Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Người đàn bà quyền lực sau lưng Năm Cam. Từng là người "hét ra lửa" bên cạnh chồng (trùm giang hồ Năm Cam), những năm tháng cuối đời tại trại giam, Trúc "Mẫu Hậu" phải sống vật vã, chống chọi với nhiều cơn đau bệnh tật. > Vợ Năm Cam chết trong trại giam Hai hôm nay, cái chết của bà Phan Thị Trúc (Trúc "Mẫu Hậu", vợ Năm Cam) gây nhiều chú ý với người dân xung quanh chùa Phước An (đường Tôn Đản, quận 4, TP HCM). Đầu con đường nhỏ dẫn vào chùa, họ đứng bàn tán về người đàn bà từng có quyền lực nhất trong thế giới ngầm của Sài Gòn những năm 90 của thế kỷ trước. Hôm qua, việc đưa quan tài bà Trúc từ trại giam Xuân Lộc (Đồng Nai) về đây đã làm xôn xao cả khu phố nhỏ. Quan tài được đặt tại sảnh hông của chùa Phước An, nơi ni cô Diệu Quang (con gái bà Trúc và Năm Cam) đang tu hành. Khoảnh sân nhỏ phía trước chùa được dựng rạp, kê khoảng 4 bộ bàn ghế để cho con cháu trong nhà tiếp khách đến viếng thăm. Một số phật tử cũng bận rộn chuẩn bị cơm chay để phục vụ cho tang sự. Bà Trúc và trùm xã hội đen Trương Văn Cam (Năm Cam) kết hôn với nhau từ thuở trắng tay. Tuy nhiên, trước khi đám cưới với Trúc, năm 16 tuổi, "anh Năm" từng có con với người đàn bà lớn hơn nhiều tuổi. Năm Cam nổi danh và đạt được vị thế của một ông vua trong thế giới ngầm một phần nhờ vào sự toan tính, quản lý của bà Trúc. Ngôi hậu mà giới giang hồ phong cho bà này đã phần nào nói lên quyền lực của người đứng sau lưng Năm Cam. Vào thời kỳ hoàng kim của Năm Cam, dựa vào thế của chồng là một trùm xã hội đen, bà này đứng ra cho vay với mức lãi cực "khủng". Lúc đầu, Trúc tính lãi 20%/tháng (cao gấp 10 lần lãi suất ngân hàng), nhưng sau đó tăng lên 30-60% mà các con nợ vẫn phải chấp nhận vì "ông trùm" muốn thế. "Lúc đầu tôi vay tiền vì thiếu vốn làm ăn. Nhưng sau đó 2 năm tôi muốn thôi do lãi suất quá cao thì lại không dám. Tôi sợ Năm Cam và vì sự an toàn của bản thân, của gia đình nên vẫn bấm bụng vay tiền của chị Trúc hoài", một con nợ của bà này từng khai trước tòa. Thời gian chung sống, bà Trúc biết toàn bộ việc làm phi pháp của chồng như tổ chức đánh bạc, bảo kê nhà hàng... để có thu nhập bất chính nuôi gia đình và bản thân. Năm 1995, khi Năm Cam bị bắt, Trúc đã gom một số tiền lớn gồm 75.000 USD, 20 triệu đồng và một đồng hồ đeo tay hiệu Rolex trị giá 5.000 USD (tổng cộng 1,3 tỷ đồng) rồi cùng con rể là Dương Ngọc Hiệp (Hiệp "Phò Mã") ra Hà Nội đưa cho Trần Văn Thuyết để chạy án cho ông trùm sớm được tha, không bị truy tố trước pháp luật. Với những hoạt động xã hội đen của Năm Cam, người đàn bà này cũng tỏ ra quan tâm đến những đàn em dưới trướng. Sau khi Bùi Anh Việt (Bảy Việt) cùng đồng bọn sát hại trinh sát hình sự Phan Lê Sơn (Công an TP HCM), tên này được Năm Cam sắp xếp trốn sang Campuchia. Lúc tên sát thủ đang lẩn trốn, Trúc cũng đến gặp mặt và cho một ít tiền làm lộ phí "lặn không sủi tăm", tránh bị phát hiện ảnh hưởng đến chồng. Đến khi Năm Cam và đồng bọn sa lưới, Phan Thị Trúc cũng bị TAND TP HCM tuyên phạt 20 năm tù về các tội Đưa hối lộ, Cho vay nặng lãi và Che giấu tội phạm. Tuy bên ngoài tỏ ra đầy uy quyền nhưng trong gia đình, Trúc "Mẫu Hậu" từng phải uất ức, nín nhịn. Trong cuộc sống đế vương của mình, ngoài bà vợ chính thức, trùm Năm Cam còn ít nhất 4 cô vợ bé và hàng loạt "bóng hồng" ăn chơi qua đường. Trúc "Mẫu Hậu" vốn biết rõ những cuộc tình của chồng nhưng đều phải tự sắp xếp ổn thỏa. “Tôi thương con, thương chồng nên cắn răng nhẫn nhịn, chịu đựng tất cả những điều đó. Vì tôi biết, nếu tôi không khôn ngoan, khéo léo, không cư xử ôn hòa thì gia đình tôi sẽ tan vỡ, con tôi sẽ khổ”, Trúc "Mẫu Hậu" từng chia sẻ trong thời gian ở tù. Có lần Năm Cam chia tay với vợ bé có chung 2 đứa con, bà Trúc đã đón chúng về nuôi, xem như con ruột. Mang cái uy ở ngoài xã hội và cuộc sống gia đình, tất cả những người con của bà Trúc đều rất kiêng nể mẹ, bất luận có phải do bà sinh ra hay không. Có lẽ chính vì vậy mà những đứa con cùng cha khác mẹ trong gia đình Năm Cam đều hòa thuận. Vào trại giam Xuân Lộc (xã Long Khánh, Đồng Nai), Trúc "Mẫu Hậu" chịu án tại phân trại 5. Theo một quản giáo, những ngày đầu mới đến, người đàn bà quyền lực này sống trong tâm trạng hoảng loạn. Bà ta thường xuyên khóc lóc vật vã nhưng sau một thời gian, với sự động viên của cán bộ trại cũng như sự giúp đỡ của các phạm nhân khác, Trúc "Mẫu Hậu" đã dần lấy lại được cân bằng và sống hòa đồng. Khi nhắc về chồng và những đứa con, Trúc "Mẫu Hậu" thường rơm rớm nước mắt bảo rằng muốn quên đi quá khứ đáng buồn của gia đình mình. Người đàn bà ngoài 60 tuổi quyền lực ngày xưa giờ đã thành tâm sám hối, chỉ muốn sớm được trở về đoàn tụ con cái sau đó sẽ theo ni cô Diệu Quang (cô con gái đi tu từ nhỏ) vào chùa quy y, gột rửa tâm hồn. Nhắc đến người con gái rời xa cõi trần tục, nương nhờ cửa Phật từ khi còn là một cô bé, Trúc "Mẫu Hậu" bảo thương cô nhất trong những đứa con của mình. Ni cô đã có lần thuyết phục cha lo tiền học phí cho 7 người bạn của mình đến khi vào đại học. Ngày Năm Cam bị bắt, cô đang theo học ở Học viện Phật giáo Trung Quốc và đã bay ngay về nhà. Những lần vào trại giam thăm bà Trúc, ni cô Diệu Quang khóc rất nhiều, khuyên mẹ cố gắng cải tạo tốt, giữ gìn sức khỏe để sớm được về đoàn tụ gia đình. Chịu án được hơn 10 năm, thời gian gần đây, người đàn bà quyền lực đã yếu đi nhiều. Mỗi ngày trôi qua, Trúc "Mẫu Hậu" sống vật vã chống chọi với những cơn đau bệnh và chết vào sáng 16/8. Quốc Thắng - Hải Duyên vnexpress.net ========================================================================================================= Luật nhân quả trả vay luôn là bộ luật công bằng nhất mà ai ai cũng phải sòng phẳng bởi chúng ta có thể chạy trốn người vay nhưng không thể tránh được nghiệp lực đã gieo.
  2. Vợ Năm Cam chết trong trại giam Sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật trong chốn lao tù, phạm nhân Phan Thị Trúc (tức Trúc “Mẫu Hậu”, vợ trùm xã hội đen Năm Cam) đã chết. > Phải vay tiền Trúc 'Mẫu Hậu' lãi suất cao vì sợ Năm Cam /Những chủ nợ khét tiếng trong tổ chức của Năm Cam Ngày 17/8, xác nhận với VnExpress, một lãnh đạo trại giam Xuân Lộc (xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai) cho biết bị án Phan Thị Trúc (66 tuổi) đã chết do bệnh tật vào ngày 16/8. Cùng ngày, trại giam đã cho phép người thân đem xác bà Trúc về an táng. Phan Thị Trúc là vợ cả của Trương Văn Cam tức "Năm Cam", trùm giang hồ tại TP HCM. Người đàn bà này bị kết tội là dựa vào uy thế của chồng trong giới giang hồ để cho vay nặng lãi chuyên nghiệp đối với nhiều người; cùng con rể gom tiền chạy án cho chồng và còn có hành vi che giấu việc trốn chạy của một đệ tử Năm Cam. Với những hành vi trên, năm 2003, bà Trúc đã bị tòa tuyên án 20 năm tù về tội đưa hối lộ, 2 năm tù về tội che giấu tội phạm, 3 năm tù tội cho vay lãi nặng. Tổng hợp hình phạt là 20 năm tù bởi theo quy định, án phạt tù có thời hạn tối đa 20 năm. Theo một quản giáo, những ngày đầu mới nhập trại, Trúc “Mẫu hậu” sống trong tâm trạng hoảng loạn, tuyệt vọng. Bà ta thường xuyên khóc lóc vật vã nhưng sau một thời gian, với sự động viên của cán bộ trại cũng như sự giúp đỡ của các phạm nhân khác, Trúc “Mẫu Hậu” đã dần lấy lại được cân bằng. Bà sống hòa đồng với các phạm nhân. Những năm cuối đời, Trúc “Mẫu Hậu” phải chống chọi với những cơn đau bệnh tật. Người phụ nữ từng lừng lẫy một thời với vai trò vợ của ông trùm Năm Cam ốm yếu, khổ sở với nhiều bệnh trong người. Quốc Thắng vnexpress.net
  3. Chào bạn! Khi khởi tâm ấn tống và điều kiện được gia trì ACE chúng tôi luôn hướng đến mọi Phật Tử trên trái đất này đạt sở đắc bản Linh Phù này Vì thế chúng tôi càng trân trọng những thành viên Post bài thỉnh nhận, trong suốt quá trình thực hiện chúng tôi quyết không bỏ sót một trường hợp nào kể cả trong và ngoài diễn đàn hay các nhà Chùa có tâm phát triển Thần Chú tuy nhiên cũng không ít lần chúng tôi chẳng nhận được sự hồi đáp dù chỉ vỏn vẹn trong 2 từ "đã nhận" từ phía người thỉnh do đó sự phản hồi của bạn hay 1 số bạn khác "chưa nhận" dù vì bất cứ lý do khách quan nào chúng tôi vô cùng biết ơn và sẽ gửi lại lần 2. Vì sự im lặng của 1 số ít không phản hồi gây cho chúng tôi sự áy náy vì hạnh nguyện Bố Thí Pháp chưa tròn. Một lần nữa cám ơn Bạn đã cho chúng tôi tin trên đây để chúng tôi còn có điều kiện khắc phục ! Chúc Bạn và gia đình an lạc kiết tường.
  4. Chẳng qua là nhiều người cảm tính gọi bừa chứ! Chích Bông cũng có trống có mái mừ! Mà hình như Trống bị cột mỏ rùi!
  5. Qua việc này mình được biết vào tháng 3 âl Thanh Minh thực hiện chuyện cải táng xây mộ không cần coi ngày, còn tháng 7 có lẽ nên tham khảo các Chư Tăng Hòa thượng .
  6. Tập Thở Và Vận Động Để Trị Bệnh Đau Nhức Một tờ báo Mỹ có kể một câu chuyện về một người đi ăn trộm, đang mò mẫm trong bóng tối bỗng đụng chạm làm rơi một món đồ gì đó, khiến ông chủ nhà thức giấc. Anh ăn trộm hoảng quá, đứng chết trân tại chỗ, chờ chủ nhà kêu 911. Nhưng bất ngờ, ông chủ nhà chỉ rên rẩm và nói: -Ăn trộm hả? Muốn lấy gì thì lấy đi. Nhưng, trước khi đi, đưa giùm tôi lọ thuốc phong thấp ở trên bàn đó và một ly nước nữa. Tôi đang đau quá, không dậy nổi.Anh trộm chưng hửng một lúc, nhưng rồi cũng đưa lọ thuốc và nước cho chủ nhà xong, rồi chậm rãi nói: -Ông bị đau nhức đầu gối phải không? Tôi cũng bị.. Nhưng uống thuốc này không hết đâu. Tôi dùng thuốc khác. Chủ nhà vừa rên vừa hỏi: -Thuốc gì vậy? Viết tên thuốc được không? Anh trộm viết tên thuốc rồi vừa đưa cho ông chủ vừa nói: -Tôi dùng thuốc này mới hết. Nhưng vì trước đây, đau quá, mất ngủ ban đêm quen rồi, nên bây giờ, hết bệnh, không biết làm gì cho hết đêm, đành đi ăn trộm ....Ông tha cho tôi. Tôi đi về nhé! Nói xong, anh trộm ra mở cửa, đi về. Ông chủ nhà gọi với theo: -Cám ơn nghe. Đêm nào mất ngủ, cứ tới đây, nói chuyện chơi. Bài báo nói lên được một thực trạng về bệnh tật mà bao người Mỹ đang mắc phải: bệnh Đau nhức các khớp xương, hay còn gọi là Phong thấp, mà tiếng Mỹ gọi là Arthritis. Có hai loại Đau nhức: Osteoarthristis, tạm gọi là loại Một (cho các vị cao niên dễ nhớ) và Rheumatoid Arthritis mà ta tạm gọi là loại Hai. Loại Một gây ra những đau nhức ở cổ, vai, bàn tay, ngón tay, đầu gối, xương chậu... Nguyên nhân thường là do tuổi tác (phụ nữ trên 45 tuổi có thể mắc bệnh này), thoái hóa xương, di truyền, bệnh mập phì, hay do những động tác không ngay ngắn được lập đi lập lại lâu ngày như ngồi ghế cong lưng, ngồi lái xe mà thắt lưng bị bẻ cong, nghiêng đầu sang một bên, tay đánh máy suốt ngày không thư dãn, đứng một vị thế cong trong nhiều giờ, nhiều ngày.... Trên nước Mỹ có tới 21 triệu người bị đau loại Một. Loại Hai cũng đau ở các đốt xương, có thể sưng lên, làm biến dạng xương, khó đi đứng, cử động. Loại này có trên 2 triệu nguời mắc bệnh. Nguyên nhân có thể do hệ thống miễn nhiễm không làm việc tốt, bị di truyền, hay vì thời tiết thay đổi đột ngột. Nói chung cả hai loại đều gây đau nhức, nhiều người cảm thấy “khốn khổ, khốn nạn” khi bị các cơn đau hành hạ. Hoặc đi một lúc thì cảm thấy nhức chân, rồi đi lệch lạc. Hoặc ngủ không nổi vì khớp xương đầu gối buốt quá. Hoặc ngồi lâu thì tê hai bả vai... Thường thì có ba (3) cách điều trị các bệnh đau nhức : Thuốc uống (Medication), giải phẫu (Surgery) và Không dùng thuốc (Non-medication). Hai phương pháp đầu tiên, dĩ nhiên, là phải qua Bác sĩ. Phương pháp thứ Ba: Không dùng thuốc lại gồm ba cách: châm cứu, vật lý trị liệu, và tập luyện (exercise). Trong ba cách này, Tập Luyện (Exercise) dễ hơn cả và tác dụng lâu bền hơn cả. Châm cứu có tác dụng tức khắc, nhưng cũng hết tác dụng nhanh lắm. Vật Lý trị liệu cũng thế. Khi được Mát xa, thì thấy rất “đã”, nhưng chỉ một ngày sau là lại đau như cũ. Vậy chỉ còn các TẬP LUYỆN lấy một mình, không tốn tiền, không phải giải phẫu, cũng không phiền ai, nhưng chỉ cần Ý CHÍ tự thắng mà thôi. Người viết bài này, chỉ còn một ít chỗ khớp xương nào còn nguyên vẹn mà chưa lần ...gẫy. Tuổi trẻ, đi tập đủ loại võ nghệ: Nhu Đạo, Thái cực Đạo, Hapkido, Aikido, Thiếu Lâm.. không môn nào mà không mang cho thân thể một lần trật xương, gẫy vỡ. Đấu vật thì cắm đầu xuống đất, lọi cổ tưởng chết. Rồi chống tay xuống đất, vỡ xương cổ tay, lọi cùi chỏ.. Nhẩy qua chướng ngại vật: gẫy vai (2 lần). Đá người thì bị lọi ngón chân. Vật người thì bị gẫy thắt lưng... Bó bột liên miên, hết tay lại chân. Vào nhà thương chích thuốc rồi qua Thầy Cự Thất bó gà, qua Thầy Tầu điểm huyệt, có lần nhờ thầy Cao Miên thổi bùa cho lành vai... Tất cả những lần gẫy vỡ ấy, tuổi thanh niên sung sức chẳng coi nhằm nhò gì, giờ này, mới thấy thấm thía: đau nhức khắp người. Muốn hết đau nhức mà không muốn uống thuốc, không chích Cortisone, không đi Bác sĩ chỉnh xương, thì phải tập luyện hoài hoài, ngưng tập là .. đau! Cho nên, viết bài này để chia xẻ những ai đau đớn vì bệnh phong thấp, nhức xương, mong mọi nguời cùng khỏe. Nguyên lý: Hệ thống thần kinh của con người chạy cùng khắp thân thể, chỗ nào cũng có, từ đầu cho tới ngón tay, ngón chân. Tuy nhiên, theo hình vẽ về hệ thần kinh được treo tại các phòng mạch Tây, Đông Y, ta thấy chùm dây thần kinh đi từ sau ót tỏa ra cánh tay, xuống lưng, qua xương sống, tới hông, đùi, rồi chân (trông như một bó dây điện) là chùm quan trọng nhất. Nếu bị “kẹt” đâu đó, thì đau. “Kẹt” trên cổ có thể gây đau ra cánh tay, bàn tay. “Kẹt” thấp xuống dưới thì đau bắp thịt lưng, đau thắt lưng, “kẹt” ở chỗ thắt lưng lại gây đau ở đùi, chân... Cho nên, khi bị đau quá vì xương thoái hóa hay vì đụng xe, mà phải giải phẫu, bác sĩ sẽ cân nhắc rất kỹ. Mổ ở thắt lưng, nếu “xui”chạm giây thần kinh, có thể bị liệt chân mà thôi, nếu mổ ở cổ mà bị “xui”, có thể liệt cả người! Vì thế, chỉ những trường hợp đau cổ chịu hết nổi, bắt buộc phải giải phẫu thì phải ký giấy chấp nhận 50/50, một là khỏi, hai làđời xe lăn. Hên thì cũng có thể phải ghép một cây sắt vào trong cổ. Đôi khi phải mổ lại.. Chỉ còn cách Tập Luyện, cho thư giãn thần kinh chỗ gây đau, cho mạnh bắp thịt chỗ đau, cho khớp xương được chuyển động dịu dàng trở lại, kích thích chất nhờn đầu khớp xương phục hoạt, điều chỉnh lại những chỗ lệch lạc xương cốt, thì sẽ .. bớt đau (không phải HẾT đau, vì hễ ngưng tập một thời gian, có thể đau lại). A-CHỮA ĐAU CỔ, ĐAU VAI, ĐAU TAY: 1-Xoay cổ trái phải: nhìn thẳng trước mặt, xoay cổ từ trái sang phải chầm chậm, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, từ từ hít vào. Từ từ trả cổ trở lại phía trước, rồi xoay sang bên phải, mắt vẫn nhìn ra đằng trước, thở ra. Nhớ xoay cho hết cỡ, tới khi không xoay được nữa thì thôi. Làm 10 lần. 2-Gập cổ: ngửa cổ lên chầm chậm cho tới hết cỡ, từ từ hít vào. Chầm chậm gập cổ xuống ngực, hết cỡ, thở ra. Làm 10 lần. 3-Bẻ cổ: Mắt nhìn thẳng đằng trước, bẻ cổ nghiêng xuống đầu vai trái, hít vào. Từ từ thở ra, bẻ cổ qua đầu vai bên kia. (Khác với xoay cổ trái phải: ở đây, khi bẻ đầu xuống vai thì đầu vai có hơi nhô lên cho chạm với đầu, còn xoay cổ trái phải thì chỉ quay đầu vào khoảng trống sau vai mà thôi). Làm 10 lần. 4-Xoay cổ vòng tròn: Dùng điểm tựa là cổ, xoay vòng đầu chung quanh cổ, từ phải sang trái 10 lần rồi từ trái qua mặt 10 lần. B-CHỮA ĐAU CÁNH TAY, BÀN TAY: 1-Xoay vai: hai tay buông thỏng, dùng đầu vai làm điểm tựa, xoay vai theo một vòng tròn chạy chung quanh đầu vai ( không phải nhô lên, hụp xuống) từ sau ra trước, rồi từ trước ra sau. 10 lần. Trong khi xoay vai, vẫn hít thở đều đặn. 2-Lắc bàn tay: giơ cánh tay ra trước mặt, cùi chỏ ép hai bên thân mình, giữ nguyên cổ tay và cánh tay, hai bàn tay để trước mặt, lòng bàn tay hướng vào phía ngực. Lắc từ trên xuống dưới (như giũ giũ bàn tay) thật mạnh 10 lần. Đổi hướng, cho mu bàn tay lên trên, lòng bàn tay hướng về mặt đất, giũ mạnh bàn tay từ trên xuống dưới. 10 lần. Đổi hướng, hai lòng bàn tay quay vào nhau, giũ mạnh bàn tay từ trái qua phải, từ phải qua trái. Những người thư ký đánh máy, làm “neo”, thợ may.... phải tập bàn tay thường xuyên, nếu không, có thể bị mổ cổ tay vì khớp xương cổ tay bị cứng khô lại. 3-Vẽ vòng trên đất: đứng rộng chân ra, một tay vịn vào mặt bàn, nguời nghiêng xuống cho song song với mặt đất, cánh tay buông thỏng, tưởng tượng như đang cầm một cái que, vẽ một vòng tròn tưởng tượng thật to trên mặt đất . Vẽ nhanh 10 lần rồi đổi tay. Hít thở đều hòa. C-CHỮA ĐAU THẮT LƯNG, ĐÙI, CHÂN: 1-Xoay thắt lưng theo vòng tròn: hai tay chống hông, ngón tay để ra sau lưng, ngón cái phía trước, các ngón tay ấn mạnh vào thắt lưng, dùng thắt lưng làm điểm tựa, xoay vòng bụng ra trước rồi vòng qua bên phải (bên trái) ra sau, rồi vòng tới trước. Làm liên tục không ngừng, khi ra tới trước, thì bụng phải ưỡn ra hết cỡ. Khi ra sau thì thắt lưng cong lại cũng hết cỡ. Hít thở chầm chậm theo vòng. 2-Gập lưng: cũng như gập cổ, ngửa lưng ra, hít vào, gập thắt lưng xuống, thở ra. Khi ngửa lên, ngửa hết cỡ, khi gập xuống, cũng gập hết cỡ. 3-Xoay hông: hai tay buông thõng bên sườn, vặn người qua bên trái thì hai cánh tay cũng “văng” theo bên trái, nghĩa là không dùng sức tay, chỉ để cho hai cánh tay “văng” theo mà thôi. Xong, vặn người qua bên phải. Hai cánh tay lại “văng” theo bên phải. Nhớ khi xoay sang bên nào thì xoay gót chân bên đó, và bàn chân bên đó nhấc lên, nghĩa là xoay trên gót chân mà thôi. Mục đích làm cho vòng xoay rộng thêm, nếu giữ nguyên bàn chân trên mặt đất, vòng xoay sẽ ngắn lại. Hít thở chầm chậm. D-CHỮA ĐAU ĐẦU GỐI: 1-Xoay gối trái phải: đứng vừa phải, hai bàn tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối theo một vòng tròn về phía phải (theo vòng kim đồng hồ) 10 lần rồi đổi hướng quay theo bên trái. 2-Xoay gối trong ngoài: đứng rộng chân ra, hai tay đặt trên đầu gối, thấp người xuống, xoay đầu gối từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài. Các thế đầu gối này, mới đầu thì chỉ thấp người xuống một chút, sau đó, mỗi ngày càng thấp người xuống hơn, công lực sẽ mạnh hơn. Chỉ cần làm 10 phút, là đã thở mạnh, toát mồ hôi rồi. Người nhức đầu gối ban đêm phải tập trước khi lên giường ngủ. Lưu ý: -Những thế tập này chỉ được áp dụng với người chưa giải phẫu xương lần nào. Nếu đã giải phẫu cổ thì không được tập cổ. Nếu giải phẫu lưng rồi mà muốn tập lưng, phải hỏi bác sĩ, xem phim X-ray có trở ngại gì không.. -Phối hợp vừa châm cứu, vừa mát xa, vừa tập luyện thì rất tốt. -Trường hợp đau kinh niên vì xương rồi, có thể uống thêm Glucosamine có bán tại các tiệm thuốc Tây để kích thích chất nhờn đầu xương và xương. -Mua một cái máy mát-xa nhỏ cầm tay để chà xát chung quanh chỗ bắp thịt đau sẽ hiệu nghiệm nhanh hơn.
