Guest Dienbatn Posted 12 Tháng 6, 2009 Report Posted 12 Tháng 6, 2009 Bà Bảy từ tốn kể tiếp cho mọi người nghe về phương pháp dựng và phá trận đồ . Theo truyền thuyết kể lại , phương pháp này Khổng Minh - Gia Cát Lượng học được chính từ vợ của mình . Vợ Khổng Minh tuy hình thể rất xấu , vừa lùn lại vừa rỗ hoa nhưng về nhân tướng lại là một hình thể cực tốt . Bà là người tinh thông nhiều môn như Thái Ất , Độn Giáp , Tử Vi và là một đệ tử chân truyền của một cao nhân ẩn sĩ vùng Động Đình Hồ . Chính vị này đã chỉ dạy cho bà cách dựng và phá những Trận đồ ngày ấy . Sau này , bà truyền lại cho Khổng Minh và những Trận pháp do Khổng Minh dựng vang tiếng cả ngàn năm . Thực sự việc xây dựng một TRẬN ĐỒ vì mục đích gì đi chăng nữa , người Chủ trận phải hiểu tường tận cách bố trí Trận pháp . Ngoài việc xác định rõ vị trí của Huyệt kết ở đâu , hướng của Long Nhập thủ như thế nào trong 72 Long Thấu Địa , Thiên Môn - Địa hộ ở đâu , Tính chất Âm - Dương ,Ngũ hành của Khí Huyệt như thế nào , người bố trí Trận đồ phải rất giỏi về Ngũ Tử Khí Long ( Phận biệt các loại Khí Hỏa Khanh , Không hư , Bảo Châu ) , phải thành thạo các thuật Toán an Ngũ Thân , Lộc , Mã , Quý , Tứ cát , Tam Kỳ , Bát Môn , an các Thiên Can , Địa Chi lên Bát Quái Đồ Hỗn Thiên . Những thuật này liên quan mật thiết đến Thuật tính Thái Ất , Độn Giáp . Việc xác định được cửa SINH của BÁT QUÁI ĐỒ , tuy khó khăn nhưng chưa thấm vào đâu so với việc tính toán thời gian Huyệt mở của tại cửa SINH . Việc này ngày xưa các cụ tính rất giỏi nay tiếc rằng đã thất truyền . Hiện nay chỉ còn nguyên lý của nó thông qua việc tính toán THỜI CHÂM - TÝ NGỌ LƯU TRÚ VÀ LINH QUY BÁT PHÁP . Tuy nhiên theo nguyên lý " Nhất Bổn tán Vạn thù - vạn thù quy nhất bổn ' và " Đời - Đạo , ÂM - DƯƠNG ĐỒNG NHẤT LÝ " . Chúng ta hoàn toàn có thể dùng thời châm để tính thời gian Huyệt mở . Ví dụ : TÝ - NGỌ LƯU CHÚ là hai tự trong 12 Địa Chi , chỉ về Thời gian . Hàm ý quá trình ÂM - DƯƠNG biến hóa , tiêu , trưởng của Thời gian . Trong một ngày thì giờ Tý ( 23 - 1g ) ở nửa đêm là lúc Âm thịnh nhất ( cũng là lúc Dương bắt đầu được sinh ra . Giờ Ngọ ( 11 - 13 g ) vào lúc giũa trưa , lúc Dương thịnh nhất ( Cũng là lúc Âm mới sinh ra ) . Trong một năm thì tháng Tý ( Theo âm lịch kiến Dần hiện nay là tháng 11 ) là tiết Đông Chí , là thời kỳ Âm thịnh nhất nhưng cũng là thời kỳ Dương được sinh ra . Tháng Ngọ ( Tháng 5 Âm lịch ) chứa tiết Hạ Chí là thời khí Dương cực thịnh , nhưng đồng thời cũng là thời kỳ " Nhất Âm sinh " . Hai từ LƯU - CHÚ có nghĩa là chỉ vào sự chu lưu , tưới rót của Khí trong các Kinh , Mạch . Thuật ngữ TÝ - NGỌ LƯU CHÚ có hàm nghĩa : Khí thịnh , suy , lưu động trong các Kinh mạch ( Hay Long mạch cũng vậy ) theo nhịp điệu của thời gian chuyển biến . TÝ - NGỌ LƯU CHÚ PHÁP là một phép Thời châm , chọn Huyệt Khai , Mở theo giờ thịnh , suy ( Huyệt mở hay đóng ) của Khí trong Kinh mạch ( Hay Long mạch ) . Nó sử dụng 66 Huyệt Ngũ du của 12 chính Kinh làm Huyệt chủ . Phép TÝ - NGỌ LƯU CHÚ cũng như các phép LINH QUY BÁT PHÁP , PHI ĐẰNG PHÁP đều là những phép THỜI ĐIỀU TRỊ từ thời cổ xưa . Người xưa cho rằng , nắm được các phương pháp này thì nghệ thuật chữa bệnh hay làm Phong thủy , dựng trận được nâng cao tột bậc , có hiệu quả hơn hẳn , tác dụng nhanh và chính xác hơn , ví như chèo thuyền gặp nước xuôi .. nhất là với những ca cấp tính . Trong bài " Luận về phép Tý Ngọ Lưu Chú " - Từ Văn Bá ( Từ Thị ) viết : " Nói phép Tý - Ngọ Lưu Chú là nói cương nhu tương phối , Âm - Dương tương hợp , Khí Huyết tuần hoàn , giờ Huyệt mở , đóng " ( Theo Châm cứu Đại thành của DƯƠNG KẾ CHÂU ) . Cương , nhu ở đây là nói về Tạng phủ , Kinh mạch . Âm - Dương ở đây là nói về Can - Chi phối với Âm - Dương . Nội dung chủ yếu của phép Thời châm này bao quát : Thiên Can , Địa Chi , Âm Dương , Ngũ Hành , Tạng phủ , Kinh lạc cho đến các Huyệt Tỉnh , Vinh , Du , Nguyên , Kinh , Hợp .... Ngày phối Kinh , giờ phối Huyệt . Mỗi ngày ( Can ) có một đường Kinh chủ đạo đồng tính Âm Dương - Ngũ hành với nó . Ngày Kinh chủ đạo bắt đầu và kết thúc vào giờ đồng Can với ngày lịch . Dương Kinh dẫn Khí đi trước , Âm Kinh dẫn Huyết đi trước . Ngày Dương ( Can , Chi ) , giờ Dương Khai ( mở ) Huyệt Dương . Ngày Âm , giờ Âm Khai Huyệt Âm vì Dương gặp Âm thì đóng lại . Gặp các trường hợp này thì dùng nguyên tắc tương hợp như Giáp ( 1 ) hợp Kỷ ( 6 ) ....và nguyên tắc " Bổ tả Huyệt Mẹ con " để giải quyết . Phần lý thuyết tuy đơn giản như vậy , song khi bước vào thực tế thật là vô cùng nguy hiểm . Tuy khó khăn như vậy , nhưng chiếc khóa nào cũng có chìa để mở cả . Chúng ta chỉ cần tra đúng chìa là chiếc khóa dù phức tạp đến mấy cũng sẽ nhẹ nhàng mở ra . Theo tôi , trận của Lão thày Chà tuy có vẻ hiểm hóc , song Lão ta dù học được một ít về Trận pháp , song vì không hiểu được Quái lý , nên trong Trận pháp này bày ra nhiều yếu điểm . Chúng ta hoàn toàn có thể phá trận này một cách dễ dàng .
Recommended Posts