về phản phục, ngâm :
- phản ngâm : quẻ có phản ngâm của quẻ , hào có phản ngâm của hào . phản ngâm trên thực tế là hiện tượng qủe biến thành xung khắc , hào biến thành xung khắc .
phản ngâm của hào và phản ngâm của quẻ khác nhau ở chỗ là quẻ biến phản ngâm tức là quẻ biến tương khắc . như quẻ biến tốn là kim khắc ngâm mộc , mà sáu hào trong quẻ tương hỗ với nhau ,không nhất định là đều phải biến thành tương xung ,tương khắc .
vi dụ > "khôn" biến thành "tốn"
trong quẻ này , tốn mộc khắc khôn thổ , ngũ hành của sáu hào đói ứng nhau đều tương xung tương khắc .
phản ngâm của quẻ lại có quẻ ngoại phản ngâm , qủe nội không bién ; quẻ nội phản ngâm mà quẻ ngoại không biến .
không kể là phản ngâm của quẻ hay quẻ nội phản ngâm , hay quẻ ngoại phản ngâm chỉ là địa chi trong hào quẻ phát sinh xung khắc , không có quan hệ gì với lục thân .Khi quẻ biến , lục thân vẫn theo cách sắp xếp lục thân của quẻ chủ .
quẻ và hào đều gặp phản ngâm đó là điềm nội ngoại không yên . quẻ nội phản ngâm thì quẻ nội không yên , quẻ ngoại phản ngâm thì quẻ ngoại không yên .
gặp chủ quẻ phản ngâm thì mọi việc đều không thuận .
- phục ngâm :
phục ngâm của quẻ là quẻ biến ,địa chi ngũ hành của sáu hào không biến . Quẻ có 3 loại : nội ngoại phục ngâm , quẻ nội phục ngâm , quẻ ngoại phục ngâm .
quẻ ngoại phục ngâm là quẻ ngoại biến động , địa chi ngũ hành khác không biến ; quẻ nội cũng tương tự .
quẻ phục ngâm , sự biến hóa lục thân của nó vẫn sắp xếp theo theo phương pháp lục thân của quẻ chủ
quẻ chủ phục ngâm là tượng về sự lo lắng , rên xiết . khi gặp quẻ này thì dều là không vừa lòng như ý . nhưng muốn biết cát, hung thì phải xem dụng thần sinh khắc và xem kỹ dụng thần , kỵ thần phục ngâm