      • 1
      • Like
  7. Nếu bạn có nhu cầu và tâm thỉnh nhận vui lòng để lại số đt trong hộp thư diễn đàn, Wild sẽ liên hệ và báo đến bạn!
  8. Bí ẩn về sự sống bên trong người chết Sự phát hiện của Tiến sĩ Honglin Zhou là vô cùng quan trọng cho bước đi song hành của khoa học và Phật giáo. Giúp cho con người hiểu rõ hơn về nguyên lý sống, chết, và hỗ trợ thi thể ít nhất là 2 tiếng đồng hồ. Bởi vừa dứt hơi thở, nhưng chưa thật chết hẳn, thần thức chưa hoàn toàn rời khỏi thể xác. Các nhà nghiên cứu cho biết, những diễn biến quan trọng nằm ở cấp độ tế bào. Mỗi tế bào có một màng bao bọc khá chặt ở bên ngoài để lọc các phân tử không cần thiết cho các chức năng hay sự tồn tại của nó. Khi một tế bào sắp chết, màng bao bọc bắt đầu suy yếu. Tùy thuộc vào từng trạng thái của tế bào chết, một trong ba điều sẽ xảy ra: nó sẽ gửi tín hiệu “hãy tiêu diệt tôi” tới một tế bào làm nhiệm vụ bảo dưỡng để tế bào này “ăn” và tái chế vật chất bên trong nó; nó sẽ tự hủy; nó vỡ tan và phun vật chất ra môi trường xung quanh, gây viêm nhiễm và làm tổn thương mô hơn nữa. Nếu tính toàn vẹn của màng bao ngoài bị phá vỡ, số phận của tế bào sẽ chấm dứt. Khi oxy, dưỡng chất mà tế bào nhận từ máu bị cắt đột ngột, tế bào vẫn có thể duy trì sự tồn tại trong màng của nó trong thời gian khá dài. Sự sống vẫn tồn tại vài ngày sau khi con người rơi vào trạng thái vô thức.[1]. Sự phát hiện của Tiến sĩ Honglin Zhou là vô cùng quan trọng cho bước đi song hành của khoa học và Phật giáo. Giúp cho con người hiểu rõ hơn về nguyên lý sống, chết, và hỗ trợ thi thể ít nhất là 2 tiếng đồng hồ. Bởi vừa dứt hơi thở, nhưng chưa thật chết hẳn, thần thức chưa hoàn toàn rời khỏi thể xác. Dân Việt mình có câu rất hay “một nhà có việc trăm nhà đều quan tâm lo lắng giúp đỡ”. Vì thế, nên khi hay tin người bạn thân của mình bệnh nặng, thì bạn bè thường hay thăm hỏi. Do đó, hãy thể hiện sự thướng mến của mình trong giờ phút quan trọng bằng cách cùng hiệp lực với những người khác niệm Phật. Nếu không quen niệm, thì chúng ta cũng không nên nói những chuyện gì khác gây ồn ào uyên náo. Vì người đang nằm đó vẫn còn biết mọi chuyện đang xãy ra quanh mình. Họ đang khao khát cần sự giúp đỡ của chúng ta, như người sắp chết đuối mong chúng ta cứu vớt họ vậy! Kinh Báo Hiếu dạy: “cứu đảo huyền” cứu cái khổ của người đang bị treo ngược. Vậy mà có những nơi lúc đang cần thanh tịnh và phước báu thì lại mổ trâu heo gà vịt để thiết đãi thân tộc bạn bè. Thậm chí vừa rồi ở Hải Phòng phát văn bản báo tang đến các doanh nghiệp, kèm theo chức vụ và mộc đỏ nơi mình đang phục vụ? Thử đặt câu hỏi chúng ta đang giúp ai? Tổ chức lình đình chè cháo no say, nhằm làm hài lòng người đến phúng viếng. Hóa ra chúng ta đang vận dụng tình thế người đang nằm đó để khoe với thiên hạ “tôi” hiếu thảo, hoặc thể hiện đẳng cấp qua tang lễ, cách làm đó hoàn toàn không có giá trị về tâm linh. Tham khảo cách tổ chức lễ tang ở Ấn, chúng ta thấy họ dành tất cả những gì thiêng liêng nhất cho người đang nằm đó. Khi hay tin buồn, người thân đến vái chào nhau qua loa đồng thời nói năng rất khẽ, rồi tự tìm cho mình một chỗ ngồi dùng tràng hạt hoặc ngồi tĩnh lặng, phút giây đó nếu nhận cuộc điện thoại, tự thân bước ra ngoài xa. Thời gian khoảng 2 giờ chờ làm sạch thi thể. Tất cả những người có mặt theo sự khởi xướng của một người lớn tuổi chấp tay tụng một thời kinh khoảng 20 phút. Sau đó đưa thi thể đi hỏa táng. Không tổ chức ăn uống hay đàn ca xướng hát trong thời gian tổ chức tang lễ. Sau 49 ngày mới làm cơm thiết đãi, nhưng hoàn toàn chay lạt. Tuyệt đối không có rượu chè say sưa. Cách làm đó của người dân Ấn theo đạo Hindu đã làm và duy trì trên 3.000 năm qua. Đáng để chúng ta quan tâm. Còn những ai có hữu duyên với Phật pháp thì nên tổ chức cho một sự ra đi của người thân nhẹ nhàn trang nghiêm thanh tịnh theo lời chư Tổ dạy: a) Trong lúc hộ niệm cho người bệnh hấp hối sắp lâm chung. Tối kỵ nhứt là gây xáo trộn khóc than trong giờ phút nầy. Những ai không dằn lòng được xúc động, thì tốt hơn hết là nên mời họ bước ra ngoài, đừng để bệnh nhơn nghe tiếng khóc than. B) Thái độ và cung cách, nhứt là lời nói đối với người bệnh phải hiền hòa dịu ngọt, nên khuyến nhắc người bệnh nhớ niệm Phật và cần gợi lại những công hạnh mà người bệnh đã thực hiện. c) Tùy trường hợp, hoàn cảnh nơi bệnh nhơn nằm, mà linh động niệm Phật to tiếng hoặc nhỏ tiếng, tốt hơn hết là chỉ niệm Phật cho bệnh nhơn vừa đủ nghe. Phải niệm chậm rãi và từng chữ cho thật rõ ràng. d) Trong phòng bệnh, ngoài tiếng niệm Phật ra, tuyệt đối phải giữ yên lặng, không được nói chuyện ồn ào làm loạn tâm người bệnh. e) Khi người bệnh đã thật sự tắt thở, cứ để như vậy mà chí thành niệm Phật liên tục, không nên sửa làm động đậy thi thể, ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ. Vì mới tắt thở, thần thức chưa rời khỏi xác thân. Ý thức cảm thọ khổ đau, hoặc sinh lòng quyến luyến, đó sẽ là điểm khởi đầu cho sự hình thành ở tương lai, đối với Phật giáo Tây Tạng gọi là chuyển di tâm thức, gọi với cách nào cũng được bởi “tâm sinh muôn pháp sinh”. Quan điểm trên, những người trong thân quyến đóng vai trò khá quan trọng. Đồng thời có sự gia trì của đạo tràng niệm Phật, lực gia trì của chư tăng nếu có quả là tuyệt vời. Hãy thật sự thương người thân của mình và hãy làm những đều cần thiết trong giờ phút quyết định cuộc đời vui hay khổ cho đời sống kế tiếp. 10.04.2012 Lệ Thọ daophatngaynay.com
  9. Chúc mừng Chiêu Nam & Thanh Trúc ngàn năm hạnh phúc!
  10. I-MỞ ĐẦU Nói về cái Chết là một điều không hấp dẫn và không dễ chút nào:-Không hấp dẫn vì ai cũng tránh né vấn đề này,ai cũng dội khi nghe chữ “Chết”.-Không dễ chút nào vì người trình bày đề tài chưa chết rồi trở về kể lại hoặc nếu có chết trong các kiếp trước thì đã phải ăn “cháo lú” nên quên mất rồi. Chính vì những lý do trên,tôi xin phép được sưu tầm những sách hoặc bài liên quan đến cái Chết từ những nhà tu hành,đặc biệt là từ các vị Lạtma Tây Tạng cũng như từ các nhà khoa học rồi sắp xếp lại để quý bạn đỡ mất thời gian nghiên cứu. Chắc chắn phần trình bày này còn thiếu sót,rất mong sự góp ý của các bạn.Vậy chúng ta thử đặt và trả lời một số câu hỏi sau đây: 1/ Ai phải chết? Mọi người đều phải chết,không chừa bất kỳ ai:Dù người giàu có nhất hay người nghèo khổ nhất thế giới,dù người cao sang quyền uy hay người hạ tiện cùng đinh nhất thế gian ,dù người hiền lành nhất hay là người độc ác nhất trên trái đất này… 2/Tại sao phải chết? Vì có sinh thì phải có tử . 3/Khi nào chết? Bất kỳ lúc nào,thường không biết trước được.Ngay khi thai nhi còn trong bụng mẹ hoặc là một cụ già trên 100 tuổi. 4/ Chết thế nào? Nhẹ nhàng hoặc khổ sở,từ từ hoặc đột ngột… 5/ Chết có phải là hết không? Không phải ,vì thân xác như một bộ quần áo sau bao năm sử dụng đã bị hư nát,nay cần được thay bằng một bộ quần áo mới.Chính vì thế mà có câu ngạn ngữ Tây Tạng: “Mọi người đều chết nhưng chẳng ai chết cả”. Tái sinh hay luân hồi đối với người Phật giáo là một sự kiện hiển nhiên. Thật vậy nếu không có tái sinh sẽ không thể nào giải thích được hiện tượng đa dạng của chúng sinh. Nếu không có sự tái sinh chi phối và tác động bởi quy luật nhân quả thì nhất định thế giới này phải là một thế giới bất công và phi lý.Có lẽ câu hỏi “Luân hồi có thật hay không?” đã lỗi thời, và câu hỏi “Trước khi rơi vào vòng xoáy luân hồi, chúng ta là ai? Sau khi ra khỏi vòng xoáy ấy, chúng ta về đâu?” quan trọng và thực tế hơn. Đối với nhân loại đó là một cánh cửa bí ẩn mà chỉ khi chịu khó đi tìm người ta mới có thể mở ra được.Tan-tra thừa dựa vào các phương pháp quan sát, phân tích và nhất là thiền định để tìm hiểu các diễn biến của cả ba quá trình này : quá trình của cái chết, « giai đoạn trung gian » và quá trình của sự sinh , và hướng chúng ta vào việc tu tập. II-ĐẠI CƯƠNGA-ẢO TƯỞNG LỚN (Sogyal Rinpoche) Sau khi thầy tôi chết,tôi được gần gũi thầy Dudjom Rinpoche,một trong những thiền sư,hành giả Mật giáo và Yoga vĩ đại nhất của thời cận đại.Một ngày nọ,khi thầy đang lái xe hơi xuyên nước Pháp cùng với vợ thầy để ngắm cảnh miền quê,họ đi ngang qua một khu nghĩa trang dài vừa mới được sơn quét và trang trí hoa tươi.Bà vợ thầy nói:“Rinpoche,ngài hãy xem mọi thứ ở phương Tây thật ngăn nắp,sạch sẽ làm sao!Ngay tại những nơi người ta để thây chết cũng thật sạch sẽ”.Thầy Dudjom Rinpoche nói:“Ồ,đúng thế,đây quả thật là một xứ văn minh.Họ có những ngôi nhà đẹp đến thế cho những xác chết.Nhưng bà không để ý sao? Họ cũng có những ngôi nhà tuyệt diệu cho những xác sống nữa chứ”. Mỗi khi nhớ lại câu chuyện ấy,tôi không khỏi nghĩ rằng cuộc đời thật trống rỗng,vô vị làm sao,khi nó được căn cứ vào một niềm tin sai lạc về trường cửu và tương tục.Khi sống kiểu ấy,chúng ta vô tình tự biến mình thành những cái xác sống,như thầy Dudjom Rinpoche đã nói. Nhưng đây là kiểu sống của phần đông chúng ta,chúng ta sống theo một kế hoạch đã định.Nhỏ thì được giáo dục,lớn lên kiếm việc làm,rồi gặp một người nào đó,kết hôn và có con.Chúng ta mua một cái nhà,ráng làm ăn phát đạt,rồi mơ ước có một ngôi nhà ở miền quê hoặc thêm một chiếc xe hơi đời mới nhất .Vào dịp nghỉ thì đi du lịch xa cùng với bạn bè. Chúng ta dự định kế hoạch cho lúc về hưu . Những vấn đề trọng đại nhất mà một vài người trong chúng ta từng gặp chẳng phải chỉ là: không biết nên đi chơi đâu vào kỳ nghỉ hè tới hoặc mời ai vào dịp lễ Giáng Sinh.Cuộc đời của ta thật đơn điệu,tầm thường,lặp đi lặp lại.Ta phí một đời để theo đuổi những chuyện nhỏ nhen bởi vì dường như ta không biết có cái gì hơn thế . Nhịp địêu đời sống của chúng ta rộn ràng tới nỗi ta không có thời giờ để nghĩ đến cái chết.Ta ém nhẹm những nỗi sợ hãi thầm kín của ta về Vô thường bằng cách bao vây quanh mình thêm nhiều đồ đạc,của cải,tiện nghi chỉ để tự biến mình thành nô lệ cho chúng. Mọi thời giờ và năng lực của ta đều kiệt quệ chỉ vì phải bảo trì những thứ ấy .Chẳng bao lâu,mục đích duy nhất của ta trên đời hóa ra chỉ là giữ cho mọi thứ ta sở hữu càng được bảo đảm an ninh càng tốt.Khi có biến chuyển gì xảy đến, ta tìm cách đối phó mau lẹ nhất,một giải pháp hữu hiệu tạm thời. Cứ thế, đời ta tiếp tục trôi giạt cho đến khi một cơn bệnh hay một tai nạn nào đó lay ta ra khỏi cơn mê.Cũng không hẳn là ta dành nhiều thời gian suy nghĩ cho cuộc đời này. Hãy nghĩ đến những người đã làm việc bao nhiêu năm rồi phải về hưu , để thấy không biết mình phải làm gì cả vì họ càng ngày càng già và tiến gần đến cái chết.Mặc dù ta luôn luôn hô hào phải thực tế ,thực tế ở phương Tây có nghĩa là thiển cận một cách vô minh và thường ích kỷ. Sự tập trung thiển cận của chúng ta vào đời này và chỉ đời này mà thôi,chính là một ảo tưởng lớn,nguồn gốc của nền duy vật đen tối và phá hoại của thế giới ngày nay.Không ai bàn tới sự chết và đời sau vì người ta có thói tin rằng chuyện ấy chỉ làm đình trệ cái gọi là sự “tiến bộ” của ta trên đời này. Nhưng nếu ước muốn sâu xa nhất của chúng ta quả là sống và tiếp tục sống thì tại sao chúng ta lại quả quyết một cách mù quáng rằng chết là hết chứ ? Ít nhất ta cũng nên thử thám hiểm xem có thể có đời sau hay không đã chứ ! Nếu quả thật chúng ta có óc thực nghiệm như ta từng tuyên bố thì tại sao ta không tự đặt câu hỏi cho mình một cách nghiêm túc:Tương lai thực sự của ta nằm ở đâu?Chung quy,chẳng có mấy ai sống lâu trên trăm tuổi và sau thời gian đó là cả một thời gian vô tận trải dài,không được giải thích . B-CÁI CHẾT TỚI BẤT NGỜ Nhiều người như cố quên về cái chết, cho cái Chết là đáng sợ, không dám nhắc tới. Nhưng cũng có người lại làm ra vẻ thản nhiên bất cần, coi thường sự chết bằng cách biểu lộ qua lời nói: “Ôi! Ai rồi cũng chết cả, vậy thì lo sợ, nghĩ ngợi làm chi cho mệt! Cứ để cho nó tới”. Thật sự thì lời nói đó chỉ là để khỏa lấp về sự chết, chối bỏ sự chết, vì không muốn nghe chữ chết mà thôi .Nhưng khi sự chết đến gần với họ thì sự lo âu khủng khiếp không còn làm họ thản nhiên nữa và khi đó vì không có chuẩn bị trước nên sự ra đi của họ về thế giới bên kia lại chất chứa nhiều đau khổ và sai lầm .Có người còn cho rằng Chết là hết, là không còn gì nữa . Vì thế họ sống vội vã, cố hưởng được những gì họ có trong cuộc đời hiện tại mà họ đang sống chớ không cần nghĩ đến tương lai, hậu quả của đời sau ra sao . Như vậy họ sống chỉ là để hưởng thụ, nặng về vật chất mà coi nhẹ hay không nghĩ đến phần tâm linh .Sự chết quả thật là rất quan trọng, nếu mỗi người tự suy nghĩ về cái giờ phút cuối ấy thì thật sự là không đơn giản. Khi biết được vấn đề này một cách sâu xa tế nhị và quan trọng thì ngoài sự chuẩn bị cái chết cho riêng mình, ta còn nên giúp người khác biết chuẩn bị cho họ được an lành khi cái chết đến với họ .Sống trên thế gian này hầu hết mọi người đều lăn xả vào làm việc để kiếm tiền rồi hưởng thụ và nô lệ cho vật chất trong khi cái chết là cái thực tế đang chờ đợi thì lại không bao giờ để tâm tới. Ðó chính là cái sai lầm ghê gớm mà mọi con người đã và đang phạm phải mà không biết. C- TẠI SAO PHẢI CHUẨN BỊ CÁI CHẾT ? Khi Sống, Con Người lo đủ việc và nhất là hết lòng chuẩn bị mọi thứ: Nào chuẩn bị thi cử, chuẩn bị ra trường, chuẩn bị cưới hỏi, chuẩn bị sinh con, chuẩn bị nhận việc làm, chuẩn bị mua nhà, chuẩn bị đi du lịch, chuẩn bị đi nằm bệnh viện v...v.Nhưng có một việc rất gần gũi, thiết thực và hệ trọng cho mỗi người thì lại không thấy ai chuẩn bị cả. Đó là chuẩn bị lúc lâm chung!Tại sao lại phải chuẩn bị lúc qua đời? Mọi người ai cũng Chết cả, đó là chuyện tự nhiên, có gì mà phải chuẩn bị? Nhiều người sẽ nói như thế khi nhắc tới chữ Chết. Nhưng chính vì mọi người ai cũng phải Chết nên cũng phải chuẩn bị , mà nên chuẩn bị kỷ hơn, vì thật sự Chết không phải là đơn giản như những điều ta chuẩn bị trên đời. Lý do: - Khi Chết, ta ra đi chỉ một mình đơn độc.- Ở ngưỡng cửa Tử Sinh, vì không chuẩn bi trước nên ta sẽ bơ vơ, ngơ ngác, lo sợ, mơ hồ không biết làm gì và tới đâu.- Rời khỏi thế gian rồi, ta sẽ đi vào những Cõi giới khác mà ta không biết xấu tốt ra sao? Tâm thức ta lúc ấy vô cùng bấn loạn, sợ sệt kinh hãi, hoang mang. Vì thế khi sống, ta cần biết rõ khi Chết sẽ ra sao và chuẩn bị trước để lúc lâm chung, tâm thức ta đủ sáng suốt để nhận định đâu là Cửa tới Cõi An lành hầu chuyển đổi một kiếp đời mới khá tốt đẹp hơn. Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất.Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất định.Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước : ngày mai hay cái chết.Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía sau.Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất.Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng ta một cách bất ngờ.Ðại sư Sogyal Rinpoche đã khuyên mọi người là nên nói một cách tế nhị, khéo léo sự thật về cái chết cho thân nhân sắp qua đời biết khi căn bệnh họ đã tới hồi nguy kịch .Ðiều ấy có lợi vì giúp họ “kịp dọn mình, chuẩn bị tinh thần cho một tình huống phải đến . Nhờ thế mà dần dần họ sẽ cảm thấy yên tâm và cũng từ đó họ bắt đầu sửa đổi thái độ, tâm linh với mọi người, với gia đình, với những ân oán, nợ nần, những gì cần giải quyết v…v… cho tốt đẹp. Né tránh Cái Chết sẽ không giúp giải quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn.Một số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan.Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu là điều không thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường và tiệt trừ những đau khổ một lần cho mãi mãi. III-CHẾT LÀ GÌ ?A-CHẾT LÂM SÀNG (theo Y Học) Khi mũi hết thở,tim ngưng đập ,mất ý thức,đồng tử không phản xạ với ánh sáng khi chiếu vào. B-CHẾT THẬT SỰ (theo Đạo Phật) Theo Đạo Phật,Chết thật sự là khi thần thức rời bỏ thể xác để vào cõi Trung giới,tức là nơi tạm trú của những vong linh chờ đi tái sinh . 1/Phật giáo Nguyên thủy không chấp nhận sự hiện hữu của thể dạng trung gian (antarabhava). Dòng tiếp nối liên tục của tri thức (continuum of consciousness) trực tiếp chuyển tải nghiệp của một cá thể từ cái chết sang sự sinh (thụ thai) không có sự gián đoạn nào tức không trải qua một thể dạng trung gian nào cả.Sự « chuyển tiếp » giữa thể dạng hiện hữu trước sang thể dạng hiện hữu tiếp theo sau xảy ra rất nhanh chỉ trong khoảnh khắc của « một chớp mắt hay một tia chớp ». Tóm lại Phật giáo Nguyên thủy không quan tâm đến những gì xảy ra giữa cái chết và sự sinh. Có thể đây là một sự thiếu sót, vì khi quan sát và theo dõi diễn tiến của một cái chết bình thường, người ta thấy quá trình đó không xảy ra đột ngột như một « tia chớp », và đối với sự sinh thì các điều kiện thuận lợi giúp tinh trùng, noãn cầu và dòng tiếp nối liên tục của tri thức kết hợp với nhau không xảy ra trong « chớp mắt ». 