-
Số nội dung
211 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by nguoivosu
-
Vâng, ông chỉ nói là có phúc đức sẽ qua và phải sinh mổ. ko xác định được giờ sinh (con trai cháu). Và điều đặc biệt là ông dựa vào lá số giờ Thân của cháu và lá số chính xác của vợ cháu để kết luận. Trường hợp xác định giờ sinh rất khó phải không bác nhưng trong lá số lại 30% là do giờ sinh xác định. Không thưa bác! cháu không nói là xem tử vi cho con trai nhưng con trai cháu khi mổ ra có khóc 1 tiếng và bà đỡ bế đi, cháu chạy theo. Đúng lúc đó là 22h15 nhưng trong phiếu của bé là 22h45 thì là giờ hợi chứ sao lại giờ khác hả bác, khi khi mổ cái là khóc liền mà! còn về phần bác nói phí theo tiêu chuẩn đó thì quá đúng, động lực kiếm tiền luôn đè nặng trên đôi và cháu nhưng vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu.hiiiiiiiii - Khi đặt tên cháu có theo khóa học đặt tên con trai cháu đặt tên an là theo nghĩa hán việt có 6 nét, an là mái nhà con trâu cần mái nhà che chở hiii(SP gaumeo) và cháu đặt trước khi sinh và đúng y chóc nếu kết hợp với giờ, ngày sinh. tên con trai Thái Nguyễn Bình An (cháu họ thái ở nghệ an, vợ họ nguyễn ở ninh bình)
-
NTO - Mưa là một dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh, có các dạng như: mưa phùn, mưa rào, mưa đá, các dạng khác như tuyết, mưa tuyết, sương. Mưa được tạo ra khi các giọt nước khác nhau rơi xuống bề mặt Trái Đất từ các đám mây. Không phải toàn bộ các cơn mưa đều có thể rơi xuống đến bề mặt, một số bị bốc hơi trên đường rơi xuống do đi qua không khí khô, tạo ra một dạng khác của sự ngưng đọng. Lung linh những giọt mưa kỳ diệu Mưa đóng một vai trò quan trọng trong chu trình thủy học trong đó nước từ các đại dương và các khu vực khác có chứa nước bay hơi, ngưng tụ lại thành các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển do gặp lạnh, khi các đám mây đủ nặng, nước sẽ bị rơi trở lại Trái Đất tạo thành mưa, sau đó nước có thể ngấm xuống đất hay theo các con sông chảy ra biển để lại tiếp tục lặp lại chu trình vận chuyển. Các giọt mưa nhỏ là có dạng gần như hình cầu, các giọt lớn hơn thì bị bẹt dần đi như hình oval, còn các giọt rất lớn thì có hình dạng giống như cái dù. Trung bình thì giọt mưa có kích thước từ 1mm - 2mm theo đường kính. Những giọt mưa lớn nhất trên Trái Đất đã được ghi lại ở Brazil và quần đảo Marshall năm 2004 - một số giọt có kích thước tới 10mm. Kích thước lớn được giải thích là sự ngưng tụ trong các hạt khói lớn hay bởi sự va chạm giữa các giọt mưa trong một khu vực nhỏ với lượng rất lớn nước lỏng. Các hình dáng của giọt mưa Nói chung, nước mưa có độ pH nhỏ hơn 6 một chút, đơn giản là do nó hấp thụ điôxít cacbon trong khí quyển, nó bị điện ly một phần trong nước, tạo ra axít cacbonic. Ở một số sa mạc, các luồng không khí vận chuyển cả cacbonat canxi lên không trung, do đó nước mưa ở đây có thể là có pH bằng hoặc cao hơn 7. Các trận mưa có pH thấp hơn 5,6 thì được coi là mưa axít. Các quan điểm trên thế giới về mưa rất khác nhau trong các nền văn hóa. Trong thế giới phương Tây, ngày mưa thông thường có ý nghĩa buồn và tiêu cực, ngược lại với ngày nắng đẹp và hạnh phúc. Trong các khu vực khô cằn, chẳng hạn như Ấn Độ, mưa được chào đón với một sự vui mừng. Nhiều người cảm nhận thấy hương vị của mưa là dễ chịu. Nguồn gốc của hương vị này là do một loại tinh dầu được cây cối sản xuất, được hấp thụ bởi đất đá, sau đó được giải phóng trong không khí khi mưa xuống. Nước mưa có thể được sử dụng như nước uống. Nước mưa cũng là nguồn cung cấp nước cho các loại cây trồng. Sau khi mưa, đa số người đều cảm thấy dễ chịu, hiện tượng này được giải thích là do lượng ion mang điện tích âm tăng lên, tuy vậy nếu mưa kéo dài nhiều ngày thì do độ ẩm tăng cao thì lại gây cảm giác khó chịu. Mưa mang lại nước, nguồn sống cho tất cã các sinh vật trên Trái Đất. Ở những vùng có nhiệt độ cao mưa làm giảm nhiệt. Mưa là một mắt xích quan trọng trong chu kỳ tuần hoàn của nước. Con người lợi dụng điều này để khai thác năng lượng Mặt Trời gián tiếp từ nước bằng các nhà máy thủy điện. Trong dân gian, mưa được phân thành các loại mưa: - Mưa axít: những cơn mưa mà nước mưa có độ pH lớn hơn 5,6 (giá trị pH của dung dịch axit cacbonic H2CO3 bão hoà trong nước cất). Nguồn gốc của mưa axít là khí sunfua đioxit (SO2) được tạo thành từ quá trình đốt nhiên liệu có nguồn gốc dầu như than, dầu khí..., từ quá trình thối rữa của các loài thực vật, sinh vật phù du và khí nitơ đioxit (NO2) tạo thành từ quá trình phản ứng trong các nhà máy điện và các ống xả khói của các nhà máy công nghiệp. - Mưa bụi: Bụi lơ lửng trong không trung rơi xuống, do tác dụng của trọng lực hoặc bị các hạt mưa cuốn theo. Cũng có khi mưa bụi là mưa phùn. - Mưa phùn: Mưa có hạt rất nhỏ như hạt bụi, rơi rất nhẹ và chậm, vì vậy lượng mưa nhỏ (dưới 5mm) nhưng làm tăng độ ẩm của không khí và mặt đất, có tác động lớn đến sự phát triển của cây cỏ và mùa màng. Có hai loại: Mưa phùn "lạnh" sinh ra do một frông lạnh yếu và tĩnh tại, thường rơi vào đầu mùa đông. Mưa phùn "nóng" do không khí ấm và ẩm từ biển tràn vào gặp mặt đất lạnh làm hơi nước ngưng thành giọt rất nhỏ, rơi xuống vào cuối đông đầu xuân, giúp cho cây đâm chồi, nảy lộc, thường gọi là mưa xuân. Mưa đá - Mưa đá: Mưa từ mây vũ tích phát triển mạnh trong những giai đoạn chuyển mùa, dưới dạng các hạt nước đá với đường kính khác nhau, đôi khi rất lớn (từ 5mm - 20 cm). Nguyên nhân tạo thành mưa đá là những luồng đối lưu mạnh mẽ bên trong mây vũ tích khiến hạt mưa bị cuốn lên rơi xuống nhiều lần qua vùng đông kết, làm các lớp băng lần lượt phủ lên nhau cho tới khi trọng lượng đủ lớn thắng được sức nâng của luồng đối lưu. - Mưa địa hình: Mưa rơi xuống do tác động của địa hình ở các địa phương khi không khí gặp núi, theo sườn núi bốc lên, hơi nước ngưng kết thành mây và mưa. - Mưa đối lưu: Mưa rơi phần lớn từ mây vũ tích hình thành bởi dòng đối lưu, thường là mưa rào, với lượng mưa khá lớn trong thời gian ngắn. - Mưa frông: Mưa gây ra bởi sự giãn không khí khi thăng dọc theo hoặc ở đầu mặt frông, có thể kéo dài hoặc thành từng cơn tuỳ theo mặt frông dốc nhiều hay ít. - Mưa mòi: Mưa hạt nhỏ, thường xảy ra vào tháng 6, tháng 7, vào buổi sáng, thường báo hiệu một ngày nắng. Mưa mòi không do đối lưu mạnh gây ra mà do sự tràn nhập của không khí lạnh trên cao vào đầu mùa hè. - Mưa ngâu: Mưa thành những đợt ngắn kế tiếp nhau kéo dài nhiều ngày, chủ yếu do dải hội tụ nhiệt đới gây ra. Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam, mưa ngâu được gắn với sự tích Ngưu Lang - Chức Nữ. - Mưa nhân tạo: Mưa được tạo thành do gieo vào các đám mây những chất xúc tác như băng cacbon đioxit (CO2), muối iốt bạc hoặc chì. - Mưa rào: Mưa lớn, rơi từ những đám mây vũ tích. Cường độ được xác định theo quan hệ với những hoạt động sản xuất - đời sống. - Mưa xoáy thuận: Mưa kèm theo xoáy thuận, mưa frông ở vùng xoáy thuận, sau cơn mưa nhỏ trong khối khí nóng của xoáy thuận là mưa rào sau frông lạnh. (NTO.vn tổng hợp)
-
NTO - Nền văn minh Ấn Độ là một nền văn minh nổi tiếng và thuộc về những nền văn minh cổ nhất thế giới, bao gồm cả vùng đất ở các nước như: Ấn Độ, Pakistan, Nêpan, Bangladesh ngày nay. Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác, phía Bắc bị chắn bởi dãy núi Hymalaya, từ bên ngoài vào Ấn Độ rất khó khăn, chỉ có thể qua các con đèo nhỏ ở Tây - Bắc Ấn. Đông Nam và Tây Nam Ấn Độ giáp Ấn Độ dương. Hàng năm tới mùa tuyết tan, nước từ dãy Hymalaya theo hai con sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Ganges) lại đem phù sa tới bồi đắp cho những cánh đồng ở Bắc Ấn. Nền văn minh ở lưu vực sông Ấn (3.000 - 1.800 Trước công nguyên) đã thấm đượm những tư tưởng và hình thức nghệ thuật mà về sau người ta xem như bản sắc tiêu biểu cho Ấn Độ. Nền văn minh Ấn Độ Các nhà khảo cổ đã tìm ra cái nôi đầu tiên của Ấn Độ tại lưu vực sông Ấn. Tại đây người ta tìm thấy những pho tượng một người đàn ông trong tư thế suy tưởng gợi đến môn phái yoga. Rất nhiều hiện vật được tìm thấy ở khu vực Harappa và Mohenjo có niên đại từ 3.000 đến 1.800 Trước công nguyên. Những tìm tòi gần đây hé mở phần nào về sự lan tỏa của nền văn minh lưu vực sông Ấn rộng lớn về miền Bắc và miền Tây xa xôi cùng với cư dân lưu vực sông Ấn lại có quan hệ gần gũi với văn hóa Dravidia, từng phồn thịnh từ rất lâu ở miền Nam Ấn Độ trước khi người Aryan đặt chân đến. Ở vào khoảng thời gian 2.000 đến 1.600 Trước công nguyên, một chi của dòng họ Aryan rộng lớn, thường được gọi là người Indo - Aryan, di cư đến Ấn Độ. Họ đem theo cùng với họ là tiếng Phạn và một tôn giáo dựa trên nghi lễ hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên như Indra, thần mưa và sấm, thần Agni và Varuma, chúa tể của các sông biển và mùa màng. Những bài ngợi ca vị thần ấy được tập hợp lại thành bốn tập Kinh Veda, gồm có 4 tập là: Rich Veda, Xama Veda, Atacva Veda và Yagiva Veda, hướng con người đến tư tưởng cao cả, văn phong đẹp đẽ và bước chuyển những nghi thức từ bên ngoài vào kinh nghiệm nội tại. Thời kỳ này chính là thời kỳ có thuyết nói rằng cùng với nó là sự ra đời Đức Phật. Thời kỳ hoàng kim của nền văn minh Ấn Độ thuộc vào thời kỳ đế chế Gupta. Thời kỳ này có nhiều thành tựu nổi bật về văn hóa trồng trọt. Thời kỳ này nền văn minh Ấn độ đã để lại cho nhân loại một khối lượng các di sản khổng lồ. Người dân xây dựng nên nền văn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông Ấn là những người Đraviđa. Ngày nay những người Đraviđa chủ yếu cư trú ở miền nam bán đảo Ấn Độ. Trong quá trình lịch sử còn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Ả Rập Saudi, Mông Cổ xâm nhập Ấn Độ do đó cư dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dòng máu, nhiều chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa phong phú đã tạo nên nền văn minh Ấn Độ. Thành phố được phát hiện thuộc nền văn minh Ấn Độ 1. Chữ viết: Thời đại Harappa - Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3.000 con dấu có khắc những kí hiệu đồ họa. Thế kỉ VII Trước công nguyên, ở đây đã xuất hiện chữ Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V Trước công nguyên ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này. Hai tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana. Mahabharata là bản trường ca gồm 220.000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ “bách khoa toàn thư” phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó. Ký tượng trên một mảnh đồ gốm tại Harappa, khoảng 5.500 năm 2. Nghệ thuật: Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo. Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp. Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ và được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI. Tiêu biểu cho các công trình Hinđu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng. Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII. Nghệ thuật kiến trúc đôạ đáo 3. Về Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận. Các nhà thiên văn học Ấn Độ cổ đại đã biết được quả đất và mặt trăng đều hình cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kỳ trăng tròn, trăng khuyết. Họ còn phân biệt được 5 hành tinh Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ; biết được một số chòm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính. 4. Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học. Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3, đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác. 5. Về Vật lí: người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế kỉ V Trước công nguyên, có một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “...trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó”. 6. Y học cũng khá phát triển: người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển sách là “Y học toát yếu” và “Luận khảo về trị liệu”. 7. Tôn giáo: Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo như đạo Balamôn, đạo Phật, đạo Hinđuđạo Jain và đạo Sikh. Đạo Balamôn ra đời vào khoảng thế kỉ XV Trước công nguyên, trong hoàn cảnh đang có sự bất bình đẳng rất sâu sắc về đẳng cấp và đạo này chứng minh cho sự hợp lí của tình trạng bất bình đẳng đó. Đạo Sikh - Xích xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ XV. Giáo lí của đạo Xích có sự kết hợp giáo lí của đạo Hinđu và giáo lí của đạo Islam. Tín đồ đạo Xích tập trung rất đông ở bang Punjap và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjapd. Đạo Jain - Kỳ Na cũng xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI Trước công nguyên. Đạo này chủ trương bất sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh. Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I Trước công nguyên do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo lấy năm 544 Trước công nguyên là năm thứ nhất theo Lịch Phật, họ cho là đây là năm Đức Phật nhập niết bàn. Bức tượng Đức Phật đứng đã được tìm thấy Vào khoảng thế kỷ VIII, IX đạo Bàlamôn đã bổ sung thêm nhiều yếu tố mới về đối tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế lễ..., từ đó, đạo Balamôn được gọi là đạo Hinđu. Đối tượng sùng bái của đạo chủ yếu của đạo Hinđu vẫn là ba thần Brama, Siva và Visnu.Thần Brama được thể hiện bằng một hình tượng có 4 đầu để chứng tỏ thần có thể nhìn thấu mọi nơi. 8. Kinh tế: Đánh giá theo phân bố của đồ tạo tác, nền văn minh sông Ấn, mạng lưới thương mại bao phủ một diện tích rộng lớn, bao gồm nhiều phần đất của Afghanistan, vùng bờ biển của Iran ngày nay, Bắc, Trung Ấn Độ và vùng Lưỡng Hà. Đặc biệt là đã có trao đổi hàng hóa thường xuyên với người Sumer, không những bằng đường bộ (qua Iran ngày nay) mà còn bằng đường biển (qua Dilmun, ngày nay là Bahrain), đã được chứng minh bằng nhiều di chỉ và tài liệu tại Sumer. Đồng tiền bạc 205 - 171 Trước công nguyên Dường như Mohenjo Daro là trung tâm của thương mại, nơi đã có thể nhận dạng một cấu trúc hành chánh và thương mại. Việc phân chia lao động đã được tiến hành triệt để vào thời đấy. Khai quật dọc theo Ghaggra, một con sông ngày nay đã khô cạn nằm về phía Đông của sông Ấn, cho thấy mỗi một nơi định cư đã chuyên môn về một hay nhiều kỹ thuật sản xuất. (NTO.vn tổng hợp)
-
Kiến trúc Kinh đô Bắc Kinh và những điều bí ẩn NTO - Một trong những “đặc điểm lạ lùng” đó là bố cục hình tượng “song long” (hai con rồng) trong bố cục toàn cảnh kiến trúc của Bắc Kinh. Theo các nhà địa lý và phong thủy học thì một trong những nguyên nhân để Bắc Kinh có được những đặc điểm đó vì Bắc Kinh ở vào vị trí đặc biệt, là nơi “hội tụ Trung Hoa linh khí chi địa” (nơi hội tụ của khí thiêng Trung Hoa). Bắc Kinh là thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Căn cứ các số liệu mới được công bố gần đây thì diện tích tự nhiên của Bắc Kinh là 16.808km² được mở rộng trong đó khu nội đô là 2.738km².Nằm trên đỉnh phía Bắc của bình nguyên Hoa Bắc, lưng dựa vào dãy núi Yên Sơn và cao nguyên Nội Mông hùng vĩ, phía Tây là dãy Thái Hoàng Sơn, phía Đông là vịnh Bột Hải, phía Nam là vùng đồng bằng rộng lớn, Bắc Kinh là 1 trong 6 kinh đô của các triều đại Trung Quốc với bề dày hơn 3.000 năm lịch sử. UNESCO đã đánh giá Bắc Kinh là một trong những kinh đô còn giữ được những kiến trúc cổ từ hàng mấy ngàn năm trước và rất nhiều trong số đó được bảo tồn hầu như nguyên vẹn cho tới ngày nay. Bắc Kinh cũng được đánh giá là một trong những thủ đô có phong cách kiến trúc hiện đại, nhưng cũng là thủ đô mang đậm “tính phương Đông điển hình”. Theo các nhà địa lý và phong thủy học thì một trong những nguyên nhân để Bắc Kinh có được những đặc điểm đó vì Bắc Kinh ở vào vị trí đặc biệt, là nơi “hội tụ Trung Hoa linh khí chi địa” (nơi hội tụ của khí thiêng Trung Hoa). Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến nhiều thế hệ các nhà khoa học Trung Quốc và thế giới bỏ ra nhiều công sức để nghiên cứu Bắc Kinh. Bằng nhiều con đường nghiên cứu khác nhau, trong đó có việc tiếp cận vấn đề theo phương pháp truyền thống dân gian (mà người Trung Quốc gọi là phong thủy học) kết hợp với việc sử dụng những phương tiện nghiên cứu hiện đại (như sử dụng ảnh vệ tinh đa chiều, chụp ảnh bằng hồng ngoại, viễn thám, địa chất, địa đồ, kiến trúc...) các nhà khoa học Trung Quốc và thế giới đã phát hiện ra những đặc điểm “rất lạ lùng” trong kiến trúc xây dựng thành cổ Bắc Kinh của người xưa.Một trong những “đặc điểm lạ lùng” đó là bố cục hình tượng “song long” (hai con rồng) trong bố cục toàn cảnh kiến trúc của Bắc Kinh. Con rồng thứ nhất được gọi là “thủy long” (rồng nước), còn con thứ hai là “lục long” (rồng cạn) vô cùng kỳ thú. Quả thực nếu quan sát từ trên máy bay hoặc căn cứ vào bản đồ thực địa, người ta dễ dàng nhận ra ngay hình tượng của hai con rồng đó. Toàn bộ hệ thống các hồ đầm của Bắc Kinh đã tạo ra một "thủy long" hướng theo hướng Tây Bắc cực kỳ sinh động. Thủy long có đầu là Nam Hải, mắt là đảo Hồ Tâm, thân được tạo bởi Trung Nam Hải và Bắc Hải, còn Thập Sa hải chính là phần đuôi. Lục long thì lại được tạo nên bởi hệ thống trục đường giao thông chính của Bắc Kinh. Thiên An Môn chính là cái mõm, Kim Thủy kiều là cái sừng, hai đường Đông và Tây Tràng An chính là hai cái râu, cả một dãy từ Thiên An môn đến Ngọ môn chính là cái mũi. Thái Miếu và di chỉ của đền Xã Tắc chính là hai cái mắt, Cố Cung là phần thân và phần xương đuôi, 4 ngôi lầu ở 4 góc hợp thành 4 cái móng. Đường Cảnh Sơn, đường Địa An môn và Chung Cổ lầu tạo thành dải đuôi. Còn Chính Dương môn như một hạt bảo ngọc mà rồng đang vươn tới, tạo thành một Lục long với thế rất phi phàm khiến người ta phải kinh ngạc. Có thể bố cục “song long” của Bắc Kinh được hoạch định ngay từ khi được khởi công xây dựng vào triều Minh (1368 - 1644), bởi hình tượng “rồng” phản ánh tư tưởng “quân, thần” (vua, tôi) rất được đề cao trong giai đoạn lịch sử này. Nhìn từ một góc độ nào đó thì người xưa đã quan niệm Bắc Kinh là “hưng long chi địa” (mảnh đất của rồng), còn các bậc đế vương là “thiên hạ long chủng” (vua là rồng từ trên trời xuống). Đây được đánh giá là nét đặc sắc nhất trong việc áp dụng những tri thức về mặt phong thủy học phương Đông vào trong quy hoạch tổng thể cũng như trong từng khu riêng biệt của những kiến trúc sư khi tạo dựng nên kinh đô Bắc Kinh và đây cũng có thể là một đặc điểm hiếm thấy ở bất kỳ một thành phố nào khác trên thế giới. Không chỉ có sự kỳ lạ trong bố cục toàn cảnh, mà khi đi sâu tìm hiểu kiến trúc của các khu vực riêng biệt, thì hình như mỗi khu của Bắc Kinh cũng có những đặc điểm kỳ lạ. Thí dụ như việc phát hiện ra “tọa nhân tượng” (tượng người ngồi) tại khu công viên Cảnh Sơn. Cảnh Sơn là khu công viên nằm đối diện với cửa Thần Vũ thuộc cửa Bắc của Tử Cấm Thành. Thời Nguyên thì đây là một gò đất nằm trong khu nội đô có tên là Thanh Sơn. Đến năm Vĩnh Lạc thứ 10 (1416) thuộc triều Minh, khi tiến hành xây dựng các cung điện, người ta đã mang các phế thải khi phá bỏ các thành lũy cũ của triều Nguyên cũng như các đất cát từ việc nạo vét các con sông bảo vệ Tử Cấm Thành, đổ vào đây, tạo thành một trái núi được gọi là Vạn Tuế sơn. Với hàm ý dùng để trấn áp “vương khí” của triều Nguyên, nên núi này còn được gọi là Trấn Sơn.Theo truyền thuyết về hoàng cung, thì tại đây có tích chứa rất nhiều than, nên còn được gọi là Môi Sơn (núi than). Đến năm Thuận Trị thứ 12 triều Thanh (1655) Môi Sơn được đổi tên thành Cảnh Sơn. Tại cuộc triển lãm trưng bày các thành tựu nghiên cứu diện mạo Bắc Kinh bằng viễn thám vào tháng 3/1987, Quỳ Trung Vũ, một chuyên gia về ảnh hồng ngoại viễn thám có gửi tới một tấm ảnh làm chấn động dư luận lúc bấy giờ: trên bức ảnh chụp từ vệ tinh bằng kỹ thuật tia hồng ngoại mặt bằng của khu công viên Cảnh Sơn (bao gồm quần thể kiến trúc đoạn từ phía bắc của Tử Cấm Thành trên trục đường Bắc Kinh và công viên Cảnh Sơn), hiện lên rõ ràng bức tượng một người đang ngồi xếp bằng tròn với đôi mắt khép hờ. Bức tượng đặc biệt này được gọi là “Cảnh Sơn tọa tượng” hay còn gọi ngắn gọn là “nhân tượng”. Phần đầu của “nhân tượng” được tạo bởi quần thể kiến trúc Thọ Hoàng điện của công viên Cảnh Sơn, trong đó Đại Điện và Cung Môn tạo thành mắt, mũi và miệng. Khuôn mặt “nhân tượng” đang phảng phất mỉm cười. Phần lông mi được tạo bởi tổ hợp các hàng cây. Riêng bộ râu được tạo bởi rừng cây có hình tam giác cực kỳ đối xứng, mặc dù nó đã bị tường bao phía ngoài của Thọ Hoàng điện làm gián đoạn. Qua việc phân tích rất cẩn thận và công phu, người ta còn nhận thấy những bức tường vây quanh 4 phía của Công viên Cảnh Sơn tạo thành khung của bức tượng tuân theo đúng “tỉ lệ vàng” 0,32 trong xây dựng. Nếu quả thật đây đúng là bức tượng người được tạo ra theo ý định trước, thì nó là bức tượng người được tạo ra lớn nhất thế giới. Sau này đã có rất nhiều tấm ảnh chụp từ vệ tinh bằng những phương pháp khác nhau về diện mạo của khu vực và trên tất cả các tấm ảnh đó người ta đều thấy “nhân tượng” hiện ra rất rõ ràng. Vậy thì bức tượng người ngồi Cảnh Sơn là tượng của ai ? Qua quá trình nghiên cứu, Quỳ Trung Vũ phát hiện ra một điều bí mật. Ở đầu cực bắc trên tuyến đường trục của Cố Cung có ngôi điện Khâm An được xây dựng vào thời Vĩnh Lạc (triều Minh). Trong điện có thờ một bức tượng được gọi là tượng thủy thần Huyền Vũ đế. "Huyền" có nghĩa là "màu đen", “Vũ” được người xưa giải thích là “ô quy xác” (vỏ của con rùa đen). Theo phong thủy thì “huyền vũ tại ngũ phương” là biểu thị của "bắc phương" (phương bắc), “tại ngũ hành trung” biểu thị cho “thủy” (nước). Vì ngôi điện này hầu như không bao giờ được mở cửa nên bức tượng và những đồ vật có từ thời Minh hầu như vẫn còn được bảo quản nguyên vẹn. Khi đối chiếu bức tượng Huyền Vũ đế trong