cũng là 4 bên của mặt phẳng đứng. Số 7: bên Mục, số 9 bên trên. Số 3: bên chiều, số 1 bên dưới. Quan hệ vật lý giữa Trời và Đất được cổ nhân mô tả rất bình dị giản đơn: trời như cái chén cái bát úp lên mặt đất vì vậy mới có cụm từ dưới gầm trời hay thiên hạ tức lãnh thổ con người ta có thể với tới được, nó luôn luôn được quan niệm là 1 hình vuông (hoàn toàn khác với nghĩa mặt đất vuông) có 4 góc tiếp xúc với vòm trời, chính 4 điểm tiếp xúc đó là 4 mốc giới, 4 gốc chuẩn của lãnh thổ, bản thân từ Quốc xuất phát từ chữ góc của Việt Ngữ. Góc à Gốc à Quốc Quan niệm này xuất phát từ đồ hình: Ta có 4 góc biểu diễn bởi 4 tượng số 2 – 4 – 6 – 8, cũng là 4 điểm gốc của hệ quy chiếu dịch học , 1 loại hình trục tọa độ khác với hình học hiện nay , khi ghép 2 mặt phẳng dọc và ngang trên vào 1 đồ hình ta có: Lạc đồ Trên 2 9 4 Đông 7 5 3 Tây 6 1 8 dưới 2 tượng số: 1 và 9 định ở đỉnh trên và dưới thì hầu hết người nghiên cứu Dịch lý chấp nhận nhưng số 3 và 7 thì nhiều bản vẽ trái nhau mà không thể nào định được đúng sai. Riêng với Dịch học họ Hùng vì mọi việc rõ ràng : Tiền nhân người Việt đã dạy con cháu học Dịch bằng ca dao tục ngữ; việc xác định vị trí 2 số 7, 3 nằm trong câu: (3) chìm, (7) nổi, (9) lênh đênh. Chìm là hướng mặt trời lặn, nổi là mặt trời mọc, số 9 lênh đênh là thiên đỉnh 2- ý nghĩa thứ nhất của Lạc đồ Dịch học nút thừng của Tàu phân ra số cơ và ngẫu hay chẵn và lẽ; số lẻ màu trắng, số ngẫu màu đen… việc này xin miễn bàn vì Dịch học họ Hùng không phân tượng số ra trắng và đen vì các nút số là nút giây thực, việc biến thành ký hiệu tức hình vẽ là sản phẩm của đời sau, đã là nút giây thực sự thì làm gì có tô đen hay để trắng. Ta có Hình vuông với 4 cạnh thể hiện con người sống trong trời đất và xã ḥội : - số 1 là Chắc = xác chỉ con người vật chất , 1 sinh vật y như những giống loài khác vậy.;chắc cũng chỉ phần nền tảng, dãy số 6-1-8 chỉ cái nền vật chất của cuộc sống. - số 9 là đinh = đỉnh chỉ cái cao qúy tột đỉnh làm cho con người vượt trên mọi sinh vật là chủ nhân của vũ trụ., được như vậy là nhờ ở cái đầu , bộ óc là cơ sở vật chất của hoạt động tinh thần, dãy số 2-9-4 tượng trưng cho hoạt động tinh thần hay năng lực trí tuệ. -số 2 là nhẹ- óp ; chỉ mối tương quan giữa ta và người khác hay giữa ta với cộng đồng , là tình người, óp = loảng nói lên tình cảm giưã người và người tự nhiên không xâu đậm gì cho lắm hay rất lợt lạt thậm chí thời hoang dã người ta còn có thể ăn thịt cả đồng loại - số 4 là cang, cứng ; nhờ có đầu óc mà ta hiểu biết tự nhiên vận hành theo quy luật , đấy là LÝ, lý thì khách quan không thay đổi được nên gọi là cứng hay chết cứng . - số 6 là canh nghĩa là cô đặc , về mặt xã hội ta gọi là cố kết lại, sự liên kết giữa người và người càng chặt vì tình cảm càng ngày càng sâu đậm hơn , người là loài sinh vật hội xã, xuất phát từ tính bầy đàn tự nhiên với sự vun đắp chủ động có mục đích dần dần hình thành tính Xã hội và nó đã trở thành bản tính... khiến con người không thể chịu đựng được sự cô lập, tách biệt với cộng đồng - Số 8 là can biến , biến là thay đổi tự nhiên theo chiều có lợi cho cuộc sống của con người, sử dụng những gì sẵn có trong tự nhiên để phục vụ cho mình, trước tiên chỉ với sức vóc của chính mình và đôi tay sự tác động vào tự nhiên của con người rất hạn chế , dần dần bằng sự nhận xét- tổng kết con người nhận ra các quy luật vận động và với đầu óc sáng tạo con người chế ra các công cụ ban đầu chỉ là tiếp sức ,Tăng cường khả năng các cơ phận của chính thân thể đến ngày nay con người đã làm chủ cả một lực lượng khổng lồ các cơ giới , lực lượng ấy biến đổi hẳn bộ mặt của địa cầu. - Số 3 là nhũn hay nhún; Quy luật thì khách quan là cứng rắn không thay đổi, đó là ý cuả số 4, ta không thể chỉ với ước muốn chủ quan mà thế giới thay đổi, muốn biến đổi thì phải hành động, muốn hành đ̣ộng có kết qủa thì điều đ̣ầu tiên ta phải tuân thủ các quy luật của tự nhiên, điều này dịch học gọi là nhún, tuân thủ để lợi dụng là điều mà dịch học dạy ta , con người không thể bắt nước chảy ngược lên trên , ta phải tùng phục luật nước chảy xuống thấp này một cách vô điều kiện thì mới có thể lợi dung sức nước để tưới tiêu và chạy máy phát điện đó chính là luật Tòng- cách của dịch học. -Số 7 là tâng hay tưng nghĩa là nâng lên. Ta đã biết sự liên kết vô hình giữa người và người không phải tự nhiên mà xâu đậm, muốn tăng thêm tính bền vững và sự ổn định của cộng đồng không còn cách nào khác là vun đắp tình cảm đấy là ý của số 7 ; tâng đi đôi với bốc chỉ việc đưa lên, lực cố kết số 6- hay canh liên kết càng mạnh thì đòan thể càng có thể phát triển lớn hơn tạo nên một sức vóc lớn hơn trong cuộc đấu tranh sinh tồn.và thăng tiến. Tóm lai : Số 2 và số 4 dạy ta phải thăng bằng luôn thấu lý đạt tình. Số 6 và số 8 chỉ dẫn hai việc phải làm đồng thời : vừa khai thác –cải tạo tự nhiên vừa củng cố liên kết xã hội Muốn khai thác tự nhiên phải theo đúng các quy luật vận động của tự nhiên đó là ý của số 3- nhún Muốn củng cố để xã hội bền vững phải vun đắp tình cảm cho mọi thành viên của cộng đồng, vun đắp là ý của số 7 –tâng. 3. Ý nghĩa thứ nhì của Lạc đồ Số 5 tượng trưng cho con người đang sống, cụ thể không mơ hồ, mỗi 1 sinh mệnh đều là 1 trung tâm của vũ trụ, là chủ thể trong mối tương quan với môi trường, môi trường sống được tượng trưng bởi vòng tròn ngoại tiếp với hình vuông có 4 góc tiêu biểu bởi 4 số chẵn 2, 4, 6, 8. 4 số lẻ 1, 7, 9, 3 cùng với số 5 tạo thành chữ thập 1 tâm 4 cánh. - a. Trục tung cấu tạo bởi 3 số: 1 – 5 – 9 Trục tung tượng trưng cho đời sống vật chất và tinh thần; các số 1 và 9 diễn tả mối liên hệ bên trong của bản năng- dục vọng, (1) và ý chí đạo đức (9), văn minh tức cán cân 1 bên là bản năng, 1 bên là ý chí nghiêng dần về phía ý chí, con người biết chia xẻ vì hiểu rằng chỉ có hạnh phúc chung chứ không có hạnh phúc cho sự độc hữu, thực ra bản năng hay sinh lý là những gì rất tự nhiên, nhưng không thể thoả mãn nó 1 cách tự nhiên…; ở đây bản năng phải phục tùng ý chí đạo đức để nếu không thể chia xẻ thì ít ra cũng công bằng với tha nhân. - b. Trục hoành cấu tạo bởi các số: 7 – 5 – 3 Trục tung thể hiện mối tương quan nội thân còn trục hoành thể hiện mối tương quan với môi trường, 1 bên là môi trường tự nhiên chỉ định bởi số (3) ở phương Tây bên kia là môi trường xã hội chỉ định bởi số (7) ở phương Đông. Lý tưởng của cuộc sống là thực hiện nhân chủ, cụ thể là: Làm chủ bản thân, làm chủ tự nhiên và làm chủ xã hội. Số (3) tiếng Việt là Bá, Bạ, Bấu nghĩa là dựa trên, tựa vào, lấy thiên nhiên làm điểm tì, của cải vật chất cung phụng cho đời sống con người đều lấy từ cõi tự nhiên làm chủ tự nhiên là thấu hiểu các quy luật vận động của nó và lợi dụng được nó phục vụ cho mình. Tri thức về giới tự nhiên ngày càng nhiều , của cải vật chất ngày càng dồi dào giúp con người dễ dàng chủ động tổ chức lại xã hội theo hướng tối ưu cho hạnh phúc của cả cộng đồng. Sự chuyển động này chính là sự thăng tiến xã hội mà ý nghĩa đã gói gọn trong tượng số (7); bẩy là nâng lên (đòn bẩy) Thâm ý của tiền nhân khi tác dịch nằm ở chỗ: 1 bên bá (3), 1 bên bẩy (7) dựa vào các tiến bộ trong mối tương quan con người – tự nhiên để cải tiến mối tương quan con người –người Đấy là 1 công thức không thể đảo ngược . Các sử gia Trung Hoa thời cổ đã vận dụng 4 góc của Lạc đồ vào lịch sử, 4 góc thành ra 4 gốc chuẩn dùng định danh 4 triều đại lớn kế tiếp nhau chiếm trọn thời Vương Quốc cổ đại Số 2: Hai là nhà Hạ hay triều đại Hạ . Số 6: Lục = màu xanh → Thương là nhà Thương Số 4: Tư → Tây → Chiêu - Chu chỉ Vương triều Chu Số 8: Việt Ngữ là tám à Xám, xẫm là màu đen của phương nước hay Thuỷ cũng là phương Nam chỉ Vương triều Tần . Vì cớ này người Tàu ở phía Nam (dịch học ) nước Việt vẫn được gọi là xẫm hay xẩm . Khi phối hợp 2 mặt phẳng trong 1 đồ hình rõ ràng từ thời Thái cổ, người họ Hùng đã có quan niệm không gian 3 chiều mà tiếng Việt gọi là 3 bề: bề cao, bề rộng và bề sâu phối hợp với 1 chiều chuyển động của thời gian đi từ Đông sang Tây, mục sang chiêu tạo thành 1 đồ hình không - thời gian 4 chiều không khác gì không gian của Einsten ngày nay. ++++++++++ Tổng luận về HÀ-LẠC: Hà Thư - Lạc Đồ là thế giới quan và nhân sinh quan của người họ Hùng, nó được trình bày bằng hệ ngôn ngữ tối cổ gọi là ngôn ngữ “chục con” hay “thập can” và chỉ có tổng số 10 từ là 10 chữ nút số hay kết thằng; Ngày nay khi thiết lập nền Dịch học thống nhất thì Dịch học tượng số hay chữ nút thường đứng vị trí đầu bảng; tiêu biểu thời văn minh con người mới khải phát ,Tuy đơn giản quá ngắn gọn chỉ có 10 chữ nhưng tìm hiểu cho thấu đáo ý nghĩa của nó thực không dễ chút nào;càng tìm hiểu càng thấy thâm sâu , mỗi ngày mỗi thấy thêm ý mới hầu thông tin chứa trong 2 đồ hình này là vô tận... Một kết qủa bất ngờ khi tìm hiểu HÀ THƯ-LẠC ĐỒ là sự xác định nguồn gốc và thành tựu văn hóa VIỆT NAM. Thập can trong HOA ngữ không là một hệ thống vì nghĩa các từ không kết thành 1 ý trọn vẹn nào, trái lại khi kết nối thập can âm Việt ngữ với Hà thư-Lạc đồ lại cho 1 thể hoàn chỉnh về ngữ nghĩa diễn đạt một nền minh triết và khoa học vô cùng cao thâm khiến ta không thể nói khác được là : cả THẬP CAN và HÀ THƯ- LẠC ĐỒ đặc biệt là chữ KẾT THẰNG hay NÚT THỪNG đều là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của cổ nhân người VIỆT.