2/Phật giáo Đại Thừa: Ngài Thế thân (Vasubandu - thế kỷ thứ III-IV) nêu lên khái niệm về thể dạng trung gian xảy ra giữa cái chết và sự sinh. Thể dạng này tượng trưng bởi một sinh linh cấu tạo bằng « khí » và « tri thức » (consciouness), mang hình hài của cá thể mà nó sắp tái sinh và « sống » được bảy ngày. Sinh linh trong thể dạng trung gian ấy có thể nhận biết được các sinh linh cùng một thể loại với nó. Sau bảy ngày thì nguyên nhân của nghiệp bắt đầu « chín », sinh linh ở thể dạng trung gian trên đây sẽ chuyển sang thể dạng tái sinh trong những điều kiện phù hợp với nghiệp của nó.Tóm lại trên một khía cạnh nào đó có thể hiểu A-lại-da thức là dòng tiếp nối liên tục của tri thức (continuum of consciousness) của một cá thể, vận hành xuyên qua thể dạng trung gian. Tan-tra thừa « mô tả » các cơ sở chuyển tải trên đây dưới hình thức các « khí » cực kỳ tinh tế. Thời điểm khi xảy ra sự sinh (thụ thai) đánh dấu sự chấm dứt của thể dạng trung gian và xác định sự thâm nhập của tri thức vào phôi vừa được hình thành. Cũng bắt đầu từ thời điểm trên đây phôi hàm chứa một tri thức mới, tượng trưng cho quả phát sinh từ nghiệp trong các kiếp trước. Thông thường thể dạng trung gian kéo dài 7 ngày, tối đa 49 ngày sau khi chết. Tuy nhiên theo sự tin tưởng của một số tông phái Phật giáo Nhật bản thời gian này có thể lên đến 77 ngày. 3/Theo Phật giáo Tây Tạng) Khái niệm về thể dạng trung gian được Tan-tra thừa và nhất là Tối thượng du-già Tan-tra nghiên cứu, tu tập và quảng bá rộng rãi. Tan-tra thừa sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích và thiền định để tìm hiểu các hiện tượng liên quan đến quá trình của cái chết và sự sinh để ứng dụng vào việc tu tập. Cái chết theo Tan-tra thừa là một quá trình tan biến tuần tự của thân xác vật chất và tâm thức, các hiện tượng tan biến này được phân loại thành nhiều cấp bậc từ thô thiển đến tinh tế và cực tinh tế. Cái Chết theo Tử Thư Tây Tạng là khoảng thời gian kéo dài từ lúc một người tắt thở cho đến khi đương sự theo nghiệp để tái sinh vào một trong 6 đường là Trời,người,thần,súc sinh,ngạ quỷ và địa ngục .Hiểu theo nghĩa này,chết thường có các giai đoạn là lâm chung,tứ đại tan rã,pháp tính và tái sinh . 3-1/LÂM CHUNG kéo dài từ lúc một người thân của chúng ta ngưng thở,cho đến khi thần thức người ấy bỏ lại thể xác,vào Trung giới hóa thành vong linh hay hương linh.Theo người Trung Hoa,giai đoạn này thường nằm trong khoảng 8 giờ .Nhưng người Tây Tạng lại nói,nó có thể kéo dài tới 3 ngày rưỡi hay 4 ngày :Khi hơi thở ngưng lại,khí dương từ đỉnh đầu đi xuống và khí âm từ dưới huyệt Đan điền đi lên để hợp thành nguyên khí ở huyệt Gíap Tích,ngang tim .Bấy giờ,người chết thấy một vầng ánh sáng trong ,rực rỡ gọi là tịch quang của Pháp thân .Khi ánh sáng này biến đi,người ấy sẽ rơi vào bóng tối cận tử và nhìn thấy tịch quang của Pháp thân lần thứ 2 ,trước khi thần thức thoát khỏi thể xác .Nếu người chết không lợi dụng cơ hội này để thoát ly sinh tử thì sẽ lạc vào cõi Trung giới,hóa thành hương linh,mang thân Trung ấm .Thân này có khả năng xuyên qua tường và di chuyển đồng bộ với tư tưởng của hương linh .Từ lúc mang thân Trung ấm,hương linh lại bị nghiệp lực chi phối và thường phải trải qua 2 giai đoạn là Trung ấm Pháp tính và Trung ấm Tái sinh . Theo Đại đức Rinpoche thì nếu người sắp qua đời đã nói được những tâm tư nguyện vọng của họ một cách tự nhiên thoải mái thì điều ấy sẽ giúp họ thay đổi được quan niệm sống, thay đổi về cuộc đời mà họ đã từng trải qua để đi vào thế giới khác một cách bình an tốt đẹp . Khi bạn đến thăm người sắp chết, nếu họ nói ra những gì về cá nhân họ, cuộc đời họ, tình cảnh họ, bệnh tình họ... thì đó là những cảm nghĩ riêng tư của họ. Hãy để cho họ thổ lộ những gì mà họ muốn nói, đừng cản lời họ vào lúc đó. Không những là không cản trở mà còn khuyến khích, cảm thông với họ, hòa đồng vào với họ một cách ân cần đầy tình cảm ...khi họ nói ra: Có vậy họ sẽ có được cảm giác là khi ra đi họ không cô đơn. Phần lớn người sắp qua đời đã thường tha thứ những gì mà người khác đã gây hại cho họ, kể cả kẻ thù mà lúc còn sống họ rất căm giận. Ngay cả nợ nầnhọ cũng nhớ và muốn giải quyết dứt khoát.Ở phút lâm chung, con người tự nhiên tốt lành hơn, cởi mở hơn, thánh thiện hơn, tất cả như buông xả nên họ dễ dàng tha thứ. Ngay cả tử tội,trước khi thọ hình cũng thường tỏ ra ăn năn hối cải những lỗi lầm mà mình đã phạm phải. Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì dù người sắp lìa đời đã tạo nhiều ác nghiệp, nhưng lúc sắp mất, họ tỏ ra ân hận, hối tiếc, ăn năn sám hối, mong cầu sự tha thứ thì chắc chắn sẽ phần nào chuyển hoá được nghiệp xấu. Điều luôn luôn cần lưu ý là người sắp qua đời sẽ ra đi một mình nên phút tiễn đưa cần có thân nhân bè bạn để lúc qua đời khỏi cảm thấy bơ vơ lạc lỏng.Vì thế sự lẻ loi đơn độc là điều bất hạnh nhất của người sắp mất. Đừng bao giờ thuyết giảng giáo lý của riêng bạn cho người sắp lìa đời, nhất là khi người ấy không cùng tín ngưỡng với bạn. Điều quan trọng cần nói là bạn bè, người thân khi kề cận bên người sắp qua đời thì đừng bịn rịn, khóc lóc, níu kéo người sắp mất. Nếu ta cứ tạo mối thương cảm day dứt thì người sắp qua đời sẽ đau buồn vô cùng khiến họ khó nhắm mắt ; đó chính là điều vô cùng tai hại. Cần nhớ kỹ rằng khi gần tới phút lâm chung, họ cần phải được an ổn tâm hồn, buông xả tất cả, không còn gì vướng bận vào giai đoạn quan trọng đó. 3-2/SỰ TAN RÃ CỦA TỨ ÐẠI Chết chính là sự hủy hoại của cơ thể. Theo các Kinh sách cổ Đông phương thì thân xác và tâm thức hình thành là do sự liên kết của 5 Thể hay 5 Đại - Đó là Đất, Nước, Gió, Lửa và khoảng Không.- Đất tạo nên thịt, xương và cả khứu giác để nhận biết các mùi.- Nước tạo nên máu huyết, chất nhờn, chất lỏng trong cơ thể và luôn cả vị giác để nhận biết cay, chua đắng mặn, ngọt, bùi.- Gió tạo nên hơi thở, hình thể và cả xúc giác để cảm nhận khi tiếp xúc, sờ mó, va chạm. - Lửa tạo nên hơi ấm, màu sắc và thị giác để nhìn ngắm, xác định hình thể sắc màu. - Khoảng Không tạo ra thính giác giúp nghe và phân biệt các âm thanh . Khoảng Không còn tạo ra những xoang bào, những khoảng trống, khoảng hở ở bên trong cơ thể.Khi chết thì những tan rã của các Thể hay các Đại diễn ra rất nhanh và người sắp chết lúc ấy cũng sẽ trải qua những xáo trộn biến chuyển trong cơ thể và cả tinh thần rất nhanh.a/Trước hết thì Thể Đất tan rã nên cơ thể hầu như không còn sức mạnh nữa, khi đó người sắp chết cảm thấy cơ thể nặng nề kỳ lạ và như bị té chúi xuống, không tự mình nhấc người lên được. Da bắt đầu có màu tái xanh, má hóp và trên răng hiện ra những điểm màu đen. Khi đó hai mắt như bị kép sụp xuống, thấy mờ mờ, miệng bắt đầu nói những lời tối nghĩa, mơ hồ, tâm thần suy sụp. b/Tiếp đến Thể Nước bắt đầu tan rã với dấu hiệu nước mắt, nước mũi ,nước miếng chảy ra mà ta không thể cản được.Mắt miệng, cổ họng khô và lưỡi như cứng lại và khát nước vô cùng. Hai lỗ mũi như lún vào trong,tay chân co giật, run rẩy, tâm thần mờ mịt như bồng bềnh. Khi đó từ cơ thể tỏa ra mùi khó chịu , đó là mùi tử khí. Điều này cũng dễ hiểu vì cơ thể con người thật sự là một khối dơ dáy như nhận định của các vị Chân sư quán triệt cái thân ô trọc và thấy rõ “cái cơ thể của con người” là như vậy .Nó tích chứa biết bao cái xấu xa, bất toàn và xú uế nhưng nhờ các cơ phận của cơ thể giữ chúng lại bên trong nên mọi người không thấy , chỉ thỉnh thoảng thấy qua mồ hôi, hơi thở hay phân giải, nước tiểu. Nhưng khi các đại bắt đầu tan rã thì các cơ phận của cơ thể cũng không còn khả năng cầm giữ các thứ đó nữa mà phân rã hay tuôn ra khiến tỏa mùi khó chịu. Những người làm việc ở bệnh viện thường cho biết là họ đã từng cảm nhận những mùi hôi tỏa ra trong phòng người sắp qua đời hay vừa mới qua đời. Ở giai đoạn tan rã của thể Nước thì qua một số người đã có lần chết đi sống lại nhiều khi nhớ và mô tả lúc này họ như bị chìm sâu trong lòng biển lớn hay bị khối nước ào ạt cuốn đi. c/Tiếp theo là giai đoạn Thể Lửa tan rã dần, nên cơ thể lạnh, tái, mắt mũi miệng, cổ khô rát. Hơi thở lạnh. Lúc này không thấy rõ sự vật, tâm trí mờ tối không nhận rõ ra bất cứ ai cũng như không nhớ được ai. Họ thấy những đám khói mờ bốc lên. d/Khi Gió bắt đầu tan rã thì bản thân người sắp mất cảm thấy khó thở, nhiều người vào giai đoạn này thường bảo thân nhân mở các cửa ra vì họ ngộp thở. Vì là gió đang tan rã nên thoát ra từ bên trong cơ thể qua cổ họng khiến ta thở hổn hển. Nhưng không có sức hít vào. Ðôi mắt lúc bấy giờ trợn ngược vì các dây cơ trong mắt không còn tạo thế cân bằng nữa. Cả cơ thể trở nên cứng đờ. Tâm thức lúc ấy mờ mịt tối tăm, không còn khả năng nhận biết những gì xảy ra chung quanh. Khi ấy các ảo giác bắt đầu hiện ra. Tùy theo nghiệp thiện, ác ta gây ra lúc còn sống mà ta sẽ trông thấy những hình như tương ứng, ta cũng thấy lại tất cả quãng đời của ta như một cuốn phim chiếu ngược . Lúc này các hình ảnh và sự kiện như cuồng phong, bão tố vì Thể Gió đang đi giai đoạn tan rã. Đây là lúc máu rút về Tim . Hơi thở cuối cùng hắt ra. Chỉ còn một chút hơi ấm ở tim. Sự sống chấm dứt. Tuy nhiên theo các Lạt Ma Tây Tạng, nhất là những ghi chép trong Tử Thư thì lúc này thật sự vẫn chưa chết vì tâm thức còn có thể nghe, nhận biết những gì về chung quanh . Do đó mới có lời căn dặn rằng, thân nhân người mới chết không nên gây huyên náo, khóc lóc kể lễ hay làm những điều gì có thể gây đau khổ, buồn phiền, thất vọng cho người vừa mới qua đời . Lúc này là lúc mà thân nhân nên thay phiên nhau tụng kinh, đọc kinh cầu nguyện ít nhất là trong vòng 49 ngày. Khi Chết, cái thân xác thì nằm bất động, chỉ có phần như sương khói là Thần thức thoát ra khỏi cơ thể. Theo tài liệu trong Tử thư thì lúc bấy giờ người Chết đang ở trong cõi Trung ấm, chưa nhận thức được là mình đã thực sự chết rồi mà cứ nghĩ là mình đang còn sống bình thường. Giai đoạn này quả thật là phức tạp, khó khăn. Vì cứ nghĩ là mình còn sống tự nhiên nên vẫn đi lại cũng ra vào nhà, cũng tiếp xúc gần gũi với vợ con, bạn, hàng xóm láng giềng. Nhưng có điều là không ai trông thấy họ dù họ làm đủ mọi cách như xô đẩy, cản đường, kêu gọi... họ vẫn không thể làm cho bất cứ ai thấy được họ. Họ cũng thấy gia đình, bà con nói về họ, nhắc nhở họ. Lý do lúc bấy giờ họ không còn cái thân vật chất, vật lý và hoá học như trước đây nữa.Rồi khi họ thấy trong nhà bày biện bàn thờ khói hương nghi ngút, có ảnh của họ phóng lớn đặt lên đó nữa thì họ rất phân vân tưởng như là mơ, nhưng rồi thấy người thân vật vã khóc lóc khiến dần dần họ hiểu ra rằng mình đã chết .Mặc dầu vậy, họ vẫn trong tình trạng mơ hồ phân vân không nhận định hoàn toàn rõ rệt tình huống của họ lúc ấy. Sự phân vân mê mờ của người đã mất không biết rõ tình trạng, hoàn cảnh của mình như vậy rất tai hại vì trong vòng 49 ngày nếu tâm thức họ cứ mơ mơ màng màng không rõ rệt thì họ lại càng khó phản ứng thích hợp thuận lợi với những gì đang chờ đợi họ bên kia của tử. Do đó các vị Đại sư thường căn dặn các đệ tử khi ở cạnh người sắp qua đời hãy tế nhị cho họ biết rõ là họ sẽ phải từ giã cõi thế gian , đó là điều mà bất cứ ai cũng đều phải trải qua không sớm thì muộn . Biết được chắc chắn như thế thì họ sẽ mạnh dạn và dứt khoát ra đi, với ý thức là mình đã thực sự chết rồi. Điều đó sẽ giúp họ đối phó với những tình huống bất ngờ sẽ xuất hiện khi họ ở vào giai đoạn Trung ấm, giai đoạn mà những gì xuất hiện thường sẽ rất lạ lùng, hiếm thấy khi họ còn đang sống như: ánh sáng lạ toả ra chiếu vào họ, và cả âm thanh nữa: Về ánh sáng thì có nhiều loại ánh sáng đủ mọi cấp độ sáng tối và màu sắc khác nhau. Lúc bấy giờ họ nên tránh xa loại ánh sáng nào, nên vào với ánh sáng nào... Chính lúc này là lúc quan trọng, phải biết rõ, âm thanh nào nên tới, ánh sáng nào nên lìa xa..để khỏi đi vào 6 đường lục đạo xấu xa tai hại do tâm thức mơ hồ lầm lạc. 3-3/PHÁP TÍNH(giai đoạn Trung ấm Pháp tính) kéo dài 14 ngày kể từ khi thần thức của người chết vào Trung giới với thân trung ấm.Đây là lúc chư Phật và Thánh Chúng hiện đến tiếp dẫn .Nhưng chỉ những vong linh nào có duyên mới nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ :a/Từ ngày 1 đến ngày 5,có 5 phương Phật là Đại Nhật,A Súc,Bảo Sinh,Di Đà và Bất Không lần lượt xuất hiện,phóng quang chiếu soi vong linh .b/Trong ngày thứ 6,cả năm vị Phật nói trên đều đồng thời thị hiện phóng quang chiếu soi vong linh .c/Trong ngày thứ 7,có 42 thiện thần (thần ôn hòa)từ trái tim và yết hầu của vong linh xuất ra,phóng quang chiếu soi thân nó .Theo Tử thư Tây Tạng,những vị thần này đều là hóa thân của Trời Đại Hắc (Mahakala).d/Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14,có 58 hung thần (thần phẫn nộ)chia thành 7 nhóm từ trong đầu của vong linh tuần tự xuất ra ,phóng quang chiếu soi thân nó. Theo Tử thư Tây Tạng ,những vị thần này đều là hóa thân của vua Diêm Vương (Yamaraja). Cũng theo Tử thư Tây Tạng ,trong lúc chư Phật và Thánh chúng phóng quang chiếu soi,nếu vong linh nào khi sống đã tu tập và thấy Tánh,mới có thể hợp nhất vào Trí quang của Chư Phật hay sắc thân của Thánh Chúng,thì liền thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi . Trên đây là quan niệm của Mật Tông,còn theo những người thanh tu-tịnh nghiệp thì “Chư Phật và Thánh Chúng phóng quang không phải chỉ để chiếu soi mà là để tiếp dẫn thần thức của người niệm Phật”. 3-4/TÁI SINH bắt đầu từ tuần lễ thứ 3,khi Chư Phật và Thánh Chúng đều đã biến đi. Giai đoạn này có thể dài hay ngắn,tùy theo tâm trạng và nghiệp báo của mỗi vong linh .Có những vong linh không qua giai đoạn này vì họ đã vãng sinh hoặc tái sinh trước đó .Có những vong linh chỉ ghé qua vài giờ .Nhưng cũng có những vong linh phải lưu lại tới 49 ngày hay lâu hơn.Thân trung ấm của con người có hình người bằng đứa bé 8 tuổi lành lặn hoàn toàn nhưng nếu người ấy bị đọa vào loài thú thì thân ấy sẽ chuyển thành thân thú trước khi tái sinh . IV-CHẾT RỒI SẼ VỀ ĐÂU ? A-ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÔNG TU Kẻ phàm phu chủ trương không tu hành ,sống hưởng thụ cho bản thân và gia đình nên không màng đến hậu quả.Đến lúc chết,phải theo nghiệp báo mà tái sinh vào một trong 6 đường là:Trời,người,thần,súc sinh,ngạ quỷ và địa ngục .Người ta chia nghiệp ra 4 loại sau đây: 1/Cực trọng nghiệp gồm 5 nghiệp rất nặng là giết cha,giết mẹ,giết Alahán,chia rẽ chư tang và phá hủy tượng Phật .Những nghiệp này có thể thay đổi số mạng người đó khiến họ chết non hay bị đọa vào địa ngục.Những người phạm cực trọng nghiệp mà không sám hối thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục,đến khi mãn hạn liền bị chuyển kiếp sinh vào ác đạo để trả nợ xưa . 2/Cận tử nghiệp là ý (tư tưởng),khẩu(lời nói),thân (hành động) của một người lúc hấp hối .Nếu thân-khẩu-ý trong sạch thì người đó tái sinh vào 3 đường thiện còn nếu thân-khẩu -ý bất tịnh thì người đó sẽ sinh vào 3 đường ác. 3/Tập quán nghiệp gồm những thói quen và nhất là những đam mê của chúng ta ở trong đời này.a/Trường hợp người chuyển thân làm chó để giữ gia tài mà ông đã chôn dưới gầm giường nhưng chưa kịp nói cho vợ và con trước khi chết . b/Một nhà sư già được người quen tặng cho mấy đọt mía liền đem trồng ngoài vườn .Một thời gian sau,đọt mía ấy mọc thành một cụm mía xum xuê,tươi tốt khiến nhà sư ưa thích nên hàng ngày tưới, bón,ngắm,bỏ bê công việc tu hành .Khi chết đi,nhà sư tái sinh làm con sâu mía . 4/Tích lũy nghiệp là những nghiệp đã tạo từ trước tới nay mà chưa hề sám hối nên vẫn còn tồn trữ trong Tạng tâm dưới dạng chủng tử . Những người không có tâm nguyện hay một thói quen đặc biệt nào thì sẽ theo tích lũy nghiệp để tái sinh .Quy luật chi phối việc tái sinh trong trường hợp này rất phức tạp .Nhưng chúng ta có thể nói một cách tổng quát và ngắn gọn rằng:a/Nếu là người siêng làm việc thiện thì sẽ thăng lên cõi trời .b/Nếu là người nhẫn nại ,hiền lương thì sẽ trở lại nhân gian .c/Nếu là người nóng giận ưa gây gổ thì sẽ lạc vào cõi Thần Atula .d/Nếu là người si mê,trộm cắp,dâm dục thì sẽ bị đọa làm súc sinh .e/Nếu là người tham lam,bỏn sẻn,ích kỷ sẽ biến thành ngạ quỷ .f/Nếu là người ganh tị,độc ác,lừa đảo thì sẽ bị đọa vào địa ngục . B-ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ TU HÀNH 1/Người tu mà chưa đắc Đạo thì vẫn phải theo nghiệp thọ sinh như người phàm phu .Chỉ khác là nghiệp của họ thường là thiện nên phần lớn,họ đều được tái sinh vào cõi Trời hay cõi người . 2/Còn đối với người tu hành đã đắc Đạo,có 2 trường hợp xẩy ra: a/Những người tu hành đã đắc Đạo nhưng phát nguyện trở lại cõi Ta Bà để độ sinh thì sẽ theo nguyện lực tái sinh như trường hợp của các vị Lạtma Tây Tạng . b/Những người tu hành đã đắc Đạo nhưng không muốn trở lại cõi Ta Bà thì sẽ được giải thoát theo pháp môn mình chon.Có rất nhiều pháp môn nhưng tựu chung là 3 pháp môn chính:Thiền,Tịnh và Mật . -b1/Người tu Thiền sẽ nhập vào cõi Niết Bàn . -b2/Người tu Tịnh sẽ sinh vào cõi Cực Lạc . -b3/Người tu Mật Tông,tụng chú sẽ nhập vào tịch quang của Pháp Thân vào lúc lâm chung .Khi người đó tắt thở và trước lúc thần thức rời bỏ xác ,tịch quang này chỉ hiện ra có 2 lần,mỗi lần vài phút nên khó mà nhập được vào .Nếu không được thì phải chuyển hướng,hợp nhất với Bổn tôn hay một trong các vị Thánh hiện đến tiếp dẫn ở giai đoạn Trung âm Pháp Tính .Còn như sợ tự mình không làm được việc đó thì phải nhờ một vị Thầy có thiên nhãn theo dõi và nhắc nhở rằng mình hiện đang đối diện với vị thánh nào và phải xử trí ra sao? V-ĐẠO PHẬT CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO NGƯỜI SẮP LÌA ĐỜI ? Để trả lời câu hỏi này,chúng ta phải biết rõ quan niệm sống và chết của Phật giáo . A-QUAN NIÊM SỐNG VÀ CHẾT TRONG ĐẠO PHẬT Tất cả mọi hiện tượng đều tương liên với nhau và biến đổi, không có một sự gián đoạn hay ngưng nghỉ nào, không có gì bớt đi cũng không có gì thêm vào, chỉ có nguyên nhân này sinh ra hậu quả kia, rồi hậu quả kia lại tạo ra nguyên nhân khác. Đó là cái nhìn của Phật giáo đối với tất cả các hiện tượng trong vũ trụ cũng như đối với sự sống và cái chết của từng cá thể.