Guest Dienbatn Posted 19 Tháng 6, 2009 Report Posted 19 Tháng 6, 2009 Bài Chiêm Lịch soạn cho năm 2010-2011 Phạm Vũ Hội- KTS Xưởng Kiến Trúc Tạo hình Hải Phòng Thân gửi: ông Bùi Quốc Hùng- Bút danh DIENBATN Trung Tâm Nghiên cứu lý học Đông Phương Bài Chiêm để đăng tải về nghiệm lý Sấm Ký Trạng Trình (tiếp tục với Hư thực muôn đời…) (E-mail:dienbatn@yahoo.com) Canh dần diễn nghĩa – 2010I/ Thiên tượngDịch trời đảo lộn tứ phương, Bóng đen lấp ló nẻo đường trận vong Sơn lôi di chuyển đùng đùng. Ai hay khói lửa bập bùng biển khơi Rừng sâu hùm thức dậy rồi. Đông A một dải đứng ngồi chửa yên Trước thu trăng rọt lên thềm, Một cơ “lục thất” sức bền trăm năm Lại tìm hai chữ Ngũ Luân, Lại xem Núi Tản Non Nùng hiển linh Sự nuôi sự lớn sự thành, Sự đi hợp lẽ chính danh đúng mùa Cầu trời “bất chiến-bất thua”, Bắc nam vô sự gió mưa thuận hòa. II / Nhân sựMã phù Kiếp địa khởi ra, Thói quen dương tẩu lẻn qua cửa rồng Tháng giêng thấy động ầm ầm, Ba tư khói bụi xém gần tới lưng Bốn năm phong hỏa gia nhân, Người thua kẻ thắng đôi phần tách chia Than ôi quốc sự dầm dề, “Mã ngưu chi tuế” xua dê lạc đàn Đạo càn nãi thống dương gian, Đạo khôn nãi thuận còn đang nửa vời... Trước thời thiên hạ xẻ đôi, Sau thời nhân quả ông tôi nhỡn tiền. III/ Thiên tặc“Cát bình nhất nhật sơn niên”, đất trời nóng nực suốt đêm suốt ngày Khô khan rã cánh cò bay, giữa năm động đất gió xoay tối mù Cơ trời đói kém mất mùa, lại khi dịch khí a dua a tòng Triều dâng bão dội tây đông, làm cho thiên hạ hãi hùng nhiều phen Nghĩa nhân mà lắm ưu phiền, bởi chưng quyền lực bon chen bộn bừa Tượng trời gia đấy mà chưa? vị nhân vị cập vẫn đùa thế gian..! Phạm-Vũ-Hội. 7-4-2009 (13/3 Kỷ Sửu) “ * ” Lấy ý từ Sấm Trạng Trình Chiêm lịch 2010- Canh DầnStt Ngày tháng Dương lịch Biến cố Binh cách Biến cố Ngũ tặc Phương vị (+ -3ngày)1 21 -2 23-3 30-4 Binh cách căng thẳng Mưa lũ Động đất –khí lạnh Đông-Nam Đông-Bắc Tây2 26-5 19-6 Bùng nổ – binh lửa Xung đột Khô hạn- nóng Gió lốc cuồng phong --- Bắc Đông bắc Đông Nam 3 15-7 08-8 Binh cách ----------Chiến sự Nóng hạn Gió lốc cuồng phong Bắc ... Tây-Nam Đông bắc 4 04-9 28-9 Binh lửa Hội họp...chiến sự - Dịch bệnh khí Lốc – Mưa lũ…. Tây Nam Đông nam 5 24-10 18-11 Căng thẳng. hội họp ------------ -----------Chiến sự Lũ lụt----- Mưa lụt --- ---------- Tây Bắc Đông-Đông bắc6 27-12 02-2-2011 Chiến sự ------------ Động đất Dịch-----lũ Tây – Bắc Đông-nam Nam ------PVH- ( 12/4/2009 DL) (18/3 Kỷ Sửu ) Tân Mão diễn nghĩa – 2011I/ Thiên tượngVận trời cháy sự tràn lan, mặc nhiên quỷ quái làm càn khiếp kinh Vẫn theo bá đạo vi hình, lùa cơn sóng cả nghê kình ngoài khơi Tốn cung cam phận dập vùi, “kiền khôn phù tái” ngược xuôi trống kèn Chấn cung hơi vạc bùng lên, thủy lôi thăng giáng khắp miền