Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Hà Uyên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1069
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    8

Everything posted by Hà Uyên

  1. Khi Hà Uyên chọn thông số ban đầu để tính, là căn cứ theo phương pháp tư duy của Thiệu Ung, lấy "số thứ tự" của Hà Uyên khi tham gia vào diễn đàn là 3717, chia cho 64 quẻ, được số 5. Lấy Năm-Tháng-Ngày-Giờ khi Hà Uyên đăng khí tham gia làm Tổng chia cho 6 tìm hào động. - Đối với Hà Uyên, thì số 5 theo Tiên thiên là quẻ Phong Thiên Tiểu súc. - Với diễn đàn này, thì số 5 được hiểu như thế nào đối với Hà Uyên ? Vì sự giao lưu là: Liêm Trinh --> VIETHA --> dichnhan07 --> VanTrungHac --> Thiên Sứ (thực ra còn Như Thông nhưng vì Hà Uyên chưa giao lưu). Số 5 đối với Hà Uyên là anh Thiên Sứ. Theo Nguyên lý vị trí: Vị trí trung tâm 5 - 10, thì Hà Uyên chọn giải pháp ứng xử theo "Đại cục", có nghĩa là, từ "Trung tâm", Hà Uyên tôn trọng nguyên tắc: Tìm về cội nguồn.
  2. Tại sao lại như vậy ? Khi Hoàng đế hỏi, có nghĩa rằng Hoàng đế động, tại sao lại coi là Hoàng đế động ? Vì Hoàng đế có thắc mắc ở trong lòng mà chưa hiểu, như vậy là bên trong của Hoàng đế động, có thể coi như "Nội quái động" mà "Ngoại qoái tĩnh", cũng có nghĩa Hoàng đế là Dương gặp Âm vậy. Như vậy, ta có thể nói Dương động - Âm tĩnh được không ?
  3. Hà Uyên trao đổi tiếp tục Mỗi chúng ta, không ai có thể làm đảo lộn được trật tự của thời gian. Từ đây, chắc rằng cũng rất ít người làm thay đổi được quá trình nhận thức của mỗi một cá nhân. Ví như, Hà Uyên không thể tự cho mình dùng kiến thức của học sinh lớp 4, mà chưa qua quá trình nhận thức của lớp 1, lớp 2. Cũng ví như, Hà Uyên và Liêm Trinh giao lưu trên diễn đàn lyhocdongphuong, được gọi là "số 1", thì đến vị trí thứ 5, Hà Uyên giao lưu với anh Thiên Sứ, số "5" được coi như vị trí "Trung tâm" của Hà - Lạc. Giả thiết như Hà Uyên có "mưu lược" như Liêm Trinh đã nói, từ cái "ngẫu nhiên" để biến thành cái "tất nhiên", thì đương nhiên đến người thứ năm Hà Uyên giao lưu, là anh Thiên Sứ. Vị trí của Trung tâm. Một đặc trưng cơ bản của BỐC DỊCH, là "dụng thần" lại do đối tượng Khách quan quy định, trên nền giao lưu của Hoàng đế Nội kinh: Hoàng đế hỏi - Kỳ Bá trả lời. Làm thế nào để bốc dịch được chính xác ?, Ai là Hoàng đế, ai là kỳ bá ? Ai là Âm, ai là dương ? Giả thiết là Liêm Trinh chủ động giao lưu với Hà Uyên, như vậy Liêm Trinh là Dương mà Hà Uyên là Âm, nhưng thực tiễn thì Hà Uyên chủ động chào Liêm Trinh, như vậy thì Hà Uyên là âm chủ động gặp dương. Vậy thì, chưa thể dùng một mình hào động làm nguyên nhân "gốc" để xác định thông tin.
  4. Chào Liêm Trinh Khi Liêm Trinh nói: "Làm thế nào để BỐC DỊCH chính xác hơn" Hà Uyên xin kể lại: Những người đi trước đã hướng dẫn cho Hà Uyên: tư duy về "tượng quẻ trước". Sau đó mới tư duy về "Lục thân". Ví dụ: khi Bốc Dịch được quẻ Trạch Sơn Hàm hào 2 được quẻ Trạch Phong Đại quá - Tư duy theo tượng quẻ Kinh Dịch: quẻ Hàm tượng trưng cho sự giao cảm. Quẻ Đại quá tượng trưng cho sự quá mức - Tư duy theo tượng quẻ Kinh Phòng, Bốc phệ chính tông, Tăng san bốc dịch: quẻ Hàm có tượng "Manh nha xuất thổ", rồi đến quẻ Đại quá có tượng: "Dạ mộng kim ngân" Cũng phải mất đến 8 tháng hay một năm sau, Hà Uyên mới thuộc được tượng của 64 quẻ, và cảm nhận được một phần nào đó về ý nghĩa của "tượng quẻ". Mặc dù tại thời điểm đó, Hà uyên trong lòng vẫn thích xác định được hào động, tìm lục thân, an Thế - Ứng, tìm dụng thần,... Bước thứ hai là: đi sâu vào phân tích 8 quẻ "bát thuần", khi Kinh Phòng đưa Ngũ hành vào nạp cho hào quẻ Dịch. Đây là bước quan trọng, mối quan hệ "mẹ - con" ? từ quẻ Mẹ với 7 quẻ con ? Hình thành một phương pháp tư duy cho mỗi người, thì các nước phát triển đã làm rất có hiểu quả. Phương Tây hình thành một phương pháp sư phạm chuẩn mực cho loài người. Từ cá nhân Hà Uyên, một chia sẻ kinh nghiệm, một người Hà Uyên giao lưu đầu tiên trên diễn đàn (số "1")
  5. Hà Uyên xin cùng được tham gia Ngày Quốc khánh 2 - 9 - 1945 giờ Thìn, có Bát tự là: Ất Dậu - Giáp Thân - Giáp Tuất - Mậu Thìn (26/7 âm) - Theo phương pháp của Trần Đoàn, môn Bát tự Hà Lạc: Tổng số âm là 32, tổng số dương là 29. Được quẻ Địa Phong Thăng, có Nguyên đường ngồi hào 3. - Từ năm 1945 - 1950, hào 3 quẻ Thăng - Từ năm 1951 - 1956, hào 4 quẻ Thăng - Từ năm 1951 - 1956, hào 5 quẻ Thăng - Từ năm 1957 - 1962, hào 6 quẻ Thăng - Từ năm 1963 - 1968, hào 1 quẻ Thăng - Từ năm 1969 - 1977, hào 2 quẻ Thăng - Từ năm 1978 - 1986, hào 3 quẻ Thăng - Từ năm 1987 - 1995, hào 1 quẻ Phong Lôi Ích - Từ năm 1996 - 2001, hào 2 quẻ Ích - Từ năm 2002 - 2007, hào 3 quẻ Ích - Từ năm 2008 - 2013, hào 4 quẻ Ích + Hào 4 quẻ Ích 2008 - 2013: "Lục Tứ, trung hàng cáo công tòng, lợi dụng vi y thiên quốc - Dịch: "Hào Sáu Bốn, giữ điều trung, thận trọng sự hành, cung kính thăm hỏi bậc vương công, tất sữ được lời nghe, kế theo, lợi về sự dựa vào Bậc quân thượng trong việc dời đô, ích dân". (Thủ đô Hà nội mở rộng) - Tượng viết:"Cáo công tùng, dĩ ích chí dã" - Dịch: Tượng truyện nói: "Cung kính thăm hỏi Bậc vương công, tất sẽ được lời nghe, kế theo", nói lên Sáu Bốn lấy sự tăng ích tâm chí thiên hạ để khuyên gián vương công. +Tiểu Vận:2008 - Thiên Lôi Vô vọng hào 4, năm 2009 - Hoả Lôi Phệ hạp hào 5, Phệ hạp: Hanh, lợi dụng ngục + Tiến trình của hào 5 quẻ Hoả Lôi Phệ hạp: 1- Hoả Lôi Phệ hạp hào 5: "Lục Ngũ, phệ can nhục, đắc hoàng kim; trinh lệ, vô cữu" 2- Thuần Lôi hào 6: "Thượng Lục, Chấn tác tác, thị quắc quắc, chinh hung, chấn bất vu kỳ cung, vu kỳ lân, vô cữu, hôn cấu hữu ngôn" 3- Lôi địa Dự hào 1: "Sơ Lục, minh dự, hung" 4- Lôi Thuỷ Giải hào 2: "Cửu Nhị, điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ, trinh cát" (Chín Hai, đi săn bắt được mấy con cáo, được mũi tên mầu vàng, (đặc trưng cho đức trung trực), giữ được chính bền thì được tốt lành) 5- Lôi Phong Hằng hào 3: "bất hằng kỳ đức, hoặc thừa chi tu, trinh lận" (Chín Ba, không thường giữ được đức đẹp, có khi bị người làm cho hổ thẹn, phải giữ vững chính bền để phòng sự thẹn tiếc) 6- Địa Phong Thăng hào 4: "Lục Tá, vương dụng hưởng vu Kỳ Sơn, cát, vô cữu" (Sáu Bốn, nhà vua đến núi Kỳ sơn tế thần linh, tốt lành, tất không cữu hại) 7- Thuỷ Phong Tỉnh hào 5: "Cửu Ngũ, tỉnh liệt, hàn tuyền thực" (Nước giếng trong như nước suối mát có thể mức để ăn) 8- Thuần Tốn hào 6: "Thượng cửu, tốn tại sàng hạ, táng kỳ tư phủ, trinh hung" (Chín Trên, thuận theo quá mức, nép ở dưới giường, giống như mất búa sắc cứng rắn; giữ vững chính bền để phòng hung hiểm" 9- Phong Thiên Tiểu sức hào 1: "Sơ Cửu, phục tự đạo, hà kỳ cữu, ? Cát" (Trở về đạo dương cứng của mình, có "cữu hại" gì đâu ? Tốt lành) 10- Phong Hoả Gia nhân hào 2: "Lục Nhị, vô du toại, tại trung quỹ, trinh cát" (Sáu Hai, không có thành tựu gì, coi sóc việc nấu nướng trong nhà, giữ vững chính bền thì được tốt lành) 11- Phong Lôi Ích hào 3: "Lục Tam, ích chi dụng hung sự, vô cữu, hữu phu trung hàng, cáo công dụng khuê" (Sáu Ba, nhận ích phần