  4. Dịch học họ HÙNG . bài 8 b . Ý nghĩa khoa học thứ 1 của Hà Thư: 1/ Cặp tượng số (1-6) dân gian mô tả bằng điệp tự rất sinh động: cô đơn lạnh lẽo, số 1 = cô = đơn ta đã biết; số 6 trong chục con là cóng tức lạnh cóng, số 1 còn là “độc” biến âm ra đặc; đặc sinh ra nặng tóm lại trong bản thân số (1-6) hàm chứa nghĩa là: nặng và lạnh 2/ Cặp số (2-7) được mô tả là: ôm ấp, ấm áp; ôm ấp chỉ 1 đôi như ta đã biết; còn từ điệp ấm áp chỉ rõ : ấm = nóng bức = “nhiệt”, áp → ép hay sức ép; ép cho ta 1 khái niệm “Lực” Ta thấy rõ hơn ý niệm Lực ở nghĩa số 1 và 2; 1 là độc = đặc → nặng; 2 = nhị = nhẹ; cặp nhẹ – nặng minh thị “ý niệm” “Lực” trong trọng lực. Như vậy trục tung hay trục dọc của Hà Thư chỉ rõ ý nghĩa: bản thân vật chất luôn chất chứa ở trong mình nhiệt và lực tức 2 dạng của năng lượng. 3/ Cặp số (3-8) Tượng số 8 trong thập can là Bính, tiếng Việt là bấn, bấn loạn hay động loạn, chữ Bính thành Biến có nghĩa là thay đổi.- chuyển động ở đây là sự so sánh vị trí tương đối của vật so với chung quanh, ngược với động là định , ngược với biến là hằng, Tượng số 9 là Đinh; Đinh biến âm để tạo ra nhiều từ: Đinh, Đanh là vật cứng giúp gắn liền hay cố định 1 vật, Hoa ngữ biến âm thành từ Đính . Đinh biến âm ra Tịnh, Tĩnh → Tạng → Tượng tất cả chỉ sự yên lặng, không thay đổi, đứng yên và đặc biệt Tịnh hay Tượng nghĩa là con voi; 1 loài thú đặc thù của vùng nhiệt và xích đới là con thú làm biểu tượng cho vùng đất phía tây nước Việt . 4/ cặpsố ( 4-9) Số 4 trong thập can là khăng biến âm là cang hay cứng tức sự ổn định về hình dạng của 1 vật , cứng thường đi đôi với rắn nói chung chỉ những gì không thay đổi được. Tóm lại khi Liên kết ý nghĩa 4 cặp tượng số phát minh ra định luật: Vật chất được xác định bởi 4 tượng; 2 tàng ẩn ở trong và 2 phát lộ ra ngoài. -2 tượng ở trong là nhiệt chỉ định bửi số 6 –cóng hay lạnh và lực được biểu thị bằng số 2- ép hay áp lực -2 phát lộ ra ngoài là: - Trạng thái động hay Định cuả 1 vât so với chung quanh, vật lý hiện đại gọi là vận tốc chuyển động tượng trưng bởi số 8- bính bay biến và dạng vật chất cứng hay mềm được chỉ đinh bởi số 4 cang- căng . - Dạng thể của vật chất: cứng hay mềm; gọi là cứng hay mềm chỉ là tượng trưng cho sự phân loại vật chất theo thể dạng: thông thường có 3 là: dạng rắn, lỏng và dạng hơi, ngày nay khoa học đang với tới dạng vật chất thứ 4 đó là plasma Điểm then chốt trong định luật khoa học Hà Thư này là: 4 tượng hay 4 biểu hiện của vật chất gắn chặt với nhau và trở thành 1 khối thống nhất, chỉ cần thay đổi ở 1 tượng trong nhiệt – lực – dạng – tốc thì lập tức phát sinh thay đổi đối ứng ở các tượng còn lại nghĩa là vật chất đạt trạng thái cân bằng mới.với tốc độ di chuyển nhanh hơn hay chậm hơn ... Còn nếu bản thân vật chất không thể tự cân bằng nó sẽ bị phá vỡ và các phần tử của nó trở thành 1 phần của các vật khác như hòn đất nếu ném vào bức tường cứng sẽ vỡ vụn ra . Thí dụ khác : ta nung kim loại tức làm thay đổi nhiệt trong bản thân vật đó; đến nhiệt độ nào đó, kim loại chuyển từ dạng rắn sang dạng lỏng. Khi ta nén chất khí đến một áp suất nào đó khí sẽ hóa lỏng Ví dụ cụ thể và dễ dàng nhất để chúng ta nhận biết là sự biến dạng của nước; dưới 0o là thể rắn từ 0o là 100o C là dạng lỏng trên 100oC nước bốc hơi. Sự hiểu biết định luật này là nền tảng cho tiến bộ khoa học kỹ thuật của con người và rõ ràng vượt xa trình độ chung của người đương thời cách đây hàng vạn năm c. Ý nghĩa khoa học thứ 2 của Hà Thư Từ lâu loài người đã biết vật chất có 3 dạng thể: rắn, lỏng và khí nhưng dựa vào Hà Thư và các tượng tin chứa trong các số của thập can và đặc biệt là ngôn ngữ Việt ta tìm thấy 2 loại vật chất nữa là: vật chất loãng hơn khí và đặc hơn chất rắn nghĩa là trong bảng xếp loại từ đậm đặc đến loãng thì 2 loại vật chất này nằm dưới chất rắn và trên chất khí. Nhìn vào Hà Thư ta thấy có 1 cặp số ruột là (5-10) và 4 cặp số vỏ (1-6), (3-8), (2-7), (4-9) Sự tương tác 1 cặp số ruột luôn là (5-10) và 1 cặp số vỏ cho ta 1 dạng thể vật chất ta có bảng phân loại vật chất theo độ đậm đặc như sau Ta thiết lập qui luật sau: Nhìn vào Hà Thư ta thấy ruột khối vật chất được biến tạo bởi 2 số 5 và 10, số 5 được số 10 bao bọc. Độ đậm đặc của khối vật chất quyết định bởi sự tương tác của số (10) và lớp vỏ, sự tương tác này diễn ra theo quy luật; cùng cơ ngẫu hay chẵn lẻ thì không tương tác, khác cơ ngẫu mới phát sinh tương tác, như vậy độ đậm đặc của vật chất được biểu thị bằng số trừ (hiệu số) của số 10 và số lẻ của cặp số vỏ, Ta có: Dựa vào đâu ta nhận ra như thế? Chính do Hà Thư chỉ ra cho chúng ta: _ chất chắc- mật số ‘1’ một , ngày nay chúng ta gọi là chất rắn. _ chất nhũn hay nhão số ‘3’ là chất lỏng. _ chất óp là chất khí hay hơi số ‘2’ , số 2 hai biến âm thành hơi _ chất căng số ‘4’ là dạng vật chất dãn nở hết mức nên không khối lượng có thể xem là 1 năng lượng khối _ chất mẹ hay cả số ‘5-10’ là vật chất siêu đặc chưa có tên, đó là loại vật chất của các lỗ đen trong vũ trụ. Rõ ràng hơn ta thấy: 1. Tượng số 1 trong (5-10) (1-6): Chữ chắc chỉ số 1 ta đã nói rõ rồi, nay củng cố thêm ý nghĩa bởi số một trong số đếm của người Việt; một là biến âm của Mật trong tiếng Việt các từ: Mật, Cô, Canh đều có nghĩa là đặc hay làm cho đặc lại; rõ ràng ý chỉ loại vật chất có độ đậm đặc cao hay chất rắn mà thập can gọi là: chắc 2. Tượng số 3 trong (5-10) (3-8) Số trong thập can 3 là nhũn- nhăn, Hoa ngữ ký âm thành nhung. Tiếng Việt từ nhũn, nhão chỉ vật chất không thể tự định hình, nếu xếp trong bảng phân loại vật chất ngày nay thì loại nhũn, nhão này chính là chất lỏng. 3. Tượng số 2 trong (5-10) (2-7) Tượng số 2 thập can là óp ta đã biết ở các phần trên; óp cũng là loãng, loại vật chất ít đậm đặc, lập luận này được củng cố bởi ý nghĩa số 2 trong tiếng Việt: 2 = nhẹ (nhìn); Hai biến âm thành “hơi”; Hơi là từ đồng nghĩa với khí. Tới đây ta đã xác định được 3 dạng vật chất, nếu chưa quen với Dịch học người đọc có thể cho… đây là sự khiên cưỡng, áp đặt thái quá… nhưng bạn nên nhớ Hà Thư “xuất thế” ít ra cũng hơn 10.000 năm rồi; cả vũ trụ vận động chỉ gói ghém trong chỉ có chục con hay 10 chữ nếu chỉ 1 ý nhỏ thôi trong Hà Thư mà ngày nay chúng ta bắt được hay nhận ra được cũng đồ sộ bằng cả 1 kho sách ngàn trang. Nếu chưa quen, bạn đọc có thể phê phán, chê trách… nhưng không sao cả điều quan trọng là dựa vào Hà Thư ta biết còn 2 loại dạng vật chất nữa ngoài 3 dạng rắn –lỏng - khí thông thường đã biết. 4. Tượng số 9 trong (5-10) (4-9) Một dạng loãng hơn cả chất khí và 1 dạng đậm đặc hơn cả chất rắn, dạng loãng hơn chất khí với các tượng số cấu tạo (5-10) (4-9) được Hà Thư gọi là Căng (số 4 = Quí = Khăng) phản nghĩa với tượng số 3 là Nhũn. Căng là Từ Việt … diễn tả cụ thể là cầm 2 đầu mà kéo ra hết mức. Hết mức nghĩa là không thể hơn được nữa, nếu hơn nữa sẽ phá hủy chính vật đó (rách – đứt) Nhìn vào hàng số (5-10) (4-9) ta thấy 2 cụm số có trị số gần bằng nhau; lực cố kết vật chất và lực bứt phá gằn bằng nhau, cho ta cảm nhận vật chất tồn tại rất mong manh; trực giác chỉ dẫn cho ta: đây là loại vật chất mà nhân đã bị kéo dãn ra tới độ lực cố kết cấu tạo nhân hầu như bị triệt tiêu, nên thập can mới gọi là số 4 là căng. Tạm thời ta đặt tên dạng vật chất này là vật chất không ruột hay không nhân, hoặc 1 từ tương đương là “năng lượng khối” tức 1 dạng đang ở thời trung gian chuyển hoá giữa năng lượng và vật chất, giữa E và M trong công thức của Einsten. 