Khâm An điện với “nhân tượng” thì rõ ràng hai bức tượng là rất giống nhau, chúng chỉ khác nhau về kích cỡ mà thôi. Vậy liệu tượng Huyền Vũ đế và tượng Cảnh Sơn có mối liên quan gì không ? Phải chăng tượng Huyền Vũ đế là “bản mẫu thu nhỏ” để người ta tạo ra “nhân tượng khổng lồ” ? Và tại sao “nhân tượng” lại xuất hiện tại Công viên Cảnh Sơn, nằm trên trục đường chính của Bắc Kinh ? Để giải đáp mối thắc mắc đó, Quỳ Trung Vũ đã tự mình bỏ công nghiên cứu và nhờ rất nhiều học giả có uy tín trong đó có Phổ Kiệt tiên sinh, một chuyên gia về thư tịch cổ, xin tư vấn để làm rõ về sự liên quan đó cũng như cho câu hỏi liệu rằng bức “nhân tượng” được tạo ra một cách có ý đồ kiến trúc hay là được hình thành do ngẫu nhiên ? Nếu như “nhân tượng” được tạo ra là có ý đồ, thì chắc phải có tài liệu (bản vẽ, tranh vẽ hoặc văn bản...) nói về điều này. Nhưng đáng tiếc là cho tới nay người ta vẫn chưa tìm được bất kỳ tài liệu nào minh chứng cho điều này. Một địa điểm xây dựng nữa của Bắc Kinh cũng mang tính kỳ bí không kém, đó là Di Hòa viên. Di Hòa viên là một công viên nằm ở phía tây Bắc Kinh, diện tích khoảng 290ha, trong đó 3/4 là diện tích mặt nước. Đây là khu vui chơi giải trí nổi tiếng dành riêng cho hoàng gia của các triều đại Trung Hoa. Lịch sử đã ghi nhận, khu công viên này được hình thành từ triều Kim (1115 - 1234). Tại đây các vị hoàng đế nhà Kim đã dựng lên vô số những hành cung nguy nga và những khu giải trí cực kỳ xa xỉ. Từ đó các triều đại tiếp nối nhau xây thêm nhiều công trình hoành tráng khác. Đến đời Vua Càn Long (1736 - 1796) nhà Thanh, quy mô khu công viên không những đã mở rộng một cách đáng kể, mà còn được xây thêm nhiều công trình mới và đổi tên là Thanh Ý viên. Năm 1860 liên quân Anh - Pháp tấn công Bắc Kinh đã tràn vào đây cướp bóc, đốt phá khiến Thanh Ý viên tan hoang. Năm 1888, Từ Hy Thái Hậu đã lấy 500 vạn lạng bạc vốn dĩ dùng để xây dựng hải quân, trùng tu lại Thanh Ý viên thành một công viên tráng lệ và đổi tên thành Di Hòa viên (khu vườn di dưỡng tinh thần). Di Hòa viên mà ta thấy ngày nay chính là những gì được tạo ra từ lần trùng tu này. Nổi bật ở chính khu trung tâm là Phật Hương các, một ngôi chùa nhiều tầng nguy nga lộng lẫy nằm trong khu Vạn Thọ sơn, nơi để Từ Hy niệm Phật. Dưới chân Vạn Thọ sơn là hồ Côn Minh bao la gợn sóng. Một bến thuyền có hình dáng là một chiếc thuyền làm bằng đá nhô ra mặt hồ, ngay dưới Phật Hương các là nơi đón du khách lên thuyền dạo trên hồ. Men theo bờ hồ là một dãy hành lang dài 728m gồm nhiều gian, mỗi gian được kiến trúc khác nhau với những hình vẽ vô cùng tinh xảo mang đậm tính nghệ thuật Trung Hoa... Giữa hồ Côn Minh là hòn đảo nhỏ được nối với bờ bằng một chiếc cầu vồng làm bằng đá gồm 77 nhịp có tên là Thập Thất Khổng kiều. Cho tới ngày nay, Di Hòa viên vẫn được coi là một trong những công viên đẹp nhất thế giới. Di Hòa viên không những chỉ là một công viên đẹp, được coi là một kiệt tác về kiến trúc, mà người ta còn đồn rằng toàn bộ khuôn viên của Di Hòa viên đã được xây dựng theo bố cục rất chặt chẽ về mặt phong thủy thể hiện ý tưởng Phúc Lộc Thọ, theo một mật chỉ của Từ Hy Thái Hậu. Đã có nhiều người bỏ công nghiên cứu để tìm hiểu bí mật ẩn chứa trong Di Hòa viên, nhất là tìm hiểu xem có thật Di Hòa viên có bố cục thể hiện ý tưởng Phúc Lộc Thọ hay không và nếu có thì nó đã được thể hiện như thế nào.Bước đột phá có tính chất quyết định để trả lời cho câu hỏi này là từ khi các nhà nghiên cứu có trong tay những bức ảnh chụp toàn cảnh Di Hòa viên từ vệ tinh bằng kỹ thuật có độ phân giải siêu cao và kỹ thuật chụp hồng ngoại. Khi những tấm ảnh này được công bố, các nhà nghiên cứu đã vô cùng kinh ngạc về bố cục kỳ lạ của Di Hòa viên. Nhìn vào những tấm ảnh ta thấy ngay hồ Côn Minh có hình dáng là một quả đào lớn mà cuống của nó là con sông dẫn nước vào hồ qua cửa Tây Môn quan nằm ở góc phía bắc của Di Hòa viên. Con đê hẹp mà dài ở phía chếch mặt hồ tạo ra vết rãnh trên quả đào rất hoàn chỉnh. Dãy hành lang dùng làm đường đi lại men theo hồ Côn Minh ngay sát chân Vạn Thọ sơn thì giống như đôi xương cánh của một con dơi đang dang ra. Đường hành lang ở bờ bắc hồ Côn Minh thì rõ ràng là hình một cánh cung mà phần thâm nhập vào lòng hồ hình thành phần đầu của con dơi, phần nhô ra một cách đơn độc được dùng làm bến thuyền cho khách du ngoạn hồ Côn Minh chính là mõm của con dơi đó. Đường hành lang vươn dài sang hai phía tả hữu chính là đôi cánh dơi đang vươn ra. Đoạn hành lang ở phía đông và mái hiên nhà Ngư Tảo thâm nhập vào mặt nước và bởi đoạn hành lang ở phía tây tạo thành đôi móng chân trước của con dơi, còn núi Vạn Thọ sơn và cái hồ phía sau núi tạo thành thân của con dơi. Thập Thất Khổng kiều ở phía đối diện Vạn Thọ sơn thì đúng là chiếc cổ của một con rùa đang vươn dài, mà đầu của nó chính là hòn đảo nhỏ giữa hồ Côn Minh. Vì trước đây không có được bức ảnh chụp toàn cảnh Di Hòa viên nên kiến trúc độc đáo của nó ít người nhận ra. Ngay cả Từ Hy Thái Hậu mặc dù đã lên tầng cao nhất của Phật Hương các trên đỉnh Vạn Thọ sơn thì cũng chỉ nhìn thấy một cách đại khái hình trái đào, cái đầu và cái cổ con rùa cũng như cái đầu và đôi móng con dơi. Những phần còn lại thì không thể nhìn thấy, nhất là phần thân con dơi do bị những kiến trúc khác che lấp. Theo thuật phong thủy truyền thống Trung Hoa thì quả đào tượng trưng cho Lộc, con dơi tượng trưng cho Phúc, còn rùa tượng trưng cho Thọ. Như vậy cấu trúc tổng thể của Di Hòa viên ẩn trong nó cả 3 điều mà Từ Hy mong muốn là Phúc Lộc Thọ đã được thể hiện bằng những hình tượng tuyệt vời. Phải chăng chính cấu trúc này là điểm khác biệt cực kỳ đặc sắc mà không có ở bất cứ một công viên nào khác tại Trung Quốc cũng như trên thế giới. sưu tầm
-
Có những nguyên tắc bắt buộc phải tuân theo nếu bạn có ý định thờ cúng và bày tượng Phật. Thông thường, trong mỗi gia đình theo Phật giáo đều có bàn thờ Phật, tranh Phật hay bài trí tượng Phật để cầu xin bảo hộ bình an, phát tài. Tượng Phật rất linh thiêng, vì vậy chúng ta nên chú ý đến những điều kiêng kỵ để tránh mang lại những điều không may đến cho gia đình. Không nên mua tượng Phật một cách ngẫu hứng, tùy tiện. Trong nhà chỉ nên thờ nhiều nhất là ba vị và phải sắp đặt chung một bàn, càng nhiều tượng Phật thì người sống trong nhà càng cảm thấy phân tâm, bất an. Trong khi thờ Tam thế Phật, phải sắp đặt chung một bàn. Nếu tượng lồng kính thì nên đặt ngay thẳng, không được cái cao, cái thấp, cũng không được cái to, cái bé; còn với tượng gỗ, tượng đồng, tượng sành, thì để ngang hàng đồng bậc, không nên để tầng trên, cấp dưới. Sau khi mua tượng Phật, tuyệt đối không được khóa trong két bạc hay cất trong tủ kín giống các đồ quý khác như vàng, bạc, đá quý... Hành động này bị coi là bất kính nhất đối với tượng Phật. Nếu để tượng trong két bạc còn làm cho nhà xảy ra rất nhiều chuyện không hay, nhất là trẻ em hay bị ốm. Nếu tượng Phật trong nhà quá cũ, để lâu năm thì không được vứt hoặc ném vào một góc nào đó mà cần mua tượng Phật mới để thay và mang tượng Phật cũ lên chùa, miếu hoặc có thể đốt cùng tiền vàng (vào mùng 1, ngày rằm để tiễn tượng Phật quy vị). Khi đặt tượng Phật lên bàn thờ, dưới tượng phải để một đĩa có giấy đỏ nhằm tỏ lòng thành kính và trang trọng đối với Phật. Nếu tượng Phật không may bị vỡ, không nên dùng chổi quét và vứt tùy tiện mà phải dùng giấy vàng gói lại, vào ngày mùng một, ba, năm, bảy, chín đốt dưới nắng, tiễn tượng Phật quy vị. Nếu ngón tay tượng Phật bị gãy thì nên dùng giấy đỏ cuộn lên rồi lắp vào, nếu thân Phật có vỡ, nên dán lại bằng giấy đỏ. Phòng ngủ là không gian riêng tư của gia đình. Vì vậy, không được bài trí tượng Phật hay vứt bùa phù hộ có hình tượng Phật lung tung trong căn phòng này, vì điều đó sẽ dẫn đến việc ngủ không ngon, hay mộng mị. Bàn thờ Phật không được bày theo hứng mà phải đặt chính giữa nhà, bàn thờ ông bà, thì nên thờ một bên. Nếu nhà cao tầng thì thờ Phật ở tầng trên. Tại bàn thờ Phật thì không nên để tạp vật nào khác, ngoài bình bông, lư hương, chân đèn và đĩa quả. Những vật này, mỗi ngày cần được săn sóc lau quét sạch sẽ. Ngoài ra, những tranh in hình Phật tuyệt đối không được cuộn lên, bởi làm như vậy sẽ gây đau đầu cho những người sống trong gia đình. Khi mắt, ngón tay của tượng Phật trong tranh bị hỏng thì phải sửa chữa hoặc vẽ lại, nếu không vẽ lại như cũ thì người sống trong nhà dễ bị mắc bệnh đối ứng chỗ hỏng của tượng Phật. Theo Vzone
-
- 2
-
-
10 pho tượng Phật to nhất thế giới Các công trình kiến trúc Phật giáo không chỉ là di sản của nhân loại mà còn là những địa danh du lịch tâm linh thu hút hàng triệu du khách thập phương mỗi năm. Dưới đây là 10 kiến trúc Phật giáo vừa được tạp chí trực tuyến Touropia bình chọn và giới thiệu: 1. Đại tượng Phật Leshan Giant Buddha - Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tượng Phật Leshan Giant Buddha hay Đại tượng Phật Lạc Sơn là bức tượng khổng lồ chạm khắc trực tiếp vào quả núi đá vĩ đại ở tỉnh Tứ Xuyên, miền Tây Trung Quốc. Tượng mô tả Phật Di Lặc (Maitreya hay Bodi Sattra) ở tư thế ngồi có chiều cao 71 m, riêng các ngón tay có độ dài tới 3 m. Tượng Phật Leshan Giant Buddha được xem là bức tượng Phật vĩ đại nhất khắc trong núi đá của nhân loại hiện nay. 2. Tượng Phật Emerald Buddha, Thái Lan Đây là bức tượng khoác y phục bằng vàng đặt trong chùa Wat Phra Kaew (Chùa Phật Ngọc), trong khuôn viên Hoàng gia Grand Palace của Thái Lan. Bức tượng nổi tiếng bởi nó được chế tác từ đá ngọc xanh nguyên khối. Tượng có 3 bộ y phục bằng vàng được nhà vua Thái Lan thay vào các dịp lễ hội theo quy định. 3. Đại tượng Phật Daibutsu - Nhật Bản Kotoku-in là ngôi chùa Phật nổi tiếng của trường phái Jodo Shu Sect (Tịnh Thổ Tông) ở thành phố Kamakura (Nhật Bản). Trong đó có bức tượng phật Daibutsu ngồi, cao 13m, nặng 93 tấn bằng đồng rỗng. Nguyên thủy, tượng được đặt trong chùa bằng gỗ, nhưng ngôi chùa này đã bị phá hủy bởi sóng thần hồi thế kỷ thứ 15 và để lại bức tượng tại vị trí vốn có của nó như hiện nay. 4. Bức tượng Phật nằm - chùa Wat Pho, Bangkok, Thái Lan Là kiến trúc Phật giáo nổi tiếng ở chùa Wat Pho, Bangkok (Thái Lan). Bức tượng nằm nghiêng dài 46m, cao 15m. Đôi mắt và bàn chân được trang trí ngọc trai thể hiện 108 đức tính cao quý của Đức Phật. 5. Tượng Phật Ushiku Daibutsu - Ushiku, Nhật Bản Ushiku Daibutsu (Tượng phật Di Đà) tọa lạc tại thành phố Ushiku, Nhật Bản là một trong những ngôi tượng Phật cao nhất thế giới hiện nay, cao 120m, kể cả bệ 10m, đài sen 10m. Công trình chính thức được hoàn thành vào năm 1995 và được xem là điểm đến du lịch tâm linh, thực hành tín ngưỡng nổi tiếng thế giới hiện nay. 6. Tượng Gia Vihare - Sri Lanka Đây là kiến trúc Phật giáo nổi tiếng thế giới được xây dựng tại Polonnaruwa, một trong những cái nôi của Phật giáo thế giới ở Sri Lanka. Tiêu điểm của ngôi chùa này là 4 bức tượng Phật được chạm khắc vào tảng đá granit khổng lồ, trong số này có bức tượng nằm nghiêng dài tới 14m và một bức khác dựng đứng cao 7m. 7. Đầu tượng Phật ở Ayutthaya - Thái Lan Cố đô Ayutthaya của Thái Lan được xem là quê hương của những tác phẩm tôn giáo rất đặc biệt, nhất là tượng Phật. Trong những di tích còn sót lại có chùa Wat Mahathat (Chùa Đại Di tích) lưu phần đầu của một bức tượng Phật làm từ đá sa thạch, phần còn lại của tượng đã bị thất lạc. Đặc biệt, chiếc đầu tượng Phật này nằm kẹt trong rễ và dây leo của một cây cổ thụ. 8. Tượng Monywa Buddhas - Myanmar Monywa là thành phố sầm uất ở miền Trung Myanmar nằm bên bờ sông Chindwin hùng vĩ, nhưng ở đây còn nổi tiếng hơn bởi bức tượng Phật nằm nghiêng Monywa Buddhas rất vĩ đại. Tượng Monywa Buddhas có chiều dài 90m, riêng phần đầu cao tới 1,8m, được xây dựng năm 1991 bên trong rỗng cho phép du khách có thể khám phá đi từ trong ra ngoài và lên tới đỉnh. 9. Tượng Tian Tan Buddha - Hồng Kông Tượng Tian Tan Buddha (Tượng Đại Phật Thiên Tân) được người dân Đảo Lantau (Hong Kong, Trung Quốc) gọi là Đại Phật. Tượng được làm từ vật liệu đồng nguyên chất, khánh thành năm 1993. Sở dĩ nó mang tên gọi Thiên Tân là vì nó được dập khuôn y trang một bức tượng tương tự của chùa Thiên Đường ở thủ đô Bắc Kinh. Tượng được xây dựng trên tòa sen cao 34m, tay phải của Đức Phật nâng lên để gỡ bỏ mọi tai ương, đau buồn cho nhân loại còn tay trái để trên đầu gối, tượng trưng cho niềm hạnh phúc của chúng sinh. 10. Tượng Phật Hussain Sagar Buddha - Ấn Độ Đây là bức tượng Phật khổng lồ xây dựng tại chính tâm của một chiếc hồ nhân tạo thuộc thành phố Hyderabad, Ấn Độ. Tượng cao 17 m nặng tới trên 320 tấn. Đây là bức tượng Phật đá nguyên khối lớn nhất, nổi tiếng nhất Ấn Độ, nó được nhiều nghệ nhân tham gia chạm khắc từ một khối đá duy nhất. sưu tầm
-
- Cảm ơn bác Học trò. Cháu đưa vợ đi sinh và đặt tên cho con trước khi cháu sinh nên chăm chú lắm. Trước khi vợ cháu sinh cháu còn được người thầy bên khongtu.com tư vấn là chọn giờ sinh mổ đi, vợ anh không thể sinh đẻ được phải mổ (đúng y chóc)-đêm đó ở bệnh viện ông ấy ở TQ còn gọi điện hỏi thăm cháu.Nhờ phúc đức nên gia đình cháu mới có thể qua. Đúng như sự thật. Sáng đó 4 giờ sáng cháu đưa vợ lên bệnh viện sinh nhưng vì mấy cô y tá không biết được là vợ cháu ko thể sinh đẻ được, mãi đến 22h khi bệnh viện đổi ca trực mới có người biết là phải sinh mổ. đúng 22h45 thì cháu bé được lấy ra. KHi lấy ra cháu đã xanh gần nữa người và đúng là cảm ơn trời phật. Nay cháu đã 2 tháng tuổi, hôm qua cháu nghịch quá lại bị gẫy mất cái răng. - Còn về phần công việc hiện tại cháu đang là chuyên viên tham mưu, cuộc đời công việc từ khi rời ghế nhà trường cũng như lá mùa thu gặp sương mai nặng hạt, hiện tại cháu đang là chuyên viên chủ yếu là tham mưu văn bản và ko liên quan gì đến tiền bạc cả nên ko nghĩ là tham ô (@học trò: ăn đút lót thì cũng nên chia cho kẻ dưới phần hơn để tạo phúc cho mình) và cháu sống cũng ko muốn hai từ này cho lắm hiiiiiiiiiii. Cảm ơn bác học trò và chúc sức khỏe. Nếu có gì cần cháu làm bác cứ sai bảo! Rất cảm ơn khi được bác chỉ giáo!
-
Tính cách người Nhật Bản Tính cách người Nhật Bản Là con người, ai cũng có đủ tính tốt và xấu, nên thực tế rất khó nhận định về tính cách của chính mình, của một người khác, huống chi là nói về tính cách của cả một dân tộc. Tuy vấn đề phức tạp và đôi khi mâu thuẫn, nhưng tôi cũng xin cố gắng đưa ra một số nét tiêu biểu của người Nhật. Người Nhật Bản Người Nhật là pha trộn của các dân tộc bản địa với người Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên, Mãn Châu, Eskimo... thuộc giống da vàng. Dáng người lùn mập, nhưng nay phát triển mạnh về chiều cao cũng như tuổi thọ. Theo thống kê năm 2000, chiều cao trung bình của phái nam là 171,3 cm và phái nữ là 158,4 cm. Theo thống kê năm 2003, tuổi thọ trung bình phái nam là 78,4 tuổi và phái nữ là 85,3 tuổi, là dân tộc gia tăng tuổi thọ nhanh nhất và nay đứng đầu thế giới. Họ rất khỏe mạnh, dẻo dai, ngay phụ nữ cũng có thể đứng làm việc cả ngày, nhiều người 70, 80 tuổi vẫn còn hăng hái làm việc, không phải tham tiền vì họ rất giàu, nhưng vì thích làm việc, đến độ thế giới gọi họ là "labor animal" (con vật lao động). Đặc biệt phụ nữ thường ngực nhỏ, có người chân rất to, nên được gọi là chân "daikon" (大根, đại căn: củ cải, chân củ cải đối với Việt Nam thì đâu có gì gọi là to, nhưng đây là củ cải Nhật Bản, to gấp 3, 4 lần củ cải Việt Nam, tuy vậy hiện nay cũng ít người có loại chân này), cườm tay phụ nữ Nhật có thể lớn hơn cườm tay thanh niên Việt, đôi khi họ đeo đồng hồ đàn ông cũng vừa. Làn da phụ nữ thường láng mịn, người mình gọi là làn da trứng gà bóc, nhưng người Nhật cho là làn da "mochihada, bánh dầy" (餅肌, bính cơ), và đặc biệt bàn tay của đa số các cô thường nuột nà rất đẹp. Về khuôn mặt người Nhật, theo các nghiên cứu y học mới đây cho thấy, đã có nhiều biến đổi trong một, hai trăm năm qua. Xem các tranh cổ, nhất là loại tranh thủ ấn họa nổi tiếng của Nhật Bản, thường thấy vẽ phụ nữ Nhật mắt hí một mí, lông mày mỏng, mũi tẹt. Ngày nay mắt họ khá lớn, lông mày rậm hơn, và mũi cũng cao hơn. Thêm một điểm nữa là xưa khuôn mặt vốn tròn, nay thì dài vì cằm của họ dài ra. Y khoa giải thích là thức ăn ngày xưa phải nhai nhiều; nhất là thời ba, bốn ngàn năm trước, số lần nhai gấp từ năm, mười lần so với các thức ăn mềm ngày nay. Do vì nhai ít, bắp thịt cằm làm việc ít nên cằm bị trễ dần xuống. Một điểm khác nữa là người Nhật thường bị thiếu chất vôi (calcium), nên răng hay bị hư và cũng mọc khấp khểnh, nếu đi niềng cho đều sẽ tốn khoảng 5.000 đến 8.000 USD. Tính cách người Nhật Bà Ruth Benedict, một chuyên viên Nhân Chủng Học ở Đại Học Columbia đã biên khảo về tính cách người Nhật vào thập niên 40 để làm nền tảng cho chính sách đối ứng của Hoa Kỳ. Bà đã viết nhiều bản tường trình và đúc kết thành tác phẩm "The Chrysanthemun And The Sword" (Kiku To Kitana = Hoa Cúc Và Thanh Kiếm). Theo bà: "Người Nhật vừa hung bạo vừa hiền hòa, vừa nghiêm khắc vừa thơ mộng, vừa cứng ngắc vừa nhu nhuyễn, vừa trung thành vừa phản trắc, vừa can đảm vừa hèn nhát, vừa bảo thủ vừa cấp tiến... và chịu ảnh hưởng cùng lúc của Thần Đạo và tam giáo Nho, Phật, Lão...". Những điều ấy thoạt nghe có vẻ chung chung, như có gì đó cũng giống người Việt hay các dân tộc khác, nhưng để ý kỹ, khi viết như thế, bà đã nêu bật được tính tích cực, đôi khi dẫn đến cực đoan ở cả hai thái cực của người Nhật. Như người Nhật trước và sau Thế Chiến Thứ 2 đi từ tàn bạo đến hòa bình, ngày xưa họ sẵn sàng chết thì ngày nay họ bảo vệ mạng sống bằng mọi giá, thể hiện qua chính sách của chính phủ cũng như từng người dân. Họ hiền tới độ đi ra nước ngoài thường bị những người không đứng đắn trấn lột, ăn hiếp. Có khi tôi liên tưởng đến hình ảnh những chú gà "nuôi giam", những con thỏ "nhà", dù được thả ra thì lúc nào cũng chậm chạp, không quen đối phó với các bất trắc bên ngoài. Họ có tinh thần thực dụng và mạo hiểm rất cao, đã tự đi du học và khéo léo đãi lọc văn minh, văn hóa Trung Hoa, mà không du nhập từ chương và khoa cử. Khi thấy những nền văn minh văn hóa rực rỡ ở Âu-Mỹ, họ cũng đã tìm tới học hỏi, làm giàu thêm cái vốn đã rất phong phú của họ, thể hiện song hành tính bảo thủ và cấp tiến. Tất nhiên khi trào lưu Âu-Mỹ tràn tới đất Phù Tang, thì ít nhiều họ cũng mất đi phần nào bản sắc riêng. Tinh thần kỷ luật đi đối với giáo dục Người Nhật nổi tiếng là có kỷ luật, cho dù sự kỷ luật đó bắt nguồn từ hoàn cảnh sinh sống khó khăn, từ việc nghĩ tới lợi ích chung hay từ văn hóa v.v... đã trở thành như tự giác, nhưng không phải cứ thế thì 100% con người trong xã hội này sẽ trở thành kỷ luật. Mà những người làm luật, những đoàn thể... đều phải suy tính, ghi ra rất chi tiết các quy luật và phổ biến rộng rãi để mọi người tuân theo. Những nơi sinh hoạt công cộng luôn thấy đầy những bảng hướng dẫn, thông báọ Cứ nhìn mặt đường của Nhật thì rõ, đâu đâu cũng trắng xóa các lằn kẻ phân luồng xe chạỵ Ở những nơi đông đảo hay dễ gây tai nạn, mặt đường còn được sơn màu cam hay đỏ, sơn tráng loại đá răm... để xe chạy không bị trượt. Ngoài ra còn lót những tấm nhựa chỉ đường và loa phát nhạc báo cho người mù ở một số chỗ băng ngang đường. Tiền giấy cũng có dấu hiệu nổi đặc biệt, ở ga xe điện thì dán bảng ghi bằng chữ nổi dành cho người mù để có thể tự mua vé... Quanh các trường Tiểu Học thì thường có người cầm cờ hướng dẫn các em nhỏ qua đường. Người Nhật nổi tiếng là dặn dò chi tiết nhất so với các dân tộc khác. Xe điện lúc nào cũng thông báo mở cửa bên nào, xin lưu ý đừng để quên hành lý, khi bước ra coi chừng khoảng cách giữa toa xe và thềm ga... Tóm lại là sự tự giác chung vẫn luôn luôn cần sự hướng dẫn, giáo dục cụ thể để đáp ứng với hoàn cảnh và sự thay đổi của xã hội theo với thời đại. Lễ nghĩa – Lịch sự Ai cũng thấy là người Nhật rất lễ nghĩa, chào nhau không phải một lần mà đôi khi năm lần bẩy lượt. Ăn mặc lịch sự, nói năng nhỏ nhẹ, không phải lúc nào cũng to tiếng như chửi nhau như giữa lính Nhật thời Thế Chiến Thứ 2 với nhau hay với người bị họ thống tri... Trừ một số giới trẻ ăn mặc lố lăng, người đi làm đều ăn mặc lịch sự, nhìn ngoài đường không thể nào đoán được họ làm việc gì, áo quần luôn sạch sẽ, khi vào nơi làm mới thay quần áo làm việc lao động, nên đôi khi chỉ là nhân viên làm vệ sinh, đổ rác. Phái nam Nhật hầu như không có chuyện thấy người đẹp lạ ngoài đường mà hút gió, ngỏ lời tán tỉnh, chòng/chọc ghẹo... Hầu như không có chuyện không quen mà lẽo đẽo theo nàng về tới nhà rồi trồng "cây si" luôn. Nhưng bạn với nhau thì giữa nam nữ lại có vẻ gần gũi, tự nhiên hơn người Việt. Đi nhậu chung mà nếu một bên say thì bên kia sẵn sàng dìu đi. Vì vậy, đôi khi người Nhật kết hôn trễ, có tới khoảng 50% phải nhờ người giới thiệu, gọi là "miai" (見合い, kiến hợp). Phụ nữ được khen đẹp thì chắc là ai cũng thích, nhưng phụ nữ Nhật thì mắc cỡ, tỏ thái độ khiêm tốn và thường nói: "Cám ơn", còn phụ nữ Việt "đáo để" hơn, thường trả lời: "Sạo", "Đừng có nịnh"... còn người lạ mà khen, có khi bị lườm nguýt cho một phát rồi nói: "Vô duyên!". Nhật Bản có Ngày Tình Yêu (Valentine), là ngày 14 tháng 2. Theo truyền thống Á Đông, trong truyền thuyết Nhật cũng từng nói tới chuyện có vị thần phái nữ tỏ tình với vị thần phái nam trước, nhưng cho là chuyện không nên, nên phái nữ lúc nào cũng ở thế bị động, khó kiếm chồng. Vì vậy, Ngày Tình Yêu là ngày phái nữ tặng quà cho phái nam, thường là chocolate để phái nữ có cơ hội mạnh dạn lên tiếng. Còn khi hai bên quen nhau thân thì phái nam không những tặng hoa hồng còn tặng quà và phái nữ cũng tặng quà ngược lại nhưng không tặng hoa. Ở Việt Nam cũng mới có ngày này, nhưng phái nam thường tặng phái nữ hoa hồng để tỏ ý thích. Ngày Trắng (White Day), là ngày 14 tháng 3, phái nam tặng quà đáp lễ cho phái nữ, thường là kẹ. Ở Việt Nam không có ngày này. Phái nữ Nhật Bản dường như không bỏ lỡ cơ hội "vùng lên" để kiếm chồng này, nên họ chờ ngày 14/02 để "mượn quà thay lời" và mong ngày 14/03 để xem phái nam đáp ứng như thế nào. Phong trào mới chỉ mươi năm nay mà đã như một truyền thống lâu đời ăn sâu trong tâm trí và được hưởng ứng nồng nhiệt. Dịp này phái nữ ào ào đi mua chocolate như bão táp với sự tiếp tay kiếm lời rất đắc lực của các cửa tiệm thương mại. Sở dĩ phái nữ phải làm như vậy bởi đa số phái nam Nhật Bản "cù lần", không biết "tán gái". Phái nữ Nhật đâu có e dè kiểu thiếu nữ Việt Nam, như trường hợp cô Phan Thanh Tình, 17 tuổi, học sinh Trung Học cấp 3 ở Sài Gòn, trong chương trình "Ajia No Junjo" (アジアの純情, Thuần Tình Của Á Châu) của đài TV Fuji số 8 ngày 2 và 10/2/2004. Cô Tình thích một bạn trai cùng trường, cũng là anh ruột của bạn gái mình. Chuẩn bị cho ngày hẹn hò, cô không dám ngỏ lời nên muốn gởi gấm tâm tư qua món quà. Cô bèn đi mua đồ thêu, về cặm cụi đêm khuya, thêu trên khăn chữ "I LOVE YOU". Hôm hẹn hò, vì còn mắc cỡ nên có cả bạn gái đi theo. Sau cả buổi đi chơi, ngồi cạnh nhau, cuối cùng sau lúc chia tay, món quà ấp ủ bao nhiều tình cảm, ước mơ... vẫn để trong túi không dám đưa ra. Ngược lại, vài phụ nữ Nhật còn độc thân thẳng thẳn yêu cầu tôi giới thiệu bạn trai người Việt, nhưng tôi không dám vì sợ phiền phức sau nàỵ Họ rất điềm tĩnh trong ứng xử, ít nổi nóng, nhưng khi nổi nóng thì cũng khó can lắm, mà cũng chẳng mấy khi họ can nhau. Tôi đã chứng kiến sinh hoạt các câu lạc bộ thể thao ở Đại Học. Đàn anh thường đì đàn em với một thứ kỷ luật huấn nhục, không phải chỉ trong một tuần mà gần như suốt thời trẻ, có khi kéo dài cả đời nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Người Việt dường như rất khéo léo trong việc la mắng, tuy đôi khi nói bóng gió, nhưng khi la mắng thì nói thẳng vào chỗ sai quấy (tất nhiên có khi chỉ là chủ quan) nhiều hay ít tùy theo lỗi nặng hay nhẹ... Còn với người Nhật, khi rầy la, nhiều khi không nói thẳng và cụ thể nên người bị la không hiểu người la muốn gì mà la rất nặng và rất dai, bất chấp thể diện người đối diện. Có khi mới sáng ra, ông chủ vào hãng là la toáng lên, mà có khi la chung chung kiểu nói: "Mọi người làm cái gì vậỷ", "Đồ cà chớn!", "Không ai chịu làm việc!"