Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Ngày mai sẽ có người liên hệ con đến nhận hay gửi cho con, tùy vào điều kiện Phật tử họ giúp Cô. Hy vọng con sớm nhận được!
  2. De Co lien he co dia chi tai Hanoi va bao con qua dt nhe!
  3. Như đã có 2 bài trình bày sau bản quyết định của Ban Giám Đốc Trung Tâm, Wild 1 lần nữa khẳng định mình không thể tiếp tục đảm trách Trang Mục Từ Thiện bởi nhiều lý do đã nêu ở trên. Nhưng vì sự tín nhiệm và vì mong muốn của ACE hội viên cũ mới, người thân cùng bè bạn "nên thực hiện chương trình đem Xuân yêu thương đến những người bệnh nặng không có Tết" Wild đã hết sức cố gắng hoàn thành buổi phát quà cuối năm vào ngày 28 âm lịch vừa qua. Đến hôm nay Wild mới có thời gian tổng kết và tường minh, mong các bạn miễn thứ về sự chậm trễ này. Một lần nữa Wild chân thành cám ơn lòng tin của các nhà hảo tâm đã thông qua Wild chuyển trao tịnh tài góp gió thành bão để thực hiện viên mãn, và cũng để chấm dứt nhiệm vụ, hôm nay Tài Khoản của Wild xin được phép không nhận bất cứ nguồn đóng góp nào kể từ sau bài viết này. Số tiền còn lại Wild cố gắng tìm 1 hoàn cảnh thật đặc biệt đáng thương để chuyển trao. Việc này sẽ được thực hiện trong thời gian ngắn nhất kịp thời và đăng tải trên trang FB của cá nhân Wild, mong các bạn quan tâm theo dõi. Trân trọng kính chào!
  4. Bác Thiên Sứ :1,000,000 đ (một triệu đồng) Nhan Qua :1,000,000 đ (một triệu đổng) Bác Ngô Văn Quang (ng nhà Dieu Hoa) : 2,620,000 đ (hai triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng) Manhhungjpg :200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) An Thanh :1,000,000 đ (một triệu đồng) Bé Doãn Thành :500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) Bảo Hằng :1,000,000 đ (một triệu đồng) Cô Hương (bạn của Wild) :500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) Trần minh Nghĩa : 1,000,000 đ (một triệu đồng) Nguyễn Lộc : 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) Cattrang : 300,000 đ (ba trăm ngàn đồng) Tâm Nghi : 100,000 đ (một trăm ngàn đồng) Hiện giữ : 9,420,000 đ (chín triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng) Cho đến hôm nay Wild nhận thêm của các bạn có tên sau đây: Thiên Bồng : 500,000 đ Ha Trang : 300,000 đ Nhanqua : 2,000,000 đ Bảo Bình : 1,000,000 đ Minh Thu : 500,000 đ Narada Hoàng : 200,000 đ Hoàng Long : 500,000 đ Phung Trân : 500,000 đ Anh Chung : 200,000 đ Phung Lan Anh : 500,000 đ Trung Vu : 500,000 đ dtmhanh : 500,000 đ manhhungjpg : 200,000 đ Thanh Huong_geo : 500,000 đ Tổng nhận cho đợt II là : 7,900,000 đ (bảy triệu chín trăm ngàn đồng) và đợt I nhận được 9,420,000 đ (chín triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng) = 17,320,000 đ (mười bảy triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng) Đã chi : 13,650,000 đ (mười ba triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) Còn : 3,670,000 đ (ba triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng)
  5. Dù thiếu vắng 1 số thành viên quen thuộc, nhưng chúng tôi vẫn thừa nhân sự để đàm bảo kế hoạch trao quà vào những ngày cuối năm bận rộn này. Kết thúc với tất cả tâm trạng hoan hỷ! Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả Phật tử và chúng sanh Giai cộng thành Phật Đạo Nam Mô Công đức Lâm Bồ tát Ma ha tát.
  6. những niềm vui.... giấu mặt nối tiếp niềm vui.... Và cái nắng xuân... và với những bước chân vui.... những ng bạn thiện nguyện vẫn tiếp tục công việc của mình... Và những nhận vẫn tạo thành vòng tròn chờ đợi.... các thiện nguyện viên vẫn phải khẩn trương để đảm bảo quà đến tay (còn tiếp)
  7. Thời gian qua chương trình thực hiện cận tết ngày 28 âl và do bận bịu việc riêng, Wild đã chậm trễ trong việc tường minh công tác Từ Thiện chuyến cuối năm đến với bệnh nhân Ung Bướu. Nay Wild tường minh qua hình ảnh đến các bạn quan tâm: 50 Bánh chưng nóng chúng tôi nhận được từ Trung Nhân tặng cho người nghèo ven kênh rạch Quận 8. 9000 đ /gói X 350 phần Kẹo Alpenliebi = 3,150,000 đ (Ba triệu một trăm năm mươi đồng) 18,000 đ/h X 350 hộp Bánh Blueberry = 6,300,000 đ (Sáu triệu ba trăm ngàn đồng) 12,000 đ /5g/ng X 350 phần Milo lúa mạch = 4,200,000 đ (bốn triệu hai trăm ngàn đồng) Tổng 13,650,000 đ (mười ba triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng) Số quà sau khi được đóng gói thành 35 thùng, Wild đã vận chuyển bằng xe tải nhỏ đến điềm tập kết. Sự chen lấn khi phân phát thật vô cùng hối hả. Dù việc ổn định trật tự là 1 điều khó nhưng chúng tôi vẫn đảm bảo quà đến với những người có phiếu. Cũng những cánh tay đưa phiếu và những bàn tay trao quà chúng tôi đã gặp nhau ở 1 điểm hạnh phúc của trao và nhận. (còn tiếp)
  8. Đã nhận 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) của bạn trong tk Trần Ánh Tuyết.
  9. Cảm niệm công đức của Tâm Bất Biến, Cô sẽ liên hệ Phật Tử tại Hà Nội chuyển đến Sư Thầy sớm nhất ! Hy vọng nhà Chùa sẽ nhận được Linh Chú 1 ngày rất gần.
  10. Cô gửi đến con và vài bạn ở hn cách đây 2 ngày, có người cũng đã phản hồi nhận đủ, có thể do con ở hải phòng nên chậm hơn không?
  11. con có thể xem lại các trang trước cụ thể trang 23 để biết có thực hiện được hay ko và vì sao nhé!
  12. Cô vứa gửi cho các bạn hà nội sáng nay! lúc ấy cô chưa có đt của con! hy vọng các bạn nhận đc nhanh và sớm nhất! Như Trung Vũ đã nhận rồi đấy ah!
  13. Các bạn ở hn nếu có số đt, Wild liên hệ sẽ được nhận ngay vì mình đang ở HN ah!
  14. Địa chỉ này đầy đủ chưa ah? Cô sẽ chuyển tù hà nôi để con sớm nhận được,nhưng địa chỉ Cô thấy chưa rõ ah!
