PhươngHồng
Hội viên-
Số nội dung
282 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by PhươngHồng
-
Tử Vi Và Tâm Lý Học Phật Giáo
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
"Các câu hỏi này đã theo chân loài người từ buổi bình minh của nhân loại đến muôn đời sau nữa " chú Thiên Đồng nói rất đúng :P :) -
anh cũng đừng nghĩ nhiều quá , không tránh được nó nhưng có thể hóa giải nó bằng hành động của mình , làm từ thiện nhiều cũng là 1 cách rất tốt . nhưng lòng ngay thẳng tâm hồn trong sạch là điều đáng quý :P em nghĩ anh nên siêng đi chùa , nhờ sư họ giảng cho nhiều điều :) sẽ làm đầu óc mình minh mẫn hơn đó .
-
Bất cứ dược phẩm nào được tìm ra trong thế giới, dù nhiều và đa dạng, không có thứ nào bằng Pháp (trích từ Milindapanha). Ngày nay, những nguyên tắc và những thực hành Chánh niệm (sati) và Thiền quán Minh sát (vipassanà) của Phật giáo đã được áp dụng cho nhiều mặt phức hợp của đời sống hiện đại. Ở nhiều quốc gia, ngành y đang phối hợp những thực hành thiền Phật giáo vào nhiều mặt chữa trị. Thoạt nhìn, có vẻ đó là một phối hợp lạ thường - sự tu tâm ở tu viện với khoa Sinh học duy vật, nhưng nhìn sát sao hơn thì cả hai bên đều phát lộ tính tương hợp sâu xa của chúng. Có những cách nhìn mới về mối liên hệ giữa tâm và thân, cùng với những kiểu mẫu mới về tình trạng khỏe mạnh. Giao diện giữa thiền định và chữa trị đáng để khám phá thêm nữa. Bây giờ sự giảm thiểu căng thẳng (stress) dựa vào thiền Minh sát và Chánh niệm được thực hành như một hình thức của Phật giáo nhập thế. Trong Tam tạng Pàli, người ta có thể tìm thấy lặp đi lặp lại nhiều ẩn dụ về chữa lành có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau. Điều này chứng tỏ sự chữa lành là một hệ thức nội tại trong toàn bộ sự tu tập của Phật giáo. Theo nghĩa này, Đức Phật là một đại y sĩ, do lòng bi cho sự an ổn của tất cả chúng sinh, đã tìm ra và chia sẻ một phương cách chữa bệnh cho căn bệnh gốc của đời người. Lời dạy của Phật, tức là Pháp, là phương thuốc chữa lành ấy. Chính xác hơn, đó là đơn thuốc mà mỗi người bệnh phải dùng hợp với phần mình. Khi ấy, Tăng già và cư sĩ là một xã hội giúp đỡ lẫn nhau trên con đường lành bệnh. Công thức Bốn chân lý cao cả được đặt cơ sở trên truyền thống y học. Chân lý thứ nhất (bệnh khổ) chỉ ra những triệu chứng hiện bày của một phiền não ẩn tàng. Sự có mặt của già và chết, lo sầu, khổ sở và tuyệt vọng cho thấy tất cả chúng đều thoát thai từ cùng một hoàn cảnh nền tảng: dukkha, khổ đau hay sự bất toại nguyện của thân phận con người. Một người chữa bệnh cũng như một người bệnh, không thể bắt đầu tiến trình chữa lành nếu không chẩn đoán căn bệnh. Chân lý thứ hai (những nguyên nhân của bệnh khổ) gợi ý vai trò của y sĩ như là người chẩn đoán. Chỉ khi hiểu nguyên nhân gây bệnh mới có thể chạy chữa. Phân tích của Phật pháp về tâm và thân cho thấy nguyên nhân là do tham muốn (tanhà). Chân lý thứ ba (hết bệnh khổ) là một tiên lượng đầy hy vọng: loại bỏ khao khát sẽ thành loại bỏ khổ, như sự lành bệnh thân tâm của Đức Phật dưới cội bồ đề, năng lực khỏe mạnh của Ngài hơn bốn mươi lăm năm sau đó của công cuộc thuyết pháp và cứu độ. Chế độ chữa trị được trình bày trong chân lý thứ tư của Phật [con đường tám ngành (dẫn đến khỏe mạnh)] kèm theo đơn thuốc của nhiều loại điều trị. Có những khác biệt lớn trong những triệu chứng cá nhân của chỉ một loại bệnh: mỗi người bệnh biểu hiện những triệu chứng khác nhau trên tiến trình chữa trị, mạnh yếu khác nhau, có những thái độ khác nhau và ở trong những môi trường khác nhau. Y sĩ giỏi sẽ cảm nhận những tình huống riêng biệt và điều chỉnh chiến thuật một cách sáng tạo, dù ông ta vẫn rút ra từ những nguyên lý đã được chứng nghiệm và áp dụng một cách mềm dẻo. Suốt 2.500 năm, Phật giáo có sự đồng thuận chung về ba chân lý đầu (bệnh, nguyên nhân của bệnh, hết bệnh), nhưng có sự đóng góp và cách tân nhiều cách khác nhau vào sự thực hành chân lý thứ tư - nghệ thuật chữa lành chính mình. Một cuộc bàn luận được kể lại trong kinh Màgandiya (Trường Bộ kinh) giữa Đức Phật và du sĩ Màgandiya về bản chất của sức khỏe. Có một người bị bệnh cùi, sự thống khổ cực độ của anh chỉ dịu bớt khi đốt tay chân bằng than đỏ. Anh tiếp tục cào gãi và đốt thân để có được sự nhẹ bớt tạm thời, dù hành động ấy làm cho hoàn cảnh anh tệ hơn, trầm trọng hơn. Dù mọi người khác đều cho lửa là gây đau đớn, chỉ có người bệnh cùi cho rằng lửa là nguồn thoát khổ. Thời gian sau, anh được chữa lành nhờ một y sĩ cho thuốc, lúc đó anh không còn thích đưa tay chân vào lửa nữa. Nếu những người mạnh nắm lấy anh và đưa anh đến gần lửa, anh sẽ chống cự dữ dội, vì bây giờ anh kinh nghiệm rằng lửa gây đau đớn. Câu chuyện này được trình bày trong bối cảnh một đời trước của Đức Phật, khi Ngài là một hoàng tử, Ngài đã tìm sự nhẹ bớt khỏi những rắc rối trong cuộc sống bằng cách theo đuổi dục lạc. Từ sự thức tỉnh và cuộc đời từ bỏ sau đó, Ngài thấu hiểu rằng những theo đuổi như thế không bao giờ đem lại sự nhẹ bớt mà còn làm cho tình cảnh chúng ta xấu thêm. Một trong những bài học quan trọng từ những sự việc này là một sự hiểu biết tinh tế hơn về cái gọi là “sức khỏe”, và nó thích hợp với sự bàn luận của chúng ta về những viễn cảnh áp dụng Phật giáo vào lĩnh vực y học hiện đại. Lời khuyên cho Màgandiya tập trung vào câu kệ sau đây: “Cái lớn nhất trong mọi sở đắc là sức khỏe, Niết bàn (sự chấm dứt khổ) là lạc phúc lớn nhất”. Du sĩ Màgandiya ca ngợi bài kệ này là có ý nghĩa vi diệu, nhưng Đức Phật tiếp tục hỏi Màgandiya nghĩ gì khi ông dùng chữ “sức khỏe”. Du sĩ bấy giờ “dùng tay xoa tứ chi mình và nói: “Sức khỏe là thế này… vì bây giờ tôi khỏe khoắn và hạnh phúc và không có gì làm phiền não tôi”. Bằng những loạt chuyện và những ẩn dụ khác trong đó có chuyện một người mù được một y sĩ chữa hết mù lòa, Đức Phật cẩn thận dắt dẫn Màgandiya đến một thấu hiểu sâu xa hơn về sức khỏe là gì. Nó không chỉ là không có khổ sở trong thân vào lúc đặc biệt nào đó, mà hơn nữa đó là một kinh nghiệm an lạc sâu xa khi tâm không còn bám víu vào vui hay khổ. Bản thân sự đau đớn nơi thân không là yếu tố quyết định duy nhất cho việc có sức khỏe hay không, thậm chí kinh nghiệm vui sướng, do bản chất vô thường, cũng không bảo đảm cho thảnh thơi hạnh phúc. Theo nghĩa đầy đủ nhất, sức khỏe bao trùm một cảm thức toàn thể nguyên vẹn, bao gồm cả vui - khổ và không tùy thuộc vào có hay không khổ hay vui. Vẫn thường thấy có người bị bệnh kinh niên nhưng căn bản là khỏe mạnh và cũng có người theo đuổi thành công lạc thú nhưng căn bản là bệnh hoạn. Một thí dụ cho trường hợp trước là một người hài lòng, biết cách hài hòa, có cuộc sống đầy đủ nhưng có bệnh mãn tính; và trường hợp sau là một người nghiện, có những phút bay bổng nhưng với cái giá kinh khủng cho thân thể và cho phẩm giá làm người. Sự có mặt của đau đớn trong trường hợp đầu tự nó không đủ để xem người bệnh là không có sức khỏe; và kinh nghiệm lạc thú của trường hợp sau không đủ để xem người bệnh này là khỏe mạnh. Chính xác sức khỏe là như Đức Phật đã giúp Màgandiya hiểu ra, đó là một quan niệm rộng hơn chúng ta thường nghĩ. Đức Phật khuyên Màgandiya “thực hành phù hợp với Chánh pháp”, một câu nói bao gồm cả đạo đức, thiền định và thiền quán. Ở trung tâm của phương thức chữa lành không phải là một loại thuốc đặc biệt nào, mà là sự thấu hiểu rằng nhiều thứ dùng để làm nhẹ đi trước kia chỉ là “những trò vô bổ” làm tệ hại thêm khối phiền não. Điều thiết yếu là Màgandiya đã tự thấu hiểu điều này, chỉ khi ấy ông mới có thể tháo gỡ sự bám víu vốn là gốc của khổ đau. Như kinh nói: "Khi thực hành theo Chánh pháp, ông sẽ tự biết và thấy như vầy: Đấy là những trò vô bổ; nhưng ở đây chúng dứt diệt không còn chút dấu vết. Với sự dừng diệt bám víu… buồn phiền, thống khổ, đau đớn, sầu muộn và tuyệt vọng dừng diệt. Đó là sự dừng diệt của toàn bộ khối khổ đau”. Đức Phật nhận rõ bám víu, nắm giữ là thói quen đáp ứng của chúng ta đối với tham muốn và khao khát, cũng là nguyên nhân bệnh tật của chúng ta. Bám vào sự tiếp tục của lạc thú hay bám vào sự ngừng diệt của đau đớn đều không tránh khỏi dẫn đến khổ đau. Bởi vì những đối tượng của mọi bám luyến trong bản thân chúng đều biến đổi, không thỏa mãn, và rốt ráo không phải là một cái gì chúng ta có thể thực sự sở hữu. Điều đáng chú ý nơi sự phân tích này là nó phát hiện khá chính xác cái điểm nơi đó hoạt động thân tâm tự nhiên của con người chuyển đổi thành bệnh tật. Nội dung của kinh nghiệm chúng ta hoàn toàn lành mạnh - quang cảnh và âm thanh, hương, vị, xúc giác làm nên dữ kiện cho thế giới kinh nghiệm của chúng ta thì tự chúng không bao giờ là những nguyên nhân của khổ đau. Tương tự, những tư tưởng và những tri giác chỉ gởi những thông tin để biết, chúng không vui hay khổ. Tất cả chúng đều bình thường (vâng, thậm chí cả kinh nghiệm đau đớn). Nhưng chúng ta đáp ứng kinh nghiệm như thế nào, chúng ta đầu hàng đến mức độ nào động lực theo đuổi lạc thú và trốn tránh