-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Tôi lại đạp xe đèo em đến lớp Xích lô đi về trong lễ đón dâu Chị tôi chạy bộ ra siêu thị mua rau ..Và Công an nghĩ hưu vì không ai vượt đèn đỏ Mũ bảo hiẻm bỗng nhiên vứt xó Chó chạy tung tăng trên phố với ông già Mẹ tôi rồ xe đạp điện rồ ga Cụ hàng xóm trượt patin đi mua rượu Ôi cuộc sống thời xăng lên giá mới bình dị và thơ mộng biết bao!
-
Bonne anniversaire THIÊN ĐỒNG
-
Theo tôi thì Quy Y hay đệ tử Phật càn sớm ý thức giác ngộ pháp để chuyển hướng tâm tánh làm lành lánh dữ, còn cầu mong cải số để làm giàu tôi e rằng lại mang tinh thần đánh đổi ngã giá! Vì thế đã có người nói "đến chùa nhiều chưa phải đã chuyển tu" hiện nay con người ta quá chông chênh trong cuộc sống cũng tìm đến tâm linh nhưng chỉ mong tìm lại cho mình chút an lạc đã khó nói gì đến chuyển nghiệp xa hơn nữa là cãi số phận !
-
Cờ bạc, đá gà, bỏng ngô và những mạng người Cái ngày ấy, ở Long An, bà Trần Thuý Liễu (nội trợ) thừa nhận với cơ quan công an về hành vi đốt chồng (nhà báo Hoàng Hùng), dẫn đến cái chết của anh. Ở An Giang, ông Phùng Hoài Anh (lái xe ôm) tưới xăng đốt vợ (làm nghề bỏ mối chổi lau ngoài chợ, bị phỏng 72%) và đứa con 18 tháng (phỏng 20%). Ở Latvia (một quốc gia ở châu Âu thuộc Liên Xô trước đây), một thanh niên 27 tuổi (có giấy phép sử dụng súng) bắn chết một người đàn ông 42 tuổi trong rạp chiếu phim, khi rạp này đang chiếu bộ phim tranh giải Oscar 2011 Thiên nga đen (Black swan). Tin tức mô tả nguyên nhân chính của các vụ án mạng nêu trên có vẻ như rất đơn giản. Bà Liễu, vì cờ bạc (theo lời khai của bà với cơ quan điều tra) nên mắc nợ dẫn đến việc phải giết chồng nhằm có thể bán nhà trả nợ. Ông Hoài Anh tưới xăng đốt vợ con vì vợ đã dám bán mấy con gà đá độ của anh ta để mua sữa cho con. Anh thanh niên 27 tuổi ở Latvia bắn chết ông khán giả 42 tuổi ngồi kế bên, vì ông này nhai bỏng ngô tạo tiếng động quá to khiến anh ta không tập trung xem phim được (hãng thông tấn Lenta của Latvia được các nhân chứng xác nhận: ông khán giả nọ quả là nhai bỏng ngô quá to trong không gian im lặng của rạp chiếu phim!) Mọi câu chuyện trên đời này đều có nhân có quả. Nhưng, thứ nhân – quả nhuộm màu của cái ác, như các câu chuyện trên đây, đã khiến cho những ai còn phấp phỏng lo âu giữ gìn cho sự tử tế giữa con người buộc phải bật lên câu hỏi: vì sao lại đến nỗi như thế? Cờ bạc là bác thằng bần. Ai cũng biết thế và hầu hết đều muốn tránh xa tệ nạn ấy. Nhưng không phải ai cũng tránh được, và cũng không phải ai hễ lâm vào bước đường cùng cũng đều nghĩ tới chuyện giết chồng (như bà Liễu). Ai cũng có lúc tức tối khi vợ hoặc chồng xâm phạm sở thích riêng tư của mình, nhưng không phải ai, khi rơi vào trạng thái ấy cũng đều tưới xăng đốt vợ và con (như ông Hoài Anh). Ai cũng có lúc bị làm phiền ở nơi công cộng (bị nghe ai đó nói chuyện điện thoại to như ở chốn không người, bị ai đó chen ngang khi mọi người xếp hàng, bị người ta chửi tục vào mặt khi mình lỡ va chạm ở chốn giao thông đông đúc…), nhưng không phải ai cũng có thể giết chết người làm phiền mình như anh thanh niên ở Latvia kia. Những món nợ cờ bạc của bà Liễu, mấy con gà đá của ông Hoài Anh hay tiếng nhai bỏng ngô rất to làm phân tâm người khác khi đang xem phim hay, tất thảy duyên cớ trên đều hoàn toàn có thể giải quyết mà không phải bằng những cách lấy đi mạng sống của một con người. Hành vi của kẻ thủ ác, lắm lúc bộc phát trong tích tắc, chỉ được xã hội nhận biết khi hậu quả đã xảy ra. Chẳng mấy ai để ý rằng, hành vi gây ác của tội phạm thường đã ẩn chứa sẵn từ bên trong con người họ, và vô tình được dung dưỡng bởi môi trường xung quanh. Thoạt tiên là sự ích kỷ, lấy việc thoả mãn nhu cầu và sở thích của cá nhân mình làm đầu, ai hoặc cái gì làm cản trở sở thích ấy đều có thể “bị trừng trị”, bất chấp sự không kiềm chế ấy có ảnh hưởng thế nào đến người xung quanh, dù đó là hàng xóm, đồng nghiệp, bạn bè hay người ruột thịt. Kế đến là sự “trợ giúp” của hoàn cảnh cho cái ác. Không có giải pháp thoả đáng để hạn chế và khống chế khả năng bành trướng của sự ích kỷ (gia đình và cộng đồng có nhận thấy biểu hiện của sự ích kỷ, nhưng lại coi thường nó, không xem nó là thói xấu đối lập với phẩm chất nhường nhịn, bao dung mà con người cần được khuyến khích hình thành). Không có sự kiểm tra và kiểm soát hiệu quả đối với những người được giao cho sử dụng phương tiện và thẩm quyền đặc biệt (như là việc cấp phép sử dụng súng đạn; quản lý axít và các chất độc hại có thể gây tử vong cho con người…) Giá mà thói mê cờ bạc của bà Liễu được phát hiện sớm hơn và được quyết liệt ngăn chặn bằng chính tình cảm và trách nhiệm của những người thân trong gia đình; giá mà cô vợ của ông Hoài Anh biết rằng, đối với gã chồng mê đá gà hơn là lo cho sự túng thiếu của gia cảnh và con thơ khát sữa, thì việc bị vợ bán đi mấy con gà đá sẽ có thể là cái cớ để bùng cháy cái ác ẩn nấp sẵn trong con người anh ta; giá mà ông khán giả bị bắn chết trong rạp phim ở nước Latvia kia hiểu thấu đáo rằng, ăn bỏng ngô khi xem phim là chuyện cá nhân, nhưng nhai món bỏng ngô ấy to quá mức lại là hành vi thiếu tôn trọng người khác ở nơi công cộng… Nhưng, trên hết, giá mà các loại tâm trạng xã hội tưởng đơn giản mà hoá ra phức tạp khôn lường ở hành vi phản kháng ấy được gia đình và mạng lưới các tổ chức xã hội (hiện đang tồn tại dày đặc ở nước ta) quan tâm đúng mức và tìm ra các giải pháp loại trừ từ lúc manh nha; giá mà văn hoá hoà bình – được hiểu như là hệ thống các giá trị ứng xử xã hội (lấy sự tôn trọng cá nhân trong cộng đồng, sự lắng nghe lẫn nhau, sự bao dung và lượng thứ làm hạt nhân cốt yếu) – được xây dựng và hình thành như một thói quen ở mỗi thành viên trong xã hội, thì có lẽ những cái chết oan ức, đau lòng trên đã không xảy ra… Nguyễn Thế Thanh
-
Những loại cây và hoa độc Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, các loài thảo mộc vô cùng phong phú, nhất là các loại cây ăn quả, cây làm thuốc. Tuy nhiên, cùng với tác dụng tốt cho sức khỏe, nhiều cây cũng có chứa chất độc có thể gây nguy hiểm tới sức khỏe con người và động vật. Cây Lô Hội. Có một số cây thường được dùng làm thuốc nhưng đồng thời đây cũng là cây có chất độc. Vì vậy nếu sử dụng sai chỉ định, sai cách dùng, quá liều lượng quy định thì từ việc dùng làm thuốc sẽ dẫn tới ngộ độc, tác dụng sẽ ngược lại và cực kì nguy hiểm đến tính mạng. Cây Mã tiền (Strychnos nux vonica L) Mã tiền còn gọi là Hoàng nàn, mọc hoang ở nhiều tỉnh miền núi. Thành phần hóa học chủ yếu là chất strycnin chiếm 43 - 45%. Mã tiền dùng cả trong Đông và Tây y làm thuốc kích thích thần kinh trung ương. Cây còn được dùng để chữa ghẻ và các bệnh ngoài da. Người ta ngâm hạt mã tiền với rượu để xoa bóp chỗ đau. Mã tiền rất độc, có nhiều trường hợp uống nhầm rượu mã tiền gây ngộ độc. Mã Tiền Người bị ngộ độốic biểu hiện ngáp, rối loạn tiêu hóa, nôn. Trường hợp nặng thì tứ chi co cứng, người bị uốn cong như lên cơn uốn ván, sợ ánh sáng. Mạch nhanh, yếu, dễ tử vong vì ngạt thở. - Xử trí: Rửa dạ dày sớm, uống than hoạt tính, chống ngạt thở, truyền dịch, uống thuốc an thần, nếu nặng cần khẩn trương đưa lên tuyến trên. Cây Xoan (Melia azedarach) Xoan có tên khoa học là Melia azedarach. Xoan mọc hoang ở nhiều nơi. Lá, thân và quả xoan đều độc. Người ta dùng lá xoan lót vào chum, vại để trừ sâu