Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

nhanqua

Hội viên
  • Số nội dung

    151
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by nhanqua

  1. Hôm nay ngày 4/9/2010 - Nhanqua xin đóng góp từ thiện ủng hộ trường hợp "một người mẹ và 10 đứa con điên". thêm 500.000ngin vnd (năm trăm ngìn đồng chẳn). Chuyển vào tk của Wildlavender
  2. Mẫu Cụ khiết tới trên lưng còn có mười mấy đồng tiền cơ,nvtuan à,tôi đang tìm để đưa lên đây.
  3. -------------------------------- Phong thủy thì ai cũng có thể học được hết, tuy nhiên để đạt tới cảnh giới thì chỉ có vài người thôi. Biết phong thủy và làm được phong thủy là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Tôi rất tâm đắc câu nói này của hatgaolang…
  4. Hy vọng sau khi học phong thủy và tử vi, mình có thể giải đoán phần nào--------------------------- Theo quan điểm của tôi thì đó chính là sự tương tác của tất cả mọi thứ . và sự chi phối lớn nhất đó là . Nhân Quả - Luân Hồi - Nghiệp Chướng .
  5. Tôi cũng đã được đọc tài liệu giống như bạn Minh Anh đưa ra trên diễn đàn này,vì Bố tôi và các bác trong khu phố là CỰU CHIẾN BINH,một lần đi họp chi bộ CCB,được một bác CCB giới thiệu tài liệu này,Bác ấy tên là Chu Phát hay Chu Phác hàm Tướng,Tá gì đó,tôi không nhớ lắm...
  6. Kính chào BQT. Nếu có thể được,không ảnh hưởng đến lời bình của các hội viên trong chủ đề này, thì xin BQT xóa dùm tôi 2 bài viết tại chủ đề này,đó là bài số 9 và số 10. lý do : hướng nhà tôi ở không phải là ĐÔNG NAM,mà là hướng khác,khi trước tôi chỉ đo khái niệm ĐÔNG TÂY NAM BẮC,mà không nhìn vào độ số. tôi xin cám ơn BQT...
  7. Vấn đề "Vô Ngã" trong Đạo Phật Nguyên Thảo "Vô Ngã" là vấn đề tương đối hơi khó và khiến cho nhiều người nghiên cứu về Đạo Phật phải tốn nhiều công sức để truy cứu, tìm hiểu. Nhưng Vô Ngã lại là vấn đề quan trọng trong giáo lý của Đạo Phật. Tại sao Đạo Phật lại chủ trương "Vô Ngã"? Nếu nói Đức Phật chủ trương "Vô ngã" thì quả thật tội nghiệp cho Đức Phật không biết là ngần nào! Đã nhiều lần trong các Kinh điển Đức Phật thường nhắc đến "các Đức Phật trong ba đời cũng đều hộ trì như vậy". Đức Phật nói điều đó là muốn cho chúng sinh biết rằng con đường tiến đến quả vị Phật là con đường tự nhiên và tất yếu phải đi qua những giai đoạn như thế. Con đường tu và giác ngộ nó không khác trên căn bản, nhưng tùy theo tâm tính, cơ thể "bẩm sinh" mà mỗi con người thực hành một cách có khác, cho nên mỗi con người, mỗi chúng sinh gần như có mỗi một pháp môn khác nhau. Chúng ta cũng cần lưu ý rằng Đức Phật chỉ tự xưng là "Đạo sư" mà không là Giáo chủ, cũng không bắt người khác phải theo ta, ngay cả giáo hội cũng không có một điều lệ, lời răn nào để o ép một ai. Tất cả tin và theo chỉ là "tự nguyện". Tại sao như vậy? Đức Phật đã từng là một con người như bao nhiêu người khác. Ngài có nhiều tư lự, suy nghĩ về cuộc sống trần thế với sanh, lão, bệnh, tử; và Ngài đã từ bỏ ngôi vị giàu sang phú quý, vợ đẹp con thơ để đi tìm đạo. Ngài cũng đã không thỏa mãn với những gì mà Ngài học được từ những vị danh sư; Ngài cũng thực hành pháp khổ hạnh. Nhưng cuối cùng do quyết tâm của chính mình, Ngài đã ngộ được đạo dưới cội Bồ đề. Và từ đó, Ngài nói về những chân lý, phương pháp mà Ngài đã cảm nhận được để hướng dẫn cho con người làm theo cách đúng hầu tìm đến được sự Giác ngộ, tìm về với Chơn tâm của chính mình; cho nên Ngài chỉ là một Đạo sư, người chỉ đường cho người khác chứ không là một giáo chủ đầy quyền uy và ban phép cho người khác. Còn cái "Chân lý" mà Ngài truyền đạt qua "cái biết" của tri thức, "cái thấy" của Phật nhãn sau khi thành đạo Ngài gọi đó là chân lý của giác ngộ. Đạo của Ngài truyền bá cho chúng sinh, con người là Đạo Giác Ngộ (Phật). Nếu thông thường chúng ta cứ gọi là Đạo Phật thì chúng ta không thể nhận thức được trọn vẹn cái ý nghĩa của đạo; mà khi chúng ta gọi là Đạo Giác Ngộ để thay thế chữ Phật thì chúng ta mới thấy được cái ý trọn vẹn: Vì với Giác ngộ ta mới thấy là ta không bị mê muội tin theo một tín điều; với giác ngộ ta mới thấy cái sáng suốt của lý trí chúng ta khi chúng ta đến với giáo lý đạo Phật; và ta tin theo cũng từ trong nhận thức của lý trí. Cho nên, những ai tin theo giáo lý đạo Phật một cách thiếu nhận thức của lý trí thì hãy còn thiếu sót khá nhiều. Đó là tính chất rất khoa học trong đạo Phật hay nói một cách khác "Giáo lý đạo Phật không làm cho tín đồ phải mê muội tin theo, hoặc làm cho tín đồ phải mù quáng mà đâm ra cuồng tín hoặc tin mà thiếu nhận thức". Trong "Phật học từ điển" của Đoàn Trung Còn đã ghi: Phật: Bouddha (scr).-L' Illuminé (fr.) Cũng đọc: Bụt. Đọc trọn: Phật đà (Bouddha). Phật là tiếng Phạn, dịch nghĩa: Giác giả (Người Sáng-suốt). Ấy là tiếng để xưng bực Viên giác (Giác ngộ hoàn toàn). Phật, Phật đà, tức là người đã tự giác, lại giác ngộ cho chúng sanh, và hai cái hạnh tự giác và giác tha ấy ngài đã làm trọn vẹn rồi. (Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn). Con đường mà Đức Phật Thích Ca đã chỉ trong Đạo Phật không phải là con đường tin để được giải thoát mà là con đường thực hành để đến được "bờ giác", đến sự giác ngộ. Sau khoảng hơn 45 năm hành đạo và tùy theo căn cơ của từng chúng sinh hay từng nhóm mà Ngài đã thuyết khác nhau. Vì thế mà có nhiều bộ Kinh được ra đời, nhưng chung quy lại "Vì trình độ của chúng sanh có sai khác, nên có các quả thánh hiền sai khác, chứ không phải Phật pháp có sai khác." (Kinh Kim Cang). Mặc dù vậy, Đức Phật cũng nhắc nhỡ rằng: "Ta cũng như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng, các ngươi