Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. (Tiếp theo) Với biểu tượng cụ Khiết ở trên ta thấy giữa 2 chân trước có 1 đồng tiền khắc chữ thì ta lại phải xem nó phù hợp hay không?. Chúng ta nên nhớ biểu tượng là hoàn toàn không cần giải thích nội dung ý nghĩa bằng chữ trực tiếp ngay trên nó. Ta hình dung như sau khi bất kỳ ai quan sát cụ Khiết thì cái gì là ấn tượng nhất?, YES đó chính là đồng tiền ngậm trong miệng của cụ và ánh mắt đỏ, màu sắc vàng vậy quá rõ ràng đồng tiền này đã bị chìm vào trong các yếu tố nổi bật nhất của hình tượng cụ Khiết. Do vậy việc có 2 lớp 5 đồng tiền (dạng đám mây hơi tròn để chế tác cân đối và mỹ thuật) là hợp lý mà không cần đồng tiền ở giữa 2 chân trước của cụ. Ngoài ra không hiểu sao cái mũi của cụ lại trông có vẻ tháo rời được, điều này cũng không hợp lý mà phải là chạm 1 khối cùng với toàn thân. Ngoài ra cái miệng của cụ sẽ tạo 1 góc khoảng 45 độ hướng tới chòm sao Đại hung tinh giống góc nghiêng của cửa quan sát Kim tự tháp Khê ốp.
  2. Chào bạn Phuctuan. Theo bạn hiện nay có hai motip cụ Khiết đó là motip có chân thứ 3 nằm thẳng và motip chân thứ 3 nằm lệch qua một bên, như vậy chúng ta chưa thể khẳng định motip nào là bản gốc của Tiền nhân. Để xác định motip gốc chúng ta phải tiếp tục so sánh, phân tích và loại bỏ từng trường hợp riêng biệt. - Với tình trạng như trên ta thấy đối với một nghệ nhân khi chế tạo có thể sẽ xảy ra 3 trường hợp cho hình tượng cụ Khiết tức là motip có chân thứ 3 nằm thẳng và 2 motip chân thứ 3 nằm lệch qua một bên ở 2 phía đối xứng, nguyên nhân chắc là có nhiều lý do ví dụ tự cá nhân họ thích lảm như thế, hoặc nghĩ rằng cũng không quan trọng trong việc buôn bán, hoặc chắc rằng người mua không hiểu và ngay cả không chắc chắn phiên bản gốc nào là chuẩn... vậy motip nào là bản gốc?. Quan sát mẫu cụ Khiết ở trên ta thấy có tính cân xứng trong biểu tượng qua trục giữa, dĩ nhiên có nhiều motip nghệ thuật tuy nhiên tính đối xứng rất quan trọng trong các công trình mỹ thuật, nghệ thuật về sự ổn định, tính trường tồn theo thời gian, cách nhìn phù hợp đối với tự nhiên của con người... Từ đây ta thấy motip chân thứ 3 nằm ở giữa là chuẩn nhất ngay khi ta cũng cố gắng tìm hiểu ý nghĩa sâu xa đối với chân thứ 3 nằm lệch là hầu như không có bất kỳ ý nghĩa nào như đã phân tích ở các bài viết trước. - Về các đồng tiền nằm dưới chân cụ Khiết theo phân tích ở bài trước Hoangnt đoan chắc đó chính là 10 đồng tiền lớn đại diện cho thập Thiên can tuy nhiên trông có vẻ nhiều hơn 10. Vấn đề nay chúng ta cũng có thể suy luận như trên và dễ dàng nhận ra chắc chắn sẽ có rất nhiều motip có số lượng đồng tiền khác nhau. Chúng ta có thể hình dung rằng 10 đồng tiền nói trên con có vai trò như một bản đế đỡ cho cụ Khiết khi nằm trực tiếp trên bề mặt đất và làm thế nào đó có thể nghệ nhân chế tạo các đồng tiền sao cho dễ nhìn thấy và ấn tượng nhất trong quá trình tiếp xúc trực diện, như vậy sẽ xảy ra các trường hợp sau: + Có 10 đồng tiền ở lớp trên và có số lượng đám mây (cũng là tiền nhưng ẩn dụ) ở lớp dưới cùng của bản đế. + Có 5 đồng tiền ở lớp trên và 5 đồng tiền ở lớp dưới cùng của bản đế. Như vậy cũng phải còn tùy thuộc vảo sự tương xứng giữa các trường hợp và mô hình tổng thể của cụ Khiết. Từ biểu tượng cụ Khiết ở trên ta có nhận xét sau: Khả năng trường hợp 5 đồng tiền lớn trên dưới là hợp lý nhất lý do 2 chân trước của cụ sẽ đứng trực tiếp lên 2 đồng phía trước, còn chân thứ 3 sẽ đứng lên 1 đồng phía sau, 2 đồng con lại sẽ được bố cục hợp lý giữa 2 chân trước và 1 chân sau. Đây cũng thấy tính đối xứng như đặc biệt hơn là đồng thứ 5 nằm dưới chân thứ 3 tức chân có ý nghĩa quan trọng như là một mắt xích để hậu thế luận bàn. Như vậy motip 2 lớp 5 đồng tiền lớn (giống đám mây) làm bản đế là chuẩn nhất. Thông thường cụ Khiết được chế tạo có nhiều kích thước, lúc thì đặt dưới đất lúc thì đặt trên cao tùy điều kiện của mỗi gia đinh nhưng khi ở trên cao thường cụ Khiết sẽ được nằm trên bệ đỡ phù hợp hình tròn ba chân (không xoay). Ta tạm cũng thêm thắt 1 chút ít ý nghĩa nào đấy như có thể xem bệ đỡ hinh tròn này chính là vòng tròn Thái cực. Thời nay không còn cố gắng giữ bí mật của cha ông với đội quân xâm lược người Háng hung ác nữa nên để cho ấn tượng hơn nữa thì mặt trên bản đế tròn ta khắc lõm 1 ngôi sao trống đồng 14 cánh nhằm đưa thêm ý nghĩa nhật tâm vào đây. Như vậy motip gốc của cụ Khiết thực sự là hoàn chỉnh theo ý của Tiền nhân. Thân mến.
  3. Bùi Giáng trong “cõi người ta” Ý NHI Buồn vui như thể thân mình Ai chia nửa máu, ai giành nửa xương Đó là những buồn vui của Bùi Giáng – nỗi buồn của khốc liệt, bi thảm của một thân phận khác thường, của một ngưòi “chịu cuồng si để sáng suốt”, “chịu đui mù mà thỏa dạ yêu em”. Người ta biết đến Bùi Giáng bởi những khảo luận văn học như những cuốn viết về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Lục Vân Tiên… Những cuốn khảo luận triết học như Tư Tưởng Hiện Đại, Tư Tưởng Hiện Đại & Hiedegger, những tác phẩm chuyển ngữ tuyệt vời như Cõi Người Ta, Hoàng Tử Bé, Khung Cửa Hẹp, Mùi Hương Xuân Sắc…Nhưng người ta yêu thơ ông hơn cả. Mỗi khi đọc những câu thơ hay của Bùi Giáng tôi lại nhớ đến tiếng đàn “bốn dây rõ máu năm đầu ngón tay” của Thúy Kiều, bởi những câu thơ được chắt ra từ máu của con người khắc khoải khôn nguôi về thân phận con người, về thế gian này. Ít ai trong số các nhà thơ Việt Nam hiện đại lại viết nhiều về trần gian như ông. Lúc thì nguyện “yêu trần gian nguyên vẹn”, lúc thì “sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi”, lúc khác là: Ta đếm lại từng ngón tay lẩy bẩy Đời chúng ta là mấy trăng tròn Yêu thiết tha cõi trần gian, nhiều khi ông nhìn trời đất như đứa bé. Ông hỏi sông: “Ngàn mây về cuối mãi trời xa. Nước có bằng lòng đứng đợi ta”. Ông bập bẹ: “Trần gian do cánh bướm cánh chuồn chuồn. Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại. Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn”. Ông kêu lên thảng thốt: “Ồ gót chân, anh đứng ngó như ngây”. Ông òa khóc không gìn giữ: “Em ra đi đời bưng mặt khóc òa”. Nhưng Bùi Giáng là đứa trẻ biết rằng “Diều đứt dây trẻ cũng cầm bằng”. Thơ ông từ bài này sang bài khác, từ trang này sang trang khác thắm đượm mối âu lo cho “Những nỗi đau về chẳng hẹn giờ”, “Những thân xương máu đã đàng là ủy mị”. Ông là con người: Người kia đứng lại Nghe trời đầy xuống hai vai Gánh nặng đó ông gánh chịu suốt cả cuộc đời đơn độc của mình. Nhiều khi ông đã thốt lên “Đời dại khờ như một giấc chiêm bao”, nhiều khi ông lắng nghe “Mấy đời ly biệt rẽ đau một mình”. Nhiều khi ông van nài “Em ở lại với đời ta em nhé. Em đừng đi cho ta nắm tay em”… Ý thức sâu xa về sự hữu hạn của kiếp người, của lẽ hợp tan, ông luôn phấp phỏng lo lắng: Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết Sẽ rời xa vĩnh viễn với người thôi Và: Đài vũ trụ hồn chiêm bao rạng tỏ Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi Mỗi cảnh, mỗi vật đều in dấu nỗi phấp phỏng, lo lắng ấy. Nào là “Đường vất vã vó ngựa chồn lỏa đảo”, nào là “Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng”, nào là “Mình cát lạnh chân lạc đà bé bỏng. Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”, nào là “Ngày đi đổ bóng sau người/ Mộng hờ biết có buồn vui em về”, nào là “Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai”… Giờ thì con người yêu thương, lo lắng cho cõi người ta ấy đã ra đi. Có lẽ trước lúc an nghỉ ông vẫn còn băn khoăn: Còn không một bận quay về Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo Vẫn giữ nguyên lời nhắn gửi hay là niềm mong ước của ông: Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt Thấy một mình người đi lại lang thang Còn ghi giữ ân tình trong cỏ nhặt Múa vi vu vì hẹn với trăng ngàn. Ý NHI SG 9. 10. 1998
  4. Trước khi có Putin thì phải có ___Sin.
  5. Sorry vì tự động máy tắt. (Tiếp theo) Như vậy hướng nhìn Cụ Khiết chưa rõ là Bắc hay Nam, tuy nhiên từ các ý nghĩa đã nêu ta có thể nhận thấy rằng Hướng Bắc/ Nam cũng phải là một mắt xích của hệ thống ý nghĩa nào đấy. - Ta thấy biểu tượng vòng âm dương đã có như vậy biểu tượng của ngũ hành phải được chỉ ra ở đâu đó. Trên mình cụ Khiết ta thấy đã có hành Kim (đồng tiền, màu vàng); Cụ Khiết thường đặt trên nền đất trong phòng hay có thể xem xét phù hợp với hành Thổ (sống trên trái đất); Biểu tượng lửa xung quanh vòng âm dương giống như các lư hương thờ điều này chứng minh cụ Khiết được thờ phụng trong gia đình do vậy phải có lư hương để cắm, đây chính là hành Hỏa; hành Mộc rõ ràng thuận tiện và phổ biến cho dân gian sử dụng chính là Cụ Khiết sẽ được làm bằng gỗ (gỗ mít màu nâu sậm: tương ứng phù hợp với đồ phòng thờ như nhà từ đường, câu đối...); Như vậy hành Thủy còn lại khó đặc trưng nhất điều này chỉ có thể được thể là hướng thông qua Hướng Bắc mà thôi. - Cùng phân tích trên ta thấy 12 đồng tiền tương ứng 12 địa chi, như vậy không thể độc lập với thiên can được trong việc hình tượng thời gian. Quan sát cụ Khiết ngôi trên các vòng tròn to có chữ ta có thể suy luận rằng chắc chắn phải có đúng 10 vòng tròn lớn nằm ở đấy. - Quan sát 2 chân trước của cụ ta thấy có 8 móng tất cả, chúng có thể nói lên chính là bát quái; mặt khác cụ lại dư 1 chân sau như đã phân tích ý nghĩa ở phần trước, thi việc dư thừa chân này với 4 móng và ta hình dung rằng đây là tứ tượng mà thôi. - Râu cụ Khiết chính là dự báo một khoảng thời gian rất dài thì Học thuyết thống nhất vũ trụ âm dương ngũ hành mới được chứng minh là của người Việt thông qua người có cơ duyên được giao phó. - Cụ Khiết chế tạo bằng gỗ đấy chính là nguyên nhân không thấy đồ cổ nào đã được tìm thấy cho tới nay kể cả kim loại. Nếu truy về lịch sử thì khả năng đồ đồng là nhiều chứ chắc chắn rất đồ vàng và bạc. Chỉ còn có trống đồng là thấy hình bóng cụ. - Như phân tích Cụ Khiết có thể chính là vị Thần tài của người Việt, điều này cũng xem lại thờ thần tài thổ địa có từ văn hóa Việt hay không. - Còn đồng tiền trong miệng cụ, ta hình dung khi về nhà buổi tối khi thắp hương thì nên lấy đồng tiền ra và ngược lại vào buổi sáng mỗi ngày. Điều nay minh chứng nguồn sống muôn loài chính là Khí. Như vậy biểu tượng cụ Khiết là một biểu tượng hoàn hảo có ý nghĩa hết sức to lớn về vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt cổ, một minh chứng vô cùng sắc bén chỉ thẳng tới học thuyết âm dương ngũ hành là phát minh của người Việt Nam mà học giả Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã khám phá và chứng minh. Ta tạm thấy một số ý nghĩa và kết cấu biểu tượng cụ Khiết như sau: Ý nghĩa: - Thể hiện thuyết âm dương ngũ hành bao trùm vũ trụ: có hinh tượng âm dương ngũ hành. - Thể hiện nguyên lý, biểu tượng vận động âm dương ngũ hành: tứ tượng, bát quái. - Thể hiện triết lý sống: thiên địa nhân hợp nhất, giả sử tượng hình 3 chân. Đặc trưng sinh vật là số 3 quẻ Chấn, con người đứng giữa trời đất. - Thể hiện văn hóa Lạc Việt: văn minh khoa đẩu, chính là chữ viết nòng nọc con của cụ Khiết. - Thể hiện nguồn gốc định vị, xây dựng quy tắc không gian - xây dựng các lý thuyết thiên văn: từ chòm sao đại hùng tinh và các chòm sao khác. - Thể hiện tính quy luật thời gian trên trái đất: 10 đám mây tiền, 12 đồng tiền?: thiên can - địa chi. - Thể hiện sự khởi thủy cuộc sống: nước - hành thủy Hướng Bắc, ngoài ra tượng trưng cho tiền. - Thể hiện nhu cầu thường trực của cuộc sống bình thường: kim tiền, sơn màu vàng. - Thể hiện tín ngưỡng văn hóa: thờ Thần tài cụ Khiết. - Ẩn chứa nguyên lý ứng dụng phong thủy Lạc Việt là dùng tương tác trực tiếp: đồng tiền trong miệng cụ cóc gây hiệu ứng hàng ngày tới gia đình thông qua thị giác, Khí quan trọng nhất. Kết cấu: - Cụ Khiết được chế tạo bằng gỗ, nếu là gỗ mít thì gần gũi với người dân. - Hình dáng giống như trên nhưng xem lại số lượng đám mây tiền đại diện 10 thiên can. - Không cần xoay cụ mỗi khi mà chỉ cần thắp hương thành tâm khấn vái tương tự thần tài thổ địa. - Nếu trên đầu cụ Khiết có sừng, việc này chắc do một vị người Háng nào đó chế tác thêm giống như tỳ hưu chẳng hạn, mà chẳng hiểu gì. - Logic thì cũng phải có hoa quả dâng hiến. Từ đây suy ngẫm lại ta thấy với trí tuệ siêu việt như vậy người Việt chắc chắn yêu chuộng hòa bình, thích hòa mình vào thiên nhiên cho nên trong lịch sử của mình họ thấy không cần thiết phải xây dựng đền đài, thành quách to lớn để làm gì và đặc biệt hơn nữa ta không thấy ghi chép lại về vấn đề NÔ LỆ mà chỉ thấy sự đối xử tốt với tù binh quân thù mà thôi, đây chính là sự ưu việt tối cao so với quá trình lịch sử của các dân tộc khác. Hết - Thân mến.