  15. Lương y ở ẩn mách bài thuốc trị viêm loét dạ dày và viêm xoang mãn tính cực công hiệu Lương y Nguyễn Khánh thuộc thế hệ thầy thuốc đông y lớn tuổi hiếm hoi còn lại ở Thừa Thiên - Huế. Chuyện nghề của ông lão 75 tuổi, ngụ tại thôn Tây Thượng, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang này có những câu chuyện khá “lạ đời”, ví dụ như vì một lần bất đồng quan điểm với cách chẩn trị của một bệnh nhân mà ông “bỏ làm người nhà nước”, về quê bốc thuốc chữa bệnh giúp người. Tiếp xúc với ông lão, người ta thấy ông quả là một “thư viện bài thuốc”. Tự chế bài thuốc đặc trị viêm loét dạ dày Nói về bệnh viêm loét dạ dày, ông Khánh cho biết bệnh thường gặp phải ở lứa tuổi trung niên. Nguyên nhân chủ yếu do người bệnh uống nhiều bia rượu, có thói quen ăn thức ăn cay, nóng. Bài thuốc Tiêu dao theo ông có hiệu quả cực kỳ hiệu nghiệm, gồm 9 vị với hàm lượng lần lượt như sau: Đương quy (32g), Bạch thược (24g), Bạch truật (24g), Sài hồ (8g), Phục linh (24g), Chích thảo (4g), Nhũ hương (6g), Trần bì (4g) và Thần khúc nướng cháy (tức phần thuốc ngưng đọng lâu ngày thành tảng trong cối xay thuốc, 4g). Những vị thuốc trên có thể dễ dàng mua được từ tất cả các nhà thuốc đông y. Sau khi tập hợp đầy đủ các vị thuốc, người dùng chỉ cần đem trộn đều rồi sắc nước uống theo công tức 3 bát nước, lấy 1 bát rồi uống. “Mỗi ngày sắc một thang, chia thành hai lần sau các bữa ăn”, ông Khánh hướng dẫn. Ông Khánh lưu ý vị thuốc Nhũ hương chỉ nên sử dụng khi xác định dạ dày bệnh nhân bị loét, vì chất này có tác dụng dán liền những vị trí bị loét. Nếu chỉ mới viêm nhiễm mà dùng đến Nhũ hương sẽ gây ra cảm giác đau nhói do dạ dày thắt lại. Trong quá trình uống thuốc, điều cấm kị đối với bệnh nhân là kiêng tránh thức ăn cay, nóng và các chất kích thích. Để bệnh chóng khỏi, bên cạnh việc uống thuốc đều đặn, người bệnh cần tập luyện chế độ ăn uống hợp lý cả về chất lượng lẫn thời gian ăn nhằm tạo tính ổn định cho quá trình điều tiết men tiêu hoá. Về tác dụng của bài thuốc Tiêu dao, vị lương y khẳng định dù bệnh nặng đến mấy, chỉ cần kiên trì uống thuốc sẽ khỏi trong thời gian ngắn. Cụ thể: “Thông thường chỉ cần uống thuốc từ 7 – 10 ngày, bệnh tình sẽ thuyên giảm ngay. Ngoài tác dụng chữa trị chứng viêm loét dạ dày, bài thuốc còn giúp điều hoà gan huyết”. Trình bày tính ưu việt của bài thuốc đông y, ông lão cho rằng thuốc cho hiệu quả cao, giá thành lại “mềm” nên có thể áp dụng rộng rãi, bất kể ai đều có thể tự chế thuốc để chữa trị cho mình và người thân. Bài thuốc đã được hướng dẫn cho các bệnh nhân sử dụng từ hàng chục năm nay, bản thân ông không thể nhớ rõ bao nhiêu người đã thoát khỏi sự hành hạ của chứng bệnh vì “nhiều quá, không nhớ nổi”. “Bí kíp” loại trừ bệnh viêm xoang mãn tính Một “tuyệt chiêu” khác của ông Khánh là bài thuốc trị chứng viêm xoang mãn tính. Đây là căn bệnh tưởng chừng đơn giản nhưng rất khó chữa trị dứt điểm, gây cảm giác khó chịu cho người mắc phải. Kinh nghiệm lâu năm trong nghề giúp ông biết về bài thuốc “Thương nhĩ tán” chữa trị bệnh này, gồm bốn vị: Thương nhĩ tử (loại hạt có gai) đã sao cháy gai 40g; Bạc hà diệp phơi khô 3g; Bạch chỉ 20g; và Tân nhi (tức búp đa lông) 12g. Là thầy thuốc Đông y, nhưng ông lão lại không kiếm tiền bằng nghề thuốc, mà từ nhiều năm nay chủ yếu kiếm sống bằng “tài lẻ” chuyên dịch sách Hán Nôm, viết gia phả, câu đối.“Tôi không muốn tranh giành tiếng tăm, miếng ăn hay tranh đua thiệt hơn. Với thuốc, tôi chỉ đơn thuần muốn làm nghề, giúp người”, ông cười, bày tỏ quan điểm sống. “Trộn đều thuốc đem sắc lấy nước uống như thông thường, cần chú ý uống lúc nước thuốc còn nóng. Trước khi uống thì ăn một cọng hành tươi”, ông lão hướng dẫn. Sở dĩ phải uống thuốc lúc đang nóng bởi như thế sẽ tận dụng hơi nóng, đẩy tinh dầu trong hành tươi lên mũi. Quá trình này còn được gọi là xông mũi, giúp giải trừ khí độc, thông mũi từ đó dứt cơn viêm xoang. “Uống thuốc chừng bảy thang sẽ cho kết quả rõ rệt”, thầy thuốc Khánh tự tin. Điều cần lưu ý đối với bệnh nhân viêm xoang là hạn chế tối đa thức uống lạnh, chú ý giữ ấm cơ thể. Tương tự bài thuốc chữa trị bệnh viêm loét dạ dày, bài thuốc chữa viêm xoang rất dễ bào chế, giúp tiết kiệm chi phí đáng kể. Quá trình hành nghề, ông Khánh đã áp dụng bài thuốc “thương nhĩ tán” cho hàng trăm trường hợp và đều cho kết quả khả quan. Về nguồn gốc hai bài thuốc trên, vị lương khiêm tốn thừa nhận bản thân ông chẳng sáng tạo hay phát minh nên. Đó đều là những phương thuốc được dân gian sử dụng nhiều, được ghi chép cụ thể trong tài liệu y học cổ truyền dân tộc. Lương y ở ẩn tốt bụng Lương y Nguyễn Khánh thuộc thế hệ thầy thuốc đông y lớn tuổi hiếm hoi còn lại ở Thừa Thiên Huế. Cơ duyên đến với nghề y của ông cũng thật đặc biệt. Ông trải lòng hồi 14 - 15 tuổi phải vào Đà Lạt học chữ, thời gian đó thường bị chứng đau đầu “quấy nhiễu” không sao ngủ ngon giấc. “Tôi tìm sách đông y đọc, tìm hiểu cách trị bệnh cho chính mình. Một hôm tôi tự mình châm cứu theo sách và bất ngờ ngủ thiếp đến chiều tối mới dậy. Từ đó tôi càng tin tưởng và đam mê nghề thuốc đông y hơn”, ông nhớ lại. Thống nhất đất nước, chàng trai tiếp tục theo nghề, ngoài thời gian lên lớp còn tìm gặp những thầy lang giỏi khắp nơi học hỏi. Đầu những năm 1980, ông vào công tác tại Bệnh viện Y học cổ truyền TP HCM, sau đó chuyển về Bệnh viện Y học cổ truyền một tỉnh miền Trung. Vị lương y này “lạ đời” đến mức do một lần bất đồng quan điểm trong việc chẩn trị cho một bệnh nhân, ông thẳng thắn xin nghỉ việc, trở về cuộc sống “ẩn dật”. Về quê, ông giúp đỡ những bệnh nhân khó khăn bằng cách bắt mạch khám bệnh miễn phí, hướng dẫn cách bốc thuốc điều trị sao cho hiệu quả nhất. Dù cuộc sống “ẩn dật”, ông lão vẫn không ngừng nghiên cứu, trau dồi nghề nghiệp bản thân. Ông đưa tấm giấy hình tròn ghi rõ từng loại bệnh và huyệt đạo cần châm cứu khi chữa trị, là tấm la bàn châm cứu, thành quả lớn nhất trong nghề y như lời ông tự bạch: “La bàn tóm tắt cách thức chữa trị bằng phương pháp châm cứu với hầu hết các bệnh. Tấm la bàn chỉ rõ tất cả các kinh mạch trên cơ thể người, chỉ cần xoay đến mục bệnh cần tìm rồi theo đó mà châm là xong. Mất hơn chục năm tôi mới hoàn thiện xong”. Ông lão luôn sẵn lòng bày vẽ kinh nghiệm, chỉ bảo phương pháp trị bệnh cho tất cả những ai có nhu cầu, cũng là cách để khỏi thất truyền nhiều bài thuốc quý ngày trước “vang danh” mà nay hiếm được ai biết đến. Theo Thiên Hải - PLVN
      • 4
      • Like