đau đớn bằng cách bám víu theo mọi cách - đấy là điểm cốt tử quyết định hoặc chúng ta khổ đau hoặc được tự do chỉ tỉnh giác với kinh nghiệm đủ loại. Chính trong nghĩa này mà một số các vị thầy hiện đại nói, “Đau đớn thì không thể tránh, nhưng khổ não thì có thể chọn lựa”. Theo truyền thống, việc người ta đáp ứng như thế nào với kinh nghiệm (đau đớn hay vui thích, mạnh hay yếu) tùy thuộc vào sự có mặt - trong mỗi khoảnh khắc - của những yếu tố vô minh hay trí tuệ. Thực hành Phật giáo là học nhiều cách để vượt qua hoặc né tránh sức mạnh của vô minh tiềm ẩn và dần dần xây dựng những cái thấy và thức tỉnh nhỏ để khai mở trí tuệ. Với sự tiến bộ này, chúng ta càng ngày càng khéo léo hơn trong công việc thách thức là học sống thoát khỏi khổ đau. Nhà nghiên cứu tiên phong Hans Selye định nghĩa stress là “sự đáp ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ áp lực hay đòi hỏi nào”. Như Kabat Zinn nêu lên, “những cố gắng hiện thời của chúng ta để đáp ứng với thay đổi và áp lực, bất kể chúng có nguồn từ đâu, tự chúng sẽ dẫn đến suy sụp và bệnh tật nếu chúng không đầy đủ hay không ổn định”. Hơn nữa, Kabat Zinn dẫn ra từ Seligman, “không phải do cái gây ra căng thẳng mà do bạn nhận nó và xử lý nó như thế nào sẽ quyết định đưa đến stress hay không”. Nói cách khác, thế giới không nhất thiết là một nơi chốn của stress, nhưng có nhiều cách sống không lành mạnh của con người trong thế giới sẽ dẫn đến tăng trưởng stress bên trong chúng ta. Một phân biệt khác của truyền thống cổ và cả y học hiện đại về giảm stress là sự khác biệt giữa khổ đau thân thể và khổ đau tâm thức. Như Tăng Chi Bộ kinh chỉ ra, “Có hai thứ bệnh… bệnh thân và bệnh tâm. Có những người có thể thoát khỏi khổ về thân trong một năm, hai năm… hay thậm chí cả trăm năm. Nhưng khó tìm thấy những người có thể thoát khỏi bệnh tâm dù chỉ một khoảnh khắc”. Trong cái nhìn Phật giáo, như câu chuyện Màgandiya, tất cả chúng ta đều khổ đau vì những quan niệm sai lầm nền tảng về chính chúng ta, về thế giới và bản chất của hạnh phúc hay sức khỏe. Chính trong nghĩa này mà chúng ta có thể bị xem là có “bệnh tâm”, dù chúng ta may mắn có sức khỏe mạnh mẽ suốt cả đời. Dĩ nhiên, bệnh tâm lại do tham bám biểu lộ trong từng giây phút của ý thức. Bệnh viện giảm Stress của Kabat Zinn ở Worcester, Massachusetts, Mỹ, thường đối mặt với tình huống nghịch lại - cố gắng giúp đỡ bệnh nhân với những vấn nạn thân thể không thể đảo lại được, như mất một tay chân hay một chẩn bệnh kết cục, khám phá trong chính họ kinh nghiệm toàn thể nguyên vẹn cho phép họ khỏe mạnh trong tâm. Kabat Zinn nói, “Người phải cắt tay… hay người phải đối diện với cái chết vì bệnh không thể chữa đều căn bản vẫn là một toàn thể nguyên vẹn… Chính tiến trình đi tới thỏa thuận với sự việc như chúng là đã bao gồm tiến trình chữa lành”. Chúng ta đã quá quen thuộc với quan niệm rằng sức khỏe phải hoàn toàn dựa vào trạng thái thân thể, đến độ thường phải bị dồn vào hoàn cảnh cùng cực của nhiều bệnh nhân như vậy mới bắt đầu tưởng tượng được là hoàn toàn không phải thế. Sức khỏe thân thể quả thật là phước lớn, nhưng nếu không còn có thể lựa chọn nó được, thì tự do vẫn còn để “đi tới thỏa thuận với sự việc như chúng là” và việc này tạo nên sức khỏe tâm thức. Điều mà hai quan điểm này có chung không chỉ là chúng phân biệt giữa hai chiều kích thân tâm, mà ý tưởng sâu xa hơn là không cần một nối kết tạm bợ giữa hai cái. Chúng ta phải cẩn thận lưu ý, nói thế không phải là mỗi hệ thống tư tưởng sẽ tán thành một chủ nghĩa nhị nguyên thân/tâm. Thật sự cả hai cách nhìn đều nhấn mạnh vào sự tương liên chặt chẽ của tâm và thân. Thân và tâm tiếp tục ảnh hưởng lẫn nhau theo nhiều cách, nhưng chỉ vì thân khỏe mạnh không có nghĩa là tâm khỏe mạnh (trong trường hợp trước) và chỉ vì thân bệnh không có nghĩa là tâm cũng bệnh (như trường hợp sau). Cả hai tuyên bố này ngược với cảm nhận của những văn hóa tìm cách gắn chúng với nhau, và trong mỗi trường hợp đều có sự chuyển hóa sự bị quy định của người bệnh. Câu kinh trích dẫn ở trên thậm chí còn đi xa hơn khi cho một thí dụ về sức khỏe của tâm, sẵn sàng và có khả năng “làm quy phục những cảm nhận đau đớn của thân, chúng gây thống khổ, hành hạ, làm xao lãng và bất ổn, khiến cho đời sống bay hơi”. Lời dạy của Đức Phật cho một người đau đớn là hãy huấn luyện chính mình: “Dù thân tôi có bệnh, tâm tôi vẫn không bệnh” (Samyutta Nikaya). Thế nên cách chữa cho tâm, dù đang đương đầu với khổ đau của thân, đơn giản chỉ là tách lìa, không đồng hóa với những uẩn của kinh nghiệm, xem chúng không phải là “của tôi”, mà là “không phải của tôi”. Với sự không sở hữu, không bám luyến, không nắm chấp này, người ta sẽ không bị nhiều ảnh hưởng do những biến đổi không thể tránh mà kinh nghiệm thân tâm phải chịu đựng. Nếu bám chấp vào nội dung của kinh nghiệm, chúng ta sẽ đau khổ vì sự không dứt và biến chuyển của nó. Nhưng nếu chúng ta có thể học để an trụ trong sự tỉnh giác về tiến trình của kinh nghiệm, ghi nhận một cách không dính líu trò chơi sanh khởi, đổi thay và đi mất của hiện tượng, bấy giờ một tâm thức khỏe mạnh khởi lên trên sự khổ não của thân. Kabat Zinn cũng nói tương tự, trong khi làm việc với các bệnh nhân mãn tính: "Khi thực hành chiếu soi (scan) thân hay bất kỳ kỹ thuật chánh niệm nào khác, bạn ghi nhận rằng hễ khi bạn đồng hóa với những tư tưởng hay cảm giác trong thân hay với chính toàn thân thể, lúc ấy có nhiều sự hỗn loạn và đau khổ hơn là khi bạn an trụ như là người quan sát không phê phán tất cả mọi thứ đó… Để mặc cho chúng đến rồi đi, bạn có thể đến một điểm mà mọi quan niệm tan biến vào trong tĩnh lặng và chỉ có cái tỉnh giác… Trong sự tĩnh lặng này, bạn đến chỗ biết rằng dù bạn là ai, “bạn” nhất định không phải là thân thể này, dù nó là của bạn để sử dụng… Khi học được điều này, mối tương quan của bạn với đau đớn trong thân sẽ thay đổi sâu xa". Về thiền định làm việc để chữa lành khổ đau của tâm, có thể nói thêm rằng tiến trình chữa cho thân được ảnh hưởng tốt bởi sự thực hành chánh niệm tỉnh giác. Ngày nay có sự lưu tâm đáng kể trong y học khi so sánh nhóm người có tích cực đưa tâm mình vào tiến trình chữa bệnh cho thân với nhóm chỉ dựa vào thuốc men theo truyền thống. Có vẻ nhóm trước lành nhanh hơn và khỏi hẳn nhiều hơn. Một giải thích là quan điểm cho rằng stress gây áp lực mạnh mẽ lên hệ thống chữa lành tự nhiên của thân, thế nên cái gì làm giảm ảnh hưởng của stress lên thân sẽ giúp cho thân tự chữa lành một cách tự nhiên. Chắc chắn nếu stress làm yếu hệ miễn dịch sẽ làm chúng ta bệnh và có lẽ sự loại bỏ được stress sẽ làm cho thân thể dễ dàng tự phục hồi hơn sau khi đã bị thương tổn. Kabat-Zinn thảo luận quan điểm này trong sách của ông, nói về sự huấn luyện cho các bệnh nhân của ông đáp ứng với stress bằng tỉnh giác thay vì phản kháng lại, vẫn thường gây ra stress. Đây là một lãnh vực háo hức trong y học hiện giờ và vẫn còn nhiều điều cần học về cơ chế của hệ miễn nhiễm kích thích hay cấm chỉ. Không có gì huyền bí đặc biệt về tiến trình này, trong chừng mực mà nó cắm rễ vào lý thuyết sinh học quy ước (có lẽ ngoại trừ giải pháp triết học về khả năng của tâm ảnh hưởng lên hệ thống của thân nhiều như thường thấy). Cách giải thích tâm chuyển hóa thân theo Kabat Zinn dựa vào ý niệm tính toàn vẹn và tính liên kết. Ông nói: "Khi chúng ta dùng từ chữa lành để diễn tả những kinh nghiệm của người bị stress ở trong bệnh viện, điều đó trước hết là họ đang trải qua một chuyển hóa về quan điểm… Nó là một xa lìa liên tục khỏi sự phân mảnh và cô lập đối với tính toàn thể nguyên vẹn và tính liên kết. Trong những giây phút tịch lặng, bạn đi đến chỗ thấu hiểu rằng bạn vốn là toàn thể nguyên vẹn, vốn là đầy đủ trọn vẹn trong bản thể bạn, dù có thể thân thể đang đau". Chính sự thực hành thiền định cho phép chúng ta tiếp xúc với những viễn cảnh tốt đẹp này. Làm yên lặng tâm thức sẽ giảm thiểu những năng lực phân mảnh và cho phép chúng ta kinh nghiệm sự không có xung đột, đó là đặc trưng của sự biểu lộ nơi mình tính toàn thể nguyên vẹn. Thiền định cũng cho phép đi vào những cơ chế thông tin phản hồi khác nhau của ý thức và vô thức, khiến cho chúng ta nối kết trực tiếp nhiều hơn với mọi tiến trình thân tâm. Kabat Zinn xem những kinh nghiệm tính toàn thể nguyên vẹn và tính liên kết có thể đạt được nhờ chánh niệm như là sự chữa lành nội tại bẩm sinh. Có lẽ chịu ảnh hưởng của nền Thiền học của mình, ông quan niệm trạng thái tự nhiên của con người là một trạng thái vốn sung mãn và hạnh phúc. Những lực lượng của bệnh tật khởi sanh khi chúng ta tách lìa với trạng thái sung mãn và hạnh phúc này, và thiền cho chúng ta cách trở về với nó. Có lẽ cần nói rằng nhiều sự giải thích ảnh hưởng chuyển hóa của tâm lên thân, ít nhất trong truyền thống Phật giáo, được tìm thấy trong chính sự liên kết tâm-thân. Vào thời cổ ở Ấn Độ, Đức Phật đã chống lại quan điểm thống trị bấy giờ cho rằng linh hồn trú ngụ nơi thân thể, và