Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Luân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    7118
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    134

Everything posted by Thiên Luân

  1. Ý NGHĨA NGÀY LỄ HAI BÀ TRƯNG Bác sỹ Nguyễn Xuân Quang Nguyễn Xuân Quang's blog Hàng năm cứ tới ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch người Việt, nhất là phái nữ, con cháu hai Bà Trưng, tổ chức lễ tưởng nhớ hai Bà. Có thể là ngày mồng 6 tháng 2 âm lịch này không phải là ngày hai Bà Trưng trầm mình xuống sông Hát. Ngày này cũng không phải là ngày sinh nhật của hai Bà và cũng không phải là ngày hai Bà lên ngôi vua. Vậy thì tại sao, tổ tiên chúng ta lại chọn ngày này để làm lễ tưởng nhớ hai Bà? Tại sao trong một năm có 360 ngày (tính theo âm lịch) tổ tiên ta lại chọn ngày này? Hiển nhiên ngày này phải liên hệ tới hai Bà. Vậy trước hết ta hãy tìm hiểu sơ qua một chút về dòng dõi hai Bà. Theo lịch sử, hai Bà Trưng là con cháu, dòng dõi vua Hùng Vương. Hùng Vương đóng đô ở Phong châu. Lê Ngô Các, Phạm Đình Toái, đã ghi lại rành rành trong Đại Nam quốc sử diễn ca: Bà Trưng quê ở châu Phong, Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên. Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân… Như thế hai Bà Trưng quê ở châu Phong thuộc dòng dõi Hùng Vương. Hai Bà khi lên ngôi đóng đô ở đất Mê Linh. Về ngôn ngữ học Mê-Linh là một từ phát gốc từ một từ cổ Việt. Theo tác giả Trần Quốc Vượng, ông dựa vào các nghiên cứu tổng hợp các tài liệu lịch sử, ngôn ngữ và truyền thuyết dân gian, Mê (Ma, Minh, Mi) Linh là Mling. Mling, mlang (cặp tên có tính chất lấp láy) theo tiếng của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim… Mọi tài liệu đều nói lên một cách thống nhất huyện đó, bộ lạc đó, khi xưa mang tên một loài chim Mling với một thị tộc (bào tộc) gốc thờ chim làm vật tổ. Đó là bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước (Hùng Vương Dựng Nước, tập I, tr.154). Đúng như giáo sư Trần Quốc Vượng nói, trong dân ca Ê-Đê có bài hát nhắc đến tên loài chim này: Anh đến từ nơi xa, Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà, Chim mơ-lang từ buôn. Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương… (Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Cao Dao, Dân Ca, Việt Nam). Nhưng giáo sư Trần Quốc Vượng và các tác giả viết về ca dao này không biết rõ chim mơ-linh, mơ-lang là chim gì, chỉ giải thích một cách tổng quát là một loài chim to, lông đen, phía dưới cánh trắng hay lông nâu. Vậy chúng ta thử nhận diện xem thứ chim mling mlang này là chim gì? Tên chim có trong ngôn ngữ các tộc Tây nguyên mà ta đã biết rằng một số tộc Tây nguyên có liên hệ mật thiết với một số tộc ở Mã Lai, Nam Dương và ngôn ngữ Việt Nam liên hệ với ngôn ngữ Mã Lai, Nam Dương, như vậy ta hãy tìm tung tích chim mling, mlang này trong ngôn ngữ Mã Lai xem sao? Trong từ điển Malay-English Dictionary của R.J. Wilkinson có từ lang: a generic name for hauks, kites and eagles (một tên chủng loại chỉ diều hâu và ó, ưng). Như thế chim lang, chim linh chỉ chung loài mãnh cầm, loài chim mang hùng tính biểu tượng cho đực, dương, phái nam, mặt trời. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với hai từ lang và linh trong Việt ngữ. Việt ngữ lang là chàng, con trai. Chàng còn có nghĩa là chiếc chàng, chiếc đục (chisel). Chàng, đục là vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục phái nam, cho đực, dương. Linh ruột thịt với Ấn ngữ linga (bộ phận sinh dục nam). Linh biến âm với đinh theo kiểu linh đinh. Đinh là con trai, thanh niên như tráng đinh, lễ thành đinh. Rõ ràng chim mlang, mling là chim lang, chim chàng, loài chim mang biểu tượng cho đực, dương, hùng tính, mặt trời. Ta thấy rất rõ tổ Hùng Vương gọi là quan lang (tiếng nôm Tầy quan có nghĩa là chàng), theo qui luật từ đôi có nghĩa như nhau (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta có quan = lang = chàng. Như thế chim lang là chim chàng (trai, đục) chim biểu của các lang Hùng Vương. Ngoài ra từ hùng có một nghĩa chỉ chim đực (thư hùng). Lang Hùng có chim biểu là chim lang, chim hùng. Chim lang, chim hùng theo nghĩa tổng quát như đã thấy ở trên là loài mãnh cầm biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời. Theo ngày nay đó là loài diều hầu, ưng ó. Nhiều quốc gia hiện nay dùng loài mãnh cầm này làm chim biểu tượng cho quốc gia, ví dụ Hoa Kỳ lấy loài chim bald eagle làm quốc biểu. Tuy nhiên đối với Đại tộc Việt dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế có vua tổ Hùng Vương, tức Vua Mặt Trời Hừng Rạng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) thì chim Lang, chim Hùng (thuộc loài mãnh cầm) là chim tổ tất phải là chim Việt. Việt có nghĩa là vọt (que, nọc), vớt (dao dài), vác (mác), Việt biến âm với viết (que nhọn dùng để vạch, vẽ, viết trên đất sét, đá, vỏ cây, giấy), Hán Việt Việt có một nghĩa là rìu, búa nhọn. Tổng quát Việt là vật nhọn biểu tượng cho đực, dương, măt trời. Vậy chim lang, chim hùng là chim Việt, chim rìu. Chim có mỏ to như chiếc rìu là chim mỏ cắt (bồ các). Vì vậy trong Việt ngữ chim cắt còn gọi là chim rìu. Anh ngữ chim cắt gọi là “chim mỏ sừng” hornbill” trên đầu có mũ sừng. Mường ngữ gọi chim cắt là chim khướng. Khướng biến âm với Khương (Sừng). Chim cắt chim khường là chim khương, chim sừng. Theo truyền thuyết thần mặt trời Viêm Đế thủy tổ của Viêm Việt (Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế) có họ Khương (sừng) nên có chim biểu là chim (mỏ) sừng hornbill, chim cắt. Hùng Vương có khuôn mặt tạo hóa đội lốt Viêm Đế nên cũng có chim biểu là chim Rìu, chim Việt, chim Cắt Hornbill thuộc loài chim lang, khoang trắng, sặc sỡ (lang có một nghĩa là trắng). Ta thấy rất rõ chim lang (chim hùng, chim Việt) là chim chàng (có một nghĩa là chisel) là chim đục, chim rìu, chim Việt, chim cắt (bồ các), chim tổ của Viêm Việt, của Đại tộc Việt. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam). Tóm lại chim Mê Linh, mling, mlang, chim lang, chim chàng, tổng quát là chim mang hùng tính biểu tượng cho ngành, tộc dương, lửa, mặt trời. Đối với Đại tộc Việt là chim Lang, chim Chàng, chim Hùng, Chim Rìu, Chim Việt, chim Cắt, chim tổ của người Việt mặt trời rạng ngời Hừng Việt, là chim biểu của vua tổ mặt trời hừng rạng Hùng Vương ngành Lửa, thần mặt trời Viêm Đế. Hai Bà Trưng thuộc dòng ngoại Lửa Âu Cơ, nhánh Hùng Lửa, Hùng Kì thuộc dòng dõi ngành Hùng Vương-Viêm Đế vì thế mới đóng đô ở Mê Linh. Do đó ngày lễ mồng 6 tháng 2 âm lịch bắt buộc phải liên hệ với Hùng Vương. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Trong Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt và nhiều lần khác, tôi đã chứng minh những ngày giỗ Tết, vía, kỷ niệm trong văn hóa Việt Nam như ngày lễ Lạc Long Quân, Hùng Vương, Thánh Dóng vân vân… đều chọn ngày tháng theo Dịch lý. Vì vậy ngày lễ hai Bà Trưng bắt buộc cũng phải chọn theo Dịch lý. Vì hai Bà là dòng dõi Hùng Vương nên ngày này tính theo Dịch phải dựa vào bản thể của Hùng Vương. Hùng Vương đẻ ra từ một cái bọc trứng mang hình ảnh bọc Trứng Vũ Trụ nên có bản thể là bọc, bầu vũ trụ, bầu trời, khí gió ứng với Đoài. Ở cõi tạo hóa, Đoài là bọc khí gió và ở cõi thế gian là bọc nước ấm, ao đầm (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Như vậy ngày 6 tháng 2 phải liên hệ với bản thể Đoài của Hùng Vương. Theo Dịch, những giỗ,Tết, vía, kỷ niệm thường có ngày tháng là một kết hợp âm (số chẵn) dương (số lẻ) ví dụ ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày 10 (âm) tháng 3 (dương). Nhưng ở đây ngày 6 tháng 2, cả hai số đều là số chẵn tức số âm. Tại sao? Xin thưa, vì hai Bà Trưng là phái nữ nên ngày lễ hai Bà đều là hai số âm. Hai số âm cũng cho biết hai Bà thuộc dòng ngoại Âu Cơ của Hùng Vương. Thật vậy, ngày 6 theo Dịch số 6 là số Tốn, OII (gió âm). Âu Cơ, theo dòng Lửa, có một dòng máu Tốn nên có một khuôn mặt là chim vì thế bà mới đẻ ra một bọc trứng chim nở ra trăm Lang Hùng. Tốn OII là khuôn mặt âm ngược của Đoài, IIO, theo dương Dịch, Tốn hôn phối với Đoài. Tháng 2 với số 2 là số Khảm. Khảm 2 là một số chẵn, số âm nằm ngay phía bên tay trái của số 3 (Đoài) nên số 2 là khuôn mặt âm của số 3 (Đoài) (Đoài 3 là Đoài vũ trụ có một khuôn mặt tạo hóa là bầu khí gió vũ trụ). Kiểm chứng lại, ta cũng thấy rất rõ số 2 mang khuôn mặt Đoài qua ma phương Đoài 3/18: Ma phương 3/18 (lưu ý trong ma phương này số 1 còn tương đương với 10 và số 2 tương đương với 11). Xin nhắc qua một chút về ma phương (magic square). Ma phương là gì? Nói nôm na giản dị là hình vuông thần kì có 9 ô, trong mỗi ô có một con số. Đọc theo tất cả các chiều, 3 con số cộng lại đều bằng nhau. Ma phương 3/18 có con số 3 là con số trục nằm ở ô giữa hình vuông và cộng các con số theo các chiều lại bằng 18 (lưu ý trong ma phương này số 1 còn tương đương với 10 và số 2 tương đương với 11). Như đã biết trăm Lang Hùng đẻ ra từ bọc Trứng Vũ Trụ nên có mạng Đoài vũ trụ. Số 3 là số Đoài vũ trụ ứng với ma phương 3/18. Ma phương này cho thấy rõ mồn một là số 2 = 11. Số 11 là số Đoài thế gian (theo Dịch, số 3 là số Đoài tầng 1 tức Đoài vũ trụ và số 11 = 3+8 là số Đoài tầng 2 tức Đoài thế gian, nên nhớ là cộng 8 vì các tầng cách nhau 8 quẻ). Đoài thế gian số 11 là khuôn mặt âm tức số 2 của Đoài vũ trụ số 3. Ngày 6 (Tốn) hôn phối với Đoài và tháng 2 (Khảm) là khuôn mặt âm của Đoài vũ trụ 3 và tương đương với Đoài thế gian 11. Rõ như hai năm là mười là ngày lễ hai Bà liên hệ với bản thể Đoài của Hùng Vương. Một lần nữa cho thấy muốn hiểu thông suốt văn hóa Việt ta phải dựa vào Dịch lý để tìm hiểu. Không nhìn dưới lăng kính Dịch học thì không bao giờ hiểu thấu triệt được văn hóa Việt. Tóm lại hai Bà Trưng dòng dõi Hùng Vương nên ngày lễ hai Bà mồng 6 tháng 2 âm lịch là ngày tháng liên hệ với hai khuôn mặt tạo hóa (hay truyền thuyết) và thế gian (hay lịch sử) của bản thể Đoài Trứng Vũ Trụ của Tổ Hùng Vương. Tài Liệu Tham Khảo .Trần Quốc Vượng, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, Hà Nội, 1972, tập I, tr.154). .Lê Ngô Các, Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca. .Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Cao Dao, Dân Ca, Việt Nam. .R.J. Wilkinson Malay-English Dictionary. .Hoàng Triều Ân, Từ Điển Chữ Nôm Tầy, NXB KHXH, Hà Nội 2003. .Nguyễn Xuân Quang: -Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999). -Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002). -Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004). -Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Hừng Việt, 2006).