mọt hại thóc, đậu, lạc. Trường hợp ngộ độc thường do dùng lá xoan để tẩy giun, chữa ghẻ hay trẻ em ăn quả xoan chín. Dấu hiệu ngộ độc là đau đầu, đau bụng quằn quại, chóng mặt, nôn mửa, tiêu chảy nhiều lần, mệt lả, khó thở, tim đập nhanh, huyết áp tụt, nhiễm độc thần kinh, co giật, hôn mê và dẫn đến tử vong. - Xử trí: Khi bị ngộ độc thì tìm mọi cách gây nôn, rồi cho uống lòng đỏ trứng, than hoạt tính, nước đường, truyền dịch và đưa đi bệnh viện cấp cứu. Không nên tẩy giun, chữa ghẻ bằng lá xoan. Cây xương rồng (Euphorbia antiqorum L) Xương rồng có tác dụng sát khuẩn, chữa viêm răng lợi, chữa các mụn bọc, xơ gan cổ trướng nhưng mủ nhựa cây xương rồng rất độc. Chỉ cần một ít nhựa bắn vào mắt đã gây mù. Nhựa xương rồng dính vào da, niêm mạc sẽ làm phồng da, rát bỏng. Uống phải nhựa xương rồng sẽ bị ngộ độc, đau bụng dữ dội từng cơn, vã mồ hôi, nôn thốc tháo và đi ngoài liên tục. Lúc này phải nhanh chóng móc họng gây nôn, uống lòng trắng trứng, ủ ấm và truyền dịch. Nếu bị phồng rộp da thì dùng nước muối 0,9% rửa sạch, dùng panthenol xịt kín mặt da. Cà độc dược (Datura metal L) Cà độc dược có chứa chất hyoxin hay scopolamin và atropin. Cây mọc hoang ở khắp nơi. Cà độc dược có một số tác dụng y tế, chữa một số bệnh nhưng khi uống quá liều thì bị ngộ độc, triệu chứng xuất hiện rất rầm rộ. Chất độc ức chế thần kinh trung ương làm bệnh nhân choáng váng, vật vã, sốt, môi khô, miệng khát, tim đập nhanh, thở yếu, đồng tử giãn, liệt tứ chi, hôn mê rồi dẫn đến tử vong. - Xử trí: Phải khẩn trương vì chất độc mạnh và có nhiều triệu chứng xuất hiện cùng một lúc. Rửa dạ dày bằng dung dịch tanin 0,4% hay dung dịch lugol loãng, uống than hoạt, lasix, an thần, bù nước và điện giải. Bệnh nhân nặng phải được gửi ngay lên tuyến trên. Cây Lô hội (Aloe sp) Còn có tên là lưỡi đỏ, long tu. Là cây thuốc được dùng trong Đông y và Tây y, vừa để làm cây cảnh. Nếu dùng với liều 0,1 - 0,5g nhựa lô hội có tác dụng kích thích tiêu hóa, nhưng với liều 8g sẽ gây ngộ độc, làm sung huyết niêm mạc ruột và thận. Triệu chứng ngộ độc là đau bụng dữ dội, nôn mửa liên tục, đi ngoài lỏng, xuất huyết đường tiêu hóa. Trường hợp nặng có thể vô niệu, đưa đến tử vong. Phụ nữ có thai sẽ bị sẩy. - Giải độc: Phải khẩn trương loại chất độc ra khỏi cơ thể bằng cách rửa dạ dày, uống than hoạt. Chú ý đề phòng trẻ em, người lớn cắn hay ngậm lá cây vào miệng rất nguy hiểm. Củ Ấu tầu (Aconitum fortunei Hemsl) Còn gọi là ô đầu và phụ tử, ấu tầu. Cây mọc hoang ở vùng núi cao biên giới nước ta. Thành phần hóa học ô đầu chứa khoảng 0,5% alcaloid toàn phần. Chất độc là aconitin. Nhân dân thường thái mỏng củ để ngâm rượu, dùng xoa bóp chỗ đau nhức, sai khớp, chỗ đụng dập. Người bị ngộ độc thường do uống nhầm phải rượu xoa bóp hoặc cố ý uống. Liều độc là 1 - 6mg aconitin. Sau khi uống rượu củ ấu tầu thấy cảm giác kiến bò, lưỡi như to ra, tê các đầu chi, chóng mặt, giật các đầu chi, nôn, tiêu chảy, rối loạn nhịp tim, sau đó rung thất, có thể hôn mê, suy hô hấp và chết. Khi phát hiện người bị ngộ độc, cần mau chóng chuyển bệnh nhân lên tuyến trên. Bên cạnh các loại cây, thì còn có nhiều loại hoa chứa chất độc, trong đó có những loại hoa đẹp, được sử dụng phổ biến và thậm chí, được nhiều người cắm trang trí trong nhà. Nếu không cẩn thận, chúng ta có thể bị nhiễm độc, gây nguy hiểm đến sức khỏe, thậm chí tính mạng. Cây Trúc đào (Oleander) Trúc đào là một trong những loài thực vật có độc tính cao nhất và chứa nhiều hợp chất có độc, nhiều hợp chất trong số này có thể gây tử vong ở người, đặc biệt là trẻ em. Toàn bộ cây này, bao gồm cả nhựa cây màu trắng sữa là rất độc và bất kỳ bộ phận nào đều có thể gây ra các phản ứng có hại cho sức khỏe. Chỉ cần ăn phải từ 10-20 lá trúc đào thì một người lớn cũng có thể bị nguy hiểm đến tính mạng và chỉ cần 1 chiếc lá cũng có thể gây tử vong ở trẻ em. Ăn phải trúc đào có thể gây ra các triệu chứng đối với cả đường ruột và tim mạch. Sau 5 - 10 phút chất độc vào cơ thể, người mệt lả, mắt hoa, đầu choáng váng, mặt tái, nôn mửa dữ dội, bụng đau quằn quại. Nặng thì hôn mê, mạch nhỏ, chậm, huyết áp tụt, thiếu ôxy não, tử vong nhanh. Khi bị ngộ độc thì tìm cách cho nôn ra. Trong mọi trường hợp phải đưa nạn nhân tới bệnh viện ngay để kịp thời xử lý. Lưu ý: Không nên trồng trúc đào gần nguồn nước ăn, vì lá rụng xuống làm nhiễm độc nguồn nước. Hoa Lan chuông Loài cây này có những nhành hoa màu trắng hay màu hồng hình dáng như quả chuông. Lá hình chiếc ca-nô. Hoa có chút hương thơm dịu dàng, dễ chịu. Thuở xa xưa, người ta tin rằng chà hoa này trên trán là một phương thuốc sẽ làm cho ta "cảm thấy dễ chịu". Hoa lan chuông Tuy nhiên, đừng vì sự "cảm thấy dễ chịu" mà các bạn ham đùa giỡn với loài hoa này. Toàn thể cây hoa, nhất là những trái nhỏ, chứa chất độc rất mạnh, chỉ cần 4 giọt ép ra là có thể giết chết một con chó. Cây Phi yến - Tên khoa học: Delphinium Tất cả các bộ phận của cây đều có chứa một chất có tên gọi Alkaloid delphinine gây ra nôn mửa nếu ăn một lượng nhỏ, có thể dẫn đến tử vong nếu ăn nhầm với số lượng lớn. Cây Thuỷ tùng - Tên khoa học: Taxus Baccata Thủy tùng có trái màu đỏ mọng rất ngon mắt nhưng thực tế loại cây này có chứa độc tố Tananes, chất độc này tập trung nhiều nhất trong phần hạt. Nhiều người đã tự tử bằng cách nuốt lá và nhai hạt thủy tùng. Cây hoa Đỗ quyên – Tên khoa học: Rhododendron occidentale Tất cả các bộ phận của cây đều có chất độc Andromedotoxin và Arbutin glucoside. Người bị ngộ độc do loại cây này thường có triệu chứng buồn nôn, chảy nước dãi, ói mửa, uể oải, chóng mặt, khó thở, mất cân bằng. Một lượng 100 đến 225 gram lá Đỗ quyên đủ để gây ngộ độc nặng cho trẻ em 25 kg. Cây Ngoắt nghéo - Tên khoa học: Gloriosa superba Củ và hạt có chất kịch độc Colchicine và một số chất Alkaloid khác mà nếu ăn vào sẽ gây tê lưỡi, làm cho cơ thể mất cảm giác, nặng thì hôn mê và nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Cây Ngọc trâm - Tên khoa học: Cyclamen persicum. Củ của cây này có chất độc Alkaloids gây khó tiêu, tiêu chảy, ói mửa. Cây hoa Thuỷ tiên - Tên khoa học: Narcissus Củ của cây có chất Alkaloids Lycorine gây chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, run rẩy toàn thân, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong khi ăn phải. Trên thân cây còn có độc tố có thể gây viêm da. Cây hoa Hồng môn - Tên khoa học: Anthurium Các cuống và lá cây đều có độc, nếu ăn phải thì miệng sẽ nóng bừng rồi sưng và nứt nẻ. Tiếng nói sẽ trở nên khàn và cảm thấy khó nuốt. Tuy nhiên, các triệu chứng trên sẽ tự mất dần. Cây hoa Thiên điểu - Tên khoa học: Strelitzia reginae Hoa và hạt của cây có các chất gây ngộ độc đường ruột. Tiếp xúc hoặc ăn hoa, hạt sẽ khiến buồn nôn, tiêu chảy, chóng mặt. Cây hoa Cẩm tú cầu - Tên khoa học: Hydrangea macrophylla Lá và củ cây có chất Hydragin-cyanogenic glycoside gây tiêu chảy, ói mửa, thở gấp. Các gia đình nên cẩn thận khi cắm những loại hoa này, tránh để trẻ nhỏ nghịch ngợm. Nếu có hiện tượng bất thường xảy ra, cần ngay lập tức đưa người bị nhiễm độc đến cơ sở y tế gần nhất để kịp thời xử lý. Kim Hải (VTV)
-
Một nữa của TĐ như sương khói! Vừa nhổ râu cằm vừa bói mãi không ra bởi anh đang tìm mãi Thiên Nga Mà nơi Quán ...Việt loanh quanh chỉ trà là...
-
Cũng có thể là: Quán xét tâm như Bồ tát tức Đắc Hạnh ? Thiển ý của Cô!