  16. Hãi hùng 3 năm bắn chim bị "báo oán" 18 năm đau đớn Khi còn đi học, tôi hoàn toàn không tin Phật, Bồ Tát, Tội, Phước-Đức hay nhân-quả báo ứng gì cả. Tôi cho rằng đây là chuyện của những người mê tín, thiếu học vấn, chứ còn người có học thức thì không tin những việc nầy. Khi còn nhỏ, tôi sống ở tỉnh Quảng Đông. Thời gian đó và ở nơi đó, tôi đã gặp chuyện nhân quả báo ứng mà chính bản thân tôi bị. Trải qua hơn 20 năm vở kịch kinh hoàng nầy mới được diễn xong, máu và nước mắt đã làm tôi tỉnh ngộ, nhận thức của tôi thay đổi 360 đô. Vì không muốn ai dẫm lên vết xe đổ của tôi, tôi xin viết câu chuyện có thật của bản thân mình, để mọi người đừng làm cái việc như tôi đã từng làm, và đây cũng là cũng cách sám hối mà tôi đã thực hành bao năm nay. Năm 1960 vì hoàn cảnh khó khăn, tôi buộc phải nghỉ học khi đang học trung học phổ thông. Từ Quảng Xuyên, tôi trở về quê hương để phụ gia đình làm rẫy. Do còn quá trẻ, nhận thức kém, tôi suốt ngày sống buông lung không có mục đích. Lúc bấy giờ đang là thời kỳ ‘Cách Mạng Văn Hoá’, ở thôn quê gần 10 năm thì mọi tín ngưởng tôn giáo đã bị dẹp sạch hoàn toàn. Thanh thiếu niên lớn lên chỉ tin khoa học, tuyệt đối không được tin Phật, tin Nhân-Quả. Đương nhiên tôi cũng không là trường hợp ngoại lệ. Do cuộc sống quá vô vị, tẻ nhạt, tôi nghĩ phải tìm cách giải trí gì đó để kích thích cuộc sống. Vả lại lúc đó vật chất, thực phẩm vô cùng thiếu thốn, thèm thịt còn hơn thèm á phiện nữa, do đó tôi tích cóp tiền trong nhiều năm mua được cây súng hơi. Từ khi có súng, tôi lấy việc bắn chim làm thú vui, bắn được chim tôi liền đem về làm thịt, ăn cho có thêm chất dinh dưỡng. Hai ba năm sau, nhờ bắn chim nhiều nên kinh nghiệm càng dày dạn, tôi trở thành xạ thủ bắn chim có tiếng, Tôi thường nấp vào những đám ruộng hoang, bên rừng cây, hoặc vào trong núi để tìm chim bắn. Chỉ cần nghe thấy chim hót trên cây, tôi liền mò đến và giương súng bắn; trong nháy mắt viên đạn trong nòng súng của tôi đã ghim vào con chim. Máu nó tuôn chảy, nhỏ thấm vào lá cây, một lúc sau mới rớt xuống, nhưng mắt của nó vẫn giương to không chịu nhắm lại. Hình như nó còn luyến tiếc bầu trời trong xanh, cánh rừng tươi mát, đàn con dại trong tổ đang chờ mẹ, cha đi kiếm mồi về, hay là nó không nhắm mắt vì thù hận tôi? Có nhiều khi con chim bị bắn trúng, rơi xuống đất, vẫy cánh yếu ớt vài cái rồi mới chết, lông mao bay tứ tung, máu chảy nhầy nhụa. Có những con chim chỉ bị thương, nó cố dùng chút hơi tàn để chạy trốn; thì tôi đuổi theo ngay, quyết không để nó trốn thoát. Có khi đuổi mệt quá, tôi liền cho nó ăn thêm một viên đạn nữa. Cũng có khi tôi lần mò theo vết máu để tìm, rất nhiều con chim khôn lắm, biết trốn vào cỏ, khi tôi phát hiện ra thì thấy nó đang giẫy giụa, miệng há hốc, máu trong miệng túa ra... Thế mà tôi nào biết thương nỗi thống khổ của nó? Lúc ấy tôi chẳng mảy may động lòng hành động tàn nhẫn của mình, cũng không hề có cảm giác tội lỗi, mà còn cho đó là thú vui nhất trên đời, nên càng ra sức bắn giết. Tôi có thể bỏ cả ngày đi săn lùng chúng mà không thấy mệt mỏi. Vì đã giết quá nhiều chim, cho nên bất luận tôi đi đến đâu, trên tay có cầm súng hay không, tất cả chim muông vừa thấy tôi là tự dưng chúng đều bay mất dạng. Thậm chí, có những đàn chim rất lớn, chúng đang tìm mồi, vừa thấy bóng dáng tôi từ xa là chúng lập tức bay ngay; động tác của chúng vô cùng vội vàng, chẳng những vậy mà chúng còn hốt hoảng kêu la nữa. Do vô minh, tôi không biết rằng do sát khí của mình quá nặng khiến chim muông vừa thấy bóng tôi liền chạy trốn vì quá sợ hãi. Thời gian tôi bắn chim không lâu, chỉ trong khoảng ba năm, từ năm 18 tuổi cho đến năm 20 tuổi, nhưng vì là tay thiện xạ, lại rất say mê, nên số lượng chim trời bị tôi bắn rất nhiều, có ngày bắn được mấy chục con. Không có người thân bên cạnh, người trong làng cũng không ai khuyên bảo, tôi lại càng dấn thân sâu vào tội lỗi. Mãi sau, tôi dần nhận thấy hành động của mình quá tàn nhẫn, tôi mới bỏ việc bắn chim. Một lần nọ, tôi tình cờ gặp được một người bị dân trong làng cho là "gàn dở mê tín" và "côn đồ". Tôi và ông ta cùng đi chung một đoạn đường. ông kể cho nghe một chuyện có liên quan đến báo ứng. Thú thật, lúc ấy những tư tưởng được nhồi sọ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã ăn sâu trong trí nên tôi không một chút tin tưởng vào lời ông. Nhưng, sâu trong tâm khảm tôi, vẫn còn lắng đọng âm hưởng những gì ông nói, tôi thường thấy bất an vì những hành động trước kia của mình. Tôi bắt đầu đi tìm người để thỉnh giáo. Nhưng những người trong làng họ đâu có tin tội phước, đâu có tin Nhân-Quả Báo-Ứng, biết hỏi ai bây giờ? May sao, giữa cánh đồng có một ngôi miếu bị bỏ hoang, trong ngôi miếu ấy có một ông lão ngày ngày lo việc hương khói, tôi liền đến thỉnh giáo. Sau khi nghe tôi kể về những hành động tội ác trước kia của mình, ông suy nghĩ một lúc rồi nói: - Theo chỗ tôi được biết, vấn đề của anh thì nếu đã biết sợ tội ác, thì phải mau chóng quyết tâm sửa lổi lầm, lúc nào anh cũng phải có tâm nguyện: thà chết chớ không làm việc ác nữa, thì mới mong cứu vản bớt việc ác báo sau nầy. Đó chỉ là lý thuyết, nhưng thực tế chẳng hề dể dàng, đơn giản như vậy. Hai năm sau, tôi phát hiện ở hậu môn của mình có năm sáu cục trĩ, nó thường làm cho tôi đau đớn thống khổ vô cùng, nhất là những lúc đi vệ sinh. Trước giờ bệnh trĩ là căn bệnh mà mọi người thường gặp, chỉ cần tìm một vị bác sĩ chuyên khoa thì sẽ chữa bớt ngay. Tôi liền đi mời một vị bác sĩ giỏi về bệnh trĩ đến chữa bệnh. Cách trị liệu của ông ta là dùng một loại thuốc nước có mùi rất thối xoa vào những cục trĩ đó, mục đích để cho thuốc nầy ăn mòn dần dần những cục trĩ. Hàm lượng thạch tín trong thuốc nước của ông rất cao (thạch tín là hợp chất Arsenium, ký hiệu As, màu vàng, vị đắng, rất độc). Mỗi ngày ông đến nhà để thoa thuốc, sau đó mỗi cục trĩ ông châm một cây kim. Nhiều năm lão luyện, tay nghề ông rất giỏi, cộng thêm ông dùng thuốc tê, vì vậy khi châm kim vào tôi không có một chút cảm giác đau đớn. Nhưng khoảng năm giây sau khi châm, tôi thấy trong tim hồi hộp khó chịu, hô hấp bắt đầu khó khăn, thấy trời tối sầm, tình hình không mấy khả quan. - Không được rồi! Bác sĩ!... Tôi dùng hết sức mới nói được mấy tiếng đó, nói xong tôi không còn sức để thở nữa. Lúc ấy trước mắt chỉ là màn đen tối mịt, dù tôi cố mở to mắt cũng không thấy được gì hết, tay chân run rẩy, rung lắc giống như thây ma treo cổ bị gió lùa; tiếp theo là co giật giống như người mắc bệnh kinh phong, cảm giác như bay lơ lửng trong không trung; tâm tôi tuy vẫn tỉnh táo sáng suốt, nhớ rõ từng hành động cử chỉ của mình, nhưng vô cùng khó chịu. Tôi nghe rất rõ tiếng hô hoán của bạn tôi đang đứng bên cạnh để chăm sóc: - Bác sĩ! Không ổn rồi! Anh ta sẽ chết mất! Không cần thoa thuốc nữa! Hãy mau rút kim ra đi! Anh ta la tiếp: - Máu chảy ra nhiều quá kìa, Bác sĩ! Chất độc trong thuốc nước của ông đã xâm nhập vào máu của bạn tôi rồi... Rồi anh ta làm náo động cả lên, cảm giác của tôi lúc đó rất lạ kỳ, tôi thấy hình như có người rót nước vào miệng cho tôi uống... Khoảng nửa giờ sau, tôi dần dần tỉnh lại. Kiểm tra lại, thì đâu có ai cho tôi uống nước lúc đó , và nguyên nhân là do vì muốn bệnh mau lành nên ông bác sĩ đã bỏ hàm lượng thạch tín vào trong nước thuốc khá cao, chất thạch tín theo cục trĩ xâm nhập vào mạch máu, mà mạch máu thì thông với tim, vì vậy mới khó thở khi thoa thuốc . Nhờ phước duyên, tôi đã trở lại từ cõi chết, đây là lần thứ nhất tôi nếm sơ mùi vị của cái chết. Những lỗ kim châm lần này lại là nguyên nhân chính khiến cho sau nầy càng khó chữa trị. Trải qua 18 năm, những lỗ kim vẫn không lành, do trĩ ngoại liền với mạch máu nên những lỗ kim nầy giống như cái ống dẫn máu ra ngoài, do đó máu cứ liên tục chảy ra nhưng chuyện vẫn chưa kết thúc ở đây. Do lần chữa trị đầu tiên đã mắc sai lầm, nên máu càng ngày càng ra nhiều, lúc bình thường thấy ít ra máu, lâu lâu mới chảy ra vài giọt. Nhưng khi đi đại tiện thì thật kinh hồn. Vừa ngồi xuống, thấy máu chảy ra như nước từ trong người chảy ra qua đường tiểu tiện, máu chảy mạnh giống như lúc bác sĩ châm kim vào. Máu chảy xong , tiếp theo là huyết tương chảy ra thành vòi (huyết tương là chất nước màu vàng của máu sau khi loại bỏ hết huyết cầu). Mỗi ngày tôi phải đi đại tiện một lần, mỗi lần như vậy đồng nghĩa là tôi mất cả một bô huyết tương. Chỉ vài tháng sau, da tôi trắng bạch, tay chân run rẫy, mắt bắt đầu mờ dần. Nhiều người thấy tình cảnh như vậy họ thương quá, ai cũng