  2. Mồng 6 tháng 2 Âm Lịch là ngày lễ tưởng nhớ Hai Bà Trưng. Đọc thêm chi tiết trong mục Cổ Văn Hóa Sử nha

  3. Hình Bóng Mẹ Tổ Âu Cơ ở Bảo Tàng Viện Lịch Sử, Hà Nội Bác sỹ Nguyễn Xuân Quang Nguồn : Nguyễn Xuân Quang's blog Theo truyền thuyết, Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra Trăm Lang Hùng. Nhưng có lẽ chưa một người Việt Nam nào nhận diện ra được hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng này trong khảo cổ vật. Tôi đã tìm thấy Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một bọc trứng hiện đang được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử, Hà Nội. Trước hết, muốn tìm ra hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ ta phải biết rõ Thần Tổ của loài người nói chung được diễn tả như thế nào? Hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ nói riêng được diễn tả ra sao? Có biết rõ được hình bóng của Mẹ Tổ thì chúng ta mới nhận diện ra được Mẹ Tổ Âu Cơ trong cổ vật. Xin nhắc lại ở đây, tôi đã viết nhiều lần, cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ giáo, mặt trời giáo và Việt Dịch nòng nọc còn ghi rõ trong Sử Sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong Sử Miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong Sử Đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, sẽ phát hành vào cuối tháng năm tới đây). Mẹ Tổ Âu Cơ bắt buộc phải mang trọn vẹn ý nghĩa cốt lõi của văn hóa Việt, phải là biểu trưng của văn hóa Việt Nam. Xin nhắc sơ qua một chút về Vũ Trụ giáo dựa trên nòng nọc âm dương. Vũ trụ khởi đầu từ Hư Vô (Vô Cực) rồi có âm có dương nhưng hãy còn quyện vào nhau tức Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực (theo âm dương nhất thể, đây là một khuôn mặt của Bọc Trứng của Mẹ Tổ Âu Cơ). Trứng Vũ Trụ phân cực thành Lưỡng Nghi tức phân ra âm, cực âm (vũ) và dương, cực dương (trụ) (theo duy dương của Trăm Lang Hùng, ứng với hai ngành Cha Nước, Mẹ Lửa). Âm dương giao hòa sinh ra Tứ Tượng. Tứ Tượng âm và Tứ Tượng dương gom lại thành bát tượng ứng với Bát Quái của Dịch. Tứ Tượng âm và dương liên tác với nhau sinh ra vũ trụ, muôn loài gọi là Tam Thế, được biểu tượng bằng một cây, gọi là Cây Tam thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. THẦN TỔ LOÀI NGƯỜI Cây Đời Sống sinh ra sự sống, muôn sinh, trong đó có con người là chủ thể. Như đã biết qua các bài viết trước, Cây Đời sinh ra đời sống thấy rất rõ qua ngôn ngữ học. Việt ngữ Sống liên hệ với Cây. Trong tiếng Việt, từ sống có ít nhất ba nghĩa: sống là sự sống (life), sống là đực (male) như gà sống và sống là cột, cây như cột sống là xương cột trụ, xương sống là cột xương, sống lưng là cột lưng ăn khớp trăm phần trăm với Anh ngữ vertebral column. Như thế sống trong Việt ngữ vừa có nghĩa là Sự Sống và vừa có nghĩa là Cây, cột ăn khớp trăm phần trăm với nghĩa của Cây Đời Sống sinh ra sự Sống. Như đã biết trong giáp cốt văn từ Sinh khắc hình cây có nghĩa là mọc (grow), ruột thịt với mộc là cây. Giải tự Hán ngữ Sinh, ta có chữ tam (ba) có ba nét ngang ứng với Tam Thế và một nét thẳng đứng xuyên qua chữ tam là Trục Thế Giới. Chữ tam và nét thẳng đứng biểu tượng Cây Đời Sống. Cây này sinh ra sự sống trong đó có con người vì thế nét ngang trên cùng của chữ tam có thêm một nét phẩy ở bên trái. Nét ngang có thêm dấu phẩy này chính là chữ nhân có nghĩa là người. Rõ ràng chữ sinh diễn tả Cây Đời Sống sinh ra chữ nhân, con người. Con người là biểu tượng cho sự sống cho muôn sinh vật. Từ sống có một nghĩa là cây, cột là vậy. Con người là tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ. Đại vũ trụ được biểu tượng bởi Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống, vì thế thần tổ loài người phải do Cây Đời Sống sinh ra. Điều này thấy rõ qua truyền thuyết cổ Việt-Mường là Dạ Dần, Mẹ Người (Mường ngữ Dạ là người đàn bà đã có con, là mẹ, Dần biến âm với dân, nhân là người) là Mẹ tổ của Mường Việt nói riêng và nói chung là của cả loài người do cây si sinh ra. Cây si thuộc họ cây đa, biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Đời (người Thái ở Nghệ An có cây đa là Cây Vũ Trụ) (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình trong Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Tín đồ Thiên Chúa tôn thờ chiêm ngưỡng cây giáng sinh vào ngày sinh của Chúa, một vị Thần Tổ của loài người. Cây giáng sinh hiện nay được giải thích theo nhiều cách nhưng nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh, hiển nhiên cây giáng sinh mang hình ảnh của Cây Đời, Cây Vũ Trụ sinh ra Thần Tổ loài người nên mới được chiêm ngưỡng tôn thờ trong ngày sinh của Chúa. Con người do Cây Đời Sống, Cây Vũ Trụ sinh ra, vì thế con người đầu tiên, con người nguyên khởi (primordial being) hay thần tổ loài người (Supreme Being) nói riêng (và cả con người nói chung), được biểu tượng bằng hình người giống hình cây. Tôi gọi là “người-cây vũ trụ” hay người vũ trụ. Dấu vết Người hình Cây còn thấy trong văn hóa của người Inuit (trước đây người Inuit