nhị địa sinh
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
546 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
4
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by nhị địa sinh
-
Thanh Nang Tự. Tăng Cầu Kỷ trứ.Toronto ngày 06/04/2013/. TriTri biên dịch. 楊公養老看雌雄. Dương Công dưỡng lão khán thư hùng (1). 天下諸書對不同. Thiên hạ chư thư đối bất đồng (2). Thái Mân Sơn viết: - Thư hùng là hiện tượng của âm dương, xem thư hùng là xem âm dương của thư hùng bàn, ư dương dùng âm ứng, âm dùng dương triều, tả toàn vi hùng (trống), hữu toàn vi thư (mái) đó là thông luận dã, giá như âm thừa dương vị mà gọi là hùng, dương thừa âm vị mà gọi là thư, cách xem của Dương công là tại đó.Tăng thị khai chương liền vạch ra 2 chữ đó làm nhãn mục các đoạn văn, và là đề cương của Áo ngữ, Thiên ngọc, Đô thiên, không nói lố vậy. Còn chư thư đối bất đồng, là nói Thư hùng chi quyết, tự cụ tiên pháp, bổn vô thư khả đối, nhược hữu đối đắc đồng chi thư, giai phi khán thư hùng chi quyết, nên nói thiên hạ chi thư đối bất đồng. 先看金龍動不動. Tiên khán kim long động bất động (3). 次察血脈認來龍. Thứ sát huyết mạch nhận lai long (4). Thái Mân Sơn viết :- Kim long là phụ mẫu của thư hùng, động bất động là tác dụng của kim long, ôi, vô cực nhi thái cực nhi lưỡng nghi, 1 thư 1 hùng giai bổn thiên phụ địa mẫu mà di chuyển, nên gọi kim long, kim long động thư tất huyết mạch lai long lưỡng phiến tam xoa, giai bổn thư long sở xuất, kim long động hùng cũng vậy, sát huyết mạch, là xét huyết mạch đến từ hà phương, tất biết kim long đến từ hà quái, nên gọi khán thư hùng. 龍分兩片陰陽取. Long phân lưỡng phiến âm dương thủ (5). 水對三叉細認蹤. Thủy đối tam xoa tế nhận tung (6). Thái Mân Sơn viết: - Phân lưỡng phiến là phân thư hùng 2 miếng, tức thiên ngọc phân tử tôn 12 vị, làm 2 bên, (nghĩa bổn do Hà Đồ). Âm dương thủ là thủ lấy âm dương của thư hùng, nhận tả hữu toàn của thư hùng. Tam xoa tế nhận tung là đối định tam xoa chi thủy thư hay hung của kim long, đó là nói xem thư hùng chi pháp. 江南來龍江北望. Giang Nam lai long Giang Bắc vọng (7). 江西龍去望江東. Giang Tây long khứ vọng Giang Đông (8). Thái Mân Sơn viết: - Đây là phân biệt sơn long thủy long xem thư hùng chi pháp, sơn long thể dựng đứng, long từ bắc lại, thủy tất chỉ tại phương nam, lai xứ là khởi, thủy long thể nằm, long tự nam lại, thủy đương bắc chỉ, chỉ xứ là khởi, Giang Nam lai long Giang Bắc vọng, dĩ bắc vi lai long, Giang Tây long khứ vọng Giang Đông, dĩ đông vi lai long, đó là tế nhận tung. 是以聖人蔔河洛. Thị dĩ thánh nhân bốc Hà Lạc (9). 瀍澗二水交華嵩. Triền giản nhị thủy giao Hoa Tung (10). 相其陰陽觀流泉. Tướng kì âm dương quan lưu tuyền (11). 蔔世蔔年宅都宮. Bốc thế bốc niên trạch đô cung (12). Thái Mân Sơn viết: - Thử viện cổ chứng kim, nói lên xem thư hùng chi pháp, không những Dương công vậy mà Châu công bốc Lạc cũng là pháp đó, công thấy triền giản nhị thủy chi giao, hoa tung tương kỳ lưỡng phiến, thư hùng chi âm dương, quang kỳ tam xoa huyết mạch chi lưu tuyền, tả toàn hữu tiếp, rồi đô cung do đó mà định, triền thủy ở đông, giản thủy tây, kiền long ngọ hướng, hoa tung độc ỹ tốn phương, bởi 1 - 6 đồng tông, cự vũ song quan là 1 đại Càn Khôn. 晉世景純傳此術. Tấn thế Cảnh Thuần truyền thử thuật (13). 演經立義出元空. Diễn kinh lập nghĩa xuất Nguyên Không (14). 朱雀發源生旺氣. Chu tước phát nguyên sanh vượng khí (15). 一一講說開愚蒙. Nhất nhất giảng thuyết khai ngu mông (16). Thái Mân Sơn viết:- Nói lên pháp xem thư hùng, không chỉ Châu công vậy, mà đời Tấn Cảnh thuần diễn kinh lập nghĩa nói ra quẻ huyền không xem pháp thư hùng khai giác hậu mông, cũng bất quá xét lấy chu tước phát nguyên chi thủy, đắc thư hùng sinh vượng khí để lập luận nhỉ, ôi, ứng thư lại hùng, ứng hùng lại thư dương sai âm thác đều là tử khí, chưa bảo rằng cát được, xem tác dụng của Thư Hùng là vậy. 一生二兮二生三. Nhất sanh nhị hề nhị sanh tam (17). 三生萬物是玄關. Tam sanh vạn vật thị huyền quan (18). 山管山兮水管水. Sơn quản sơn hề thủy quản thủy (19). 此是陰陽不待言. Thử thị âm dương bất đãi ngôn (20). Thái Mân Sơn viết: - Chương nầy Tăng công thâm đắc thư hùng của Dương công mà khai hồng mông chi ngữ, Ôi! 1 là hùng, 2 là thư, 1 sanh 1 là 2, 2 sanh 2 là 4, 1 hợp 2 là 3, 1 hợp 4 là 5 trung ngũ lập cục đó là sinh số của thư hùng, do đó 6, 7, 8, 9, 10, đều do sinh số sở xuất, 1 là thiên căn, 2 là nguyệt quật, 1 giao 2, 2 cấu 1, trong có huyền quan, người không cảm thấy, sao vậy? 1 giao 2 là 3, tức càn nhập bụng khôn nơi tương giao không là huyền quan à, không là nơi huyền quan của sinh vật ư!. Chí ư sơn âm thủy dương, sơn thư thủy hùng, sơn tự quản sơn, thủy tự quản thủy, phối hợp sinh sinh tự hữu diệu luận, nhất sơn nhất thủy tương đối chi âm dương, tương đối chi thư hùng, thì còn gì để nói. 識得陰陽玄妙理. Thức đắc âm dương huyền diệu lý (21). 知其衰旺生與死. Tri kì suy vượng sanh dự tử (22). 不問坐山與來水. Bất vấn tọa sơn dự lai thủy (23). 但逢死氣皆無取. Đãn phùng tử khí giai vô thủ (24). Thái Mân Sơn viết: - Âm dương huyền diệu lý, tức thư hùng phụ mẫu chi âm dương diệu lý, tri kỳ suy vượng sanh dự tử, là nói lai thủy với tọa sơn đều có âm dương, có thư hùng, đều có sinh tử, nếu thư hùng thất độ tức phạm phạm phá lộc liêm văn chi tử khí cố viết Đãn phùng tử khí giai vô thủ.
