-
Số nội dung
407 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
1
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Kim Cương
-
Nếu đem sự suy luận mà bảo cái này là cái kia, cái này không phải cái kia thì vẫn luẩn quẩn trong thức tình. Khi chuyển thức thành trí thì mới nếm được đạo vị, nhìn cái gì đúng là cái đó, mới có được chính kiến. Trí này lìa sắc trần và căn mắt, lìa hương trần và căn mũi, lìa vị trần và căn lưỡi, lìa thanh trần va căn tai, lìa xúc trần và căn thân, lìa pháp trần và căn ý, lìa hết thẩy sự phân biệt của nhãn thức, nhĩ thức, thiệt thức, tị thức, thân thức, và ý thức.
-
Giải thoát phiền não, đập vỡ cái sự vô minh cạn dòng phiền não.
-
Nhất tinh minh sinh ra Lục hòa hợp.Mốt cái Tính Biết sinh ra Sáu Tính hòa hợp. Tính biết ở mắt, tính biết ở tai, tính biết ở mũi, tính biết ở miệng, tính biết ở thân, và thứ sáu là tính biết ở ý. Người tu hành nhìn người với trí không có tham sân si.Người thường nhìn nhau với thức tham sân si. Chồng nhìn vợ bằng thức sân giận thì vợ sớm vô bệnh viện gồi. Vợ nhìn chồng băng thức sân ghen thì liền hất bát nước sôi vào mặt để hủy vẻ điển trai...thông tin cập nhật. Trong phòng tối, người ta lầm cuộn dây là con rắn, còn trong ánh sáng người ta thấy cuộn dây là cuộn dây. Chỗ nào lệch nhỉ ?
-
Bà già chẳng bẩu là sao vị Thiền giả đó không thương tình mà giải thích cho cô gái đó sao. Tớ giải thích gồi còn gì, sát với chủ đề không cách một li. Sau đó một thời gian vị Thiền Sư quay lại xin Bà già hộ pháp, ok lun. Bà gia sai cô gái vào ôm Thiền Sư và bảo hỏi: Thiền Sư cảm thấy thế nào ? Thiền Sư đáp: chỉ có tôi biết, cô biết, chớ cho Bà ta biết. Đúng thế, mở mắt thì tự thấy voi là voi nếu còn miêu tả cho người nhắm mắt thì họ củng chẳng thấy được như thật. Cách thương xót và trí tuệ là chữa cho họ hết bệnh mù thì tự nhiên họ sẽ thấy cái thấy bình đẳng. Bà già gật đầu ok, vị này đã giác ngộ, không chấp vào hình thức tu thân nữa, thân tâm viên thông.
-
Người điên cũng có Trí tuệ, nhưng cái nghiệp của họ là ác nghiệp. Do quên Trí tuệ mà sinh ra ác nghiệp, vì Trí tuệ là chân thật cho nên dù điên nhưng họ vẫn có Trí tuệ. Trí tuệ này chính là Tính Biết. Người hành khất hay Ông tổng thống cũng có Trí tuệ như nhau, bình đẳng trí, quan sát trí, thể tính trí...Ngũ trí như lai đều từ sự chuyển hóa tham sân si mà trờ lại đó. Thiền định phải giác ngộ Trí tuệ thì mới là chính định. Trước khi thiền Trí tuệ không mất, sau khi thiền Trí tuệ không thêm, đây là sự vô sở đắc, không phải do tu mà được đâu. Ở chúng sinh trí này không thiếu ở Phật trí này không thêm. Tính Biết thì đâu có thêm bớt gì, đâu phải là học cao học thì mới có Tính Biết. Tính Biết là sẵn có, sẵn có nhưng không diệt, không diệt thì không sinh, lìa hết sự đối đãi sinh diệt.
-
Nếu trí tuệ là trí tuệ theo kiến thức thì cần gì phải thiền định. Thiền định là sống trở về với kho tàng trí tuệ sẵn có còn học thức thì ngược lại toàn là phải đem những kiến thức từ bên ngoài vào, những kiến thức có thầy dậy, có trò học, đó là trí thức không phải trí tuệ.
-
Vị trí là vị trí bình đẳng, trí tuệ là trí tuệ không có thầy. Người mở mắt nhìn voi thì họ đâu cần phải có trí nào khác nữa nhỉ, đâu cần thầy dậy họ nữa, tự họ thấy voi là voi thôi, đâu cần phải tiếp sau phân biệt con voi nó giống con gấu hay con hổ nữa.Trên cao mà có sự đối đãi với dưới thấp thì đó không phải là trên cao đâu, trí tuệ mà phải có sự chọn lựa phân tích so sánh suy luận thì không phải trí tuệ. Biện chứng thì phải tìm phải mò, chứ nhìn thế nào thì theo đúng như thế thì đâu phải ôm thêm sự biện chứng.
-
Thức tình thì có sự phụ thuộc, trói buộc, có cao thấp hơn thua. Trí tuệ thì giải thoát và bình đẳng. Bình đẳng là đẳng cấp không còn phân biệt được hơn thua, không phải chỗ mình đến được mà người khác không đến được. Ai buồn ngủ cũng có thể đi ngủ, bỉnh đẳng như nhau, chỉ có bị phụ thuộc sao đó thì mới có sự đói thì không chịu ăn, mệt thì không chịu ngủ, rơi vào cảnh giới không bình đẳng. Nếu gọi đó là quy ước thì đó là quy ước bình đẳng, vô đẳng đẳng, tức là đứng ở vị trí đẳng cấp không còn phân biệt đẳng cấp và không có đẳng cấp nào cao hơn được nữa. Đứng ở vị trí như thế quan sát và thấy chính xác ví như là người sáng mắt xem voi ý.
-
Trí tuệ và Ngu si, thật và không thật. Trí tuệ là thật còn ngu si không thật có, ngu si vốn không thật có mà chỉ là giả có mà thôi. Sự không hiểu của người nghe có phải là cố định hay không, nếu bây giờ không hiểu nhưng khi khác lại hiểu thì rõ cái sự không hiểu đó là không thật, thế tức là Ngu si vốn không thật nhé.Tất nhiên như thế sau 100 năm thì sẽ không có con người thai sinh. Nhưng đó cũng là nằm trong sự thức tình tưởng tượng của con người. Thế giới không còn thân người báo thân thì cũng có thân người hóa thân tự tại chứ nhỉ. Người tu cũng có thể làm nhà khoa học, nhiều nhà khoa học và chính trị củng phải bí mật tu tâm thì mới thành công trên con đường của họ. Người tu tùy duyên chứ không phải không có nhu cầu, họ làm việc hết sức mình chứ không làm quá sức mình, với cách làm việc như thế lại lo một xã hội không phát triển hiện đại hay sao. Nói vậy thì mình hãy xem những sinh vật trong đống rác ấy, ta thấy chúng nó khổ, còn nó thấy chúng nó vẫn sướng. Sướng khổ phân biệt cái sự này thì đứng ở Thức tình hay ở Trí tuệ. Người tu chuyển Thức thành Trí và nhìn sự kiện bằng Trí tuệ chứ không nhìn băng Thức tình, ví như người ta chuyển sức lạo động chân tay sang lao động trí óc và họ làm ra những phương tiện, cụ thể là họ đi đó đi đây bằng máy bay chứ không phải đi bằng hai chân. Chuyển thức thành trí rõ ràng là siêu việt và tân tiến hơn chứ.
-
Giải thích và lòng thương mà Bà già nói đến là thế này. Lòng thương là Từ Bi, Từ Bi phải có Trí Tuệ thì mới là Từ Bi, Trí Tuệ phải là Trí Tuệ giải thoát thì mới là Trí Tuệ. Trí Tuệ này nhìn các pháp đúng như thật, các pháp khổ thì Trí Thấy và nói nó là khổ, các pháp vui thì Trí Thấy và nói nó là vui. Có Trí Tuệ thì mới thấy rõ khổ và vui, giải thoát và trói buộc, minh và vô minh, thường và vô thường. Vô minh thì lầm nhận khổ là vui cho nên giải thích là có trọng điểm, có hướng như thế. Có nhiều người nói rằng ai cũng thiện lành, ai cũng thanh tịnh thì lấy đâu ra người, vấn đề này đúng hay thế nào đây ? Thế giới không có chiến tranh thì chẳng lẽ không có hòa bình sao, thế giới mà không có sự ác thì không có sự thiện hay sao. Nhiều người cũng hay nói có thiện có ác, có tốt có xấu thì mới thành xã hội, thật ra thì đó chỉ là trên hiện tượng mà nhận định như thế và sự thật thì đạo học có nói rồi, nhân chi sơ, tính bản thiện. Cái ác cái khổ là do nhận thức sai lầm mà ra, thay vì nói có thiện có ác mới là xã hội thì nên nói đúng là có nhận thức đúng đắn hay sai lầm thì mới có thiện và có ác. Con người không thai sinh thì cũng có sự hóa sinh siêu việt hơn, chỉ vì bị chìm trong thai sinh nên lý luận theo cách không có thai sinh thì lấy đâu ra nhân loại. Khả năng trong tương lai, ở một quốc gia nào đó, y học phát triển thì người ta chắc không quan trọng quá sự liên quan quan hệ và sinh sản, khi đó quan hệ chỉ là một thú vui thích, trường hợp đấy thì làm sao lý luận bó chặt sự tồn tại của nhân loại với sự quan hệ hai người ấy.
-
Người sáng đạo thì thường thương chúng sinh chìm đắm trong vô minh. Nếu vị Thiền giả sáng được đạo tâm thì đi đúng con đường giải thoát, khi giải thoát đó thì nhìn lại thấy chúng sinh đang còn trong biển khổ vì vô minh nên sinh lòng thương xót. Không/chưa có lòng thương thì là hiện tượng Thiền giả chưa có trí tuệ về yếu chỉ tu tâm.
-
Ngồi tù 20 năm tức giống như là tu thân 20 năm. Nếu tu thân 20 năm mà thành thánh thành tiên thì các vị lãnh án chung thân chắc hóa thành tiên thành thánh hết rồi còn gì. Bà già thì mục đích là hộ pháp người tu chứ không hộ pháp người thọ án tù. Cho nên khi biết mình đã nuôi một vị tù nhân thì rất chi là tiếc công tiếc của hai mươi năm hộ pháp.Kiến giải của vị sư sau 20 năm chỉ là biết tu thân mà chưa biết tu tâm, như thế thì dụng công nhiều mà kết quả ít, có kết quả thì cũng chỉ là cái phước có hạn mà thôi. Những gì có giới hạn thì người ta cảm thấy như nó là Có nhưng thật ra nó là Không, bởi vì Có đó là Tạm có, Giả có, cái giả tạm thì sẽ tới lúc hoại diệt. Câu chuyện Bà lão, Cô gái và vị Thiền giả đó mới chỉ có một nửa, còn một nửa nữa cơ mờ nhể.
-
KINH LẠC HUYỆT VỊ ĐỒ 经 洛穴位图 NHÂN THỂ KINH LẠC DƯỠNG SINH BẢO KIỆN-HÌNH 1 人體經絡養生保健 Kích thước xem thử: như trên Tải về: Độ phân giải tối đa (3.000×6.058 điểm ảnh, kích thước: 7,01 MB, định dạng MIME: image/jpeg) --- NHÂN THỂ KINH LẠC DƯỠNG SINH BẢO KIỆN-HÌNH 2 人體經絡養生保健 Kích thước xem thử: như trên Tải về: Độ phân giải tối đa (3.000×5.932 điểm ảnh, kích thước: 4,71 MB, định dạng MIME: image/jpeg) --- NHÂN THỂ KINH LẠC DƯỠNG SINH BẢO KIỆN-HÌNH 3 人體經絡養生保健 Kích thước xem thử: như trên Tải về: Độ phân giải tối đa (3.000×5.978 điểm ảnh, kích thước: 8,88 MB, định dạng MIME: image/jpeg) Bộ hình này tương đối chất lượng, Kim Cương biết được và tìm cũng thấy được trên internet. Hi vọng sẽ đồ họa lại nó để chuyển ngữ tiếng Trung sang tiếng Việt.
