thaochau
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
847 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
5
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by thaochau
-
Bài đăng trên An Việt Toàn Cầu ngày 31/8/2010 Ngyễn Vũ Tuấn Anh Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì đều được biết đến Hà Đồ qua một câu của Hệ từ: <br style="mso-special-character:line-break"> “Hà xuất đồ; lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Trong Chu Dịch; duy nhất chỉ có một dòng như vậy nói đến Hà Đồ. Tính mơ hồ của nó đã sinh ra bao truyền thuyết thần kỳ. Cho đến tận bây giờ; thực chất Đồ thư là cái gì chưa thấy ai bàn được rốt ráo. Đã có hẳn một môn “Hà đồ học” với hàng trăm đầu sách viết về Hà Đồ; nhưng Đồ Thư vẫn là những đồ hình bí ẩn. Trong những cuốn sách nghiên cứu về lý học Đông phương thì – với tôi – có lẽ cuốn “Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương“ của Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng là một bản tổng kết khá hoàn chỉnh về những tài liệu chủ yếu nói về Hà Đồ. Bởi vậy; tôi xin trích dẫn tư liệu trong sách này để quí vị tham khảo. Đoạn sau đây trích trong chương I có tựa là: file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.gifLONG ĐỒ - QUI THƯ : (Trong các đoạn trích dẫn từ sách này (Từ trang 77 đến trang 90); tôi lược bỏ những phần phiên âm Hán Việt và phần chữ Hán trích kèm minh họa trong nguyên văn) file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.gif A – Nguồn gốc<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Nói tới Dịch Lý Đông phương; trước hết phải nói tới Hà Đồ và Lạc Thư. “Hà đồ Lạc thư vốn là nguồn gốc của quái hoạch” (Đồ thư cố thị quái hoạch chi nguyên). Quái hoạch lại là dấu hiệu tượng trưng cho Âm Dương động tĩnh; biến dịch; doanh hư; sinh thành…Hà Đồ Lạc thư chính là hai tài liệu nền tảng của vũ trụ quan Đông phương. Các bậc thánh nhân; sau khi thấy con Long Mã phụ đồ; con Linh Qui phụ thư xuất hiện ở hai sông Hà; Lạc bèn bắt chước theo; rồi đem dung. Từ đó có Tiên Thiên và Hậu thiên bát quái..v.v..và có cả một hệ thống ý niệm về vũ trụ và nhân sinh. Vì vậy; ngay ở đầu sách “Chu Dịch bản nghĩa” ; Chu Hy đã giới thiệu Hà Đồ Lạc Thư bằng hình vẽ và chú thích sau đây: “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; đấng thánh nhân bắt chước theo” Như vậy – qua đoạn trích dẫn trên - khi so sánh giữa câu trong Hệ Từ: “Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi” với câu “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; thánh nhân bắt chước theo”; quí vị nhận thấy rằng: Đây là hai nội dung khác hẳn nhau. Câu trên là hiện tượng; câu dưới là cách hiểu hiện tượng mà nội dung câu trên đặt ra. Nhưng cũng tại sao lại có sự khẳng định này từ ông Chu Hy – Một sự khẳng định đã trải hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ? Ông đã căn cứ vào đâu để viết những điều này? Chúng ta tiếp tục quán xét đoạn trích dẫn tiếp theo: Lại nói: “Trời 1; đất 2; trời 3; đất 4; trời 5; đất 6; trời 7; đất 8; trời 9; đất 10. Trời có năm số; đất có 5 số. Năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25; số đất có 30/ Con số này hình thành sự biến hóa và điều hành việc quỉ thần. Đó là số của Hà đồ Lạc thư lấy tượng rùa; cho nên số của nó thì: Đầu đội 9; chân đạp 1; sườn trái 3; hông phải 7; vai mang 2/ 4; chân đi 6/8. Thái Nguyên Định nói: “Về cái tượng của Đồ Thư thì từ Khổng An Quốc; Lưu Hâm đời Hán; Quan Lăng tự Tử Minh đời Ngụy; đến Khang Tiết tiên sinh là Thiệu Ung; tự Nghiêu Phu đời Tống; ai cũng đều bảo như vậy. Đến Lưu Mục; ông đổi tên cả hai số và được các học giả dùng theo”. Khảo sát về Hà đồ; Lạc Thư ta thấy người đầu tiên đã ghi lại nguồn gốc xa xưa của chúng là Khổng An Quốc đời Hán. Họ Khổng viết: “Đời Phục Hy có con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vằn của nó để vạch Bát Quái gọi là Hà Đồ. Đời vua Vũ có con thần qui xuất hiện trên sông Lạc. Nhà vua bèn nhân đó sắp đặt thứ tự thành 9 loại; gọi là Lạc Thư. Theo Từ Nguyên của Trung Hoa thì Phục Hy là vị vua thời Thái Cổ Trung Hoa; tượng trưng cho ánh sáng mặt trời; mặt trăng nên gọi là Thái Hạo. Ngài dạy dân cày ruộng; đánh cá; chăn nuôi các giống vật tế thần để sung vào việc bếp nước nên gọi là Bào Hy. Ngài vạch quái làm thư khế; ở ngôi được 115 năm; truyền dược 15 đời; gồm 1260 năm. Trong sách đã dẫn; các nhà lý học còn chỉ ra rất cụ thể về địa danh Hoàng Hà và Lạc Thủy như sau: Hà tức sông Hoàng Hà; là con sông lớn bực nhì Trung Quốc sau Dương Tử. Ngày xưa sông này chỉ gọi là Hà; nhưng về sau người Tàu gọi Hoàng Hà vì nó có nhiều cát vàng. Hoàng Hà xuất phát từ ngọn núi Ba Nhan Khách Thích miền Thanh Hải; chảy về Đông vào tình Cam Túc; chéo lên Đông Bắc qua Tràng Thành tới Tuy Viễn; quặt về nam qua Sơn Tây; Thiểm Tây; Hà Nam; lại chéo về Đông Bắc qua Trục Lệ; Sơn Đông rồi ra bể; dài hơn 8800 dặm. Sông Lạc tức Lạc thủy; phát nguyên từ Thiểm Tây; chảy về Đông Nam qua Bảo An; Cam Tuyền rồi hợp với sông Vị để cùng chảy theo phía Đông vào Hoàng Hà. Cũng trong sách đã dẫn; những nhà lý học sau Hán còn miêu tả chi tiết con Long Mã cứ như thật và có vẻ còn thật hơn cả quái vật hồ Lokneet: Long Mã là một con ngựa giống như rồng. Nói Mã Đồ tức là nói chuyện con Long Mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thời Phục Hy. Về sau; khi Đế Nghiêu lên ngôi; Long Mã lại xuất hiện; mình xanh mà vằn đỏ; có mang sách mệnh trời ban cho vua để trị thiên hạ; trong đó ghi rõ việc hưng vong (Từ Nguyên theo sách “Thượng Thư trung hậu”) Theo sách” Kỳ môn ngữ tổng quy” thì con Long Mã cao 8 thước 5 tấc (Thước Tàu); xương cổ dài; cánh bên phải nhúng xuống nước mà không ướt; trên đó thánh nhân để bức đồ cổ (Tấm đồ xưa). Long Mã xuất hiện trên sông Mạnh Hà còn gọi là Mạnh Độc thuộc huyện Vũ Tiến tỉnh Giang Tô; Trung Hoa. Những tài liệu của Từ Nguyên trên đây tỏ ra khá tỷ mỷ; khá đầy đủ và rõ ràng. Nhưng thực ra xuất xứ của Đồ thư vẫn bao trùm bí mật và hoài nghi. Bởi vậy; nhiều cuộc bàn cãi sôi động của tiên Nho càng ngày càng gây thêm sự hào hứng. Nhiều bộ sách cổ từ ngày xửa ngày xưa được lôi ra để chứng minh cho xuất xứ lạ kỳ quái đản. Mâu thuẫn càng tăng; dị biệt càng lắm; bí mật càng thêm bí mật. Sách “Tống thư phù thụy chi” kể rằng: “ Khi vua Vũ quan sát sông Hà để trị thủy; thấy một người mình cá rất dài xuất hiện. Người này nói: “Ta là Hà Tinh đây!”. Nói xong; trao Hà Đồ cho vua Vũ; bàn việc trị thủy xong; bèn lui tới vực sâu. Sách “Vỹ thư”; phần Xuân Thu; thiên Nguyên mệnh bào lại kể khác: “Vua Nghiêu ra chơi hai sông Hà ; Lạc thấy một con rồng đỏ mang tấm đồ xuất hiện. Sách “Thượng thư trung hậu” không bảo vua Nghiêu; vua Vũ mà lại bảo: “Vua Thuấn đến Hạ Tắc thì thấy con rồng vàng mang đồ xuất hiện”. Sách “Luận ngữ sấm ngôn”; trái lại; bảo khi cả vua Nghiêu; và Thuấn cùng đi chơi tới sông Hà và Núi Thủ thì thấy năm ông lão báo cáo cái ngày con Long Mã ngậm tấm đồ xuất hiện. Đến sách “Hà Đồ”; thiên Đĩnh tá phụ thì Nghiêu; Thuấn; Vũ đều không phải cả mà lại là Hoàng Đế. Sách này nói: Thiên Lão (Tên một vị quan) tấu với Hoàng Đế: Sông Hà có Long đồ; sông Lạc có Qui thư. Nhà vua nghe lời; ra chơi sông Quỷ Thủy thấy con cá lớn xuất hiện. Khi cá lăn thì tấm đồ hiện ra. Sách “Trúc thư kỷ niên” còn ghi trường hợp Thiên Lão tâu với Hoàng Đế như sau: : Năm thứ 50; đời Hoàng Đế sương mù dày đặc. Nhà vua hỏi thì Thiên Lão thưa: “Trời muốn cho ngài những điều huấn giáo quan trọng; ngài chớ nên phạm”. Trời bỗng mưa lớn; Hoàng Đế được đồ thư. Vì tích này nên Lý Bạch mới viết câu: “Thiên Lão chưởng đồ” trong bài Đại Lạp phú. Nhưng phải đến “Sơn Hải kinh” của Quách Phác thì sự ngạc nhiên của chúng ta mới lên tới cùng độ. Sách này ghi rằng ở cả ba đời Phục Hy; Hoàng Đế và Liệt Sơn thị (Tức Thần Nông) đều có Hà đồ xuất hiện cả. Vì vậy Lý Quá trong sách “Tây Khê Dịch thuyết” mới cho biết cứ mỗi khi thánh nhân ra đời thì Hà Đồ xuất hiện; chứ chẳng riêng gì đời Phục Hy. Ông nói: “Căn cứ theo Sơn Hải Kinh; ta thấy Phục Hy được Hà Đồ thì Hạ Hậu nhân đó nói Liên Sơn. Hoàng Đế được Hà Đồ thì người Thương nhân đó nói Qui Tàng; Liệt sơn thị được Hà đồ thì người Chu đó nói Chu dịch. Như vậy; Hà đồ không phải đạc xuất từ thời Phục Hy. Đức Khổng tử nói: “Chẳng thấy tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thì đời ta hết rồi!”. Câu nói đó có nghĩa là cứ hễ có thánh nhân ra đời thì Hà Đồ xuất hiện. Bởi thế nên Phục Hy; Hoàng đế và Liệt Sơn thị đều được Hà Đồ mà làm dịch”. Qua đoạn trích dẫn trên đây; quí vị cũng nhận thấy rằng: Hà Đồ qua bản văn cổ chữ Hán hoàn toàn được giải thích mang tính thần vật huyền bí có tính tôn vinh. Nhưng cũng qua các bản văn cổ chữ Hán; chúng ta không hề tìm thấy một sự khẳng định Hà Đồ như một cơ sở lý thuyết trong ứng dụng thực tế. Ngoại trừ việc cho rằng: Hà Đồ là cơ sở của Tiên thiên Bát quái; nhưng điều này cũng chỉ được nói tới như một tiên đề. Hay nói một cách khác: Trong các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương – qua bản văn chữ Hán – người ta không thể tìm thấy tính ứng dụng của Hà Đồ. Nhưng Hà Đồ lại được coi như nguyên lý đầu tiên thiêng liêng và huyền bí đến kỳ ảo của nền lý học Đông phương? Sự mâu thuẫn này khiến nhà nghiên cứu nổi tiếng – Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng cũng phải chào thua mà đặt bút viết trong tác phẩm của ông: Thật là loạn! Hậu thế chẳng biết sở cứ vào đâu! Phục Hy; Thần Nông; Hoàng Đế; Nghiêu Thuấn đều là những vị vua thời Thái cổ. Chữ nghĩa lúc đó chưa có; biết lấy gì ghi chép thành sách để tin dùng? Do đó hậu thế viết sách bất quá chỉ nghe truyền thuyết. Mà truyền thuyết thì mỗi nơi một khác; chẳng ai giống ai; nhất là thời xa xưa đó. Còn ở thời man rợ; loài người sống thành bộ lạc; trí thức nông cạn; chỉ ham mê vu nghiễn; ma thuật thì làm sao mà Đồ thư có một xuất xứ rõ ràng đích xác được. Duy có một điều gây thắc mắc cho chúng ta hiện nay là đứng trước sự hỗn loạn của các truyền thuyết đó; tại sao Hán nho như Khổng An Quốc; Lưu Hâm; vv…lại dám quả quyết Đồ xuất hiện ở sông Hà thời Phục Hy; Thư xuất hiện ở sông Lạc thời Hạ Vũ? Chính sự võ đoán của Nho gia đầu tiên phát huy Dịch thuyết này đã gây nên những cuộc bàn cãi sôi nổi; những lời phê bình chỉ trích kịch liệt của đời sau; nhất là khi hậu thế không thể tin ở truyền thuyết mà chỉ biết căn cứ vào lời của Khổng tử trong Dịch hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; đấng thánh nhân bắt chước theo đem ứng dụng”. Qua đoạn trích dẫn trên của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng; quí vị cũng thấy sự hỗn tạp và đầy mâu thuẫn trong các bản văn chữ Hán nói về Hà Đồ. Và chính giáo sư tác giả cũng bị cuốn hút vào mớ bòng bong ấy; khi ông viết đoạn cuối: “trong Dịch Hệ thương:” Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc…”. Đây chính là lời của Khổng An Quốc và Lưu Hâm chú giải Dịch; chứ không phải ý nghĩa đích thực của câu này trong Hệ Từ của Kinh Dịch – mà ai cũng biết – chỉ vỏn vẹn là: “Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”. Để kiểm chứng lại; ai là người đầu tiên đưa ý nghĩa “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc” có phải do đám Hán Nho đưa ra không; giáo sư tác giả đã viết: Hán Nho có phải là người đầu tiên quả quyết như trên khiến hậu thế có người - Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên – lên án họ là tội nhân của Dịch mà người đầu tiên chính là Khổng An Quốc: “Khổng An Quốc thành dịch chi tội nhân”. Như vậy; với một mình Tiền Nghĩa Phương chưa đủ bằng cớ chứng tỏ Lưu Hâm và Khổng An Quốc là người đầu tiên chú giải dịch một cách chủ quan. Giáo sư tác giả còn cẩn thận khảo sát tiếp: Phải hay không ta chỉ cần xem chú giải của Từ Nguyên qua hai chữ Hà Lạc thì rõ ngay: Đây chú giải chữ Hà Đồ: “Khi vua Phục Hy làm vua thiên hạ; thấy con Long Mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hoàng Hà bèn bắt chước những vằn nét của nó để vạch bát quái. Vằn nét của nó thì 1; 6 ở dưới; 2;7 ở trên; 3 và 8 ở bên tả; 4 và 9 ở bên hữu; còn 5; 10 ở giữa. Hà Đồ còn là tên một bộ sách ghi những lời sấm truyền đời xưa; do người đời Minh biên tập trong sách Cổ Vĩ Thư. Sách này có nhiều thiên: Quát Địạ tượng; Thủy khai quan; Giáng tượng; Kế Hạ câu; Đế Lâm hy; Đĩnh Tá phụ; Hà đồ Ngọc bản; Long Ngư Hà Đồ ….Lại còn có Lạc Thư sấm gồm những thiên: Linh Hoài thỉnh; Trích lục tích; Lục Vân pháp…. Sách này cùng với sách Hà đồ phụ tá lẫn nhau; cho nên đời mới gọi là sách “Hà Lạc đồ sấm”. Sách này đã mất từ lâu. Có người cố sưu tầm lại ; nhưng còn thiếu sót rất nhiều. Tùy thư kinh tịch chí chép: Hà đồ 20 quyển; Hà đồ Long văn 1 quyển. Đời Lương; Hà đồ; Lạc thư có 24 quyển; mục lục một quyển. Cả hai đều nói: Những sách đó xuất hiện từ thời Tiền Hán; có Hà đồ 9 thiên; Lạc thư 6 thiên; rồi từ Hoàng đế đến Châu Văn Vương lại có thêm 30 thiên khác nữa. Hai sách trên còn nói: Từ lúc sơ khởi đến Khổng Tử; những lời thêm pha vào 9 bậc thánh (?)được bọn tục nho lấy làm chuộng đem ra học hỏi khảo sát cho nên thiên mục ngày càng nhiểu mãi. Đời Tống; đời Lương mới bắt đầu cấm. Tùy Dạng Đế còn cho tìm sách đốt đi; nếu ai phạm pháp sẽ bị xử tử. Từ đó những sách này mới không ai học nữa. Và đây chú giải chữ Lạc Thư: “Vua Đại Vũ trị thủy thấy con thần qui mang chữ có nét trên lưng; đếm số từ 1 đến 9; bèn nhân đó xếp đặt thứ tự làm thành 9 trù. Những nét đó được bố trí như sau: Đầu đội 9; chân đạp 1; bên tả 3; bên hữu 7; đôi vai 2;4; đôi chân 6;8 và giữa số 5. Theo Hậu Hán thư ngũ hành chí nói về thiên Hồng Phạm của Chu Thư thì từ trù 1 của Ngũ hành trở xuống có 65 chữ đều là bản văn của Lạc thư. Nhưng sách “Thư chính nghĩa” trưng dẫn thuyết của Lưu Hướng lại bảo 38 chữ là bản văn; và thuyết của Lưu Hâm thì chỉ có 20 chữ là bản văn. Những thuyết của Hán nho đều bảo Lạc Thư có văn tự chứ không thấy nói tới đồ. Đại Đái Lễ chép Minh Đường cổ chế có những điểm 2; 9; 4; 7; 5; 3; 8; 6; 1. Đó là phép Cửu cung. Về sau bọn phương kỹ dựa vào đó để phụ họa mà làm Lạc Thư. Đám hậu Nho sau này cũng theo thuyết đó” Nhờ chú giải của Từ Nguyên trên đây; ta có thể tin đám Hán Nho là người đầu tiên đã quả quyết: “Đồ xuất hiện ở sông Hà đời Phục Hy; Thư xuất hiện ở sông Lạc đời Hạ Vũ”. Từ đó đến nay; mỗi người hình như lặng lẽ chấp nhận một sự võ đoán táo bạo của Hán nho không một phản ứng. Chẳng thế mà ngày nay các học giả Đông Tây; ai cũng đều cho sự kiện này như một sự kiện lịch sử hiển nhiên. Như vậy; qua đoạn trích dẫn trên chúng ta đã nhận chân sự thật là: Huyền thoại Hà Đồ Lạc thư chỉ bắt đầu từ thời Hán. Chính văn Kinh Dịch / Hệ từ thượng chỉ viết: “Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”. Nhưng những luận điểm của Hán nho lại được coi là luận điểm chính thống về nguyên ủy của Hà đồ truyền tới ngày nay. Bây giờ chúng ta tiếp tục tham khảo các luận điểm phản bác của chính các nhà nghiên cứu Trung Hoa trong lịch sử phát triển của nền văn minh này qua các đoạn trích dẫn tiếp theo. Tuy nhiên không phải ai cũng dễ tính như ai! Ngay trong làng Nho; thiếu gì người lên tiếng đả kích Hán nho; nhất là đả kích Khổng An Quốc. Du Diễm đời Tống căn cứ vào câu nói của Khổng Tử trong Dịch hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sống lạc; Đấng thánh nhân bắt chước theo” mà cho rằng Đồ Thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy; chứ không phải hai thời khác nhau như họ Khổng chia ra. Ông nói: Phục Hy bắt chước Hà đồ; Lạc thư mà hoạch quái. Thế mà Khổng An quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà Đồ; còn Đại Vũ bày cửu trù phải bắt chước Lạc Thư. Vì sao họ Khổng lại chia làm hai như vậy? Sách “Cửu kinh biện nghi” của họ Trần xét theo Ngọc xuyên văn tập có nói: “Nếu bảo Phục Hy hoạch quái gốc Hà đồ thì Khổng Tử chỉ cần nói Đồ xuất hiện ở sông Hà; đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồi. Hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Đã nói: Bắt chước theo Đồ; Thư để làm Dịch thì như thế Đồ ; Thư đều phải có từ thời Phục Hy; chứ sao lại phải đợi mãi tới khi vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc Thư? Họ Du tiếp thêm: “Số của Dịch bất quá từ trời 1 đến Đất 10 chỉ có 55 số mà thôi; chứ chưa từng được mệnh danh là Hà đồ; cũng như chưa từng được mệnh danh là Lạc Thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo “Thời Phục Hy có con Long Mã mang Đồ xuất hiện ở sông Hà; nhà vua thấy vậy bèn bắt chước theo để vạch Bát quái; gọi là Hà đồ; và thời Đại Vũ có con thần qui mang Thư xuất hiện ở sông Lạc; nhà Vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành cửu trù; gọi là Lạc Thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy?”. Chưa hết; Du còn phê bác; chỉ trích nhiều điểm khác: “Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những chấmcủa Hà Đồ; Lạc thư mà hoạch quái; chứ chẳng phải Đồ thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng! Nếu Dịch Hệ từ nói: Ngửa trông tượng ở trên trời; cúi xem phép ở dưới đất; quan sát hình nét của chim muông cùng với sự thích nghi của đất; gần thì lấy ở mình; xa thì lấy ở vật. Do đó mới vách Bát quái. Vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ; Lạc thư thôi sao?”