bác bỏ nhiều thực hành yoga và khổ hạnh cổ vũ phải phân lìa hai cái đó. Đức Phật nói, một cách căn bản, tâm và thân là hai mặt của cùng một hiện tượng. Chính xác hơn là xem con người như là một cơ chế tâm thân (nàma-rùpa, danh sắc), gồm một uẩn vật chất (rùpa, sắc) mà về nguyên tắc không thể tách lìa bốn uẩn kia (vedanà, sanna, sakhàra, vinnãna: thọ, tưởng, hành, thức). Từ viễn cảnh này, sự chuyển hóa của tâm lên thân không còn là bí ẩn, vì trong bản chất những chiều kích tâm và thân của con người thì hoàn toàn tương thuộc, liên lập. Hệ thần kinh trung ương rốt cuộc phân phối khắp toàn thân. Chúng ta có thể dễ dàng kiểm chứng với những thao tác đơn giản như chỉ việc chú tâm vào một phần riêng biệt nào của thân sẽ đưa đến kết quả thay đổi tức thì: cảm nhận về phần thân thể đó, và những sự thay đổi về nhiệt độ, áp lực máu… Tương tự, chúng ta có thể lưu ý theo nhiều cách sự tác động của môi trường lên thân thể tương ứng với những thay đổi của tâm. Thế nên chúng ta nên giã từ quan niệm nhị nguyên về thân tâm, mà xem thực thể thân tâm là một cơ chế đơn nhất. Bấy giờ có lẽ chúng ta sẽ ít nói tâm thay đổi thân như thế nào và thân thay đổi tâm như thế nào, và thấy một tiến trình hợp nhất cùng chuyển hóa. Trong truyền thống Phật giáo, năm uẩn là tương thuộc và không thể tách rời, do đó giáo lý thường nói đến cả năm cùng một lúc. Theo một giải thích truyền thống của Phật giáo, thiền có ích cho sự chữa lành thân. Thiền phân biệt thành hai loại, yên tĩnh (samatha, thiền định hay thiền chỉ) và nội quán (vipassana, thiền quán hay minh sát). Thiền định hay thiền chỉ là tập trung tâm vào chỉ một đối tượng của sự chú ý, bỏ hết các thứ khác. Khi tâm có thể giữ sự chú ý vững chắc trên một đối tượng với càng lúc càng ít hơn sự gián đoạn, cuối cùng nó an định rất vững chắc, rất tập trung và ở yên trong định. Bước đầu trong tiến trình này, thân sẽ kinh nghiệm như tắm trong những cảm giác nhẹ nhàng, lạc phúc; nhưng ở những trạng thái nhập định sâu hơn, mọi kinh nghiệm thân thể đều dừng và hỷ lạc chuyển hóa thành những trạng thái thản nhiên (xả) sâu xa. Một trong những kết quả của loại thiền an định này, như người ta có thể tưởng tượng, là những kinh nghiệm đau đớn thể xác có thể tạm thời vượt qua. Thiền quán (minh sát) đánh thẳng vào tâm điểm của nguyên nhân gây khổ đau - hai nhân tố khao khát và vô minh - đó chính là sự chữa trị căn bản nhất. Ở đây tâm cũng tập trung vào một phương diện riêng biệt của kinh nghiệm (một cảm giác thuộc thân, một cảm giác, một tư tưởng…), nhưng những đối tượng của sự tập trung này cho phép thay đổi một cách tự nhiên với sự khai mở của kinh nghiệm trong tính toàn bộ của nó. Chẳng hạn, sự chú ý trọn vẹn được đưa đến một cảm giác thân thể, nhưng tức thời tiếp theo đó có thể tập trung vào một cảm nhận, rồi một tư tưởng… trong những hoàn cảnh tự nhiên. Thiền quán làm mạnh yếu tố niệm (sati), nhờ đó chúng ta hoàn toàn hiểu biết bất kỳ đối tượng tinh tế nào. Kết quả của thói quen chánh niệm này thì vi tế hơn thực hành tập trung và làm sáng tỏ và cuối cùng giải tỏa những tiến trình sâu kín, nhờ đó chúng ta tạo ra khổ đau khi mỗi khoảnh khắc kinh nghiệm sanh khởi. Chánh niệm tự nó không phải là sự chữa cho khổ đau, nhưng nó là một công cụ mạnh mẽ để đi vào sự chữa lành. Học cách chú ý vào kinh nghiệm trong từng khoảnh khắc của thân và tâm cuối cùng sẽ phát hiện nhiều bí mật của động cơ thân tâm. Khi hiểu biết về chính chúng ta thay đổi, một số thói quen đáp ứng của chúng ta cũng bắt đầu chuyển hóa. Thấy tính biến đổi nội tại của kinh nghiệm, chúng ta bớt bám nắm vào mỗi khoảnh khắc của nó. Thấy tính thay đổi và tính không có bản chất của cái mà chúng ta vẫn quen gọi là “chính tôi”, chúng ta có thể xem mình bớt trọng đại hơn và sau cùng cái gì xảy ra cho chúng ta thì kém cá nhân hơn. Thấy rằng mọi thỏa mãn lạc thú thì không tránh khỏi chỉ là tạm thời, chúng ta dần dần bớt hy vọng vào những hành vi đem lại thích thú. Nếu nhìn kỹ vào kinh nghiệm trực tiếp của mình, chúng ta sẽ có thể nhận biết sự vô thường của nó (anicca), sự vô ngã (anattà) và sự bất toại nguyện (dukkha) của nó, và thiền quán là phương tiện để có những cái thấy thấu suốt này. Kết quả của việc tự mình thấy những tính chất này của kinh nghiệm, chúng ta sẽ tháo lỏng ảnh hưởng của bám chấp, đều gây ra khổ đau trong đời sống. Đây quả là cẩm nang của việc làm giảm bớt stress trong thời này như được dạy và được thực hành trong những chương trình, mà một trong số đó là ở Đại học Trung tâm Y khoa Massachusetts do Kabat Zinn và các đồng nghiệp tiến hành. Phương pháp chánh niệm để điều trị tập trung vào việc thay đổi tương quan của chúng ta với kinh nghiệm về khổ đau của mình, hơn là thay đổi tính chất của nỗi khổ thân thể. Sự kiện thực hành chánh niệm ở đời sống bên trong hơn là những biểu lộ bên ngoài không nhất thiết làm cho nó kém đi là một hình thức của Phật giáo dấn thân. Khác với những hình thức khác của Phật giáo nhập thế, nó không tương tác với những cơ cấu áp bức của xã hội, hay với những người gây ra chiến tranh, hay với những người xâm phạm nhân quyền hay phá hoại môi trường. Y học hành vi đương đại tập luyện cho người ta không chỉ dấn thân vào bệnh tật của họ, mà sâu xa hơn, dấn thân vào những thái độ chấp trụ và sự bị điều kiện hóa của họ. Sự sợ hãi đau đớn, sự khủng bố của cái chết phải tới, sự mất kiểm soát trên cuộc đời mình, và rất nhiều mối khổ đau khác - tất cả chỉ được giải tỏa bằng thực hành thiền. Vấn đề còn lại cho mỗi người bệnh là vật lộn theo cách riêng của họ với những lực lượng trong chính họ, chúng làm mạnh thêm hay yếu đi năng lực của người chịu đựng trong cuộc sống của họ.
-
2 Ngôi Mộ Nằm Trên Mặt Hồ Tây Có Tự Bao Giờ ?
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Phong Thủy
híc , cá trê thì sợ lắm :P may mình chưa ăn bao giờ :D -
Chương trình thăm quan miền Bắc của Thiền sư U Tejanyia (22/6/2010 – 26/6/2010) Lời giới thiệu: Thiền sư U Tejanyia là thiền sư tại thiền viện Shwe Oo Min, Miến Điện. Thầy của thiền sư, cố Hòa Thượng Shwe Oo Min, là một trong những đệ tử xuất sắc nhất của cố Hòa Thượng Mahasi, một cây đại thụ của Phật giáo Nguyên Thủy, người đã giữ vai trò đặt câu hỏi trong kỳ Kết Tập Kinh Tạng lần thứ 6 được tổ chức ở Miến Điện. Trở thành thiền sư kể từ năm 1997, U Tejaniya ngày nay trở thành một trong những thiền sư được kính trọng và có ảnh hưởng lớn trong các thiền viện tu tập theo phương pháp Tứ Niệm Xứ tại nhiều nước trên thế giới. Thầy nổi tiếng với một trí tuệ sắc bén, một hiểu biết sâu sắc về pháp hành, và khả năng hướng dẫn thiền sinh. Năm nay, Việt Nam có duyên lành đón thiền sư về hướng dẫn khóa tu tại thiền viện Thiên Trúc Tự, Hà Tiên. Sau khóa tu đó, theo lời thỉnh mời của Phật tử Hà Nội, thiền sư sẽ có chuyến thăm quan tại miền bắc từ ngày 22/6/2010-26/6/2010. Đây sẽ là một nhân duyên để Phật tử Hà Nội có dịp tiếp xúc và học hỏi Phật Pháp, đặc biệt trên phương diện pháp hành, từ một Thiền sư lớn. Các thông tin đầy đủ và chi tiết hơn về thiền sư cũng như phương pháp tu tập do Ngài hướng dẫn có thể được tìm hiểu tại website: Tiếng Việt: www.thienvacuocsong.info Tiếng Anh: http://sayadawutejaniya.org/ (website của Thiền sư) hoặc các cuốn sách như “ Đừng coi thường phiền não”; “Chỉ mỗi chánh niệm thôi chưa đủ”… Thành phần của đoàn: Thiền sư U Tejanyia Sư Pháp Hảo Sư Tâm Pháp Sư Thư Sư cô Tấn Lực Zaw OO Min (thị giả của thiền sư) Lịch trình dự kiến Ngày 22/06: Thăm quan Hà nội 11h40 : Đón đoàn tại sân bay Nội Bài chuyến bay Cần Thơ- Hà nội VN0294. Thăm quan chùa Nội Phật. Xe đưa đoàn thăm quan Hà nội: Hồ Gươm, lăng Bác, chùa Trấn Quốc rồi tới nhà???? 19h: Phật tử tới đảnh lễ và tham vấn thiền sư Ngày 23/06: Thăm quan Hạ Long 07h : Phái đoàn + các phật tử đã đăng ký đi Hạ Long 10h30-11h: Đoàn tới Hạ Long, lên tàu thăm quan vịnh Hạ Long (4h). Thọ trai trên tàu 15h : Kết thúc thăm quan Hạ Long, lên xe, trên đường về ghé thăm thiền viện Trúc Lâm Yên tử rồi về Hà nội. * Các Phật tử tham gia đi thăm quan Hạ Long cần đăng ký trước ngày 05/06 để đặt chỗ. Chi phí thăm quan sẽ được thông báo tùy thuộc vào số lượng người đăng ký. Ngày 24/06: Chùa Hưng Ký Chương trình tu tập cả ngày tại chùa Đình Quán từ 8h sáng đến 9h tối. Thọ trai tại chùa. * Các Phật tử tham gia cần đăng ký trước ngày 20/06 để chuẩn bị cơm trưa. Ngày 25/06: Chùa Đình Quán Chương trình tu tập cả ngày tại chùa Đình Quán từ 8h sáng đến 9h tối. Thọ trai tại chùa. * Các Phật tử tham gia cần đăng ký trước ngày 20/06 để chuẩn bị cơm trưa. Ngày 26/06: Chùa Sùng Phúc - 8h00: Gặp gỡ Tăng Ni Phật tử tại chùa Sùng Phúc. Phái đoàn thọ trai tại chùa. 12h00: Phái đoàn rời chùa Sùng Phúc ra sân bay Nội Bài 16h00: Thiền sư và thị giả bay về Yangoon Lưu ý: trừ ngày 23/06 – ngày đi Hạ Long, các Phật tử khi tham gia chương trình sẽ di chuyển bằng phương tiện cá nhân của mình, trừ khi có đăng ký riêng và có thể sắp xếp được, hay do sự phân công khi làm phật sự.