... La kiểu này thì không ai biết là ông ta nói gì và muốn gì, nhân viên thì cứ im lặng nghe rồi giải tán, vẫn làm việc như thường, nếu ấm ức quá thì hết giờ làm việc rủ nhau ghé quán nhậu làm vài ly rượu cho nguôi. Như thường thấy những phóng sự trên TV, có những ông thầy "truyền nghề" nấu mì..., đệ tử sau nghe lời chỉ dẫn, làm xong món ăn đưa lên, ông chỉ liếc qua không cần thử là nói liền: "Như vầy mà đem bán à!?". Thế là đổ ụp vào thùng rác. Ông thầy tiếp tục chửi cho một lúc như tát nước rồi bắt làm lại, đệ tử im phăng phắc nghe chửi, lo đi làm lại mà không biết phải sửa chỗ nào, lâu lâu ông thầy mới chỉ khuyết điểm và bắt làm đi làm lại cả chục lần. Và tuy vậy, thường chỉ có độ 30% là được cấp bằng thôi. Ý của ông thầy là phải tập cho nhuần nhuyễn và chú ý từng chi tiết nhỏ nhất, từ cách rửa xương, rửa rau, nhúng mì, nêm gia vị, trình bày... Với lối dạy này, tôi thấy nhiều đệ tử lớn tuổi có khi ở lớp 50 hay 60, muốn có một nghề làm ăn tự lập đã phải khóc ròng! Còn các trường dạy nghề bình thường thì thu học phí nên chiều học sinh hơn, không dám quá nặng lời như vậy. Các huấn luyện viên thể thao cũng vậy, luôn miệng la mắng rất nặng các tuyển thủ (vận động viên). Tuyển thủ nào cũng phải nói là huấn luyện viên rất nghiêm khắc, nhưng hầu hết họ chấp nhận, chỉ biết gật đầu làm theo vì họ ý thức rằng muốn tranh đua với người khác hay thế giới thì không cách nào khác hơn là nghe sự hướng dẫn và khổ luyện. Tôi thầm nghĩ chắc chắn là hiếm có người Việt nào có thể chịu đựng những sự la mắng như vậy. Đó là lý do chính giải thích tại sao chẳng có mấy người Việt tham gia trong các câu lạc bộ thể thao Nhật. Trong công sở, tư sở và các hãng xưởng cũng vậỵ Cấp trên la mắng cấp dưới rất nặng, bất chấp thể diện người bị la mắng, làm cho nhiều khi người ngoài thấy rõ sự khúm núm, sợ sệt của cấp dưới. Và trong nhiều trường hợp cấp dưới thi hành mệnh lệnh mà không cần suy nghĩ gì cả, như chỉ cốt làm vừa lòng cấp trên! Họ cũng rất trọng chủ nghĩa "bái kim" (quá trọng đồng tiền), nên sống có hai mặt, với nhân viên thì gắt gao, mà với khách thì cởi mở, ngọt ngào. Đó là cái giá mà người Nhật đã phải trả để xã hội ổn định và phát triển. Mỗi người phải chịu khép bớt phần đòi hỏi tự do của mình. Tuy nhiên, trong sinh hoạt bình thường như các nhóm bạn hay hội tự trị... thì họ đối xử với nhau thân thiện và bình đẳng hơn. Đặc biệt người Nhật rất chịu khó hội họp, phát biểu ý kiến và ghi chép khá cẩn thận. Các buổi họp thường kéo rất dài, hầu hết mọi người nắm vững vấn đề rồi mới thi hành. Khi đánh nhau, người Nhật ít can gián hơn người Việt. Tôi đã chứng kiến cảnh đàn anh đánh đàn em, hay bạn nam sinh đánh nhau rất hung bạo và kéo dài mà những đồng bạn khác vẫn đứng nói chuyện tỉnh bơ, có khi có cả con gái trong đó cũng vậy. Đầu thập niên 70, đã từng có lần trong câu lạc bộ võ Đại Học Takushoku (Thác Thực), khi một đàn em xin ra, đã phải đấu một vòng với mọi người và bị đánh chết. Trường hợp này, pháp luật không trừng trị nặng, vì coi đó là một tập quán trong văn hóa. Các đàn em sợ đàn anh hơn cha mẹ, với đàn anh thì bảo sao cũng nghe, không cần phán đoán đúng sai, còn ở nhà thì hay cãi lại cha mẹ... Hầu như không có chuyện đàn em đánh lại đàn anh, cũng không về mách gia đình hay kéo bạn bè tới trả thù, coi như chuyện trong câu lạc bộ là tự mình gánh trách nhiệm. Có điều, tuy vậy mà họ ít thù vặt và thù dai. Người Việt mà thấy bạn bè cãi nhau hay đánh nhau thường can gián ngay, còn chuyện ai phải ai trái không quan trọng, tính sau. Các bà mẹ Nhật dạy cho con tính tự lập từ khi chúng mới biết đi. Bà mẹ đi trước, con đi sau, nếu con vấp ngã, kêu khóc, bà mẹ vẫn đứng phía trước chờ chứ không chạy lại đỡ như người Việt. Đứa bé khóc mãi không được mẹ lại đỡ đành đứng dậy đi theo. Cha mẹ chiều con và trẻ em Nhật được tự do, tự lập gần như Âu-Mỹ. Chúng tự quyết nhiều, khoảng 13, 15 tuổi là cha mẹ không được xâm phạm vào đời tư của chúng, không được truy hỏi thành tích học hành ở trường ra sao... Nhưng đôi khi vì chưa đủ trí khôn, chúng làm theo bản năng và bạn bè rủ rê, hay nhất là bị đứa lớn ăn hiếp bắt làm bậy, nên cũng gây ra nhiều tệ trạng, đến khi cha mẹ biết được thì đã trễ rồi. Lạnh nhạt – Thân thiện? Có nhiều người đã nhận xét là người Nhật "lạnh nhạt", có lẽ điều đó cũng đúng, nhưng chỉ đúng một nửa với hầu hết những người Nhật mới quen. Còn khi quen lâu thì họ sẽ vượt qua được ranh giới e dè, cởi bỏ được "mặt nạ" và tỏ ra thân thiện hơn. Giữa thập niên 80, khi tôi lần đầu tiên tự đi thuê phòng ở một dãy nhà nhiều phòng cho thuê gọi là "a-pa-tồ" (apartment), theo tục lệ người Nhật là nên có chút quà mọn như một hộp bánh nhỏ hay khăn vải (người Nhật vốn tính sạch sẽ hay lau chùi nên họ hay tặng nhau món này)... để ra mắt những phòng bên cạnh. Tôi chuẩn bị quà và gõ cửa, tự giới thiệu là người Việt mới dọn tới, nhưng người trong phòng không mở, chỉ nói vọng ra "Thôi được rồi", hay "Không cần" làm tôi cũng hơi áy náy. Ở Nhật cũng có nhiều người hay đi từng nhà, gõ cửa quảng cáo giới thiệu hàng hay chiêu dụ về tôn giáo, nên nhiều nhà phải gắn cả bảng cự tuyệt để khỏi bị làm phiền. Người Nhật dù là đang ở nhà, cũng có thói quen đóng cửa, cài then bên trong để tránh bất trắc. Có lẽ lúc đầu họ cũng coi tôi như một kẻ làm phiền và thấy cũng chẳng có gì cần để tiếp xúc. Vì nhà Nhật vách mỏng lắm, tôi lo sau này có con nhỏ làm ồn hay mình làm gì không đúng phong tục Nhật sợ bị họ qua kiếm chuyện. Nên nhân một lần đi làm về, tôi thấy hai ông ở mấy phòng bên cạnh đứng nói chuyện với nhau, tôi vội chào rồi vào nhà lấy quà ra và đưa tặng. Khi đó, mặt giáp mặt, hai ông có muốn cũng không thể lánh mặt nữa. Không biết họ nghĩ thế nào về hành động của tôi, nhưng thấy họ đổi thái độ, trở nên thật vui vẻ, cởi mở, và còn nói thêm rằng có gì cần cứ nói, họ sẵn sàng giúp. Như một số người đã nói, tôi nghiệm ra rằng, mình cũng cần kiên nhẫn, đợi dịp tốt để làm quen thì họ sẽ cởi mở hơn. Tuy nhiên, người ngoại quốc sẽ rất ngạc nhiên khi thấy lần trước nhờ thì họ rất nhiệt tình giúp đỡ mà lần sau họ lạnh nhạt. Vấn đề là người Nhật sẵn lòng giúp đỡ, nhưng họ cũng quen tính tự lập, nên nếu nhờ lần thứ hai một việc tương tự thì họ cảm thấy không vui, không muốn giúp nữa mà muốn người nhờ vả hãy cố gắng tự lập. Cứng rắn – Hay khóc? Khi làm việc với người Nhật, ai cũng thấy là người Nhật rất trọng nguyên tắc, đến độ như khó tính và cứng rắn, nhưng mặt khác họ cũng dễ rung cảm với thiên nhiên và nhân tình nên hay khóc lắm, nhất là phụ nữ. Họ trọng kỷ luật, khi tham gia một tổ chức nào là họ tuân thủ mọi điều lệ một cách chặt chẽ. Nơi công cộng, họ luôn kiên nhẫn xếp hàng chứ không chen lên. Hình ảnh thường thấy nhất là các tiệm ăn đông khách, người Nhật sẵn sàng xếp hàng cả tiếng đồng hồ. Trong cuộc sống xã hội công nghiệp, họ thường cố gắng giữ đúng giờ, nhất là trong giao ước làm ăn. Ai ở Nhật hơi lâu chắc cũng đã từng chứng kiến và thấy người Nhật rất dễ khóc. Như khi họ đến trọ nhà người ngoại quốc hay ngược lại có người ngoại quốc đến chơi vài ngày, khi chia tay thường thấy họ khóc. Khi người Việt tỵ nạn đến các trại tạm cư rải rác khắp nước Nhật, người địa phương thường niềm nở đến giúp đỡ, tặng quà, quần áo... và khi người tỵ nạn ra đi, dù có báo tin hay không, họ cũng tự động đến đưa tiễn và có một số người khóc. Một trường hợp khác nữa, chẳng may có người tỵ nạn bị bệnh qua đời, nếu là thân nhân của mình thì chắc là người Việt sẽ khóc, nhưng nếu chỉ là bạn bè thì cố gắng giúp đỡ an táng chứ hầu như không khóc, trong khi đó, nhiều nhân viên người Nhật chỉ mới quen biết vài tháng mà vẫn khóc, có khi cẩn thận mặc cả tang phục đến dự. Làm việc có phương pháp, cần cù, cẩn thận, không ganh tỵ Người Nhật chấp nhận khó khăn, phức tạp và rất kiên nhẫn học hỏi hay chịu đựng, cộng thêm với lối làm việc có phương pháp là bí quyết thành công của họ. Phức tạp như ngôn ngữ của họ, dùng tới 5 loại văn tự khác nhau là chữ Hán, Quốc Tự, Hiaragana, Katakana và La Tinh và có chữ Hán lên tới 20, 25 cách đọc. Làm việc phương pháp ở chỗ hội họp kỹ, nghiên cứu kỹ, phân công kỹ và làm việc kỹ. Đôi khi người ngoại quốc phải sốt ruột là sao họ chuẩn bị lâu thế, và rồi ai cũng phải ngạc nhiên khi bắt tay vào việc, họ làm nhanh thế và kỹ thế... Các học sinh Nhật đều phải tập về lễ nhập học, nhất là lễ phát bằng tốt nghiệp từ trước. Ngay cả đối với người tỵ nạn Đông Dương ở các trung tâm xúc tiến định cư, khi học Nhật ngữ, Ban Điều Hành bao giờ cũng nói người đại diện viết diễn văn trước để dịch ra tiếng Nhật và tất cả họp tập mọi nghi thức trước một ngày. Khi chụp hình, nhiếp ảnh gia luôn sửa tư thế và chỉ cách để tay cho học sinh, nên chỗ nào cũng thấy hình chụp ngay ngắn, đồng nhất. Có lần ở nhà thương phụ thuộc Đại Học Nichidai (日本大学, Nhật Bản Đại Học), vợ tôi thấy một bà Nhật làm công việc vệ sinh, khi đổ rác mà thấy bao rác đã dơ thì bà ta thay bao rác mới. Lần đó, sau khi thay bao rác xong, bà đã đi mấy bước mà vẫn còn quay lại ngó, thấy mép bao chưa được đẹp, bà ấy quay trở lại vuốt cho thật thẳng. Quý bạn đi mua hàng ở Nhật, nhất là vào các cửa hiệu lớn sẽ thấy đúng "Khách là nhất!". Họ tiếp đãi rất ân cần, lịch sự, khách mua thì cám ơn thật nhiều, dù sau khi giở ra xem đủ thứ mà không mua thì cũng vui lòng cám ơn rồi sắp xếp lại chứ không có màn cự nự. Khi khách đưa trả tiền, nhân viên thường nhận bằng hai tay, rồi kẹp ở máy tính tiền để phòng trường hợp nhầm lẫn giữa tiền giấy 5.000 hay 10.000 Yen..., khi nhận cũng như khi thối lậi thường đếm hai lần, đưa tiền thối cũng bằng hai tay, thối xong mới cất tiền giấy của khách đi rồi chắp hai tay cúi chào. Trong giao dịch, lúc trao đổi danh thiếp, đôi khi cũng thấy họ đưa và nhận bằng hai tay, nhất là người có địa vị thấp hơn. Thời sinh viên, thỉnh thoảng tôi ra "chợ người" ở gần ga Takadanobaba, quận Shinjuku để kiếm việc làm. Có lần làm chung với một thanh niên Nhật, anh ta không đi làm chính thức mà vẫn là thợ phụ như chúng tôi, lang thang ở khắp các công trường xây dựng, có gì làm nấy, sai gì làm nấy, thường là việc dọn dẹp. Một hôm đám sinh viên chúng tôi cùng anh ta được trao việc dọn đống ống chống bằng thép dùng đổ bê tông, mỗi ống nặng khoảng từ 8 đến 10 kg. Chúng tôi thấy đi xa, nên cứ từ từ đem từng ống một cho khỏi mệt, trong khi anh ta thì cứ ba ống một. Khi nhận việc xúc cát từ nguyên một xe cát chở tới, chúng tôi làm độ 30 phút là mệt lử mà mới xúc được độ 1/4 xe, anh ta nhào vào nói để anh ta làm, anh làm liền tay cũng độ 30 phút là hết chỗ còn lại. Khi ra về, mọi người xếp hàng lãnh bao thư, trong có 5.000 hay 6.000 Yen như nhau. Lần nào gặp anh tôi cũng thấy anh làm việc cật lực như thế, tay đầy vết xước mà không bao giờ thấy than mệt hay cằn nhằn chúng tôi sao tà tà thế. Người Nhật làm việc đến xong chứ không lo canh giờ về và phải xong một cách hoàn mỹ chứ không thấy hết giờ thì làm vội qua loa, và họ rất ngạc nhiên khi thấy khi người Việt làm việc hay than "mệt rồi", không làm nữa. Hầu như không thấy người Nhật vừa làm việc vừa nói chuyện, vừa hút thuốc lá hay uống cà phê. Nói chung họ chủ trương làm chậm mà chắc, muốn sản phẩm luôn được hoàn mỹ, vượt hơn những thứ đã có. Khi vào làm việc chung, người Nhật không hỏi lương nhau để xem việc mình làm và lương có tương xứng không, không có kiểu thấy nhiều thì yên lặng, thấy ít thì bất mãn hay làm tà tà và rất ít khi họ mượn tiền nhau. Công chức thì ở đâu cũng "lè phè" hơn tư chức. Nhưng nhân viên hành chánh Nhật nói chung tiếp mọi người rất tử tế, không khác nhân viên một cơ sở thương mại là mấy, nói năng rất khiêm tốn, hầu như không bao giờ thấy họ hách dịch. Chỉ họa hoằn lắm mới thấy có cãi nhau ở Sở Ngoại Kiều (Sở Nhập Quốc, 入国管理局 = Nyukoku Kanrikyoku, Nhập Quốc Quản Lý Cục), thường người lớn tiếng là người ngoại quốc chứ không phải người Nhật. Nhân viên bưu điện làm việc còn tận tụy và chăm chỉ hơn nữa, trong nội bộ cũng luôn có đặt chỉ tiêu gia tăng hiệu suất, ngành này nay đang được dân doanh hóa. Người ngoại quốc nghĩ gì về người Nhật? Trong chương trình của CHTV - Tokyo No Sugao (東京の素顔 , Đông Kinh Tố Nhan, Mặt Thật Của Tokyo), phóng viên đã phỏng vấn một số người ngoại quốc, yêu cầu họ cho một lời (一言 = hitokoto, nhất ngôn) cảm nghĩ về Nhật. Cuộc phỏng vấn bất chợt và chớp nhoáng, đôi khi người trả lời nửa đùa, nửa thật, không thể hiện hết mọi sự kiện, nhưng cũng cho chúng ta vài nét khái lược. - Một phụ nữ Đức: "Người Nhật thân thiện. Ở đây nhiều đồ điện, kỹ thuật quá, tôi muốn một cái gì tự nhiên, giản dị hơn". - Một phụ nữ Canada: "Người Nhật rất lễ nghĩa. Ở đây ít công viên quá". - Một phụ nữ Hoa Kỳ: "Ở đây an toàn. Còn cái xấu là ông chồng tôi, ông ta là người Nhật". - Một đàn ông Hoa Kỳ: "Người Nhật không thân thiện với người ngoại quốc. Ở đây bất tiện vì ít bảng chỉ đường bằng tiếng Anh". - Một phụ nữ Bỉ (Belgium): "Người đông quá, môi trường bị ô nhiễm, bị kẹt xẹ". - Một đàn ông Trung Quốc: "Thuê nhà khó khăn, đòi hỏi người bảo lãnh... Sở Nhập Quốc gây khó khăn". - Một đàn ông Việt Nam (tác giả): "Thuê nhà, cơ sở thương mại khó khăn, thường bị từ chối". - Một phụ nữ Miến Điện: "Bị đối xử phân biệt". - Một phụ nữ Lào: "Chỉ thích tiền Nhật."... Những điều lạ đối với người ngoại quốc Xin liệt kê 7 điều lạ nhất đối với người ngoại quốc: 1- Cởi giày khi vào nhà (họ đi dép nhẹ trong nhà vì ngày xưa phòng lót chiếu, nay nhà thường lót thảm, hay nhựa, gỗ... nhưng thay giày bằng dép riêng thì giữ cho nhà sạch hơn). 2- Lập tức cám ơn, xin lỗi (tiếp xúc với người Nhật ai cũng thấy họ luôn luôn cám ơn và rất sẵn sàng nhận lỗi, hơi phiền người khác một chút là xin lỗi ngay). 3- Ăn thức ăn sống như cá... (người Nhật ăn cá sống nhiều thứ nhì thế giới sau một nước ở Nam Mỹ). 4- Tặng quà Tết và Trung Nguyên (các cửa hàng lớn đều chưng các các hộp quà định sẵn, người mua chỉ việc trả tiền là quà tới tay người nhận). 5- Ăn mì hay soba húp xùm xụp (người Nhật nổi tiếng lịch sự, nhưng khi ăn mì nước, bún nước... thì họ húp kêu rất to, theo họ, ăn như vậy mới đã). 6- Cầu tiêu kiểu Nhật (nhiều khi vào không biết ngồi quay hướng nào, quay vào hay quay ra, thực ra là quay vào). 7- Không phải trả tiền típ/bo (nếu khách ngoại quốc trả típ sẽ làm họ bối rối, còn nếu tự ý bỏ lại, họ sẽ vội gọi báo cho khách là "để quên tiền". Người Nhật ngày nay Những điểm trình bày trên là một số cá tính căn bản của người Nhật, ngày nay vẫn còn và có thể thấy ở bất cứ người Nhật nào. Tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển, Âu-Mỹ hóa càng nhiều, tự do càng nhiều thì cũng đã có nhiều sự thay đổi, dễ nhất nhất là ở giới trẻ. Giới trẻ sống trong xã hội khá đầy đủ, không có chiến tranh, không bị luật lệ hay nhu cầu cấp thiết nào thúc bách, lại quá tự do, nên đôi khi họ sống theo bản năng, tùy tiện, bừa bãi, cá nhân chủ nghĩa nhiều hơn. Có khi tụ họp đi trộm cắp, ỷ đông uy hiếp cả người lớn... có khi mới khoảng 12 tới 15 tuổi đã giết người nữa mà chẳng có lý do chính đáng nào, khiến cả xã hội phải lo âu, ngỡ ngàng. Trong một số trường hợp, bố mẹ hành hạ con cái, có khi bỏ đói... làm chết con. Có những kẻ thì chuyên đâm lén phụ nữ hay các em gái rồi chạy, đốt nhà, lợi dụng xe điện sờ mó phụ nữ, móc túi những người ngủ gật trên những chuyến xe đêm v.v... Dân chúng phải tổ chức đi tuần, phòng vệ nhiều hơn, các em nhỏ đi học phải mang máy báo động. Tỷ lệ phạm pháp gia tăng một cách đáng ngại. Trong cuộc sống cũng vậy, có khá nhiều trò lừa gạt qua hình thức tôn giáo cũng như thương mại... cứ có lợi là lắm kẻ nhào vào, bất chấp đạo đức, luật lệ. Thượng tầng chính quyền, tài giới, chính giới, quân đội cho tới cảnh sát cao cấp đều có những vụ ăn hối lộ lớn một cách hệ thống, trong khi ở hạ tầng lại tương đối trong sạch. Nhật Bản vươn mạnh trong thập niên 60, 70 rồi qua thời kỳ đổ vỡ kinh tế bọt đầu thập niên 90 kéo dài tới khoảng 15 năm đến giữa thập niên đầu thế kỷ 21 là kết quả của tổng hợp những điểm mạnh và yếu của họ. Nhật Bản đang cần một cuộc cải cách lớn, sâu rộng về tư duy cũng như về cơ cấu. Làm ăn với người Nhật Nói chung, Nhật Bản có kỹ nghệ và kinh tế hàng đầu, sản phẩm cực tốt, được khắp nơi khen ngợi. Giao dịch làm ăn với họ cũng khá an tâm vì họ giữ lời, đúng hẹn. Nhưng trong thế giới giao dịch tài chính, những người nắm tài chính và làm ăn bạc tỷ, không phải chỉ là những đầu óc chân thật bình thường, mà có rất nhiều bàn tay "lem luốc" nhúng vào. Thống kê về kinh tế Nhật Bản, như càng ngày càng thấy rõ, không phải chỉ là những con số tăng trưởng tốt đẹp. Sự tăng trưởng của những thập niên 70, 80 là có thật, nhưng cũng được giới tài phiệt như ngân hàng và địa ốc thổi phồng để đầu cơ và dẫn dụ người khác, cho đến khi nó xẹp vào đầu thập niên 90. Họ chạy theo "đầu cơ tài chính" (buôn bán chứng khoán và địa ốc) hơn là "đầu tư sản xuất" là sở trường vốn có. Từ đó đến nay, kinh tế Nhật đi xuống dốc không kìm hãm nổi. Chứng khoán Nikkei trung bình năm 2003 có lúc thấp nhất là 7.752 Yen, chỉ còn bằng chưa tới 1/5 của năm 1983 là 38.915 Yen. Nói chung, Nhật Bản phải trả giá rất đắt cho sự giả tạo này, nhiều công ty và nhiều người bị lỗ nặng và phá sản, nhưng một số tay tài phiệt "ma qủy" đã moi được rất nhiều tiền của người khác và của chính công ty mình, không cần biết công ty đi về đâu, sẽ phá sản khi nào... Nhiều người thuộc loại này đã bị bắt, ngồi tù, những ai cũng biết số bị phanh phui chỉ là một phần nhỏ của tảng băng nổi trên mặt nước mà thôi. Nhật Bản lại có "truyền thống" là khi các nhân viên cao cấp thuộc các bộ chính phủ về hưu thì đi làm "cố vấn" cho các đại công ty liên hệ. Mục đích là để kiếm tiền chia chác và dễ móc ngoặc. Thường những người này lương rất cao và tiền nghỉ việc ở công ty mới lại càng cao vô lý, gấp bội người thường, họ có thể lãnh vài chục triệu Yen sau khi "ngồi chơi" ở công ty vài năm! Các công ty này chỉ có thể làm ăn theo lối "đi đường tắt" mới có đủ tiền cung phụng cho các ông cố vấn như vậy. Cuối năm 2006, cùng lúc có tới ba Tỉnh Trưởng bị bắt vì nhận hối lộ của các công ty đấu thầu. Người Nhật bình thường vẫn đôn hậu, tử tế, giữ lời hứa, làm ăn lương thiện, không đưa hoặc nhận hối lộ. Nếu đôi khi có những người ngoại quốc lừa lọc những người Nhật thật thà, thì cũng có một số người Nhật lợi dụng sự được tín nhiệm để lừa lọc người nước ngoài hay người Nhật khác. Nhất là dân làm ăn về dịch vụ, môi giới và người đi chào mời khách gọi là "mizu shobai" (水商売, thủy thương mại) thì chỉ có tiền là trên hết. Họ được học tập kỹ càng, nắm rõ tâm lý đối tượng, lừa có bài bản lắm. Nghe họ nói toàn những lời hay đẹp, nhiều người xuôi tai thò bút ký hay đóng dấu mà không đọc kỹ khế ước, bởi thực tế khế ước dài thòng, chữ li ti không mấy người đọc nổi. Lúc thực thi, không thấy họ làm những điều đã thỏa thuận, khi ấy mới coi lại khế ước thì đã muộn rồi. Nhà người Nhật thường đóng cửa và khóa, trước cửa nhiều nhà thường phải gắn bảng miễn tiếp loại người này. Kẻ lừa lọc thường nhắm vào người già, vì vừa chậm chạp hoặc thiếu hiểu biết vừa có tiền. Nào là mua cổ phần trồng nấm "linh chi"... có lời lắm, thực ra thì cũng y như vụ "nước hoa Thanh Hương" hồi thập niên 80, "chim cút" đầu thập niên 70 ở Nam Việt Nam hay "cắc kè khô" ở ngoài Bắc Việt Nam khoảng thập niên 40. Như giữa năm 2005, một công ty sửa chữa nhà cửa nhỏ chỉ có vài người, chuyên đến nhà người già nói là giúp kiểm tra miễn phí hộ xem có an toàn khi động đất không. Họ đánh vào tâm lý người Nhật là ai mà không lo sợ động đất. Sau khi xem xong, họ mới nói là nhà cũ rất nguy hiểm, cần tu bổ... Họ không chịu đi cho đến khi chủ nhà cả nể đồng ý, thế là làm khế ước từ 1 triệu đến 5 triệu Yen, trong khi thực tế có khi không cần sửa và thực chất họ làm chỉ tốn 1/10 hay 1/20 giá ghi. Có một ông già than họ đến nhà tôi tới 4 lần! Với lối làm ăn ma giáo này, trong một thời gian ngắn, họ thu vào vài chục tỷ Yen mới bị phanh phui và bị bắt! Các công ty về máy điện toán, nối mạng truyền thông cũng vậy, thường cho nhân viên đến các cơ sở thương mại, nói xem giúp miễn phí về việc trang bị máy móc. Sau đó họ cho biết hệ thống đang dùng cũ rồi, nếu muốn nâng cấp thì hãy gắn thêm các thiết bị mới, sẽ nhanh hơn như cáp quang tới 100 lần (thực tế thường chỉ gấp 2, 3, khi hỏi tại sao thì họ nói tại đường dây ở đây xa trạm chính...), tiện lợi hơn, cước nối mạng gọi rẻ hơn... Thế là họ ra sức thuyết phục, có khi như ở lỳ không chịu đi. Thí dụ, mỗi tháng thay vì đang đóng 5.000 Yen, nay chỉ cần đóng thêm độ 5.000 Yen nữa, hay thuê bao cũ 5 năm, đã được 4 năm rồi thì cũng trả trên mức đó chút thôi, nhưng ký một khế ước thuê bao 5 năm mới. Khi khách hàng đã xuôi tai đồng ý, có khi lại lòi thêm ra những thứ khác... được tính riêng. Thế là suốt 5 năm trời, khách hàng è cổ trả tiền thuê bao (lease)! Vì vậy, nên cảnh giác ít nhiều đối với giới người này. Đã có những công ty Việt Nam vì quá tin tưởng vào người Nhật sau mấy lần giao dịch, đã bán thủy sản gối đầu lấy tiền sau... bị họ quịt mất. Năm 2005, tòa xử phía Việt Nam thắng kiện và kẻ gian phải trả tiền, nhưng phía người Việt cũng đã phải rất vất vả từ Việt Nam qua theo đuổi kiện mấy năm trời. Tiền cũng chưa thu về ngay được, nên người Việt đi kiện tại Nhật không dám về Việt Nam vì sợ bị giết, vì lấy tiền đâu ra trả các nơi đã bán cá cho mình, mà rồi không có tư cách ở Nhật, ở quá hạn nên lại bị Sở Nhập Quốc bắt giam! Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra. ( theo: http://duhoc.viet-sse.vn/index.php?o...73&Item id=67)