-
Bài đăng trên An Việt Toàn Cầu ngày 31/5/2010 Ngày mùng 5 tháng 5 trong văn hiến Lạc Việt. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm là một ngày lễ hội truyền thống không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước Đông phương khác là Triều Tiên và Trung Quốc . Đã có nhiều bài viết nghiên cứu về ngày 5 – 5 của nhiều tác giả. Thiên Sứ tôi cũng đã có bài viết về để tài này từ 2004 trên tuvilyso.com và trên ktcn.net. Hôm nay, nhân dịp có một người bạn hỏi về nguồn gốc của ngày này, nên tôi xin được trình bày lại ý nghĩa đích thực của ngày 5 – 5 . Tết Đoan Ngọ tồn tai từ lâu trong văn hoá dân gian Đông Phương và có một ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt văn hoá. Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Đoan Dương, tết Hàn thực vì trong ngày này theo tục lệ kiêng ăn món đồ nóng. Ngày này cũng còn gọi là ngày giết sâu bọ. Vì người ta tin rằng: Khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này thì sâu bọ; giun sán trong người sẽ bị chết hết. Truyền thuyết về lịch sử ngày mùng 5 tháng năm thì lưu truyền rằng: Vào thời Xuân Thu; có ông Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công (Công tử Trùng Nhĩ) bôn ba phục quốc trên 30 năm. Lúc gian khổ; ông cắt thịt đùi dâng vua ăn. Khi việc phục quốc thành công, ông vì khinh bỉ đám cận thần của vua, nên không nhận quan tước, mà bỏ về ở ẩn. Tấn Văn Công thân chinh mời ông ra. Ông cõng mẹ bỏ trốn vào rừng. Nhà vua ra lệnh đốt rừng; hy vọng ông sẽ ra. Nhưng ông cùng bà mẹ trọng nghĩa đã chịu chết cháy trong rừng. Theo truyền thuyết ngày đó là ngày mùng 5 tháng 5. Bởi vậy; nhà vua chọn ngày này làm ngày kỷ niệm Giới Tử Thôi và ra lệnh cấm đốt lửa trong ngày này. Đó là nguyên nhân để ngày này dân chúng chỉ ăn đồ nguôi. Một truyền thuyết thứ hai nữa là: Khuất Nguyên là một vị trung thần nước Sở, ông còn là một nhà văn hoá nổi tiếng với bài Ly Tao và Sở Từ, thể hiện tâm trạng buồn về sự suy vong với hoạ mất nước. Can vua không được, ông tự tử trên dòng sông Mịch La. Dân chúng trọng nghĩa ra sông tưởng nhớ anh linh của ông, cúng rất nhiều sản vật. Ngày đó, theo truyền thuyết là ngày mùng 5 tháng 5. Như vậy, theo hai truyền thuyết trên thì ngày 5 – 5 có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa. Nhưng điều đáng lưu ý là – Hàn Quốc cũng coi ngày 5 – 5 là ngày lễ theo truyền thống văn hoá của họ . Trong bài báo “Đừng đối đãi với di sản văn hoá như bánh mì” đăng trên báo Tuổi Trẻ trang 16, ngày 22 tháng 6 năm 2004, đã đưa tin: Hàn Quốc đề nghị Liên Hiệp Quốc công nhận tết Đoan Ngọ vào ngày 5 tháng 5 là “di sản văn hoá phi vật thể” của Hàn Quốc”. Bài báo cũng cho biết có nhiều tờ báo Trung Quốc xem đó là việc làm xâm phạm văn hoá, nhiều hoc sinh thành phố Nhạc Dương (Hồ Nam) ký tên bảo vệ tết Đoan Ngọ. Nhiều người Trung Quốc kiến nghị chính quyền đăng ký bản quyền di sản văn hoá… Bài báo có đoạn viết: "Dẫu mọi việc chẳng có gì để ầm ĩ; nhưng nhân vụ việc này người Trung Quốc mới thấy giá trị của văn hoá dân gian." Nhưng trong văn hoá Việt thì ngày mùng 5 tháng năm lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Trong dân gian đã lưu truyền câu ca dao: “Tháng Năm ngày tết Đoan Dương. Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang”. Như vậy; đây là một ngày tết có nguồn gốc từ văn hoá Việt. Nhưng tại sao ngày mùng 5 tháng 5 lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ? Điều này có liên hệ gì với ngày 10 tháng 3 lại là ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương của giống nòi Lạc Việt? Là những người nghiên cứu nguyên lý học thuật cổ Đông Phương chắc chúng ta đều biết đến đồ hình Hà Đồ. Có lẽ ai cũng biết rằng trung tâm Hà Đồ là ngôi Hoàng Cực biểu tượng của sự thống trị tối cao; tức quyền uy của nhà vua. Trung tâm Hà Đồ có độ số 5 thuộc Dương và 10 thuộc Âm. Phần trung tâm Hà Đồ được miêu tả như sau: ĐỒ HÌNH HÀ ĐỒ Chúng ta cũng biết rằng: Trong nguyên lý Âm Dương thì Dương có trước và Âm có sau. Dương là giá trị trừu tượng, Âm là giá trị hiện hữu. Như vậy, tháng có trước thuộc Dương và ngày có sau thuộc Âm (Ngày là con của tháng). Ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương (Giỗ Cha) được chọn là ngày 10 tháng 3 vì: Tháng 3 là tháng Thìn/ Rồng biểu tượng của Vương quyền chính là tháng thứ 5 kể từ tháng Tý. Đó chính là biểu tượng của 5 vòng tròn trắng ở trung tâm Hà Đồ thuộc Dương (Tháng có trước thuộc Dương). Ngày là con của tháng thuộc Âm, nên chọn ngày mùng 10. Đó đó chính là biểu tượng của 10 vòng tròn đen thuộc Âm trên Hà đồ. Xin xem hình minh hoạ dưới đây: TRUNG CUNG HÀ ĐỒ VỚI ĐỘ SỐ DƯƠNG 5 VÀ ÂM 1O Cũng trên nguyên lý độ số Âm của Hà Đồ là sự hiện hữu, nên chọn là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Ngày mùng 5 tháng 5 chính là biểu tượng của hai dãy mỗi dẫy 5 vòng tròn đen ở trung tâm Hà Đồ (Xin xem lại hình trên) . Ngày cực Âm, tháng cực Âm nên thuận theo tự nhiên, dân chúng ăn đồ nguội (Nguội thuộc Âm, nóng thuộc Dương). Chúng ta cũng lưu ý rằng: Ngày mùng 5 / 5 là ngày rất gần tiết Hạ Chí, tức là ngày nóng nhất trong năm theo thực tế thời tiết; hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành: Là ngày cực Dương thuộc Hoả khí (Trong Hậu Thiên Lạc Việt, Ly Hoả thay thế vị trí Càn trong Tiên Thiên). Bởi vậy, lấy số ngày và tháng cực Âm về biểu tượng là mùng 5 / 5 (Cân bằng Âm Dương). Vì là ngày cực Âm nên biểu tượng bằng ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. (Cha thuộc Dương / Mẹ thuộc Âm). Như vậy, nền văn hiến Lạc Việt qua ngày giỗ Quốc Tổ Hùng Vương và Quốc Mẫu Âu Cơ, đã giải thích nguyên uỷ hai ngày này bằng chính nền tảng của nguyên lý học thuật cổ Đông phương, chứ không phải bằng những truyền thuyết mơ hồ nói trên . Đây là một yếu tố sắc sảo nữa chứng minh rằng: Nguồn gốc của văn minh Đông phương thuộc về nền văn minh Lạc Việt một thời huy hoàng kỳ vĩ từ hàng ngàn năm trước ở miền nam sông Dương Tử. Nền văn minh này đã sụp đổ từ thế kỷ thứ III trước CN, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn lưu giữ trong những giá trị văn hóa truyền thống ở nhiều quốc gia liên quan đến nền văn minh này. Những giá trị của thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự nhận thức những thực tại của con người làm nên nó, là hệ quả tổng hợp của cả một nền văn minh phát triển tích lũy và kế thừa trong quá trình tiến hóa của nó, trải nhiều ngàn năm. Bởi vậy, khi một nền văn minh tạo ra nó đã sụp đổ thì sẽ kéo theo tất cả những mối quan hệ tri thức và hạ tầng cơ sở vật chất liên quan đến tinh hoa tri thức mà nó tạo ra. Do đó, để hiểu được bản chất những giá trị tinh hoa của nền văn minh này - Thuyết Âm Dương Ngũ hành - không thể là một tư duy dễ dãi, mà phải là sự tổng hợp những gì còn sót lại của nó và biết được một thực tại nào là cơ sở nhận thức đã tạo ra nó. Nền văn minh Lạc Việt với những dấu ấn còn lại trong những giá trị văn hóa truyền thống, có rất nhiều hiện tượng phù hợp với những giá trị nguyên lý của học thuyết này, mà không một nền văn hóa gần gũi nào liên quan có thể có được. Bởi vậy, những giá trị văn hóa phi vật vật thể chính là một bằng chứng rất rõ nét chứng minh cho cội nguồn văn hóa Việt là nền tảng của giá trị văn minh Đông phương cổ.
-
Trang An Việt Toàn Cầu có một chuyên mục Việt Học trong đó là công trình nghiên cứu của nhiều tác giả. Tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh có rất nhiều bài viết đã đăng ở Lyhocdongphuong cách nay mấy năm rồi nhưng thaochau vẫn copy về đây để mọi người tham khảo. Việt học nguyễn vũ tuấn anh nỏ thần của an dương vương Nỏ thần của An Dương Vương không phải là vũ khí thô sơ, những bằng chứng còn lại cho đến ngày nay chứng tỏ điều đó : . Khoá nỏ (máy bắn tên bằng đồng), rìu, muôi đồng. . <br style="mso-special-character: line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Lãy nỏ Cổ Loa . Khuôn đúc tên. . file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image004.gif This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 894x670. <br style="mso-special-character: line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Tên đồng Cổ Loa . Nỏ thần Cổ Loa có nhiều chi tiết được làm bằng đồng chứ không phải hoàn toàn bằng vậy liệu tự nhiên như trong thí nghiệm trên. Nhiều khả năng đây là một thiết bị sử dụng thuốc nổ để bắn ra nhiều tên đồng cùng một lúc. Vì các "đống" mũi tên tìm thấy không hề có đuôi để cầm bằng tay. __________________
-
HAI NỀN VĂN HÓA ( Cơ cấu Việt Nho ) Tác giả: Kim Định - anviettoancau “ Văn hoá loài người có muôn sắc thái, nhưng khi xét tận căn cơ lại chia ra được hai nguồn đã được đổ khuôn tự xa xưa do hai trào sống: một là Du mục, hai là Nông nghiệp. Hai tiếng này phải hiểu cách rộng rãi: Du mục bao gồm những miền đất mênh mông tự Cận Ðông đến Viễn Ðông và ta sẽ gọi là Tây Bắc. Còn Nông nghiệp tuy có nhiều nơi nhưng ở đây có ý chỉ những miền mênh mông đủ sức gây ảnh hưởng lâu dài vào văn hoá như miền bình nguyên Ba Thục, hay đồng bằng Hoàng Hà, Hoài Giang, Dương Tử giang. . . Ðây là hai miền để ấn tích sâu đậm trên văn hoá loài người nên chia thành hai luồng tư tưởng khác nhau, nhưng lâu ngày pha trộn vào nhau. Và tuy ngày nay không còn nền văn hoá nào thuần chất nông hay du, nhưng cần đơn giản hoá để có vài tiêu điểm giúp cho việc nghiên cứu được dễ dàng. Vậy nên chúng tôi tạm dùng hai nét đó để phân loại các nền văn hoá, miễn phải hiểu trên đại cương và cách co dãn uyển chuyển. I.- Đời sống Du mục Riêng về lối Du mục đã mang tính chất nước đôi, gắn yếu tố Du thuộc thời Săn với yếu tố Mục đã đi vào Nông nghiệp. Tuy nhiên nói về đại để thì du mục còn mang nhiều yếu tố thời săn lượm ( Civ. I . 36 ). Ở thời này việc săn lượm chưa là truyện giải trí hay tuỳ phụ như sau này, nhưng là vấn đề sinh sống, ngoài việc săn lượm không còn nghề nào khác. Vì thế để cho được sống tất phải đi săn. Ðã săn là có truyện đổ máu. Thế rồi sự kiện thường xuyên đó ngấm dần vào tiềm thức gây ra sự thích thú làm cho con vật hay tha nhân đau khổ ( Civ. I . 76 ). Tha nhân càng đau khổ càng sướng đó là căn do những hình khổ kéo dài: đốt bằng lửa bé, đóng đanh treo cho hấp hối cả mấy ngày, đóng cọc đít dựng ngồi lên nhưng không cho cọc đâm sâu lên bụng để thủng thẳng mà chết. . . Chính đó là căn do của sự tàn nhẫn đã trở nên dấu hiệu của giai đoạn du mục nên sau này khi đã bước vào văn minh phải lâu lắm con người mới bỏ dần đi được. Thời du mục có thể coi như đoạn cuối cùng của săn hái nên còn mang yếu tố chung với săn hái: cũng ở lều cũng tôn thờ Tù trưởng đến cùng độ, rồi lại thêm bắt người làm nô lệ và đàn áp nông nghiệp để kiếm đồng cỏ ( Civ. I. 41 ). Vì thế chúng ta có thể dùng danh từ mục để chỉ thời tiền văn minh, rồi đến cửa văn minh là nông nghiệp. II.- Đời sống Nông nghiệp Nông nghiệp là cuộc cách mạng lớn nhất của con người đã xảy ra cách đây hàng chục ngàn năm, nó biến đổi toàn triệt đời sống và đưa ra một lối mới khác hẳn trước: lấy việc ưa thích nghệ thuật và đời sống dễ dãi thanh bình thế vào đời sống cam go và hiếu chiến ngày xưa. III.- Sự giao thoa giữa hai trận tuyến Do đó mà đã thành một thứ định luật trong lịch sử là Du mục thắng Nông nghiệp để rồi bị Nông nghiệp cải hóa, trở nên văn minh thuần phục, lúc ấy lại bị Du mục đợt mới đánh quỵ ( Civ.I. 308 ). Ðó là một sự kiện xẩy ra thường xuyên trong mọi nền văn minh, mọi thời đại: * Người Doriens đuổi người Mycéens. * Người Hyksos đuổi dân Ai Cập. * Người Cro-magnon đuổi người Néanderthal. Tức ở đâu và bao giờ cũng có sự xâm lăng, nên sự đối chọi giữa Du mục và Nông nghiệp là một tiêu điểm có giá trị phổ quát. Lấy đó mà nhìn vào nền văn hoá nước nhà chúng ta rất dễ nhận ra một phía ưa dùng bạo lực pháp hình, còn một bên thì ưa dùng những đường lối nhu thuận tìm cách cải hoá bằng lễ giáo thí dụ Nhu đạo phát xuất từ chữ Nhu, tức đi lối “ Khoan nhu dĩ giáo ”, nên kể là đại biểu cho nông nghiệp . Ðiều này ít được nhận ra vì Nho giáo đã hết chính truyền từ lúc những yếu tố du mục mọc trùm lên trên. Tuy nhiên nếu chịu khảo sâu thì cũng còn nhìn ra được sự nối kết đó, vì không bao giờ nét hàn xì đi đến cùng triệt, nhưng vẫn để lại dấu vết được biểu lộ qua cuộc vật lộn cam go giữa hai nền văn hoá. Có khi giao tranh ác liệt, có khi hoà hoạn ảnh hưởng lẫn vào nhau. Lịch sử nhân loại chính là sự giao thoa của hai trận tuyến đó: Khi bên này thắng thế, lúc đên lượt bên kia, xoắn xuýt pha trộn khiến cho sự nhìn ra trở thành khó khăn nhưng lại cần thiết để có một quan niệm bớt mung lung về nguồn gốc văn hoá. Muốn phân ra cần phải đi tới cơ cấu mới đạt những yếu tố tương đối đơn thuần để dễ p IV.- Cơ cấu Du Nông Ðiều nhận xét đầu tiên là bất cứ ở đâu thô bạo cũng thắng được tế vi ( Partout le délicat est vaincu par le grossier . Journal . Keyserling 169 ). Ðó là du mục khởi đầu thắng nông nghiệp. Tại sao vậy ? Thưa như đã nói vì nó dựa trên sức mạnh. Ðó là điều bó buộc trong thời săn hái. Muốn bảo tồn sinh mạng không những con người phải chống chọi thú vật, mà còn phải giết chúng để làm lương thực. Lâu ngày sự bạo hành đó quen đi, ngấm vào tiềm thức gây nên cơ cấu du mục, là cơ cấu xây bằng võ lực. Ðịa vực của du mục hầu hết là những cánh đồng hoang bát ngát nằm trong vùng Cận Ðông Tiểu Á lan tới vùng thảo nguyên bát ngát của Á Châu. Ðó là quê hương du mục với những đoàn người sống theo phương thức đoàn vật do một người chăn. Ờ đoàn người đi săn tâm thức cá nhân thiếu cơ hội nảy nở: người ta chỉ khuyến khích sự phục tòng tuyệt đối trước quyền uy của một Tù trưởng thường được thần thánh hoá để duy trì tinh thần hồn khóm , hầu trở nên đoàn quân hùng mạnh. Và đó là điều giải nghĩa tại sao mỗi khi đụng chạm với nông nghiệp thì hầu hết là du mục thắng thế. Là vì phía nông nghiệp tuy cũng có kỷ luật, nhưng thường mền dẻo và nhất là còn để lại quảng trống rất rộng cho lối sống riêng rẽ từng gia tộc đầy tình cảm. Văn hoá lại khuyến khích lối sống “ Doãn chấp kỳ trung ”, như với Lễ Gia Quan là lễ vun tưới óc trách nhiệm cá nhân. Ngược lại trong lối sống du mục đã không có sự khuyến khích như vậy. Hơn nữa lối sống chung đụng từng đám không để giờ cho những sự tư riêng vi tế nảy nở, nhưng cổ võ đời sống tập thể . Vì thế mà triết thuyết nghiêng về pháp hình và lý trí gạt bỏ tình cảm. Vật Tổ thì thích dùng các con mạnh thú như hùm, beo, hổ , báo. . . biểu thị bằng lông mao. Trong lối tổ chức xã hội thì có đẳng cấp dựa trên dòng tộc hoặc giàu sang. Loại tâm thức này sẽ giữ vai trò văn minh chinh phục thiên nhiên, mở đầu khoa học, ưa số chẵn, số Ðất : 2, 4, 6, 8. Ngược lại bên phía nông nghiệp đề cao quan văn, đề cao đức độ . Vua chỉ có giá trị vì đức chứ không vì thế . Vật biểu là Tiên ( tức yếu tố nữ ) đi với Chim ( lông vũ ), tức vật hiền lành và biết bay cao. Xã hội không có đẳng cấp, nhưng nhấn mạnh trên tuổi tác và công thể, như Hội đồng kỳ mục tức không dành riêng cho một đẳng cấp nào. Cai trị bằng Lễ ( tục ) . Triết lý thỉ giàu tình cảm và nghệ thuật. Loại tâm thức này sẽ chuyên về văn hoá nhằm làm đẹp tình người, tô điểm cho những mối nhân luân bằng Lễ. Tóm lại mà nói thì: Cơ cấu Du mục chuyên về “ Văn minh “ tìm chinh phục thiên nhiên và trấn hai phương Tây Bắc 4 – 1. Nông nghiệp nghiêng về “ Văn hoá “ tìm làm đẹp những mối nhân luân, trấn hai phương Ðông và Nam 3 – 2. Sau đây là vài thí dụ điển hình: V.- Đại biểu của hai nền Văn hóa Hoàng Ðế đại biểu Du mục,Thần Nông đại biểu Nông nghiệp. Ðã biết rằng cơ cấu thuộc tiềm thức không có đường viền rõ rệt. Vì thế khi chúng tôi đưa Hoàng Ðế ra làm đại biểu thì chỉ nên coi như một sơ nguyên tượng mà không là nhân vật lịch sử. Nói vậy nghĩa là những điều thuộc Hoàng Ðế có không đúng hẳn với lịch sử cũng không quan trọng. Quan trọng là làm nổi bật lên vai trò Du mục y như Thần Nông là đại biểu cho Nông nghiệp vậy. Si Vưu là con cháu Thần Nông đã phải chiến đấu với Hoàng Ðế thì hiểu là văn minh nông nghiệp phải chống với du mục. Nông nghiệp đi vào văn minh trước nên cháu Thần Nông chống với Du mục Hoàng Ðế. Chữ Ðế mang ý nghĩa chinh phục hay là ăn sẵn: dùng võ lực để săn con thú, lưới con cá sẵn có đó rồi. Lối sống này sẽ đưa đến chinh phục, cướp đoạt, nói vắn là Ðế. Ban đầu Ðế có nghĩa là ăn sẵn, ăn cướp, tước đoạt nhưng vì do vua làm nên mang ý nghĩa tốt, theo thế thái ăn trộm cái lưỡi câu là thằng cướp, còn ăn trộm một nước thì lại là vua, và trong trường hợp sau này việc chinh phục được kêu là Ðế và chữ Ðế mất tính chất du côn để trở nên cao cả. Vì thế nên gọi là Ðế theo nghĩa Ðế là chinh phục, chiếm đoạt. Ðế quốc là nước dùng sức mạnh để chiếm đoạt các nước khác. Người được gọi là Ðế đầu tiên trong huyền sử Việt Nho là Hoàng Ðế, có nghĩa là người đã chiếm đoạt văn minh Hoàng tức của nông nghiệp: bao nhiêu phát kiến nông nghiệp đều quy cho mình, thí dụ “ Hoàng Ðế Nội kinh ” tuy bảo là của Hoàng Ðế mà thực ra là cuốn sách thâu lượm kinh nghiệm y dược của Thần Nông, đặt trên khung Âm Dương của Phục Hy. Như vậy Hoàng Ðế quả là đại biểu cho một nền văn hoá khác xây trên vũ lực về văn hoá, còn ở trên hai đợt bái vật và Ý hệ. Nếu biểu thị bái vật bằng số 1, còn ý hệ bằng số 4 ( 4 - 1 ) thì chúng ta sẽ thấy được du mục là nền văn hoá chú trọng đến hình thức ( là số 4 ), Ðịa phương cũng như sức mạnh đi theo đường khắc: Hoả ( 2 ) khắc Kim ( 4 ) , Kim khắc Mộc ( số 3 ) và choán hai phương Tây bắc với số phá, số chẵn. Ngược lại với văn hoá nông nghiệp ở Ðông Nam số lẻ, vì số lẻ là số hoá ưa chuộng uyển chuyển nhu thuận . Ta hãy xét thêm một điểm then chốt nữa là nhà cai trị của Tàu cũng thấy đến quá nửa là du mục. Toàn thể lịch sử Trung Quốc được dệt nên bằng những cuộc xâm lăng của du mục, khởi đầu mãi tự ngàn xưa, từ Hoàng Ðế dẫn đến nhà Chu, rồi đến nhà Tần, nhà Hán cả thảy hơn hai ngàn năm, sau này vẫn còn tiếp nối . Có thể chia sự tiếp nối đó ra làm hai đợt: *Ðợt nhất gọi là xâm nhập gồm ba triều Bắc Nguỵ thuộc giòng Thát Bạt ( Topa ) từ năm 385 – 556 tức 170 năm. *Ðợt hai kêu là chinh phục gồm 4 nhà : Liêu 907 – 1125 ( 218 năm ) Kim 1165 – 1234 ( 165 năm ) Nguyên 1206 - 1326 ( 120 năm ) Thanh 1644 – 1911 ( 267 năm ) Cộng cả là 974 năm chinh phục nhập với 170 năm xâm nhập vị chi là 964 năm. Vo tròn lại là 1000 năm, cộng với 2000 năm trước nữa là 3000 năm, một nước bị Du mục thống trị đến 3000 năm như vậy, có nói Trung Quốc mang tính chất du mục quả là có nền tảng ngay trên phương diện sử . VI.- Phân biệt Hán Nho và Nguyên Nho hay Việt Nho Sau đây là một số nét khác biệt về Hán Nho và Việt Nho: Khi nói tới Việt Nho và Hán Nho là ta chỉ nói tới khía cạnh văn hoá, mà không nói tới chủng tộc hay chính trị . . . Văn hoá mà ta đề cập tới là văn hoá Nông nghiệp và văn hoá Du mục. Tính chất của văn hoá Du mục là bạo động, hiếu chiến, chiếm đoạt và bành trướng, trọng võ hơn văn , trọng lý hơn tình . . . Ðại diện nổi nhất là Hiên Viên Hoàng Ðế, Tần Thuỷ Hoàng, rồi tới các triều đại từ nhà Hán về sau. Còn văn hoá Nông nghiệp thì nhu thuận ( Nho ) ưa hoà bình, trọng văn hơn võ, phù yểu nên trọng nữ, coi tình nặng hơn lý, bề ngoài là lý nhưng trong là tình . . . Thuỷ tổ của nền văn hoá này là Phục Hy làm ra Dịch tiên thiên, Nữ Oa nấu đá ngũ sắc, Thần Nông khai sáng nông nghiệp. Ðó là loạt Tổ đầu tiên lập ra Nho giáo, tức cũng là Việt Nho. 1 .- Chủ trương của Việt Nho Chủ trương của Việt Nho là “ Thân thân “, nghĩa gần gủi là thân cận với tất cả. Ðây là tinh thần văn hóa nông nghiệp được xây dựng trên” Tình thâm “. Ðối với Vợ Chồng thì gọi là Mình, Nhà tôi, đối với Con cái thì gọi là Quý tử, đối với Cha Mẹ thì gọi là Dong thân nên không có khoảng cách thế hệ, Vua quan được gọi là Phu Mẫu chi Dân làm cho Vua Quan không có cách biệt với dân chúng. Cai trị dân theo phương châm Hiệt củ, nghĩa là yêu điều dân yêu, ghét điều dân ghét . Ðối với mọi người thì gọi là bà con cô bác . . . Mọi người đều lấy Nhân Nghĩa để đối xử với nhau . 2.- Chủ trương của Hán Nho Chủ trương của Hán Nho là “ Tôn tôn “ nghĩa là đề cao cái uy thế của Vua lên mây xanh, tôn vua lên ngôi Thiên tử, vua ở trên hết và cách biệt với mọi người, người dân không được nhìn vào mặt vua, nếu không là mang tội phạm nhan. Về con người thì trọng Nam khinh Nữ ( nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô ). Cha mẹ được gọi là Nghiêm đường, nên giữa cha mẹ và con cái có sự cách biệt, đối với vua thì phải trung quân, vua bảo chết thì phải chết, nếu không chết là bất trung, và lấy Trung quân để đè bẹp chữ Hiếu. Vế cách cai trị thì chủ trương dùng người gian xảo: khiến dân thân với luật pháp, tránh dùng người hiền ( vương dụng thiện tắc dân thân kỳ thân, dụng gian tặc tắc dân thân kỳ chế . Thượng Ưởng . Need II 208 ). Cai trị dân theo phương pháp xích thốn, nghĩa là dùng thước tấc để đo người. Chính sách quản lý hộ khẩu, chế độ tem phiếu, ngũ gia liên báo đều bắt nguồn từ nguồn tư tưởng trên. Nhà Chu đã đem vào Nho giáo mấy yếu tố sau: a .- Luật hình . b .- Hoạn quan. c.- Quan niệm Thiên mệnh và quan niệm nước Tàu là trung tâm của thiên hạ ( Trung quốc : lại thêm đề cao tư tưởng dẫn tới thói thượng Lễ đời Hán . Creel 333, 337, 350, 352 ), trước đó chưa có quan niệm này, vì nhà Thương cũng chỉ mới rộng chừng 115 000 cây số vuông 9 Creel 131 ). d .