được các tộc khác gọi là Eskimo, có nghĩa là Tộc Người Ăn Cá Sống) ở vùng Bắc Cực (Canadian Artic, Alaska, Greenland). Inuit có nghĩa là Người. Inuit liên hệ với Man, Mán, Mường (Mol) chúng ta vì Man, Mán, Mường cũng có nghĩa là Người. Họ có cách vẽ quang tuyến X (Xray painting) trông thấy các phần, các bộ phận bên trong của người, thú, vật giống như thổ dân Úc châu nghĩa là cùng một cách vẽ Xray của người Đông Sơn thấy trên trống đồng âm dương. Người Inuit có những kiến trúc thiêng liêng thường làm bằng những hòn đá chồng lên nhau gọi là Inuksuk (số nhiều là Inuksuit) có nghĩa là Giống Hình Người (human-like stone structures). Inuk có nghĩa là “human being”. Kỷ vật Inuksuk của người Inuit tác giả mua ở vùng Canadian Rocky Mountain. Ngày nay con cháu người Inuit giải thích Inuksuk là “Things that can act in the place of human being” hay “to act in the capacity of a human”. Các hình tượng Dạng Người này thường dùng như những chỉ thị, những mốc địa danh, bảng hiệu ví dụ như dùng để đánh dấu đường về, chỉ chỗ có thể tìm được thức ăn, nơi dự trữ đồ ăn, thực phẩm. Inuksuit cũng có thể sử dụng để chỉ những chỗ thiêng liêng, cõi chết, nơi có sự tái sinh, nơi thần linh ở. Như thế, thật sự ra hình tượng Dạng Người này của tộc Người (Inuit) ta phải hiểu tới tận nguồn cội mới chỉnh. Hình Inuksuk này cũng trông giống hình cây. Đây chính là hình ảnh của Người Vũ Trụ sinh ra từ Cây Đời Sống, hình ảnh của Thượng Đế, của Thần Tổ của con Người, Thần Tổ của Inuit, Thần Tổ của Man, Mán Mường chúng ta. Đây chính là hình ảnh Thần Tổ Dạ Dần của Mường Việt sinh ra từ Cây Si một thứ Cây Đời, Cây Vũ Trụ. So sánh người và cây ta thấy: đầu tương ứng với vòm cây biểu tượng Thượng Thế, hư không hay bầu vũ trụ, bầu thế gian; hai tay ứng với cành cây, biểu tượng cho Trung Thế, chân là gốc cây biểu tượng Hạ Thế và thân người là thân cây hình trụ biểu tượng Trục Thế Gian (với phần cổ là Núi Trụ Thế Gian). Điểm này giải thích tại sao các tộc Săn Đầu Người (Head Hunters) ở Nam Trung Hoa, ở Nam Dương (có liên hệ với người cổ Việt) chặt đầu kẻ thù làm tế vật dâng cúng Tạo Hóa, Trời Đất, Thượng Đế, Thần Tổ… Ví dụ như Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống của người Dayak có chiếc sọ người trên chóp đỉnh biểu tượng cho Thượng Thế, Tạo Hóa. Thờ sọ người là một thứ sùng bái thờ đấng Tạo Hóa, thờ Thượng Đế, thờ Thần Tổ loài người, Thờ Tổ Tiên, Cúng Ông Bà… thờ Cây Đời Sống, Cây Vũ Trụ. .Thần Tổ Loài Người Lưỡng Tính Phái (Bán Nam Bán Nữ). Theo đúng Vũ Trụ thuyết dựa trên âm dương, con người nguyên khởi hay thần tổ loài người sinh ra ở giai đoạn nguyên thủy từ Trứng Vũ Trụ (hạt Cây Vũ Trụ) hay Thái Cực có âm dương đề huề phải là một con người có lưỡng tính phái, có cả âm lẫn dương hay nói một cách khác phải là người bán nam bán nữ. Điều này giải thích tại sao trong nhiều nền văn minh cổ, Thần Tổ loài người là một người bán nam bán nữ hay bán nữ bán nam. Hãy lấy một vài ví dụ điển hình. Ấn giáo có vị thần tổ tối cao tối thượng là Thần Sinh Tạo, Tạo Hóa Bhrama. Để tạo ra thế giới Bhrama sinh ra bốn người con trai (sinh theo vô tính phái, tự mình tách ra làm hai, rồi hai thành bốn). Nhưng vì toàn là đực rựa nên bốn người con trai này không biết làm sao mà sinh đẻ ra các vị thần khác và loài người được. Bhrama bèn biến mình thành lưỡng tính phái, bán nam bán nữ. Lúc này Bhrama ứng với Trứng Vũ Trụ, Thái Cực do đó có dương có âm mới sinh tạo được (sinh sản theo hữu tính phái). Bhrama tạo ra thế giới gọi là Bhramanda. Bhramanda có anda có nghĩa là trứng. Bhramanda có nghĩa giản dị là Trứng Vũ Trụ Bhrama. Ta thấy rất rõ lúc Bhrama ở dạng nhất thể ứng với Trứng Vũ Trụ nên mới tạo ra được thế giới gọi là Trứng Bhrama. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Bhrama nhất thể tương ứng với Viêm Đế hiệu Thần Nông còn ở dạng nhất thể (lưu ý từ hiệu cho biết Thần Nông chỉ là một thứ tên khác tức một khuôn mặt khác của Viêm Đế). Bhrama có bhra- là sáng ruột thịt với Việt ngữ Bật (làm cho sáng như bật sáng, bật đèn, bật lửa) liên hệ với lửa, lửa vũ trụ, mặt trời, cùng nghĩa với Viêm có nghĩa là Nóng liên hệ với Lửa. Viêm biến âm với Diêm (que bật ra lửa). Hiển nhiên Viêm Đế hiệu Thần Nông (nhất thể) cũng ở dạng lưỡng tính phái (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Thần Mặt Trời Tạo Hóa Atum của Ai Cập, vào thời có Pyramid Texts, được nhận diện là Ra. Atum Nhất Thể (Totality) là một vị thần lưỡng tính nên có lưỡng phái. Atum tự nhập với bóng mình (shadow) hay thủ dâm để sinh ra các vị thần khác. Atum khạc nhổ ra con trai là Thần Không Khí Shu và ói ra con gái Teftnut. Như thế Thần Mặt Trời Ra là thần Mặt Trời Tạo Hóa, Mặt Trời Sinh Tạo (Sun as Creator), Thần Mặt Trời âm dương, Thần Mặt Trời ái nam ái nữ. Các Bodhisattvas (Bồ Tát) của Phật giáo thật sự nguyên thủy có tính vô tính (asexual) hay lưỡng tính phái, lưỡng thể. Phật Bà Quán Thế Âm (Goddess of Mercy) nguyên là một vị Bồ Tát Bhodisattva Avalokieshvara có bản thể lưỡng