bảo tôi đi mời bác sĩ về chữa, bằng không hậu quả khó lường được. Tôi lại đi mời một vị bác sĩ giỏi về bệnh trĩ, ông ta là bác sĩ chuyên khoa rất nổi tiếng ở một bệnh viện lớn. ông bảo tôi hãy yên tâm, ông chữa mau và đặc biệt không đau, vì không tiêm chích chỉ thoa thôi. Ông dùng thuốc giã nhuyễn, mỗi ngày thoa lên cục trĩ, cục trĩ sẽ khô và tự rụng. Ông còn bảo đảm chỉ sau một tuần toàn bộ những cục trĩ của tôi đều rụng hết, mà vĩnh viễn không còn chảy máu nữa. Đương nhiên khi nghe vị bác sĩ nổi tiếng hứa như thế, tôi vô cùng vui mừng, đặt hết hy vọng vào ông. Ngờ đâu, ngay đêm hôm đó, tôi rất muốn đi đại tiện. Nó thúc giục giống như bị tiêu chảy vậy. Tôi nhờ người bạn dìu đến nhà vệ sinh, mà hơn nữa tiếng không ra được một chút phân. Trải qua mấy tiếng, càng ngồi lại càng mắc. Tôi cố nhẫn nại ngồi, cho đến khi hai chân không còn cảm giác, đến nỗi ngủ gục trong nhà vệ sinh. Anh bạn chờ lâu quá đã vào phòng ngủ một giấc, giật mình dậy mới dìu tôi vào phòng ngủ. Nhưng chưa kịp leo lên giường, tôi lại trở ra đi cầu tiếp... Cứ như thế , suốt đêm tôi cứ chạy đi chạy lại liên tục. Thống khổ đến mức chảy nước mắt, toàn thân run lên. Vậy mà sự thống khổ nầy kéo dài liên tục suốt 7 ngày đêm, mà thống khổ của đêm sau lại hơn đêm trước. Trong lúc thống khổ cực độ, tôi ngước mặt lên hỏi ông trời: - Ông trời ơi! Tôi đã phạm tội gì mà phải chịu thống khổ như thế nầy? Dẫu bị như vậy, tôi vẫn chưa tỉnh ngộ đấy là lúc quả báo đến, sự trừng phạt giống như ở địa ngục. Nhưng qua bảy ngày, tôi bỗng dưng dần dần khỏe trở lại, những búi trĩ cũng khô và rụng từ từ, máu không còn chảy nữa, tôi hết sức vui mừng. Nhưng, chỉ 6 tháng sau, bệnh trĩ lại tái phát trở lại, chẳng những thế mà còn phát rất mau, máu cũng bắt đầu chảy ra như trước. Bi kịch tiếp tục tái diễn, tôi lại phải tiếp tục tốn kém tiền bạc để chữa trị Ngày nào cũng chảy máu, thân thể tôi suy nhược đi hẳn, dẫn đến chứng mất máu kinh niên. Các búi trĩ làm tôi vô cùng khó chịu giống như bị lửa thiêu, dao cắt, tôi đau đớn trong từng giây từng phút không lúc nào yên. Biết bao nhiêu vị bác sĩ giỏi, nổi tiếng đều bó tay đành giương mắt nhìn tôi quằn quại trên giường mà không còn biết làm gì cả. Riết tôi cũng bị hội chứng sợ hãi bác sĩ, vì bao nhiêu người chữa thì bệnh cũng không bớt mà còn đau đớn đủ kiểu nên tôi quyết định không chữa trị theo y học nữa. Cũng chính vì quyết định đó nên tôi lại bị điều tiếng thị phi trong làng là trốn tránh lao động (kỳ thực lúc này tôi cũng chẳng còn chút hơi sức để làm việc chi nữa). Thời đó là còn thời kỳ bao cấp, ai nấy cũng phải lao động sản xuất làm ruộng, rẫy nên việc tôi không chịu chữa chạy bác sĩ dấy lên mối nghi hoặc của người dân trong làng. Người thì nói: “Có bác sĩ mà không chịu chữa, vậy rốt cuộc nó bị bệnh thật hay giả?”, người khác thì bồi thêm: “Bệnh trĩ của nó là giả, trốn tránh lao động mới là thật!” Sau đó, trưởng thôn, phó thôn, gọi bác sĩ lấy cớ cùng đến thăm tôi nhưng thật ra để dò la, điều tra. Biết mục đích của họ, tôi vào nhà vệ sinh đại tiện, giống như thường ngày, máu chảy ra cả một đống lớn rồi tôi gọi mọi người vào xem. Trưởng thôn vốn không tin tôi bị bệnh thật, nên vào xem ngay. Vừa nhìn thấy, ông vô cùng kinh hãi thốt lên: “Ôi máu ra nhiều thế này à!” Sau đó, nể lời mọi người khuyên bảo tôi quyết định để ông bác sĩ, được cho là ‘thần tiên giáng thế’, chữa trị thêm một lần nữa. Than ôi, lại thêm một lần nữa, máu vẫn chảy, đau đớn vẫn còn nguyên, ông bác sĩ ‘thân tiên’ cũng đành bó tay rồi lặng lẽ bỏ đi. Có lúc tôi chịu đựng đau đớn hết nổi, tôi khóc than rên la thảm thiết. Trên gò má, nước mắt trộn lẫn mồ hôi chảy ròng ròng, tóc tai bù xù. Tôi bấu chặt quần áo, mền mùng có lúc xé rách, hai chân đạp tấm nệm đến mức rách bươm, chẳng khác chi người điên là mấy. Ai thấy cũng đều lắc đầu thở dài, có nhiều người đã rơi nước mắt khi thấy cảnh thống khổ của tôi. Trong lúc quằn quại trên giường chịu đựng đau khổ, tôi chợt phát hiện ra nếu để mông cao hơn đầu thì sự đau đớn sẽ giảm đi một ít, tức là nằm theo tư thế treo ngược. Tôi nhờ bạn tôi lấy mền gối chồng lên nhau, để lài lài giống như mái nhà,rồi tôi leo lên đó, đầu thấp xuống và nâng cao mông, như thế trồng cây chuối. Tôi không nhớ rõ mình trải qua bao nhiêu ngày đêm như vậy, tôi chỉ nhớ trừ lúc ăn cơm. đi vệ sinh ra, còn suốt ngày luôn sống với tư thế treo ngược kể cả lúc ngủ nghỉ. Rồi đến một ngày, khi đang ở tư thế ‘treo ngược’ như thế, khi máu chảy ra đọng thành vũng rồi thấm vào mền chiếu, nằm trên vũng máu đỏ tươi, tôi thảng thốt nhận ra cảnh tượng đó rất giống những con chim trước kia bị tôi bắn giết, máu của chúng nó cũng chảy rớt xuống những cành, lá cây. Trời ơi! tư thế "treo ngược" của mình với tư thế những con chim bị tôi bắn trước đây không hai không khác. Đây không phải là quả báo nhãn tiền đó sao? Đúng là "Nợ máu phải trả bằng máu, Nhân-Quả công bằng, một sợi tơ cũng không sót ". Cái cảnh tôi đang chịu đựng trong đau đớn đó không phải là hình phạt trong địa ngục đó sao? Tôi bắt đầu tỉnh ngộ ra rằng Tất cả những nỗi đau khổ của con người chẳng phải do ông trời làm ra mà chính là những tư tưởng xấu, hành động ác mà con người đã tạo trong đời này hoặc trong đời trước mới là nguyên nhân con người phải chịu mọi thống khổ trong hiện kiếp. Muốn cải đổi vận mệnh chỉ có một con đường duy nhất là năng làm việc lành, tích chứa âm đức mà thôi. Khi được thấu suốt, tôi đã không còn oán hận những vị bác sĩ đã ‘hại’ mình nữa, ngược lại, tôi lại vô cùng biết ơn họ, vì họ đã giúp tôi sớm trả xong món nợ máu. Nếu họ không chữa sai, có lẽ tôi còn mang bệnh tới già hoặc tiếp đến đời sau tiếp tục trả. Sau khi có nhận thức đứng đắn về cuộc đời, tôi luôn luôn sám hối trong tâm, có lúc sám hối cho đến khi chịu không nổi khóc rống lên mới thôi. Tôi quyết tâm "lấy công chuộc tội". tự nhủ tranh thủ lúc còn trẻ, gấp rút lo tu hành để cải thiện vận mệnh đời mình. Sau đó tôi thường nhờ bạn bè đi mua động vật để phóng sinh, hằng ngày gặp những cơ hội phóng sinh cứu sinh vật là tôi đều không bỏ qua, đồng thời tôi cũng dùng hết khả năng của mình để giúp đỡ người bệnh tật, nghèo đói. Tôi cũng thường ráng hết sức lực để bí mật đến ngôi đền giữa cánh đồng, lễ bái và cúng thí cho các oan hồn uổng tử ở mười phương, giúp họ được ấm no... Nói ra cũng thật kỳ lạ, từ sau khi tôi bố thí phóng sinh, cơn thống khổ của bệnh trĩ của tôi dần dần giảm thiểu một cách rõ ràng, máu cũng chảy ít hơn, dần dần cách hai ba ngày, rồi đến một tuần mới phát một lần mà không cần tới thuốc men chi cả. Nửa năm sau, bệnh bắt đầu bình phục, người tôi có da thịt trở lại, có thể đi lại mà không cần người dìu như suốt mười mấy năm qua. Tôi càng vui mừng nên ra sức làm việc thiện quanh năm suốt tháng như vậy. Bệnh trĩ từ tám, rồi mười ngày, một tháng, hai tháng mới phát một lần. Đến mùa xuân năm trước nó hết còn chảy máu và cơn đau hết hẳn. Tính ra từ khi phát bệnh cho đến khi lành hẳn hết cả thảy là 18 năm. Bảy năm trước, tôi may mắn được đến Hồng Kông, nhưng còn may mắn hơn nữa là gặp được Phật Pháp. Từ đó niềm tin của tôi đối với Nhân-Quả báo ứng càng thêm kiên cố. Tôi giác ngộ sâu sắc rằng: "Mục đích đời người, chẳng phải là tiền rừng bạc biển, nhà cao cửa rộng, hoặc danh cao chức trọng mới làm rạng rỡ tông phong. Chỉ cần siêng năng làm thiện pháp, tích chứa âm đức, không sát sinh, làm lợi vật lợi người, cửu huyền thất tổ nhờ đó mà được siêu thăng thì ta sẽ không thấy hổ thẹn một đời" Lưu Tâm Bình
