songHan
Hội viên-
Số nội dung
77 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
1
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by songHan
-
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
xin ghi nhận và thành thật xin lỗi vì những lời không phải với bạn trước đâythân chào quasar -
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Anh Thiên Sứ thân mếnMặc dù không chuyên sâu lắm nhưng quasar cũng hiểu đại loại giống như vậy chẳng hạn khi toàn bộ vũ trụ này bỗng nhiên chuyển động theo một hướng với vận tốc bằng c thì thuyết tương đối cho rằng điều đó không có nghĩa gì cả,trừ khi nó để lại đằng sau một hành tinh đứng yên để có đối tượng so sánh vận tốc với nó, và trong cả hai trường hợp -theo TTĐ- vạn vật trong vũ trụ lúc đó vẫn không cảm thấy có gì thay đổi cả trừ cái hành tinh bị bỏ lại đằng sau bị dẹp lại như tờ giấy và hoàn toàn bất động, nhưng người trên hành tinh này lại có cảm giác đối lại giống y như vậy, và tất cả chỉ là tương đối. Không biết quasar hiểu như vậy có đúng không , xin các cao nhân chỉ giáo. Thân chào quasar -
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Chúng ta hãy cùng tham khảomột đoạn trích từ 'thuyết tương đối cho mọi người': Bây giờ chúng ta có thể xem xét hiện tượng co rút Lorenxơ - Phitxojeral của thuyết tương đối hẹp từ quan điểm mới: từ quan điểm của Mincopxki, nói một cách khác là từ quan điểm của nhà bác học bốn chiều của chúng ta. Như chúng ta đã thấy khi hai còn tàu vũ trụ đi sát bên nhau trong trạng thái chuyển động tương đối, người quan sát trên mỗi con tàu phát hiện ra những thay đổi nào đó hình dạng của con tàu kia, cũng như những thay đổi tốc độ của đồng hồ trên con tàu khác. Điều đó xảy ra do nguyên nhân rằng không gian và thời gian không phải là những đại lượng tuyệt đối không phụ thuộc lẫn nhau. Chúng giống như người ta vẫn thường nói, là hình chiếu của các đối tượng không gian thời gian. Nếu đặt cuốn sách đối diện với nguồn sáng và chiếu bóng nó lên thành hai chiều thì khi xoay cuốn sách, có thể thay đổi bóng của nó. Ở vị trí này, bóng của cuốn sách là một hình chữ nhật rộng, ở vị trí khác lại là hình chữ nhật hẹp. Bản thân cuốn sách không thay đổi hình dạng chỉ có cái bóng hai chiều của nó thay đổi mà thôi. Bằng cách tương tự người quan sát nhìn thẳng cấu trúc bốn chiều, chẳng hạn một con tàu vũ trụ trong những hình chiếu ba chiều khác nhau tùy thuộc vào điều là nó chuyển động như thế nào với con tàu. Trong một số trường hợp hình chiếu choán nhiều không gian hơn và ít thời gian hơn, trong các trường hợp khác thì ngược lại. Những thay đổi anh ta quan sát được trong các sơ đồ không gian và thời gian của con tàu khác, có thể giải thích là sự "đảo" con tàu trong không - thời gian dẫn đến sự thay đổi hình chiếu của nó đối với không gian và thời gian. Chính Mincopxki đã có ý như vậy khi (năm 1908) ông bắt đầu bài giảng nổi tiếng tại đại hội lần thứ 80 của hội các nhà khoa học tự nhiên và vật lý học của Đức. Bài giảng này đã được công bố trong cuốn sách "Nguyên lý tương đối" của Anbe Anhxtanh và những người khác. Không có một cuốn sách phổ biến nào về thuyết tương đối là hoàn hảo mà không có trích dẫn từ bài giảng của Mincopxki: "Các quan điểm về không gian và thời gian mà tôi muốn trình bày trước các bạn đã được phát triển trên cơ sở của vật lý thực nghiệm và đó là sức mạnh của chúng". Chúng thật là cơ bản. Từ nay bản thân không gian và bản thân thời gian đều được thể hiện trong các hình dáng đơn giản và chỉ có sự thống nhất nào đó của cả hai mới giữ gìn một thực tế độc lập. Từ đó hiểu ra rằng cấu trúc không - thời gian, cấu trúc bốn chiều của con tàu vũ trụ vẫn là bền vững và không thay đổi giống như trong vật lý cổ điển. Ở đây có sự khác biệt căn bản giữa lý thuyết co rút đã bị bác bỏ của Lorenxơ và lý thuyết co rút của Anhxtan. Đối với Lorenxơ sự co rút là co rút thực tế của vật thể ba chiều. Đối với Anhxtanh vật thể thực tế là vật thể bốn chiều không bị thay đổi. Hình chiếu ba chiều của nó và thời gian có thể thay đổi, nhưng con tàu bốn chiều trong không gian thời gian là không thay đổi. Đó là một minh chứng khác cho thấy tuyết tương đối đã chấp nhận những tuyệt đối mới. Hình dạng bốn chiều của vật thể rắn là tuyệt đối và không thay đổi. Tương tự như vậy, khoảng cách bốn chiều giữa hai sự kiện trong không gian thời gian là khoảng cách tuyệt đối. -------------------------------------------------------------------------- Qua trên ta hãy để ý: Ở đây có sự khác biệt căn bản giữa lý thuyết co rút đã bị bác bỏ của Lorenxơ và lý thuyết co rút của Anhxtanh. Đối với Lorenxơ sự co rút là co rút thực tế của vật thể ba chiều. Đối với Anhxtanh vật thể thực tế là vật thể bốn chiều không bị thay đổi. Hình chiếu ba chiều của nó và thời gian có thể thay đổi, nhưng con tàu bốn chiều