5. Tượng số 0 trong (5-10) (0-5) hay (5-10) (5-10) gợi cho ta thấy đây là dạng vật chất đặc biệt thuần nhận hay ruột không có vỏ, tất cả vật chất dù ít tới đâu đều phải có 2 điều ta tạm gọi là: không gian tồn tại và khối lượng tồn tại, ở dạng vật chất không vỏ này thì khối lượng tồn tại cực lớn dồn nén trong không gian tồn tại cực nhỏ khiến độ đậm đặc đạt mức tuyệt đối nghĩa là không thể nào dồn nén hơn được nữa. Do là thuần nhân nên 1 khối vật chất này tạo ra chung quanh nó 1 sức hút kinh khủng, trong 1 phạm vi nhất định chung quanh nó mọi vật chất đều không thể cưỡng lại lực hút này bị tan ra biến thành năng lượng khiến ngày một thêm đậm đặc hơn cái gọi là trường Năng lượng bao quanh khối vật chất không vỏ đó. Cho đến 1 ngày khi sự tương tác giữa các lực bên trong tổ hợp – vật chất thuần nhân và trường Năng lượng bao quanh đạt đến sự thăng bằng nào đó; sẽ xảy ra hiện tượng tái cấu trúc vật chất, đây chính là 1 phần của tiến trình tạo lập vũ trụ, 1 phần của nhân và 1 phần của lớp năng lượng bao quanh bắt đầu xoắn xuýt vào nhau bắt đầu vũ điệu kiến tạo , các thiên thể mới dần dần hình thành. Thay thế cho các thiên thể đã nổ tung hay bốc hơi trước đó. Tóm lại: Hà Thư dạy cho ta có tới 5 dạng vật chất tồn tại trong vũ trụ: 3 loại thường thấy là dạng rắn, lỏng và khí, 2 dạng đặc biệt tạm đặt tên là: -Vật chất không nhân hay chất “căng”; phải chăng đấy chính là dạng vật chất thứ 4 , dạng plasma mà khoa học ngày nay đang nói đến:. -Vật chất thuần nhân hay không vỏ, phải chăng đây chính là các lỗ đen mà nhà bác học thiên tài Einsten đã nói đến? Còn tên của nó theo Hà Thư là chất Mẹ âm Hoa ngữ là Mậu. Tóm lại 5 dạng vật chất biểu hiện bằng công thức tượng số là: (5-10) (4-9): 9 → chất căng (5-10) (2-7): 2 →chất hơi, (khí) (5-10) (3-8): 8 → chất nhũn, (lỏng) (5-10) (1-6): 1 → chất đặc (rắn) (5-10) (0-5): 5 →chất Mẹ Có thể cho đây là sự tưởng tượng qúa mức không...? tại chúng ta chưa hiểu dịch học nên ngỡ là thứ bói toán lăng nhăng thực ra dịch học cao siêu hơn ta tưởng nhiều lắm thí dụ định luật vật lý mở đầu dịch học: chất trong bay lên thành trời chất đục canh hay cô lại thành đất....mới nghe tưởng như câu nói của đám nhà quê ít học nhưng tìm hiểu thấu đáo ta thấy: trong là nhìn xuyên suốt như không có..., vật chất mà mắt thịt nhìn không thấy tức là dạng vật chất vô hình không khối lượng ngày nay chúng ta gọi là năng lượng tức 1 trong 2 dạng vật chất của vật lý học hiện đại, là E trong công thức lừng danh của Entien , chất trong bay lên thành trời tức ý nói :Trời chỉ là 1 trường năng lượng mà thôi , đây là sự khẳng định rõ ràng dứt khoát hoàn toàn đúng với nền khoa học ngày nay chỉ tại chúng ta qúa coi thường dịch lý nên không biết ; Dịch học đã chỉ ra vật chất có 2 dạng cơ bản : _ vật chất trong . _vật chất đục . ý câu- từ đơn sơ nhưng chỉ định cực kỳ chính xác không thể nghĩ khác được: Chính chúng là 2 dạng năng lượng và vật chất của vật lý hiện đại được biểu diễn là E và C , cách đây cả chục ngàn năm những bậc thánh tác dịch chỉ thua enstien chưa tìm ra phần nối kết 2 dạng vật chất là m² ( m bình phương ) Chất đục kết tụ lại thành đất, đất ở đây là sự kết tụ của dạng vật chất đục-đặc ; một hiện tượng phổ biến của tự nhiên làm thành các tinh cầu trong vũ trụ ; thánh nhân đâu có nói ..chỉ kết thành qủa đất này tức duy nhất đâu ? tại chúng ta hiểu sai chữ ‘đất’ mà thôi , có kẻ kém trí còn cười phương đông xưa đần độn cho là quả đất hình vuông ...đúng là lũ ‘hữu nhỡn vô ngươi’ .
  5. Dịch học họ HÙNG . bài 7 B . Hà Thư và chục con Đã rất nhiều học giả nghiên cứu về HÀ-LẠC nhưng tới nay vẫn dừng ở việc ghi nhận 2 đặc tính của HÀ và LẠC ;. ý nghĩa thực sự của nó vẫn còn là 1 bí ẩn đầy thách đố. -Đặc tính của Hà thư là : số 5 ở nhân hay trung tâm nếu cộng với 1 số sinh thì cho ra số thành. Ta có dãy số : 1 2 3 4 5 (5+1) (5+2) (5+3) (5+4) (5+5) 6 7 8 9 10 Điều này cho thấy chủ nhân của Hà thư dùng cơ số 5 như người khơme hiện nay -Đặc tính của Lạc đồ ghi nhận được là: Lạc đồ là ma phương 15. 2 9 4 tổng tất cả các hàng dọc, ngang, xiên đều là 15 7 5 3 5 1 8 Ngoài những điều này ra Bí ẩn chứa trong 2 đồ hình này là gì ? chưa ai biết. a- Ý nghĩa triết học của HÀ THƯ Dịch học chứa những gì vô cùng thâm sâu và cũng vì đầu óc ta nhỏ bé lắm nên người viết hiểu biết tới đâu xin trình bày tới đó không dám nghĩ tới chữ quán thông hoàn toàn. 1. Cặp số 5/10 Số (5-10) là trung tâm của Hà cũng là trung tâm của vũ trụ, là giao điểm của trục không và thời gian. Tên tượng số 5 là Mẹ người Tàu đọc thành Mậu -Tượng số 5 là mẹ vì: Hà có vòng trong chứa 4 số sinh 1, 2, 3, 4 lấy số mẹ là 5 cộng với 4 số sinh cho ta 4 số thành 6, 7, 8, 9 Ý nghĩa là: Số 5 là trung tâm Hà thư, trung tâm là nhân là lõi, v..v..nhưng nhân cũng nghĩa là người; ý dịch học nói ‘chính con người là trung tâm của vũ trụ.́ Nhân + số sinh = số thành . Số sinh chỉ hoàn cảnh – Khách quan. Nhân là yếu tố chủ quan ; 1 khách + 1 chủ = kết quả là số thành . 1, 2, 3, 4, 5 (5+1) (5+2) (5+3)…. 6 7 8 …. Số 5 là tượng mẹ vì nó là số nền để tạo ra các số thành -Tượng số 10 nghĩa là: kỷ = cả, cả là đứng đầu, hương cả là ông lớn nhất làng, con cả là con đầu, đối với quốc gia cả có nghĩa là vua, là chúa Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều từ cả hay biến âm của “Cả” như: Cổ Tẩu, cổ Thục, Cơ Xương, Cơ Phát v.v… Cả = Kẻ trong tiếng Việt có nghĩa là người Ta, kẻ chợ là người ở chợ, kẻ chiêm là người chiêm v.v… Chữ Kỷ còn nghĩa là chính ta. Tổng hợp các nghĩa: chính ta, đứng đầu, to nhất tất cả đều xuất phát từ vị trí trung tâm Hà Thư Tóm lại: Cặp số (5/10) là 2 tượng số của Dịch học nút thừng chỉ trung tâm, hay giữa trời đất chính là chỉ con người và cộng đồng người. Con người đầu đội trời, chân đạp đất, nhìn vào Hà thư ta thấy ngay trời là cặp số (2/7) và đất là cặp số (1/6) 2. Cặp đối số (1-2) Số 1 và 2 trong thập can hay chục con là : chắc và óp, ký âm Hán tự là giáp và ất Chắc và óp nghĩa là gì thì chỉ người Việt mới hiểu Chắc là được nén chặt ,Óp là nén không chặt. Xét như thế cái khác nhau giữa chắc và óp là mật độ; đậm là chắc và lợt là óp; đặc là chắc loãng là óp. Hệ quả đương nhiên của đặc và loãng là nặng và nhẹ… chắc thì nặng và óp thì nhẹ. Từ ngay điểm này ta đã có thể khẳng định là Việt ngữ được tạo lập trên nền tảng Dịch lý: Thí dụ: - Từ chắc -> đặc -> độc = 1 chiếc = 1 Từ đặc, chiếc là từ thuần Việt - Từ óp → nhẹ → nhị (nhì) loãng → Lưỡng Nhị, nhì, lưỡng = 2 Nhẹ và loãng là từ thuần Việt Vậy chắc và óp có ý nghĩa gì? Chắc và óp chính là tiên đề của nền Minh Triết và khoa học Việt cổ. Nhất viết thủy nhị viết hỏa ; thủy hỏa – nước lửa là 2 dịch tượng được mượn để tượng trưng cho 2 loại vật chất đã cấu tạo nên vũ trụ,1 = chắc là thủy chỉ chất đục nặng , 2=óp là hỏa chỉ chất trong và nhẹ ; ngày nay vật lý hiện đại gọi là năng lượng và vật chất ý nghĩa trong Hà thư rất rõ ràng chỉ tại chúng ta không hiểu mà thôi. Trời và đất là 1 thể chỉ khác nhau ở độ đậm lợt ; một khi mật độ của thứ gọi chung là vật chất bị nén chặt hơn thì thành đất, đặc trưng của đất là có hình thể, có hình thể nên vẽ ra được, bức vẽ ấy gọi là địa đồ hay lục đồ, lạc đồ. Cũng thứ vật chất ấy nhưng mật độ nén kém hơn hay loãng hơn thì tạo thành trời, vì là vật chất cực loãng nên trời có hình thể gì đâu ta chỉ có thể cảm nhận được qua các hiện tượng. Dịch nói là: Tại Thiên thành Tượng, Tại Địa thành Hình vì vậy ta có Hà Thư chứ không thể có Hà Đồ. Cặp tượng số (1-2) còn có ý nghĩa hết sức đặc biệt, đó