Đạo Phật nhấn mạnh luật nhân quả có thể được phát biểu đại khái như sau:“Tất cả mọi sự,mọi vật đều có nguyên nhân của nó”.Tuy nhiên,một mình nhân không đủ để gây ra quả mà cần phải có nhiều duyên hỗ trợ .Trợ duyên giúp việc gây quả gọi là thuận duyên,ngược lại chướng duyên ngăn việc gây quả gọi là nghịch duyên .Nói một cách khác:Có quả tất có nhân nhưng có nhân chưa chắc sẽ có quả !Vì việc gây quả không phải chỉ tùy thuộc vào nhân mà ngược lại còn phải nhờ thuận duyên nữa.Áp dụng luật nhân quả vào cuộc sống,Đạo Phật đưa ra thuyết Nghiệp báo nghĩa là “Trồng dưa thì được dưa,trồng đậu thì được đậu”hay là “ở hiền thì gặp lành,làm ác thì gặp ác”.Nghiệp không phải chỉ là việc làm không thôi mà nó bao gồm tất cả tư tưởng,lời nói,hành động có ý thức của chúng ta. Những nghiệp này vốn là nhân được lưu trữ ở trong Tạng thức dưới dạng chủng tử hay hạt giống .Chỉ cần có đủ cơ duyên thì những nhân này sẽ thành quả .Qủacủa nghiệp gọi là nghiệp quả hay nghiệp báo . Nghiệp báo có 2 loại:1/Chính báo là thần thức của chúng ta . 2/Y báo là hoàn cảnh sống của chúng ta Quá trình tạo nghiệp và chịu quả báo nói trên thông qua 3 thời là quá khứ,hiện tại,vị lại .Do đó,chết không phải là hết .Khi chết,chỉ có hình hài tan rã,còn Tạng thức (Alạida thức) sẽ theo thần thức tái sinh vào một trong 6 cõi luân hồi tùy theo nghiệp báo . Khác với thuyết Định mệnh theo đó,con người hoàn toàn bất lực trước sự an bài của Tạo Hóa,thuyết nghiệp báo tôn trọng quyền tự do của con người trong việc kiến tạo tương lai của mình .Thực vậy,tuy làm ác nhưng nếu cá nhân đó biết ăn năn,sám hối,làm các việc thiện,phóng sinh,bố thí nghĩa là tạo nghịch duyên ngăn không cho ác nhân kết thành quả khổ hoặc ít ra cũng làm giảm nhẹ nghiệp quả.Nếu người đó mới qua đời,chúng ta có thể thỉnh các tăng ni hoặc ban hộ niệm tụng kinh,niệm phật,trì chú thì người đã quá vãng có thể chuyển hóa phần nào được nghiệp chướng .Đây là quan niệm rất độc đáo của Phật giáo về nhân sinh . B- ĐẠO PHẬT CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO NGƯỜI SẮP LÌA ĐỜI ? Theo Đạo Phật,chết không phải là hết như đã trình bày ở phần trên mà chỉ là cơ hội để giải thoát (theo Tử thư Tây Tạng) hoặc làm lại cuộc đời trong một kiếp khác nên Đạo Phật mới khuyên chúng ta sám hối lỗi lầm và tịnh tu 3 nghiệp .Ba nghiệp là nghiệp của Thân,Khẩu,Ý mà quan trọng nhất là Ý vì từ nghiệp của Ý mới kéo theo nghiệp của Khẩu và nghiệp củaThân.Ngoài ra,nghiệp quá khứ không quan trọng bằng nghiệp hiện tại vì nghiệp quá khứ đã xẩy ra rồi,ta không sửa được mà chỉ có thể sám hối,còn nghiệp hiện tại thì ta có thể chủ động được .Do đó,người sắp lìa đời cần phải đặc biệt lưu ý đến những gì mình nghĩ,nhớ,ao ước,nói và làm .Cận tử nghiệp này sẽ ưu tiên quyết định nơi mà người đó sẽ tái sinh .Theo Tử thư Tây Tạng,việc thần thức rời bỏ thể xác được khởi sự vào lúc người đó rơi vào bóng tối cận tử và có cảm giác như đang bay rất nhanh trong một hang tối với tiếng gió rít bên tai.Khi gió ngưng bặt và bóng tối tan đi thì thần thức,giống như con rắn vừa lột xác,có thể quan sát cái thân mà nó bỏ lại,để ra đi.Thần thức lúc đó bay lượn quanh xác mình,rất tỉnh táo và biết hết mọi chuyện xẩy ra mặc dù không còn ngũ quan nữa .Chính lúc này,thân nhân đừng nên than khóc,nhất là để nước mắt rơi trên xác khiến thần thức càng quyến luyến đau khổ hơn .Thần thức thấy được mọi người,nghe rõ ràng họ nói nhưng thân nhân thì không thấy hoặc nghe họ được. Đây là thời gian rất tốt để trợ niệm và thường nằm trong khoảng 8 giờ đầu kể từ khi người đó tắt thở.Người Tây Tạng thường trợ niệm trong 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.Trong điều kiện ở Việt Nam,chúng ta nên làm như người Tây Tạng nhưng còn ở ngoại quốc,xác chết phải để trong phòng lạnh của nhà quàn nên chúng ta cố gắng trợ niệm trong 8 giờ trước rồi 3-4 ngày sau,khi làm lễ phát tang và cầu siêu,chúng ta mời quý Thầy,bà con và bạn bè tới trợ niệm và cử hành tang lễ.Khi an táng xong xuôi,chúng ta liền rước vong linh lên chùa để cầu siêu trong 7 tuần liền,mỗi tuần một lần . Trợ niệm và Cầu Siêu rất khác nhau:-Trợ niệm gồm 2 việc chính;Một là nhắc nhở người sắp chết ,đang chết hay mới chết phải lo niệm Phật cầu sinh Cực Lạc và hai là niệm Phật hiệu để hối họ niệm theo .-Cầu siêu là chúng ta có thể hoặc dùng tên mình hoặc thay vong linh,cúng dường,sám hối,tụng kinh,niệm Phật hay trì chú .Rồi đem phúc đức tạo được hồi hướng cầu cho vong linh vãng sinh Cực Lạc,hóa sinh lên Trời hay tái sinh làm người . VI-KHOA HỌC NGHIÊN CỨU VỀ CẬN TỬ. A-KINH NGHIỆM CẬN TỬ (NDE=NEAR DEATH EXPERIENCE)Từ lâu, điều bí ẩn về sự tồn tại mối liên hệ giữa con người và những thế giới khác đã trở thành một đề tài hấp dẫn giới khoa học.Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi có hay không sự tồn tại ranh giới giữa sự sống và cái chết, hay điều gì sẽ xảy ra với ý thức của con người khi chết đi? Các nhà khoa học đã phát hiện ra những câu chuyện thú vị về các trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng có tên gọi khoa học là “cận tử”.Nghiên cứu về các trường hợp cận tử trong nhiều năm qua, các nhà khoa học tại Trường đại học Southampton (Anh) đã tập hợp được nhiều tài liệu giá trị phục vụ việc nghiên cứu khoa học về trạng thái cận tử. Nghiên cứu hơn 1.500 bệnh nhân bị mắc bệnh tim trong vòng 3 năm, mục đích của các nhà khoa học ngoài việc tìm cách điều trị, còn nhằm tìm hiểu về hiện tượng gì sẽ xảy ra khi trong cơ thể con người không còn hoạt động của tim và não. Công trình nghiên cứu này đã thu hút được sự quan tâm của hàng loạt các trung tâm khác nhau tại Mỹ, bao gồm các trung tâm nghiên cứu thuộc các bệnh viện ở Cambridge, Birmingham và Swansea… Tại nơi điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh tim trong các trung tâm này, hàng loạt thiết bị máy ghi hình, máy chụp ảnh tự động được lắp đặt nhằm theo dõi những hiện tượng xảy ra đối với bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Những bệnh nhân trải qua hiện tượng cận tử sẽ kể lại với các bác sĩ những sự việc mà họ đã nhìn thấy trong khi ý thức rời khỏi cơ thể họ (khi xảy ra những sự việc này, bệnh nhân hoàn toàn ở trong trạng thái hôn mê).Sau đó, những sự việc này được đem so sánh với những hình ảnh đã được ghi lại bằng các thiết bị ghi hình và máy chụp ảnh tự động.Theo TS. Sam Parnia , người đứng đầu chương trình nghiên cứu về ý thức con người của Mỹ, thì việc bố trí một cuộc theo dõi và so sánh nêu trên sẽ giúp loại bỏ giả thuyết cho rằng cái chết chỉ là một hiện tượng đơn lẻ. Ông cho biết: Chết không phải là một khoảnh khắc đặc biệt, thay vào đó, nó là một quá trình bắt đầu từ khi tim ngừng đập, phổi ngừng hoạt động, hoạt động chức năng não dần bị suy giảm và ý thức rời khỏi cơ thể con người. Quá trình này nhìn từ khía cạnh sinh học, thì tương tự như khi người ta rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Nó có thể diễn ra và kết thúc trong vòng một vài giây cho tới một giờ hoặc hơn thế. Tuy nhiên, trong khi diễn ra cái chết, dưới sự can thiệp của các thiết bị y tế, quá trình này bị cản trở, nhịp tim được phục hồi lại bình thường và quá trình diễn ra cái chết kết thúc, bệnh nhân sống lại. Trong số hơn 1.500 bệnh nhân được theo dõi nêu trên, các bác sĩ cho biết có 10-20% số bệnh nhân từng trải qua hiện tượng tim bị ngừng đập và chết lâm sàng vẫn duy trì được nhận thức tỉnh táo. Trong khi chết lâm sàng, họ vẫn nhận biết được chi tiết các sự việc đã diễn ra xung quanh nơi giường bệnh của mình.Heather Sloan – một y tá làm việc tại Southampton (Anh) cho biết: Cô từng bị rơi vào trạng thái cận tử bí ẩn khi bị một cơn sốc do chảy máu nội tạng. Điều cuối cùng mà cô nhớ được là việc cô được đưa vào bệnh viện.Sau đó, cô nhận thấy mình đang đứng cạnh giường của một bệnh nhân.Theo thói quen nghề nghiệp, Sloan bắt đầu tiến hành các thao tác kiểm tra nhiệt độ và huyết áp cho bệnh nhân.Song cô bất ngờ nhận ra rằng bệnh nhân đang nằm trên giường bệnh đó lại chính là cơ thể của mình.Cô Heather cũng kể lại rằng: Khi ấy cô có cảm giác như mình đang từ từ bay lên không trung. Phía trên đầu là hàng trăm người đang đứng đợi cô, họ nói cho cô biết rằng cô đã bị mất đứa con nằm trong bụng mình.Y tá Heather bất chợt nhận ra rằng mình đang bị chết.Tuy nhiên, chỉ vài phút sau đó, Heather đột ngột thoát khỏi tình trạng cận tử.Cô dường như quay trở lại với thể xác của chính mình và tỉnh lại. Khi tỉnh lại, các y tá kể lại cho Heather biết là cô vừa bị mất đứa con chưa kịp chào đời, điều mà trên thực tế, cô đã biết trước trong lúc rơi vào trạng thái cận tử. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã giúp y tá Heather Sloan hiểu được cảm giác khi ý thức rời khỏi cơ thể cô là một hiện tượng khoa học. Việc người bệnh thường nhìn thấy mình bị rơi vào một đường hầm tối đen và vầng sáng ở cuối đường hầm hay gặp lại những người thân đã quá cố đôi khi chỉ là một ảo giác. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì đây vẫn còn là một vấn đề khó lý giải.Trường hợp của Gary Williams – một bệnh nhân người Anh là một ví dụ khác về hiện tượng cận tử xảy ra trong bệnh viện. Gary kể lại rằng anh phải trải qua một ca phẫu thuật nguy hiểm vì mắc bệnh tim. Các bác sĩ đã bơm vào cơ thể anh một loại thuốc kháng sinh mà Gary vốn bị dị ứng với nó. Mặc dù trong suốt quá trình tiến hành phẫu thuật, bản thân Gary đã được gây mê và không biết gì, song ngay sau khi hiện tượng dị ứng với kháng sinh xảy ra, anh bỗng nhận thấy dường như anh đang lơ lửng và đang từ từ bay lên không trung, thoát khỏi cơ thể đang nằm bất động của mình. Bệnh nhân cũng cho biết, khi đó anh nhìn thấy chị gái mình đang ở bên cạnh giường bệnh và cầu xin các bác sĩ điều gì đó.Ngay sau đó Gary nhìn thấy các bác sĩ tiến hành tiêm cho mình.Anh bỗng nhiên có cảm giác như mình bắt đầu hạ thấp xuống và quay trở lại với cơ thể đang nằm yên bất động trên giường bệnh.Ngay sau khi tỉnh lại, Gary đã kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho các bác sĩ trực tiếp phẫu thuật cho anh, và các bác sĩ khẳng định rằng hiện tượng mà anh gặp phải chính là một dạng cận tử.Trong trường hợp của một bệnh nhân khác sống tại Paris (Pháp), một phụ nữ có tên là Mulholland kể lại rằng bà đã từng chết và cảm nhận thấy cái chết của mình khi tim ngừng đập. Bà thấy mình đang rời khỏi thân thể và từ từ bay lên trần nhà. Trong lúc ấy, mặc dù các bác sĩ khẳng định là cơ thể bệnh nhân đã được gây mê và không hề nhận biết được gì, song khi bà Mulholland kể lại cho họ nghe những gì bà đã nhìn thấy trong phòng phẫu thuật của mình và những gì các bác sĩ đã thao tác trong quá trình tiến hành phẫu thuật cho bà, thì họ vô cùng ngạc nhiên. Bà Mulholland cũng cho biết: Khi đang dần bay lên không trung, bà đã ra sức để với xuống, chỉ vì không muốn xa rời chồng và con gái, nên bà đã cố không để mình rời khỏi cơ thể đang nằm bên dưới. Sau ca phẫu thuật, bà Mulholland đã tỉnh dậy và biết rằng mình đã rơi vào trạng thái cận tử.Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, bà không thể vượt qua căn bệnh hiểm nghèo và đã chết thực sự.Trong một số trường hợp khác, tác giả của cuộc gặp gỡ và nói chuyện với nhiều trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng cận tử, y tá Shirley Learthart kể lại rằng: Trong suốt 10 năm phục vụ trong các bệnh viện của Anh, bà đã từng tiếp xúc, nói chuyện và nghe rất nhiều câu chuyện từ những bệnh nhân khác nhau bị rơi vào cận tử. Họ không quen biết nhau, song tất cả những câu chuyện mà họ kể về tình trạng họ từng trải qua thì đều có một nội dung khá tương tự nhau. Trong thời gian trải qua cận tử, họ hầu như đều bị rơi vào một đường hầm tối đen với duy nhất một nguồn ánh sáng chói chang ở phía cuối đường hầm. Họ đang tiến về phía ánh sáng ấy, thì bỗng nhiên, như bị kéo trở lại và sau đó thấy mình tỉnh lại.Qua các trường hợp thực tế đã xảy ra, hiện tượng cận tử ít nhiều đã được chứng minh về sự tồn tại của nó.Đó là sự tồn tại của ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và theo như nhận xét của nhiều nhà khoa học, điều này cũng minh chứng cho giả thuyết: Chết không có nghĩa là “chấm dứt” tất cả, con người chỉ chuyển đổi sang một dạng trạng thái khác, một trạng thái hữu thức, song vô hình mà khoa học vẫn đang tiếp tục đi tìm lời giải đáp. B-SỰ THAM GIA CỦA KHOA HỌC VÀO CÕI CHẾT Năm 1928, bác sĩ George Ritchie, giáo sư môn tâm thần học tại Đại học Y khoa Virginia, Hoa-kỳ, cho xuất bản cuốn Return from Tomorrow (Trở về từ ngày mai), trong đó, ông kể lại chi tiết những cảnh tượng mà ông đã trải qua trong một cơn chết đi sống lại hồi còn trai trẻ.Bấy giờ, Thế chiến I (1914-1918) đang diễn ra ác liệt ở Âu châu.Ritchie đang thụ huấn quân sự tại Camps Barkeley thuộc Bang Texas. Do nhu cầu quân đội, ông được cử đi học ngành thuốc tại Đại học Virginia. Chuẩn bị nhập trường thì Ritchie bỗng mắc chứng sưng phổi cấp tính. Bấy giờ, thần dược Penicillin chưa ra đời, cơn bệnh diễn tiến nguy kịch, và đêm nọ, y tá trực đã báo cáo với bác sĩ rằng bệnh binh Ritchie đang lên cơn hấp hối. Bác sĩ khám nghiệm thì thấy con bệnh đã chết, liền ra lệnh cho y tá lập thủ tục khai tử để chuyển xuống nhà xác. Khi người y tá lo xong thủ tục và trở lại phòng Ritchie thì chợt nhận ra có dấu hiệu hồi sinh, vì vị trí bàn tay thay đổi so với khi trước, liền vội vã báo cáo. Việc đưa xuống nhà xác tạm đình chỉ, bệnh binh được tiếp tục cứu chữa và theo dõi. Ba ngày sau, Ritchie mới hồi tỉnh rồi dần dần bình phục.Y sĩ trưởng Camps Barkeley, bác sĩ Donald Francis xác nhận đây quả thật là một trường hợp hy hữu trong đời làm thầy thuốc của ông.Đối với Ritchie, cũng hy hữu không kém. Sự việc chết đi sống lại chỉ diễn ra trong vòng 9 phút ,thời gian người y tá trực đi làm thủ tục, nhưng là 9 phút đầy ý nghĩa vì ông đã trải qua một kinh nghiệm hiếm có trên đời: kinh nghiệm về cái chết. Theo ông kể lại, bấy giờ là vào khoảng nửa đêm, ông thấy mình đang ở trong một căn phòng nhỏ. Sực nhớ là phải đón chuyến xe bus để nhập trường cho đúng ngày, bèn vội vã đi tìm quần áo để cho vào túi xách. Tìm mãi chẳng thấy đâu, Ritchie nghĩ rằng có thể quần áo để dưới gầm giường nên đi đến bên giường để tìm, cũng chẳng thấy gì cả, nhưng lại thấy trên giường có một thanh niên tóc nâu hớt ngắn đang nằm, không để ý là ai. Ông bỏ ra ngoài phòng, gặp một người trung sĩ ở hành lang, bèn lên tiếng nhờ chỉ giúp quần áo để đâu. Anh chàng này dường như không nghe câu hỏi mà cũng không trông thấy Ritchie, cứ lẳng lặng xồng xộc tiến đến, suýt nữa đâm sầm vào người, nếu Rithchie không nhanh chân tránh kịp.Ý nghĩ đến trường thôi thúc, ông cảm thấy cần phải lên đường, thế là tự nhiên đã thấy ở ngoài khu vực căn cứ và đang bay về hướng Richmond. Đến một nơi nọ, thấy bên dưới có một con sông rộng, vắt ngang là một cây cầu cao và dài, bên kia cầu là một thành phố lạ. Không biết đây là đâu, Ritchie nghĩ nên dừng chân để hỏi thăm đường.Vừa móng lên ý nghĩ đó thì đã thấy mình ở dưới mặt đất, chỗ có hai con đường chạy song song. Thấy có ánh sáng lấp lánh phát ra từ bảng hiệu của một ngôi nhà lợp ngói đỏ, Ritchie tiến về phía đó. Tới gần, mới biết đó là bảng quảng cáo bia Pabst Blue Ribbon treo ở cửa sổ, còn bảng hiệu thì đề hai chữ Cafe. Thấy có người đang trên đường tiến vào quán, Ritchie tiến đến và lịch sự hỏi "Xin cho biết đây là thành phố nào?".Nhưng, thật là ngạc nhiên, anh ta dường như chẳng nghe mà cũng chẳng thấy Ritchie, cứ lầm lũi mà đi. Tưởng anh ta điếc, ông tiến đến bên cạnh, lấy tay vỗ vào vai và lập lại câu hỏi. Lần này lại càng ngạc nhiên hơn, vì tay như đập vào khoảng không, và hai người gần nhau cho tới nổi ông thấy được cả sợi râu chưa cạo trên má, vậy mà anh ta vẫn tỏ ra không hay biết gì cả!Ritchie bỏ đi hỏi đường ở một người khác, nhưng lần này cuộc đối thoại câm điếc cũng lại tái diễn. Một cảm giác cô đơn chợt đến với Ritchie. Thấy rằng việc đi Richmond có vẻ vô ích quá, vì dường như chẳng có ai biết sự hiện diện của ông cả, nên quyết định hãy trở về chốn cũ, nơi có nhiều người quen. Ông nghĩ rằng mình đã chết và muốn hồi sinh, nhưng giữa đêm tối mịt mùng như thế này, làm sao tìm ra cái xác của mình giữa 5,000 tân binh lúc nhúc trong các phòng? Sực nhớ bàn tay trái có đeo chiếc nhẫn Phi Gamma Delta, Ritchie cứ theo đó mà tìm và quả thật đã nhận ra được. Ông cố gắng lật tấm vải che để nhập xác hồi sinh nhưng không thể nào làm được, bèn ngồi thừ bên giường với tâm trạng buồn bã. Lúc đó, tự nhiên trong phòng sáng rực lên một cách lạ kỳ, như "có cả triệu ngọn đèn hàn cùng bật lên một lúc", dù Ritchie biết chắc rằng trong phòng chỉ có mỗi một ngọn đèn 15 watts. Và rồi có người vào phòng, một người có vẻ lạ lùng, khác thường, như bằng ánh sáng. Ông không thấy rõ mặt, và người đó hẳn là chưa bao giờ quen biết, nhưng tự nhiên ông cảm thấy từ nơi người-ánh-sáng ấy toát ra một năng lực diệu kỳ, đem lại cho ông một cảm giác an lạc, thư thái, như được che chở trong tình thương yêu, đùm bọc. Bằng cách nào đó, người ấy đã cho Ritchie thấy lại toàn bộ cuộc đời đã qua, và hỏi "Con đã làm những gì trong cuộc đời của con?". Rồi người đó dẫn Ritchie đi xem những cảnh giới lạ lùng, gây cho ông một ấn tượng sâu xa, nên khi kể lại, ông đã gọi đó là "một chuyến du lịch học hỏi" (an education tour).. Chẳng hạn, ở một nơi nọ, ông thấy những người đam mê sắc dục đang đau khổ vì thèm muốn nhưng bất lực; những người nghiện rượu không thể nào đưa tay lấy được ly rượu đang để ở trước mặt, đành thèm thuồng đứng nhìn kẻ khác uống rượu ngon lành. Rồi lại thấy cảnh những người tự tử vì tuyệt vọng, nhưng chết rồi mà tuyệt vọng vẫn còn nguyên.