  6. (Tiếp theo) Như vậy hướng nhìn Cụ Khiết chưa rõ là Bắc hay Nam, tuy nhiên từ các ý nghĩa đã nêu ta có thể nhận thấy rằng Hướng Bắc/ Nam cũng phải là một mắt xích của hệ thống ý nghĩa nào đấy. - Ta thấy biểu tượng vòng âm dương đã có như vậy biểu tượng của ngũ hành phải được chỉ ra ở đâu đó. Trên mình cụ Khiết ta thấy đã có hành Kim (đồng tiền, màu vàng); Cụ Khiết thường đặt trên nền đất trong phòng hay có thể xem xét phù hợp với hành Thổ (sống trên trái đất); Biểu tượng lửa xung quanh vòng âm dương giống như các lư hương thờ điều này chứng minh cụ Khiết được thờ phụng trong gia đình do vậy phải có lư hương để cắm, đây chính là hành Hỏa; hành Mộc rõ ràng thuận tiện và phổ biến cho dân gian sử dụng chính là Cụ Khiết sẽ được làm bằng gỗ (gỗ mít màu nâu sậm: tương ứng phù hợp với đồ phòng thờ như nhà từ đường, câu đối...); Như vậy hành Thủy còn lại khó đặc trưng nhất điều này chỉ có thể được thể là hướng thông qua Hướng Bắc mà thôi. - Cùng phân tích trên ta thấy 12 đồng tiền tương ứng 12 địa chi, như vậy không thể độc lập với thiên can được trong việc hình tượng thời gian. Quan sát cụ Khiết ngôi trên các vòng tròn to có chữ ta có thể suy luận rằng chắc chắn phải có đúng 10 vòng tròn lớn nằm ở đấy. - Quan sát 2 chân trước của cụ ta thấy có 8 móng tất cả, chúng có thể nói lên chính là bát quái; mặt khác cụ lại dư 1 chân sau như đã phân tích ý nghĩa ở phần trước, thi việc dư thừa chân này với 4 móng và ta hình dung rằng đây là tứ tượng mà thôi. - Râu cụ Khiết chính là dự báo một khoảng thời gian rất dài thì Học thuyết thống nhất vũ trụ âm dương ngũ hành mới được chứng minh là của người Việt thông qua người có cơ duyên được giao phó. - Cụ Khiết chế tạo bằng gỗ đấy chính là nguyên nhân không thấy đồ cổ nào đã được tìm thấy cho tới nay kể cả kim loại. Nếu truy về lịch sử thì khả năng đồ đồng là nhiều chứ chắc chắn rất đồ vàng và bạc. Chỉ còn có trống đồng là thấy hình bóng cụ. Như vậy biểu tượng cụ Khiết có ý nghĩa hết sức to lớn về vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt cổ, một minh chứng vô cùng sắc bén chỉ thẳng tới học thuyết âm dương ngũ hành là phát minh của người Việt Nam mà học giả Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã khám phá và chứng minh. - Thể hiện thuyết âm dương ngũ hành bao trùm vũ trụ: có hinh tượng âm dương ngũ hành. - Thể hiện triết lý sống: thiên địa nhân hợp nhất, giả sử tượng hinh 3 chân. Đặc trưng sinh vật là số 3 quẻ Chấn, con người đứng giữa trời đất. - Thể hiện văn hóa Lạc Việt: văn minh khoa đẩu, chính là chữ viết nòng nọc con của cụ cóc. - Thể hiện nguồn gốc định vị xây dựng các lý thuyết thiên văn: chòm sao đại hùng tinh. - Thể hiện tính quy luật trên trái đất: 12 đồng tiền: địa chi. - Thể hiện sự khởi thủy cuộc sống: nước - hành thủy, ngoài ra tượng trưng cho tiền. - Thể hiện nhu cầu thường trực của cuộc sống bình thường: kim tiền, sơn màu vàng. - Ẩn chứa nguyên lý ứng dụng phong thủy là dùng tương tác trực tiếp: đồng tiền trong miệng cóc gây hiệu ứng hàng ngày tới gia đình thông qua thị giác. Đặc biệt biểu tượng còn mang ý nghĩa thông thường và gần gũi nhất sao cho ai ai cũng cần có trong nhà đó là mong muốn cuộc sống đầy đủ và cũng nhằm lưu giữ, bảo tồn, chứng minh nguồn gốc văn minh nước Việt về thuyết âm dương ngũ hành, như vậy việc định phương hướng cũng chưa chắc là mang ý nghĩa chính tuy nhiên việc chọn hướng từ các phân tích trên thì cụ Khiết nhin về Hướng Bắc có vẻ hợp lý hơn.
  7. Biểu tượng cụ Khiết thật là sâu sắc và tài tình, tuy nhiên chúng ta cũng có thể hình dung ý nghĩa chính trong biểu tượng này là như thế nào. Theo Hoangnt sẽ có các ý nghĩa phân loại được như sau: - Thể hiện thuyết âm dương ngũ hành bao trùm vũ trụ: có hinh tượng âm dương ngũ hành. - Thể hiện triết lý sống: thiên địa nhân hợp nhất, giả sử tượng hinh 3 chân. Đặc trưng sinh vật là số 3 quẻ Chấn, con người đứng giữa trời đất. - Thể hiện văn hóa Lạc Việt: văn minh khoa đẩu, chính là chữ viết nòng nọc con của cụ cóc. - Thể hiện nguồn gốc định vị xây dựng các lý thuyết thiên văn: chòm sao đại hùng tinh. - Thể hiện tính quy luật trên trái đất: 12 đồng tiền: địa chi. - Thể hiện sự khởi thủy cuộc sống: nước - hành thủy, ngoài ra tượng trưng cho tiền. - Thể hiện nhu cầu thường trực của cuộc sống bình thường: kim tiền, sơn màu vàng. - Ẩn chứa nguyên lý ứng dụng phong thủy là dùng tương tác trực tiếp: đồng tiền trong miệng cóc gây hiệu ứng hàng ngày tới gia đình thông qua thị giác. Đặc biệt biểu tượng còn mang ý nghĩa thông thường và gần gũi nhất sao cho ai ai cũng cần có trong nhà đó là mong muốn cuộc sống đầy đủ và cũng nhằm lưu giữ, bảo tồn, chứng minh nguồn gốc văn minh nước Việt về thuyết âm dương ngũ hành, như vậy việc định phương hướng cũng chưa chắc là mang ý nghĩa chính tuy nhiên việc chọn hướng từ các phân tích trên thì cụ Khiết nhin về Hướng Bắc có vẻ hợp lý hơn.
  8. Chào Tuấn Dương Cái chân ở góc đông nam ông khiết theo tuấn dương nó là hình tượng của cái túi .nhưng theo thời gian nó bị làm sai lệch thành cái chân Nếu tại góc đông nam là hình tượng cái túi thì đối diện với góc đó là quẻ càn (ghép lại thành túi càn khôn ..?) Trong phong thủy tuất (thuộc tây bắc được coi là thiên môn),thìn (đông nam được coi là địa hộ) tuấn dương liên tưởng với hình tượng túi mở ở tây bắc -túi đóng ở đông nam - Biểu tượng lửa trên đầu cóc bị dội ngược lại ==>hướng sau lưng cóc là hướng nam - 6 đồng tiền tại mỗi bên (+lại =12) tất cả 12 đồng tiền đều hướng về phía đuôi cóc=> + Số 6 theo thiên can thuộc kỷ âm thổ + Số 6 theo địa chi thuộc tỵ âm hỏa => 12 con giáp thuộc về khu vực phía nam Vậy ông khiết mặt quay về hướng bắc ,lưng quay về hướng nam mới hợp lý Thân ái Tuấn dương Chúng ta cũng chú ý: - Các cụ cóc trên mặt trống đồng đều xoay ngược chiều kim đồng hồ và tâm là ngôi sao nhiều cánh, đây là quy luật vận động của vũ trụ. - Ý nghĩa cóc 3 chân có phải chăng là thiên - địa - nhân hợp nhất đứng trụ vững trong quy luật âm dương ngũ hành. Số 3 quẻ Chấn đại diện cho sinh vật (con người, động vật, thực vật...) sinh sôi, phát triển trong thế giới tự nhiên này. - Chòm đại hùng tinh là chòm sao định vị quan sát thiên văn? như vậy việc định vị luôn hướng về nó giống như kim tự tháp Khê ốp có 1 cửa nhỏ phía mặt Bắc quan sát luôn hướng chính xác về ngôi sao bắc đẩu. Như vậy đối với một biểu tượng định hướng thi cụ cóc nhìn về... là hướng chính. - Như Tuấn Dương 12 đồng tiền chính là 12 địa chi là phù hợp, nói lên quy luật bốn mùa trái đất mà cụ cóc cũng là biểu tượng mùa mưa, nước - khởi đầu sự sống. - Cóc nghiến răng thì trời mưa, hành thủy phía Bắc. - Các đông tiền tượng trưng do Kim được sinh sôi bởi Hành thủy phía Bắc. Theo Hoangnt thống nhất với Tuấn Dương thì cụ cóc hướng về phía Bắc và lưng quay về Nam mới phù hợp.
  9. Đà Lạt Đà Lạt hoa vừa nở trong hồn anh sớm nay Đà Lạt thông còn mọc chờ anh sau ngàn cây Chiều đã từng than thở nơi xanh xao hồ đầy rừng vẫn nghe thông trúc Tuyền Lâm theo gió mây Lên núi gặp Thiền viện vào rừng hóa thông reo Trúc Lâm mong gặp Phật hiện lên trong ráng chiều Mây bồ đề rủ xuống trong tâm người hành hương gió bồ đề đến nhắc trong hồi kinh luân thường Đà Lạt như vừa ngủ giữa núi đồi bình yên Đà Lạt như còn thức dưới mưa dài bao đêm Đà Lạt bao dốc phố quanh co trong sương đầy chờ ta hoa cúc tím trong sương nghe hao gầy Nguyễn Việt Chiến
  10. Nền khoa học ngay nay đã tạo ra rất nhiều kỳ tích trong công nghệ vũ trụ với ước mơ tìm hiểu và khám phá thế giới tự nhiên, đặc biệt là các hành tinh xa xôi và sự sống ngoài trái đất nhưng cho tới thời điểm hiện nay ta thấy còn có một số các giới hạn chưa thể vược qua: - Chưa tìm thấy sự sống ngoài trái đất trong vòng 50 năm qua mặc dù thế giới nỗ lực không biết mệt mỏi. - Con người bao gồm cơ thể vật lý và tinh thần. Giả sử ta có thể dùng sức mạnh tinh thần tiếp cận được không gian xa xôi thì việc di chuyển cơ thể vật lý vẫn là nan giải. - Chưa tìm ra nguyên lý thống nhất vũ trụ theo khoa học hiện đại. Vũ trụ ngày càng giãn nở với vận tốc ngày càng gia tăng theo thời gian và lớn gấp nhiều lấn vận tốc ánh sáng. - Vận tốc tàu vũ trụ là quá nhỏ bé so với vấn tốc ánh sáng. - Lý thuyết âm dương ngũ hành có thể là thuyết thống nhất vũ trụ nhưng hiện tại nó chưa tiếp cận được với các nhà khoa học Phương Tây từ nguyên bản gốc, xuất phát từ nền văn minh Lạc Việt nhằm phối hợp nghiên cứu, phát triển.