là đục và trong, kinh Dịch chép: chất trong và nhẹ bay lên thành trời, chất đục nặng lắng xuống thành đất; Đục và Trong là tượng tin gắn liền với âm dương. Chất nhẹ bay lên thành trời như vậy trời chỉ là một trường năng lượng mênh mông còn đất là tập hợp của chất nặng canh hay cô đặc lại,dịch không hề nói trái đất là duy nhất trong vũ trụ, chữ đất chỉ mang tính đại biểu cho nơi mà chất đặc ngưng kết và trong vũ trụ mênh mông có thể có hàng tỷ hàng tỷ tinh cầu như thế. Đục nếu thuyết minh theo ngôn từ ngày nay phải gọi là: Hữu hình ngược lại là vô hình; hữu hình và vô hình là cách gọi khác của âm và dương tiếng Việt Dương nghĩa là phơi bày ra và âm là biến âm của “ém”, “ỉm” nghĩa là che dấu đi; những dòng này cho ta xác quyết; ngay trong Hà Thư đã có âm dương; lưỡng nghi và chúng ta đều biết âm dương là nền tảng của Dịch lý nói chung. Cặp tượng số (1-2) dựa trên Hà đồ còn tạo ra 1 cặp đối rất dân dã, rất phổ cập đó là: Số 1 -> cô đơn, lạnh lẽo Số 2 -> ôm ấp, ấm áp. Cả cô và đơn đều nghĩa là chỉ có 1 chữ đơn biến âm thành đen cho ta 1 sắc trong ngũ sắc; “lạnh lẽo” chỉ phương số (1-6) là phương lạnh, tức hướng cực của quả đất đối lại với phương viêm nhiệt – nóng bức của hướng xích đạo. Cô -> cơ = số lẻ Bõ -> lẻ Ngược lại cặp số (2-7) cho ta chùm thông tin: ôm và ấp đều có nghĩa là 1 đôi nhưng ôm là 1 đôi chiều ngang, ấp là 1 đôi trên và dưới, tức chiều dọc – ấm – áp chỉ ý niệm từ hiện đại là nhiệt và lực. Ấm chỉ nhiệt, áp chỉ lực, lực nén hay đè xuống tức sức ép. Hoa ngữ ngoài chữ nhị chỉ số 2 còn có chữ ơn cũng là số 2, chữ ơn này chính là biến âm của ôn (ôn nhiệt) nghĩa tiếng Việt là ấm. Số (2-7) của phương ấm tức nóng bức, số 7 Hoa ngữ đọc là sách, biến âm của xích là màu đỏ, ngược với màu đen (1 đơn -> đen) 3. Cặp đối số (6-7) Số 6 trong “chục con” là canh Số 7 là Tâng hay tưng, Thập can của người Tàu ký âm thành : Canh và Tân Số 7 hợp với số 2 thành “cõi trên” Tâng -> Tân -> Tôn nghĩa là “đưa lên cao” hay bốc lên vì Dịch nói: chất trong – nhẹ bốc lên thành trời; trong ngôn ngữ Việt có từ kép “nhẹ tênh” hay “nhẹ tâng” bắt nguồn từ đây, nhẹ = nhị = số 2, tâng – tênh = số 7,ở đây ta thấy số 7 phải gánh 2 nghĩa vừa là động từ : bốc lên, vừa là danh từ :trời ý nói trời là nơi chất nhẹ bốc lên mà cấu thành. Ngược với cõi trên (2-7) là cõi dưới được tượng trưng bằng cặp số (1-6); cõi dưới là do chất đục nặng tạo thành Số 1 -> độc, đặc, đục. Số 6 trong chục con hay thập can là Canh, trong hoa ngữ số 6 là Lục, Lục cũng có nghĩa là đất (đồng âm còn có nghĩa là màu xanh) Cặp số (6-7) còn tạo thành nhiều cặp từ có nghĩa lưỡng lập khác: Tâng – Canh ->Tung – Canh: Tung là đường dọc, Canh là sợi dệt ngang Tâng – Canh -> Tung – Cắm: Tung là ném lên, nẩy lên, Cắm là đâm xuống; cặp từ này biểu thị sự vận động nghịch chiều; tung lên ≠ cắm xuống. Xuất phát từ 2 cặp tượng số (1-6) (2-7) người Việt còn tạo ra nhiều từ khác như: - Cặp (2-7) -> hình thành: 2 = nhẹ; 7 tâng = bốc lên; - Chữ bốc cho ra 2 từ -> bấc = nhẹ -> Bức = nóng - Cặp (1-6) hình thành từ ý nghĩa: chất đục (1 = độc) rút xuống thành đất (6 = lục) - Chữ rút biến âm thành rét trùng với số 6 = canh biến âm thành căm như thế cặp tượng số (1-6) thành ra tổ hợp từ “rét căm căm” hay lạnh cóng Rét căm hay lạnh căm trở thành đối lập của bốc, bức hay nóng bức và chúng trở thành 2 phương trong 4 phương thiên hạ. (2-7) trở thành biểu tượng phương Bắc tức phương nóng bức. (1-6) chỉ phương lạnh căm, hay lạnh cóng; ngày nay gọi là phương Nam – ký âm sai của chữ Nom là nhìn, trông là từ đồng nghĩa với chữ canh; canh cũng nghĩa là trông nom (Canh gác, canh chừng – từ thuần Việt) Phương Nam nóng là Phương Nam Dịch lý ngược với phương Nam hiện nay tức phương Nam của người Tàu, người Hán. Trong Tiếng Việt ‘canh’ còn có nghĩa là nước biến âm thành “kênh” là đường dẫn nước. Kênh đi cặp với lạch (6 = lục -> lạch) tạo ra từ kép kênh lạch vận dụng vào y khoa thành ra kinh – lạc. 4. Cặp đối số (3-4) Tượng số 3 trong thập can là Nhâm, Nhâm -> nhũn, nhăn nhung, (mềm như nhung) Số 4 thập can là Quí, Quí dịch từ Việt ngữ chữ báu, người Việt thường dùng thành từ kép Quí báu. Tượng số 4 còn ý nghĩa khác, khi bóc tách tên các vua nhà Thương và Ân Thương thì không có chữ Quí mà thay vào đó là chữ Khang. Kết luận đây là 1 tên gọi khác của tượng số 4 Khang thực ra là Khăng, từ thuần Việt; khăng khăng là không thay đổi chính là tính chất của phương Tây (đinh) Khang -> Khăng -> căng (thẳng) →Cang -> cứng Ta có cặp từ đối: Nhũn ↔ cang Nhũn nhão ↔ căng thẳng Nhũn và căng trong ngôn ngữ Dịch học ngày nay gọi là nhu và cương tức mềm và cứng.,trong nghĩa triết học nhu là sự sống động- linh hoạt phản nghĩa với chết cứng của số 4,sống động là thực đang sống, là hiện thực tồn tại vật chất là thế giới hiện hữu còn số 4 tiếng Việt là bốn biến âm của bóng hay bóng chiếu chỉ là sự phản ánh của hiện thực vào đầu óc con người như vậy nó thuộc thế giới thông tin, chữ bóng nói lên: không có tồn tại vật chất thực và không có tính chủ động mà chỉ thuần là một phản ánh và khi đã tượng hoá thì tồn tại dưới dạng một mảng thông tin. 5. Cặp đối số (8-9) Trong chục con tượng số 8 là bấn, số 9 là định, Hoa ngữ ký âm thành 8 = Bính, 9 = Đinh 3 = Bính -> Biến 4 = Đinh -> Định – Tĩnh Tượng số 8 chỉ những gì thay đổi và số 9 chỉ những gì không đổi. Ngôn ngữ ngày nay là cặp từ phản nghĩa Biến ↔ Hằng. Khái niệm Hằng ở đây nằm trong tính tương đối của thế giới vật chất, tức hằng là so với chung quanh, 2 vật thể cùng chuyển động với vận tốc bằng nhau thì khoảng cách giữa chúng là hằng = không thay đổi nhưng qui chiếu với những điểm mốc khác thì chúng lại là biến, như so với cái cây bên cạnh đường chẳng hạn, trong Dịch học khái niệm hằng không có trong cõi tự nhiên.Hằng chỉ là biến với gia tốc bằng không mà thôi. Cặp số 3-8 trấn phương đông cho ta ý nghĩa : sự sống (số 3) tạo nên cõi trần (số 8) bấn - biến hay cõi tự nhiên tức có sinh có diệt theo quy luật biến hóa của vật lý, cõi trần là cõi chứa sự sống ngược lại với cõi định (số 9) hay bất biến vì không có tồn tại vật chất mà chỉ là nơi lưu giữ các mảng thông tin, nơi ấy là chỗ phi không thời gian, không chịu sự chi phối của các quy luật vật lý nên hằng cửu. Đổi và không đổi tức biến và hằng, hợp với ‘thấy’ và ‘không thấy’ tạo thành 4 tượng tin nền của Dịch học, gọi là nền vì nó xác định bản chất sự vật là âm hay dương. Thấy là Dương ↔ không thấy là Âm Đổi là Dương ↔ không đổi là Âm Đây là Định luật sơ đẳng số 1 của Dịch học. Thí dụ: vận dụng Tượng tin nền ‘đổi’ và ‘không đổi’ vào các lãnh vực khác nhau có: - Sự di chuyển của 1 vật -> động ↔ định vào hình dạng ta có: cứng ↔ mềm. Tư tình thì có thể thay đổi nhưng lý lẽ tự nhiên là bất biến. Tượng tin 3- 8 = Biến chỉ phương Đông chính xác là phương Động hay sống động ngược lại phương Tây = 4-9 là phương chết cứng, 4 = Tư -> Tử; Đông và Tây không chỉ là phương Mặt Trời mọc và lặn mà còn 1 ý nghĩa triết lý rất xâu xa như đã nói ở trên. Biến động còn có nghĩa là nơi Dương trần, hay cõi sống ngược lại với tượng tin 4-9 chỉ cõi chết hay âm phủ triết lý của Dịch là: sống tức hoạt động, hoạt động là đóng ấn của mình trên tiến trình lịch sử, con người cùng với thiên và địa làm nên cuộc đại diễn của vũ trụ, còn chết là về nơi Hằng Cửu (4 = Hằng , 9 = Cửu), tức lìa bỏ thế giới tự nhiên đồng thời bước vào thế giới siêu nhiên, không còn bị ràng buộc bởi các quy luật vật lý – sinh học. Cả dương và trần đều có nghĩa phơi