- Sự chuyển biến tư sản làng xã sang tư sản phong kiến ( Need . II 1056 ), mà Eberhard gọi là giai cấp quý tộc ( Gentry ), và kêu là bách tính để phân biệt với lê dân ( dân tóc đen khác với dân tóc vàng từ Tây Bắc qua ) , ( Eberhard 27 ). Bốn yếu tố đó có tính cách du mục, nặng về lý trí đem lại sự minh bạch. Vì thế nhà Chu kể là có công đặt để một khuôn mẫu cho nền văn hoá Việt Nho chưa thành hình rõ rệt ở hai đời trước, mà các học giả gọi là thời lên men của ý tưởng ( Creel 209 ). Nhưng rồi tính chất du mục hiện rõ từ nhà Chu, sẽ được phát triển tột độ ở nhà Tần, rồi truyền qua nhà Hán để in dấu rõ rệt trên nền văn hoá nước Tàu. Mặc dầu nhà Chu ngay tự buổi đầu đã xưng mình thuộc dòng nông nghiệp, nhưng các học giả vẫn gọi là văn hoá du mục ( nomadisme patriarcal hay pastoral, ngược với vegetal của Ðông Nam ( Need II 576 ) , tức khác hẳn với văn hoá phương Nam của Viêm Việt, luôn trung thành với các yếu tố nông nghiệp: nhu thuận, bình sản, tự do, ưa hồn nhiên, đột khởi hơn công ước, sính lễ, trọng tình cảm hơn lý trí. Vì thế đã trở thành hai khuynh hướng chống đối nhau xuyên qua 4000 năm lịch sử, mà ba chặng lớn có thể kể tới là Long Sơn, Ðông Chu và Tần Hán ( Arché. 444 ). 3 .- Giải nghĩa các hiện tượng Do nhận xét trên mới giải nghĩa được các hiện tượng sau: * .- Nếu bảo Nho là của Tàu, thì tại sao mấy triều đại chính của Tàu lại phá Nho mạnh nhất: nhà Chu tận diệt sách nhà Thương ( Need I 86 ), nhà Tần đốt sách chôn Nho, nhà Hán xuyên tạc Kinh văn. Sau này tuy nhận Nho nhưng vẫn còn lưu lại hai yếu tố phát xuất tự Tây Bắc là hoạn quan và pháp hình để kiểm soát Nho sĩ. *Tại sao nước Việt Nam, thực tế là các làng mãi từ xa xưa luôn luôn trốn văn minh Tàu ? ( nhận xét của Paul Mus 334 ), thế mà hằng số của Nho gia lại nằm sâu trong lòng dân Việt Nam, còn sâu xa hơn cả bên Tàu. Lý tưởng của Việt Nho là bảo vệ nền tự trị xã thôn với chế độ bình sản và tự do con người, ít ra theo chủ trương triết cũng như trên phương diện lễ tục. Xét về nội dung là một thứ liên bang tinh thần, nó đã được đỡ đầu bởi nhiều hiền triết như Thần Nông, Phục Hy, Nữ Oa, Nghiêu, Thuấn, Ðại Vũ . . . , tất cả những tên đó đều thuộc giai đoạn Viêm Việt, giai đoạn đã thành lập được nền văn minh nông nghiệp mà sau này mang tên là vương đạo. Nhưng rồi với thời gian và sự thấu nhập của các làn xâm lăng từ Tây Bắc, nền văn hoá này đã bị lung lay, và từ cuối đời Xuân Thu mấy nước lớn như Tề, Tấn,Tống, Sở, Ngô, Việt, Tần tranh bá đồ vương không phải để làm sống lại tinh thần vương đạo, mà cốt để thôn tính các nước nhỏ cho tới khi toàn thắng để đặt nền thống trị toàn lãnh thổ ( H. Maspéro p.323 ). Tứ đó có gọi là Nho giáo cũng chỉ là mượn danh hiệu, vì chính đó là pháp gia, hình gia, chứ đâu còn là Nho là nhu, vừa có nghĩa là nhu yếu, vừa có nghĩa là đạo của nhu thuận, hiền hậu . Từ đời Hán về sau, thì nặng màu chính trị du mục mà thôi. Nên mỗi khi nói Việt Nho thì phải hiểu vào thời Xuân Thu trở về trước, còn từ thời Chiến Quốc về sau thì là thứ Nho khác ( xem câu chuyện nước Lỗ bắt được con Kỳ lân què chân trái ( tả nhậm ).” VII.- Tiến trình từ Việt tới Nho ( Sứ điệp trống Ðồng : VII. Tiến trình từ Việt tới Nho. Tr. 57 – 219. Kim Ðịnh ) 1 .- Biên cương và đặc thù của Việt “ Chữ Việt ở đây xin được hiểu rất rộng bao gồm cả Việt Nam hiện đại lẫn Bách Việt, trước nữa là các dân đứng ngoài vòng lễ nghĩa nhà Chu ( theo định nghĩa của Lưu Hy đời Hán ) trên cùng là toàn thể khối dân sống trong nước Tàu trước lúc chưa có Tàu xét như một dân tộc riêng biệt. Ðó là khối dân mà khoa khảo cổ gần đây gọi là Mongoloids ( Pacific . 83 ), nhiều sách quen gọi là Nam Mông Cổ. Khối dân này đã lần lần lan ra khắp nước Tàu tràn xuống tận đến Mã Lai, Nam Dương vào quảng 2500 B.C, đẩy lui lớp người trước là Australoids ( Pacific . 83 ). Khối Mongoloids chia ra làm trăm chi tộc ( Eberhard cho là trên 800 ) với những tên gọi khác nhau, trong đó một số tên có tầm bao quát rộng, được dùng thay cho toàn khối như Tam Miêu, Cửu Lê, Cửu Di, Tứ Hải, Tứ Di, Bách Việt . . . Sở dĩ tôi đã chọn tên Việt để chỉ đại khối là đứng về mặt văn hoá tên này có tính cách bao gồm cao độ chỉ thị bằng chữ trăm ( Bách Việt ). So với những tên khác như Cửu Lê, Tam Miêu thì cao hơn. file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image004.gif Hình Phủ Việt Ðã vậy chữ Việt với bộ Mễ chỉ nông nghiệp là nét nổi nhất chung cho toàn chủng. Thứ đến đó là tên duy nhất còn sót lại để chỉ Việt Nam. Thế mà Việt Nam lại có nhiều lý do để được coi như đại diện cho đại chủng xưa kia, vừa địa thế nước Việt là ngả ba đường cho các trào thiên di, nay còn lối 60 sắc dân thiểu số sống trong nước. Họ có thể coi là đại biểu cho các làn di dân đi qua Việt và có để ấn tích lại. Lẽ cuối cùng là đất Việt lại tàng chứa trống Ðồng loại I nhiều nhất, mà đó là điển chương tóm lược các nét văn hoá của đại chúng một cách chói chang. Tất nhiên mỗi chi có những dị biệt về phong tục, văn hoá, nghệ thuật, nhưng lại có những điểm đại đồng. Sau đây là mấy yếu tố coi được như mẫu số chung của cả đại chủng: 1 .- Nông nghiệp 2.- Tổ chức xã hội theo lối Thôn Làng, rồi đến Liên làng ( Tổng ) mà ngập ngừng lên đợt nhà nước . 3 .- Thờ Tổ tiên 4 .- Ðịa vị phụ nữ cao 5 .- Khi múa đeo lông chim 6 .- Xâm mình 7 .- Cài áo bên trái ( tứ Di tả nhậm ) 8 .- Huyền thoại mang nét lưỡng hợp ( dual unit ) . . . . . Ðó là mấy điểm lớn làm nên những dấu để nhận diện lại đại chủng Việt. Trong các yếu tố đó điểm cuối cùng nổi bật nhất vì nó là vũ trụ quan có tầm bao quát cùng cực, đã vậy lại kết tinh vào cặp Tiên, Rồng với tục đeo lông Chim, vẽ mình Rồng mà ta thấy hiện hình tưng bừng trên mặt trống, nên được dùng để định tính chủng Việt một cách trung thực hơn cả như sẽ bàn sau. Ở đây ta hãy liếc nhìn khảo cổ để tìm ra một số nét chung ràng buộc toàn khối: Trước hết lả thời Tân Thạch có loại rìu tứ diện ( chữ nhật ) tìm thấy cùng khắp phía Ðông thêm rìu có vai cũng tìm được khắp tự Sơn Ðông xuống tới Việt Nam.Sau là loại rìu đặc biệt loại cong cùng kiểu dáng vói Phủ Việt. Kế tới đồ gốm có :<br style="page-break-before:always" clear="all"> Loại Văn Thừng ( cord marked ) với kỷ thuật khắc vạch và đóng dấu ( incised and stamped ). Ðồ gốm 3 chân có đầy ở Ðông Sơn, trên Ngưỡng Thiều và Long Sơn, nơi đây đặc biệt có cái lịch. Văn xoáy ốc ngược kim đồng hồ do hình chim bay xuất hiện vì có chấm mắt ( Cradle . 362 ) . Ðồ gốm Văn Thừng thấy xuất hiện sớm nhất bên Nhật năm 11 000 tr. c. n. Rồi tới thiên niên kỷ thứ 3 thì xuất hiện thời đại Ðồng Thau với những đỉnh, những tước đủ loại, mà tựu trung loại 3 chân 2 tai nổi bật lên. Bộ số 3 – 2 này còn thấy trong những cái qua tìm được ở mạn Nam Tàu cũng như Việt. Ðồ đồng xuất hiện ở Ðông Nam Á ( đã tìm được bên Thái ) lối 3000 năm tr.c. n., bên Tàu vào đầu nhà Hạ lối 2000 năm tr. c. n. 2 .- Nguồn gốc Tàu Cũng chính vào quảng có đồ đồng này, mà nảy sinh một dân tộc mới, sau sẽ gọi là Tàu: đó là vài ba bộ lạc ở vùng núi Hoa trong tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây, tuy cũng là dân nông nghiệp nhưng ruộng khô, cây lúa gọi là thử là tắc, vì ở tiếp cận với du mục Bắc phương nên dần dần tạo nên một văn hoá mới có nhiều chất Du mục, tôi sẽ gọi là văn minh Du mục, còn chữ văn hoá ( nông nghiệp ) dành cho đại khối Việt ( Theo lối quyển Story of Civilization: văn hoá đi với nông nghiệp, văn minh đi với tỉnh thành . Civ. I . 2 ) . Nền văn minh du mục gồm mấy điểm khác biệt sau: 1.- Có vua và nhà nước 2.- Quân đội lớn và chuyên nghiệp 3 .- Thành thị xây tường lũy bao quanh 4 .- Pháp hình 5 .- Nghệ thuật đồ sộ, tách khỏi vật dụng: cung điện lớn lao, mồ mả đồ sộ 6 .- Chữ viết 7.- Xe ngựa . . . Ðó là mấy nét lớn thường gắn bó với nhau, cái nọ đẻ ra cái kia: muốn có sức mạnh tất phải có quân đội thường trực ( chứ không tụ họp dân khi cần kiểu thánh Dóng: động vi binh tĩnh vi dân ). Ðã có quân đội mạnh tất phải có thủ lãnh đầy uy quyền nên nảy sinh ra pháp luật, chữ viết là những cái cần cho việc tập trung và kiểm soát. Uy quyền vua được biểu lộ bằng cung điện nguy nga, mồ mả to lớn, kèm với mỹ thuật vĩ đại, thường rời khỏi những nhu yếu đời sống thường ngày và mang theo kích thước đồ sộ . Thí dụ có cái đỉnh của Tàu nặng tới 875 ký đang khi các trống loại I chỉ lối vài ba chục ký. Chính những điều này ( kích thước lớn lao, nghệ thuật chuyên biệt, cung điện đồ sộ . . . ) làm cho những nền nghệ thuật sáng chói được các nhà nghiên cứu trình bày cho thiên hạ chiêm ngưỡng, ca ngợi như những đỉnh cao chót vót của văn minh. Nhưng đến nay lác đác đã có những học giả nhận ra rằng những đỉnh văn minh đó cũng chính là thước đo sự trầm thống khổ lụy của đại chúng bị nô lệ hoá cho mỹ thuật kia được thành tựu, đến nỗi phải nhìn nhận rằng con đường dẫn đến đài văn minh cũng chính là con đường nô lệ hoá phần đông nhân loại. Ðấy là lý do tại sao Việt tộc đã không chịu bước vào văn minh mà cứ muốn ở lại trong tình trạng văn hoá với chế độ liên làng, bộ tộc, vì đó là chế độ thuận hơn cho hạnh phúc con người, đến khi cùng chẳng được bó buộc phải bước vào văn minh thì cố duy trì những yếu tố văn hoá cổ sơ để làm ra một nền văn hoá đặc biệt gọi là Việt Nho như sẽ bàn sau. Tuy nhiên chỉ có đặc biệt trong việc duy trì văn hoá chứ còn việc trốn né văn minh thì không cứ Việt tộc mà cả nhân loại cũng thế vì đó là trốn nô lệ nhưng không trốn được mà tất cả bị còng tay lôi vào nẻo văn minh. Sự việc này xảy ra đại loại như sau: Trên một hai bộ lạc nào đó xuất hiện một hai kẻ có đại tài, thế là bộ lạc đó được tổ chức mạnh, đủ sức đi chiếm đồng cỏ, chinh phục người về làm nô lệ, và cứ thế mà lớn mạnh trở nên đế quốc. Thế là mấy dân tộc lân cận cũng bó buộc trở nên mạnh, phải có quân đội, có vua, cũng như các yếu tố văn minh khác. Thế rồi những dân lân cận của những dân đã văn minh này nếu muốn bảo vệ đất đai cũng phải trở nên mạnh theo. Thế là lần lượt toàn cầu phải đi vào văn minh để đủ sức đấu tranh mà sống còn với nước khác. Còn nội bộ thì đấu tranh với nhau, kẻ được làm chủ, kẻ thua làm nô, đó là đấu tranh giai cấp. Tôi gọi đó là tinh thần du mục và cho văn minh với tinh thần đó đi đôi . Diễn tiến trên đã xảy ra khắp nơi từ Sumer bên Lưỡng Hà, qua Ai Cập cho tới Âu Châu, cũng như Siberia . . . lâu trước và đã đè bẹp hết mọi nền nông nghiệp đã xuất hiện khắp nơi. Về sau nó cũng đã xảy ra cho đại khối Việt vào cuối thiên niên kỷ thứ thứ ba hoặc đầu thứ hai, và lần lượt chinh phục các chi tộc của Việt tộc hoặc bằng đồng hoá, hoặc đẩy lui xuống phía Nam, nhưng khác với Lưỡng Hà và Âu Châu ở chỗ nền văn hóa đại chủng Việt quá lớn mạnh cả về tinh thần lẫn đất đai, vì thế nó đã không ngả qụy, mà còn cải hóa được phần nào văn minh du mục để làm nên cái gọi là Nho, và đến giai đoạn văn minh này thì Nho được công thức hoá, được chép ra văn tự, do vậy người ta đã đồng hoá Nho với Tàu, mà quên phần tinh thần, phần căn bản đã xuất hiện lâu đời trước khi chưa có dân tộc Tàu, chưa có chữ Nho. Không còn ai phân ra rằng chính tinh thần, chính văn hoá mới là phần căn bản, chữ viết chỉ là phương tiện để ghi chép, nó không phải là tinh thần Nho, mà chính là tinh thần văn hoá Nông nghiệp, là tinh thần còn có mặt mạnh hơn ở những chi tộc Việt chưa có chữ Nho trong đó Lạc Việt là một, vì thế gọi là Việt Nho để phần gốc này khỏi bị lảng quên. 3 .- Nguyên Nho Nho giáo là di sản chung của mấy nước Ðông Nam Á như Tàu, Nhật, Hàn, Việt . . . cho nên với Viễn Ðông chữ Nho là “ Văn trường chung ”. Khác nhau là văn trường đi sâu tận tâm hồn, còn thị trường thuộc vòng ngoài kinh tế . Như trên đã nói, tuy mọc lên từ gốc Việt nhưng về sau Nho được coi như một ngành riêng biệt bên ngoài Việt là do sự lép vế dần của Việt tộc. Sở dĩ như vậy vì văn hoá Việt tộc gặp một tình trạng thất lợi quá lớn: bị nằm ép giữa hai khối văn hoá khổng lồ là Ấn Ðộ và Trung Quốc ( Trung Quốc biểu thị bằng Vạn lý trường thành, Ấn Ðộ bằng Chiêm Thành Vạn tượng ) Việt Nam nằm giữa phải chịu trận cả hai đầu. Sự vụ này xảy ra về phía Bắc rõ nhất từ đời nhà Thương. Còn phía Nam có thể nói suýt soát vào đầu công nguyên dưới hai hình thức Bà La Môn trước rồi Phật giáo sau, cả hai đã lôi các nước Miến, Thái, Mên, Lào, Chiêm Thành, Indonésia, Mã Lai và nhiều đảo Thái Bình Dương ra khỏi khối Viêm Việt để đưa vào quỷ đạo của nền văn hoá khác một trời một vực. Hai nền văn hoá Ấn và Việt giao thoa ra sao, các dân Viêm Việt còn giữ lại được gì là một đề tài phức tạp dành cho các sử gia. Ở đây chúng tôi chỉ chú ý đến phía Bắc để bàn về giao thoa giữa Việt và Nho. Theo truyền thuyết Nguyên Nho đã xuất hiện vào thời Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông. Xin nói ngay rằng đó không phải là những nhân vật lịch sử mà chỉ là những sơ nguyên tượng ghi lại những nhận thức đầu tiên về văn hoá của đại chủng Việt ( sẽ được bàn lại trong bài về : “ Vụ hiếp dâm lịch sử ” ở sau ) như Phục Hy làm ra Kinh Dịch, Thần Nông sáng nghĩ ra nghề nông, Nữ Oa đặt ra phép hôn phối hay đúng hơn là linh phối v. v. . . Ðây là những nhân vật đã xuất hiện lâu đời trước khi có Nho và trên phần đất còn là của Việt. Từ đó chúng ta có thể kết luận sang bình diện văn hoá là Viêm Việt đã đặt nền móng trước hết được biểu thị bằng tích Phục Hy đặt ra Kinh Dịch, xem thấy Hà Ðồ, Nữ Oa đặt ra đàn 5 dây tức Ngũ hành ( Nữ Oa luyện đá ngũ sắc ). Thần Nông đặt ra y học, nông học . . . vì Kinh Dịch, Ngũ hành, nông học. . . sẽ là cơ sở của Nho sau này, nên kết luận được rằng Viêm Việt đã đóng góp phần quan trọng trong việc hình thành Nguyên Nho, một tinh thần nông nghiệp vĩ đại nhất. “ 4 .- Tinh thần nông nghiệp “ Trong nông nghiệp có hai lễ quan trọng là Gieo và Gặt đã xuất hiện rất lâu đời, mà sự biểu lộ là lối hát cặp đôi như hát Trống Quân, ca Lý liên với tục hợp thân trên cỏ ( đạp thanh ). Những khối tượng đang giao hợp trên thạp Ðào Thịnh, hoặc hình hai con sấu giao tay có thể coi là đang diễn lại những màn chính của lễ nông nghiệp xưa, nó là tục chung cho cả Việt cũng như Tàu thái cổ, nó chỉ tôn giáo Phong nhiêu với niềm tin sự giao hợp theo nghi lễ sẽ thông sức phong phú cho vũ trụ, cho mùa màng. Chính sự giao hợp này đã được trừu tượng hoá thành hình tam giác gốc trong các trống Ðồng. Nói người Tàu thái cổ là muốn chỉ những người Tàu còn giữ rất nhiều phong tục tập quán giống với đại chủng Việt, nên lối sống cũ của họ là những bằng chứng về nguồn gốc văn hoá chung. Lối sống đó cũng gần như lối sống các dân phương Nam, như được chứng tỏ trong Kinh Thi, thí dụ bài Sông Trăn, Sông Vĩ chính là tục hát đối đáp giữa hai cô cậu, và khi cô cậu ưng nhau liền hiện thực nghi lễ vừa hát vừa lội qua sông, rồi hợp thân ngay trên đồng cỏ, chữ Nho kêu là bôn. Chữ bôn ( 奔:Theo trai ) viết với bộ huỷ là cỏ ( xem tả kỹ trong Maspéro, Taoisme. p. 230 ). Cùng với lúc đó có những lễ nghi chính thức mở mùa trống Quân như lễ xuất hỏa trước, rồi lễ Nam giao sau. Cả hai nhằm mở đầu lễ hội mùa Xuân, được coi là thành phần lễ Gieo. Ban đầu các lễ Xuân được tổ chức chung cho nhà cai trị cũng như dân chúng như còn để ấn tích trên mặt trống, sau kêu là “ Trống ” Quân. Truyền thuyết kể các tổ mẫu nhà Thương, nhà Chu đều thụ thai theo tục Trống Quân. Bà Giản Ðịch nhân nuốt trứng chim én ( ngày xuân con én đưa thoi ) sinh ra Tổ nhà Thương. Bà Khương Nguyên đạp vào lốt chân người to lớn mà có mang sinh ra Tổ nhà Chu. Tóm lại vua quan cũng mừng lễ Gieo như dân, chỉ khác là trọng thể hơn. Về lễ Gặt bên Tàu xưa có lễ “ bát chá ”để cảm tạ 8 vị thần mà đứng đầu là thần Gặt ( Taoisme . p. 21 ). Vua quan phải mặc áo thường dân để tham dự . . . Chữ bát chá là tiếng đời Chu, trước nữa kêu là Lạp, Việt kêu là Chạp ( tháng Chạp ), tức là tháng bế mạc gặt hái. Trên đây chỉ kể sơ qua về hai lễ Xuân, Thu để nói lên Tàu, Việt xưa cùng một cơ cấu xã hội nông nghiệp với tục lệ gần nhau. Ngoài ra còn nhiều tục khác cũng “ đại đồng tiểu dị ” như tục Tả nhậm, sau còn in dấu trong việc đề cao bên Chiêu, bên Ðông trong thứ tự Chiêu, Mục. Tục đeo lông chim khi ca vũ như trên mặt trống Ðồng cũng được thấy ghi trong cổ sử từ đời ông Thuấn cho đến trường Bích Ung của nhà Chu và được duy trì trong lễ tế Nam giao. Tinh thần công thể được biểu thị bằng định chế Tỉnh điền, sau đổi ra Ban điền . . . giống công xã nguyên thuỷ của Việt tộc, về số vật tế cũng gồm: Tế tam sinh ( số 3 ): Cừu, bò, heo. Tế ngũ sinh ( số 5 ): thì thêm gà và chó giống như Việt đã khảo cổ minh chứng. Tóm lại trên đây chỉ là mấy khái niệm tổng quát mà các khoa nhân văn sẽ tìm thêm chi tiết; với triết thuyết bấy nhiêu đã tạm đủ để kết luận được rằng càng ngược về trước càng thấy nhiều điểm giống nhau giữa Nho và Việt, nhưng sự khác biệt dần dần đến như sau: Thứ nhất, hát Trống Quân ở các chi Việt ( như Thái ) thì con nhà quý tộc cũng đi dự như mọi người, không có sự phân biệt như bên Tàu. Bên Tàu có phân biệt là do sau, chứ ban đầu thì không, như đã nói trên, về sau mới có thêm lễ Cầu Môi và nhiều luật pháp do vương quyền đưa ra để kiểm soát hôn phối, rồi tìm cách hạ giá Trống Quân vì là lối tự do kết hôn của dân gian không cần đến vương quyền nếu không bắt vào tròng Cầu Môi thì vua làm sao kiểm soát. Thí dụ thứ hai là đàn bà ở cả Việt lẫn Tàu thái cổ đều có địa vị cao, nhưng bên Tàu càng ngày càng bị dìm xuống sâu. Vậy cần nghiên cứu cái bước bật rễ đó vì nó là khúc rẽ của Tình và Lý để nền văn minh mới ra đời mang một bộ mặt khác hẳn với Nguyên Nho, đến nỗi phải gọi bằng tên khác gọi là Bá Nho hay Hán Nho, tức là nguyên Nho đã bị pha nhiều yếu tố du mục. <a name="_Toc130958826"> 5 .- Du mục Những yếu tố du mục đã lần lượt đi vào nước Tàu từ thời khuyết sử, màn mở đầu được huyền thoại gọi là Hoàng Ðế chiến Si Vưu đại biểu nông nghiệp bị xâm chiếm do Hoàng Ðế. nhưng đó mới là huyền thoại. Còn sự chiếm đoạt có bằng chứng sử sách phải kể từ nhà Thương, với sự chiếm đoạt nghệ thuật như di chỉ Long Sơn chứng tỏ. Ðến nhà Chu đã đưa vào văn tự của Nho 4 yếu tố sau: 1 .- Ý niệm về Thiên tử với thiên mệnh đề cao nhà vua. 2 .- Luật hình làm gia tăng oai quyền cho vua. 3 .- Hoạn quan đẩy quyền sở hữu đàn bà của vua đến độ tuyệt đối. 4 .- Chuyển tài sản từ tay công xã nguyên thuỷ sang tay phong kiến là tuyệt đối hóa tài sản của vua. Tiếp tới đời Tần Hán: nhà Tần là đỉnh chót của du mục, của pháp gia đã biểu lộ qua sự đốt sách chôn Nho. Rồi đến nhà Hán kế tiếp bằng cách biến Nguyên Nho thành một thứ quốc giáo là Nho chuyên chế. Hãy bàn sơ qua 4 điểm du mục này: 1 .- Thiên tử là một hình thái rút nhẹ của ý niệm thần phát xuất từ Iran, theo đó vua kể mình như Thần tức cũng như Trời. Ðến khi truyền sang bên Tàu thì có phần giảm bớt hơn: vua không dám xưng là Thần mà chỉ xưng là “ Con Thần, hay con Trời ( Thiên tử )” cũng thế. Ðó là một sự nhượng bộ tiếp cận với Nho, như Alexandre cũng chỉ xưng mình là con Trời là do đã nhượng bộ óc dân chủ bên Hy Lạp. Như vậy nạn chuyên chế cao độ nhất dưới hình thức Vua Thần đã đi vào Nho đến một nửa dưới danh hiệu Thiên tử. 2 .- Ðiểm thứ hai là luật hình với thiên Lữ Hình trong Kinh Thư ( phần Chu thư ) nói lên uy quyền của vua chuyên chế từ trên áp đặt xuống, nó trái ngược hẳn với óc lễ trị của Việt tộc từ dân gian. Vì vậy trong Nho học có vấn đề: thiên Lữ Hình do Mục Vương lúc gìà lẩm cẩm truyền làm, tại sao lại được đưa vào Kinh Thư ? 3 .- Ðiểm ba là Hoạn quan nói lên sự độc tài và độc chiếm đàn bà của nhà vua ( vua Thần ) đến cùng cực. Vua có hàng ngàn cung phi mỹ nữ, tuyệt đối không ai được động vào. 4 .- Ðiểm tư Phong kiến là độc chiếm điền thổ của dân làng làm của riêng vua để rồi cắt phong cho kẻ này người kia tuỳ ý, làm mất sự bình quân tài sản của xã hội Việt nguyên thuỷ. Ðó là 4 yếu tố du mục đã pha vào Nguyên Nho để biến Nho thành một thứ tả - pín - lù hợp với khẩu vị của kẻ chuyên chế, vì thế tuy Tàu là nông nghiệp mà cơ chế đến phân nửa là du mục. Hãy xét về một điểm then chốt nữa là nhà cai trị cũng đến quá nửa là du mục. Toàn thể lịch sử Trung Quốc được dệt nên bằng những cuộc xâm lăng của du mục, khởi đầu tự ngàn xưa, tự Hoàng Ðế dẫn đến nhà Chu, rồi đến nhà Tần, nhà Hán, cả thảy hơn 2000 năm, sau này vẫn còn tiếp nối. Có thể chia sự tiếp nối làm hai đợt: 1 .- Ðợt nhất gọi là xâm nhập gồm 3 triều Bắc Ngụy thuộc dòng Thát Bạt ( Topa ) từ 385 – 556 tức 170 năm. 2 .- Ðợt hai kêu là chinh phục gồm 4 nhà: * Liêu 907 – 1125 ( 218 năm ). * Kim 1165 – 1234 ( 165 ) * Nguyên 1206 – 1326 ( 120 năm ) * Thanh 1644 – 1911 ( 267 năm ) Cộng cả lại là 794 năm chinh phục nhập với 170 năm xâm nhập vị chi là 964 năm. Vo tròn lại là 1000 năm, cộng với 2000 năm trước nữa là 3000 năm, như vậy có nói Trung Quốc mang tính chất du mục quả là có nền tảng ngay trên phương diện sử. Khi học giả Frank nhận xét luật pháp Tàu có Nữ tính là tại so với luật pháp Tây phương đầy Nam tính, chứ so với văn hoá Việt thì Tàu lại nhiều Nam tính. Phần Nữ tính chỉ là ảnh hưởng do Việt tộc ( về nông du bên Trung Quốc được phân biệt rõ nhất do học giả Lattimore nói về hai nguồn văn hoá trong nước Tàu, xem Need. I . 101 ). Vì lý do trên xưa rầy người ta chỉ nhận thấy Hán Nho chẳng mấy ai nhìn ra Nguyên Nho cũng là Việt Nho. Nhưng chính nền văn hoá nguyên thuỷ này mới đem lại cho Trung Hoa những nét dặc trưng căn bản giàu tính cách nhân chủ. Có thể nói Hán Nho mạnh ở triều đình, ở giới bác học, ở thị dân , còn Việt Nho mạnh ở thôn dân, ở làng xã. Ðiều đó chứng tỏ phương Nam vẫn giữ được nhiều tinh thần nhu hoà, tả nhậm, khiến Khổng Tử luôn luôn hướng lòng về phương Nam cho nơi quân tử phải y cứ ( Trung Dung . 10 ).