lớn phải dấn thân để cứu người khỏi điều ác, giải trừ hiểm nguy (như vậy) mới không lỗi; tất phải giữ lòng thành tín, giữ đạo trung, thận trọng trong công việc, lúc nào cũng phải như tay cầm ngọc khuê tâu việc với bậc quân vương) 12- Thiên Lôi Vô vọng hào 4: "Cửu Tứ, khả trinh, vô cữu" (Chín Bốn, có thể giữ vững chính bền, do đó tất không bị cữu hại) - Tháng Giêng: quẻ Lôi Địa Dự hào 1: Dự, lợi kiến hầu hành sư. - Tháng Hai: quẻ Lôi Thuỷ Giải hào 2: Giải, lợi Tây Nam; vô sở vãng, kỳ lai phục cát; hữu du vãng, túc cát. - Tháng Ba: quẻ Lôi Phong Hăng hào 3: Hằng, hanh, vô cữu, lợi trinh, lợi hữu du vãng. - Tháng Tư: quẻ Địa Phong Thăng hào 4:Thăng: Nguyên hanh, dụng hiện đại nhân, vật tuất, nam trinh cát. - Tháng Năm quẻ Thuỷ Phong Tỉnh hào 5: Tỉnh, cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh. Hất chí diệc vị duậtttiinỉnh, luy kỳ bình hung - Tháng Sáu quẻ Thuần Tốn hào 6: Tốn, tiểu hanh, lợi hữu du vãng, lợi hiện đại nhân. - Tháng Bảy quẻ Phong Thiên Tiểu súc hào 1: Tiểu súc, hanh; mật vân bất vũ, tự ngã tây giao. - Tháng Tám quẻ Phong Hoả Gia nhân hào 2: Gia nhân, lợi nữ trinh - Tháng Chín quẻ Phong Lôi Ích hào 3: Ích, lợi hữu du vãng, lợi thiệp đại xuyên. - Tháng Mười quẻ Thiên Lôi Vô vọng hào 4: Vô vọng: Nguyên hanh, lợi trinh, kỳ phỉ chính hữu sảnh, bất lợi hữu du vãng. - Tháng Một quẻ Hoả Lôi Phệ hạp hào 5: Phệ hạp, hanh, lợi dụng ngục. - Tháng Chạp quẻ Thuần Chấn hào 6: Chấn, hanh. Chấn lai kích kích, tiểu ngôn nha nha; chấn kinh bách lý, bất táng chuỷ sưởng. - Theo phương pháp của Thiệu Ung: môn Hoàng cực kinh thế:
  6. Hà Uyên chào Rubi Rubi viết:"nick Hà Uyên : lạc thu gép với tiên thiên bát quái" Hà Uyên đã đọc lại những bài viết của mình trên diễn đàn với một thái độ ngiêm túc. Khi tìm hiểu về phương pháp tư duy của Thiệu Ung, nguyên lý Động - Tĩnh đã được Thiệu Ung từ Hậu Thiên truy ngược lại Tiên thiên, đó là một đóng góp lớn, mà Hà Uyên tất tôn trọng. Khi Ngoại quái tĩnh và khi Nội quái tĩnh, Thiệu Ung đã chỉ ra những quy định để hình thành một học thuyết của mình, mà sáng tạo ra HOÀNG CỰC KINH THẾ, MAI HOA DỊCH SỐ. Hà Uyên vẫn còn rất nhiều thắc mắc về khái niệm:"trị số thực dụng", và "số thứ tự". Hà Uyên tạm thời đành phải trả lời với chính bản thân mình: "trị số thực dụng" ví như cùng học một lợp phổ thông, có cùng một năm sinh, nhưng khác nhau về Tháng-Ngày-Giờ. Còn "số thứ tự" ví như lớp học lái xe, các Học viên trong lớp học lái xe lại có Năm sinh khác nhau, không cùng một gốc để xét về "thời". Vậy thì, khi nào thì áp dụng "trị số thực", và khi nào thì áp dụng "số thứ tự". ? Một lần nữa, xin cảm ơn Rubi đã dành thời gian cho Hà Uyên.
  7. Hà Uyên xin chào các Anh các Chị trên dĩên đàn Hà Uyên chào Rubi Xin chân thành cảm ơn những ý kiến nhận xét của các Anh Chi và Rubi về Hà Uyên. Cách thức tiếp cận đối với những kiến thức Người xưa đã để lại, tạo nên cái nội tại trong Hà Uyên rất đam mê, nhưng cũng rất trăn trở. Để tìm cho chính bản thân một khuôn khổ tư duy, phương pháp nhận thức, thì Hà Uyên còn nhiều lúng túng. Hà Uyên xin trân thành cảm ơn.
  8. Đạo lý trong thiên hạ bao giờ cũng là “trung”. “Định vị” là phép tắc nhấn mạnh sự không thể thay đổi của vũ trụ. “Động - Biến - Hóa” là quy luật phổ biến nêu rõ sự phát triển của sự vật. “Dị giản” là chỉ rõ đạo Càn Khôn thuần nhất không tạp, dễ biết, dễ theo. Sự động - biến – hoá của Âm Dương thông qua một hào dịch luôn luôn có 12 giai đoạn. Ví dụ: Quẻ Sơn Lôi Di
  9. HÀO 6.5 1- Sơn Lôi Di 6.5 - “Lục Ngũ, phất kinh, cư trinh cát, bất khả thiệp đại xuyên.” - Dịch: “Hào Sáu Năm (ví như bậc “quân vương” dựa vào sự kẻ trên nuôi nình để nuôi thiên hạ), trái với lẽ thường, ở yên giữ vững chính bền thìđược tốt lành, không thể vượt qua sông cả sóng lớn.” - Tượng: Sáu Năm nên thuận theo và dựa vào người hiền lương dương cứng Chín Trên. Thuận tình đi theo cấp trên, là điềm lành do “cư trinh”. 2- Địa Lôi Phục hào 5: - “Lục Ngũ, đôn phục, vô hối.” - Dịch: “Hào Sáu Năm, đôn hậu, dốc lòng thành trở lại, không có gì phải hối hận.” - Tượng: Sáu Năm ở ngôi giữa không lệch, tự mình suy xét để thành được đạo phục thiện. 3- Thuần Khôn hào 5: - “Lục Ngũ, hoàng thường, nguyên cát.” - Dịch: “Hào Sáu Năm, xiêm váy mầu vàng, hết sức tốt lành.” - Tượng: Sáu Năm lấy đức ôn hòa nhã nhặn để giữ đạo “trung”. “Hoàng thường”, văn hóa là trung tâm. 4- Địa Thủy Sư hào 5: - “Lục Ngũ, điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu, trưởng tử xuất sư, đệ tử dư thi, trinh hung.” - Dịch: “Hào Sáu Năm, trong ruộng có cầm thú, lợi về sự vây bắt, tất không có gì cữu hại ; ủy nhiệm cho bậc trưởng giả cương chính thì có thể thống xuất quân đội, còn ủy nhiệm cho bọ tuổi trẻ không có đức thì tất phải trở xác, đại bại mà về, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.” - Tượng: “trưởng tử xuất sư”, hoạt động của trung tâm ; “đệ tử dư thi”, là kết quẻ của việc sử dụng người không đích đáng. Lệnh ban ra không thỏa đáng. 5- Địa Phong Thăng hào 5: - “Lục Ngũ, trinh cát, thăng giai.” - Dịch: “Hào Sáu Năm, giữ vững chính bền thì được tốt lành, giống như cứ từng bậc một mà lên cao.” - Tượng: hết sức toại nguyện với tâm chí lên cao, ý chí thật lớn lao. 6- Lôi Phong Hằng hào 5: - “Lục Ngũ, hằng kỳ đức, trinh ; phụ nhân cát, phu tử hung.” - Dịch: “Hào Sáu Năm, muốn thường giữ phẩm đức mềm đẹp, nên giữ vững chính bền ; đàn bà thì được tốt lành, đàn ông tất có hung hiểm.” - Tượng: cần suốt đời thuận tòng một bề theo một chồng ; đàn ông phải điều hành mọi việc sao cho thích hợp, nếu mềm thuận như đàn bà tất có hung hiểm. Chồng ở rể, theo vợ là hung. 7- Trạch Phong Đại quá hào 5: - “Cửu Ngũ, khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kỳ sỹ phu ; vô cữu vô dự.” - Dịch: “Hào Chín Năm, cây dương khô ra hoa mới, bà già lọm khọm lấy được người chồng khỏe mạnh, không bị cữu hại, cũng không được khen.” - Tượng: “dương khô ra hoa” như vậy thì sức sống làm sao lâu bền được. “bà già lọm khọm”, tình trạng như vậy thật đáng xấu hổ. 8- Thiên Phong Cấu hào 5: - “Cửu Ngũ, dĩ khởi bao qua, hàm chương, hữu vẫn tự nhiên.” - Dịch: “Hào Chín Năm, lấy cành lá cây khởi bao bọc che trở cây dưa hấu ở dưới ; trong lòng ngậm sự sáng đẹp, tất nhiên có sự ngộ hợp lý tưởng từ trên trời xuống.” - Tượng: tâm chí Chín Năm không đi ngược mệnh trời. Hàm nghĩa 9.5 nói về hiện tượng lạ “thiên thạch từ trời rơi xuống.” 9- Thuần Càn hào 5: - “Cửu ngũ, phi long tại thiên, lợi hiện đại nhân.” - Dịch: “Hào Chín Năm, rồng lớn bay cao trên trời, lợi về sự xuất hiện đại nhân.” 10- Thiên Hỏa Đồng nhân hào 5: - “Cửu Ngũ, đồng nhân, tiên hào đào, nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ.” - Dịch: “Hào Chín Năm, hòa đồng với người, trước thì khóc lóc kêu rên, sau thì vui mừng cười reo, đánh lớn rồi báo tiệp, chí đồng rồi tương ngộ hội hợp.” - Tượng: “trước thì khóc lóc kêu rên”, do Chín Năm trung chính, chân thành thẳng thắn. “Phải đến khi đại quân xuất chiến mới tương ngộ hội hợp cùng kẻ chí đồng”, là do Chín Năm cùng với kẻ địch giao chiến và đã chiến thắng. 