-
Bệnh Gout! Bạn thức dậy vào lúc nửa đêm và ngón chân cái có cảm giác như bị đốt cháy. Ngón chân cái nóng, sưng và nhức nhối tới mức sức nặng của tấm chăn cũng gần như không thể chịu nổi. Nếu như vậy, bạn có thể đang bị một cơn gout cấp tính (hoặc viêm khớp do gout) - một dạng của viêm khớp đặc trưng bởi cơn đau đột ngột, dữ dội, khớp đỏ và sưng nề. Bệnh gout đã được biết tới từ hơn 2000 năm trước, và là một trong những bệnh cổ xưa nhất của loài người. Trước kia, bệnh gout thường được gọi là bệnh của vua chúa vì nó thường xảy ra ở những người giàu có, hay uống rượu và ăn nhiều. Ngày nay, người ta biết rằng gout là một bệnh phức tạp có thể xảy ra ở bất cứ ai. Trong thực tế, có trên 2 triệu người Mỹ bị căn bệnh này. Đúng là nam giới dễ bị bệnh gout hơn nữ giới, nhưng phụ nữ sẽ mẫn cảm hơn với bệnh này sau khi mãn kinh. May mắn là bệnh gout có thể điều trị được và có một số cách giữ cho bệnh khỏi tái phát. Dấu hiệu và triệu chứng Các triệu chứng của bệnh gout thường là cấp tính, xảy ra đột ngột - thường vào ban đêm - và không có dấu hiệu báo trước. Các triệu chứng gồm: - Đau khớp dữ dội. Bệnh gout thường tác động đến khớp lớn của ngón chân cái nhưng có thể xảy ra ở bàn chân, cổ chân, khớp gối, bàn tay và cổ tay. Đau thường kéo dài 5-10 ngày và sau đó hết. Sự khó chịu thường giảm dần sau 1-2 tuần, để lại khớp gần như bình thường và không đau. - Viêm và đỏ. Khớp hoặc các khớp bị bệnh sẽ sưng nề và đỏ. Nguyên nhân Bệnh gout do nồng độ acid uric tăng quá cao trong máu, acid uric là một sản phẩm cặn bã hình thành từ quá trình giáng hóa purin. Những chất này có tự nhiên trong cơ thể cũng như trong một số loại thực phẩm bao gồm phủ tạng động vật như gan, não, thận và lá lách và cá trổng, cá trích và cá thu. Tất cả các loại thịt, cá và gia cầm đều có một lượng nhỏ purin. Bình thường, acid uric tan trong máu và được thận lọc và thải qua nước tiểu. Nhưng đôi lúc cơ thể sản sinh quá nhiều hoặc đào thải quá ít acid này. Trong trường hợp này, acid uric có thể tích tụ, hình thành những tinh thể hình kim sắc trong khớp hoặc mô xung quanh gây ra đau, viêm và sưng. Một bệnh khác được gọi là giả gout, cũng do lắng đọng tinh thể gây ra. Nhưng thay vì được tạo thành từ acid uric, các tinh thể giả gout được tạo thành từ dihydrat pyrophosphat calci. Và trong khi giả gout có thể xảy ra ở khớp ngón chân cái, bệnh thường tấn công các khớp lớn như khớp gối, khớp cổ tay và khớp cổ chân hơn. Các yếu tố nguy cơ Các bệnh hoặc các tình trạng sau có thể làm tăng khả năng bạn có nồng độ acid uric máu cao hoặc gout: - Các yếu tố lối sống. Phổ biến nhất là uống quá nhiều cồn, nhất là bia. Uống nhiều rượu có nghĩa là uống hơn 2 cốc mỗi ngày đối với nam giới và 1 cốc đối với phụ nữ. Thừa 15 kg trở lên so với cân nặng lý tưởng cũng làm tăng nguy cơ bệnh gout. - Các thuốc và bệnh. Một số bệnh và thuốc cũng làm bạn dễ bị gout hơn. Các bệnh này gồm tăng huyết áp không được điều trị và các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng mỡ máu và hẹp động mạch (xơ mỡ động mạch). Phẫu thuật, bệnh hoặc chấn thương nặng đột ngột, và nằm bất động một tư thế khi ngủ cũng có thể làm tăng nồng độ acid uric. Sử dụng thuốc lợi tiểu thiazid (thuốc dùng để điều trị tăng huyết áp do làm giảm lượng nước và muối trong cơ thể), aspirin liều thấp và cyclosporin (ngăn ngừa thải ghép ở bệnh nhân ghép tạng) cũng vậy. Hóa trị liệu điều trị ung thư có thể làm tăng giáng hóa tế bào bất thường, giải phóng một lượng lớn purin vào máu. - Yếu tố di truyền. Cứ 4 người bị gout thì 1 người có tiền sử gia đình bị bệnh này. - Tuổi và giới tính. Bệnh gout hay xảy ra ở nam giới. Phụ nữ thường có nồng độ acid uric thấp hơn nam giới cho tới sau khi mãn kinh, lúc này nồng độ acid uric của họ gần bằng với nam giới. Nam giới dễ bị gout ở độ tuổi 30-50, trong khi phụ nữ bị bệnh gout muộn hơn, thường từ 50-70 tuổi. Khi nào cần đi khám Nếu bạn bị đau dữ dội đột ngột ở một khớp, hãy gọi cho bác sĩ - cho dù đau hết đi trong 1-2 ngày. Bệnh gout không được điều trị có thể dẫn đến đau nặng hơn và tổn thương khớp. Đi khám ngay nếu bạn bị sốt và khớp nóng và viêm. Đây có thể là dấu hiệu nhiễm trùng. Nếu bạn đã được chẩn đoán bị gout và đang có cơn gout tái phát, hãy hỏi ý kiến bác sĩ, bác sĩ có thể kê đơn thuốc để ngăn ngừa hoặc làm giảm mức độ nặng của các đợt bệnh trong tương lai. Sàng lọc và chẩn đoán Bác sĩ có thể hút dịch từ khớp bị viêm để phát hiện tinh thể acid uric trong các tế bào bạch cầu. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm máu và nước tiểu. Mẫu nước tiểu có thể cho biết lượng acid uric mà bạn bài tiết ra. Xét nghiệm máu chỉ ra nồng độ acid uric trong máu của bạn. Các biến chứng Một số người bị gout bị một dạng viêm khớp mạn tính, thường kèm theo những lắng đọng đổi màu dưới da gọi là hạt tophi. Một số bệnh nhân gout bị sỏi thận. Điều trị Đối với cơn gout cấp, các thuốc chống viêm phi steroid (NSAID) có thể làm giảm triệu chứng. Những thuốc này gồm thuốc kê đơn indomethacin (Indocin) hoặc các NSAID không kê đơn như ibuprofen (Advil, Motrin, các thuốc khác). Bác sĩ cũng có thể kê đơn các thuốc chống viêm steroid như prednison. Hãy hỏi bác sĩ xem bạn cần dùng steroid hoặc NSAID trong bao lâu-đôi khi chỉ nên dùng từ 3-7 ngày. Dùng lâu dài những thuốc này có thể gây các tác dụng phụ nặng gồm loét và chảy máu đường tiêu hóa. Các phương pháp thay thế để cơn gout cấp là colchicin dạng viên hoặc tiêm cortison vào khớp bị viêm. Khi cơn gout cấp đã được kiểm soát, bác sĩ có thể khuyên điều trị dự phòng để làm giảm tốc độ sản sinh acid uric hoặc làm tăng tốc độ đào thải acid uric. Phòng ngừa Chưa có cách nào chắc chắn để phòng ngừa cơn gout ban đầu hoặc sau đó. Tuy nhiên, nếu bạn bị gout, bác sĩ có thể kê đơn một số thuốc để ngăn ngừa hoặc làm giảm mức độ nặng của các đợt bệnh sau này. Những thuốc này có thể gồm allopurinol (Zyloprim,Aloprim) và probenecid (Benemid), được uống hằng ngày để làm chậm sản sinh và thúc đẩy thải trừ acid uric. Giữ acid uric dưới mức bình thường là chìa khóa để phòng ngừa gout. Tự chăm sóc Thay đổi lối sống không thể chữa khỏi gout, nhưng có thể giúp điều trị bệnh này. Các biện pháp sau có thể giúp làm giảm hoặc phòng ngừa triệu chứng: - Giữ cân nặng bình thường. Giảm cân dần dần sẽ làm giảm tải trọng đè lên các khớp nâng đỡ cơ thể bị bệnh. Giảm cân cũng làm giảm nồng độ acid uric. Tránh nhịn đói hoặc giảm cân nhanh vì làm như vậy có thể làm tăng tạm thời nồng độ acid uric. - Không ăn quá nhiều đạm động vật. Những thực phẩm có chứa purin. Những thực phẩm nhiều purin gồm có phủ tạng (gan, não, thận và lá lách), và cá trổng, cá chim và cá thu. Các loại thịt, cá và gia cầm chứa lượng ít hơn. - Hạn chế hoặc không uống rượu. Uống quá nhiều rượu có thể ức chế bài tiết acid uric, dẫn đến tích luỹ và gây ra cơn gout cấp. Hạn chế uống rượu dưới 2 cốc mỗi ngày nếu là nam giới. Hạn chế uống 1 cốc mỗi ngày nếu là nữ giới. Nếu bị gout, tốt nhất là không uống rượu. - Uống nhiều nước. Nước sẽ giúp làm loãng acid uric trong máu và nước tiểu. http://cimsi.org.vn/
-
Một số bài thuốc hỗ trợ cai thuốc phiện (24/06/2009) Trang in Bài 1: Dây bí rợ giữa rỗng, có nước. Cắt bỏ 1 đầu cọng cầm dốc xuống sẽ chảy ra 3-4 giọt nước trong. Gặp khi trời mưa thì nhiều nước hơn. Hãy giã cọng dây này lấy nước để dành. Khi cơn nghiện nổi lên, cho nước này vào nồi nhưng cách thuỷ cho ấm lên, uống 2-3 muỗng. Số lần uống tuỳ theo số lần hút ít hay nhiều, như vậy ngày hút 3 cữ thì uống 3 lần. Uống nước cốt này không quá 10 ngày thì dù nghiện nhiều năm cũng khỏi mà lại không khổ sở vật vã chút nào. Cai xong, thân thể ngày càng mập mạp. Bài 2: Mỗi khi hút thuốc phiện xong, ăn liền 1-2 quả trứng gà, uống với nước nấu sôi. Phải nhớ lần nào hút xong cũng phải làm như thế. Chỉ nửa tháng sau là chán thuốc phiện. Bài 3: Mỗi ngày trích máu 1-2 con lươn hòa rượu uống. Bị nhẹ, uống máu 4-5 con, bị nặng phải dùng hơn 100 con. Uống rượu này đại bổ huyết, giải hết được độc thuốc phiện...Thịt lươn thì dùng để ăn. Cứ uống thế cơn nghiện tự nhiên hết, thấy thuốc phiện tự động tránh xa. Bài 4: Nấu Cam thảo thành cao, trộn với thuốc phiện mà hút. Chỉ một, hai ngày sau là không hút nữa. Phương này rất dễ mà lại không tốn tiền, lại không thương tổn. Người nghiện nặng trị theo cách này chỉ 1 tháng là khỏi. Bài 5: Lá chè xanh 1 lạng Con trai (đạm thái) 1 lạng Muối 1 đồng Yên hôi 4 đồng Nấu các thứ trên với 3 bát nước, còn 1 bát, bỏ bã cất để dành trong hũ, bịt kín miệng hũ (Trời nóng thuốc dễ hư nên thỉnh thoảng phải nấu lại). Khi cơn nghiện đến uống 1-2 muỗng là hết bị cơn nghiện hành, và tinh thần gia tăng trăm lần, không khổ sở gì cả. Thật là kỳ phương. Như uống hết 1 liều, đến liều thứ 2, các vị thuốc vẫn như cũ, duy Yên hôi giảm bớt 5 phân, còn 3 đồng. Cứ thế giảm dần đến hết. nguồn: http://cimsi.org.vn
-
Cháu cảm ơn bác! Cháu đang có 1 người mời ra ngoài làm phó giám đốc công ty,lương 4 triệu nhưng cháu theo công chức 6 năm nay rồi, gia đình cũng có cơduyên với Đảng nhà nước nên cháu quyết định ở lại làm công chức nghèo. Phần lá số con trai cháu trước đây có người xem qua nói là nên bán khoán vàochùa, cháu chưa làm được và tên của con trai cháu cũng là do một người thầy ởTQ đặt cho cháu. Trước đây cháu sinh hoạt bên khongtu.com nhưng ko rõ nguồn gốctrang web nên cháu sợ quá!!! cảm ơn bác đã chỉ bảo tuy ko nhiều nhưng mỗi ngày bác nói một ít cũng maylắm rồi. Trước đây để theo được 1 người để đặt tên cho con cháu phải luyện ởkhongtu.com đến trứng bạc (nic thaivanky)
-
Cây Xương Cá (Tên gọi khác: Cây Giao) Mô tả: Là một loại cây thuộc họ xương rồng, không lá, không gai. Có nơi lại gọi là cây nọc rắn, cây càng tôm, cây xương khô, cây giao hay cây san hô xanh. Cây mọc hoang nhiều nơi. ở thôn quê, cây có thể dùng làm hàng rào. Thân chỉ gồm nhiều đốt tròn có đường kính như chiếc đũa, màu xanh, có độ dài không đều, mọc tủa ra các phía. Lá nhỏ, hẹp, rụng sớm, chỉ còn cành nhánh trơ trọi. Thân khi bẻ ra thấy nhiều mủ màu trắng đục như sữa, và chính mủ này là tác nhân trị bệnh của cây. Cây dễ trồng bằng cách cắt cành và giâm xuống đất ẩm. Đoạn cây được cắt ra nên chọn hơi lớn một chút, từ 3, 4 đốt trở lên, để đảm bảo cây mạnh, dễ bén rễ. Sau khi cắt rời đoạn cây thì nên để trong bóng râm chừng một hoặc hai ngày cho khô mủ, trồng sẽ nhanh bén rễ hơn. Nếu lấy cây để dùng nhưng chưa xài tới thì nên giâm ngay xuống đất để giữ độ tươi của cây (cây không bị khô mủ) để dùng dần. Sau khi giâm, ta tưới nước vừa phải mỗi ngày, sau vài ngày thì cây sẽ bén rễ, rồi dần sẽ nhảy nhánh con, phát triển tốt. Cây xương cá có hình thức bề ngoài rất giống một loại cây khác chỉ dùng để trồng kiểng đơn thuần, không có tác dụng chữa bệnh. Điểm phân biệt 2 loại cây này, theo kinh nghiệm thực tế, là: cây xương cá có mủ rất nhiều, còn loại cây kia thì lại không có mủ hoặc nếu có cũng rất ít. Vì vậy, nếu bẻ nhánh ra thấy CÓ NHIỀU MỦ TRẮNG ĐỤC NHƯ SỮA thì chắc là đúng cây thuốc. Lưu ý: Vì thuộc họ xương rồng, có mủ đục nên cây có đặc tính là mủ có hại cho mắt. Do đó, khi thao tác làm thuốc (cắt, bẻ, …) nhất thiết phải thật cẩn thận, tránh để mủ này dính vào mắt (có thể mang kiếng, …), bởi vì mủ có khả năng làm đui, mù mắt. Nếu mủ dính vào tay, chân, … thì dùng xà bông rửa ra dễ dàng. Dính vào áo, quần: dùng chanh để tẩy ra. Còn nếu đã lỡ dính vào mắt: ta rửa mắt bằng nước sạch rồi nhắm mắt lại, dùng chanh thoa bên ngoài mí mắt. II / Công dụng: Công dụng chủ yếu là chữa chứng bệnh viêm xoang mũi. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào của bệnh cây thuốc này cũng có thể trị được, dù tỷ lệ này là rất cao, khoảng trên 90% người bệnh được trị khỏi. Cây còn có thể trị được các bệnh khác như: mụt cóc, viêm, trặc tay chân, thấp khớp, đau đầu trun, cá đâm, rắn cắn, … III/ Cách trị bệnh viêm xoang mũi bằng phương pháp xông hơi: */Chuẩn bị một cái ấm nước nhỏ (nhôm, sành đều được nhưng không dùng để nấu nước uống vì sợ độc). */Lấy một miếng giấy khá lớn, một tờ giấy lịch treo tường lớn hoặc nối 2 đ 3 tờ giấy A4 bằng băng keo thành 1 tờ lớn, rồi quấn xéo lại thành một cái ống dài khoảng 5 tấc (50cm) chứ không được làm ngắn hơn vì sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít. ống phải quấn sao cho 1 đầu vừa hoặc lớn hơn miệng vòi ấm còn 1 đầu nhỏ hơn để hít. Nếu có ống tre thì tốt hơn, nhưng không được dùng nhựa, dễừ nóng chảy! */ Mở nắp ấm, đổ vào cỡ 1 chén nước. */Đếm cỡ 10 đến 20 đốt cây xương cá (tùy theo số cây mình có được nhiều hay ít), cắt nhỏ các đốt cây (thành cỡ phân nửa của lóng tay) rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm, để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Phải luôn cẩn thận tránh mủ văng vào mắt, nguy hiểm. */ Đặt ấm lên bếp. Nếu có bếp gas thì làm tiếp như sau: */ Đầu tiên, vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi lên. */Đến khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì ta bớt lửa đến cực nhỏ, chỉ canh sao cho vừa đủ để hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm là đủ. (Các loại bếp khác cũng phải tìm cách bớt lửa để xông được lâu và không quá nóng). */Kế tiếp, lấy ống giấy đã quấn, đưa đầu lớn của ống vào vòi ấm, còn đầu nhỏ cho vào mũi để hít hơi xông lên. */ Thời gian xông có thể chỉ là 15, 20 phút, hay nếu có thời gian thì xông 30 đến 50 phút. Nên để dành và hâm lại nước trong ấm để dùng, thường là 2 lần trong ngày (sáng và tối). Sau đó đổ bỏ, hôm sau làm lại liều thuốc mới. */ Khi hâm lại dùng lần 2 thì cho thêm một ít nước cùng với 1 vài đốt cây để bổ sung thêm thuốc. Lưu ý: */ Nên bắt đầu xông ngay khi vừa bốc hơi, để tận dụng lúc chất mủ còn đậm đặc sẽ đạt hiệu quả nhanh. */ Vì hơi xông ra rất nóng, nên ta có thể hít một lát, đến khi thấy nóng quá thì quay mặt ra thở bên ngoài, rồi lại quay vào xông tiếp. Nên linh động làm sao để xông 1 cách thoải mái là được. Chẳng hạn: tránh đừng chạm trực tiếp mũi vào ống xông, do sức nóng truyền từ ấm sang ống có thể làm phỏng da non. */ Nếu thấy không chịu nổi hơi quá nóng thì có thể để nước sôi rồi tắt bếp, hít cho đến lúc thấy hơi còn quá ít thì lại mở bếp để nước sôi lại rồi tiếp tục làm như trên. */ Nên xông kiên trì cho đến khi hết hẳn, bệnh nặng có thể xông đến khoảng 30 ngày. Sau đó duy trì thêm 1 vài lần cho chắc ăn rồi ngưng, không nên lạm dụng. Về sau, nếu có tái phát mới xông tiếp. Có nhiều trường hợp bệnh nặng lâu năm, khi xông đã khỏi bệnh lâu dài. */ Cây này hễ bệnh càng nặng thì khi xông sẽ càng thấy có hiệu quả nhanh. Còn bình thường, chỉ sau từ 2 đến 3, 4 lần xông sẽ thấy thuyên giảm rõ. Nếu xông quá lâu (5, 7 ngày) mà vẫn không có chút kết quả gì thì chỉ có thể là không “chịu thuốc” (người bệnh ở một dạng lạ của bệnh, thường ít gặp) hoặc là đã lấy không đúng giống thuốc hay sử dụng không đúng cách, nên ngưng dùng. */ Trẻ em nên xông với thời gian ngắn hơn người lớn. Tập làm quen dần rồi tăng thời gian lên. */ Khi tắt bếp rồi, nên hít tiếp cho đến nguội để tận dụng hơi nóng nhẹ, hít sâu vào tận hốc mũi. IV /Cách trị các chứng bệnh khác theo kinh nghiệm dân gian: 1> Mụt cóc – Mụt thịt: Bẻ chỗ giao nhau giữa 2 đốt cây sẽ có mủ nhiều. Lấy mủ chấm gọn lên mụt cóc, đừng làm lan rộng quá. Mỗi ngày chấm 2 lần. Khoảng 1 tuần mụt sẽ rụng, để lại lớp da bình thường. 2> Các bệnh trị bằng cách đắp, bó thuốc: Để trị bong gân, sưng trặc tay chân, đau đầu trun (đầu ngón tay tự dưng sưng, đau nhứt dữ dội), cách đắp như sau: Lấy 1 lượng thuốc vừa phải. Cắt nhỏ. Trộn chung với 1 ít muối bột. Cho vào bao nylon. Đập nát bằng búa bên ngoài bao. Xong, đắp lên chỗ đau. Dùng vải quấn hay bó lại. Sau 1 đêm là khỏi. 3> Khi bị cá đâm, rắn cắn, bò cạp, rít cắn: Lấy mủ cây xương cá bôi trực tiếp vào vết thương. Lưu ý: Để cẩn thận, không nên xông trị viêm xoang cho phụ nữ có thai. LƯU Ý THÊM: */ Nên xông 2 hôm đầu mỗi lần 20 phút. */Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 mỗi lần xông 25 phút. */ Sau đó xông 30 phút mỗi lần và duy trì như vậy cho đến khỏi bệnh. */ Khi bệnh đã khỏi nên xông củng cố thêm vài lần, mỗi lần 45 phút rồi mới nghỉ hẳn. */ Đặc biệt cần phải lưu ý: ống xông phải dài được 5 tấc (50cm) hoặc hơn chút ít. DIỄN BIẾN TRONG THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ: */ Tùy theo bệnh trạng mà diễn biến của quá trình điều trị có thể khác nhau: */ Có người xông vào thấy thông mũi, nhẹ đầu, dễ chịu và khỏi bệnh nhanh chóng. */ Có người 2, 3 hôm đầu thấy sổ mũi nhiều, khó chịu nhưng tiếp tục xông sẽ qua khỏi và êm dần cho đến khi hết bệnh. */ Có 1 số bệnh nhân viêm xoang sàng sẽ thấy bớt đau ở cổ và vai nhưng dồn lên đau nhiều ở đầu. Nhưng chừng 2, 3 hôm sau đó sẽ dịu dần và xông tiếp sẽ hết đau rồi hết hẳn bệnh. Người chỉ cho phương pháp này là cô Phúc, địa chỉ nhà ở số 24, đường số 26, khu dân cư Bình Phú, quận 6, Tp.HCM - gần METRO Bình Phú. Cô đã từng áp dụng phương pháp chữa bệnh cho hàng ngàn người, đến nay gần như tất cả đều đã khỏe hơn rất nhiều. Nói chính xác là cô không chữa bệnh, mà chỉ cách cho mình tự chữa lấy, và cô cung cấp thuốc miễn phí. Với tấm lòng nhân ái, cô cùng chồng và các bạn của cô, thường xuyên đi tìm cây thuốc, cung cấp cho người bệnh hoàn toàn miễn phí, theo mình biết thì khoảng 10 năm nay rồi. Ai có bệnh thì cô sẵn sàng giúp, và cung cấp cây thuốc giống để tự trồng, tự chữa bệnh và nhân rộng cây thuốc này. Bạn nào quan tâm, muốn hiểu rõ hơn thì có thể liên hệ trực tiếp Cô Phúc, Số ĐT 8766929. Nếu các bạn muốn liên hệ để nhận thuốc, hãy gọi điện để đăng ký. Nếu có cây thuốc thì có thể theo chỉ dẫn trên để tự chữa cũng được. ây cành giao còn có một số tên gọi khác như cây càng cua, cây xương khô, san hô xanh, thập nhị... Cây có thể cao đến 3m, thân nhánh tròn, màu xanh lục, khi bẻ cành có nhiều mủ trắng chảy ra. Trong nhân dân thường dùng cây thuốc này trị một số bệnh như đau nhức, côn trùng đốt, chấn thương... Cây thuốc này thường được trồng cùng với cây hoa quỳnh nên thường gọi là cây quỳnh cành giao. Một số bài thuốc nam được dùng trong dân gian: - Chữa viêm xoang, viêm mũi dị ứng: dùng khoảng 15 đốt cành cây càng cua, cắt nhỏ từng đoạn 5mm, cho vào túi nilon đập nát rồi cho vào ấm có vòi với lượng nước vừa đủ, đun sôi, dùng giấy cuộn thành ống lắp vào đầu vòi, cho vào mũi để hít hơi nước, hơi thuốc vào mũi, thỉnh thoảng hít cả vào miệng. Thời gian xông 10-15 phút. Xông liên tục 3-5 ngày, bệnh nặng có thể xông 7-10 ngày. Cần chú ý không dùng cho phụ nữ có thai. - Chữa côn trùng, ong đốt, rắn cắn, bò cạp đốt...: dùng cành cây càng cua giã nhỏ, đắp lên tổn thương. - Chữa chấn thương, đau nhức: dùng cành cây càng cua giã nhỏ, băng đắp lên tổn thương ở cơ bắp, khi khô lại dùng rượu nhạt nhỏ thêm vào bã thuốc. - Chữa mụn cơm: dùng nhựa mủ cây càng cua đắp lên mụn cơm. Chú ý: không được để nhựa mủ cây thuốc này bắn vào mắt. nguồn: Theo cimsi.org.vn
-
Nói thật với bác rằng, vì học chưa đến nơi đến chốn nên biết cũng mơ hồ là đúng. Bản thân cháu xem rất nhiều tài liệu tử vi, hiện có rất nhiều tài liệu và các phần mềm xem tử vi...sưu tầm trên mạng. Nhưng quả thật cháu chưa hiển biết và hầu như chưa học được gì. Về chuẩn bị phòng thân như bác nói thì khó thực hiện được, sự việc đến như thế nào thì chấp nhận như thế đó. âu cũng là số phận. Nhờ bác xem dùm cháu năm này công danh tài lợi có gì mới không! Nếu có thể nhờ bác xem dùm cháu lá số con trai 02 tuổi nên định hướng cho cháu thế nào??! My link: lá số con trai cháu cảm ơn bác!