-
I.- Tàu chỉ Chủ Nho giáo tự đời Tần Hán Câu trên mới nghe ai cũng cho là kỳ lạ nhưng nó sẽ bớt tính cách kỳ lạ khi nói thêm rằng: Tàu chỉ là chủ của Nho giáo tự đời Tần Hán mà thôi, còn hai đợt trước thì chính chủ là Việt Nam.Và câu này sẽ trở nên thường khi xét tới những chứng lý được viện dẫn ra. Ta có thể nói những chứng lý đó khá vững mạnh. Trước hết là nền văn hóa nông nghiệp bao giờ cũng cao hơn văn minh du mục như đã được rất nhiều học giả ghi nhận và chứng minh. Chúng tôi đã chứng minh và dẫn thêm mấy nhân chứng như Chu Cốc Thành, Oppeinheimer và Whitehead (quyển Adventures of ideas đã được dịch sang tiếng Việt do nhà Văn Đàn xuất bản “Bước đường phiêu lưu của những dòng tư tưởng” tr.224). Bằng chứng cụ thể: văn hóa Mohenjodaro nông nghiệp cao hơn văn minh Aryen du mục. II.- Lý do chính Việt Nam là Chủ của Nho 1.- Văn hoá Nông nghiệp bị Văn minh Du mục tiêu diệt Điểm thứ hai là khắp trên thế giới đâu đâu văn hóa nông nghiệp cũng bị văn minh du mục tiêu diệt: Aryen thắng Dravidiens, Hellens thắng Minoens… và do đó duy trì đẳng cấp cùng các đặc ân và chế độ nô lệ để du mục được ăn trên ngồi trốc. Song le tuy thắng mặt ngoài nhưng lại chịu ảnh hưởng về mặt tinh thần của nông nghiệp cho nên ngày nay những nhà nghiên cứu đứng đắn không ai dám phủ nhận phần đóng góp lớn lao của Dravidiens vào nền văn hóa Ấn Độ. Nếu vậy thì tại sao ta lại không tìm xem Viêm Việt đã đóng góp những gì vào nền văn hóa Nho giáo; vì Viêm Việt cũng gặp trường hợp tương tự như Dravidiens đối với Hoa tộc là Aryen. 2.- Viêm tộc đóng góp nhiều cho Kinh điển Điểm ba là nếu Dravidiens còn đóng góp vào văn hóa thì phương chi là Viêm Việt vì Viêm Việt hơn Dravidiens nhiều điểm: trước hết khi Hoa tộc tràn vào thì chưa có kinh điển như Aryen đã có Vệ Đà. Thế mà lúc ấy Viêm Việt đã có “tam phần, ngũ điển, bát sách, cửu khâu” vì thế chính Hoa tộc tuy thắng thế cũng đã phải mập mờ chấp nhận như trong những câu nói: “Tích giả Hoàng Đế đắc Si Vưu nhi minh ư thiên đạo” và trong biết bao truyện truyền kỳ khác như chúng tôi sẽ lần lượt phanh phui. 3.- Văn hoá Nông nghiệp giữ phần đóng góp trội hơn Chính đó là lý do khiến những yếu tố đóng góp của Hoa tộc như óc võ biền, óc tôn quân, óc thượng luật bao giờ cũng bị coi thường. Trái lại Nho giáo luôn luôn đề cao Văn trên Võ, nhơn trị, lễ trị trên pháp trị hình luật… dân trên quân nghĩa là tính chất văn hóa nông nghiệp vẫn giữ phần trội ít ra trong phạm vi văn hóa lý thuyết. Huống chi trong hiện thực như trong đời sống chính trị thì Viêm tộc được đóng góp phần rất then chốt tuy không có tiếng, nghĩa là Viêm Việt vẫn thành công khá trong chủ trương “vua trị vì, quan cai trị” c’est le roi qui règne mais ce sont les mandarins qui gouvernent. Trị vì thuộc vương triều thường là của Hoa tộc, còn cai trị thì thuộc các quan, tức là phía dân phía Viêm Việt vì các quan hay người hiền thì hầu hết xuất thân từ nông nghiệp ông Y Doãn cày ruộng ở đất Hữu Sằn. Ông Bá Lý Hề chăn trâu, ông Thuấn cày ruộng v.v… Chính nhờ chủ trương này mà Viêm Việt đã tham gia tích cực vào đời sống chính trị và đã đạt những thành quả mà chưa bao giờ người Dravidiens đã dành được trên đất Ấn Độ của họ. Nghĩa là tuy họ sống trong đất cha ông giối lại nhưng chỉ như là những nô lệ, hay ít nhất không được tham dự tích cực vào đời sống chính trị văn hóa như Viêm Việt. Chính nhờ đó mà chế độ nô lệ đã được bãi bỏ, và thiết lập ra chế độ công điền bình sản, bình quyền đi học: xóa bỏ sự phân cách giữa Hoa tộc và Viêm tộc để cho hai bên cùng một quyền lợi như nhau. 4.- Lý do không thiết lập nổi nền Quốc học Trở lên là những chứng lý rút ra trước hết do các kinh điển và sách vở của Tàu, còn của Việt Nam thì ta chỉ dùng để kiện chứng, như vậy là bớt được rất nhiều phần chủ quan mà những lý chứng đó còn có được tầm phổ biến và khách quan cả khi so sánh với các nền văn minh khác, cũng như khi xét về nội tình văn hóa Việt nho, vì thế chúng tôi không ngần ngại cho rằng chính sự tin tưởng như quen làm cho tới nay rằng Việt Nam mượn Nho giáo của Tàu là câu nói thiếu chiều sâu nên là sai lầm, và chính bởi tin sai lầm như vậy nên cho tới nay người mình vẫn hoàn toàn bất lực không thiết lập nổi nền Quốc học như chúng tôi sẽ đề cập trong quyển “Vấn đế quốc học”. 5.- Ảnh hưởng của Việt Nho Bạn sẽ nói: nếu quả có thực như thế vậy tại sao từ trước tới nay không ai nhìn thấy, không thấy có cuộc tranh đấu nào. Thưa rằng có nhiều điều cũng khá hiển nhiên mà vẫn nằm trong thiên nhiên phải chờ có người biết khám phá. Và vì chưa khám phá nên không có đấu tranh. Riêng trong trường hợp Việt Nho thì còn khó nhìn ra hơn nữa vì Việt Nho đã thành công trong những mục tiêu chính vì thế không còn gì để mà tranh đấu cũng như không còn phải tranh đấu cho ai. Trước hết là cho ai. Nếu ai ấy là Viêm Việt thì không còn nữa vì đã pha máu quá nhiều lần rồi, biết bao ông Hoa lấy bà Việt rồi, nên ít thế hệ không còn vấn đề thị tộc, chủng tộc. Cái mức đồng hóa của Viêm Việt mãnh mẽ đến đâu chỉ cần lấy dân Do Thái làm nhân chứng. Do Thái sinh sống trong văn hóa Âu Tây hai ngàn năm mà nay vẫn còn duy trì óc chủng tộc, đang khi Do Thái vào nước Tàu thì mất luôn óc chủng tộc. Vì thế bên Viễn Đông không có óc kỳ thị chủng tộc, ít ra tới độ đủ để tranh đấu, vì ai cũng được quyền như ai. Nghiêu Thuấn là Đông Di Tây Di cũng được làm thiên tử, có chăng chỉ còn vấn đề quan quyền và dân gian nhưng bờ cõi phân ranh này cũng đã được phá vỡ từ khi thực thi câu “hữu giáo vô loài”. Cửa đã mở ra rồi tranh đấu cái chi nữa. Vậy tại sao nay lại nhắc tới? 6.- Lý do cần phanh phui Nho giáo là của Việt Thưa vì hiện chúng ta đang từ chối Nho giáo như là đồ mượn của Tàu, nên cần phanh phui lại để nói lên tác quyền của cha ông, nói lên phần đóng góp của nhiều ngàn đời tiên tổ vào một nền văn hóa chung, mà nay lại còn cần thiết cho nước nhà hơn khi nào hết. Vì thế phanh phui ra sự thực thì không phải để tranh đấu với ai mà chính là để chúng ta thâu hồi lại cái di sản của chúng ta. Để sự thu hồi được hiện thực chúng ta hãy tìm cách nhận diện nền văn hóa cố cựu đó trong mấy điểm sau đây: - Nguồn văn minh là nông nghiệp - Gốc văn hóa là Viêm tộc mà - Việt tộc nằm trong khối đó. 7.- Phân biệt giữa Văn hoá Nông nghiệp và Văn minh Du mục Điểm trước hết là nông nghiệp. Nông nghiệp vẫn trường tồn ngược với du mục đã tiêu trầm nhưng đã trao tính chất du mục sang công thương nghiệp, nên công thương nghiệp là kẻ kế tự của du mục, muốn tìm hiểu du mục thì phải tìm hiểu qua thương, công. Thương công thường ở thành thị, còn nông nghiệp phải gắn liền với đồng quê. Văn hóa Tây Âu nặng về thương công thuộc homo mercator (thương nhân) và homo faber (công nhân) cả hai đều xem vật tự ngoại, nhất là mercator (Instinct. Bandoin 158). Bởi thường sống ở thành thị xa thiên nhiên nên dễ để trụt mất nội dung của các biểu tượng, vì thế dễ trở thành trừu tượng (Creel 297), văn hóa trở thành nhân vị đứng ngoài đời sống là do đó. Ngược lại văn hóa nông nghiệp vì không thể cưỡng ép thiên nhiên như bắt thảo mộc mọc mau chậm theo ý mình, nhưng phải hòa hợp với tứ thời, bát tiết, nhịp theo hai mùa lớn là Xuân Thu với gieo gặt. Vì thế có một sự liên đới rất cụ thể và mật thiết giữa người với thiên nhiên, được kết tinh trong câu nói của Vương Sung “thiên nhơn đồng đạo, chữ hán”. Chính vì đó mà tính chất của nó là yêu chuộng hòa bình, chống chiến tranh (Creel 77), đặt Văn trên Võ nên không có anh hùng ca (của riêng dân hiếu chiến). Văn minh nông nghiệp còn một đặc tính nữa là yêu nhà, yêu nước, vì thế đề cao non nước, đề cao thổ thần nên trong câu nói trung quân ái quốc thì chữ “Ái quốc” có màu sắc nông nghiệp, yếu tố địa vực (locale) trái lại chữ “Trung quân” lộ vẻ du mục đề cao người cầm đầu (personnel) vì văn minh du mục lang thang không nhà, không nước, hay thương công cũng không thiết với nước bằng: hễ “đâu dễ sống dễ kiếm ra tiền thì đấy là tổ quốc”, ubi bene vivere ibi patria, vì thế trào lưu vô gia đình vô tổ quốc phát xuất từ văn minh thương nghiệp và ngày nay hai chữ nhà và nước đã trụt mất rất nhiều nội dung là do sự lấn át của nên văn minh công thương du mục vậy. Nền văn minh này đã khởi đầu lấn át nông nghiệp từ lâu lắm: mãi từ ngày Cain giết chết em là Abel. Cain và Abel là hai biểu tượng cho hai nền văn minh nông nghiệp và du mục. Khi nói Cain giết Abel thì cũng là nói “du mục lấn át nông nghiệp” và được thể hiện qua lịch sử như anh Hellens đối với em Minoens, anh Aryens dối với em Dravidiens, anh Hoa đối với em Viêm v.v… và đâu đâu cũng thế: anh Cain giết em Abel cách này hoặc cách khác, ít hoặc nhiều. Phần lớn là nhiều, đôi khi là ít và ít hơn hết thì phải kể đến các em Viêm bởi các em này đã không để cho các anh Hoa làm mưa làm gió như bên Tây Âu hay Ấn Độ, nhưng đã chiến đấu nhất là trên phương diện tinh thần để cuối cùng đưa người đại diện vào việc kiến thiết văn hóa. Và những người đại diện đó chính là dân tộc. Vì thế dân tộc chính là yếu tố thứ ba định tính nền văn minh Viễn Đông. Thực ra thì ở đâu cũng có câu “tiếng dân là tiếng trời” = “vox populi vox caeli”, “the people are never wrong”. Nhưng không đâu người ta chịu để cho dân có tiếng nói, hoặc khuyến khích lắng nghe dân nói, hoặc gần dân để nghe dân nói, vì dân bao giờ chả nói và lới nói của dân đã kết tinh lại trong các câu ca dao, tục ngữ. Trên thế giới này không đâu là không có ca dao tục ngữ, chính nó làm nên cái minh triết của dân gian, của các dân tộc = la sagesse populaire, la sagesse des nations. Tuy nhiên đâu đâu ca dao tục ngữ cũng chỉ có ở đợt tản mác, vụn mảnh không được kể đến. Đặc biệt nơi Viêm tộc nhờ đã tranh đấu nên ca dao có được một địa vị trong kinh và do đó tiếng dân đã được đóng góp vào việc làm nền kinh điển, tức làm nên những sách cao quý nhất của một nước. Cũng như sau này đến lượt các sách cổ điển dân chúng vẫn đóng góp vào việc sáng tác. Vì thế tác quyền bên Viễn Đông không được chú ý nhiều là vì nó không có tính chất cá nhân nhưng là công cộng. 8.- Lạc Việt là đại diện chính của Viêm Việt Điểm thứ bốn là trong khối dân lớn lao của Viêm tộc đó thì ngành đại diện chính là Lạc Việt. Mấy hệ kia như Tạng, Mon-Khmer, Âu Việt… bị đồng hóa với Ấn Độ; Miêu Việt đồng hóa với Hoa tộc chỉ còn có Lạc Việt là đại diện duy nhất còn lại của Viêm tộc lúc trước đã chiếm lãnh toàn bộ Trung Hoa cổ đại và xuất hiện trước thị dân là Hoa tộc (Socio XVII, xem thêm Chu Cốc Thành trong Trung Quốc thông sử). Rồi sau mở đầu cho một cuộc tháo chạy dần dần trước kẻ xâm lăng: chạy từ Tây sang Đông từ Bắc xuống Nam, cuối cùng giữ cho mình được hai miền Đông Nam nhất là Nam nhưng khắp nơi đều để lại nhiều đại biểu, và tuy vì chính trị nên phải li biệt kẻ Bắc người Nam nhưng tình trong thì vẫn một nhà. Không hiểu vì hậu ý nào mà phần lớn học giả đời nay lại cố ý chối bỏ mối liên hệ này, cho đó chỉ là những “ước đoán mong manh”. Mong manh sao được khi có đầy những tang chứng nằm tản mác trong nhiều sử liệu nước Tàu, bởi vì cuộc di cư này không phải chỉ có xảy ra một lần lúc nước Sở diệt nước Việt, nhưng là trước nữa, rất lâu trước nữa, và mãi cho tới gần đây chỉ từng vài trăm năm vẫn còn. Thời Vương Mãn (đầu kỷ nguyên) biết bao nhân sĩ miền Bắc vùng Hoàng Hà chạy xuống lập nghiệp ở xứ Giao Chỉ mà đại biểu điển hình hơn cả là Sĩ Nhiếp, người đã lập ra “học phái nước Nam” lấy khẩu hiệu là “Đạt ư tòng chính” để vượt qua những tranh luận suông giữa hai phái kim văn và cổ văn trên Bắc, nhờ đấy văn hóa Giao Chỉ ảnh hưởng quật lại Trung Hoa. Cũng như Triệu Đà đại diện chính trị nhân lúc Hán Sở tranh hùng đã đứng lên giết quan lại nhà Tần để lập ra Nam Việt. Lại còn những vụ bắt cóc người Quảng Đông Quảng Tây bán làm nô lệ cho người Việt Nam. Trong quyển “Văn hiến thông khảo” (tr.26) Mã Đoan Lâm có kể lại văn kiện nhắc đến vụ này và nói mỗi năm tới hàng ngàn người Tàu bị bắt như thế. Nho sĩ thì giá đắt gấp bội. Đây là một sự kiện hiển nhiên mà bất cứ ai khởi công nghiên cứu cũng gặp thấy. Đến nỗi gần đây có người quả quyết dân Việt Nam là người Trung Quốc di cư sang đây trong thời Bắc thuộc. Đó là câu nói tuy quá đáng nhưng đứng ở phương diện tìm về nguồn gốc dân tộc thì gần với sự thực hơn những khuynh hướng đi tìm nguồn dân tộc về phía Mã Lại, Indonésie… tuy gần nhưng chưa sát vì cũng còn là câu nói có tính cách duy sử nghĩa là coi huyền sử như truyện nhảm nhí nên không nhìn ra chỗ đứng lớn lao của Việt tộc. Địa vị này chỉ nhận ra được khi chịu chú ý đến huyền sử vì chính huyền sử mới là quãng quyết định cho thời khai quốc, chính trong thời xa xăm đó mới kết tinh lên những thói tục riêng biệt và nhất là ngôn ngữ để làm thành một lò đúc đủ mạnh đặng đồng hóa các lớp dân cư đến sau. Các lớp này dầu có Tàu đến một trăm phần trăm và có đông đến mấy cũng chỉ ít thế hệ là đã bị tôi luyện trong cái lò Việt rồi. Khác xa với người Anh di cư sang Mỹ đã di cư luôn cả ngôn ngữ và thói tục nước Anh. Điều đó không có đối với người Tàu di cư sang đất Việt. Vì thế ta có thể kết luận nước Việt Nam đã được thành lập lâu đời trước và được huyền sử ghi nhận trong huyền thoại “ba vĩ tích của Lạc Long Quân”. Huyền sử kể rằng Lạc Long Quân đã tiêu diệt được Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh. Câu chuyện có nghĩa rằng Lạc Long Quân đã chống lại văn minh phương Bắc (Ngư tinh cá sống dưới nước, Bắc phương thuỷ; phương Tây là Hồ tinh: vật tổ thú; Mộc tinh = phương Đông) để duy trì văn hóa phương Nam hành hỏa, chính ngọn lửa này đã nung đỏ khối sắt (hồng = Viêm nhiệt) liệng vào miệng con ngư tinh, có nghĩa là lấy văn hóa Viêm tộc chống văn hóa của quần chúng thuỷ tộc (Bắc phương). Đó cũng chính là ngọn lửa đã phun ra tự miệng con ngựa của Phù Đổng Thiên Vương để đuổi quân thù. Thiên là dân, Vương là chủ, Phù Đổng Thiên Vương là tinh thần dân chủ của văn hóa phương Nam, của Việt tộc. Xem thế đủ biết tinh thần văn hóa Việt tộc đã thành lập lâu đời trước những người từ phương Bắc đến sau dù thuộc dòng máu Viêm hay Hoa cũng chỉ ít lâu là bị giết như Ngư tinh… nghĩa là bỏ tiếng nói, thói tục phương Bắc để nhận ngôn ngữ và phong thổ Việt Nam. Vậy thì trên dải đất này bản chất Việt Nam trổi vượt hơn bản chất Tàu nên phải gọi là Việt tộc mà không thể kêu là Tàu, và như thế muốn tìm đến nguồn gốc chân thực của Việt Nam thì phải tìm về tới Hồng Bàng thị; óc khoa học trung thực đòi phải như thế vì nếu bỏ quãng đó thì không thể nào giải nghĩa nổi thực thể Việt Nam, bao gồm tiếng nói và thói tục riêng như vừa bàn. Bởi vậy chúng tôi cho câu nói “dân Việt chỉ là người Tàu di cư sang đây” là quá đáng, tuy nhiên có tác động hay ở chỗ giúp người Việt nhớ lại nguồn gốc dòng tộc mình không nên tìm từ phía Nam (Mã Lai, Indonésie) nhưng phải tìm về phía Bắc. Làm như thế mới là đúng theo chiều toàn thể, tức là con đường di chuyển chung của nhân loại. Không cứ gì người Việt người Thái từ Bắc tiến dần xuống miền Nam, mà bên Âu Châu cũng xảy ra một hiện tượng như thế với các đợt tràn lấn của các dân miền Bắc: người Aryen tràn xuống Ấn Độ chiếm đất của Dravidiens… Tất cả còn lưu lại chứng tích không thể vì thiếu sử liệu mà phủ nhận cái thực thể lớn lao này được. Huống chi còn biết bao tang chứng sống động khác thuộc thể chế của nước của nhà: quan, hôn, tang, tế… Không nên bắt chước mấy học giả ti hí mắt lươn để cho tiểu tiết che lấp cái toàn thể. Chúng ta cần vượt qua lối giải nghĩa của sử học khách quan này, để tìm ra cái ý nghĩa uyên nguyên gắn liền với tiềm thức (psychanalyse du Feu. Bachelard p.91) có rất nhiều bảo đảm. Làm như thế mới có nhiều hy vọng nhìn ra cái di sản thiêng liêng của tổ tiên mà chúng ta có sứ mạng phải khai quật và vun tưới. Vì thế một lần nữa chúng tôi xin nhấn mạnh đến mấy việc lớn sau đây: Việc lớn hơn cả là trong khắp thế giới các dân bản thổ hoặc bị tiêu diệt hầu trọn vẹn như bên Úc, Mỹ hoặc một phần như dân Phi Châu, hoặc bị đồng hóa hay nằm trọn vẹn trong vòng nô lệ như bên La-Hy và Ấn Độ. Riêng có Viễn Đông thì dân bản thổ đã không bị tiêu diệt lại còn đồng hóa chính người xâm lăng. Việc này đã xảy ra ở những thời khuyết sử nên có phần lu mờ nhưng đã được kiện chứng do các đời sau: Hung Nô, Hồi Hột, Ki, Nguyên, Mãn… tất cả đều bị đồng hóa. Điều này không ai chối cãi được. Vậy chúng ta có thể nương vào đó kết luận ngược trở lên đến Hoàng Đế, Thần Nông và con cháu Thần Nông (tức văn minh nông nghiệp) đã đồng hóa con cháu Hoa tộc của Hiên Viên du mục. Dầu trong tiểu tiết có thể sai chạy ít hay nhiều đi nữa, nhưng trong đại cuộc thì kết luận được như thế. Việc thứ hai là kinh điển do dân gian Viêm Việt khởi công… Điều này cũng xảy ra mãi từ thời khuyết sử, nhưng lại được kiện chứng bằng các đời sau với những sách như Tam Quốc, Thuỷ Hử, Tây Du Ký… Trước khi thành tác phẩm bất hủ thì những sách đó đã trải qua một quá trình thai nghén hình thành dài lâu trong dân chúng. Điều này không ai chối cãi được, và vì thế nó là kiện chứng rất vững cho chúng ta suy luận ngược lên về tác giả kinh điển. Việc thứ ba là sự trường cửu bền bỉ của nền văn hóa Nho giáo. Không có một cuộc xét lại nào từ nền tảng giống các nền văn hóa khác cả. Ở đây tuy có biến đổi nhiều lắm nhưng toàn ở ngàn ngọn định chế tuỳ thời, còn về tinh tuý thì trường tồn y nguyên, thế mà các đợt tấn công từ ngoài tới thì cứ liên miên hết các loạt Hung Nô, Hồi Hột… lại đến các đợt Kim, Mông, Mãn… Dầu vậy nó vẫn đủ tiềm lực chỗi dậy nổi, như thế tỏ ra nó không phải là một cái gì hời hợt như một ý hệ do một cá nhân suy nghĩ ra. Cá nhân dẫu có tài ba tới đâu cũng là cá nhân, có tác động lâu lắm cũng trong vòng ba bốn chục năm. Ngược lại dân là “vạn đại chi dân” nó trường tồn và những gì do dân kiến tạo, lớn lên với dân đều bền bỉ như dân vậy. Điểm thứ bốn cũng rất lớn lao và thuộc riêng nước nhà đó là một đàng lịch sử nước ta chứng tỏ một óc quật cường bất khuất thế mà lại không bao giờ chối bỏ Nho giáo thì phải kể là nó có mối liên hệ thâm sâu nào đó. Và mối liên hệ đó thuộc văn hóa như chính những người muốn chối rồi cũng phải công nhân (Maspéro Chine p.17). Và nền văn hóa này sau những suy luận trên ta nhận ra không chỉ là vay mượn nhưng chính là cha ông tiên tổ ta đã đóng góp vào việc tạo dựng nên nó, và như thế Nho giáo là của nước ta cũng như của nước Tàu, cả hai đều là tác giả. Và đó là lý do sâu xa nhất nằm ẩn trong tiềm thức dân tộc khiên cho tiền nhân ta không hể chống Nho giáo mặc dầu về chính trị vẫn chống Tàu mãnh liệt. Đó là mấy sự kiện lớn lao về văn hóa Việt Nho, chính nó đã cho phép chúng tôi đưa ra nhiều quyết đoán mới lạ trong sách này. Những quyết đoán đó nếu chỉ dựa vào chính sử, hay khảo cổ thì không dám đưa ra. Nhưng chúng ta biết chính sử đã bị nhà cầm quyền bóp méo và xuyên tạ nhiều lần, còn khoa khảo cổ thì phạm vi quá hẹp hòi lại còn rất bấp bênh, vì thế chỉ dựa vào có hai khoa ấy thì không đủ. Trái lại khi nhìn dưới ánh sáng của 4 sự kiện lớn lao vừa kể trên thì những câu quyết đoán trong sách này tuy đi ngược chiều xưa nay lại tỏ ra có nên tảng hơn. Những sự kiện lớn lao đó ví được như cung đầu cung cuối của câu nhạc mà mỗi nhạc khí cần hòa hợp. Thí dụ câu “hồ xự hồ xang” thì ba nốt giữa có thể bỏ, hoặc đổi hồ ra xê hoặc thêm bớt cung tuỳ cái hứng riêng, miễn sao hợp ở nốt đầu và cuối là vẫn giữ được hòa âm của tiết điệu. Những điều chúng tôi quả quyết trong sách này về tác quyền của Việt Nam cũng thế: đúng với những điều lớn, còn các chi tiết có sai chạy đôi chút cũng không quan trọng đến nỗi làm hại được đường hướng lý tưởng đã đề nghị ra mặc dầu vẫn còn phải nghiên cứu thêm để tăng phần chính xác. Và đó là việc cần phải làm mãi mãi, trong lúc chờ đợi chúng ta cần phải có một lý tưởng. Durkheim nói rất đúng rằng khi nhận thấy một phong tục đã sống lâu đời với một dân tộc nhất định nọ thì phải hiểu là nó đã thích nghi được với những hoàn cảnh của khu vực đó. Viễn Đông ta nói “thuận thiên giả tồn” cũng một ý nghĩa, tức cái gì trường tồn thì là thuận thiên, hiểu là thuận tâm lý phong thổ và những điều kiện thời gian không gian, nên là những thực thể cần phải kể tới không thể vì thấy không hợp định đề của mình mà gạt bỏ đi được. Nguồn: Việt Nhân -anviettoancau