  11. Suy tưởng tiếp cận Tâm Linh Nguyễn Tất Thịnh Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia [Thế kỉ 21 không phải là Thế kỉ của Khoa học – Công nghệ! Con người dường như đã đạt đến đỉnh cao của nghiên cứu phát hiện ra những Qui luật cũng như những Tri thức về Khoa học cơ bản và ứng dụng, từ đó có sẵn những nguyên lí để làm ra những thiết bị, phương tiện khác nhau phục vụ sản xuất, đời sống và những mưu cầu khác ! Con người đã đưa thiết bị lên Sao Hỏa, đã vẽ nên Bản đồ Gen của chính mình… Nhưng chính vì vậy Con đường bí mật đi đến tìm hiểu ý niệm về Thượng Đế - Thế giới Tuyệt đối – có vẻ như gần hơn, lại càng làm Con người khát vọng hơn bao giờ hết! Để ít nhất cũng ngộ ra một điều rằng : Bản thân Khoa học Công nghệ, dù phát triển đến đâu nhưng là quá hữu hạn để thỏa mãn khát vọng đó: Sức mạnh Vật chất, các Qui luật của Thế giới Vật chất dù đến ghê gớm cũng chỉ tạo ra những lò lửa Nhiệt hạch trên Mặt Trời Khổng lồ, hay đưa trí tuệ của Con người ( trong bộ Não dù phi thường của mình ) đi đến hình dung hình ảnh vĩ đại về cái Black Hole ( Hố Đen ) mà thôi! Thế còn trước đó và trong nó như thế nào? Thách thức cho khát vọng đó của Con người hiện nay là tìm kiếm những khả năng có thể vượt qua chính những hạn chế của mình ( Bản thể & Xã hội & Công nghệ ), vươn đến những phạm vi tối cao của Vũ Trụ…Bởi vậy Thể kỉ 21 – xét theo xu hướng Tri thức – là thế kỉ Con người biết chắc rằng mình phải tìm kiếm những phương thức và cách tiếp cận phi truyền thống và cố gắng lý giải xác thực hơn để càng ngày càng thấy mình tiệm cận đến Thế giới Tâm Linh !….Không phải ngẫu nhiên mà cái Vòng tròn này quay trở lại : Ngày xửa ngày xưa….bằng Văn Thơ, Âm Nhạc, Mĩ Thuật….Con người đã có thể du hành lên Mặt Trăng, đã bay vào Vũ Trụ với những siêu tưởng mà đến hôm nay Khoa học và Công nghê mới dần từng bước thực chứng mà vẫn chưa vươn tới hoàn toàn được như thế. Trước Công Nguyên Triết học Phương Đông đưa ra ý niệm Âm Dương, Ngũ Hành…dường như một ‘Tôn giáo Tuyệt đối Chuẩn tắc’ ( Chữ của tôi dùng ) mà toàn bộ thành quả của Khoa học đến hôm nay không hề xung đột, mà cũng chỉ đang tiệm cận đến mà thôi…. Trong khuôn khổ bài này, tôi đưa ra cách hiểu thế nào là cách tiếp cận Phi truyền thống đó ? Là không dựa vào ý thức hệ cũ, những luận cứ khoa học đã được xác tín, những cách nhìn dựa trên sự hiểu các qui luật Vật Lý đối với Sự vật Hiện tượng – Sự tiếp cận Phi truyền thống đó luôn bắt đầu bởi những câu hỏi mang màu sắc hướng tới Tâm Linh. Ví dụ 1: Khi Một Người đi trên chuyến xe bình thường thì anh ta đến nơi anh ta định muốn đến, ở tương lai đó sẽ xảy ra những điều anh ta dự kiến bởi kế hoạch, và có thể lường trước bởi một số dự liệu nhờ tiên đoán ( chọn giờ xuất hành, những cảnh báo… Chẳng hạn, thầy Tướng nói : anh ta đi xe hơi có nguy cơ bị đánh bom, anh ta bèn đi bằng xe bọc thép rất kiên cố - là phương tiện tối thiểu đi được qui luật Vật lí do bom nổ tác động vào anh ta )! Nhưng nếu anh ta đi trên con tàu mà giả định rằng hơn rất nhiều xe bọc thép nói trên - ở đó các qui luật Vật lí và qui luật sống bình thường không mảy may ảnh hưởng nữa ( ví như con tàu tốc độ ánh sáng ) thì nó có đưa anh ta đi đến Tương lai chắc chắn như vốn hoạch định cho mình như thế nữa không? Nếu đi trên con tàu đó thì hẳn anh ta sẽ không là anh ta như một thực thể như đang nhìn thấy mà sẽ là một ‘dạng khác’ ? Đó là gì ? Tương lai của anh ta lúc đó thực ra là gì ? Chắc chắn là không còn là câu chuyện của Mạng sống nữa – sẽ là ‘điều khác’ ! Ví dụ 2 : Nếu có con tàu thời gian thì Con Mèo Con 3 tuổi có thể quay ngược về thời điểm nó sinh ra mà nó vẫn là nó đang 3 tuổi nữa không ? Ở thời điểm quay lại quá khứ như thế, Bố nó đâu, là gì? Nhỡ nó du côn mà giết Bố nó thì liệu có còn nó nữa không.?... Hoặc nếu con tàu đó chạy đến tương lai của nó thì có thể dẫn nó đến rất nhanh cái thời điểm nó 100 tuổi không ? Trong khi đời sống sinh học của nó chỉ khoảng 15 năm ? Trên hành trình đó nó có gặp phải những điều đáng phải xảy ra như sẽ xảy ra khi nó sống bình thường trong một căn nhà nào đó không ? Ví dụ 3 : Có những Vì Sao đã tắt tàn, nhưng đến hôm nay ánh sáng từ nó mới vượt được những Tỉ năm ánh sáng đến với Trái đất chúng ta. Nhờ vậy chúng ta vẫn thây nơ hiện hữu, nhận dạng và hiểu được diễn tiến của nó cho dù nó đã biến mất từ lâu…Thực chất, bằng suy tưởng, tư duy ( là cách duy nhất như chúng ta từng hiểu có thể đi xuôi ngược trục Thời gian với vận tốc trên ánh sáng – chính là vận tốc của Thời Gian như tôi đã trình bày trong bài Bí Mật của Thời gian… ), thì chúng ta có thể quay ngược về Vì Sao đó nhanh hơn tốc độ ánh sáng…đến được nó khi nó, ở đó thấy nó còn đang tồn tại….cho dù thực chất nó đã không hiện hữu nữa ( nếu nhờ tín hiệu về nó được phát đi của ánh sáng ) Ví dụ 4 : Nhờ Khoa học và Công nghệ, một Tế bào Gốc, một Phôi Thai, một Con người được bảo quản đông lạnh…cho đến rất 5000 năm sau được hoạt sinh hóa trở thành một thực thể sống . Nhưng anh ta, ở tương lai đó, trong thể chất, tinh thần của mình cũng chỉ là một Sinh Thể lưu giữ hiện trạng mọi mặt của quá khứ và thời đại hôm nay ( thời điểm được đông lạnh ) mà thôi ? Trong 5000 năm chờ đợi ấy anh ta không là anh ta? Anh ta chết ? Hay anh ta đang là mình?... rõ ràng là không phải thế! Cho dù dòng thời gian vẫn trôi chảy ( 5000 năm qua đi cơ mà )…5000 năm ấy tuy có bao nhiêu biến cố, nhưng liêu có gì để tiên đoán cho anh ta khi đang được đông lạnh như vậy ? Hóa ra mọi sự tiên đoán, như người ta vẫn muốn thế, là gắn với quá trình sống thực mà thôi !? Bản chất là dẫn dắt Bản thể đi vào Ý niệm về Thời Gian sống chậm lại tối thiểu như có thể ! Nhờ vậy đỡ hao tổn và rủi ro ! Ví dụ 5: Nhưng Con Gấu ngủ đông ( nghĩa là thời gian mấy tháng rét mướt đó, sự sống của nó trở về trạng thái tối thiểu ), nó vẫn sống, nó không thể và không dự đoán gì cả về những điều xảy ra, mà Con người sẽ dự đoán thay cho nó – chẳng hạn nhờ khoa học mà biết sẽ có núi lở…Con người sẽ vác nó đến chỗ khác để tránh…do đó Tương lai của nó không tùy thuộc vào nó nữa. Vấn đề nó phải lộ diện để Con người nhận ra nó, nó phải hữu ích để Con người muốn cứu nó….Đến lượt Con người cũng vậy ( lộ diện và để ‘thương được’…với Lực lượng nào đó trong Siêu nhiên – Thượng Đế !? ) Quả thực : Tôi tư duy là Tôi tồn tại ! Nhưng Tư duy diễn ra trong Bộ Não – một cấu trúc sinh học siêu tinh tế! Nhưng không chỉ là mức độ phức tạp của nó mà chắc hẳn có ‘Thế Lực Tuyệt đối Siêu nhiên Nào đó’ can dự vào quá trình Sống của Con người, đi vào Tư duy đó…sinh thành, tác động , lưu giữ những tinh hoa, kết quả của nó…và chuyển hóa sang những Bộ não khác, những Sinh Thể khác…kết hợp vào sự Nhân Bản bởi quá trình sinh lý duy trì nòi giống của Con người. Chúng ta thấy những kết quả Tư duy ( Tư tưởng ) của Các Bậc Tiền Bối Vĩ đại được lưu giữ và truyền lại đời sau dưới dạng trước tác, thành quả vật chất…do đó chúng ta nói : Các Vị đó không chết, cho dù Các Vị đã chết ! Nhưng kết quả Tư duy đó của Các Vị có vào hết cuộc sống của mọi người đâu, mà chỉ một nhóm hay bộ phận thôi – điều quan trọng là vẫn còn được chuyển hóa, truyền tiếp đến đời sau ( một dạng thức của Tái Sinh vậy! )…Và hãy hình dung khi Toàn bộ Nhân Loại vì Nạn Đại Hồng Thủy nào đó mà chết hết cả, thì Tư duy đó nó đi đâu ? Hoàn trả lại Thế giới Tuyệt đối mà thôi ! Chờ đợi Thượng Đế tạo ra một Sinh Vật Khác mà đưa lại can dự để đưa dần các Tư duy đó vào chúng…sau này…Cũng bởi vậy và Đại Từ ‘Tôi’ nới trên rất có thể là từ Con người A -> B -> …Z -> Và đến một Con Nào Đó, Loài Nào đó…ở đâu đó, có thể không hẳn ở trên Trái Đất này…. Nhưng Thế Kỉ 21 thực ra sẽ là Thế kỉ của điều gì ? Vẫn của Con người thôi, nhưng là Con người hướng tới Tâm Linh…không đi đến sự mê tín hay cuồng tín ( bởi đã đứng trên những nền tảng quá vững chắc của Văn minh Khoa học – Công nghệ ) nhưng dẫn đắt Cuộc sống của mình chủ động hơn trong Dòng Sông Thời Gian - Bí Mật của Thượng Đế - để có thể đi được ngược xuôi trên dòng Sông đó – Tương lai & Quá khứ : Tái sinh + Hoạt sinh + Hoàn sinh! Muốn vậy tôi xin nhắc lại câu tôi viết ở trên : Lộ diện với Trời Đất + Phải có tư tưởng + Trời thương được! Tôi viết như trôi đi, không phải trên từng câu chữ…tự nhiên phát ra từ sâu thẳm…từ đâu không biết…chỉ cảm thục được mà không hiểu mấy…những ai…nhưng tôi đang biết rõ thời điểm này : Tôi là Tôi…xung quanh…Vũ Trụ…
      • 2
      • Like
  12. Bị hấp chín trong phòng xông hơi 08/08/2010 22:59 Hai ông Ladyzhenskiy (trái) và Kaukonen trong phòng xông hơi 110 độ C - Ảnh: AFP Cuộc thi tắm hơi thế giới năm nay tại Phần Lan đã kết thúc trong bi kịch với cái chết của một trong 2 người vào chung kết. Cuộc thi này được tổ chức từ năm 1999 tại thị trấn Henola, cách thủ đô Helsinki 138 km về phía bắc. Các thí sinh phải ngồi trong những phòng xông hơi có nhiệt độ lên đến 110oC và ai chịu đựng được lâu nhất sẽ thắng cuộc. Theo BBC, trận chung kết diễn ra hôm 7.8 gồm thí sinh người Nga Vladimir Ladyzhensky, hơn 60 tuổi và đương kim vô địch người Phần Lan Timo Kaukonen, chừng 40 tuổi. Khi trận đấu diễn ra được 6 phút, cả hai bắt đầu có dấu hiệu bất thường và người ta lập tức mở cửa phòng xông hơi để cấp cứu rồi đưa họ đến bệnh viện. Tuy nhiên, ông Ladyzhensky đã không qua khỏi, còn ông Kaukonen vẫn đang được điều trị. Hãng tin Phần Lan STT dẫn lời các nhân chứng cho hay 2 thí sinh đã bất tỉnh và bị phỏng nặng khi được đưa khỏi phòng xông hơi. Trưởng ban tổ chức Ossi Arvela nói cảnh sát đang điều tra vụ việc nhưng khẳng định cuộc thi tuân thủ những quy định an toàn ngặt nghèo. Ông cho hay cả hai thí sinh đều có giấy chứng nhận đủ sức khỏe của bác sĩ để tham gia trận chung kết. Cuộc thi năm nay thu hút khoảng 135 thí sinh từ 15 quốc gia. Lê Loan