  17. Tài Khoản của Wild có nhận được 300,000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo nội dung trên!
  18. Cô vừa nhận được 500,000 đ (năm trăm ngàn) cuả chipchip, cô sẽ chuyển đến Nha Khanh!
  19. Cô cũng đã trao đổi với bạn con, hãy có tín tâm vào Pháp của Đức Phật sẽ nhận được sự chuyển hóa ah con!
  20. Thật là hoan hỷ khi topic Từ Thiện mở lại, Wild được các nhà hảo tâm trong và ngoài diễn đàn ủng hộ rất nhiều, bên cạnh ý nghĩa đem chút ấm áp của Mùa Xuân sẽ chia đến những mãnh đời cùng khổ, bệnh nặng, xa nhà không nơi nương tựa. Ngoài tinh thần khích lệ của Bác Thiên Sứ, lòng bi mẫn đều đặn của nhan qua, Wild còn nhận được tịnh tài của người nhà hv Dieu Hoa qua lần tư vấn giúp đỡ gia đình cùng 1 số ACE thân thiết đã từng sinh hoạt Diễn đàn. Số đóng góp này nay đã lên đến con số kha khá để chúng ta có thể thực hiện 1 chuyến trao quà cuối năm. Nhưng như đã trình bày 2 bài viết trên, Wild mong muốn được ủy quyền công việc này cho Nha Khanh hay bất cứ thành viên nào do Ban điều Hành chỉ định, thiết nghĩ chỉ cần 1 cái tâm trong sáng 1 tấm lòng yêu tha nhân 1 nhiệt huyết trong chướng ngại là có thể làm được. Bên cạnh đó Wild cũng sẵn sàng hổ trợ kinh nghiệm phương tiện để các bạn thực hiện, dịp ra hà nội vừa qua Wild cũng trực tiếp gặp gỡ trao đổi cùng các Tv thường xuyên phát tâm, nhằm mục đích gửi trả số tiền mà họ đưa vào Tk nhưng mọi người đều mong muốn thực hiện 1 lần cho sự chuẩn bị chuyển giao. Do đó chương trình sẽ được thực hiện vào ngày 28 âm lich do Nha Khanh đảm nhiệm, tất cả số tiền đóng góp sẽ được giao lại cho Nha Khanh trong hôm nay. Mọi chi tiết xin liên hệ Nha Khanh và mong muốn các ACE cùng chung tay góp sức thực hiện chương trình này. Sau khi thực hiện Nha Khanh có nhiệm vụ đăng tải tường thuật hình ảnh ngay trong Topic này để tạo sự gắn kết cộng đồng. Thời gian qua trang mục này không nhận thêm 1 ý kiến đóng góp nào vì vậy chúng tôi cố gắng hoàn thành chuyển tải tình cảm của các mạnh thường quân theo danh sách dưới đây: Bác Thiên Sứ :1,000,000 đ (một triệu đồng) Nhan Qua :1,000,000 đ (một triệu đổng) Bác Ngô Văn Quang (ng nhà Dieu Hoa) : 2,620,000 đ (hai triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng) Manhhungjpg :200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) An Thanh :1,000,000 đ (một triệu đồng) Bé Doãn Thành :500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) Bảo Hằng :1,000,000 đ (một triệu đồng) Cô Hương (bạn của Wild) :500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) Trần minh Nghĩa : 1,000,000 đ (một triệu đồng) Nguyễn Lộc : 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) Cattrang : 300,000 đ (ba trăm ngàn đồng) Tâm Nghi : 100,000 đ (một trăm ngàn đồng) Hiện giữ : 9,420,000 đ (chín triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng) đến những người không may mắn! Hy vọng qua bài viết trên đây các bạn đang và đã phát tâm chia sẽ hãy tiếp tục ủng hộ Topic này để chúng ta nối những cánh tay yêu thương đến những người bất hạnh. Chào đoàn kết và thân ái!
  21. Đạo hữu Lillian Too, Phong Thủy gia này cũng là 1 phật tử do đó Bà trãi nghiệm và cho ra 12 lời khuyên như trên đây!
  22. Nhân dịp xuân Quý Tỵ 2013, chúng tôi đã sưu tầm và tóm tắt một số mẩu chuyện có liên quan đến rắn, xin gửi đến quý vị như một món quà Phật Pháp đầu năm. Truyện tiền thân Đức Phật hay còn gọi Bổn sanh truyện là tuyển tập bao gồm 547 câu chuyện nhỏ được sắp xếp thành từng chương theo thứ tự một bài kệ, riêng phần cuối được kết thúc bởi câu chuyện Vessantara nổi tiếng. Truyện tiền thân nhằm mục đích tạo niềm tin vào đạo pháp trong mọi tầng lớp xã hội từ vua chúa, Bà la môn cho đến các giới bình dân cùng khổ, nó giống như những truyện cổ tích dành cho trẻ em nhưng lại mang tính giáo dục cao về luật nhân quả nghiệp báo. Nhân dịp xuân Quý Tỵ 2013, chúng tôi đã sưu tầm và tóm tắt một số mẩu chuyện có liên quan đến rắn, xin gửi đến quý vị như một món quà Phật Pháp đầu năm. Kính chúc tất cả quý vị một năm mới nhiều an lạc, tràn đầy phước báu và tiến tu trong Phật Pháp. 1. Chuyện Con Rắn Tre - Veḷuka Jātaka (Jā.43). Bồ Tát được sanh làm vị ẩn sĩ đứng đầu một hội chúng ẩn sĩ gồm 500 vị. Một trong số 500 vị ẩn sĩ này có nuôi con rắn trong ống tre và thương yêu như con nên ông được gọi là Veḷukapitā (Cha của Veḷuka). Bồ Tát cảnh báo sự nguy hiểm, nhưng vị ẩn sĩ không nghe. Lần nọ, ông đi cùng các ẩn sĩ vô rừng hái trái và ở lại trong rừng hai - ba ngày nên con rắn bị bỏ đói trong thất. Lúc trở về, ông đến vuốt ve rắn và bị rắn cắn, rồi ngã ra chết. Chuyện kể về một tỳ-kheo khó dạy. Veḷukapitā là tiền thân của vị tỳ-kheo này. 2. Chuyện Con Rắn Phun Nọc Độc - Visavanta Jātaka (Jā. 69). Một người nông dân bị một con rắn độc cắn và người đó được đưa đến cho y sĩ (Bồ-tát), là một thầy trị nọc rắn nổi tiếng. Vị thầy cho người bắt con rắn kia về và buộc nó phải hút nọc của mình ra khỏi vết thương trên người của người nông dân. Rắn từ chối dù bị doạ bị giết chết bởi thầy rắn. Câu chuyện kể về Tôn giả Sāriputta nguyện không ăn bánh bột nữa vì đã lỡ ăn phần bánh bột dân làng cúng dường cho tỳ-kheo vắng mặt. Rắn là tiền thân của Tôn giả Sāriputta. 3. Chuyện Đúng Vậy Chăng? - Saccaṅkira Jātaka (Jā. 73). Vua trị vì xứ Benares có một Hoàng tử tên Duṭṭhakumāra mà ai cũng không thích. Một hôm, ông ra sông tắm. Có cơn giông nổi lên. Ông bảo nô tỳ đưa ông ra giữa sông để tắm. Họ thả hoàng tử xuống nước và trình báo nhà vua họ không thấy chàng đâu hết. Chàng bám được khúc cây trôi, trên đó có con rắn, chuột và két. Cả bốn được vị ẩn sĩ (Bồ Tát) cứu và dưỡng nuôi. Lúc ra đi, rắn nói mình có 400 triệu chôn ở một chỗ nọ mà ẩn sĩ có thể đến đó gọi “Rắn ơi!” là có ngay; chuột có 300 triệu dành cho ẩn sĩ; két hứa với ẩn sĩ gạo đầy nhiều xe; và Hoàng tử sẽ cúng dường tứ sự đầy đủ cho vị ẩn sĩ, mặc dù trong lòng chàng đang nung nấu căm thù muốn giết ngài. Sau khi Hoàng tử lên ngôi, vị ẩn sĩ đến thử lòng của ông như thế nào, cũng như ba bạn cũ. Ông đến rắn, gọi tên và được rắn dâng kho tàng liền. Chuột và két cũng giữ lời hứa. Còn Vua Duṭṭha cho đánh và đem ông ra lệnh xử trảm. Trên đường ra pháp trường, ông nói kệ rằng “Những người hiểu đời nói thật: Vớt khúc gỗ trôi tốt hơn cứu một sống người!” Được hỏi sao ông nói vậy, ông kể lại câu chuyện. Dân chúng phẫn nộ giết vua và đặt vị ẩn sĩ lên ngôi. Tân vương đem chuột, rắn và két vô cung nuôi. Chuyện kể về Devadatta âm mưu hại Phật. Duṭṭha là tiền thân của Devadatta; rắn là Tôn giả Sāriputta; chuột là Tôn giả Moggallāna; và két là Tôn giả Ānanda. 