-
THANH NANG KINH QUYỄN HẠ (HÓA THẰNH) Vô cực nhi Thái cực dã, lý ngụ ư khí, khí hữu ư địa, nhật nnguyệt tinh tú, cương khí thượng đằng, sơn xuyên thảo mộc, nhu khí hạ ngưng, tư dương dĩ xương, dụng âm dĩ thành, dương đức hửu tượng, âm đức hữu vị, địa hửu tứ thế, khí tòng bát phương, ngoại khí hành hình, nội khí chỉ sinh, thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ, thị cố thuận ngũ triệu, dụng bát quái bài lục giáp, bố bát môn, thôi ngũ vận định lực khí, bài lục giáp bố bát môn, thôi ngũ vận định lục khí, minh địa đức, lập nhân đạo, nhân biến hóa, nguyên chung thủy, thử vị chi hoá thành. Thiên nầy nói lên hình khí tuy khác, mà lý lẽ thì một, cho người thấy rằng do hình cầu khí, là chuẩn mực nhập dụng của địa lý, dịch rằng dịch có thái cực mà sinh lưỡng nghi, Thái Cực là, nói tượng vua trước tiên, trước thiên địa sinh, năng sinh thiên địa là tổ căn của vạn tha, vốn không vật không tượng không số, không phương gốc, không nào chẳng có, nói Thái cực, mà không Thái cực có biết, hậu hiền lập thuyết, lo học giả 1 Thái cực vì có vật, cố nói lên để rỏ mà rằng, vô cực là Thái cực vậy. Lớn là trời đất, nhỏ là vạn vật, vả chăng là các có Thái Cực, vật vật 1 thái cực, các 1 vật toàn đủ cái lý của 1 thiên địa, người biết thái cực vật vật gồm đủ, tức đạo của địa lý, nghỉ đến quá nửa vậy. Lý ngộ nơi khí, khí 1 thái cực vậy, khí gom nơi hình, hình 1 thái cực vậy, dĩ chí trong có thái cực, nên có thể đóng xuống, trợ dương tốt đẹp, trợ cho 1 thái cực vậy, dùng âm để thành, dùng cho 1 thái cực vậy. Thái cực mà để hiển lộ thì gọi là tượng, mà đã tuyên bố thì gọi là vị, đất không 4 thế, 1 thái cực thừa vậy, mà mệnh làm 4 thế khí vô 8 phương, 1 thái cực ngự chi, mà mệnh làm 8 phương thế với phương vậy, tượng đó khí đó, mà mệnh làm thế làm phương đó, cái cực mà cục đâu có định, tức thế với phương, cũng có định đâu trong 4 thế các tự có tượng, tức trong 8 phương các tự có khí, nhưng khí của các phương đó đều là khí lưu hành, do phương thành hình, chỉ gọi ngoại khí, nếu buông thả lưu hành mà không ngưng tụ, tức từ 8 phương đến rồi cũng từ 8 phương mà đi, thiên sơn vạn thủy chỉ để tai mắt xem chơi, như truyền xá như quá khách, cũng không đủ để tuấn phát linh cơ, vun thêm nguyên hóa, tất có vì nội khí mà vậy. Cái gọi nội khí không phải có từ trong tức khí lưu hành từ ngoại lai, ngưng tại đó, có đó 1 ngừng, thì khí hành hình của 8 phương, đều bị thu hút họp tụ nơi đó, là 1 ngưng tất cả đều ngừng, do đó mà nói Thái Cực, là chân thái cực vậy, không đâu không ngưng tức dương không nơi chẳng trợ, âm không nơi vô dụng, mà sinh sinh bất dừng đạo tại nơi trong. Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh 4 tượng, 4 tượng sinh bát quái, vạn sự vạn vật, đều nụ thai nơi đó, thiên trước nói hình chỉ khí súc vạn vật hóa sinh là gồm nói đó vậy, nhưng chỉ nói ngưng, mà không đề rỏ nghĩa tại sao ngưng, e thẩm khí của thế gian, man nhiên mà rút tay, nên cử khí lớn nhất lưu hành nơi khoảng không, gọi là phong, gọi là thủy, vã phong có khí mà vô hình lẫm nơi dương vậy, thủy có hình mà kiêm có khí, 2 đó đều là vật hành khí, cái khí dương theo gió mà đi, cái khí âm theo nước mà hành, mà dương khí hành trở lại tán dương, bởi trong dương có âm vậy, hành âm khí thì trở lại ngưng dương, bởi trong âm có dương vậy. Đất rộng thế gian ở đâu mà chẳng có gió, ở đâu mà chẳng có nước, gió vốn không thể tán nước, nên hà hơi ra cho tán, bệnh thừa nơi trong, thủy vốn không thể ngưng khí, nên hút vào cho ngưng, xảo tại nơi giới, giá mà rỏ được nghỉa thừa với giới, xét khí mà suy pháp thái cực, thì hiểu vậy, văn trên phản phúc suy tường, đều là nói phiếm cái lý của hình khí, chí như chỉ thật cái dụng của địa lý, như vậy tổng quát đầy đủ rồi. Thuận 5 triệu, lấy 5 tinh chánh biến mà thẩm tượng, dùng bát quái lấy 8 phương suy vượng ma thẩm vị, bài 6 giáp lấy 6 giáp kỷ niên mà thẩm vận, bố 8 môn, lấy 8 phong khai hạp mà thẩm khí, khuông khổ của địa lý đều tận nơi đây, suy 5 vận, lấy 5 kỷ doanh hư mà thẩm tuế, định 6 khí, lấy 6 khí lui thay mà thẩm lệnh, cẩn tuế thời để phò then chốt của điạ lý, tận nơi đó vậy. Như vậy thái cực không mất cái chánh, mà địa đức khả minh, tuy nhiên cái minh của thánh nhân là địa đức vậy, không đồ được đức mà thôi, bởi địa có 5 hành, đắc kỳ thuận tức nhân sinh vậy, 5 đức bị kỳ toàn, mà 5 đức thường như kỳ tính, thánh hiền hào kiệt, tiếp nối mà ra, mà lễ nhạc chính hình, không có chẳng theo pháp, không phải nhân đạo từ đó mà lập sao, dù vậy cũng là biến hóa của âm dương, cái xảo tự nhiên, tuy có kẻ trí, không thể lấy ý riêng mà làm xằng, cũng vẩn biết đó là như vậy, nên thôi đi, vả bốc địa táng người thân, là lo đầy đủ việc tang, mà con cháu thế trạch đều ra trong đó, tức nhân đạo đã hết, mà là nhân đạo đã bắt đầu, vả chăng đạo lý là vậy, thánh nhân khai vật thành vụ, không thứ nào lớn hơn được, nên gọi hóa thành đó vậy. (hết) Nguồn: vietnambuysell.com
-
THANH NANG KINH Quyển Trung (Hóa Cơ) Kinh Viết: Thiên hữu ngũ tinh, Địa hữu ngũ hành, thiên phân tinh tú, địa liệt sơn xuyên, khí hành ư địa, hình lệ ư thiên, nhân hình sát khí dĩ lập nhân kỷ, Tử Vi tây cực, Thái Ất chi ngự, quân lâm tứ chánh, nam diện nhi trị, Thiên Thị đông cung, Thiếu Vi tây vực, Thái Vi nam viên, bàng chiếu tứ cục, tứ thất vi kinh, ngũ đức vi Vĩ, vận cán khôn dự, thùy quang kiền kỷ, thất chánh xu cơ lưu thông chung thủy, địa đức thượng tái, thiên quang hạ lâm, âm dụng dương triều, dương dụng âm ứng, Âm Dương tương kiến phúc lưu thông chung thủy, địa đức thượng tái, thiên quang hạ lâm, âm sở lâm, địa chi sở cảm, hình chỉ khí súc, vạn vật hóa sinh, khí cảm nhi ứng, quỉ phúc cập nhân, thị cố thiên hửu tượng, địa hủu hình, thượng hạ tương tu, nhi thành nhất thể, thử chi vị Hóa Cơ. Tiên nầy nói hình của tượng, là hóa cơ của trời đất, mà chỉ thị khí theo chịu vậy, văn trên đã rỏ hà đồ lạc thư, và lý của tiên thiên hậu thiên bát quái, Thánh nhân làm Dịch chỉ tận nơi đây, thiên địa âm dương chi đạo cũng tận nơi đây, nhưng thánh nhân không tự làm dịch, cái tứ tượng bát quái, đều ngưỡng pháp nơi trời, cho nên thiên nầy chuyên chỉ thiên tượng mà nói. Ôi, dịch của bát quái, lấy tượng ngũ hành nơi đất, thật nhân trời có ngũ diệu, ngũ diệu ngưng đọng ở trên, mà ngũ hành lưu khí nơi dưới, tinh tú của trời, ngũ diệu làm phân quang liệt tượng vậy, núi sông của đất, ngũ hành làm thành thể kết soạn vậy, nên núi sông không liệt tú mà thường đủ hình liệt tú, xem hình trình ra của nó, tức đã biết khí lẫm của nó. Ôi, có hình đó lẫm khí đó, vật hóa tự nhiên, ban sơ chưa cập đến nhân sự, mà thánh nhân ngửa xem cúi xét, nhân kỷ từ đó lập vậy, Mộc là tuế tinh, phương vị tại đông, kỳ lệnh là xuân, kỳ đức là lễ, Hỏa vi Huỳnh hoặc kỳ vị tại nam, kỳ lệnh là hạ, kỳ đức là nhân, Thổ vi trấn tinh, kỳ phương vi trung ương, kỳ lệnh vi quí hạ, kỳ đức vi tín, Kim vi Thái Bạch, kỳ phương vi tây, kỳ lệnh vi thu, kỳ đức vi nghiả, Thủy vi Thần Tinh, kỳ phương vi bắc, kỳ lệnh vi đông, kỳ đức vi trí, hồng ngự thế tể vật, đạo của 1 trời đất vậy, bởi nói thiên thể, tức có thất chính để tư nguyên hóa, nhật nguyệt ngũ tinh đó vậy, có tứ viên để trấn bốn phương, Tử Vi, Thiên Thị, Thái Vi, Thiếu Vi đó vậy. Có 28 tú để phân bố chu thiên, thương long 7 tú giác cang đê phòng tâm vỹ cơ, chu điểu 7 tú tỉnh quỉ liểu tinh trương dực chẩn, bạch hổ 7 tú khuê lâu vị mão tất chủy sâm, huyền vũ 7 tú đẩu ngưu nử hư nguy thất bích đó vậy, 4 viên tức 4 tượng, 7 chính tức âm dương ngũ tú chi căn bản, cái