-
Các học giả kính mến! Kim Cương mở chủ đề về Y Lý Đông Phương để sưu tầm, nghiên cứu các hình bảng Kinh Mạch Huyệt. Kim Cương làm theo sở thích và cũng thích có được các ý kiến trao đổi của các độc giả. Kính mến! 10-11-2010 05-10-Canh Dần
-
Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng Thanh Hoá-Lễ Đặt Đá Xây Dựng Sáng ngày 03/4/2010 (nhằm 19 tháng 02 Canh Dần), Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm kết hợp với BTS THPG Thanh Hóa đã long trọng tổ chức lễ đặt đá xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng tại núi Hàm Rồng - Phường Hàm Rồng – TP Thanh Hóa. Chứng minh và tham dự buổi lễ có HT Thích Đắc Pháp - Ủy viên HĐTS TW GHPGVN - Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Vĩnh Long - Cố vấn Ban quản Trị Thiền phái Trúc Lâm,HT Thích Thông Hiếu- Trụ trì TVTL Đạo Huệ; HT Thích Trí Chơn; ĐĐ Thích Tâm Đức - Ủy viên HĐTS TW GHPGVN - Trưởng BTS Phật giáo tỉnh Thanh Hóa, ĐĐ Thích Chiếu Tuệ - Trưởng ban Hoằng pháp BTS Thành hội Phật giáo Hà Nội cùng chư tôn đức Ủy viên HĐTS TW GHPGVN, BTS các tỉnh thành phía Bắc, Đại diện Ban Quản Trị Thiền Phái Trúc Lâm. Cùng chư Tôn đức trụ trì các tổ đình tự viện và đông đảo các Phật tử gần xa đã về tham dự đông đủ. Về phía chính quyền có ông Nguyễn Lam - Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ông Đinh Văn Luyện – Phó tổng biên tập báo nhân dân, ông Hoàng Văn Hoằng - Bí thư thành uỷ- Chủ tịch HĐND thành phố Thanh Hóa, ông Hà Văn Thương - Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Thanh Hoá cùng đại diện lãnh đạo các ban ngành các cấp TW, Tỉnh, Thành phố Thanh Hóa, Phường Hàm Rồng, chính quyền sở tại cùng đông đảo bà con Phật tử tỉnh Thanh Hóa. ĐĐ Thích Trúc Thông Phổ tuyên bố lý do và giới thiệu thành phần tham dự. Tiếp đó, ĐĐ. Thích Kiến Nguyệt - Trụ trì TVTL Tây Thiên đọc diễn văn khai mạc, trong đó có đoạn “Hôm nay Thanh Hóa làm lễ Đặt Đá xây dựng TVTL Hàm Rồng, góp phần tôn tạo danh thắm núi Hàm Rồng trở thành một danh lam thắng tích, một nơi du lịch văn hóa tâm linh, góp phần xây dựng kinh tế cho địa phương nói riêng và cho đất nước nói chung.TVTL Hàm Rồng còn là nơi khôi phục lại dòng thiền của dân tộc, do Phật Hoàng Trần Nhân Tông khai sáng... Việc xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng, xét về mặt văn hóa còn có ý nghĩa bảo tồn phát huy di sản văn hóa đạo đức, niềm tự hào của dân tộc, qua đó tôn vinh giá trị phi vật thể của Thiền phái Trúc Lâm, đưa Phật giáo Việt Nam sánh ngang tầm Phật giáo thế giới… Được biết, Ban Hưng công xây dựng TVTL Hàm Rồng được Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm chấp thuận, bao gồm Trưởng Ban Hưng Công - Đại đức Thích Kiến Nguyệt; Phó Ban Hưng Công kiêm Thủ bổn: Đại đức Thích Trúc Thông Tánh, Trị sự: Đại đức Thích Trúc Thông Vĩnh. Phật tử Nguyễn Trọng Phúc – Pháp danh Phương Nhân Đức thay mặt Phật tử và nhân dân Thanh Hóa phát biểu ý kiến, khẳng định "Chúng con xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TW GHPGVN đến các cấp chính quyền đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Thiền viện Tây Thiên nói riêng và TVTL Yên Tử nói chung xây dựng cho nhân dân Thanh Hóa Thiền viện trên đỉnh núi Hàm Rồng.Thể theo tâm nguyện của nhân dân Phật tử muốn có một nơi Thiền Viện tu theo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, TVTL Hàm Rồng đã đáp ứng được lòng khao khát mong đợi của nhân dân và phật tử Thanh Hóa hướng tới cuộc sống tốt đẹp, an lành và hạnh phúc..." Ông Nguyễn Bá Nghênh – Phó chủ tịch UBND TP Thanh Hóa phát biểu ý kiến, nêu rõ "TVTL Hàm Rồng được xây dựng là công trình không chỉ để đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của nhân dân, mà còn góp phần thực hiện thành công dự án( Khu du lịch văn hóa Hàm Rồng) nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân..."Ông Nguyễn Bá Nghênh khẳng định "TVTL Hàm Rồng là một tự viện của Phật giáo thuộc Thiền phái Trúc Lâm là thành viên của GHPGVN. Vì vậy phải luôn chấp hành Hiến chương của GHPGVN và Pháp lệnh Tôn giáo, tín ngưỡng của nhà nước, cùng với Ban đại diện Phật giáo thành phố, BTS tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa , Hoằng dương Phật pháp, lợi lạc quần sinh… ĐĐ Thích Tâm Đức thay mặt TW GHPGVN phát biểu tán thán công đức xây dựng TVTL Hàm Rồng của chư tôn đức Ban Quản Trị Thiền phái Trúc Lâm, đây sẽ là một danh lam thắng cảnh của Thanh Hóa để Phật tử và nhân dân cùng về chiêm bái, lễ Phật. HT Thích Đắc Pháp – ban đạo từ, nhấn mạnh "Sự kiện TVTL Hàm Rồng tổ chức lễ đặt đá mang dấu ấn lịch sử ngày Hàm Rồng chiến thắng ( 4/4/1955) TVTL Hàm Rồng sẽ cùng với BTS Phật giáo tỉnh Thanh Hóa đoàn kết, hòa hợp và phát triển theo đúng phương châm “ Đạo pháp – Dân tộc – CNXH”.Cuối buổi lễ chư tôn đức cùng quý vị lãnh đạo làm lễ dâng hương và đặt đá khởi công xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng. Văn nghệ chào mừng của đoàn Thanh niên Phật tử Trần Thái Tông - Thiền Viện Sùng Phúc - Theo Cẩm Vân - phattuvietnam.net -
-
Sau một thời gian dài với nhiều khó khăn trắc trở, cuối cùng Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng cũng đã nhận được sự đồng thuận của Giáo hội và các cấp chính quyền cho phép cử hành Lễ Đặt Đá xây dựng vào ngày 19-2 Canh Dần, ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm và cũng là ngày quân dân tỉnh Thanh Hóa cũng như cả nước hân hoan tổ chức lễ "Kỷ niệm 45 năm ngày Chiến thắng Hàm Rồng - mồng 3 tháng 4 năm 2010". Đại đức Thích Kiến Nguyệt đã làm việc với Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Thanh Hóa, các cơ quan Ban, Ngành cấp thành phố và cấp tỉnh, UBND thành phố, UBND tỉnh Thanh Hóa, các cấp ủy Đảng và đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo. Điều đáng nói hơn cả là sự vui mừng phấn khởi của toàn thể Tăng, Ni và Phật tử Thanh Hóa. Như vậy là sau nhiều năm mong đợi ước mơ của người Phật tử Thanh Hóa đã sắp biến thành hiện thực. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo từ bi gia hộ cho công trình được sớm thành tựu như ý nguyện của đồng bào Phật tử và nhân dân Thanh Hóa. Sau đây là một vài hình ảnh công việc chuẩn bị cho "Lễ Đặt Đá": Phối cảnh TVTL Hàm Rồng Quý Thầy làm việc với Ban Trị sự Hội Phật giáo tỉnh Thanh Hóa ĐĐ Thích Kiến Nguyệt làm việc với Đại diện Ban trị sự Phật giáo tỉnh Thanh Hóa Thầy Thông Tánh, thầy Kiến Nguyệt và Ban trị sự tỉnh Thanh Hoá Quý Thầy làm việc với Thành ủy và UBND Tỉnh Thanh Hóa Quý Thầy làm việc với Thành uỷ Thanh Hóa Quý Thầy làm việc với Uỷ ban ND tỉnh Thanh Hoá Chư Tôn đức cùng các Phật tử tham gia công tác chuẩn bị cho Lễ đặt đá Thầy Tâm Thuần cùng các Phật tử đến thăm TVTL Hàm Rồng Bàn giao đất Bàn giao đất San lấp mặt bằng San lấp và các công tác chuẩn bị Các công tác chuẩn bị xây dựng Thiền viện Những vị khách đầu tiên Phụ đề tiếp theo CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC -------------o0o----------- Thanh Hoá, ngày 24 tháng 6 năm 2008 Ý tưởng của doanh nghiệp và các nội dung xin ý kiến đóng góp cho dự án Đầu tư xây dựng khu du lịch tâm linh, lịch sử, sinh thái Và Trúc Lâm Thiền Viện Hàm Rồng Phần I: Cơ sở lý luận và nhân văn về việc xây dự án Công Ty Cổ Phần Xuân Minh SĐ Thanh Hoa là một doanh nghiệp có duyên về tôn tạo xây dựng các công trình tâm linh bằng nguồn vốn tự có và huy động sự tham gia đông đảo của các doanh nghiệp bạn bè có chung một tâm nguyện về việc tôn tạo các di tích Văn hoá, tín ngưỡng và lịch sử của Xứ Thanh. Sau khi biết được UBND tỉnh Thanh Hoá có quy hoạch khu du lịch sinh thái Hàm Rồng kết hợp nguyện vọng của các tăng ni Thiền Phái Trúc lâm muốn xây dựng một Thiền Viện Trúc Lâm tại đây. Chúng tôi thiết nghĩ núi Hàm Rồng, Núi Ngọc, Sông Mã là một vùng đất linh thiêng, là miền đất gốc của người Việt, là một địa danh đã đi vào lịch sử bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam. Doanh nghiệp Công Ty Cổ Phần XUMI SĐ Thanh Hoa đề xuất Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh đề án về việc đầu tư tại khu vực Núi Rồng – Sông Mã - Cầu Hàm Rồng – Núi Ngọc một quần thể du lịch tâm linh - lịch sử - văn hoá – sinh thái mà hạt nhân là trúc lâm thiền viện Hàm Rồng nhằm lưu giữ bảo tồn vĩnh viễn một địa danh gắn liền với sự phát triển lịch sử, văn hoá, xã hội của xứ Thanh và của cả nước. I.Ý nghĩa lịch sử và nhân văn Nói đến Thanh Hoá là cả nước, cả thế giới biết đến Hàm Rồng – Sông Mã đây là biểu tượng lịch sử của sự hy sinh và chiến đấu vì độc lập và tự do của tổ quốc của nhân dân Thanh Hoá. Rất nhiều người con của Thanh Hoá, của cả nước đã hy sinh tại mảnh đất này. Chúng ta, thế hệ hôm nay cần phải có các công trình tưởng niệm tương xứng để tri ân và giữ lại niềm tự hào cho các thế hệ mai sau mỗi khi tưởng nhớ tới Cha ông đã mãi nằm lại nơi đây vì giang sơn đất nước. Núi Rồng – Sông Mã - cầu Hàm Rồng – núi Ngọc nằm trong quần thể khu du lịch văn hoá lịch sử có Làng Đông Sơn nơi tìm thấy những chiếc trống đồng cổ nhất Việt Nam, là biểu tượng của cả một nền văn hoá dân tộc Việt con Lạc cháu Hồng: Văn hoá Đông Sơn. 1. Ý nghĩa tâm linh gắn liền huyền thoại Thiên nhiên kỳ bí đã ban cho tỉnh Thanh Hoá một dãy núi thiêng, núi đẹp. Dãy núi Rồng với 9 ngọn nằm bên bờ sông Mã như một Rồng thiêng cửu khúc đang đạp nước vươn tay giữ Ngọc Minh Châu, tư thế như chuẩn bị bay lên từ dòng Sông Mã. Theo thuyết phong thuỷ, tại đây có một huyệt đạo vô cùng linh thiêng, sức ảnh hưởng của huyệt đạo này là vô cùng lớn với sự phát triển của lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hoá tỉnh Thanh đã sinh ra rất nhiều các triều đại phong kiến Việt Nam. Họ là các vị vua, vị chúa, các nhà văn hoá, chính trị ảnh hưởng lớn tới sự phát triển lịch sử, văn hoá kinh tế của cả dân tộc việt. Lê Đại Hành, Lê Lợi, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, Triệu Trinh Nương, Đào Duy Từ, Lê Văn Hưu… Mà huyệt đạo Hàm Rồng chính là một trong những huyệt đạo có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự linh thiêng này Tuy nhiên để Rồng cất cánh bay lên, chúng ta phải đầu tư, tôn tạo, phải bỏ công, bỏ của, bỏ trí tuệ và tâm hồn để đưa cái hồn