bày ra (cỏi trần); còn âm phủ là che (phủ) giấu (âm – ém) đi Khi chết dân gian hay nói : về Tây thiên cực lạc là xuất phát từ ý niệm này. Về nơi chín suối hay chốn cửu tuyền đều xuất phát từ Dịch học. Trong Hà Thư số 9 chỉ phương Tây trong Hậu thiên bát quái, phương Tây là quẻ đoài tượng vạch chỉ hồ ao hay sông suối. Phương tây là phương tử (4= tư -> tử) xuất phát từ hình ảnh mặt trời lặn hay chìm xuống, khi gắn liền hình ảnh này với số 9 và quẻ đoài tạo thành cụm từ 9 suối- cửu tuyền, người Việt vẫn dùng mà không hề hay biết đó là đã vận dụng Dịch lý. Tóm tắt về ý nghĩa triết học trong Hà Thư: -Trục dọc hay trục tung nói lên quan niệm về vũ trụ hay vũ trụ quan người họ Hùng : trời đất cùng 1 thể gọi là khí, phần đậm đặc rút xuống thành đất, phần nhẹ loãng bay lên thành trời, đây là quan niệm thuần vật chất và lý tính không có sự can thiệp của thần linh hay thượng đế quan niệm này hết sức chuẩn xác cho đến tận ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị cố hữu Từ khi ra đời đến nay ít nhất cũng đã trên chục ngàn năm. -Trục ngang là nhân sinh quan của người Việt cổ. Phương Đông mặt trời mọc, ý chỉ sự sinh ra và sự sống của con người, sống là hoạt động – góp sức cùng trời đất tạo nên chuyển biến của vũ trụ; vì vậy trong tam tài con người là tài nhân ngang hàng ngang công với 2 tài thiên và địa. Khi hết vòng đời thì âm dương tách biệt linh hồn rời khỏi xác thân; xác thân là vật chất trở về với cát bụi, còn linh hồn thì về chốn hằng cửu ở đấy không còn sự sinh diệt, đó là nơi dân gian thường gọi là Tây thiên cực lạc, hay âm phủ, đạo giáo gọi là thượng giới nhiều tôn giáo khác gọi là thiên đàng. Đó là những gì thuộc giới siêu nhiên; nó ra sao thì ...trong chúng ta đâu có ai đã từng chết đâu mà biết, may ra có vài vị là các nhà khai sáng tôn giáo nhờ tâm linh mà thấu đạt hay “ngộ” rồi truyền đạt lại cho người trần mắt thịt chúng ta cảnh thiên đường đó mà thôi. Tóm lại ngay trong Hà Thư từ thời thái cổ người họ Hùng đã thấy thấp thoáng bóng 1 tôn giáo liên kết đời này và đời sau, hạ giới và thượng giới; việc này có tác động rất tích cực tới việc hoàn thiện nhân cách và kiến tạo một xã hội tốt đẹp .
  6. Dịch học họ HÙNG . bài 6 II .Dịch học tượng số hay nút thừng Thời Thái cổ của dân Việt ít ra cũng cách nay hàng chục ngàn năm, nên Dịch học tượng số liệu chỉ còn lưu truyền được 1 số nét hết sức căn cơ và đơn giản. A. Chục con Dịch truyện nói về công dụng của quẻ QUẢI : Thượng cổ kết thằng nhi trị hậu thế thánh nhân dịch chi dữ thư- khế ,bách quan dĩ trị vạn dân dĩ sát cái thủ chi Quải. Thời thượng cổ thắt nút mà cai trị, thánh nhân về sau đã thay bằng chữ viết và khắc vạch. {thư-khế }- Bá quan dùng để cai trị, dân dùng đ̣ể xem xét công việc của mình, ý tưởng này lấy từ quẻ Quải. Quải là biến âm của QUẺ , dịch truyện này giúp xác định từ quẻ trong dịch học đồng nghĩa với CHỮ hay văn tự. Câu trên đã cho chúng ta thông tin về thứ tự trước sau cuả các loại văn tự: - Chữ nút dây. - Chữ khắc vạch . - Chữ viết tức dạng văn tự còn dùng như ngày nay. Chữ nút dây và khắc vạch chính là tượng số và tượng vạch trong dịch học và các chấm đ̣iểm của HÀ và THƯ chính là những ký hiệu thay thế các nút dây thực thể của văn tự kết thằng. Ta có 10 chữ nút số: Trong thượng thưThiên HỒNG PHẠM chép : “ngũ hành : nhất viết thủy, nhị viết hoả, tam viết mộc, tứ viết kim, ngũ viết thổ, thủy viết nhuận hạ,hoả viết viêm thượng, mộc viết khúc trực, kim viết tòng cách, thổ viết giá sắc.....” Đối chiếu với Hà thư ta thấy rõ ràng cổ nhân đã coi chữ nút dây là các số đếm. Tục ngữ Việt có câu : 3 chìm,7 nổi, 9 ḷênh đênh .. ., tưởng chừng như vô nghĩa ; thực ra đây là bài dạy về dịch học mà chỉ là người Việt mới hiểu.: nhìn vào Lac đồ: 2 9 4 -3 chìm chỉ số 3 nằm ở phương tây tức phương Mặt trời lặn đông 7 5 3 tây - 7 nổi chỉ số 7 nằm ở phương đông là phương mặt trời mọc 6 1 8 - 9 lênh đênh chì mặt trời ở thiên đỉnh. Từ khám phá này ta thấy : các ký tự thắt nút chính là các số đếm của người xưa. Thêm 1 bằng chứng nữa : . Xin trích một đoạn trong Lã Thị Xuân Thu của Lã Bất Vi (bản dịch in trong “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” của Nguyễn Vũ Tuấn Anh xuất bản năm 2002) “- Mạnh Xuân Kỷ – Thiên thứ nhất nói rằng: Tháng đầu xuân: mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, mặt trời tháng này ở Giáp Ất. Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thái Cao Thị, dựa vào Mộc Đức mà xưng vương, vị thần đối ứng với tháng này là Mộc Thần Câu Mang, động vật tiêu biểu tháng này là loài có vảy, thanh âm tiêu biểu là âm Gốc (1 trong ngũ âm), âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (1 trong lục luật), con số đối ứng với tháng này là số 8, số của Thiếu Dương, vị đối ứng với tháng này là vị chua, mùi là mùi tanh. - Mạnh Hạ Kỷ – Thiên thứ nhất nói rằng: Tháng đầu mùa hạ: Mặt trời ở vị trí sao Tất. Buổi chiều hôm, sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh, vị đế vương tương ứng với tháng này là Viêm Đế, dựa vào Hỏa Đức mà xưng vương, vị thần đối ứng tháng này là Hỏa Thần Chúc Dung, động vật tiêu biểu tháng này là loài có lông vũ, thanh âm tháng này là âm Chủy, âm luật tháng này phù hợp với Trọng Lữ, con số đối ứng với tháng này là số 7, đặc điểm của tháng này là Lễ Tiết, sự việc tháng này là Xem. - Mạnh Thu Kỷ – Thiên thứ nhất nói rằng: Tháng đầu mùa thu: Mặt trời ở vị trí sao Dực. Buổi chiều hôm, sao Đẩu ở phương chính Nam, mặt trời tháng này ở phương Canh Tân, vị đế vương tương ứng với tháng này là Thiếu Hạo, lấy Đức Kim mà xưng vương thiên hạ, vị thần đối ứng tháng này là Kim Thần Nhục Thu, tên là Cai, động vật tiêu biểu tháng này là loài có lông mao, thanh âm tháng này lấy âm Thương làm tiêu biểu, âm luật hợp với Di Tắc, con số đối ứng với tháng này là số 9 số của Thiếu Âm, vị tương ứng là vị cay, mùi tương ứng là mùi tanh, tế tự tháng này ở Cửa. - Mạnh Đông Kỷ – Thiên thứ nhất nói rằng: Tháng đầu mùa đông: Mặt trời ở vị trí sao Vĩ, buổi chiều hôm sao Ngụy ở phương chính Nam, mặt trời tháng này ở phương Nhâm Quí, vị đế vương tháng này là Chuyên Húc (Xuyên Húc), lấy Đức Thủy mà xưng vương thiên hạ, vị thần đối ứng tháng này là Huyền Minh Thủy Thần, động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (loài rùa), thanh âm tháng này là Vũ, thanh âm tháng này hợp với Ứng Chương, con số của tháng này là số 6, vị tương ứng là vị mặn, mùi tương ứng là mùi mục, tháng này tế tự trong Cửa. Lúc tế tự trước phải dâng thần. Tháng này nước bắt đầu đóng băng, bắt đầu đông giá, gà rừng xuống nước biến thành con sò, cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng bắc, ngồi xe đen, trên xe có cờ đen, ngựa kéo xe là ngựa đen, trên xe có cờ đen, đeo ngọc đen, ăn kê nếp và thịt lợn, đồ tế khí to và chúm miệng.” Qua phần trích ở trên, ta tìm được thông tin về 4 vị vua Thái Cổ của Trung Hoa: 1. Thái Cao – Mộc Đức – mùa xuân số 8, phương Đông – (màu xanh) 2. Viêm Đế – Hoả Đức – mùa hạ – phương Nam (ngày nay tức phương của dịch lý) số 7 – (màu đỏ) 3. Thiếu Hạo – đức Kim – mùa thu – phương Tây – số 9 – (màu trắng) 4. Xuyên Húc – Thủy Đức – mùa đông – phương Bắc ( tương tự như phương nam trên) – số 6 – màu đen. Đây là bảng kê khá ầy đủ của sự vận dụng ngũ hành. Các số 6 – 7 – 8 – 9 là số chỉ bốn hướng chính của Hà Thư (Đồ); các đức là đức của Ngũ Hành, các thần cũng là thần của Ngũ Hành. Ở phần trích trong Lã Thị Xuân Thu ở trên không thấy nói đến Cửu Thiên, nhưng xem xét thấy rất tương hợp vì tất cả đều là tượng tin của Dịch Lý nên có sự nhất quán. Tới đây ta có thể kết luận :các chữ nút dây chính là các số đếm Chục con là 10 con số, cũng là 10 con chữ khởi nguyên của văn minh, Hán văn ký âm thành “thập can” – “chục con” khi xếp thành 2 đồ hình “Hà” và “Lạc” thì trở thành 10 tượng số; và Hà, Lạc chính là Thế giới Quan của người họ Hùng. 2 đồ hình Hà và Lạc chính là 2 quyển sách viết bằng chữ nút dây và các đồ hình bát quái là những sách viết bằng chữ khắc vạch. Thực tế cho thấy các dấu hiệu âm thanh thường có trước các dấu hiệu hình an̉h như vậy các ký tự nút dây bắt buộc phải có tên gọi …nhưng tới nay vẫn không thấy có thông tin gì về điều này. Khi liên kết Thập can và các số đếm của người Hoa ta thấy có sự trùng khớp giữa can Giáp và chữ nhất…cả 2 chữ đồng âm này đều nghĩa là đứng đầu …, điều này gợi ra là THẬP CAN cũng là 10 con số .ta lập thành bảng đối chiếu : Để tiện lợi ta thay thập can bằng 10 chữ số hiện nay. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Khang. Đây là 1 thứ tự sai , ta có thể dễ dàng nhận thấy khi vận dụng sự liên kết này ̣để giải mã đồ hình HÀ THƯ, thứ tự đúng là: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Giáp Ất nhâm khang mậu canh tân bính đinh kỷ . Âm Việt ngữ là: Chắc óp nhũn căng mẹ canh tưng bấn đinh cả Căn cứ để sắp xếp thập can trong dịch học họ Hùng là các định luật của dịch học : - Hỏa viêm thượng nghĩa là Lửa thì bốc lên trên. - Thủy nhuận hạ : nước thì thấm xuống dưới . - Cương nhu tương ma sinh Động tịnh nghĩa là cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh . Ta có đồ hình . Đối chiếu với Hà thư Dựa vào sự tương ứng vị trí ta xác định tên của thập can . Thập can hay chục con nút số của dịch học họ Hùng : Thập can không mang 1 ý nghĩa nào trong Hoa ngữ ngoài việc là tên gọi của các Can , trái lại trong tiếng Việt thì mỗi can đều mang 1 ý nghĩa xâu sắc rất cơ bản trong dịch học. Thực ra “thập can” cũng chỉ là “chục con” của tiếng Việt mà thôi. Con ở đây là con số hay con chữ Tượng số là con số mang thông tin dịch lý có 1 ý nghĩa rõ ràng... xét theo tiêu chí này thì “thập can” không hề là tượng số của Dịch học. Ngược lại với “chục con” thì hoàn toàn khác; các tượng số đều có nghĩa rõ rệt, chắc chắn trong 2 đồ hình Hà và Lạc, đó chính là nhân sinh quan, vũ trụ quan của người họ HÙNG . Thượng thư thiên cố mệnh là sách sớm nhất nói đến HÀ THƯ:... “sau khi VĂN vương chết ở chái nhà phía đông có trưng bày HÀ THƯ....” Theo cổ thư trung hoa thì những đế vương khai sáng 1 triều đại Trung hoa đều được trời ban HÀ-LẠC...từ Bào hy , Thần nông ,Hoàng đế đến....nghiêu, thuấn, vũ ... có lẽ người xưa coi đây như là việc tấn phong của trời cho các Thiên tử chăng ...? Kỳ bí là không ai biết mặt mũi HÀ LẠC ra sao, mãi tới đời Tống Chu hy mới công bố 2 đồ hình này....mà không thấy có 1dòng chữ nào nói đến gốc gác. Nhưng với người Việt thì lại khác , câu ‘tam khoanh tứ đốm’, nếu hiểu theo phép đảo vị là ‘tam đốm tứ khoanh’ nhìn vào Hà thư ta thấy : -Tam khoanh ; khoanh nghĩa là vòng tròn , khoanh biến âm thành : - khuyên : vòng đeo tai . - Khoẻn : nhẫn đeo tay ; cả 2 là hình ảnh Của chấm trắng . O dùng cho số chẵn trong thập can . - Tứ đốm ; người Việt thường dùng từ kép ‘đốm đen’ , như vậy đốm ở đây chỉ chấm đen ● dùng cho số lẻ trong thập can . Điều trên chứng tỏ Thập can và Hà Lạc không xa lạ gì với dân gian Việt nam .Nhưng dịch học họ Hùng không phân biệt khoanh và đốm vì những nút của dịch học họ Hùng là những nút dây thực sự , là những dấu hiệu thực thể nguyên khởi không phải là những ký hiệu mãi lâu sau mới vẽ ra . Hà thư Lạc đồ Dịch học họ Hùng có Hà Thư chứ không có Hà Đồ, tiền nhân người Việt đã chỉ dẫn... nói Hà Đồ tức là “ Hồ Đồ”, Hồ Đồ là không biết nhìn nhận sự việc 1 cách chín chắn, cẩn thận vì Hà còn nghĩa trong Hoa ngữ là trời, đối với Lục là đất; Dịch có nguyên lý ‘Tại Thiên thành Tượng, Tại Địa thành Hình’; tượng thì làm sao vẽ ra được mà có đồ, tượng chỉ có thể mô tả bằng thư (thư nghĩa là cuốn sách, cũng nghĩa chữ) vậy thì phải gọi là Hà Thư cận nghĩa với Thiên thư còn Lạc biến âm của Lục nghĩa là đất nên đi với Đồ, từ hiện đại gọi là địa đồ. Trong ngôn ngữ Việt Nam có một cấu trúc hết sức độc đáo, người viết suy nghĩ mãi cũng chưa biết được tại sao lại như thế? Đó là loại cấu trúc câu tạm đặt là “đào vị” ; đặc biệt loại hình này không phải là hiếm hoi mà trái lại đầy dẫy trong ca dao, tục ngữ... Thí dụ: - Ăn hang ở lỗ chính xác phải viết lại là ở hang ăn lỗ hay ăn lỗ ở hang . - Cao chạy - xa bay phải viết lại là: Cao bay - Xa chạy mới có ý nghĩa. Tương tự như vậy còn nhiều lắm... như: nệm ấm- chăn êm...v.v... Phải chăng Hà Đồ, Lạc Thư cũng nằm trong “loại hình” này...? vì đây là “đặc sản” của người Việt nên hàng ngàn năm nay người Tàu vẫn lầm ... còn chúng ta trong Dịch học Họ Hùng thì xác định là : chỉ có Hà Thư và Lạc Đồ chứ không thể khác được. Trong nền văn hóa người Tàu nói chung và “Hán Dịch” nói riêng thì Hà và Thư còn lắm điều kỳ bí khác. Trong Chu Dịch có 2 đoạn Khổng Tử nói đến Hà, Thư 1. Khi viết về Dịch sử Khổng Tử hé lộ: người xưa thắt nút mà cai trị, ngày nay (thời Khổng Tử) thay bằng Thư Khế 2. Đức Khổng Tử nói : Hà xuất Đồ (?) Lạc xuất Thư (?) Thánh nhân tắc chi. Như vậy rõ ràng: nút thắt là một loại chữ đúng như ta gọi “chục con” hay thập can là “tượng số”, các nhà khoa học ngày nay gọi nó là loại chữ “Nút thừng” hay “Kết thằng” ; Thập can hay chục con chính là chữ “kết thằng” mà Khổng Tử nói tới, khi bàn về Hà, Lạc đồng thời ta cũng chứng minh cho sự khẳng định trên. Chữ nút thừng là các nút dây thực sự, một loại văn tự thời Thái cổ, thời mà trong con người chưa có ý niệm về thư khế hay văn tự. Hà và Lạc được tạo ra bằng thứ chữ “thực thể” này nhưng đã mất tích vạn năm, mãi tới thời nhà Tống mới tái xuất dưới dạng hình vẽ tức ký tự không còn là nút dây thực sự nữa. Liên quan tới văn tự, chữ viết có nhiều từ thuần Việt, bị biến dạng đến độ ngay người Việt cũng coi nó là ngoại nhập. Thí dụ: từ chữ biến âm của “chứa, trữ”, ký hiệu hay dấu hiệu chứa thông tin bên trong được gọi là “chữ”, người Tàu ký âm thành ra “tự” chỉ còn phần âm rơi mất phần nghĩa. Tương tự: chữ văn là biến âm từ gốc “vằn” trong tiếng việt, vằn vện là sự nổi rõ trông thấy “thành vệt ”, cổ thư Trung Hoa cho con cọp hay hổ là loài “văn minh” vì trên da nó đã có vằn tự nhiên, rõ ràng “vằn” ở đây đồng nghĩa với “văn”. Tóm lại cả “văn” và “tự” đều có gốc Việt ngữ, chúng ta sẽ có dịp trở lại đề tài này khi giải mã bức tranh Đông Hồ: “Lão oa độc giảng” (oa là con cóc, cũng có nghĩa là chứa trữ) để phá kỳ án: chữ “khoa đầu” hay loại chữ hình con “nòng nọc”. Căn cứ nguyên văn lời Đức Khổng Tử nói về Hà, Thư... làm gì có chữ Hoàng hay Mạnh nào? Vậy mà ngàn năm qua các bậc Hán Nho sừng sỏ cứ tự nhiên xác quyết... Hà đồ xuất ở Hoàng hà hay Mạnh Hà; Lạc Thư xuất hiện ở Lạc Thủy... cả 3 con sông nằm trong lãnh thổ Trung quốc hiện nay, ...chỉ với việc... Hà đồ là các khoáy (soáy) trên lưng con Long Mã, Lạc Thư là các điểm trên lưng con Thần Quy cũng đủ nói lên... sông Hoàng Hà, Mạnh Hà hay Lạc Thủy... Tất cả chỉ là tưởng tượng hoang đường ... Chỉ duy có điều rất lạ là : Hà - Lạc được nói đến trễ nhất cũng ở Thời Chiến Quốc vậy mà cả nước Trung Hoa không ai biết mặt mũi nó ra sao... mãi tới thời Tống tức hơn 1 ngàn năm sau mới được trình làng và từ đó trở đi 2 đồ hình này trở thành 1 phần của Dịch học thông hành ngày nay .