phải nhơn ngón tay mà xem mặt trăng. Nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng, thì chẳng những không thấy được mặt trăng, mà cũng không biết luôn ngón tay" (Kinh Lăng Nghiêm) . Những kinh điển, giáo lý mà Ngài rao giảng hoặc đã nói ra chẳng qua là phương tiện để chỉ đường, hướng dẫn cho chúng sinh theo đó mà tu hành để đạt đến giải thoát, chứ không phải để nghiên cứu. Nhưng thông thường vì kinh điển của Ngài nói quá cao xa, do đó mà chúng sinh đã phải nghiên cứu thật nhiều hầu hiểu rõ hơn để tìm được con đường tu tập cho đúng. Vô hình chung là chúng ta mãi mê nghiên cứu ngón tay hơn là mục đích chính: Nhìn để thấy được mặt trăng. Và cũng do nơi nghiên cứu và phương pháp tu có sai biệt từ hoàn cảnh, môi trường, thời tiết, khí hậu... mà người ta đã phân biệt tiểu thừa, đại thừa; thiền với tịnh; phương pháp của ta hay, của người thì dở...Người ta đã quên rằng Đức Phật từng vạch rõ: Chính từ cái "ngã" và với "cái tâm phân biệt" ấy mà chúng sinh đã rời cõi Chân như để đi vào cõi luân hồi; bây giờ người ta lại hãy còn vẩn vơ về hai chữ "Vô minh". Cõi Chơn như là một tên gọi khác của Niết bàn, hay còn gọi là Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, Yêm Ma La Thức, Bồ Đề, Pháp Tánh... Nhưng đó chỉ là những danh xưng cùng chỉ về một cảnh giới của người giác ngộ đã đạt được tùy theo khía cạnh của từng đối tượng tu tập, hoặc nghiên cứu. Nói như vậy, tức là Đức Phật không chủ trương "Vô ngã" mà chính trong tự thể của từng chúng sinh nó đã là vô ngã. Mà chỉ với Vô ngã, chúng sinh mới có thể nhập vào trong cùng một cảnh giới "Chỉ một không hai" (Bất Nhị) tức là Niết Bàn hay bằng những danh từ khác như trên. Nơi đó không còn có "Tâm Phân Biệt" và "Vọng Niệm ". Đức Phật, trong Kinh Lăng Nghiêm, có thuyết: "Từ nơi Chơn Tâm, vì hư vọng hiện ra các cảm giác thấy, nghe, hay, biết. Do hòa hiệp vọng sanh ra, rồi cũng do hòa hiệp vọng diệt đi", và trong Kinh Viên giác Ngài nói rõ hơn: "Nầy Thiện nam, tất cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, bị nhiều món điên đảo làm mê mờ tính "Viên giác", như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Điên đảo vọng hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ đại giả hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng niệm sanh diệt duyên theo bóng dáng của sáu trần cho là thật tâm của mình" (Phật học phổ thông- khóa VIII- trang 16). Chính vì vọng niệm, phân biệt mà chúng sinh đã rời cõi Chơn Như và mượn tứ đại: Đất, Lửa, Gió, Nước tạo nên thân xác của mình. Ngoài ra, tâm còn mượn đến Kiến đại để thành hình sáu giác quan: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cùng các thức; và nó cũng mượn đến hư không để thân xác được tăng trưởng và lớn lên. Theo như vậy, chúng ta thấy rằng trong thân xác con người hay của chúng sinh chỉ là những vay mượn từ tứ đại cho đến thức đại cùng hư không; thì thân xác ấy chẳng phải là thân thật của mọi loài, vì khi chết đi thân tứ đại lại hoàn trả về cho tứ đại; giác quan, các thức lại trả về cho kiến đại, hư không lại trả về cho hư không. Thế thì sao được gọi là "Thường"? Cho nên cái thân xác ấy là Vô Thường; cái "Ngã" của chúng sinh cũng chẳng là cái "Thật Ngã" của chúng sinh. Thế cho nên cái "Ngã" ấy chỉ là cái "Giả Tạm" mà thôi! Trong thế gian, người Duy vật thì cho rằng con người được sinh ra và lớn lên chỉ một lần, chết là hết; cũng giống như những người chủ trương đoạn diệt. Nhưng ý niệm đó không đơn giản! Vì từ xưa đến nay đều có những hiện tượng xảy ra trong đời sống, khiến người ta phải nghĩ đến vấn đề siêu hình và tái sinh: Một con người kể chuyện thời xa xưa ở một địa điểm nào đó mà họ chưa từng tới, sau khi truy tìm thì quả thật có như vậy. Điều ấy cho chúng ta suy nghĩ như thế nào? Những con người chết đi sống lại kể chuyện ở cõi khác, hoặc những hiện tượng kỳ lạ, ta phải suy nghĩ ra sao? Ngày nay những câu chuyện tương tự như thế được sưu tập lại khá nhiều từ Đông sang Tây và được in thành sách hay đăng tãi trong những tạp chí về khoa học huyền bí, như vậy, giữa những kiếp người nó phải có một sự liên kết nào đó; mà trong đạo Phật gọi cái chủ thể ấy là "Tâm", cái tâm của chúng sinh. Cái Tâm ấy vì "Vô minh" do nơi có "vọng niệm" và "phân biệt" mà rời cõi Chơn Tâm, rồi trầm luân vào cõi Luân hồi. Rồi với nghiệp báo khi còn sống trong những kiếp trước đã tạo nên, chúng sinh lại càng chìm sâu vào luân hồi và biển khổ mênh mông: Các nghiệp báo ấy "nhận chìm" chúng sinh vào trong bể khổ. Cái "ngã" về thân xác đã chỉ là giả tạm. Cái ngã "Tâm" lại là "vọng tâm", cái vọng tâm ấy cần lau chùi, gột rửa để tìm về "chơn tâm" trong sáng theo tự thể của nó, giống như tấm gương, hay viên ngọc bị bùn nhơ, bụi bám làm lu mờ u tối phải được lau chùi: Lau chùi để được trở lại trong sáng, sáng soi. Tấm gương, viên ngọc thì cần đến người khác lau chùi. Còn nghiệp báo của con người, chúng sinh do chúng sinh ấy tạo ra bằng từ hành động, lời nói, ý nghĩ của chính mình qua lòng tham lam, sân hận và si mê mê muội; thì chỉ có chúng sinh ấy tự gột rửa lấy mà thôi. Không một ai có thể thay thế hay làm hộ. Cho nên chúng sinh, con người cần phải tu sửa cho đúng hơn, thiện hơn và đẹp hơn. Đức Phật đã từ là một con người, một chúng sinh bình thường tìm được con đường Giác ngộ Chơn lý; và Ngài chỉ lại con đường ấy cho mọi người, chúng sinh. Ngài khẳng định trong các Kinh: Các Đức Phật trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai cũng phải nương vào con đường ấy mà về đến Niết bàn hay đạt đạo Vô Thượng Bồ Đề. Ngài đã đạt được thì mọi chúng