trong không gian thời gian là không thay đổi. Như vậy thuyết tương đối không chấp nhận một sự co rút thật sự nào cả bởi tất cả chuyển động chỉ là tương đối Nếu hiểu như vậy thì không biết có tương tác gì với ý thứ nhất của anh Thiên Sứ không, còn ý thứ hai thì quasar không có ý kiến gì @Votruoc Tôi cũng cho rằng đó là hệ quả của tiên đề vận tốc ánh sáng trong chân không bằng c = const đối với mọi hệ qui chiếu Và đó cũng là cái thắc mắc chính đáng của Mieumap Trước mắt thì ta chỉ thấy đồng hồ có co dãn, còn thời gian có co dãn hay không thì là một vấn đề hoàn toàn khác Do đó, những thí nghiệm về sự co dãn của thời gian bằng đồng hồ nguyên tử đã vô tình là một bằng chứng khiến cho người ta phải xét lại thuyêt tương đối -
Cảm ơn câu trả lời của anhThân chào Quasar
-
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
16/11/2007 Ai cũng biết Thuyết tương đối hẹp nổi tiếng của Albert Einstein đã chỉ ra rằng thời gian bị trôi chậm lại trong một hệ quy chiếu chuyển động, và một lần nữa các nhà nghiên cứu lại xác nhận điều này bằng các kết quả thí nghiệm chính xác gấp 10 lần so với các kết quả đã từng thực hiện trước đó. Các kết quả này được khẳng định bởi một nhóm các nhà khoa học đến từ Đức và Canada, những người đã ghi lại chính xác thời gian trong một "tích tắc" mà các ion Lithium va chạm xung quanh một vòng ở vận tốc xấp xỉ vận tốc ánh sáng. Khi ta đặt hai đồng hồ cạnh nhau, nếu chúng có cùng độ chính xác thì chúng phải luôn chỉ cùng một thời gian. Tuy nhiên, khi một chiếc chuyển động nhanh, quan sát viên đứng bên cạnh chiếc đồng hồ đứng yên có thể quan sát thấy chiếc đồng hồ này bị chạy chậm đi. Đó là hiệu ứng co giãn thời gian được tiên đoán bởi Albert Einstein trong líthuyết tương đốihẹp được xuất bản từ năm 1905, và đã từng được kiểm chứng rất nhiều lần. Lần kiểm chứng đầu tiên được tiến hành vào năm 1938 bởi thí nghiệm của Herbert Ives và G.R. Stillwell với sai số 1% so với tiên đoán, và lần gần đây nhất được kiểm chứng bởi hệ thống đồng hồ nguyên tử trên Trái đất với sự hỗ trợ của hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS). Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn không ngừng tiến hành các đo đạc để kiểm chứng sự lệch thời gian theo lí thuyết này. Ví dụ như các nhà khoa học cố gắng tìm sự lí giải cho câu hỏi tại sao lại có nhiều vật chất hơn là phản vật chất trong vũ trụ dẫn đến việc vi phạm định lí CPT*, đã phát biểu rằng các định luật vật lí luôn giữ nguyên tính chất nếu các điện tính, tính chẵn lẻ và tính chất đảo thời gian của một hạt đều cùng nhau đảo ngược. Sự vi phạm CPT có thể được "thanh minh" bởi sự vượt quá của các vật chất thông thường có thể quan sát được, nhưng cũng có thể dẫn đến việc những phương trình dưới Mô hình chuẩn của vật lí hạt được dựa trên lí thuyết tương đối hẹp là chưa hoàn toàn đầy đủ. http://images.iop.org/objects/physicsweb/n...13/Facility.jpg Hình 1. Hệ thống vòng từ trong thí nghiệm tại Max Planck Institute for Nuclear Physics in Heidelberg. Theo những kết quả vừa công bố trên Nature Physics advance o¬nline publication, các thí nghiệm đã được tiến hành bởi Gerald Gwinner (Đại học Manitoba, Canada) cùng với các đồng nghiệp từ nhiều nơi ở Đức đã chỉ ra rằng không có sự sai lệch nào của thuyết tương đối hẹp hay vật lí dưới Mô hình chuẩn. Để kiểm chứng lí thuyết tương đối hẹp, nhóm đã cải tiến kỹ thuật quang phổ laser bão hòa để đo sự co giãn thời gian của một nhóm các nguyên tử Li-7 được bơm tới vận tốc cao vào một vòng bẫy từ trường đặt tại Viện Vật lí Hạt nhân Max Planck ở Heidelberg (Đức). Khi ở trạng thái đứng yên đối với quan sát viên, Li-7 có sự chuyển mức điện tử giữa các mức năng lượng và luôn phát ra ở tần số 546 THz, tương ứng như một "tích tắc". Trên nguyên tắc, sự co giãn thời gian thời gian với tần số này đối với nguyên tử Li-7 chuyển động có thể được phát hiện nhờ sự chiếu sáng với một tia laser từ phía sau. Trên thực tế, nhóm các ion Li trong vòng từ không hoàn toàn có cùng một vận tốc và điều này dẫn đến sự hạn chế về độ chính xác của phép đo. Để loại bỏ sự hạn chế về độ chính xác này, nhóm đã sử dụng một chùm laser thứ hai hướng vào các ion. Mặc dù chùm laser này cũng gây ra sự phát quang đối với các iôn, nhưng ở tại trung tâm của sự phân bố vận tốc lại nhận được nhiều các photon đến nỗi mà tính chất phát quang của chúng bị bão hòa dẫn đến việc tạo ra một độ nghiêng địa phương trong quang phổ và do đó chỉ các iôn có cùng một vận tốc được ghi nhận. http://thienvanhoc.org/news/images/stories...ncuu/Tuning.jpg Hình 2. Các nhà nghiên cứu bên hệ ghi phổ laser. Gwinner cùng các đồng nghiệp đã ghi lại tích 2 tần số laser, mà theo lí thuyết tương đối hẹp sẽ phải bằng bình phương tần số phát ra từ iôn Li-7 ở trạng thái đứng yên. Tuy nhiên tần số chuyển mức này chưa được xác