-
Ngày cập nhật: 28/05/2010 Chương trình thăm quan miền Bắc của Thiền sư U Tejanyia (22/6/2010 – 26/6/2010) Lời giới thiệu: Thiền sư U Tejanyia là thiền sư tại thiền viện Shwe Oo Min, Miến Điện. Thầy của thiền sư, cố Hòa Thượng Shwe Oo Min, là một trong những đệ tử xuất sắc nhất của cố Hòa Thượng Mahasi, một cây đại thụ của Phật giáo Nguyên Thủy, người đã giữ vai trò đặt câu hỏi trong kỳ Kết Tập Kinh Tạng lần thứ 6 được tổ chức ở Miến Điện. Trở thành thiền sư kể từ năm 1997, U Tejaniya ngày nay trở thành một trong những thiền sư được kính trọng và có ảnh hưởng lớn trong các thiền viện tu tập theo phương pháp Tứ Niệm Xứ tại nhiều nước trên thế giới. Thầy nổi tiếng với một trí tuệ sắc bén, một hiểu biết sâu sắc về pháp hành, và khả năng hướng dẫn thiền sinh.Năm nay, Việt Nam có duyên lành đón thiền sư về hướng dẫn khóa tu tại thiền viện Thiên Trúc Tự, Hà Tiên. Sau khóa tu đó, theo lời thỉnh mời của Phật tử Hà Nội, thiền sư sẽ có chuyến thăm quan tại miền bắc từ ngày 22/6/2010-26/6/2010. Đây sẽ là một nhân duyên để Phật tử Hà Nội có dịp tiếp xúc và học hỏi Phật Pháp, đặc biệt trên phương diện pháp hành, từ một Thiền sư lớn. Các thông tin đầy đủ và chi tiết hơn về thiền sư cũng như phương pháp tu tập do Ngài hướng dẫn có thể được tìm hiểu tại website: Tiếng Việt: www.thienvacuocsong.info Tiếng Anh: http://sayadawutejaniya.org/ (website của Thiền sư) hoặc các cuốn sách như “ Đừng coi thường phiền não”; “Chỉ mỗi chánh niệm thôi chưa đủ”…Thành phần của đoàn: Thiền sư U Tejanyia Sư Pháp Hảo Sư Tâm Pháp Sư Thư Sư cô Tấn Lực Zaw OO Min (thị giả của thiền sư) Lịch trình dự kiến Ngày 22/06: Thăm quan Hà nội 11h40 : Đón đoàn tại sân bay Nội Bài chuyến bay Cần Thơ- Hà nội VN0294. Thăm quan chùa Nội Phật. Xe đưa đoàn thăm quan Hà nội: Hồ Gươm, lăng Bác, chùa Trấn Quốc rồi về nhà sư Tâm Pháp 19h: Phật tử tới đảnh lễ và tham vấn thiền sư Ngày 23/06: Thăm quan Hạ Long 07h : Phái đoàn + các phật tử đã đăng ký đi Hạ Long 10h30-11h: Đoàn tới Hạ Long, lên tàu thăm quan vịnh Hạ Long (4h). Thọ trai trên tàu 15h : Kết thúc thăm quan Hạ Long, lên xe, trên đường về ghé thăm thiền viện Trúc Lâm Yên tử rồi về Hà nội. * Các Phật tử tham gia đi thăm quan Hạ Long cần đăng ký trước ngày 05/06 để đặt chỗ. Chi phí thăm quan sẽ được thông báo tùy thuộc vào số lượng người đăng ký.Ngày 24/06: Chùa Đình Quán Chương trình tu tập cả ngày tại chùa Đình Quán từ 8h sáng đến 9h tối. Thọ trai tại chùa. * Các Phật tử tham gia cần đăng ký trước ngày 20/06 để chuẩn bị cơm trưa. Ngày 25/06: Chùa Phổ Linh Chương trình tu tập cả ngày tại chùa Phổ Linh từ 8h đến 6h tối. Thọ trai tại chùa. * Các Phật tử tham gia cần đăng ký trước ngày 20/06 để chuẩn bị cơm trưa Ngày 26/06: Chùa Sùng Phúc - 8h00: Gặp gỡ Tăng Ni Phật tử tại chùa Sùng Phúc. Phái đoàn thọ trai tại chùa. 12h00: Phái đoàn rời chùa Sùng Phúc ra sân bay Nội Bài 16h00: Thiền sư và thị giả bay về Yangoon
-
bac ơi bác xem cho cháu 1 chút đi ạ :P
-
2 Ngôi Mộ Nằm Trên Mặt Hồ Tây Có Tự Bao Giờ ?
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Phong Thủy
ui bác ạ !!! ngày xưa mới lấy nhiều ở hồ , chớ giờ thì còn đâu mà bắt , có chắc chỉ ít thui bác ạ :) bụng bác chắc rất tốt !!! :D -
các bác ơi :P xem cho cháu với ạ
-
2 Ngôi Mộ Nằm Trên Mặt Hồ Tây Có Tự Bao Giờ ?
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Phong Thủy
đừng có xui dại bác í chứ :P -
cháu biết hình thứ 4 là con gì rồi :) là con trăn còn cái cuối cùng là đầu con rắn :P cháu nghĩ vây !!
-
2 Ngôi Mộ Nằm Trên Mặt Hồ Tây Có Tự Bao Giờ ?
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Phong Thủy
hì , mình cao số lắm , đến giờ mà chưa có người yêu :)) vậy bạn đoán sai rồi :) vậy sao , mình hay ra hồ chơi cũng có sở thích ngắm mấy cái mộ , chả hiểu sao :) híc đúng là đất chùa chiền rất thiêng mình đã nghe rất nhiều câu chuyện về chùa chiền :D ví dụ như có 1 người họ hàng xa nhà mình , một hôm đi ra ruộng , cái ruộng gần cái đền .Bác ấy thấy 1 con cá to , khoảng 5 kg , màu trắng , bác ấy bắt về nấu cháo ăn , sau khi ăn xong bác ấy ra đường bị tai nạn . bi thảm lắm . Nói chung đất chùa rất thiêng :) -
Tử vi và Tâm Lý Học Phật Giáo Tâm Nhẫn Trong Lịch sử văn minh nhân loại , loài người là một sinh vật duy nhất luôn luôn đặt ra cho mình câu hỏi đầy ray rứt : • Ta từ đâu đến ? • Tại sao ta đến chốn này ? • Ta sống để làm gì ? • Và Ta sẽ ra sao ? Các câu hỏi này đã theo chân loài người từ buổi bình minh của nhân loại đến muôn đời sau nữa . Trong kho tàng văn minh cổ của loài người , có nhiều thuyết để trả lời một phần các câu hỏi trên ,trong đó, văn minh Trung Quốc đã cho người Trung quốc một luận thuyết Tử Vi nổi tiếng , để trả lời một cách gián tiếp cho các câu hỏi trên thông qua sự giải đoán vận mệnh con người .Các nhà luận giải Tử Vi còn có tham vọng giải đoán đến cả quá khứ xa xưa của tổ tiên nữa , và có thể cả cho ngày sau , đến cả hậu duệ sau này nữa ! Nguyên lý Tử Vi .- Chúng ta điểm qua một số lý luận chính của Tử Vi , trên cơ sở phân tích Tâm lý-Xã hội học và Tâm Lý học Phật giáo , để tìm nguyên ủy bản chất của việc giải đoán Vận mệnh con người . 1. Nền tảng của Tử vi xuất pháp từ triết học Kinh Dịch với nguyên lý Nhất Nguyên Lưỡng Cực và sự chuyển dịch, đổi thay của vạn vật tượng trưng qua 64 quẻ Dịch . Sự luận đoán dựa vào sự tương hợp, tương phản của thuyết Âm Dương ; sự tương sinh, tương khắc của Ngũ hành ; và lý luận “dịch” này của Kinh Dịch . 2. Tính cách chính của người có lá số Tử vi là tính cách kết hợp của các Bộ Sao . Trong đó , bộ sao chính ( sao chủ Mệnh hoặc/và Sao chủ Thân ) , là tính cách cơ bản , và các sao phụ ( sao tham chiếu ) là tính cách bổ sung . 3. Sự luận đóan được cho là Nguyên thuỷ , là từ Tiên sinh Trần Đoàn , qua quyển Tử Vi Đẩu số Toàn thư . Càng về sau, các nhà luận giải càng đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của các thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong bối cảnh của Lá số Tử vi . Do vậy, các luận giải thường mang theo cả những cảm nghĩ và kinh nghiệm chủ quan của người luận giải . nên phát sinh ra khá nhiều trường phái Tử Vi giải đóan . Cho nên không lấy gì lạ nếu , trong cùng 1 lá số, có nhiều luận giải tương phản nhau . Cái nào đúng ? Cái nào sai ? và đâu là nguyên nhân ? 4. Lá số Tử vi bao gồm nhiều thành phần : a.) Phần Trung Cung , có khi gọi là Phần Tiên Thiên : gồm các yếu tố : (i.) Giờ sinh : ngày đêm được chia thành 12 giờ ( so với giờ hiện đại , mỗi giờ Trungquốc bằng 2 giờ Tây phương ) , được qui chiếu vào Can Chi . Và ngày xưa không cóphạm trù múi giờ, nên các nhà luận giải ngày nay đưa thêm vào đó, hệ qui chiếu giờcho các múi giờ kinh tuyến khác nhau ( bằng kinh tuyến Greenwich ) . (ii.) Ngày sinh : được căn cứ vào tuần trăng Âm lịch, có sự hiệu chỉnh của Dương lịch cho các mốc Thiên văn : Xuân & Thu phân , Đông & Hạ chí . Và được qui chiếu thành Can & Chi . (iii.) Tháng sinh : thường thì vẫn dùng 12 tháng cho 12 con giáp với sự qui chiếu với 10 can . Tuy nhiên, vì Âm lịch có hiệu chỉnh, nên việc nhuần thêm tháng sẽ làm một số năm có ngày tháng trùng hợp . (iv). Năm sinh : do 12 chi và 10 can, nên tổ hợp này lập thành một quyển lịch 60 năm , được sử dụng từ thời thượng cổ đến ngày nay . Do Giờ, Ngày, tháng, năm được qui chiếu thành 10 Can và 12 Chi . Mỗi Can , Chi đều có tính Âm Dương và Ngũ Hành . Việc gán cho Can , Chi của Giờ, Ngày, Tháng, Năm cũng không được giải thích vì sao phải như thế ? và khi nào là ngày bắt đầu ? Mọi việc phải được mặc nhiên chấp nhận , như là một giả thiết của khoa học ngày nay . Căn cứ vào nguyên tắc này , mỗi ngày , có 12 lá số , một năm bình quân có 365 ngày , sẽ có 4.380 lá ; một vòng chu thiên 60 năm , sẽ có 60 X 4380 lá số + 180 lá ( do có thêm 12 ngày nhuận ) . Tổng cộng toàn thể nhân loại được qui đinh trong khoảng 262.980 lá số . Chúng ta lưu ý : Tử Vi chỉ dựa vào giờ ( tức là Kinh Độ địa lý ) , mà không đề cập đến Vĩ Độ địa lý . Trong khi sự phân bổ Sinh Quyển, các hệ thống sinh thái thay đổi mãnh liệt theo Vĩ Độ địa lý và Cao độ địa hình . Có lẽ, tiên sinh Trần Đòan chỉ luận Tử vi chỉ cho ngườI Trung Quốc ở tại vùng đồng bằng Trung Nguyên mà thôi . b. Phần Ngoại cung , cũng được gọi là Hậu Thiên , gồm có 12 cung , bao gồm : (i.) Những bộ Tam Hợp : có 4 bộ X 3 cung (ii.) Có 6 bộ Xung chiếu = 6 x 2 cung (iii.) Có 12 bộ Nhị hợp ( còn gọi là Tiền Hậu ) Tất cả các cung đều phải có tính Âm Dương và Ngũ Hành , và phương hướng địa lý theo Hậu Thiên Bát Quái ( Kinh Dịch – và vì sao không sử dụng phương hướng trong Tiên Thiên ? ) nên cũng được gán cho các Hành tương đương . Ví dụ : phương Tây của Trung quốc ( Đoài cung ) thuộc hành Hoả là vậy . Phần ngoại cung này, biểu hiện rõ nét đặc thù của một xã hội phong kiến nông nghiệp Trung Quốc ngày xưa , qua các thành phần cấu tạo nên xã hội này như : • Gia đình : các cung Mệnh\ ( Thân ) , Phụ Mẫu , Phúc Đức , Tật Ách ( về Bệnh) , Tử , Phối ngẫu , Huynh Đệ . • Xã hội : các cung Quan lộc ( giai cấp Sĩ , Binh ) , Nô bộc, Thiên Di , Tật Ách ( về Hình ) • Kinh tế : các cung Điền trạch ( giai cấp Nông ) , Tài Bạch ( Giai cấp Công và Thương ) . Do vậy, trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, sự phân chia các Cung như trên có lẽ không còn hợp thời nữa . c. Phần an sao trong các cung : Các bộ sao chính : (i.) Tử Phủ Vũ Tướng (ii). Âm Dương (iii). Cơ Nguyệt Đồng Lương (iv.) Sát Phá Tham Liêm Bốn bộ sao này còn tạo thành các cục dưới bộ sao , do thiếu hoặc thêm một hoặc vài sao trong cùng một bộ hoặc khác bộ sao . Sự giải đoán Tử vi dựa chính yếu vào các Cục Cách an sao này. Còn các chi tiết diễn giải rộng ra , thì tham chiếu thêm các phần Trung Cung, Ngoại Cung , và tiến xa hơn nữa, phối hợp với các Sao & Cung khác trong các lá số của Tứ Thân Phụ Mẫu ( Hợp Cách) . Các bộ sao này đại diện cho các tính cách cá nhân qua các nghề nghiệp chính trong xã hội thời xa xưa như : Sĩ , Nông , Công , Thương , Binh đồng thời cũng phản ánh những giai cấp chính trong cơ cấu xã hội đó ( Vua , Quan văn võ ) ; giai cấp chủ (điền chủ, Công chủ và Thương chủ ) và cuối cùng là dân dã , nông nô , nô lệ . d. Cuối cùng , còn các sao tham chiếu khác , dùng để bổ sung các tính cách phụ cho các bộ sao chính . Nguyên thủy tất cả có 108 sao , càng về sau, các nhà luận giải thêm vào một số sao khác để minh hoạ trường phái luận giải của mình, cho đến ngày nay tất cả gồm hơn 120- 128 sao . Và dĩ nhiên , tất cả các sao đều phải có tính Âm Dương và Ngũ Hành . Có lẽ các nhà luận giải thấy bế tắc trong một số tình huống kinh tế xã hội phát sinh về sau , nên thêm vào để có thêm các yêu tố mới để cập nhật phần luận giải e. Do đó, tổng hợp từ Trung cung đến Ngoại cung và các sao , chúng ta thấy 1 rừng tương sinh, tương khắc, tương hợp, tương phản , làm cho sự luận giải trở nên vô cùng “mờ mịt “ Sự luận giải của Tử Vi : 1. Luận giải Tử vi bằng các sự tương sinh, tương khắc , tương hợp , tương phản , mang một bản chất Nhân Duyên rất rõ nét : Cái này có, thì cái kia có; cái này không có, thì cái kia không có; cái này sinh, thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt . Hoặc là Trùng trùng Duyên Khởi. hoặc là Nhân sinh ra trên một Nhân trước đã diệt . 2. Bản chất Âm Dương luận , trong tư tưởng Nhất Nguyên Lưỡng Cực , nhất là Dịch học , cũng gần giống như Phi Nhât, Phi Nhị ; Phi Một , Phi Nhiều ; Phi Hữu, Phi Vô ; Trong Một chứa Toàn Thể và Toàn Thể chứa trong Một như Kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm , Pháp Hoa , v….v . 3. Bản chất Ngũ Hành , tương tự như Tứ Đại (Đất = Thổ - Kim ; Nước = Thủy ; Lửa = Hỏa ; chỉ còn lại 2 thành tố chưa tương tự là Gió ( Phong Đại ) và Mộc . Thế giới quan Âm Dương & Ngũ hành của Kinh Dịch cho rằng Vũ trụ kể cả con người được tạo ra do sự tương sinh, tương khắc của Âm Dương & Ngũ Hành , xem con người và ngoại cảnh có cùng một tính chất hình thành , hợp nhất bản thể giữa con người và Vũ trụ . Sự luận giải mang một tính chất dự đóan sự tương tác nhau giữa con người và ngoại cảnh , khi dán nhãn cho con người 1 tính cách và dự đóan xem sự tương tác đó với ngoại cảnh như thế nào ? ( Như là cho một Giả Thiết tiền đề và xét xem các biến đổi tương tác nhau , như trò chơi vi tính ) Và các kết luận mang theo các thuộc tính cơ hữu của con người trong một xã hội nông nghiệp, phong kiến kiểu Trung Hoa thời xa xưa . Xét theo nhà Phật , thuộc tính cơ hữu chính của loài người là Tham, Sân, Si và thuộc tính của xã hội xa xưa đó , như là một Cộng Nghiệp lớn, còn các tác động dự đoán chỉ là Biệt Nghiệp trong mọi vòng Cộng Nghiệp lớn nhỏ của Gia đình, thôn ấp, làng xã và đất nước . 4. Trung cung : phần Tiên Thiên - Tại Trung Cung , con người được phân hạng như sau a. Theo Giới tính : Âm Dương Nam Nữ Âm Âm Nam Âm Nữ Dương Dương Nam Dương Nữ Các nhà luận giải sẽ căn cứ vào sự thuận nghịch Âm/Dương và Nam/Nữ , mà phán đoán tính cách cơ bản của đương số như : Cứng rắn , Nam tính và Mềm yếu/Tình cảm , v…v …. Xét về mặt Tâm Lý Cá Nhân , mỗi cá nhân Nam cũng như Nữ , đều có và chỉ có 2 loại : sống theo Lý Trí ( thuộc tính Cứng rắn , Dương ) và Cảm Tính ( thuộc tính Mềm , Âm ) mà thôi . Việc phân chia này chỉ là một bài toán xác xuất . b. Theo Ngũ Hành : (i.) Cục : Có 5 Cục được mặc nhiên an bài theo sau Các Hành Kim Mộc Thủy Hoả Thổ Các Cục Tứ Cục Tam Cục Nhị Cục Lục Cục Ngũ Cục Số Cục 4 3 2 6 5 Tuổi Bắt Đầu 14 13 12 16 15 Đại Hạn 14-23 13-22 12-21 16-25 15-24 24-23 23-32 22-31 26-35 25-34 34-43- 33-42 32-41 36-45 35-44 44-53 43-52 42-51 46-55 45-54 54-63 53-62 52-62 56-65 55-64 (i.) Cục : Có 5 Cục được mặc nhiên an bài theo sau : Sự bắt đầu từ số 2 đến số 6 , mà không từ con số khác , cũng không được giải thích . Tuỳ theo số khởi đầu, các vòng Đại hạn được ấn định cho 10 năm . Ngoài ra , các con số này còn dùng để tính cân lượng của Mệnh vào phần kế tiếp . Xét về mặt khoa học , sự sắp xếp các dãy số ở phần Cục , được phân tích trở lại, ta thấy gần giống như các giai đoạn phát triển Tâm Sinh Lý của con người theo các độ tuổi : a. Trước 12 = sự phát triển Tâm sinh lý của những năm đầu đời b. 12-25 = lứa tuổi bắt đầu dậy thì đến trưởng thành c. 22-35 hoặc hẹp hơn = 26-35 , lứa tuổi bắt đầu bước vào đời lập thân d. 32-45 , -nt- = 36-45 , lứa tuổi tạo lập sự nghiệp e. 42-55 , -nt- = 46-55 , lứa tuổi chín mùi trong sự nghiệp , tiến đến tuổi hồi xuân .. f. 52-65, -nt- = 56-65 , lứa tuổi hồi xuân và chuẩn bị về già Các lứa tuổi trên , về mặt tâm sinh lý , đều nằm trong những giai đoạn chuyển biến của sự tăng trưởng sinh học với sự tham gia tư nhiên của các hormone sinh học , và làm chuyển biến tâm lý theo 5 Giác quan cơ bản và Ý thức của đương số . Những giai đoạn này cũng hình thành tính cách cá nhân đã được tích lũy từ nhỏ đến lớn, qua sự tập nhiễm với gia đình, các cá nhân gần gũi và mọi cộng đồng lớn nhỏ . Mặc khác , các chu kỳ thời gian trên cũng là các giai đoạn sống và hoạt động của đương số trong bối cảnh tương tác với xã hội , từ trong gia đình & học đường ; bước đầu ra đời ; tạo dựng sự nghiệp và về già . Đặc biệt , lứa tuổi 36-55 ( khoảng 2 đại hạn ) , là khoảng thời gian xảy ra rất nhiều sự thành bại, đắc thất , vinh nhục, thị phi của đương số , các sự kiện này xảy ra với một mức độ quyết liệt hơn, sâu sắc hơn , do sự tiếp xúc và tương tác đa phương đã trở nên toàn diện và ở cường độ cao . Do đó, các nhà luận giải cũng dựa thêm vào 2 ý tưởng là Thời và Vị của Kinh Dịch để luận cho các vòng đại hạn này . “ Thời hành tắc hành; thời chỉ tắc chỉ “ Xã hội xa xưa đó, nơi mà con người có tuổi thọ bình quân là 50 ( Nhân sinh Thất Thập cổ lai hy ) , và con người phát triển cao độ vào tuổi trước 40 ( Tam thập nhi lập , Tứ thập bất hoặc hoặc 30 tuổi chưa lập gia đình thì không nên lập gia đình nữa ; 40 tuổi chưa ra làm quan, thì không nên làm quan nữa ) . So sánh với cách sắp xếp để lấy chu kỳ đại hạn của Tử vi , ta thấy ngay , chỉ có 3 vòng đại hạn quan trọng nhất . Cũng chính vì lý do này , sự an các bộ sao chính phụ cũng được tính toán để cho một giải đoán có tính xác xuất cao trong 3 vòng đại hạn này . Dĩ nhiên cũng có xác xuất đại hạn không lọt hoàn toàn vào an sao chủ lực . 