  13. THỜI GIAN PHẢI CHĂNG CHỈ LÀ MỘT ẢO TƯỞNG? Craig Callender, Cao Chi biên dịch Tạp chí Tia Sáng 11:04' AM - Thứ ba, 03/08/2010 Nhiều thập kỷ qua các nhà vật lý và các triết gia không ngừng suy nghĩ về vấn đề thời gian. Thời gian có tồn tại độc lập hay không? Tại sao thời gian lại phải có nhiều tính chất khác nhau thay đổi từ cơ học cổ điển Newton đến lý thuyết tương đối Einstein rồi lý thuyết lượng tử. GS triết gia Craig Callender trình bày một cách nhìn mới mẻ về thời gian: thời gian chỉ là một phương thức thuận tiện để đo đạc các quá trình trong vũ trụ.Thời gian không tồn tại độc lập, chúng ta chỉ cảm nhận được thời gian vì chúng ta là một hệ con bị ràng buộc với các hệ con khác trong vũ trụ bởi nhiều mối liên quan. Thời gian được ví như tiền tệ vốn chỉ là một phương tiện giao dịch, thuận tiện hơn phương thức trao đổi trực tiếp bằng hiện vật. Bài báo của Craig Callender [1] có thể đem lại nhiều tia sáng mới cho vật lý và triết học trong vấn đề thời gian. Các khái niệm về thời gian và sự thay đổi của thời gian có thể đột sinh từ một vũ trụ mà về cơ bản là phi thời gian tính. Thời diểm hiện tại được cảm nhận là đặc biệt, hiện tại là hiện thực. Song khi bạn hồi tưởng lại quá khứ hay suy tưởng về tương lai, bạn vẫn đang sống trong hiện tại. Lẽ dĩ nhiên thời quãng bạn đọc những dòng chữ này không kéo dài lâu. Nói cách khác ta cảm thấy thời gian đang chảy nhưng thực tế là hiện tại đang liên tục cập nhật. Chúng ta có một cảm nhận trực giác về sự định hình của quá khứ và sự hình thành của tương lai chỉ khi nào hiện tại xuất hiện. Các phương trình vật lý không nói cho chúng ta biết những sự kiện nào đang xảy (điều này trông giống một bản đồ mà không ghi rõ “bạn đang ở nơi nào”). Như vậy thời gian hiện tại không có mặt trong các phương trình do đó cũng không có dòng chảy của thời gian. Thời gian không tồn tại độc lập song là một phương thức mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng. Ý tưởng đó đã dẫn họa sĩ Keith Peters đến bức tranh trên trong đó nhiều đường vòng chạy quấn quanh đối tượng này sang đối tượng khác. Sự cách biệt trong suy nghĩ thông thường của chúng ta và cách hiểu thời gian trong khoa học đã làm bối rối nhiều nhà tư tưởng suốt thời gian lịch sử. Nhiều nhà vật lý lý thuyết tin rằng thời gian không tồn tại. Ý tưởng thời gian không tồn tại quả là rất khó hiểu đối với trực giác. Mọi việc chúng ta làm dường như đều thực hiện trong thời gian. Một lý thuyết không có thời gian phải đương đầu với việc giải thích vì sao chúng ta thấy mọi sự thay đổi nếu quả thật trong vũ trụ không có thời gian. Mặc dầu thời gian không tồn tại ở mức cơ bản song thời gian có thể xuất hiện ở những mức cao hơn - hoàn toàn giống như một cái bàn trông như một vật rắn mặc dầu được cấu tạo bởi một tập các hạt kết với nhau trong một không gian gần như trống rỗng. Như vậy tính rắn là một tính tập thể, nói cách khác là một sự đột sinh (emergent) từ tập của các hạt. Tương tự như vậy thời gian chính là một tính chất đột sinh bất kể đối với các thành phần nào của vũ trụ. Khái niệm về sự đột sinh của thời gian là một thế cách mạng biểu diễn sự phát triển của lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Các nhà vật lý lý thuyết khi đeo đuổi mộng tưởng thống nhất đều xem vấn đề thời gian là vấn đề cơ bản. Họ nghĩ rằng một lý thuyết thống nhất phải là một lý thuyết không có thời gian, và cho rằng nếu không đi sâu vào tìm hiểu thời gian thì khó lòng xây dựng được lý thuyết thống nhất. Sự xuất hiện và biến đi của thời gian Thời gian đã đảm đương nhiều công việc trong vật lý song các công việc đó có thể càng ngày càng biến mất đi. Thời gian cổ điển Chúng ta sẽ lấy làm lạ khi các định luật chuyển động của Isaac Newton đòi hỏi thời gian phải có nhiều tính chất rất đặc biệt. Mọi người quan sát đều công nhận tính kế tiếp của nhiều sự kiện, trong vật lý cổ điển chúng ta có thể nói rằng một sự kiện này xảy ra trước, sau hay đồng thời với một sự kiện khác. Như thế thời gian cung cấp một phương tiện để xếp đặt thứ tự của các sự kiện. Tính đồng thời của hai sự kiện là một điều tuyệt đối độc lập với mọi người quan sát. Hơn nữa thời gian phải liên tục bởi vì có như thế thì chúng ta mới định nghĩa được vận tốc và gia tốc. Thời gian cổ điển đòi hỏi khái niệm thời quãng (duration)-mà các nhà vật lý gọi là metric-như thế chúng ta có thể xác định được khoảng cách giữa hai sự kiện trong thời gian. Cũng giống như thứ tự các sự kiện, thời quãng giữa hai sự kiện là một yếu tố độc lập với mọi người quan sát. Như vậy về thực chất Newton đòi hỏi rằng vũ trụ song hành với sự tồn tại một đồng hồ chủ (master clock). Chiếc đồng hồ này phân vũ trụ thành nhiều thời điểm và vật lý Newton chỉ lắng nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ này mà thôi. Newton cảm nhận dòng chảy thời gian và đồng thời cảm nhận hướng chảy của thời gian đó về tương lai, mặc dầu những tính chất bổ sung này của thời gian không bị đòi hỏi bởi các định luật Newton. Thời gian Newton giống như chiếc mũ cũ của chúng ta song một phút suy nghĩ cho chúng ta thấy những điều lạ lùng. Các tính chất của thời gian: thứ tự (order), liên tục (continuity), thời quãng (duration), tính đồng thời (simultaneity), dòng chảy (flow) và mũi tên thời gian (arrow of the time) đều kết dính với đồng hồ chủ mà Newton gọi là “thời gian”. Toàn thể những tính chất này không thay đổi suốt trong gần hai thế kỷ. Mũi tên thời gian Sau đó những tính chất này bị nhiều cuộc tấn công vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế ký 20. Cuộc tấn công đầu tiên là từ phía nhà vật lý người Áo Ludwig Boltzman: nếu các định luật Newton là đúng cho cả hai chiều của thời gian thì sẽ không có mũi tên thời gian (luôn hướng về tương lai). Thay vì vào đó Boltzman cho rằng hướng mũi tên thời gian không phải là một tính chất nội tại của thời gian mà xuất phát từ tính bất đối xứng của vật chất hình thành trong vũ trụ. Boltzman đã loại được một tính chất của thời gian Newton một cách thuyết phục. Thời gian trong lý thuyết tương đối Tiếp theo là cuộc tấn công của Einstein về ý tưởng đồng thời (simultaneity) tuyệt đối: theo lý thuyết tương đối thì sự đồng thời còn phụ thuộc vào chúng ta chuyển động như thế nào. Sân khấu chính thức của các sự kiện không phải là thời gian mà cũng không phải là không gian mà là đa tạp tích hợp: không-thời gian. Hai quan sát viên chuyển động với hai vận tốc khác nhau không thể đồng ý với nhau rằng một sự cố nào đó xảy ra lúc nào và ở đâu song họ có thể đồng ý với nhau rằng sự cố đó đã xảy ra tại tọa độ nào trong không-thời gian. Hình 1. Một quả bóng chuyển động và đập vào một bức tường nằm trong một khối tạo nên một không-thời gian. Có hai cách cắt lát không-thời gian. A / Trong cách thứ nhất (cách thông thường) ta cắt không- thời gian (cắt ngang ) theo từng thời điểm tạo nên một cuốn phim mô tả chuyển động của quả bóng Mỗi khung ảnh dẫn đến khung ảnh tiếp sau theo đúng các định luật vật lý. B / Nếu dùng phép cắt lát thứ hai (cắt dọc) không theo hướng quá khứ tương lai mà theo hướng từ trái sang phải. Mỗi lát cắt vừa là một phần không gian vừa là một phần thời gian. Bên trái bức tường quả bóng xuất hiện ở hai vị trí còn bên phải bức tường quả bóng không xuất hiện. Một điều tồi tệ nữa lại xảy ra năm 1915 khi Einstein xây dựng xong lý thuyết tương đối tổng quát thống nhất lý thuyết tương đối hẹp với lực hấp dẫn. Hấp dẫn đã làm cong thời gian và như thế thời quãng một giây ở đây không giống thời quãng một giây ở nơi khác. Ta khó lòng nói được một sự kiện này xảy ra trước hay sau một sự kiện khác. Mặc dầu nhiều nhà vật lý cho rằng một lý thuyết thống nhất sẽ có thể loại thời gian, thực tế thời gian đã mất đi từ năm 1915. Cắt lát không-thời gian để thấy thời gian có điểm khác biệt với không gian Chúng ta có thể nghĩ rằng sự khác biệt giữa không gian và thời gian gần như biến mất và kịch trường chính thức của các sự kiện là một đa tạp 4 chiều. Lý thuyết tương đối dường như không gian hóa (spatialize) thời gian: biến thời gian thành một chiều của đa tạp đó. Không-thời gian giống như một ổ bánh mì mà chúng ta có thể cắt lát theo nhiều chiều (Hình 1). Ngay cả trong lý thuyết tương đối tổng quát thời gian vẫn giữ một nhiệm vụ khác biệt để giúp phân biệt hai khái niệm “ đồng dạng thời gian” (timelike) và “đồng dạng không gian” (spacelike). Các sự kiện đồng dạng thời gian là những sự kiện nối liền nhau bởi nguyên lý nhân quả: tồn tại những vật thể hoặc ánh sáng có thể đi từ sự kiện này đến sự kiện kia để gây nên nhân quả. Các sự kiện đồng dạng không gian là những sự kiện không có dính dáng gì với nhau về nhân quả: không tồn tại những vật thể hoặc ánh sáng có thể đi kịp từ sự kiện này đến sự kiện kia để đảm bảo được nguyên lý nhân quả. A/ Hãy cắt lát không thời gian thành từng lát cắt từ quá khứ đến tương lai: mỗi lát cắt là một không gian 3 - chiều tại một thời điểm. Tổng các lát cắt đó làm thành không-thời gian 4-chiều. B/ Song nếu ta cắt theo một kiểu khác theo hướng Đông Tây thì mỗi lát cắt 3-chiều lại là một hỗn hợp lạ lùng của các sự kiện đồng dạng không gian và các sự kiện đồng dạng thời gian. Hai cách cắt lát này giống như cách ta cắt một ổ bánh mì theo chiều thẳng đứng hoặc theo chiều nằm ngang. Cách cắt lát thứ nhất cho những hình ảnh không gian tại những thời điểm kế tiếp của thời gian. Cách cắt lát thứ hai không có một hình ảnh tương tự nào: nó tương ứng với cách cắt không thời gian không phải từ quá khứ đến tương lai mà từ phía Đông sang phía Tây. Ví dụ của một lát cắt này là bức tường phía bắc của nhà bạn cộng với những điều gì sẽ xảy ra trong tương lai trên bức tường đó và từ phép cắt đó bạn có thể áp dụng những quy luật vật lý để tái lập các phần còn lại của cái nhà. Thời gian lượng tử Một mục đích tối thượng của vật lý là thống nhất lý thuyết tương đối rộng với lý