  7. Dịch học họ HÙNG . bài 5 4 . Thập nhị địa chi của người VIỆT. Trước hết xin nói ngay sự kiến giải ý nghĩa 12 địa chi của trong bài này không phản bác những gì đã được nêu lên từ trước vì dịch lý là vô cùng vô tận, mỗi khía cạnh nhìn thấy được từ một người đều là sự bổ sung vào những gì đã có để dịch học ngày càng đầy đủ phong phú hơn. 12 con giáp là 12 tính từ hay trạng từ nói lên tính chất chứa trong 4 từ gốc chỉ định bởi 4quẻ : Kiền-Khôn-Ly-Khảm. Kiền chỉ những gì to lớn. Khôn chỉ những gì nhỏ bé khi dùng như một sự đối ngịch với Kiền. Ly chỉ sự sáng suốt của lý trí, Khảm chỉ tình thân giữa người với người. 12 con giáp chia thành 4 cụm : - Kiền---: Tỵ, ngọ, mùi- xoay quanh sự cao- lớn- nhiều - Khôn –---;hợi ,tý,sửu- chỉ những gì nhỏ- thấp- ít - Khảm –--: thân,dậu,tuất chỉ sự thân ái- gần gũi giữa con người với nhau - Ly----: dần , mão, thìn chỉ sự sáng suốt -thấu hiểu vận động của tự nhiên. Ta có 4 cụm từ triển khai ý nghĩa 4 mặt của đồ hình hiện nay gọi là Tiên thiên bát quái. -1__ Cao –lớn- nhiều. TỴ: Người miền trung VN gọi cái tô là tộ cả 2 đều biến âm từ chữ to, dân gian còn hay nói bự tổ cha hay to tổ chảng, ta thấy tỵ cũng chỉ là 1 trong các biến âm tạo từ gốc ở chữ to mà thôi. NGỌ: Biến âm từ chữ nghệ nghĩa là đỉnh cao, từ nghệ ta thường dùng trong từ kép như nghệ thuật, điệu nghệ .v..v. MÙI : Từ ‘mùi’ chỉ là đã đến cực điểm như trong nghĩa của từ kép : Chín mùi , tình thế đã chín mùi....nghĩa là đến lúc không thể như trước được nữa buộc phải biến cách thay đổi đi thôi. _ 2 _ Nhỏ- thấp- ít. HỢI : là biến âm của hơi , ta thường dùng từ điệp hơi hơi để chỉ 1 lượng số còn ít như nói: hơi hơi đau tức là chỉ đau 1 chút thôi và phản nghĩa của nó là sâu đậm. Hơi còn biến âm thành hời như trong hời hợt nghĩa là chỉ một chút bên ngoài . TÝ : Tý chút hay tý ty chỉ số lượng rất nhỏ,âm Tý là điển hình thuần Việt ngữ không biến âm .Ty trong hoa ngữ trở thành thấp cũng là tính chất của quẻ Khôn. SỬU : sửu biến âm từ xíu , tý xíu hay xíu xiu cũng nghĩa là rất ít . _3 _ thân- cận . THÂN : Chữ thân được ghép với nhiều từ để nói lên sự gần gũi do mối dây tình cảm như thân thiết, thân mật, thân yêu, .v.v., DẬU : là biến âm của từ Dịu của tiếng Việt thuần túy như ta thường nói : dịu dàng , dịu ngọt , hiền dịu .v.v. hoặc cũng có thể là biến âm của dụ giỗ , dỗ dành ....,tất cả chỉ sự biểu lộ một tình cảm dễ thương, dễ mến . TUẤT : Tuất có gốc từ chữ Tiếp nghĩa là liền kề như trong các từ tiếp giáp , tiếp cận ý noí có sự khăng khít như dính chặt vào nhau vậy. _ 4 _ sáng suốt-hiểu biết. DẦN : Dần là biến âm của chữ rành của Việt ngữ , rành rọt , rành rẽ, rành biến thành dành rồi thành dần , trong phát âm của người Tàu không có âm R và Đ đôi khi họ ký âm tiếng Việt khác khá xa nhưng nếu nắm chắc ngữ nghĩa ta có thể nhận ra như từ rung Việt ngữ đồng nghĩa với động có khi dùng cả 2 thành ra: rung động, rung biến âm thành lung như rung rinh biến thành lung linh , người Tàu ký âm chữ rung thành ra lung vì họ không có âm R, từ lung Hán việt đọc thành Long là con rồng , trong dịch học phương Đông là phương động tức rung viết thành lung là con rồng và được biểu thị bằng quẻ THÌN là từ đồng nghĩa với LONG. MẸO : Mẹo trong tiếng Việt chỉ cách sử lý một vấn đề nào đó đạt hiệu qủa, mẹo còn có nghĩa là phương pháp- cách thức, chữ mẹo ở đây đồng nghĩa với mưu trí mà ta có khi dùng song đôi thành ra: mưu mẹo, nói chung nó chỉ việc con người dùng trí óc mình giải quyết 1 vấn đề nào đó trong cuộc sống. THÌN : chữ Thìn này là chữ ký âm của chữ Thần trong từ kép Thần thông nghỉa là thấu suốt mọi vấn đề, nó cũng chính là chữ Thần trong Thần thánh, không phải là từ ‘độc quyền’ của Hoa ngữ mà Thần được dùng chung trong cả Việt và Hoa ngữ. +++++++++++++++++++ 12 con giáp là 12 là tính chất hay tình trạng ở cõi nhân sinh ta có thể tóm gọn trong 4 từ : TO-NHỎ-LÝ-TÌNH: To là tinh thần là ý chí, nhỏ là thân xác là của cải vật chất, lý chỉ ra mối tương quan giữa con người và tự nhiên , tình là sự ràng buộc con người với nhau . Đặc biệt tới đây ta khẳng định : THẬP NHỊ ĐỊA CHI hay 12 PHẦN ĐẤT là sản phẩm của trí tuệ VIỆT vì một lẽ đơn giản: tên gọi của cả 12 chi đều là từ VIỆT được ký âm bằng Hán tự . Vì là ký âm nên bản thân 12 địa chi của người Tàu chẳng mang một ý nghĩa nào, không chỉ ra được một điều gì để đến độ phải vay mượn gán ghép vào đấy 12 con vật có lẽ cũng chỉ để cho dễ nhớ....mà thôi. Ngược lại khi truy nguyên âm gốc trong Việt ngữ ta thấy ngay 12 địa chi là một phần của Dịch học , 12 chi chia thành 4 cụm triển khai ý nghĩa thâm sâu tàng chứa trong 4 qủe : CÀN –KHÔN- LY – KHẢM, tức là tứ chánh phương của Tiên thiên bát quái, nó bao quát cả 1 cõi nhân sinh sống động theo quan điểm dịch học trong đó nêu bật 3 mối tương quan đã hình thành đời sống của con người , 3 mối tương quan mà con người phải vượt trên chính mình để làm chủ, đó là mối tương quan nội thân giữa tinh thần và thể xác hay rõ hơn là giữa ý chí và dục vọng biểu hiện bằng 2 quẻ Càn- khôn trong đó caí nhỏ bé luôn phải tùng phục cái cao lớn , khôn phải luôn nghe theo càn, mối tương quan giữa con người và thế giới tự nhiên mà con người phải làm chủ thông qua con đường Khoa học và kỹ thuật được dịch học tượng trưng bằng quẻ ly hay lửa , và sau hết là mối tương quan giữa người và người được chỉ định bởi qủe Khảm . Nơi qủe Khảm Dịch học luôn nhìn vấn đề dưới 2 góc cạnh : tình cảm và sự tiến hóa , về tiến hoá xã hội thì chính bản thân dịch học đã là khoa học của sự tiến hóa ấy, mấu chốt với chúng ta là nghệ thuật vận dụng, đúng hay sai đồng nghĩa với thành công hay thất bại mà muốn vận dụng được thì trước hết phải học tập và nghiên cứu để hiểu biết dịch lý..., biết là khó lắm .....nên càng phải nỗ lực hơn nữa. Khía cạnh khác của mối tương quan người-người là tình cảm , làm sao cho lòng nhân ái mỗi ngày mỗi đầy hơn ...; đến cùng tột là không còn phân biệt ta và người nữa,lúc ấy cửa thiên đường sẽ mở toang ...và hạnh phúc đến với mọi người, muốn được như thế dịch học dạy ta ‘dĩ hư thụ nhân’ trước hết phải vất cái tôi đi để lòng mình trống không ....quả. thực việc này khó ....khó vô cùng; người trần khó mà đạt đến nên thánh nhân đã mở cho chúng ta 2 con đường : tương sinh và tương khắc, với lòng mình phải quyết tâm theo vòng khắc còn đối nhân trong thực tế cuộc sống chỉ cần theo vòng sinh cũng là đủ xứng với chữ người . Sinh – khắc là gì ta sẽ tiếp tục bàn đến trong phần dịch học tượng vạch. Một điều khiến người viết đang phân vân suy nghĩ nhiều ...: có thể thứ tự 12 chi đất chúng ta đang dùng : Tý,sửu,dần, mẹo,thìn,tỵ, ngọ,mùi,thân,dậu,tuất,hợi là đọc ngược vì theo dịch học quẻ Khảm chỉ tình cảm hay sự thương yêu nằm ở phương đông, thương hay thanh cũng là màu xanh chỉ phương đông, ngược lại quẻ Ly chỉ lý lẽ nằm ở hướng tây ,mặt trời đi từ đông qua tây như vậy 3 chi chỉ tình thân: Tuất ,Dậu,Thân phải đi trước Thìn, mẹo,Dần là 3 chi chỉ lý lẽ chiếm hướng tây mới hợp lý như vậy thứ tự đúng phải là:Tý,Hợi,Tuất,Dậu,Thân,Mùi,Ngọ,Tỵ,Thìn,Mẹo,Dần,Sử u. Nếu đúng như vậy thì hậu quả sẽ khôn lường vì năm âm lịch chỉ định bởi can chi , 1can đi với 1 chi thành tên 1 năm , 60 năm hết 1 vòng lại quay lại ban đầu nay nếu đảo lộn tất cả 12 địa chi thì lịch sử Trung Hoa và Đại Việt sẽ ra sao?. Dù ra sao đi nữa thì sự hợp lý vẫn là điều phải tôn trọng vì đấy là khoa học; chúng ta còn phải suy nghĩ nhiều lắm mới có thể khẳng định được riêng người viết bài này cứ băn khoăn mãi với câu hỏi ... tại sao người ta lại cố ý đảo lộn, xé nát dịch học ra , phá cho tan nát như thế để làm gì ? phải chăng vì dịch học là cái nền của ĐIẠ LÝ-PHONG THỦY mà Địa lý- Phong thủy thì liên quan tới vận mệnh của cả quốc gia- dân tộc ..(.nếu ta tin như thế), trong dân gian vẫn nghe râm ran chuyện người Tàu tìm cách trấn yểm hoặc phá long mạch của nước Việt, phải chăng việc cố tình hủy hoại dịch học chính tông cũng là 1 phần của cái mưu ma chước quỷ ấy... ta lại nhớ đến điều tiền nhân chỉ bảo ...nỏ thần trấn quốc đã bị tráo mất đem về phương bắc (phương nam theo dịch lý) cái còn lại là đồ giả ..., vì đặt niềm tin vào món đồ giả ấy mà An Dương vương mất nước..., ý nghĩa thâm trầm sâu sắc vô cùng ...khiến ta càng phải nghĩ ngợi nhiều hơn nữa.