-
Bài của tác giả Phạm Trần Anh Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa. ĐẠI CHỦNG HOABINHIAN PROTOVIETS Từ truyền thuyết cũng như căn cứ vào các Thần tích và Tộc phả được phối kiểm bởi khoa Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Chủng tộc học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong vùng cho phép chúng ta xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Malayo-Viets). Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử kể cả truyền thuyết Rồng Tiên về thời kỳ dựng nước của Việt tộc là một sự thật lịch sử. Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này. Đồng thời xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaynesian tức Malayo-Viets (Bách Việt) trải dài từ rặng Tần Lĩnh, hạ lưu sông Hoàng Hà ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, lưu, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực 2 con sông Hoàng Hà và Dương Tử (Trường Giang), phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt. Các nhà khoa học của Viện Pháp Á gồm bác sĩ Trần Đại Sỹ, giáo sư Tarentino người Ý và giáo sư sinh vật học người Pháp Varcilla Pascale đã ứng dụng hệ thống DNA là hệ thống sinh học mới nhất cho chúng ta kết quả có tính thuyết phục nhất. Các nhà khoa học đã khảo sát y phục, mồ mả, ră ng xương trong các ngôi mộ cổ qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất. Sau đó dùng hệ thống DNA kiểm những bộ xương, đồng thời kiểm máu của 35 dòng họ tại Hoa Nam và Việt Nam rồi so sánh với những dòng họ khác tại Hoa Bắc đã kết luận: 1. Cư dân Hoa Nam, từ miền Nam Trường Giang xuống tới miền Trung Việt Nam, Lào, Thái đều có cùng một huyết thống, một chủng tộc. 2. Cư dân này hoàn toàn khác biệt với cư dân Hán ở Hoa Bắc. Kết quả của những công trình khoa học có ý nghĩa lịch sử đã xác định vùng Đông Nam Á trải dài từ lưu vực sông Dương Tử xuống tới lưu vực sông Hồng, sông Cửu Long mà đồng bằng châu thổ sông Hồng là trung tâm nơi phát tích của nền văn minh Hòa Bình của cư dân Malaysian.(9) Năm 1998, giáo sư J.Y. Chu và 13 đồng nghiệp ở Đại học Texas đã phân tích 15-30 mẫu “Vi vệ tinh” DNA (microsatelltes) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á gồm 2 nhóm thổ dân châu Mỹ, một nhóm thổ dân châu Úc và một thuộc thổ dân Tân Guinea, 4 nhóm dân da trắng Caucasian và 3 nhóm dân Phi Châu. Kết qủa của công trình nghiên cứu bằng phương pháp phân tích thống kê có tên là “Phân tích chủng loại” (Phylogetic Analysis). Nhà bác học Chu và 13 đồng nghiệp khác tại đại học Texas Hoa Kỳ và các trường đại học và viện nghiên cứu lớn nhất ở Trung Quốc đã công bố một công trình thành công về di truyền học mang tên “Genetic Relationship of Population in China” được đăng trong Tạp chí Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia của Hoa Kỳ (The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998) như sau:(10) 1. Hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi Châu và các dân khác không thuộc Phi Châu”. 2. Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á và Người Trung Quốc ở phía Bắc TQ có cấu trúc di truyền khác với người Trung Quốc ở phía NamTQ”. Năm 2001, giáo sư Lâm Mã Lý một nhà di truyền học công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học “Hệ thống miễn nhiễm Human Leucocytes Antigen HLA ở nhiễm sắc thể 6 (chromosoms qua máu dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết hợp được trong tổ hoạt động quốc tế về HLA năm 1998”, giáo sư Lý kết luận: “Người Mân Nam Hoklo và Hakka rất gần vói người Việt, Thái và các tộc người Mongoloid Nam Á. Người Đài Loan thuộc dân tộc Mân Việt trong đại chủng Bách Việt hoàn toàn khác với Hán tộc”. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu mới nhất của các nhà nhân chủng về cội nguồn phát tích của cư dân vùng Đông Nam Á đã làm sáng tỏ một sự thật lịch sử là tất cả cư dân Đông Nam Á đều có chung một cội nguồn chủng tộc. Giáo sư Douglas C. Wallace ở đại học Emory, Atlanta và Georgia đã phát hiện một đột biến di truyền đặc biệt cho lục địa châu Á. Đó là sự thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII và tRNALYS). Nhà nhân chủng học Tréjaut đã nghiên cứu về thổ dân Đài Loan, dân Đông Nam Á và dân Đa Đảo đã công bố một sự thật làm đảo lộn mọi nhân định từ trước đến nay về vấn để này: 1. Thổ dân Đài Loan đã định cư trên 15 ngàn năm. 2. Thổ dân Đài Loan cũng trải qua 3 lần đột biến đặc biệt như dân Mã Lai, dân Đa Đảo mà dân Tầu ở Trung Hoa lục địa không có 3 lần đột biến này. 3. Yếu tố mtDNA B có ở vùng Đông và Đông Nam Eurasia, thổ dân châu Mỹ và dân Đa Đảo. 4. Nhà nhân chủng Melton và Redd tìm thấy cư dân Đa Đảo có một tỷ lệ cao về sự thất thoát của cặp căn bản số 9 ở hai thể di truyền COII/ tRNA.(11) Giáo sư Christian Pelzes chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á học ở đại học Hawaii đã nhận định rằng trong các tiểu bang và các nền văn hóa của xã hội đa văn hóa Hoa Kỳ thì quần đảo Hawaii có quan hệ thân thuộc nhất với Việt Nam. Nhà nghiên cứu Bob Krauss đã so sánh Hawaii với Việt Nam trên các phương diện địa lý và dân tộc đã tìm ra rất nhiều điểm tương đồng và các chứng liệu cổ sử học, nhân chủng học, ngôn ngữ tỷ hiệu và nhất là Mitochondrial DNA Haloptype B cũng như sự thất thoát của các cặp cơ bản số 9 giữa hai thể di truyền CO II tRNA LYS chứng minh dân Đa Đảo (Polynesian) là hậu duệ của dân Bách Việt. Dựa trên những công trình nghiên cứu khoa học thuyết phục, tạp chí Science Progress đã công bố kết qủa xác định thổ dân Đông Nam Á, thổ dân Đa Đảo và thổ dân châu Mỹ có cùng một ngọn nguồn phát tích, cùng chung một nền văn hoá Lapita (1500-800TC) với đồ gốm thẩm mỹ độc đáo.(12) Hiện ở Trung tâm văn hoá Đa Đảo ở Hawai còn trưng bày một mẫu thuyền độc mộc đục khoét bọng cây làm thuyền di chuyển, khi ra biển thì ghép 2 thuyền độc mộc lại tạo thế thăng bằng trên mặt biển. Tháng 3 năm 2007, Hàn Lâm viện Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (Proceeding of the National Academy of Science,USA) đã công bố công trình của các nhà nhân chủng thuộc đại học Durham và Oxford Anh Quốc nghiên cứu mtDNA của heo và dạng răng heo trên toàn vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo đã đi tới kết luận: “Nghiên cứu mới về DNA của heo đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương và người Việt cổ (Bách Việt) là cư dân đầu tiên định cư trên các hải đảo Đông Nam Á rồi tới New Guinea, Hawai và Polynesia thuộc Pháp. Họ mang theo kỹ thuật làm thuyền độc mộc. Nghiên cứu mới về DNA heo đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương và cho thấy hầu hết cư dân trong vùng có nguồn gốc từ Việt Nam. Nhà nhân chủng Ballinger và đồng nghiệp đã nghiên cứu mtDNA của 7 dân tộc Đông Nam Á đã kết luận thuộc chủng Mongoloid phương Nam mà Việt Nam là trung tâm của mtDNA từ đó lan toả ra khắp vùng Thái Bình Dương”.(13) Sự thật lịch sừ này đã được Khoa Đại Dương học và khảo cổ học đã chứng minh rằng người cổ Hoà Bình Hoabinhian do nạn biển tiến cách nay khoảng 8.500 năm đã tiến lên vùng núi cao Hòa Bình, Bắc Sơn và ngược lên hướng Tây Bắc. Khi mực nước biển dâng lên cao, cư dân khắp các nơi dồn về vùng cao nên đã tập trung nhiều phát kiến để hình thành nền văn hóa Hòa Bình, một nền văn hóa cổ đại tinh hoa của nhân loại. Mực nước dâng cao dần khiến cư dân Hoabinhian mà chúng tôi cho là những người Tiền-Việt Protoviets ở lưu vực 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Cửu Long phài thiên cư theo hướng Tây Bắc lên miền cao sơn nguyên giữa 2 dãy núi Hi Mã Lạp sơn và Côn Luân. Họ mang theo đặc trưng của văn hoá Hoà Bình lên địa bàn mới vùng cao nguyên giữa hai rặng núi cao nhất là Hi Mã Lạp Sơn và cổ nhất là Côn Luân ở Tây Bắc và vùng núi cao Thái Sơn ở Sơn Đông. Khi mực nước biển hạ xuống, những vùng biển nước mênh mông nước rút dần để lộ ra những vùng đất màu mỡ phì nhiêu. Tiền nhân chúng ta đã từ vùng cao nguyên Hi Mã Lạp sơn tiến xuống vùng đồng bằng, nước rút đến đâu từng đoàn người tiến tới đó để lập làng định cư khai phá đất đai. Chính sự kiện tiến về vùng sông nước này được truyền thuyết diễn tả qua việc mẹ Âu cùng 50 con ở lại vùng cao, Bố Lạc dẫn 50 con xuống “Thủy Phủ” miền sông nước. Hai Thạc sĩ sử địa người Pháp là J Loubet và P Gouron đã tìm ra địa danh Thủy Phủ chính là cảng Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên Phủ Trung Khánh TQ bây giờ. Như vậy, cư dân Hoà Binh Hoabinhian đã phải thiên cư mỗi khi có nạn biển tiến mà 3 lầm biển tiến cách đây khoảng 14 ngàn năm, 11.500 năm và 8.500 năm theo 2 hướng. Một nhánh theo hướng Đông Bắc qua cầu đất Béring vào Mỹ châu do nạn biển tiến cách đây khoảng 13.500 năm rồi trở thành thổ dân Bắc Mỹ.và nhánh khác theo hướng Nam xuống bán đảo Mallacca Mã Lai Malaysia) rồi vượt biển tới các hoang đảo sau này có tên là Nam Dương Indonesia, Phi Luật Tân (Philippine), Hawai, Đa Đảo, NZealand rồi sang tới California, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Trước đây, chúng ta thường nghĩ rằng truyền thuyết khởi nguyên dân tộc là hoang đường huyền hoặc và huyền thoại Rồng Tiên chỉ là sự hư cấu để điểm tô cho lòng tự hào dân tộc thì ngày hôm nay, tất cả đã sáng tỏ qua các công trình nghiên cứu, những kết quả khoa học thuyết phục nhất. Hình tượng Rồng Tiên được thần thoại hóa từ vật tổ biểu trưng Chim và Thuồng Luồng (Giao Long) của chi Âu Việt ở miền núi và chi Lạc Việt ở miền sông nước. Chữ Tiên gồm 2 chữ sơn và nhân hàm nghĩa người ở miền cao núi rừng mà thôi và địa danh “Thủy Phủ” được 2 thạc sĩ sử địa người Pháp là J.Gouron và P. Lubet tìm ra chính là cảng Thành Đô, phủ Trùng Khánh tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc bây giờ. Hai bản đồ Pacific Ocean và Atlas 1949 ghi rõ là SUIFU=Thủy phủ. Thế là truyền thuyết từ chỗ u u đã trở nên minh minh chứ không còn u u minh minh như trước nữa.Từ truyền thuyết khởi nguyên dân tộc, đối chiếu với nguồn sách sử của Trung Quốc, kiểm chứng qua các công trình nghiên cứu Dân tộc học, Ngôn ngữ học, Văn hoá Khảo cổ, Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Đại dương học và kết q ủa phân tích cấu trúc mã di truyền mới nhất, thuyết phục nhất của các nhà Di Truyền học đã xác định Việt tộc hoàn toàn khác hẳn với Hán tộc. Người Việt có 1 tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền trong dân tộc (Intrapopulatinal genetic divergence 0.236% và về Hinc II/ Hpal nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á. Chính vì vậy, Việt Nam là trung tâm của nền văn hoá Hòa Bình ảnh hưởng bao trùm Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Cận Đông và cả châu Mỹ nữa. Việt Nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS mà các nhà di truyền học gọi là “Đột biến đặc biệt Á Châu= “9bp deletation bettween CO I I tRNA LYS genes” bp= base pair). Cư dân Nam Trung Hoa tức người Trung Quốc ở Hoa Nam, Đài Loan, Cư dân Đông Nam Á gồm Miến Điện, Miên, Lào, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật tân, Brunei và Đông Timor, thổ dân Đa Đảo Polynesian, thổ dân Hawai, thổ dân Maya ở Trung và Nam Mỹ, Pima ở Bắc châu Mỹ có cùng Halogroup A, B, C, D và Thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII /tRNALYS mà các nhà Di truyền học gọi là Đột biến châu Á Mitochondrial DNA Á Châu (Asian Mitochondrial DNA) của Việt tộc. Thực tế này xác định Việt tộc là một đại chủng lớn nhất của nhân loại và Việt nam là một dân tộc có lịch sử lâu đời nhất của nhân loại. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam – Bách Việt Bàn về nguồn gốc dân tộc Việt Nam là một chủ đề không mới, đã có nhiều nghiên cứu công phu về đề tài này. Tuy nhiên, chúng tôi trong tinh thần muốn đóng góp một cái nhìn, xin gửi đến độc giả một số trích đoạn trong sách “nguồn gốc dân tộc Việt Nam” của học giả Đào Duy Anh, xuất bản năm 1950 về chủ đề này để những ai lưu tâm có thể có thêm cứ liệu suy xét. Có lẽ nguồn gốc truyền kỳ của dân tộc ta thì ai cũng biêt, và thông tin về thời đại nước Âu lạc của Thục An Dương Vương thì thiết tưởng chúng tôi không bàn thêm. Chúng tôi chỉ xin trích dẫn ở đây những cứ liệu về bước chuyển, xuất phát từ một lưu tâm: dân tộc Việt Nam vốn là một chi nhánh trong nhóm Bách Việt, tự khẳng định mình để không bị đồng Hóa bởi Hán tộc trong tiến trình hình thành quốc gia dân tộc. Đề cập đến Bách Việt, chúng ta biết rằng khoảng thế kỷ 20 tcn, khi người Hán đang phát triển nền văn minh của họ ở lưu vực sông Hoàng Hà và Vị Thủy ở phía Bắc thì ở miền nam trên lưu vực sông Dương Tử (Trường Giang), sông Hán và sông Hoài, có những bộ tộc khác đã sinh sống, và thư tịch cổ Trung Quốc gọi họ là Man Di. Dựa vào vùng đất trù phú của miền sông nước, họ đã phát triển kinh tế nông nghiệp, đánh bắt thủy sản để sinh sống. Nhóm Man Di này được nhìn nhận đều thuộc Việt tộc. Đến trước đờiChu(bắt đầu từ thế kỷ XII tcn), họ đã ở khắp lưu vực sông Dương Tử. Quá trình hình thành và thống nhất của Trung Quốc cũng đồng nghĩa với quá trình hoặc đồng hóa các dân tộc nhỏ bé hoặc đẩy họ Nam tiến. Bách Việt là một ví dụ điển hình: một số chi họ trong Bách Việt đã dần nam tiến trong tiến trình Trung Quốc tiến hành thống nhất từ thờiChuđến Tần, và song song đó là quá trình họ bị đồng hóa, nhận lấy những yếu tố Hán tộc làm gia sản của mình. Tất nhiên, không điều gì lại không có ngoại lệ. BÁCH VIỆT Từ trước thời kỳ nước Việt đương cường thịnh ở Chiết Giang, người Việt Tộc ở miền lưu vực sông Dương Tử, riêng là người Giao Chỉ và Việt Thường đã có thể đi qua các đèo ở dãi Nam Lãnh mà di cư rãi rác đến miền nam, trong các thung lũng những sông lớn ở các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến ngày nay. Chúng ta lại biết rằng hơn trăm năm sau Câu Tiễn (năm thứ 46 đờiChu Hiến Vương, tức năm 333 tcn) nước Việt bị nước Sở diệt, từ đó người Việt lìa tan xuống Giang Nam, rải rác ở miền bờ biển lục địa. Ở đấy, họ gặp những người đồng tộc đã di cư đến từ trước. Song người nước Việt có lẽ đã đạt đến một trình độ văn hóa cao hơn, cho nên sau khi họ hỗn cư với những người thị tộc chiếm ở miềnNam trước họ, thì họ đã đem đến đó một hình thức chính trị, và có lẽ một hình thức kinh tế cao hơn. Những nhà quý tộc người Việt mới hợp tàn chúng của họ với các nhóm Việt tộc cũ, hoặc lập thành những bộ lạc lớn mà tự xung là quận trưởng (tù trưởng), hoặc lập thành những quốc gia phôi thai mà tự xưng vương. Những bộ lạc hay quốc gia do các nhà qúy tộc người Việt lập ở miền LãnhNam, người Hán tộc gọi chung là Bách Việt. Đại khái buổi đầu, những nhóm quan trọng ở miền Chiết Giang Phúc Kiến đều thần phục nước Sở, mà những nhóm ở xa hơn trong miền Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam ngày nay) thì không bị Sở ky mi. Cái vận mệnh lịch sử của các bộ lạc và quốc gia Việt tộc ấy là thế nào? Chúng ta không thể nào biết hết được. Có lẽ các bộ lạc nhỏ dần dần bị các bộ lạc lớn thôn tính, cho nên số các bộ lạc linh tinh một ngày một giảm ít đi, mà sử sách chỉ chép có năm nhóm quan trọng, sau này đã đạt đến hình thức quốc gia: Đông Việt hay Đông Âu, MânViệt,NamViệt, Tây Việt hay Tây Âu và Lạc Việt. Ở chương này, chúng tôi chỉ xin nói về ba nhóm Đông Việt, Mân Việt vàNamViệt là các nhóm sau này lần lượt bị đồng hóa theo Hán Tộc, còn nhóm Tây Âu và nhất là nhóm Lạc Việt, hai nhóm ấy sau này hợp thành ước Âu Lạc đã ghi dấu trên lịch sử lâu bền hơn, chúng tôi sẽ nói sau. Đông Việt và Mân Việt, hai nhóm ấy có tự bao giờ, chúng ta chưa biết đích xác được. Chúng ta chỉ có thể đặt sự thành lập chính thức của nó vào thời gian sau khi nước Việt bị diệt ( năm 333 tcn) và trước khi nhà Tần chinh phục Bắc Việt (năm 218 tcn). Sau cuộc nhà Tần thống nhất Trung Hoa thì cương vực của địa bàn người Hán Tộc có thể lấy dãi LãnhNamlàm giới tuyến phíaNam. Sau khi Tần đặt 36 quận ở đất Trung nguyên thì vào khoảng năm 218, Thủy Hoàng phát quân gồm những hạng người lưu vong rể thừa và lái buôn, chia làm năm đạo cho đi chinh phục Bách Việt. Trong 5 đạo ấy, đạo thứ năm tụ tập trên sông Dư Can, trong tỉnh Giang Tây ở phía nam hồ Phiên Dương là đạo quân nhằm đánh. Đông Việt và Mân Việt là hai nhóm người Việt đã có hình thức quốc gia phôi thai, vốn thần phục nước Sở, đã nhân cuộc nội loạn ở Trung Quốc mà độc lập. Nhóm Đông Việt hay Đông Âu thì Trung tâm điểm là miền Vĩnh Gia, thuộc Ôn Châu trong tỉnh Chiết Giang ngày nay. Về phíaNamTam môn loan. Nhóm Mân Việt thì trung tâm điểm là miền Mân huyện, thuộc Phúc Châu trong tỉnh Phúc Kiến ngày nay. Có lẽ hai nước Đông Việt và Mân Việt thì tiếp cảnh với nhà Tần nên vốn đã sợ oai, nay thấy quân Tần kéo đến thì không dám chống cự kịch liệt nên quân Tần thắng lợi rất mau. Chỉ trong năm đầu, nhà Tần chinh phục được hai nước gồm lại mà đặt quận Mân Trung, hạ vua hai nước xuống làm quận trưởng (tù trưởng) để trông dân Việt. Về sau, trong khi chư hầu phản nhà Tần, tù trưởng Đông Việt và Mân Việt đều theo chư hầu mà đánh Tần, rồi lại giúp Hán đánh Sở. Vì vậy đến năm thứ 5 đời Cao Đế (202) thì nhà Hán thưởng công, phong cho tù trưởng Mân Việt là Võ Chứ làm Mân Việt Vương, trị đất Mân Trung cũ, đô ở Đông Dạ (Mân huyện ngày nay). Năm thứ 3 đời Huệ đế (192), nhà Hán lại chia đất Mân Trung cũ mà đặt thêm ước Đông Hải và cũng để thưởng công phong tù trưởng Đông Việt là Dao làm Đông Hải Vương, đô ở Đông Âu (miền Vinh Gia), tục gọi là Đông Âu Vương. Các nhóm Bách Việt vốn hay đánh nhau, đó chẳng qua là tác dụng của xu hướng thống nhất của các dân tộc. Cái thói tương tranh ấy vốn có thể cổ lệ cái lòng hiếu dũng cho dân tộc nhưng cũng có thể làm lưu tệ mà thành cái mối tự thân phân liệt được. Chúng ta nhớ lại, đương khi nước Việt quật cường thì cái hoài vọng của họ là phát triển về phương Bắc để xưng hùng với trung nguyên. Sau khi nước Việt diệt vong, cố nhiên người Việt không thể lăm le nhòm ngó trung nguyên như trước nữa, nhưng cái hoài vọng ngấm ngầm của các tù trưởng lớn tuồng nhưng cũng cứ chờ có cơ thời thì lại tung hoành về Bắc. Trong khi chờ đợi thời cơ thì cơ hội khuếch trương thế lực ở đồng tộc, cho nên trong các nhóm Bách Việt, người ta thấy diễn ra hiện tượng tương khuynh. Sự tranh giành giữa hai nhóm Đông Việt và Mân Việt là cái lệ chúng rõ ràng của hiện tượng ấy, mà chính là cơ hội rất tốt cho nhà Hán kiêm tính Bách Việt. Ở buổi ban sơ, Đông Việt và Mân Việt tuy thần phục nhà Hán, nhưng cái chí nhòm ngó miền Bắc nếu có cơ hội thì cũng không ngại múa men. Khi Ngô Vương là Tỵ phản nhà Hán, Đông Việt và Mân Việt cũng có phát binh tiếp ứng: khi HoàiNamVương Lệ làm phản, cũng có câu kết với hai nước ấy. Trong hai nước thì Mân Việt đáng cho nhà Hán sợ hơn cả. Sau khi nhà Hán đã dụ được Đông Việt giết Ngô Vương Tỵ mà hàng phục Hán, con Tỵ là Tư Câu xui Mân Việt đánh Đông Việt năm thứ 3 đời Vũ đế (năm 138). Mân Việt bèn phát binh hãm Đông Âu. Đông Việt cầu cứu với nhà Hán, tướng Hán là Nghiêm Trợ phát binh tiếp cứu nhưng quân Hán chưa đến nơi thì quân Mân Việt đã rút lui về Nam, vì trong nước bấy giờ họ có nội loạn. Nghiêm Trợ đến Đông Âu muốn diệt nước Đông Việt để trừ hậu hoạn, bèn lấy danh nghĩa di dân để cứu nạn đói mà dời một phần dân chúng Đông Âu đến miền Giang Hoài. Có lẽ một phần dân Đông Việt đã chống cự lệnh di dân ấy mà theo vua họ chạy xuống miềnNamở gần Tuyền Sơn tỉnh Phúc Kiến sau đó 15 năm thì họ bị nhà Hán diệt hết. Thế là nước Đông Việt mất hẳn. Sua khi Mân Việt thất bại ở Đông Âu, năm thứ 6 hiệu Kiến Nguyên (135), họ lại đem binh đánh nước Nam Việt ở miền Nam. Nước này cũng cầu cứu nhà Hán. Tướng Hán là Vương Khôi do đường Dự Chương và Hàn An Quốc, do đường Cối kê cùng tiến quân vào Mân Việt. Nhưng quân Hán chưa qua đèo mà Mân Việt lại vì nội loạn phải đầu hàng.