then do nơi bắc đẩu, phân làm 4 phương mà là 28 tú, nên phò hư mão tinh ứng nhật, tâm nguy tất trương ứng nguyệt, giác đẩu khuê tỉnh ứng tuế tinh, vỹ thất chủy dực ứng doanh cảm, cang ngưu lâu quỉ ứng thái bạch, cơ bích sâm chẩn ứng thần tinh, đê nử vị liểu ứng trấn tinh, lâm chế phương ấy các 1, 7 chính vậy. Hổn thiên đủ vòng tuy nói 4 phương, mà đã có bát quái 24 hào tượng rồi, không kinh thì không thể lập cục, không vĩ thì không thể mà thay đổi, 1 kinh 1 vĩ chân âm chân dương giao đạo vậy. Giao đạo duy lạc mà là thể của hậu thiên, vòng chu mà cố ư ngoại, thể của địa, kết thúc mà an nơi trong, đó là lưu hành của nguyên khí, tự nhiên mà thành khí, kỳ thủy vô thủy, kỳ chung vô chung, bao la lục hợp, nhập nơi vô gian, tuy danh âm dương, 1 khí mà thôi, người có thể được 1 khí đó tức kẻ sinh thì có thể được kỳ sinh, mà kẻ tử cũng đặng kỳ tử, cái đạo địa lý gồm 1 mối của nhân kỷ, mối đó đả lập, tức các chính y thứ mà ứng vậy. Nên thánh nhân trọng kỳ sự, dùng tại đất mà tất cầu mối nơi trời, bởi bổn khí đó tự đến vậy, nhưng khí không thấy được mà hình thấy được, cái khí không thấy được tức gởi nơi hình có thể thấy được, hình là khí sở thành, mà tức là đội khí, khí phát ở trời, mà kẻ đội là đất, khí bổn là dương mà kẻ đội là âm, nên có âm tức có dương địa đắc kỳ sở mà thiên khí qui vậy, thiên địa vô thời bất giao hội, âm dương vô thời bất tương kiến, tương kiến mà được chánh xung hòa, tức là cửa phúc đức, tương kiến mà không được chánh xung hòa, tức là trái nhau mà là họa căn, họa phúc khác lối chỉ tranh 1 khoản, thật đáng sợ vậy Vả cũng biết tinh tú đẹp nơi trời, núi sông mà có thể liệt nơi đất vậy, khí của trời, lúc nào chẳng có, mà mặt nhật được dương tinh của trời, mà hằng là nhật,mặt trăng được âm tinh của trời, mà hằng là trăng, ngũ diệu được ngũ tinh khí của trời, mà hằng là vỹ, chí ư 4 viên 28 tú,chúng tinh hoàn liệt lại được tinh của nhật nguyệt ngũ tinh, mà hằng là kinh, đó tức là tại trời mà có hình vậy, lại có cái khí đội trời, khí của đất không lúc nào chẳng có, sơn được khí của nhật nguyệt ngũ tinh mà hằng là sơn, xuyên đắc khí của nhật nguyệt ngũ tinh mà hang vi xuyên đó tức là có hình tại địa để đội khí của địa vậy. Liệt tú được khí của trời mà sinh nơi trời, liệt tú với trời một thể vậy, sơn xuyên đắc khí của địa mà sinh nơi địa, sơn xuyên với địa một thể vậy, vạn vật sinh nơi trời đất cái nào chẳng vậy,Vả vạn vật không thể tự sinh mà mượn khí của trời đất để sinh, nhưng thiên địa không có ý sinh vạn vật, mà vạn vật các tự có đất đất vậy, vừa với khí của trời đất gặp nhau trong nơi bí ẩn hoảng hốt, mà có được thấm nhuần lại có đuợc lo liệu vậy. Vả mà có nụ thai, thì khiến khí thiên địa ngưng mà không đi, tích mà lũy rồi với 1 vật bột nhiên sanh ra vậy, đạo của địa lý, tức khiến ta muốn lấy hình đủ để nạp khí, mà khí không nơi ta, đi tức hình với khí giao mà thành 1, tức khiến nơi đất ta chiếm đủ để nối trời, mà trời không cách ta, tức đất với trời giao mà thành 1, bởi hình khí thiên địa đả hợp thành 1, tức hài cốt đã táng cũng với khí của thiên địa là 1, mà tử phách sinh nhân khí mạch đưa đẩy thì cũng là 1. Phúc ứng mà đến bằng trương cơ thẩm quát, đó là hóa cơ vậy, nếu không chứa thì không cửa, ngưng cũng không cách, tuy liệt tú đầy trời chiếu rạng trung thiên, mà ta không mong chiếu đến, tuy đại địa dương hòa, tràn lưu 8 hướng mà ta không được thấm ướt, trời là khuông khuếch, đất là ruộng lúa, xương thì mau mục, con cháu thì bám sinh, tôi chưa từng thấy phước vậy, không thể bất thận trọng không thể bất thận trong vậy. (còn tiếp quyễn hạ)
-
Tư liệu tham khảo. =============== ĐỊA LÝ BIỆN CHÁNH (Tưởng Đại Hồng chú) TriTri dịch. Thanh Nang Kinh Quyễn thượng. Thiên tôn địa ty, dương kỳ âm ngẩu, 1, 6 cộng tông, 2, 7 đồng đạo, 3, 8 vi bằng, 4, 9 vi hửu, 5, 10 đồng đồ, hạp tịch kỳ ngẩu, ngũ triệu sinh thành, lưu hành chung thủy, bát thể hồng bố, tử mẩu phân thi thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ, trung ngũ lập cục, chế lâm tứ phương, bối 1, diện 9, 3, 7 cư bàng, 2, 8, 4, 6, tung hoành kỷ cương, dương dĩ tướng âm, âm dĩ hàm dương, dương sinh ư âm, nhu sinh ư cương, âm đức hoằng tế, dương đức thuận xương, thị cố dương bổn âm, âm dục dương, thiên y hình, địa phụ khí, thử chi vị hoá thủy. Thiên nầy lấy khí vô hình làm đầu mối trời đất, mà suy nguyên đạo từ sở đến vậy, Vã dương khí thuộc trời mà thật điềm nơi trong đất. Thánh nhân làm dịch để rỏ đạo trời đất, đều nói âm dương hằng trợ nhau vì cội rể, trời cao mà tôn, địa thấp mà ti, nhưng kẻ tôn có đức hạ tế, kẻ ti có nghỉa thượng hành, 1 âm 1 dương, 1 kỳ 1 ngẩu, số ấy tham ngũ, cho nên tế 1, hình ấy đối đải, cho nên vảng lai, trời đất khuông khuếch do đó mà thành, bốn mùa thay đổi, do đó mà chuyển, vạn vật hóa dục do đó mà phôi. Vã đó đạo kỳ ngẫu của âm dương, tuỳ cử 1 vật không nào chẳng có, trời đất vô tâm thánh nhân vô ý, tự nhiên lưu lộ, mà tượng sáng rỏ nơi Hà Đồ, mới có 1, 6 cộng tông, 2, 7 đồng đạo, 3, 8 vi bằng, 4, 9 vi hửu, 5, 10, đồng đồ chi tượng. Thánh nhân do cái tượng mà cầu cái nghỉa, lấy kỳ thuộc dương nên có tên gọi trời 1, trời 3, trời 5, trời 7, trời 9, lấy ngẩu làm âm mà tên gọi đất 2, đất 4, đất 6, đất 8, đất 10, Hể có 1, tất có 2, có 3 tất có 4, có 5 tất có 6, có 7 tất có 8, có 9 tất có 10, nên nói số tham ngũ là vậy. Đây 1 đó 2, đây 3 đó 4, đây 5 đó 6, đây 7 đó 8, đây 9 đó 10, ấy gọi là hình đối đải vậy, thiên số địa số mổi thứ được 5, đó gọi là số 1 thành, mà vô cùng trăm ngàn vạn ức, do đó mà suy vậy, thiên số địa số mổi số được 5, hợp 2 x 5 thành 10, bởi có 5 tức có 10, cũng như có 1 tức có 2, là đạo tự nhiên của âm dương vậy. Thế nên có 1 của trời tức có 6 của đất, có đất 2 tức có trời 7, có trời 3 tức có đất 8, có đất 4 tức có trời 9, có trời 5 tức có đất 10, đó là số âm dương, để tham ngũ mà nhất loạt vậy, Dịch nói, 5 vị tương đắc là ví đó vậy, mà 1, 6, tại dưới tức 2, 7 tất ở trên, 3, 8 bên trái, tức 4, 9 tất tại bên phải, 5 ở giửa 10 cũng ở giửa đó là số âm dương đối đải mà qua lại vậy. Dịch nói, 5 vị tương đắc mà các có hợp là nói như thế vậy, đã lấy tham 5 mà tề 1, nên 1 kỳ 1 ngẩu, sáng nhiên không rối, để đối đải qua lại, nên giửa kỳ và ngẩu 1 đóng 1 mở, điềm nhiên mà tự ứng, đó là sinh thành phải theo vậy. Thiên 1 sanh thủy, mà địa 6 thành chi, Địa 2 sinh hỏa mà thiên 7 thành chi, thiên 3 sinh mộc, mà địa 8 thành chi, địa 4 sinh kim mà thiên 9 thành chi, thiên 5 sinh thổ mà địa 10 thành chi, 1 sinh 1 thành, đều là cái khéo của âm dương giao cấu, 2 khí tương giao, mà 5 hành triệu vậy, giáng ư trên 9 thiên, thăng ư dưới 9 địa, châu lưu 6 cỏi, không ngừng nghỉ, khởi đầu rồi hết, hết rồi lại bắt đầu, không 1 hơi thở lưu hành, tức không 1 hơi thở không giao cấu, đương nó không mà thể nó hồn nhiên đã thành, đương nó có mà thể nó trật nhiên có tượng. Thánh nhân nhơn tượng số của hà đồ, mà lập được thể quái, vã hà đồ chỉ có 4 tượng, mà trên quẻ thành 8 thể 10 sao vậy, bởi 1 gạch thành hào, hào là giao vậy, khí của Thái Thủy chỉ có 1 dương, tên là Thái Dương, thái dương 1 giao mà thành Thái Âm, gọi là lưỡng nghi, thái âm thái dương tái giao, mà thành thiếu âm thiếu dương, cùng với thái âm thái dương thì là 4 tượng, đó là hiện tượng của hà đồ vậy, là bởi hà đồ mổi phương 2 số, gộp lại tức có 8, đó là tượng của hà đồ ẩn mà hiện vậy. Cho nên 8 quẻ là do 4 tượng, hào có 3 là do 3 lần giao, kiền khôn 2 quẻ là mẹ, 6 quẻ là con, đó là mẹ con 8 quẻ vậy, các quẻ tự làm mẹ, 3 hào là con, đó là mẹ con 