11- Thiên Lôi Vô vọng hào 5: - “Cửu Ngũ, vô vọng chi tật, vật dược hữu hỷ.” - Dịch: “Hào Chín Năm, không càn bậy mà bị bệnh nhẹ, không cần phải uống thuốc mà vui vì khỏi bệnh.” - Tượng: Chín Năm không dùng thử linh tinh, không thể thử thuốc. 12- Phong Lôi Ích hào 5: - “Cửu Ngũ, hữu phu huệ tâm, vật vấn nguyên cát: Hữu phu huệ ngã đức.” - Dịch: “Hào Chín Năm, có lòng chân thành, tín thực ban ơn cho thiên hạ, không cong nghi ngờ gì là hết sức tốt đẹp: Người trong thiên hạ tất sẽ chân thành tín thực cảm ân huệ và nghĩ tới sự báo đáp ân đức của ta.” - Tượng: “tín thực ban ơn cho thiên hạ”, nói lên sự hết sức tốt lành là điều không cần phải hỏi. “báo đáp ân đức của ta”, nói lên hào Chín Năm được lớn chí tổn thượng ích hạ. Cái đạt được lớn nhất là ý chí. 13- Sơn Lôi Di hào 5 HÀO 9.6 1- Sơn Lôi Di hào 6 - “Thượng Cửu, do di ; lệ cát, lợi thiệp đại xuyên.” - Dịch: “Hào Chín Trên, thiên hạ nhờ nó mà được nuôi dưỡng, biết nguy mà thận trọng thì được tốt lành, lợi về vượt qua sông cả sóng lớn.” - Tượng: Chín Trên có phúc khánh lớn. 2- Sơn Địa Bác hào 6: - “Thượng Cửu, thạc quẻ bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.” - Dịch: “Hào Chín Trên, quẻ lớn chưa bị hái xuống ăn, người quân tử hái được nó thì có thể ruổi xe đi cứu đời, kẻ tiểu nhân hái được tất sẽ đi đến chỗ phá vạn nhà.” - Tượng: “quân tử đắc dư”, nói lên ý trăm họ do vậy được bề trên che trở. “tiểu nhân bác lư”, nói lên kẻ tiểu nhân cuối cùng không thể tin dùng được. Cuối cùng nhà nát không thể dùng được nữa. 3- Sơn Thủy Mông hào 6: - “Thượng Cửu, kích mông, bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu.” - Dịch: “Hào Chín Trên, làm mạnh để mở mang sự ngu tối, không lợi về dùng cách thức quá dữ dằn, cách này chỉ nên ngừa giặc mạnh.” - Tượng: Chín Trên có thể khiến cho ý chí trên dưới hài hòa, ứng thuận. 4- Sơn Phong Cổ hào 6: - “Thượng Cửu, bất sự vương hầu, cao thượng kỳ sự.” - Dịch: “Hào Chín Trên, không làm sự nghiệp của bậc vương hầu, đề cao hành vi ung dung tự tại của mình.” - Tượng: ý chí của Chín Trên đáng để noi theo. Không việc gì là không đến tay vương hầu. 5- Hỏa Phong Đỉnh hào 6: - “Thượng Cửu, đỉnh ngọc huyễn, đại cát, vô bất lợi.” - Dịch: “Hào Chín Trên, vạc có đòn bằng ngọc, hết sức tốt lành, không gì không lợi.” - Tượng: Chín Trên dương cứng có thể điều tiết bằng âm mềm. Cương nhu hòa hợp. 6- Thiên Phong Cấu hào 6 : - “Thượng Cửu, cấu kỳ giác, lận, vô cữu.” - Dịch: “Hào Chín Trên, gặp nơi trống vắng, lòng có hối tiếc, nhưng không gặp cưu hại.” - Tượng: ở nơi cao cùng cực nên dẫn tới sự hối tiếc là tương ngộ mà không người. Nghèo hèn sinh ra tiếc của (từ giầu có tụt dốc xuống thành nghèo khổ). 7- Trạch Phong Đại quá hào 6: - “Thương Lục, quá thiệp diệt đỉnh ; hung, vô cữu.” - Dịch: “Hào Sáu Trên, lội nước quá sâu đến nỗi ngập cả đầu ; có hung hiểm, nhưng không có lỗi gì.” - Tượng: cứu đời mà mất mạng, không thể coi là có lỗi. qua sông hỏng thuyền. 8- Trạch Thiên Quải hào 6: - “Thượng Lục, vô hào, chung hữu hung.” - Dịch: “Hào Sáu Trên, không phải gào khóc, cuối cùng khó tránh sự hung hiểm. - Tượng: Với tình thế ở cao bên trên cuối cùng không thể lâu dài. 9- Trạch Hỏa Cách hào 6: - “Thương Lục, quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện, chinh hung, cư trinh cát.” - Dịch: “Hào Sáu Trên, người quân tử như được con báo đốm giúp đã làm nên sự biến cách, kẻ tiểu nhân đua nhau làm thay đổi khuynh hướng thời trước, lúc này nếu cứ tiếp tục tiến mạnh không thôi, tất có hung hiểm, ở yên giữ vững chính bền thì được tốt lành.” - Tượng: “quân tử báo biến”, ngôn ngữ hoa mỹ bay bổng. “Đánh dấu vào mặt tiểu nhân”, thuận tòng sự niến cách của nhà vua. 10- Trạch Lôi Tùy hào 6: - “Thương Lục, câu hệ chi, nãi tùng, duy chi; vương dụng hưởng vu tây sơn.” - Dịch: “Hào Sáu Trên, bắt giam, cưỡng bức phải theo, theo mà rằng chặt lấy ; đấng quân vương xuất quân thảo nghịch đặt tế lễ ở non tây.” - Tượng: ở ngôi trên cùng, đạo theo cùng tận, “trên” nghèo khổ. 11- Thủy Lôi Truân hào 6: - “Thương Lục, thừa mã ban như, khấp huyết liên như.” - Dịch: “Hào Sáu Trên, người cưỡi ngựa muốn cầu hôn phối (nhưng lại không có sự cảm ứng) nên thương tâm khóc đến nỗi máu mắt chảy đầm đìa.” - Tượng: làm sao mà có thể trường cửu như vậy được. 12- Địa Lôi Phục hào 6: - “Thượng Lục, mê phục, hung, hữu tai sảnh. Dụng hành sư, chung hữu đại bại, dĩ kỳ quốc, quân hung, chí vu thập niên bất khắc chinh.” - Dịch: “Hào Sáu Trên, mê lạc nhầm bước không biết đường trở lại, có hung hiểm, có tai ương họa hoạn. Nếu như dùng vào việc đem binh giao chiến thì cuối cùng sẽ thảm bại ; dùng vào việc trị nước, điều hành chính sự, tất làm cho nước loạn, vua gặp hung hiểm, cho đến nhiều năm sau cũng không thể chấn hưng phát triển.” - Tượng: Sáu Trên đi ngược với con đường của đạo quân chủ dương cứng. Ngược với đạo lý của vua. 13- Sơn Lôi Di hào 6
  10. HÀO 6.4 1- Sơn Lôi Di 6.4: - “Lục Tứ, điên di, cát ; hổ thị đam đam, kỳ dục trục trục, vô cữu.” - Dịch: “Hào Sáu Bốn, đảo điên mà cầu dưới nuôi dưỡng (rồi lại dùng sự nuôi dưỡng đó nuôi lại mọi người), tốt lành ; như mắt hổ nhìn đăm đăm, gấp gáp cầu xin tiếp liền không dứt, tất không có cữu hại.” - Tượng: Sáu Bốn ở ngôi trên mà có thể tỏa rọi ánh sáng của đức đẹp xuống dưới. Lòng đầy thèm muốn. Điềm cát, đã thực hiện xong công việc. 2- Phong Lôi Ích hào 4: - “Lục Tứ, trung hàng cáo công tòng, lợi dụng vi y thiên quốc.” - Dịch: “Hào Sáu Bốn, giữ điều trung, thận trọng sự hành, cung kính thăm hỏi bậc vương công tất sẽ được lời nghe, kế theo, lợi về sự dựa vào bậc quân thượng trong việc dời đô, ích dân.” - Tượng: Sáu Bốn lấy sự tăng ích tâm chí thiên hạ để khuyên gián vương công 3- Thủy Lôi Truân hào 4: - “Lục Tứ, thừa mã ban như, cầu hôn cấu ; vãng cát, vô bất lợi.” - Dịch: “Hào Sáu Bốn, cưỡi ngựa dập dừu tới, muốn cầu hôn ; đi lên tất sẽ tốt lành, không gì là không lợi.” - Tượng: Sáu Bốn muốn cầu hôn ở phía dưới mà tiến lên, như vậy là kẻ sáng suốt hiểu biết. 4- Thủy Địa Tỷ hào 4: - “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát.” - Dịch: “Hào Sáu Bốn, ở ngoài thân mật, gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền thì được sự tốt lành.” - Tượng: Sáu Bốn thuận theo bậc tôn thượng. 5- Thuần Khảm hào 4: - “Lục Tứ, tôn tửu, quỹ nhị, dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu.” 6- Thủy Phong Tỉnh hào 4: - “Lục Tứ, tỉnh trụ, vô cữu.” - Dịch: “Hào Sáu Bốn, giếng nước đang được xây lại, tất không cữu hại.” - Tượng: Sáu Bốn chỉ có thể sửa giếng (không thể nóng vội mà nuôi người. 7- Trạch Phong Đại quá 9.4: - “Cửu Tứ, đống long, cát ; hữu tha, lận.” - Dịch: “Hào Chín Bốn, cột vươn thẳng như trước, tốt lành ; nếu ứng viện với dưới, tất sinh thẹn tiếc.” - Tượng: Chín Bốn không thể cho cột lại ỏe xuống nữa. 8- Lôi Phong Hằng hào 4 - Lục Tứ, điền vô cầm.” - Dịch: “Hào Sáu Bốn, đi săn không được cầm thú.” - Tượng: Sáu Bốn ở lâu không đúng chỗ của mình, săn bắn làm sao mà bắt được cầm thú ? 