-
Con cảm ơn Chú Thiên Sứ !
-
Kính nhờ Chú Thiên Sứ giải thích cái tên Cô Chín là đúng hay sai theo Hồng Phạm Cửu Trù ạ! HỒNG PHẠM CỬU TRÙ · 洪範九疇 Hồng: To lớn. Phạm: khuôn mẫu. Cửu: 9. Trù: loài. Hồng phạm là cái khuôn mẫu của Trời Đất. Hồng phạm cửu trù là cái khuôn mẫu của Trời Đất gồm có chín trù. Tương truyền, Hồng phạm cửu trù do vua Hạ Vũ (2205-2197 tr.TL) làm ra khi Hạ Vũ trị thủy ở sông Lạc, bắt được một con linh qui mà trên lưng của nó có một bức đồ, gọi là Lạc Thư. Trong Kinh Thư có câu: "Thiên nãi tích Vũ hồng phạm cửu trù, di luân du tự". Nghĩa là: Trời bèn cho vua Vũ hồng phạm cửu trù, luân thường vì thế mà bày ra có thứ tự. Điểm xuất phát của Hồng phạm là thừa nhận một vị Thần Linh duy nhất gọi là Thiên hay Đế, vừa khách quan vừa chủ quan. Hồng phạm cửu trù là một quan niệm đại qui mô về tâm lý, sinh lý, xã hội, chánh trị, về vũ trụ vạn vật, tức là một Vũ trụ quan tiêu chuẩn, một Nhân sinh quan lý tưởng, căn cứ vào sự quan sát thực nghiệm mà kết cấu ra. Thiên Hồng phạm cửu trù trong Kinh Thư mở đầu: Sơ nhất viết Ngũ Hành, Thứ nhị viết kính dụng Ngũ Sự, Thứ tam viết nông dụng Bát Chánh, Thứ tứ viết hiệp dụng Ngũ Kỷ, Thứ ngũ viết kiến dụng Hoàng Cực, Thứ lục viết nghệ dụng Tam Đức, Thứ thất viết minh dụng Kê Nghi, Thứ bát viết niệm dụng Thứ Trưng, Thứ cửu viết hưởng dụng Ngũ Phúc, uy dụng Lục Cực. Nghĩa Trù thứ nhứt gọi là Ngũ Hành, Trù thứ hai gọi là kính dùng Ngũ Sự (năm việc), Trù thứ ba là dùng cho đầy đủ Bát chánh (8 điều chánh), Trù thứ tư là hiệp dùng Ngũ Kỷ, Trù thứ năm là kiến thiết dùng Hoàng Cực, Trù thứ sáu là cai trị dùng Tam Đức, Trù thứ bảy là sáng suốt dùng Kê Nghi (xét việc nghi ngờ), Trù thứ tám là xét dùng Thứ Trưng, Trù thứ chín là khuyên dùng Ngũ Phúc, ra oai dùng Lục Cực. ĐỒ BIỂU HỒNG PHẠM CỬU TRÙ NGŨ KỶ 4 Lịch số NGŨ PHÚC LỤC CỰC 9 Thưởng phạt NGŨ SỰ 2 Hiện tượng nội giới BÁT CHÁNH 3 Tổ chức quốc gia HOÀNG CỰC 5 Trung tâm vũ trụ KÊ NGHI 7 Chiêm nghiệm THỨ TRƯNG 8 Thời tiết NGŨ HÀNH 1 Hiện tượng ngoại giới TAM ĐỨC 6 Xử thế Tiếp vật 1. Ngũ Hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. 2. Ngũ Sự: Mạo, Ngôn, Thị, Thính, Tư. (Diện mạo, lời nói, thấy, nghe, suy nghĩ). 3. Bát Chánh: Thực, Hóa, Tự, Tư Không, Tư Đồ, Tư Khấu, Tân, Sư. (Ăn, của cải, cúng tế, quan Tư Không [kho tàng], quan Tư Đồ [giáo dục], quan Tư Khấu [công an], tiếp khách, việc quân). 4. Ngũ Kỷ: Tuế, Nguyệt, Nhật, Tinh thần, Lịch số. (năm, tháng, ngày, các vì sao, lịch số). 5. Hoàng Cực: Làm vua dựng nên mực thước cho dân bắt chước, thì hưởng được 5 phúc lành, dùng để ban khắp cho thứ dân; các thứ dân theo mực thước của vua, giúp vua giữ mãi được mực thước ấy. 6. Tam Đức: Chánh trực, Cương khắc, Nhu khắc. (ngay thẳng, cứng rắn, mềm dẽo). 7. Kê Nghi: Xét những chỗ nghi hoặc bằng phép bói: Bốc là bói bằng mai rùa, Phệ là bói bằng cỏ thi. 8. Thứ Trưng: Mưa, nắng, nóng, lạnh, gió, đều hợp thời, đúng khí hậu, cây cối tốt tươi. 9. Ngũ Phúc, Lục Cực: Ngũ phúc là: Thọ, Phú, Khang ninh, Hiếu đức, Chung mệnh. (sống lâu, giàu có, mạnh khỏe bình yên, yêu chuộng đạo đức, già được trọn đời). Lục Cực: Hung đoản chiết, Tật, Ưu, Bần, Ác, Nhược. (hung họa chết non, tật bịnh, lo buồn, nghèo nàn, ác nghiệt, nhu nhược).
-
Lâu rồi mới có thời gian lang thang trên mạng thấy có bài viết " có cần phải viết lại tên Bách Việt" của tác giả Hà Văn Thùy nên copy về diễn đàn để mọi người tham khảo. Ý tưởng “Người Hán vượt Hoàng Hà chiếm đất, đuổi người Việt chạy có cờ qua sông Dương Tử, sau đó chế ra chữ Việt bộ Tẩu để nhạo báng kẻ thua trận” không chỉ có ở Tiến sĩ Nguyễn Đại Việt mà từ lâu xuất hiện dai dẳng ở nhiều người khác. Tiếc rằng đó là một ý tưởng mang tính tự kỷ ám thị tệ hại nhất của người Việt dựa trên sự thiếu hiểu biết về lịch sử và ngôn ngữ Việt. 1. Về phương diện lịch sử. Sang thế kỷ này, bằng việc kết nối những khám phá di truyền nhân học với những tri thức khảo cổ học, cổ nhân học và văn hóa học, chúng ta biết rằng, người vượt sông Hoàng Hà chiếm đất Bách Việt 4600 năm trước là chủng Mông Cổ phương Bắc (North Mogoloid). Tuy chiến thắng nhưng do số người ít và văn hóa chưa phát triển, vào Trung Nguyên, người du mục Mông Cổ bị người Việt đồng hóa cả về di truyền lẫn văn hóa. Do chung đụng với người Việt, lớp con lai Mông - Việt ra đời, tự nhận là người Hoa Hạ. Người Hoa Hạ học văn hóa của tổ tiên Bách Việt và dần dần thay thế lớp cha ông Mông Cổ thuần chủng, cai trị các vương triều Hoàng Đế. Nhưng từ đời Nghiêu, Thuấn cho tới Hạ, Thương, vương triều chuyển qua tay người Việt. Người Hoa Hạ chỉ giành lại vương vị vào thời Chu. Tuy xưng bá nhưng nhà Chu bị kẹp giữa những quốc gia Việt hùng mạnh: Ba Thục phía tây, Ngô, Việt, Sở phía đông và Văn Lang phía nam. Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, gồm thu đất đai, con người và văn hóa của khối dân cư Việt khổng lồ vào đế quốc Trung Hoa. Diệt nhà Tần, Lưu Bang, một người Việt bên sông Hòn cùng những hào kiệt người Việt khác như Anh Bố, Quý Bố lập ra vương triều với tên Việt là Hòn, chỉ tới đời Đường mới gọi là Hán theo quan thoại thời đó. Như vậy, huyền thoại “người Hán vượt Hoàng Hà vào chiếm đất rồi đuổi người Việt chạy vượt sông Dương Tử” là sai lầm, ngộ nhận đã bị thực tế lịch sử bác bỏ! 2. Về phương diện ngôn ngữ Cho tới cuối thế kỷ trước, từ học giả thế giới tới Việt Nam tin như đinh đóng cột rằng, tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Trung Hoa. Nhưng tới năm 2006, bằng khảo cứu không thể phản bác của mình, tôi chứng minh rằng: “Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa.” Sau đó, từ năm 2009, bằng loạt bài viết đầy thuyết phục như Phát hiện lại Việt nhân ca, Phục nguyên Duy giáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn và nhiều bài khác, nhà nghiên cứu Đỗ Thành công bố hàng trăm hàng ngàn chứng cứ cho thấy, tiếng Việt từ Việt Nam theo người di cư lên phía nam Dương Tử thành tiếng Mân Việt, Đông Việt, Việt Quảng Tây, Hải Nam… Từ đây, theo chân người Việt, tiếng Việt vào Trung Nguyên, là chủ thể tạo thành ngôn ngữ Trung Hoa. Từ thời Chu, Khổng Tử coi tiếng của phương Nam là tiếng chuẩn mực nên gọi là Nhã ngữ. Thời Tần thống nhất ngôn ngữ theo Nhã ngữ của phương Nam. Từ những phát hiện văn bản chữ tượng hình trên bình gốm Bán Pha 2, cách nay 12000 năm; chữ tượng hình mang nội dung bói toán, cúng tế trên yếm rùa ở di chỉ Giả Hồ 9000 năm trước và văn tự của bộ lạc Thủy với 250000 người hiện sống ở Quảng Tây, tôi tiên liệu rằng, chính người Lạc Việt – chủng Indinesian, giữ vị trí lãnh đạo dân cư Đông Á về xã hội và ngôn ngữ - đã sáng tạo chữ vuông tượng hình. Đầu năm nay, đàn cúng tế của người Lạc Việt ở di chỉ Cảm Tang Quảng Tây (4000 tới 6000 năm trước) với hàng ngàn mảnh rìu đá (còn được gọi là xẻng đá) khắc ký tự tượng hình nói về cúng tế và bói toán được phát hiện. Kết nối ký tự Cảm Tang với văn bản Bán Pha, ký tự Giả Hồ và Giáp cốt-Kim văn Ân Khư, cho thấy một quá trình sáng tạo liên tục của chữ tượng hình trên đất Trung Hoa mà chủ nhân của nó là người Lạc Việt. Từ đó có thể đưa ra nhận định: Giáp cốt và Kim văn là sáng tạo văn tự của người Lạc Việt. Sang thời Chu, chữ tượng hình vốn khắc trên yếm rùa, xuơng thú, đồ đồng được chuyển thành chữ viết trên lụa và thẻ tre. Thời Tần, Hán, trí thức Hoa Việt cùng nhau cải tiến chữ viết tượng hình thành chữ của nhà Hán. Như vậy, chữ Việt cũng là chủ thể tạo nên chữ Trung Hoa! Do người Việt sáng tạo nên trong chữ tượng hình Lạc Việt có vô số chữ Việt: Nhật (日) là Việt, Nguyệt (月) là Việt, thậm chí Hán (漢) cũng là Việt… Chữ Việt trên gươm của Câu Tiễn phía bên trái gồm chữ Nhật với nghĩa Việt phía trên còn phía dưới chữ Long (rồng) là chữ duy nhất biểu trưng cho vương vị của Việt vương. Trong vô số chữ Việt hiện có, nhiều học giả xác định, có ba chữ là tên gọi của tộc Việt. Đầu tiên là Việt - người cầm rìu (戉). Chữ này có thể xuất hiện trước 15000 năm cách nay, khi người Việt sáng tạo ra rìu đá mài, công cụ lao động ưu việt nhất của nhân loại thời đó. Chữ Việt thứ hai, vẫn quen gọi là chữ Việt bộ Mễ (粵) là tên gọi của tộc Việt xuất hiện sau 15000 năm cách nay, khi người Việt thuần hóa được cây lúa nước, phát minh quan trọng nhất của lịch sử nhân loại. Chữ này hiện được dùng để gọi người Việt phía nam Dương Tử. Chữ Việt bộ Tẩu =新細明體]越 được dùng làm tên của tộc Việt vào thời Đồ đồng. Là người đầu tiên phát minh kỹ thuật đúc đồng, làm trống đồng, rồi vũ khi mà tiêu biểu là chiếc qua trong chinh chiến, hình tượng chiến binh cầm qua đồng truy đuổi kẻ thù được dùng làm biểu trưng cho người Việt. Căn cứ vào tự dạng thì hình tượng người cầm qua chạy có hai nghĩa tương phản: chạy tới là tiến công còn chạy lui là trốn tránh. Do vậy, chỉ áp cho nó duy nhất nghĩa bỏ chạy là không đúng. Nếu việt là trốn chạy thì giải thích thế nào về những chữ như ưu việt nói về phẩm chất vượt trội, việt vị nói việc chạy vượt qua mốc quy định. Mặt khác, trong Hán ngữ, nói về việc chạy trốn, đã có chữ Đào =新細明體]逃 Điều này cho thấy, từ lịch sử tới ngữ nghĩa, chữ Việt hoàn toàn không có nghĩa trốn chạy mà mang nghĩa tích cực của sự tiến công, tiến bộ, vượt trội. 3. Kết luận Trước đây, do không hiểu đúng lịch sử của tộc Việt nên một số trí thức yếm thế gán cho chữ Việt bộ Tẩu cái nghĩa người cầm qua bỏ chạy. Đó là sự ngộ nhận mang tính tự kỷ ám thị bi thảm không chỉ về lịch sử mà còn về ngôn ngữ. Nay, nhờ khoa học nhân loại, sự thật đã sáng tỏ: tổ tiên ta không chỉ sinh ra người Hoa Hạ mà còn trao cho họ nền văn hóa Việt rực rỡ, trong đó có tiếng nói và chữ viết. Cùng với hình tượng người cầm qua, chữ Việt bộ Mễ, chữ Việt bộ Tẩu cũng do chính tổ tiên chúng ta sáng tạo. Đó là chữ chính danh khẳng định sự ưu việt của Tổ tiên không chỉ của 90 triệu người Việt Nam mà còn của hàng trăm triệu đồng bào đang sống ở nam Dương Tử, những người mang dòng máu Việt, vẫn nhớ cội nguồn Việt và giữ gìn tiếng nói cùng nhiều vốn quý của văn hóa Việt! Đáng tiếc là vẫn còn một số người vô tình hay hữu ý bưng tai nhắm mắt trước những phát hiện lịch sử mới. Như người bệnh tưởng, họ tự giam mình trong cõi vô minh rồi buồn tủi, than thân trách phận về căn bệnh giả tưởng! Cố gắng viết lại chữ Việt thể hiện cái tâm đáng trân trọng. Nhưng việc làm này không chỉ vô nghĩa đối với khoa học mà còn gây nhiễu tâm trí những người nhẹ dạ, cả tin, tiếp tục giam hãm họ trong vòng ngu dân. Một lần nữa, xin khẳng định: chữ Việt bộ Tẩu do chính tổ tiên chúng ta sáng tạo, không chỉ là biểu trưng của vinh quang quá khứ, mà bằng minh triết của mình, người Việt sẽ giữ vị trí hàng đầu dẫn dắt nhân loại đi lên trong thiên niên kỷ mới. Vì vậy chữ Việt =新細明體]越 không có lý do gì phải viết lại! Hà Văn Thùy
-
CHÚC MỪNG SINH NHẬT ANH HẠT GẠO LÀNG! CHÚC ANH TUỔI MỚI MAY MẮN - HẠNH PHÚC - "SONG TẾ" VẸN TOÀN PS: mượn tạm câu Song tế của anh Thanhphuc :))
-
Giao thông Sài Gòn rối loạn vì mưa lớn trái mùa Sáng 22/2, cơn mưa lớn ngay trước giờ đi làm khiến giao thông nhiều tuyến tại TP HCM rối loạn. Nhiều đường bị ngập nước, xe cộ xếp hàng dài. Cơn mưa lớn kéo dài gần 3 tiếng khiến nhiều tuyến đường rơi vào cảnh ngập lênh láng do nước không kịp thoát. Mưa trùng vào thời điểm đi làm, đi học khiến cảnh ùn tắc diễn ra nhiều nơi. Ngã tư Kha Vạn Cân - quốc lộ 13 bị ngập nặng nhất khiến nhiều người phải dẫn bộ vì xe bị chết máy. Giao thông khu vực này rơi vào cảnh rối loạn do mật độ xe quá đông, xe khách từ các tỉnh đổ về Bến xe Miền Đông. Tình hình còn rối loạn hơn khi có tàu lửa qua, các phương tiện phải tạm ngưng lưu thông gây nên cảnh ùn ứ. Lực lượng CSGT phải làm việc rất vất vả để giải tỏa cho khu vực này. Tại cầu Sài Gòn (quận Bình Thạnh - quận 2), ở cả 2 hướng lưu thông làn xe 2 bánh hàng nghìn xe máy chen chúc nhau. Đường Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh), trước bến xe Miền Đông cũng bị ngập nước, xe cộ bị ùn tắc. Đến hơn 9h sáng, đường Đinh Tiên Hoàng, đoạn qua cầu Bông (quận 1 - Bình Thạnh), xe cộ vẫn ùn ứ. Hữu Công- Vnexpress
-
Bị cấm vận: Iran dùng vàng đổi lương thực Tác giả: Hải Đăng (Reuter, Bild) (VEF.VN) - Mặc cho những khẳng định của giới lãnh đạo Iran rằng, sẽ không chịu nhiều ảnh hưởng bởi các lệnh cấm vận của Mỹ và phương Tây, cuộc sống người dân Iran đang đảo lộn trước những thay đổi quá lớn. Khác với trước kia, từ khi Mỹ và phương Tây tăng cường lệnh cấm vận với Iran, Hasan Sharafi, người dân sống ở Thành phố Isfahan, miền Trung Iran chật vật để lo đủ thực phẩm cho gia đình. "Giá cả ngày càng tăng. Cuộc sống giờ đắt đỏ lắm. Mỗi tháng tôi chỉ mua thịt một lần trong khi trước kia là hai lần một tuần. Đôi lúc tôi chỉ muốn chết quách đi. Thật quá tuyệt vọng! Tiền kiếm được chẳng đủ để nuôi con", anh Sharafi bi quan. Tình hình lương thực khó khăn tới mức để giải quyết nhu cầu lương thực cho 74 triệu dân trước lệnh cấm vận, Iran thâm chí phải dùng vàng thỏi và dầu để đổi lấy lương thực. Trên thực tế, lệnh trừng phạt mới của Mỹ và phương Tây đối với Iran không cấm các công ty bán lương thực cho quốc gia hồi giáo này, song khó khăn xuất hiện khi thực hiện các giao dịch tài chính quốc tế cần thiết để thanh toán các đơn hàng bằng USD hoặc Euro. "Đơn hàng mua ngũ cốc đang được trả tiền bằng vàng thỏi hoặc giao dịch theo kiểu hàng đổi hàng", một nhà buôn ngũ cốc Châu Âu cho biết. Các lô hàng ngũ cốc rất lớn, vì vậy việc thanh toán bằng vàng là lựa chọn nhanh nhất. Thực phẩm đang trở thành mặt hàng xa xỉ tại Iran Theo các nhà buôn Châu Á, nhiều lô hàng chở dầu cọ từ hai nhà cung cấp hàng đầu là Indonesia và Malaysia tới Iran bị dừng lại vì lo ngại Iran không thể trả tiền. Hai nước này cung cấp 90% lượng dầu, thành phần chủ yếu để sản xuất thực phẩm từ bơ thực vật tới các đồ ăn ngọt. Các cửa hàng bánh ngọt tại Iran ngay lập tức chịu hảnh hưởng mạnh mẽ. "Chúng tôi sắp phá sản và có thể phải đóng cửa vài tuần. Tất cả nguyên liệu tôi phải nhập khẩu từ nước ngoài. Giờ thì giá nguyên liệu vụt tăng gấp đôi hoặc không có nữa vì họ không chuyển hàng", Chủ một tiệm bánh tại Isfahan cho biết. Không chỉ có thị, dầu, sữa khan hiếm, rau quả cũng tăng giá chóng mặt. Chủ một cửa hàng rau quả ở phía Bắc Thủ đô Tehran cho biết: "Mấy tháng nay giá các mặt hàng ngoại nhập tăng 20-50%". Thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại di động, tivi và tủ lạnh cũng hoà vào cuộc đua bão giá khi tăng tới hơn 50%. Điều trớ trêu với đất nước xuất khẩu dầu mỏ thuộc hàng đầu thế giới là nguồn cung ứng xăng đang cũng đang trở thành một vấn đề nan giải. Do thiếu đầu tư vào hệ thống lọc dầu, nên mặc dù có trữ lượng dầu mỏ thứ 3 thế giới, Iran vẫn phải nhập khẩu 1/3 lượng nhiên liệu tiêu thụ. Là nhà cung cấp 50% nhiên liệu cho Iran, công ty Tupras có trụ sở ở Thổ Nhĩ Kỳ đã đình chỉ các hoạt động ở Iran từ cuối tháng 8/2010, sau đó là các công ty như Vitol và Glencore (Thụy Sĩ), Reliance (Ấn Độ) và Lukoil (Nga). Iran giờ đây phải dựa vào các nguồn cung cấp nhiên liệu ở Turkmenistan, Trung Quốc, Venezuela và thậm chí là giới buôn lậu ở Iraq. Hạt nhân, thứ dường như đã trở thành biểu tượng tinh thần dân tộc của quốc gia hồi giáo Iran đang góp phần làm cho cuộc sống người dân nơi đây thêm bộn bề khó khăn. Không biết bao nhiêu điện sẽ được phát đi từ nguồn năng lượng đó, cũng không thể khẳng định liệu Iran có cân bằng được sức mạnh bởi chương trình hạt nhân đang theo đuổi, nhưng trước mắt cuộc sống người dân đang lao đao vì hậu quả của nó. "Tranh chấp hạt nhân là gì? Đừng hỏi những chuyện chẳng liên quan như thế. Tôi không quan tâm tới các vấn đề chính trị hay hạt nhân. Tôi còn phải kiếm cơm nuôi gia đình", ông Reza Zohrabi, một người bán rong tại Thủ đô Terhan than thở.