sinh cũng sẽ đạt được: "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành". Nhưng sao phải Vô Ngã? Đi tìm lại cái "Thật Tâm" của mình chưa đủ, chúng sinh còn phải đoạn trừ mọi sát, đạo, dâm vọng. Vì tất cả các món đó đều tạo nên nghiệp: Giết hại thì tất phải chịu bị giết trở lại, nên còn phải có kiếp sau; như vậy vẫn phải bị luân hồi sinh tử. Trộm cắp, gây ân oán, đau khổ cho người khác; lừa đảo, dối trá, gạt người thì cũng phải trả món nợ mà mình đã vay, cho nên cũng không tránh được sự luân hồi. Những đam mê về sắc dục, khiến người ta, chúng sinh lưu luyến không từ bỏ cõi dục, thì cũng không thể rời cõi dục để đạt được đạo. Cho nên, trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật đã dặn dò cùng A Nan: Nếu không đoạn trừ dâm dục sẽ đọa vào ma đạo; không dứt sát hại sẽ đọa vào thần đạo; không bỏ trộm cướp thì đọa vào tà đạo và không trừ vọng ngữ thì thành ma ái kiến, mặc dù chúng sinh đó có tâm trí diệu ngộ, thanh tịnh đến đâu; và như thế tất cũng không đạt được đạo Bồ Đề. Đó là những điều liên hệ đến cái "Ngã" thân xác. Còn đối với cái "Ngã" của "Tâm" thì sao? Trong các Kinh Viên Giác, Kinh Kim Cang Đức Phật nói đến các tướng Nhân, Ngã, Chúng sinh và Thọ Mạng tức là nói đến cái "Tâm phân biệt" Ta, Người, Chúng sinh và cái "Tâm giới hạn" Thọ mạng tướng. Đó là những "Vọng tâm" đã khiến chúng sinh tách rời khỏi "Chơn Tâm" đi vào cõi Luân Hồi. Vì sao? Vì trong cõi Chơn Tâm mọi Tâm thức của chúng sinh đều "Viên dung" (hoàn toàn dung hợp, hòa lẫn với nhau, không loại trừ); và Chơn Tâm ấy lại Viên Dung cùng sáu đại khác là Đất, Lửa, Gió, Nước, Kiến đại và Hư Không thành một thể. Thể ấy tuy chung nhưng vẫn có cái riêng, trong mỗi cái riêng vẫn có cái chung theo đúng như câu "Tất cả là một, một là tất cả". Đức Phật đã đưa ra một ví dụ tương đối dễ hiểu là Tâm của mỗi chúng sinh trong vũ trụ vô biên giống như ánh sáng của một ngọn đèn trong căn nhà, tâm của những chúng sinh khác cũng là ánh sáng của những ngọn đèn khác cùng đặt trong cùng căn nhà đó. Tất cả ánh sáng của những ngọn đèn đều chiếu sáng khắp căn nhà, nhưng những ánh sáng từng ngọn đèn không bị lộn lạo lẫn nhau. Điều này được ghi lại trong Kinh Viên Giác như sau: "Thí như trăm ngàn ngọn đèn, đồng đốt trong một căn nhà, ánh sáng của mỗi ngọn đèn tuy đều chiếu khắp cả nhà, nhưng không có lộn lạo hay lấn diệt lẫn nhau" (Phật Học Phổ Thông- Khóa VIII- trang 51, 52). Cái thuở các đại còn viên dung thì Thức Tâm của mọi chúng sinh cũng viên dung trong cõi Chơn Tâm, nhưng do vì si mê, không biết lý lẽ và sự việc (Vô minh) mà tâm của từng chúng sinh sinh ra có vọng niệm, phân biệt mà tách rời nhau để rồi mượn tứ đại, kiến đại và hư không cấu thành thân xác giả tạm, vay mượn nên mới có sinh, lão, bệnh, tử và có luân hồi. Mỗi chúng sinh trở nên riêng biệt, sống theo bản năng sinh tồn từng loài mà tranh đấu, chém giết, giành giựt, lừa gạt...lẫn nhau bằng đủ mọi cách. Chính vì vậy mà tạo nên nghiệp để rồi phải chịu theo luật nhân quả trong vòng luân hồi triền miên. Muốn thoát ra, chúng sinh phải tự mình phấn đấu với mọi dục vọng, tham ái; phải dứt bỏ những nhân xấu, phát triển nhân thiện bằng thực hiện con đường Đạo đế hay áp dụng những con đường trong 37 phẩm trợ đạo, tức là những phương cách giúp đỡ người tu thực hiện để đạt được đạo như: Tứ niệm xứ- Tứ chánh cần- Tứ như ý túc- Ngũ căn- Ngũ lực- Thất bồ đề phần- Bát chánh đạo để tạo cho mình được sự dũng mãnh, tinh tấn, cương quyết thoát khỏi vòng trầm luân, khổ ải hoàn tất được con đường giải thoát, đạt đến Niết Bàn (Diệt đế). Theo như vậy, chúng ta cũng có thể hiểu rằng vì cái "Ngã" khởi đầu mà "Vọng niệm" và "Tâm phân biệt" khởi sinh, cho nên muốn trở về với lúc ban đầu ta cần phải từ bỏ Tâm phân biệt và vọng niệm, tức là chúng ta không thể thấy cái Ta của mình hơn Người mà thấy cái Ta cũng như Người. Ta, Người cũng như mọi Chúng sinh và Ta, Người, Chúng sinh mãi mãi hòa hợp, viên dung chứ không phải trong một khoảng thời gian ngắn hay thật dài, hoặc trong một thời gian giới hạn nào đó tức là Thọ mạng tướng vậy. Trong Kinh Viên Giác, Đức Phật đã nói về bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng sinh và Thọ mạng như sau: -Nầy Thiện nam! Các chúng sanh đời sau, bởi không rời được bốn tướng, nên tuy trải qua nhiều kiếp, siêng năng tu hành khổ hạnh, nhưng chỉ thành hữu vi mà thôi, chớ không thể chứng được Thánh quả" (Phật Học Phổ Thông- Khóa VIII- trang167). Thấy "Cái Ta" (Ngã) hòa hợp chung với Người (Nhân) và Chúng sinh (Chúng sinh) mãi mãi, vô cùng tận (Thọ mạng tướng) tức là đã dứt bỏ đi cái Ngã hay nói đúng hơn là "Vô Ngã". Diệt cái Ngã cá nhân để biến cái Ngã ấy viên dung cùng tất cả mọi cái Ngã của chúng sinh và chung với các đại khác: Đó là một điều cần phải có trong Đạo Phật để người tu hành đạt được đạo Vô Thượng Bồ Đề. Trong Kinh Kim Cang (Phật Học Phổ Thông- khóa XII), Đức Phật đã thuyết như sau: -"Phải xa lìa tất cả các chấp tướng, mới gọi là chư Phật". (Trang 109). -"Phật dạy: "Tu Bồ Đề! Nếu có người phát tâm Bồ Đề, thì phải dụng tâm như vầy: Ta hóa độ tất cả chúng sanh, nhưng không thấy có mình độ và chúng sanh được độ. Tại sao vậy? Nếu Bồ Tát còn thấy mình độ và chúng sanh được độ, thì Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ giả, tức nhiên không phải là Bồ Tát". (Trang 134-135). Và: -"Phật dạy: "Tu Bồ Đề! Ông chớ lầm tưởng: Như Lai nghĩ rằng: "Ta độ chúng sanh". Tại sao vậy? Nếu Như Lai có nghĩ: "Ta độ chúng sanh", thì Như Lai còn chấp bốn tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ giả, tức