4. Chuyện Lửa Cháy - Ghatāsana Jātaka (Jā. 133). Một thời, Bồ Tát được sinh làm con chim chúa sống với đàn chim trên cây; trên cây này có một nhánh de ra trên hồ nước. Chim đậu trên cành để phân rơi xuống hồ, trú xứ của Rắn chúa Caṇḍa. Rắn chúa muốn đuổi chim đi nên làm nước hồ phun lên đốt cháy cây. Chim chúa thấy nguy cơ đến bèn gọi đàn chim bay đi lánh nạn. Nhiều chim không nghe nên bị cháy tiêu. Chuyện kể về một tỳ-kheo có lều bị cháy rụi. Dân làng cất cho ông một lều khác nhưng phải ba tháng mới xong. Trong ba tháng này ông không thể thiền định. 5. Chuyện Con Rắn - Uraga Jātaka (Jā.). Một thời, Vua Brahmadatta trị vì Benares tổ chức lễ hội để thần dân nhiều cõi đến vui chơi. Trong đám đông có Rắn Nāga đứng gần Kim-xí-điểu Garuḍa. Vô tình Nāga đặt tay lên Garuḍa. Xoay qua thấy Garuḍa, Nāga sợ quá bèn chạy trốn. Garuḍa rượt theo và quyết bắt Nāga. Đến sông, thấy một vị ẩn sĩ đang tắm và để áo vỏ cây trên bờ Nāga liền hoá ra hòn ngọc chui vô y. Garuḍa biết nhưng không bắt Nāga vì kính nể vị ẩn sư. Ẩn sư đưa cả hai về am thất và biến cả hai thành bè bạn qua lời giảng về lòng từ. Chuyện được kể liên quan đến hai võ quan luôn luôn tranh cãi mỗi khi gặp nhau. Không ai can ngăn được, kể cả nhà vua. Nhìn thấy hai ông đủ duyên đắc Sơ quả, đức Phật bèn đến nhà họ khất thực và vì họ nói kinh Sự Thật. Về sau hai ông trở thành bạn thân khiến ai ai cũng đều tán thán lời nhiếp phục của đức Phật. 6. Chuyện Con Chuột Rừng - Nakula Jātaka (Jā. 165). Đức Bồ Tát sanh làm đạo sĩ khổ hạnh trên Hy Mã Lạp Sơn. Trên đường du hành của Ngài có con chuột rừng và con rắn luôn luôn tranh cãi nhau. Ngài thuyết cho hai con vật nghe về lợi lạc của lòng từ và khuyên chúng không nên đố kỵ nhau. Chuyên được kể về hai sĩ quan của Vua Pasenadi hay cãi nhau. Có thể xem lại chuyện tiền thân số 154 - Uraga Jātaka. Hai con vật chỉ hai vị quan. 7. Chuyện Tu Tập Từ Tâm - Khandhavatta Jātaka (Jā. 203). Một thời, đức Bồ Tát sinh làm vị tu khổ hạnh ở -Kāsi. Được biết có nhiều tỳ kheo bị rắn cắn chết, Ngài tập họp các tỳ-kheo trong vùng lại và dạy các ông tu tập từ tâm đối với bốn gia đình rắn (Virūpakkha, Erāpatta, Chabbyāputta, và Kaṇhagotama) để tránh bị rắn cắn. Chuyện được kể về một tỳ-kheo chết vì bị rắn cắn. Câu chuyện như là nhân duyên của kinh an lành Khandha Paritta. 8. Chuyện Con Nhái Xanh - Haritamāta Jātaka (Jā. 239). Bồ Tát sanh làm con nhái xanh. Có con rắn đi bắt cá chun vô rọ bị cá cắn chảy máu phải bò ra núp bên bờ nước. Thấy con nhái xanh ở miệng rọ, rắn hỏi nhái chớ cá có quyền cắn rắn không. “Sao không,” - nhái đáp, “bạn ăn cá khi cá đến chỗ của bạn, cá cắn bạn lúc bạn đến chỗ của cá.” Cá nghe vậy bu tới cắn rắn chết. Chuyện kể về chiến trận giữa Vua Pasenadi và cháu ông là Ajātasattu, nói rằng lúc người này thắng lúc người kia thắng. Rắn chỉ Ajātasattu. 9. Chuyện Cái Giếng Cũ - Jarudapāna Jātaka (Jā. 256). Một thời Bồ Tát sanh làm vị thương nhân. Lần nọ ông đi buôn với đoàn xe thương buôn, đoàn dừng lại ở một giếng nước và định lấy nước uống. Giếng cạn nên phải đào xuống. Đoàn thương gia bắt gặp nhiều châu báu dưới đáy giếng. Chưa thoả mãn, họ tiếp tục đào sâu hơn nữa dầu Bồ Tát đã cản ngăn với lời khuyên tham là nguồn gốc của tai hoạ. Cung điện Nāga dưới đáy giếng bị phá vỡ. Các thần rắn dùng hơi độc phà ra giết chết tất cả trừ Bồ Tát. Bồ Tát lại còn được các thần rắn đặt lên xe ngọc ngà châu báu và đưa về đến nhà. Chuyện kể về một số lái buôn ở Sāvatthi thấy giếng này và đào được châu báu. Các ông thỉnh Phật để bố thí và cúng dường rồi bạch trình câu chuyện họ vừa lòng với những gì có được. 10.Chuyện Rắn Thần Daddara - Daddara Jātaka (Jā. 304). Một thời, Bồ Tát sanh làm Nāga Mahādaddara sống tại Daddarapabbata. Nāga có cha là Sūradadddara và em là Culladaddara. Culladaddara sân si, hung dữ, thường la mắng đánh đập các Nāga nữ. Vua Nāga phán đuổi Culladaddara ra khỏi xứ nhưng được anh tâu xin tha thứ. Đến lần thứ ba, nhà vua truyền lệnh cho cả hai anh em xuống sống ba năm ở Benares. Bị trẻ con địa phương trêu chọc, Culladaddara định phun nọc giết, nhưng Mahādaddara khuyên em nên kiên nhẫn. Chuyện kể về một tỳ-kheo thường hay sân si. 11. Chuyện Con Rắn - Uraga Jātaka (Jā. 354). Một thời Bồ Tát sanh làm một Bàlamôn sống trong thành Benares với vợ, con trai, con gái, con dâu và nữ tỳ. Họ sống hạnh phúc bên nhau và luôn được dạy sống với ý nghĩ về cái chết. Một hôm người con trai đốt cỏ rác khiến con rắn sống gần đó bị xốn mắt phóng tới cắn chết. Cha chàng đặt thây chàng dưới gốc cây, nhắn người về nhà khi đem cơm trưa ra đem theo bông hoa và hương liệu, rồi tiếp tục đi cày tiếp. Sau bữa cơm, gia đình làm giàn hoả thiêu xác chàng. Không một tiếng khóc than. Hiệu lực đức hạnh của họ làm cho ngai của Thiên chủ Sakka nóng lên. Thiên chủ xuất hiện và hỏi từng người phải chăng không ai than khóc vì chẳng ai thương mến chàng. Biết rằng họ không khóc than vì họ sống với ý nghĩ về cái chết, Thiên chủ xưng danh và lấy thất bảo đổ đầy nhà họ. Chuyện được kể liên quan đến một địa chủ ở Sāvatthi sầu khổ vì con trai chết. Đức Phật ngự đến và thuyết pháp cho ông nghe. 12. Chuyện Vị Y Sĩ Già - Sāliya Jātaka (Jā. 367). Một ông thầy lang muốn có tiền công chữa bệnh, gạt một em bé (Bồ Tát) leo lên cây bắt con nhím mà ông biết rõ là con rắn. Bé nắm cổ con vật mới biết là con rắn nên quăng ra trúng ông thầy lang đứng dưới đất. Rắn quấn cổ ông và cắn ông chết. Chuyện kể về Devadatta âm mưu hại đức Phật. 13. Chuyện Dây Trói Buộc - Tacasāra Jātaka (Jā. 368). Có một thầy lang thấy một đám thiếu niên chơi gần cổ thụ có ổ rắn. Hy vọng kiếm được chút tiền, ông dụ các thiếu niên thò tay vô bộng cây nói là để bắt nhím. Một thiếu niên (Bồ Tát) thò tay vô bộng gặp rắn liền nắm cổ rắn liệng ra ngoài trúng ông; rắn đeo vào người ông và cắn chết ông. Đám trẻ bị bắt đưa lên vua. Thiếu niên bắt rắn bảo bạn bình tĩnh để chàng đối phó. Vua nghe qua câu chuyện, và thả tất cả về. Chuyện kể về trí tuệ toàn hảo (paññāpāramitā) của Bồ Tát. Nhà vua chính là tiền thân Tôn giả Ānanda. 14. Chuyện Con Lừa - Kharaputta Jātaka (Jā. 386). Thuở xưa, Vua Senaka trị vì Benares, có cứu mạng một Xà vương khỏi tay bọn thanh niên đang vây đập rắn. Để tạ ơn cứu tử, Xà vương dâng lên vua nhiều châu báu và một cung nữ Nāga. Xà vương còn dâng vua câu thần chú để ông gọi cung nữ khi không thấy nàng bên cạnh. Một hôm Vua Senaka cùng cung nữ Nāga du ngoạn trong ngự uyển. Vốn tham đắm dục lạc vô độ, cung nữ thấy con rằn nước dưới hồ sen, bèn hoá thành rắn bò xuống làm tình cùng chú rắn nước này. Vua quất nàng một roi tre trị tội tà hạnh. Nàng tức giận bỏ về thế giới Nāga và phao vu nhà vua ngược đãi mình. Xà vương ra lệnh cho bốn thanh niên Nāga vào vương thất giết vua bằng cách dùng hơi độc thoát ra từ mũi. Bấy giờ, vua đang kể cho hoàng hậu sự việc xảy ra ngoài ngự uyển. Nghe được câu chuyện, bốn thanh niên Nāga trở về trình lại Xà vương. Để chuộc lỗi, Xà vương hiến Vua Senaka thần chú giúp ông nghe được mọi thứ tiếng trên thế gian, chỉ với một điều kiện duy nhất là nếu ông truyền thần chú này cho ai, ông sẽ phải nhảy vào lửa chết. Nhờ có thần chú, Vua Senaka nghe nhiều chuyện buồn cười của loài ong, kiến, vân vân. Vua cười khiến hoàng hậu hiếu kỳ theo hỏi. Sau cùng, nhà vua kể cho bà nghe và bà đòi được truyền cho thần chú. Bị mãnh lực nữ nhân thôi thúc, vua đành chấp nhận và ngự lên vương xa, đi vào ngự viên để nhảy vào lửa sau khi trao truyền thần chú cho hoàng hậu. Ngay lúc ấy, ngôi của Sakka nóng lên, Ngài nhìn xuống cõi đất thấy việc này, liền cùng phu nhân hoá làm hai con dê đón đầu vương xa của Vua Senaka. Hai con dê làm tình trước mặt các con lừa Sindh đang kéo vương xa. Lừa mắng dê ngu xuẩn và vô liêm sỉ. Dê bảo lừa còn ngu xuẩn hơn vì đang kéo xe cho một vị vua ngu ngốc. Vua nghe được câu chuyện giữa dê và lừa, liền đọc kệ hỏi kế. Dê đề nghị vua bảo với hoàng hậu rằng Ngài sẽ truyền chú cho với điều kiện bà phải chịu trăm roi lên lưng không được kêu la. Vì quá ham mê thần chú, hoàng hậu ưng chịu, nhưng vừa bị hai roi bà kêu la và không còn muốn được truyền thần chú nữa. Chuyện được kể về một tỳ-kheo bị vợ cũ cám dỗ. Senaka là vị tỳkheo, Lừa Singh là Sāriputta, Sakka là Bồ Tát. 15. Chuyện Con Cua Vàng - Suvaṇṇakakkaṭa Jātaka (Jā. 389). Bồ Tát làm một Bàlamôn nông dân ở Sālindiya. Trên đường ra đồng, ông đi ngang qua cái ao có con cua vàng mà ông làm thân. Có con quạ mái muốn ăn mắt người nông dân nên dụ chồng xúi con rắn cắn ông. Ông bị rắn cắn và nằm mê bên bờ ao. Nghe tiếng động, cua bò lên và thấy quạ mái sắp mổ mắt ông. Cua kẹp quạ. Rắn đến cứu quạ bị cua kẹp luôn. Cua bắt rắn hút nọc độc ra để người nông dân tỉnh lại. Bấy giờ, cua siết càng giết chết quạ và rắn. Chuyện kể về việc Tôn giả Ānanda muốn cứu Phật khỏi bị voi Dhanapāla dày. Rắn là tiền thân của Māra; quạ trống là Devadatta; cua là Tôn giả Ānanda; quạ mái là Nữ du sĩ khổ hạnh Ciñcāmaṇavikā. 