-
Nước gừng nóng có thể làm mờ tàn nhang Gừng quen thuộc trong các bữa ăn có thể dùng làm đẹp và chữa bệnh. Pha và nước rửa mặt một ít nước gừng nóng sáng hoặc tối, mỗi ngày một lần, trong 60 ngày có thể dứt mụn. Trị mụn, mờ tàn nhang Pha và nước rửa mặt một ít nước gừng nóng sáng hoặc tối, mỗi ngày một lần, trong 60 ngày có thể dứt mụn. Với những ai có tàn nhang, đốm đen trên mặt, da khô cũng có tác dụng nhất định. Chữa ho, đau đầu Khi bị ho, đau đầu, cảm sốt, cảm lạnh… mỗi tối ngâm chân với nước gừng nóng (có thể thêm chút muối, giấm) sẽ thấy hiệu quả trong ba ngày. Cách này còn là bí quyết loại bỏ mùi hôi ở chân. Trị đau họng Viêm họng và khổ sở với những cơn ho kéo dài, mỗi sáng và tối hãy súc miệng với nước gừng nóng thêm chút muối. Trị gàu Sau khi gội xong, hãy xả tóc và matxa da dầu với nước gừng nóng, sẽ có tác dụng trị gàu hiệu quả. Thường xuyên dùng cách này mỗi khi gội đầu cũng là bí quyết ngăn và chữa hói. Ngăn xơ vữa động mạch Mỗi buổi sáng và tối súc miệng với nước gừng nóng và uống một cốc trước khi ngủ có thể thúc đẩy tuần hoàn máu, ngăn xơ vữa động mạch. Theo DanViet
-
Không khác nhau về chủ vị Thờ là Đức Phật, nhưng có khác ở điểm Tịnh Thất được xây dựng như am, cốc, nhà, gọi là "cải gia vị tu" cũng đủ ban bệ thờ và đủ pháp giới về kinh kệ tu tập hướng dẫn đạo pháp, vị trụ trì hay Cư Sĩ đã xuất gia hàng năm cũng tập trung về tp tu học nhập hạ. Cũng được giáo hội công nhận và thực hành các pháp tu truyền thống. Nhưng danh Tịnh Thất cũng để chúng ta biết đây là phái tu Pháp môn Tịnh Độ. Vài hiểu biết cơ bản để đóng góp cho câu hỏi của VuSongAnh.
-
Có thể hiểu như thế này được không? " Hành Bồ Tát đạo tự quán xét mình, thấu hiểu nhiều đời Ba La Mật, mở mang giai ngũ uẩn, nhất định giải thoát ách nạn."
-
22/02/2011E885 - 0000017+400,000.00 nguyen bich hoan nt GD TIEN MẶT Hôm nay cô kiểm tra TK có 400,000 đ (bốn trăm ngàn đồng) của Smooly_girl dưới bảng sao kê của ngày 22/2/2011. Quỹ hiện có: 10,704,000 đ + 400,000 đ = 11,104,000 đ (mười một triệu một trăm không bốn ngàn đồng)
-
Thời lễ ngắn được ACE nghiêm túc tham dự. Trước khi tạm biệt Thiên Đồng đã dặn dò Thầy khắc phục và sữa chữa những yêu cầu trong bản vẽ, Thầy đã vui vẻ tiếp nhận tính hợp lý của Phong Thủy Lạc Việt. Chúng tôi đã kết thúc chuyến đi dài về địa lý ngắn về thời gian nhưng vẫn kịp hoàn tất những gì đã phát nguyện cùng Thầy Thích Trí Anh tôn tạo Viên Thông sớm hình thành nơi truyền bá Phật Pháp.
-
Cô gởi tặng vanvatho tác phẩm truyện ngắn của Bác Thiên Sứ " Nàng Sheherazade ....." do trước kia Sp có ký tặng cho Thiền Viện Trúc Lâm nhưng Cô đã không có duyên gặp được Thầy để trao nay chuyển phần tặng này đến vanvatho, Cô vẫn giữ đến dịp này quyển sách đã được trao đúng người yêu sách. Hy vọng đây cũng là cái duyên của vanvatho được thưởng thức tác phẩm xưa của SP.
-
Thiên Đồng đo đạc định hướng để bắt tay vào việc áp dụng Phong Thủy Lạc Việt cho Tịnh Thất. Sau khi dùng bữa sáng, AE đã tiến hành thiết kế Phong Thủy cho ngôi Tịnh Thất Viên Thông Thầy tin tưởng và hợp tác sau khi chúng tôi trình bày ý muốn thiết kế bản vẽ Phong Thủy Lạc Việt nhằm nâng sự hưng vượng cho Tịnh Thất.
-
Sập cầu vượt ở Trung Quốc Một cây cầu vượt ở Thượng Ngu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, vừa bị sập rạng sáng nay trong lúc bốn chiếc xe tải đang lưu thông trên cầu. Vụ tai nạn khiến những chiếc xe này bị lật nhào tại nhịp cầu sập và ba tài xế bị thương. Hình ảnh trên Xinhua. Cây cầu sập một đoạn dài, cột chống nằm ngổn ngang bên dưới Cảnh sát đang làm việc tại hiện trường Một đoạn cầu bị gãy vụn Nhiều người dân đứng bên ngoài dải ngăn cách của cảnh sát để quan sát. Chiếc xe tải chênh vênh trên đoạn cầu sập còn những chiếc khác lộn nhào. Các tài xế bị thương được đưa vào bệnh viện gần đó điều trị Chiếc xe tải gãy đôi sau sự cố cầu sập Cẩm Vân
-
Ngay từ sau 3 ngày mất của Hoàng Hùng, Cơ quan điều tra đã tập trung vào vợ nạn nhân điều đó không đơn giản vì những sinh hoạt đầy tai tiếng của bà ta, vì ít ra trong thời điểm đau buồn của người vợ mất chồng cần phải được tôn trọng ! (về mặt nhân đạo) thế mà lại được xoáy sâu vào để ra kết quả ngày hôm nay! Wild không cảm giác bất ngờ khi biết thủ phạm chính là vợ nạn nhân! Wild đã dự cảm được từ việc làm này của Cơ quan công an.
-
Ở Việt Nam từ lâu đã tồn tại một đội ngũ săn bắt động vật rừng hoang dã chuyên nghiệp. Nhiều người trong số đó săn bắt theo kiểu cha truyền con nối, họ có những kinh nghiệm sâu rộng, đáng nể trong lĩnh vực này. Rừng với họ là nhà. Như vậy, nếu lực lượng này còn thì sự biến mất một số động vật hoang dã chỉ là vấn đề thời gian. Gian nan một cuộc vây bắt Như bất kỳ cuộc săn bắt thú rừng nào, việc đầu tiên của những tay săn bắt khỉ là phải lùng sục trong rừng để tìm dấu vết. Đó có thể là dấu tay khỉ khi leo trèo trên các thân tre, phân chúng trên mặt đất, những con đường chúng đi tạo nên trong rừng… Khi thấy các dấu hiệu trên, những tay săn bắt thú sẽ dùng bắp trái treo trên các bụi cây để nhử. Sau đó khoảng một tuần, bọn họ lên kiểm tra lại. Nếu phát hiện khỉ đã ăn bắp, họ tiếp tục treo bắp lần hai, rồi lần ba. Đến lần này thì họ làm thum để núp rình xem khỉ ăn bắp là khỉ cộc hay khỉ đuôi dài. Khỉ đuôi dài nhỏ con, dễ vận chuyển, lại có giá vì thị trường Trung Quốc ưa chuộng nên cánh lái buôn luôn khuyến khích các thợ rừng săn bắt. Mỗi con khỉ đuôi dài từ 2kg trở xuống có giá ít nhất 3 triệu đồng. Ánh mắt bàng hoàng của khỉ đầu đàn. ...khi chứng kiến cảnh hai mẹ con khỉ bị sát hại. Với mục đích cho khỉ ăn no nê để chúng quen dần với lưới cước mà con người bao quanh nơi treo bắp, số lượng bắp treo lên có khi lên đến vài trăm ký vì phải treo lặp đi lặp lại nhiều lần và kéo dài vài tháng. Từ bên ngoài lưới, khỉ muốn vào ăn bắp phải đi qua những thân tre làm cầu do các tay săn bắt khỉ tạo ra. Cầu này được cột bằng một sợi dây chắc chắn, kéo vào thum nơi con người đang núp (đã nói ở bài 1). Khoảng thời gian núp đợi trong thum có thể coi là giai đoạn thử thách lòng kiên nhẫn của những kẻ săn bắt khỉ. Bốn giờ sáng, tất cả phải thức dậy làm vệ sinh, để bảo đảm trong suốt ngày hôm đó không ai phải chui ra ngoài. Tuyệt đối không được nói chuyện, không được phát ra bất kỳ một tiếng động nào. Ăn uống, nấu nướng đều tuân thủ nguyên tắc “nấu không khói, nói không tiếng”. Trong thum từng người một phân công nhìn qua một lỗ nhỏ để canh đàn khỉ. Mặc dù vậy cũng không dễ bắt được đàn khỉ. Bởi trước khi vào ăn bắp khỉ đầu đàn núp ở đâu đó ngoài rừng quan sát động tĩnh. Khi cảm thấy không an toàn, khỉ đầu đàn ra lệnh không được vào mà cả bầy ngồi im lặng hàng giờ quan sát. Cũng có khi khỉ đầu đàn quyết định một mình vô ăn