nhiên không phải Như Lai. Bởi thế nên, Như Lai thật không có độ chúng sanh nào cả". (Trang 168). Nói tóm lại, sau khi thành Phật hay đúng hơn trở thành Bậc Giác Ngộ, Đức Phật mới nói lại những Chân Lý đã có không biết tự bao giờ và chỉ dẫn con đường để trở thành người giác ngộ mà Ngài cũng như vô số Phật đã thành đạo trong thời quá khứ, hiện tại đang thành cũng như những vị Phật trong tương lai sẽ thành phải trải qua. Con đường đó không khác nhưng tùy theo mỗi con người, chúng sinh vì trình độ có sai khác nên họ sử dụng phương pháp có khác nhau, nhưng chung qui cũng đi đến mục đích giải thoát. Sự ra đời của Đức Phật có hai mục đích chính: Một là chỉ rõ cho chúng sinh để chúng sinh được: Khai (mở ra, biết)- Thị (thấy)- Ngộ (gặp, hiểu biết, nhận thức)- Nhập (thấm vào, hiểu và thực hành) Phật Tri Kiến (những điều mà Bậc giác Ngộ thấy, biết) như mục đích rõ ràng khi Phật thuyết về Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hai là hướng dẫn con đường, lối tu (Đạo sư) sao cho đúng và tùy theo từng trình độ để chúng sinh có thể thực hành con đường giải thoát đi đến kết quả và thoát được vòng sinh tử, luân hồi tìm về nơi an vui, hạnh phúc, thường hằng. Thực ra con người, chúng sinh tu hành để thành Phật chỉ là tìm con đường trở về nơi chốn cũ mà trước kia mình đã ra đi như Đức Phật đã nói "chúng sinh vốn đã thành Phật từ xưa tới giờ" hay khi thành Phật cũng như là thoát khỏi "giấc mộng ngày hôm qua". Sở dĩ như vậy vì do Vô minh mà con người, chúng sinh mới đi vào cõi mộng. Giấc mộng ấy không thật có cho nên những pháp để thoát khỏi giấc mộng mới được xem là "huyễn ảo" mà thôi. Chúng sinh bị rơi vào vòng trầm luân, luân hồi vì do sự Vô minh, nhưng đó cũng là điều kiện để tôi luyện cho chúng sinh thành bậc giác ngộ hiểu thấu rõ sự và lý để không bao giờ bị Vô minh một lần nữa, giống như Đức Phật đã tỉ dụ: "Quặng vàng đã được tôi luyện thành vàng thì không bao giờ trở thành quặng nữa". Cuối cùng, điều kiện "Vô ngã" là điều kiện tất có để chúng sinh có thể hòa nhập vào trong đại thể (sự viên dung của Chơn Tâm cá nhân trong Thức Tâm, cũng như thức Tâm cùng với sáu đại khác) của vũ trụ khi đã thành đạo Vô Thượng. Nếu không, "cái Ta ngã mạn" sẽ tự đào thải mình nằm ngoài vòng đai của Đại thể, đôi khi Cái Ta ngã mạn ấy biến chúng sinh thành một "nhân vật" đem nhiều tai họa đến cho không biết bao nhiêu người bởi vì sự "Tẩu hỏa nhập ma" của chính mình. Bởi thế cho nên đi tìm Chân lý cũng thật là khó lắm thay!
  8. nhanqua xin đóng góp từ thiện ủng hộ trường hợp "một người mẹ và 10 đứa con điên". 500.000 đồng (năm trăm nghì đồng chẳn). chuyển vào tk của Wildlavender,xin kiểm tra giúp...
  9. Nhân lễ Vu lan rằm tháng 7 hay còn gọi là ngày rằm xá tội vong nhân PV đã có trao đổi cùng TS. Nguyễn Xuân Diện, Viện nghiên cứu Hán Nôm về ngày lễ này. Phật giáo không chủ trương đốt vàng mã 24/08/2010 13:11 PV PV: Xin TS có thể cho biết nguồn gốc của lễ Vu Lan? TS Nguyễn Xuân Diện: Trước hết lễ Vu Lan có nguồn gốc từ Phật giáo, cụ thể là xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiều Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ và sự tích lễ cúng cô hồn. Còn Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước. Vu-lan là từ viết tắt của Vu-lan-bồn cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa là cách phiên âm Phạn- Hán từ danh từ ullambana- chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ địa ngục. Phật giáo cho rằng tinh thần cốt lõi nhất trong ngày lễ Vu Lan dịp Rằm tháng Bảy là chữ "hiếu". Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo cũng là con đường của mọi Phật tử. Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một Phật tử chân chính được. Sự tích lễ cúng cô hồn tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì vậy, ngày nay mới có câu: "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân". Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà tổ tiên và cũng để bố thí cho những linh hồn đói khát. Ở Nhật Bản ngày lễ này được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực. PV: Lễ Vu Lan đối với người Việt có vai trò gì? TS. Nguyễn Xuân Diện: Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã hòa quyện cùng tín ngưỡng dân gian để tạo thành Phật giáo Việt Nam. Với người Việt, lễ Vu Lan đã trở thành một ngày lễ rất quan trọng. Trong các loại hình văn học nghệ thuật khác cũng nhắc tới ngày lễ này, như “Văn tế thập loại chúng sinh” của đại thi hào Nguyễn Du, trong hát xẩm có “Thập ân”, hoặc bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy đã được chuyển thể thành hát văn với những câu thơ da diết: Nhìn về quê mẹ xa xăm lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa bao giờ cho đến ngày xưa miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương Nghi thức trong lễ Vu Lan có nhiều nhưng phổ biến nhất là việc các gia đình tự tổ chức các mâm cúng cho tới việc lập đàn Mông sơn thí thực- trai đàn, đàn lập lên để bố thí cho những vong hồn, các bà vãi kể hạnh, các gánh chèo diễn tích truyện Mục Kiều Liên cứu mẹ; hay lập lễ giải oan cắt kết. Lễ phóng sinh các loài như: chim, cá, rùa, cua, ốc... PV: TS. có thể cho biết trải nghiệm của mình qua mỗi mùa Vu Lan? TS. Nguyễn Xuân Diện: Trước đây, mỗi dịp Lễ Vu Lan tôi thấy người dân chỉ mua một ít tiền, vàng, một vài bộ quần áo tượng trưng để đốt cho ông bà, tổ tiên. Những năm gần đây, nhu cầu đốt vàng mã ngày càng tăng, trung bình mỗi nhà sắm mã cúng rằm khoảng 50.000đ/lễ, khá giả thì 200.000- 300.000đ/lễ. Còn đối với các "đại gia" thì số tiền dành cho vàng, mã vài ba tới vài chục triệu đồng là bình thường. Người ta đổ xô đi mua đủ các thứ hàng mã: nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, máy giặt, ti-vi, điện thoại, tiền vàng, quần áo...Năm nay tôi còn thấy trong các mặt hàng gửi cho “người âm” còn có cả thẻ tín dụng, Iphone, vé máy bay và hộ chiếu và cả mũ bảo hiểm.. Việc tổ chức lễ Vu Lan đã trở nên ồn ào và phô trương hơn so với thời gian trước. PV: Vậy Phật giáo có chủ trương đốt vàng mã? TS. Nguyễn Xuân Diện: Theo tôi được biết, thì đạo Phật không chủ trương đốt vàng mã. Cụ thể trong tài liệu mà Hòa thượng Tố Liên (sinh năm 1903) đã viết: “Đức Phật Thích Ca không dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Ngày Rằm tháng bảy là ngày Mục Kiều Liên cứu bà Thanh Đề. Mục Kiều Liên tu chứng được 6 phép thần thông mắt trông thấy thân mẫu là bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục mà ngài không sao cứu nổi mới cầu đến đức Phật. Đức Phật mới dạy rằng “dầu ông có thần thông đến đâu chăng nữa cũng không có thể cứu được tội, nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây sẽ là ngày của chư phật hoan hỷ, ngày của chư tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư tăng. Các ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát.” Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên ngày rằm tháng bảy. Người Việt xuất phát từ quan niệm truyền thống “trần sao âm vậy” cho rằng con người khi chết đi thì vẫn còn những nhu cầu như người sống, ban đầu người ta chôn theo những vật dụng sinh hoạt theo người chết, sau đó để giản tiện hơn người ta làm tiền vàng bằng giấy và mã. Việc đốt vàng mã khi đó mang yếu tố tâm linh, chi phí cho một lễ tiền vàng cũng không đáng kể, nhưng tới hôm nay việc đốt vàng mã đã có rất nhiều biến đổi dẫn đến sự tốn kém, cùng với nguy cơ về cháy nổ và ô nhiễm môi trường. PV: Và việc đốt vàng mã có thực sự đem lại cho người đã khuất và người còn sống sự yên ổn? TS. Nguyễn Xuân Diện: Con số thống kê chưa đầy đủ cách đây 7 năm (2003) của ngành văn hóa cho thấy: đã có hơn 40.000 tấn vàng mã được sử dụng trong một năm và riêng tại Hà Nội đã tiêu thụ trên 400 tỉ đồng cho việc đốt vàng mã. Rõ ràng, đây là một con số “biết nói”… Được biết, trong ngày lễ Vu Lan năm 2009, một đại gia thầu cát xây dựng tại sông Hồng đã xác lập "kỷ lục" đốt vàng mã với việc bỏ ra hơn 400 triệu đồng thuê 6 người làm 1.000 người, ngựa giấy, đốt "tặng" Thổ công, Hà Bá mong các "ngài" phù hộ cho giá cát tăng... Đốt các loại giấy này là một hành động gây ô nhiễm môi trường nói chung và vệ sinh môi trường tại cộng đồng nói riêng. Đặc biệt là đối với khu dân cư tập trung đông người thì tàn tro của vàng mã đã trở thành một vấn nạn. Theo Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy- Công an Thành phố Hà Nội thì một trong những nguyên nhân của các vụ cháy là do người dân bất cẩn khi thắp hương và hóa vàng (14/43 vụ trong 3 tháng đầu năm 2009), sau các nguyên nhân về điện và sử dụng khí đốt hóa lỏng gas. Chẳng biết “người âm” sẽ nghĩ gì khi cùng với một đống vàng mã đắt tiền là những lời khấn đặc mùi vật chất. Sự thiêng liêng của tâm linh, và đức tin trong mỗi người bỗng chốc trở nên ồn ào và khó hiểu. Thay bằng việc đốt vàng mã một cách phô trương, mọi người hoàn toàn có thể làm rất nhiều việc có ý nghĩa thiết thực hơn như quan tâm tới cha mẹ, tới những bậc trưởng lão, tham gia thiện nguyện, nuôi dưỡng những người cô đơn khó khăn. PV: Xin cảm ơn ông. Theo: Nhà báo và Công luận
  10. Vu lan - Rằm tháng bảy trong tinh thần dân tộc Dương Kinh Thành Trước khi đặt bút viết bài này, ngoài một số vốn liếng ít ỏi tri thức Phật học, người viết đã tham cứu nhiều tài liệu, kinh sách có liên quan đến ý nghĩa lễ Vu Lan - Rằm Tháng bảy. Tựu trung và cộng lại, chúng tôi thấy toát lên một điểm sáng lung linh trong khái niệm sống thực tại của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà với những tài liệu phong phú kia, đã nêu bật được chất keo gắn bó giữa ảnh hưởng Phật giáo với xã hội, con người qua nhiều thời đại. Vâng! Những điều đó các bậc thức giả, các bậc sư trưởng đều đã nói hết rồi, không còn khe trống để hàng hậu sinh chúng tôi góp phần tô điểm. Đã đẹp, đã trở thành điều hiển nhiên rồi; hiển nhiên tới mức đôi khi chúng ta quên rằng chính nó đã trở thành ca dao dân tộc: Tháng sáu buôn nhãn bán trâm Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân… Không phải là thứ ca dao biền ngẫu đệm vần cho qua câu để tạo mở, tôn tạo cho ý đồ chính. Không viết đủ hẳn trong chúng ta ai cũng biết đó là ca dao theo kiểu “liên khúc”nói về lịch sinh hoạt 12 tháng trong một năm, mà nền văn minh nông nghiệp của xã hội Việt Nam ta xưa nay không thể chối cãi được. Đã vậy, ”Tháng Bảy Ngày Rằm…” , câu nổi bậc nhất không chỉ vì nó đã nói lên được ý nghĩa về một ngày lễ của Phật giáo, mà còn đưa ra tính nghiêm túc, thể hiện cách sống cộng đồng, ngoài sinh hoạt, vui chơi, ăn uống, mùa màng và thời vụ so với 11 tháng còn lại kia. Nó đã trở thành lịch sinh hoạt hằng năm của dân tộc, kể từ khi dấu chân tích trượng của các Thiền sư đã đến và lưu dấu trên xứ sở Giao Châu này hơn 20 thế kỷ trước. Điều đó cho chúng ta thấy được rằng Phật giáo đã và luôn biết thích ứng để “nhập sông tùy khúc, nhập gia tùy tục” rất tuyệt vời khế lý khế cơ, không gây ra sự dị ứng, đối kháng. Bởi vì, không phải dễ dàng “được” có mặt trong ca dao, tục ngữ, trong tâm khảm đời sống dân tộc, mà bất kỳ sự gượng ép, hoặc cố tình dùng thủ doạn để đạt được sẽ trở thành nạn nhân bị nghiền nát bởi