9- Hỏa Phong Đỉnh hào 4: - “Cửu Tứ, đỉnh chiết túc, phúc công tốc, kỳ hình ốc, hung.” - Dịch: “Hào Chín Bốn, vạc khó lòng chựu nổi sức nặng, chân vạc gãy, cao lương mỹ vị của vương công bị đổ hết, thân vạc ướt át bẩn thửu, có hung hiểm.” - Tượng: Chín Bốn làm sao còn tín nhiệm được nữa. Chân đỉnh bị cắt, tức là lật đổ chế độ cũ, nên tin như thế nào cho phải ? 10- Hỏa Thiên Đại hữu hào 4: - “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu.” - Dịch: “Hào Chín Bốn, đừng để tỏ ra quá sự giầu có thì không bị họa hại.” 11- Thuần Ly hào 4: - “Cửu Tứ, đột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như.” - Dịch: “Hào Chín Bốn, giống như ngọn lửa mạnh đang thiêu đốt, nhưng chỉ trong phút chốc sẽ bị tiêu tán diệt vong, bị vứt bỏ sạch trơn.” - Tượng: hư thế của Chín Bốn sẽ làm cho nó không còn nơi phụ bám, chứa chấp. Vật đột nhiên đến, không có chỗ dung thân. 12- Hỏa Lôi Phệ hạp hào 4: - “Cửu Tứ, phệ can tỷ, đắc kim thỉ ; lợi gian trinh, cát.” - Dịch: “Hào Chín Bốn, gia hình không thuận lợi như cắn miếng thịt có xương khô, nhưng có khí phách cương trực như mũi tên đồng, lợi về trong gian nan giữ vững được chính bền, tốt lành.” - Tượng: đạo trị ngục của Chín Bốn chưa phát huy được sáng lớn, không sáng sủa gì. 13- Sơn Lôi Di hào 4
  11. HÀO 6.3 1- Sơn Lôi Di 6.3: - Lục Tam, phất di ; trinh hung, thập niên vật dụng, vô du lợi.” - Dịch: “Hào Sáu Ba, trái với lẽ thường “nuôi dưỡng” ; giữ vững chính bền để phòng hung hiểm, mười năm dài lâu không được thi thố tài dụng, nếu thi thố tất sẽ không được lợi gì.” - Tượng: Hào Sáu Ba đại nghịch bất đạo với chính đạo nuôi dưỡng. 2- Hỏa Lôi Phệ hạp 9.4: - “Lục Tam, phệ tích nhục, ngộ độc ; tiểu nhân lận, vô cữu.” - Dịch: “ Hào Sáu Ba, gia hình không thuận lợi, như cắn phải thịt khô rắn cứng, lại ngộ độc ; nhưng như vậy bất quá chỉ hơi tiếc, chứ không đến nỗi cữu hại” - Tượng: Hào Sáu Ba cư vị không thỏa đáng, đến nỗi bị kẻ thụ hình sinh oán. 3- Thiên Lôi Vô vọng 9.5: - “ Lục Tam, vô vọng chi tai: hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.” - Dịch: “Hào Sáu Ba, không làm càn mà bị tai ương: ví như có người buộc một con trâu, người đi đường dắt về làm của mình, người trong ấp bị nghi oan là bắt trộm.” - Tượng: Hào Sáu Ba vận số đến lúc bị tai bay vạ gió, bị đổ tội oan. 4- Trạch Lôi Tùy 6.6: - “Lục Tam, hệ trượng phu, thất tiểu tử ; tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh.” - Dịch: “Hào Sáu Ba, quấn quýt với đấng trượng phu dương cứng, mất kẻ tiểu tử ở dưới, theo với người mà ta đã cầu tất được, lợi nếu như ở yên, giữ vững chính bền.” - Tượng: Hào Sáu Ba là bỏ kẻ tiểu tử ở dưới. 5- Trạch Địa Tụy 6.1: - “Lục Tam, tụy như ta như, vô du lợi ; vãng vô cữu, tiểu lận.” - Dịch: “Hào Sáu Ba, (muốn) tụ hội (mà) không người, nên luôn miệng ca thán, không được lợi gì ; đi lên sẽ không có cữu hại, nhưng có sự tiếc nhỏ.” - Tượng: Sáu Ba lòng muốn hướng lên trên thuận theo dương cứng. 6- Trạch Thủy Khốn 9.2: - “Lục Tam, khốn vu thạch, cứ vu tật lê ; nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung.” - Dịch: “khốn ở dưới đá lớn (đá rắn khó vào), dừa vào cây tật lê (nhiều gai khó dẫm) ; dù có chạy về nhà cũng không thấy vợ, có hung hiểm.” - Tượng: Sáu Ba lấy chất âm mềm cưỡi lên kẻ cương cường. “Về nhà không thấy vợ” đây là hiện tượng chẳng lành. 7- Trạch Phong Đại quá 9.3: - “Cửu Tam, đống náo, hung.” - Dịch: “hào Chín Ba, cột ỏe, hung.” - Tượng: Chín Ba không thể thêm gì để phụ giúp. 8- Thủy Phong Tỉnh 6.4: - “Cửu Tam, tỉnh tiết bất thực, vị ngã tâm trắc ; khả dụng cấp, vương minh tịnh thụ kỳ phúc.” - Dịch: “Hào Chín Ba, giếng nước được nạo vét sạch sẽ mà không được múc nấu ăn, khiến ta động lòng trắc ẩn, nên mau mau múc lấy nước giếng trong này, được vị vua sáng suốt thì vua tôi sẽ chung hưởng phúc trạch.” - Tượng: Chín Ba có hành vi chưa được hiểu, thật khiến cho người ta động lòng chắc ẩn, “nhà vua sáng suốt” là để cho vua tôi cùng hưởng phúc trạch. 9- Địa Phong Thăng 6.5: - “Cửu Tam, thăng hư ấp.” - Dịch: “Hào Chín Ba, lên cao dễ dàng như vào thẳng nơi thành ấp không người.” - Tượng: Chín Ba thượng thăng sẽ không có điều gì phải nghi ngờ suy nghĩ. 10- Sơn Phong Cổ 9.6: - “Cửu Tam, cán phụ chi cổ, tiểu hữu hối, vô đại cữu.” - Dịch: “Hào Chín Ba, uốn nắn điều tệ loạn của cha, hơi có hối hận, nhưng không có cữu hại lớn.” - Tượng: Chín Ba mạo hiểm đưa ra lời can gián, cuối cùng không thể có cữu hại 11- Sơn Thiên Đại súc 9.1: - “Cửu Tam, lương mã trục, lợi gian trinh, nhật nhàn cư về, lợi hữu du vãng.” - Dịch: “Hào Chín Ba, ngựa tốt hay rong ruổi, lợi về nhớ kỹ sự gian nan, giữ vững chính bền ; không ngừng rèn luyện kỹ năng phòng vệ của ngựa xe, lợi về có sự đi.” - Tượng: Chín Ba hợp chí với hào Chín Trên. 12- Sơn Hỏa Bí 6.2: - “Cửu Tam, bí như, nhu như, vĩnh trinh cát.” - Dịch: “Hào Chín Ba, văn sức được đẹp đẽ đến nhường ấy, nhiều lần ban huệ trạch cho người, giữ vững chính bền được lâu dài sẽ được sự tốt lành.” - Tượng: Chín Ba có thể làm được như vậy thì không bao giờ bị kẻ khác lấn nhờn. 13- Sơn Lôi Di 6.3
  12. SƠN LÔI DI – 72 CỤC Di: Trinh cát ; quan di, tự cầu khẩu thực. Dịch: “Quẻ Di tượng trương cho sự nuôi dưỡng: giữ vững chính bền thì được tốt lành. Xem xét hiện tượng nuôi dưỡng sự vật, cần biết dùng chính đạo trong việc từ tìm thức ăn nuôi mình.” Chú thích: chứ “di” cổ văn mà nhìn ngang thì giống như cái mép, là tên gọi “cái mép”, tượng trưng trong mồm ngậm thức ăn, dưới Chấn động trên Cấn ngưng chỉ, có tượng như đang nhai thức ăn, nhai vật, khi động khi ngừng. Trời đất tạo hóa nuôi nấng muôn vật, mỗi vật được một cách nuôi riêng thì đó cũng là chính đạo mà thôi. Xem cách nuôi của người và cách họ tự tìm thức ăn cho mình, thì sự thiên ác lành giữ có thể thấy được. Thoán viết: Di, trinh cát, dưỡng chính tắc cát dã. Quan di, quan kỳ sở dưỡng dã ; tự cầu khẩu thực, quan kỳ tự dưỡng dã. Thiên địa dưỡng vạn vật, thánh nhân dưỡng hiền dĩ cập vạn dân : di chi thời đại hỹ tai. Dịch: “Thoán truyện nói: Nuôi dưỡng, giữ vững chính bền thì được tốt lành. Quan sát hiện tượng nuôi dưỡng sự vật, là quan sát điều kiện khách quan để có được sự nuôi dưỡng ; nên biết dùng chính đạo trong việc tự tìm thức ăn nuôi mình, tức quan sát để biết được về phương pháp chủ quan tự nuôi mình đúng đắn nhất. Trời đất nuôi dưỡng vạn vật, thánh nhân nuôi dưỡng người hiền cho tới muôn dân ; công hiệu của thời “di dưỡng” lớn vậy thay !” Chú thích: Người quân tử cắt (miếng thịt) không ngay ngắn không ăn, huống chi là miếng ăn phi nghĩa. Bởi vậy cho nên kẻ được nuôi dưỡng phải là kẻ hiền minh, từ nuôi mình tất phải hợp lễ, đó là nghĩa “dưỡng chính” vậy. Về sự sinh và sự dưỡng của muôn vật, thì “thời” là lớn. Tượng viết: Sơn hạ hữu Lôi, di ; quân tử dĩ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực. Dịch: “Tượng truyện nói: Dưới núi vang động tiếng sấm của quẻ Chấn (dưới động trên ngưng, như miệng nhai thức ăn), tượng trưng cho sự “nuôi dưỡng”, người do vậy thận trọng nói năng để dưỡng đức, tiết chế sự ăn uống để nuôi mình.” Chú thích: noi theo đạo “dưỡng chính” của quẻ Di, dưỡng đức và dưỡng thân rất quan trọng đối với thời “nuôi dưỡng”. Họa theo miệng mà ra, hoạn theo miệng mà vào, cho nên đối với sự nuôi dưỡng, thì phải “thận trong” và “tiết chế” vậy. HÀO 9.1 1- Sơn Lôi Di 9.1: - “Xả nhĩ linh quy, quan ngã đóa di, hung.” - Dịch: “Hào Chín Đầu, người bỏ phần tốt đẹp như rùa thiêng của mình mà nhìn ta tới trễ mép cầu ăn, có hung hiểm,” - Tượng: Hào Chín Đầu không đáng được tôn trọng. Chưa đủ nói lên sự sang giầu quý phái. 2- Sơn Trạch Tổn hào 1: - “Sơ Cửu, dĩ sự xuyền vãng, vô cữu ; chước tổn chi.” - Dịch: Hào Chín Đầu, hoàn thành việc tự tu dưỡng, liền mau chóng đi lên giúp người ở ngôi cao, tất không có cữu hại, nên châm chước giảm bớt chất cứng của bản thân.” - Tượng: Hào Chín Đầu tâm chí hợp nhất với bậc tôn trưởng. 