định với một độ chính xác đủ mức như họ cần thiết nên các nhà nghiên cứu đã lặp lại thí nghiệm với các iôn Li-7 di chuyển với vận tốc chỉ là 3% và 6,4% vận tốc ánh sáng và kiểm tra lại tích này một lần nữa. Đúng như các nhà nghiên cứu trông đợi, kết quả đưa đến sự phù hợp với độ chính xác rất cao (sai số nhỏ dưới 8,4.10-8), vượt xa 10 lần so với các kiểm chứng từ hệ thống GPS trước đó. "Có nghĩa là ở mức độ rất nhạy cảm của thí nghiệm này, ta có thêm bằng chứng để nói rằng vật lí trong Mô hình chuẩn thực ra chưa đủ để mô ta mọi thứ" - Gwinner nói với Physicsworld.com Vạn lý Độc hành - www.vatlyvietnam.org (Theo Physicsworld.com) ................................................................................ ..................... ngoài ra anh vẫn có thể tìm thêm nhiều nghiên cứu khác nữa quasar -
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Ở thời điểm hiện nay, đồng hồ nguyên tử là công cụ đo thời gian chính xác nhất, bằng cách đếm số lần nguyên tử caesium nhảy đi nhảy lại giữa các mức năng lượng khác nhau theo tần số vi sóng. Chiếc đồng hồ nguyên tử chính xác nhất hiện nay thuộc quyền sở hữu của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Mỹ (NIST). Nó hoạt động trên cùng nguyên tắc cơ bản của những đồng hồ nguyên tử vi sóng từ những năm 1950, nhưng sử dụng ánh sáng quang học tần số cao hơn, do vậy chính xác hơn. Tác giả của chiếc đồng hồ này cho biết đã sản xuất ra nó dựa trên tần số quang học của một ion thuỷ ngân được làm nguội (một nguyên tử thuỷ ngân thiếu một electron) nối liền với máy tạo dao động laser. Tổ hợp này hoạt động giống như quả lắc của đồng hồ truyền thống để tạo ra tiếng "tích, tắc" cho đồng hồ. Tuy nhiên, nếu mỗi giây đồng hồ truyền thống tạo ra được một âm thanh "tích, tắc" thì đồng hồ nguyên tử tạo được 1.064 triệu tỉ tiếng. Nhờ thế, độ chính xác của đồng hồ tăng lên cực cao. ------------------------------------------------------------------------------------------------ với kỹ thuật tiên tiến như ngày nay, hy vọng những lo ngại của bác LiêmTrinh sẽ không xảy ra Kính Quasar -
Xin được hỏi anh Vuivui 'sinh' ở đây có thể được hiểu là khởi thủy của vũ trụ ? Thân chào
-
Theo tôi nghĩ lý học đông phương không phải quan niệm Thái cực là khởi thủy của vũ trụ mà là một khái niệm đầu tiên để mô tả vũ trụ : không gian vô tận, thời gian vô biên, không có thủy không có chung nên gọi là Thái cực Còn nếu cho rằng vũ trụ phải có khởi thủy thì thật khó hình dung cái nguyên nhân nào tạo nên cái thời điểm khởi thủy, một nguyên nhân hình thành từ một trạng thái bất động ? Quasar
-
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Không phải là bác bỏ sự tồn tại của hạt cơ bản mà chỉ xác định nó chưa thật sự là cơ bản khi còn có cấu trúc nội tại Quasar -
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Chào anh Không phải là tia sáng thực sự cong, mà do gia tốc của thang máy nên cái thấy tương đối của người trong đó có cảm giác cong mà thôi, nếu chuyển động đều thì thấy là tia thẳng Còn việc sửa tit thì tùy anh, quasar cũng xin đồng ý vậy Quasar -
SỰ CÁo Chung CỦa ThuyẾt TƯƠng ĐỐi
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Bác Liêm Trinh có một câu hỏi thật chính xác, đó chính là điểm đã gây nhiều nhầm lẫn nhất Với đèn gắn ở thành thang máy, thì : ở những vận tốc khác nhau là những tia sáng khác nhau (về phương), do đó ta chỉ có thể bắt một tia sáng từ bên ngoài thì mới đảm bảo nó luôn vuông góc với thang máy Vì sao : Từ đèn gắn ở thang máy: Tia sáng được tạo ra bằng cách lấy từ một nguồn sáng qua một khe hẹp hoặc qua một thấu kính hội tụ tạo thành chùm tia song song Vì tia sáng không phụ thuộc vào chuyển động của nguồn sáng, mà khe hẹp hoặc thấu kính lại chuyển động theo thang máy cho nên chỉ có những tia sáng nào trong chùm tia của nguồn đuổi kịp (hướng đúng vào) khe hẹp hoặc thấu kính thì mới ló ra khỏi đèn, do đó, dù thang máy chuyển động thì tia ló vẫn luôn hướng đúng vào điểm đối diện ở tường bên kia nhưng có góc tới khác nhau, mà tia này thì lại không phải là tia cần dùng cho thí nghiệm. Đó cũng là lý do vì sao không một thí nghiệm nào có thể phát hiện được chuyển động của quả đất bằng cách dùng kiểu tia sáng như vậy. Nếu có nguồn sáng nào chỉ phát ra một tia có định hướng duy nhất mà không cần thấu kính thì mới có thể dùng được cho thí nghiệm này Còn về nguyên lý hoạt động của đồng hồ nguyên tử thì quasar chưa chắc hiểu hơn bác cho nên bác cứ google cho chắc Quasar -