bánh xe lịch sử khắc nghiệt. Đặc biệt hơn, sự có mặt của Phật giáo trong ca dao 12 tháng kia, và ngay trong nếp sống cộng đồng dân tộc, còn mang một ý nghĩa to lớn khác, thể hiện được tính chân lý thực tiễn, vượt lên trên sự tôn kính thời nguyên sơ, khi con người tự cho mình còn nhỏ bé trước thiên nhiên. Đó là thời kỳ dựng nước họ Hồng Bàng mà sách Lĩnh Nam Chích Quái đã kể lại; cái thời mà chính Lạc Long Quân phải dùng đến vạn phép thần thông biến hóa mới đuổi được kẻ xâm lăng phía Bắc dđầu tiên là Đế-Lai ra khỏi bờ cõi. Và cái thời mà mọi thứ yêu tinh thường xuất hiện quấy nhiễu dân lành, để đến nỗi phải tôn lên hàng thần thánh, kể cả tiếng sấm sét. Những Thần sông, thần nước, núi, gió, lửa .v…v.. đã có mặt chễm chệ trước sự quy phục con ngưới thờ lạy. Muốn sống còn, để dựng nước, cứu nước và làm ăn sinh sống, con người lúc ấy khi lên rừng xuống biển, tất phải xâm mình hình ảnh thủy quái,sơn tinh.v…v… Như vậy, lịch sử PGVN có mặt và phát triển chỉ bằng phân nữa lịch sử dựng nước của con cháu Lạc Long Quân mà ngẫu nhiên đánh bại được sơn tinh thủy quái trong truyền thuyết, đời sống lẫn trong tâm khảm con người, thay vào đó tôn tạo được ý sống, cách sống mới, phù hợp với lòng người, với sự khổ đau và với hiện trạng cuộc sống đương thời. Lịch sử vẫn như dòng sông xuôi chảy, trải qua bao biến thiên thăng trầm của dân tộc, Phật giáo đã hòa mình gắn liền vận mệnh mình như một định lý không thể tách rời, xứng đáng với phạm trù ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC; đó là sự thật được lịch sử chứng minh CÁI PHẬT GIÁO CÓ trong lòng dân tộc mình. Lễ Vu Lan-Rằm Tháng Bảy được xác lập từ trong ý nghĩa đó. Tình cảm và đạo lý dân tộc ta vẫn luôn rộng mở; với thù, với bạn cũng chung cùng “Dòng nước mắt cùng mặn - Dòng máu đỏ” như nhau. Những “Thương người như thể thương thân”, “Mình với ta tuy hai mà một”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng…” v..v…há chẵng phải đạo lý Phật giáo đó sao! Tương tự, khi đứng trước một hoàn cảnh bi thương nào đó, từ trong cửa miệng của dân ta há đã chẵng thốt lên câu đầu tiên “Tội Nghiệp”, bao hàm ý nghĩa to lớn, biểu lộ lòng lân mẫn, tương thân tương ái đó sao? Nói cách khác, Phật giáo đã đáp ứng được một phần rất lớn tình cảm và niềm tin trong cộng đồng dân tộc, trở nên nguồn hòa nhập mật thiết trong mọi lĩnh vực. Cho dù là không Phật giáo, đến rằm tháng bảy, ai ai cũng đều tỏ ra tha thiết với sụ hiếu để, cũng như tỏ lòng ai hoài mong xá tội vong nhân đối với thế giới xa xăm nào đó, tùy theo trình độ nhận thức cảnh giới địa ngục. Nếu hiểu theo quan niệm vượt hóa,chúng ta sẽ dễ dàng đồng cãm những dòng sau đây của cố HT Thích trí Thủ (đăng trong Nội San Bát Nhã số 5 của Tổng vụ Tài Chánh trước năm 1975): “Những cơn mưa dầm tháng bảy, trời âm u, bão và lụt đã bắt đầu, ngày dài của mùa hè rút ngắn lại, trời đất đang xoay tới khoảng thăng bằng, làm nhịp cầu giao cảm thiên thu giữa cõi sống và cõi chết. Người chết đã buông tay rũ sạch những tham vọng của một đời, cho lá vàng rụng xuống. Người sống vẫn tiếp tục lượm nhặt lá vàng, xây những tham vọng cuồng dại mới. Kiếp luân hồi kéo dài bất tận, người sống và kẻ chết nối nhau thành một ”đoàn vô tư lạc loài nheo nhóc”, cùng lang thang vô định trên “con đường bạch dương bóng chiều man mác”. “Rằm tháng bảy, một ngày hội âm thầm của những oan hồn mà sống đã không nói được khát vọng của mình, và chết cũng không có lời để ta thán. Nếu dương gian còn phảng phất một chút tình người,còn tưởng nhớ đến ân tình một thuở, thì một hạt muối và một bát nước trong cũng đủ rửa sạch cái oan khí tương truyền ngàn năm treo ngược. “Vu Lan Thắng Hội, ngày hội cứu đảo huyền ,ngày giải tỏa oan khiên treo ngược tội nhân trên rừng đao, biển lửa. Trong ngày đó, mười phương chư Phật đều nở nụ cười hoan hỷ, vì là ngày tha thứ giữa những người còn sống, biết cởi bỏ hận thù ràng buộc để sống, còn có ngày hội nào vui hơn, trước cái hứa hẹn một thế giới thanh bình có thể có? Oan khiên trở thành ân nghĩa. Ân của trời đất, ân của cỏ cây, ân của đồng loại; ân nghĩa ấy đã thắt chặt tình người qua bao nhiêu kiếp, sao nhất thời lại có thể hờ hững trôi qua? “Trong khoảng trời đất mịt mù, giữa những đên dài lạnh lẽo, người chết còn biết trở lại dương gian xin một bát nước để rửa sạch oan khiên treo ngược, há người còn sống lại không biết âm thầm nở nụ cười hoan hỷ và tha thứ?”. Đọc nhựng dòng trên bằng cả một tấm lòng vị tha rộng mở, chúng ta đã thấy ra được phần nào ý nghĩa to lớn của ngày lễ Vu Lan - Rằm Tháng Bảy. Như vậy, địa ngục thường mang ý nghĩa của một vai trò chủ đạo khi nhắc đến Vu Lan - Rằm Tháng Bảy, từ đó chúng ta khởi niệm và đồng cảm với tha nhân một cách dễ dàng, bởi địa ngục có là do sự cảm vời mà ra, như kinh Địa Tạng thường được Đức Phật lập lại nhiều lần. Hay nói như một danh nhân thế giới “Địa ngục là do chân lý được nhìn ra quá trễ”. Do đó,Tagore-một nhà thơ lừng lẫy của Ấn Độ từng biểu cảm bằng ngôn ngữ triết lý qua câu thơ “Trong cái chết thì nhiều biến thành một,trong sự sống thì một biến thành nhiều“. Thương yêu vượt qua biên giới của sự sống chết, mà địa ngục chỉ là phạm trù gạch nối, không phải là dấu chấm hết khẳng định. Cúng rằm tháng bảy có nghĩa là chia sớt sự sống cho cảnh giới khác mà nhân gian thường gọi là “Cô Hồn Uổng Tử” còn vất vưởng chờ định và thọ nghiệp. Từ đó con người khi quay lại cuộc sống thực tại đời thường, chắc rằng không ai là không lân cảm với đồng loại. Ý nghĩa đó là một chân lý tuyệt hảo của nhân loại đã sống và đã thực hành, dù không cùng