3- Sơn Thiên Đại súc hào 1: - “Sơ Cửu, hữu lệ, lợi dĩ.” - Dịch: “Hào Chín Đầu, có nguy hiểm, lợi về sự tạm dừng không tiến.” - Tượng: Hào Chín Đầu không thể cứ dấn thân vào tai biến, hoạn nạn mà đi. Không gặp tai ương. 4- Hỏa Thiên Đại hữu: hào 1 - “Cửu Tứ, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu.” - Dịch: “Hào Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp tội tỗi.” - Tượng: Hào Chín Đầu nếu không giao du đi lại với ai thì cũng không mắc phải họa hại. 5- Thuần Càn hào 1: - “Cửu Ngũ, Tiềm long, vật dụng.” - Dịch: “Hào Chín đầu, rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng.” 6- Trạch Thiên Quải hào 1: - “Sơ Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu.” - Dịch: “Hào Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn đến cữu hại.” - Tượng: Hào Chín Đầu không thể thủ thắng mà vội tiến lên, là mời gọi sự họa hại đến. 7- Trạch Phong Đại quá hào 1: - “Sơ Lục, tạ dụng bạch mao, vô cữu.” - Dịch: “Hào Sáu Đầu, dùng cỏ tranh trắng lót (vật biếu người trên), tránh bị cữu hại.” - Tượng: Hào Sáu Đầu mềm thuận ở ngôi dưới, hành vi kính cẩn thận trọng. 8- Trạch Sơn Hàm hào 1: - “Sơ Lục, Hàm kỳ mẫu.” - Dịch: “Hào Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chân cái.” - Tượng: Hào Sáu Đầu chí hướng phát triển ra phía ngoài.” 9 Trạch Địa Tụy hào 1: - “Sơ Lục, hữu phu bất chung, nãi loạn nãi tụy, nhược hào, nhất ác vi tiếu: vật tuất, vãng vô cữu.” - Dịch: “Hào Sáu Đầu, nếu không giữ được đến cùng sự thành tín trong lòng, tất sẽ làm loạn mà tụ họp bừa bãi với mọi người ; nếu chuyện tình mà kêu gọi người ở trên, thì có thể chỉ một cái bắt tay với người bạn dương cứng là lại vui cười được ngay ; Không phải lo nghĩ, đi lên tất không gặp cữu hại.” - Tượng: Hào Sáu Đầu tâm chí có sự mê loạn. 10- Thủy Địa Tỷ hào 1: - “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô vữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát.” - Dịch: “Hào Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục, mà hưởng được sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành.” - Tượng: Hào Sáu Đầu nói hào Chín Năm ứng rộng tới các nơi khác, tất sẽ được tốt lành. 11- Thuần Khôn hào 1 : - “Sơ Lục, lý sương, kiên băng chí.” - Dịch: “ Hào Sáu Đầu, dẫm lên sương mỏng là sẽ đón đợi băng dày.” - Tượng: Hào Sáu Đầu nói lên khí âm đã bắt đầu ngưng tụ, theo như quy luật thì băng dày sẽ đến. 12- Sơn Địa Bác hào 1: - “Sơ Lục, bác sàng dỹ túc, miệt ; trinh hung.” - Dịch: “Hào Sáu Đầu, làm sập giường trước tiên phải đẽo từ chân, chân giường tất sẽ gãy gục, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.” - Tượng: Hào Sáu Đầu trước tiên bị làm ruỗng mọt phần nền móng phía dưới. 13- Sơn Lôi Di 9.1
  13. Mô hình “từ trong ra” là mô hình mở, đi ngược chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Khác với chiều vặn đi vào, đi thuận chiều kim đồng hồ, từ trái sang phải, là mô hình đóng. Khi xét việc đã qua phải theo trật tự thuận, đi theo các con số lớn dần, (tức là chiều từ âm đến dương). Còn khi xét việc sắp tới thì phải theo trật tự nghịch của các con số, đi theo các con số nhỏ dần.(tức là chiều từ dương sang âm) Theo nguyên tắc cơ chế tâm truyền, mọi thông tin đều phải từ giữa phát ra, đây là thời điểm xẩy ra sự việc. Nếu lấy thời điểm này mà xét, thì việc trở về quá khứ của sự việc, là trở về những quẻ đã sinh, tức là những quẻ ta đã biết trước. Như vậy phải là những quẻ ở miền dương, tức là từ Chấn-4 đến Ly-5, đến Đoài-6, rồi đến Càn-7. Đi từ Chấn đến Càn là miền Dương, là đi theo chiều thuận của các con số 4-5-6-7 là chiều các con số lớn dần. Khi muốn xét tương lai của sự việc đang xẩy ra thì phải theo hướng các quẻ chưa sinh, tức là những quẻ chưa biết. Như vậy phải là những quẻ ở miền âm, tức là từ Tốn-3 đến Khảm-2, rồi đến Cấn-1, và đến Khôn-0, tức là đi theo chiều ngược của các con số (chiều các con số nhỏ dần 3-2-1-0), như người kể ngược bốn mùa vậy ! Càn-7, Đoài-6, Ly-5, Chấn-4, Tốn-3, Khảm-2, Cấn-1, Khôn-0. <-- <-- <-- <-- --> - - -> - - -> - - -> Khi ta cho rằng Chấn-Tốn là thời điểm hiện tại của sự việc thì, muốn biết tương lai phải đi theo chiều nghịch của các con số, tức là chiều các con số giảm dần cùng với các quẻ tương ứng của chúng. Cũng có thể tìm hiểu quá khứ của sự việc để đoán biết tương lai thông qua các quẻ đối xứng, là các quẻ biến dịch hay “quẻ đối” phản của chúng, vì quy luật sinh-thành của các con số là đối xứng từng cặp một, các con số đều có hai miền đối xứng: quá khứ và tương lai so với thời điểm xẩy ra. Tìm hiểu quá khứ để biết được tương lai, đây chính là chìa khóa của Dịch. Mặt trời mọc từ Đông sang Tây, là quy luật của tạo hóa, là từ tối đến sáng, là từ âm đến dương, từ “không” đến “có”; giai đoạn này được gọi là “ quẻ đã sinh”, đây là trật tự thuận. Ngũ hành thuận bắt đầu từ : Thổ - Thủy - Mộc - Hỏa – Kim. Giai đoạn quẻ chưa sinh bắt đầu bằng trật tự từ Tây sang Đông, từ sáng đến tối, ngũ hành ngược lại là : Kim-Hỏa-Mộc-Thủy-Thổ. Nên nói Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8 thì đều được các quẻ chưa sinh, như người kể ngược thứ tự bốn mùa vậy. Đây là thứ tự của quẻ chưa sinh. Quy luật của tự nhiên tiến từ “không” đến “có”, cái “không” thuộc âm, cái “có” thuộc dương. Âm Dương cũng là trạng thái “đóng - mở” của tạo hóa. Tạo hóa tiến từ trạng thái “đóng” sang trạng thái “mở”, từ không đến có, từ thế giới vô hình sang thế giới hữu hình. Cái “có” đầu tiên thuộc về Dương, nó tương ứng với số 1, là số lẻ, số cơ. Vạn vật hiện hữu quanh ta thì muôn hình vạn trạng theo từng chủng loại, theo từng loài. Tất cả, đều xuất phát từ sự “sinh-thành” và vị trí ban đầu của các con số trong không gian, cũng như quy luật biến hóa theo “tượng âm dương” của chúng. Biến Dịch là vòng tuần hoàn lớn của Tạo hóa, Càn Khôn đóng vai trò mở đầu và kết thúc những quá trình lâu dài. Đối với đời người cũng như vạn loại sinh giới, sự biến dịch từ Càn tới Khôn, đồng nghĩa với sự kết thúc chu trình sống này, để chuyển sang một chu trình sống khác. Sự biến dịch từ Âm sang Dương hay từ Dương sang Âm, là sự biến đổi về bản thể các tượng số, luôn luôm tiệm tiến trải qua 10 giai đoạn.