  11. Thiệp Mùa Vu lan. NAL – Mùa Vu Lan lại về xin anh xin chị hãy lắng lòng nghe con tim mình trăn trở, hoài niệm, thầm tin yêu,... về cha mẹ, ông bà và nhưng người nuôi nấng cho chính chúng ta qua bao năm tháng. Từ những bước đi đầu tiên cho đến những tiếng bập bẹ à ơ... Sự đắn đo trăng trở băng khoăng hoài niệm đó được thể hiện qua từng nét bút thư pháp, gần gụi mà sâu lắng, sang trọng mà thâm tình. Làm nền cho dòng mực đen là những vệt màu loang lỗ ngẫu nhiên hài hòa. Bộ thư pháp “Màu Sắc Trong Con Tim” được sáng tạo trên nền giấy A4 mực tàu, và màu nước do Minh Hoàng Thư Pháp giới thiệu
  12. Xác nhận có 300,000 đ (ba trăm ngàn đồng) của Thiên Em ủng hộ từ thiện Diễn đàn. Chúc Thiên Em có nhiều chuyến đi thú vị với tay nghề nhiếp ảnh nhé! Quỹ hiện có : 7,800,000 đ + 300,000 đ = 8,100,000 đ (tám triệu một trăm ngàn đồng)
  13. Tôi đang huân tập ... Bạn ơi, Tôi đang huân tập một đức tính: Hễ có ai chửi tôi, nhục mạ, bôi lọ tôi…tôi sẽ nhẫn nhục không trả lời. Nếu buộc phải trả lời tôi sẽ dùng lời lẽ ôn hòa, không dùng lời thô tục, hung dữ… để trình bày rõ sự việc, để mọi người được biết… mà không làm tổn thương đến người đang công kích hay thù hận tôi. Đức Phật dạy rằng “Muôn loài chúng sinh đều bình đẳng”. Nếu con hổ có thể gầm, con sư tử có thể rống… thì con chim cũng có thể hát ca, con suối có thể reo, thậm chí loài côn trùng nhỏ bé cũng có quyền cất lên tiếng nỉ non giữa canh khuya. Ai cũng có quyền cất lên tiếng nói mà không một ai có quyền ngăn cản miễn sao tiếng nói đó không làm tổn hại tới người khác, không làm xáo trộn sự an vui của cộng đồng. Tôi đang huân tập một đức tính: Không coi những phim ảnh, báo chí, video bạo lực bắn giết để giảm bớt những ý nghĩ hung ác, những tư tưởng bất thiện đã từ lâu được nuôi dưỡng, ẩn chứa trong đầu óc tôi… đồng thời gieo trồng những chủng tử lành trong A-lại-da thức. Tôi hiểu rằng khi tôi phóng ra một tin tức gì… với đà tiến bộ vượt bực của kỹ nghệ truyền thông hiện đại, tin tức đó có thể được hằng triệu, hằng tỉ người đọc và tác động ngay tới đầu óc của họ. Tôi nghĩ rằng chuyện cậu sinh viên ban tiến sĩ James Holmes đem đủ các loại súng vào rạp chiếu phim ở Aurora, Colorado bắn giết người xem… như trong ci-nê… là hậu quả của phim ảnh bạo lực Mỹ trong đó có phim Batman. Chuyện Anders Behring Breivik 32 tuổi người Na Uy – nơi được thế giới coi như một quốc gia hiền hòa, thánh thiện, sau khi đánh bom tại một cơ sở chính quyền, đã xách súng tới một hòn đảo nhỏ, thản nhiên bắn giết 69 người, làm bị thương 110 ngườ, năm 2011… mà đa số họ đều là thanh niên thiếu nữ đang hồn nhiên vui chơi trong một buổi sinh hoạt picnic ngoài trời... theo tôi…là kết quả của những tin tức, những bài báo, những bài bình luận, những hình ảnh, những video… mang tính khích động, xúi giục, kỳ thị, ghét bỏ, loại trừ. Rồi ngày hôm qua 5/8/2012, một cựu chiến binh Da Trắng Mỹ đã đem súng vào bắn chết 6 tín đồ Đạo Sikh của Ấn Độ đang hành lễ ở một ngôi đền tại Milwaukee, Tiểu Bang Wisconsin, rồi sau đó bị cảnh sát bắn chết cũng chì vì ông này theo chủ nghĩa “ White Supremacy” (Da Trắng Là Ưu Việt) - một tổ chức cực đoan kỳ thị chủng tộc. Ôi cuộc đời thật vô thường! Đảo nhỏ xinh tươi Utøya của Na Uy nay bỗng dưng biến thành địa ngục. Rạp ci-nê, thánh đường bỗng biến thành phạm trường bắn giết. Nghĩ cho cùng, tất cả đều do con người gây tạo ra với nhau. Vì hiểu rằng hạnh phúc khổ đau trên cõi đời này là do chính con người đem đến cho nhau cho nên muốn những điều ác không xảy ra thì ngay bây giờ chúng ta phải làm điều lành. Cũng giống như để cứu một hồ nước nhiễm ô chúng ta không thể quỳ gối cầu xin mà chinh chúng ta phải ngưng xả rác hoặc ngưng ném những chất độc hại xuống đó, đồng thời đưa vào hồ một dòng nước trong mát. Chân lý muôn đời là không thể diệt trừ bạo lực này bằng một bạo lực khác. Không thể có yên bình nếu con người còn tiếp tục nuôi dưỡng và cổ súy bạo lực, kỳ thị, ghét bỏ, loại trừ. Bạo lực ngày hôm nay chỉ là kết quả của cái nhân xấu của ngày hôm qua. Tôi cũng còn đang huân tập một đức tính: Nhìn vương tôn công tử cũng giống như một kẻ hành khất, cung vàng điện ngọc của vua chúa cũng giống như ngôi nhà tranh vách đất, mối tình của công chúa, hoàng tử chưa chắc đã đẹp hơn mối tình của đôi trai gái ở làng quê, đám cưới của siêu sao, người mẫu chưa chắc đã đẹp hơn đám cưới nghèo ở một thôn bản đìu hiu, ông tỷ phủ thì cũng vậy mà người buôn gánh bán bưng cũng vậy, kẻ tri thức bằng cấp cùng minh chưa chắc đã thiện lương hơn bà già mù chữ, kim cương châu báu cũng giống như sỏi đá ven đường, nữ trang đắt giá cũng giống như vỏ sò vò ốc, quần hàng, áo hiệu cũng giống như lá che thân của con người thời tiền sử… Huân tập như vậy là tôi nương theo lời dạy của Phật trong Kinh Viên Giác. “ Này thiện nam tử! Tất cả chướng ngại là giác hoàn toàn. Chính niệm hay tà niệm đều là giải thoát. Lập được pháp hay phá pháp đều là Niết Bàn. Trí tuệ ngu si đều là Bát Nhã. Bồ Tát hay ngoại đạo thành tựu các pháp đều là Bồ Đề. Vô minh, chân như không giác cảnh giới (Phật). Giới-Định-Huệ và Dâm-Nộ- Si đều là phẩm hạnh. Chúng sinh và quốc độ đồng một pháp tính. Địa ngục, cung trời đều là Tịnh Độ. Có tính hay không tính đều thành Phật đạo. Tất cả phiền não chính là giải thoát hoàn toàn. Bể tuệ pháp giới soi rõ các tướng cũng như hư không. Đấy gọi là tính Viên Giác tùy thuận của Như Lai.” (1) Tuy nhiên trong cuộc huân tập đó, thú thực tôi như người lội dòng nước ngược, như kẻ lên thác xuống ghềnh, như kẻ tự cột mình vào một giây cao-su, một kẻ bị xiềng xích. Có lúc tôi hiu hiu tự đắc tưởng mình đã “đạt đạo” nhưng thực thế thì “trôi lăn”. - Gốc tham-sân-si vẫn còn nguyện vẹn đó. - Lòng căm thù, ý nghĩ ghét bỏ, kỳ thị, loại trừ có từ bao đời nay không sao dứt được. - Sự ngã mạn và “cái tôi” với tuổi đời tưởng như thu nhỏ lại nhưng thực tế lại phình to ra. - Tôi vẫn còn nuôi dưỡng, ấp ủ và vuốt ve những thói hư tật xấu của mình. - Tôi tự an ủi và biện minh cho những lỗi lầm và lơ là với việc sám hối. - Tôi luôn luôn có ý nghĩ cho rằng mình đúng còn người ta thì sai. - Tôi vẫn cho rằng mình luôn đứng ở phía chân lý còn kẻ khác là tà vạy. - Tôi vẫn nhìn đời bằng con mắt nghi kỵ thay vì cảm thông, tha thứ. - Tôi vẫn còn nuôi dưỡng lòng hận thù. Hận thù cả những kẻ mà tôi chưa hề gặp mặt mà chỉ nghe nói trên truyền hình, báo chí, Internet. - Tôi vẫn thích loan truyền những tin tức xấu, hoặc nói xấu người khác hoặc những bài viết xuyên tạc, chia rẽ, đánh phá mà tôi coi đó như một khoái cảm, một thành tích. - Tôi vẫn còn thích thủ đoạn dìm người khác để ngoi lên. Tôi có ý nghĩ sai lầm là “kẻ khác xấu thì đương nhiên mình tốt”. Tôi đâu biết rằng kẻ khác xấu nhưng chưa chắc mình đã tốt. Ai có phận của người đó. - Tôi thường tiết kiệm lời khen vì tôi nghĩ rằng khen ngợi người khác làm giảm giá trị của mình. - Tôi bóp méo sự thực khách quan theo tình cảm yêu ghét của tôi. - Tôi vẫn có ý nghĩ cho rằng đề cao tinh thần vị tha “chín bỏ làm mười” là tiêu cực, là yếu hèn. Phải dùng sức mạnh để chiến thắng. Tôi đâu biết rằng có những chuyện mà người ta chém giết nhau đã vài ngàn năm nhưng có giải quyết được gì đâu. - Những ai có ý nghĩ khác với tôi, lập tức tôi sân hận rồi coi đó như kẻ thù và không hề có ý tưởng bao dung. - Cho dù mái tóc đã điểm sương, “lực bất tòng tâm” nhưng tham vọng của tôi vẫn to lớn, lớn hơn cả như núi Tu Di. Dù ở tuổi “bất hoặc” tôi vẫn còn “ham vui” tham gia vào những cuộc bênh-chống, nay bạn mai thù, nay khen mai chê, nay ngưỡng mộ mai hạ bệ. Tôi như đứa con nít, đúng ra như cái chong chóng quay tít trong dòng đời “vô minh và vọng động” mà không sao chủ động được. Cuộc sống nội tâm của tôi tưởng êm đềm nhưng thật ra như mặt nước dợn sóng, như khỉ truyền trên cành, như ngựa phi trên cánh đồng…hoàn toàn nóng nảy, bất an và vô định. - Dù thế giới văn minh như thế nhưng tôi vẫn thích chém giết, cổ vũ cho sự chém giết và tỏ vẻ vui mừng khi thấy ngàn vạn tấm bom trút lên đầu đất nước mà tôi căm ghét. Tôi không có tư tưởng yêu chuộng hòa bình. Tôi coi cuộc sống, con người của dân xứ đó như những lon đồ hộp, như món đồ chơi. - Tôi vẫn còn say mê tiền bạc, ham thích sự sang cả, phù du, ảo ảnh giống như lòai thiêu thân lao vào ánh đèn rồi tan tác vì ánh điện. - Nói tóm lại, tôi vẫn là một phàm phu tục tử. Chính vì thế mà sự huân tập của tôi chỉ là một “hành giả” rất khiêm tốn, một lữ hành miệt mài trên con đường thiên lý có khi gục ngã giữa đường mà không bao giờ tới đích hay có khi chỉ đi lòng vòng rồi trở lại khởi điểm ban đầu, đâu vẫn hoàn đó trong tiến trình gọi là Luân Hồi. Bạn ơi, Con người mà chúng ta đang sinh sống, cư xử ngày hôm nay là một tổng hợp của thân thế, giáo dục, rèn luyện, hiểu biết…một tích lũy của di sản đúng-sai, yêu thương-hận thù, hoặc sự cọ sát của lịch sử trong quá khứ rồi từng giây từng phút lại bị tác động bởi hiện tại và môi trường chung quanh. Trong một xã hội hay một cộng đồng đầy hận thù và bạo lực, chúng ta có thể bị giết hại nếu chúng ta nói chuyện thương yêu, tha thứ. Trong một công đồng đầy tình nhân ái thì bạo lực cũng có thể không có cơ hội nảy sinh hay lộng hành. Do đó, để có một cuộc sống an lành, chúng ta cần nuôi dưỡng chủng tử lành rồi cùng lúc xây dựng một cộng đồng, một xã hội an lành. Bạn ơi, Tôi chỉ là một phàm phu tục tử xấu xa, đầy tội lỗi, đang cố gắng đi trên con đường thiên lý, có thể không bao giờ tới đích. Nhưng cái đích đó chính là chỗ mong ước và cầu xin hằng ngày của cả tỷ con người trên hành tinh nhỏ bé này: Đó là sự bình an cho cuộc sống của con người. Bạn ơi, xin đừng nhân danh bất cứ cái gì để phá hoại cuộc sống an bình của con người./. Đào Văn Bình (California nhân Mùa Vu Lan 2012) (1) Kinh Viên Giác, bản dịch của Cụ Thích Huyền Cơ ( Hà Nội 1951) do Phật Học Viện Quốc Tế (Hoa Kỳ) tái bản năm 1997. Đây là bộ kinh chỉ dạy cho hàng bồ tát thượng thủ. Nghe kinh này tất cả đại chúng phải nhập chánh định. chuaphuclam.vn
  14. Chuyện kỳ lạ trước và sau cái chết của cô gái 'hiện hình' trên điện thoại Khi xem xét kĩ, đoàn của ông Triều phát hiện dưới nền nhà của gia đình này có linh hồn của một người con gái xưa kia bị chôn sống chưa được siêu thoát, nên thường xuyên nhập vào những người trong gia đình để hành tội. Vị khách có khả năng đặc biệt… Những ai lúc đầu mới nghe câu chuyện hình ảnh cô gái treo cổ tự vẫn ở chùa Thanh Sơn xuất hiện trong chiếc máy điện thoại của một ông khách đến chùa để ngồi thiền sẽ không thể tin nổi. Để xác minh thông tin, PV đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với người đàn ông đang nắm giữ câu chuyện hết sức đặc biệt này. Ông tên là Đặng Văn Triều, hiện công tác tại Trung tâm Unesco Phương Đông. Trao đổi với PV, ông Triều cho biết: "Trong suốt cuộc đời tôi, chưa bao giờ gặp một hiện tượng kì lạ đến vậy. Hình ảnh cô gái cứ luôn ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ. Tôi vốn không phải là một chuyên gia nghiên cứu về các hiện tượng tâm linh, nên đã mang câu chuyện kỳ lạ này kể cho nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Chủ nhiệm bộ môn thông tin dự báo, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người". Nói về chuyện tại sao hình ảnh cô gái treo cổ ở chùa Thanh Sơn lại hiện trong máy điện thoại của ông, chứ không phải là một ai khác, ông Triều cho biết: "Hiện tượng này thực sự tôi cũng không thể giải thích nổi, nếu giải thích dưới góc độ tâm linh, có thể là do tôi và cô gái kia có duyên hoặc có mối liên hệ nào đó, không thể nói một cách rõ ràng được". Ông Triều, người đang nắm giữ câu chuyện kỳ bí trên đã khiến cho PV đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác. Ông cho biết bản thân có một khả năng đặc biệt là chữa bệnh từ xa bằng cách sử dụng năng lượng để diệt trừ "tia đất" xấu, giúp người khác có thể khỏi bệnh. Hôm PV đến gặp ông, cũng là lúc có rất nhiều bệnh nhân đến nhờ ông chữa bệnh. Theo tìm hiểu của PV, thuật ngữ chuyên ngành gọi là "tia đất", chính xác hơn là "Đại bức xạ". "Tia đất" là tổng hợp các tia phát ra từ vỏ cứng của trái đất, bức xạ lên mặt đất dưới dạng sóng điện từ và từ trường. Chúng vừa có lợi, vừa có hại cho sức khỏe của con người. Cụ thể hơn, "tia đất" là các loại tia từ vỏ trái đất phát ra, lan tỏa trên mặt đất dưới dạng trường, bao gồm các trường: Bức xạ điện từ, bức xạ phân rã phóng xạ, phát tán chất độc hóa học, dao động từ trường của các khoáng vật thuộc các tầng hệ đất đá khác nhau, từ các mạch nước ngầm và đặc biệt là mồ mả hài cốt. "Tia đất" xấu có ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của con người không hề thua kém các tác nhân gây bệnh khác. Theo ông Triều, để nhận biết những nơi có "tia đất" xấu không hề khó, cách đơn giản nhất là quan sát giấc ngủ hàng ngày của chính mình (không ngủ sâu, chập chờn, trằn trọc, đứt quãng, hồi hộp, khó thở, ác mộng…) trong người luôn cảm thấy mệt mỏi, tính tình không ổn định, sức khỏe giảm sút mà không tìm ra nguyên nhân. Quay trở lại với câu chuyện cô gái treo cổ tự vẫn ở chùa Thanh Sơn, ông Triều cho biết: Khi được trụ trì xác nhận hình ảnh cô gái trong máy điện thoại của ông có rất nhiều nét tương đồng với cô gái đã treo cổ tự vẫn ở chùa trước đó một tháng, ông đã rùng mình, lạnh sống lưng. Để chứng minh cho những câu nói của mình, đích thân vị trụ trì chùa Thanh Sơn đã dẫn ông Triều tới nơi thờ vong cô gái để so sánh với bức ảnh nhà chùa đang thờ cúng, thì quả thực có rất nhiều nét tương đồng, dường như là 1 người nhưng là ở những thời điểm khác nhau. Sau đó, ông Triều đã được nghe nhà chùa kể rất nhiều câu chuyện kỳ lạ trước và sau cái chết của cô gái này. Lúc đó, do quá tò mò trước hiện tượng kỳ lạ trên, ông Triều đã đề nghị nhà chùa dẫn ra cổng Tam quan, nơi cô gái đã treo cổ tự vẫn để xem xét. Tại đây, ông Triều phát hiện ra "tia đất" rất xấu, linh hồn người chết không thể siêu thoát và vẫn còn quanh quẩn nơi đây. Sau đó, đích thân vị khách này đã dùng khả năng của mình, giúp nhà chùa xử lý "tia đất" xấu, tiếp đó, vào động Hương Đài, một ngôi chùa cổ nằm sâu bên trong quần thể chùa Thanh Sơn, để làm lễ cầu cho linh hồn cô gái kia được siêu thoát. Trong quá trình làm lễ tại động Hương Đài, linh hồn cô gái đã hiện về thông qua một dấu hiệu đặc biệt, đó là một vòng tròn trắng. Theo những nhà nghiên cứu tâm linh, mỗi khi gọi hồn một người đã khuất, nếu thấy xuất hiện một vòng tròn trắng tức là linh hồn người chết đang hiển hiện tại đó. Sau đó thông qua linh cảm của mình, ông Triều đã rước vong cô gái đến nơi thờ cúng của chùa để cho linh hồn cô được siêu thoát. Kể từ đó, những chuyện kỳ lạ đã không còn xảy ra. Ông Triều, người đàn ông sở hữu chiếc điện thoại, đang làm lễ trong động Hương Đài, bỗng dưng xuất hiện một vòng tròn trắng trên đỉnh đầu. Ảnh: TL Những câu chuyện chưa kể… Để minh chứng cho khả năng của mình, ông Triều đã kể ra một vài trường hợp. Trường hợp làm cho ông nhớ nhất là của một người phụ nữ tên P. ở Thái Nguyên đang sống, ăn nói bình thường, vào một ngày tự dưng không thể nói được, đi khám, chữa trị khắp nơi các bác sỹ vẫn không chẩn đoán được nguyên nhân là gì. Gia đình họ đã liên hệ và nhờ ông Triều giúp đỡ. Khi ông đến tận nơi thì phát hiện, mảnh đất gia đình cô này đang sống bị bao phủ bởi nhiều "tia đất" xấu. Theo một nhà ngoại cảm đi cùng ông Triều hôm đó, âm khí ngôi nhà này rất nặng. Khi xem xét kĩ, đoàn của ông Triều phát hiện dưới nền nhà của gia đình này có linh hồn của một người con gái xưa kia bị chôn sống chưa được siêu thoát, nên thường xuyên nhập vào những người trong gia đình để hành tội. Ngoài người phụ nữ tên P. bị câm mà không rõ nguyên nhân, còn có cậu em trai, tính cách không được bình thường, thường xuyên đau đầu. Cậu ta có thói quen đi chùa ăn chay, niệm Phật, Mỗi lần đến chùa tự dưng người này hết đau đầu, nhưng khi trở về nhà thì đâu lại vào đấy. Sau khi ông Triều sử dụng khả năng đặc biệt của mình, người phụ nữ kia lập tức nói lại bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra, chứng bệnh đau đầu của cậu em trai cũng bỗng dưng biến mất. Một trường hợp khác cũng được ông Triều sử dụng năng lượng đặc biệt của mình để chữa bệnh, đó là ông N. trú tại đường Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình, Hà Nội từng mắc phải bệnh dạ dày đã nhiều năm chữa trị khắp nơi bằng đủ loại thuốc nhưng không khỏi. Khi ông Triều đến thăm khám cũng phát hiện địa lý của ngôi nhà này có "tia đất" xấu, đã ảnh hưởng tới sức khỏe của ông N. Sau khi làm lễ diệt trừ "tia đất" xấu và sử dụng năng lượng của mình để chữa bệnh, điều kỳ diệu là ông N. hiện tại đã hoàn toàn khỏi bệnh. Kết quả đi khám tại các BV đều cho thấy bệnh dạ dày đã không còn. Ông N. cho biết: Thật kỳ lạ, bệnh tình của tôi trước đây vốn rất xấu, đi chữa trị khắp nơi mà không khỏi, cho đến khi được ông Triều sử dụng khả năng đặc biệt để điều trị, bệnh tình của tôi hiện tại đã hoàn toàn hồi phục. Ông Triều tâm sự thêm: "Nếu là những người hợp khí, thì tôi có thể chữa được rất nhiều bệnh". (Còn nữa) Theo Xuân Thắng - PL&XH