của quê hương, của dân tộc vào đưa, chúng ta phải đưa được niềm khao khát xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp thành các biểu tượng cụ thể dưới hình thức các công trình văn hoá, tâm linh. 1.1. Ý nghĩa về môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng: Cuộc sống ngày càng bận rộn, môi trường đô thị, công nghiệp ngày càng bị ô nhiễm. Một rừng cây xanh, một dòng sông xanh là điều kiện lý tưởng để giữ lại bầu không khí trong lành mà thiên nhiên đã ban tặng cho thành phố Thanh Hoá. Nơi đây như một lá phổi của thành phố, cung cấp dưỡng khí cho môi trường đô thị. Cũng như là nơi để cho người dân sau một tuần lao động vất vả có thể đến đây nghỉ dưỡng, đươc hít thở bầu không khí trong lành. Tuy nhiên hạ tầng rừng, sông, núi chưa được cải tạo sạch, đẹp các dịch vụ cho nhu cầu du lịch nghỉ dương, chữa bệnh theo nhu cầu y học dân tộc… chưa được đầu tư nên việc tận dụng nguồn tài nguyên này là rất hạn chế. 1.2. Ý nghĩa văn hoá giáo dục: Môt gia đình, một địa phương, một vùng đất luôn có những niềm tự hào riêng về văn hoá, lịch sử. Đó là truyền thống, là cội nguồn nuôi những ước mơ hoài bão phấn đấu cho tương lai của mỗi con người, mỗi địa phương và cả một dân tộc. Biểu tượng núi Hàm Rồng – Sông Mã - Cầu Hàm Rồng – Núi Ngọc đạt đến cái tầm là biểu tượng của niềm tự hào của cả một dân tộc vì độc lập và tự do, dám chiến đấu hi sinh và đã đánh thắng kẻ thù giàu có nhất thế giới có một nền kỹ thuật chiến tranh hiện đại bậc nhất thế giới. Đây thời chiến tranh phá hoại của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được thế giới ca ngợi là biểu tượng lương tri loài người. Mỗi người con xứ Thanh đi xa về gần, luôn đau đáu nỗi niềm mong muốn được nhìn thấy một Hàm Rồng, một Núi Ngọc được đầu tư, tôn tạo thành một kỳ quan Văn hoá, lịch sử, tâm linh tương xứng với sự đóng góp của địa danh này vào lịch sử văn hoá đất Việt. Phần II: Cơ sở thực tiễn và tính khả thi I. Mục tiêu đầu tư Doanh nghiệp đề xuất phương án tôn tạo toàn bộ Núi Rồng- Núi Ngọc bao gồm một vùng có địa giới bao gồm 9 ngọn núi thiêng của dãy Núi Rồng và Núi Ngọc thuộc quy hoạch bảo tồn vùng du lịch sinh thái, lịch sử Hàm Rồng – Sông Mã thành vùng du lịch tâm linh, lịch sử văn hoá và sinh thái. Các hạng mục đầu tư bao gồm: 1. Bảy bức tượng phật đặt trên 7 ngọn núi thuộc dãy núi Rồng Ngọn cao nhất có bức tượng Phật Đức Thích Ca Mâu Ni lớn nhất có khối lượng 1000 tấn bằng đá núi Nhồi, các ngọn kế tiếp xung quanh có các khối lượng giảm dần 800,600,400,200,100 và một bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên toà sen tay cầm bình nước Dương Chi cứu khổ cứu nạn. 2. Các ngôi đền thờ các anh hùng dân tộc là con em Thanh Hoá Các thần núi, thần sông, các liệt sỹ và nhân dân đã hy sinh bảo vệ cầu Hàm Rồng 3. Ba ngôi chùa lớn: Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng thuộc Thiền Viện Trúc Lâm Hàm Rồng 4. Hệ thống đường du lịch trên núi: Được ghép hoàn toàn bằng đá phiến 5. Hai khu dịch vụ du lịch: Khu đón khách và khu dịch vụ. - Khu đón khách bao gồm hệ thống bãi để xe, nhà hàng ăn uống, siêu thị bán đồ chay, đồ thờ, đồ lưu niệm… - Khu dịch vụ du khách ngủ lại do Hàm Rồng là một khu du lịch tâm linh lớn nên nhu cầu ngủ lại của du khách trong các tour đi du lịch cần có một khu bao gồm các nhà nghỉ, ăn, giải trí rất là lớn. Đồng thời đây là điểm trung chuyển và xuất phát của các tour du lịch: a. Hàm Rồng, Sông Mã, Cẩm Thuỷ, Vĩnh Lộc, Sầm Sơn bằng phương tiện đường thuỷ b Hàm Rồng, Sông Chu, Lam Kinh, Sầm Sơn bằng phương tiện thuỷ c. Hàm Rồng, Sông Lèn, Hàn Sơn, Sầm Sơn bằng phươn tiện thuỷ Nên ở khu dịch vụ nghỉ lại phải xây dựng một cầu cảng cho cách tour du lịch bằng đường sông ở Thanh Hoá. 6. Các khu nghỉ dưỡng, võ đường VoViNam, khu nhà thiền, khu chữa bệnh bằng y học truyền thống. 7. Tôn tạo núi Ngọc, Cầu Hàm Rồng theo hướng sử dụng ánh sáng, đèn màu, laze…để Núi Ngọc trở thành viên Ngọc Minh Châu của Thanh Hoá. 8. Khu trưng bày chiến tích chiến tranh trong chiến đấu bảo vệ Hàm Rồng – Nam Ngạn. II. Tính khả thi của dự án 1. Nguyên tắc tôn tạo: Giữ nguyên cảnh quan mội trường trừ các vị trí phải xây dựng: Nhà cửa, đường đi, diện tích còn lại giữ nguyên và trồng bổ sung cây xanh, cây cảnh, cây thuốc nam… theo nguyên tắc các hoạt động du lịch dưới tán cây xanh của rừng. Do vậy vốn đầu tư chỉ phải tập trung vào xấy dựng các công trình thiết yếu. Mô típ kiến trúc của tất cả các hạ mục công trình phải thể hiện được kiến trúc truyền thống, vật liệu xây dựng chủ yếu là gốm, gỗ và đá. Riêng phần sau tượng được chế tác và lắp dựng từ các khối đá khai thác tại Thanh Hoá. Trên mỗi phiến đá ghép nên mỗi bức tượng phật sẽ khắc tên các doanh nghiệp, các cá nhân trực tiếp cung tiến các khối vật liệu tạo nên bức tượng này. 2. Nguồn vốn xây dựng: Đây là một quần thể các công trình văn hoá tâm linh, lịch sử rất lớn nên đòi hỏi phải có một nguồn vốn hàng ngàn tỷ đồng cho xây dựng, đầu tư, tôn tạo. Nhưng đây đồng thời cũng là một công trình phúc lợi, tín ngưỡng phục vụ đa số nhân dân lao động và cũng sẽ là một tâm điểm du lịch mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Vì vậy hướng xử lý vốn đầu tư cũng sẽ mang tính xã hội hoá rất cao.Nguồn vốn chủ yếu là vốn của doanh nghiệp và hội phật giáo Việt Nam. Ví dụ: Các doanh nghiệp khai thác các tour du lịch liên quan, các doanh nghiệp muốn khai thác các vị trí kinh doanh dịch vụ du lịch sẽ tham gia đầu tư vào các hạng mục của dự án. Riêng bức tượng phật bằng đá khổng lồ, các con đường lên núi, vào chùa đường đi bộ trong khu du lịch bằng đá… sẽ nhận từ nguồn cung tiến, đóng góp bằng các hiện vật của các doanh nghiệp, các cá nhân hảo tâm trong cả nước, Được tham gia đóng góp dù chỉ một khối đá, được ghi danh công đức vào các công trình tâm linh tầm cỡ thế giới là nguyện vọng của nhiều doanh nghiệp, nhiều cá nhân trong cả nước. 3. Thời gian thi công: Học tập công trình Bãi Đính- Ninh Bình, mỗi hạng mục sẽ do một doanh nghiệp tự đảm nhiệm tổ chức xây dựng và đưa vào khai thác. Riêng các chùa sẽ do ban trị sự phật giáo tỉnh tiếp quản và đưa vào sử dụng. 4. Đơn vị chịu trách nhiệm đầu tư dự án: Công ty cổ phần XUMI SĐ Thanh Hoa sẽ là đơn vị chịu trách nhiệm thiết kế, qui hoạch, thiết kế mỹ thuật, kỹ thuật, tổ chức quản lý đầu tư và thi công. Các sở xây dựng, tài nguyên và môi trường văn hoá thể thao du lich, ban trị sự phật giáo tỉnh… là các cơ quan tư vấn. Dự án sẽ được UBND tỉnh, UBND thành phố phê duyệt theo qui định của pháp luật. 5. Tiến trình thực thi dự án: - Tham khảo ý kiến các đồng chí lãnh đạo Tỉnh, UBND tỉnh, hội phật giáo Việt Nam, tỉnh hội phật giáo Tỉnh… để thu thập ý tưởng, mục tiêu đầu tư một cách đầy đủ về việc đầu tư tôn tạo trung tâm du lịch tâm linh - lịch sử, văn hoá- sinh thái Hàm Rồng - Sau khi nhận được chủ trương của UBND tỉnh doanh nghiệp sẽ trưng cầu ý kiến của các sở ban ngành có liên quan trước khi tiến hành tư vấn thiết kế quy hoach chi tiết khu du lịch Hàm Rồng - Sau khi được các cơ quan chức năng thông qua quy hoạch chi tiết sẽ tiến hành thiết kế sơ bộ, lập sa bàn trưng cầu ý kiến đông đảo nhân dân, nhận ý kiến phản hổi thông qua một Website riêng cho dự án. - Sau khi tập hợp ý kiến đông đảo nhân dân và ý kiến các cơ quan chuyên môn tư vấn thiết kế sẽ lựa chọn phương án tối ưu để thiết kế chi tiết dự án trình UBND tỉnh thông qua. - Tiến hành lập ban QLDA và quỹ đầu tư thực hiện dự án để tiến hành đầu tư tôn tạo công trình - Cố gắng khởi động dự án trong quý 3 năm 2008 để quý 2 năm 2009 công trình khởi công. Phấn đấu đầu năm 2010 hoàn thành 2 bức tượng phật: Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 10m bằng đá cẩm thạch Hà Trung- Thanh Hoá được dựng tại đỉnh R3 Tượng Thích Ca Mâu Ni nặng 1000tấn với toà sen có đường kính 25m và chiều cao tượng là 24m sẽ được dựng trên điểm cao nhất tại đỉnh R4 dãy núi Rồng. Tượng Thích Ca Mâu Ni sẽ lập kỷ lục guness về một bức tượng đức thích ca mâu ni bằng đá nặng nhất thế giới do con người tạo nên, và đây cũng là công trình cùng thủ đô Hà Nội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Sau đó các hạng mục sẽ được dần hoàn thành và đưa vào sử dụng. III.Kết Luận Chúng Tôi ý thức được đây là một vùng đất thiêng khi quy hoạch thiết kế và thi công các hạng mục và tổng thể công trình phải đạt được những yêu cầu rất cao về kiến trúc, mỹ thuật, cảnh quan môi trường. Nhưng một yêu cầu quan trọng nhất đây phải là một công trình tâm linh mang được hồn thiêng sông núi. Mạng được bản sắc dân tộc, bản sắc người Thanh Hoá. Núi Rồng, Núi Ngọc, Sông Mã và Cầu Hàm Rồng đã là những địa danh nổi tiếng linh thiêng đồng thời các địa danh này đã mang trên mình các thắng tích ý nghĩa lịch sử của quân dân xứ Thanh anh hùng bất khuất. Nay công việc tôn tạo phải cố gắng làm tăng thêm vẻ đẹp huyền ảo, kỳ vĩ…Đồng thời nơi đây cũng sẽ phải là một công viên xanh, sạch phục vụ lợi ích nghỉ dưỡng, chữa bệnh của nhân dân lao động thành phố. Chắc cắn đây sẽ là một đầu mối quan trọng của ngành du lịch Thanh Hoá trong sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Thanh. Từ đây sẽ toả ra các vùng miền. các danh thắng trong cả tỉnh các Tour du lịch tâm linh lịch sử: Lam Kinh, Suối Cá Thần, Hàn Sơn, Sầm Sơn, Am Tiên … bằng các loại hình du lịch, bằng các loại giao thông thuỷ, bộ… và các Tour du lịch này sẽ hoạt động quanh năm. Núi Rồng, Sông Mã, Núi Ngọc, Cầu Hàm Rồng sẽ trở nên lung linh huyền bí và nổi tiếng bởi sự kỳ vĩ và linh thiêng. Đây sẽ xứng đáng là điểm tựa tinh thần để chúng ta vượt khó phát triển và vươn tới những tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng tổ quốc Việt Nam ngày càng phồn thịnh và văn minh.
-
Bản Chất Thật Của Pháp Luân Công?
Kim Cương replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
BatBoThienLong là Rubi, Rubi là BatBoThienLong. Chính thức ra mặt trong chủ đề. Cảm ơn các vị bên PLC đã giúp Rubi có được tâm lực để lý luận đàm đạo. -
Anh Vuivui nói như vậy phải có dẫn chứng. Không nên dẫn chứng bằng tâm thức như thế, đó là đem tâm hại vật thì sẽ nhận lấy sự phản kháng vật hại lại tâm.