bắp, vừa ăn vừa dọ thám tình hình. Nếu nguy hiểm thì chỉ một mình nó gánh chịu, cả gia đình khỉ vẫn bình yên. Còn như sớm phát giác nguy hiểm đang rình rập, khỉ đầu đàn sẽ dẫn cả đàn đi luôn vào rừng sâu nhiều ngày không trở lại. Trong trường hợp này, cuộc vây bắt tốn kém coi như thất bại. Biết ác nhưng vẫn làm Khi những thước phim tư liệu Tội ác rừng xanh hoàn thành, tôi có đưa cho người thân, bạn bè xem thử. Rất nhiều ý kiến lên án hành vi tội ác rùng rợn của đám thợ săn, thậm chí đòi trừng phạt. Nhưng tôi lại có ý nghĩ khác. Với kinh nghiệm hơn mười năm lang thang trong rừng để chụp ảnh động vật rừng, tôi biết thợ săn chỉ là những nông dân địa phương nghèo. Để săn bắt được động vật rừng, họ phải ở chui rúc trong rừng, nhiều người bị sốt rét hành và mắc các loại bệnh tật khác. Vì miếng cơm manh áo, họ phải mạo hiểm, đã có nhiều “sát thủ” rừng xanh tâm sự thật lòng rằng do sinh kế nên họ phải làm cái nghề mà chính họ cũng cho là độc ác. Trong thực tế họ chỉ làm giàu cho những kẻ mua bán động vật hoang dã mà thôi, còn họ mãi mãi là những người nghèo khó, quanh năm túng thiếu. Ăn của rừng... Tận mắt chứng kiến những kẻ săn bắt thú rừng thản nhiên giết hại loài khỉ, nói thật tôi bất lực và cả giận nữa. Nhưng tôi giận những người kinh doanh động vật trái phép, giận những người sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã hơn là giận những người đi săn. Cuộc sống khốn khó khiến họ làm liều. Nhiều người trong số họ đã bị bắt. Đương nhiên làm sai thì luật pháp phải trừng phạt. Nhưng đừng coi đấy là giải pháp hữu hiệu, bởi bắt được người này sẽ lại mọc ra người khác. Giáo dục nhận thức và tạo thu nhập để người ta thoát nghèo, từ đó từ bỏ ý định săn bắn trái phép là giải pháp khả thi hơn. Chúng ta cứ quen nói, săn bắn là “ảnh hưởng tới đa dạng sinh học”, nhưng thuật ngữ này xa xôi với người dân lắm. Hơn thế khi người ta nghèo thì người ta đâu có quan tâm. Phải giải quyết từ cốt lõi. Tại sao không sử dụng chính những người săn bắn động vật trái phép làm người bảo vệ động vật? Chúng ta cần tìm đến họ, cần có một tổ chức nhà nước hoặc độc lập quản lý họ. Những nơi này sẽ thu phục, huấn luyện, truyền tri thức khoa học, giao trọng trách cho họ bảo vệ động vật rừng, hoặc được vay vốn để thay đổi cuộc sống, thu nhập của họ từ công việc mới sẽ đủ để nuôi sống gia đình. Nếu chúng ta sử dụng họ làm người giữ rừng, trả lương cho họ, tôi nghĩ đấy sẽ là những người giữ rừng tốt nhất. Họ biết đường ngang ngõ tắt của rừng. Họ mà bảo vệ, đố ai ho he được! Trước đây tôi từng viết thư cho một tổ chức nước ngoài xin tài trợ cho một dự án biến những người phá rừng thành bảo vệ rừng, nhưng không được hồi âm... Sau đây là một số hình ảnh đau lòng của gia đình nhà khỉ: Xứng danh thuỷ tổ của loài người, tổ chức bầy đàn của loài khỉ rất chặt chẽ. Mỗi bầy luôn có một khỉ đầu đàn chỉ huy. Khỉ đầu đàn có nhiệm vụ quan sát, báo động cho cả bầy. Mỗi cánh rừng rộng lớn thường chỉ có một bầy khỉ sinh sống. Hai thợ săn khỉ tiến hành dọn sạch khoảng đất 50m2 chừa lùm cây nhỏ ở giữa để treo bắp nhử đàn khỉ, xung quanh giăng lưới cao khoảng 2m, bắc cầu tre dẫn vào nơi treo bắp. Khỉ vào ăn bắp. Khỉ đầu đàn vào ăn bắp xong đi ra ngoài, leo lên một cây cao nhất để cảnh giới sự nguy hiểm của thú ăn thịt, đồng thời phát hiệu lệnh cho cả đàn vào ăn bắp. Các tay săn bắt thú chờ cho đàn khỉ vào đông nhất là chặt đứt dây, cầu khỉ sập xuống. Khỉ ở trong lưới hoàn toàn bị cách ly với bên ngoài. Các tay săn bắt thú bỗng dưng xuất hiện, cả đàn khỉ vùng chạy nhưng chỉ chạy được trong lưới… Theo lời của những người săn bắt khỉ thì loại mà lái buôn đặt mua nhiều nhất là khỉ con không quá 2kg và khỉ cái đang nuôi con. Do vậy, khi sập bẫy khỉ con và khỉ cái được bắt đầu tiên và luôn được chăm sóc rất đặc biệt. Sau những hoảng loạn đầu tiên, phần lớn các khỉ con, khỉ cái được bắt gọn. Những con khỉ đực dần dần bình tâm lại, bắt đầu hành động chống trả. Đây là những con khỉ đực có khí chất mạnh mẽ, có thể trở thành khỉ đầu đàn trong tương lai. Những vết cắn của chúng là chí mạng, hết sức nguy hiểm, nên giải pháp chống lại nhóm khỉ đực này là bẻ răng. Những hạt bắp vàng ươm chúng ăn để dành hai bên má, nay rơi ra cùng với những chiếc răng bị bẻ, nhìn rất tội nghiệp. Đau lòng nhất có lẽ là khỉ đầu đàn núp sau thân cây một mình chết lặng, chứng kiến cuộc vây bắt và không hiểu nổi vì sao con người lại bắt hết gia đình của chúng. Rồi đây khỉ đầu đàn chỉ còn lại một mình lang thang trong rừng vắng. Theo Sgtt
-
Đến nay Wild dự đoán gia đình Miêu ổn ! nên bận rộn lắm rồi, không online được vì bận off với sơ sinh 24/7 days. Chúc mừng Miêu lên chức nhé!
-
Rất sẵn lòng tiếp nhận sự đóng góp của smooly_girl! Nhưng đến nay chưa thấy báo CÓ trong TK số tiền của Smooly_girl? bạn có thể kiểm tra lại nơi chuyển xem có sai sót gì về số TK? tên TK ? và Ngân Hàng nhận không?
-
Để tường minh việc đóng góp cúng dường ngôi tam bảo Tịnh Thất VIÊN THÔNG tỉnh Lâm Đồng. Mời xem qua đường Link dưới đây: http://diendan.lyhoc...763#entry119763 Tổng thu : 41,550,000 đ (bốn mươi mốt triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) Tổng Chi: 41,450,000 đ (bốn mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng)
-
Hóa đơn mua hàng gồm 1 chuông + Mõ = 7,700,000 đ (bảy triệu bảy trăm ngàn đồng) Đèn Hào Quang 3 chiếc :1 chiếc;80 cm đường kính , 2 chiếc 60 cm.= 2,885,000 đ Kệ 20 chiếc 75,000 đ X 20 = 1,500,000 đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) Tượng Đản Sanh = 2,500,000 đ (hai triệu năm trăm ngàn đồng) Tượng Di Lặc = 5,000,000 đ (năm triệu đồng) Tượng Chuẩn Đề, Quán Thế Âm, Bồ tát Đạt Ma, Hộ Pháp, Ông Tiêu, Dược Sư. 25,000,000 đ (hai mươi lăm triệu đồng) Đèn Dược Sư = 3,000,000 đ (ba triệu đồng) Cúng dường tại Chùa : 13,000,000 đ (mười ba triệu đồng)
-
Sau khi thanh toán tiền sách + vận chuyển = 341,000 đ (ba trăm bốn mươi một ngàn đồng) còn lại 659,000 đ (sáu trăm năm mươi chín ngàn đồng) của Vanvatho được chuyển vào Quỹ Từ Thiện. Xác nhận số tiền ủng hộ của vanvatho là 659,000 đ (sáu trăm năm mươi chín ngàn đồng) Quỹ hiện có: 10,045,000 đ + 659,000 đ = 10,704,000 đ (mười triệu bảy trăm lẽ bốn ngàn đồng)
-
Nếu làm được gì cho Mẹ ngay lúc này thì bạn nên thực hiện, tôi rút kinh nghiệm từ những lo âu hoang mang của mình ở giai đoạn của Mẹ tôi khi BS khuyên các con nên tề tựu và chuẩn bị hậu sự, tôi đã bình tĩnh đi giải hạn cho Mẹ với niềm hy vọng níu kéo sự nhiệm màu. Và tôi đã thành công! Mẹ tôi đã ở lại thêm với chúng tôi được hai năm nữa...và nữa ở thời kỳ cận tử bạn cũng nên chú nguyện Dược Sư 108 biến/ngày để Bà nhận được sự linh ứng đó.Vài hàng chia sẽ mong bạn hãy mạnh mẽ để làm những gì có thể.