-
Đây là một câu chuyện có vẻ quen thuộc với chúng ta nhưng được mở rộng bởi CEO (Chief Executives Officer) của Coca Cola như sau: PHẦN I: Ngày xửa ngày xưa, có một con rùa và một con thỏ cãi nhau xem ai nhanh hơn. Chúng quyết định giải quyết việc tranh luận bằng một cuộc thi chạy đua. Chúng đồng ý lộ trình và bắt đầu cuộc đua. Thỏ xuất phát nhanh như như bắn và chạy thụt mạng một hồi, và sau khi thấy rằng đã bỏ khá xa bạn rùa, thỏ nghĩ nó nên nghỉ mệt dưới một tán cây bên đường và thư giãn trước khi tiếp tục cuộc đua. Thỏ ngồi dưới bóng cây và nhanh chóng ngủ thiếp đi. Rùa từ từ vượt qua thỏ và sớm kết thúc đường đua, dành chiến thắng. Thỏ giựt mình tỉnh giấc và nhận ra rằng nó đã bị thua. Bài học của câu chuyện trên là gì? Chậm và ổn định đã chiến thắng cuộc đua. PHẦN II: Cuộc sống không quá đơn giản như thế, câu chuyện được tiếp tục phát triển thêm: Thỏ vô cùng thất vọng vì để thua và nó cố suy nghĩ. Nó nhận ra rằng nó đã thua chỉ vì quá tự tin, bất cẩn và thiếu kỷ luật. Nếu nó không xem mọi thứ quá dễ dàng và chắc thắng, thì rùa không thể nào có cửa hạ được nó. Vì thế, nó quyết định thách thức một cuộc đua mới. Rùa đồng ý. Lần này, thỏ chạy với tất cả sức lực của nó và chạy suốt một mạch về đích. Nó bỏ xa rùa đến mấy dặm đường. Thế, bài học của câu chuyện này? Nhanh và vững chắc sẽ chiến thắng cái chậm và ổn định. Nếu có 2 người trong công ty của bạn: một người chậm, nguyên tắc và đáng tin cậy; một người khác nhanh và vẫn đáng tin cậy ở những việc anh ta làm. Người nhanh và đáng tin cậy chắc chắn sẽ được thăng chức nhanh hơn. Chậm và chắc là điều tốt, nhưng nhanh và tin cậy là điều tốt hơn. PHẦN III: Nhưng câu chuyện cũng không dừng lại ớ đây. Rùa đã suy ngẫm kết quả và nhận ra rằng: nó không có cách nào thắng được thỏ trên đường đua vừa rồi. Nó suy nghĩ thêm một tí nữa và rồi thách thỏ một cuộc đua khác, nhưng có một chút thay đổi về đường đua. Thỏ đồng ý. Họ bắt đầu cuộc đua. Như đã tự hứa với lòng mình là phải luôn nhanh, thỏ bắt đầu chạy và chạy với tốc độ cao nhất cho đến bên bờ sông. Vạch đích đến lại còn đến 2 Km nữa ở bên kia sông! Thỏ dành ngồi xuống và tự hỏi không biết làm sao đây. Trong lúc đó, rùa đã đến nơi, lội xuống sông và bơi qua bờ bên kia, tiếp tục chạy và kết thúc đường đua. Ý nghĩa từ câu chuyện này? Trước tiên, cần phải xác định ưu thế của mình, và sau đó là biết chọn sân chơi phù hợp. PHẦN IV: Câu chuyện vẫn chưa dừng lại. Đến đây, thỏ và rùa đã trở thành đôi bạn thân thiết và họ cùng nhau suy ngẫm. Cả hai nhận ra rằng cuộc đua sau cùng có lẽ sẽ có kết quả tốt hơn. Vì thế, chúng quyết định tổ chức một cuộc đua cuối cùng, nhưng chúng sẽ cùng chạy chung một đội. Cuộc đua bắt đầu, thỏ cõng rùa chạy đến bên bờ sông, rùa lội xuống sông và cõng thỏ bơi qua bên kia bờ sông. Lên đến bờ, thỏ lại cõng rùa đưa cả hai cùng về đích. Và chúng cùng nhận ra rằng đã về đích sớm hơn rất nhiều so với các lần đua trước. Bài học của câu chuyện này là gì? Thật tuyệt vời nếu mỗi người đều thông minh và đều có ưu điểm riêng, nhưng trừ khi các bạn cùng làm việc với nhau trong một đội và cùng chia xẻ, cống hiến ưu thế của từng người, bạn sẽ không bao giờ thực hiện công việc được hoàn hảo bởi vì luôn luôn có những trường hợp bạn không thể làm tốt hơn người khác. Điều quan trọng của làm việc theo nhóm là phải chọn được người trưởng nhóm trong từng trường hợp cụ thể. Phải chọn được người có ưu thế về lĩnh vực mà họ làm trưởng nhóm. Còn nhiều bài học nữa từ câu chuyện này. Lưu ý rằng cả thỏ và rùa đều không hề đầu hàng hay nản chí sau thất bại. Thỏ quyết tâm làm việc hăng hơn và cố gắng nhiều hơn sau khi phải thất bại cay đắng. Rùa phải thay đổi chiến lược vì nó đã cố gắng làm việc hết sức. Trong cuộc sống, khi phải chịu đựng, đối mặt với thất bại, có thể đó cũng là thời điểm thích hợp để cố gắng hơn và nỗ lực nhiều hơn nữa, nhưng đôi khi cũng cần phải thay đổi chiến lược và thử tìm kiếm giải pháp khác. Và đôi khi phải làm cả hai. Thỏ và rùa cũng đã học thêm một bài học để đời khác: thay vì chúng chống đối (hay cạnh tranh) với nhau, chúng bắt đầu tìm cách giải quyết tình huống, và chúng đã cùng nhau làm tốt hơn rất nhiều. Khi Roberto Goizueta đảm nhận vị trí CEO của Coca Cola vào những năm 1980, ông đã phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với Pepsi. Nhân viên của ông ta đang tập trung vào cạnh tranh với Pepsi và cố gắng tăng thị phần từng 0.1%. Goizueta quyết định không cạnh tranh với Pepsi mà thay vào đó là tìm cách chiếm thị phần. Ông ta hỏi các nhân viên và biết rằng trung bình mỗi ngày, mỗi người Mỹ uống các loại nước là 14 ounces (đơn vị đo lường của Mỹ), trong đó thì Coke chỉ có 2 ounces/ngày/người. Rõ ràng việc cạnh tranh không chỉ là Pepsi mà còn là nước, trà, cà phê, sữa và các loại nước trái cây. Mọi người sẽ dễ dàng tìm thấy Coke bất kể khi nào họ cần uống. Coke quyết định đầu tư các máy bán coca cola tự động ở khắp các góc đường. Doanh thu tăng nhảy vọt và cho đến nay thì Pepsi vẫn không thể nào theo kịp. Kết luận: Câu chuyện ngụ ngôn thỏ và rùa đã dạy cho chúng ta khá nhiều bài học lý thú. Ý tưởng quan trọng nhất là “nhanh và vững chắc” sẽ luôn đánh bại “chậm và ổn định”; làm việc với những ưu điểm của bạn, đầu tư nhiều tài nguyên và làm việc theo nhóm sẽ luôn chiến thắng bất cứ một cá nhân nào; không bao giờ đầu hàng hay nản chí sau thất bại. Và cuối cùng, phải tìm giải pháp cho mọi tình huống, không chống lại cuộc chiến. (Sưu tầm)
-
- 1
-
-
Một vị tăng trẻ từ lúc nhỏ đã theo sư phụ sống ẩn tu trên núi cao xa lánh mọi việc thế tục. Thế giới của hai thầy trò chỉ là kinh sách, những thời công phu, thiền quán, cùng chim muông và cây lá trong núi rừng. Một hôm có việc cần phải xuống làng phố, vị thầy cho đệ tử đi theo để mở mang thêm kiến thức và biết thêm cuộc sống nơi trần thế. Lần đầu tiên trong đời người đệ tử biết được nhiều điều mới lạ mà từ trước đến giờ chưa hề nghe thấy. Gặp việc gì cũng hỏi thầy. Từ con bò, chiếc xe, hàng phố, nhà cửa. Người thầy tận tình giảng giải và phân tích những điều tốt xấu cho đệ tử. Khi đi ngang qua khu chợ, thấy một cô gái trẻ đẹp đang ngồi bán quán. Người đệ tử chỉ tay về hướng cô gái hỏi thầy: - Thưa thầy. Đó là cái gì vậy? Người thầy vội kéo tay người đệ tử rảo nhanh bước và nói: - Ồ! Đó là một con cọp. Rất hung dữ và nguy hiểm. Con mà đến gần thì sẽ bị nó giết mất giới thân huệ mạng ngay. Cả đời tu học coi như luống công. Đi ngay con, tránh xa kẻo nguy hiểm.. Người đệ tử vừa rảo bước theo thầy vừa ngoảnh mặt nhìn cô gái không chớp mắt. Về đến sơn am, sau thời công phu tối, hai thầy trò ngồi nói chuyện về cuộc xuống phố trong ngày. Người thầy hỏi đệ tử: - Sáng nay con xuống phố để mở mang thêm tầm hiểu biết. Đây là lần đầu tiên con biết thế nào là cảnh sống thế tục. Con thấy thế nào? Người đệ tử trả lời: - Thưa thầy. Con thấy cuộc sống thế tục quá ồn ào, bụi bậm. Con chỉ quen cuộc sống yên tĩnh nơi núi rừng, cùng sống với thầy và kinh sách, vui cùng cỏ cây hoa lá mà thôi. - Thế con không thích cuộc sống ồn ào đó phải không? - Dạ. Thưa thầy con không thích điều gì cả. Nhưng... - Gì thế hả con? - Thưa thầy. Con chỉ thích con cọp mà thôi. SƯU TẦM Một thiền sinh muốn chứng tỏ sở đắc của mình bèn nói với vị thầy: - Thưa thầy. Con đã thấu hiểu được giáo lý của Thiền môn. Tất cả đều là chữ Không nhiệm mầu. Tâm, Phật, loài hữu tình, rốt ráo tất cả đều chẳng có thật. Bản tánh chân thật của mọi hiện tượng là cái Không. Không có cái có, không có huyền ảo, không có Thánh, không có phàm, không có người cho, không có vật cho và cũng không có người nhận nốt. Thiền sư vẫn ngồi im lặng hút thuốc, không nói gì cả. Bất thình lình, sẵn ống điếu tre trên tay, thiền sư đập mạnh vào vai người đệ tử một cái thật mạnh. Vừa bị nóng vừa bị đau, khiến người đệ tử nổi giận vì bỗng nhiên bị thầy đánh vô cớ. Thiền sư hỏi: - Nếu không có gì cả. Thế cái giận của anh từ đâu đến và ai giận đó vậy? ST
-
Quan điểm Phật Giáo về chết tự nguyện Quán Như chuyển ngữ Tình trạng tâm linh lúc chúng ta thở hơi thở cuối cùng vô cùng quan trọng. Đó là bản lề mở ra nhiều hướng khác nhau vì lúc đó sinh lực tụ hiện trong hình sắc. Nếu được trang bị với một tâm linh có kỹ luật và sẵn sàng chấp nhận cái chết, chúng ta mới mong cưỡng kháng lại những thói quen bám víu và cố chấp cũ, khi năng lực của chúng ta đang tàn lụi dần đi. Ý tưởng, cảm thọ và nhận thức kết hợp với nhau trong hơi thở cuối cùng này có một khả năng lớn lao vô cùng (Philip Kapleau Roshi) Cái hơi thở cuối cùng mà vị thiền sư đề cập ở trên là gì? Hơi thở cuối cùng trước khi chúng ta đi vào trạng thái hôn mê như cây cỏ? Hơi thở cuối cùng trước khi chúng ta dùng máy thở để duy trì sự sống? Hơi thở cuối cùng trước khi tòa án ra lịnh cắt đứt máy thở và sự sống của chúng ta? Chết giữa những kỷ thuật tân tiến bộ quả là một vấn đề phức tạp. Y khoa tây phương cố gắng chữa người bịnh cộng thêm với một nền văn hoá ghê sợ cái chết tạo ra một hoàn cảnh khác thường: người ta sợ hãi mối cô đơn trong cái chết và đau khổ giữa những kỷ thuật vô tình, con người hiện nay đang tranh đấu để có ‘quyền’ được chết. Chết tự nguyện là một vấn đề đã quá cũ. Đã có nhiều trường hợp nhiều người ta tự hủy mình hay giết những người khác để chấm dứt đau khổ và những hành động đó được xem như là hành động nhân đạo. Trong đầu thế kỷ, người ta giết những con vật bị thương nặng để nó khỏi bị đau đớn. Sau thế chiến thứ 2 nó liên hệ đến phòng hơi ngạt, giết người, quốc xã ...Trên thực tế Euthanasia có nghĩa là một cái chết tốt đẹp. Dĩ nhiên cái chết nào tốt đẹp và cái chết nào không là tùy theo quan điểm của mỗi người. Cuộc tranh luân hiện nay về một số các vấn đề, từ việc ‘để cho bịnh nhân chết tự nhiên đến những phương pháp làm cho cái chết mau xảy ra’. Từ ngữ chết tự nguyện thụ động thường được dùng để mô tả việc cắt đứt hay không tiếp tục cung cấp máy thở, để cho cái chết đến một cách tự nhiên, mặc dù trên thực tế chúng ta phải can thiệp vào thì cái chết mới xảy ra. (Có nhiều người lý luận là đây không phải là chết tự nguyện, bởi vì không có ai giết ai, không có ai can thiệp vào quá trình tự nhiên của cái chết). Tự nguyện chết tích cực là những phương pháp gây ra cái chết trực tiếp bằng một vài phương tiện, như chích thuốc độc vào cơ thể. Đối với phật tử, chết tự nguyện đặt ra những câu hỏi mới và đòi hỏi những câu trả lời theo ánh sáng của tư tưởng đạo Phật. Trên lý thuyết đây là lúc mà giới cấm sát sinh và sự phát triển lòng từ bi tương phản nhau. Các phật tử phải đối đầu với nổi phân vân mà từ trước đến nay họ chưa từng gặp phải. Ở Tây Phương vào đầu thế kỷ chúng ta thường chết sớm ở vào tuổi 50, vì những chứng bịnh hay vết thương mà chúng ta không biết làm thế nào để cứu chữa Và chúng ta thường chết tại nhà, có người nhà săn sóc và bên cạnh. Sau khi chúng ta qua đời, thân nhân tắm rửa cho chúng ta, trông chừng thi thể và chôn cất chúng ta với sự giúp đỡ của thân nhân và bè bạn. Ngày nay chúng ta sống dai hơn và chết lâu hơn. Kéo dài tình trạng thoái hóa của sự sống bằng các kỷ thuật về y khoa trong những bịnh viện với một thời khóa biểu. Nếu gia đình có thể vào thăm, họ sẽ cảm thấy kinh ngạc hay căng thẳng. Khi chúng ta chết đã có những nhà quàng lo lắng hết mọi chuyện. Những thay đổi này thường biến cái chết thành một quyết định, thay vì là một biến cố. Dưới hình thức này hay hình thức khác câu hỏi mà thân nhân chúng ta hay hỏi là : ‘chừng nào cho ổng, hay bả đi?’. Hình thức thông thường nhất là cắt đứt máy thở. Bảy chục phần trăm bịnh nhân chết sau khi người nhà đã ‘thương thuyết’ với nhau. Quyết định xem có cần những phương tiện cứu chữa để kéo dài sự sống nữa hay không chỉ kéo dài thêm diễn trình của sự chết. Dĩ nhiên là ai cũng muốn kéo dài sự sống nếu người bịnh có cơ hội bình phục và lành bịnh. Vấn đề chỉ đặt ra khi bịnh nhân không có cơ hội gì bình phục, hoặc những cách cứu chữa làm người bịnh quá đau đớn, hay biến những ngày cuối cùng của họ thành một cơn ác mộng. Mối quan tâm này làm nảy sinh ra việc để lại di chúc lúc còn sống, những đạo luật về y khoa, những cuốn sách bán chạy về ‘tự giải thoát’, và những bác sĩ giúp đỡ bịnh nhân tự tử và đề nghị hợp pháp hoá những cái chết tự nguyện hay cho phép giết người vì nhân đạo. Đối với nhiều người chủ trương cho bịnh nhân tự chọn cái chết là một hình thức phản kháng cách chết hiện nay của chúng ta. Theo quan điểm Phật Giáo, tất cả những sự rối loạn và sự chú tâm nhìều đến đau đớn cơ thể là do chúng ta không có sự hiểu biết đích thực về bản chất của sự sống và cái chết Những cái nhìn khác nhau về cái chết Sự khác biệt giữa thái độ của phật tử và của người thường về cái chết tự nguyện ở chỗ hai bên có quan niệm khác nhau về quá trình cái chết trên bình diện sinh lý. Quan niệm của Phật Giáo và Y Khoa Tây Phương về cái chết rât khác nhau. Một trong những kinh điển của Kim Cương Thừa có mô tả chi tiết về quá trình của cái chết, và trong quá trình kinh nghiệm này có sự giao thoa giữa bình diện sinh lý, tâm lý và tâm linh. Dựa trên một mô thức y khoa, lý thuyết này cho chúng ta thấy mối liên hệ chằng chịt giữa ý thức và cơ thể, cho thấy những sự biến đổi khi chúng ta đang đi dần vào cõi chết. Nói một cách giản dị, trong quá trình của cái chết, khi các phần của cơ thể mà ý thức tùy thuộc bị hủy hoại, ý thức cũng tan rã theo. Càng lúc càng nhiều những phần vi tế của ý thức hiển lộ khi các phần ý thức căn bản tan rã, cho đến khi nhận thức ngưng và lúc đó người chết mất hẳn ý thức trong một thời gian ngắn. Sau đó là phần tinh túy nhất của ý thức hiển lộ. Phần tinh túy này có nhiều tên, tùy theo môn phái và kinh điển,hay bản văn. Một vài tên gồm: vô lượng thọ quang, phật tính, ý thức viên mãn...Theo Tsele Natsok Rangdrol, theo một bản văn cổ điển Tây Tạng vào thế kỷ 17, phần lớn các môn phái đồng ý đó là Bardo thứ nhất (Có nhiều cách giải thích bardo, nhưng cách giải nghĩa thông thường nhất là giai đoạn từ khi chết tới lúc tái sinh. Tử Thư Tây Tạng có mô tả những giai đoạn khác nhau giữa đời này và đời khác). Đây là chân lý tự hiển lộ, và đối với người phật tử Tây Tạng, đây là mốc xác định thời điểm người bịnh chết. Theo Y Khoa Tây Phương, định nghĩa chết có tính cách pháp lý. Vào năm 1980 một ủy ban do Tổng Thống chỉ định để nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong Y khoa và về hành vi của con người đã thiết lập một đạo luật về cái chết. đã xác định như sau: một người được định nghĩa là chết khi (1) hệ thống hô hấp và tuần hoàn ngưng (2) những công năng của não bộ, kể cả vành não chấm dứt. Định nghĩa này đưa đến một khó khăn là có nhiều khi não chết nhưng những công năng của não vẫn còn hoạt động. Cho nên một người có thể không còn một nhận thức nào nhưng họ vẫn thở, tim vẫn đập để đưa máu vào khắp cơ thể. Và cơ thể của người này vẫn duy trì chu kỳ thức ngủ nếu vẫn được nuôi dưỡng bằng thức ăn. Điều này đã đưa đến nhiều vụ kiện tụng lôi thôi. Như trường hợp của Ann Quinlan đã ‘sống’ như thế đó trong vòng 9 năm sau khi máy thở đã được cắt đứt. Phương cách định nghĩa khác nhau về cái chết đó đưa đến những ý tưởng khác nhau về định nghĩa của một cái chết ‘tốt’. Theo Tây Phương một cái chết tốt là một cái chết khi người ta không còn ý thức, không biết cái chết đang tới. Chết trong khi ngủ được xem như là một điều may mắn và người ta thường nói: Ít ra là người đó không biết cái chết đang giáng xuống đầu họ! Tuy nhiên điều này không phải lúc nào cũng đúng. Trên thực tế, tư tưởng Do Thái-Ky Tô ảnh hưởng bao trùm văn hóa Tây Phương, một cái chết thình lình như thế là một tai họa. Trong lời cầu nguyện cũ ở Anh: Xin Chúa che chở chúng con khỏi bị hỏa hoạn, lụt lột và bị chết bất đắc kỳ tử. Người ta tin rằng nếu chúng ta chuẩn bị sẵn sàng thì kết quả sẽ tốt. Chỉ khi khoa học vật chất tiến bộ, chết mà không hay biết mới được xem là một cái chết tốt. Và nếu chết là sự chấm dứt con đường thẳng thì lại sao lại không chọn một cái chết nhẹ nhàng. Đối với phật tử, chết được xem như là một giai đoạn quan trọng trong một chu kỳ tiến hóa, và người phật tử nên đi vào cái chết với nhiều ý thức minh mẫn chừng nào tốt chừng đó. Điều quan trọng là phải biết chuyện gì xảy ra khi chúng ta đang chết. Nếu chúng ta tin là ý thức không còn nữa khi chúng ta chết, chúng ta sẽ nhìn cái chết một cách khác hơn là khi chúng ta tin rằng ý thức đang thay đổi, và sự thay đổi này có thể ảnh hưởng bởi hoàn cảnh mà trong đó cái chết đang xảy ra. Tự nguyện chết một cách tích cực gồm việc chích một liều thuốc độc hay bơm thuốc quá liều, sẽ làm người chết mất ý thức nhanh hơn và sẽ đưa đến việc hủy hoại bộ máy bộ máy hô hấp, mục đích là làm người chết hoàn toàn bất tỉnh không còn ý thức lúc chết. Theo mô thức Tây Tạng, còn thêm nhiều giai đoạn trong quá trình chết xảy ra sau khi bộ máy hô hấp đã ngưng. Nếu lúc chết ý thức mù mịt những kinh nghiệm về những giai đoạn này sẽ mê mờ và do đó sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho tất cả những gì xảy ra tiếp đó. Làm ơn và giải thoát Phật Giáo quan niệm chết không phải là chấm dứt, và đau khổ không chấm dứt sau khi chết, nhưng vẫn tiếp tục cho đến khi nào giải được tất cả ác nghiệp. Cho nên tự giết mình - hay giúp người khác tự tử - cũng không thể nào trốn tránh việc phải trả cho hết nghiệp (Philip Kapleau Roshi) Người cổ vỏ cho chết tự nguyện tich cực là Derel Humphreys, tác giả quyển Final Exit, một cuốn sách mô tả cách tự hủy mình. Một người nữa là Bác Sĩ Jack Kevorkian, người đã giúp một số bịnh nhân tự tử bằng một cái máy có tên là ‘máy tự tử’. Hai người này là những người tiền phong trong phong trào cổ võ cho việc hợp pháp hóa việc Bác Sĩ giúp các bịnh nhân chết, một cách giết người để làm ơn. Luận điệu để hổ trợ cho việc hợp pháp hoá là, việc đi tìm cai chết một cách tự nguyện là một vấn đề do cá nhân tự chủ và tự quyết định. Nếu có một cá nhân nào muốn tìm cái chết như là một giải pháp hợp lý để chấm dứt đau đớn, nên cho phép họ làm điều đó, hay giúp họ làm điều đó, mà không phán đoán điều đó là đúng hay sai về mặt đạo đức. Luận cứ này cho thấy sự khác biệt giữa tư tưởng Phật Giáo và cách suy nghĩ trong các triết lý thông tục. Dù là họ có quan tâm đến việc giải thoát khỏi những đau đớn hay giết người để làm ơn, nguyên lý đạo đức hổ trợ cho chết tự nguyện tích cực không đúng với truyền thống và tin tưởng của phật tử. Phật Giáo cho chuyện sát hại đời sống chúng sinh là ác nghiệp, kể cả đời sống của mình, và mỗi hành động đều gây ra nghiệp và hành động sát hại đó sẽ gây ra đau khổ trong tương lai. Trên thực tế, Phật Giáo dạy là mỗi hành động nhằm tránh đau khổ sẽ tạo ra nhiều đau khổ khác và vấn nạn hiện nay về việc chọn cái chết tự nguyện là một thí dụ tốt của vấn đề này. Những nổ lực để ngưng sự tan rã của thể chất sẽ tạo ra những hoàn cảnh đầy rẫy những khổ đau về tình cảm, tâm lý và tâm linh (cũng như những đau đớn về thể chất sẽ tiếp tục, vì những nổ lực của chúng ta nhằm ngăn chận sự tan rã không giúp chúng ta hết đau đớn thể chất mà chỉ làm cho đau đớn nhiều hơn). Hiểu lầm về bản chất của đau khổ cũng như không biết tới nguyên lý vô thường, và vì nhắm đánh bại thần chết, khoa học hiện đại đã đã làm tăng thêm những mức độ đau khổ mới trong quá trình của cái chết. Vì lúc nào cũng lo cho bịnh nhân có được sức khỏe tối đa, oái oăm thay, chúng ta lại không có thì giờ an ủi những người đang chết. Để tìm một giải pháp cho những nổi khổ đó, chúng ta đề nghị chích một liều thuốc độc cho bịnh nhân, để giải quyết nhanh chóng vấn đề chết. Theo quan điểm Phật Giáo, giải pháp này sẽ tạo thêm nhiều vấn đề khác. Đau Đớn Và Ý Thức Mù Mịt Bardo của một người đang chết rất đau đớn bởi vì tiến trình của cái chết liên hệ đến đau đớn và đau khổ. Mặc dù tiến trình của sự chết nhiều khi rất nhanh chóng và chúng ta nghĩ người chết không có cảm thấy gì, nhưng chắc chắn là luôn có sự đau đớn. Ngay cả khi người chết trong khi còn hôn mê hay trong lúc bất tỉnh, tâm não băo giờ cũng kinh nghiệm đau đớn tế vi trong một biến cố thường được gọi là sự ngắt qtảng của dòng sinh lực (Chokyi Nyima Rinpoche) Đức Phật Thích Gia dạy là tất cả đau khổ không thể nào diệt được nếu chúng ta không hiểu biết nguồn gốc đau khổ. Đây là một vấn đề rộng lớn và cần một số thì giờ để giải thích tường tận. Nhưng cái mốc quan trọng nhất là lòng từ bi. Nếu một người đang vật vã trong cơn đau đớn và nỗi đau đớn chiếm trọn cả tâm trí họ, họ sẽ không kinh nghiệm được tiến trình của cái chết. Trong tác phẩm Tạng Thư Về Vấn Đề Sống Chết, Sogyal Rinpoche giải thích là Các Đại Sư trong Phật Giáo thường đề cập đến nhu cầu giữ ý thức minh mẫn trong quá trình chết, không để ý thức bị mờ mịt. Làm thế nào kềm chế được đau đớn mà không làm ý thức của người chết bị mờ mịt là một điều cần thiết và chúng ta có thể giúp cho người chết đạt được điều đó trong giai đoạn khẩn trương nhất của một đời người. Trong khi việc sử dụng thuốc men một cách không phân biệt có thể gây ra nhiều khó khăn lớn, tuy nhiên việc sử dụng những tiến bộ y khoa hiện đại một cách thông minh và tận tụy, có thể đưa đến những kết quả tích cực. Các khoa chăm sóc những bịnh nhân đến hồi bất trị và giúp họ khỏi bị đau đớn (palliative), chửa trị họ mà không cần gây mê một cách nặng nề, có thể giúp bịnh nhân kinh nghiệm rõ ràng những diễn biến trong quá trình của cái chết. Chú ý đặc biệt về đau đớn và kềm chế những triệu chứng đau đớn đã được sử dụng trong các bịnh viện dành cho những bịnh nhân không còn chữa trị được (hospice), và có những chương trình giúp đỡ dành cho những bịnh nhân không còn muốn được chữa trị nữa là những bước tích cực. Phật Giáo khuyến khích những dịch vụ này để thay thế cho việc áp dụng phương cách tự tử tích cực Duy trì sự sống hay duy trì cái chết Dùng những máy móc để duy trì sự sống trong khi bịnh nhân không còn hy vọng hồi phục là một việc làm không đi đến đâu. Tốt hơn là để các người này chết một cách tự nhiên, trong một không khí thanh bình. Ngưng sự sống như thế không có gây ác nghiệp, bởi vì những người đó không có cách gì sống sót được và làm như thế chỉ duy trì sự sống một cách giả tạo (Dilgo Khyentse Rinpoche) Hành động tự tử thụ động thường xảy ra nhiều hơn và đó là một cách phản kháng việc áp dụng các kỹ thuật y khoa một cách mù quáng. Để quyết định xem là có nên bỏ máy duy trì đời sống không, các lý thuyết thông tục và Phật Giáo đều giống nhau. Nếu kỷ thuật hiên đại Y khoa có khả năng ngăn chặn diễn trình của cái chết, khi nào chúng ta nên can thiệp và khi nào thì không? Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: Theo quan điểm của Phật Giáo, nếu một người bịnh đang chờ chết, nếu có một cơ hội nào để cho họ có những ý tưởng lành mạnh và đạo đức, điều quan trọng là nên để cho họ sống thêm dù chỉ thêm 5 phút. Nếu không có cơ hội nào để họ có những ý tưởng tốt, nếu gia đình của họ chỉ tiêu tiền để kéo dài thêm sự sống, thì làm như thế thật vô ích. Tuy nhiên phải phán xét từng trường hợp một, vì không thể tổng quát hóa một cách dễ dàng. Hoàn cảnh là một yếu tố quan trọng, Phật Giáo gọi là khế cơ. Thực hành lòng từ bi không có nghĩa là tuân theo những giáo điều cứng nhắc nhưng hành động tương đối tùy theo mỗi hoàn cảnh đặc biệt. Điều này đòi hỏi chúng ta phái đặc biệt chú ý đến người sắp chết và chúng ta phải để thì giờ và năng lực xem cách giúp đỡ nào hữu hiệu nhất. Theo quan điểm Phật Giáo, nếu một người không có hy vọng gì hồi phục và cái chết sẽ đến tự nhiên nếu không có sự hổ trợ giả tạo của y khoa, tháo bỏ máy thở được xem như là một hành động từ bi, chứ không phải là phạm sát giới. Đó là một cách cứu bịnh nhân khỏi trãi qua một sự can thiệp tàn hại trong quá trình đi về cõi chết, điều quan trọng đối với một người sắp lìa đời. Và việc từ chối tiếp tục được cứu chữa để sẵn sàng chờ đón cái chết được xem như một hành động đúng. Sinh vào cõi người là một đặc ân và dĩ nhiên là chúng ta cũng phải trân trọng và an hưởng đời người, nhưng không có nghĩa là bám víu chặt vào đời sống một cách tuyệt vọng, một hành động đi ngược lại với nguyên lý vô thường. Trên thực tế rất khó mà biết lúc nào thì nên thôi chữa trị. Có nhiều cách chăm sóc bịnh nhân khác nhau trong quá trình bịnh tật, bị thương hay kiệt sức. Thay vì xem quyết định chọn lựa một cách đen trắng rõ ràng, chúng ta phải đối đầu với một số chọn lựa khi hoàn cảnh đã đổi khác và có nhiều điều kiện mới xuất hiện. Có nên đưa một ống dẫn thức ăn vào? Một người ở trong tình trạng hôn mê bao nhiêu lâu trước khi chúng ta đi đến một quyết định chấm dứt đời sống của họ?. Và nếu có một trẻ sơ sinh bị hư não và tàn tật, cần máy thở và sẽ phải trãi qua những cách chữa trị rất đau đớn thì chúng ta quyết định ra sao? Chỉ có một nguyên tắc hướng dẫn duy nhất là phải xét từng mỗi hoàn cảnh đặc biệt. Và nền Y Khoa hiện đại không được trang bị để giải quyết từng trường hợp cá nhân. Đối diện Với Thực tại Cuộc tranh luận hiện nay về cái chết tự nguyện phát sinh trong một nền văn hóa sợ hãi cái chết. Xã hội Tây Phưong từ chối không chấp nhận vô thường nên đã xem cái chết như là một biến cố bí hiểm, một thất bại, một sự xấu hổ. Hình ảnh của một người bịnh đang chờ chết và đang được duy trì sự sống bằng một cái máy trong nền Y Khoa hiện đại, bị mắc kẹt trong một hoàn cảnh cô đơn, ồn ào, thiếu những yếu tố tâm linh trong các bịnh viện, là một hình ảnh tượng trưng cho tất cả nan giải về cõi ta bà. Đã có nhiều người bị tốn tiền và bị thương tổn về tình cảm, nhiều cuộc thưa kiện đã xảy ra ở toà án, những vấn đề đã được mọi người quan tâm và đưa ra mổ xẻ trên các diễn đàn công cộng. Tuy nhiên trong các diễn đàn đó người ta đã quay ra bàn cãi với nhau về quyền và luật lệ, phí tổn của những cuộc chăm sóc trường kỳ cho những người bịnh đang chờ chết, về những cách quản trị việc chấm đứt đời sống. Ngay cả khi người ta bàn cãi về cái chết, những người đó cũng không thực sự bàn cãi về cái chết. Nếu muốn đứng lùi lại để có một cái nhìn bao quát hơn, chúng ta có thể làm chuyện đó không khó gì lắm. Nhưng khi đứng cạnh bên giường bịnh, thì lại là một vấn đề khác. Khi có một người thân sắp sữa chết, mối kinh hoàng và hoảng hốt khi chính đời sống cá nhân bị hăm dọa, lúc đó chúng ta sẽ thoáng thấy những gì rất thực, không giả đò, không còn che dấu, không còn chọn lựa. Mối quan tâm căn bản của Phật Giáo là đau khổ và thoát khổ. Hiện nay ở Tây Phương, cái chết có nghĩa là khi hàng rào phòng vệ của chúng ta bị phá vỡ, cái chết có thể cung cấp cho chúng ta một cơ hội để hành trì và tuân theo giới luật, để kiểm điểm lại cuộc đời của chúng ta và khi nào thì chúng ta cần duy trì và khi nào thì chúng ta cần buông xả sự sống. Quán Như chuyển ngữ từ Good Death, của Patricia Anderson, Tricycle, số mùa đông 1992. Patricia Anderson là tác giả Affairs in Order: A Complete Resource Guide to Death and Dying (MacMillan)
-
Nói tới chuyện Nhân Quả một số người khinh thị, cho đó là lạc hậu, lỗi thời, quê mùa giống như chuyện “Rắn Báo Oán” chẳng hạn. Thế nhưng Luật Nhân Quả lại là định luật bất biến chi phối sự tồn vong của khoa học. Nếu mai đây khí Hydrogen và khí Oxygen hợp lại mà không thành nước thì khoa học xụp đổ, cuộc sống con người và thiên nhiên đảo lộn hoàn toàn. Luật Nhân Quả (Law of Cause and Effect) chi phối mọi họat động của con người, từng giờ, từng phút, từng sát-na nhưng con người không thèm để ý. Chỉ khi hậu quả xảy đến người ta mới chịu tin. Luật Nhân Quả là trụ cột giáo lý của Đức Phật. Chúng ta hãy nghe nhận định của Trung Tâm Phật Giáo SOKA GAKKAI INTERNATIONAL tại Anh Quốc, “As we go about our daily lives, in every single moment, we make causes in the things that we think and say and do. Buddhism teaches the existence of a law of cause and effect which explains that when we make a cause, the anticipated effect of that cause is stored deep in our lives, and when the right circumstances appear then we experience the effect. This concept of cause and effect is at the heart of Buddhism..“ (Quán chiếu cuộc sống hàng ngày, từng giây từng phút, chúng ta tạo Nhân qua những gì chúng ta suy nghĩ, nói và làm. Phật Giáo dạy chúng ta về sự hiện hữu của luật nhân quả, nói rằng khi chúng ta tạo Nhân, hậu quả của nhân đó nằm sâu trong đời sống của chúng ta, và trong một hoàn cảnh thích hợp nào đó, chúng ta sẽ nhận lãnh Quả đó. Khái niệm nhân quả là trung tâm điểm của Phật Giáo..) (1) Hiện nay dù khoa học và kiến thức nhân loại đã tiến bộ vượt bực nhưng một số không nhỏ vẫn tin rằng những bất hạnh, những khổ đau, những tội ác ghê tởm, chiến tranh, sự diệt chủng, sự thù ghét, kỳ thị chủng tộc v.v.. là do Thần Linh (God) an bài sẵn rồi. Nếu có xảy ra thì cũng là do ý chỉ của Ngài. Vậy con người nếu muốn thoát khỏi sự “trừng phạt” hoặc những thảm họa đó, thì chỉ có nước quỳ lạy, van vái, cầu nguyện Thần Linh xót thương mà thôi. Thế nhưng cũng một số không nhỏ, thấm nhuần giáo lý của Đức Phật lại không tin như thế. Họ không tin vào Thuyết Định Mệnh với một “Sổ Đoạn Trường” nằm sẵn ở Thiên Đình, họ bác bỏ sự hiện hữu của một Thần Linh không bao giờ biết xót thương mà chỉ biết gây thảm họa triền miên cho nhân loại và có thể ban phép mầu để “rửa tội” cho những kẻ bất nhân hoặc những kẻ gây tội ác khủng khiếp đối với nhân loại. Đối với các Thần Giáo thì không có Luật Nhân Quả gì hết. Thần Linh có thể biến tội thành phước, biến phước thành tội và biến kẻ sát nhân thành Thánh. Để lý giải về Luật Nhân Quả, chúng ta có thể dùng thí dụ nho nhỏ sau đây: Chẳng hạn một cậu thanh niên gia nhập băng đảng, trộm cướp rồi vào tù. Trong tù cậu hối hận suy nghĩ. Cái chuyện ngồi tù ngày hôm nay chẳng phải tình cờ mà có hoặc do Thần Linh làm ra. Nguyên do, nguyên nhân (cái Nhân) bắt nguồn từ lúc cậu không nghe lời cha mẹ, thầy cô, chơi bời lêu lổng. Từ chơi bời lêu lổng cho nên có dịp (có duyên) gần gũi với băng đảng, du đãng, trộm cướp, xã hội đen. Từ chuyện gia nhập băng đảng du đãng đưa tới việc làm phi pháp, bất chính. Việc làm phi pháp, bất chính đưa đến tù tội. Ngày hôm nay, dù cậu có ăn năn, hối hận thì cũng quá muộn màng. Muộn màng ở đây có nghĩa là cậu không thể thay đổi cái Quả - tức là bản án tù, hoặc cảnh tù tội đang diễn ra sờ sờ trước mắt. Cậu phải nhận lãnh cái Quả do việc mình làm. Tuy nhiên sự hối cải, sự ăn năn, sám hối lại rất tốt đẹp và không có gì muộn màng nếu nhìn về tương lai. Giả sử cậu thanh niên thật sự hối hận và không muốn sau này cuộc đời u ám nữa. Cậu bắt đầu hiểu sơ sơ về Luật Nhân Quả tức là sẽ không gieo nhân xấu nữa. Muốn gieo nhân lành thì không gì bằng không làm việc xấu hoặc làm việc tốt lành. Trong hòan cảnh tù tội, việc làm tốt lành có thể là: Tuân thủ mọi luật lệ của trại giam, giữ gìn hạnh kiểm tốt. Không kết bè, kết đảng trong tù để tranh giành chút lợi lộc, thanh toán lẫn nhau. Tham gia các chương trình huấn nghệ để sau này có một nghề nghiệp chân chính để sinh sống (Chánh Nghiệp). Xin phép giám thị trại giam đem sách vở, kinh Phật vào trau giồi thêm vì cuộc sống tù tội cách ly với thế giới bên ngòai khiến người tù trở nên lạc hậu. Nếu đêm đêm ngồi Thiền, quán tưởng được thì càng tốt (Chánh Định). Trong những lúc đêm khuya vắng lặng hãy quán xét về những việc mình làm trong quá khứ xem có thật sự là những việc đúng đắn không? (Chánh Niệm) Nhớ giữ gìn sức khỏe, đừng bi quan, tiêu cực, hủy họai thân thể. Luôn luôn quán tưởng rằng “vạn vật vô thường” cho nên cái cảnh tù tội ngày hôm nay cũng là vô thường, tạm bợ (Chánh Tư Duy). Rồi ngày mai đây sẽ là một ngày mới. Ngày mới có tốt đẹp hay không là tùy nơi ta. Rồi cậu có thể hình dung tới cha già, mẹ yếu, gia đình anh chị em đang ray rứt khổ đau vì đứa con, người cha, người chồng, người anh, đứa em đang trong vòng tù tội. Rồi quán tưởng tới bạn bè cũng đang mong ngóng mình trở về với thế giới an lành. Rồi nguyện rằng trong ngày trở về, cậu sẽ ôm cha mẹ khóc rồi hứa từ đây sẽ tu chỉnh lại, sẽ làm ăn chân chính, sẽ không ngại khó ngại khổ, sẽ cố gắng vươn lên với đời để đền đáp công ơn dưỡng dục. (Chánh Tinh Tấn). Ngày nay, một số nhà giam tại Anh Quốc và Hoa Kỳ, phạm nhân đã được Nha Cải Huấn cho phép học Thiền và hành Thiền để phạm nhân quán xét lại chính mình, nhận ra được lý Nhân Quả tức hiểu rõ hậu quả của việc mình làm, từ đó tạo được sự an tĩnh tâm hồn. Đấy là câu chuyện cậu thanh niên hư hỏng, còn chuyện hâm nóng địa cầu thì sao? Hơn 100 năm nay, do nhu cầu sản xuất đại quy mô, vừa để tiêu thụ, vừa để xuất cảng, các nhà máy cứ “ung dung” nhả khói lên trời và tưởng như chẳng gây hậu quả gì. Có ngờ đâu khí CO2 bốc lên đã làm cho lớp Ozone – có nhiệm vụ che chở trái đất bởi hơi nóng của mặt trời, mỏng đi. Hậu quả là trái đất nóng dần. Nơi thì lụt lội, nơi thì biến thành sa mạc. Trong tương lại một số hòn đảo, nhiều thành phố sẽ vĩnh viễn chìm xuống mặt biển. Rồi còn nhiều tai họa nữa mà các khoa học gia chưa khám phá hết. Nhân lọai thấy cái Quả hiện lù lù trước mắt bèn cuống cuồng họp nhau ở Copenhagen (Đan Mạch) từ ngày 7 tới18 Tháng 12 năm 2009 để tìm phương giải quyết. Nhưng liệu những cam kết có được tôn trọng không? Hay lại tiếp tục tạo nghiệp, gieo Nhân, tức là tiếp tục nhả khói lên trời? Chuyên địa cầu hâm nóng ngày hôm nay lại thêm một bằng chứng hùng hồn cho thấy sự tồn vong của trái đất, sinh mệnh của con người là do con người quyết định chứ chẳng phải do Thần Linh Mầu Nhiệm nào cả. Dầu sao thì sự “ăn năn hối lỗi” - ở đây là ý thức của nhân lọai - dù muộn màng nhưng “có còn hơn không” giống như sự ăn năn của cậu thanh niên nói ở trên. Thưa quý bạn. Nếu hiểu được như thế, nếu nhìn được như thế thì Luật Nhân Quả có gì gọi là “quê mùa” ? Có gì là mê tín dị đoan? Có gì là lạc hậu? Nếu nó là mê tín, dị đoan và lạc hậu tại sao những đại trí thức của Âu Châu, Hoa Kỳ ngày nay lại tin tưởng vào giáo lý này? Họ tin tưởng không phải vì cơm áo, thúc ép, bịt mắt hay đe dọa hoặc do truyền thống gia đình, mà vì sự khai mở của trí tuệ. Hiểu Luật Nhân Quả sẽ giúp chúng ta sống chừng mực, làm chuyện đúng đắn trong cuộc sống. Không tạo khổ đau cho chính mình. Không tạo khổ đau cho người, tạo sự an lành cho thế giới, như thế gọi là sống với tâm hồn cao thượng. Nếu mọi người, mọi nhà đều thực hành Luật Nhân Quả họăc biết sợ Nhân Quả thì thế giới này biến thành một Cung Trời mà chẳng cần phải bôn ba tìm kiếm Thiên Đường ở đâu khác. Trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, giáo hóa đệ tử, Đức Phật nói rất nhiều về Nhân Quả, đặc biệt tại Pháp Hội Linh Thứu Sơn. Trong pháp hội này, Đức Phật đã nói chi tiết hơn về Nhân Quả không ngòai mục đích nhắc nhở để chúng ta: - Giúp đỡ kẻ nghèo túng. - Kính trọng người cô quả, cô độc - Không gian dâm với vợ người - Không buông lung khinh rẻ chồng mình - Không quên ơn, phụ nghĩa - Làm hết bổn phận trong việc giảng dạy, chỉ dẫn, cố vấn kẻ khác. Ngoài ra còn phải nêu gương tốt nữa. Không có gì kỳ cục cho bằng một người giảng về đạo đức mà lại sống vô đạo đức. Một người giảng về Luật Vô Thường mà cố chấp. Một người giảng về Thanh Tịnh mà lại gom góp, tích chứa tiền bạc, ham thích thú vui. Gom góp tiền bạc và ham thích thú vui thì phiền não nảy sinh, làm sao sống thạnh tịnh được? - Không ác khẩu, mắng nhiếc, chửi rủa cha mẹ mình - Không làm nghề trộm cướp - Không quỵt nợ - Không phỉnh gạt, dụ dỗ người khác - Không làm ác - Không âm mưu hại người - Không buôn gian bán lận, cân non, cân thiếu, giả vờ quên rồi tính cao giá - Không ghen tị, dèm pha - Không làm ai phải mất danh dự, tủi nhục. - Không giết hại bừa bãi các lòai vật. - Cúng dường chư tăng/ni để quý vị có phương tiện sinh sống và cũng là dịp bày tỏ tấm lòng tôn kính đạo đức, tôn kính kẻ hy sinh cả đời mình cho lý tưởng cao cả. Xét cho kỹ, đây là những lời giảng dạy thiết thực cho đời sống, trong gia đình thì hạnh phúc, còn xã hội thì ổn định thăng tiến, chứ không phải chuyện “trên trời dưới biển”, ban bố phép mầu, khấn vái cầu nguyện vu vơ. Vậy những ai nói rằng đạo Phật yếm thế, xin nghiền ngẫm kinh Phật kẻo mang tội vọng ngữ, phỉ báng. Dưới đây chúng ta sẽ bàn thêm về Luật Nhân Quả. 1) Việc mình làm là Nhân ( Nguyên Nhân), kết quả gây ra gọi là Quả (Hậu Quả). Quả có quả tốt, quả xấu. - Trèo cao là Nhân, ngã đau là Qủa. - Học hành chăm chỉ là Nhân, thi đậu là Quả. - Hành thiền là Nhân, an tĩnh tâm hồn là Quả. - Tu là Nhân, giải thóat là Quả. - Giết người là Nhân, bị người ta trả thù, hoặc bị giết hại là Quả. - Nói dối là Nhân, người ta không còn tin tưởng mình nữa (bad credit) là Quả. - Ham muốn là Nhân, bị khổ đau, dày vò vì lòng ham muốn là Quả. - Ái dục là Nhân, ái mệnh là Quả (Kinh Viên Giác). Vì ngũ căn Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân đem lại khoái cảm cho ta. Vì sung sướng với những khoái cảm đó cho nên ta yêu mến thân xác. Nếu khoái cảm chẳng còn - tức ly dục- thì chẳng còn gốc Ái Mệnh nữa. - Yêu si mê là Nhân, phát điên phát cuồng rồi tự tử chết khi thất vọng là Quả. - Phù thủy luyện âm binh để làm phép thuật là Nhân, lụy âm binh – tức không còn kiểm sóat được âm binh nữa, để âm binh làm loạn hoặc quật lại mình là Quả. - Mắng chửi người ta là Nhân, bị người ta chửi lại, hoặc đi thưa kiện bị tù hoặc phải bồi thừơng là Quả. - Lộng giả (dùng thủ đọan tuyên truyền lừa mị để cho người ta tin) gọi là Nhân. Anh em, bà con, bạn bè, quyến thuộc, tín đồ, dân chúng của mình tưởng đó là sự thực (Lộng Giả Thành Chân). Sau này mình nói ngược lại hoặc thú nhận mình nói dối người ta sẽ mắng chửi mình và cho là đồ gian dối, thậm chí có khi giết hại vì cho mình bất lương, đó là Quả. - Ăn mặn là Nhân, khát nước là Quả. - Tranh ảnh, báo chí, truyền hình, Internet phổ biến dâm ô là Nhân, trẻ con mang bầu, phá thai, hung bạo, bắt cóc, hãm hiếp phụ nữ là Quả. - Phim ảnh bạo lực là Nhân, đem súng vào trường bắn giết bạn bè thày cô, đem súng vào công sở, chỗ làm, bắn giết đồng nghiệp là Quả. - Tham vọng bành trướng, chạy đua vũ trang là Nhân, chiến tranh là Quả. - Cuộc Thập Tự Chinh (Crusades) kéo dài ba Thế Kỷ 11, 12 & 13 là Nhân, sự thù hận giữa Hồi Giáo và Ca-tô Giáo La Mã ngày hôm nay là Quả. - Phá rừng là Nhân. Lụt lội là Quả. - Nhả khói lên trời, thải thán khí, phá hủy môi trường là Nhân, quả đất nóng dần rồi từ từ biến thành sa mạc là Quả. - Đánh cá bừa bãi là Nhân. Cá bị diệt chủng là Quả. - Không nghe lời cha mẹ, thầy cô là Nhân. Bỏ học, chơi bời lêu lổng, xì ke ma túy, du đãng phá làng phá xóm rồi cuối cùng vào tù là Quả. - Cha mẹ khắc nghiệt là Nhân. Con cái bỏ đi là Quả. - Nuông chiều con cái là Nhân. Con cái hư hỏng là Quả. - Dạy tín đồ giáo điều cuồng tín. Tín đồ hung dữ, gây bất ổn xã hội, xung đột với các tôn giáo khác là Quả. - Chi tiêu bừa bãi là Nhân, thiếu hụt, nợ nần là Quả. - Thi ân, bố đức là Nhân, tiếng thơm để đời cho con cháu là Quả. 2) Nhân có nhiều nguyên nhân gộp lại. Ví dụ: - Lười biếng+ u tối khiến thi rớt - Báo chí nhảm nhí + tranh ảnh dâm ô+ tự do phóng túng + ăn mặc hở hang đưa tới nạn thiếu niên mang bầu, bắt cóc hãm hiếp phụ nữ diễn ra hằng ngày như ở Hoa Kỳ. Tại Thái Lan người ta làm thống kê cho thấy phần lớn các cô gái bị bắt cóc, hãm hiếp là vì mặc váy ngắn khiêu gợi quá mức. - Nghèo túng + Giao du với băng đảng đưa tới trộm cướp. 3) Một Nhân nhưng có nhiều Quả: Ví dụ: - Gian dối khi bị phát giác đưa tới quả báo là xấu hổ, mất uy tín, không còn làm ăn được nữa, công ty đổ vỡ, sự nghiệp tiêu tan v.v.. 3) Quả sinh ra rồi lại thành Nhân sinh Quả mới. Ví dụ: - Giáo điều cực đoan + giáo sĩ cuồng tín đẻ ra tín đồ cuồng tín. Từ tín đồ cuồng tín đưa đến việc giết hại lẫn nhau, giết hại hoặc khủng bố tín đồ các tôn giáo khác. Từ đó đưa đến thù hận. Từ thù hận lại đưa đến giết chóc khủng bố. Càng giết chóc khủng bố lại càng cuồng