SỰ CÁO CHUNG CỦA THUYẾT TƯƠNG ĐỐI Một luận điểm dựa trên một thí nghiệm xác thực : sự co dãn thời gian của đồng hồ nguyên tử tỉ lệ với vận tốc chuyển động Đối với thuyết tương đối hẹp: Giả sử trên một toa tàu chuyển động thẳng đều, một hành khách sử dụng một đồng hồ nguyên tử để khảo sát sự rơi tự do của quả táo, anh ta nhận thấy với những vận tốc chuyển động(thẳng đều) khác nhau, gia tốc rơi của quả táo có những giá trị khác nhau và tỉ lệ với vận tốc chuyển động ( sở dĩ như vậy là do sự co dãn thời gian của đồng hồ nguyên tử), nhờ đó anh ta đã tính được vận tốc thực của toa tàu và xác định được một hệ quy chiếu tuyệt đối mà tại đó gia tốc rơi của quả táo có giá trị nhỏ nhất (tại đó đồng hồ chạy nhanh nhất) Nếu không dựa vào đồng hồ nguyên tử thì chúng ta hãy làm thí nghiệm như sau: Tai mặt đất, dưới toa tàu, chiếu một tia sáng hướng lên vuông góc với sàn tàu, tia sáng xuyên qua lỗ A ở sàn tàu và đập lên trần tàu tại điểm B, ta dễ dàng nhận thấy nếu tàu đứng yên, AB sẽ vuông góc với sàn tàu, nếu tàu chuyển động với vận tốc V , AB sẽ lệch với sàn tàu một góc có cos = V/c Đối với thuyết tương đối tổng quát : Trong một thang máy chuyển động lên trên với một gia tốc đúng bằng gia tốc rơi của một vật thể xuống mặt đất, một người sử dụng một đồng hồ nguyên tử để khảo sát sự rơi tự do của quả táo, anh ta nhận thấy giá trị đo được của gia tốc rơi tăng dần theo thời gian(bởi vận tốc của thang máy ngày càng tăng do đó sự dãn ra của đồng hồ ngày càng lớn), như vậy anh ta có thể tính được gia tốc chuyển động của thang máy và khẳng định được rằng anh ta đang bị tác dụng bởi lực quán tính chứ không phải bởi lực hấp dẫn Nếu các bạn không chấp nhận sự chậm lại của đồng hồ nguyên tử theo vận tốc chuyển động thì hãy xét quan điểm sau của Einstein : Thang máy chuyển động và chuyển động của nó tạo ra hiện tượng quán tính, hoặc là vũ trụ chuyển động đồng thời tạo ra trọng trường? Đó là một câu hỏi không đúng. Không hề có một chuyển động "thực", tuyệt đối nào, chỉ có sự tồn tại tương đối của thang máy và vũ trụ chuyển động tương đối đó tạo ra trọng trường được mô tả bởi các phương trình trường của thuyết tương đối tổng quát. Trọng trường có thể gọi là trường trọng lực hay trường quán tính tuỳ thuộc vào việc lực chọn hệ thống đọc số nên dùng hệ thống tính toán là thang máy thì ta có trường trọng lực. Còn nếu lấy vũ trụ làm hệ thống tính toán, thì ta có trường quán tính. Lực quán tính và lực hấp dẫn tất cả chỉ là các từ khác nhau được áp dụng cho cùng một hiện tượng. Đương nhiên coi vũ trụ là đứng yên thì đơn giản hơn và thuận tiện hơn. Trong trường hợp này không ai gọi trường bên trong thang máy là trường trọng lực. Song thuyết tương đối tổng quát lại nói rằng trường này có thể gọi là trường trọng lực, nếu chọn được hệ thống tính toán thích hợp. Không một thí nghiệm được thực hiện bên trong thang máy có thể chứng minh "sự giả dối" của quan niệm đó. Lần kiểm tra ấn tượng nhất lý thuyết tổng quát được tiến hành vào năm 1919 trong thời gian nhật thực toàn phần. Anhxtanh đã lập luận như sau: Nếu cái thang máy trong khoảng không giữa các vì sao đi lên phía trên với vận tốc tăng lên, thì tia sáng đi trong thang máy từ tường này đến tường kia sẽ lệch về phía dưới đồng thời chuyển động theo đường parabol. Điều đó có thể giải thích bởi lực quán tính, nhưng theo thuyết tổng quát có thể xem thang máy là hệ thống tính toán cố định và coi tỉ suất cong của tia sáng như kết quả tác động của lực hấp dẫn. Như vậy, lực hấp dẫn có thể uốn cong các tia sáng. Tỉ suất cong này quá nhỏ để có thể ghi lại từ một thí nghiệm nào đó được tiến hành trong phòng thí nghiệm, nhưng nó có thể đo được bởi các nhà thiên văn trong thời gian nhật thực toàn phần. Có nghĩa là Einstein cho rằng ứng xử của tia sáng là như nhau khi thang máy ở tại mặt đất cũng như đang đi lên trong vũ trụ với gia tốc g. Tại đây Einstein đã sai khi coi tỉ suất cong của tia sáng như kết quả tác động của lực hấp dẫn. và cho rằng Tỉ suất cong này quá nhỏ để có thể ghi lại từ một thí nghiệm nào đó được tiến hành trong phòng thí nghiệm Bởi vì tại thang máy đang đi lên, điểm đến của tia sáng ( ở tường bên kia ) sẽ tuột xuống phía dưới một đoạn không luôn luôn cố định, mà tùy thuộc vào vận tốc của thang máy tại thời điểm thí nghiệm Có nghĩa là, giả sử có một tia sáng chiếu vuông góc vào thang máy, xuyên qua lỗ A ở tường bên này và đập vào tường bên kia tại điểm B, ta dễ dàng nhận thấy AB sẽ vuông góc với tường khi thang máy đứng yên, nhưng khi thang máy luôn tăng tốc thì điểm B sẽ tuột xuống phía dưới và sẽ tuột xuống càng nhiều tại thời điểm vận tốc của thang máy càng lớn ( nếu tia sáng qua lỗ A tại thời điểm thang máy có vận tốc bằng ½ c thì AB sẽ lệch một góc hơn 30 độ so với tường) Và kết luận của Einstein : Không một thí nghiệm được thực hiện bên trong thang máy có thể chứng minh "sự giả dối" của quan niệm đó. Đã không thể nào đúng được Và như vậy, nếu cái sai này được xác minh, ắt hẳn Einstein cũng sẽ rất vui mừng khi thuyết tương đối nói lời cáo chung, tạo điều kiện cho một lý thuyêt đúng đắn khác ra đời bởi ông luôn là người tìm cầu chân lý cao cả.