1. Anh hài, từ khi sanh đến 6 tuổi. 2. Đồng tử: từ 7 đến 15 tuổi. 3 .Thiếu niên: từ 16 đến 30 tuổi. 4. Thành niên: từ 31 đến 40 tuổi. 5. Lão niên: từ 41 đến chết. Tóm lại, các giai đoạn ( đại hạn ) này chẳng qua là sự tái lập chu kỳ Vô Thường Thành, Trụ, Hoại , Không ở các cường độ mạnh yếu khác nhau . Nếu chúng ta làm chủ được Thân Tâm , theo triết lý Phật giáo , thì chúng ta sẽ làm chủ được các mức độ này , nghĩa là, làm chủ được vận mệnh . Do đó, sự giải đóan theo giả thiết xác xuất xảy ra với các điều kiện Tâm lý Cá nhân- Tâm lý Quần chúng – Tâm lý Xã hội như trên , dễ làm cho người nghe tin rằng Tử vi là có thể đúng . Ngoài ra, trong vòng đại hạn 10 năm , tất cả những điều may rủi , nhân quả sinh ra , không ai nhớ hết . Cho đến khi luận giải gợi đến , các Thức thứ 7 được nhắc nhở , sẽ nhớ lại từ 50% đến 60% là đã có xảy ra thật ! Cho nên có người không tin bói toán nhưng không thể biện minh được trường hợp này , đành cho rằng , Tử vi là đúng khoảng 50% - 60% , nhưng là ………….hậu nghiệm ! Tự cổ chí kim, chưa bao giờ Tử Vi có thể tiền nghiệm được ! Hơn nữa, đại hạn 10 năm còn có thể có xác xuất cao , nhưng đến tiểu hạn hàng năm , thì xác xuất trùng hợp lại yếu hơn nhiều , xác suất này chỉ còn khoảng 5% đến 10% mà thôi , nói chi tham vọng luận đoán từng ngày , từng giờ ! (như Độn quẻ ) (ii.) Mệnh : Cũng phân chia theo các Hành , toàn cảnh Tử Vi chỉ có các Mệnh dưới đây : Các Hành Kim Mộc Thuỷ Hỏa Thổ Các Mệnh 4 4 4 4 4 Một Hành có 4 Mệnh , sắp đặt từ lớn đến nhỏ , ví dụ như Tích lịch hoả, Sơn đầu hỏa ,v…v Có 5 hành X 4 Mệnh , tất cả có 20 Mệnh . Mỗi Mệnh được tính toán từ số của các Cục mà ra số cân lượng nặng nhẹ ( mấy chỉ , mấy lượng ) Sự tổ hợp 4 tích cách (Âm/Dương) với 5 Cục và với 20 Mệnh sẽ cho ra mọi cách cục đầu tiên của Trung Cung ( phần Tiên Thiên ) Sự tương sinh, tương khắc giữa Cục và Mệnh trên nền tảng Âm Dương cũng được xét đến . Sự tương sinh tương khắc về mặt ngũ hành giữa Cục , Mệnh với các lá số hợp cách được khai thác tối đa , để luận đóan Mệnh lớn hay nhỏ, Mệnh khắc tuyệt đối hay tương đối , v….v Đôi khi , các nhà luận giải còn mang vào phần này lý thuyết của Bát Tự ( Tử Bình ) qua phân tích và chiết tự 8 chữ đại biểu cho Can-Chi của Giờ, Ngày, Tháng, Năm sinh . Sự xác nhận bản Mệnh ngay trong vòng Trung Cung ( Tiên thiên ) này , xem như là một yếu tố cho sẵn từ vô thỉ , gần giống như Thức đầu tiên của con người khi tái sanh , được tập nhiễm them cho đến tuổi đầu tiên được luận giải nằm trong vòng Đại hạn 10 năm đầu tiên ( tuối 12 là thấp nhất – cao nhất là 16 ) . Theo Sinh học , mỗi một cá nhân , nhận được một vốn gen do cha mẹ trao cho . Vốn gen này đồng thời tích lũy tất cả các quá trình phát triển cá thể ( ontogenesis) và quá trình phát triển giống loài ( phylogenesis) từ khoảng 3,8 tỷ năm về trước. Tập hợp tất cả các gen-alen gọi là Kiểu Gen , kiểu gen qui định tất cả Tính trạng (hình thái & sinh lý) của cơ thể ( gọi là Kiểu Hình , là cái ta có được trong những hoàn cảnh môi trường tự nhiên & xã hội cụ thể ) . Do đó, Kiểu gen qui định Kiểu hình của cơ thể . Có tương tự như thế không khi theo nhà Phật , từ khi lọt lòng, con người đã mang theo một Thức Tái Sanh ( từ Vô Minh Vô Thỉ ) tương hợp với Thức Cha Mẹ , là một Cộng nghiệp giữa Nghiệp lực riêng và Tích luỹ Nghiệp riêng của mình với Tập quán Nghiệp , Tích luỹ Nghiệp của Cha Mẹ . Nghiệp và Thức này lớn dần lên bởi sự tập nhiễm Nghiệp và Thức của Cha Me , gia đình, học đường và xã hội cho đến tuổi giải đóan Tử vi . Những sự kiện xảy ra trong đời sống chẳng qua là Nhân Quả được tạo tác ra theo Tâm Thức hàng ngày hàng giờ mà thôi . 5. Ngoại Cung : Phần Hậu Thiên – 12 cung trong Tử Vi , tương sinh, tương diệt nhau tương tự giống như chuỗi 12 nhân duyên , nhưng thật ra , không đầy đủ . Tuy nhiên , 12 cung Tử vi có thể gom lại thành Tâm và Vật ; hoặc Sắc và Tâm ; hoặc Sắc, Thọ , Tưởng, Hành, Thức . a. Cung Mệnh : như là Thức , Tưởng , Nghiệp ; b. Các Cung : Phụ , Điền , Quan , Nô , Di, Tất, Tài, Tử, Phối, Bào như là Sắc , Thọ ; c. Cung Phúc như là Tác Ý , Hành, Nghiệp . d. Riêng cung Thân bao gồm cả 5 thức uẩn . Cung Thân , được an trong 1 trong 12 cung chánh , dùng để xét đoán vận mệnh từ 30 tuổi trở lên đến già ( Tam Thập nhi lập) ) . Phần Hậu Thiên này , có thể xem như là Nghiệp Tạo Tác , là sự tạo Nghiệp và Cộng Nghiệp của đương sự , trong sự tương tác với bối cảnh xã hội đương thời , số phận của đương số chỉ là cái Quả của cái Nhân đã , đang và sẽ gieo ; là cái Nghiệp Báo của cái Nghiệp đã, đang và sẽ gieo . Nghiệp làm không chánh thiện, Làm rồi sanh ăn năn, Mặt nhuốm lệ, khóc than,Lãnh chịu quả dị thục.(Pháp Cú 67) 6. Ngoài ra, Tử vi đưa vào thêm phần Luận giải lý thuyết Hợp Cách ( Trợ Cách và Phá Cách ) , nghĩa là xét thêm lá số của Cha, Mẹ, và người hôn phối và cả các con ( nếu có ) . Như thế, có khác gì đâu các vòng Cộng Nghiệp ? và Chánh Báo , Y Báo ? Nhưng Tử vi không thể chỉ đường cho người những phương pháp tu tập để chuyển Nghiệp như Đức Phật Đại Từ Bi đã dạy chúng sinh . 7. Trong những tình huống bế tắc, các nhà luận giải thường dựa vào triết thuyết Kinh Dịch , với sự giải nghĩa biến dịch trong 1 lá số Tử vi ( Lá số xấu , luận giải tốt và ngược lại – Vật cực tất phản ) . Có phải chăng thấp thoáng trong đó lẽ Vô Thường ? . Hoặc dựa vào cung Phúc , để giải thích những đều xấu không xảy ra hoặc ngược lại , nhà luận giải còn dùng ý niệm Trung và Chánh của Kinh Dịch để lý giải thêm . Chúng ta thấy lẽ Nhân Quả , Luân Hồi và Nghiệp báo xuất hiện ở đây 8. Sự luận đoán các chu kỳ Đại hạn , cũng được tham chiếu thêm với nguyên lý Dịch học , trong các quẻ Dịch tương ứng với các chu kỳ độ tuổi đại hạn đối chiếu với khung cảnh xã hội . Cộng vào đó với phương hướng thuận nghịch ( theo Bát Trạch – một môn địa lý trên cơ sở Dịch học) , càng làm cho việc luận giải càng thêm mở rộng (maximized focusing ) trên cơ sở tâm lý thực nghiệm thăm dò . 9. Các bộ ba Tam hợp như sau : a. Mệnh-Tài-Quan : Bản Mệnh – Tiền tài và Danh vọng ( Quan chức ) . Có học ( văn hay võ) ; Chốn Quan trường ; Và Tiền bạc . Sao gần giống luận cứ của Alvin & Toffler về bộ ba quyền lực : Tri Thức – Tiền tài – Quyền lực đến thế ? . Những luận giải rút ra từ tương sinh, tương khắc và ý nghĩa của bộ sao chính và phụ trong 3 cung trên , sẽ cho đương số một Vọng tâm về Bản Ngã và Tiền Tài , Quyền lực (Tham Sân Si) . Sự quay cuồng đến chóng mặt của Ngã và Ngã Sở như thế , làm sao không tạo ra sinh tử luân hồi bất tận ? b. Phụ - Tử - Nô : Cha mẹ - Con cái – Nô bộc : quần thể cộng nghiệp nhỏ bé này trong tổ chức đại gia đình Trung quốc thời phong kiến nông nô xa xưa , là tế bào xây dựng nên xã hội Trung quốc . Cũng như trên, luận giải sẽ tạo cho đương số một Ngã Sở , một Vọng Tâm khác về Thủ và Hữu , đẩy cái Chấp Thủ và Chấp Hữu lên cực cao . Sự mê cuồng của Ngã Sở (Thủ , Hữu) đến như thế , làm sao đưa con người ta ra khỏi niềm đau nỗi khổ cho được ? c. Phúc- Di – Phối : Phúc Đức – Xã hội – Hôn nhân : Khía cạnh nhân quả của sự tương tác , tập nhiễm giữa Cá nhân và xã hội . Luận giải phần này ngoài nguyên tắc tương sinh, tương khắc âm dương ngũ hành và tính cách các bộ sao chính phụ, nhiều khi các nhà luận giải còn mang vào đây một số yếu tố khác từ Kinh Dịch ( trong việc tương tác với xã hội ) và yếu tố Nghiệp Báo ( trong việc xem xét cung Phúc ) . Tạo cho đương số một Vọng tâm khác về Ái Dục . Tuy nhiên , điều tích cực của Tử Vi là khuyên người ta nên tạo Phúc , để hạn chế cái Vọng tâm về Tiền Tài, Quyền lực, Khát Ái . d. Điền – Tật – Bào : Đất đai – Tật Ách – Anh em : đây là một mối quan hệ trong sản xuất nông nghiệp xa xưa . Mối quan hệ này sẽ sinh ra mọi điều tốt hay xấu , mà cung Tật ách sẽ luận giảng . Đây là những vòng Cộng nghiệp nhỏ trong Gia đình , nơi mà Nhân Quả của đã chứa sẵn từ Tổ tiên vật chất và tâm linh . 10. Phần Xung chíếu : là hai cung đối xứng chéo nhau . Trên nguyên tắc , là có 6 cặp xung chiếu nhau , nhưng trên thực tế , nhà luận giải chỉ xem cung Mệnh và Di , và cung Thân ( nếu có) với xung chiếu của nó . Tuy nhiên , việc an các bộ sao trong các cung cũng được tính toán cho tính cách Tam hợp , vì thế , thật ra chỉ còn 2 bộ xung chiếu : a. Mệnh, Tài, Quan Xung chiếu với Di, Phúc, Phối : ta nhìn lại đoạn trên sẽ dễ nhận thấy bản chất của cách giải đoán thấp thoáng trong đó rồi ! b. Phụ , Tử , Nô xung với Tật, Điền, Bào : 2 bộ xung chiếu này còn nói lên rõ nét hơn về bản chất của việc luận giải ! 11. Phần Tiền Hậu : đó là 2 cung trước và sau của cung được xét luận giải . Và thường, cũng chỉ xét Tiền Hậu của cung Mệnh và cung Thân ( nếu có ) . Cũng như trên , do Xung chiếu và Tam hợp, nên cũng chỉ có 2 bộ cung tiền hậu mà thôi Chỉ riêng 2 chữ Tiền Hậu , cũng đã nói lên ý nghĩa của việc giải đóan rồi ! Như vậy, xét về luận giải các cung , thì thật ra , chỉ là sự xem xét toàn cảnh việc tương tác giữa Cá Nhân – Gia Đình – Xã hội đóng khung trong 12 hoàn cảnh xã hội Trung Quốc mà thôi . Đây chỉ là một trò chơi thăm dò tâm lý cá nhân mà thôi . Một trò Trắc nghiệm Tâm lý được trừu tượng hoá . 