  15. THA hay BẮT? Có tiếng ồn ào ở phía trên rẫy, nhà sư vừa bước ra khỏi thiền thất thì chú Liễu Minh cũng vừa đi tới. - Bạch thầy! Rẫy mình vừa bị mất trộm, sáng nay lên nhổ sắn chúng con mới biết.- Thế à!- Dạ mất đâu khoảng chừng vài vồng.Nhà sư dừng lại, chậm rãi nói:- Con ạ! Mất sắn và trộm sắn không phải là vấn đề của chúng ta! Là kẻ tu hành, vấn đề của chúng ta là, nhân đó, ta thử lắng nghe lại lòng mình một cách trung thực hơn. Ta sẽ lắng nghe rằng: ta có thể rộng lượng tha thứ được cho người chăng? Ta có móng khởi một tiếc rẻ nào khi mất đi một ít vật chất, của cải? Ta có thể san sẻ cho người bằng cách nhịn ăn một vài bữa! Và, sau hết, trong ta có dậy mối bất bình, phiền não chăng? Chúng ta là người học hạnh giải thoát, có gì phải giải quyết ngoài những vấn đề tương tự? Liễu Minh sững lại, nhà sư mỉm cười nắm tay chú theo lối mòn lên rẫy.Liễu Minh nói:- Bạch thầy! Hồi nãy, con với chú Bất Đạt cãi nhau. Con thì nói tha. Chú Bất Đạt lại nói bắt. Con và chú ấy thường có quan niệm bất đồng.Bất Đạt và Bất Ác từ trong những lùm sắn bước ra, mỗi người tay xách mấy chùm sắn vụn. Thấy nhà sư, Bất Đạt cất giọng oang oang:- Bạch thầy! Cái lũ ăn trộm này, gặp con, chúng sẽ biết tay! Liễu Minh cãi lại:- Biết tay như thế nào? Chú bắt chăng? Ý thầy là thầy sẽ tha cho phù hợp tâm từ!Nhà sư nói:- Không, Liễu Minh con! Thầy không tha! Vì tâm từ nên thầy không tha! Bất Đạt reo lên:- Đó, chú Liễu Minh thấy chưa? Vì tâm từ nên thầy không tha, thầy sẽ bắt.">Nhà sư cười:- Không, Bất Đạt con! Thầy không bắt! Vì tâm từ nên thầy sẽ không bắt.Cả ba chú đều ngơ ngác:- Bạch thầy thế thì...Thấy vầng trán và cặp chân mày của Liễu Minh cau lại, nhà sư dịu dàng nói:- Liễu Minh! Con hiểu về tâm từ như thế nào mà bảo nên tha? Vì tâm từ là thương người, yêu chúng sanh, mong chúng sanh thảy đều yên vui, hạnh phúc!- Như vậy, vì tình thương mù quáng, con sẽ dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian! Bất Đạt góp lời:- Vì không muốn dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian, cho nên, con sẽ bắt mới đúng nghĩa tâm từ!- Như vậy, vì tâm từ nóng vội con sẽ nuôi dưỡng hận thù giữa cuộc đời! Im lặng một lúc, nhà sư tiếp:- Các con ạ! Tâm từ là vậy mà không phải vậy. Thật ra, trong các con, chưa ai hiểu tâm từ là gì! Biết là cả hai chú đều rơi vào hoài nghi to lớn, nhưng nhà sư vẫn chưa trả lời vội, người dẫn cả ba chú đến một lùm cây rậm, chỉ vào đám cỏ rạp.- Đêm kia, thầy thấy cậu ăn trộm rình núp ở đây. Người bạn ăn đêm kiên nhẫn đợi thầy tắt đèn và đi nghỉ, nên thầy đã tắt đèn và đi nghỉ! Không cưỡng được ý mình, Liễu Minh buột miệng:- Thế là thầy đã tha!- Ừ! Thầy đã tha nhưng cái tha của thầy khác với cái tha của con. Thầy tha mà không dung dưỡng kẻ trộm trên thế gian. Rồi con sẽ hiểu điều ấy. Im lặng một lúc, chú Liễu Minh lại nói:- Thế là con sai ít mà chú Bất Đạt sai nhiều. Thầy đã không bắt! - Không, không phải thế đâu con! Thầy có bắt, nhưng không nuôi dưỡng hận thù, nên cái bắt của thầy khác với cái bắt của Bất Đạt!Đầu óc của các đệ tử rối loạn như một mớ bòng bong, như tổ chim, chẳng biết đạo lý câu chuyện nó nằm ở đâu nữa! Buổi chiều, trong giờ học Đạo, nhà sư lấy trong túi ra một lá thư bằng giấy học trò, nét chữ cứng cáp, không thẳng hàng thẳng lối, chẳng có chấm phết, sai chính tả lung tung. Liễu Minh và Bất Đạt chăm chú đọc:"Thưa thầy,Thầy biết con là thằng ăn cắp không những hai vòng sắn mà còn ăn cắp một tượng Phật nhỏ bằng đồng đen, ăn cắp 10 giò phong lan trước đây nữa. Thầy biết mà thầy lặng lẽ không nói với ai, cũng không hề trả lời một câu khi lính lệ qua tra hỏi! Bây giờ thầy lại còn giúp con vốn liếng, tiền ăn tiêu mười ngày để con lên "đá bạc" khai thác đá là nghề cũ trước đây của con. Tiền thầy cho, con còn dư dả để sắm dụng cụ hành nghề. Ơn đức thầy thật là kể sao cho xiết. Con hứa từ nay cho đến trọn đời, con thề làm người lương thiện để khỏi phụ tấm lòng cao cả của thầy.Con...Lá thư bên dưới có ký tên nhưng nhà sư đã lấy kéo cắt đi rồi. Bất Ác bây giờ mới cất giọng nói:- Con nhận nhiệm vụ bí mật của thầy, con biết cả. Con nghe hai chú Liễu Minh và Bất Đạt cãi nhau, con chỉ cười. Nhà sư hỏi:- Con cười sao? Con cười vì cả hai chú đều sai!- Không đâu con! Cả hai chú đều không sai! Câu trả lời của nhà sư thật bất ngờ. Nhà sư lại phải giải thích:- Cả hai không sai, nhưng cả hai chú đều không đúng! Tại sao vậy? Vì trên sự tướng, tha hay bắt không quan trọng. Tha hay bắt chỉ quan trọng là khi tha để làm gì và bắt để làm gì? Tha rồi có giáo hóa được người và bắt thì có giáo hóa được người? Trên tất cả, đối với chúng ta, tha hay bắt là để học bài học giác ngộ mà thôi! Bất Đạt chợt nói:- Ý con cũng có thể là vậy lắm! Con bắt rồi con sẽ tìm cách giáo dục người ta nữa chứ!Liễu Minh nhíu mày:- Chú mà giáo dục! Chú thượng cẳng chân hạ cẳng tay thì có! Rồi chú còn bắt trói người ta mà giải qua huyện! Cái bắt đó là cái bắt của người đời, chỉ tăng thêm oán thù chứ không được tích sự gì! Bất Đạt không giận mà cười khì khì:- Còn chú thì sao hử? Chú tha rồi chú giáo dục người ta làm sao nào, nói đi? Tha trống không cái kiểu của chú thì chi bằng kêu ba thằng ăn trộm vô khiêng chùa chiền đi hết cho khỏe! Vậy là tha theo hạnh bố thí ba-la-mật đấy! Nhà sư khoát tay:- Các con tranh cãi hay tranh luận đấy? Các con đừng nghĩ rằng giải pháp của thầy là tối ưu, từ đó, lấy làm thước đo để xử sự ở đời! Các con có biết rằng, tha hay bắt chỉ là sự thể hiện bên ngoài? Tha hay bắt rồi sau đó tìm cách giáo hóa, cũng chỉ là sự khôn ngoan của sự thể hiện bên ngoài ấy mà thôi. Có một cái tâm, các con ạ! Khi biết cái tâm ấy, trú nơi cái tâm ấy, thì tha hay bắt đều trở nên đúng cả vậy. Tâm ấy là tâm gì, ai biết? Cả ba chú đồng đáp:- Dạ, tâm từ! Đúng thế! Vậy thì từ rày về sau, khi gặp bất cứ tình huống nào cũng phải sáng suốt, bình tĩnh. Sáng suốt là Tuệ, bình tĩnh là Định. Từ Tuệ, từ Định mà khởi tâm từ thì mọi hành động của các con đều phù hợp với giáo pháp cả, không sợ sai lầm đâu!- Chúng con đã hiểu cả rồi. Ôi! Thật tuyệt vời thay cái bài học hôm nay! Nhà sư từ bi nhìn ba chú, tủm tỉm cười, thầm nghĩ: "Chỉ nên dẫn cho chúng lên ngang chỗ đó thôi! Chúng đâu có hiểu rằng, tâm từ còn có trước ý, dụng ý, còn vấn đề lợi và hại, hay và dở, tốt và xấu thì tâm từ ấy đâu đã được gọi là từ vô lượng?
  16. Và cũng bởi "anh ấy chỉ yêu con nông nổi 1 thời, mà yêu Mẹ suốt 1 đời tần tảo" Cô chấp bút 2 câu này nhé!
  17. GỬI MẸ CHỒNG TƯƠNG LAI - Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con. - Bởi trước con, anh ấy là của mẹ. - Anh ấy yêu con một thời trai trẻ. - Nhưng suốt đời anh yêu mẹ, mẹ ơi! - Mẹ đã sinh ra anh ấy trên đời. - Hình bóng mẹ lồng vào tim anh ấy. - Dẫu bây giờ con được yêu đến vậy. - Con cũng chỉ là người phụ nữ thứ hai... - Mẹ đừng buồn mỗi hoàng hôn ban mai. - Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ. - Nhưng con chỉ là một cơn gió nhẹ. - Mẹ mãi là bến bờ thương nhớ của đời anh. - Con chỉ là một cơn gió mỏng manh. - Người đàn bà khác. - Có thể thay thế con trong trái tim anh ấy. - Nhưng một tình yêu suốt đời âm ỉ cháy. - Anh ấy chỉ dành cho mẹ mà thôi. - Anh ấy có thể cùng con đi suốt cả cuộc đời. - Cũng có thể chia tay ngày mai,có thể. - Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ. - Dù thế nào con cũng chỉ thứ hai.. Ai thấm ý tâm lý này thì thank nhé!
  18. Nhập từ Tam muội phóng sinh Sông nước mênh mông… Thả cá ở đây thật tuyệt! Tha hồ bơi lội sau khoảng ngột ngạt trong bao ny-lông. Giăng lưới bắt cá cũng tuyệt(1). Tha hồ rộng rãi… Bên thả. Bên giăng. Trước thả. Sau giăng. Nhìn hai cảnh ấy cũng thấy ngồ ngộ. Thế gian là thế. Ai thả thì thả. Ai bắt thì bắt. Gieo quả nào gặt quả đó. Rồi cứ theo nghiệp mà đi. Còn chúng sinh sống hay chết là do phước đức của chúng. Tôi không chú tâm với việc phóng sinh. Là không chú tâm bỏ tiền mua cá mua chim về thả. Đủ duyên thì làm. Chú tâm và tập thành thói thì không. Có lẽ quá khứ không huân tập nhiều. Hiện đời, có những nghi ngại khiến mình không thấy hứng thú. Cá ếch ngoài chợ không có người thả, chúng vẫn bị bắt ăn thịt, mình thả còn thấy có chút lợi ích cho vật cho người. Nhưng mấy chú chim, không vì nhờ mình cầu phước cho mình, chắc không có chim bị bắt, cũng không có người tạo nghiệp bắt chim. Thả nhiều, bị bắt càng nhiều, người tạo nghiệp bắt chim càng mạnh? Đại sư Trí Giả ngày xưa làm đầm phóng sinh, thuyết pháp cứu vật, cứu luôn nghiệp sát cho người. Người nghe thuyết pháp, chuyển nghề chài lưới khá nhiều. Cho nên, tập trung cho việc chuyển tâm trước đã. Còn việc phóng sinh, khi nào có duyên mới làm. Mấy chục năm trước, chị em chồng tôi bị bắt vì bán vàng chui. Thiên hạ bày mua chim thả. Ừ thì mua chim về thả. Trong cơn hoạn nạn bày gì làm đó, mong sự may mắn xảy ra. Niệm Phật mở lồng, chim bay hết còn lại hai con. Vỗ mấy cũng không ra. Phải cho tay vào bắt. Cái điềm khiến mình suy ngẫm nhân quả ở đời. Nhân gieo một khi đủ duyên thành quả, có phóng cũng chẳng chịu ra. Mà thiệt! Ở hết một năm. Lần hai là vào tháng Bảy năm ngoái. Ngồi mua nấm mà con cá ở hàng bên cứ phóng vào mình. Quá ba bận, không thể không bận tâm. Mấy bà chung quanh không cho phóng sinh, nói chết. Nhảy dữ vậy mà chết? Nhảy vậy nhưng chết giờ. Phóng sinh không phải là nghiệp của mình, lại nghe phóng rồi cũng chết không sinh, lại càng không thấy hứng thú. Niệm Phật và nhủ với nó vài lời rồi đi. Nhưng đi một đoạn lại thấy hối hận: “Chuyện sống hay chết chưa biết. Nhưng nó đã nhảy qua mình mấy bận... Dù gì, không do chặt đầu làm vẩy mà chết, đỡ đau đớn hơn”. Nghĩ rồi, trở lui mua cá, thả ở cái cầu gì đó không biết. Vừa đi vừa niệm. Tha thiết mà niệm cho chúng sống sót, cho chúng an bình. Có chết cũng được một câu niệm Phật hồi hướng gieo duyên. Thiên hạ vẫn nói: “Dân thường tụng niệm phóng sinh không linh, phải có Tăng Ni mới linh”. Cũng biết, dân thường tụng niệm phóng sinh không linh, do tâm dân thường không tịnh. Là do thân tâm, không do đầu áo nhãn mác. Nhưng trong cái duyên lóp ngóp của chúng bấy giờ, mạng treo chỉ mành, gặp được Tăng chúng thanh tịnh, biết còn để hưởng phước không? Thôi thì dồn tâm tụng niệm cho chúng. Quan trọng ở chỗ hữu duyên, có duyên liền ứng. Quan trọng ở chỗ nhất tâm, có tâm liền cảm. Hết lòng niệm Phật nhất tâm hồi hướng cho chúng trước đã. Tôi tu thiền đâu có niệm Phật. Chỉ niệm khi cầu gia bị hồi hướng cho ai. Bởi nghĩ lực mình không đủ, phải cầu các Ngài gia bị cho chắc. Tôi thấy tha thiết và có lòng thành, niệm Phật sẽ được nhất tâm. Ít nhất là vào lúc đó. “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch. Cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn”. Tôi tin như thế và đã làm như thế. Tới đây, không biết có còn duyên nào khiến làm những việc đó không. Không thì chắc cũng không làm. Không làm, nhưng không phản đối khi thấy người làm. Nói “ít” thì chính xác hơn là “không”. Với những cái duyên mình thấy chỉ còn hình thức, trở thành tệ nạn cho chính người đó quá rõ, thì cũng lên tiếng ít nhiều. Còn nghe hay không là việc của người. Nói không phản đối vì nhiều lý do: 1. Thế giới này rộng lớn và còn rất nhiều bí ẩn mà với cái trí hiện nay của tôi, tôi không dám chắc là đã thấy đúng bản chất của mọi hiện tượng để mà phản đối. Quá khứ bản thân lầm lẫn đã có. Người hiểu không đúng về mình cũng nhiều. Đâu thể y cứ một vài hiện tượng nào đó để mà thị phi. Cho nên, duyên nào thiện ác đã phân rõ rồi thì nói, không thì cũng tránh khởi tâm, khỏi tổn đức, mình cũng tránh hại người. 2. Chim cá thả rồi, có thể bị bắt lại liền sau đó, nhưng được một lần chú nguyện, cũng là duyên tốt về sau cho chúng. 3. Sáng nào tôi cũng đi chợ. Chợ đời lắm nỗi nhiêu khê. Ếch bị đập đầu vẫn còn chắp tay lại lạy, cá bị chà đất văng bọt tung tóe… Bao nhiêu oan khiên xảy ra trước mắt như chuyện thường ngày ở huyện. Khoanh một vùng nhỏ, đã thấy chúng sinh khổ nạn rất nhiều. Vật đau hiện tại. Người khổ tương lai. Phóng sinh để chúng thoát khỏi những cảnh đau đớn lầm than, thấy cũng nên làm. Với kẻ đồng lương ba đồng ba cọc lương thiện, dành dụm ít tiền phóng sinh, cho dù mục đích quy ngã vẫn là đáng quý. 4. Chúng sinh cang cường, không phải dạy cho điều hay lẽ phải là đã chịu nghe. Hòa thượng ngày trước, vì lòng bi mẫn, khuyên người bạn tôi hãy thôi quyên tiền cúng chùa làm phước, để tâm cho việc tu hành. Vậy mà bực bội bỏ đi. Trong tâm còn sinh oán giận. Đi cho đủ hết Ta-bà khổ nạn, người đuổi, người chê, mới tỉnh quay về sám hối cạo đầu. Mới thấy, đâu phải nói đúng là đã chịu nghe. Cho nên, Đức Phật ngày trước, còn phải lập bày phương tiện, không thể chỉ thẳng con đường thẳng tắt. Huống thời mạt pháp, chúng sinh mê muội càng dữ, cố chấp tự mãn càng kinh, sơ tâm nếu không thuận theo tính dục của họ, khó mà gần gũi độ họ dài lâu. Cho nên, có khi thấy chim chưa thả đã chết, thấy cá thả rồi có cơ bắt lại tức thì… cũng không có ý phê bình các bậc tôn đức vì sao chú nguyện mà không khuyên người đừng thả? Phương tiện độ sinh không thể nghĩ bàn, kẻ ngoài làm sao biết được. 5. Có khi thấy việc phóng sinh đi quá cái mức bình thường, không còn mang nghĩa phóng sinh, hoặc cầu hết bệnh, an lành, thoát nạn, tức vì tự ngã mà làm, không vì thương tưởng chúng sinh… đúng lý thì thấy không hay cho lắm, nhưng xét trên sự, với kẻ sơ tâm vẫn có mặt hơn. Điều đó cho thấy chư vị đã tin nhân quả, không còn nương tựa tháp miếu cô cậu, van lạy cầu xin mê tín dị đoan. Đã biết xả của, mở lòng… Đó là cái nhân tốt đẹp mở đường cho những suy nghĩ, hành động mang tính nhân quả, phước thiện sau này. Nghĩ vậy, tôi ít khởi tâm phê bình, cản trở khi thấy người muốn phóng sinh. Nhưng làm thì tùy. Tôi chú tâm hơn với việc không giết sinh vật quanh mình. Con rết có cắn, không tâm sát hại đã đành, cũng không khởi tâm oán hận bực bội. Con chuột phá phách cũng không có tâm giết nó. Muỗi mòng các thứ… Tập không khởi tâm bực bội để rồi phải giết. Bạn nói bệnh tật? Tại mình có tâm giết hại mới sinh tai họa bệnh tật. Không tâm, duyên tụ vào đâu để sinh? Nếu sinh, là do nghiệp cũ đủ duyên. Phải trả thì trả, không thích tạo thêm nhân mới. Có khi nhờ vậy lại xóa nghiệp cũ cũng nên. Tôi tin như thế và tập làm dần những việc như thế. Cũng là một cách giải nghiệp cho mình. Nghiệp tịnh thanh rồi, ứng duyên, lợi vật sẽ có lợi ích thiết thực cho đời. Hình thức cần có nội dung Người người thích việc phóng sinh là có nhân duyên. Có người do huân cái nghiệp phóng sinh từ đời quá khứ, giờ đã thành tập, cứ nghe phóng sinh là thích rồi làm, không cần lý do. Có người nghe nói phóng sinh có thể sống lâu, hết bệnh, thoát nạn… nên thích phóng sinh. Tính ra, không phải tu thân, tịnh tâm, giữ miệng mà được cái quả như thế còn gì khỏe bằng. Hiện đời lỡ gieo cái nhân bất thiện cũng thoát tù tội thì sao không làm? Có khi phóng sinh cả mấy trăm triệu cũng vì lý đó. Phóng sinh chỉ vì thương vật, không vì cầu phước, cầu lợi cho mình, chỉ có Thánh nhân làm được. Vì phần tự lợi tương đối hoàn chỉnh, thân tâm như hóa như huyễn cầu chi? Chỉ do bi tâm xuất hiện ở đời độ sinh, vì người vì vật là chính. Còn lại đa phần chúng ta, những việc vị tha đều có vị ngã ít nhiều trong đó. Thành nếu mua cá, thả chim để cầu phước lợi cho mình hay cho người thân là việc tự nhiên. Vẫn là đáng quý, vì mình đã tin nhân quả. Có điều, nên nhìn vấn đề đúng như những gì kinh dạy. Có vậy việc làm mới không hư vọng. Chỉ có hình thức, không đúng bản chất, đến khi cái quả nghịch ý xảy ra, lại trách Phật Tổ nói sai, dang dở niềm tin đối với Tam bảo, không còn hành thiện, đọa ba đường dữ nhanh chóng, uổng phí cho mình. Cho nên, cần hiểu cái lý cho đúng, trên sự làm được đến đâu thì làm. Có làm, dù chỉ chút ít cũng là rất quý. Không nên phương tiện đến nỗi chỉ còn hình thức, trở thành dối mình gạt người. Tôi thấy một đoạn, không biết tác giả là ai, ghi vầy: “Dược Sư Lưu Ly Bổn Nguyện Công Đức dạy rằng cứu thả các sinh mạng, tiêu trừ được bệnh tật, thoát khỏi các nạn tai”. Nói vậy, chỉ cần hình thức phóng sinh, sẽ được cái quả tiêu trừ tật bệnh… Phật tử cũng truyền miệng nhau như vậy. Nhưng khi đọc vào bản kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Ðức,(2) những phần liên quan đến việc phóng sinh, thì thấy không hẳn như vậy. Kinh ghi: “Nếu có người muốn thoát bệnh khổ, nên vì người đó 7 ngày 7 đêm thọ trì 8 phần trai giới. Tùy lực làm được, sắm sửa đồ ăn, thức uống cùng các vật dụng cúng dường chư Tăng, ngày đêm sáu thời lễ bái cúng dường Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng kinh này 49 biến…(3) cũng cần phóng đến 49 tạp loại chúng sinh, thì người bệnh có thể qua khỏi ách nạn, không bị các quỷ ngang ác nhiễu hại”. Hoặc “Nếu các quốc vương dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh mà gặp nạn tai, như dân chúng bị dịch, nước khác xâm lăng, nội loạn, quá thời chẳng mưa... thì lúc ấy các vị phải đem lòng từ thương xót tất cả hữu tình, ân xá tội nhân, y theo pháp cúng dường đã nói mà cúng dường Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Do thiện căn đó cộng với lực bản nguyện của Như Lai, trong nước liền được an ổn, mưa gió thuận thời, lúa thóc được mùa, tất cả chúng hữu tình đều vui vẻ, không bịnh hoạn, không bị thần Dược Xoa bạo ác não hại. Tất cả tướng ác đều ẩn. Các vị quốc vương sống lâu, không bịnh, tự tại, mọi việc đều thêm lợi ích”. Theo đó thì thấy, phóng sinh súc vật chỉ là duyên phụ giúp cho yên ổn, hết bệnh, thoát nạn. Duyên chính vẫn là giữ giới, trì tụng kinh điển, niệm danh chư Phật như lời thệ nguyện mà hàng Dược Xoa nói ở cuối kinh: “Nơi