tính phái được giáng thế để cứu nhân độ thế. Khởi thủy ở Ấn Độ và khi mới nhập vào Trung Hoa ngài là một người nam (Đức Dalai Lama của Tây Tạng được cho là hiện thân của vị này) sau đó trở thành một người nữ. James Churchward có in lại hình một tượng người hai đầu nam nữ đào được dưới thành Karakhota, cố đô Uighur, ở sa mạc Gobi, mang hình ảnh của một Bồ Tát lưỡng phái. Người lưỡng phái mang hình bóng Bồ tát có hai đầu nam nữ đào được dưới thành Karakhota, cố đô Uighur, ở sa mạc Gobi (James Churchward). Ông Adam của Thiên Chúa giáo cũng lưỡng tính phái. Thượng Đế lấy xương sườn của ông để tạo ra bà Eva (xương sườn hình cong mang âm tính). Vì thế ta thường thấy một người ái nam ái nữ (lại cái) giữ một vai trò quan trọng trong thuật đồng bóng. Nhân vật này là hiện thân hay đội lốt Tạo Hóa, các đấng Sinh Tạo ái nam ái nữ. Với cốt này, các nhân vật đồng bóng ái nam ái nữ mới liên hệ và thay quyền hành sử của các đấng thiêng liêng ở dạng nhất thể một cách hữu hiệu hay ngay khi các thần tổ lưỡng tính phái đã phân thành hai phái riêng biệt thì với cốt ái nam ái nữ, họ cũng vẫn liên hệ với cả hai phái một cách hữu hiệu. Thần Tổ Loài Người Đơn Tính Phái Về sau Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực phân cực thành cực âm và dương, con người lúc này có Mẹ Nguyên Khởi và Cha Nguyên Khởi. Mẹ Nguyên Khởi (Mẹ Tổ, Mẹ Đời, Tổ Mẫu, Thần Mẫu). Theo duy âm, người đầu tiên sinh ra nhân loại là một người nữ, là Mẹ Nguyên Khởi. Xã hội loài người khởi đầu theo mẫu quyền nên Cha Đời là hình bóng muộn thấy trong các xã hội phụ quyền. Chúng ta có Mẹ Đời (Dạ Dần, Âu Cơ) thuộc một nền văn hóa tối cổ. Mẹ nguyên khởi, qua dòng thời gian có các tên gọi tương đương như Mẹ Tổ, Mẹ Đời, Tổ Mẫu, Thần Mẫu, Thần Nữ, Vương Mẫu, Nữ Vương… là người nữ đầu tiên sinh ra nhân loại, là người nữ nguyên khởi, là thần tổ nữ của loài người là đấng tạo hóa, đấng sinh tạo, đấng chí tôn nữ, là mẹ tổ… Thần Tổ Nữ của loài người sinh ra từ Cây Đời Sống thường được diễn tả bằng một hình người ngồi ở tư thế sinh con hai chân dang rộng ra và hai tay đưa lên cao khỏi đầu. Xin lưu ý trong chữ viết, hình dấu nòng nọc, ngồi mang âm tính và đứng mang dương tính ví dụ trống có một nghĩa là đực, dương (gà trống) nên những người đánh trống trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thường ngồi để có sự hòa hợp, hôn phối dương âm và cối mang âm tính (cối biến âm với cái) nên những người giã cối thường đứng để có sự hòa hợp, hôn phối âm dương (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Theo chính thống Mẹ Đời thường ở vị thế ngồi trong khi Cha Đời thường ở vị thế đứng (tuy nhiên trong những trường hợp không chính thống hay “rỏm”, Mẹ Đời có thể đứng và Cha Đời có thể ngồi, cần phải dựa vào các chi tiết khác như bộ phận sinh dục, vú hay các đồ trang sức như hoa tai để nhận diện). Hình ảnh Mẹ Đời, Mẹ Nguyên Khởi ở tư thế ngồi sinh con này còn thấy nhiều trong nghệ thuật nguyên sơ (primitive arts), nghệ thuật dân gian và trong nhiều nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo ở khắp nơi trên thế giới. Hãy lấy một vài ví dụ. .Các Đảo Thái Bình Dương -Indonesia .Đảo Tanimbar Mẹ Tổ tối cao, tối thượng ở một bàn thờ tổ tiên tại một ngôi nhà ở đảo Tanimbar. Bàn thờ tổ tiên ở một ngôi nhà ở Tanimbar. Vị thế ngồi sinh con và đôi hoa tai khẳng định vị tổ này là một người nữ, là Mẹ Tổ. .Đảo Celebes. Trên một chiếc quan tài đá (waroega) có hình Mẹ Đời mang ý nghĩa sinh tạo, tái sinh hay siêu thoát về miền hằng cửu. Hình quan tài đá (waroega), Minahasa, Celebes (Bertling 1931, Fig.32). Từ waroega chỉ quan tài đá có nghĩa là “nơi thân xác được cởi mở hoàn toàn” (the place where the body is unbound completely) hàm nghĩa siêu thoát. -New Guinea Hình Mẹ Đời hay Thần Mẫu thấy trên một thanh gỗ ngang của một chiếc ca-nô ở đảo Trobriand, New Guinea. Hình Mẹ Tổ trên thanh gỗ ngang của một ca-nô, đảo Trobiand, New Guinea) (theo Seligman 1910, Pl.LXV). .Úc châu Trong những hình khắc trên đá (petroglyphs) có một hình biểu tượng người đàn bà ngồi ở tư thế sinh con, ngày nay hiểu là “vong linh tổ tiên” (spirit ancestor). Hình khắc trên đá của thổ dân Úc châu hiện nay được giải thích là “spirit ancestor”. Hiển nhiên đây là hình ảnh của Thần Tổ loài người, Mẹ Tổ, Thần Mẫu, Tổ Tiên… sinh ra từ Cây Đời Sống. .Mỹ châu -Nooka Hình Mẹ Đời hay Thần Mẫu ở một ngôi nhà của tộc Nooka ở đảo Vancouver. Hình vẽ ở một nhà của tộc Nooka, đảo Vancouver (vẽ lại từ hình của Provincial Archives, Victoria, B.C.) Hai hình linh thú nước (mythical water creatures) ở hai bên có đuôi là chữ nòng nọc móc câu có nghĩa là nước mang âm tính (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á) cho thấy rõ thêm đây là Mẹ Đời. -Aztec Hình Thần Mẫu của Aztec ngồi ở vị thế sinh con. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy chắc chắn một người nữ ngồi ở vị thế sinh con hai tay dơ lên trời là Thần Mẫu. Thần Mẫu của Aztec, Codex Borbonicus p.13 (theo Thompsom 1939, fig.1a) -Ecuador Hình Mẹ Đời hay Thần Mẫu trên một phiến đá của Ecuador. Thần Mẫu trên một phiến đá của Ecuador, Manibí, Ecuador. Museum of the American Indian (Saville 1910, Pl. IV,6). .Châu Phi Hình Mẹ Tổ trên một tấm phướn tác giả chụp tại khu văn hóa châu Phi ở Triển Lãm Quốc Tế International Expo, Hanover, Đức quốc vào tháng 8, 2000. .Châu Âu Ở Châu Âu hình ảnh Mẹ Đời đã bị chùi xóa gần như mất hết, ngày nay chỉ còn sót lại một vài hình bóng. Ví dụ trên đầu một cột trụ với kiến trúc thời Romanesque ở nhà thờ Piacenza ở Ý có hình Mẹ Đời tay để lên đầu hai người có mình chim ở hai bên. Hình bóng Mẹ Tổ trên đầu cột trụ kiến trúc kiểu Romanesque ở nhà thờ Piacenza (Bernheimer 1931, Fig.150). Đây là hình bóng một bà hai ông (người chim có “chim” nên là phái nam), ba vị thần tổ đầu tiên của con người thấy trong nhiều truyền thuyết sáng thế (myths of creation) giống như Nàng Kịt với Đá Cần, Đá Cài của Mường-Việt cổ. Nhiều khi hình bóng Mẹ Đời đã thay đổi (như hai tay đã buông thõng xuống nhưng vẫn có hình bộ phận sinh dục nữ). Hình sheela na Gig thường cho là có gốc từ sự thờ phượng tiền-Thiên Chúa giáo (pagan) của Ireland còn thấy trong Thiên Chúa giáo ở Anh và nhiều nơi khác ở châu Âu. Hiện nay có nhiều giả thuyết giải thích về hình sheela na Gig này. Sheela na Gig (Irish Sile na gCioch) (St Mary and St David Church, Kilpeck Herefordshire, England). Nhưng tôi thấy giải thích cho đây là Celtic Goddess of creation and destruction (Nữ Thần Tạo Hóa, Sinh Tạo và Hủy Diệt của người Celtic) hay Goddess of Fertility (Nữ Thần Mắn Sinh) là gần cận nhất với hình bóng Mẹ Đời, Nữ Thần Tổ trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Cũng xin nói thêm ở đây là từ sheela biến âm với Việt ngữ “thì la”, “thì lẩy” (s=t như sụt = tụt) chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua bài đồng dao “Thì la, thì lẩy, Con gái bẩy nghề… (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). .Châu Á -Trung Hoa Hình bóng người ngồi ở tư thế sinh con cũng thấy trong văn hóa cổ Trung Hoa. Đây có thể là dấu vết bị ảnh hưởng của các nền văn hóa mẫu hệ cổ hay họ bị “đồng hóa ngược” bởi các nền văn hóa mẫu hệ mà họ xâm chiếm vì người Trung Hoa vốn gốc là dân võ biền theo phụ hệ. Dĩ nhiên họ giải thích hình người ngồi ở tư thế sinh con này theo quan điểm phụ hệ. Ví dụ điển hình là hình Thần Tổ ngồi ở tư thế sinh con thấy trên một trống làm bằng đồng (không phải là trống đồng âm dương Đông Sơn để hở đáy) đời nhà Thương. Hình Thần Tổ trên một trống đồng kiểu nhà Thương (kỷ vật tác giả mua ở Trung Hoa). Các học giả Trung Hoa dĩ nhiên giải thích hình này theo văn hóa võ biền của họ, không cho đây là hình bóng Mẹ Đời. Tuy nhiên ta thấy rất rõ hình người này khắc trên trống mà người Trung Hoa gọi là gu (cổ) có một nghĩa là “cây” (Tục Giết Trống Đồng), liên hệ với Cây Đời Sống thì như đã thấy đây phải là hình bóng của Mẹ Đời, Mẹ Đời Sống. Xin lưu ý là thân người này hình tam giác ngược có đỉnh chỉ địa, một dạng biến thể của chữ viết nòng nọc V có một nghĩa là âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ như đã thấy trong The Da Vinci Code mà Dan Brown gọi là chalice (The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). -Việt Nam xem ở dưới. . . . . . . Hình Bóng Mẹ Đời Trên Đồ Đồng Cổ ở Đông Nam Á: .Hình mẹ đời thấy trên: -ngôi nhà nòng không gian, vũ trụ âm có mái hình vòm ô dù trên mặt trống Sangeang Malakamau, Nam Dương. Hình Mẹ Đời trên trống Sangeang Malakamau. -trên một trống moko. Hình Mẹ Đời trên một trống moko, Nam Dương. -trên một mảnh đồng tìm thấy ở Vân nam (hiện để tại British Museum). Hình Mẹ đời trên mảnh đồng Đông Sơn, Côn Minh, Vân Nam (British Museum, 1948, 10 -13). Hình xoắn cuộn ở hai bên và hình sóng ở dưới xác định người ngồi thuộc dòng âm nước tức Mẹ Đời (xem thêm chương Hình, Dấu và Biểu Tượng trên Trống Đồng Đông Nam Á). Hình Bóng Mẹ Đời Trong Chữ Viết Nòng Nọc Trong bộ sưu tập những hình khắc trên đồ đồng Đông Sơn của nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn mà ông cho rằng đây có thể là những chữ viết cổ, theo tôi đây chính là những chữ, những hình ngữ nòng nọc (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng). Trong những chữ này, chữ thứ ba từ trái qua phải mang hình ảnh một người đàn bà đang ngồi ở tư thế sinh con giống hình Cây Đời Sống, Cây Tam Thế. Bộ sưu tập những hình khắc như chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn của Hà Văn Tấn. Hình Mẹ Đời có hình người đàn bà ngồi ở tư thế sản phụ khoa (obstetric position) đang sinh con với hai chân bẹt ra, hai tay giơ lên đầu (chữ số 3 từ trái qua). *Xin ghi tâm điểm này: Sự hiện diện của Mẹ Tổ, Mẹ Đời (và Cha Đời) trên trống nói chung và nhất là trên trống đồng âm dương cho thấy trống đồng âm dương mang ý nghĩa biểu tượng cho sự Sống, Con Người, Thần Tổ Loài Người, cho Cây Đời Sống, Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế hay nói chung, trống đồng âm dương mang biểu tượng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. CHA