-
Năm Nhâm Thìn không đẹp như lời đồn Tin rằng trẻ sinh năm Nhâm Thìn sẽ thành công và sung túc, nhiều cặp vợ chồng cố săn bằng được "rồng con". Tuy nhiên, theo các chuyên gia và kết quả thống kê, năm Thìn không có gì đặc biệt và số người nổi trội tuổi này không nhiều. Trên các phương tiên thông tin gần đây đều cho thấy xu hướng sinh con năm Thìn khá rầm rộ, nhất là những người chịu ảnh hưởng văn hóa phương Đông dùng âm lịch, kể cả ở các nước Âu Mỹ. Ở Việt Nam, điều này cũng thấy khá rõ. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương (TP HCM), nhiều người đua nhau sinh con năm rồng vì nghĩ đây là năm "vàng" là không có căn cứ rõ ràng và rất mơ hồ. Ông dẫn chứng, từ năm Đinh Hợi 2007 người ta đồn đó là "năm vàng" vì lấy Vận khí thổ của năm Đinh Hợi để suy: Thổ thì màu vàng nên là lợn vàng. Họ tán con “Lợn vàng” thì mang lại tài lộc, cuộc sống giàu sang, nhàn hạ... và thiên hạ đua nhau sinh con năm này. Đến năm Mậu Tý 2008 thì nhiều người lại ca tụng rằng: Thiên can Mậu thuộc Thổ, mà Thổ thì biểu tượng là màu vàng thế là lại tán là năm con Chuột vàng, sinh con khôn ngoan, lanh lợi... Năm Kỷ Sửu 2009 cũng được cho là Trâu Vàng vì căn cứ theo Thiên Can... Rồi đến năm Canh Dần 2010, năm Tân Mão 2011...cũng được gọi là cọp trắng, mèo trắng, vì can Canh, Tân thuộc mệnh Kim - vàng trắng... "Lúc thì họ căn cứ vào Vận khí - như năm Đinh Hợi; lúc thì căn cứ vào Thiên can, như các năm 2008; 2009, 2010, 2011. Và với năm 2012 thì họ lại căn cứ vào Địa chi Thìn. Rồng thì rất oai, tượng của Vua và thế là các ông bố , bà mẹ phát sốt lên cũng đòi đẻ năm Rồng cho con mình có sừng, có móng, có vuốt, có râu để... dọa thiên hạ", ông Tuấn Anh bày tỏ. Ông cho rằng ngày, giờ, tháng, năm sinh có tính quyết định số phận cá nhân. Tuy nhiên, những cá nhân - dù lá số cực tốt, hay cực xấu trong phạm vi ngày giờ sinh giống nhau - lại phụ thuộc vào điều kiện môi trường sống để quyết định định lượng của số phận. Chẳng hạn, hai người sinh vào ngày giờ giống hệt nhau, nhưng người ở trận sóng thần xảy ra tại Sumatra (Indonesia) năm 2004 và ở một nơi nào đó khác trên địa cầu rõ ràng khác nhau vì điều kiện môi trường sống khác. Sự phân loại rất chi tiết đến tận ngày giờ tháng năm sinh cho từng con người mà còn khác nhau như vậy, huống chi chỉ tính một yếu tố năm thì chưa thể nói lên điều gì. "Vì vậy, yếu tố năm - thí dụ năm Thìn hay bất cứ năm nào - không phải là yếu tố duy nhất tạo nên tính cách con người. Trẻ sinh năm Thìn cũng chẳng khác gì các năm khác", ông Tuấn Anh nhấn mạnh. Phân tích trên khía cạnh khác, tiến sĩ Nguyễn Phúc Giác Hải, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người cũng cho rằng, không có cơ sở nào để coi Nhâm Thìn là năm đẹp để cố đua kiếm "rồng". Ông cho biết, nhiều người nhầm lẫn khi gán các thuộc tính của 12 con giáp để chỉ tính cách con người sinh ra các năm đó, và cho rồng là phi thường, người đẻ năm rồng sẽ khiến người khác phải nể sợ. Thực thế, theo nguyên lý âm dương - cơ ngẫu, người xưa xếp các năm theo cách tính âm - dương xen kẽ và chọn các con vật theo số ngón chẵn lẻ của chúng, chẳng hạn: Tý (dương) - Con chuột (5 ngón, lẻ); Sửu (âm) - Con trâu (2 ngón, chẵn); Dần (dương) - Con hổ (5 ngón, lẻ), Mão (âm) - Con thỏ (4 ngón, chẵn), Thìn (dương) - Con rồng (5 ngón, lẻ)... Ngoài ra, ứng với các chi này là 10 can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) tạo thành tên năm âm lịch. Các can này, suy theo cách viết tiếng Hán, nhiều người lại luận ra tính cách, số phận ứng với những người sinh năm đó. Ví dụ: Giáp với bộ "Điền" là ruộng, đất nên suy ra người sinh năm này thuận về chuyện nhà cửa, đất cát... Ất viết như chữ vong nên người sinh năm nay dễ bị quên lãng, không được ghi danh tên tuổi gì. Bính dính chữ "tù" trong tù túng, Đinh viết với bộ “nhất” nên hiểu là sự lớn lao... Tương tự, Nhâm viết với bộ “sĩ” nghĩa là to lớn như vũ trụ, hơn nữa chữ "sĩ" thêm phảy thành chữ vương (vua) nên người ta hay hiểu là những người sinh năm này dễ thành đạt. Tuổi Nhâm Thìn theo nhiều người suy là con rồng vua, nên càng tin là sẽ rất đẹp để sinh con. "Hãy tuân theo quy luật tự nhiên, làm theo những gì đúng đắn nhất, phù hợp với mình nhất. 'Hào kiệt đời nào cũng có', và tuổi nào cũng phải làm việc hết mình mới đạt được thành công. Danh lợi ai cũng muốn nhưng danh phải xứng đáng với nỗ lực bỏ ra, lợi cũng phải do sức lao động chính đáng mới tự hào", nhà nghiên cứu đúc kết. Bản thân ông Giác Hải từng thống kê 240 danh nhân thế giới có ngày sinh tháng đẻ theo lịch âm và thấy can chi nào cũng có người tài, và những người sinh năm Thìn không hề chiếm tỉ lệ cao hay nổi trội hơn. Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), cho biết, theo kinh nghiệm, vào những “năm đẹp” như Nhâm Thìn, số trẻ sinh ra có thể cao hơn, cùng đó tỷ lệ bé trai cũng nhiều hơn bé gái. Đánh giá trước tình hình này, từ đầu năm nay, Tổng cục dân số đã chỉ đạo các địa phương thực hiện chiến dịch truyền thông lồng ghép giúp người dân nhận thức được không phải cứ trẻ sinh ra trong năm rồng thì sáng láng, thành đạt, mà tương lai số phận của một đứa trẻ phụ thuộc nhiều yếu tố như môi trường xã hội, gia đình, nỗ lực cá nhân, sự giáo dục của bố mẹ... Một thống kê mới đây của Tổng cục dân số cho thấy, trong số 200 đồng chí Ủy viên Trung ương mới được đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 bầu ra thì chỉ có 9 người sinh năm Thìn, chiếm tỉ lệ 4,5%. Tương tự, trong số 500 đại biểu quốc hội khóa 8 mới bầu thì chỉ có 27 người (chiếm 5,4%) là sinh năm thìn... Trong khi đó theo lý thuyết, có 12 con giáp thì tỉ lệ bình thường chia đều phải là 1/12 (tức khoảng hơn 8,3%). Tỷ lệ người sinh năm Thìn ở nhóm những người nổi tiếng trong giới khoa học, văn hóa, nghệ thuật, chính chị cũng khá thấp, đều dưới 8,3%. "Rõ ràng, năm Thìn không có ưu điểm gì nổi trội. Nhưng nếu cứ đua đẻ vào năm này thì hệ lụy chúng ta phải gánh rất lớn, không chỉ các bệnh viện quá tải vì lượng người sinh, số trẻ tăng nhanh mà tương lai còn ảnh hưởng tới hệ thống giáo dục, gây mất cân bằng giới tính, sức ép về trường học, nhà ở, việc làm...", ông Tân nói. Theo Vnexpress.net : http://vnexpress.net...ep-nhu-loi-don/
-
Điện Ninh Thuận 'chống được động đất 9 độ Richter' Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận được thiết kế chống động đất 9 độ Richter và cách biển đủ để tránh ảnh hưởng của sóng thần, đại diện nhà thầu Nga Rosatom khẳng định. Ông Sergey A. Boyarkin, Phó tổng giám đốc tập đoàn năng lượng nguyên tử Nga Rosatom, đơn vị trực tiếp tư vấn, xây dựng nói về tính an toàn và kinh tế của dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 trong cuộc họp với các phóng viên tại Hà Nội hôm qua. Ông Sergey A. Boyarkin, phó tổng giám đốc tập đoàn năng lượng nguyên tử Nga Rosatom, khẳng định sự cố như ở Fukushima không thể xảy ra với các nhà máy điện thế hệ mới như loại mà Nga sắp xây dựng ở Việt Nam. Ảnh: Hương Thu. - Sau sự cố nhà máy Fukushima của Nhật, điện nguyên tử trở thành nỗi lo lắng của nhiều người về mức độ an toàn. Ông bình luận gì về việc Việt Nam quyết tâm xây nhà máy điện hạt nhân? - Nhà máy Fukushima sử dụng lò phản ứng thuộc thế hệ 2, sử dụng nguyên lý an toàn chủ động, tức là hệ thống làm nguội lò phản ứng sử dụng nguồn năng lượng điện từ máy phát diezel trong trường hợp khẩn cấp. Vì vậy, khi mất điện, hệ thống làm mát khẩn cấp đã không hoạt động được dẫn đến sự cố mất nước, làm tăng nhiệt độ và áp suất vùng hoạt động lò phản ứng, gây ra cháy nổ. Công nghệ của Fukushima được thiết kế từ những năm 60, cách đây 50 năm, đã lạc hậu. Chúng tôi sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận theo thiết kế mới thế hệ 3, có hệ thống cơ chế cô lập chất nóng chảy. Dù sự cố xảy ra ở mức độ biến đổi nào thì chất nóng chảy không vượt qua khỏi lò phản ứng phóng xạ. (Trong sự cố Fukushima, các thanh nhiên liệu không được làm mát đã nóng chảy và sau đó phát tán phóng xạ ra môi trường - PV). Điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ được đảm bảo an toàn nếu sử dụng công nghệ của Nga. - Cơ sở nào để tin vào điều đó? - Với công nghệ thế hệ 3 do Nga xây dựng, có sử dụng thiết bị hút phóng xạ vào bên trong và không cho ra ngoài, nên khi có bất kỳ sự cố,chất phóng xạ và chất xả thải phóng xạ được giữ và cô lập trong phạm vi nhà máy, không vượt qua nhà máy. Công nghệ này duy nhất nước Nga có, các nước khác không áp dụng, vì thiết bị đắt tiền nên các công ty cạnh tranh không sử dụng. Nếu công nghệ này được áp dụng vào nhà máy Fukushima, sự cố phóng xạ lan rộng đáng tiếc vừa qua ở Nhật sẽ không xảy ra. Cách đây không lâu, có công ty còn phê bình Nga áp dụng quá nhiều công nghệ an toàn, nhưng quan điểm chúng tôi là đắt những an toàn được đảm bảo 100% là điều quan trọng hơn cả. Tiêu chuẩn về an toàn của Nga là cao nhất trên thế giới. Tổ máy của chúng tôi có nhiều hệ thống đảm bảo an toàn. Theo thiết kế của chúng tôi, các chương trình hệ thống nhà máy điện hạt nhân đảm bảo an toàn chủ động và thụ động. Trong trường hợp hệ thống an toàn chủ động không hoạt động các chức năng an toàn vẫn được bảo đảm bởi hệ thống an toàn thụ động. - Ninh Thuận nằm gần vành đai núi lửa và có đứt gẫy địa chất. Ông đánh giá thế nào về mức độ phù hợp để Ninh Thuận trở thành địa điểm xây lò phản ứng hạt nhân? - Quá trình khảo sát địa điểm tại Ninh Thuận vẫn đang thực hiện. Tôi nghĩ địa điểm xây nhà máy không có vấn đề gì. Trên trái đất không có điểm nào hoàn toàn ổn định, hoàn toàn không có nguy cơ xảy ra động đất. Ninh Thuận cũng vậy. Tuy nhiên, dự án lò phản ứng của Nga được thiết kế để chống lại bất kỳ loại động đất nào. Thời Liên Xô từng có nhà máy hạt nhân trải qua động đất cấp 10, đến nay vẫn cho hoạt động và cung cấp điện. Chúng tôi biết cách xây những nhà máy như thế. - Vậy nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ chống được động đất cấp bao nhiêu, và sóng thần cao bao nhiêu? - Theo khảo sát ban đầu, tại Ninh Thuận có thể xảy ra động đất lên đến 7,5 độ Richter, trong khi bản thiết kế, nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận có thể chịu được động đất cấp 9. Việt Nam hãy hoàn toàn yên tâm. Chúng tôi đang khảo sát tìm địa điểm sao cho sóng thần không ảnh hưởng tới lò phản ứng. Địa điểm xây dựng nhà máy cách biển một chút, đủ khoảng cách để sóng thần không tác động xấu được. Các dự án điện hạt nhân hiện đang và đã xây dựng theo đều thiết kế sao cho khi nhà máy ngập nước các cụm phát điện vẫn hoạt động bình thường. Mỗi tổ máy có 4 máy phát điện diesel phục vụ. Mỗi máy phát điện đứng riêng, trong một khoang kín và hoàn toàn độc lập. Nhà máy Fukushima có 6 tổ máy hoạt động, trong đó có sự cố với 4 tổ máy đầu tiên. Còn tổ máy thứ 5 và 6 hoạt động bình thường do máy phát điện diesel cung cấp hai tổ máy đó vẫn hoạt động. Sự cố như Fukushima không thể nào xảy ra tại các nhà máy điện hạt nhân hiện đại. - Khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam có tác động như thế nào đến các lò phản ứng mà Nga sẽ thiết kế? - Nga cũng là nước có kinh nghiệm trong việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân ở các vùng khí hậu khác nhau, trong đó có khu vực khí hậu nhiệt đới. Chúng tôi từng đưa vận hành 2 tổ máy Thiên Vân, Trung Quốc với điều kiện khí hậu gần giống Ninh Thuận, tổ máy này đi vào vận hành bình thường. Hai tổ máy khác ở Ấn Độ cũng đang chuẩn bị đi vào vận hành, đều do Nga xây dựng ở vùng khí hậu nhiệt đới. Khi bắt đầu thiết kế một nhà máy nào đó, chúng tôi đã tính đến yêu tố khí hậu và sử dụng vật liệu không rỉ. Ở Trung Quốc, chúng tôi đã dùng vật liệu là titan. Tôi khẳng định, không nước nào, kể cả các nước châu Âu và Mỹ có kinh nghiệm nhiều như Nga. . - Chi phí xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận là bao nhiêu? - Ở Nga, 2.700 USD cho 1kW công suất ở một tổ máy. Ở Việt Nam sẽ đắt hơn khoảng 10%, do phát sinh thêm chi phí. Chúng tôi đang nghiên cứu về vấn đề chi phí và chắc chắn sẽ không quá 3.000 USD/kW. Giá này hoàn toàn có thể cạnh tranh với nhà cung cấp khác. Nếu với mức giá 3.000 USD thì tổng giá trị hai tổ máy là không quá 6 tỷ USD. Giữa Việt Nam và Nga đã có hiệp định cho mục đích xây dựng nhà máy điện hạt nhân tổng giá trị tối đa là 10 tỷ USD, nhưng không có nghĩa là dùng hết 10 tỷ. Số tiền còn lại dành cho xây dựng hạ tầng và công việc liên quan, xây dựng Trung tâm Khoa học công nghệ hạt nhân ở Việt Nam. - Dự án có thể khởi công vào năm 2014 như tiến độ dự kiến ban đầu không? - Các bước đi của dự án hạt nhân Ninh Thuận đang đi đúng tốc độ và vẫn sẽ khởi công như kế hoạch. Có điều mỗi giai đoạn xây dựng, cần có thời gian để nghiệm thu, thời gian này tương đối dài, và do cơ quan độc lập tiến hành. Theo kế hoạch, năm 2018, nhà máy điện Ninh Thuận hoàn thiện công việc xây dựng. Trước khi đưa nhiên liệu vào lò cần 1 năm để nghiệm thu. Còn với nước có cơ quan giám sát lâu năm thì quá trình nghiệm thu có thể chỉ kéo dài trong 1-2 tháng. Hiện các cán bộ của Việt Nam đang học tập tại Nga về điện hạt nhân, để sau này tham gia vận hành nhà máy. Chúng tôi cố gắng đến năm 2018 sẽ đào tạo đủ nguồn nhân lực làm điện hạt nhân.
-
Châu Á sẽ đâm vào châu Mỹ Các nhà khoa học dự đoán châu Mỹ và châu Á sẽ gặp nhau tại Bắc Cực trong khoảng thời gian từ 50 tới 200 triệu năm nữa để tạo thành lục địa mới. Hình minh họa các lục địa hội tụ thành một siêu lục địa cách đây 300 triệu năm. Ảnh: BBC. Sự vận động của vỏ địa cầu khiến các lục địa di chuyển liên tục. Giới địa chất tin rằng, trong vài tỷ năm qua, sự dịch chuyển của các lục địa khiến chúng hợp nhất rồi chia tách theo chu kỳ. Một giả thuyết cho rằng các lục địa từng hợp nhất thành một lục địa cách đây 1,8 tỷ, một tỷ và 300 triệu năm trước. Các nhà địa chất của Đại học Yale tại Mỹ dự đoán lần hội tụ tiếp theo của các lục địa sẽ bắt đầu với việc châu Mỹ và châu Á sáp nhập để tạo thành một lục địa mới. Giới khoa học muốn gọi lục địa mới là Amasia. “Mô hình của chúng tôi cho thấy Bắc Mỹ và Nam Mỹ sẽ chập vào nhau do biển Caribbe biến mất. Sau đó Bắc Băng Dương biến mất khiến châu Mỹ và châu Á gặp nhau”, Ross Mitchell, một nhà địa chất của Đại học Yale, nói với BBC. Sau khi sáp nhập với châu Á, châu Mỹ sẽ nằm ngay phía trên Vành đai lửa Thái Bình Dương – khu vực chứng kiến tới 70% trận động đất và núi lửa trên hành tinh. Châu Âu, châu Phi và Australia cũng sẽ chập vào siêu lục địa mới. Nam Cực là lục địa duy nhất không tham gia quá trình hội tụ.
-
Địa chấn mạnh gây chết người ở Philippines Các đảo ở miền trung Philippines hôm nay bị rung chuyển bởi một trận động đất mạnh, gây nên cảnh hoảng loạn của dân cư và khiến ít nhất 7 người thiệt mạng. > Động đất ở Philippines > Việt Nam không bị ảnh hưởng từ động đất Philippines Hình vẽ mô tả hàng loạt trận động đất vừa xảy ra ở Philippines. Cơn địa chấn 6,8 độ Richter ở Negros được mô tả bằng hình tròn to nhất. Đồ họa: Myforecast Trận động đất mạnh 6,8 độ Richter xảy lúc 11h49 sáng nay, tại khu vực cách thành phố Dumaguete trên đảo Negros khoảng 70 km về phía bắc, AFP dẫn lời Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS). Tâm chấn của nó ở độ sâu khoảng 46 km. Viện Núi lửa và Địa chấn học Philippines (Phivolcs) đánh giá cường độ của cơn địa chấn là 6,9 độ Richter và tâm chấn ở độ sâu 10 km. Vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của chấn động là Negros và Cebu, hai đảo miền trung đông dân cư. Trận động đất gây nên cảnh hoảng loạn tại nhiều thành phố, nơi những tòa nhà bị rung lắc mạnh, giới chức địa phương cho hay. "Một em bé đã bị đè chết bởi một bức tường đổ ở Negros", Giám đốc Văn phòng Phòng vệ Dân sự Philippines, Benito Ramos, nói. Số người chết vì cơn địa chấn này hiện là 7 người. "Họ đều là các nạn nhân được tìm thấy trong những bước tường và hàng rào bị đổ", ông Ramos cho biết thêm. Quan chức này còn cho biết những sự rung lắc mạnh của các tòa nhà tại thành phố Cebu, cách tâm chấn khoảng 50 km, khiến nhiều kính cửa sổ vỡ tan và gây ra rạn nứt trên các bức tường. Các nhà địa chấn học Philippines và cư dân địa phương cho hay cảnh hoảng loạn diễn ra ở Cebu. Tuy nhiên, chưa có thông tin thiệt hại về người ở thành phố này. "Tôi đang ăn trưa thì mặt đất đột nhiên rung chuyển. Nước tràn ra từ những chiếc cốc còn bát đĩa thì rơi loảng xoảng. Một vài người chạy ra ngoài, trong khi tôi và một số người chui xuống gầm bàn", Pedro Baldomino, một sinh viên ở Cebu, nói qua điện thoại. Baldomino cho hay anh ta nhìn thấy nhiều công chức văn phòng tại khu vực trung tâm Cebu chạy ra khỏi các tòa nhà, sau khi một bản thông báo trên đài phát thanh cho hay khả năng các dư chấn có thể xảy ra. Tuy nhiên, ông Ramos cho hay không cần thiết phải tăng cường các đội cứu hộ tới Negros và Cebu, vì dường như thiệt hại không ở diện rộng. "Nhiều kính cửa sổ bị vỡ và tường của một trung tâm mua sắm nhỏ ở Negros bị rạn nứt, nhưng không có gì bị phá hủy cả", quan chức này nói. "Chúng tôi cho rằng sẽ còn dư chấn và đã khuyến cáo người dân về việc này". Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương đặt tại đảo Hawaii cho hay không có nguy cơ một trận sóng thần gây thiệt hại trên diện rộng. Tuy nhiên, Philvolcs nâng mức cảnh báo sóng thần của viện này lên cấp hai trong thang cảnh báo 3 cấp, đối với các vùng ven biển của đảo Negros. Điều này đồng nghĩa với việc cư dân ở đây được yêu cầu rời xa các khu vực bờ biển và theo dõi bất cứ dấu hiệu nào của việc thủy triều lên. Tuy nhiên, mức cảnh báo cấp hai không kèm theo việc di tản dân cư. Ông Ramos cho biết khả năng xảy ra sóng thần hoặc triều cường là rất thấp, vì tâm chấn ở một eo biển hẹp giữa hai đảo Negros và Cebu. Philippines nằm trong "Vành đai lửa Thái Bình Dương", một vành đai bao quanh khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hoạt động chà sát giữa các mảng kiến tạo đang biến đổi thường gây nên động đất và đánh thức những ngọn núi lửa.
-
Động đất mạnh rung chuyển nhà máy hạt nhân Iran Một cơn địa chấn mạnh hôm qua xảy ra tại miền nam của Iran, làm rung chuyển nhà máy điện hạt nhân Bushehr. Nhà máy điện hạt nhân Bushehr. Ảnh: RIA Novosti RIA Novosti dẫn lời Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) cho hay trận động đất mạnh 5 độ Richter xảy ra lúc 9h40 theo giờ địa phương. Tâm chấn của nó nằm cách nhà máy Bushehr khoảng 70 km về phía tây nam và ở độ sâu chỉ khoảng 10 km. Hiện chưa có thông tin nào về thiệt hại người và vật chất do cơn địa chấn gây ra đối với nhà máy điện hạt nhân của Iran, vốn rất được cộng đồng quốc tế quan tâm. Bushehr là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của quốc gia Hồi giáo. Nhà máy này có tổng đầu tư xây dựng là 1 tỷ USD, công suất tối đa 1.000 megawatt, nằm cách thủ đô Tehran hơn 1.000 km về phía nam. Iran hy vọng Bushehr sẽ khởi đầu cho một mạng lưới các nhà máy điện hạt nhân của quốc gia, nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch. Bushehr được khởi công xây dựng vào năm 1975 bởi một số công ty của Đức. Tuy nhiên, việc xây dựng bị ngừng lại sau khi một lệnh trừng phạt do Mỹ áp đặt ngăn việc cung cấp thiết bị công nghệ cao cho Iran, sau cuộc cách mạng Hồi giáo ở nước này năm 1979 và vụ đại sứ quán Mỹ bị bao vây ở Tehran. Sau đó, dự án được các kỹ sư người Nga tiếp quản năm 1995 và tiếp tục bị trì hoãn nhiều năm vì vấn đề kỹ thuật và sự phản đối gay gắt của các nước phương Tây. Các nước này lo ngại Iran phát triển chương trình hạt nhân nhằm chế tạo vũ khí nguyên tử. Tuy nhiên, Tehran đã bác bỏ cáo buộc này. Trận động đất tồi tệ nhất từng xảy ra ở Iran vào tháng 6/1990 với cường độ lên tới 7,7 độ Richter. Khoảng 37.000 người thiệt mạng và hơn 100.000 người bị thương tại các tỉnh miền bắc Gilan và Zanjan. Cơn địa chấn phá hủy 27 thị trấn và khoảng 1.870 làng mạc.