thuyết lượng tử để tạo nên một lý thuyết duy nhất: lý thuyết lượng tử của hấp dẫn. Ta gặp thêm nhiều rắc rối: lý thuyết lượng tử nói rằng các vật thể có nhiều cách hành xử khác với trong vật lý cổ điển ví như vận tốc và vị trí. Sự mô tả của một vật thể phải được thực hiện nhờ một hàm sóng biểu diễn trạng thái. Trạng thái này tiến triển liên tục theo thời gian và nhờ đó các nhà vật lý có thể tính được xác suất của điều gì sẽ xảy ra trong tương lai. Những điều này lại cho phép thời gian có những tính chất mới [2]. Thứ nhất thời gian lại cho phép những nghịch lý xảy ra với những xác suất nhất định. Vậy thời gian cho phép sự tồn tại các nghịch lý. Thứ hai tùy theo thứ tự các phép đo mà chúng ta có thể thu được những kết quả khác nhau. Thứ ba cơ học lượng tử dẫn đến hiện tượng liên đới lượng tử (quantum entanglement). Từ đó có hiện tượng ma quái tác dụng từ xa (“spooky action at a distance”) trong nghịch lý ERP (Einstein, Rosen & Podolsky). Như vậy theo Einstein phải tồn tại đồng hồ chủ mà chính lý thuyết tương đối của ông ngăn cấm. Các nhà lý thuyết mong muốn loại bỏ thời gian khi xây dựng một lý thuyết thống nhất nhưng lại bối rối vì vai trò quan trọng của thời gian trong lý thuyết lượng tử: đó chính là nguồn gốc khó khăn trong quá trình hình thành một lý thuyết thống nhất. Vậy thời gian đi đâu? Như chúng ta biết có nhiều phương án thống nhất lý thuyết hấp dẫn với lý thuyết lượng tử: Lý thuyết Dây (String theory), CDT (Causal Dynamical Triangulation ), Hình học không Giao hoán (Non Commutative geometry), LQG (Loop Quantum Gravity)...[3]. Các phương án này được phân chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất lấy lượng tử làm cơ sở như trong lý thuyết dây LTD (còn có thời gian), nhóm thứ hai muốn xuất phát từ lý thuyết hấp dẫn (có thể thời gian bị loại). Thực tế sự khác biệt giữa hai nhóm này rất mờ. Các nhà LTD đang tìm cách loại bỏ thời gian. Hình 2a. Bên trái hình vẽ ta dùng thời gian để đo tốc độ ánh sáng, nhịp đập của quả tim và vận tốc quay của một hành tinh và thu được theo thứ tự: 300.000 km/giây,73 nhịp đập/phút, 1vòng quay/ngày. Bên phải hình vẽ ta không dùng đến thời gian nữa và lấy một nhịp đập của trái tim làm đơn vị thì thu được theo thứ tự: 240.000 km/nhịp đập, 1 nhịp đập và 108.000 nhịp đập/1 vòng quay. Hình 2b. Bên trái hình vẽ ta dùng đồng USD để tính giá trị của một cốc cà phê, 1 đôi giày và một chiếc ô tô đã qua sử dụng và thu được theo thứ tự: 2USD, 100USD và 2000 USD. Bên phải hình vẽ lấy giá trị một cốc cà phê làm đơn vị ta thu được theo thứ tự: 1 cốc cà phê,50 cốc cà phê / 1 đôi giày và 1000 cốc cà phê/một chiếc ô tô đã qua sử dụng. Vào những năm 1950, 1960 khi John Wheeler và Bryce DeWitt tìm cách viết những phương trình Einstein dưới dạng giống như những phương trình của QED (Quantum Electrodynamics-Điện động lực học Lượng tử) cốt để sử dụng những phương pháp lượng tử hóa quen thuộc của QED thì họ đã đi đến một kết quả hết sức bất ngờ: phương trình bây giờ được gọi là phương trình Wheeler-DeWitt hoàn toàn không chứa thời gian. Ký hiệu t biểu diễn thời gian đã bị loại mất. Điều này đã làm bối rối các nhà vật lý trong nhiều thập kỷ. Sao mà thời gian lại biến mất? Song nhìn lại ta thấy điều này không có gì đáng ngạc nhiên. Như đã nói ở trên thời gian đã gần như biến mất từ lý thuyết tương đối tổng quát trước cả lúc các nhà vật lý có ý định thống nhất với lý thuyết lượng tử. Nếu nói một cách tường minh hơn thì thời gian không tồn tại. Carlo Rovelli (Đại học Marseille, Pháp) cùng với nhà vật lý người Anh Julian Barbour đã tìm cách viết lại lý thuyết lượng tử trong một khuôn khổ không chứa thời gian như lý thuyết tương đối đòi hỏi. Ý tưởng chính của hai tác giả là: nếu không tồn tại một thời gian tổng thể (global time) thì chúng ta cần nối liền một hệ thống vật lý này với một hệ thống vật lý khác. Thay vì theo dõi tóc trên đầu bạn đã bạc đi như thế nào theo thời gian bạn có thể nối liền quá trình bạc tóc của bạn với quỹ đạo của vệ tinh. Thời gian trở nên thừa. Mọi sự thay đổi có thể mô tả không cần thời gian. (xem hình 2a,2b). Tương tự như vậy tiền tệ thuận tiện hơn là trao đổi hiện vật khi phải thanh toán một cốc cà phê: thời gian thuận tiện trong việc nối liền một hệ thống vật lý này với một hệ thống vật lý khác ví như quá trình bạc tóc với quỹ đạo vệ tinh. Và thời gian quả là một ảo giác thuận tiện hơn bất cứ điều gì trong vũ trụ như đồng tiền trong cuộc sống thường nhật. Song nếu loại bỏ thời gian thì chúng ta phải tư duy lại lý thuyết lượng tử.Phục hồi thời gian Một câu hỏi cấp bách là nếu chấp nhận hấp dẫn lượng tử thì phải giải thích vì sao vũ trụ dường như có thời gian? Ngay lý thuyết tương đối rộng khi hấp dẫn yếu và vận tốc nhỏ cũng có nhiều mẫu con thời gian mà tổng thể là một thời gian tựa Newton. Barbour & Rovelli còn gợi ý rằng thời gian (hay ít nhất ảo tưởng về thời gian) có thể xuất hiện từ điều không có gì cả (nothingness). Năm 1931 nhà vật lý người Anh Nevill F.Mott xét sự va chạm của một hạt nhân helium với một nguyên tử. Ông phân hệ thành hai hệ con và sử dụng hạt nhân helium như một “đồng hồ” đối với nguyên tử còn lại. Điều đáng chú ý là nguyên tử xét tương đối với hạt nhân helium tuân theo một phương trình chuẩn phụ thuộc thời gian của lý thuyết lượng tử song ở đây một hàm số của không gian đóng vai trò của thời gian. Tuy rằng toàn hệ là không phụ thuộc thời gian song các hệ con lại phụ thuộc. Như vậy trong toàn hệ thời gian đã ẩn núp trong các hệ con (Hình 2a,2b). Toàn vũ trụ có thể không có thời gian song hãy tưởng tượng vũ trụ bị phân chia thành nhiều hệ con thì một số hệ con lại đóng vai trò “đồng hồ” cho các hệ con khác. Chúng ta cảm nhận thời gian chỉ vì chúng ta theo bản chất là một hệ con. Nhà triết học Pháp Maurice Merleau-Ponty nói rằng thời gian bản thân thực tế không chảy và sở dĩ ta cảm nhận dòng chảy của thời gian vì “ta đã lén đặt vào dòng sông một chứng nhân của dòng chảy”. Như vậy khuynh hướng tin rằng thời gian đang chảy là hệ quả của việc quên mất rằng chúng ta là một hệ con với các mối liên hệ với vũ trụ trong bức tranh chung. Merleau-Ponty đã nói về những trải nghiệm chủ quan của chúng ta về thời gian và đến bây giờ thì chúng ta phải đoán nhận được rằng thời gian khách quan có thể giải thích được như là hệ quả của những mối quan hệ giữa các hệ con của vũ trụ. Thời gian chỉ tồn tại bằng cách phân chia vũ trụ thành những hệ con và tìm ra các mối quan hệ giữa chúng. Trong bức tranh đó thời gian vật lý đột sinh từ việc chúng ta nhận thức bản thân như một hệ tách rời với mọi thực thể khác. Kết luận Vậy thời gian là không tồn tại độc lập. Ta cảm nhận dòng chảy của thời gian chỉ vì ta là một hệ con có nhiều mối quan hệ với các hệ con khác trong vũ trụ. Cách nhìn mới mẻ này có thể giúp các nhà vật lý trong việc xây dựng một lý thuyết thống nhất hấp dẫn và lượng tử và các nhà triết học trong việc xây dựng một nhận thức luận mới đối với không-thời gian và vật chất của thế giới khách quan. --------------------------------------------------- Tài liệu tham khảo [1] Craig Callender, Is time an illusion? Scientific American, tháng 6/ 2010. [2] Cao Chi, Cơ Học Lượng Tử: từ quan điểm Einstein đến quan điểm tương quan, KHTQ số tháng 9 / 2008. [3] Bạn đọc có thể tìm thấy các lý thuyết này trong “Kỷ yếu Max Planck 2009” (Cao Chi , Tồn tại chăng một lý thuyết của tất cả) Nguồn: Tạp chí Tia Sáng
  14. Vũ trụ chúng ta đang nằm trong hố đen? 08/08/2010 18:31 Thêm một lý thuyết lạ lùng về vũ trụ - Ảnh: PA Mỗi hố đen đều có thể chứa một vũ trụ, và vũ trụ của chúng ta không ngoại lệ, theo lý thuyết mới của một nhà khoa học gốc Ba Lan. Áp dụng học thuyết tương đối rộng của Einstein, nhà khoa học Nikodem Poplawski thuộc Đại học Indiana (Mỹ) đã rút ra kết luận trên sau khi phân tích sự chuyển động trên lý thuyết của các hạt khi bị một hố đen nuốt chửng. Theo chuyên gia này, chuyện cả một vũ trụ khổng lồ tồn tại trong lòng các hố đen là điều có thể xảy ra. Có nghĩa là vũ trụ mà chúng ta đang sống cũng có thể nằm trong lòng một hố đen nào đó. Và “có lẽ những hố đen khổng lồ tại trung tâm dải Ngân hà hay các thiên hà khác chính là cầu nối sang những vũ trụ kế cận”, Poplawski nói với New Scientist. Giải thích lý thuyết trên trong chuyên san Physics Letters B, Poplawski cho biết ông đã dùng thuyết hấp dẫn của Einstein để tính toán xung lượng góc của các hạt sơ cấp trong một hố đen. Điều này cũng giúp ông có thể tính được một tính chất của không gian - thời gian gọi là sự xoắn, một đặc tính được cho là đẩy lực hấp dẫn. Ông cho hay thay vì vật chất dần đạt được tỷ trọng vô hạn trong hố đen theo thuyết của Einstein, phản ứng của không gian - thời gian giống như một sợi dây lò xo bị nén với vật chất nẩy lên và nở rộng không ngừng. Tiến sĩ Poplawski giải thích hiệu ứng “bật trở lại” xảy ra do sự xoắn không gian - thời gian tạo ra một lực phản lại sức mạnh khủng khiếp của lực hấp dẫn bên trong hố đen. Ông còn cho rằng hiệu ứng lò xo bật này có thể dẫn đến sự giãn nở của vũ trụ mà chúng ta thấy được như ngày nay, đồng thời giải thích được tại sao vũ trụ này là dẹp, đồng nhất và đẳng hướng mà không cần sự thổi phồng của vũ trụ. Hiện nay không có cách nào để kiểm chứng lý thuyết trên của tiến sĩ Poplawski. Lý do là lực hấp dẫn của hố đen quá mạnh nên không gì có thể thoát khỏi nó. Tuy nhiên, theo tiến sĩ người Ba Lan, nếu chúng ta đang sống trong một hố đen xoay tròn, vòng xoay sẽ chuyển đổi không gian - thời gian bên trong nó, có nghĩa là vũ trụ này sẽ di chuyển theo hướng nhất định, và con người có thể xác định được điều này. Việc di chuyển theo một hướng nhất định có thể liên quan đến sự mất cân bằng giữa vật chất và phản vật chất trong vũ trụ và có thể giải thích sự dao động của các hạt neutrino. Hạo Nhiên