  14. Thiệu Ung viết: “Cái gọi là cung vị Mậu là ở hai ngôi sao Khuê (Tuất) và sao Bích (Hợi). Cung vị Kỷ là ở hai sao Giác (Thìn) sao Chẩn (Tị). Khuê Bích là thời tiết giữa Lập thu đến Lập đông. Giác Chẩn là giữa Lập xuân đến Lập hạ, vì vậy là cửa ngọc của Trời Đất.” Ngày dài thì thời tiết ấm áp, vạn vật phát sinh, đều bắt đầu từ cung vị sao Khuê sao Bích (Tuất - Hợi). Ngày ngắn thì thời tiết giá lạnh, vạn vật thu tàng, đều bắt đầu từ cung vị sao Giác, sao Chẩn (Thìn - Tị), vì vậy mà nói rằng: tiết Xuân phân thì chủ “mở”, tiết Thu phân thì chủ “đóng”. Từ sao Khuê – Bích đi về phương Nam, mặt Trời là đạo Dương, vì vậy gọi là Thiên môn. Từ sao Giác - Chẩn đi về phương Bắc, mặt Trời là đạo Âm, vì vậy gọi là Địa hộ. Từ cung vị sao Khuê, sao Bích, và can Mậu thì bắt đầu ngày dần dài ra, khí Dương thịnh dần, giống như là mở cửa Trời. Đến cung vị sao Giác, sao Chẩn, can Kỷ thì ngày dần ngắn lại, khí Âm thịnh dần, khí Dương thu bế, giống như mở cửa Đất. Cho nên gọi là Thiên môn Địa hộ. Thuyết Thiên môn Địa hộ trình bày: “do Âm xuất Dương, do Dương nhập Âm”, thể hiện quy luật thịnh suy, chuyển hoá, tiêu trưởng Âm Dương bốn mùa. Trùng âm tất dương, trùng dương tất âm. Nguyên lý này cùng ý nghĩa với “dương trưởng thì âm tiêu”, “âm tiêu thì dương trưởng”. Cái máy của tạo hoá không thể không có sinh, cũng không thể không có chế ước. Không có sinh thì không có sự phát triển, không có chế ước thì sự phát triển cao lên mà có hại. Do vậy, trong sinh phải có chế ước, trong chế ước phải có sinh. Nếu giữa Âm Dương mất chế ước, thì sẽ phát sinh thiên thắng (mất cân đối), thậm chí quyết ly máy tạo hoá không thể nào duy trì được. Nguyên nhân cái gì gây ra sự mất chế ước giữa Âm Dương ? Quá trình sinh mệnh của con người từ khi sinh ra, lớn lên, khoẻ mạnh, già yếu và chết, cũng là giai đoạn chuyển hoá tiêu trưởng của Âm Dương, từ Dương bắt đầu sinh, Dương thịnh dần, Dương thịnh vượng, đến Âm bắt đầu sinh, Âm thịnh dần, Âm cực thịnh. Nguyên lý Thái cực sinh ra Âm Dương, Âm Dương hoá hợp sinh ra Ngũ hành, Ngũ hành hàm chứa vạn vật. Khí hoá vận hành, Âm Dương thăng giáng: “Thuỷ là chí âm, cho nên ở dưới ứng với vị trí cực âm. Hoả là chí dương, nên ở trên, ứng với vị trí thịnh dương. Mộc chủ thăng phát, nên ở trên, ứng với vị trí phương Đông. Kim chủ thu giáng, nên ở bên phải, ứng với phương Tây. Thổ là mẹ của số thành, nên ở giữa. Địa khí thăng lên, Thiên khí giáng xuống, là khí của Trời Đất tác dụng hỗ tương. Sau khi thăng rồi giáng xuống, đó là tác dụng của Trời. Sau khi giáng rồi thăng, đó là tác dụng của Đất. Thiên khí giáng xuống, khí rót về mặt đất. Địa khí thăng lên, khí bay bốc ở khung trời. Cho nên, trên dưới giao nhau và hô ứng với nhau, thăng giáng lấy làm nhân quả lẫn nhau, mà phát sinh biến hoá. Kỳ số Nhất Lục cư hạ, Nhị Thất cư thượng, Tam Bát cư tả, Tứ Cửu cư hữu, Ngũ Thập cư trung. Phục hy tắc chi, dĩ họa Bát quái. Số sinh từ 1 đến 5, tượng trưng sự phát sinh của vạn vật. Số thành từ 6 đến 10, tiêu biểu cho sự hình thành của sự vật. Thổ là nơi vạn vật bắt đầu sinh ra. Thổ là gốc của số sinh, cho nên số sinh và số thành đều là “5”. Số dương của Hà đồ sinh ở “1”, cực ở “9”. Số âm sinh ở “2”, cực ở “8”. Lấy “9” làm cực của số dương, là bắt đầu của số âm.
  15. ÂM - DƯƠNG động - biến- hoá Quỷ số 2 Thuần Khôn có tương: "Ngạ hổ đắc thực" (Hổ đói được ăn, lâu ngày mới được đi chơi). Quẻ số 11 có tượng: "Manh nha xuất thổ" (Mầm non trồi lên mặt đất).
  16. Hà Uyên xin cùng tham gia: về phương pháp tư duy Thông tin: cháu bé 5 tuổi bị mất tích ngày 15/4/2009 vào khoảng 17h30 ở bờ Tây sông Hàn. Ngày 15/4/2009 Giờ Dậu: Kỷ Sửu - Mậu Thìn - Canh Dần - Ất Dậu (20/3 âm), 5 tuổi. Quẻ Thuỷ địa Tỷ hào 4 được quẻ Trạch Địa Tuỵ (Khôn - Đoài) 2 + 3 + 20 + 5 (tuổi) = 30 - 24 = 6 2 + 3 + 20 + 5 + 10 = 40 = 8 10 quá trình của Âm - Dương chuyển hoá (Động - Biến): "Đầu" số 1 "cuối" số 12 1- Thuỷ Địa Tỷ hào 4 (Khôn) 2- Thuần Khôn hào 5 (Khôn) 3- Sơn Địa Bác hào 6 (Càn) 4- Sơn Lôi Di hào 1 (Tốn) 5- Sơn Trạch Tổn hào 2 (Cấn) 6- Sơn Thiên Đại Súc hào 3 (Cấn) 7- Hoả Thiên Đại hữu hào 4 (Càn) 8- Thần Càn hào 5 (Càn) 9- Trạch Thiên Quải hào 6 (Khôn) 10- Trạch Phong Đại quá hào 1 (Chấn) 11- Trạch Sơn Hàm hào 2 (Đoài) 12- Trạch Địa Tuỵ hào 3 (Đoài) 13- Thuỷ Địa Tỷ hào 4. (Khôn) Phương pháp phân tích: - Tiến trình thuận: quẻ Dịch thông khí" 7 - 8- 9- 10 - 11- 12 - 13 7- Trảm thọ mô tước (Chặt cây mò tổ chim) 8- Khốn long đắc thuỷ (Rồng khốn được nước) 9- Du phong thoát võng (Ong trời thoát lưới) 10- Dạ mộng kim ngân (Đêm mơ thấy vàng) 11- Manh nha xuất thổ (mầm non trồi lên mặt đất) 12- Lý ngư hoá long (Cá chép hoá rồng) 13- Thuận Phong hành thuyền (Thuyền đi thuần gió) - Tiến trình nghịch: quẻ Dịch thông "khí" 7 - 6 - 5 - 4 - 3 - 2 - 1 7- Trảm thọ mô tước (Chặt cây mò tổ chim) Hoả Thiên Đại hữu. 6- Trận thế đắc khai (Trận thế đã mở) Sơn Thiên Đại súc 5- Thôi xa phí lực (Đẩy xe tốn sức) Sơn Trạch Tổn 4- Vị thuỷ phong hiền (Tìm người hiền trên sông Vị) Sơn Lôi Di 3- Ưng thước đồng lâm (Chim Ưng chim thước ở cùng một rừng) Sơn Địa Bác 2- Ngạ hổ đắc thực (Hổ đói được ăn) Thuần Khôn 1- Thuận Phong hành thuyền (Thuyền đi thuận gió) Thuỷ Địa Tỷ Hào Dịch thông khí Ngũ hành: 1- Kim, 2- Thuỷ, 3- Mộc, 4- Hoả, 5- Thổ, 6- Thổ, 7- Thổ, 8- Thổ, 9- Thuỷ, 10- Thuỷ, 11- Mộc, 12- Thuỷ. Kết mối thông tin: ngày 20/3 Kỷ Sửu, giờ Dậu, Tử vi Mệnh lập tại Mùi, cung Giải ách gặp quẻ Sơn Địa Bác số 3, cung Nô gặp quẻ Thuỷ Địa Tỷ. Quẻ số 3 là Sơn Địa Bác động hào 6, quẻ số 9 là Trạch Thiên Quải động hào 6 Quẻ Trung tâm: số 7 Hoả Thiên Đại hữu có tượng: Chặt cây mò tổ chim (Trảm thọ mô tước) Quẻ khởi đầu có tượng: "Thuyền đi thuận gió", quẻ kết thúc có tượng: "Cá chép hoa rồng"
  17. Hà Uyên xin chào các Anh Chi trên diễn đàn. Trân trong, chào anh Thiên Sứ. Lý học, một nguyên tắc cơ bản, là một tiếng nói chính thống. Loài Người dùng ngôn ngữ cực Nam - cực Bắc, phương Đông phương Tây, mà không nói cực Đông cực Tây. ! Phương Đông, người Lạc Việt đã lựa chọn dùng 24 chữ cái La Tinh, mà không dùng chữ Tượng hình. Thiệu Vĩ Hoa đã nói, khi công báo với mọi người trên những diễn đàn lớn, trong những hội nghi Quốc tế (...): "...thú thực, không hiểu tại sao Thiệu Ung lại dùng số Tiên thiên..." Niềm tin, có thể mang lại kết quả đúng hoặc sai, nhưng thực tiễn lại là một tiêu chuẩn để kiểm nghiệm chân lý. Dân tộc Lạc Việt là một nước nhỏ đang sống cạnh một nước lớn. Sự giao thoa là một quá trình tất yếu. Chúng ta, như một cánh bèo, đang trôi ngược dòng. Cũng như Nguyễn Trãi đã nói: Phượng ưa bay cao, Diều ưa lượn (chim Phượng hoàng, chim Diều hâu) Hoa thường hay héo, Cỏ thường tươi. Khi Nguyễn Trãi bị chu di Tam tộc, cho đến tận ngày hôm nay, tại Hà đông - Hà nội, Nhà hát mang tên Nguyễn Trãi cũng bị sập. Trường phổ thông Trung học mang tên Nguyễn Trãi, tỷ lệ học sinh nghiện hút ma tuý rất cao. Đường mang tên Nguyễn Trãi, theo thống kê của Cục Cảnh sát GT, tỷ lệ tai nạn giao thông cũng lại rất cao. Côn Sơn - Kiếp bạc, nơi tôn thờ Nguyễn Trãi, Bộ Văn hoá đã đầu tư 67 tỷ đồng trùng tu, mà nam thanh nữ tú lại không dám viếng thăm, mặc dù chỉ một nén nhang, bởi vì đã quá nhiều đôi lứa bỏ nhau, thật đúng là "kiếp" này đã "bạc". Tại sao lại như vậy ? Hà Uyên trong một thân phận quá bé nhỏ của mình, cũng mong sao, đóng góp một tiếng nói, khi suy tìm về "Quá khứ". Xin chân thành cảm ơn anh Thiên Sứ. Hà Uyên.