12. Một số nhà luận giải , không muốn sai lầm nhiều, thường sử dụng thêm lý thuyết Tướng Mệnh học ( Tướng tuỳ Tâm sinh, Tâm cũng tuỳ Tướng sinh ) để xem tướng kết hợp với Tử vi . Xét về mặt khoa học, các dân tộc khác nhau , có hình thái khác nhau ( di truyền hình thái ) và số liệu nhân trắc khác nhau . Tướng mệnh học đã lâm vào ngõ cụt . Có lẽ chỉ sử dụng cho người thuộc chủng Trung quốc . Ngoài ra , các nhà luận giải sẽ làm sao với những người đang nhiếp các Oai nghi ? Cũng như thế, một số nhà luận giải cũng tham khảo thêm cả Chỉ tay . Nhưng cũng như trên , nhân trắc khác nhau làm sao áp dụng ? Trái với Chỉ tay , Kiểu Vân Tay cũng là một đặc trưng cho Kiểu Gen , mà các nhà Hình Pháp Học đã áp dụng . Điều này đã nói lên sự võ đoán của Chỉ Tay . Cuối cùng , xét theo Tâm lý học Phật giáo , các dân tộc khác trên thế giới, có các nền văn minh khác nhau , tổ chức xã hội khác nhau , thì Tử vi sẽ không thể nào giải đoán được nữa . Do Tâm và Thức sinh hoạt khác nhau , sẽ tạo tác ra xã hội khác nhau . 13. Mặt khác , phân tích 12 cung Tử vi qua quan điểm Triết học Phật giáo , ta thấy gần như sau : Theo Tử Vi Theo Nghiệp Quả Theo Lục Dục • Mệnh ( Thân ) , Tài , Quan Mệnh và Nghiệp, Tư Duy Tham, Ái , Chấp Ngã – Kiến • Phụ , Tử , Nô Nghiệp ( Cộng và Biệt Nghiệp) Ái • Phúc , Di, Phối Các Vòng Cộng Nghiệp Dục Ái , Tham ái • Điền , Tật, Bào Nghiệp và Nghiệp Báo Tham , Ái 14. Kết luận : a. Như vậy, Tử Vi luận xét con người ta lệ thuộc mãnh liệt vào Sắc và Thọ , tương đồng với Tham Sân Si , và cũng là nô lệ của Tưởng, Hành, Thức . Gắn dính con người vào Ngã và Ngã Sở . Và với Tham Sân Si , cái Tưởng Hành Thức sẽ dẫn con người vào vòng Nghiệp Báo Luân Hồi mê mãi , thông qua sự luận giải tương sinh, tương khắc của tất cả các thành tố của Tử Vi . “Nghiệp dẫn đường ta đi “ là một kết luận cho số mệnh con người . Dục ái sinh sầu ưu,Dục ái sinh sợ hãi, Ai thoát khỏi dục ái,Không sầu, đâu sợ hãi?(Pháp Cú 215 ) Tham ái sinh sầu ưu,Tham ái sinh sợ hãi. Ai giải thoát tham ái,Không sầu, đâu sợ hãi?(Pháp Cú 216) Ai sống trong đời này, Ái dục được hàng phục Sầu rơi khỏi người ấy, Như giọt nước lá sen.(Pháp Cú 336) b. Các bộ Sao , có thể nói lên cái Danh Sắc của con người phàm nhân , cái Ái và Dục của nhân loại , cái Ngã và Ngã Sở của nhân loại , cái khát khao của Ái , của Thủ và Hữu tạo thành cái nỗi sợ hãi mơ hồ của nhân loại trước hoàn cảnh xã hội đầy biến động , đổi thay của Trung hoa thời phong kiến . Tính cách Tâm lý của các Bộ Sao không thoát khỏi Tâm lý cá nhân cơ bản của con người với tính cách là một sinh vật thượng đẳng . Người thành đạt thì khát khao thành đạt nữa , nỗi sợ hãi mơ hồ là lo sợ cho sự tồn vong của sự thành đạt này . Người thất bại thi khát khao làm lại , nỗi sợ hãi mơ hồ là lo sợ sẽ không bao giờ lấy lại cái đã mất . Nỗi lo sợ mơ hồ có thể gom lại thành 2 nhóm : i) Bệnh tật : Bệnh tòng khẩu nhập và Bệnh từ vốn Gen thừa hưởng và từ cách sống . ii) Cần chi đến giải đóan ? ii) Tai Nạn từ các hình thức , là hậu quả của mọi tương tác giữa cá nhân và xã hội . Mọi người đều không sống với nhân , mà chỉ sống với quả . Ngày xui, tháng hạn , tuổi xấu , ngày xấu , tuổi khắc, ngày khắc , v….v là những cái cớ để người đời tựa vào đó hầu cũng cố vững chắc thêm cái Ngã và Ngã Sở của mình , làm an ủi , ve vuốt cái Ái , Thủ , Hữu của mình vậy . Khoa Xã hội học đã kết luận từ hơn 40 năm nay : “trong một xã hội loạn hoặc nguy , một trong những hiện tượng xã hội nổi trội là mê tín “ . Vì những người cùng sinh ra , lớn lên và sống chung với cái xã hội này , phải tất yếu chia xẻ mọi vòng Cộng Nghiệp với toàn bộ cái xã hội đó Nỗi sợ hãi mơ hồ thâm căn cố đế cũng phát nguồn từ đây . c. Cuối cùng , sự luận giải Tử Vi là gieo vào Tâm của người nghe , một tính cách cá nhân tưởng tượng , một cuộc đời cá nhân tưởng tượng . Những điều gieo rắc này tạo trong đương sự một Vọng Tâm về một cái Ngã thường hằng và những Ngã Sở có thật Một vọng niệm vừa nổi lên, thì có trăm ngàn vọng niệm khác tiếp tục theo sanh ra, cho đến vô cùng tận. Nhơn đó mà có hư không, thế giới và chúng sanh đồng thời hiện ra. Cũng như người đương thức (dụ chơn tâm) bỗng chốc buồn ngủ nổi lên, (dụ vô minh vọng động) chiêm bao thấy có núi sông, nhà cửa các cảnh vật hiện ra (dụ hư không, thế giới và chúng sanh). Từ một thể chơn tâm không khác, vì vọng niệm phân biệt, có năng sở, bi thử sai khác, nên hiện ra có hư không và thế giới. Nhơn có hư không thế giới nên mới có chúng sanh. Ðã có thế giới nên mới có chúng sanh. Ðã có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đãi nhau, nên khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt: tốt, xấu, phải, chẳng v.v… Vì thế mà sanh ra đủ các phiền não trần lao nhiễm ô. Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới, cái không hình tướng và yên tịnh là hư không……………………………………….Tóm lại, vì ở trong tâm chúng sanh, các vọng tưởng xen nhau phát sanh, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có các cảnh vật. Bởi nhân duyên này mà thế giới nối nhau sanh mãi không dứt. (Kinh Lăng Nghiêm) Vì vậy , có người tin Tử vi là đúng , là do Vọng Tâm đã thành kiên cố ; có người cho Tử Vi có khi đúng , khi sai , là do Vọng Tâm chưa kiên cố còn chao đảo ; và cuối cùng, người cho Tử Vi không đúng gì cả , chính là các nhà Sư , sự tỉnh giác trong Vô Thường và Vô Ngã của các nhà Sư đã làm cho khoa Tử vi không còn áp dụng được nữa . Đó cũng chính là định đề khẳng định của Tử Vi ngay từ đầu là không luận giải những nhà Sư và những người không còn tham gia trong xã hội mà người xưa gọi là “những ngừoi xuất thế “. Ý dẫn đầu các pháp,Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý ô nhiễm,Nói lên hay hành động, Khổ não bước theo sau, Như xe, chân vật kéo. (Pháp Cú 1 ) Ý dẫn đầu các pháp,Ý làm chủ, ý tạo; Nếu với ý thanh tịnh, Nói lên hay hành động, An lạc bước theo sau, Như bóng, không rời hình. (Pháp Cú 2) Đến đây, ta có thể đặt câu hỏi là : có hay không có số mệnh ? Số Mệnh có hay không ? “ Sắc tức thị Không , Không tức thị Sắc Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc “ A.-THỜI GIAN CÓ THỰC KHÔNG ? 1. Thời gian , qua sự phân tích tâm lý con người , là sự biểu hiện trong trạng thái vật lý - hình thái của mọi vật xuyên qua quá trình Sinh , Thành, Hoại , Không , xuyên qua các ghi nhận có tính Ký Ức của não bộ . Sự thay đổi trong hình thái vật lý biểu hiện đập vào mắt của con người phát sinh các khác biệt so với ký ức , sự cảm thọ này sẽ sinh ra một so sánh , một so sánh đó tạo một Tưởng Trước, Sau , Cũ Mới , Ký Ức đã có và Hiện Tại , và con người tự đặt ra một ước lệ về cái trước-sau đó , là thời gian a. Con người còn tiến xa hơn nữa, là muốn đo, đếm cái thời gian tâm lý đó . Quá trình tập nhiễm ( huân tập) thời gian tính trãi qua từ vô thỉ đến này , tạo ra thời gian của con người . b. Một ví dụ : sự thay đổi hình thái vật lý Sáng – Tối do vận động vật lý vũ trụ của Trái đất , làm cho con người tạo ra thời gian tâm lý Ngày – Đêm . Loài vật cảm thọ ngày đêm , sáng tối một cách phản xạ ( phi thời gian ) . Nếu nuôi gà , ta sẽ thấy chúng ngủ vào đêm và thức về ngày . Nhưng nếu nuôi trong chuồng với ánh sáng Daylight 24/24 giờ, ta sẽ thấy con gà không ngũ nữa, chỉ thức và ăn uống thôi . Những con gà không bao giờ có triệu chứng mất ngủ . Sự ngủ nghĩ của loài vật chỉ đơn giản là sự nghỉ ngơi sinh lý , khi cơ thể vật lý bị mệt mõi hoặc cần nghỉ ngơi mà thôi , tất cả diễn trình sinh học này là Phi Thời Gian ( theo cảm nhận của con người ) . “ Không có ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông “ Thời gian đã không thực trong xác thân vô thường này , thì làm sao có được số mệnh đã an bài theo Giờ, Ngày, Tháng, Năm huyễn ảo ? B.-Game online : 1. Hàng ngày , có hàng chục triệu , hàng trăm triệu người trẻ tuổi trên toàn trái đất mê mõi cùng tham gia những game online , cho đến nỗi , có vài người đã gục chết tên bàn máy vi tính ! 2. Trong những game online này , nhà lập trình đã giả lập một thế giói ảo , với những thuộc tính , những điều kiện chi phối thế giới ảo này . Những người chơi , căn cứ vào những thuộc tính đó, điều kiện đó , cũng giả lập một nhân vật ảo tham gia . Tất cả tạo thành một thế giới ảo hoàn chỉnh , mà mọi người chơi đều đưa nhân vật ảo của mình tương tác theo những điều kiện tiên quyết của trò chơi . Nhân vật ảo chiến thắng từng giai đoạn , sẽ lên từng level , mỗi thất bại , nhỏ thì xuống level, lớn thì ……game over ! . Nhân vật ảo này có số mệnh hay không ? C.