  15. Hoangnt xin được đăng ký 1 suất lớp nâng cao. Rất cám ơn.
  16. Chủ tịch tập đoàn Vinashin trò chuyện trước giờ bị bắt Ngày 06/08/2010 Sự kiện: Quá nhiều sai phạm ở Vinashin Chủ tịch tập đoàn Vinashin Phạm Thanh Bình đã có cuộc nói chuyện đầy ý nghĩa với báo chí trước khi bị bắt. Ông Bình ngồi bên cạnh con tàu thủy bằng gỗ vẻ trầm ngâm, chênh chếch phía đối diện là tượng Quan Công mặt đỏ lựng tay xách đại đao. Ông nói: "Cũng xác định tư tưởng hết rồi...". Bỏ biển lên bờ Trước khi ông Phạm Thanh Bình (Nguyên Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Vinashin) bị bắt, phóng viên đã có dịp hiếm hoi gặp với ý định phỏng vấn về những vấn đề đang gây sốt dư luận. Tuy nhiên, cuộc phỏng vấn bị từ chối, tôi cũng tôn trọng ông nên buổi gặp gỡ đó chỉ là cuộc trao đổi ngoài lề đầy tâm tư. Căn phòng làm việc của ông tại trụ sở Vinashin (trên đường Ngọc Khánh, gần triển lãm Giảng Võ) rộng, được bố trí đặc trưng phong thủy. Chặn trước cửa là một bức bình phong trang trí hình con hổ dữ, kế đến là tượng Quan Công mặt đỏ xách đại đao; tôi tìm mãi không thấy tượng Gia Cát Lượng đối xứng ở trong phòng. Trong buổi chuyện trò, ông Bình miên man tới những câu chuyện thời chiến quốc. Hôm đó, ông Bình vừa bị đình chỉ chức vụ Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vinashin. Thuyền trưởng Vinashin Phạm Thanh Bình trong phòng làm việc trước ngày bị bắt. Không giống như nhiều quan chức khác trước khi bị bắt thường là ủ dột, não nề; ông Bình bình thản lạ lùng. Tôi chỉ tay hướng bức tranh đặc tả những cột sóng tung trắng xóa và khen đẹp thì ông nói: "Đó là bức tranh mình thích. Đời mình gắn bó nhiều với biển to, sóng dữ". Có lẽ ít người biết, hồi còn trẻ, ông Bình từng kéo theo đội quân đi kè đảo và xây đèn biển. "Vì nó trót là con tôi nên mới khó xử và được mọi người chú ý, chứ nếu là một người trẻ tài năng nào đó thì lại khác. Cháu nó phải có thành tựu gì, tôi mới cất nhắc được chứ. Hơn nữa, với vị trí hiện nay thì phải thi cử đàng hoàng." Ông kể, có lần xây một bờ kè ở đảo chìm xa ngoài khơi, sóng dữ dằn, cá mập lượn lờ, các công nhân dưới quyền đều sợ đứng nhìn trên bờ. Lúc đó, ông Bình đã mặc bộ đồ lặn bất chấp tất cả và hoàn thành múi hàn một đoạn kè quan trọng. Lang thang đi xây đèn biển, kè đảo một thời gian, rồi ông Bình lên bờ đóng tàu. "Ở dưới biển, tôi bơi rất khỏe, có thể ăn ngủ trên sóng", ông Bình nói. Đó là câu chuyện thời trai trẻ và vô tư. Không hiểu sao, tôi lại nhớ tới chuyện Lý Quỳ đánh chết hổ trên núi nhưng khi giao chiến với người dưới nước lại bị nhấn chìm, thua liểng xiểng. Đề cập chuyện đang ập tới, ông nói: "Cái số đã thế rồi thì khó tránh lắm. Vừa họp cơ quan xong, sợ anh em buồn, tôi còn lên sân khấu hát những bài truyền thống về Vinashin. Có bác công nhân còn nói, trước dư luận ồn ào mà thấy anh Bình thế này thì chúng tôi yên tâm. Bây giờ, dù không có chức danh gì nhưng tôi vẫn cố hoàn thành nốt những phần việc còn lại để bàn giao". Vì nó trót là con tôi Thế chuyện về con trai, em trai ông được ưu ái cất nhắc thì sao? "Em trai mình chỉ đại diện phần vốn của Nhà nước có vài chục phần trăm thôi. Mấy chục phần trăm này có phải là tiền đâu, đó chỉ là thương hiệu Vinashin quy ra tiền. Mang tiếng đại diện phần vốn nhưng cũng không có quyền hành gì". Rồi, ông kể về cậu con trai hiện làm Phó Viện trưởng Khoa học Công nghệ tàu thủy. Trước khi cậu con trai đi du học nước ngoài đã từng được gửi vào học lớp Đóng tàu biển (Đại học Bách khoa Hà Nội). "Khi tôi đề xuất với Đại học Bách khoa để mở lớp, các thầy ở đó sợ không có ai học nên tôi tình nguyện đưa con vào học đầu tiên để làm tin. Sau đó, con mình thi được học bổng nước ngoài thì lại gửi đứa cháu vào. Mình không muốn thanh minh nhưng con mình là đứa thực sự có năng lực", ông Bình tâm sự. Tôi đã được nghe một câu chuyện khác về Viện phó Khoa học Công nghệ tàu thủy Phạm Bình Minh (sinh năm 1980): Tốt nghiệp đại học một trường danh tiếng ở Mỹ chuyên ngành kỹ sư vỏ tàu thủy được giữ lại trường nghiên cứu tiếp và được một số công ty ở Mỹ mời làm việc, về nước năm 2003 và làm công nhân ở Nhà máy tàu biển Hyundai một thời gian. Ông Bình cho biết: "Đó là thời gian trải nghiệm để cháu nó hiểu đời sống thực của công nhân đóng tàu. Ông giám đốc nhà máy mãi mới biết đó là con trai tôi vì tìm hiểu cậu công nhân nói tiếng Anh giỏi. Thậm chí, có lần cháu nó suýt chết khi trèo lên kiểm tra hiện trường lúc còn làm công nhân ở đó. Người ta học đại học 5 năm, nó học chỉ ba năm rưỡi đã tốt nghiệp. Về nước còn bị hồ nghi là chưa tốt nghiệp". Thế nhưng, quan lộ của con trai ông như hiện nay là quá hanh thông? Dù thi nhưng khi ông là Chủ tịch HĐQT liệu kết quả có khách quan? "Có hội đồng chấm thi có cả người ngoài và các ứng cử viên phải đứng thuyết trình công khai... Thi đỗ và đủ các tiêu chuẩn rồi cũng có phải được đề bạt ngay đâu. Chứ không hẳn, Chủ tịch HĐQT muốn là được". Theo ông Bình, với năng lực hiện có, con trai ông có quyền lựa chọn vị trí tốt với mức thu nhập cao gấp nhiều lần nếu làm bên ngoài thay vì mỗi tháng lĩnh khoảng 7 triệu đồng ở Viện Khoa học Công nghệ tàu thủy. "Trong tương lai, nếu mà có chuyện gì xảy ra, khả năng các con (con thứ 2 cũng học về đóng tàu biển - PV) tôi sẽ thôi không đi theo niềm đam mê của bố nó nữa", ông Bình thổ lộ. Ông Bình từng chèo lái một con tàu Vinashin khổng lồ trên một hải trình đứt gãy; nhưng xem ra những ngày trước khi bị bắt, ông lại thận trọng dẫn lái con thuyền gia đình để đối mặt với khủng hoảng. Trước khi tạm biệt ông Bình, tôi trộm nghĩ tại thời điểm này, con hổ dữ trên bức bình phong chắn ngang cửa phòng và cả tượng Quan Công hình như không phát huy tác dụng mà chủ nhân mong muốn khi sắp đặt phong thủy. Tượng Gia Cát thì vẫn không thấy đâu…
  17. Đi nhà hàng, ngắm cổ vật Đông Sơn 12 chiếc trống đồng lớn nhỏ, có trống còn nguyên vẹn, có trống đã mất một phần tang trống hoặc sứt chân. Có trống được cho là có niên đại 2.000 năm, có trống 2.200 năm và có trống tới 2.300 năm. Chúng được trưng bày trong một “nhà hàng - bảo tàng” chưa từng có ở Hà Nội. Ngoài cả tá trống đồng, bộ sưu tập này còn bao gồm hàng trăm cổ vật được cho là có niên đại trước cả văn hóa Đông Sơn, từ Phùng Nguyên đến Đồng Dậu, Gò Mun. Đó là hàng trăm di vật như rìu đá, đồ trang sức: vòng tay, hoa tai, bùa và dao đeo cổ. Có di vật nhỏ xíu như kim đá, lưỡi câu đồng. Có di vật tinh xảo nhỏ xinh như vòng đeo tay, đeo chân và trâm cài tóc, khuyên tai. Có di vật tinh xảo nhưng lớn hơn như tượng người nam nữ hoặc dao găm có cán khắc tượng người đàn bà mặc lễ phục và đeo hoa tai, dao găm có cán khắc tượng hai người đàn ông cầm đèn, dao găm có cán khắc tượng người đàn bà cõng người đàn ông, dao găm có cán khắc tượng người đàn ông cầm rìu và thổi kèn. To hơn thì là lẫy nỏ, chuông đồng, tấm che ngực, dao ngọc, kiếm ngọc. Chủ nhân của bộ sưu tập, ông Nguyễn Đại Dương - Giám đốc nhà hàng Trống đồng Đông Sơn (số 1 Trần Đăng Ninh, Hà Nội) đều nhờ đến sự cộng tác của các chuyên gia trong ngành khảo cổ học để xác định niên đại của từng trống đồng cũng như các di vật khác. Ông đã có một “thông báo” chính thức, kêu gọi sự góp ý của những ai quan tâm tới cổ vật thuộc nền văn hóa Đông Sơn: “Để đảm bảo uy tín của nhà hàng cũng như sự trưng bày cổ vật được khách quan trung thực. Chúng tôi kính mong quý vị giám định cổ vật được trưng bày tại nhà hàng. Nếu quý vị chứng minh được hiện vật nào là giả cổ, chúng tôi xin kính biếu 10.000 USD cho mỗi hiện vật được chứng minh là giả cổ (với bằng chứng khoa học hoặc vật đối chứng cụ thể). Thời gian nhà hàng hỗ trợ quý khách giám định cổ vật từ 15 - 20 giờ các ngày trong tuần (trừ chủ nhật và ngày lễ)”. Chỉ là bộ sưu tập của cá nhân và những cổ vật được trưng bày gói gọn trong một không gian cũng tư nhân song đa dạng và trân trọng nên nhà hàng Đông Sơn thu hút nhiều sự quan tâm của những nhà khảo cổ và giới nghiên cứu sử học. Tất nhiên bộ sưu tập làm nhiều người bất ngờ. PGS.TS khảo cổ học Lâm Thị Mỹ Dung - Giám đốc Bảo tàng Nhân học cho biết bộ sưu tập này “đẹp, độc đáo, nhiều hiện vật lần đầu tiên được nhìn thấy”. Bà chỉ lưu ý những chỉ dẫn về niên đại cần cẩn trọng, đặc biệt cần xem xét kỹ hơn về niên đại và xuất xứ của hiện vật đá tiền Đông Sơn. Chú thích niên đại của nhiều hiện vật cũng làm TS. Bùi Văn Liêm, Thư ký Hội đồng khoa học - Viện Khảo cổ học có lưu ý tương tự sau khi nhận xét: “Trang trí xếp đặt hiện vật chứng tỏ chủ nhân có đầu tư lớn và tham khảo nhiều bảo tàng trên thế giới. Sưu tập hiện vật nguyên vẹn, đẹp song cần đầu tư nghiên cứu thêm về niên đại”. PGS.TS khảo cổ Phan Minh Huyền cũng khuyên: “Để thật chính xác về niên đại và giá trị của từng hiện vật, nên chia thành từng nhóm đồ và nhờ các chuyên gia giám định”. PGS. TS Trịnh Sinh - Viện Khảo cổ học cũng chân thành khen “nhiều hiện vật quý giá” nhưng “cần giám định lại một số hiện vật”. Nhiều chuyên gia cũng tỏ ý sẵn lòng giúp vị chủ nhân ngoại đạo với ngành khảo cổ và cổ vật giám định hiện vật. Chẳng hạn TS. Nguyễn Văn Việt - Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam Á ngỏ ý: “Nếu cần, tôi sẵn sàng giúp giám định các hiện vật đồng Đông Sơn và gốm các loại”. TS.Ngô Thế Phong, chuyên gia về thời đại đá, nhà khảo cổ - Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam cũng sẵn lòng giúp giám định, thời gian do chủ nhân bộ sưu tập tự bố trí. Ông Nguyễn Đại Dương vẫn đang âm thầm sưu tập thêm những cổ vật Đông Sơn, tiền và hậu Đông Sơn với một niềm tin mãnh liệt: “Có thể mất hàng năm, chục năm hoặc lâu hơn nữa để chứng minh những cổ vật bằng đá được trưng bày trong bộ sưu tập cá nhân của tôi là của tổ tiên người Việt thuộc giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Dậu, Gò Mun - chính là nền tảng hun đúc nên nền văn minh Đông Sơn, nền văn minh đánh dấu sự ra đời của nhà nước Văn Lang Âu Lạc, nhà nước đầu tiên của các vua Hùng. Nhưng tôi luôn tin rằng chân lý vẫn đang ở phía trước, và những cổ vật trong bộ sưu tập này sẽ cất lên tiếng nói về giá trị lịch sử của nó”. Hải Nguyệt Việt Báo (TheoThanhNien)
  18. Chào Ban QTDĐ. 2. Lớp Phong thủy Lạc Việt nâng cao khóa 01: - Khai giảng: ngày 11/8/2010 (tức 02/7/ canh dần) - Thời gian: 04 tháng - Hình thức học: học trực tuyến trên web: lyhocdongphuong.org.vn và họp mặt định kỳ 01 lần/01tháng. - Nội dung chính: * Cấu trúc hình thể trong Phong thủy Lạc Việt *Dương trạch Lạc Việt Xin cho hỏi có phải sau khi học xong lớp LTLV cơ bản là có thể tham gia lớp học này hay không. Trân trọng cảm ơn.