  18. KINH PHÒNG KINH THỊ DỊCH TRUYỆN Kinh Phòng (77 – 37 tr.CN) người Tây Hán, là người khai sáng ra Kinh thị Dịch học kim văn. Người đất Đốn Khâu Đông quận, tự là Quân Minh, ông họ Lý. Cống hiến chủ yếu về Dịch học của ông là phát triển tượng số học Chu Dịch. Ông học Dịch ở Tiêu Diên Thọ người nước Lương, sau ông lại học thêm Dịch từ một ẩn sĩ, ông rất thích âm luật, sau đắc tội và chết trong tay Trung thư lệnh Thạch Hiển. Đặc trưng của Dịch học Kinh Phòng là chiêm nghiệm, Kinh thị Dịch học mở đầu cho phái tượng số, là gốc của tượng số, gốc của thuật số. Bốn cống hiến lớn của Kinh Phòng là: Bát cung quái thuyết; Nạp Giáp thuyết; Quái khí thuyết; Âm dương ngũ hành thuyết. Do làm rõ được về tai dị nên được nhà Vua ban thưởng. Với đặc điểm học thuật chiêm nghiệm khí số cho xã hội thông qua tai dị trong thiên nhiên trên nền tảng “thiên nhân cảm ứng”. Bát cung quái thuyết lấy cơ sở về thứ tự các quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn-Khôn-Tốn-Ly-Đoài của “Thuyết quái”. Trong đó 4 quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn là 4 cung Dương, còn 4 quẻ Khôn-Tốn-Ly-Đoài là 4 cung Âm. Căn cứ vào sự phân vạch của quẻ, 8 quẻ thuần là quẻ “thống suất” gọi là quẻ mẹ, các hào của quẻ “thống suất” đều cố định không biến, 7 quẻ bị “thống suất” đều gọi là “kiến quái”, gọi là quẻ con, vì những hào của chúng đều có biến đổi. Kinh Phòng căn cứ vào Dịch nói: “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”. Quy luật biến đổi là hào Dương biến đổi thành hào Âm, hào Âm biến đổi thành hào Dương. Quẻ Đời 1 lấy hào 6 là hào bất biến. Gọi là quẻ Đời 2, là từ 8 quẻ mẹ mà Dịch gọi là “Bát thuần”, do hào đầu tiên biến đổi mà thành. Quẻ đời 3 là do sự niến đổi của 2 hào đầu của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 1 biến đổi hào 2 mà thành. Quẻ Đời 4 là do sự biến đổi của hào 1-2-3 của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 2 biến đổi hào 3 mà thành. Quẻ Đời 5 là do sự biến đổi của hào 1-2-3-4 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 3 biến đổi hào 4 mà thành. Quẻ Đời 6 là do sự biến đổi của các hào 1-2-3-4-5 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 4 biến đổi hào 5 mà thành. Quẻ Đời 7 được gọi là quẻ Du hồn, căn cứ từ quẻ Đời 6 mà biến đổi hào 4 Quẻ Đời 8 được gọi là quẻ Quy hồn, căn cứ từ quẻ Đời 7, biến đổi cả 3 hào hạ quái quẻ Du hồn mà thành. Kinh Phòng căn cứ vào cấu tạo ngôi vị của quẻ 6 hào, lấy hào Sơ (hào 1) làm Khởi đầu (chung), lấy hào Trên (hào 6) làm Kết thúc (thủy), với nền tảng Càn Khôn làm đầu cuối của Âm Dương, nên hào 6 của quẻ “Bát thuần” không biến đổi. Chữ “đời” ở đây là gọi là Thế là do hào biến đổi làm chủ của quẻ biến, gọi là hào “cư Thế”. Quẻ Đời 1-2 gọi là Địa dịch, quẻ Đời 3-4 gọi là Nhân dịch, quẻ Đời 5-6 gọi là Thiên dịch. Quẻ Du hồn và Quy hồn gọi là Quỷ dịch. Quẻ Đời 1 ở đây lấy hào bất biến làm chủ, tức là hào 6 của quẻ “bát thuần”. Về phương diện ngôi vị hào, hào đầu gọi là Nguyên sĩ, hào 2 gọi là Đại phu, hào 3 gọi là Tam công, hào 4 gọi là Chư hầu, hào 5 gọi là Thiên tử, hào 6 gọi là Tông miếu, gọi như vậy với mục đích để phân rõ đẳng cấp tôn ti. Gọi là Thế - Ứng, tức là chỉ sự tương ứng của 3 hào dưới với 3 hào trên trong mỗi cung, tức là hào đầu tương ứng với hào 4, hào 2 tương ứng với hào 5, hào 3 tương ứng với hào trên. Trong đó, hào làm chủ là hào “cư thế”, thì khi chiêm nghiệm, hào Ứng phải theo hào làm chủ, đó là hào Thế, hào Ứng (để phán đoán) là hào có quan hệ mật thiết với đối tượng chiêm nghiệm, ví như giữa vợ chồng, giữa anh em, vì giữa họ có tình cảm tương ứng với nhau. Định cát hung thì lấy hào cư Thế làm chủ. THUY ẾT NẠP GIÁP Càn Khôn là gốc của Âm Dương, là đầu cuối của Âm Dương 64 quẻ cho nên lần lượt nạp Giáp Ất Nhâm Quý. Khi nạp Thiên can vào quẻ thì căn cứ theo số thứ tự Tiên thiên bát quái của quẻ phối với thứ tự của 10 Thiên can như sau: Càn 1 đứng đầu nạp Giáp mộc đứng đầu của Thiên can, Càn thuộc dương nạp Giáp cũng thuộc dương. Tiếp đến Đoài 2 phối với cặp Thiên can Bính-Đinh thuộc Hỏa, Đoài thuộc Âm nên phối với Đinh cũng thuộc Âm. Tiếp đến Ly 3 phối với cặp Thiên can Mậu-Kỷ thuộc Thổ, quẻ Ly thuộc Âm nên phối với can Kỷ thuộc âm. Tiếp đến Chấn 4 phối với cặp Thiên can Canh-Tân thuộc Kim, quẻ Chấn thuộc Dương nên phối với can Canh thuộc Dương. Càn Khôn đối ứng, trời đất định vị, Giáp dương nạp Càn dương, nên Ất âm nạp vào Khôn âm. Cấn Đoài đối ứng, núi đầm thông khí, Đoài âm nạp can Đinh âm, nên Cấn dương nạp can Bính dương. Khảm Ly đối ứng, Thủy Hỏa tương tề, Ly âm nạp Kỷ âm nên Khảm dương nạp Mậu dương. Chấn Tốn đối ứng, sấm gió cùng nhau, Chấn dương nạp can Canh dương, nên Tốn âm nạp can Tân âm. Còn lại cặp Nhâm Quý thuộc Thủy, nạp vào 2 quái phụ mẫu Càn Khôn, Nhâm dương nạp theo Càn dương, Quý âm nạp theo Khôn âm. Kinh Phòng căn cứ theo thứ tự Ngũ hành Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy phối ứng với số Tiên thiên Ngũ hành 3-2-5-4-1, cặp số 3-2 thuộc Xuân-Hạ mà Dương trước Âm sau, cặp 4-1 thuộc Thu-Đông mà Dương sau Âm trước. THUYẾT NẠP ĐỊA CHI “Định cát hung chỉ lấy tượng của một hào”. Kinh Phòng lần lượt cho 6 hào của 64 quẻ đối ứng với 12 địa chi, với quy luật phân theo Chi âm và Chi dương tương ứng với số chẵn lẻ rồi cho đối ứng với 384 hào. Chi dương đi thuận chiều vì dương chủ tiến, Chi âm đi ngược chiều vì Âm chủ lùi, vì 8 quẻ thì có 4 quẻ thuộc dương, 4 quẻ thuộc âm, mà 12 Chi lại có những 6 chi dương và 6 chi âm. Âm theo Ngọ, Dương theo Tý, Tý-Ngọ phân đường đi, Tý đi phía trái, Ngọ đi phía phải. Tháng 11 tháng 5 là tháng Tý Ngọ lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 quẻ Càn. Tháng 12 và tháng 6 là tháng Sửu Mùi lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 của quẻ Khôn, vì căn cứ theo “thuyết quái” nói Càn Khôn là quẻ Cha Mẹ. Thể của quẻ Dịch phải đủ 6 vạch mới thành, 6 vạch lại phân chia ngôi âm ngôi dương mới thành quẻ, mới phản ánh cụ thể mối quan hệ sinh khắc giữa Bố Mẹ và Con của 8 cung quái với vị trí 6 hào. Như quẻ Càn thuộc Kim là quẻ Bố Mẹ, hào Sơ thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, mẹ sinh con, cho nên là cát, hào 4 thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, con khắc mẹ là hung. Như vậy có nghĩa là tương sinh là thuận, tương khắc là hung, mẹ sinh con là đại cát, con khắc mẹ là đại hung. Kinh Phòng nói: Quỷ bát quái là hào “học”, tài là hào “chế”, trời đất là hào “nghĩa”, phúc đức là hào “bảo”, đồng khí là hào “chuyển”. THUYẾT QUÁI KHÍ Kinh Phòng lấy 64 quẻ 384 hào ứng với 1 năm, nói “ hào đầu trên, hào hai giữa, hào ba dưới, số của tháng 3 thành ra tháng 1. Hào đầu 3 ngày, hào hai 3 ngày, hào ba 3 ngày, tất cả là 9 ngày, còn dư ra một ngày gọi là ngày nhuận. Mười ngày của hào đầu là Thượng tuần, mười ngày của hào hai là Trung tuần, mười ngày của hào ba là Hạ tuần, 3 tuần là 30 tích tuần”. “ Thành tháng, tích tháng thành năm, 8 lần 8 là 64 quẻ, chia ra 64 quẻ phối với 384 hào thành 32 x 360 = 11520 thẻ. Khí dịch 24 tiết khí phối hợp với Ngũ hành, thì mọi việc từ đạo Trời, đến vận mệnh con người, đến Trăng, Sao, ta