làng, xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có lưu bố kinh này hoặc lại có người thọ trì danh hiệu Dược Sư Lưu Ly, cung kính cúng dường, quyến thuộc chúng con nguyện đều hộ vệ thoát khỏi khổ nạn, các việc mong cầu khiến được thành tựu. Có ai bịnh hoạn khổ ách muốn cầu cho khỏi, cũng nên đọc tụng kinh này, lấy chỉ ngũ sắc kết tên chúng con, sau như ý rồi thì mở kết ra”. Cái chính của việc thoát khổ hết nạn là nhờ từ tâm, không chỉ nằm trên hình thức phóng sinh. Tuy nhờ từ tâm, nhưng sao lại phải trì tụng kinh điển…? Từ tâm là thứ có sẵn trong mỗi chúng sinh, vì bị cái tôi chất đầy phân biệt, ái dục che đậy mà ẩn. Giữ giới, niệm Phật, ngồi thiền, trì chú, hồi hướng tất cả chúng sinh đều được an vui, đều thành Phật đạo, chính là phương tiện giúp xóa cái tôi, hiển phát lòng từ. Ngày xưa, khi Phật ở nước Câu-viêm-di. Vua nước ấy tên Ưu-dà-diên. Đệ nhất phu nhân tên là Xá-ma, là một tín nữ trung thành của Phật và hàng Thánh chúng. Bà thường thân cận cúng dường Như Lai, ca ngợi công đức của Ngài hết mực. Đệ nhị phu nhân thì không. Một lần bà tâu với vua: “Như Lai và hàng đệ tử có chỗ không chánh đối với phu nhân Xá-ma”. Nhà vua nghe xong, nổi giận, lấy cung bắn vào Xá-ma. Vì thương xót vua, Xá-ma nhập Từ tam muội. Mũi tên bắn ra, quay lại dừng trước trán vua. Tên ấy cháy đỏ như một khối lửa trong rất đáng sợ. Vua bắn ba phát, thảy đều như vậy(4). Nói “Từ tam muội” là nói tâm từ bình đẳng. Mong muốn người thân cũng như người oán đều được an vui, vui rồi càng vui thêm nữa. Chính nhờ phát được tâm Từ tam muội nói đó mà mọi nạn tai thoát hết, ngục tù cũng không. Không phải chỉ có hình thức phóng sinh mà thành tựu được. Kinh Phạm Võng nói: “Người Phật tử nếu lấy tâm từ mà làm phóng sinh…”. Đại sư Phật Ấn cũng nói: “Giới sát, niệm Phật kiêm phóng sinh…”. Mọi việc đều cần “từ tâm”. Không với từ tâm, cái quả nhận được chưa hẳn như kinh đã nói. Nếu có từ tâm không cần phóng sinh, bệnh tật, tai ương, hoạn nạn cũng tiêu. Song, có từ tâm cũng không từ chối làm việc phóng sinh. Phóng sinh với một tâm từ, mọi thứ sẽ được chăm chút, sẽ vì sự sống muôn loài phóng sinh đàng hoàng, cũng không sinh tâm ngã mạn thấy mình hơn người… Phóng sinh, phương tiện giúp ta hiển phát tâm từ, cũng là hệ quả tất yếu khi tâm từ hiển phát. Phóng tâm bất thiện đừng để nó sinh Từ tâm, thể hiện qua việc giữ gìn 5 giới của người tại gia. 1. Không vì một miếng ăn ngon mà giết mạng sống của vật. Chẳng qua vì nghiệp huân tập quá lâu, ừ thì chưa thể ăn chay, nhưng bỏ cái tâm sát hại muốn ăn cho tươi, cho bổ. Bỏ được là đã phóng sinh. Phóng đi cái tâm vì mình hại người hại vật. Bỏ rồi, từ từ hướng tới ăn chay. Tập tháng 2 bữa, 3 bữa… cứ thế dần lên. Một lúc nào đó chay tịnh thành nghiệp, thói quen ăn mặn liền lùi. Giữ được không giết dù với vật nhỏ là đang làm việc phóng sinh. Bỏ tiền phóng sinh thêm nữa càng quý. 2. Không vì cái lợi của mình mà nói gian dối, nói lời đâm thọc, chia rẻ, nguyền rủa, phá nát gia cang nhà người. Giữ gìn khẩu nghiệp, không phạm những lỗi như vậy là đang phóng sinh. Phóng đi cái tâm nói dối, gian tham hại người, không để nó sinh. 3. Không vì lợi lộc cho mình mà sinh thu gom, trộm cắp, tham nhũng, nhiễu nhương, khiến người khổ sở vô vàn, rồi đi phóng sinh cầu phước cho mình thoát nạn thoát khổ. Phước vật không bằng phước người. “Cung dưỡng cho hàng súc sinh được phước trăm lần, cho người phạm giới được phước ngàn lần, cho người trì giới được phước vạn lần…”(5). Làm sao phóng sinh cứu vật với tâm vị ngã mà đủ phước đức trả được cái nghiệp mình đã gây khổ cho người? Cho nên, vì do vô minh từ đời quá khứ, không biết mới làm. Giờ đã biết rồi, phóng sinh với tâm hối lỗi vẫn là cái phước gỡ bớt oan khiên, nhưng nhớ chừng đó chưa đủ. Cần phải có tâm ngừa lỗi. Những gì vì tiền mà khiến người khổ, nhất định không làm. Bố thí, xây chùa cho chúng Tăng ở, phước vẫn không bằng chính mình quy y, giữ giới đầy đủ(6). Đừng bán cái đức mà mua cái phước. Vất vả vô ngần! Cố gắng phát huy thiện nghiệp, hồi hướng ác nghiệp tiêu bớt. Đó là phóng đi cái tâm trộm cắp, là giới mà người Phật tử tại gia phải giữ. 4. Không vì tham ái của mình mà làm khổ người. Cái chuyện một vợ một chồng mà vẫn duyên thừa duyên thiếu là chuyện thường tình. Trôi lăn sinh tử bao đời, kết ân, kết oán cũng nhiều, duyên thừa sao mà tránh khỏi. Nhưng có lòng từ, không vì vui riêng mà làm khổ chồng, khổ vợ, khổ con. Ngưng được là đang phóng sinh. Phóng đi cái tâm tham ái tà dâm không để nó sinh cái nhân đau khổ cho người hiện tại, cho mình tương lai. Cái chuyện tà dâm, trong kinh Tăng Nhất A-hàm quyển I, Phật nói: “Hai thứ khiến người tham đắm, đó là dâm ái rượu chè”. Vì thế cần tỉnh ngay từ lúc đầu. Đừng vì một chút lao xao, hồn xiêu phách tán mà bước chân vào, để phải dính chùm với nhau rồi dừng không được. 5. Phật nói: “Ta không thấy một pháp nào đã thực hành, thực hành nhiều mà chịu quả báo súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, còn nếu sinh trong loài người thì bị cuồng si, ngu hoặc, không biết chân ngụy… như là uống rượu. Tâm thích uống rượu thì chỗ sinh ra không có trí tuệ, thường chịu ngu si. Vì thế cẩn thận, chớ có uống rượu”(7). Phật nêu cái nhân, nói luôn cái quả, và khuyên đừng có uống rượu. Uống rượu được… ngu. Ở đời không gì thê thảm bằng “được cái ngu”. Đầu mối của mọi khổ nạn. Cứ nhìn tình trạng uống rượu của toàn thế giới hiện nay, có thể kết luận tương lai thế giới sẽ như thế nào. Không tin nhân quả chính là hệ quả của ngu. Châm ngòi mở rộng kho tàng khổ nạn không dứt. Sống không nghiện rượu, không làm khổ mình khổ người là có từ tâm. Phóng cá, thả chim đặt trên nền tảng tâm từ như thế thì việc phóng sinh của ta dù ít hay nhiều, dù có hay không, đều mang đầy đủ ý nghĩa phóng sinh. Nếu thêm niệm Phật, tham thiền, bố thí… thì không gì bằng. Làm rồi hồi hướng. Nguyện cho tất cả người thân kẻ oán đều được an vui, nghĩ thiện làm thiện để tránh khổ đau. Hồi hướng được vậy, từ tâm đang hiển, sở nguyện đều thành. Không kiếp này thì những kiếp sau cũng thành. Cho nên, không tiền phóng sinh mà chịu giữ giới, niệm Phật, hành thiền, tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, lợi ích cho đời, rồi đem hồi hướng cho mình và người, sở nguyện sẽ thành, nghiệp cũ sẽ tiêu (dù là định nghiệp, tuy vẫn xảy ra, nhưng chuyển ít nhiều)(8). Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bản Nguyện Công Đức cũng nói đến mặt lợi ích của việc thọ trì tụng niệm như sau: “Nếu có người nam người nữ với niềm tin thanh tịnh, nghe được danh hiệu Phật kia, chí tâm lễ kính, ân cần cúng dường, thọ trì, niệm, tụng … nghiệp chướng trừ diệt, được tâm Bồ-đề bất thối chuyển, đầy đủ trí túc mạng, chỗ sinh ra thường được thấy Phật, không bệnh, trường thọ, sau khi mạng chung sinh vào nước đó…”(9). Cho nên, phương tiện chư Phật đưa ra có rất nhiều đường. Quan trọng là hợp với căn cơ mình. Hợp rồi, chịu hành, liền ứng. Nhưng nhớ, thế gian duyên khởi, tùy cơ ứng pháp. Có khi niệm Phật lợi ích cho mình, nhưng phải tham thiền, trì chú… mới lợi cho người. Không phải mình lợi thì người cũng lợi. Mọi thứ tùy duyên. Bố thí, phóng sinh… cũng vậy. Song dù ứng dụng pháp nào, nên tránh tình trạng chỉ có hình thức. Cần rõ nội dung chính xác. Đừng như nhân vật trong kinh Bách Dụ, khổ nhọc cất công đi tìm kho báu. Tìm ra, chỉ lấy tấm chăn phủ ngoài, kho tàng bỏ lại. Nhưng lại không biết, dương dương tự đắc, thỏa mãn cho đã đủ rồi. Chăn ngoài, có thể giúp ta ít nhiều qua cơn lạnh giá, nhưng không cứu nỗi những việc lớn hơn. Cái chính vẫn là làm sao khai phát kho báu trong mỗi chúng ta. Chú thích (1) Chỉ là một câu nói bông đùa. Nó không có giá trị nếu được tách ra khỏi bài viết này. (2)Đại Tạng Kinh, tập 14, kinh hiệu 450, Ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn. (3) Còn nhiều thứ khác. (4) Kinh Đại Bảo Tích quyển 6, phẩm Pháp Hội Vua Ưu-đà-diên. (5) Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển I, Phẩm Địa Chủ. (6) Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển II, Phẩm Tứ Đế. (7) Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển I, Phẩm Ngũ Giới. (8) Kinh Đại Bát Niết Bàn, hệ A-hàm cũng nói đến tu tâm, tu giới, tu thân, tu tuệ chuyển nghiệp. (9)Đại Tạng Kinh, tập 14, kinh hiệu 451, Ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hán văn. Chân Hiền Tâm
      • 4
      • Like
  19. PHỤ NỮ THỰC SỰ MUỐN GÌ? Vua Arthur vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông ta hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu ngài giải được một câu đố cực khó. Thời hạn để Arthur đưa ra câu trả lời là một năm. Nếu sau một năm không tìm ra lời giải, Arthur sẽ phải chết. Câu đố là: Phụ nữ thật sự muốn gì? Đó là câu đố mà có lẽ đến nhà thông thái nhất thế gian này cũng phải bó tay. Và với Arthur câu đố này quả là một thử thách quá lớn. Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là cái chết. Arthur đành chấp nhận mạo hiểm. Khi trở về Anh Quốc, ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa, các cô gái mại dâm, các vị cha xứ đến cả các quan toà, nhưng không ai có thể đưa ra một câu trả lời hoàn hảo. Điều mọi người khuyên vua là đến hỏi bà phù thuỷ già bởi vì có lẽ chỉ còn bà ta mới giải được câu đố hóc búa này. Những ngày cuối năm cũng đã tới gần. Arthur không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Bà ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là bà ta muốn lấy Garwain hiệp sĩ dũng cảm của Hội bàn tròn, người bạn thân nhất của vua.Arthur thất kinh. Bà ta vừa xấu vừa bẩn thỉu. Ngài chưa từng bao giờ thấy một ai đáng tởm như mụ ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy. Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hi sinh đó của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của vua, sự tồn tại của hội bàn tròn và vương quốc Anh. Và chàng hiệp sĩ quyết định hy sinh. Cuộc hôn nhân được chấp thuận và vua Arthur cũng nhận được câu trả lời. Điều phụ nữ thật sự muốn đó là “Có toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình”. Ngay lập tức ai cũng nhận ra rằng mụ ta vừa thốt ra một chân lý. Vua của họ nhất định sẽ được cứu. Quả thật vua nước láng giềng rất hài lòng với lời giải đáp và cho Arthur khỏi cái án tử hình. Lại nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng hiệp sĩ. Tưởng chừng như không có gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng hiệp sĩ Garwain của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ lại lấy bàn tay bẩn thỉu của mụ nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Thật chẳng ra làm sao cả. Mọi người thì hết sức khó chịu.Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng, gì thế này? Trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ. Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng hiệp sĩ, cô gái từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với cô lúc cô là phù thuỷ, nên để thưởng cho chàng hiệp sĩ, cô sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ thương đối với chàng trong một nửa thời gian của 24 giờ một ngày. Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh đẹp của nàng vào ban ngày hay là ban đêm. Chao ôi sao mà khó thế? Garwain bắt đầu cân nhắc: Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng ban đêm làm sao mà ta chịu cho nổi? Hay là ngược lại nhỉ, ta đâu cần sỹ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, nhưng khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút chồng vợ với thiên thần này. Sau đó Garwain đã trả lời “Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu vào lúc nào cũng được”. Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô gái xinh đẹp kia hài lòng và nàng nói với chàng rằng nàng sẽ hóa thân thành một cô gái xinh đẹp suốt đời cho chàng. Đó là phần thưởng cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.....khà ...khà ...
  20. Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton ăn chay, tập Thiền Phật giáo Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã chọn cách thể dục cho ông để đạt tới những đỉnh cao tinh thần -- bằng cách học Thiền Phật giáo để giúp ông thư giãn. Mới gần đây, chính khách 65 tuổi này đã chọn một nếp sống lành mạnh hơn, trong đó có việc ăn chay sau một loạt cơn đau tim trong nhiều năm. Và trong nỗ lực mới để cải thiện sức khỏe, vị chính khách Đảng Dân Chủ này đã thuê (hired) một vị sư Phật Giáo riêng để giúp ông học cách Thiền cho đúng cách. (Người dịch ghi chú: phóng viên không hiểu rằng, Phật Pháp phải dạy miễn phí, và theo luật, không ai có thểthuê được một vị sư nào. Lẽ ra nên nói là "cung thỉnh" thay vì "thuê".) Thông tấn Radaronline dẫn một nguồn tin nói rằng: "Từ khi bệnh tim gây ra nỗi kinh hoàng cho ông ta, cựu Tổng thống Bill Clinton đã tìm nhiều cách để giúp ông thư giãn. Ông ta có đời sống bận rộn, đi lại nhiều trong cương vị làm đặc sứ cho Hoa Kỳ, và cần phải giữ đầu óc cho minh mẫn. Thiền tập đã cung ứng cho ông điều đó, ông ta có một câu thần thú (mantra) mà ông thích tụng lên, và sau mỗi thời Thiền tập, ông cảm thấy được chuyển hóa và đầy năng lực tích cực. Thiền hiển nhiên đã cho ông ta một thế giới tốt lành -- ông cảm thấy thích hợp hơn và mạnh mẽ hơn bao giờ hết." Đi tìm Giác ngộ: Cựu Tổng thống Bill Clinton đã tập Thiền để được thư giãn (ND ghi chú: Phóng viên Daily Mail ghi là thần chú, nhưng có lẽ không phải thần chú. Có lẽ là một câu quy y tam bảo, hay lời nguyện khi ngồi Thiền, hay là lời rải Tâm Từ... Chúng ta không biết rõ chỗ này.)Hồi tháng 2/2004, Ông Bill Clinton được chở gấp vào bệnh viện Columbia Presbyterian Hospital ở New York City sau khi nói là bị đau ngực. Ông cần gắn thêm hai ống thông van tim, và vài tháng sau, trong tháng 9/2004 Bill Clinton trải qua giải phẫu thông tim bốn ống. Năm 2010, lại có một van tim bị nghẹt phải mở lại -- lần thứ nhì giải phẫu tim trong chỉ năm năm -- và ông đã loan báo rằng ông từ bỏ thức ăn nhanh kiểu Mỹ, như bánh mì thịt burger, khoai tây chiên và gà chiên ... để rồi ăn chay. Trở về với truyền thống: Những vị sư Phật giáo đã kiện toàn nghệ thuật Thiền tập từ hàng ngàn năm nay Ông Bill Clinton ăn chay nghiêm ngặt, gồm nhiều rau tươi và trái cây tươi, nhưng cũng thú nhận rằng ông đôi khi ăn cá.Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Giác * Bản Anh ngữ: Chill Bill: Clinton turns to the art of Buddhist meditation to relax By Daily Mail Reporter PUBLISHED: 10:17 GMT, 3 August 2012 | UPDATED: 13:33 GMT, 3 August 2012 Former American president Bill Clinton has taken his exercise regime to spiritual heights - by learning the art of Buddhist meditation to help him relax. The politician, 65, has recently taken up a healthier life-style including becoming vegan after a string of heart problems over the years. And in his latest bid to improve his well-being, the Democrat has hired his own personal Buddhist monk to help him learn how to meditate properly.
  21. CẦU NGUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN? Trong nhà chùa mỗi khi tụng kinh, mọi Phật sự đều có cầu nguyện. Sự cầu nguyện này là chánh tín hay mê tín? Câu hỏi này không thể trả lời một chiều, tùy chỗ hiểu biết của mỗi người, sự cầu nguyện là mê tín, cũng là chánh tín. a) Mê tín Nếu chúng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyện đều được toại nguyện, đó là mê tín. Vì sao? Bởi vì, nếu cầu nguyện mà được, thì không cần nói đến nhân quả nghiệp báo. Nếu mọi sự kiện xảy ra đều do nhân quả thì sự cầu nguyện khó mà toại nguyện. Bởi lẽ, thế gian có kẻ tạo nghiệp lành, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lành khi phước báo đến thì được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ khi nghiệp báo đến, dù có nguyện cầu cũng khó thoát khỏi quả khổ. Thế thì làm sao dám cố định cầu nguyện là được như ý. Người chấp cố định, là sai lầm không hợp lý, nên thuộc mê tín. b) Chánh tín Chúng ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chúc lành là chánh tín. Vì quí kính cha mẹ, quí kính người thân, chúng ta hằng cầu nguyện cho những vị ấy song có được như nguyện hay không, còn tùy thuộc phước duyên dày mỏng của những vị ấy. Mặc dù không được như nguyện, cũng nói lên được lòng hiếu thảo chân thành của chúng ta. Cũng như vì hiếu kính những người trưởng thượng, những bạn bè thân hữu, đầu năm mọi người chúc lành cho nhau. Những lời chúc lành này không hẳn thể hiện được, nhưng cũng nói lên được lòng quí mến nhau.Hơn nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đích phá tan tâm niệm vị kỷ của mình. Bất cứ một Phật sự nào, chúng ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo. Mới nghe qua dường như những lời nguyện suông, không thể thực hiện được. Song trên tinh thần phá ngã, cứ lập tới, lập lui mãi tâm niệm vì tất cả chúng sanh, khiến người ta quên bẵng bản ngã riêng tư của mình. Mọi việc làm đều không phải vì mình, không được nghĩ lợi ích riêng cho mình, mà phải vì nhân loại, vì tất cả chúng sanh. Hằng ngày cứ huân tập mãi tâm niệm này, đến một khi nào đó, chúng ta không còn thấy bản ngã riêng, đồng hóa mình và chúng sanh không khác. Thế là chúng ta phá được chấp ngã và phát tâm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người như của chính mình. Hiểu cầu nguyện và ứng dụng cầu nguyện như vậy, quả thật là chánh tín.