ĐỜI Theo duy dương hay trong xã hội phụ quyền, thần tổ của loài người là một người nam, là cha đời, tổ phụ. Người này thường đứng giơ hai tay cao lên trời (xem chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Nói tóm lại hình người đưa hai tay lên đầu mang hình bóng của một hình cây, của Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống diễn tả con người đầu tiên của nhân loại, con người nguyên khởi, là thần tổ của loài người (ngồi ở vị thế sinh con là tổ mẫu hay đứng giơ tay cao lên trời là tổ phụ), là đấng tạo hóa, đấng sinh tạo, đấng chí tôn, là thần tổ, là tổ tiên… Hình Bóng Mẹ Tổ Âu Cơ ở Bảo Tàng Viện Lịch Sử, Hà Nội. Riêng ở Việt Nam hình bóng Mẹ Đời, Mẹ Tổ Âu Cơ cũng thấy khắc ghi lại trên các mảnh đất nung hay “Gạch trang trí người theo phong cách dân gian” hiện đang trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội. “Gạch trang trí người theo phong cách dân gian” (triều Lê Trung Hưng thế kỷ 15-17?,Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội). Khối đất nung để đứng cho thấy hình một người ngồi ở tư thế sinh con. Hình người mặc quần không thấy rõ bộ phận sinh dục, nên không biết rõ giống phái nhân vật này một cách trần truồng (!). Tuy nhiên theo chính thống, với vị thế ngồi sinh con thì ta phải nghiêng về phía Mẹ Đời. Mấu chốt chính ở đây là tai có đeo hoa tai. Hình tai phóng lớn cho thấy hoa tai. Hoa tai có hình chữ nòng vòng tròn và nọc que mang tính lưỡng hợp, sinh tạo, tạo hóa. Quần ở đây có dây rút thắt rất chặt không phải là thứ khố dây của phái nam, trông rất sexy kiểu Victoria secret, kín hở cho thấy phần ở hai bên đũng quần trông căng phồng khiến ta có ấn tượng đây là hai mép lớn (labia majora) của bộ phận sinh dục nữ. Vú cũng căng phồng. Mặt trái soan đầy nữ tính (mặt hình trứng cũng diễn tả người vũ trụ, sinh tạo). Mũi dọc dừa. Môi mỏng thanh tao. Đầu ngả qua một bên, mặt thanh thản, hiền thục như đang mơ, không có nhiều hùng tính, nam tính. Đầu ngả về phía bên trái (của người nhìn) tức phía âm. Rõ nhất hai bên người có hình đĩa Thái Cực, Trứng Vũ Trụ cho biết nhân vật này mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa liên hệ với âm dương, Vũ Trụ giáo. Những chi tiết trên khiến ta nghiêng về phía nữ, Mẹ Đời. Dù gì đi nữa, thì ta cũng biết chắc chắn đây là hình ảnh của một Thần Tổ loài người có mặt trong văn hóa Việt Nam. Cũng xin lưu tâm một điểm rất quan trọng là trong tất cả các hình Mẹ Đời ngồi ở vị thế sinh con ở khắp các nơi trên thế giới chỉ có hình ở Việt Nam này là có hình đĩa thái cực hay Trứng Vũ Trụ ở hai bên. Điều này trước hết khẳng định là hình tượng này là biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa, là Mẹ Đời dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo và là ý nghĩa chính gốc, là lời giải thích căn bản cho các hình tượng này của toàn thể thế giới. Những giải thích khác của các nền văn hóa khác đều có thể là đã đi xa ý nghĩa gốc cội này của dân gian Việt Nam. Thứ đến cũng khẳng định là nguyên lý lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo là cốt lõi của văn hóa Việt Nam còn lưu truyền trong dân gian Việt Nam. Khối đất nung để nằm cho thấy một người nữ ở tư thế sinh con đang mang bầu hình tròn hay đẻ ra một cái bọc tròn. Nhìn tổng thể bọc tròn biểu tượng cho Bầu Hư Không, Bầu Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ, Bầu Trời Thế Gian, Trứng Thế Gian, Bầu Sinh Tạo, Bầu Tạo Hóa (bầu có một nghĩa là mang thai). Nhìn dưới diện Tổ Hùng, đây chính là hình ảnh Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng chim sinh ra Trăm Lang Hùng. Một lần nữa, ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt hừng rạng, qua hình ảnh Mẹ Đời, Mẹ Tổ hình Cây Vũ Trụ với “phụ đề” hai hình đĩa Thái Cực, Trứng Vũ Trụ ở hai bên và hình Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra bọc trứng còn thấy trên cổ vật theo “phong cách dân gian” cho thấy cái cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Việt Dịch Nòng Nọc. Tài Liệu Tham Khảo . A. J. Bernet Kempers, The Kettledrums of SouthEast Asia .Hà Thúc Cần, The Bronze Đông Sơn Drums .Hans Scharer, Ngaju Religion, baœn dịch Anh ngữ cuœa Rodney Needham, The Hague-Martinus Nijhoff, 1963. .James Churchward: The Lost Continent of Mu, 1969 Paperback Library Edition, Coronet Communications Inc. .Nguyễn Xuân Quang: -Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999). -Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002). -Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004). -Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Y Học Thường Thức, 2006). -Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (sẽ phát hành vào cuối tháng năm tới đây). -The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (khoahoc.net 18 tháng 11 năm 2007). .Phạm Huy Thông chủ biên, Đong Son Dums In Viet Nam, The Viet Nam Social Science Publishing House, 1990). .Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004.