-
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Định nghĩa về hạt đã có và không ai nói rằng sẽ được bổ sung và hoàn thiện dần Mô hình chuẩn sẽ sụp đổ khi hạt higgs không tồn tại Vậy thì chúng ta hãy chờ xem kết quả từ máy gia tốc trước khi bàn đến việc hiểu như thế nào về 'hạt', hay 'cấu trúc', trừ khi bạn quá rãnh -
Thấu Thị Và Các Vấn đề Liên Quan.
songHan replied to Thiên Sứ's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chào anhThiên Sứ Xin được đóng góp một ngu ý : Khả năng thấu thị, ngoại cảm luôn được coi là kỳ lạ đối với nhận thức như hiện nay về vũ trụ của khoa học. Nhưng sẽ không có gì lạ nếu vũ trụ được xem là một tánh thể thống nhất, trong đó mỗi cá thể là một trạng thái của vũ trụ ở góc độ của cá thể đó và do đó mỗi cá thể luôn hàm chứa tất cả những cá thể khác, cái tâm của mỗi cá thể chỉ là sự phóng hiện từ cái tánh vĩnh hằng của vũ trụ, và khi cái tâm đó cảm và giải mã được nội trạng của nó thì khả năng thấu thị hoặc ngoại cảm sẽ xuất hiện. Kính -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Mục đích của khoa học là tìm hiểu đến cái lý tận cùng của vạn vật, khoa học chỉ dừng lại (không nói đến những nghiên cứu ứng dụng) khi không còn bất cứ câu hỏi nào chưa được trả lời Theo bạn thì khoa vật lý hạt đã xác định được những nhóm hạt cơ bản khác nhau và cũng theo cái định nghĩa mà bạn dẫn chứng : an elementary particle or fundamental particle is a particle not known to have substructure; that is, it is not known to be made up of smaller particles. If an elementary particle truly has no substructure, then it is one of the basic building blocks of the universe from which all other particles are made. In the Standard Model, the quarks, leptons, and gauge bosons are elementary particle (trích từ wikipedia) . Có thể hiểu đó là những hạt đồng nhất bởi chúng không phải tạo thành từ những hạt khác nhỏ hơn. Giả sử có hai hạt a và b khác nhau được xác định là hai hạt cơ bản, chúng khác nhau bởi trường hạt mà chúng tạo ra hoặc sự thể hiện khác nhau khi tương tác, vậy thì ta có thể đặt câu hỏi :điều gì đã làm cho chúng có sự khác nhau như vậy ? Bởi sự khác nhau đó chỉ có thể được tạo ra khi và chỉ khi chúng có cơ cấu nội tại khác nhau, và một cơ cấu nội tại thì không thể gọi là đồng nhất được bởi nó phải là một cấu trúc đặc trưng của những thành tố (hay những hạt cơ sở). Do đó, những hạt a,b kia đã không còn là những hạt cơ bản theo như định nghĩa trên của bạn nữa Và cho dù có tồn tại chỉ duy nhất một loại hạt được gọi là cơ bản thì ta vẫn có thể đặt câu hỏi : cái gì đã làm nên trường hạt của nó để từ đó nó có thể tương tác với nhau tạo nên những cấu trúc vật chất nếu không phải là một cơ cấu nội tại ? Khoa vật lý hạt đã rơi vào một hố thẳm không đáy, có người đã cho rằng hạ nguyên tử cũng là một thế giới vô tận Nếu có một hạt cơ bản thực sự thì nó phải không bị một sự áp đặt nào lên kích thước của nó – nó sẽ vô hạn và đồng nhất. Không có thế giới nào được tạo ra từ những hạt. Thế giới của chúng ta chỉ là hình ảnh của những dao động nội tại của ‘hạt cơ bản’ đó. Có bao giờ bạn tự hỏi : ta là gì ? tại sao ta được hình thành ? Ta không thể là sản phẩm ngẫu nhiên của vũ trụ bởi ta đang bị câu thúc bởi một xu hướng nội tại đang bắt ta phải ăn phải lớn phải sinh sản, biết phân biệt, biết đau khổ và hạnh phúc. Xu hướng đó nhất định đang tồn tại và tiềm ẩn từ nơi sâu thẳm nhất, từ nơi yếu tố cơ bản nhất đã tạo nên thế giới này, đó chính là xu hướng hấp thu và tích lũy năng lượng, xu hướng đó đã tạo nên cái cơ chế tăng trưởng, sinh sản và những bản năng sinh tồn khác của muôn loài. Không có xu hướng đó, những nguyên tử vô tri kia không thể tạo nên những cơ thể sống vô cùng phức tạp mà cũng vô cùng hoàn hảo từ trong một cá thể cho đến sự tương hợp của chúng trong một quần thể. Cái gì đã hình thành nên xu hướng đó nếu không phải là hệ quả của quá trình vận hành của vũ trụ ? Và lý thuyết biến dịch đã lý giải những điều đó như vậy. Sở dĩ tôi nêu ra sự tương đồng với dịch lý là bởi tôi thực sự thấy được chỗ tương đồng của nó, thứ nữa là để khảo nghiệm xem nó có thực sự tương đồng hay không để biết rằng một là lý thuyết này sai hai là bản thân dịch lý cần xem xét lại cho phù hợp, mặt khác cũng góp phần thêm vào những đối tượng cho định nghĩa về âm dương cho thêm phần sôi nổi trong khi vẫn biết rằng lúc này là hoàn toàn chưa phù hợp, bởi tôi không phải là một kể hoang tưởng tệ hại! -
Xin được sửa chửa lại như vầy : Bản thể vô hạn và vĩnh hằng của vũ trụ, chứa đựng hai đại lượng : -dương : thể hiện tính cứng rắn ( sự thể hiện của thực thể ) -âm : thể hiện cái rỗng không (sự thể hiện của năng lượng) Hai yếu tố âm dương biến dịch tuần hoàn tạo nên sự sinh hóa của của vạn vật Cái dương chủ động biến dịch trước, cái âm theo đó mà tăng giảm, tuy đồng thời nhưng lệ thuộc - "Dương trước Âm sau - Âm thuận tùng Dương". Một vũ trụ như vậy liệu có tương đồng với lý học đông phương không vậy? Xin quý vị minh xét.