-
Đời Thay Đổi Khi Tâm Chúng Ta Thay Đổi
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Theo Bohm, mỗi thực tại, mỗi sự vận động có thứ bậc của nó. Cùng với các phát hiện mới, ngành vật lý dần dần khám phá thứ bậc của sự vận động, với những mức độ từ cạn tới sâu. Sự vận động cơ giới trong lý thuyết của Newton được Bohm gọi là có thứ bậc thấp (thứ bậc không gian Descartes). Trong thứ bậc này, mọi sự vật đều được xem là riêng lẻ, cái này nằm ngoài cái kia và tác động lên nhau bằng lực tương tác giữa vật thể. Với lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử, Bohm thấy cả hai đều mang một thứ bậc mới, đó là ta phải xem sự vật là một cái toàn thể không thể phân chia, trong đó sự cách ly các yếu tố của sự vận động không còn được chấp nhận. Thứ bậc này hoàn toàn khác với thứ bậc trong nền vật lý của Galileo và Newton. Thí dụ: không gian, thời gian là một thể thống nhất trong thuyết tương đối, người quan sát và vật được quan sát là một thể thống nhất trong cơ học lượng tử. Ở đây, Bohm cho rằng phải đi sâu thêm một mức độ nữa để thấy một thứ bậc mới của thực tại. Thứ bậc này được Bohm mệnh danh là “thứ bậc nội tại” (implicate order). Nội dung của thứ bậc này là: “cái toàn thể nằm trong từng cái riêng lẻ”. Nói rõ hơn, thực tại là hình ảnh của toàn vũ trụ được ẩn tàng trong từng đơn vị nhỏ nhất của nó. Từ thí nghiệm Ảnh toàn ký ở trên, Bohm kết luận thế giới vật chất mà ta đang thấy xung quanh mình là dạng hình được khai triển từ một thực tại sâu kín hơn (thứ bậc nội tại). Thực tại sâu kín này là một cái toàn thể bất khả phân, không thể định nghĩa, không thể đo lường. Trong thực tại này, mọi sự đều liên kết chặt chẽ với nhau. Thực tại này không nằm yên mà luôn luôn vận động và nó là nguồn gốc, là cơ sở của mọi dạng xuất hiện của vật chất và tâm thức. Hãy nêu lên vài ẩn dụ để tới với cách nhìn này: Trong cơ thể sinh vật, mỗi một tế bào nhỏ nhất cũng chứa DNA, thông tin của toàn bộ cơ thể đó. DNA cũng là một hình ảnh dễ hiểu của quan niệm "một trong tất cả, tất cả trong một". Thí dụ giản đơn và có tính cơ giới hơn là một thanh nam châm với hai cực nam bắc. Nếu ta cắt thanh nam châm đó làm hai thì lập tức chỗ cắt sẽ sinh ra hai cực nam bắc. Nếu tiếp tục cắt thì ta sẽ có tiếp những thanh nam châm nhỏ hơn nữa. Do đó ta có thể nói mỗi điểm trong thanh nam châm đã chứa "ẩn tàng" hai cực nam bắc. Có cắt thì hai cực đó mới hiện ra, không cắt thì chúng nằm trong dạng "nội tại". Theo Bohm, thực tại là một thể thống nhất đang vận động, không thể phân chia, không thể đo lường mà một số dạng xuất hiện của nó hiện ra với ta như hạt, như sóng hay như những đơn vị tách lìa nhau và có tính chất ổn định tương đối. Những đơn vị vật chất thí dụ electron, chỉ là một cái tên tạm đặt cho một khía cạnh xuất hiện của thực tại đó. Vật chất chỉ là một số dạng được “dẫn xuất” từ thực tại đó. Các quy luật vật lý đều là những lý thuyết áp dụng cho một số hiện tượng xuất phát từ sự vận động toàn thể đó. Và toàn thể vận động chính là sự tiếp nối liên tục giữa hai giai đoạn ẩn (nén) - hiện (giải nén). Trong quá trình ẩn (nén) - hiện (giải nén) nhanh chóng của sự vận động toàn thể đó, có những dạng xuất hiện mà giác quan ta thấy là hạt. Chúng nối tiếp nhau xuất hiện dàn trải, khi thì ta thấy chúng nằm trên đường thẳng, khi thì hình cong trong không gian và tưởng có những lực tương tác chúng với nhau. Thực tế chúng là dạng xuất hiện kế tiếp nhau của một “tập hợp” không mang tính chất không gian. Ngược lại, vì chúng “hiện” ra liên tiếp, cái này sau cái kia mà ta thấy có không gian. Quan niệm này giải thích dễ dàng sự phi liên tục (gián đoạn) trong sự vận động được nêu ra bởi cơ học lượng tử. Ngoài ra, vì dạng hạt chỉ là dạng xuất hiện của sự vận động toàn thể, nên khi những điều kiện thay đổi thì dạng xuất hiện cũng thay đổi, lúc đó nó có dạng sóng. Nghịch lý sóng-hạt không còn tồn tại trong quan niệm về thực tại này nữa. Thứ bậc nội tại có nhiều chiều. Không gian ba chiều của chúng ta chỉ là một hình chiếu của thứ bậc nội tại. Trước vấn đề của mối liên hệ “liên thông” trong nghịch lý EPR, Bohm dùng ẩn dụ “hồ cá” sau đây để minh họa. Trong một hồ cá chỉ có một con cá duy nhất. Hồ cá được thu hình bằng hai máy quay phim từ hai hướng khác nhau. Hai máy quay phim đó được chiếu hình lên hai màn ảnh khác nhau A và B. Như ta thấy, hình A và B không hề có mối liên hệ hay tương tác gì với nhau cả, chúng chỉ là hai hình của một vật thể (con cá) duy nhất. Tương tự như thế, hai đơn vị vật chất có mối liên hệ “liên thông” chẳng qua chỉ là hình chiếu của một đơn vị duy nhất của một thực tại nhiều chiều hơn. Thật ra chúng chẳng tương tác gì với nhau cả, chỉ là hai dạng khác nhau của một thực thể. Sự tách biệt của chúng trong không gian chỉ là một ảo tưởng của chúng ta khi đứng trước thứ bậc dàn trải, nơi đó thực thể nọ đã bị “dàn trải” làm hai đơn vị. Theo Bohm, số lượng kích chiều của thứ bậc nội tại là vô tận. Cuối cùng, Bohm đi một bước dài và cho rằng ý thức và vật chất cùng lưu xuất từ thứ bậc nội tại đó. Vật chất và ý thức có tác dụng hỗ tương lẫn nhau. Hai mặt này bắt nguồn từ một thứ bậc chung, có kích chiều cao hơn. Cả hai: vật chất lẫn ý thức đều là dạng xuất hiện của thực tại nhiều kích chiều đó. Bohm đề nghị một đơn vị cơ bản của sự vận động trong thứ bậc nội tại đó, ông gọi là “chập” (moment). Một chập chứa tất cả những chập khác, có khả năng “bung” ra trên thứ bậc dàn trải để thành không gian và thời gian. Thuyết “sự vận động toàn thể” với quan niệm then chốt “thứ bậc nội tại” là một bước nhảy vọt của khoa học vật lý trong vũ trụ quan. Xưa nay, người ta thấy thế giới hiện tượng là một thực thể khách quan, nằm ngoài con người và xem nó là đối tượng đích thực của ngành vật lý. Thực tế là, quan niệm “vật ở ngoài nhau” là đặc trưng của ý thức hệ phương Tây, bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại. Nay, khi thuyết của Bohm xem thế giới hiện tượng chỉ là thứ bậc dàn trải, là sự trình hiện của một thứ bậc sâu xa hơn - thứ bậc nội tại - khi đó, Bohm đã làm một bước nhảy vọt về nhận thức. Thuyết của Bohm không thể không làm ta liên tưởng đến triết học Phật giáo. Quan niệm "Tất cả trong một, một trong tất cả" chính là tư tưởng Kinh Hoa Nghiêm. Chủ trương "Thực tại xuất hiện như một cảnh tượng khi bị quan sát" đã được Kinh Lăng Nghiêm nói đến. "Ý thức lẫn vật chất đều lưu xuất từ một thể" chính là quan niệm Duy thức trong Phật giáo. Kinh Lăng Nghiêm nói về một thể uyên nguyên, được tạm gọi là "Chân tâm". Tính chất của "Chân tâm" là phi hình tướng, phi tính chất, không thể nghĩ bàn. Tạm hình dung Chân tâm như một “biển tinh lực uyên nguyên” hay một “vầng trăng tròn đầy”. Chân tâm có hai "công năng" như sau: lặng lẽ chiếu soi và có khả năng tự chiếu soi mình. "Chiếu soi" có thể được hiểu như "nhận thức" trong ngôn ngữ hiện đại. Xuất phát từ một Chân tâm thuần túy "lặng lẽ chiếu soi" đó, bỗng một "vọng tâm" nổi lên, đó là lúc Chân tâm quay qua tự nhận thức chính mình và thấy có một thể bị nhận thức và một thể nhận thức. Theo ngôn ngữ hiện đại thì với "vọng tâm", xuất hiện hai thể tính: người quan sát và vật bị quan sát. "Vọng tâm" được so sánh với giấc ngủ. Khi ngủ mê, thì hiện ra giấc mộng, trong đó có người có ta, có cảnh vật, có diễn biến, có không gian và có thời gian. Khi tỉnh dậy thì tất cả cảnh vật trong mơ cũng không còn. Đối với Phật giáo, thế giới hiện tượng là một sự trình hiện, là một huyễn cảnh như “hoa hiện trong hư không”. Thế giới đó trình hiện cho một chúng sanh nhất định, mỗi chúng sanh có một thế giới. Thế nhưng như ta đã nói ở trên, chúng sanh lẫn thế giới hiện tượng đều là những phần tử của Chân tâm. Cả hai đều lưu xuất từ Chân tâm, bị “vọng hóa” mà thấy có chủ thể và khách thể. "Nếu vọng tâm sinh khởi thì các pháp đều sinh khởi, vọng tâm diệt đi thì các pháp đều diệt". Từ có sự phân biệt chủ thể và khách thể đó mà chúng sanh sinh khởi thương ghét, yêu thích hay từ chối đối với thế giới hiện tượng được quan sát vì tưởng rằng có thế giới hiện tượng tồn tại độc