-
Các ACE thân mến! Long Bộ cũng chú ý phần nào về sự phản biện giữa các học giả và có cái thấy nên có vài ý có thể nói. Phản biện vấn đề và Bảo vệ vấn đề là các sự đối lập. Long Bộ thấy sự Phản biện vấn đề phải có cơ sở trên sự nắm bắt được nguyên lý và đem nguyên lý đó ra để dẫn chứng vào nội dung Phản biện, có như vậy thì mới đúng thật lý sự tương ưng, mới đúng thật là đối thoại để tìm ra chân lý và cũng là sống với cái đạo của người quân tử. Nếu chỉ nói rằng 'trao đổi ở vị trí phản biện để tìm cầu chân lý và không với mục đích hiếu thắng', nói như vậy thì nhiều người cũng nói được, tiểu nhân dã tâm cũng nói được. Cho nên sự minh bạch của bậc quân tử ở đây, trong sự đối thoại là phải phản biện bằng các nguyên lý căn bản chứ không chỉ gián tiếp bám vào sự logic. Bám vào sự logic để đứng ở vị trí phản biện là ngụy quân tử. Long Bộ nói như vậy là vì thấy các anh như anh Vuivui, anh Giagia, anh Sapa...không nhất thiết phải đứng ở vị trí ngụy quân tử và dựa trên sự logic để ngụy biện cho hành động bằng câu nói 'đối thoại là mong cầu chân lý chứ không phải hiếu thắng'. Nếu cố tình rơi vào con người ngụy quân tử thì thử hỏi kết quả đối thoại có thành quả tưởng tượng được không, thành quả của sự phản biện ấy là gì ?
-
Chị Nắng đổi gì đấy, Long Bộ thấy nắng xuân thành nắng mai thì siêu hơn ạ :) .
-
GỬi Ban ĐiỀu HÀnh VÀ QuẢn TrỊ KỸ ThuẬt
Kim Cương replied to bunny's topic in Thắc Mắc - Thông Báo Lỗi
BBTL thấy ý kiến đối xử của anh rất chuẩn. Trong một nhóm hay một đoàn thể, ai đã có hướng đi riêng thì được ra đi tự do không cần điều kiện gì cả. Chứ không nên thay vì biết ơn lại trở nên bất mãn thì mất hết ý nghĩa với những điều đã học tập được từ đoàn thể. -
GỬi Ban ĐiỀu HÀnh VÀ QuẢn TrỊ KỸ ThuẬt
Kim Cương replied to bunny's topic in Thắc Mắc - Thông Báo Lỗi
Hai ngữ trước trong câu nói trên của anh Hungisu khi BBTL so sánh thì chỉ so sánh được lớp da bên ngoài, nên cần phải ngụy biện thì có lẽ mới hiểu được. Vậy ngữ còn lại để BBTL giải rõ thêm ạ."Với tư cách là người bạn, em luôn ủng hộ bạn bè em, dù có thế nào." Cũng vẫn là "Ăn cây nào rào cây nấy". Ăn cây nào rào cây nấy, nghĩa là có ý nói người ta muốn thu hoạch trái gì thì phải chọn giống của nó và phải chăm sóc nó. Chọn giống là Nhân, chăm sóc là Duyên, thu hoạch là Quả. Nhân là Hoa mà có sự chăm sóc thì sẽ cho thu hoạch là Hoa, gọi là Nhân Hoa, Quả Hoa. Nhân là Hoa mà thiếu sự chăm sóc thì sẽ cho thu hoạch là Cỏ, gọi là Nhân Hoa, Quả Cỏ. "Luôn luôn ủng hộ bạn bè, dù có thể nào" là chữ Duyên trong Nhân Quả Người với Người. Bài ngụy biện này không biết được mấy điểm ạ ? -
GỬi Ban ĐiỀu HÀnh VÀ QuẢn TrỊ KỸ ThuẬt
Kim Cương replied to bunny's topic in Thắc Mắc - Thông Báo Lỗi
Chị Nắng Tàn thân mến! Vậy để BBTL so sánh các ngữ trong câu nói của Hungisu với ý của các Cụ xưa nhé. "Vì con người em luôn muốn mọi chuyện đều rõ ràng từ trong ra ngoài, " Các cụ nói "Ăn cây nào rào cây nấy". "kể cả yêu hay ghét cũng có thể thẳng toẹt trong một câu." Cũng vẫn là "Ăn cây nào rào cây nấy". "Với tư cách là người bạn, em luôn ủng hộ bạn bè em, dù có thế nào." Cũng vẫn là "Ăn cây nào rào cây nấy". So sánh tài hôn chị Nắng Tàn ? -
Một Nhảy Liền Vào Đất Như Lai
Kim Cương replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
GIẢNG GIẢI KINH KIM CANG-THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ SỐ THỨ TỰ THỜI GIAN DUNG LƯỢNG NGHE PHÁP Đoạn 8: Y nơi chánh pháp mà sanh ra...18:28 2.18MB ► Nhắc lại (Đoạn 8) (27.03.2002) 05:52 712KB ► Đoạn 9: Một tướng không tướng27:24 3.23MB ► Đoạn 10: Trang nghiêm tịnh độ10:43 1.26MB ► tiếp theo (Đoạn 10) (27.03.2002) 09:08 1.08MB ► ĐOẠN 8 ÂM: Y PHÁP XUẤT SANH. - Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Nhược nhân mãn tam thiên đại thiên thế giới thất bảo, dĩ dụng bố thí, thị nhân sở đắc phước đức, ninh vi đa phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thị phước đức tức phi phước đức tánh, thị cố Như Lai thuyết phước đức đa. - Nhược phục hữu nhân ư thử kinh trung thọ trì nãi chí tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết, kỳ phướùc thắng bỉ. Hà dĩ cố? Tu-bồ- đề, nhất thiết chư Phật cập chư Phật A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề pháp, giai tùng thử kinh xuất. Tu-bồ-đề, sở vị Phật pháp giả tức phi Phật pháp. DỊCH: Y NƠI CHÁNH PHÁP MÀ SANH RA TẤT CẢ QUẢ VỊ. - Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy được phước đức thật nhiều chăng? Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn rất nhiều! Vì cớ sao? Vì phước đức ấy tức chẳng phải là tánh phước đức, thế nên Như Lai nói phước đức nhiều. - Nếu lại có người ở trong kinh này, thọ trì cho đến bốn câu kệ v. v… vì người khác giảng nói thì phước đức này còn hơn phước đức của người kia. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, tất cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều từ nơi kinh này ra. Này Tu-bồ-đề, nói là Phật pháp đó tức chẳng phải Phật pháp. GIẢNG: Quí vị nghe giải nghĩa đoạn này có dễ hiểu không? Đức Phật nói rằng: Giả sử có người đem bảy báu (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não) đầy dẫy cả tam thiên đại thiên thế giới ra bố thí. Tam thiên đại thiên thế giới quá rộng đối với chúng ta, giả sử đem bảy báu đầy dẫy cả thế giới của chúng ta ra bố thí thì quí vị nghĩ phước nhiều ít? Thật tình là phước rất nhiều. Cho nên ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn phước rất nhiều. Nhưng khi nói phước rất nhiều ngài Tu-bồ-đề sợ chúng ta hiểu lầm Ngài thấy phước đức là một việc có thật cho nên Ngài nói: Phước đức ấy không phải tánh phước đức thế nên nói là phước đức nhiều. Bởi vì theo tinh thần kinh Kim Cang lúc nào đức Phật cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng tất cả pháp ở thế gian, từ những hình tướng đến tâm tưởng danh ngôn đều là pháp nhân duyên, mà đã là nhân duyên hòa hợp thì không có tự tánh, tức là chúng không có cái tánh thật. Quí vị nhớ phàm những gì do nhân duyên hòa hợp thì tự bản tánh nó không có thật, nếu có thật thì đâu do duyên hòa hợp. Đã là hòa hợp thì ngay bản tánh nó không thật, phải do cái này cái kia hợp lại thành, nếu có cái thật thì không đợi duyên hợp. Thế nên ngài Tu-bồ-đề sợ chúng ta hiểu lầm là phước đức có tự tánh thật nên Ngài nói tiếp: Phước đức ấy tức không phải tánh phước đức nên nói phước đức nhiều. Nó không có tánh cố định vì vậy mà nói nhiều. Nói nhiều là một lối nói tùy theo tâm niệm, tùy theo sở chấp của chúng sanh, chớ không phải nó có tánh thật. Đức Phật đưa thí dụ trước, tiếp theo Ngài mới so sánh với pháp. Nếu có người đem bảy báu, chúng ta chỉ nói một thứ báu tầm thường là vàng thôi, giả sử có người đem vàng đầy chùa này ra bố thí, quí vị nghĩ phước đức nhiều ít? Mấy mươi kiếp mình làm chưa đủ vàng chứa đầy chùa này, nếu đem bao nhiêu đó ra bố thí thì phước cũng quá nhiều rồi, huống nữa là đầy dẫy cả quả địa cầu. Song thử hỏi chừng bao nhiêu kiếp chúng ta làm được số vàng đầy dẫy cả quả địa cầu? Một đời mình, nếu may mắn làm đâu được đó thì cũng chỉ có thể làm được chừng vài trăm lượng, tức khoảng chừng một giỏ xách. Làm đâu được đó trong một đời mà chỉ được chừng một giỏ xách thì bao nhiêu đời mới được một làng, rồi bao nhiêu đời mới đầy cả một nước, bao nhiêu đời mới đầy được cả thế giới? Nếu tính số vàng đầy cả tam thiên đại thiên thế giới thì ít ra phải cả triệu triệu kiếp mới có thể có được. Cả triệu triệu kiếp khổ công nhọc nhằn mà gom lại đem bố thí hết thì chúng ta tưởng tượng phước đức nhiều ít? Không thể tính nổi. Bấy giờ đức Phật mới so sánh: Nếu có người ở trong kinh này thọ trì cho đến bốn câu kệ v. v…, vì người khác nói thì phước của người thọ trì bốn câu kệ này còn hơn phước của người bố thí bảy báu kia. Quí vị tin nổi không? Đó là điều thật hy hữu, thật khó tin mà tin được là chuyện phi thường. Vậy mà tôi tin, chuyện khó tin mà tin được mới là lạ. Như tôi thường ví dụ mỗi sáng chúng ta thấy những hạt sương đọng ở đuôi những lá cây, khi mặt trời lên những hạt sương đó lóng lánh giống như những hạt kim cương, những hạt kim cương đem ra ngoài ánh nắng cũng lóng lánh như thế. Nhưng có người được hạt kim cương chừng bằng ngón tay cái, có người nói: À hạt kim cương của chị lóng lánh như những hạt sương trên lá cây, chúng tôi xin đổi hạt kim cương này bằng một triệu hạt sương lóng lánh đó. Thử hỏi quí vị chịu không? Không chịu. Mười triệu hạt sương, một tỷ triệu hạt sương được không? Vẫn không đồng ý. Khắp cả thế giới có bao nhiêu hạt sương tôi hốt hết đem đổi hạt kim cương, quí vị đồng ý không? Dĩ nhiên là không. Tại sao? Bởi kim cương là thật, hạt sương là giả, bởi giả cho nên bao nhiêu cũng không đổi được cái thật. Trên nhân gian này, khi người ta quan niệm vàng là quí thì vàng là quí, nếu người ta cho rằng vàng không quí thì vàng hết quí. Như vậy cái quí đó chỉ là do quan niệm của con người, chớ không phải nó thật quí. Nó là cái giả tạm do con người đặt ra. Trì đây đừng hiểu là đọc. Thí dụ như cứ đọc: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, đọc mãi như vậy có phải là trì chưa? Đừng hiểu chữ trì theo nghĩa quá tầm thường đó. Trì là thọ trì, thọ là nhận, trì là giữ. Chúng ta nhận hiểu được kinh Kim Cang và sống được với nó gọi là trì; thọ trì là sống được với trí tuệ Bát-nhã, mà trí tuệ Bát-nhã là cái chân thật muôn đời muôn kiếp không bao giờ hoại. Song đối với đức Phật, Ngài thấy nó thật, còn đối với chúng ta, vì chưa thấy nên khó hiểu, khó tin. Như vậy trí tuệ Bát-nhã là cái thật, tất cả vàng bạc của báu thế gian là cái giả, vậy phải đem bao nhiêu cái giả để chúng ta đồng ý đổi một cái thật? Cũng như phải đem bao nhiêu hạt sương lóng lánh để chúng ta nhận đổi một hạt kim cương? Chắc chắn không bao giờ chúng ta đồng ý. Cái giả dù nhiều thế mấy cũng không bì được một cái thật. Cho nên khi nào chúng ta ngộ được thể Kim Cang Bát-nhã, chúng ta mới thấy rằng tất cả thế gian không cái gì bì được với nó cả. Vì thế đức Phật bảo: Dù đem bao nhiêu của báu thế gian bố thí, công đức cũng không bằng trì bốn câu Kim Cang. Thọ trì nghĩa là sống được với cái chân thật đó thì muôn triệu cái giả cũng không bì kịp. Lại vì người khác nói, chỉ cho người biết và sống được thì đó là phước đức không có gì bì kịp. Kế đến, đức Phật bảo: Này Tu-bồ-đề, tất cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Câu này quí vị làm sao hiểu? Như vậy sẽ có người hỏi: Phật nói kinh Kim Cang mà tại sao kinh Kim Cang lại nói rằng chư Phật đều từ kinh này ra? Vậy kinh này sanh ra Phật hay Phật sanh ra kinh này? Do đó có một nghi vấn là: Kinh có trước hay Phật có trước? Nếu kinh này sanh ra chư Phật thì kinh có trước. Nhưng mà ai nói kinh? Phật nói kinh là Phật có trước. Tại sao nói chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều từ kinh này ra? Như thế tức là kinh này có trước. Nếu chúng ta hiểu kinh này theo nghĩa văn tự thì không bao giờ hiểu nổi. Có một vị hỏi một thiền sư: Pháp có trước hay Phật có trước? Thiền sư trả lời: Nói thì Phật trước pháp sau, nghe thì pháp trước Phật sau. Câu trả lời đó quí vị hiểu không? Nói thì Phật trước pháp sau, tại sao? Bởi vì nói thì đức Phật ngộ đạo rồi Ngài mới nói được kinh, tức là Phật trước pháp sau. Còn nghe thì pháp trước Phật sau, quí vị là người chưa ngộ cho nên nghe kinh rồi mới ngộ, sau mới thành Phật, vậy là pháp trước Phật sau. Ở đây nói kinh này là mẹ tất cả chư Phật và cả pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trí tuệ Kim Cang Bát-nhã là trí tuệ bất sanh bất diệt. Trí tuệ đó ai cũng sẵn có, nếu quên nó là chúng sanh, ngộ được nó thì thành Phật. Nhân ngộ trí tuệ đó mà thành Phật thì chính trí tuệ đó sanh ra Phật, nhân trí tuệ đó diễn đạt cho người ta hiểu, là pháp. Như vậy là từ trí tuệ đó sanh ra pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế nên nói "Kinh này" không có nghĩa đơn giản là bao nhiêu chữ, bao nhiêu tờ mà là chỉ thẳng trí tuệ Bát-nhã chân thật. Vì kinh này nói về trí tuệ Bát-nhã chân thật nên trí tuệ đó tức là kinh này. Hiểu như thế mới gọi là hiểu. Trì bốn câu kệ của kinh này là trì ngay tinh thần của kinh chớ không phải trì văn tự của kinh. Có nhiều người nói kinh này phước lớn quá, nên ngày nào cũng đọc bốn câu kệ rồi tự hào rằng tôi có phước đức vô lượng vô biên, như vậy đúng chưa? Đó là chúng ta chấp tướng chớ chưa đúng được tinh thần công đức. Thế nên ở đây nói kinh này để chỉ cho trí tuệ Bát-nhã bất sanh bất diệt, là mẹ của chư Phật, là mẹ của tất cả kinh. Đức Phật lại bảo ngài Tu-bồ-đề: Nói Phật pháp tức không phải Phật pháp. Vì chúng ta nghe nói Phật pháp rồi chấp thật Phật pháp, nên Phật liền bác không phải Phật pháp. Tại sao? Vừa có ngôn từ Phật pháp thì ngôn từ đó cũng là tướng duyên hợp. Thể của danh từ Phật pháp là không thật, nhưng tùy theo chúng sanh mê, gọi đó là Phật pháp để cảnh tỉnh họ. Bản chất của Phật pháp không thật nên nói không phải Phật pháp, vì tùy chúng sanh nên gọi là Phật pháp. ĐOẠN 9 ÂM: NHẤT TƯỚNG VÔ TƯỚNG. - Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Tu-đà-hoàn năng tác thị niệm ngã đắc Tu-đà-hoàn quả phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tu-đà-hoàn danh vi Nhập lưu nhi vô sở nhập, bất nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thị danh Tu-đà-hoàn. - Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Tư-đà-hàm năng tác thị niệm: Ngã đắc Tư-đà-hàm quả phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tư-đà-hàm danh Nhất vãng lai nhi thật vô vãng lai, thị danh Tư-đà-hàm. - Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? A-na-hàm năng tác thị niệm: Ngã đắc A-na-hàm quả phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? A-na-hàm danh vi Bất lai, nhi thật vô bất lai, thị cố danh A-na-hàm. - Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? A-la-hán năng tác thị niệm: Ngã đắc A-la-hán đạo phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp danh A-la-hán. Thế Tôn! Nhược A-la-hán tác thị niệm: Ngã đắc A-la-hán đạo, tức vi trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Thế Tôn! Phật thuyết ngã đắc Vô tránh tam-muội, nhân trung tối vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A-la-hán. Thế Tôn! Ngã bất tác thị niệm: Ngã thị ly dục A-la-hán. Thế Tôn! Ngã nhược tác thị niệm: Ngã đắc A-la-hán đạo, Thế Tôn tắc bất thuyết Tu-bồ-đề thị nhạo A-lan-na hạnh giả. Dĩ Tu-bồ-đề thật vô sở hành, nhi danh Tu-bồ-đề thị nhạo A-lan-na hạnh. DỊCH: MỘT TƯỚNG KHÔNG TƯỚNG. - Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Tu-đà-hoàn hay khởi nghĩ thế này: Ta được quả Tu-đà-hoàn chăng? Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? Tu-đà-hoàn gọi là Nhập lưu mà không có chỗ nhập, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu-đà-hoàn. - Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Tư-đà-hàm hay khởi nghĩ thế này: Ta được quả Tư-đà-hàm chăng? Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? Vì Tư-đà-hàm tên là Nhất vãng lai mà thật không có vãng lai, ấy gọi là Tư-đà-hàm. - Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? A-na-hàm hay khởi nghĩ thế này: Ta được quả A-na-hàm chăng? Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? A-na-hàm tên là Bất lai mà thật không có bất lai, thế nên tên A-na-hàm. - Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? A-la-hán hay khởi nghĩ thế này: Ta được đạo A-la-hán chăng? Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? Thật không có pháp tên là A-la-hán. Bạch Thế Tôn nếu A-la-hán khởi nghĩ thế này: Ta được đạo A-la-hán tức là còn chấp ngã nhân chúng sanh thọ giả. Bạch Thế Tôn! Phật nói con được Vô tránh tam-muội là bậc đệ nhất trong số người đó, là A-la-hán ly dục đệ nhất. Bạch Thế Tôn! Con không khởi nghĩ con là ly dục A-la-hán. Bạch Thế Tôn! Nếu con khởi nghĩ: Con được đạo A-la-hán, Thế Tôn ắt chẳng nói Tu-bồ-đề là người ưa hạnh A-lan-na. Do Tu-bồ-đề thật không có sở hành nên gọi là Tu-bồ-đề ưa hạnh A-lan-na. GIẢNG: Trước nói về bốn quả Thanh văn, đó là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Người tu Phật, tu theo Thanh văn thừa, chúng ta thường gọi là Tiểu thừa, thì chứng bốn quả, quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn, quả thứ hai là Tư-đà-hàm, quả thứ ba là A-na-hàm, quả thứ tư là A-la-hán. Quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn, Trung Hoa dịch ra hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là Thất lai. Thất là bảy, lai là trở lại. Tu-đà-hoàn là những vị có chứng quả nhưng vẫn còn trở lại trần gian bảy phen nữa mới chứng A-la-hán, mới không còn sanh tử. Nghĩa thứ hai là Nhập lưu, nhập là vào, lưu là dòng, nghĩa là vào được dòng Thánh. Người tu chứng quả Tu-đà-hoàn, tuy còn sanh tử song nhất định không lui sụt, từ đó tiến vào dòng Thánh đến trọn vẹn thành A-la-hán. Thế nên cố định là bảy phen trở lại rồi chứng A-la-hán, trong bảy phen đó dầu ai làm gì cũng không lui sụt cho nên gọi là vào dòng Thánh. Quả thứ hai là Tư-đà-hàm, Trung Hoa dịch là Nhất lai. Nhất là một, lai là lại. Những vị này chỉ còn một phen trở lại nhân gian rồi chứng quả A-la- hán nên gọi là Nhất lai. Quả thứ ba là A-na-hàm, Trung Hoa dịch là Bất lai. Bất là chẳng, lai là lại. Những vị chứng A-na-hàm chỉ còn một phen sanh lên cõi Ngũ A-na-hàm Thiên, lên cõi trời đó rồi chứng A-la-hán, nhập Niết-bàn chớ không trở lại trần gian nữa nên gọi là Bấât lai. Đến quả thứ tư là A-la-hán. A-la-hán dịch nghĩa là Vô sanh. Vị này không còn sanh tử nữa, đó là viên mãn trong bốn quả Thanh văn. Đây là kinh Đại thừa, vậy tại sao đức Phật lại lấy bốn quả Thanh văn để đối chiếu? Đó là ý nói rằng dù cho trong bốn quả Thanh văn nhưng tinh thần Đại thừa vẫn hợp, vẫn không khác. Tu-đà-hoàn không khởi nghĩ: Ta được quả Tu-đà-hoàn, nếu khởi nghĩ có quả Tu-đà-hoàn thì không gọi là Tu-đà-hoàn nữa. Tại sao Tu-đà-hoàn gọi là Nhập lưu mà thật không có sở nhập, tức là không có chỗ nhập? Không chỗ nhập nghĩa là sao? Tức là không kẹt vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Như Lục tổ không dính vào sáu trần nên Ngài thấy được chỗ ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Ngài ngộ đạo tức là ngài Nhập lưu rồi. Vì vậy nên Ngài thốt lên: À, mình có một cái mà từ trước đến nay chưa từng thấy, đầy đủ, thanh tịnh, chưa từng sanh diệt v. v… Đó là Nhập lưu mà thật không có chỗ nào để nhập, thấy rõ không dính với sáu trần mà hiện có cái chân thật, đó gọi là Tu-đà-hoàn, là bước vào dòng Thánh. Đến quả Tư-đà-hàm, cũng gọi là Nhất lai. Nhất lai mà thật không có vãng lai. Đến quả này là còn một phen qua lại, nghĩa là còn sanh ra trên thế gian một lần nữa, như vậy tức có đến, có đi, nhưng sự thật ở đây không có đến có đi mới gọi là Tư-đà-hàm. Tại sao? Vì trên chỗ chân thật bất sanh bất diệt không có đến có đi, còn thấy có đến có đi là chưa nhập được trong đó. Thế nên nói rằng nếu còn thấy có đến có đi thì chưa phải là Tư-đà-hàm. Thật không có đến, đi tức là an trụ, không còn qua lại nữa, đó mới là Tư-đà-hàm. A-na-hàm tức là Bất lai, những vị này cũng không khởi nghĩ ta được quả A-na-hàm. Tại sao? A-na-hàm là chẳng lại, song thật không có cái chẳng lại. Có đi mới nói có lại, mà Như Lai là vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai, nghĩa là Như Lai không từ đâu đến cũng không đi đâu nên gọi là Như Lai. Ở đây tuy nói bốn quả Thanh văn nhưng sự thật đều nhằm chỉ cái thể chân thật Như Lai. Trên cái thể chân thật Như Lai đó, người nào còn khởi niệm chấp thì không thể đạt được. Thế nên Tu-đà-hoàn do buông xả sáu trần mới nhập được thể Như Lai đó, đến Tư-đà-hàm do an trụ được trong đó, không vãng lai, đến đây đã an trụ rồi thì đâu còn qua lại, nếu còn qua lại thì chưa phải an trụ; đến quả A-na-hàm nói là Bất lai mà sự thật không phải Bất lai, ấy mới gọi là A-na-hàm. Đến quả cuối cùng là A-la-hán. A-la-hán có khởi nghĩ mình chứng A-la-hán không? Ngài Tu-bồ-đề nói không. Vì cớ sao? Vì thật không có pháp tên A-la-hán… Tại sao? Trong kinh thường nói đến A-la-hán mà ở đây nói không có pháp tên A-la-hán? Chúng ta mượn việc thế gian để hiểu qua nghĩa Phật pháp. Như hiện giờ quí vị mỗi người được mang một cái tên, song người biết tên quí vị là thật biết quí vị chưa? Như có người tên là Bạch Mai nghĩa là mai trắng, khi người khác nghe tên Bạch Mai thì có ấn tượng cô ấy chắc trắng lắm, không ngờ người tên Bạch Mai lại đen. Vậy quí vị nghĩ thế nào? Tên chưa hẳn thật là người phải không? Chẳng qua là giả danh do cha mẹ hoặc Thầy Tổ đặt cho, thế nên nghe tên, biết tên chưa phải là biết người, gặp người, thấy được người mới gọi là biết người. Tên chỉ là giả danh bên ngoài, đâu phải là bản chất của người đó. Trong Phật pháp cũng vậy, A-la-hán là chỉ cho cái bất sanh bất diệt, ngộ được cái bất sanh bất diệt gọi là A-la-hán, hay sống được với cái bất sanh bất diệt đó là A-la-hán. Như vậy, A-la-hán là một cái tên chỉ người sống được với cái đó, tên chưa phải là bản chất bất sanh bất diệt, vì vậy nói thật không có pháp tên A-la-hán. Tên A-la-hán chỉ là giả danh còn cái bất sanh bất diệt đó không có tên. Vì thế ngài Tu-bồ-đề mới nói: Bạch Thế Tôn, nếu A-la-hán khởi nghĩ ta được đạo A-la-hán tức là chấâp ngã nhân chúng sanh thọ giả. Quí vị thấy câu này làm sáng nghĩa trên vô cùng, bởi vì A-la-hán nếu khởi nghĩ ta được đạo A-la-hán là còn có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Tại sao? Ta được đạo thì đạo A-la-hán là cái bị được và ta là người hay được, như vậy tức nhiên là có ngã, mà có ngã thì có nhân, có chúng sanh có thọ giả không nghi ngờ gì nữa. Thế nên đến chỗ đó Phật không thấy mình là người hay được, không thấy mình là người hay được mới là cái được chân thật. Đến chỗ đó, nhập vào đó mà không có niệm, không niệm thì nói gì mình được. Quí vị thử ngồi thiền, bao giờ được yên tịnh chừng năm phút thôi, trong năm phút yên tịnh đó quí vị thấy có cái ngã nào dấy lên không? Có nghĩ được không? Vừa dấy niệm được là đã mất cái an tịnh vô sanh rồi. Vừa dấy niệm được là mất liền, đó là chỗ không dấy niệm, nếu nói mình được là đã dấy niệm tức mất quả A-la-hán. Chỗ đó thật là tế nhị. Vì vậy đến đây ngài Tu-bồ-đề nói thêm: Bạch Thế Tôn, Phật nói con được Vô tránh tam-muội, trong số người đó con là bậc nhất. Vô tránh tam-muội là cái chánh định không còn tranh luận. Chúng ta hiện nay, ngồi lại thì luôn luôn tranh luận, tranh luận với người này, người kia… Thí dụ như buổi tối quí vị ngồi niệm Phật, hoặc tọa thiền, lúc đó quí vị có nói chuyện với ai không? Ngồi xuống là chúng ta bắt đầu lý luận với người này, tranh luận với người kia, sắp đặt việc nọ… Khi ngồi đó coi như là ngồi thiền, thiền là định mà sự thật cứ tranh luận mãi. Khi nào ngồi mà không còn tranh luận nữa gọi là "Vô tránh tam-muội", nghĩa là được cái chánh định không còn tranh luận. Không còn tranh luận tức là thanh tịnh lặng lẽ. Ngài Tu-bồ-đề muốn chỉ rằng A-la-hán không khởi nghĩ mình được đạo A-la-hán. Ngài lấy mình làm bằng chứng. Ngài nói: Thế Tôn khen con ở trong số người tu về chánh định không còn dấy động đó, con là bậc nhất. Nếu con khởi nghĩ con là người lìa dục được A-la-hán, ắt Thế Tôn không nói con là người ưa hạnh A-lan-na. A-lan-na cũng gọi là A-lan-nhã, tức là hạnh tịch tĩnh. Tịch là yên, tĩnh là lặng, chỗ rất là yên lặng tức là chỗ không còn dấy động, không còn sanh diệt. Tại sao? Vì vừa khởi nghĩ là đã động rồi, đã động thì đâu còn ưa hạnh tịch tĩnh nữa. Ngài Tu-bồ-đề nói tiếp: Do Tu-bồ-đề thật không có sở hành nên gọi là Tu-bồ-đề ưa hạnh A-lan-na. Không có sở hành tức là không có chỗ dấy động, nên mới thật là người ưa hạnh tịch tĩnh. Như vậy rõ ràng trong đoạn này đức Phật chỉ một tướng là không tướng. Một tướng tức là một tướng chân thật vô sanh, nó không có tướng mạo. Vừa có tướng mạo hoặc là thấy mình Nhập lưu cũng chưa phải là Tu-đà-hoàn, thấy mình Vãng lai cũng chưa phải là Tư-đà-hàm, còn thấy mình Bất lai cũng chưa phải là A-na-hàm, còn thấy mình được đạo A-la-hán cũng chưa phải là A-la-hán. Như vậy chỗ chân thật đó không có tướng mạo, vừa dấy bất cứ một niệm nào về tướng mạo đều là sai, chưa vào được chỗ đó, dù cho A-la-hán là quả cứu kính của Thanh văn nhưng thật ra cũng phải đến chỗ đó mới gọi là A-la-hán. ĐOẠN 10 ÂM: TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ. Phật cáo Tu-bồ-đề: Ư ý vân hà? Như Lai tích tại Nhiên Đăng Phật sở ư pháp hữu sở đắc phủ? - Phất dã Thế Tôn! Như Lai tại Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp thật vô sở đắc. - Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Bồ-tát trang nghiêm Phật độ phủ? - Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm. - Thị cố Tu-bồ-đề, chư Bồ-tát Ma-ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Tu-bồ-đề, thí như hữu nhân, thân như Tu-di sơn vương, ư ý vân hà? Thị thân vi đại phủ? Tu-bồ-đề ngôn: Thậm đại, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân. DỊCH: TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ. Phật hỏi Tu-bồ-đề: Ý ông nghĩ sao? Như Lai thuở xưa ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng, đối với pháp, có sở đắc chăng? - Bạch Thế Tôn, không vậy! Như Lai ở nơi đức Phật Nhiên Đăng, đối với pháp, thật không có sở đắc. - Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Bồ-tát trang nghiêm cõi Phật chăng? - Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? Trang nghiêm cõi Phật tức không phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm. - Thế nên Tu-bồ-đề, các Bồ-tát lớn nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh, không nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia. Tu-bồ-đề, ví như có người thân to như núi Chúa Tu-di (Sumeru), ý ông nghĩ sao? Thân ấy là lớn chăng? Tu-bồ-đề thưa: Rất lớn, bạch Thế Tôn! Vì cớ sao? Phật nói chẳng phải thân, ấy gọi là thân lớn. GIẢNG: Trong đoạn này trước tiên đức Phật hỏi ngài Tu-bồ-đề: Thuở xưa, ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng, đức Phật có pháp để được chăng? Nếu chúng ta đọc tiền thân Phật thì thấy trong đó Phật kể thuở xưa khi Ngài còn tu Bồ-tát hạnh nơi đức Phật Nhiên Đăng (Dipamkara-buddha), do Ngài cúng dường, bố thí nên được đức Phật Nhiên Đăng thọ ký sau sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni (Sàkyamuni). Như vậy ở nơi đức Phật Nhiên Đăng, đức Phật Thích-ca đã được thọ ký thành Phật. Nhưng ngài Tu-bồ-đề thưa: Không, ở chỗ đức Phật Nhiên Đăng, đức Phật thật không có pháp để được. Quí vị thấy như là phủ nhận việc đức Phật đã nói trước kia, phải không? Nhưng không phải. Như đoạn trước nói nếu A-la-hán thấy được đạo A-la-hán là còn tướng ngã, tướng nhân v. v… Như vậy nếu Phật còn thấy có pháp để được thì cũng còn tướng ngã, tướng nhân… mà còn tướng ngã, tướng nhân thì làm sao được thọ ký thành Phật? Thế nên ngài Tu-bồ-đề xác định rằng đức Phật ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không có pháp để được. Tiếp theo đức Phật hỏi ngài Tu-bồ-đề: Ý ông nghĩ sao, Bồ-tát có trang nghiêm cõi Phật không? Ngài Tu-bồ-đề thưa: Không. Vì cớ sao? Trang nghiêm cõi Phật, tức không phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm. Tại sao không phải trang nghiêm ấy gọi là trang nghiêm? Thường trong các kinh Đại thừa hay nói rằng: Người tu Bồ-tát hạnh nên trang nghiêm cõi Phật hay là trang nghiêm Tịnh độ. Muốn trang nghiêm Tịnh độ thì cõi đó ở đâu và chúng ta làm sao trang nghiêm? Về công hạnh đó, trong kinh nói: Mỗi đức Phật đều có hạnh nguyện. Ví dụ đức Phật Di-đà (Amita) có hạnh nguyện Di-đà, đức Phật Thích-ca có hạnh nguyện Thích-ca, hạnh nguyện đó gọi là để trang nghiêm cõi Phật. Vị nào nguyện làm hạnh nhẫn nhục viên mãn thì khi tu hạnh nhẫn nhục trong thế gian này là tạo nhân trang nghiêm cõi Phật của vị ấy, hoặc tu hạnh bố thí ở cõi này, cũng là nhân trang nghiêm cõi Phật của vị ấy về sau. Thế nên những hạnh đó được viên mãn thì cõi Phật trang nghiêm đẹp đẽ phi thường. Chúng ta tu cái nhân ở đây tốt đẹp bao nhiêu thì cõi Phật của mình cũng sang cả tốt đẹp bấy nhiêu. Vậy ngay hiện tại chúng ta hành những hạnh hợp đạo lý, đó là chúng ta trang nghiêm cõi Phật. Chúng ta thử lấy ví dụ trong thế gian: Như có người dự trù năm năm nữa sẽ cất một cái nhà đẹp. Khi họ dự định như thế thì từ đó về sau họ phải tích lũy tiền, dự trữ sắt, đá v. v… Họ chuẩn bị những vật liệu tốt đầy đủ cho đến ngày xây nhà, đến lúc ấy họ mới thực hiện được một cái nhà đẹp. Như vậy khi chúng ta chuẩn bị những vật liệu hoặc tiền bạc tức là chúng ta trang nghiêm cho cái nhà mai sau phải không? Trái lại nếu hiện tại chúng ta không dự trữ cái gì hết, đến khi muốn cất nhà đẹp thì có cất được không? Trong Phật pháp cũng vậy, khi chư Phật thành Phật rồi, cõi nước các Ngài đầy đủ công đức vô lượng vô biên là vì khi tu Bồ-tát hạnh các Ngài đã hành những công hạnh, những phước đức để trang nghiêm cõi nước của các Ngài mai sau, đến khi thành Phật thì tất cả đều viên mãn. Như quí vị đọc kinh Di-đà thấy trong kinh diễn tả nơi cõi Cực lạc, cái gì cũng sung mãn, cái gì cũng tốt đẹp, đó là do khi tu hạnh Bồ-tát, đức Di-đà đã nguyện như thế; cho nên mỗi công hạnh của Ngài đều hướng về cõi nước của Ngài sau này, đếân khi viên mãn công hạnh thì được cõi nước trang nghiêm. Đức Phật muốn khi thành Phật được cõi nước trang nghiêm thì hiện tại Ngài cũng tập những công hạnh như thế. Vậy Bồ-tát có trang nghiêm cõi Phật không? Những công hạnh lục độ là trang nghiêm chớ gì? Song ở đây ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn không, vì cớ sao? Trang nghiêm cõi Phật tức không phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm. Bởi vì tất cả công hạnh của mình đều là tướng hữu vi, mà tướng hữu vi là tướng duyên hợp; đã là tướng duyên hợp thì đâu phải là cố định, là chân thật nên không phải là trang nghiêm, nhưng theo thế tục gọi đó là trang nghiêm. Trên bản chất không phải là trang nghiêm vì là tướng duyên hợp, nhưng trên giả danh đó là trang nghiêm. Nếu thấy có trang nghiêm tức là chấp hành động đó thật, tức phi trí tuệ Bát-nhã. Không có trí tuệ Bát-nhã sao được gọi là Bồ-tát? Vì vậy chúng ta phải thấy rõ thâm ý của từng lời kinh, nói trang nghiêm tức không phải trang nghiêm, nếu chúng ta thấy thật có trang nghiêm thì cõi Phật của mình là cõi giả dối rồi! Tiếp đến đức Phật liền nhắc lại một ý, tôi gọi là điệp khúc, tức là nhắc lại ý khi Ngài giảng về nghĩa an trụ tâm ở đoạn trước: An trụ tâm là không nên trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đức Phật bảo: Các Bồ-tát lớn nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh. Như thế là sao? Chẳng nên trụ nơi sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không chỗ trụ mà sanh tâm kia, tức là đừng kẹt vào sáu trần, đó mới thật là trang nghiêm cõi Phật, mới thật là cứu kính của hàng Bồ-tát. Nếu vừa khởi niệm mình làm việc này là trang nghiêm cõi Phật, mình làm việc kia để dành mai sau chẳng hạn thì còn trụ vào sắc, thanh, hương v. v…, tức là chưa phải trang nghiêm cõi Phật, chưa phải là Bồ-tát. Thế nên câu không nên kẹt nơi sắc, không kẹt nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên không chỗ kẹt mà sanh tâm kia, tức là không có chỗ trụ mới đúng là cái tâm thanh tịnh chân thật, bất sanh bất diệt. Phật dạy tiếp: Này Tu-bồ-đề, như có người thân như núi chúa Tu-di, thân ấy lớn chăng? Quí vị thấy chỉ cần nói về kích thước của một cây cột hay là của một vật gì tương đối hơi lớn như cái nhà chẳng hạn thì thân mình có bằng một cây cột không? Chưa bằng. Thân mình có bằng cái nhà không? Cũng không bằng. Thường trong kinh nói núi Tu-di là ngọn núi lớn nhất có bốn châu thiên hạ ở chung quanh như Nam Thiệm bộ châu (Jambudvipa) - chỗ chúng ta ở - Bắc Câu Lô châu (Uttara-kuru) v. v… Vậy núi Tu-di khoảng bao lớn? Có người thân lớn bằng núi chúa Tu-di chớ không phải núi Tu-di thường. Giả sử có người thân bằng Núi Lớn Vũng Tàu này thì quí vị tưởng tượng người đó như thế nào? Họ nặng nề, họ đi tới đâu thì chết thiên hạ tới đó, không có đường sá nào họ đi được phải không? Nếu bằng núi chúa Tu di thì quá sức to không thể tưởng tượng. Khi Phật hỏi: Ý ông nghĩ sao, thân đó lớn chăng, ngài Tu-bồ-đề liền thưa: Bạch Thế Tôn rất lớn. Khi nói rất lớn rồi Ngài liền chuyển trở lại: Phật nói không phải thân, ấy mới gọi là thân lớn. Tại sao? Bởi vì nói thân lớn thì e chúng ta tưởng lầm tướng lớn tướng nhỏ là thật, thế nên Ngài liền nói "Không phải thân, ấy gọi là thân lớn". Không phải thân nghĩa là thân đó là tướng duyên hợp không thật, do nhiều duyên, nhiều yếu tố hợp thành thì nói là lớn, chớ sự thật nó không thật có, nếu chúng ta thấy có thân thật thì nó không phải lớn. Điều đó để cho chúng ta thấy rằng tất cả những tướng ở thế gian dù tướng thân to lớn cũng là tướng duyên hợp hư giả, mà đã là duyên hợp thì không phải thật lớn, chẳng qua nói lớn nói nhỏ là tùy theo giả danh mà nói thôi. Còn tiếp -