      • 1
      • Like
  4. Nhà này nên sinh năm Giáp Ngọ 2014 , trai hay gái gì cũng được!!!
  5. Sau này khi mọi người đã công nhận thời Hùng Vương không "ở trần đóng khố" nữa thì sẽ bắt hết mấy người này ở trần đóng khố chạy bộ lên đền Hùng quỳ gối tạ tội!!!
  6. Đọc mà sao thấy ấu trĩ quá, haizzz!!! Bùn ghê gớm, hình như người ta tự hào hơn khi dân tộc ở trần đóng khố!!!
  7. Tháng 2 âm có ngày Mồng 8 rất tốt để động thổ, 5h-7h sáng hoặc 5h-7h chiều!!!
  8. Hiện tại lớp cơ bản 05 đã đi được 1/3 chặng đường nên sẽ ko nhận học viên nữa. Các bạn đợi khóa CB 06 nhé, có thể mở vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 am lịch!
  9. Chị ra ngoài trang chủ tự lấy lá số và copy link lá số vào đây. Muốn coi về vấn đề gì thì chị đặt câu hỏi cho các thầy tư vấn. Chị hỏi chung chung thì nhận được câu trả lời chung chung.
  10. Vậy TL cho chị công thức này, lấy số đầu chi 8 dư 1 hoặc 3 hoặc 4 hoặc 6 hoặc 7!!! 2 số sau chia 6 dư 1 hoặc 3 hoặc 5. như vậy là ổn!!! vd : 4699, lấy 46 : 8 = 5 dư 6!!! 99 : 6 = 16 dư 3. Nếu lấy được đầu 47 thì tốt hơn đầu 46.
  11. Trong dãy trên thì chỉ nên lấy 2 số 4619 hoặc 4699!!!
  12. Bữa nay xe máy đã 5 số rồi mà Nếu theo dãy số trên thì có số 4619 hoặc 4699 tạm đc! Nên chọn có các số 5,4,9,2,7. TL lấy theo tiêu chí Lạc Việt Độn Toán.
  13. pm tức là gửi tin nhắn qua diễn đàn đó anh nhanqua!!!
  14. Bạn có thể cho biết các số trên là số gì?
  15. Bạn có giải thích được nguyên nhân vì sao Quý Hợi mạng Thủy hay ko? Nếu bạn tìm đọc sách "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" của thầy Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì sẽ được giải đáp cặn kẽ vì sao Quý Hợi mạng Hỏa. Nên nhớ rằng trong tất cả các sách của TQ ko sách nào giải thích vì sao như vậy!!!
  16. năm nay ko được đâu, nếu sinh đứa thứ 2 là út thì nên sinh năm Ất Mùi 2015!!!
  17. Nếu đã dùng Lạc Thư Hoa Giáp thì ko dùng Lục Thập Hoa Giáp. Mọi kiến giải xung quan việc đổi Thủy Hỏa đã có rõ ràng trong các sách của thầy Thiên Sứ rồi. Theo TL thì Lạc Thư hợp lý và logic hơn Lục Thập !!! Riêng việc sinh con được năm tốt hợp cha hợp mẹ thì gia đình đó đã có phúc rồi, đi vào chi tiết hơn thì mới tính đến tháng - ngày - giờ. Cái lớn đã được thì cái tiểu tiết chỉ là phụ mà thôi!!!
  18. Trường hợp của anh đã được thầy Linh Trang giải đáp rồi!!!
  19. Nếu tính sinh năm Nhâm Thìn với hành khí năm là Hỏa thì chỉ nên sinh mùa Xuân (1,2 al) hoặc mùa Hạ (4,5al). Tháng 3 là tháng Thổ, là tháng giao mùa giữa Xuân và hạ nên khí trời lộn xộn. Thường thì vào các tháng giao mùa, trở trời thì ngta lại hay ho hen. Theo Tl thì chọn tháng sinh là sự kết hợp của hành khí và mùa trong năm. hành khí Hỏa thì Tướng vào mùa Xuân và Vượng vào mùa Hạ, Tù vào mùa thu và Tử vào mua đông, nên sinh Thu Đông là bất lợi, ko hợp khí. Các tháng Thổ 3 6 9 12 thì Hỏa Hưu do sinh xuất. Nếu như tính theo cách Rồng như trên thì cách đó cũng phải tính cho 11 Địa chi còn lại thì đó mới là 1 lý thuyết hợp Lý. Theo cách tính như ltrên thì con Chuột? Heo? sinh mùa nào???
  20. Bạn qua mục Lạc Việt Độn Toán hoặc Tử Vi để hỏi nhé!!! Riêng tuổi Mậu Thìn năm nay giữa Tam Tai nên có thể gặp nhiều điều ko may mắn, thiếu thuận lợi, hao tốn tiền bạc ...
  21. Có thể sinh ngay năm nay Tân Mão, trai gái gì cũng được. Còn ko thì sinh năm Quý Tỵ 2013!!!
  22. Sau khi tính toán lại thì TL thấy rằng năm Tân Mão, Nhâm Thìn đều sinh được, nhà sẽ khá hơn!!! Còn việc con đầu lười ăn hoặc hay ốm thì có thể còn nhiều nguyên nhân khác, ẩn tuổi ko phải là nguyên nhân. Tuổi chỉ là nền tảng ban đầu của cả nhà thôi!!! Năm Nhâm Thìn cũng tốt, quan trọng là con út phải đúng Mậu Tuất là được!!!
  23. 43 tuổi chứ nhỉ??? Tl cũng tính năm đó là gần nhất rồi!!! Thôi thì tùy duyên vậy. Nâm nay tuổi Ất Mão xây/sửa nhà rất tốt nhưng gặp năm tuổi rồi, hay chị là người đứng cúng cũng đc, tuổi Đinh Tỵ năm nay làm cũng tốt. SInh con Nhâm Thìn thì nên sinh mùa Xuân (1,2al) hoặc hè (4,5al)!!
  24. Đã lỡ rồi thì sao lại ghi là dự định , lại hỏi sinh vào năm nào để hợp tuổi làm ăn nữa . Giờ lỡ rồi thì phải sinh chứ sao, sinh năm nay tàm tạm. Nhưng chị gái đầu đang vốn hay đau bệnh thì nay sẽ bệnh nhiều hơn. Nếu được thì sinh 1 bé 2013 để hóa giải thì công việc làm ăn của cha mẹ mới khá hơn bây giờ được!!!
  25. Tháng 2 al còn ngày 25al là ngày tốt để nhập trạch!!!
×
×
  • Create New...