chính kiến, giai cấp xã hội hay bất kỳ chủ thuyết tôn giáo nào. ”Một ngày mà chúng ta không thắp lên ngọn lửa thương yêu,vì thế có biết bao nhiêu người chết vì giá lạnh“. Francois Mauriac cũng đã phải thốt lên như vậy . Dân tộc chúng ta vốn có truyền thống đạo đức cao thượng, hiếu nghĩa vẹn tròn, khi tiếp nhận tư tưởng Phật giáo nói chung và Lễ Vu Lan nói riêng, đó là sự dung nạp lý tưởng đạo đức thuần nhất để hun đúc nên nếp sống chung cộng đồng. Tuy nhiên sự hòa nhập đó trong qua trình phát triển vẫn không tránh khỏi sự đố kỵ, đôi lúc dẫn đến nguy vong bởi các khuynh hướng Nho - Khổng. Mặc dù hệ tưởng này không mấy khác biệt với Phật giáo, phần lớn chung một nền tảng đạo lý phương Đông, nhưng ở tư tưởng Phật giáo thì cởi mở, phóng khoáng hơn, nên những đối kháng kia chỉ là trở ngại nhất thời trong một giai đoạn lịch sử. Dù vậy khi có ưu thế là quốc giáo - nói đúng hơn khi Phật giáo ở những thời kỳ cực thịnh bởi các hàng từ vua quan đến thứ dân đều tín hướng Phật đà, Phật giáo vẫn không ỷ thế cậy quyền đè bẹp các tư tưởng tôn giáo khác, ngược lại còn chủ trương “Tam Giáo Đồng nguyên”. Những tư tưởng bài xích Phật giáo còn lưu lại điển hình như Trương Hán Siêu ghi trong Linh Tế Tháp Ký, Quang Nghiêm Tự Bi Văn; Hàn Dũ (Trung Hoa,768-823) với bài biểu Can Vua Đón Xương(Xá lợi)Phật; Lê Quát Mai Phong với bài Văn Bia chùa Thiệu Phúc, Thôn Bái, tỉnh Bắc Giang .v..v…đã không đủ sức đánh bạt làn gió đạo đức Phật giáo đang thổi mạnh khắp nơi, từ kinh thành đến những làng quê hẻo lánh. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi các bài trong Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi - bậc đại công thần nhà Lê ra đời với nội dung “Thương Người Như Thể Thương Thân phủ trùm tinh thần vị tha của Phật giáo. Chưa hết, trong kho tàng truyện cổ tích VN, không hiếm chuyện khắc họa hình tượng Ông Bụt (một dạng phương ngữ hóa từ chữ Phật) làm chủ thể ban thưởng cái thiện, Nhất là chuyện “Cây Nêu Ngày Tết”, chiếc y vàng của Phật với cái bóng ngả dài là dải đất yên bình cho người dân sinh sống. Đó là những tiềm ấn sâu xa minh chứng cho sức sống trường tồn của Phật giáo. Cụ Tố Như Nguyễn Du, trong tuyệt tác truyện Kiều đều lấy triết lý Phật giáo làm nền tảng. Ngay đoạn mở đầu cũng phải dùng đến tư tưởng tài mệnh tương đố và kết thúc bằng sự khẳng định nhân - quả hẳn hoi. Vì vậy nào phải ngẫu nhiên khi Cụ viết rằng: Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần hay xa Thiện căn ở tại lòng ta Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài (Truyện Kiều,câu 3249-3253) Bên cạnh đó còn phải kể đến bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Đọc bài này, người ta càng ngạc nhiên hơn nếu cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều vì ảnh hưởng Phật giáo thì hoàn toàn lầm lẫn. Bởi vì ngôn ngữ, ngụ ý của bài Văn Tế Thập Loại chúng Sinh vô cùng chính xác, tứ cách diễn đạt các thế giới cho đến các từ Phật học, mà nếu không tường tận gốc tích tác giả,người ta dễ ngộ nhận cho đó là của một vị cao tăng nào đó viết. Thí Dụ : Trời tháng bảy mưa dầm sùi sụt Toát hơi mây lạnh ngắt xương khô Nào người thay buổi chiều thu Ngàn lau nhuốm bạc,lá ngô rụng vàng Đường bạch dương bóng chiều man mác Dọc đường đê lác đác sương sa Lòng não lòng chẵng thiết tha Cõi dương còn thế nữa là cõi âm Trong trường dạ tối tăm trời đất Có khí thiêng phảng phất u minh Thương thay thập loại chúng sinh Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người… …Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo Của có chi bát cháo nén nhang Gọi là manh áo thoi vàng Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên Ai đến đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ nại bao nhiêu Phép thiêng biến ít thành nhiều Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh Phật hữu tình từ bi tế độ Chớ ngại rằng có của cùng không Nam Mô Phật,Nam Mô Pháp,Nam Mô Tăng Nam Mô nhất thiết siêu thăng thựơng đài. Trên là một vài dẫn dụ cho sức sống PGVN trong lòng dân tộc, đã tạo nên nét đẹp truyền thống văn hóa từ bao nhiêu thế kỷ nay. Vì thế Lễ Vu Lan - Rằm Tháng Bảy không còn là của riêng Phật giáo,mà đã trở thành “Lịch Sinh Hoạt” hằng năm của người VN. Theo đánh giá của Giáo sư Hoàng Như Mai thì “Ngày Lễ Vu Lan, Ngày rằm Tháng Bảy, Ngày Xá tội Vong Nhân có thể được coi là NGÀY TÌNH THƯƠNG VIỆT NAM vì con người.vì cuộc sống hiền hòa,an lạc,tiến bộ của con người“ (nguồn: Lễ Vu Lan và Tình Thương của nhân dân ta, Hoàng Như Mai - Tập Văn Vu Lan 2531-1987). Hơn thế nữa,một sự khẳng định tất yếu của lịch sử,ngày 26/01/1995, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao nước CHXHCNVN dõng dạc tuyên bố “…Phật tử Việt Nam là những người yêu nước, luôn luôn gắn bó với dân tộc qua mọi bước thăng trầm của lịch sử, luôn đứng về phía tổ quốc đấu tranh chống ngoại xâm. ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI NGƯỜI VN KHÔNG CHỈ LÀ MỘT TÔN GIÁO MÀ CÒN LÀ MỘT BỘ PHẬN CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC TRUYỀN THỐNG.” (Nguồn : Báo SGGP-TTXVN ngày 26/01/1995). Với niềm tin son sắt đó, với lòng tín hướng Phật Đà, một lần nữa chúng ta đón mừng ngày Lễ Vu Lan - Rằm Tháng Bảy trên đất nước VN thân yêu với đủ đầy niềm tự hào song hành cùng dân tộc
      • 1
      • Like
  11. Tôi được biết Nữ Sĩ NGÂN GIANG có người con trai,chú ấy tên là NGUYỄN THỨC,tên gọi thân mật là quang,chú thường nghiên cứu về tử vi...tôi quen chú từ năm 2002 đến nay,nhưng sao lại có chuyện chú THIÊN SỨ là con của Nữ Sĩ NGÂN GIANG nhỉ,không lẽ lại là 2 anh em?