Một Nhảy Liền Vào Đất Như Lai
Kim Cương replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
GIẢNG GIẢI KINH KIM CANG-THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ SỐ THỨ TỰ THỜI GIAN DUNG LƯỢNG NGHE PHÁP Đoạn 6: Chánh tín ít có39:57 4.72MB ► Đoạn 7: Không được, không nói02:53 352KB ► tiếp theo (Đoạn 7) (26.03.2002) 12:38 1.49MB ► ĐOẠN 6 ÂM: CHÁNH TÍN HY HỮU. Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh, đắc văn như thị ngôn thuyết, chương cú, sanh thật tín phủ? Phật cáo Tu-bồ-đề: Mạc tác thị thuyết. Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bách tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương cú năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật, đương tri thị nhân bất ư nhất Phật, nhị Phật, tam tứ ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở, chủng chư thiện căn. Văn thị chương cú, nãi chí nhất niệm sanh tịnh tín giả, Tu-bồ-đề, Như Lai tất tri, tất kiến thị chư chúng sanh đắc như thị vô lượng phước đức. Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh vô phục ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, vô pháp tướng diệc vô phi pháp tướng. Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, nhược tâm thủ tướng tắc vi trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ pháp tướng tức trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược thủ phi pháp tướng tức trước ngã nhân chúng sanh thọ giả. Thị cố bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp. Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ-kheo tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp. DỊCH: CHÁNH TÍN ÍT CÓ: (Người tin đúng rất ít có). Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, vả lại có chúng sanh được nghe những lời nói và chương cú như thế, sanh lòng tin chân thật chăng? Phật bảo Tu-bồ-đề: Chớ nói như thế. Sau khi Như Lai diệt độ, sau khoảng năm trăm năm, có người giữ giới, tu phước, đối với những chương cú này hay sanh lòng tin cho đây là thật, nên biết người ấy không phải ở nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật gieo trồng căn lành mà đã ở chỗ vô lượng ngàn muôn đức Phật gieo trồng căn lành. Người nghe chương cú này cho đến một niệm sanh lòng tin thanh tịnh, này Tu-bồ-đề, Như Lai ắt biết, ắt thấy các chúng sanh ấy được vô lượng phước đức như thế. Vì cớ sao? Vì các chúng sanh ấy không còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp cũng không tướng phi pháp. Vì cớ sao? Vì nếu các chúng sanh ấy, tâm còn chấp tướng là còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu còn chấp tướng pháp tức còn chấp ngã nhân chúng sanh thọ giả. Vì cớ sao? Nếu còn chấp tướng phi pháp tức còn chấp ngã nhân chúng sanh thọ giả. Thế nên không nên chấp pháp, không nên chấp phi pháp. Bởi do nghĩa ấy, Như Lai thường nói: Tỳ-kheo các ông nên biết, ta nói pháp ví dụ như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp. GIẢNG: Trong đoạn này đức Phật dạy thêm: Người nào nghe kinh này sanh niềm tin thì người đó đã có những duyên lành như thế nào. Trước tiên do ngài Tu-bồ-đề gợi ý, Ngài hỏi Phật rằng: Có những chúng sanh nào được nghe chương cú này sanh lòng tin chân thật chăng? Những chúng sanh nghe Phật nói những lờiø như thế, họ có tin chăng? Đức Phật xác nhận: Sau khi Phật nhập Niết-bàn khoảng năm trăm năm có những người biết giữ giới, biết tu phước, ngay nơi kinh Kim Cang, họ sanh niềm tin cho là thật, là đúng thì nên biết người đó không phải chỉ gieo trồng căn lành ở một, hai, ba, bốn, năm Đức Phật mà đã gieo trồng căn lành ở chỗ ngàn muôn đức Phật rồi. Qua lời xác định của đức Phật, quí vị kiểm lại xem mình đã gieo trồng căn lành bao lâu? Nơi bao nhiêu đức Phật? Đức Phật xác nhận là nếu ngay những lời Phật dạy mà người nào tin quả quyết đó là thật thì người đó đã gieo trồng căn lành ở chỗ vô lượng ngàn muôn đức Phật rồi! Như vậy chúng ta có tủi thân là mình mới phát tâm tu hay không? Hay là chúng ta đã gieo trồng căn lành nơi nhiều chư Phật, nhưng tại chúng ta tu hành lôi thôi nên bây giờ còn sót lại đây? Hiện nay nếu chúng ta cố gắng tu nữa, dần dần sẽ có ngày mình đến, chớ không có căn lành thì nghe kinh này không tin nổi. Ngày nay chúng ta nghe mà tin được và quả quyết là Phật nói đúng chân lý, đủ niềm tin là đã có căn lành từ lâu rồi. Song đã gieo trồng căn lành ở nhiều đời chư Phật mà còn lang thang ở đây, thật đáng tủi hổ quá phải không? Tuy nhiên chúng ta cũng có chút hãnh diện là đã có căn lành chớ không phải mình là con số không, mà đã có căn lành rồi nếu quyết chí tu, chúng ta có thể tiến được chớ không đến nỗi phải lui sụt. Do tin như thế, chúng ta có thể cố gắng tiến tới. Tiếp theo đức Phật hạ thấp xuống một tầng nữa. Ngài bảo: Giả sử như có những người nghe lời dạy đây, chỉ sanh một niệm, một niệm thôi, một niệm tin trong sạch thì người đó sẽ được Phật thấy biết chắc chắn người đó được công đức vô lượng. Đó là cái thấy biết của Phật như thế chớ không phải Ngài nói suông. Quí vị có được một niệm tin trong sạch chưa? Nghe lời dạy như vậy mà được một niệm tin trong sạch đã là công đức vô lượng rồi. Vì cớ sao? Vì những chúng sanh đó không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Tại sao? Vì một niệm tin trong sạch là tin rằng nếu chúng ta còn một niệm tức là còn một chúng sanh chưa độ được. Vậy là còn ngã, còn nhân, còn chúng sanh, còn thọ giả. Trái lại nếu tất cả chúng sanh được độ vào vô dư Niết-bàn rồi thì tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả đâu còn, nên nói không còn những tướng đó. Đức Phật lại bảo thêm: Không còn tướng pháp và cũng không còn tướng phi pháp nữa. Thường trong nhà Phật nói pháp là đúng pháp, phi pháp là không đúng pháp, cũng như chúng ta nói pháp là phải, phi pháp là quấy, việc phi pháp là việc tà, việc sai quấy. Pháp và phi pháp, hai tướng đó không còn nữa. Vì cớ sao? Nếu tâm còn chấp tướng thì còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu còn chấp tướng pháp thì cũng còn chấp tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Pháp là phải, nếu còn chấp phải thì cũng còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Thí dụ việc đó là việc phải, tôi làm việc phải hay ai làm việc phải? Hoặc tôi làm hoặc người làm? Nếu có người làm việc phải thì người đối với mình tức có nhân là có ngã, trái lại có ngã là có nhân. Thế nên chấp cái phải là thật thì cũng có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả; chấp cái quấy là thật thì cũng có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vậy chẳng những chúng ta không chấp vào cái tướng của tâm niệm mình mà cũng không nên chấp pháp phải và quấy. Có nhiều khi mình không chấp các tướng mà chấp điều phải điều quấy là thật. Các tướng là không thật còn điều phải quấy có thật hay không? Phải quấy cũng là cái giả định của một thời thôi. Tùy theo mỗi thời đặt việc này là phải thì chúng ta thấy nó phải, đặt việc kia là quấy thì chúng ta thấy nó quấy, chớ đâu có gì là cố định. Nếu chúng ta chấp có một cái cố định, đó cũng là chấp pháp mà chấp pháp là cũng còn chấp ngã. Ngã và pháp không tách rời nhau được. Chấp pháp và phi pháp là chấp pháp; chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả là chấp ngã. Hai cái chấp này dứt sạch thì mới an lành giải thoát. Thế nên trong đoạn sau, đức Phật bảo: Như ta thường nói Tỳ-kheo các ông nên biết, ta nói pháp ví dụ như chiếc bè, pháp còn nên bỏ huống là phi pháp. Thí dụ như chúng ta cho những câu chuyện tầm phào ở thế gian là những lời nói bậy, là phi pháp, còn những lời dạy trong kinh sách là lời vàng ngọc đúng pháp. Nhưng chấp phi pháp là thật cũng bệnh, chấp pháp là thật cũng bệnh! Do đó đức Phật dạy rằng: Lời Phật nói dụ như chiếc bè giúp người qua sông. Khi chưa qua khỏi bờ mê thì chiếc bè rất quí, khi nương chiếc bè qua đến bờ giác rồi, chiếc bè có còn giá trị gì nữa không? Trong kinh A-hàm đức Phật ví dụ ở bên này bờ sông có giặc cướp đuổi hại người, có người chạy tránh giặc cướp, muốn qua bờ sông bên kia là chỗ an lành, không tai họa. Bấy giờ họ mới chặt tám cây kết thành bè (tám cây ví dụ cho Bát chánh đạo) rồi nương chiếc bè qua được bên kia bờ sông. Khi qua đến nơi, người đó bước lên bờ, dĩ nhiên chiếc bè phải bỏ lại. Như vậy Bát chánh đạo là pháp của Phật nói mà khi đến bờ giác còn phải bỏ huống nữa là việc phi pháp, điều sai quấy bậy bạ. Song hiện giờ, phi pháp quí vị bỏ được chưa? Như vậy nếu nói với quí vị thì phải nói thế nào? Phi pháp còn chẳng bỏ huống là pháp! Phật thì bảo: Pháp còn phải bỏ huống là phi pháp. Quí vị thì trái lại phi pháp, tức là những chuyện nói xằng nói bậy không có nghĩa gì, còn bỏ không được huống là pháp, là cái hay, làm sao bỏ nổi! Như vậy chúng ta ngược lại với Phật! Tóm lại qua đoạn này, trước hết đức Phật lên người tu hành mà tin được các lời Phật nói trong kinh Kim Cang là đã gieo trồng căn lành sâu dầy rồi. Đoạn thứ hai đức Phật bảo rằng đúng ra người tin được kinh này thì phải thấy rõ tất cả tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả đều không thật. Chẳng những bốn tướng không thật mà phải thấy tất cả tướng thế gian đều không thật và tất cả pháp phải và không phải cũng đều không thật. Thấy được như vậy người đó mới đúng là tin kinh này một cách chân chánh. Đây là phá chấp ngã và chấp pháp vì ngã là giả dối thì pháp cũng là giả dối. Nếu chúng ta biết ngã giả dối nhưng còn cho pháp là thật, đó cũng là bệnh. Lời Phật nói chỉ có giá trị khi chúng ta còn mê và khi chúng ta nhờ lời nói đó thoát khỏi mê lầm rồi thì phải bỏ lời đó đi. Quí vị thấy chỉ có Phật mới dám nói như vậy, chớ ở thế gian chưa có ai dám nói như thế. Chúng ta thấy rõ giá trị Phật pháp là ở chỗ không để chúng ta kẹt trong một cái chấp nào. Lời Phật dạy là phương thuốc trị bệnh, bệnh lành thì bỏ thuốc. Nghe ngôn ngữ phải biết ứng dụng để tu, chớ không nên bám vào ngôn ngữ cho đó là cứu kính, kiếp kiếp đời đời giữ hoài không bỏ thì vô tình chúng ta bị kẹt. Đến bờ thì phải bỏ bè, nhưng nếu chưa đến bờ mà vội bỏ bè thì đó là điều hiểm nguy. Thế nên việc quan trọng là chúng ta phải nhận đúng lẽ thật, phải biết mình đang ở vị trí nào, mình là người đến bờ hay là người mới sửa soạn bước xuống bè. Nếu vừa sửa soạn bước xuống bè thì rán kiếm dây ràng bè cho chắc để nhờ nó đưa mình qua sông, còn nếu mình đã đến bờ rồi thì chiếc bè trở thành vô nghĩa, bỏ nó không chút tiếc nuối. Người học đạo phải sáng suốt như thế, chớ đừng lầm lẫn hai vị trí đó, chưa tới bờ mà đã vội bỏ bè, hay đến bờ rồi mà còn giữ chiếc bè; cả hai đều là bệnh, đều lầm lẫn, hiểu vậy là chúng ta hiểu đạo. ĐOẠN 7 ÂM: VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT. Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề da? Như Lai hữu sở thuyết pháp da? Tu-bồ-đề ngôn: Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu định pháp, danh A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, diệc vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết. Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ, bất khả thuyết, phi pháp, phi phi pháp. Sở dĩ giả hà? Nhất thiết Hiền Thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt. DỊCH: KHÔNG ĐƯỢC, KHÔNG NÓI. Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có nói pháp chăng? Tu-bồ-đề thưa: Như con hiểu qua nghĩa Phật nói, không có pháp nhất định tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có pháp nhất định Như Lai có thể nói. Vì cớ sao? Vì pháp Như Lai nói đều không thể chấp, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì cớ sao? Vì tất cả bậc Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt. GIẢNG: Chắc hẳn quí vị đều thắc mắc tự hỏi tại sao Phật nói kinh mình học mà nói không nói, còn tu là cốt được đắc quả mà ở đây Phật nói không đắc là tu làm sao? Trong đoạn trước, quí vị nhớ đức Phật phá pháp và phi pháp. Phải và quấy đã phá rồi, đến đây cái chúng ta quí kính nhất là pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức pháp chứng quả thành Phật, pháp đó có thật hay không? Phải và quấy không thật chúng ta đồng ý rồi, còn pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật chứng có thật hay không? Nhiều khi những cái tầm thường thì thấy giả, nhưng đến cái cao quí hơn thì thấy thật. Thí dụ như chì, kẽm… chúng ta nói là giả, đến vàng lại thấy là thật. Nhưng nếu thấy vàng là thật thì cũng còn thấy thật, vì một cái thật thì những cái khác cũng thật luôn, cho nên pháp và phi pháp là giả rồi nhưng đến pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nếu chúng ta thấy thật thì cũng là bệnh. Vì thế đức Phật mới hỏi: Vậy Như Lai có được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hay không? Và Như Lai có nói pháp hay không? Đó là hai câu hỏi Phật đặt ra để ngài Tu-bồ-đề trả lời. Ngài Tu-bồ-đề thưa: "Như chỗ hiểu của con qua nghĩa Phật nói", đây là ngài Tu-bồ-đề dè dặt, những gì Ngài biết thì nói biết, những gì học được nơi Phật thì nói con học của Phật. Thế nên Ngài thưa: Con biết theo nghĩa của Phật nói, chớ không phải con biết theo ý riêng của con, không có pháp nhất định tên Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có pháp nhất định Như Lai nói. Ngài trả lời dứt khoát như vậy. Tiếp theo Ngài mới giải thích lý do. Vì cớ sao? Như Lai nói pháp đều không thể chấp, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì cớ sao? . Câu này thật là khó! Quí vị thấy khi chúng ta chấp pháp thấp thì đức Phật phá pháp thấp không thật, đến khi pháp thấp phá rồi, chúng ta lại chấp pháp cao nên ở đây đức Phật phá luôn cả pháp cao. Thường ai tu cũng mong chứng quả thành Phật. Thành Phật rồi mới nói pháp, cũng như Phật chứng quả rồi Ngài nói pháp vậy. Như thế Ngài có chứng đắc và có nói pháp hay không? Trong đoạn trước Phật đã dạy: Phàm có tướng đều là hư vọng, và nếu còn thấy có pháp thật là cũng còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vậy pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức là pháp thành Phật có thật không? Nếu thấy pháp đó thật thì cũng còn tướng ngã, tướng nhân… Tại sao? Vì nói thành Phật thì hỏi ai thành? Ta thành phải không? Thấy có pháp thành Phật thật thì phải có người thành Phật, đó là còn ngã, còn ngã thì còn nhân, còn chúng sanh, thọ giả. Nếu thế Phật là phàm phu mất rồi! Cho là Phật có nói pháp thật cũng không được, vì phàm những gì nói ra đều là tướng hư giả. Như vậy Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hay nói gọn là Phật, là đối với chúng sanh. Chúng sanh là mê nên Phật là giác, giác đối với mê, hết mê rồi còn nói giác làm gì. Giác là đối đãi với mê, mê không thật thì giác cũng không thật; và nếu mê giác đều không thật thì có thành Phật hay không? Nếu không còn thấy có mê thật, giác thật thì tâm không còn chấp hai bên mà tâm không chấp hai bên, đó là như như, đó là Phật pháp thân hiện, không thấy được thành Phật mà đã thành Phật. Hiện giờ chúng ta mơ ước thành Phật mà không thành Phật được, vì mơ ước là vọng tưởng, mà vọng tưởng còn thì Phật pháp thân đâu có hiện, thế nên cầu mà không được. Trái lại, không thấy có pháp để cầu thành Phật, nên tâm thể lặng lẽ không còn hai bên mê giác đối đãi, do đó tâm hoàn toàn thanh tịnh, tâm thể thanh tịnh tức là pháp thân Phật, là Như Lai. Không được mà được, đó là điều không thể nói cho thế gian hiểu, vì thế gian nói hoặc là được, hoặc là không, chớ không bao giờ nói không được mà được. Nhưng ở đây không đắc mà đắc, không chứng mà chứng, đó mới là khó khăn, bởi vì nếu thấy chứng đắc là còn có ngã tức là có pháp. Nếu phá được ngã pháp rồi thì đâu còn nói chứng nói đắc, mà không chứng đắc thì đó là Phật. Nhưng hễ nói Phật tức là có chứng có đắc rồi. Vì vậy Phật pháp vượt ngôn ngữ của thế gian. Ngôn ngữ thế gian luôn rơi vào hai bên hoặc được, hoặc mất, hoặc có, hoặc không. Ở đây phá hết những chấp ngã và pháp, khi ngã và pháp hết rồi thì đó là Phật. Nếu còn thấy có pháp để đắc là còn pháp, còn thấy mình chứng là còn ngã thì đâu phải là Phật, ngã pháp còn làm sao gọi là Phật được. Dẹp hết ngã pháp đó là Phật mà không có chứng, có đắc, đó mới thật là lạ. Cho nên không chứng mà chứng, không đắc mà đắc, chớ không phải một bề nói không đắc là không đắc. Như trong kinh Bát-nhã quí vị đọc "vô đắc v. v…" đừng nói như vậy là không ngơ; có nhiều người nói Bát-nhã nói cái gì cũng không, tất cả đều không. Không phải thế, khi không còn những chấp ngã pháp thì pháp thân mới hiện tiền. Cũng như tôi đã nói không dính vào tất cả thì tâm mới an trụ, an trụ đó mới là an trụ thật. Ở đây cũng vậy, nếu tâm niệm còn dính còn chấp thì tâm niệm đó là tâm niệm cuồng loạn, là tướng sanh diệt. Không còn dính chấp vào cái hư giả đó mới là vô sanh, mới là chân thật, cho nên thật tướng là vô tướng, cái chỗ không tướng là tướng chân thật. Thật rất lạ, vì vậy người học Phật nếu không tu thì không bao giờ hiểu nổi, mình có tu rồi khi hết vọng tưởng thì thấy cái chân thật hiện tiền, còn nếu không tu thì nghe rất lạ, ngôn từ quá khó hiểu. Thế nên ngài Tu-bồ-đề mới nói rằng: Không có pháp cố định tên A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cũng không có pháp cố định để Phật nói. Vì cớ sao? Vì Như Lai nói pháp đều không nên chấp, cả pháp và phi pháp cũng đều không chấp, vì không chấp nên nói tất cả Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt. Thế nào là Hiền Thánh? Thí dụ như trong tứ quả Thanh văn: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán thì ba quả vị đầu còn ở bậc Hiền. Tại sao? Vì ba quả vị này còn ở trong vòng sanh. Tu-đà-hoàn còn bảy phen sanh, Tư-đà-hàm còn một phen sanh, A-na-hàm thì sanh trong cõi trời. Đến A-la-hán mới hoàn toàn vô sanh, mới là vô lậu hoàn toàn nên gọi là Thánh. Đối với hàng Bồ-tát thì từ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là bậc Hiền, từ Sơ địa trở lên đến Thập địa mới gọi là Thánh. Như vậy các bậc Hiền Thánh sai biệt nhau tại điểm nào? Chính tại pháp vô vi, tức là do cái pháp thân bất sanh bất diệt đó. Người sống được với nó viên mãn là Thánh, người sống được một phần nhỏ là Hiền bậc thấp, người sống được một phần lớn hơn, là bậc Hiền cao hơn. Như thế chúng ta thấy do pháp vô vi, bất sanh bất diệt mà có chư Hiền Thánh sai biệt, chớ không phải căn cứ trên quyền lực gì ở bên ngoài. Cũng như hiện giờ quí vị tu, có người mới tu ngồi trong một giờ đồng hồ, có thể có một trăm lần vọng tưởng, có người tu khá hơn, ngồi trong một giờ chỉ còn tám mươi lần vọng tưởng, đối với phàm phu người đó khá hơn, nếu người nào ngồi trong một giờ mà chỉ có hai mươi lần vọng tưởng thì đó là khá lắm. Đến khi trong một giờ mà không có một vọng tưởng nào, đó là đã bước vào địa vị Hiền rồi. Song suốt một ngày một đêm đến hai mươi bốn giờ mà chỉ được một giờ không vọng tưởng, đó mới được một phần nhỏ xíu trong thời gian một ngày một đêm; nếu chúng ta thêm hai giờ rồi đến bốn giờ không vọng tưởng… thì chỗ không vọng tưởng đó là pháp vô vi bất sanh bất diệt. Nếu chúng ta được một ngày không vọng tưởng, sánh với người được mười ngày không vọng tưởng thì người được mười ngày đó tiến bộ hơn mình, mình được một năm không vọng tưởng mà người được mười năm không vọng tưởng thì người đó cao hơn mình. Vì vậy khi nói cao thấp là căn cứ trên pháp vô vi mình sống được trọn vẹn hay được từng phần. Thập tín là mới tin được mình có cái bất sanh bất diệt thôi, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là mới được lóe thấy, đến Thập địa mới được từng phần rõ ràng. Thế nên nói sai biệt nhau là căn cứ trên pháp vô vi, chớ không phải căn cứ trên cái gì bên ngoài, không phải vị Thầy thọ ký cho người này chứng cái gì, người kia chứng cái gì v. v… Mà chính trên pháp vô vi bất sanh bất diệt, ai sống được với cái đó nhiều là cao, ai sống được với cái đó ít là thấp. Còn chưa sống được với cái đó là phàm phu. Hiểu như vậy, chúng ta thấy người tu sở dĩ khác hơn người thế gian là ở chỗ đó. Quí vị thử kiểm lại nếu mình biết tu chút ít thì có khác hơn người thế gian không? Người thế gian cứ tha hồ nghĩ, cả đến khi ngủ, nằm xuống cũng chưa chịu ngủ, vẫn nghĩ hết chuyện này đến việc kia, chừng nào ngủ quên mới thôi. Còn chúng ta vừa khởi nghĩ là đã rầy nó rồi. Đấy là chỗ khác nhau. Mình rầy lần lần nó cũng giảm bớt, đến bao giờ mình vừa nhìn nó liền mất như trâu thuần thục, rồi từ từ cho đến hết nghĩ, lúc đó mình mới sống với cái chân thật. Sự thật cái nghĩ không phải là mình. Khi không nghĩ mình vẫn hiện tiền chớ không có mất, nếu cái nghĩ là mình thì hết nghĩ mình mất phải không? Không phải, hết nghĩ mình vẫn hiện tiền, mình vẫn sờ sờ, tai vẫn nghe, mắt vẫn thấy. Thế nên khi nào hết nghĩ thì lúc đó pháp vô vi hiện tiền. Pháp vô vi còn gọi là pháp thân hay là chân tâm. Sở dĩ chúng ta sai biệt nhau trên phương diện tu hành là sai biệt ở điểm đó, chớ đừng tính năm tu, như tôi tu mười năm, người kia tu bảy năm, vậy người đó thua tôi ba năm hay là người khác mới tu hai năm, thua tôi đến tám năm v. v… Ngay nơi pháp vô vi đó, chúng ta được sâu hoặc được cạn mới là khác nhau. Còn tiếp