16. Chuyện Túi Da Đựng Bánh - Sattubhasta Jātaka (Jā. 402). Một thời, Bồ Tát sanh làm Tế sư Senaka của Vua Janaka trị vì Benares. Tế sư thuyết giới luật mỗi hai tuần, vào ngày trai giới, cho đại chúng có cả nhà vua tham dự. Một Bàlamôn già đi khất thực được cúng dường một ngàn đồng. Lão đưa cho một Bàlamôn giữ dùm. Ông này xài hết. Lúc bị đòi tiền, thay vì trả tiền ông gả con gái cho lão. Cô con gái có người yêu, và để được gặp người yêu, cô bảo lão đi mượn một nô tỳ để giúp cô việc nhà. Ông ra đi với chiếc túi cơm của cô soạn. Trên đường về ông ghé bờ suối mở túi ra ăn cơm. Cơm xong, ông xuống suối uống nước. Có con rắn bò chui vô túi. Để cảnh báo vị Bàlamôn già, thần cây nói rằng: “Nếu ông nghỉ lại dọc đường ông sẽ chết; nếu ông về nhà vợ ông sẽ chết.” Lo âu, ông vừa đi vừa khóc. Tới Benares ông theo bà con đến nghe Tế sư Senaka thuyết pháp. Nghe câu chuyện của lão Bàlamôn, Tế sư nghĩ đó là sự thật nên mở túi xách của lão ra xem. Rắn bò ra trước mắt thiên hạ. Để đáp ơn, lão Bàlamôn dưng Tế sư 700 đồng ông khất thực được trong chuyến đi vừa qua. Tế sư không lấy mà còn cho lão ba trăm để đủ một ngàn, và khuyên lão không nên đem số tiền này về nhà. Lão chôn tiền dưới gốc cây nhưng không dấu được cô vợ trẻ. Thế là tiền ông bị người yêu cô đào lấy mất. Lão Bàlamôn đến yết kiến Tế sư và được chỉ cho cách tìm kẻ trộm. Chàng bị lộ tông tích và thú nhận tội với Tế sư Senaka. Chuyện kể như một ví dụ về trí tuệ viên mãn của đức Phật. Lão Bàlamôn chỉ Tôn giả Ānanda; thần cây chỉ Tôn giả Sāriputta. 17. Chuyện Năm Vị Hành Trì Trai Giới - Pañcuposatha Jātaka (Jā. 490). Có bốn con vật: chim bồ câu, rắn, chó rừng, và gấu sống hài hoà và vị ẩn sĩ (Bồ Tát) trong một khu rừng; vị ẩn sĩ được tôn làm Đạo sư. Tất cả năm vị đều quyết tâm giữ hạnh trai giới sau khi đã không chế ngự được tinh tấn chánh cần. Mạng chung, vị Đạo sĩ sanh về cõi Phạm thiên, còn bốn con vật kia nghe lời thuyết giáo của ông nên được lên cộng trú với Thiên chúng. Nhận diện tiền thân: bồ câu chỉ Anuruddha, gấu chỉ Kassapa, chó rừng chỉ Moggallāna, rắn chỉ Sāriputta. 18. Chuyện Của Vị Đại Thương Nhân - Mahāvāṇija Jātaka (Jā. 493). Một nhóm thương nhân đi lạc vô rừng đến chỗ của cây đa. Họ chặt một nhánh, nước trào ra, họ hết khát. Họ chặt nhánh thứ hai được đầy đủ thức ăn, nhánh thứ ba được nàng kiều nữ, nhánh thứ tư được tơ lụa bạc vàng. Tham lam, họ định đốn luôn cây để được nhiều hơn. Vị trưởng đoàn (Bồ Tát) cản ngăn nhưng không chịu nghe nên bị Xà vương sống trên cây huy động đoàn rắn giết chết hết trừ vị trưởng đoàn. Xong, Xà vương đưa ông về nhà với đoàn xe đầy của quý. Chuyện kể về một đoàn thương nhân đệ tử của đức Phật gặp hoàn cảnh như kể trên. Nhưng họ không đốn cây mà còn cúng dường đến Ngài châu báu lượm được và hồi hướng công đức cho Thần cây. Phật tán thán sự tiết độ của các thương buôn. Xà vương chỉ Tôn giả Sāriputta. 19. Chuyện Hiếu Tử Sāma - Sāma Jātaka (Jā. 540). Hai thôn trưởng đều là hai nhà thiện xạ, giao ước sẽ làm sui nếu hai bên có con trai và gái. Họ sanh cậu trai đặt tên Dukūlaka (vì được bọc trong tã đẹp) và cô gái đặt tên Pārikā (vì ở bên kia sông). Trưởng thành, hai cô cậu thành hôn theo lời giao ước, nhưng không làm vợ chồng vì cả hai đều xuống thế từ cõi Phạm Thiên. Được sự tán đồng của cha mẹ đôi bên, chàng và nàng đi tu ẩn và sống trong am thất do Thiên chủ Sakka xây trên bờ sông Migasammatā. Một ngày kia, thấy hiểm hoạ sắp xảy đến cho hai vị ẩn sĩ trẻ, Sakka xuất hiện xuống khuyên hai vị có một đứa con. Pārikā thọ thai sau khi được Dukūlaka rờ rún đúng thời. Bà sanh một nam tử đặt tên Sāma, nhưng vì có màu da vàng ròng bé được gọi là Suvaṇṇasāma(Hoàng Kim); bé là Bồ Tát. Một hôm, hai ông bà ẩn sĩ đi hái trái rừng, mắc mưa, đến đụt chổ gò kiến. Nước trên thân ông bà nhểu xuống làm con rắn sống dưới gò kiến tức giận, phà hơi độc làm mù mắt cả hai ông bà. Từ dạo đó Sāma lo nuôi dưỡng cha mẹ mình. Bấy giờ, Vua Pilliyakkha trị vì Benares đi săn, thấy Sāma đang lấy nước tưởng là con nai đang uống nước, nên giương cung bắn. Sāma té xuống, nhà vua nghĩ chàng đã chết nên ân hận vô vàn. Ông được mẹ bảy kiếp của Sāma là Nữ thần Bahusodarī trú trên núi Gandhamādana (Hương Sơn) bảo đến báo tin cho cha mẹ của Sāma biết. Ông đến chòi kể lại việc xảy ra và đưa Dukūlaka với Pārikāđến chỗ Sāma nằm. Pārikā thực hiện lời nguyện Chân Thật (Saccakiriyā); Sāma tỉnh dậy. Bấy giờ, Nữ thần Bahusodarī cũng nguyện lời Chân Thật và hai cha mẹ của Sāma đều sáng mắt. Tiếp theo, Sāma thuyết giáo nhà vua rằng : các những hiếu tử sống theo chánh Pháp chăm nuôi cha mẹ lúc gian truân đều được chư Thiên ban phước lành. Chuyện kể về một thanh niên ở Sāvatthi. Nghe pháp do Phật thuyết, chàng xuất gia. Tu sĩ trẻ này trú trong tịnh xá năm năm và trong rừng 12 năm. Một hôm, nghe nói cha mẹ già bị sạt nghiệp phải đi ăn xin, ông trở về lo phụng dưỡng ông bà bằng khất thực; có lúc ông phải nhịn ăn để nuôi hai ông bà. Chuyện đến tai đức Phật, Ngài vì ông nên thuyết Mātuposaka Sutta. Nhận diện tiền thân: Kukūlaka chỉ Tôn giả Kassapa, Pārikāchỉ Trưởng lão ni Bhaddhā Kāpilanī, Paliyakkha chỉ Tôn giả Ānanda, Sakka chỉ Tôn giả Anuruddha, và Bahusodarī chỉ Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā. phattuvietnam.net
  23. Lòng Từ bi của những người giết và ăn thịt Cún để đâu? Và sáng 17/9 trên mặt Báo Người Lao Động có một bài báo cũng làm bao trái tim người phải đau đớn và nước mắt bao người phải rơi “ … Đêm ở lò hóa kiếp” . Đã có không biết bao nhiêu những vụ hiếp dâm, giết người ngày càng dã man, tàn bạo mất hết nhân tính trong xã hội hiện nay. Tại sao đạo đức suy đồi ??? ai cũng kinh hoàng thảng thốt đặt ra những câu hỏi như thế mỗi khi có những vụ án làm kinh hoàng bao trái tim con người. Và sáng 17/9 trên mặt Báo Người Lao Động có một bài báo cũng làm bao trái tim người phải đau đớn và nước mắt bao người phải rơi “ … Đêm ở lò hóa kiếp” . Tại vì sao ư? Đã có biết bao những nhà chuyên môn, những nhà tâm lý học, giáo dục học, những chuyên gia phân tích về nguyên nhân của sự gia tăng của tội phạm đều đúng nhưng chưa đủ vì còn thiếu một nguyên nhân đặc biệt quan trọng đó là lòng Từ bi . Nguyên nhân gia tăng những tôi ác ngày càng man rợ là ở đây, xuất phát từ đây. Một khi lòng từ bi của những con người giết và ăn thịt những người bạn như thế này: “ Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể có một ngày nào đó hoá ra kẻ thù quay ra chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình thương yêu hết mực rồi có thể là một lũ vô ơn. Những người gần gũi, thân thiết ta nhất, những người gởi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta lỡ vận. Duy có một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay trắc trở, đó là con chó của ta.” Thì thử hỏi còn gì mà họ không dám làm và không dám ăn. Một đêm chỉ ở một lò giết mổ thôi có tới 400 chú cún bị làm thịt. Vậy trên khắp các lò mổ có bao nhiêu ngàn chú cún bị giết trong một đêm? Những người giết và ăn thịt cún hãy thử hình dung khi một chú cún bị chủ la mắng, chú cúi đầu với ánh mắt rất buồn đi vào một chỗ ngồi. Cún cũng biết buồn khi bị chủ mắng nói chi đến việc bị đánh đập, giết chết. Không ai ăn thịt Cún vì đói quá. Không ai làm đồ tể Cún vì không có việc gì khác để làm. Không ai buôn bán Cún vì không còn gì để buôn bán cả. Vì vậy đừng đổ lỗi cho vì đói, vì nghèo. Tất cả chỉ vì khoái khẩu cái miệng và vì hám lợi nhuận ( vì tòan mua của bọn kẻ cướp thì phải rẻ rồi mà khi bán thì lại bán với giá là món đặc sản). Chúng ta hãy thử quan sát khi một đàn kiến đang di chuyển, nếu chúng ta lầy cái gì đó chặn đường chúng lại thế là đàn kiến tán loạn, nháo nhác hoảng sợ tìm ngay đường khác để đi. Loài vật nào cũng muốn sống, loài nào cũng sợ chết huống chi là những chú Cún hàng ngày sống cạnh con người , là thành viên trong một gia đình. “Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù gió đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết vùi miễn sao được kề cận bên chủ là được. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được là kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù” Vậy mà con người lại quay ra ăn thịt những người bạn trung thành này. Một khi lòng từ bi đã bị thui chột, bàn tay đã ngập ngụa trong biển máu của loài cún này thì việc đi đến chỗ giết người đâu có bao xa. Thịt chú Cún cũng được liệt vào hàng số một là loại có nhiều chất đạm nhất, ăn vào cộng với rượu sẽ kích thích ham muốn thì làm gì mà không có những vụ án hiếp dâm làm rúng động cả đất nước. Cả làng là đồ tể chỉ vì muốn giầu hơn mà làm những điều khủng khiếp, không một chút tiếc thương người bạn mình. Có làng xã lại còn mang thịt Cún đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên ngày giỗ, lại còn làm tiệc đám cưới cũng có thịt Cún. Thật kinh khủng! tội nghịệp cho ông bà tổ tiên có ăn được đâu mà ngược lại không được siêu thoát vì con cháu mang thêm nghiệp sát. Còn đám cưới khi làm cô dâu, chú rể ai cũng muốn được mọi người chúc phúc cho hạnh phúc đến răng long, đầu bạc, vậy mà lại đi để thịt người bạn mình trên bàn tiệc. Có khi tiệc mừng đầy tháng cho con cũng giết Cún mà làm tiệc chưa biết chừng. Ôi trời đất nào chứng cho đây. Lòng từ bi đề đâu hết rồi? Đã bao người xúc động đến rơi nước mắt khi có biết bao chú cún đã dũng cảm cứu người. Biết bao chú cún đợi chủ về ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Có những chú cún tuyệt thực, không ăn, không uống khi chủ mất để rồi chết theo chủ. Có những chú cún khóc đến xưng mắt khi bị chủ bỏ rơi. Có những chú cún đã nằm bên mộ chủ canh cho chủ ngủ ngay cả khi chủ đã chết: “Và một khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, khi tất cả thân bằng quyết thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì khi ấy vẫn còn bên nấm mồ ta con chó cao thượng của ta nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã chết rồi.”. Vậy là hỉ, nộ, ái ố gì người ta cũng muốn có thịt cún để cho cái lưỡi thêm đậm đà. Thế là ngay lúc có mặt trên đời đến khi nhắm mắt, người ta cũng sẵn sàng thịt cún để dâng tặng. Vậy thì làm gì mà trong máu ta còn chút lòng từ bi, thì làm sao đạo đức không suy đồi. làm sao mà hàng ngày trên các báo không có những vụ án chồng giết vợ, vợ giết chồng, con cái giết cha mẹ, cha mẹ giết con cái, anh em, bạn bè, hàng xóm … giết nhau. Những vụ hiếp dâm Ống, cha, anh, chú ,bác, cậu hiếp con, em, cháu… những vụ án hiếp dâm. giết người, những vụ án cướp của giết người làm kinh hoàng bao trái tim con người. Nếu con người không biết yêu thương loài vật thì cũng không thể yêu thương đồng loại. Nếu ngay từ khi ở trong bụng mẹ mà cha mẹ đã không gieo được hạt giống từ bi cho thai nhi thì khi lớn lên chúng sẽ bị vô cảm ngay cả với những người thân của chúng. Vì vậy chỉ có dậy con người lòng Từ bi và thế nào là gieo Nhân và gặt Quả thì mọi người mới sống tốt. Chỉ có như vậy thì đất nước này mới giảm bớt tội phạm mà thôi. phattuvietnam.net
  24. Con người hơn nhau ở điểm nào? Con người chỉ hơn nhau ở đức hạnh, ở những phẩm chất tốt đẹp chứ không phải hơn nhau ở vật chất. Thật ra tiền chẳng ở với bạn được lâu đâu, vì một khi nó muốn từ bỏ bạn thì nó sẽ ra đi rất nhanh. Có tiền là một chuyện, đặt tiền cho đúng chỗ lại là chuyện khác. Đầu tư không đúng nơi thì sẽ “tiền mất tật mang”. Thông minh cần phải đặt đúng chỗ thì mới thành công được. Con người bây giờ gắn kết mình với quá nhiều thứ vật chất mà quên mất rằng sự gắn kết vĩ đại nhất là gắn kết với lương tâm thánh thiện. Sự thông thái là món quà lớn nhất mà tự nhiên ban tặng cho loài người mà rất nhiều người đã không biết nhận lấy nó. Muốn có sự thông thái phải chịu khó học tập. Càng trải nghiệm cuộc sống, ta sẽ càng ngộ ra được nhiều điều quý giá. Rồi bạn sẽ thấy: người được học nhiều khác xa so với người ít học. Chỉ có những người kém hiểu biết thì mới có tính khinh người thôi. Trong tất cả cái khổ thì khổ nhất là cái khổ vì thiếu hiểu biết. Muốn trở thành người thông thái nhất, trước tiên bạn phải tự nhận mình là kẻ ngu ngơ nhất. Rồi từ từ khắc phục những cái ngu của mình, bạn sẽ trở thành người thông thái nhất. Hãy nhớ là bạn chỉ khắc phục những cái ngu chứ bạn không bao giờ hết ngu, vì bạn cũng chỉ là một con người. Khi giận dữ, chính bạn sẽ là người phải gánh chịu hậu quả đầu tiên. Tha thứ là một trong những đỉnh cao của sự vĩ đại. Trời cao, biển rộng đến mấy cũng không mênh mông bằng tâm hồn con người. Thông thường, khi không có tiền thì người ta khổ vì nghèo. Khi có nhiều tiền, người ta lại khổ vì cái khác. Bây giờ khó phân biệt thật giả lắm vì có những cái giả còn thật hơn cả cái thật. Tỉnh táo lắm thì mới nhận biết được. Ai cũng có những góc khuất riêng trong tâm hồn mình. Chúng ta chỉ có thể ở hiện tại mà không thể ở quá khứ hay tương lai. Hiện tại là thời điểm thiêng liêng nhất. Tôi thích sự trong sáng và tinh khiết của trẻ con. Cái vui của trẻ nhỏ rất hồn nhiên, dễ thương. Rất nhiều người đã nói rằng con cái là niềm vui, là hạnh phúc, là món quà lớn nhất mà họ có được. Hãy nhớ rằng đứa bé chỉ có mặt trên đời khi trước đó có sự giao hợp giữa bố và mẹ. Điều đó cho thấy: niềm vui chỉ xuất hiện khi có từ hai tác nhân trở lên. Bởi thế hãy biết chia sẻ tình cảm của mình ra xung quanh. Những người khư khư giữ lấy mọi thứ cho riêng mình là những người sai lầm. Giai đoạn nuôi con thơ là giai đoạn mà ta phải đầu tư rất nhiều về chất dinh dưỡng và tình cảm. Giống như trong quả trứng vịt lộn phải có cả lòng đỏ và lòng trắng để cung cấp chất dinh dưỡng cho “thai nhi vịt” nằm trong trứng. Vì cả thai nhi vịt, lòng đỏ và lòng trắng đều giàu chất dinh dưỡng nên người ta thích ăn trứng vịt lộn là vậy. Một quả trứng phải được vịt mẹ ấp ủ thì mới nở thành vịt con. Điều đó chứng tỏ đứa trẻ nào cũng cần tình thương của người đời. Những người được gọi là thầy đều đáng để ta đặc biệt tôn trọng: thầy thuốc, thầy giáo, thầy tu, đại đức, thượng tọa, hòa thượng, linh mục, giáo hoàng, … Đạo đức của xã hội được vun đắp nên từ đó. Con người ta hơn nhau ở đức hạnh, và những phẩm chất tốt đẹp. Nguyễn Hữu Hiếu (SV Đại học Kiến trúc TP.HCM)
×
×
  • Create New...