1 quẻ vậy. Lấy đó phân thi tạo hóa, bố khắp cả vũ trụ, rồi đó cử dương kiền là trời, đối với âm của khôn đất, gọi là thiên địa định vị, thiên phục nơi trên, địa tải nơi dưới, đó là âm dương 1 giao, mà thành thiên địa vậy. Cử dương như cấn là sơn, đối với âm đoài là trạch, gọi là sơn trạch thông khí, sơn tải ở dưới tức trạch thụ nơi trên, cử dương như chấn là lôi, đối vói âm tốn là phong, gọi là lôi phong tương bạc, lôi phát từ dưới, tức phong động nơi trên, cử dương như khảm là thủy, đối với âm ly là hỏa, gọi là thủy hỏa bất tương xạ, thủy hỏa bình hành, hình thường tương cách, mà tính thường tương thân vậy. Đó là 3 âm 3 dương các tự giao nhau, mà sinh vạn vật vậy, tiên hiền lấy đó mà làm quẻ tiên thiên, phục hy sở định, bổn nơi long mã phụ đồ mà tác, thực tức hổn độn sơ phân, là tượng khai tịch của thiên địa vậy. Tứ tượng trung hư thành ngũ vị, trong ngũ đó tức tứ tượng giao vị, chân dương của kiền, chân âm của khôn, đều không hình mà có thổ hình, mà dưới thổ đó là huỳnh tuyền, đều là khôn địa tích âm khí, trên thổ đó là thanh hư, đều là kiền địa tích dương khí, mà da thổ đó trải bằng như bàn tay, là chí âm chí dương nơi kiền khôn giao cấu, thủy hỏa lôi phong sơn trạch, phàm thiên địa chi các hóa cơ, đều lộ nơi ấy cho nên trung ngũ là bát quái thác thể trử tinh, thành hình mà nơi hiển dụng vậy. Nên hà đồ lạc thư, đồng ở trong ngũ mà lập cục vậy, hà đồ tuy có tứ tượng, mà tiên thiên dương thăng âm giáng, trên dưới sơ phân chưa thể gọi tứ phương, từ trung ngũ lập cục, rồi sau tứ cục hoạch nhiên, các chánh kỳ phương, có chánh vị của tứ phương mà tứ duy xen nơi giửa,do đó 8 phương đã thành, gồm trung ngũ hoàng cực mà làm 9, phân mà bố như, 1 khởi chánh bắc, 2 cư tây nam, 3 cư chánh đông, 4 cư đông nam, ngũ phục cư trung, 6 cư tây bắc, 7 cư hướng tây, 8 cư đông bắc, 9 cư chánh nam, vị chi 9 trù, đó tuy xuất từ lạc thư, mà thật với số của hà đồ phù hợp.Cái lý của thiên địa tự nhiên phát hiện không khác vậy, bố vị đó gọi, đái 9 lý 1, tả 3 hửu 7, 2, 4 vi kiên, 6, 8 vi túc, nơi của 8 phương, đúng với số 8 phương đồng đều. Thánh nhân bèn lấy bát quái lệ theo, mà thứ tự gọi khảm 1 khôn 2 chấn 3 tốn 4 trung 5 kiền 6 đoài 7 cấn 8 ly 9, đó là 4 chánh 4 duy định vị không thay đổi, số tuy khởi 1, mà thật dụng chấn là đầu, bởi sau khi thành vị thiếu dương dụng sự, tiên thiên chủ thiên mà hậu thiên chủ nhật, nguyên tử kế thể thế phụ vi chính vậy. Dịch nói, đế xuất hồ chấn, tề hồ tốn, tương kiến hồ ly, trí dịch hồ khôn, thuyết ngôn hồ đoài, chiến hồ kiền, lao hồ khảm, thành ngôn hồ cấn, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, là, cổ kim thiền đời suy di, châu rồi phục thủy vậy, chấn tốn ly khôn đoài càn khảm cấn giả, mọc lặng của nhật nguyệt, khí cơ của tứ thời, vận hành dời chiếu, đảo vòng không bến vậy. Tiên hiền lấy đó làm quẻ hậu thiên, xưa kia đại vũ trị thủy, thần qui xuất lạc, văn vương nhân đó mà làm quẻ hậu thiên, há lúc phục hy họa quái chưa có lạc thư, mà đến lúc đại vũ trị thủy, chưa có quẻ vị hậu thiên à, trộm nghỉ đồ thư, tất ra cùng một lúc, mà tiên thiên hậu thiên quái vị cũng định trong một ngày, phục hy chỉ có quái hào, rồi văn vương mới ghép từ vào. Hà Đồ Lạc Thư không có 2 số,Tiên Thiên Hậu thiên không có 2 nghỉa, khác nơi quẻ tiên thiên dùng âm dương đối đải để nói, có đây đó mà không phương góc, quẻ của Hậu thiên lấy âm dương lưu hành mà nói, tức có phương góc ư, đến như mục đích làm quẻ, muốn tại nơi âm dương cùng đắp đổi gốc là 1, hởi đạo của dịch, quí dương tiện âm, tức dương đương là chủ, mà âm đương là phụ, mà rồi nói dương để tướng âm là gì vậy. Bởi cái xảo của dương không tại nơi dương, mà tại nơi âm, cái dương trong âm mới là chân dương, cố âm có cảm thì dương lại ứng, tựa hồ âm phản làm quân, mà dương phản vi tướng, đó là kinh nói tôn chỉ của thần minh vậy, nhưng dương sở dỉ đến ứng với âm đó là trong âm bổn tự có vậy, dĩ loại mà theo nên đến mà ứng, không phải là âm chứa dương sao, âm chứa dương tức năng sinh dương, nhất thiết khí phát sinh, đều do dương nắm giử, tức đều do âm mà ra tất cả, cương nhu tức âm dương, âm dương do khí mà nói, cương nhu do chất mà nói.Dịch nói Càn cương khôn nhu, lại nói cương nhu xoa nhau, bát quái đu đưa nhau, trong bát quái đều có âm dương, tức đều có cương nhu, bằng lấy dương làm cương, lấy nhu làm âm, tức nên là cương do nhu sinh vậy. Mà rồi nói nhu sinh nơi cương là gì vậy, khí là vô hình, dương cương mà âm nhu, chất đã có hình âm cương mà dương nhu, nơi có hình của cương chất, lại sinh vô hình của nhu khí, chất sinh khí, khí hoàn sinh chất, nên nói nhu sinh nơi cương vậy, phàm kỳ sở dĩ năng tương trợ năng vi bao hàm sinh sinh bất tức, như vậy là tức lấy âm làm dương. Bởi tự có kỳ đức, duy đức của âm, năng hoằng đại ư dương, để tế dương mà thí, nên đức của dương, năng thân thuận ư âm, để xương cái hóa của âm, đó là cái xảo của âm dương, để khí mục cảm thấy nơi hà đồ lạc thư, quái tượng của tiên hậu thiên là vậy, do đó tức có thể biết đạo của trời đất vậy, đạo của trời đất, dương thường bổn nơi âm mà âm thường dục nơi dương, nên trời không khuếch nhiên không hư mà vì trời vậy, cái khí thường y nơi hửu hình, mà không lúc nào không hạ tế, đất không khối nhiên bất động mà là đất vậy, cái hình thường phụ nơi nguyên khí, mà vô thời không thượng thăng, nhưng mà khí của trời, thường tại lòng đất, mà khí của đất, đều là khí của trời, âm dương tuy 2 khí, mà chỉ 1 khí à, bởi sinh trời đất là khí đó, mà sở sinh vạn vật cũng là khí đó, nên gọi hóa thủy vậy.(hết quyển thượng) . Nguồn: vietnambuysell.com
-
Tư liệu tham khảo. ============== DƯƠNG CÔNG TRẤN SƠN QUYẾT Cụ TriTri biên dịch 25/4/2013 Cổ truyền Thiên Tinh Thiên ky hằng phối đồ. 1/ Số Hà Lạc. 2/ 24 sơn. 3/ Hà lạc long thủy giao phối. 4/ Số thứ tự 9 tinh. 5/ Thế quái khởi lệ (tham cự vũ). 6/ 4 cục thủy pháp đồ (tam dương đại trung tiểu). 7/ Chính linh điểm vị âm dương đối quái (sinh vòng trắng tử điểm đen). Đó là long phối tọa, hướng phối thủy, hợp số của Hà Lạc, 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, chi phối hằng thành hợp số thâu kiêm linh đường sinh khí âm dương đối chánh, thác (sai), phân cát hung họa phúc chi đồ. Hà Lạc Chi Căn Nguyên. Quyết viết: - Giang đông nhất quái tùng lai cát, 8 thần 4 cá 1. Giang tây nhị quái bài long vị, 8 thần 4 cá 2. Nam bắc 8 thần cộng 1 quái, đoan đích ứng vô sai. Lạc Thư 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, tương phối là 4 cá 1, vi 4 đại cục, như 1 bạch long nhập thủ, phối 6 bạch tọa sơn, hướng với thủy 4 x 9 tương phối, hướng phối thủy long phối tọa sơn vi 1 quái chi dụng, thành 4 cái 2, đó là phong thủy chi căn nguyên, nếu xa lẽ nầy định xuất sai lệch. Luận Tam Quái. Quyết viết: - 24 long quản 3 quái, 24 long bất xuất 3 quái 2 phụ mẫu Khảm Ly Chấn Đoài 4 sinh 4 vượng, Kiền Cấn Tốn Khôn 4 sinh 4 mộ, mà nam bắc đông tây âm dương hội hợp chi tình, đều tại đó vậy. Tam quái tức Thiên Địa Nhân, 4 vượng Tý Ngọ Mão Dậu, 4 sinh Dần Thân Tị Hợi, 4 mộ Thìn Tuất Sữu Mùi, sinh giả vi Nhân nguyên, vượng giả vi Thiên nguyên, Mộ giả vi Địa nguyên, long tọa hướng thủy đồng tại một nguyên trung vi hội hợp chi tình. Luận Nguyên Không Quái. Quyết viết: - Thiên quái giang đông chưởng thượng tầm, tri liểu trực thiên kim. Địa hoạch bát quái thùy năng hội, sơn dữ thủy tương đối. Chú- Thiên quái tức 3 nguyên 9 vận chi quái số, như năm 1984 tới năm 2003 là hạ nguyện vận 7, năm 2004 tới năm 2023 là hạ nguyện vận 8, địa hoạch bát quái là bài