-
Động đất mạnh 5,7 độ Richter ngoài khơi Canada (TNO) Một trận động đất 5,7 độ Richter đã làm rung lắc khu vực gần đảo Vancouver ngoài khơi bờ biển phía tây Canada hôm 4.2, AFP dẫn thông báo từ Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ cho hay. Không có cảnh báo sóng thần nào được đưa ra sau động đất. Theo Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ, tâm chấn của trận động đất nằm ở độ sâu 12 km, cách thành phố Cảng Hardy của đảo Vancouver 204 km. Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương cho biết, trận động đất này không có cường độ đủ mạnh để đưa ra cảnh báo sóng thần. Trí Quang
-
Triều Tiên chế tạo máy bay tấn công không người lái (TNO) CHDCND Triều Tiên đang chế tạo máy bay tấn công không người lái trên cơ sở máy bay không người lái của Mỹ được mua từ Trung Đông và có thể sẽ được dùng để tấn công Hàn Quốc. Ngày 5.2, hãng thông tấn Yonhap dẫn một nguồn tin quân sự ở thủ đô Seoul cho biết: “Bắc Triều Tiên gần đây đã mua nhiều máy bay MQM-107D Streaker từ một nước Trung Đông (được nghi là Syria) và đang phát triển máy bay tấn công không người lái dựa trên các máy bay Mỹ”. MQM-107D Streaker là loại máy bay không người lái tốc độ cao được quân đội Mỹ và Hàn Quốc sử dụng để thử nghiệm tên lửa điều khiển. Nguồn tin trên cho biết CHDCND Triều Tiên đã tiến hành nhiều vụ thử máy bay không người lái tốc độ cao gắn chất nổ có sức công phá lớn nhưng vẫn chưa nắm vững công nghệ này. Các nguồn tin tình báo Hàn Quốc dự đoán nếu chế tạo thành công máy bay tấn công không người lái, miền Bắc có thể sẽ triển khai chúng gần biên giới hai miền để nhắm vào lực lượng quân đội Hàn Quốc đóng trên các đảo tiền tiêu trên Hoàng Hải. Phía CHDCND Triều Tiên chưa đưa ra phản ứng gì với thông tin này.
-
Sự quyết liệt của Trung Quốc ở Biển Đông Cuộc hiện đại hóa quân sự cùng với sự gia tăng quyết liệt của Trung Quốc ở biển Đông đã khiến các thành viên ASEAN liên quan phải vận động Mỹ tham gia hơn nữa vào khu vực. Mỹ đã đáp lại bằng cách nêu ra tranh chấp Biển Đông tại Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 17 tại Hà Nội vào giữa năm. Sự can thiệp của Mỹ đã kích động một thái độ phẫn nộ từ phía Trung Quốc. Năm 2010, sự quyết liệt của Trung Quốc diễn ra dưới hình thức các cuộc tập trận hải quân quy mô lớn để khẳng định quan điểm ngoại gia của mình về các tranh chấp trên biển. Hải quân PLA (PLAN) tiến hành 3 cuộc tập trận lớn xen giữa hội nghị ARF. Cuộc tập trận đầu tiên diễn ra vào đầu tháng 4, cuộc thứ 2 vào đầu tháng 7, và cuộc thứ 3 vào cuối tháng này. Cuộc đầu tiên và cuộc thứ 3 có sự tham gia của các các tàu chiến PLAN hiện đại nhất rút từ các đội tàu Biển Bắc, Đông và Nam. Cho tới trước cuộc tập trận đầu tiên, đội tàu Biển Đông là đội tàu duy nhất của PLAN hoạt động trên biển Đông. Cuộc tập trận thứ 3 là cuộc tập trận lớn nhất trong các cuộc tập trận tương tự và cũng rất nổi bật trên các tin tức truyền thông chủ chốt của Trung Quốc về các cuộc bắn tên lửa thật. Hội nghị thường liên lần thứ 43 của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN diễn ra vào ngày 19-20/7 sau cuộc tập trận lần thứ 2 của PLAN. Các bộ trưởng ASEAN tuyên bố coi DOC là "văn bản cột mốc trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc" và hướng dẫn các quan chức cấp cao triển khai Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc về Thực thi DOC nhằm tiến tới thông qua một bộ quy tắc ứng xử. Trước Hội nghị Bộ trưởng ARF lần thứ 17 vào ngày 23/7, Mỹ đã thông báo riêng với 7 một số thành viên ARF rằng bộ trưởng Ngoại giao Clinton sẽ có một sự can thiệp và kêu gọi ủng hộ. Khi phát hiện điều này, Trung Quốc đã tiếp cận từng nước ASEAN để cảnh báo họ trước việc quốc tế hóa vấn đề trên. Điều này đã tạo ra cảnh tưởng đối đầu ngoại giao giữa Bắc Kinh và Washington. Tại hội nghị AFF, 11 trong 27 thành viên ARF ((Brunei, Malaysia, Philippine, Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Singapore, Australia, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc) cùng với Mỹ bày tỏ quan ngại về an ninh hàng hải tại Biển Đông. Bốn thành viên ASEAN từ chối bình luận (Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan). Mặc dù các thảo luận trên tại Hội nghị ARF chỉ mang tính không chính thức, nhưng bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Clinton vẫn khẳng định quan điểm của Mỹ trong bình luận trước truyền thông. Bà tuyên bố Mỹ có "lợi ích quốc gia trong việc duy trì tự do lưu thông, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông" và giải quyết tranh chấp Biển Đông "quyết định tới ổn định khu vực". Về mặt này, bà Clinton tuyên bố Mỹ Hoa Kỳ hỗ trợ "quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế". Bà cũng bác bó căn cứ tuyên bố của Trung Quốc đối với Biển Đông. Sự can thiệp của Ngoại trưởng Clinton được cho là đã khiến các đồng nghiệp Trung Quốc bị bất ngờ. Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì cáo buộc Mỹ đang tiến hành âm mưu chống lại Trung Quốc. Sau khi nói bóng gió đến Việt Nam, Dương Khiết Trì nhằm thẳng vào bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yeo và tuyên bố, "Trung quốc là một nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, đó đúng là một thực tế". Theo một thông tin, một số thành viên ASEAN đã bị bất ngờ bởi sự quyết liệt trong lời phản bác của Bắc Kinh và bắt đầu "suy nghĩ lại về việc cầu cứu khẩn cấp sự can thiệp của Mỹ". Điều này được phản ánh trong các cuộc thảo luận tại Hội nghị các nhà lãnh đạo Mỹ-ASEAN lần thứ 2, nơi dự thảo tuyên bố chung do Mỹ đề xuất để phản đối "việc sử dụng vũ lực bởi bất kỳ bên nào muốn giành chủ quyền gây tranh cãi trên biển Đông" bị xem xét lại và xóa bỏ toàn bộ các dẫn chiếu đến sử dụng vũ lực và Biển Đông. Ba ngày trước hội nghị của các nhà lãnh đạo, một phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tạo thêm áp lực ngoại giao lên các nước ASEAN bằng tuyên bố "Chúng tôi quan ngại về bất cứ dạng tuyên bố nào có thể được Mỹ và ASEAN đưa ra về Biển Đông" và "Chúng tôi kịch liệt phản đối bất cứ quốc gia nào không liên quan tới vấn đề Biển Đông can dự vào cuộc tranh chấp. Điều này sẽ chỉ làm phức tạp hơn thay vì giúp giải quyết vấn đề". Áp lực ngoại giao của Trung Quốc đã có hiệu quả như mong muốn. Hội nghị các nhà lãnh đạo Mỹ-ASEAN thực thế đã thảo luận Biển Đông, theo một thông tinh chính thức của Nhà Trắng đưa ra ngay sau hội nghị. Nhưng giọng điệu của tuyên bố chung đã nhẹ đi nhiều vì một số quốc gia ASEAN có quan điểm rằng hiện nay không phải là thời điểm để gây mối thù địch thêm nữa với Trung Quốc. Một quan chức ASEAN cấp cao tuyên bố "Có vẻ đây không phải là thời điểm thích hợp để nhận lấy cú đấm nặng ký của Trung Quốc". Một nhà ngoại giao ASEAN khác quan sát, "Chúng tôi cũng không muốn tạo ấn tượng rằng chúng tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì Mỹ yêu cầu. Bằng cách không nhắc tới hai chữ "Biển Đông", chúng tôi đã giữ thể diện cho cả Trung Quốc và Mỹ". Tuy nhiên, Trung Quốc tiếp tục chứng tỏ sự quyết liệt hơn về quân sự. Ngày 2/11, lực lượng hải quân PLA tổ chức cuộc tập trận hải quân quy mô lớn lần thứ 4 tại Biển Đông trong cùng năm đó. Cộng lại, 4 cuộc tập trận này của PLAN là minh chứng cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng phát triển năng lực duy trì các cuộc triển khai hải quân rộng hơn ra ngoài khơi Biển Đông. ASEAN và cấu trúc khu vực mới Ngày 12/10, Việt nam chủ trì cuộc họp khai mạc hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với 8 đối tác đối thoại (Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Nga và Mỹ). Trước hội nghị này, các bộ trưởng Quốc phòng ASEAN đã đi đến đồng thuận rằng các vấn đề liên quan đến Biển Đông sẽ không nằm trong chương trình nghị sự chính thức và Biển Đông sẽ không được đưa ra trong tuyên bố chung cuối cùng". Nhưng không có quy định hay điều kiện nào được đặt ra cho 8 Bộ trưởng Quốc phòng các nước không thuộc ASEAN. Tám thành viên, trong đó có Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Malaysia, Singapore và Việt Nam, đều nêu quan ngại về an ninh hàng hải trên Biển Đông. Đơn cử, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nhấn mạnh Mỹ quyết tâm vẫn duy trì can dự: "Mỹ luôn thực hành quyền của chúng tôi và ủng hộ quyền của các bên khác được lưu thông qua lại và hoạt động trong vùng biển quốc tế. Điều này sẽ không thay đổi, và cam kết của chúng tôi về việc tham gia các hoạt động và tập trận với các liên minh và đối tác khác cũng vậy". Bộ trưởng Gates cũng nhấn mạnh đề nghị của bộ trưởng ngoại giao Clinton về tạo điều kiện thuận lợi thảo luận đa phương bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Nhưng, như trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương của Mỹ Kurt Campbell giải thích sau đó, những gì các bên liên quan trong vấn đề Biển Đông muốn là "Mỹ hỗ trợ một quá trình. Thành thật mà nói, họ không mong muốn có một điều giải viên". Các quan chức Trung Quốc phản ứng một cách một cách tức giận trước những quan ngại về an ninh hàng hải trên Biển Đông, nhưng giọng điệu đã có vẻ đã nhẹ nhàng hơn nhiều so với trước kia. Một phát ngôn viên Bộ Quố phòng Trung Quốc ghi nhận rằng vấn đề Biển Đông được "nhắc đến", nhưng không phải đề cập "chính thức". "Đó là vấn đề của họ, chứ không phải vấn đề của chúng tôi". Buổi khai mạc hội nghị ADMM mở rộng lần đầu đã thông qua tuyên bố chung bao gồm cam kết của 18 bộ trưởng Quốc phòng nhằm "củng cố hợp tác quốc phòng và an ninh khu vực thông qua thực hiện các hợp tác cụ thể và thực tế để giải quyết các vấn đề quốc phòng và an ninh, đảm bảo lợi ích của nhau, với mục tiêu xây dựng năng lực, phát triển chuyên môn, và củng cố phối hợp trong các lĩnh vực có thể đóng góp vào hòa bình và an ninh khu vực". ADMM mở rộng thông qua 5 lĩnh vực hợp tác thực tế trong tương lai và thành lập Hội nghị Quan chức Quốc phòng cấp cao ASEAN mở rộng (ADSOM mở rộng) để thực hiện quyết định này. ADMM+ thống nhất tổ chức hội nghị lần thứ 2 vào năm 2013. ADSOM Plus tổ chức lần đầu tiên vào tháng 12 và thành lập 5 Nhóm công tác chuyên gia, mỗi nhóm được một thành viên ASEAN và ngoài ASEAN đồng chủ trì: Hỗ trợ nhân quyền và Giảm nhẹ thiên tai (Việt Nam và Trung Quốc), An ninh hàng hải (Malaysia và Australia), Y tế quân sự (Singapore và Nhật Bản), Chống khủng bố (Indonesia và Mỹ), và Hoạt động gìn giữ hòa bình (Philippine và New Zealand). Kết luận Trong năm 2010, an ninh khu vực Đông Nam Á chịu tác động của căng thẳng gia tăng trong quan hệ Trung-Mỹ, viêc tái can dự của Mỹ vào khu vực, và sự quyết liệt của Trung Quốc trên Biển Đông. Đến cuối năm, căng thẳng Trung-Mỹ giảm bớt và quan hệ song phương trở lại quỹ đạo đi lên của nó. Điều này đã tạo cơ sở cho chuyến thăm cấp nhà nước của chủ tịch Hồ Cẩm Đào tới Washington vào tháng 1/2011. Tuyên bố chung công bố khi kết thúc chuyến thăm ghi nhận cam kết cả hai bên sẽ tôn trọng lợi ích cốt lõi và các mối quan tâm chính của nhau, và không nêu trực tiếp đến Biển Đông. Sự tái cam kết của Mỹ với ASEAN đạt đến đỉnh điểm với việc tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo Mỹ-ASEAN ở cấp nguyên thủ quốc gia/chính phủ. Mỹ cũng cam kết sẽ tham gia vào cấu trúc an ninh khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, bao gồm thông qua ADMM mở rộng và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Cá nhân các nước thành viên ASEAN chào đón sự tái cam kết của Mỹ, nhưng ASEAN nói chung đặc biệt thận trọng để phải theo bên nào, giữa Trung Quốc và Mỹ. Sự quyết liệt của Trung Quốc ở Biển Động là vấn đề an ninh nóng bỏng trong suốt cả năm. Nhưng lãnh đạo phía Trung Quốc đã thừa nhận vai trò trung tâm của ASEAN khi đồng ý khôi phục lại Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc về thực thi DOC. Quyết định chuyển từ nhấn mạnh đàm phán song phương sang đa phương của Trung Quốc có thể do sự can thiệp của Mỹ theo lời kêu gọi của một số nhà nước ASEAN. Tuy nhiên, Biển Đông sẽ vẫn là một vấn đề an ninh khó giải quyết, chủ yếu vì yêu sách đòi chủ quyền hơn 80% khu vực của Trung Quốc xung đột với các tuyên bố chủ quyền của 4 quốc gia ven biển khác: Việt Nam, Philippine, Malaysia, và Brunei. Diễn biến an ninh năm 2010 cho thấy cuộc đối đầu và cạnh tranh nước lớn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh Đông Nam Á bất chấp nỗ lực cao nhất của ASEAN nhằm bảo vệ mình khỏi các lực lượng này. Đông Nam Á sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc đối đầu và cạnh tranh quân sự Trung-Mỹ. ASEAN có thể giảm thiểu ảnh hưởng của những diễn biens này bằng cách củng cố tình đoàn kết, phát triển một Cộng đồng chính trị-an ninh ASEAN gắn kết, và tiếp tục thúc đẩy vai trò trung tâm của mình trong cấu trúc an ninh khu vực. Cùng với đó, mỗi nhà nước trong ASEAN có thể củng cố an ninh của mình thông qua khả năng tự lực quốc phòng bằng cách tiếp tục hiện đại hóa các lực lượng như một hàng rào chống lại các bất ổn chiến lược. Đình Ngân dịch theo Southeast Asian Affairs 11/2011
-
Bạn có thể vào chuyên mục của bác Hạt gạo làng để nhờ tư vấn vì Bác Thiên Sứ bận rất nhiều việc nên không phải lúc nào Bác cũng vào đọc và trả lời các bạn được. Bạn có thể tham khảo bài viết về Luận tuổi Lạc Việt năm Nhâm Thìn để hiểu thêm: http://ktcatbd.com.vn/tin-tuc/1009-nm-rng-vi-lun-tui-lc-vit
-
Phát hiện văn bản phong "Soái đội Hoàng Sa" Một sắc phong cổ phong “Soái đội Hoàng Sa” cho một người Quảng Nam vừa được phát hiện tại nhà thờ tộc Lê ở xã biển Tam Thanh, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam... Theo sắc phong được lưu giữ tại nhà thờ tộc Lê ở xã biển Tam Thanh (TP. Tam Kỳ) cho biết đây là một trong “Soái đội Hoàng Sa” đầu tiên được phát hiện tại Quảng Nam. Theo bản dịch mới đây của Thích Chánh Huệ trụ trì chùa Kỳ Viên (Tam Kỳ) và những người am hiểu chữ Hán tại địa phương vừa mới công bố cho biết: bản sắc phong cổ được lưu giữ tại nhà thờ tộc Lê ở xã biển Tam Thanh (TP. Tam Kỳ) khẳng định: vào năm Minh Mạng thứ 18 (Mậu Tuất 1838), Tuần phủ Nam Nghĩa chỉ dụ: Trong đội thủy vệ Quảng Nam số 10 có đội binh Lê Văn Ước “đầu quân lâu năm, công vụ cần mẫn nên đề bạt làm quyền Đội trưởng Đội tả thủy vệ Quảng Nam số 1, giao bằng cấp Soái đội, tùy cai quản”. Như vậy, ông Lê Văn Ước, người con của tộc Lê quê ở phường Hạ, xã Hòa Thanh, tổng An Hòa, huyện Hà Đông cũ (nay là thôn Hạ Thanh, xã Tam Thanh) được phong giữ chức Đội trưởng Đội tả thủy vệ cai quản Hoàng Sa. Đây là văn bản chữ Hán cổ nhất được lưu giữ tại phổ ý tộc Lê phái nhất vừa được phát hiện. Văn bản cổ vừa được phát hiện khẳng định người Quảng Nam cũng từng tham gia bảo vệ đảo Hoàng Sa cách đây hơn 300 năm (Ảnh: V.Trường) Cùng với chỉ dụ của quan Tuần phủ Nam Nghĩa (đứng đầu 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi) cử ông Lê Văn Ước làm Đội trưởng Đội tả thủy vệ. Phổ ý phái nhất tộc Lê còn lưu một chỉ dụ nữa của quan Tri phủ huyện Hà Đông. Chỉ dụ này căn cứ lệnh cấp trên đã phê giấy chứng nhận giao Đội trưởng Đội tả thủy vệ Lê Văn Ước tuyển mộ thủy quân lấy vải đỏ may cờ nhỏ, trên đó viết dòng chữ “Hà Đông Tiên Giang Đoàn Dân Dũng”. Như vậy, có thể khẳng định dưới triều Nguyễn, tại Quảng Nam đã hình thành lực lượng thủy binh để bảo vệ bờ cõi trên biển và đã từng có những người con Quảng Nam cùng Quảng Ngãi ra bảo vệ Hoàng Sa. Theo nhiều bậc cao niên am hiểu chữ nho cho biết: công việc thủy vệ lúc bấy giờ chủ yếu đi cai quản các đảo ở Hoàng Sa. Lính thủy binh xa nhà có khi hàng năm trời nên những người tham gia đội thủy binh đều có tinh thần dũng cảm, tự nguyện cao mới được tuyển chọn. Trong một văn bản cổ khác cũng được lưu giữ tại nhà thờ tộc Lê này cho biết: trong chiếu dụ của quan tri phủ huyện Hà Đông (viết năm Tự Đức thứ 11, năm 1859) về việc mộ thủy binh như sau: Dưới đội thì đội trưởng có quyền mộ binh trong thôn xã để thành lập. Dưới hạt là các thôn, xã, tùy thực tế mỗi nơi châm chước mà quy định tuyển 50, 60 hoặc trên 40 người làm tiểu đoàn; mỗi tiểu đoàn bố trí một đoàn trưởng, lựa chọn thế nào có thể thu phục được họ. Quy thúc 5 tiểu đoàn có tên theo thứ tự sẽ thành 1 đại đoàn… Phân tác khí giới tùy theo trong dân, có kiếm sắt hoặc dao rựa thì sửa đổi để dùng đều có thể được. Bình thường lực lượng này là tự vệ hương thôn, ngày tập luyện võ nghệ, đêm thì tuần phòng nhưng nếu có công văn lúc cần lập tức xuất binh. Với phát hiện này đã khẳng định những người con Quảng Nam cách đây hơn 300 năm đã từng tham gia đội Hùng binh Hoàng Sa, tham gia bảo vệ chủ quyền bờ cõi của tổ quốc. Vũ Trung - Vietnamnet
-
Anh chế tạo tên lửa đánh chặn siêu thanh Hải quân hoàng gia Anh vừa công bố kế hoạch chế tạo loại tên lửa đánh chặn bay nhanh hơn âm thanh tới ba lần. Hình minh họa một tàu chiến bắn tên lửa siêu thanh Sea Ceptor. Ảnh: PA. Mirror đưa tin hải quân hoàng gia Anh đã giao 760 triệu USD cho công ty chế tạo tên lửa MBDA để chế tạo một loại tên lửa siêu thanh có tên Sea Ceptor. Theo yêu cầu của hải quân Anh, MBDA sẽ chế tạo những tên lửa bay với tốc độ gấp ba lần tốc độ âm thanh sau khi được phóng từ tàu. Chúng có thể bảo vệ một khu vực có diện tích chừng 1.500 km2 trên biển hoặc đất liền. Sea Ceptor sẽ giúp hải quân Anh ngăn chặn tên lửa của đối phương và những mục tiêu di động khác. Nó cũng có thể đối phó nhiều mục tiêu cùng lúc. “Sự ra đời của loại tên lửa mới là một cú hích đối với ngành công nghiệp tên lửa của Anh. Nó cho thấy cam kết của chúng tôi về việc cung cấp công nghệ ưu việt cho quân đội”, ông Peter Luff, quan chức phụ trách thiết bị quân sự của Bộ Quốc phòng Anh, phát biểu. Với khả năng bay hơn 3.686 km/h, tên lửa Sea Ceptor di chuyển nhanh hơn cả phản lực cơ chiến đấu Typhoon (tốc độ bay 2.480 km/h), một quan chức quốc phòng khác của Anh so sánh. Theo Vnexpress
-
Nông nghiệp Việt được đề cao tại Diễn đàn Davos Ngày 29/1, tại phiên họp chuyên đề bàn về việc triển khai thực hiện “Tầm nhìn mới trong nông nghiệp” diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế thế giới lần thứ 42 ở Davos, gọi tắt là Diễn đàn Davos 2012 (WEF-42), Việt Nam đã được nêu lên như một điển hình xuất sắc cho việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển. Tham dự phiên họp có hơn 100 đại biểu; trong đó có nhiều nguyên thủ và quan chức cao cấp các nước cùng 50 lãnh đạo các công ty, tập đoàn đa quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế. Đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát dẫn đầu. Phát biểu tại phiên hợp, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã giới thiệu hoạt động của 5 nhóm công tác (gồm nhóm chè, càphê, rau quả, thủy sản và nhóm ngành hàng chung) cùng kinh nghiệm triển khai của Việt Nam. Việc triển khai hiệu quả các nhóm công tác này đã mang lại kết quả đáng khích lệ như cho đến nay, 10.000 tấn chè Phú Thọ đã được tiêu thụ theo tiêu chuẩn “Rừng mưa,” một tiêu chuẩn bắt buộc đối với chè xuất khẩu trong hệ thống của Tập đoàn Unilever..... Bộ trưởng nêu rõ tất cả các nhóm công tác đều cố gắng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông sản và tái cơ cấu nền kinh tế, những nỗ lực của các nhóm công tác đã đi theo đúng hướng nâng cao giá trị nhằm đạt mục tiêu chung là tăng thu nhập cho nông dân và phát triển vững bền với môi trường. Bộ trưởng Cao Đức Phát cũng nêu bật định hướng các công tác chính sẽ bắt đầu trong năm 2012 là đẩy mạnh hoạt động của 5 nhóm ngành hàng và nhóm tín dụng nông thôn mới hình thành, đưa thêm các hoạt dộng nhằm bảo vệ môi trường theo hướng tăng trưởng Xanh vào hoạt động các nhóm. Bắt đầu nghiên cứu và áp dụng các giải pháp để nhân rộng các hoạt động mô hình lên cho toàn ngành hàng và xây dựng chính sách, cơ chế để thể chế hóa các sáng kiến này trên quy mô vùng và quốc gia. Ông Cao Đức Phát còn kêu gọi sự tham gia tích cực và chủ động hơn nữa của giới doanh nhân vào các hoạt động đầu tư, tư vấn kỹ thuật, góp ý xây dựng chính sách, tạo điều kiện tốt hơn nữa để nông dân tham gia hiệu quả hơn vào các hoạt động sản xuất và phát triển và có sự hỗ trợ hiệu quả từ nhà nước, doanh nghiệp và nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp. Những đề nghị này đã nhận được sự ủng hộ tích cực từ các đại biểu tham dự phiên họp. Việt Nam chính thức tham gia sáng kiến “Tầm nhìn mới trong nông nghiệp” từ năm 2010. Đây là sáng kiến của Diễn đàn Kinh tế thế giới nhằm tăng sản lượng nông nghiệp lên 20% trong khi giảm 20% tỷ lệ đói nghèo và giảm 20% mức phát thải cácbon trong 10 năm. Ngoài Tanzania còn có Indonesia và Mexico tham gia vào sáng kiến này và 2 nước nữa bắt đầu triển khai là Ấn Độ và Nigeria. Từ 16 tập đoàn đa quốc gia ban đầu đến nay đã có 26 tập đoàn đa quốc gia tham gia sáng kiến này. Theo TTXVN