  19. Mọi phân tích đều phù hợp cả, riêng giá thầu của Nhà thầu Trung Quốc thấp nên dễ đàm phán.
  20. Tứ diệu đế - từ góc độ phương pháp luận khoa học PGS. TS. Hà Vĩnh Tân, Viện Vật lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam Khi còn nhỏ, những câu chuyện cổ tích mà bà và mẹ kể về Bụt đã để lại trong lòng tôi hình ảnh một ông cụ râu tóc bạc phơ đầy từ bi, luôn hiện ra đúng lúc, đúng chỗ, dùng phép lạ cứu giúp muôn chúng sinh qua mọi cảnh khổ nạn: Dáng Bụt điềm đạm, thanh cao, Lời Bụt ấm áp, thấm vào tâm ta Lòng Bụt rộng mở bao la, Mắt Bụt thấu hiểu, chan hòa tình thương Lớn lên, trở thành một Phật tử, tôi mới hiểu ra rằng Bụt không dùng phép lạ để cứu giúp chúng ta, mà Bụt chỉ trao truyền cho chúng ta những phương pháp để tự mình tu tâm, dưỡng tính, hoàn thiện nhân cách và hơn nữa cho chúng ta một nghệ thuật sống và làm việc để mang lại niềm hạnh phúc đích thực cho chính mình và mọi người, theo tinh thần “tự độ độ tha, tự giác giác tha”. Tâm thông hết thảy đều không, Tâm mê có mắt mà không thấy đàng, Phật trao ta Ánh đạo vàng, Tự mình khám phá thiên đàng Tự Tâm Trong bài ngắn này tôi xin thử lý giải giáo lý Tứ diệu đế từ góc độ khoa học, chia sẻ tâm nguyện của mình với những ai quan tâm đến việc hiện đại hóa Đạo Phật, và kết hợp Phật Pháp với khoa học kỹ thuật trong việc truyền bá và áp dụng vào cuộc sống. Như ta biết, Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành Đạo cho năm anh em A nhã Kiều Trần Như, diễn ra tại vườn Lộc Uyển, về phía bắc thành Ba la nại. Xem lại đoạn Phật thuyết giảng về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân – bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc rằng, Tứ diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Phật. Ngài đã tìm ra sự thật đen tối nhất của cõi đời là bệnh, già, chết và sự phiền não thường trực trong lòng mỗi người, ngài gọi là Khổ (Khổ đế). Sự thật thứ hai ngài tìm ra là nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập (Tập đế). Sự thật thứ ba ngài tìm ra là pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập diệt (Diệt đế). Và sự thật thứ tư ngài tìm ra là con đường cho mọi người đi tới hạnh phúc, an vui vĩnh cửu, ngài gọi là Khổ tập diệt đạo (Đạo đế). Thiền sư Minh Đăng Quang trong bộ sách “Chân Lý” có luận giảng một cách hình ảnh về vai trò then chốt của giáo lý Tứ diệu đế như sau: “Pháp chánh giác có ra là do tứ diệu đế. Pháp là chính giác, là pháp của trong tứ diệu đế, do tứ diệu đế sinh ra. Chánh giác là Pháp, là tiếng trống, tứ diệu đế là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt trống, Bởi có mặt trống, Phật mới chỉ ra dùi trống, dùi chạm mặt, mới sinh ra tiếng trống, tiếng ấy là pháp chánh giác. Còn chúng sanh là người nghe. Bởi chúng sanh sầu khổ, nên Phật mới nói rằng: Này là khổ, vấn đề, đề mục khổ. Này nguyên nhân sanh ra khổ, là tập, vấn đề, đề mục tập. Này phép diệt khổ, là diệt, vấn đề, đề mục diệt. Này là Đạo diệt luân hồi khổ, vấn đề, đề mục đạo. Đạo là con đường đi sau khi diệt luân hồi khổ. Diệt là diệt bỏ 12 nhân duyên tập của luân hồi. Tập là sanh tử luân hồi, để chứa khổ, khổ là bởi tập luân hồi, vì không diệt đạo”. Phương pháp mầu nhiệm diệt khổ đau trong Giáo lý Tứ diệu đế của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đã được trao chuyền qua bao trái tim khối óc bao người, vượt bao sự thăng trầm biến động của lịch sử, ngày nay may mắn lại đến tận tay và đi vào tâm trí thế hệ chúng ta. Được sống và tu nương vào ánh sáng của Tứ diệu đế, ta xin chân thành cảm ơn Người: “Tâm viên, ý mã” khổ làm sao, Sai khiến ta đi khắp nẻo nào, Ơn Phật phát minh Pháp mầu nhiệm, Phục tâm kiềm ý tuyệt biết bao" Là người nghiên cứu khoa học lại có duyên nghiên cứu Phật Pháp, tôi nhận thấy trong giáo lý của Phật cũng hàm chứa một cách vi diệu, những phương pháp luận có nhiều điểm tương đồng với phương pháp luận khoa học. Chúng ta biết rằng, khoa học là một động lực quan trọng trong quá trình nhận thức và tiến hóa của nền văn minh nhân loại. Rất nhiều nhà khoa học đã có những phát minh quan trọng, cũng như chịu sự hy sinh to lớn vì bảo vệ chân lý nha Nicôlai Côpecnich hay Galileo Galilei. Tôi muốn nhắc tới trong số các nhà khoa học cận đại như: Thomas Edison, nhà phát minh công nghệ vĩ đại với 1.093 bằng sáng chế riêng tại Hoa Kỳ, Albert Einsntein – nhà vật lý học vĩ đại đặt nền móng cho vật lý hiện đại với năng lượng hạt nhân và khoa học kỹ thuật không gian, hay Von Neumann – nhà toán học lỗi lạc, mà riêng sự phát minh ra máy tính điện tử của ông đã đem đến cho chúng ta một loạt các thiết bị khoa học kỹ thuật cốt lõi của kỷ nguyên văn minh thông tin. Nhân loại đã chế tạo ra các công cụ lao động và sáng tạo ra cả các phương pháp tư duy cùng các thiết bị nghiên cứu khoa học. Các phương pháp hay các lập luận khoa học là một quá trình, thường được trình bày như các bước nối tiếp nhau theo một trình tự logic. Có một nhận xét đáng chú ý là: đa số các quá trình lập luận này mang tính tuần hoàn, còn gọi là “chu trình lôgic”. Có nghĩa là, cứ sau một số bước nhất định, các bước lại được lặp lại. Ở đây tôi xin gọi là các phương pháp luận có bốn bước trong một chu trình là “Tứ đoạn luận pháp”. Các Tứ đoạn luận pháp trong thực tế gồm bốn bước lặp đi lặp lại theo chu trình, nhưng sau mỗi một vòng quay lại được điều chỉnh thành tốt hơn, hoàn thiện hơn, cuối cùng là đi đến kết quả mong muốn. Để làm sáng tỏ khái niệm Tứ đoạn luận pháp trong thực tiễn, chúng ta hãy hình dung Tứ đoạn luận pháp này như hình ảnh các bực thang trên một chiếc cầu thang xoay trôn ốc trong nhà, mà cứ bước thứ tư sau đó lại nằm ngay trên bước ấy theo chiều thẳng đứng (bước thứ 5 nằm ngay trên bước thứ 1). Đến đây chắc độc giả có thể đặt câu hỏi: Tứ diệu đế có phải là một Tứ đoạn luận pháp không? Nếu hiểu Tứ diệu đế như một sự thực tập, cũng như các phương pháp khoa học là dùng để áp dụng vào cuộc sống thực tiễn, thì Tứ diệu đế phải được coi như một Tứ đoạn luận pháp. Phật chỉ ra một sự thật là trong cuộc đời này, chúng sinh gặp bao nhiêu phiền não, sầu khổ về hoàn cảnh, về thể xác và tâm hồn. Phật trao cho chúng ta Tứ diệu đế như một sự thực tập, một phương pháp tu tập nhằm giúp con người tự mình giải phóng khỏi mọi phiền não khổ đau, đi đến niềm hạnh phúc an lạc, đích thực. Có một vị thiền sư đã nói rằng:”Tứ diệu đế không phải là một lý thuyết, tứ diệu đế là một công trình thực tập. Tứ diệu đế không chỉ là nguyên tắc của sự thực tập, tứ diệu đế là bản thân của sự thực tập” giúp ta giải thoát khỏi u minh - nguồn gốc của mọi phiền não khổ đau, đi đến mục tiêu là giác ngộ chân chính và xây dựng Tịnh độ trong tâm mỗi con người và trên cả thế gian này. Ta có một nhận xét thú vị là, những phương pháp luận mang tính tứ đoạn luận trong thực tiễn khoa học thuộc loại rất phổ biến và thường là phương pháp tổng quát (general method) trong việc giải quyết vấn đề (problem solving), thu nhận kiến thức (obtaining knowledge), và phát minh bí quyết công nghệ (obtaining know-how). Đây chính là các phương pháp luận quan trọng nhất trong thực tiễn: 1. PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC (Scientific method) dùng trong nghiên cứu và phát minh khoa học nói chung, à ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Khoa học”. Bây giờ ta xem xét cụ thể các bước trong tứ đoạn luận “Khoa học” là: Bước 1- Mô tả đặc tính (Charaterization from experience and observation): Mô tả đặc tính của hiện tượng vấn đế. Bước 2- Lập giả thiết (Hypothesis: a proposed explanation): Đặt giả thiết, căn cứ để giải thích. Bước 3- Suy luận lôgic (Deduction: prediction from the hypothesis): Các suy luận, tiên đoán từ giả thiết. Bước 4- Kiểm chứng (Test and experiment): Các phép thử và thí nghiệm kiểm chứng Bước 5- (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại mô tả đặc tính mới: Mô tả đặc tính của hiện tượng một cách đúng hơn chi tiết hơn. 2. PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC (Mathematical method) dùng riêng trong nghiên cứu và sáng tạo toán học, mà ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Toán học”.Các bước trong tứ đoạn luận “Toán học”. Bước 1- Sự hiểu (Understanding): Đây là sự hiểu tương đối xuất phát về đối tượng. Bước 2- Phân tích (Analysis): Sự mổ xẻ đi sâu vào chi tiết sự hiểu của mình so với thực tại. Bước 3- Tổng hợp (Synthesis): Tập hợp hay tích hợp lại những sự phân tích và nhận xét lẫn phát hiện mới của ta thu được trong sự mổ xẻ cái đã hiểu lại. Bước 4- Tổng quan và mở rộng (Review/ Extend): Liên hệ với những điều ta hoặc người ta đã biết khác mở rộng cái hiểu bao quát hơn. Bước 5- (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn): Lại làm mới thêm sự hiểu: Ta thu được cái hiểu mới về đối tượng nghiên cứu. 3. PHƯƠNG PHÁP THỬ VÀ SAI MỞ RỘNG (Generalized trial and error method) dùng phổ biến trong nghiên cứu và phát minh các bí quyết công nghệ (know-how), mà ở đây ta gọi tắt là tứ đoạn luận “Thử và sai”.Các bước trong tứ đoạn luận “Thử và sai” là: Bước 1- Thử (Trial) Mô tả phép thử làm một việc nào đó với một ý tưởng xuất phát, thử dùng một phương pháp, một công cụ phương tiện mà mình cho là hợp lý, thử lên một kế hoạch nhằm đạt một mục đíhc mong muốn nào đó… Bước 2- Sai (Error): Sau khi thử thực hiện những điều đã dự định, kết quả thu được lại không như ý, hoặc không đúng như ta dự báo, mong muốn… Bước 3- Phân tích (Analysis): Phân tích tìm hiểu ngọn ngành nguyên nhân cái sai nằm ở đâu. Bước 4- Sửa sai (Correction): Có nghĩa, tìm ra cách khác mà ta cho là tốt hơn và không chứa những điều sai mà ta đã nhận ra ở bước “hiểu cái sai”. Bước 5- (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại thử thêm lần nữa: Tiếp tục thử một lần nữa ới sự khắc phục hay loại trừ cái sai. Cả ba phương pháp tứ đoạn luận nói trên đều chung một đặc tính là gồm bốn bước lặp lại theo chu trình đi lên. Nếu phân tích chung sâu hơn, ta sẽ nhận thấy các tứ đoạn luận này về ý nghĩa hay logic có bản chất tương tự nhau, và chỉ chia làm 3 phương pháp khác nhau về hình thức để áp dụng cụ thể cho phù hợp với 3 đối tượng khác nhau mà thôi.Nhìn lại cuộc sống, ta có thể dễ dàng nhận ra một sự thật là: Khi ta không làm việc gì thì nói chung là không sao, còn nếu a cứ làm một việc gì đó thì xme kỹ lại vẫn tìm ra được những điều sai sót (không lớn thì nhỏ). Như vậy, “sai và thiếu” là những điều mà khó ai có thể tránh khỏi, nên chúng không đáng làm ta lo sợ. Điều đáng sợ hơn chính là khi ta không nhận ra các sai lầm đó để quyết tâm sửa chữa. Đây chính là bản chất của Phương pháp “Thử và Sai”. Điều này tương tự như Bản chất của phương pháp “Tứ diệu đế” mà Phật đã giác ngộ và chỉ ra cho chúng ta: mọi sự đau khổ của cuộc đời không phải là Định mệnh, mà chúng ta đành cam chấp nhận. Ngược lại, chính bằng sự tu tập theo phương pháp “Tứ diệu đế” ta có thể giải thoát mọi khổ đau của cuộc đời. Để làm nổi bật cách vận hành của Tứ diệu đế trong sự tu tập, ta hãy so sánh sự tương đồng của Tứ đoạn luận “Tứ diệu đế” với Tứ đoạn luận “Thử và sai” qua bảng sau: Các bướcThử và SaiTứ Diệu Đế1Sai lầmKhổ đế - những sự khổ2Hiểu nguyên nhân sai lầmKhổ Tập đế - hiểu nguyên nhân của khổ3Sửa nguyên nhân sai lầmKhổ Tập Diệt đế - Tìm phương pháp diệt khổ4Thử sau khi Sửa nguyên nhân sai lầmĐạo Khổ Tập Diệt đế - Con dường diệt khổ5 ... Lại vẫn còn Sai lầm khác …Quay lại Khổ đế ở mức khác …Ta thử phân tích và so sánh kỹ hơn bảng trên: Bước 1: Khổ đế nha một Sự thật nhưng lại không phải “Sự thật tất yếu, không sửa chữa được”, mà đó chỉ là một sự thật xảy ra trong tâm ta do hoàn cảnh tác động, gây đau khổ cho ta cũng chỉ giống như một Sai lầm của nhân thức mà ta hoàn toàn có thể sửa chữa được. Bước 2: Sự thật này có nguyên nhân của nó (Khổ Tập đế), mà khi ta hiểu ra như hiểu “nguyên nhân của Sai lầm”. Bước 3: Khi hiểu nguyên nhân rồi ta sẽ loại trừ được nó (Khổ Tập Diệt đế) như việc sửa chữa nguyên nhân Sai lầm. Bước 4: Bước cuối cùng trong chu trình này là ta lại tiếp tục sống và làm việc, hoạt động theo cách đúng đắn với những nguyên nhân của Sai lầm đã được nhận ra một phần và đã được sửa chữa một phần (Đạo Khổ Tập Diệt đế). Đến đây chu trình lại quay lại từ đầu nhưng ở mức hoàn thiện hơn sau quá trình tu tập: Bước 5- Đúng như những gì xảy ra trong thực tiễn, Sai lầm là có, tuy nhiên chưa thể dễ dàng nhận ra được hết nó, và cũng chưa thể sửa chữa hết ngay những sai lầm đã hiểu nguyên nhân, nên trong quá trình sửa chữa ta lại vẫn còn có Sai lầm khác… cứ thế bước 5 này chính là quay lại bước 1 ở mức hoàn thiện cao hơn mà thôi. Phân tích đến đây, tôi nhớ lại đoạn văn tả lại giây phút Phật thành đạo trong cuốn “Đường xưa mấy trắng” (tác giả Thích Nhất Hạnh): vào một buổi sáng bình minh, sau 49 ngày đêm ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề cổ thụ, Siddhatta (tên của Phật lúc đó) bừng mở mắt và chợt thấy “sao Mai hiện ra như một ngôi sao mới, chói sáng và lấp lánh mừng vui như nụ cười giác ngộ. Ông sững nhìn ngôi sao Mai rồi buột miệng lên tiếng: “Lạ thay, tất cả mọi chúng sanh đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ trong lòng. Vậy mà trong ngàn muôn ức kiếp cứ để cho tự mình lặn ngụp trong biển sinh tử khổ đau thật đáng thương”. Siddhatta biết rằng đạo lớn đã được tìm ra, và hoài bão lớn của ông đã đạt được với một tâm hồn an lạc thư thái…” Ngay ở chỗ này mà tôi chợt nhận ra một điều, Phật cũng chính là một nhà khoa học, một nhà khoa học tâm linh vĩ đại. Bằng công trình thực nghiệm thiền quán 49 ngày đêm (trên chính bản thân mình), Phật là người đầu tiên nhận ra một chân lý, như một phát minh vĩ đại trong lịch sử nhân loạt thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn: “Tất cả mọi người đều có sẵn hạt giống của trí tuệ giác ngộ trong lòng”. Phật gọi hạt giống của trí tuệ giác ngộ là Giác tính, còn ngày nay chúng ta thường còn gọi là “Phật tính”. Và các phương pháp mà Phật dạy truyền cho chúng ta nhằm tự tu tập để tiến tới giác ngộ và giải thoát là “Phập pháp”. Điều này giống như trong khoa học, người ta gọi bảng tuần hoàn của các nguyên tố là bản tuần hoàn Meldeleev theo tên nhà hóa học lỗi lạc Dmitri Ivannovich Mendeleev đã phát minh ra nó hay như Lý thuyết tương đối Einstein theo tên nhà vật lý vĩ đại Albert Einstein đã viết ra nó… Nhận ra Giác tính trong tâm mình và cùng lúc trong mọi chúng sinh, ngài không dừng ở việc nhận biết cái khổ của nhân loại (Khổ đế), ngài đẩy xa hơn ánh sáng trí tuệ của mìn tới việc tìm ra nguyên nhân đau khổ. Vâng, đây là một logic tất yếu sau khi ta coi Khổ đế là một sai lầm của nhận thức. Vì thấy sự đau khổ đó là do Sai lầm nên Ngài quan sát sâu sắc cái sai lầm dưới cá nhìn thiền quán và đã bước sang Thấu hiểu sai lầm, mà ngài gọi là Tập đế (Khổ tập đế). Tìm được nguyên nhân của đau khổ rồi ngài lại tìm ra phương pháp, pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên nhân đau khổ. Nếu Khổ tập đế là hiểu cái sai lầm, thì theo sự so sánh như trên ta thấy ngài bước tiếp một bước nữa sang sửa cái sai lầm, mà ngài gọi là Diệu đế (Khổ tập diệt đế). Diệt xong khổ, ngài còn tìm và chỉ ra con đường cho mọi người đi tới cảnh giới hạnh phúc, an vui vĩnh cửu, ngài gọi là Đạo đế (Khổ tập diệt đạo đế). Đây chính là bước cuôci cùng thử sau khi sửa sai lầm. Vấn đề khi ta áp dụng tứ đoạn luận pháp chính là tính lặp lại theo chu kỳ đi lên. Tức là sau khi Thử sau khi sửa sai lầm ta thường không đạt được cái đúng ngay. Tương tự, ở đây trong quá trình tu tập Đạo đế ta chưa thể đạt được sự an lạc thảnh thơi hoàn toàn, có nghĩa là ta vẫn còn ít nhiều cái khổ. Nói cách khác ta vẫn còn cái sai lầm. Nhưng cái sai lầm này (ở bước 5) đã khác hơn cái sai lầm trước đó (ở bước 1) ở chỗ sai ít hơn hoặc sai dễ sửa hơn, và ta hãy yên tâm là mình đang tiến dần đến mục tiêu hơn qua mỗi chu trình thực tập. Việc so sánh Tứ diệu đế với Phương pháp luận khoa học như trên còn giúp tôi nhận thức ra một sự thật quan trọng nữa: Khoa học và Đạo học chân thực là hai con đường nhận thức cơ bản của loài người, quyện hòa với nhau, bổ sung cho nhau nhằm đưa nhan loại vượt thoát hết mọi phiền não và khổ đau của sinh tử luân hồi đạt tới mục tiêu cao quý là sự giác ngộ Chân lý, và sống An lạc, Hạnh phúc ngay tại cuộc đời này. Đơn thuốc của Đạo Phật trong thời kinh tế thị trường, Chủ nghĩa Tư bản Các bướcNguyên tắc hướng dẫnTứ Diệu Đế1Cuộc đời có đau khổ: - Chủ nghĩa tiêu thụ thái quá - Ảo tưởng, hoang đường về thịnh vượng, hạnh phúc, trường tồn - Thiếu giá trị dẫn dắt, trừ lòng tham - Sự hung hăng, gây hấn, lòng tham, thù hận và vô mình Khổ đế - những sự khổ Gồm tất cả những cảm giác, kinh nghiệm không vừa ý về vật chất (đau ốm, thất nghiệp, cháy nhà, phá sản) và về tinh thần (ảo tưởng, chán nản, lo lắng, thương tiếc). Chúng lúc phát sinh, lúc biến đi – vô minh. 2Nguyên nhân cuộc đời đau khổ là Ham muốn và Vướng mắc: - Lòng tham: không vao giờ biết đủ, thiếu vắng niềm tin làm cho đau khổ - Cạnh tranh không giới hạn - Mọi cái không sinh lời đều đáng vứt bỏ - Giả định không lành mạnh: chấp nhận lòng tham, hận thù và thỏa mãn cá nhân; không chấp nhận luật nhân quả Khổ Tập đế - hiểu nguyên nhân của khổ Tam độc là nguyên nhân của đau khổ cho ta và cho người khác: 1. Tham (lòng tham, ham muốn, quyến luyến). 2. Sân (giận dữ, ghét bỏ) 3. Si (vô minh, mê mờ, ngu dốt) 3Sửa nguyên nhân sai lầm - Các mối quan hệ công bằng phụ thuộc, tin cậy lẫn nhau - Sự hợp tác không ích kỷ - Các hành động dựa trên ý nghĩ và ý định tích cực - Hạnh phúc là sự ưu tiên Khổ Tập Diệt đế - Tìm phương pháp diệt khổ Giải thoát khỏi đau khổ - vô minh bằng cách nhận rằng tích lũy vật chất, của cải chẳng có ích lợi gì cho cuộc sống tinh thần của ta. Việc bám víu vào đau khổ và giải thoát ta khỏi vòng luân hồi của ham muốn là kết quả của ý nghĩa và hành đọng của chúng ta. 4Thoát khỏi đau khổ: Sau khi Sửa nguyên nhân sai lầm - Tuân đúng luật Nhân quả (nhận thức được mọi hành động đều có hậu quả của nó) - Trí tuệ: hành động theo giá trị chung, xây dựng với vô thường - Giảm những bấu víu, tích cực đóng vào sự cân bằng và hòa hợp chung; phù hợp với tầm nhìn xã hội - Phát triển tâm linh, tinh thần - Lợi nhuận và hạnh phúc là bình đẳng với nhau - Làm việc có trách nhiệm với sản phẩm và dịch vụ - Tạo nên xã hội tốt đẹp hơn là trách nhiệm xã hội Đạo Khổ Tập Diệt đế - Con đường diệt khổ. Bát Chánh đạo là con đường thoát đau khổ và ham muốn. 1. Chánh kiến: có hiểu biết chân chính 2. Chánh tư duy: tư duy lành mạnh, khước từ tham vọng, ý định thiện chí và không gây hại 3. Chánh ngữ: ngôn ngữ luôn bắt nguồn từ tâm (trung thực, không làm tổn hại, không xúc phạm, không lăng mạ, tránh chuyện tầm phào) 4. Chánh nghiệp: hành động dựa trên chánh tư duy, đạt kết quả không gây hại. 5. Chánh mạng: kiếm sống đúng luật, có đạo đức và phẩm hạnh 6. Chánh tinh tấn: từ tốn, chậm rãi, tránh những trạng thái tiêu cực cho tâm 7. Chánh niệm: hiểu rõ cách sử dụng tâm để rèn tâm sắc bén như một kỹ năng sống 8. Chánh định: sử dụng tâm để có những lựa chọn và quyết định khôn ngoan 5Lại vẫn còn Sai lầm khác … Quay lại Khổ đế ở mức khác … Nguồn: Tạp chí Phật Học
  21. Chưa thấy kiến trúc trụ sở của một tập đoàn công nghiệp lớn mà quốc gia phải đi vay tiền quốc tế cho nhằm phục vụ kinh doanh mà quá tệ như thế này. Không hiểu nổi, trông giống như cái nhà tập thể không mục tiêu.
  22. Trích từ trang web 24h: Sau khi hoàn thành nhiệm vụ “tiên tri” trận tranh ba tư, Paul đã tiếp tục dự đoán trận Chung kết được rất nhiều người chờ đợi giữa Hà Lan và Tây Ban Nha với cách làm tương tự. Kết quả, Paul đã chọn hộp có lá cờ của ĐT Tây Ban Nha. Đây là lần đầu tiên tại World Cup năm nay, “Gia Cát” Paul dự đoán một trận đấu không có đội tuyển Đức. Bởi vậy, chẳng ai dám chắc, chú bạch tuộc này có làm tốt được như những lần trước đó hay không. Tại trận Chung kết Euro năm 2008, Paul cũng từng đưa ra dự đoán Đức là đội vô địch nhưng lại sai. Paul đã dự đoán Tây Ban Nha thắng. Tây Ban Nha đang trong giai đoạn hưng thịnh sau khi đoạt cúp vàng EURO 2008 với thế hệ cầu thủ hiện nay, hy vọng chu kỳ này vẫn đang còn ngự trị trong trận đấu cuối cùng.
  23. Kết quả những “lời sấm” của chú bạch tuộc Paul chuẩn đến mức nhiều người còn dọa giết sau khi lời tiên đoán của chú trở thành sự thật. Tại Euro 2008, Paul chỉ đoán sai duy nhất trận chung kết giữa Đức và Tây Ban Nha (đoán Đức thắng). Còn tại World Cup 2010 này, chú bạch tuộc 2 tuổi này chưa dự đoán sai một trận nào. Chắc là chú Paul 'khắc' với đội tuyển Tây Ban Nha rồi. Trận chung kết World Cup 2010 này giữa Tây Ban Nha và Hà Lan chắc chắn diễn ra rất kịch tính và hấp dẫn ở trong một trận chiến đôi công. Hà Lan đã tiến vào trận chung kết nhờ vận may và vai trò của bộ não tiền vệ trung tâm Sneider và tiền đạo cánh phải Robben (2 cầu thủ này cũng đang hên lắm, Sneider có cúp vàng và Robben huy chương bạc UEFA năm nay và cũng chính họ làm nên các bàn thắng quan trọng ở World Cup này), như vậy Tây Ban Nha chỉ cần bắt chết Sneider và túm chặt Robben thì Hà Lan chỉ còn có bó tay chịu trói mà thôi. Ngoài ra chúng ta cũng nên chú ý tới sức mạnh của hàng tiền vệ của Tây Nha, hàng hậu vệ với sự chỉ đạo của trung vệ Puyon thì cũng ok luôn, trong khi đó hàng tiền đạo đang vào phom với cặp sát thủ Villa và Torres. Đội tuyển Đức mạnh như thế và thường xuyên dùng không chiến đã còn không làm gì được thì Hà Lan khó có cửa lắm. Nếu huấn luyện viên đội tuyển Hà Lan là Người đặc biệt Murinho thì có thể cân nhắc, may không phải. Dự đoán: Tân Ban Nha - Hà Lan 2:0. Paul dự đoán đúng - sai: sẽ chờ xem (nếu Paul đoán Hà Lan thắng).
  24. Chào Bác Laido. Rất tuyệt vời La kinh Lạc Việt, xin cho Hoangnt đang lý 1 cái. Thân mến.
  25. THĂNG LONG HOÀI CỔ Tạo hóa gây chi cuộc hý trường Đến nay thấm thoát mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước còn cau mặt với tang thương Ngàn năm gương cũ soi kim cổ Cảnh ấy người đây luống đoạn trường Tác giả: Bà Huyện Thanh Quan
      • 2
      • Like
×
×
  • Create New...