phi tinh, vận 7 lấy 7 nhập trung cung phi tẩu 9 cung, long thủy tọa hướng tái luận sinh khắc. Nhập Thủ Luận. Quyết viết: - Tiên định lai sơn hậu định hướng, liên châu bất tương phóng, tu tri tế mịch 5 hành tung, phú quý kết kim long. Chú- Nhập thủ tức huyệt tinh nơi bó khí, tại nơi đó hạ la bàn xem long từ chữ nào đến thì là long đó nhập thủ, đó là xem phong thủy tác động bước 1, thường thì xem phong thủy chỉ 1 bước nầy, nhưng người xưa kẻ đạt quan quí nhân còn đuổi tróc long mạch, từ nơi long thủy tổ bắt đầu theo đuổi đến nơi kết huyệt nhập thủ mới thôi, đó là nội dung bài long quyết, hiện đại thì không thích hợp dùng nữa. Tọa Hướng Luận. Quyết viết: - 5 hành nhược nhiên phiên trực hướng, bá niên tử tôn vượng, âm dương phối hợp diệc đồng luận, phú quí thử trung tầm. Chú - Trước tiên xem là chữ gì nhập thủ, hợp Lạc thư 1 x 6, 2 x 7, 3 x 8, 4 x 9, tương phối, tái hợp 3 quái thiên địa nhân chi dụng là thượng cát, tại 1 cục (khảm) chi nội thứ dùng thế quái ai tinh khả tốc phát phúc, nhưng không được lâu dài, tất định phải lập kiền sơn hướng tốn, vi thượng cát, nhưng lập tý nhâm hợi 3 sơn, cũng đồng trong 1 cục, sở dĩ là thứ cát, xuất thiên (lệch) luận, lập tuất sơn là ngoại vị, đi làm ăn xứ khác, là cục xuất ngoại, lập tý kiêm quí, hoặc quí sơn dùng thế quái, kỳ dư phỏng theo như vậy, Long phối tọa sơn chủ yếu là vượng nhân đinh, tùng tý long nhập thủ, có thể thấy được, do tý bắt đầu xuất 1 đinh, long huyệt vượng thành bội 4 đinh, nhâm xuất 2 đinh vượng vi 5 đinh, hợi xuất 3 đinh vượng xuất 6 đinh, kiền xuất 4 đinh vượng 7 đinh, tuất xuất 2 vượng xuất 5 đinh, Quí vị dùng thế quái luận khác, 1 cục đó do tý đến tuất lập kiền tốt nhất, cái khác thứ cát, như không ở trong 1 quẻ đó, là tổn đinh cục, lập tân sơn tổn 3 con, dậu sơn tổn 4 con, canh sơn tổn 2 con, dù có cát tinh đến cứu trợ cũng tổn phân nửa, đó là tả chuyển chánh bài, hữu chuyển lập tọa hướng vi nghịch bài đinh, như kiền long lập tý sơn, tắc tùng kiền 1 bắt đầu, tới tý là 4 con, kỳ dư long phối sơn cũng phỏng theo cục nầy. Tài Đinh Hợp Cục. Quyết viết: - Phụ Mẫu âm dương tử tế tầm, tiền hậu tương kiêm định, Tiền hậu tương kiêm lưỡng lộ khan, phân định lưỡng biên an, Quái nội bát quái bất xuất vị, đời đời xuất tôn quý, Hướng thủy lưu quy nhất lộ hành, đáo xứ hữu thinh danh, Long hành xuất quái vô quan quý, bất dụng lao tâm lực, Chỉ bả Thiên y phúc đức trang, vị giải kiến vinh quang. Chú - Long phối tọa, hướng phối thủy, vi hợp cục, long phối tọa vi bán cục quản nhân đinh, hướng phối thủy vi bán cục quản tiền tài như đắc 1 thất 1 là thiên lệch, hữu tài vô đinh hoặc đinh vượng vô tài, Lạc thư vi căn nguyên, lại như Tý long phối càn sơn, đắc thủy tùng đinh nhập bính tái tụ tốn hợp thành tài đinh đại vượng chi cục, lại như càn long lập Tý sơn cũng phối đinh nhập bính tái tụ càn chi thủy lại hợp 1 cát cục, cho thấy long có thể biến hóa, nhưng tam dương thủy cục thì cố định bất biến vậy. Tứ Đại Thủy Cục. (Đại, trung, tiểu). Quyết viết: - Tam Dương thủy khẩu tận nguyên lưu, phú quí vĩnh vô hưu, 3 dương 2 tú 6 thần đương, lập kiến nhập triều đường, thủy đáo ngự giai quan tiện chí, thần đồng trạng nguyên xuất, ấn thụ nhược nhiên thủy khẩu xuất, ngữ cận đài phụ xuất. Chú - Tam dương thủy là tiểu trung đại 3 thần thủy ở trong 1 cục, lục tú là chỉ sa của địa chi với thủy phối hợp, Ngự giai là chỉ Kiền Tốn Khôn Cấn 4 vị, cũng gọi 5 lý thần thủy pháp, bởi từ tiểu thần đến đại thần vừa đúng 5 vị, như 1 x 6 cục, thủy từ Quí chảy vào Nhâm rồi chảy vào Kiền mà tụ lại, đó là tiểu thần chiết nhập trung thần vị, trung thần chiết nhập đại thần vị, phát phú đều lâu dài, như Ngọ long nhập thủ lập Tốn sơn Kiền hướng, thủy tùng Quí phương lai đáo Nhâm tiểu Đình tái tụ nơi Kiền vị, đó là thượng đẳng phong thủy huyệt, nhưng thực tế muốn hợp 4 đại cục đất đó thì rất ít, chỉ khả ngộ mà bất khả cầu, trong ứng dụng, tam dương thủy được 2 hay 1 thủy giáng tụ là đủ rồi. Quý Đinh Tân Ất, Quí (tam phòng) nam điạ, thủy tụ phương ấy phát 3, 6, phòng. Nhâm Bính Giáp Canh trọng nam địa, thủy tụ nơi ấy phát 2, 5, phòng. Kiền Khôn Cấn Tốn trưởng nam địa, thủy tụ nơi ấy phát 1, 4, phòng. Nếu tam dương vị có sơn phá thủy tại đất phương nào thì phòng đó bị phá, như Tốn sơn Kiền hướng, Kiền phương có gò núi chỉ còn Quý Nhâm 2 phương tụ thủy, thì trọng quí 2 phòng phát, trưởng tử bị phá. Từ tiểu chảy qua đại vi cát, lại cũng có thủy từ đại chảy đến tiểu như cục 1, Quí qua Kiền hợp cục, Kiền qua Quý vi phản cục chủ thối tài nếu đình tụ thì cát, như từ Kiền đến Nhâm đình tụ rồi lại chảy đi phương Quí, thì trưởng, quí, 2 phòng thối bại, chỉ trọng phòng 2x5, phát tài. Trong 4 đại thủy cục chủ sở phát. 1 x 6 - cục chủ phát quý, 4 x 9 - cục chủ phát thanh phú quý, 2 x 7 - cục, 3 x 8 - cục là đại phú cục, dĩ hướng phối thủy quản tiền tài, Tân nhập kiền cung bá vạn trang, (nước trước huyệt từ tả đổ qua hữu). Quý qui cấn vị xuất văn chương, Ất hướng tốn lưu thanh phú quý, Đinh khôn chung thị vạn tư thương, Đây là sở giảng giải 4 đại thủy cục. Luận Thế Quái Ai Tinh. Quyết viết: - Duy hữu Ai tinh tối vi quý, Tiết lậu thiên ky bí, Thiên ky nhược nhiên an tại nội, gia hoạt thường phú quới, Thiên ky nhược nhiên an tại ngoại, gia hoạt tiệm thối bại, 5 tinh phối xuất 9 tinh danh, thiên hạ nhậm hoành hành, Can duy càn cấn tốn khôn nhâm thuận, tinh thần luân chi thần, Khảm chấn ly đoài quí, âm quái nghịch hành thủ phân định, Âm dương qui lưỡng lộ thuận nghịch thôi, bài khứ tri sinh tri tử diệc tri bần, lưu thủ giáo nhi tôn. Chú - Phụ vị của lai long nhập thủ là thế quái vị, như Tý long nhập thủ, Tý chí Càn là 1x 6, quái khí, vậy Quí là phụ vị, lại như Nhâm long nhập thủ, Nhâm chí Tuất là 1 x 6 quái khí, vậy Tý là phụ vị, lại như Càn long nhập thủ, Càn chí Tý là 1 khí, Tuất là phụ vị, 1, khí vị như Tý long lập Càn sơn vi chính vị, dù chậm phát mà lâu dài, Phụ vị phát tốc nhưng không lâu dài, Như Tý long nhập thủ, lập Càn sơn Tốn hướng ở tại vận 8 tọa phối long vi tương thành, hướng phối thủy khắc xuất, nên vận đó hạ táng bất năng dụng, như cải lập phụ vị, Quý sơn Đinh hướng, Tý dùng tham vi Ai tinh, lấy 1 nhập trung nghịch hành long tọa sơn sinh nhập, thủy hướng sinh nhập, đó là đại cát cục, nên cục đó dùng thế tốc phát quý, kỳ dư tọa sơn dùng thế phỏng theo đó, Tý Quý Sữu Mão Ất Thìn Ngọ Đinh Mùi Dậu Tân Tuất 12 tọa sơn nầy vi Âm nghịch khởi phi tinh, Cấn Dần Giáp Tốn Tị Bính Khôn Thân Canh Càn Hợi Nhâm, 12 sơn nầy vi Dương thuận khởi phi tinh. 3 Nguyên 9 Vận Thuận Nghịch Phi 9 Cung. Long Hướng Tọa Kết Luận. Do biểu trên cho thấy, Tý Quí Sữu Cấn Dần Giáp Mùi Khôn, 8 long nầy khởi thế tài đinh lưỡng vượng, Thìn Tốn Tị, Bính Tân Nhâm, Dậu Tuất Càn Hợi, 10 long nầy bán cát, cục Mão Ất Thân Canh Ngọ Đinh, 6 long nầy đừng dùng thế quái đại hung. Sữu Quí, tuất Tân, Đinh Mùi, Ất Thìn, 8 long nầy, khởi thế vì không cùng trong 1 khí nội, xuất quái dể xuất thiên lệch, đa số chẳng dùng. Nguyên Không Luận. Quyết viết: - Quan thiên quan địa định thư hùng, phú quí thử trung phùng. Phiên thiên đảo địa đối bất đồng, bí mật tại huyền không. Chú - Phần trên đã nói về long phối thủy hợp thành 1 cục, nhưng lúc nào dùng cục đó tốt nhất, vậy phải xem phi tinh của nguyên vận, lấy tọa với hướng làm chủ, xem long và thủy, sanh nhập, khắc nhập, tương thành, là tối cát, sanh xuất thối, khắc xuất tổn, vi hung chớ có dung. Dưới đây bản lập thành 3 nguyên 9 vận, phi tinh phối 24 long tọa hướng thủy cát hung, để dể bề tra duyệt.