-
SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA LÝ THUYẾT BIẾN DỊCH VỚI THUYẾT ADNH (Ở cấp độ vĩ mô) Thái cực- Bản thể vô hạn và vĩnh hằng của vũ trụ, chứa đựng hai yếu tố : -dương : thể hiện tính cứng rắn -âm (năng lượng) : thể hiện cái rỗng không Hai yếu tố âm dương biến dịch tuần hoàn tạo nên những biến đổi của vạn vật qua các thời kỳ: Thái dương -Tại độ cứng cực đại, năng lượng tiềm ẩn hoàn toàn - quái Càn Khi độ cứng giảm, những tia sáng bé nhỏ được sinh ra với độ rỗng ngày càng tăng.-quái Đoài Thiếu dương- Độ cứng tiếp tục giảm cho đến khi các tia sáng trở nên đồng đều bởi giới hạn rỗng.-quái Ly Khi độ rỗng các tia sáng đủ lớn và chậm hơn, chúng tương tác với nhau và cuộn xoắn lại thành những cấu trúc ‘vật chất’ .-quái Chấn Thái âm -Tại độ cứng cực tiểu, toàn bộ năng lượng đều ngưng đọng thành ‘vật chất’ với một độ rỗng cực đại -quái Khôn Khi độ cứng tăng, độ rỗng của tia cấu tạo giảm, lực liên kết hạt nhân giảm -quái Cấn Thiếu âm- Lực liên kết hạt nhân yếu dần cho đến khi xảy ra phản ứng phân hạch, .-quái Khảm Khi độ rỗng của tia cấu tạo quá nhỏ, tất cả chúng vượt thoát khỏi ràng buộc của cấu trúc và bức xạ thành ánh sáng- quái Tốn Cho đến khi độ cứng của vũ trụ đạt cực đại và tiếp nối một chu kỳ tuần hoàn khác.
-
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Khi chúng ta phát hiện ra một hạt thì nghĩa là hạt đó phải có đặc tính đặc trưng riêng của nó, vậy thì cái gì đã làm nên đặc trưng riêng đó nếu không phải là một cấu trúc nội tại -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Xin bạn hãy đọc kỹ lại:chúng ta cũng luôn đồng ý với Geoffrey Chew rằng : “ Một hạt cơ bản đích thực – tức là không hề còn có cơ cấu nội tại nào cả __ thì không thể là đối tượng của một lực nào, lực đó cho phép chúng ta phát hiện sự hiện hữu của nó. Chỉ duy việc biết đến sự hiện hữu của một hạt là đã nói được rằng hạt đó phải có một cơ cấu nội tại.” Nguyên văn: “A truly elementary particle – completely devoid of internal structure – could not be subject to any forces that would allow us to detect its existence. The mere knowledge of a particle’s existence, that is to say, implies that the particle possesses internal structure!”(1) Và nó phải là hoàn toàn đồng nhất, mỗi mảnh vỡ của nó phải là chính nó nguyên vẹn không khác, nó không phụ thuộc vào không gian và thời gian. Với đặc tính đó, hạt cơ bản đã không thể tồn tại trong thế giới của chúng ta, dù là trong thế giới hạ nguyên tử. Vậy tại sao chúng ta luôn cho rằng nó phải là một hạt có kích thước nhỏ nhất ? Tại sao nó không thể là một hạt có kích thước vô hạn, bao hàm và quy định tất cả các quy luật vận hành của vũ trụ ? Và chỉ có cái vô hạn mới hàm chứa đầy đủ đặc tính của một hạt cơ bản. Geoffrey Chew là một nhà vật lý hạt, và đó cũng là một định nghĩa đích thực về hạt cơ bản của vật lý hiện đại -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Theo đinh nghĩa thì nó là một thực thể vô hạn, do đó chỉ tạm gọi là 'một', bởi nó không còn là đối tượng của đo đếm. -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Chào anh Xin được trích đoạn từ http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_Tr%C4%83ng Nhiều cơ cấu đã được đưa ra nhằm giải thích sự hình thành của Mặt Trăng. Mọi người tin rằng Mặt Trăng đã được hình thành từ 4,527 ± 0,010 tỷ năm trước, khoảng 30-50 triệu năm sau sự hình thành của Hệ Mặt Trời[32]. Giả thuyết phân đôi Nghiên cứu ban đầu cho rằng Mặt Trăng đã vỡ ra từ vỏ Trái Đất bởi các lực ly tâm, để lại một vùng trũng – được cho là Thái Bình Dương – [33]. Tuy nhiên, ý tưởng này đòi hỏi Trái Đất phải có một tốc độ quay ban đầu rất lớn, thậm chí nếu điều này có thể xảy ra, quá trình đó sẽ khiến Mặt Trăng phải quay theo mặt phẳng xích đạo của Trái Đất, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Giả thuyết bắt giữ Nghiên cứu khác lại cho rằng Mặt Trăng đã được hình thành ở đâu đó và cuối cùng bị lực hấp dẫn của Trái Đất bắt giữ[34]. Tuy nhiên, các điều kiện được cho là cần thiết để một cơ cấu như vậy hoạt động, như một khí quyển mở rộng của Trái Đất nhằm tiêu diệt năng lượng của Mặt Trăng đi ngang qua, là không thể xảy ra. Giả thuyết cùng hình thành Giả thuyết