tín, giáo điều. Thế là chuỗi Nhân-Quả kết chặt lại không sao thóat ra được và luân hồi, quay đảo kiếp này sang kiếp khác trong cái trục gọi là Vô Minh. - Giáo dục tốt lành + tôn giáo Từ Bi sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức vừa cứu đời vừa hoằng dương tư tưởng tốt lành. Thuấn nhuần tư tưởng tốt lành lại sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức lại củng cố và phát huy giáo dục tốt lành. Chuỗi nhân quả cứ thế mà nối liền không dứt, kiếp này sang kiếp khác. Do đó khi tư tưởng tốt lành bị hủy diệt thì trái đất này cũng bị hủy diệt theo do gian ác, tham vọng cuồng điên và Vô Minh lên ngôi thống trị. -Nước A chạy dua vũ trang (Nhân) khiến nước B chạy đua vũ trang (Quả). B chạy đua vũ trang lại khiến A chạy đua vũ trang. Rồi A chạy đua vũ trang lại khiến B phải chạy đua vũ trang nếu không muốn bị diệt vong. Chuỗi nhân quả cứ đan kết vào nhau như mắt xích không rời cho đến ngày A hay B bị diệt vong hoặc cả hai bị diệt vong. Sau thảm họa Thế Chiến I nhân loại tưởng có hòa bình, nào ngờ lại có Thế Chiến II. Sau Thế Chiến II thảm khốc lại có Chiến Tranh Lạnh. Sau Chiến Tranh Lạnh lại là chiến tranh bành trướng, chiến tranh chủng tộc, chiến tranh vì hận thù tôn giáo và chiến tranh để nắm giữ ngôi vị thống trị thế giới. Tất cả chỉ là sự vận hành của Chuỗi Nhân Quả do cái vọng tâm vô minh và cuồng điên của con người tạo ra chứ chẳng có Thần Linh (God) nào can dự vào đây. 4) Có khi Quả đến liền, có khi phải đợi một thời gian: - Trồng bầu, trồng bí vài tháng là có quả bầu, qủa bí ăn. - Trồng nhãn, trồng xòai phải vài năm mới có quả. - Một vụ án mạng, do may mắn, do nhiều nhân duyên yếu tố mà phát giác ngay ra thủ phạm và đưa thủ phạm ra tòa xét xử. - Nhiều vụ án mạng, nhiều vụ thủ tiêu người mờ ám phải nhiều năm sau mới khám phá ra thủ phạm. - Song cũng có nhiều vụ không sao tìm ra thủ phạm. Dù không tìm ra thủ phạm nhưng hồ sơ của nhà hữu trách đã ghi chép và lưu giữ sự kiện giết người đó. 5) Câu hỏi hóc búa cuối cùng phải trả lời: “Tại sao bao nhiêu kẻ làm tội ác tày trời mà vẫn sống khơi khơi, chẳng chịu quả báo gì cả?” Chúng ta phải công nhận rằng có những tổ chức, những tôn giáo, những cá nhân gây tội ác kinh thiên động địa với nhân lọai nhưng vẫn chưa bị trừng phạt, chưa bị “trả quả”. Tại sao vậy? Lịch sử nhân lọai đã từng chứng tỏ rằng không phải con người chỉ đứng lên bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, nhiều khi con người cũng còn liều chết để bảo vệ tội ác khi họ bị lừa dối và tưởng tội ác đó là thánh thiện. Những tổ chức, những cá nhân tạo ra tội ác như vậy thế lực của họ rất lớn. Họ có khả năng mua chuộc báo chí, truyền thông tuyên truyền lừa mị, liên kết với các thế lực quốc tế hùng mạnh để khỏa lấp tội lỗi. Họ có khả năng trả thù tất cả những ai dám nói lên sự thực về tổ chức của họ. Thế nhưng ngày hôm nay do tư tưởng tiến bộ, một số thiện tri thức đã dũng mãnh đứng lên tố cáo tội ác của những tổ chức và những cá nhân này. Dù họ chưa bị “trả quả” nhưng Nhân tội lỗi đã nằm sẵn ở đó, nằm trong trí nhớ, nằm trong lương tâm của nhân lọai. Rất tiếc đời sống của chúng ta quá ngắn ngủi, không đủ dài để chứng kiến “ngày tàn” của những con người và tổ chức gian ác này. Nếu đời sống của chúng ta “đủ dài” chúng ta sẽ có dịp chứng kiến ngày “trả quả” của họ. 6) Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả: Khi đã hiểu Luật Nhân Quả rồi thì sợ không dám làm điều bất thiện chứ đừng nói tới làm điều ác. Bồ Tát là bậc đại trí, nhìn xa trông rộng mà lại tu Thánh Đạo cho nên rất sợ gieo nhân. Còn hàng chúng sinh như chúng ta coi thường Luật Nhân Quả cho nên “rất thích” gieo nhân. Khi quả xảy đến hối hận cũng quá muộn màng. Một vài thí dụ sau đây cho thấy thế nào là “gieo nhân”. Gặp một cô gái đẹp/một chàng trai đẹp, động tâm, nói lời bóng gió như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng mơ mộng rồi có ngày “cá mắc câu”. Thấy sì-ke ma túy hút thử chơi thôi, tức là đã “gieo nhân” thế nào cũng có ngày dính vào nghiện ngập. Thấy của cải của người ta sinh lòng tham, như vậy gọi là “gieo nhân” thế nào cũng có ngày tìm cách cướp bóc, chiếm đoạt. Thấy chuyện đời, bàn tán, mỉa mai chơi như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng có ngày bị vạ miệng, gây thù chuốc oán. Đem bài bạc về nhà chơi, đem gia đình con cái viếng Casino giải trí, thế nào trong số con cái cũng có đứa “Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.” Tôi có một kỷ niệm gặp gỡ một vụ “gieo nhân” cười ra nước mắt như sau: Tại một trường trung học đệ nhất cấp (cấp một) ở California mà tôi phục vụ, có một nữ sinh Việt Nam, lớp 8 mới 13 tuổi. Cô bé thường xuyên trốn học và hút xì-ke ma túy. Vì thường xuyên bỏ học, không theo kịp chương trình cho nên bà giáo nhờ tôi kèm và giảng thêm bài cho em. Nhìn cô bé tôi thương cảm vì cô bé ngoan, thông minh và chịu khó nghe giảng bài. Tôi nói, “Con à, con thông minh và xinh xắn như thế này, thế nào con cũng có một tương lai vô cùng tốt đẹp. Con ráng đi học và đừng làm cái gì bậy bạ nghe con.” Tôi không biết cô bé có xúc động gì với lời khuyên của tôi không. Nhân dịp này nhà trường cũng cho mời phụ huynh lại để thông báo. Trong lúc chờ đợi phiên họp với ông phó hiệu trưởng, tôi hỏi mẹ cô bé, tuổi chừng 40, “Em làm nghề gì vậy?” Người mẹ đáp, “Dạ, em mở quán cà-phê.” Tôi hỏi tiếp, “Cà-phê tên gì vậy em?” Người mẹ nói, “Cà-phê Quên Đời!” (2) Nghe thế tôi buột miệng kêu lên, “ Trời đất quỷ thần ơi! Thiếu gì tên đẹp như…Cà-phê Ban Mai, Cà-Phê Nắng Mới, Cà-phê Vui v.v.. sao em không đặt mà chọn cái tên Cà-phê Quên Đời?” Nghe phê bình vậy, người đàn bà nhìn tôi không nói gì. Có thể cô ta hối hận vì con cái hư hỏng, nhưng cũng có thể là, “ Trời ơi! Cái ông thầy này ở Mỹ sao lạc hậu quá! Chọn những cái tên như thế thì quán cà-phê làm sao sống được.” Quả thật vậy! Nếu quý vị tới Thành Phố Tacoma Tiểu Bang Washington, Nam hoặc Bắc Cali như Los Angeles, Westminster hoặc San Jose quý vị sẽ thấy những quán cà-phê Việt Nam với đèn mờ mờ, bồi bàn bưng cà-phê là những cô gái trẻ, đi giày cao gót, ăn mặc hở hang (sexy) quá mức và được quảng cáo công khai trên báo. Sở cảnh sát địa phương rất bực bội với những quán cà-phê này vì nó còn là nơi lén lút tiêu thụ xì-ke ma túy. Nhưng thành phố lại cho mở, vì thương mại phát triển, thành phố thu được nhiều thuế. Khách hàng thường trực của những quán này là thanh niên độc thân, hoặc gia đình đổ vỡ, thảng hoặc cũng thấy một vài ông già đầu bạc. Họ tới uống cà-phê, ngắm nghía “ rửa mắt” hoặc tán dóc (tán gẫu) với mấy cô hầu bàn, hoặc coi truyền hình rồi cá độ, nhất là các trận đấu bóng bầu dục (Football). Họ cho tiền “típ” hay ” pour bois” rất nhiều. Cứ thử tưởng tượng với một khung cảnh mờ mờ, ảo ảo “quyến rũ” như thế, một cô bé học sinh ngây thơ, một ngày nào đó vì mẹ bận, thay mẹ ngồi ở quầy tính tiền, sẽ thấy những gì và sẽ nghĩ như thế nào? Với cái Nhân xấu như thế thì cô bé có hư hỏng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Nghĩ thật đáng thương. Vậy các bạn trẻ ở Việt Nam đừng tưởng Mỹ là Thiên Đường. Đừng tưởng Luật Nhân Quả chỉ ứng dụng cho các xứ nghèo như Việt Nam, Lào, Kampuchia, Miến Điện…chứ ở Mỹ, Úc, Âu Châu thì chẳng có Nhân-Quả gì hết. Đừng nghĩ vậy. Thống kê của Bộ Tư Pháp năm 2002 cho biết con số tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù Tiểu Bang và Liên Bang Hoa Kỳ đã vượt quá 2 triệu người - con số cao nhất trong lịch sử lập quốc. Còn tại Tiểu Bang Victoria, Úc Châu, số nữ tù nhân gốc Việt đông đảo nhất, chiếm 16% trong tổng số 312 người. Trồng cần sa, gian lận trợ cấp, buôn bán ma túy, và nhất là ham mê cờ bạc đã là những lý do khiến những người phụ nữ này phải vào tù. (Thời Báo Online) Thưa các bạn, vì cuộc sống và vì “ đắm nhiễm trần cấu” mà con người đã gây Nhân, tạo Nghiệp một cách “ngay tình”mà không hề hay biết. Chúng ta tự “gieo nhân xấu” để gây khổ lụy cho gia đình, bạn bè, làng xóm, xã hội và đất nước chứ chẳng có Thần Linh (God) nào can dự vào đây. Khi Quả vụt tới thì cuống cuồng cầu nguyện van vái Thần Linh cứu giúp. Nếu Thần Linh có thật, có một chút hiểu biết và Thần Linh nói được chắc chắn đã quát mắng, “ Ngươi tự gây ra tai họa thì ngày hôm ngươi phải nhận lãnh hậu quả. Giả sử ta có khả năng cứu giúp nhà ngươi thì tại sao ta không hóa phép để cả thế giới này không bao giờ có khổ đau để cho ta đỡ mệt? Khổ đau do chính các ngươi tạo ra. Ta thì giờ đâu, từng giây, từng phút tạo ra hàng vạn, hàng vạn thứ khổ đau? Thôi đừng nói chuyện ba lơn nữa!” Vậy nếu không muốn “gieo nhân”, ngoài việc ý thức về Luật Nhân Quả, hành giả lúc nào cũng phải giữ gìn “Chánh Niệm” không để Tâm mình buông thả mông lung như “Ngựa phi ngoài đồng. Khỉ leo trên cành”. (3) Hành giả luôn luôn ở trong trạng thái cảnh giác, giống như Lão Tử nói rằng phải luôn luôn ý thức như mình đang đi trên nước sông nước đóng băng. Nếu cảnh giác được thì gọi là Định. Nói khác đi, biết mà không nói, thấy mà không bình phẩm, nghe mà không khen chê, không động tâm, đó là trạng thái “Đối cảnh vô tâm” của Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Đối cảnh mà vô tâm thì chẳng “gieo nhân” gì hết. Nếu có “gieo nhân” thì gieo nhân lành chứ không phải nhân xấu. Khi không “gieo nhân” nữa thì không có Quả. Không Nhân - Quả thì Luân Hồi chấm dứt. Không gieo nhân, không tạo ác nghiệp, an nhiên tự tại là cảnh giới của Chư Phật và Chư Vị Bồ Tát vậy. Kết Luận: Dù bạn có coi thường Luật Nhân Quả, dù bạn không tin Luật Nhân Quả, dù bạn phủ nhận Luật Nhân Quả nhưng không bao giờ bạn thóat khỏi Luật Nhân Quả. Làm ác sẽ gặp ác (Ác Giả Ác Báo) dù bạn có chạy trốn lên cung trời nào, thế giới nào, dù bạn đã chết đi, con cái bạn cũng vẫn phải trả quả mà không một Thần Linh Tối Thượng nào có thể che chở cho bạn. Thi hành luật pháp, truy tố kẻ phạm pháp ra trước pháp đình là ứng dụng Luật Nhân Quả. Thế giới hiện nay vẫn tiếp tục truy lùng những tòng phạm giết người hàng lọat trong các lò sát sinh thời Đức Quốc Xã ra trước Tòa Án Quốc Tế, cho dù kẻ đó đã thay đổi quốc tịch, thay đổi tên họ, cho dù có kẻ ngày nay đã già yếu nhưng vẫn phải điệu ra trước tòa để “trả quả”. Có nhìn thấy, có hiểu được như thế mới thấy Luật Nhân Quả thật đáng sợ. Hệ thống luật pháp, tòa án để trừng trị kẻ có tội là sự ứng dụng hiển nhiên của Luật Nhân Quả. Nếu không có luật pháp, không có tòa án để trừng trị kẻ có tội thì thế giới này sẽ biến thành thế giới của loài muông thú, tức là làm ác mà không bị trừng phạt gì cả. Để tạm thay cho lời kết luận không gì bằng trích dẫn ở đây lời của Tỳ Kheo Thích Chơn Quang trong cuốn sách Luận Về Nhân Quả xuất bản ở trong nước năm 1988 và tái bản ở Hoa Kỳ năm 2551 (Phật Lịch) tức năm 2007 (Tây Lịch) nơi trang 11 viết như sau: “ Luật Nhân Quả là nền đạo đức, công bằng hơn mọi nền đạo đức nào khác và Luật Nhân Quả cũng chính là lương tri của nhân lọai.” (4) Và lời phát biểu của Bà Christa Bentendieder, pháp danh Agganyani - Tổng Thư Ký Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc: “Đạo Phật chính là quy luật tự nhiên của trí tuệ, đó là Luật Nhân Quả.” (Buddhism as the natural law of the mind, the law of cause and effect.) (5) Đào Văn Bình (California Tháng Ba năm 2554.PL - 2011.TL) (1) website: http://www.sgi-uk.org (2) Thực ra không phải là Cà-phê Quên Đời mà là một cái tên khác nghe rất tiêu cực và bụi đời, để tránh đụng chạm, tôi đã phải dùng một cái tên hư cấu khác. (3) Tâm viên ý mã (4) Sách ấn tống không ghi địa chỉ liên lạc. Tại Hoa Kỳ quý vị có thể hỏi mua tại nhà in Papyrus 1002 South 2nd St. San Jose, CA 95112. Đây là cuốn sách khoa học, nghiên cứu công phu, đầy đủ về Luật Nhân Quả. (5) Diễn văn đọc tại Savsiripaye, Colombo (Tích Lan) nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc 1952-2002 (Tài liệu: Buddhism in Germany) NGUỒN: DAITANGKINHVIETNAM
-
Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Tổng Quát Viết bởi Nguyên Hiệp Hầu hết mọi hệ thống tư tưởng, chính trị và triết học chỉ giải quyết vấn đề con người khi sống. Như Khổng Tử nói, “Sống còn chưa biết, làm thế nào biết được chết?” Hầu hết mọi hệ thống tư tưởng, chính trị và triết học chỉ giải quyết vấn đề con người khi sống. Như Khổng Tử nói, “Sống còn chưa biết, làm thế nào biết được chết?” Từ quan niệm này nên người ta thường cho rằng quan tâm đến những vấn đề liên quan đến con người khi còn sống thì quan trọng và thực tiễn hơn là quan tâm đến những vấn đề về con người sau khi chết. Tuy nhiên, cách trả lời này đã né tránh câu hỏi làm nhiều người thắc mắc là: “Sự thật về cái chết và điều gì sẽ xảy ra sau khi chết?” Thực ra, nếu chúng ta hiểu được những gì xảy ra sau khi chết thì thái độ của chúng ta đối với cuộc sống sẽ có rất nhiều thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Cần lưu ý là Khổng Tử không nói rằng chết là tận diệt, là hết; ông cũng không nói rằng không có một đời sống tương lai sau khi chết. Đơn giản ông chỉ muốn nói: sống làm một con người có khuôn phép, có đạo đức thì quan trọng hơn đặt câu hỏi về bản chất của đời sống sau khi chết. Tuy thế, hầu hết các tôn giáo đều có lời dạy về cuộc sống sau khi chết. Có hai học thuyết đề cập đến cái chết có ảnh hưởng trong số các tôn giáo trên thế giới: một là học thuyết một đời sống và học thuyết khác là học thuyết nhiều đời sống. Thiên Chúa giáo là một trong các tôn giáo giảng dạy về học thuyết một đời sống. Theo học thuyết này thì cuộc sống của thân thể vật lý bắt đầu tại lúc được sinh ra, nhưng cũng có một thực thể tâm linh được gọi là “linh hồn” cư ngụ trong thể xác đó. Chết là sự hủy bỏ xác thân, nhưng linh hồn thì không. Sau khi chết, linh hồn tùy thuộc vào sự phán xét của đấng Tạo hóa, hoặc sẽ được lên thiên đường, hoặc sẽ bị đọa xuống địa ngục. Điều này hàm ý rằng, mỗi người chỉ có một cuộc sống trên trái đất và sau đó sẽ tồn tại vĩnh cữu hoặc đầy ân phúc trên thiên đường, hoặc chịu khổ đau ở trong địa ngục, hoàn toàn không có cơ may thoát khỏi. Hàm ý này có trình bày một sự hiểu biết trọn vẹn về lời dạy của Thiên chúa hay không thì chưa rõ. Rất có thể Chúa có nhiều điều để thuyết giảng về việc sống chết nhưng ngài không có thời gian để mang đến cho môn đồ của mình một trình độ hiểu biết cao hơn. Học thuyết về nhiều đời sống cho rằng, sự sinh ra và chết đi của một chúng sinh chỉ là một khoen trong chuỗi mắt xích vô số kiếp sống của chúng sinh đó. Trong nhiều kiếp sống khác nhau, chúng sanh đã đi lang thang trong sáu cảnh giới hiện hữu: cõi trời, cõi người, cõi a-tu-la, cõi ngạ qủy, cõi súc sinh và cõi địa ngục. Sau khi chết, con người sẽ tái sinh vào một trong các cảnh giới này. Người ấy có thể tái sanh trở lại làm người, nhưng cũng có thể làm một vị thiên, súc sanh, a-tu-la hay một chúng sanh trong cõi địa ngục. Sự thay đổi hình thức đời sống hay sự hiện hữu tiếp diễn không hạn định mãi đến khi nào chuỗi mắt xích này bị phá bỏ. Điều này mỗi khi xảy ra thì khái niệm sanh tử không còn ý nghĩa đối với người đó nữa. Ấn Độ giáo và Phật giáo thừa nhận học thuyết nhiều đời sống này, nhưng có một sự khác biệt tương đối lớn trong quan điểm của họ về sự phá vỡ chuỗi mắt xích. Ấn Độ giáo giữ vững niềm tin rằng vấn đề sanh tử trở nên vô nghĩa khi con người thể nhập với Brahman - Phạm thiên toàn năng. Phật giáo cho rằng con người giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử khi đạt được giác ngộ. Để hiểu được quan niệm của Phật giáo, trước hết chúng ta phải hiểu rằng Phật giáo giải thích vấn đề này ở hai tầm mức. Thứ nhất là tầm mức giác ngộ, đó là lúc mà chân lý tối hậu được chứng nghiệm. Và thứ hai là tầm mức thế tục, tức là ở tầm mức hiểu biết thông thường. Ở tầm mức giác ngộ, khái niệm về sống và chết không còn được bàn đến nữa. Tôi sẽ giải thích điều này sau. Tuy nhiên, ở tầm mức thế tục, Phật giáo tin vào học thuyết nhiều đời sống và thừa nhận dòng tâm thức của một chúng sanh. Trong trường hợp này, dòng tâm thức có thể tạm so sánh với Linh hồn trong Thiên Chúa giáo và Tự ngã trong Ấn Độ giáo. Trong Phật giáo, tâm thức của một chúng sanh được miêu tả như một dòng suối, trong đó, một khoảnh khắc sau được tạo ra bởi một khoảnh khắc trước. Xin đưa ra thí dụ về xâu chuỗi hạt. Sự di chuyển mỗi hạt chuỗi quyết định sự di chuyển của hạt chuỗi kế tiếp. Tuy nhiên điều quan trọng là những hạt chuỗi này được liên kết lại với nhau bằng một sợi dây; không có một thực thể vĩnh cữu vượt ra khỏi con đường nhân quả. Như vậy trong Phật giáo, sự tiếp nối của sinh mạng không có nghĩa là thân thể vật lý được chuyển tiếp vào đời sống kế tiếp, hay mọi thứ chứa trong bộ não của con người (nó cũng là một phần của thân thể vật lý) sẽ chuyển sang đời sống kế tiếp. Sự thật, thân thể vật lý thay đổi trong từng sát na. Cái được chuyển tiếp vào đời sống kế tiếp hay những đời sống tương lai, và cấu thành sự miên tục của sinh mạng là sức mạnh ảnh hưởng của những hành vi con người trong đời sống hiện tại này và trong nhiều đời sống trước. Cả Phật giáo và Ấn Độ giáo gọi điều này là nghiệp. Đến đây, chắc bạn muốn nói: “Điều đó thú vị đấy, nhưng 1: vui lòng chỉ cho tôi thiên giới và địa ngục có thể tìm thấy ở đâu? Và 2: vui lòng chứng minh cho tôi rằng, tôi đã tồn tại trước khi tôi sinh và sẽ vẫn còn hiện hữu sau khi chết như thế nào?” Để trả lời cho câu hỏi đầu tiên tôi xin được hỏi: Bạn có tin rằng mắt của bạn có thể nhìn thấy được thiên giới hay địa ngục không? Nếu một người nào đó chỉ cho bạn thiên giới hay địa ngục, bạn sẽ không nói rằng đó chỉ là một ảo tưởng, và do đó không tin nó chứ? Nếu bạn đã nghiên cứu về dòng điền từ, bạn có thể đồng ý với tôi rằng mắt con người của chúng ta chỉ có thể nhìn thấy được một phần rất nhỏ của vũ trụ, và có rất nhiều thứ mà mắt thường của chúng ta không thể nhìn thấy được. Một vài trăm năm trước đây không có người nào có thể nhìn thấy tổng thể cấu trúc bộ xương của một người đang sống, nhưng bây giờ chúng ta có thể nhìn thấy thông qua dụng cụ rọi X-quang. Chúng ta đang tiến bộ nhanh chống vào thế giới siêu vi cũng như lĩnh vực không gian. Ai biết, có thể trong nhiều năm sau, một thiết bị khám phá mới sẽ được phát minh, và phương tiện đó sẽ giúp con người nhìn thấy một độ sóng dài khác từ sóng ánh sáng mà hiện giờ chưa nhìn thấy được. Lúc đó con người có thể khám phá ra rằng, cái được gọi là địa ngục thì ở ngay trên trái đất này; hay những thiết bị về không gian sẽ gửi trở lại một vài bức ảnh về không gian mà những bức ảnh đó chụp lại một trong những cõi trời hay những thế giới mà Phật giáo đã thừa nhận. Còn để chứng minh rằng con người đã tồn tại trước đó và vẫn tiếp diễn sau khi chết thì có một số tài liệu đã đề cập đến. Những tài liệu này ghi lại rằng, có những người bình thường đã nhớ lại được những đời sống quá khứ của họ, hoặc cụ thể như các vị Lạt ma Tây Tạng, họ có thể tiên đoán nơi mà họ sẽ tái sanh trở lại. Nhưng ở đây tôi muốn sử dụng một phương pháp khác để chứng minh điều này. Có một vài hiện tượng trong vũ trụ mà chúng ta có thể dùng để giải thích khái niệm về sanh và tử, và điều này có thể đưa ra một vài đầu mối để trả lời cho câu hỏi đầy bí ẩn mà các bạn muốn hỏi ở trên. Lý do đơn giản đã thuyết phục tôi rằng giải pháp này có giá trị là vì con người chúng ta không khác hơn một sản phẩm của tự nhiên và hoàn toàn bị chi phối bởi những định luật tự nhiên như trọng lực. Do đó, những định luật biểu thị đặc tính của những hiện tượng tự nhiên khác có thể áp dụng thích hợp đối với con người. Khi tôi nghiên cứu câu hỏi này, thú vị thay, tôi đã tìm ra một vài hiên tượng trong vũ trụ có sự tương ứng thích hợp đối với học thuyết nhiều đời sống. Hiện tượng đơn giản nhất và dễ dàng nhất để chúng ta lãnh hội là sự đa dạng của H2O. Chúng ta đều biết H2O phải không? Vâng, H2O là công thức hoá học của nước. Nghĩa là cứ hai phân tử Hydro thì có một phân tử Oxy. Công thức H2O không thay đổi dù khi nước bốc hơi tại điểm sôi hay đóng thành băng tại điểm đông đặc. H2O không sai khác khi nó ở dạng hình thể kết tinh trắng, đẹp mà người ta thường gọi là tuyết; hay trong trường hợp chất lỏng, giăng mắc trong không trung và người ta thường gọi là sương. Đến đây một ý tưởng rất thú vị sinh khởi. Nước biến mất khi nó biến đổi thành hơi nước hay đông thành đá. Bạn sẽ không nói rằng vào lúc đó, nước chết đi và hơi nước hay đá được sanh ra phải không? Hay khi tuyết tan và trở thành nước, vào lúc đó bạn sẽ không nói rằng tuyết bị chết và nước được sanh ra phải không? Điều này sẽ đúng khi nước đơn giản được xem là nước. Tuy nhiên, nếu nước không những được nhận diện là nước mà còn là H2O thì khi đó khái niệm về sinh ra và chết đi không còn là vấn đề nữa. H2O vẫn không thay đổi khi hình thức của nó chuyển từ nước sang hơi nước hay băng và ngược lại. H2O thật sự không bị trãi qua “sống và chết” mặc dầu hình dáng và các đặc tính vất lý của nó có thể biến đổi thành những tên gọi khác nhau. H2O cũng sẽ không bị chết và tái sinh trong tương lai cho dù hình thái và các đặc tính vật lý của nó sẽ thay đổi rất nhiều lần, mãi đến cuối cùng H2O bị phân chia thành Hydro và Oxy. Từ phép suy loại này chúng ta có thể thấy rằng học thuyết về nhiều đời sống như Ấn Độ giáo và Phật giáo đã đưa ra thì chí lí và gần với sự thật hơn những học thuyết khác. Do đó, tôi suy ra những kết luận sau đây: 1- Trong vũ trụ cũng có một thực thể tương tự như H2O. Thực thể đó, tôi tạm thời gọi là “X”. Từ X này, biểu hiện ra những hình thức khác nhau của một chúng sanh, tức là: chư thiên, loài người, A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh và chúng sanh ở địa ngục. Trong Thiên Chúa giáo và Ấn Độ giáo, X được gọi là linh hồn. 2- Sáu hình thức hiện hữu luôn chuyển đổi vị trí. Như một con người có thể tái sanh làm một vị thiên, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ hay chúng sanh ở địa ngục. Cũng như vậy một chúng sanh ở địa ngục cũng có thể tái sanh ở những hình thức khác nhau bao gồm cả loài người. 