-
Vị Nhập Đẩu Ngưu, Tích Thiên Thương Chi Ngọc Bạch. Vị Đoài dã, Đẩu Ngưu Cấn dã, Cấn vi thiên thị viên, hựu 7 x 8 tương sinh, cố hửu cự phú chi ứng, Vị thổ Tân dã, Canh Dậu chi vị, Đẩu Cấn dã, Ngưu sửu dã, tức 7 x 8. Kê Giao Thử Nhi Khuynh Tả, Tất Phạm Đồ Lưu. Kê khuynh tả tán mạn bôn lưu dã, Đoài vi hình, Khảm vi Hãm, Khảm thủy lưu nhi bất phản, cố hửu sung quân chi tượng (Kê Dậu dã, ThửTý dã, tức 7 x 1). Lôi Xuất Địa Nhi Tương Xung, Định Tao Trất Cốc. Khôn vi Hình vi Tiểu Nhân, Chấn vi Mộc vi chính trực, Chấn mộc khắc khôn thổ, lại có trất cốc (gông cùm) chi tượng, xung chỉ thủy ngôn, thất nguyên sơn thủy tương xung, tất sinh quan phi, Lôi chấn dã, Địa khôn dã, tức số 3 x 2, (đấu ngưu sát). Thủy xung hướng, Sơn xung tọa Ốc giác xung đồng, Trất là cái cùm tay, Cốc là cái cùm chân. Hỏa Khắc kim Kiêm Hóa Mộc, Số Kinh Hồi Lộc Chi Tai. 9 x 7, hoặc 4 x 3 đồng cung, hựu ngộ Lưu Niên Phi Tinh 1 bạch hoặc 3, hoặc 4, phi đáo tắc hỏa tai lập hiện, cái Đinh Nhâm hóa mộc 1 x 9 tương kích dã. Thổ Chế Thủy Phục Sinh Kim, Tự Chủ Điền Trang Chi phú. 1 x 6, 1 x 7, tương sinh ngộ lưu niên Khôn Cấn 2 hoặc 8 phi nhập gia lai tựa hiềm khắc chế 1 bạch, bất tri sinh kim ích thủy phản hửu điền trang chi ứng, Kiền vi kim ngọc, Khôn vi tài, vi đại nghiệp, Khảm vi nạp dã. Mộc Kiến Hỏa Nhi Sinh Thông Minh Kỳ Sỹ. Sơn thượng bài lai thị Chấn Tốn, thủy lý bài lai ngộ Ly, mộc hỏa thông minh cố sinh kỳ sỹ 9 x 3, hoặc 9 x 4 đồng cung, 9 x 4 thông minh, 9 x 3 bạo lệ nhuyễn nhược (mềm yếu). Hỏa Kiến Thổ Nhi Xuất Ngu Độn Ngoan Phu Khôn vi minh hối, vi mê, tuy ngộ Ly minh tương sinh, nhi hỏa diệm táo cố xuất ngoan độn, thường kiến hửu 9 vận lập Bính hướng Đinh Mùi Khôn phương trực cao sơn, xuất xuẩn tử; 9 x 2 đồng cung kị an phu thê sàng, 9 x 7, 2 x 7, đào hoa vị kị hồng sắc, Vô Thất Gia chi tương y, Bôn tẩu ư đông tây đạo lộ. Tiên nhân duyên chi tác hợp, kí thực ư nam bắc nhân gia. Nam Nữ đa tình, Vô môi chước tắc vi tư chước. Âm Dương tương kiến, ngộ oan thù nhi phản vô tình. Phi chính phối nhi nhất giao, hửu mộng lan chi triệu. Đắc can thần chi song chí, đa chiết quế chi anh. can thần (loan đầu), dỉ 4 chính quái ngôn, như Chấn chi giáp ất, song chí ngôn sơn thượng thủy lý cụ cát, tổng dỉ bất xuất quái vi trọng, ký bất xuất quái tức sơn phi 1 sơn thủy phi 1 thủy, dụng hựu hợp nghi, cố đa chiết quế, (thi đậu nhiều) tứ duy quái diệc khả vị can thần. (song chí chỉ song trùng thủy, tọa hậu sơn hựu hửu sơn, tắc sơn thủy giai lợi hà sầu bất phát quý. (can thần giả chỉ dần thân tị hợi cục, kiến ất tân đinh quý thủy đồng nguyên nhất khí dã). Âm Thần mãn địa thành quần, Hồng Phấn trường trung không khoái lạc. Âm Thần 2- 4 - 7- 9- dã, chỉ cung vị, hoặc hướng, hoặc đại môn. Hỏa Diệu liên châu tương trực, Thanh Vân lộ thượng tự tiêu dao. Hỏa Diệu tiêm tú chi sơn phong, tức văn bút dã, liên châu 1 x 6, (tối cường, kỳ tha nhược) 2 x 7, 3 x 8, 4 x 9, 9 x 1, 1 x 4, đẳng thị dã, ngộ Văn Bút chi sa, Ai dĩ cung quí chi tinh cố phát quí. Phi Loại Tương Tòng, Gia Đa Dâm Loạn. Thư Hùng Phối Hợp, Thế Xuất Lương Hiền. Đống Nhập Nam Ly, Sậu Cự Thính Đường Tái Hoán. 3 x 9 nhi phùng lưu niên Tốn chí, hửu thính đường tái hoán, (sửa mới lại sảnh đường) chi tượng. Tốn vi đống, Chấn vi hỷ tiếu, Ly vi quang minh dã, 3 x 9, hoặc 3 x 4 đồng cung phát tài, 4 x 9 đắc lệnh xuất công danh (hoặc thông minh). Xa Khu Bắc Khuyết, Thời Văn Đan Chiếu Tần Lai 1 x 6 nhi phùng niên thượng Khôn (Cấn đồng ) lai, hửu đan chiếu chi ứng, Khôn vi Xa vi Quốc vi thư, Càn vi Quân, Khảm vi 3 tuế (3 năm) thăng quan. Cẩu Vô Sinh Khí Nhập Môn, Lương Gian Nhất Túc Nếu không có sinh khí vào cửa, lương thực khó đủ sớm tối. Hội Hửu Vượng Tinh Đáo huyệt, Phú Tích Thiên Chung Hội hợp có vượng tinh tới huyệt, sẽ giàu thóc chứa nghìn chung Tương Khắc Nhi Hửu Tương Tế Chi Công, Tiên Thiên Chi Kiền Khôn Đại Định. Khắc nhau lại có trợ nhau là định lớn của Tiên Thiên. Tương Sinh Nhi Hửu Tương Lăng Chi Hại, Hậu Thiên Kim Mộc Giao Tính. Sanh nhau lại hiếp nhau, là Hậu Thiên Kim Mộc cùng vứt bỏ . Mộc Thương Thổ Nhi Kim Vị Trùng Trùng, Tuy Họa Hửu Cứu. Kiền cung có 8 x 4, Đoài cung có 2 x 3, vậy. Hỏa Khắc Kim Nhi Thủy Thần Điệp Điệp, Tai Bất Năng Xâm. Thổ Khốn Thủy Nhi Mộc Vượng Vô Phương. Chấn cung 1 x 2. Tốn cung 1 x 8. Kim Phạt Mộc Nhi Hỏa Oanh Hà Kị Ly cung 3 x 6, hoặc 4 x 7. Cấn Giao Chấn Tốn Thất Vận Vô Ngại Văn Kiêm Vũ Phá, Yếu Dụng Bật Tinh Khảm cung 6 x 9, hoặc 7 x 9. Tham Nhược Kiêm Cự, Long Tu Chấn Tốn Chấn cung 1 x 2 , Tốn cung 1 x 2. Phá Vũ Ngộ Bật, Kiêm Tham Phản Cát . Ly cung 4 x 6, 4 x 7. Cát Thần Suy Nhi Kị Thần Vượng, Nải Nhập Thất Nhi Thao Qua Hung Thần Vượng Nhi Cát Thần Suy, Trực Khai Môn Nhi Ấp Đạo Trùng Trùng Khắc Nhập, Huyền Kiến Tiêu Vong Vị Vị Sinh Lai, Liên Thiêm Tài Hỷ Bất khắc Ngã Nhi Ngã Khắc, Đa Xuất Quan Quả Cô Độc Chi Nhân. Bất Sinh Ngã Nhi Ngã Sinh, Nải Tuấn Tú Thông Minh Chi Tử Vi Phụ Sở Khắc, Nam Bất Chiêu Nhi Bị Mẫu Sở Thương, Nữ bất Thành Từ. Hậu Nhân Bất Tiếu, Nhân Sinh Phương Chi Phản Bối Vô Tình Hiền Tự Thừa Tông, Duyên Sinh Vị Chi Đoan Cung Triều Ấp. Ngã Khắc Bĩ, Nhi Phản Tao Kỳ Nhục, Nhân Tài Bạch dĩ Táng Thân. Ngã Sinh Chi, Nhi Phản Bị Kỳ Tai, Vi Nạn Sản Nhi Trí Tử. Phúc Đa Thủy Nhi Bành Trướng, Túc Dĩ Kim Nhi Bàn San. Khôn là bụng, thổ suy không chế thủy, nên bệnh chướng, khảm cung 2x1 Chấn là chân, là mộc, gan, máu, bị càn đoài kim khắc, nên què chân, thổ huyết, 3 x 6, 3 x 7, hoặc đối diện kiến trúc hình kim, hoặc đà đao sát. Kiện nhi động, Thuận nhi động, Động phi giai triệu Chỉ nhi tịnh, Thuận nhi tịnh, tịnh diệc bất nghi . Phú tịnh Đào Chu, đoán thị kiên kim ngộ thổ. Quí tỉ Vương Tạ, tổng duyên kiều mộc phù tang. Tân tỉ Canh, nhi tân yếu tinh thần Giáp phụ ất, nhi giáp diệc linh tú. Quí vi nguyên long, nhâm vi tử khí, xương thịnh các đắc hửu nhân. Bính lâm văn khúc, Đinh cận thương quan, nhân tài nhân chi hao phạp Kiến lộc tồn ôn hoàng tất phát, Ngộ văn khúc đãng tử vô qui. Lộc tồn 3, văn khúc 4, liêm trinh 5, phá quân 7, không phải thời mà hội nơi đầu hướng, thì sẽ ứng như vậy, nên hướng không thể sơ sót được. Trực Liêm Trinh Nhi Đốn Kiến Hỏa Tai Trực vận 5 hoàng, tai trung ương vi thổ, tại ngoại tức liêm trinh hỏa vậy Phùng Phá Quân Nhi Đa Khuy Thân Thể Hỏa khắc kim vậy, mấy điều trên đều do bởi giáp tạp, Tứ Mộ Phi Cát, Dương Thổ Âm Thổ Chi Sở Tài Bốn Mộ Khố không cát, Dương Thổ Âm Thổ quyền hành Tứ Sinh Phi Hung, Quái Nội Quái Ngoại Do Ngả Thủ Bốn Trường sinh không hung, nội quái ngoại quái do ta chọn. Nhược Tri Họa Phúc Duyên Do, Diệu Tại Thiên Tâm Thác Lược. Như biết nguyên do họa phúc, cái khéo là tại Thiên Tâm rèn đúc. (Hết) TRITRI. Dịch xong ngày 24/ 04/ 2010. tại Toronto. Nguồn: vietnambuysell.com