cùng hình thành cho rằng Trái Đất và Mặt Trăng cùng hình thành ở một thời điểm và vị trí từ đĩa bồi đắp nguyên thuỷ. Mặt Trăng đã được hình thành từ vật chất bao quanh Tiền Trái Đất, tương tự sự hình thành của các hành tinh xung quanh Mặt Trời. Một số người cho rằng giả thuyết này không giải thích thỏa đáng sự suy kiệt của sắt kim loại trên Mặt Trăng. Một sự thiếu hụt lớn trong mọi giả thuyết trên là chúng không thể giải thích được động lượng góc cao của hệ Trái Đất-Mặt Trăng[35]. Giả thuyết vụ va chạm lớn Giả thuyết ưu thế nhất hiện tại là hệ Trái Đất-Mặt Trăng đã được hình thành như kết quả của một vụ va chạm lớn. Một vật thể cỡ sao Hỏa (được gọi là "Theia") được cho là đã đâm vào Tiền Trái Đất, đẩy bắn ra lượng vật chất đủ vào trong quỹ đạo Tiền Trái Đất để hình thành nên Mặt Trăng qua quá trình bồi tụ[1]. Bởi bồi tụ là quá trình mà mọi hành tinh được cho là đều phải trải qua để hình thành, các vụ va chạm lớn được cho là đã ảnh hưởng tới hầu hết, nếu không phải toàn bộ quá trình hình thành hành tinh. Các mô hình giả lập máy tính về một vụ va chạm lớn phù hợp với các đô đạc về động lượng góc của hệ Trái Đất-Mặt Trăng, cũng như kích thước nhỏ của lõi Mặt Trăng[36]. Các câu hỏi vẫn chưa được giải đáp của giả thuyết này liên quan tới việc xác định tương quan kích thước của Tiền Trái Đất và Theia và bao nhiêu vật liệu từ hai thiên thể trên đã góp phần hình thành nên Mặt Trăng. http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_Tr%C4%83ng -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Giả thuyết mới về nguồn gốc mặt trăng Mặt trăng hình thành sau một vụ nổ hạt nhân trên trái đất, hai nhà khoa học quốc tế khẳng định. Nguồn gốc của mặt trăng và nguyên nhân khiến nó bay xung quanh trái đất là một trong những bí ẩn lớn nhất đối với giới khoa học trong nhiều thế kỷ. Giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là: Khi hệ Mặt Trời ra đời, một thiên thể đã va chạm với địa cầu và khiến một lượng đất, đá văng ra. Khối vật chất ấy xoay quanh trái đất và trở thành mặt trăng. Tuy nhiên, có hai nhà khoa học không nghĩ thế. Theo Daily Mail, đó là Rob de Meijer - một chuyên gia của Đại học Western Cape, Nam Phi - và Wim van Westrenen thuộc Đại học Tự do, Hà Lan. Họ cho rằng thiên thể lao trúng địa cầu không phải sự kiện khiến mặt trăng tách khỏi trái đất. Thay vào đó một vụ nổ hạt nhân trên trái đất mới là nguyên nhân chính. Meijer và van Westrenen đưa ra lập luận trên dựa theo thuyết "sinh sản phân đôi" từng được khởi xướng từ thế kỷ 19. Theo thuyết này, trái đất và mặt trăng cùng được tạo ra bởi nham thạch nóng chảy trong vũ trụ. Sau đó một phần trái đất tách ra và trở thành mặt trăng. Nhưng các nhà khoa học ủng hộ thuyết "sinh sản phân đôi" không thể giải thích tại sao một phần trái đất có thể tách ra. Trong nghiên cứu mới đây, Meijer và van Westrenen cho rằng, nếu mặt trăng tách ra khỏi trái đất bởi một vụ va chạm với thiên thể thì chắc chắn nó phải chứa những vật chất từ trái đất và từ thiên thể kia. Tuy nhiên, các mẫu đất đá trên mặt trăng cho thấy cấu tạo hóa học của "chị Hằng" gần giống địa cầu. Điều này có nghĩa là mặt trăng không được tạo ra bởi sự va chạm giữa trái đất và một thiên thể. Theo hai nhà nghiên cứu, một cách giải thích hợp lý nhất là: Mặt trăng tách khỏi trái đất nhờ năng lượng bên trong. Họ tin rằng lực đẩy mặt trăng được tạo nên bởi một vụ nổ hạt nhân khủng khiếp. Vụ nổ này là kết quả của quá trình phân rã hạt nhân cực mạnh ở giữa vỏ và lõi của hành tinh xanh. Clay Dillow, một chuyên gia của tạp chí Popular Science, ủng hộ quan điểm trên. "Chúng ta chưa thể kiểm chứng giả thuyết của Meijer và van Westrenen, nhưng chúng ta đều biết rằng hiện tượng phân rã hạt nhân thực sự diễn ra trong lòng đất. Chúng để lại uranium mà con người đang khai thác", Dillow nói. Theo DailyMail/VNE --------------------------------------------------- Bí mật xung quanh chuẩn tinh chứa sắt Các nhà nghiên cứu Đức mới phát hiện một chuẩn tinh chứa lượng sắt cực lớn. Thiên thể này xuất hiện khoảng 1,5 tỷ năm sau Big Bang, tức là từ thời vũ trụ còn rất non nớt. Phát hiện này mâu thuẫn với quan điểm lâu nay cho rằng, sắt và các kim loại nặng chỉ xuất hiện