3- Theo Phật giáo, một người không thể sống trên thiên giới mãi mãi hay đọa vào trong địa ngục vĩnh hằng. Cuộc sống luôn tiếp diễn, hình thức của nó thay đổi liên tục. Hiện tượng trôi chảy liên tục của chết đi và tái sanh trở lại trong sáu cảnh giới này được gọi là luân hồi tái sanh. 4- Khái niệm về sanh và chết chỉ có nghĩa khi nào con người được đề cập đến như một đối tượng cụ thể. Nếu vấn đề được chuyển đổi trở lại chính bản chất nguyên thủy của đối tượng đó thì khái niệm về sống và chết không còn tác dụng. Nước và H2O là một ví dụ: nước là một đối tượng được xác định cụ thể, nó có thể thay hình đổi dạng, nhưng H2O thì bản chất nó luôn luôn như vậy dù khi nó ở dạng nước, tuyết, hay sương. 5. Đây là điều quan trọng: nếu một người còn chấp chặt mình là một con người có tự ngã thì người ấy còn phải trãi qua sống và chết. Cũng như thế áp dụng đối với nước: nếu nước được nhận diện như là nước thì chúng ta thấy nó có sinh ra và mất đi khi nó thay đổi hình dạng. Nhưng nếu một người nhận mình như là X, thì không có sự chết đi, dù khi hình dạng của X biểu hiện dưới hình thức một con người bị hủy diệt. Như vậy ta thấy, chỉ có một sự thay đổi liên tục về hình thức, trong khi X vẫn không thay đổi. Thêm nữa, áp dụng tương như vậy, nếu nước được xem như là H2O thì nước không có sinh ra mất đi. Do đó, nếu chúng ta khát khao chấm dứt sanh tử luân hồi, điều đầu tiên chúng ta nên làm là xa rời việc chấp thủ tự ngã. Đáng tiếc thay, điều này hoàn toàn đi ngược lại bản năng dục vọng của chúng ta. Chúng ta xưa này luôn chấp thủ rằng chúng ta là những con người thực hữu, và đó là lí do tại sao chúng ta trầm luân trong luân hồi. Như thế mục đích cốt tủy của lời dạy đức Phật là giúp chúng sanh tự giải thoát ra khỏi luân hồi. Do đó, cốt tủy của Phật giáo là dạy con người nên xem mình như X. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là Phật giáo không dạy chúng ta xem X như là linh hồn. Linh hồn không phải là thực thể tối hậu; nó vẫn bị chết đi, giống như H2O bị phân thành Hydro và Oxy. Phật giáo dạy chúng ta xem bản thân mình như X khi được giải thích ở tầm mức giác ngộ. Ở tầm mức giác ngộ, chúng ta biết rằng X là điều không thể lãnh hội được bằng giác quan con người, mà nó chỉ có thể được thực chứng và được thừa nhận bằng tuệ giác. Nhưng nếu vấn đề là như vậy thì làm sao chúng ta có thể hiểu và giải thích nó đây? May mắn thay, bằng khoa học hiện đại, tôi đã tìm ra một điều mà nó có thể giúp chúng ta rất nhiều nhằm hiểu được việc giải thích về X ở cấp độ giác ngộ. Đó là năng lượng. Trong khoa học hiện đại mà chúng ta học thì vạn vật ở trong vũ trụ đều là hình thức của năng lượng. Điện, hơi nống, ánh sáng, lửa, âm thanh, phản ứng hóa học, vật chất.., tất cả đều là những biểu hiện khác nhau của năng lượng. Chúng ta không thể nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm, hay xúc chạm năng lượng, nhưng khắp nơi trong vũ trụ những hình thức của nó thì vô số lượng, có thể nhìn thấy, nghe thấy, ngửi được, nếm được, xúc chạm hay nói cách khác là nó được khám phá bằng các giác quan của con người. Do đó, năng lượng được xem như cái cốt lõi của vạn vật. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng, năng lượng cũng chỉ là một danh xưng do con người đặt ra. Sự thực, định nghĩa về năng lượng đã được thay đổi từ khi từ này lần đầu tiên được sử dụng. Như vậy, xin đừng chấp chặt cứng nhắc định nghĩa của từ điển về từ ngữ. Tôi có thể lý giải từ này khác hơn những nhà khoa học đã thực hiện. Từ năng lượng, như tôi dùng nó ở đây, được đặt cho một vật nào đó trong vũ trụ mà nó bao hàm toàn thể vạn vật, và không thể nhìn thấy, nghe, ngửi, nếm, hay xúc chạm bằng các quan năng của con người, nhưng bản thân nó có thể biểu lộ trong trong rất nhiều hình thức khác nhau mà chúng ta có thể khám phá được bằng các giác quan. Bởi vì nó bao hàm trọn vẹn toàn thể vạn vật, nó không thể bị tăng lên hay giảm xuống; nó không có sự chuyển động. Tóm lại: năng lượng là vũ trụ và vũ trụ là năng lượng. Nếu bạn có thể lãnh hội được những gì tôi vừa trình bày ở trên về năng lượng thì bạn sẽ không gặp mấy khó khăn trong việc hiểu X như đã được giải thích theo Phật giáo ở tầm mức giác ngộ. Theo Phật giáo, dựa vào giác ngộ, con người có thể nhận chân được X của họ, và chính X đó, bao hàm hết thảy vạn vật; X đó là vạn vật và vạn vật là X; X không bị tăng hay giảm; X đó như như bất động, và X đó không ô nhiễm cũng không thanh tịnh. Bởi vì quá khó khăn để giải thích X và lĩnh hội được X, cho nên hơn 2.500năm qua, những nhà Phật học đã đặt cho nó nhiều tên gọi khác nhau trong nỗ lực làm sáng tỏ khái niệm. Thuật ngữ đơn giản nhất, theo ý tôi là “Bản Thể”. Chữ “thể” có nghĩa rằng tất cả thế giới hiện tượng đều phát xuất từ đó, thay vì hiện hữu riêng lẽ. Khác với quan niệm về linh hồn, bản thể không hàm ý sự riêng biệt của một cá thể. Không thể có những bản thể khác nhau: X này là của tôi, là của anh, là của mọi người, và của vạn vật. Do vậy, có thể nào X lại bị chết? làm thế nào có thể áp dụng khái niệm về sống và chết đối với X? Cho nên, bản thể này là điều chúng ta cần nhận biết. Chúng ta chỉ biết được điều này rõ ràng khi chúng ta giác ngộ và thể tánh của chúng ta được hiển lộ; còn nếu chúng vẫn còn trầm luân trong sinh tử luân hồi thì khó lãnh hội được. Do đó, Phật giáo là một bài học mà chúng ta nên nghiên cứu một cách nghiêm túc, bởi vì nó cung cấp cho chúng ta nhưng phương pháp nhận chân và thừa nhận bản thể của chúng ta. Bằng cách này chúng ta có thể giải thoát chính mình ra khỏi sự sống chết vô cùng tận, là nguồn gốc của tất cả mọi khổ đau. Tuy nhiên, tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, trong đời sống hàng ngày của chúng ta, học thuyết về nhiều kiếp sống thậm chí còn quan trọng hơn cả tuệ quán về X, bởi vì tất cả chúng ta đều chưa giác ngộ và vẫn còn bị luân hồi. Sẽ hết sức sai lầm khi thờ ơ với học thuyết nhiều đời sống và nghĩ đơn giản: “Tôi là vạn vật và vì thế không có sự chết đi”, cho nên khi cái chết đến, chúng ta vẫn còn sợ hãi. Để kết luận buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin trình bày một vài quan điểm của tôi về hai hiện tượng xã hội quan trọng trong đời sống hàng ngày của chúng ta: 1. Giết người không có nghĩa là sự loại trừ một đối thủ và giành lấy được chiến thắng như con người thường nghĩ. Bởi vì chỉ có hình thức con người vật lý bị hủy hoại, nên nạn nhân vẫn còn hiện hữu. Do vậy đó không phải là một sự chiến thắng, và điều đó có thể là đầu mối của những vấn đề bất an. 2. Tự sát không có nghĩa là kết thúc khổ đau. Thân thể con người vật lý có thể bị hủy bỏ nhưng đời sống vẫn tiếp tục. Vấn đề đó có thể trở nên phức tạp và nghiêm trọng nhiều hơn từ kết quả của việc tự sát. Như tôi đã nói ngay lúc bắt đầu buổi nói chuyện này, thái độ sống có thể thay đổi rất nhiều nếu chúng ta biết được những gì xảy ra sau cái được gọi là chết. Những khoa học gia, những chính trị gia và triết gia nào mà làm ngơ với vấn đề quan trọng này thì có thể đang dấn thân vào sự sai lầm nghiêm trọng vì sự thiển cận của mình. Bởi vậy, chúng ta cần phải thận trọng và cân nhắc khi đánh giá một vấn đề./. Nguyên Hiệp dịch daitangkinhvietnam
-
cảm ơn bác!Theo cháu được biết thì năm nay cháu bị hạn thiên tinh, sao thái bạch chiếu mạng (thái bạch sạch cửa nhà), cháu lại mạng mộc nên sao thái bạch phát tán rất mạnh. Phần bệnh tật thì hiện tại đang hoành hành cháu. Nhưng bệnh nan y (xoang) nên chữa cũng không khỏi liền được. Năm tân Mão ở cung tật ách (tân mão)có sao thiên sứ chiếu mạng rất nguy hiểm có thể die khi nào không biết nhưng ở cung tật ách thiên sứ vào lưu thiên sứ không cùng một cung nên có thể không chết phải không bác???????
-
Tình yêu cuộc sống Cuộc sống với đầy những khó khăn thử thách có lúc đã khiến tôi tưởng chừng gục ngã và buông xuôi tất cả. Thế nhưng ngay chính những lúc ấy lời khuyên của cô, người cô thân yêu hiền dịu, lại vang lên, nâng đỡ tôi tiếp tục đứng lên và tìm lại niềm vui trong cuộc sống. Đó chính là cô giáo dạy tôi những năm học cấp 3, cô S. Chồng cô đột ngột qua đời vì cơn đau tim bộc phát, bỏ lại cô với những năm tháng hạnh phúc xa xôi. Bọn học trò chúng tôi ai cũng lo lắng và cùng chia sẻ nỗi buồn với cô. Cả lớp học im ắng hơn thường lệ, không ai trò chuyện, cười đùa với nhau như trước nữa. Thấy vậy, cuối giờ học, cô đã yêu cầu chúng tôi ngồi lại và tâm sự: "Sau mất mát lớn này, cô nhận ra một điều hết sức quan trọng và cô muốn chia sẻ cùng các em. Chúng ta được sinh ra trên thế gian này là để học hỏi, để yêu thương, để chia sẻ, để trân trọng chính bản thân mình và người khác. Thế nhưng điều tuyệt vời này có thể sẽ đột ngột mất đi mà ta không thể nào biết trước. Chính vì thế chúng ta cần phải trân trọng từng giây phút mình đang sống và phải sống thật hết mình. Mỗi ngày, trên đường đến trường hay về nhà, các em hãy chú ý ngắm quang cảnh xung quanh, cố gắng tìm trong quang cảnh ấy những gì thật đẹp, thật tuyệt diệu. Điều tuyệt diệu đó có thể là một mùi hương thoang thoảng của những chùm hoa nơi góc phố hay âm thanh xì xào của những tán lá, có thể là vị ngọt ngào của những que kem và cũng có thể là những giây phút lãng mạn được dạo quanh bờ biển ban đêm với đôi chân trần trên cát. Những điều nhỏ nhoi ấy đều góp phần tạo nên vẻ đẹp của cuộc sống. Hãy cố gắng tận hưởng những vẻ đẹp ấy vì chúng có thể mất đi bất cứ lúc nào. Hãv cố gắng tận hường bởi vì khi về già chúng ta thường hay hối tiếc về những gì mình chưa từng cố gắng làm, chứ không phải những gì chúng ta đã từng làm." Cuộc sống không được tính bằng số lần chúng ta thở mà bằng những giây phút chúng ta được nín lặng để tận hưởng điều kỳ diệu của cuộc sống.
-
Ba người thầy vĩ đại Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?" Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta. Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm." Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc. Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!" Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động. Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp: "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?" Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: "Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?" Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình. Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật. Người thầy là người thông qua đó ta bắt đầu học cách học hỏi. Người thầy cũng như một hồ nước nơi chúng ta đang học bơi. Một khi chúng ta đã học được cách bơi, cả đại dương mênh mông là của chúng ta."
-
Giàu và nghèo Một ngày nọ, người cha giàu có dẫn con trai đến một vùng quê để thằng bé thấy những người nghèo ở đây sống như thế nào. Họ tìm đến nông trại của một gia đình nghèo nhất nhì vùng. "Đây là một cách để dạy con biết qúy trọng những người có cuộc sống cơ cực hơn mình" – người cha nghĩ đó là bài học thực tế tốt cho đứa con bé bỏng của mình. Sau khi ở lại và tìm hiểu đời sống ở đây, họ lại trở về nhà. Trên đường về, người cha nhìn con trai mỉm cười: "Chuyến đi như thế nào hả con?" - Thật tuyệt vời bố ạ! - Con đã thấy người nghèo sống như thế nào rồi đấy! - Ô, vâng. - Thế con rút ra được điều gì từ chuyến đi này? Đứa bé không ngần ngại: - Con thấy chúng ta có một con chó, họ có bốn. Nhà mình có một hồ bơi dài đến giữa sân, họ lại có một con sông dài bất tận. Chúng ta phải treo những chiếc đèn lồng vào vườn, họ lại có những ngôi sao lấp lánh vào đêm. Mái hiên nhà mình chỉ đến trước sân thì họ có cả chân trời. Chúng ta có một miếng đất để sinh sống và họ có cả những cánh đồng trải dài. Chúng ta phải có người phục vụ, còn họ lại phục vụ người khác. Chúng ta phải mua thực phẩm, còn họ lại trồng ra những thứ ấy. Chúng ta có những bức tường bảo vệ xung quanh, còn họ có những người bạn láng giềng che chở nhau… Đến đây người cha không nói gì cả. "Bố ơi, con đã biết chúng ta nghèo như thế nào rồi…" – cậu bé nói thêm. Rất nhiều khi chúng ta đã quên mất những gì mình đang có và chỉ luôn đòi hỏi những thứ gì không có. Cũng có những thứ không giá trị với người này nhưng lại là mong mỏi của người khác. Điều đó còn phụ thuộc vào cách nhìn và đánh giá của mỗi người. Xin đừng quá lo lắng, chờ đợi vào những gì bạn chưa có mà bỏ quên điều bạn đang có, dù là chúng rất nhỏ nhoi
-
Thấy vậy nhưng… không phải vậy Hai thiên thần trên đường đi chu du đây đó đã dừng lại xin tá túc qua đêm tại một gia đình giàu có. Gia đình này đã để hai thiên thần nghỉ trong một không gian nhỏ hẹp dưới tầng hầm lạnh lẽo thay vì tại phòng khách của ngôi nhà lớn. Khi đặt lưng xuống nền nhà thô ráp, thiên thần lớn tuổi nhìn thấy một lỗ hổng trên tường. Ông ngồi dậy vá nó lại. Thiên thần bé nhỏ hỏi tại sao ông phải làm như vậy. Ông mỉn cười trả lời: “Sự việc không phải lúc nào cũng như ta nhìn thấy”. Đêm hôm sau họ đến trọ tại một gia đình nông dân nghèo khổ. Sau khi chia sẻ phần thức ăn ít ỏi của gia đình, hai vợ chồng nông dân đã nhường chiếc giường ngủ của họ cho các thiên thần. Sáng hôm sau, khi mặt trời lên cao, hai thiên thần nhìn thấy vợ chồng người nông dân đang ngồi khóc. Con bò, nguồn thu nhập duy nhất của gia đình đã nằm chết trên cánh đồng. Thiên thần bé nhỏ vô cùng phẫn nộ và hỏi thiên thần lớn tuổi: “Tại sao ông lại để chuyện này xảy ra? - Gia đình thứ nhất có tất cả mọi thứ nhưng không muốn chia sẻ với người khác thì ông lại giúp đỡ họ. Còn gia đình thứ hai, chẳng có gì nhưng sẵn sàng chia sẻ mọi thứ thì ông lại để cho con bò của họ chết”. Thiên thần lớn tuổi vẫn chỉ trả lời; “Sự việc không phải lúc nào cũng như những gì ta nhìn thấy”. Sau đó, ông nói: “Khi chúng ta ở trong tầng hầm của toà nhà lớn, ta nhìn thấy vàng được cất giữ trong lỗ hổng trên tường. Chính vì người chủ nhà quá ích kỷ nên ta đã vá bức tường ấy lại để họ không thể tìm thấy vàng. Còn đêm hôm sau, khi chúng ta ngủ trên giường của vợ chồng người nông dân, thần chết đã đến bắt vợ chồng họ đi. Và ta đã cho con bò thế mạng. Sự việc không phải lúc nào cũng như những gì ta thấy”.!
-
Hai đứa trẻ nọ có một người cha tối ngày say xỉn. Tuổi thơ của chúng trôi qua với hình ảnh một người cha rất đáng sợ mỗi khi nhậu say về. Năm tháng qua đi, hai cậu đã lớn và mỗi người có một cuộc sống của riêng mình. Một nhà tâm lý học đi tìm thực tế cho bài nghiên cứu "Tác động của sự say xỉn" đã tìm đến hai người. Một người giờ đây đã trở thành phiên bản mới của cha cậu ngày xưa: một tay bợm nhậu suốt ngày chìm trong bia rượu. Còn người kia lại là một trong những người đi đầu trong việc phòng chống bia rượu. Nhà tâm lý học hỏi người đầu tiên: "Tại sao anh trở thành bợm nhậu?" Và hỏi người thứ hai: "Tại sao anh lại tham gia phong trào bài trừ rượu bia?" Thật là bất ngờ, cả hai cùng đưa ra một câu trả lời: "Có một người cha như vậy đương nhiên là tôi phải trở thành người như thế này rồi." Có ai đó đã từng nói: "Cảnh khổ là một nấc thang cho bậc anh tài, một kho tàng cho kẻ khôn khéo, một vực thẳm cho kẻ yếu đuối." Hoàn cảnh không bao giờ là nguyên nhân cho những hành động không đúng mực, tiêu cực hoặc sai trái. Nó chỉ là lý do để những kẻ lười biếng, không có ý chí và tâm hồn hẹp hòi vịn vào đó để tự bào chữa cho mình mà thôi. Trong cuộc sống, không có trở ngại nào lớn bằng việc mình cho bản thân mình cái quyền được vấp ngã. Những dấu chân Một đêm nọ, tôi nằm mơ thấy mình được cùng cha đi dạo trên bãi biển. Những kỷ niệm trong đời như một cuốn phim chiếu chậm khẽ lướt qua đầu tôi. Từng việc từng việc qua đi để lại trên cát hai hàng dấu chân, một của tôi và một của cha. Khi cảnh cuối của bộ phim sắp hết, tôi ngoái đầu nhìn lại. Tôi nhận thấy đôi lúc trên con đường ấy chỉ có một hàng dấu chân. Đó chính là những khoảng thời gian buồn bã và thất vọng nhất của cuộc đời tôi. Điều này khiến tôi rất thất vọng. Tôi đã không kềm được lòng và thắc mắc với cha: "Cha ơi, cha đã nói rằng một khi con trải lòng mình ra với cha thì cha sẽ cùng con đi hết mọi nẻo đường. Nhưng tại sao trong những giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời con, chỉ còn 1 mình con bước đi. Tại sao khi con cần cha nhất thì cha lại rời bỏ con hả cha?" Cha tôi âu yếm nhìn tôi và trả lời: "Con yêu quý của ta! Ta yêu con và không bao giờ để con phải chịu đựng một mình. Con chỉ nhìn thấy một hàng dấu chân là vì khi ấy ta đang cõng con trên lưng ta, con ạ!"
-
Sống và chết có gì khác nhau? Khi chúng ta được sinh ra đời, người vui mừng không phải là bản thân chúng ta, mà là cha mẹ, người thân của chúng ta; sau khi chúng ta chết, người khóc lóc cũng không phải là bản thân chúng ta, mà là con cái, người thân của chúng ta. Chúng ta không vui sướng vì ra đời, vì lúc đó không biết vui sướng; chúng ta không khóc lóc vì chết đi, vì sau khi chết sẽ không còn cảm giác. Chúng ta không cách gì phát biểu cho cuộc sống, vì khi phát biểu ta đã được sinh ra rồi, bất luận được sinh ra trong một hoàn cảnh như thế nào, chúng ta đều không có tư cách quyết định; chúng ta cũng không cách gì rơi lệ cho cái chết, vì cho dù có chống trả thì sinh vật nào cũng phải chết. Chúng ta mở đầu cuộc hành trình bằng tiếng khóc của bản thân, rồi lại kết thúc mạng sống trong tiếng khóc của người thân. Chúng ta rời khỏi cơ thể mẹ mà ra đời, rồi lại rời khỏi thế giới này mà chết đi. Chúng ta được đẩy lên sân khấu cuộc đời, rồi lại bị kéo xuống. Chúng ta tựa hồ không hề có một quyền lực can thiệp nào vào hai vấn đề lớn nhất của cuộc đời, là sự sống và cái chết. May mà trong vấn đề này, chúng ta vẫn có thể có một chút hành vi để khiến bản thân sinh ra bình thường, nhưng có thể chết vĩ đại. Ra đời trong cơn đau đẻ của một mình người mẹ, nhưng có thể từ bỏ thế gian này trong tiếng khóc đau thương của hàng triệu con người.