  22. Hé lộ bí ẩn vì sao cô gái chết trước cổng chùa mặc đồ tu 'hiện hình' trên điện thoại Những câu chuyện liên quan đến cái chết của cô gái treo cổ tự vẫn ở cổng Tam quan, chùa Thanh Sơn đến tai nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn thông tin dự báo, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người, và những điều bí ẩn dần dần được hé mở… Sự trùng hợp kỳ lạ… Ông Đặng Văn Triều, công tác tại tổ chức Unesco Phương Đông, chủ nhân của chiếc điện thoại xuất hiện hình ảnh người con gái kì lạ cho biết: "Sau khi trở về từ chùa Thanh Sơn, tôi đã mang những hiện tượng kỳ lạ như cái chết của con rắn lạ tại sảnh trước lối vào động Thanh sơn; chuyện nhóm thợ xây giết, cắt tiết và treo cổ con vật kỳ quái tại cổng Tam quan trước khi cô gái mất một ngày và việc hình ảnh cô gái ấy xuất hiện trong điện thoại của mình cùng chuyện ông sử dụng "năng lượng tia lửa đất" để cầu siêu cho linh hồn cô gái trẻ ra sao, trao đổi với nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn thông tin dự báo, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Sau khi nghe xong câu chuyện, lập tức ông Hải đã thuyết phục tôi trở lại chùa Thanh Sơn một lần nữa. Khi tôi cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải và một số người khác trong đoàn trở lại chùa Thanh Sơn để nghiên cứu sâu hơn về sự việc thì đã phát hiện ra rất nhiều sự trùng hợp kỳ lạ". Trước thông tin còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn này, PV đã liên hệ và có cuộc trao đổi trực tiếp với nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải: "Quả thực sau khi nghe ông Triều kể lại toàn bộ những hiện tượng kì lạ xung quanh cái chết của cô gái treo cổ tự vẫn tại cổng Tam quan, chùa Thanh Sơn, tôi rất tò mò và cho rằng đây là một hiện tượng kỳ lạ, hiếm gặp nên đã đề nghị ông Triều cùng một số người tổ chức một chuyến đi về chùa Thanh Sơn để nghiên cứu rõ hơn về những hiện tượng kì lạ này. Tại đây, khi đối chiếu hình ảnh xuất hiện trong chiếc điện thoại của ông Triều và bức hình nhà chùa thờ vong cô gái xấu số thì có rất nhiều điểm tương đồng, như cùng một người nhưng ở độ tuổi khác nhau. Khi hỏi tên tuổi cô gái, tôi đã hết sức bất ngờ khi phát hiện tên của người đàn bà này trùng khớp hoàn toàn với tên người vợ đã quá cố của tôi: Nguyễn Thị Yến. Điều kỳ lạ hơn, tên chính xác của vợ tôi khi mới sinh ra được bố mẹ đặt là Nguyễn Định Yến, nhưng khi đi làm giấy khai sinh, không hiểu vì lý do gì người ta lại ghi nhầm sang Nguyễn Thị Yến. Thứ hai, ngày mất của cô gái lại trùng với ngày cưới của vợ chồng tôi. Thứ ba, khi chết cô gái treo cổ tự vẫn ở cổng Tam quan, chùa Thanh Sơn, có đội một chiếc mũ len, mặc bộ quần áo màu nâu trong khi đó lúc thời điểm trước khi vợ tôi qua đời cũng có trùm một chiếc khăn nâu, nhìn tựa giống chiếc mũ mà cô gái kia đội và cũng mặc một bộ quần áo tương tự. Hình dáng lúc cô gái mất, cũng gầy gò, nhỏ bé như vợ tôi vậy. Lúc đó, tôi có linh cảm rằng giữa tôi và cô gái này chắc chắn có một mối liên hệ vô hình nào đó, khó giải thích nổi". Bà NguyễnThị Dận, mẹ của cô Yến. Ảnh: Xuân Thắng. Đi tìm lời giải…Trước những sự trùng hợp hết sức kỳ lạ đó, ông Hải đã gặng hỏi sư thầy Đàm Tịnh, trụ trì chùa Thanh Sơn địa chỉ quê quán nhà cô gái kia. Sau đó, sư thầy Đàm Tịnh đã dùng một mảnh giấy ghi chi tiết những thông tin liên quan, cùng địa chỉ nhà cô gái này để cung cấp cho nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải với nội dung: Tên cô gái là Nguyễn Thị Yến, sinh năm Quý Sửu, thọ 37 tuổi, mất ngày mùng 2 tháng chạp, năm KS (tức ngày 16-1-2010). Địa chỉ quê quán tại xóm Ải, thôn Phí Trạch, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội và còn cho biết thêm, người nhà đến nhận xác cô Yến tại chùa Thanh Sơn là anh trai Nguyễn Văn Doanh. Khi đã có đầy đủ thông tin về quê quán của cô gái, lập tức đoàn nghiên cứu gồm có 4 người: ông Hải, ông Triều, một luật sư, cùng một nhà ngoại cảm lập tức lên đường tìm về địa chỉ nhà cô gái để tìm những câu trả lời cho những vấn đề còn đang bị bỏ ngỏ. Hôm đoàn nghiên cứu do nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải dẫn đầu về thăm hỏi gia đình cô Yến và tìm hiểu thêm về những vấn đề xung quanh vụ việc thì lại đúng vào ngày gia đình đang làm cơm cúng 100 ngày cho cô gái. Khi được hỏi về bức ảnh xuất hiện trong máy của ông Triều có phải là cô Yến không, thì phía gia đình xác nhận chính là cô Yến nhưng có điều hình ảnh trong chiếc điện thoại không phải là hình ảnh của cô thời điểm khi mất mà là cách đó 10 năm, tức là vào năm cô 27 tuổi", ông Hải cho biết. Trước những câu chuyện hết sức kỳ lạ trên, nhằm cho bạn đọc có một cái nhìn đa chiều và xác thực, PV đã lặn lội tìm về đúng nhà cô gái bí ẩn để tìm hiểu thêm thông tin xung quanh vụ việc. Trao đổi với PV về đề vấn này, bà Nguyễn Thị Dận, 83 tuổi, mẹ đẻ cô Yến cho biết: "Hôm gia đình tôi đang làm cơm cúng 100 ngày cho cháu Yến thì có một vài người đến hỏi chuyện xung quanh cái chết của con gái tôi. Những người này hỏi rất nhiều như ngày tháng năm sinh của con gái tôi là bao nhiêu, tên chính xác là gì, tại sao lại giúp việc ở chùa Thanh Sơn… Khi họ đưa ra một bức hình trong chiếc điện thoại di động và bảo gia đình chúng tôi xác định xem có phải là cháu Yến không. Khi đó, con trai tôi là Nguyễn Văn Doanh, đã xác định hình ảnh trong chiếc điện thoại của những người này chính là cháu Yến, con gái tôi". Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cùng những người bạn của mình thắp hương trước mộ cô gái trẻ. Ảnh: TL Có duyên với cửa Phật…"Tôi sinh hạ được 5 người con, Yến là con gái út. Khi còn trẻ, nó vẫn phát triển bình thường như bao người khác. Đến năm 20 tuổi cháu Yến vào miền Nam để làm ăn, được 2 năm thì trở về. Sau đó, không hiểu tại sao Yến thường xuyên đi chùa chiền, miếu mạo. Thậm chí còn ở lại giúp việc cho các chùa nơi nó đến, rất ít khi về nhà. Mỗi lần về nhà tôi cùng những người trong gia đình thường động viên cháu nên ít đi chùa và lo chuyện chồng con để làm ăn buôn bán. Tuy vậy, Yến không chịu và còn nói nếu mọi người còn nhắc đến chuyện kết hôn lần nữa thì nó sẽ bỏ hẳn nhà lên chùa, không bao giờ về nữa. Nhiều thầy ở các chùa còn bảo, cháu Yến có căn duyên với cửa Phật nên không sống được tại gia mà phải đi các đền chùa, miếu mạo để ở. Trước thái độ cương quyết của Yến, mọi người trong gia đình tôi đành chấp nhận và không dám nhắc đến chuyện đó nữa. Trước khi treo cổ tự vẫn tại chùa Thanh Sơn, Yến đã đi giúp việc cho rất nhiều chùa, trong quãng thời gian 9 năm", bà Dận cho biết thêm. Cô Nguyễn Thị Yến đã giúp việc ở chùa Thanh Sơn được hơn 1 năm trước khi cô treo cổ tự vẫn tại cổng Tam quan vào ngày 16-1-2010. (Còn nữa) Theo Xuân Thắng - PLXH
  23. Cô gái chết trước cửa thiền 'hiện hình' trong điện thoại của vị khách đến chùa ngồi thiền Sau khi cô gái chết được khoảng 1 tháng, vào một ngày đầu năm 2010, có một vị khách cùng người bạn của ông đến chùa Thanh Sơn để ngồi thiền.Trong quá trình ngồi thiền, ông khách này đã tắt nguồn chiếc điện thoại di động mang theo. Khi thiền xong ông này vào chùa ăn cơm, khởi động lại máy thì phát hiện trên màn hình điện thoại của mình xuất hiện hình ảnh một cô gái lạ, đang trong tư thế chắp tay lễ Phật… Điềm báo… "Sau khi nhóm thợ xây dựng giết hại và treo cổ con rắn lạ trên cổng Tam Quan trước lối ra vào, sau đó, có một nhà ngoại cảm đến chùa để làm lễ thấy vậy liền khiển trách những người thợ, rằng tại sao ở chốn cửa Phật linh thiêng lại có những hành động sát sinh như vậy. Người này đã yêu cầu nhóm thợ làm cổng hạ ngay xác con rắn xuống và bảo người mang đi chôn cất cẩn thận. Chỉ sau một ngày, cô Yến, người giúp việc trong chùa ra đúng cổng Tam quan treo cổ tự vẫn. Vị trí cô gái treo cổ lại trùng với vị trí mà trước đó nhóm thợ đã treo con rắn lên. Lúc này, mọi người mới sực nhớ đến lời nói của nhà ngoại cảm phán trước đó. Một người giúp việc trong chùa cho biết: "Vì chùa nằm sát núi, nên việc nhìn thấy rắn là chuyện bình thường. Nhưng trường hợp con bị mắc kẹt và chết trước sảnh động Thanh Sơn và con rắn bị nhóm thợ giết treo trước cổng Tam quan thì chưa bao giờ thấy, vì hình dáng của hai con này rất lớn, màu sắc kì lạ". Hình ảnh kỳ lạ… Nhưng có lẽ câu chuyện kỳ lạ, khó giải thích nhất xung quanh cái chết của cô gái trẻ là việc, sau khi mất được một tháng. Vào một ngày đầu năm 2010, khi có một vị khách đến viếng chùa, ngồi thiền trong động Hương Đài, thiền xong người này về nhà ăn chùa Thanh Sơn nghỉ ngơi, khi khởi động điện thoại thì bất ngờ xuất hiện hình ảnh một cô gái trẻ, đầu đội mũ len, đang chắp tay niệm phật. Trước câu chuyện mang nhiều bí ẩn này, PV đã có cuộc trao đổi với chủ nhân của câu chuyện này. Di ảnh cô Nguyễn Thị Yến Người đàn ông này là ông Đặng Văn Triều, làm việc tại Trung tâm Unesco Phương Đông, đồng thời là cộng tác viên thân thiết của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người. Trao đổi với PV, ông Triều vẫn nhớ như in cái ngày kỳ lạ đó: Hôm đó là một ngày đầu năm 2010, ông Triều cùng người bạn của mình là ông Nguyễn Đức Chính, có đến chùa Thanh Sơn, thuộc địa phận huyện Mỹ Đức, Hà Nội để ngồi thiền. Do đây là chốn linh thiêng, đặc thù của ngồi thiền cần phải yên tĩnh, nên ông Triều đã tắt điện thoại để tránh bị làm phiền trong quá trình ngồi tĩnh tâm. Hai vị khách ngồi thiền trong chùa Đậu - động Hương Đài, một ngôi chùa cổ nằm sâu bên trong quần thể chùa Thanh Sơn suốt hai, ba tiếng đồng hồ. Ngồi thiền xong, hai vị khách đi ra ngoài nghỉ ngơi và ăn cơm, trên đường đi về nhà ăn của chùa, bất ngờ ông Triều cùng ông Chính nhìn thấy bên vách núi xuất hiện một con rắn màu nâu, hình thù kỳ quái chặn ngang lối đi, lúc đó con rắn còn dựng đứng dậy, mắt nhìn trừng trừng nhìn về phía hai người. Nghĩ chắc là rắn thiêng nên ông Chính đã chắp tay vái còn ông Triều chỉ đứng quan sát, được một lúc con rắn bỏ đi. Thời điểm đó, ông Triều mới lấy điện thoại ra để khởi động lại nguồn, thì lạnh người phát hiện ra trên màn hình điện thoại của mình xuất hiện một cô gái trẻ, đầu đội mũ len, quần áo màu nâu như màu áo của các tăng ni phật tử trong chùa mặc, đang trong tư thế chắp tay niệm Phật. Ông Đặng Văn Triều, chủ nhân của chiếc điện thoại xuất hiện hình ảnh giống với cô Yến. Thấy câu chuyện kỳ lạ, ông Triều đã kể lại với vị trụ trì ở đây thì sư thầy này cũng hết sức kinh ngạc. Lúc đầu, vị trụ trì quan sát rất lâu và có nói với ông Triều rằng, nhìn hình ảnh rất quen không biết đã gặp ở đâu. Sau khi cơm nước xong, ông Triều được trụ trì gọi lên gặp riêng và cho biết, hình ảnh xuất hiện trong điện thoại của ông có rất nhiều nét tương đồng với người con gái đã treo cổ tự vẫn tại chùa trước đó một tháng. Để khẳng định cho những lời nói của mình, trụ trì đã dẫn vị khách đến sảnh trước cửa động Thanh Sơn nơi thờ vong cô gái. Lúc này, khi mang tấm hình xuất hiện trong chiếc điện thoại di động so sánh với bức ảnh cô gái nhà chùa đang thờ thì có rất nhiều nét tương đồng, ông Triều cho biết thêm. Dù gặp phải câu chuyện hết sức kỳ lạ khi đến ngồi thiền tại chùa Thanh Sơn, nhưng đây lại không phải là lĩnh vực ông Triều quan tâm, nghiên cứu nên ông không thật sự để tâm. Cho đến một ngày, ông đem câu chuyện này kể lại với nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn thông tin dự báo, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thì những bí ẩn đằng sau đó dần dần được hé mở… (Còn nữa) Theo Xuân Thắng - PL&XH
  24. Nghe cụ bà 99 tuổi kể chuyện sống lại sau 7 ngày viếng thăm 'âm phủ' Cụ ngưng thở trong vòng bảy ngày rồi bỗng nhiên tỉnh lại. Sau sự cố đó, cuộc đời của bà có quá nhiều điều đổi thay và kỳ lạ. Khi trở về tỉnh Bến Tre, chúng tôi thực sự bất ngờ câu chuyện về cụ già Phạm Thị Tưởng, ở ấp 1, xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đã 99 tuổi có mái tóc dài 3,5 m lại từng ngưng thở suốt 7 ngày, rồi sau đó đột nhiên sống lại. Mặc dù đã 99 tuổi, nhưng cụ Tưởng vẫn khỏe mạnh, đi lại không cần dùng đến gậy. Nhắc đến những chuyện trong quá khứ, cụ vẫn còn nhớ rất rõ. Năm 9 tuổi, trong một lần nằm ngủ, cụ Tưởng mơ thấy có người bảo một thời gian ngắn nữa, bà sẽ phải "lên trời". Người trong giấc mơ bảo, nếu cụ vẫn có “căn” với cuộc sống thì sẽ trở về, nếu không thì sẽ ra đi mãi mãi. Sau đêm mơ đó khoảng chừng mười ngày, trong khi sức khỏe đang bình thường, vẫn chơi đùa với lũ bạn hàng xóm, bỗng nhiên sức khỏe của cô bé Tưởng trở nên yếu ớt. Bởi bị ám ảnh bởi giấc mơ và cho rằng đó chính là điềm báo, cô bé bảo với cha mẹ: “Con 'lên trời' đây. Nếu bảy ngày sau, con không trở về thì hãy làm ma chay”. Chỉ mới nói dứt lời, cô bé Tưởng tắt thở. Mặc dù đã 99 tuổi nhưng cụ Tưởng vẫn đi lại một cách bình thường Khi đó, cả gia đình cụ rất đau buồn, dù không dám tin lời của con đã nói trước khi chết, nhưng mọi người trong gia đình vẫn nuôi hy vọng mong manh con mình sẽ sống lại nên không làm ma chay. Hồi đó, cha mẹ cô bé Tưởng đi khắp các chùa chiền để khấn cầu con mình có thể trở về.Bảy ngày trôi qua, thấy cô bé Tưởng bắt đầu cử động một cách yếu ớt, mắt dần dần hé mở. Mọi người lúc này vui mừng khôn xiết, cố gắng đút từng thìa cháo cô bé ăn. Cụ Tưởng chuẩn bị thắp nhang ở miếu của mình Cụ Tưởng chia sẻ, mình không hề biết gì trong bảy ngày ngưng thở. Trí nhớ của cụ trong suốt bảy ngày đó chỉ là một khoảng trống không có bất kỳ hình ảnh nào còn lưu lại.Sau lần chết hụt đó, cô bé Tưởng không thể ăn bất kỳ thứ gì liên quan đến động vật, thức ăn chủ yếu đến nay của cụ là thực vật. “Tui không thể nào ăn sướng được. Cứ mỗi lần ăn thịt là lại nôn thốc nôn tháo”, cụ rành rõ chia sẻ. Về già, bên cạnh ăn hoa quả, cụ còn có thể ăn sống mì tôm chay chay. Cụ không hề cảm thấy cuộc đời của mình là kham khổ. Một điều kỳ lạ là từ sau khi chuyện ngưng thở bảy ngày rồi sống lại, ngoài việc không ăn được thức ăn động vật, thì hễ ai động đến mái tóc hay mái tóc chạm vào nước là đầu của cụ lại bị đau. Ban đầu, vẫn chưa biết chuyện này, cha mẹ cụ vẫn cho con tắm rửa một cách bình thường. Tuy nhiên, sau mỗi lần tắm, họ lại thấy con ốm nặng, phải chừng mười ngày sau mới khỏi. Sau nhiều lần như vậy, cha mẹ mới phát hiện những cơn ốm "thập tử nhất sinh" của con là do động đến nước. Cũng từ đó, bé Tưởng “cạch” nước. Cụ Tưởng lau nước mắt khi nhớ lại những chuyện đã qua Trên cơ thể cụ Tưởng, chỉ có hai tay và hai chân là có thể tiếp xúc với nước, còn những bộ phận khác thì không. Đã gần 90 năm trôi qua, cụ không hề tắm gội. Hàng ngày, cụ chỉ dùng khăn lau cơ thể và thay áo quần rồi giặt. Nhưng cơ thể của cụ vẫn không hề bị "bốc mùi".Cũng chừng đó năm, mái tóc của cụ Tưởng cũng không được cắt. Sau khi hồi sinh, mỗi khi cắt tóc là cụ đau đầu đến mức không chịu đựng nổi. Đến năm mười tuổi, mái tóc của cụ bỗng nhiên bết dính lại với nhau. Không được tắm gội, cắt tỉa, nên đến nay, mái tóc ấy đã dài 3,5 m. Để mái tóc không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của mình, cụ Tưởng may một túi màu nâu để đựng tóc rồi quấn xung quanh cổ của mình. Chúng tôi ngỏ ý muốn tận mắt chứng kiến mái tóc kì lạ thì cụ từ chối và cho rằng: “Đã mấy chục năm rồi không ai có thể nhìn thấy mái tóc của tui. Đến những người bà con cũng không được”. Theo lời cụ, mặc dù sắp bước sang tuổi 100 nhưng mái tóc của cụ chỉ có một vài sợi bạc, còn lại có màu nâu hạt dẻ. Khi hỏi về bí quyết sống trường thọ mà vẫn khỏe mạnh, cụ từ tốn chia sẻ: “Tui không có bất kỳ bí quyết gì. Có lẽ do tui không ăn thức ăn động vật mà chỉ ăn thức ăn thực vật và thường xuyên đi lại, nên mới có sức khỏe như thế này. Không chỉ thế, tui vẫn thường đọc kinh Phật để ngẫm về cuộc sống”. Theo ông Phạm Văn Lâm (người cháu gọi cụ Tưởng bằng cô ruột, 62 tuổi) cho biết, cụ Tưởng luôn bảo cháu chắt trong gia đình phải thường xuyên đọc kinh Phật. Điều cụ dạy con cái không có gì cao xa mà chỉ bảo cuộc đời chỉ có một chữ không. Cứ lấy chữ “không” trong kinh phật mà sống. Bởi con người đến với cuộc đời từ một con số không và khi trở về cát bụi cũng chỉ là một con số không. Do đó, không nên chạy theo danh lợi hay để lòng mọi chuyện, không suy nghĩ quá nhiều để khiến tâm não không được yên bình. Đến nay, cả gia đình cụ đều theo đạo Phật. Mặc dù không lên chùa để tu, nhưng cháu chắt cụ luôn tâm niệm nghe theo lời dạy của cụ để sống tốt với mọi người. Như ông Tâm, thường xuyên ăn chay tịnh, đọc sách Phật… mặc dù đã bước sang tuổi lục tuần nhưng nhìn cứ ngỡ chưa tới năm mươi. Không chỉ thế, cụ Tưởng rất vui khi kể về khoảng thời gian mình vẫn còn trẻ. Lúc bước vào độ tuổi trăng tròn, cụ phải quấn mái tóc lên cổ ra đồng để giúp bố mẹ cấy, cắt lúa. Với tính nết hiền lành lại xinh đẹp nên cụ có khá nhiều người thanh niên chọc ghẹo và tán tỉnh. Chính cụ cũng không thể nào hiểu được tại sao mỗi lần bị những người thanh niên này chọc ghẹo về chuyện trai gái thì đầu cụ rất đau. Những điều này chỉ kết thúc khi cụ quyết định lên chùa đi tu. Cụ Tưởng luôn giữ cho mình giấc ngủ trưa mỗi ngày Được biết, trước đây, cụ tu ở chùa Phước Huệ. Cách đây hai năm, do nhận thấy mình đã già nên cụ xin trụ trì được trở về gia đình để thờ phụng Phật. Khi cụ trở về, các phật tử yêu mến, góp tiền và đã xây cho cụ một ngôi miếu khang trang trong mảnh đất của chính gia đình để cụ tụng kinh. Chính vì vậy, người dân ở địa phương gọi cụ với một cái tên thân thương là cụ Tư Miễu.Mặc dù xin trụ trì chùa Huệ Phước được về gia đình để cháu chắt của mình chăm sóc, nhưng cụ luôn muốn tự làm tất cả mọi chuyện. Đồng thời, do sức vẫn còn khỏe mạnh nên việc vệ sinh thân thể, cụ vẫn có thể tự làm không cần sự giúp đỡ của người thân. Không chỉ thế, việc cơm nước, thờ phụng, hương khói, cúng bái trong ngôi miếu của mình, cụ đều tự lo cho mình. “Tui không muốn phụ thuộc vào mọi người. Dù già, nhưng vẫn còn chút sức lực nên tui vẫn tự làm việc. Tui chỉ chấp nhận ngồi không khi không thể nhúc nhích. Các cháu có việc của các cháu, tui có việc của tui”, cụ hóm hỉnh, cười tươi tâm sự. Cụ Tưởng chia sẻ, mình từng được đi rất nhiều nơi như Hà Nội, Huế, Tây Ninh… Mỗi chuyến đi với cụ là cả một niềm vui. Cụ có thể kể hết những nơi mình đã đi qua, những kỉ niệm có được trong chuyến đi đó. Tuy nhiên, nơi cụ thích đến nhất là Hà Nội vì ở đó là thủ đô của đất nước. Mỗi lần cụ ra Hà Nội, nơi cụ đến sớm nhất là lăng Hồ Chủ Tịch. Bên cạnh đó, cụ có thể kể chi tiết từng lăng tẩm ở Huế như thế nào… Cụ Tưởng men theo con đường nhỏ ra đường lớn tiễn chúng tôi trở về thành phố Cụ Tưởng cho biết mình rất thì rất thích đi leo núi. Cách đây hai năm, tức 97 tuổi, cụ đã cùng cháu của mình tự leo lên núi ở Tây Ninh để lên thăm chùa Bà. Trong lần đi này, các cháu sợ cụ đã già nên khẩn khoản xin được cõng, nhưng cụ vẫn một mực không đồng ý, leo một mình và cuối cùng lên được đỉnh.Chúng tôi chia tay cụ Tưởng sau một khoảng thời gian nói chuyện. Cụ tiễn chúng tôi ra đến đường đi rồi cầm tay nói “lúc nào có cơ hội về Bến Tre, các con nhớ trở lại miễu để thăm bà nhé!”. Theo Duy Ca - Xzone/TTTĐ
      • 3
      • Like
×
×
  • Create New...