giang đông Khôn cung tí tách đì đùng, “độc- tôn” hai chữ nạ dòng cắt chia Khí trời nhân nghĩa ra rìa, quan quyền lừa đảo ăn chia kiếm tiền Đông tây chưa thể là duyên, “cửu trùng” còn đợi tiên thiên đảo đồng II / Nhân sựTính thời toan thế thượng phong, giơ tay xoạc cẳng anh hùng kém ai Nhìn lên thấp thoáng sen nhài, cúi xuống lộ rõ hình hài quỷ ma “Cơ nhị ngũ” thế cũng là... “cửu châu” tiếp cảnh chiến qua “do hùng” Giêng hai hiểm hóc tầm ngầm, ba tưw tịt mịt tay cầm bàn chông Năm sáu lửa bén phía đông, cuối năm hội họp chạy rông chạy dài “Ốc tru” đáo vận giằng giai, quyền nhân bước một bước hai nửa vời... III/ Thiên tặcCả mưa cả nắng thì sôi, cả sóng cả gió thì lôi sập thành Ốm đau ôn đạo dịch hành, âm dương đôi ngả rõ rành tác hung Đoài phương lạnh nóng chưwa từng, thì phen núi lở địa lầm cuốn trôi Chấn phương đấy lụt đây bồi, đồng quê thẳng cánh dập vùi thủy phân Chữ rằng thiên địa chi tân, bình yên một khúc bất thần một khi... Bao giờ “thập quốc” lâm thì, mới yên ngũ tặc mới vi nhân quyền... Phạm-Vũ-Hội. 14-4-2009 ________________________ (20/3 Kỷ Sửu) “ * ” Lấy ý từ Sấm Trạng Trình Chiêm lịch 2011- Tân MãoStt Ngày tháng Dương lịch Biến cố Binh cách Biến cố Ngũ tặc Phương vị (+ -3ngày)1 03-2 24-2 19-3 Binh cách Chiến sự- - Bùng nổ Động đất – Bệnh dịch khí Đông-Nam Nam2 21-4 24-5 binh lửaXung đột Lũ lụt Gió lốc cuồng phong Đông bắc Đông Nam 3 27-6 30-7 Binh cách ----------Chiến sự Bão lụt Gió lốc cuồng phong Tây Bắc ... Đông- 4 01-9 03-10 Binh lửa Hội họp----------- Dịch bệnh khí Lốc – Mưa lũ. Tây Nam Đông nam . 5 27-10 17-11 ------------ -----------Chiến sự Lũ lụt sụt lở Động đất sóng thần ---------- Bắc-Tây Bắc Đông bắc6 20-12 22-1-2012 Chiến sự ------------ ------------ Động đất Dịch bệnh----- Tây – Bắc Đông Nam-PVH- ( 15/4/2009 DL) (21/3 Kỷ Sửu ) Phạm Vũ Hội - Có thơ Chiêm rằng: Lâu nay gắng lấy sự nhàn, mở quyển sách vàng nhiệm nhặp ngồi xem Có câu Sấm ký bí truyền. Tuổi thơ nghe lỏm đôi phen hỏi dò Lão phu các cụ bơ phờ , luận giải hàng giờ cũng chỉ chừng ra “Mười phần mấy bảy còn ba, mất hai còn một...” thực là khó thay Trẻ con chạy dọc luống cày, chấp chân sai vặt cả ngày mà vui Cái thời điếu đóm ông tôi. Cái thời sâu nặng tình người nghĩa cha Đồng xanh ruộng lúa bao la, lũy tre vi vút tiếng gà gáy trưa Mái tranh sông nước hững hờ, lưng trâu ngồi đọc i-tờ ê a... Sấm Trạng Trình đã viết ra, mỗi câu mỗi chữ đều là thần tiên Gắng công học chữ thánh hiền, hoạ may hiểu được lời truyền Trạng cho Hoạ may hiểu được biến cơ, tài trai thông luận cơ hồ dọc ngang Sấm gieo muôn ngọc nghìn vàng, thỉnh xin từng chữ rõ ràng nhớ ghi Kể từ tuổi nhỏ qua đi, gặp thời loạn lạc khốn nguy bời bời Chiến tranh rần rật khắp nơi, hiền giang một lẻo cắt đôi sơn hà Phân chia bên địch