-Ma trận (Matrix) : Trong một tập truyện phim khoa học giả tưởng , ma trận là một thế giới ảo được lập trình , mà mọi người ảo sinh sống trong đó cũng được lập trình . Truyện phim này nói rằng : Thế giới ảo này được lập trình hoàn thiện cho một thế giới vật lý thực đang hấp hối . Một người , khi chết trong thế giới ảo này ( chết tâm lý ) , cũng bị chết vật lý trên thế giới thực . Kẻ chiến thắng ma trận , là một người , do khả năng Tâm lý siêu việt , nên không bị chết tâm lý ảo , và dùng sức mạnh tâm lý thật chiến thắng thế giới ảo đó . Người đã nhận ra Cái hư vọng trong cái hư vọng ! D.-Ông Chủ ở đâu ? 1. Từ khi ý thức được bản thân mình , ta thấy là Ta là Ta . Ta là Ông Chủ của Ta . Những tấm hình kỷ niệm mà ta chụp trong Quá khứ , hiện tại và tương lai cũng là Ta của ngày hôm qua, hôm nay và tương lai . 2. Ta là Ông Chủ của ta , tại sao không thể hoạch định tương lai của Ta cho tốt , để không phải hỏi các ông thầy Tử Vi về vận mệnh tương lai ? Ta là Ông Chủ của ta, sao không bảo thân thể phải cường tráng , để không phải cầu đến Bác sĩ ? Ta là Ông Chủ của Ta, sao không bảo nó trẻ mãi không già , để không lo sợ về cái Già bất lực ? 3. Ông Chủ đi đâu ? Ai là Ông Chủ đích thực của Cái “Ta” ? E.-Trò Chơi Vĩ Đại : Ma Trận với Không-Thời gian Vô Thỉ - Vô Chung . 1. Cái “Ta” mà ta chấp lầm rằng có thực này , bị chi phối ngay từ khi mới chào đời bởi Thức nguyên thuỷ và sau đó , bởi Ngũ Uẩn , bởi nhiều Chấp lầm , vô số Ý Thức và vô vàn Vọng Tâm . Chính những điều kiện này đã thúc đẩy , điều khiển cái “Ta” trong sự tương tác với ngoại cảnh . Như vậy, “Ta” sinh ra , đã được lập trình sẵn , từ vô thỉ đến ngày nay . Cái Ta này , đã tái sinh từ nguồn vốn Gen của Tổ Tiên Ông Bà Cha Mẹ từ Vô thỉ đến nay , được huân tập trong các vòng Cộng Nghiệp lớn nhỏ . 2. Từ khi Nhân loại nảy sinh Tâm Phân Biệt ( ví von như từ ngày Adam & Eva ăn trái cấm) , thì Vọng tâm này bắt đầu tạo tác lại cái thế giới mà nhân loại đang sống . Và như thế đó , thế giới này đã được nhân loại lập trình liên tục từ vô thỉ đến ngày nay . 3. Sự tương tác giữa cái “Ta” và cái “Thế giới” này , theo vô lượng điều kiện có từ vô thỉ đến nay , đã cho mỗi cái “Ta” lầm lẫn rằng có một cái số mệnh riêng cho mỗi cái “Ta” , khó có thể giống nhau . 4. Và “Số mệnh là những gì xảy ra một cách ngẫu nhiên, nhưng hình như đã được sắp đặt sẵn” là một định nghĩa cho trò chơi vĩ đại này . a. Xảy ra ngẫu nghiên : ai có thể hoạch định được sự tương tác này ? . Như vậy số mệnh xảy ra một cách ngẫu nhiên . b. Hình như đã được sắp đặt sẵn : rõ ràng là như vậy , cái Thức, cái Nghiệp sẽ dẫn mọi người đến với nhau theo cách Duyên sinh , Nhân Quả , Luân hồi, Trùng Trùng Duyên Khởi . Như vậy, số mệnh đã được lập trình . c. Tổng hợp 2 hệ lụy trên , thì “ số mệnh xảy ra một cách ngẫu nhiên theo những điều kiện đã định sẵn “ . Ta nhớ lại Einstein : “Thượng đế không chơi trò xúc xắc” 5. Trong mỗi đời người , chúng ta đã từng có những “bước ngoặt” làm thay đổi cả cuộc đời hoặc làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả cuộc đời còn lại . Những bước ngoặt này , không ai có thể trù tính trước được , và con người đành phải cho rằng Số Mệnh đã an bày như thế . Tuy nhiên , sự thật là Những Bước ngoặt đó xảy ra một cách ngẫu nhiên , khách quan và xuất hiện khi và chỉ khi nó đã hội đủ mọi điều kiện cần và đủ . Những điều kiện này đã xuất hiện một cách chầm chậm theo thời gian trôi , và xuất hiện từng phần một , trong một mớ hỗn độn mà không ai cảm nhận được nó hiện diện quanh ta cả . Cho đến khi , chỉ một điều kiện cuối cùng xuất hiện , toàn thể sẽ bùng vỡ . tạo một xung lực đẩy cuộc đời của ta qua một bước ngoặt mới . Đó là định luật Nhân – Quả , Duyên Khởi , bởi vì mỗi một người , khi làm bất ký điều gì có tính tích cực, tốt đẹp , vào một một mục đích tốt đẹp . Thì tất yếu , những hậu quả của hành vi đó , sẽ xuất hiện một cách từ từ, trực tiếp và gián tiếp , cho đến khi gặp một điều kiện cuối cùng , thì sẽ vào Bước Ngoặt tốt đẹp . Ngược lại, những hành vi xấu, thì bùng vở thảm kịch . “Cái vỗ cánh của một con Bướm trong rừng Amazone , có thể phải chăng đã tạo một cơn bão cát tại Sahara ? “ Phải chăng mọi vật – trong đó có con người - đều trong Lưới Trời Đế Thích và mọi người tự tạo tác dệt nên cái lưới vận mệnh của mình ? Như vậy, Ông Chủ đã bị vạch mặt : là Tâm . Ông Chủ không tốt (Vọng Tâm) sẽ sử dụng xác thân này không tốt ( mệnh không tốt ) ; Ông Chủ Tốt ( Chân Tâm) sẽ sử dụng tốt xác thân này . 6. Muốn thoát khỏi Ma Trận Vô Thỉ- Vô Chung này , chỉ có một con đường duy nhất : phải phá vỡ cái lập trình sẵn có , và làm chủ cái tương tác trong ngẫu nhiên . Muốn vậy, phải thực sự hiểu rằng : “ Thân xác này không phải là ta hay của ta Cảm thọ này không phải là ta hay của ta Sự tưởng này không phải là ta hay của ta Những ý nghĩ này không phải là ta hay của ta Sự nhận thức này không phải là ta hay của ta” Kinh Vô Ngã Tướng Mà tìm con đường trở về với Chân Tâm , vượt qua sinh tử, sắc không , không-thời gian , mà đỗi thay số mệnh của mình . Có lẽ là : Số mệnh có mà không , không mà có ! Số mệnh không khác Không , Không cũng không khác Số mệnh ! Là như vậy .
-
Kính Nhờ Các Bác, Anh Chị Xem Giúp Dùm Em Về Cuộc đời Của Mình
PhươngHồng replied to ntpt's topic in Tử Vi
hì ,em mà xem đc , em đã xem cho em rồi :P em đọc mà loạn hết cả lên , chả hiểu cái gì :D chán quá , mình chả có tài năng :) -
Kính nhờ các Thày xem giúp: vận hạn theo Tử vi và Tứ trụ
PhươngHồng replied to Giaback's topic in Tử Vi
bác Giaback không xem được cho bác sao ạ !! -
Kính Nhờ Các Bác, Anh Chị Xem Giúp Dùm Em Về Cuộc đời Của Mình
PhươngHồng replied to ntpt's topic in Tử Vi
ui chị biết coi mà , lại đi hỏi à ^^ để khi nào em học em coi cho chị nha ^^ không ngờ chị trẻ thế , đúng là tuổi trẻ tài cao ^^ -
2 Ngôi Mộ Nằm Trên Mặt Hồ Tây Có Tự Bao Giờ ?
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Phong Thủy
:D không sao đâu ạ :D lần sau bác mà ăn , nên hỏi là tôm này lấy ở đâu :D chắc người ta sẽ bảo là không phải ở hồ Tây đâu :) -
2 Ngôi Mộ Nằm Trên Mặt Hồ Tây Có Tự Bao Giờ ?
PhươngHồng replied to PhươngHồng's topic in Phong Thủy
cảm ơn về câu trả lời của bạn :D nhưng mà hongha mới có 20 tuổi :P bạn gọi là bác chắc tổn thọ mất :) hì có lẽ mình ít đọc báo nên là không biết tin tức :D nghe bài báo này sợ quá , híc đúng là chả dám ăn tôm hồ tây :D may mình mới ăn có 1 lần :D cảm ơn nhá :* -
Sô-lô-khốp Từng đánh Mỹ ở Tây Nguyên?!
PhươngHồng replied to Thiên Sứ's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Đúng là hệ thống giáo dục nước ta có quá nhiều bất cập , sách giáo khoa , sách tham khảo tràn lan , kiến thức lan man , đến nỗi các em chả biết đâu là kiến thúc thật đâu là kiên thức giả :P .... chưa kể đến bộ máy cũng có quá nhiều hạn chế ,....nói chung là chán cho giáo dục VN :) -
Xin chào mọi người !!! Hà Nội với những lo toan của cuộc sống , tất bận của công việc ..... mọi người lại có những giây phút thư giãn bên bờ hồ ( hồ Tây ) . Tôi cũng có góc riêng của mình , tôi thích góc đó vì ngồi ở đây có thể nhìn ra 2 ngôi mộ trên mặt hồ . Tôi thắc mắc không biết xuất xứ của 2 ngôi mộ đó và tại sao nó lại ở trên mặt hồ . Hôm nay quyết định mang máy ảnh đi chụp , nhưng vì máy ảnh không đc xịn :P nên là không rõ lắm :) Xin phép cóp vài bức lên để mọi người nhìn lai :D Mong mọi người giải đáp thắc mắc !!! Xin cảm ơn !!! http://i765.photobucket.com/albums/xx293/t...pg?t=1276608876 http://i765.photobucket.com/albums/xx293/t...pg?t=1276608923 http://i765.photobucket.com/albums/xx293/t...pg?t=1276608930 http://i765.photobucket.com/albums/xx293/t...pg?t=1276608941
-
một bài quá hay :^^ cảm ơn nha vì đã đăng bài này ^^
-
ở đây bác Thiên Sứ đưa ra các dáng đi ở điều kiện bình thường , khi các bạn có tâm trang các bạn coi như là bị tác động ở các yếu tố tâm lý = không tính , khi các bạn đi bình thường , mà dáng đi đó thành dáng đi đặc trưng của ban :P có lẽ như vậy là bạn sẽ xem đc :) ngoài ra , dáng đi có thể sửa đc , để tạo cho mình 1 phong thái khác , tốt hơn ....
-
vậy sao anh !!! có thể nhưng nhiều khi cố tìm nó , cố giữ nó nó lại thoát khỏi mình :( tốt nhất là kê nó anh ạ , cố tìm mà làm gì ^^ cảm ơn anh Hoài Trần nhiều ^^ :*
-
Sô-lô-khốp Từng đánh Mỹ ở Tây Nguyên?!
PhươngHồng replied to Thiên Sứ's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
đúng là học sinh ngày nay càng ngày càng học lơ láo :( chán cho công cuộc cải cách giáo dục Việt Nam :( hi vong những năm sau VN có thể có những biện pháp tốt hơn trong đầu tư vào giáo dục đào tạo ( giáo dục con người ) -
:() vâng lỡ may yêu phải anh nào cũng phải chịu chứ ạ :( khéo anh nào 70 chứ chẳng vừa đâu ạ :D cảm ơn đã bình luận bài viết , du ca :):*