  8. Dịch học họ HÙNG . bài 1. PHẦN I DỊCH HỌC TỔNG QUÁT I . Dẫn nhập . 1 . Dịch học họ HÙNG- Đôi lời nói trước: Dịch lý nghĩa là: Lẽ biến đổi, do vậy Dịch lý bao trùm vũ trụ, vì trong trời đất, không có gì là không thay đổi, khác nhau chỉ ở tốc độ dời đổi mà thôi, nhanh thì vài phần tỷ của giây, chậm thì hàng tỷ năm. Dịch học là sự nhìn nhận tiếp cận Dịch lý thông qua hệ thống ký hiệu như ngôn ngữ văn tự đồ hình .v.v..; như vậy Dịch lý chỉ có một nhưng có thể có nhiều nền dịch học ; cho tới nay, ít ra cũng có 3 nền Dịch học khác nhau đã được biết tới, đó là Liên Sơn Dịch, Quy Tàng Dịch và Chu Dịch. Theo Cổ Thư Trung Hoa thì Liên Sơn Dịch là Dịch học nhà Hạ, Quy Tàng Dịch là Dịch học nhà Thương và Chu Dịch là Dịch học của nhà Chu. Dịch Liên Sơn và Quy Tàng nay đã thất truyền, chỉ còn Chu Dịch trở thành một trong Ngũ Kinh; linh hồn của văn minh Trung Hoa thường gọi là Kinh Dịch. Trung Hoa và Việt Nam cổ là 2 Quốc gia theo chế độ Sĩ trị nghĩa là ai muốn làm quan thì phải đi học, học hàm Tiến Sĩ hay Ông Nghè là điều kiện để kẻ Sĩ được bổ làm Quan; Ngũ Kinh là sách buộc phải “làu thông” của Sĩ tử. Nói như thế để ta thấy sự quan trọng của Kinh Dịch đối với vận nước hay sự hưng thịnh, suy vong của dân tộc Trung Hoa như thế nào. Kinh Dịch chưa bao giờ và không bao giờ là sách bói toán, bàn chuyện quỉ thần cả; sỡ dĩ có việc phân định này vì trình độ văn minh của kẻ chiếm lĩnh kinh Dịch và nội dung hàm chứa trong Kinh Dịch cách nhau quá xa, không thể hiểu nổi nên cho là chuyện quỉ thần… Cũng như một chàng chăn ngựa lang thang trên thảo nguyên vô tình nhặt được cuốn sách viết về thuyết tương đối của Einsten thì đối với bản thân anh ta và đoàn trại chăn nuôi của anh ta: cuốn sách trên cũng chỉ là sách bói toán quỉ thần mà thôi vì nó ghi toàn những cái “không hiểu nổi…” Để đi vào phần chính của sách xin có đôi lời nói trước tránh những phiền toái không đáng có. 1. Không tranh dành với ai. Dịch Lý có 1 nhưng Dịch học thì có nhiều, tuỳ phương cách và vị trí tiếp cận nên khi gọi là Dịch học họ Hùng không mang nghĩa xác định Kinh Dịch là của Việt Nam; đã có Liên Sơn Dịch, Quy Tàng Dịch tại sao lại không thể có Dịch họ Hùng ? . 2. Sẵn sàng tranh luận. Khi 1 ý tưởng gọi là mới được đưa ra chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, dựa trên các luận cứ khoa học để tranh luận sẽ hiển lộ chân lý đó là điều đáng mong đợi nhưng không nên sa vào các cuộc tranh cãi không bờ bến gì cả, vì tranh cãi như thế chỉ mất thì giờ vô ích, không thể đạt được sự nhất trí, ví dụ … Khổng Tử than: “… Hà không xuất đồ…, Lạc không xuất Thư…”; căn cứ vào chỗ nào để khẳng quyết… Hà là Sông Hoàng Hà hay Mạnh Hà ; Lạc là Lạc Thuỷ … trên đ̣ất Trung quốc , gỉa dụ ngay giờ ta nói Hà chỉ Hồng hà hay sông Hồng và Lạc là sông Lô ở Việt nam thì sao ?... Nếu tranh cãi với nhau về điều này thì làm sao có thể thống nhất ? Dựa vào đâu mà kết luận sai hay đúng . Dịch học là sự nhìn nhận hay nhãn quan về thế giới và cuộc đời. Dịch học họ Hùng là ý thức hệ của người họ Hùng, nó định hướng tư tưởng người Việt từ ngàn xưa; biểu tượng Dịch lý hay Dịch tượng đã trở thành ngôn ngữ của con cháu nhà Hùng; mọi sự hiểu biết đều là hiểu biết dưới ánh sáng của Dịch lý... Dưới gầm trời này không có gì nằm ngoài Dịch lý vì Dịch là biến động mà giới tự nhiên có gì không biến động? Sự việc ngôn ngữ Việt được cấu thành dựa trên Dịch lý đủ xác quyết câu “Dịch học họ Hùng” không cần bàn thêm. Từ đây cũng thấy 1 việc đơn giản: Muốn học hay tìm hiểu về Dịch học Họ Hùng thì phải thông thạo ngôn ngữ Việt, Dịch học không thể Dịch sang ngôn ngữ khác được, ngay với Hán văn , thứ ngôn ngữ thân cận nhất với Việt ngữ, ăn chung 1 bàn nằm chung 1 chiếu cả ngàn năm rồi vẫn không thể chuyển tải trọn vẹn Dịch lý được, chính vì thế mới gây nên “bát quái trận đồ”… chỉ có vào mà không có lối ra cho những ai muốn học Dịch. Cũng 1 Kinh Dịch thôi mà hàng ngàn học giả viết về nó, bàn về nó… đặc biệt càng viết, càng bàn càng không hiểu. Mỗi khi có thêm 1 tác phẩm viết về Dịch thì xem ra ...lại thêm 1 phần rối rắm, thử hỏi từ cổ chí kim nào đã có ai dám vỗ ngực xưng tên nói mình quán thông Dịch lý ? Ai cũng phảng phất thấy trong Dịch học tàng chứa cái gì đó rất là cao siêu, tinh diệu… nhưng cụ thể cao siêu tinh diệu ở chỗ nào, nguyên lý vận động của các dịch tử ( phần tử dịch học là gì )? … thì chưa thấy ai chỉ ra …người ta dừng ở mức áp dụng những công thức sẵn có trong dịch học…không 1 lời giải thích . Tất cả chỉ tại vì: Hán Văn không thể chuyển tải được trọn nghĩa Dịch học, nên học Dịch bằng Hán Văn thì dù có tốn công sức tới đâu cũng chỉ là gãi ngoài da mà thôi. Nội dung cuốn sách này sẽ minh chứng điều đó. Dịch học Họ Hùng có nhiều điểm rất khác với Chu Dịch, những chuẩn mốc dùng xác định chính là từ ngữ và tục ngữ Việt Nam, dân tộc hậu duệ chính dòng họ Hùng. Dịch học được khởi phát bởi Vua Bào Hy, có nghĩa là Dịch đã có từ thời Thái cổ, thời của truyền thuyết... vậy mà lại rất “hiện đại”, ngày nay khi tìm hiểu, nghiên cứu vẫn không đủ từ để thực thấu đáo, tỏ tường, như thế ta phải thống nhất về ý nghĩa để tạo 1 số từ mới: 1. Dịch Tượng Trong Hoa ngữ chữ tượng này chính là con voi; được mượn để chỉ sự tượng trưng thường được ghép với nhiều chữ tạo thành các từ kép như: biểu tượng, ngẫu tượng, hiện tượng, hình tượng, tượng hình (chữ)... Dịch Tượng là những dấu hiệu hình ảnh được mượn để mang thông tin chứa 1 ý nghĩa nào đó, chính nhờ những tượng tin mà con người có thể hiểu , truyền dẫn và lưu trữ thông tin về dịch học .. Ngày nay trong Hán ngữ người ta dùng từ: mã tin là từ tương đương với tượng tin trong Dịch học Họ Hùng nhưng ta thấy ngay sự khác biệt; tượng là tượng trưng, tức mượn một vật một việc chỉ 1 số ý nhất định nào đó, khiến trí khôn con người có thể hiểu được và truyền thụ được cho nhau; còn mã thì ...đành “không biết”.... 2. Tượng số Những con số được phân định gánh một thông tin trong trường hợp nhất định, chuyên biệt nào đó từ tương đương trong Hoa ngữ là Mã số 3. Tượng vạch Hệ thống các dấu hiệu, cấu tạo bằng các vạch, theo qui ước mang những thông tin nhất định được mọi người chấp nhận từ tương đương trong Hoa ngữ là Mã vạch Những chữ “tượng” được thay bằng “mã” trong Hán ngữ ... là một phần trong kỳ án lịch sử Hán – Hoa, sự việc được khẳng định trong cuốn “Sử thuyết Họ Hùng” trong đó sách chỉ ra nguyên nhân việc tráo voi bằng ngựa rõ ràng nhất đã có học giả người Tàu thay Tứ tượng bằng Tứ Mã. Thực kỳ lạ khi những gì đã có từ rất xa xưa, tưởng là thời con người còn “ăn hang ở lổ” nay hoàn toàn tương thích với ngôn ngữ số hóa, đó là 1 phần của sự “đặc biệt” chỉ ở Kinh Dịch mới có sự thống nhất cổ xưa và hiện đại như thế . Sở dĩ phải tạo ngay những từ kép với chữ “tượng” vì về căn bản Dịch học Họ Hùng trải qua 2 thời kỳ rất rõ rệt. Thời Thái cổ - nghĩa là còn trong truyền thuyết Dịch lý họ Hùng dùng “tượng số” để diễn ý. Sang thời cổ tức thời lập quốc họ Hùng cách nay khoảng 5000 – 6000 năm; Dịch chuyển sang dùng “tượng vạch” làm phương tiện diễn đạt, 6 tầng vạch hoặc đứt hoặc liền tổ hợp thành 64 nguyên tố Dịch học, thường gọi là quẻ trùng hoặc quẻ chồng. Về mặt vật chất chỉ với hơn 100 nguyên tố hóa học mà với các cách liên kết khác nhau đã tạo ra thiên hình vạn trạng, tạo ra cả vũ trụ mênh mông. Tương tự các nguyên tố Dịch học cũng liên kết với nhau theo nhiều cách để kết cấu nên một thế giới liên tục vận động, cũng thiên hình vạn trạng đến nỗi cả vũ trụ mênh mông chỉ là 1 phần của nó... phần còn lại chính là ý thức của con người, ý thức và chủ động là đôi cánh của Dịch học, không có đôi cánh này thì vũ trụ mãi mãi vẫn chỉ là cái mênh mông, không có ý nghĩa gì, không giá trị gì. Bài 2,3,4 viết về sự liên quan giữa Trống đồng và dịch học xin đọc những bài đã đăng trước .
×
×
  • Create New...