sau khi vũ trụ đã "cứng cáp". Vì ở rất xa, chuẩn tinh đồng thời cũng là sứ giả của vũ trụ sơ khai. Ánh sáng mà Hasinger thu được đã rời khỏi chuẩn tinh APM 08279+5255 từ cách nay 13,5 tỷ năm, tức là sau Big Bang 1,5 tỷ năm. (Hệ mặt trời của chúng ta mới ra đời cách nay khoảng 4,5 tỷ năm). Theo lý thuyết được đa số mọi người chấp nhận thì các nguyên tố nặng như sắt, chì, vàng... chỉ xuất hiện sau các vụ nổ siêu tân tinh, và quá trình này kéo dài nhiều tỷ năm. Vì vậy, việc phát hiện sắt ở một chuẩn tinh 1,5 tỷ năm sau Big Bang là điều rất khó hiểu. Theo Hasinger, chỉ có hai cách giải thích cho phát hiện này: hoặc là các nguyên tố hóa học nặng như sắt phải được hình thành theo một cách nào đó mà người ta chưa biết, hoặc là vũ trụ thực ra phải già hơn nhiều chứ không phải 15 tỷ năm như ta tưởng Minh Hy (theo SPIEGEL - 6/6/2002) -------------------------------------- Ngôi sao đầu tiên xuất hiện rất sớm Kính thiên văn Hubble mới chụp được ánh sáng của những ngôi sao cách đây trên 10 tỷ năm. Phân tích những bức ảnh này, các nhà khoa học Mỹ đưa ra kết luận, ngôi sao đầu tiên có lẽ đã hình thành chỉ sau Big Bang khoảng 100 triệu năm - sớm hơn mọi phỏng đoán trước đó Lý thuyết cũ cho rằng, ngôi sao đầu tiên xuất hiện khoảng 1 tỷ năm sau Big Bang, và số lượng các ngôi sao được sinh ra cứ tăng dần sau đó, rồi đạt mức cực đại vào thời điểm khoảng 8 -10 tỷ năm Tuy nhiên, theo các quan sát mới đây, thì càng gần Big Bang, số lượng ngôi sao sinh ra càng nhiều, và giảm dần cho đến ngày nay Theo mô hình của Lanzetta, Big Bang xuất hiện cách đây khoảng 14 tỷ năm. Thế hệ sao đầu tiên hình thành khoảng 100 triệu năm sau đó, và sau 1 tỷ năm, thiên hà đầu tiên đã xuất hiện Nhóm khoa học của Ken Lanzetta, Đại học Quốc gia New York ở Stony Brook (Mỹ) đã chụp được ánh sáng của các ngôi sao hình thành sau Big Bang khoảng 4-5 tỷ năm. Nghiên cứu các bức ảnh này, Lanzetta thấy rằng, càng sát gần Big Bang, càng có nhiều vệt sáng xanh - trắng trong các bức ảnh. Những vệt sáng này chính là dấu vết của những ngôi sao mới. Điều đó cho thấy, càng gần Big Bang, số lượng sao sinh ra càng nhiều Theo mô hình của Lanzetta, Big Bang xuất hiện cách đây khoảng 14 tỷ năm. Thế hệ sao đầu tiên hình thành khoảng 100 triệu năm sau đó, và sau 1 tỷ năm, thiên hà đầu tiên đã xuất hiện. Theo mô hình mới, càng gần Big Bang, các ngôi sao xuất hiện càng nhiều Minh Hy (theo CNN 9/1/2002) ----------------------------------------------------------------- Những phát hiện trên của khoa học là rất phù hợp với lý thuyết này về quá trình hình thành các thiên hà (với bản chất là phản ứng phân hạch) -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Chào anh Kính anh -
Lý Thuyết Về Bản Chất Của Vũ Trụ
songHan replied to songHan's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Quasar
Chào anh “ Một hạt cơ bản đích thực – tức là không hề còn có cơ cấu nội tại nào cả __ thì không thể là đối tượng của một lực nào, lực đó cho phép chúng ta phát hiện sự hiện hữu của nó. Chỉ duy việc biết đến sự hiện hữu của một hạt là đã nói được rằng hạt đó phải có một cơ cấu nội tại.” Định nghĩa trên là của một giáo sư tiến sĩ vật lý có uy tín người Mỹ -Geoffrey Chew, một định nghĩa đã được khoa học công nhận bởi nó là một suy luận tất yếu. Một đối tượng được cảm giác của chúng ta cảm nhận là "như vậy" thì cũng chưa hẳn đối tượng đó thực sự là "như vậy" bởi đó chỉ là cảm nhận chủ quan của ta, giống như một hòn đá được ta cảm nhận là to và cứng nhưng thật sự thì nó rất loãng và kích thước thật sự của tất cả hạt nhân nguyên tử và điện tử cộng lại cũng chỉ nhỏ hơn một hạt bụi, hoặc như đối với hai cực cùng tên của hai nam châm thì cái khoảng không giữa chúng lại rất đặm đặc khi chúng xích lại gần nhau, hoặc như khi trong giấc mơ ta cứ tưởng mọi thứ là thật. Các quy luật vận hành tất nhiên là chỉ nằm trong bản chất của vật chất nếu như đó thật sự là vật chất, cho nên cái vật chất thực sự mới phải là một thực thể vô hạn và đồng nhất, còn thế giới của chúng ta chỉ là biểu hiện cho trạng thái của thực thể đó. Mô hình vũ trụ của lý thuyết này là một mô hình biến dịch tuần hoàn, trong đó độ cứng của vũ trụ tăng và giảm theo chu kỳ. Kính anh