lập ở bên ngoài nên chấp pháp và đồng thời chúng sanh đó tưởng mình là một chủ thể có thực, có một cái Tôi tồn tại riêng biệt ở bên trong nên chấp ngã. Xuất phát từ hai thành kiến chấp pháp và chấp ngã, với mọi tâm trạng yêu và ghét diễn biến liên tục, cá thể sinh ra vô số quá trình vọng hóa với nhiều mức độ tâm lý với nhiều tính chất khác nhau, chồng chất bao phủ lên nhau. Đạo Phật chia các quá trình tâm lý đó thành bốn mức độ mà thuật ngữ gọi là: thọ, tưởng, hành, thức. Ngoài bốn quá trình tâm lý đó, đạo Phật còn xem “sắc” là toàn bộ hiện tượng mà ta gọi là vật chất. Do đó: sắc, thọ, tưởng, hành, thức được gọi chung là “Ngũ uẩn”, là toàn bộ tiến trình của vọng tâm được sinh ra và phát triển, khi Chân tâm “dại dột” tự nhận thức chính mình và sa vào chấp pháp, chấp ngã. Ngũ uẩn bao phủ quanh cá thể với các dạng tâm lý và vật lý. Thế giới đang bao trùm xung quanh chúng ta chỉ là một thế giới đang hiện lên cho mỗi cá thể chúng ta. Thế giới đó gồm sắc, tức là các dạng vật chất, cộng với các hoạt động tâm lý (thọ, tưởng, hành, thức) đang được duy trì và phát triển liên tục. Mỗi thế giới đó tuy là có giá trị cho mỗi cá thể nhưng chúng hòa vào nhau, tưởng chừng như thể nhiều cá thể, toàn xã hội, toàn loài người... có chung một thế giới. Đó là vì “cộng nghiệp” chung của nhiều cá thể làm cho những cá thể đó thấy chung một thế giới, như thể chỉ có một thế giới duy nhất. Vì sự vật chỉ là sự trình hiện nên không thể nói “có” hay “không có” một cách tuyệt đối được. Khi nói “có” là “có” cho những cá thể nhất định, đối với người này là “có” nhưng đối với người khác là không, cũng như người nằm mơ thấy “có sự vật” nhưng sự vật đó không có cho người khác. Như Lời Phật trong Kinh Lăng Nghiêm: "Này A-nan, như người đau mắt, vì nghiệp riêng của họ, nên "vọng thấy" cái đèn có vầng đỏ hiện ra...Như dân chúng trong một nước, do ác nghiệp chung tạo của họ nên đồng thấy có những điềm không lành hiện ra. Lên một từng nữa là toàn cả chúng sinh trong mười phương thế giới ngày nay đây, đều do "vô minh vọng động từ vô thỉ" nên đồng vọng thấy có thế giới chúng sinh hiện ra vậy". Điều nói trên còn dẫn đến hai kết luận, đó là "Pháp vô ngã" và "Nhân vô ngã". Pháp vô ngã cho rằng không có sự vật nào tồn tại với tự tính riêng của nó cả, tất cả đều chỉ là sự biến hiện làm cho ta thấy "có" khi đủ điều kiện (nhân duyên sinh) để cho sự vật trình hiện trước mắt ta. Nhân vô ngã cho rằng con người mà ta tưởng là có một cái Tôi đứng đằng sau chỉ là sự vận hành vô chủ của Ngũ uẩn. Các tình trạng của Ngũ uẩn diễn ra, cái này tiếp nối cái kia, nhưng không ai làm chủ chúng cả. Triết lý nhân vô ngã và pháp vô ngã cho thấy mặc dù thế giới hiện tượng và tâm lý vận hành liên tục nhưng đó là sự vận động nội tại của nó, không ai làm chủ cho chúng cả. Sự vận động đó chủ yếu xuất phát từ "Hành", còn được gọi là động cơ tâm lý tạo tác hành động, và qua đó tạo tác thế giới. Toàn bộ những động cơ tâm lý đó được gọi là "Nghiệp" hay "Nghiệp lực". Nghiệp lực của cá thể và của toàn thể là tác nhân làm thế giới vật chất được duy trì, nó làm cho vũ trụ được sinh ra và phát triển. Ngũ uẩn cũng không phải là năm yếu tố riêng lẻ lẫn nhau mà vì chúng có chung nguồn gốc Chân tâm nên chúng dung thông và chứa đựng lẫn nhau trong tinh thần "Một trong tất cả, tất cả trong một". Một hệ quả của quan niệm này là mọi hoạt động trong tâm lý (thọ, tưởng, hành, thức) đều có dấu vết trong vật lý (sắc) và ngược lại mọi điều chỉnh trong vật lý đều có tác dụng trong tâm lý. Sắc chính là Không, Không chính là sắc (tư tưởng Tâm Kinh). Do đó "trên đầu một cọng cỏ chứa tam thiên thế giới" (tư tưởng Kinh Hoa nghiêm). Như vậy, đối với Phật giáo, vật chất được hình thành và duy trì là dựa trên vọng tưởng của tâm thức. Một đặc tính quan trọng khác là: vật chất không có tự tính riêng biệt, chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan đối với người quan sát. Mỗi người quan sát sống trong một thế giới riêng của họ, thế giới tưởng là chung cho tất cả chẳng qua là do cộng nghiệp xây dựng thành. Cả vật chất lẫn ý thức là những dạng xuất hiện của Chân tâm, chúng chỉ là những dạng hình thứ cấp lưu xuất từ Chân tâm. Do đó quan niệm về một thực tại ẩn tàng chứa cả vật chất, ý thức và có nhiều chiều như Bohm quan niệm là rất gần với tư tưởng Phật giáo. Trong lý thuyết của Bohm, vật chất là những cấu trúc xuất hiện có tính chất tạm thời, tương đối, chúng là hình ảnh xuất hiện từ sự vận động toàn thể. Sự vận động toàn thể của Bohm có thể được xem gần giống như sự lưu chuyển của A-lại-da thức, trong đó thế giới hiện tượng chỉ được xem là những vọng tưởng lưu lại dưới dạng hạt giống khi đủ nhân duyên chín mùi thành vật chất. Phật giáo quan niệm "Sắc chính là Không", thế giới vật chất chính là Chân tâm. Do đó mỗi nơi mỗi chỗ trong thế giới vật chất đều chứa năng lượng vô tận của Chân tâm. Quan niệm về "chân không lượng tử" hiện nay cho rằng, mỗi đơn vị tí hon trong chân không lượng tử chứa năng lượng vô tận, cũng đi gần với quan niệm về Sắc - Không của Phật giáo. Hơn thế nữa Phật giáo cho rằng mỗi nơi mỗi chỗ trong Sắc cũng chứa toàn bộ thế giới vật chất trong quan niệm "Một trong tất cả, tất cả trong một". Do đó quan niệm của Bohm về Ảnh toàn ký (Holo-Gram) cũng rất tương tự với hình ảnh "trên đầu một cọng cỏ có chứa tam thiên thế giới" được minh hoạ trong Kinh Hoa Nghiêm. Bohm cũng quan niệm thế giới vật lý xuất hiện như một ảo ảnh ba chiều khi mắt tiếp xúc với ánh sáng, đó là điều mà đạo Phật đã nhấn mạnh với từ "hoa hiện trong hư không". Vì vật chất chỉ là dạng xuất hiện từ Chân tâm, không có tự tính riêng, chỉ tùy nhân duyên mà trình hiện nên Phật giáo không thấy có mâu thuẫn giữa hai dạng sóng - hạt của vật chất. Cả sóng lẫn hạt đều xuất hiện khi đầy đủ nhân duyên hội tụ cho chúng xuất hiện. Trong vật lý hạ nguyên tử, "nhân duyên" chính là cách dò tìm của người quan sát và cách xếp đặt thiết bị đo lường. Sự nghịch lý sóng - hạt chỉ có khi ta cho rằng vật chất phải có một tự tính riêng. Nghịch lý EPR của những hạt liên thông cũng không tồn tại với thế giới quan của Phật giáo vì rằng mọi hạt vật chất đều lưu xuất từ Chân tâm. Giữa các dạng vật chất đó đều có sự dung thông vì tất cả đều là Chân tâm. Do đó những hạt liên thông có mối quan hệ trên một cấp bực khác, sâu hơn cấp bực của vật chất. Vì vậy mà chúng có trao đổi với nhau, “biết” đến lẫn nhau dù ở cách xa nhau hàng vạn dặm. Trong thế lĩnh vực của thế giới hiện tượng, vì có thời gian và không gian xuất hiện nên mọi vận hành bị giới hạn trong những mức độ đo được. Do đó vận tốc ánh sáng, hằng số Planck...là những số rất lớn/ rất nhỏ nhưng có giới hạn. Còn trong lĩnh vực tâm lý của: thọ, tưởng, hành, thức mọi tín hiệu đều có vận tốc vô tận, tức là có tính chất liên thông mà thuật ngữ Phật giáo gọi là "dung thông". Quan niệm phải đưa quan sát viên vào quá trình chung với vật được quan sát của thuyết tương đối và cơ học lượng tử là hoàn toàn tương thích với thái độ của Phật giáo. Theo Phật giáo khi không có quan sát viên thì cũng không có vật được quan sát, vật đó chỉ có khi có ai quan sát nó. Nếu không có ai quan sát nó thì cũng không có nó. Đối với Phật giáo, không có vật nào tồn tại độc lập cả mà đều chúng chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan với vật khác. Khuynh hướng chia chẻ thế giới, cảm nhận thế giới thành ra những vật thể riêng lẻ và cảm nhận chính mình là một cá thể độc lập, khuynh hướng đó được xem là một vọng tưởng, xuất phát từ một tâm thức ưa phân biệt, đánh giá. Phật giáo xem khuynh hướng đó là vô minh, đó là một dạng của vọng tâm, cần vượt bỏ. Theo quan niệm Phật giáo, mọi "pháp hữu vi" (thế giới hiện tượng) là "mộng, huyễn, bào, ảnh, như sương sa, như điện chớp" (tư tưởng Kinh Kim Cương), mọi dạng vật chất chỉ tạm thời, không có tự tính, không tồn tại thực sự mà chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan với người quan sát. Với quan điểm đó, ta có thể lý giải dễ dàng mọi điểm cơ bản của thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Theo Phật giáo, vật chất được hình thành và duy trì bởi lực tạo tác của cộng nghiệp và biệt nghiệp (nghiệp chung của một nhóm người và nghiệp riêng của mỗi cá thể). Các nghiệp lực đó xuất phát từ sự vận hành của Ngũ uẩn mà Ngũ uẩn là vô ngã, nó vận hành vô chủ theo nhân duyên. Do đó mọi dạng vật chất đều thành hình một cách ngẫu nhiên theo luật nhân-quả, không do chủ ý của ai. "Tất cả các pháp đều xuất hiện một cách ngẫu nhiên, như một áng mây, như một tia chớp, chúng chẳng dừng chân dù trong một khoảnh khắc..." (Kinh Duy Ma Cật). Trên cơ sở đó ta có thể lý giải tính chất "thống kê" trong cơ học lượng tử một cách dễ dàng. Cuộc sống là một dòng tâm thức không đầu không đuôi. Nếu hôm nay ta nhức đầu thì có lẽ tại hôm qua ta uống rượu quá nhiều chứ không do một lẽ bất công nào cả. Và ngay hôm nay ta có thể chấm dứt uống rượu để ngày mai ta khỏi nhức đầu, đó là sự tự do mà mỗi cá thể đều có và có ngay bây giờ. Trong thế giới Phật giáo, không có một “Thượng đế toàn năng nào”, mà chỉ có một sự vận hành tự nhiên và tất nhiên theo luật nhân-quả của Thức, với một cơ chế mà thực ra tư duy của chúng ta chỉ có thể hiểu được một phần. Bởi thế, quan niệm về Nghiệp của đạo Phật không phải dễ hiểu và dễ được chấp nhận. Đơn giản hóa, nếu quy một đời người về một ngày và giả định giấc ngủ là cái chết, thì ngày hôm trước cách ngày hôm sau đúng một giấc ngủ. Nếu hôm nay tôi uống nhiều rượu, ngày mai tôi bị nhức đầu, hôm nay tôi nóng giận, ngày mai trong người tôi vẫn còn vương bực dọc... Sự tiếp nối đó rất dễ hiểu, nhưng vì người ta nửa tin nửa ngờ nên Nghiệp trở nên huyền bí. Đời này của chúng ta như là ngày hôm nay. Trước đó đã có vô số ngày và sau đó cũng còn vô số ngày. Vô số những ngày trước đó đã tạo ra một tâm thức có tính cá thể mà ta gọi là “Tôi”. Tính cá thể đó được cụ thể bằng vô số những chủng tử nằm trong A-lại-da thức. Mỗi chúng ta chính là tác giả của những chủng tử đó. Chúng ta đã tự tay gieo trồng những chủng tử, đã mong chờ, đã thiết tha được chứng nghiệm chúng. Khi đủ nhân duyên thì những hạt giống ấy trong A-lại-da thức lại đâm chồi nẩy lộc. Chúng ta là kẻ đã xây dựng nên môi trường, gia đình và bè bạn mà chúng ta đang sống. Tất cả những cảnh tượng đó do ta bày ra. Họ đều là những nhân vật trên một sân khấu mà chính ta là đạo diễn. Chính ta là kẻ viết kịch bản, bày ra các biến cố và đồng thời cũng đóng luôn vai chính. Đến khi vào cuộc, sống đời sống thường ngày, chúng ta lại nhập vai quá say sưa và quên rằng đây chính là vở kịch do mình bày ra. Chúng ta vui, chúng ta buồn, mừng vui và thất vọng theo những tuồng tích của chính mình và tất cả mọi kinh nghiệm buồn vui đó lại được chứa chấp vào trong A-lại-da thức của ta để một vở kịch mới sẽ được ra đời. Có thể trong vài thập niên tới đây người ta sẽ phát hiện được một cách chính xác rằng, những điều mà hiện nay ta không gọi là vật chất - cũng có những thực tại của chúng, cũng có những dạng hình thấy được bằng thiết bị, cũng có năng lượng đo được, thậm chí trong một mức độ nhất định, người ta sẽ thấy mối liên hệ rất cụ thể giữa tâm thức và vật chất. Hãy thay đổi bản thân, thế giới sẽ thay đổi theo. Đời thay đổi khi tâm chúng ta thay đổi. Đó là khẳng định của tư tưởng Phật giáo. Mặc dù quan niệm này không dễ thuyết phục và cũng không dễ thực hiện, thế nhưng đó là kết luận nhất quán của đạo Phật. Phật giáo và Khoa học giờ đây có thể ngồi lại với nhau với hy vọng góp sức vào việc mang lại hạnh phúc cho nhân loại./. -
Đời Thay Đổi Khi Tâm Chúng Ta Thay Đổi. Những khám phá gần đây của nền Vật lý hiện đại cho thấy một số quan niệm của Phật giáo cần phải được xem xét lại… Kể từ thế kỷ 20, nhiều khái niệm và lý thuyết đã được phát biểu hoàn toàn mới, trong đó vai trò của Ý thức trở thành một luận điểm then chốt. Người ta thấy không thể rạch ròi tách rời Ý thức con người ra khỏi thực tại vật lý được. Khái niệm trung tâm của vật lý từ xưa đến nay là Vật chất. Trong vật lý cổ điển, Vật chất là những hạt cứng chắc bất hoại. Trong vật lý nguyên tử, người ta thấy nó dường như là một cơ cấu trống rỗng với hạt nhân và những electron tí hon. Robert Oppenheimer (1904-1967), nhà vật lý xuất sắc người Mỹ, từng viết về hạt electron: Khi ta hỏi, liệu electron vẫn giữ nguyên vị trí hay không? ta phải trả lởi là "không"; Khi ta hỏi, liệu vị trí electron có thay đổi theo thời gian không? ta phải trả lời là "không"; Khi ta hỏi liệu electron nằm yên? ta phải trả lời là "không"; Khi ta hỏi liệu nó đang vận động? ta phải trả lời là "không". Oppenheimer nói thế vì mỗi lần con người quan sát electron, ta lại thấy hạt, nhưng không thể biết trước đó nó ở đâu và sau đó nó ở đâu, nên chỉ có thể cho nó một tính chất xác suất. Và trong nền vật lý hạ nguyên tử, người ta thấy Vật chất gồm các hạt hoán chuyển được với nhau và có thể biến thành Năng lượng. Vật lý hiện đại xem Khối lượng là một dạng của Năng lượng, xem một Vật chất nằm im thật ra là Năng lượng đang hội tụ, xem Vật thể như là một "Hiện tượng", cách nhìn đó rất phù hợp với quan điểm của Duy thức Phật giáo. Vật lý không chấp nhận hình ảnh một “Thượng đế toàn năng”, nhưng với Duy thức, vật lý gặp một khái niệm tương tự, đó là Thức. Thức biến hiện ra mọi thứ, sinh ra thực tại vật lý lẫn toàn bộ tâm lý. Nhưng Thức khác với Thượng đế ở chỗ: nó vô ngã, nó vận hành vô chủ. Theo Duy thức, Thức thứ 8: A-lại-da thức là nơi tàng trữ tất cả tập khí, kinh nghiệm, khả năng, mong ước, tư duy... trong dạng hạt giống, chủng tử. Những chủng tử khi đủ điều kiện thì sẽ hiện hành, như những hạt mầm đủ hơi ẩm, ánh sáng sẽ đâm chồi nẩy lộc. Đặc biệt, A-lại-da thức không thẩm định mọi chủng tử đó, nó không đánh giá chủng tử là tốt hay xấu, lành hay dữ, gây an vui hay đau khổ cho người mang nó. Thậm chí về sau, khi giác ngộ, Thức này biến thành Trí thì trí này cũng chỉ là "Đại viên cảnh trí", là tấm gương tròn đầy chiếu sáng mọi sự, không phân biệt. Sự thẩm định về tốt xấu, hay dở, thiện ác là nhiệm vụ của Thức thứ 7 (Mạt na thức) và Thức thứ 6 (Ý thức). Tất cả mọi kinh nghiệm của con người trong cuộc sống được lưu giữ trong A-lại-da thức như những hạt giống và những hạt giống đó sẽ nẩy mầm khi đủ điều kiện. Mỗi hoạt động trong đời sống của chúng ta, đều để lại chủng tử trong A-lại-da thức. Tất cả các biến cố đó dù là: năng lực, tư duy, thói quen, hành động, yêu thương, thù hận, xúc cảm, ức chế vv… cũng thế. Nói chung là toàn bộ đời sống trên ba bình diện: Thân (hành động) - Khẩu (lời nói) – Ý (suy nghĩ) đều để lại dấu vết trong A-lại-da thức. Một khi chúng để lại chủng tử thì cá thể sẽ giải đáp, sẽ "thanh lý" chúng bằng cách sống thực, nếm trải thực, chứng nghiệm những dấu vết đó khi có đủ nhân duyên và do đó chiêu cảm những hoàn cảnh nhất định đến với mình. Vì thế, kẻ giết người sẽ bị giết lại, kẻ dối trá sẽ bị lừa đảo, kẻ ích kỷ sẽ bị cô đơn, kẻ bủn xỉn sẽ bị nghèo khổ, kẻ ham học sẽ được sáng dạ, kẻ hay giúp sẽ gặp người ơn, kẻ yêu nhau sẽ gặp lại nhau để chung sống, kẻ ghét nhau cũng sẽ gặp lại nhau vì còn nợ nần nhau, kẻ thù nhau cũng gặp lại nhau để báo oán… Những hoàn cảnh đó xuất hiện một cách "tự động", không cần ai xem xét và dàn xếp. Chúng đều là những sự trình hiện của Thức cho từng cá thể và cơ chế cộng nghiệp sẽ đem những cá thể có liên hệ với nhau lại gần nhau, trong đó nhiều thế giới cùng lồng vào nhau không hề ngăn ngại. Trong sự tác động này của Nghiệp, điều bí nhiệm nhất là mối quan hệ giữa cộng nghiệp (nghiệp chung của một nhóm người) và biệt nghiệp (nghiệp riêng của mỗi cá thể). Chúng đan kết vào nhau vô ngại, biến hóa thiên hình vạn trạng và tạo cho ta có cảm tưởng như chỉ có một thế giới duy nhất. Hãy lấy một thí dụ, thông thường khi chúng ta lái xe đến ngã tư, gặp đèn đỏ thì dừng, gặp đèn xanh thì đi tiếp. Giả định rằng có một người bị mù màu, đối với anh ta, tín hiệu đèn giao thông không phải là màu sắc, mà theo thứ tự trên dưới, đèn phía trên (đỏ) sáng thì dừng, đèn phía dưới (xanh) sáng thì đi. Chúng ta không hề biết anh ấy bị mù màu, không biết anh ấy nhìn đèn giao thông khác