-
Tư liệu tham khảo được Cụ TriTri cho phép. ======================== NGUYÊN KHÔNG MẬT CHỈ. Bất tri lai lộ, yên tri nhập lộ, bàn trung bát quái giai không. Vị thức nội đường, yên thức ngoại đường, cục nội ngũ hành tận thác. Thừa khí thoát khí, chuyễn họa phúc ư chỉ chưõng chi gian. Tả Ai Hửu Ai, biện cát hung ư hào man chi tế. Nhất thiên tinh đẩu, Vận dụng chỉ tại trung ương. Thiên biện liên hoa, Căn đế sinh ư Điểm tích. Phu phụ tương phùng ư đạo lộ, khước hiềm trở cách bất thông tình. Nhi tôn tận tại ư môn đình, do kị hung ngoan phi hiếu nghĩa. Quái Hào tạp loạn, dị tính đồng cư. Cát hung tương tính, minh linh vi từ. Sơn Phong Trực Nhi Tuyền Thạch Cao Hoang. Cấn chỉ Tốn phục, trí hửu sơn lâm chi tịch, nhân đinh chỉ sơn thượng ngôn, tài lộc chỉ thủy lý ngôn, 4 x 8 hoặc 3 x 8 đồng cung tổn tiểu khẩu Ngọ Dậu Phùng Nhi Giang Hồ Hoa Tửu. Ly vi mục vi tâm vi hỹ, Đoài vi duyệt vi Thiếp vi thiếu nữ, giai âm nhu quái, cố hửu nhu mỵ chi tượng, như 8 vận Bính sơn chủ bại phong tục đảng hoa tửu, hựu hửu thành phế lao giả, Ngọ Dậu, 9 x 7 dã, giai âm thần Hỏa khắc kim, Ngọ Dậu phùng chi hửu hồi lộc chi tai (cháy nhà). Hư Liên Khuê Bích, Khải Bát Đại Chi Văn Chương. Hư Nhâm Dã, Khuê mộc, Bích thủy tại Kiền Tuất chi gian, kỳ trung thủy mộc tương sinh, tuy cư kim thổ chi vị ,nhi hửu chế hửu hóa, cố hửu bát đại văn chương chi ứng, cái nhất nguyên nhi kiêm lưỡng nguyên, sở vị 1 x 6 cộng tông dã, (Hư nhâm dã khảm 1, Khuê kiền dã Bích hợi dã, tức 1 x 6).
-
Trong phi tinh thường hay nói câu: "Sơn quản đinh, thủy quản tài", do đó theo phi tinh việc treo tranh phong cảnh núi non hùng vĩ thì xét theo sao sơn sinh vượng khí của tinh bàn gia trạch mà treo, hoặc theo thế "thu sơn xuất sát".
-
Đại quái linh chính điên đảo: (1), Huyền không đại quái lý khí nguyên tắc chung là “bất thượng sơn, bất hạ thuỷ”, nếu lệnh tinh ngự tại thuỷ khẩu, sẽ phạm sơn long hạ thuỷ, tổn thương nhân đinh. Tam nguyên địa lý tối kỵ “thượng sơn hạ thuỷ” phản cục. Nếu cần sơn mà lại thấy thuỷ, cần thủy mà lại gặp sơn, sẽ hình thành phản cục gọi là linh chính điên đảo(thượng sơn hạ thuỷ). Như hiện thời là hạ nguyên vận, tức 6,7,8,9 là chính thần, cần sơn mà không cần thuỷ; 1,2,3,4 là linh thần, cần thủy mà không cần sơn. Nếu đảo ngược lại chính là linh chính điên đảo, chủ tổn đinh bại tài. (2), Tứ linh thần thủ dụng trước hết là chính linh thần sau đó đến thôi linh thần, dùng xuất thuỷ, nhị linh thần còn lại là thứ yếu. (3) lý khí ai tinh âm dương nhị trạch rất xem trọng môn hướng, trọng lai khứ nhị thuỷ khẩu, vì lai khứ nhị thủy khẩu chính lá sinh tử chi môn. Thuỷ khẩu đến(lai) và đi(khứ) chia 2 đường rõ ràng phải phân biệt cho kỹ; địa thế có hư thực không mãn 4 cách, cẩn thận mà xem không nên nhầm hư với không, thực với mãn. Thuỷ pháp chia ra“ sinh, vượng, bình, khốn, suy, bại, phục, hưng”. Âm trạch xung phá lệnh tinh phản cục. Đại quái định cục bí mã: Bí mã là một trong các bí mật của Huyền không đại quái, từ các bí mã này các sao thông với nhau mà chuyển dùng, có khi suy tử hóa sinh vượng, sinh vượng lại thành suy tử vậy: (1) định cục bí mã: Thượng nguyên: 1—6789; 2—6789; 3—6789; 4—6789; Hạ nguyên: 6—1234; 7—1234; 8—1234; 9—1234 (2) tối giai bí mã: Thượng nguyên: 1—69; 2—78; 3—87; 4—96; Hạ nguyên: 6—14; 7—23; 8—32; 9—41. Định cục bí mã xuất từ hà đồ, lạc thư chi số tổ hợp. Như 1—6789: 1 là nhất vận, các số sau 6789 là thuỷ khẩu ai tinh. Tối giai bí mã để dụng thôi tài, thôi quan tác dụng: như vận 1 dùng 6 thôi tài, 9 thôi quan; 2 dùng 7 thôi tài, 8 là thôi quan. Đại quái dùng thôi tài và thôi quan như trên cũng như Huyền không phi tinh dùng thôi quan thủy và thôi quan sơn. Đại quái lấy nguyên vận làm chủ thư hùng nên thôi tài là số hợp hà đồ với nguyên vận 1-6, 2-7, 3-8, 4-9; Thôi quan là số hợp thập với nguyên vận(lấy lý sinh thành hợp thập). Huyền không phi tinh thì lấy hướng tinh để định Thôi quan. Do đó Thôi quan thủy của huyền không phi tinh cũng là lấy số hợp hà đồ với hướng tinh(như hướng tinh 2 thì là 7), thôi quan thủy cũng phải lấy số hợp thập với hướng tinh mới thống nhất với Đại quái và lý sinh thành hợp thập(như hướng tinh 2 thì là 10), các cách khác đều không đúng. Tôi ghi dưới bài này để trả lời câu hỏi đã hứa với bạn về vấn đề Thôi quan thủy và thôi quan sơn của phi tinh. Huyền không đại quái chính thần linh thần 8 vận: Huyền không đại quái phân nhị pháp chính thần và linh thần, chính thần thâu sơn, thâu phong, thâu khí; linh thần thâu thuỷ, tác dụng phi thường. Tam nguyên cửu vận, mỗi vận chính thần, linh thần, tuỳ thời mà biến. Chính thần tức đương nguyên vượng tinh, linh thần tức đương nguyên tử khí. Chính thần, linh thần vận dụng chung cho âm dương nhị trạch: Nhất vận, thâu khảm quái bắc phương lai long hoặc sơn phong, thâu ly quái nam phương thuỷ tối vượng. Nhị vận, thâu khôn quái tây nam lai long hoặc sơn phong, thâu cấn quái đông bắc thuỷ tối cát. Tam vận, thâu chấn quái đông phương lai long hoặc sơn phong, thâu đoài quái tây phương thuỷ tối cát. Tứ vận, thâu tốn quái đông nam lai long hoặc sơn phong, thâu kiền quái tây bắc thuỷ tối cát. Lục vận, thâu kiền quái tây bắc lai long hoặc sơn phong, thâu tốn quái đông nam thuỷ tối cát. Thất vận, thâu đoài quái tây phương lai long hoặc sơn phong, thâu chấn quái đông phương thuỷ tối cát. Bát vận, thâu cấn quái đông bắc lai long hoặc sơn phong, thâu khôn quái tây nam thuỷ tối cát. Cửu vận, thâu ly phương nam lai long hoặc sơn phong, thâu khảm quái bắc phương thuỷ tối cát. (Riêng ngũ vận, 10 năm đầu quy tứ lục vận, 10 năm sau quy lục bạch vận. Ngũ hoàng vận, 10 năm đầu tứ lục, 10 năm sau lục bạch là chính thần. Với nhị hắc và bát bạch là linh thần).