  12. Như vậy công đức rất lớn... diễn đàn có thêm mục này rất hay
  13. Mùa báo hiếu 21/08/2010 10:57 Đức Minh Tháng bảy Âm lịch về, khi những hương sắc đầu thu đã miên man trải dài khắp phố thì cũng là khoảng thời gian mọi người hướng về miền tâm linh nhiều hơn. Đến độ trăng tròn là ngày lễ Vu Lan, mùa báo hiếu cha mẹ, ông bà, tổ tiên, đây cũng là bổn phận thiêng liêng của mỗi người con. Cũng theo tín ngưỡng truyền thống của người Việt thì rằm tháng bảy là ngày các tội nhân ở cõi âm được tha tội bởi vậy, các gia đình thường bày mâm cúng ngoài trời, đốt vàng mã và cầu cúng cho họ với mong muốn trong ngày này không ai phải đói khát, khổ sở. Các cửa chùa đều rộng mở, phân phát cơm chay cho mọi người, trẻ mồ côi, người nghèo, kẻ hành khất, những người sống lang thang khắp nơi đều được hưởng lộc Phật... Ngày lễ Vu Lan, mọi người đến chùa để cầu xin sức khỏe cho cha mẹ còn sống và an lành cho cha mẹ đã mất. Nếu như ai còn mẹ sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo và người đó sẽ tự hào vì may mắn được còn mẹ. Còn nếu mất mẹ sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được cài hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Khi nghe ca khúc Bông hồng cài áo của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, chúng ta sẽ có những cảm xúc thật khó tả "Một bông hồng cho anh, một bông hồng cho em và một bông hồng cho những ai, cho những ai đang còn mẹ...". Những cảm xúc ấy dẫn ta về tuổi thơ với vòng tay ấm áp, bao bọc của mẹ, mẹ đã tần tảo một sớm hai sương, lam lũ vất vả để con có cơm ăn, áo mặc rồi đến ngày con khôn lớn chợt ngoảnh đầu nhìn lại thấy tóc mẹ đã bạc màu thời gian, đôi tay đã chai sần. Mẹ ơi, đi qua cả một quãng đời vụng dại mới biết trăn trở khi ánh mắt hằn dấu vết thời gian của mẹ vẫn dõi theo bước chân trên đường đời của con. Mỗi mùa Vu Lan đến là một ngày chúng ta nhớ mẹ hơn, nhưng cũng hạnh phúc và ấm lòng biết bao khi được cài bông hoa màu hồng trên áo. Dẫu ánh mắt mẹ vẫn còn nét lo âu khi dõi theo mỗi bước con đi nhưng con còn có mẹ, những lúc yếu lòng nhất, trắc trở nhất, con luôn có mẹ ở bên để lắng nghe và chia sẻ. Ngày Vu Lan, cũng không ít những bông hoa màu trắng cài trên áo, những khuôn mặt đượm buồn và thoáng đâu đó những giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Thầm chúc cho những ai còn hạnh phúc được cài bông hồng đỏ trên ngực áo mùa Vu Lan, mong rằng hãy yêu quý thương yêu cha mẹ, hãy gìn giữ, nâng niu và chăm sóc cha mẹ. Đừng để khi cha mẹ không còn mới hối hận vì khi cha mẹ còn đã không làm hết chữ hiếu. Lúc đó thì đã quá muộn rồi. Trong những ngày này, chợt buồn khi ở nơi này nơi khác, ta vẫn nghe những câu chuyện về cách đối xử của con cái đối với cha mẹ. Thời buổi kinh tế thị trường, có lẽ vì khó khăn quá và mải mê chạy theo nhiều cám dỗ nên người ta cũng xem nhẹ luân lý và đạo đức. Bên cạnh những người con hiếu thảo vẫn còn có những kẻ mà chữ "hiếu" chỉ ẩn khuất, lấp ló chút ít trong lương tâm. Vẫn còn những người con nhẫn tâm đối xử tệ bạc với cha mẹ, đẩy họ ra đường, nhiều người cha, mẹ con cái vẫn còn đó mà phải lang thang đi ăn xin bố thí để sống qua ngày đoạn tháng, những người già có con cái nhà cửa đàng hoàng mà phải ở trong các nhà dưỡng lão với lý do cha mẹ đã già, đã lẫn và không thể chăm sóc..., đủ các lý do được đưa ra nhưng liệu họ có chút mảy may nghĩ đến công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ không? Chắc là không vì nếu nghĩ đến thì cha mẹ phải được chăm sóc và phụng dưỡng cho dù việc ấy chỉ như muối bỏ bể so với công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ với con cái. "Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" Từ khi ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta đã thuộc lòng những câu thơ nói về công cha, nghĩa mẹ sâu nặng như thế. Nước trong nguồn chảy ra thì bất tận và ngọt ngào mát lạnh, tình mẹ dành cho con là vô bờ bến như dòng nước mát trong vuốt ve che chở cho con. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm yêu thương. Không có mẹ, chúng ta sẽ thiếu hụt sự yêu thương, nhờ mẹ, chúng ta biết được tình yêu con người và đấy là sự thiệt thòi lớn cho những ai không còn mẹ. Biết bao điều muốn nói về mẹ nhưng dù có nói thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể nói hết và cũng không đáp đền nổi những hy sinh thầm lặng, những yêu thương mà mẹ đã trao cho đàn con của mình. Truyền thống đạo đức Đông phương luôn coi trọng đạo hiếu. Cho nên mùa Vu Lan không chỉ dành riêng tăng ni và Phật tử tại gia mà còn dành cho tất cả mọi người có dịp nhìn lại bản thân: Cảm nhận thâm ân dưỡng dục của cha mẹ, đạo hiếu được thể hiện không chỉ trong một mùa, mà phải thể hiện suốt cả đời. Một gia đình đề cao đạo hiếu tức là gia đình đó trở thành tế bào lành mạnh của xã hội, là một thành trì ngăn cản mọi tệ nạn của xã hội. Mùa Vu Lan đã đến, cầu chúc cho những ai còn mẹ trên áo mãi cài bông hoa màu hồng và cầu chúc ngày nào cũng là ngày Vu Lan của những ai đang còn có Mẹ. Theo: Sức khỏe và Đời sống
  14. Quan trọng là thành tâm, chứ không câu nệ quá đâu,nếu bạn còn lăn tăn thì có có thể ra chùa,nhưng bây giờ tôi nghĩ nhà chùa không nhận nữa đâu,12 âm lịch rồi còn gì,sang năm làm vậy,và theo tôi điều quan trọng nhất nên tích đức hành thiện,trong Diễn đàn Lý học Đông phương,bạn vào mục của quỹ từ thiện tham khảo xem nhé,rất là hay đó bạn ạ,đây là một trong những địa chỉ mà tôi tham gia...
  15. Có lẽ vậy,tôi không thạo vi tính,nên toàn nhờ cậu em hàng xóm làm hết...
  16. Cám ơn vusonganh rất nhiều,như thế này mọi người đều nhìn thấy,tốt quá rồi...
  17. tôi nghĩ file này ổn rồi,chắc không lung tung như mấy file ở trên,nếu như có thể được,BQT xóa giúp tôi những file trên,để mọi người xem không bị rối mắt... Cám ơn BQT. http://www.mediafire.com/i/?rgdk2h8ww8k5vdy http://www.mediafire.com/i/?wsiwzn2e1wttk14 http://www.mediafire.com/i/?dw82pipjr3zvc3a http://www.mediafire.com/i/?efoq0h262z6ac1c http://www.mediafire.com/i/?0cwah2hecb3l0ha http://www.mediafire.com/i/?q6fdaxos560zm4i http://www.mediafire.com/i/?x6t2322iw3jrjrt http://www.mediafire.com/i/?1p3555hn3452432 http://www.mediafire.com/i/?cuigaf9ugb31j22 http://www.mediafire.com/i/?expg95sk2ydpddf
  18. vâng,tôi đang nhờ cậu em upload cho... Cảm ơn bạn nhiều nhé,máy tấm hình sau cũng tương đương như vậy,tôi đang nhờ cậu em up rồi,khi nào cần tôi sẽ nhờ bạn giúp nhé...
  19. Tôi xin gửi hình Ông Khiết Cổ sưu tầm được,để mọi người tham khảo,vì không vào được chủ đề Ông khiết - Biểu Tượng Minh Triết Việt - nên xin phép tạo chủ đề mới - mục đích chính là để mọi người biết thêm một hình ảnh nữa về Ông Khiết...
  20. Tôi không thể trả lời chủ đề / Ông Khiết - Biểu Tượng Của Minh Triết Việt. Hay chăng tôi là người mới gia nhập,chưa phải là hội viên chính thức nên không được phép. Nhờ BQT giải thích sự việc này. Cám ơn BQT...
  21. tôi cũng vậy,nhờ BQT kiểm tra giúp... Cám ơn BQT...
  22. nhanqua xin gop năm trăm ngin vnd (500.000vnd) vào quỹ từ thiện...
  23. cám ơn,vì không thể nào vào được topic quỹ từ thiện,không hiểu sao lại như vậy,nên mới nhờ wildlavender,giờ nhanqua mở email của mình nên đã nhận được xác nhận của wildlavender...
×
×
  • Create New...