chúng ta, bởi anh ấy tuân theo hiệu lệnh đèn giao thông như chúng ta. Thậm chí nói miệng với nhau thì anh ta cũng gọi là "đèn xanh, đèn đỏ" như chúng ta. Nhưng trên thực tế đã có hai cây đèn: cây đèn xanh - đèn đỏ cho chúng ta và cây đèn trên - đèn dưới cho anh ấy. Tương tự như vậy, vũ trụ hiện ra tùy theo nghiệp lực của mỗi người. Albert Einstein (1879-1955), là người triển khai thuyết Tương đối cách đây đúng một thế kỷ. Vào thời kỳ đó, người ta cho rằng nền vật lý đã phát triển hết mức rồi, và những khám phá sau này chỉ thêm được những con số thập phân nằm sau dấu phẩy mà thôi. Nhưng với thuyết Tương đối và lý thuyết Cơ học lượng tử của Einstein, đã đóng góp rất nhiều cho nền vật lý hiện đại ngày nay. Einstein nhận giải Nobel vật lý năm 1921, ông được coi là nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ 20 và là một trí thức lỗi lạc nhất trong lịch sử. Suốt một trăm năm qua, hai nền vật lý Tương đối và Lượng tử đã phát triển cao độ với những lý thuyết mới cũng như các phương pháp thực nghiệm mới. Giúp người ta có thể nghiên cứu từ lĩnh vực vô cùng nhỏ của nguyên tử và hạ nguyên tử đến mức độ vô cùng lớn của các thiên hà cách ta hàng tỉ năm ánh sáng. Trong quá trình khảo sát, nền vật lý lượng tử phát hiện rất nhiều "nghịch lý". Những nghịch lý đó nêu lên những câu hỏi quan trọng về nhận thức luận. Trong thời điểm hiện nay, theo thuyết Lượng tử, vật chất có một số đặc tính "nghịch lý" điển hình sau đây: Nghịch lý 1: Các đơn vị vật chất (thí dụ electron) có những đặc tính khác nhau. Khi thì nó xuất hiện như những hạt (dạng hữu hình), khi thì như sóng (dạng vô hình), tùy theo điều kiện xung quanh và tùy theo các phương tiện quan sát và dò tìm chúng (tức là tùy thuộc vào nhân duyên). Đặc tính này được xem là một nghịch lý vì sóng và hạt là hai dạng tồn tại của vật chất hoàn toàn khác nhau, loại bỏ lẫn nhau. Thế nhưng hai dạng tồn tại đó của vật chất được kết quả thực nghiệm thừa nhận một cách thuyết phục, thậm chí thiết lập mối quan hệ về toán học giữa hai bên một cách dễ dàng (phương trình Sóng-Hạt của Schrodinger, Nobel vật lý năm 1933). Nghịch lý 2: Vì nguyên lý bất định (do Heisenberg khám phá ra, Nobel vật lý năm 1932) nên ta không thể nào biết được một electron có chức năng gì và nó đang ở đâu, một electron có thể có mặt ở nhiều nơi cùng một lúc, cách hiểu này hoàn toàn mới lạ so với vật lý học cổ điển, vốn cho rằng mọi vật đều có tính cách chỉ định. Trong kinh Hoa Nghiêm có lần Đức Thế Tôn có mặt một lần ở cả ba cõi: Ngài đến thăm cõi trời Dạ Ma, đồng thời cũng có mặt ở cõi Ta Bà và cõi trời Đao Lợi nữa. Trong thời hiện đại ngày nay thì có nữ thiền sư Dipa Ma (1921-1989) người Ấn Độ có thể cùng một lúc phân thân ra ở hai nơi. Cuộc đời bà được ghi lại trong sách "Knee Deep In Grace" (một sưu khảo của Amy Schmidt, bản dịch Việt ngữ là "Ngập Sâu Trong Ân Sủng" ). Sau đây là một trích đoạn trong sách: "Đôi khi Dipa Ma và em bà là Hema đi đến trình pháp với thiền sư Munindra (người thầy của bà) bằng cách bất thần hiện hình lên trong phòng ông, và Dipa Ma cũng có lúc bước ra khỏi phòng xuyên qua cánh cửa khép chặt. Cũng tựa như trò đùa, bà đứng lên khỏi ghế, bước tới vách gần đó và đi ngang qua tường. "Nếu bà đi bộ một mình trong đêm tối, bà phân thân ra, thành có thêm một bạn đồng hành đi bên cạnh, để khỏi bị ai khuấy phá. "Khả năng của Dipa Ma về địa hạt nầy đã được trắc nghiệm lại và được một nhóm khoa học gia khác xác nhận. Thiền sư Munindra có quen biết với một giáo sư về Cổ sử Ấn độ tại trường Đại học Magadh, ông ấy đã tỏ ra rất nghi ngờ về các năng lực thần thông. Munindra mới đưa đề nghị chứng minh sự có thật của các năng lực thần thông và cả hai ông cùng thiết lập một cuộc thử nghiệm. Vị giáo sư liền nhờ một người sinh viên tín cẩn ngồi canh chừng trong căn phòng Dipa Ma đang ngồi thiền, để chắc chắn rằng bà chẳng hề rời khỏi chỗ ngồi của bà trong phòng. Đến ngày đã hẹn trước, người sinh viên kiểm nhận là Dipa Ma chẳng hề rời khỏi tư thế ngồi thiền, và cùng lúc ấy, bà lại hiện lên trong văn phòng của vị giáo sư cách đó mười dặm và trò chuyện cùng ông... Nghịch lý 3: Trong một số trường hợp, hai đơn vị vật chất trước đó thuộc về một chỉnh thể nay đã bị cách ly nhưng vẫn có một mối liên hệ liên thông. Hai đơn vị đó "biết" đến tình trạng của nhau một cách tức thời, dù chúng bị cách ly với khoảng cách xa bất kỳ. Đặc tính thứ ba của vật chất này mới nghe qua không có gì to tát lắm, nhưng thực ra nó dẫn ta tới nghịch lý quan trọng nhất từ xưa tới nay. Đó là, vì tính chất "liên thông" này, đã thật sự phủ định quan niệm: “Có một thế giới khách quan tồn tại độc lập ở bên ngoài ý thức con người”. Nhưng trước hết ta cần giải thích do đâu mà có đặc tính thứ ba nói trên. Năm 1935, Einstein và cộng sự đề nghị một phép thí nghiệm, thí nghiệm nổi tiếng này được mệnh danh là: Nghịch lý EPR (chữ viết tắt tên của ba tác giả của nó: Albert Einstein, Boris Podolsky, và Nathan Rosen). Ở đây ta chỉ trình bày Nghịch lý EPR một cách hết sức đơn giản. Trong nghịch lý này Einstein cho cách ly hai đơn vị vật chất A và B (thí dụ nguyên tử hay electron), chúng vốn nằm trong một thể thống nhất và do đó chúng có sẵn một mối liên hệ với nhau, thí dụ tổng số spin của chúng bằng không. Nay ta cách ly chúng hàng vạn dặm, không để cho chúng có thể tương tác lẫn nhau. Khi đo một trị số spin của A thì B lập tức có một trị số, để tổng số của chúng bằng không. Điều đó có nghĩa hai hạt A và B có mối liên hệ liên thông dù chúng cách xa hàng vạn dặm, tuy bị tách rời hai hạt này hành xử như là một khối thống nhất. Dường như có một sự tương tác đáng kinh ngạc và sâu sắc ở nơi linh hồn của vật lý. Người ta ngờ rằng thế giới hiện lên trước mắt chúng ta sở dĩ có tính chất riêng tư của chúng ta là vì hành động đo lường (nhận thức) của chính chúng ta. Thế thì phải chăng thế giới mà chúng ta đang thấy vì chúng ta đo lường nó hay nhận thức nó mà nó "có"? Phải chăng thế giới vật chất với những đặc tính riêng của nó không hề tồn tại độc lập mà chỉ xuất hiện khi ta nhận thức nó? Người ta chỉ biết rằng, cần phải đưa hành động đo lường (tức là Quan sát viên) vào trong một tổng thể: Vật được quan sát và Người quan sát thì mới hiểu được sự vật. Đi xa hơn, nhiều người thấy phải đưa ý thức hay hoạt động của ý thức như là một yếu tố chủ yếu vào tổng thể này, thí dụ Eugene Wigner, nhà vật lý đoạt giải Nobel, ông tin rằng yếu tố nhận thức là cần thiết trong quá trình đo đạc cơ học lượng tử. Đi xa hơn nữa, người ta phải thấy “ý thức thông thường” của con người là một loại ý thức bị quy định trong tầm nhìn “cổ điển”, bắt nguồn từ thời Hy Lạp cổ đại, không tương thích với tính chất lượng tử của nền vật lý mới. Nhà vật lý Nick Herbert viết như sau: "Nguồn gốc của mọi nghịch lý lượng tử hình như xuất phát từ thực tế là: sự nhận thức mang tính chất cổ điển của con người tạo ra một thế giới gồm những thực thể riêng biệt, trong khi đó thế giới lượng tử thì hoàn toàn không phải như thế". David Bohm (1917-1992), nhà vật lý lý thuyết, giáo sư tại Đại học tại Luân Đôn đã đưa ra một thí nghiệm làm cho tên tuổi của ông trở nên nổi tiếng đó là: Ảnh toàn ký (Holo-Gram). Ảnh toàn ký là hình ảnh ba chiều được hình thành bởi tia sáng laser. Đầu tiên, một vật thể ba chiều được chiếu rọi bằng laser và sau đó cho phản chiếu lên phim. Tấm phim lại được rọi bằng một nguồn laser khác. Hai nguồn laser sẽ giao thoa với nhau trên phim và ảnh giao thoa sẽ được ghi lại trên phim. Ảnh giao thoa chỉ là những nét chi chít đậm nhạt hầu như vô nghĩa. Thế nhưng nếu ta rọi phim đó bằng một nguồn laser khác thì sẽ hiện lên hình ảnh của vật thể ban đầu trong dạng ba chiều.Điều kỳ lạ là nếu ta cắt tấm phim ra làm hai phần và chỉ rọi một nửa thì toàn bộ hình ảnh ba chiều vẫn tái hiện. Nếu ta cắt nhỏ tấm phim ra thành những đơn vị rất nhỏ, thì hình ảnh toàn phần ba chiều vẫn hiện lên đầy đủ, dĩ nhiên kích thước của nó bị thu nhỏ đi. Điều đó có nghĩa, mỗi phần nhỏ nhất của tấm phim vẫn chứa đầy đủ nội dung toàn phần của vật thể ban đầu. (còn tiếp)