bên ta, thắt lưng buộc bụng mà ra chiến trường Mẹ già một nắng hai sương, tuổi xuân hăng hái lên đường lập công Thân trai nhẹ tựa lông hồng, bom rơi đạn nổ tứ tung ngũ hành Thửa là phải thuở “hung hoang”, thửa là binh hoả chiến trường khốn thay Thửa là cá phái ẩn cây, thửa là còn mấy chim bay một làng Khăng khăng sắc đỏ sắc vàng, nhà máy thôn làng khẩu sung khoác vai Thửa là thiên hạ xẻ hai, thửa là kẻ sở người đoài chạm nhau Muôn dân chịu cảnh âu sầu, kể dư đôi ngũ quả hầu mới yên Thương cho hai chữ thánh hiền, bảy nổi ba chìm mới được hồi sinh Những năm giáp ất bính đinh, Sấm ký Trạng Trình đều phải đốt đi Sự lòng dân nhớ dân ghi, năm trăm năm ấy người đi lại về Thủy sinh cành lá xum xuê, càn khôn thái vận bốn bề cảo thơm Đẽo vuông rồi mới đẽo tròn, công cha nghĩa mẹ nhới ơn muôn đời * Hai tay nâng quyển sấm trời, ấm áp từng lời Trạng đã dạy cho Huyền thông là chuyện thiên cơ, nói ra không thể tóc tơ tỏ tường Thực hư để lại nhân gian, đúng sai để lại nghiệm bàn hậu sinh... Nay xem thời nghiệm lộ trình, “phục nguyên chu ngũ” tài tình xiết bao Nhớ câu Trạng viết thuở nào, “một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa” Những điều báo chí đăng qua, ứng vào thời thế thật là thần minh Có câu “long vĩ chiến tranh, can qua thân dậu thái bình niên lai...” Ấy là đại chiến thứ hai, thời gian sự thế chẳng sai tí nào Đồ thư một quyển Trạng trao, năm trăm năm ấy trải bao nhiêu đời? Có câu “Tiên lãng chia đôi, sông Hàn nối lại thì tôi lại về” Lần theo mảnh đất đồng quê, vẫn còn Đền Trạng bốn bề cỏ hoang Vẫn còn dải đất Trung Am, bến đò Tăng Thịnh sông Hàn nước xuôi Bao năm đất lở cát bồi, bờ đê Nam tử chân người gió theo... Quê cha quê mẹ còn nghèo, chỉ mong có được cầu kiều bắc sang Cánh buồm nhẹ lướt Hàn giang, bể Đông mây trắng từng làn trắng mây Chuông chùa Thạch Khánh khô gầy, Thiên Hương nẻo khuất thuyền đầy khách thăm, Tràng Xuân Kiều lặng bâng khuâng, Thái Bình choi chói một vùng Trấn Dương Ngao du Đông Hải- Đồ Sơn, lại về Kính Chủ- Động Tiên sớm chiều Sự già vui bạn theo theo, văn chương tri ngộ điều điều tự tâm Mặc ai xua đuổi hươu Tần, trăng lên lầu Hán ngồi thăm mệnh trời Dở hay thôi tự lòng người, bút hoa soi chép những lời thần tiên Chữ đề Sấm ký- bí truyền! Chữ Tâm thực sáng, chữ Thiền thực cao Chữ Tài, chữ Tuệ siêu sao, Trung Thiên Như Nhật vọng vào ngàn năm..! Mát trong theo mạch nước ngầm, mát vào hoa cỏ tưới nhuần khắp nơi Rằng đầu thế kỷ hai mươi, “phân thân tòng bắc khởi” ngòi chiến tranh Ấy là Đức Pháp ý Anh, áo-Hung Nga Nhật Mỹ tranh giành đất đai Ấy là tám nước cường tài, làm “tám chúng quỷ” tính bài hại nhân Nổi cơn binh lửa ầm ầm, hùm già lạc dấu khôn lần lối ra Versails quyền lợi bất hoà, thắng thua thù hận cho là cách tân “Đoài