đều có thể thấy được mọi chuyện cát hung rõ ràng”. Âm sinh dương tiêu, dương sing âm diệt, hai khí giao nhau, thì vạn vật mới sinh ra. Dương nhập vào âm, âm nhập vào dương, hai khí giao hỗ không ngừng, cho nên gọi thế là “sinh”. Dương trong âm, âm trong dương, hai khí âm dương hòa vào nhau mà thành “tượng”. Kinh Phòng căn cứ vào âm dương khí hóa, âm dương thăng giáng và âm dương tiêu trưởng chuyển hóa đưa ra nguyên lý quẻ ẩn - hiện, trong đó quẻ “hiện” là quẻ hướng ngoại, lộ mặt, còn quẻ “ẩn” thì hướng nội, tiềm ẩn. Nói chung, tượng quẻ dương phần nhiều là quẻ “hiện”, tượng quẻ âm phần nhiều là quẻ “ẩn”. Ví như quẻ Càn có tượng thuộc dương, phối Thiên thuộc Kim, nó với quẻ Khôn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Quẻ Khôn có tượng thuộc âm, phối hợp với Địa thuộc Thổ, khi phối với quẻ Càn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Nguyên lý “ẩn - hiện” trong tượng hào của quẻ vốn “ngụ hàm” với nhau, như hào Sáu đầu của quẻ Khôn nói “ lý sương kiên băng chí” thích là “ rồng đánh nhau ở cánh đồng, máu chúng chảy ra đen vàng”. Rồng tính dương là đặc tính của Càn dương, nói nên mối quan hệ “ẩn - hiện” của hai quẻ Càn – Khôn, cấu thành cặp quẻ đối ứng với nhau. Không những hai quẻ Càn Khôn đối ứng với nhau, mà giữa 64 quẻ cũng cấu thành từng cặp “ẩn - hiện” với nhau. Khi chiêm nghiệm theo “ẩn - hiện”, ta có thể từ hai mặt chính - phản, tăng lượng thông tin về chiêm nghiệm được nhiều hơn, đó là mối quan hệ giữa hai mặt chính - phản của âm – dương. Theo Kinh Phòng, sự biến hóa âm dương là nguyên nhân khiến cho các thiên thể trong vũ trụ vận động, âm dương thăng giáng là quy luật vận động của Vũ trụ, sự chuyển hóa âm dương tiêu trưởng phản ánh mối liên hệ nội bộ âm dương. Kinh Phòng nhấn mạnh rất nhiều vào sự chiêm nghiệm, ông cho rằng mục đích của sự nghiên cứu Dịch quái là ở chỗ “định cát hung, rõ được mất”, do đó ông sáng tạo ra quẻ 8 cung, phát huy mối quan hệ ngang dọc, là cốt để “định dự cát hung”. Ông nói “ Nghĩa về cát hung, bắt đầu ở Ngũ hành, kết thúc ở Bát quái. Nghĩa lý về âm dương là sự phân định về Năm, Tháng. Một khi Năm, Tháng đã phân định thì sẽ đoán định được cát hung”. Phần lớn vật chất dương là “hư”, vật chất âm là “thực”, “hư” là bề ngoài của dương, “thực” là bên trong của âm, “hư” là bề gnoài của “thực”, “thực” là phần bên trong của “hư”. Thuyết Quái khí là sự đối ứng giữa 64 quẻ và 34 tiết khí, bao gồm Tứ thời và 24 khí, thuyết này bắt nguồn thuyết quái khí của Mạnh Hỷ, bao gồm ba nội dung sau: - Thuyết quái khí Tứ chính quái: lấy bốn quẻ Khảm - Chấn – Ly – Đoài làm tượng ứng với 24 tiết khí, mỗi quẻ có 6 hào ứng với 6 tiết khí. Trong đó, quẻ Khảm ứng với 6 tiết khí từ tiết Đồng chí đến tiết Kinh trập. Quẻ Chấn ứng với 6 tiết khí từ tiết Xuân phân đến tiết Mang chủng. Quẻ Ly ứng với 6 tiết khí từ tiết Hạ chí đến tiết Bạch lộ. Quẻ Đoài ứng với 6 tiết khí từ tiết Thu phân đến tiết Đại tuyết. Trong bốn quẻ này, 6 hào của mỗi quẻ, từ hào Đầu đến hào Trên, lại phân ra làm chủ 6 tiết, như hào Đầu quẻ Khảm, làm chủ việc của tiết Đông chí, hào 2 tiêt Tiểu hàn, hào 3 tiết Đại hàn, hào 4 tiết Lập xuân, hào 5 tiết Vũ thủy, hào Trên tiết Kinh trập. - Thuyết Thập nhị bích quái (nguyệt quái): là thuyết 12 quẻ ứng với 12 tháng. Mỗi một quẻ ứng với 2 tiết khí, 12 quẻ ứng với 24 tiết khí.
  19. Theo cách tư duy của Thiệu Ung, thì lấy "Số" làm căn bản. Thiệu Ung từ Hậu thiên, đã truy tìm ngược lại Tiên thiên, đưa ra "số thứ tự" và "trị số thực" của quẻ Dịch. Vậy thì, ta nên hiểu "số thứ tự" và "trị số thực" này như thế nào ? Hà Uyên đành phải dùng "tượng" của Dịch để tự trả lời cho bản thân: "trị số thực" ví như cùng học một lớp phổ thông, có cùng một năm sinh, nhưng khác Tháng-Ngày-Giờ. Còn "số thứ tự" ví như lớp học lái xe, các học viên trong lớp học lái xe có năm sinh khác nhau, không cùng một gốc để xét về "thời".
  20. Xin chào các anh chị trên diễn đàn. Hà Uyên chào VanTrungHac. Khi Hà Uyên giao lưu với Liêm Trinh trên diễn đàn, Liêm Trinh có nói: "...thống nhất về phương pháp tính..." Quá khứ mà "Cổ nhân" đã để lại cho mỗi người yêu thích về những môn học thuật này, đối với Hà Uyên còn nhiều trăn trở, Hà Uyên chưa dành nhiều thời gian về luận quẻ Dịch. Trước tiên mong VanTrungHac thật sự thông cảm. Hà Uyên đang tập trung vào tìm hiểu về: Nguyên lý cấu tạo các môn Học thuật mà Quá khứ đã để lại cho chúng ta. Tính chính xác ? Độ tin cậy ? Tại sao lại "quy định" như vậy ?. Hà Uyên.
  21. Dear Liêm Trinh. Một tâm sự ! Trước khi Hà Uyên giao lưu với Liêm Trinh trên diễn đàn, số người đã đọc bài viết của Liêm Trinh là (ví dụ là:...), sau khi Hà Uyên giao lưu với Liêm Trinh, thì số người đã đã đọc bài viết này, tại thời điểm này là (ví dụ:... lượt đọc). Đây là một chủ đề mà Hà Uyên đang rất quan tâm, sẽ dành phần nhiều giời gian để tìm hiểu về chủ đề này. Trước khi TA sinh ra, đã tồn tại bao nhiêu Người ? Sau khi TA sinh ra, sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao nhiêu NGƯƠI nữa ? Trước khi ÂM gặp DƯƠNG, hoặc trước khi DƯƠNG gặp ÂM, sau khi ÂM gặp DƯƠNG hay sau khi DƯƠNG gặp ÂM, điều gì sẽ đến với chúng ta ? Mong Liêm Trinh đừng hiểu sai ý nghĩa của sự giao lưu giữa hai chúng ta, Hà Uyên chỉ lấy "số lượt người đã đọc" (làm Hình - Tượng) mà làm một ví dụ thôi.
  22. Liêm Trinh viết "Tôi gieo một que đơn thấy Hà uyên suất hiện ở diễn đàn vào vào đoài cung". Theo phương pháp tư duy của Thiệu Ung, thì Hà Uyên có thể tính như sau: Số người đã đăng ký tham gia diễn đàn LYHOCDONGPHUONG, tới lượt Hà Uyên là 3717. Hà Uyên lấy 3717 chia cho 64, số dư còn lại là 5. Số của Năm-Tháng-Ngày-Giờ mà Hà Uyên đăng ký tham gia lam Tổng chia cho 6 tìm hào động. - Theo Tiên thiên thì 5 là số thứ tự của quẻ Phong Thiên Tiểu súc. - Theo Hậu thiên, thì số 5 bao gồm những quẻ: theo thứ tự như sau: Tiểu súc - Tổn - Vô vọng - Đỉnh - Hoán - Thuần Cấn. Liêm Trinh thấy Hà Uyên theo phương pháp này có được không ?
  23. Vâng, xin chào dichnhan07. Thú thực, Hà Uyên hầu như rất ít khi BỐC DỊCH, mà đã dành thời gian rất nhiều để tự trả lời với chính mình rằng: Tại sao (?) "Quá khứ - Hiện tại - Tương lai", khi nào thì hội tụ thành 1, có nghĩa là: Quá khứ + Hiện tại + Tương lai = 1 Có thể, chỉ có như vậy, thì các môn Học thuận mà Quá khứ đã để lại cho chúng ta một sân chơi, mà không biết bao nhiêu Thế hệ, đều có rất nhiều Người đã dành THỜI GIAN về chủ đề này. Khi đã và đang có số " 1 ", loài Người lại luôn luôn hướng về số " 0 " Cảm ơn dichnhan07.
  24. Chào Liêm Trinh Cảm ơn Liêm Trinh đã dành thời gian cho Hà Uyên. Khi giao lưu trên diễn đàn này, Hà Uyên không hề có ý gì về "mưu lược". Hà Uyên chỉ bộc lộ quan điểm của mình: tại sao Trần Đoàn lại cấu tạo 12 cung trong môn TỬ VI, tại sao THÁI ẤT lại có cấu tạo 16 cung ? Hà Uyên đã nhận thức được KINH DỊCH là gốc nguồn của các môn học thuật: 1 = 13. Tại sao Trần Đoàn trong môn TỬ VI, vòng Tứ hóa: LỘC-QUYỀN-KHOA-KỴ lại căn cứ vào Can của Năm để an sao. ? Năm nay 2009 - Kỷ Sửu, Hóa kỵ an theo GIỜ, như vậy vào giờ Thân chiều nay, Hà Uyên gặp Hóa Kỵ rồi.
×
×
  • Create New...