-
Âm Dương, Ngũ Hành, Vị Trí Bát Quái Trong Kinh Dịch (Nhàn Đàm)
nhị địa sinh replied to Thiên Địa Nhân's topic in Mạn Đàm
Anh Rubi không nên nói như vậy với anh TĐN như vậy, khá nặng lời. -
Nhờ Các Bác, Chú Tư Vấn Chọn Giúp Cháu Ngày Nhập Trạch Vào Tháng 4 Âl
nhị địa sinh replied to MẹCoCa's topic in Phong Thủy
Chào MẹCoCa. Thật tiếc cho MẹCoCa, phải chi nhập trạch trong tháng 3al thì khá tốt, qua tháng 4 thì hơi bất lợi, thôi thì nên chọn ngày 11/4al lúc 5h30 chiều. -
Mong Các Bác, Cô Chú,anh Chị Em Xem Dùm Phong Thủy Nhả Đang Ở
nhị địa sinh replied to Cư Kuin's topic in Phong Thủy
Chào Cư Kuin. Độ số bạn đưa gần với tuyến tiểu không vong vì thế đây cũng là cái bất lợi trong việc chỉnh sửa, đất thì rộng nhưng không biết vị trí nhà nằm thế nào so với đất, cho nên việc góp ý chỉnh sửa khi không đến được thực địa cung có một số hạn chế. Nhà bạn có triệu chứng từ năm 2010 cho đến nay, năm 2012 là một năm khó khăn đáng nhớ về mặt tài chính lẫn sức khỏe(xét theo tinh bàn vận trạch chứ không phải nói dựa theo tình hình chung), năm nay tuy có đỡ đôi chút nhưng vẫn còn lo lắng nhiều vì phòng bếp bị tam sát, những người ngũ phòng số 3 là hay có vấn đề về sức khỏe, năm nay nhớ cẩn thận hơn, còn phòng số 1 thì ngũ không tốt lắm, phòng số 2 khá tốt. Tại phòng khách đặt một hồ cá tại vị trí gần cánh cửa đi 1m8 và cánh cửa này cũng không cần mở, bạn chỉ cần đi bên cánh 1m675, còn phòng bếp thì chống thoái khí cho cửa ra phía sau. -
Chào Checking. Bài viết trên thể hiện sự hiểu biết chưa sâu xác, hoặc người viết có sự lưỡng lự không nhất quyết lập trường trong nhận định, đó là: 1.Thể hiện sự công nhận Lạc thư hoa giáp là đúng, nhưng lại nghi ngờ Tốn - Khôn, có nghĩa là chấp nhận mạng nạp âm Lạc thư hoa giáp nhưng lại bác bỏ (ngờ vực) mệnh phi cung của PTLV. 2.Trong ví dụ trên, lấy mệnh nạp âm Lạc thư hoa giáp để so sánh mệnh phi cung truyền thống và mệnh phi cung theo PTLV, đây là sự so sanh dễ gây ngộ nhận cho những người mới tìm hiểu phong thủy, đáng lý ra nên lấy mệnh nạp âm Lục thập hoa giáp cùng với phi cung theo PT cổ truyền để so sánh với mệnh nạp âm theo Lạc thư hoa giáp với phi mệnh cung của PTLV, đưa ra như thế thì người đọc mới thấy sự khác biệt như thế nào chứ, ví như theo PTLV thì mệnh nạp âm là sơn hạ hỏa và phi mệnh cung là Ly (hỏa mang độ số 7) thì thuộc đông tứ cung hợp với đông tứ trạch. Còn theo mệnh nạp âm Lục thập hoa giáp là đại khê thủy và phi mệnh cung là Đoài (kim mang độ số 7) theo PT truyền thống tây tứ cung hợp với tây tứ trạch, như vậy mới cảm nhận được rõ ràng sự khác biệt, chứ công nhận một phần của cái này(lạc THG) mà nghi ngờ cái kia(phi cung PTLV), cũng như công nhận phi cung theo PT truyền thống mà không công nhận Lục THG của PT truyền thống (trong bài trên người viết không nhắc đến Lục THG - như vậy có nghĩa là người viết không công nhận nó có tính đúng đắn).
-
Xin Tư Vấn Chọn Ngày Xây Nhà Người Sinh Năm 1982
nhị địa sinh replied to thehung1982's topic in Phong Thủy
Tuổi bố bị la hầu, kim lâu thê và thái tuế chiếu, còn tuổi của em nữa xấu nữa tốt, năm 2015 tuy được tuổi nhưng hướng nhà bị phi tinh xấu, thế thì cũng 50/50 mà thôi, nên có độ số chính xác chứ không chung chung như vậy(nam - đông nam), nên chọn hai tuổi 1987 và 1969 là tốt hơn các tuổi kia. -
Khoảng cách từ tường đến bếp là 2m2, nghĩa là khoảng cách đến mép bàn bếp chứ không phải tâm bếp, cũng có thể lấy 2m18, chưa qua cung càn nên không phải lo, còn cửa sau có thể 1m3 cũng được, nhưng lọt lòng 60 hoặc 65 cm, như vậy bếp gần như xác kề với mép cửa sau, cách chống thoái khí cho cửa sau này thì Cuong273 biết rồi phải không?.
-
Kính Mong Các Bác, Các Chú, Các Anh Tư Vấn Về Bản Vẽ Xây Nhà
nhị địa sinh replied to Hải Trần's topic in Phong Thủy
Chào Trần Hải.Bạn cho lại bảng vẽ nha. -
Xin Tư Vấn Chọn Ngày Xây Nhà Người Sinh Năm 1982
nhị địa sinh replied to thehung1982's topic in Phong Thủy
Chào Thehung1982.-Năm nay bạn làm được, còn anh của bạn thì không nên, nhưng vấn đề là bạn xây nhà cùng ở với bố mẹ nên tuổi của bố là quan trong nhất, bố 73 là tuổi tây hay tuổi ta, với lại năm nay ngũ hoàng nhập trung cung nên xây nhà cũng cần cẩn trọng, bạn hay cho biết thêm hướng nhà. -
Mong Các Bác, Cô Chú,anh Chị Em Xem Dùm Phong Thủy Nhả Đang Ở
nhị địa sinh replied to Cư Kuin's topic in Phong Thủy
Chào Cư Kuin.Bạn cho thêm đất ngang dài bao nhiêu, nhà ngang dài bao nhiêu, các phòng ngang dài bao nhiêu, còn bếp bạn đo đến đến đế nấu, độ số bạn đo bằng la bàn hay bằng điện thoại, đo trong nhà hay ngoài nhà, vì cần sự chính xác cao nên cần hỏi chi tiết như vậy. Thân. -
Chào Anhntl.-Chồng 1976 có các hướng tốt theo PTLV như sau: hướng tây sinh khí, tây bắc phục vị, đông nam phúc đức, đông bắc thiên y. Chọn hướng đông nam và đông bắc thì tốt hơn cho hai vợ chồng. -Đối với căn hộ chung cư, theo PTLV thì xét hướng cửa chính ra vào của căn hộ là chính sau đó thì xét đến hướng cửa chính ra vào của chung cư. Còn xét theo hướng cửa sổ phòng ngũ là theo quan niện của phái phi tinh, không phải của PTLV. -Hướng cửa sổ phòng ngủ dĩ nhiên là có ảnh hưởng đến sức khỏe của người trong đó rồi. -Chọn căn hộ thì phải có bảng vẽ mới nói được. -Đó là đúng trên phương diện tương quan với người, nhưng nó còn các phương diện khác nữa.
-
Mong Các Bác, Cô Chú,anh Chị Em Xem Dùm Phong Thủy Nhả Đang Ở
nhị địa sinh replied to Cư Kuin's topic in Phong Thủy
Chào Cư kuin. Bạn cho thêm kích thước cụ thể, như cửa, cổng, khoảng cách bếp cách tường bên là bao nhiêu, nếu có hình chụp trong và ngoài nhà thì càng tốt. -
Nhờ Các Quý Anh Chị Tư Vấn Giúp Về Phong Thủy Nhà Ở
nhị địa sinh replied to nguoicanthan's topic in Phong Thủy
Chào nguoicanthan. Theo sách thì đúng là tuyệt mạng, nhưng theo PTLV thì lại là hướng sinh khí, để biết tốt xấu do đâu thì nguoicanthan hãy cung cấp thêm độ số là bao nhiêu, cùng sơ đồ bảng vẽ nữa thì mới có dự liệu để xem xét, nhưng sơ bộ theo phi tinh thì bị tương khắc nên gặp nhiều việc không tốt cho lắm. -
Chào flygon. Bạn có suy đón rất hay, mình nhờ flygon tìm dùm mình người xưa gọi đá thuộc hành gì?.
-
Chúc mừng sinh nhật anh Hạt gạo Làng hạnh phúc vui vẽ và thành đạt.