phương ong khởi lần lần. Muông sinh ba cốc cầm quân dấy loàn” Ấy là Đức ý Nhật Hoàng, thành trục phát xít tính toan phục thù Đua tranh quân lực quân nhu, gây nên đại chiến mịt mù bốn phương Địa cầu ra bãi chiến trường, thủy chiến bộ chiến trăm đường gớm ghê Mùi Thân Đức ý thua to, Mỹ Anh Nga Pháp kết lò đồng minh Bấy giờ “nhiễu nhiễu đông chinh” khắp nơi chĩa súng vào anh Nhật Hoàng Đồng minh đòi Nhật đầu hàng, ngẩn ngơ thì nỗi kinh hoàng xảy ra Hoa Kỳ dùng đến bom "A", một Hi-rô-sị một Nà-zà gaki Châu thành tan tác như ri, đúng năm Ât Dậu thôi thì thảm thương “Gà đâu gáy sớm bên tưwờng, chẳng yêu thì cũng bất tương rằng không Quốc trung kinh dụng cao không, giữa năm vả lại hiểm hung mùa màng” Thế là Nhật phải đầu hàng, Đồng Minh thắng trận khải hoàn khắp nơi... Lạ thay khi viết Sấm trời, Trạng đà biết rõ chuyện đời chẳng ngoa Bom nguyên tử đã nổ ra, giữa năm con gà- quả đúng giữa năm Đoài phương thực có chân nhân, kêu gọi xa gần lập hội quốc liên Chủ trương bênh vực nhân quyền, lớn nhỏ mọi miền tôn trọng tự do... Sau khi Đức Nhật hạ cờ, thế giới bấy giờ đó khát thiên tai Đồng Minh thắng trận nơi nơi, lợi dụng cơ trời nhiều nước đứng lên Phá điền thiên tử xuất niên, đúng là bất chiến tự nhiên sinh thành Việt Nam cướp được chính quyền, lật đổ bù nhìn Bảo Đại thoái lui Á Đông mấy nước cùng thời, Nam dương Phi luật phát lời tuyên ngôn Đấu tranh dận tộc dập dồn, tới nay thế giới vẫn còn đấu tranh Gặp thời một tốt công thành, không thời tướng sỹ cũng đành bó tay. *** Nhân xem xét lại lich sử vai trò nhà Nguyễn 20-10-2008 mà có thơ rằng: Tiện đây xin phép nghiệm bàn, vì đâu đất nước đôi đường phân ly Cứ theo địa lý mà suy, Đại Việt biên thùy chỉ quá Đèo Ngang? Nam phần do Chúa Nguyễn Hoàng, Chiêm thành Chân Lạp quy hàng mà nên Nghiệp vương học lối Hán Đường, chữ đề “lưỡng quốc nam vương” rành rành Giới biên chọn khúc sông Gianh, ngoài- trong là cuộc mạnh tranh thư hùng Kỳ này chia cắt núi sông, ghép vào Sấm ký là không đúng thời Thần cơ đã khéo trêu ngươi, sử thi lại khéo do người làm nên Nay xin chí sĩ mọi miền, lập trang quốc sử phải nhìn cho tinh Gia Long chính thực phụ nguyên, thần châu thu cả mọi miền về tay Kinh Đô là Huế đặt bày, Việt Nam là chữ bấy nay bảo toàn Hà Tiên tới Mục Nam Quan, tỉnh thành- lục lộ- mở mang Bản đồ Âu là thiên sự biến cơ, lại thêm chinh chiến mù mờ khó suy Pháp xâm quốc sỉ lâm nguy, ngược xuôi sĩ khí hết đi lại về “Phá điền than đến đàn dê, hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng Dê đi dê lại tuồn luồn, đàn đi nó cũng một muôn phù trì” Cho hay quái khí lâm thì, âm dưwơng trắc dịch vị chi lạc lầm... Cũng là thú vị tình thâm, đáo tầm sử địa lượng tuần kiến hưng...(kinh thư16-6-2009-PVH)dienbatn giới thiệu .
Recommended Posts