Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

nguoivosu

Hội viên
  • Số nội dung

    211
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by nguoivosu

  1. Đám mây lạ hình rùa khổng lồ trên bầu trời thành Vinh Thứ hai - 16/05/2011 10:17 17 giờ 30 chiều qua, 15.5, trên bầu trời phía Nam Thành phố Vinh – Nghệ An, xuất hiện một đám mây kỳ lạ giống hệt hình một “cụ rùa” khổng lồ. Đám mây di chuyển trong ánh nắng cuối ngày, phủ một màu vàng chói phía “đầu” và “mai” “cụ rùa” càng làm tăng thêm sự tò mò của người xem. Hình ảnh được phóng viên ghi lại từ nghĩa trang liệt sỹ Thành phố Vinh, trong buổi lễ Giáo hội Phật giáo Nghệ An đến dâng hương cho các liệt sỹ tại đây nhân dịp lễ Phật Đản. Đám mây hình rùa tồn tại khoảng 30 phút khiến nhiều người xuýt xoa, và dùng máy ảnh, điện thoại để chụp hình lưu niệm. Tác giả bài viết: Hải Đăng Nguồn tin: Báo Dân Việt
  2. Sống gần một nước quá lớn cũng không sướng gì nhất là nước lớn châu Á có những chiến lược âm thầm, tinh xảo về mọi mặt mà khi xẩy ra mới biết thực hư...Mình tổ chức bầu cử ở TRường Sa thì TQ lại trả đũa bằng lệnh cấm bắt cá. Luôn có sự qua lại ko cân bằng. Được biết TQ còn xây dựng rất nhiều đảo nhân tạo quanh khu vực 2 Quần Đảo TS và HS. Thật không vui vẻ lắm khi ở cạnh một nước lớn (Lớn như Nga cũng ngán TQ nói chi mình). Nói như thế để biết và xây dựng đất nước mình chứ ko có ý gì. TQ từng tuyên bố ở đâu có xương người Hán thì đó là đất của họ, nói như thế ý muốn nói đến 2 hòn đảo của VN nhưng nói rộng ra thì Hà Nội và nhiều nơi khác của mình thiếu gì xương của Quân Hán, Thanh để lại...
  3. Kinh địa tạng trọn bộ KinhDiaTang_3 KinhDiaTang_2
  4. NHững thực tế Chứng kiến: + NHớ khi còn bé, mỗi con rắn đen vàng, đên trắng bán cho lái buôn để đưa sang TQ kiến được 20 ngàn. Cả làng đi tìm rắn để bán. Sau 2 năm rắn cạn chuột đầy đồng. TQ bán thuốc chuột trở lại cho người dân, trong thuốc chuột có thuốc kích dục chuột. ăn vào đẻ ác hơn. + Đặc sản ốc nhồi ko ai thể quên nếu từng ăn, giờ tìm đâu ra, con ốc vàng đã ăn hết ốc nhồi. Về ốc vàng, cả làng ai cũng có vài cái lon nuôi ít nhất 10 con ốc vàng thấy rất thích...sau một thời gian ốc vàng cắn lúa hết đồng ốc nhồi mất. + Rùa là Vật thiêng liêng của VN, lúc đầu ở TQ đồn lên thu mua rùa tai đỏ giá cực cao (người Việt sang) mua lén lút đưa về...nuôi lớn....TQ ngừng...rùa tai đỏ tràn ra môi trường. ........................... ........................... chưa nói đến các loại công cụ máy gặt đập liên hợp, xe máy dream Việt, trái cây..... + Giờ đến con đĩa, nếu ai gặp đĩa thì biết nó kinh khủng đến mức nào? nó là loài hút máu người và động vật, phá hoạt môi trường cực ác.
  5. Nhân Lễ Phật Đản 2011 năm, kính gửi lời chúc đến các sư thầy, ni cô phật tử... sức khỏe, an lành. Cầu cho Quốc thái Dân an...người người được ấm no hạnh phúc. Nam Mô A Di Đà Phật! Tải kinh địa tạng: ĐƯợc upload từ đĩa CD mp3 mua từ Chùa Đà Na Ni Trảng Bom-Đồng Nai KinhDiaTang
  6. THÔNG ĐIỆP SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT Thích Thông Huệ Vào ngày trăng tròn cách đây trên 25 thế kỷ , có một bậc vĩ nhân xuất hiện ở đời . Đó là Thái Tử Sĩ Đạt Ta, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Ngài sinh vào cung vua Tịnh Phạn, năm 563 trước Tây Lịch . Cuộc đời Ngài từ lúc sinh cho tới lúc nhập diệt là một cuộc đời hết sức đẹp đẽ và đầy ý nghĩa . Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng đức tính và trí tuệ của Ngài vẫn còn mãi với con người và cuộc đời . Hôm nay là ngày Phật đản chúng ta cần ôn lại một đôi điều trong các kinh điển Phật giáo để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Đức Từ Phụ, nguyện noi gương Ngài luôn tinh tấn trên bước đường tự lợi tự tha . Theo truyền thuyết khi sinh ra đi được bảy bước, mỗi bước có hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất , Ngài đọc bài kệ như sau : Thiên thượng thiên hạ . Duy ngã độc tôn Nhất thiết thế gian Sinh lão bệnh tử Tạm dịch : Trên trời và dưới trời Chỉ có Ta trên hết Tất cả trong thế gian Đều sinh lão bệnh tử Những hình ảnh trên đây mang nhiều ý nghĩa rất thâm sâu. Vì sao Thái Tử Sĩ Đạt Ta đi bảy bước mà không nhiều hoặc ít hơn? Con số bảy nói lên điều gì? Về mặt thời gian , người ta thường cho là có ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai . Về không gian thì có bốn phương chính Đông, Tây, Nam, Bắc . Những quan niệm về thời gian và không gian, thật ra chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải lẽ thật . Cho nên hình ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài đã siêu vượt được thời gian và không gian, không còn bị ràng buộc trong những qui ước tương đối của con người . Về hoa sen, tất cả Phật tử đều biết một đặc điểm rất tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn nhơ mà vươn lên rồi tỏa hương thơm ngát . Hoa sen ở trong bùn mà không bị lấm bùn, không bị bùn nhơ làm ô nhiễm . "Giữa đống rác nhơ bẩn Nơi ấy hoa sen nở Làm đẹp ý mọi người…" Thái tử cũng thế , sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sanh nhưng không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục . Bài kệ bốn câu Ngài đọc đã làm một số người hiểu lầm . Đạo Phật là đạo vô ngã, tại sao vị giaó chủ lại đề cao cái "ta" của mình quá đáng như thế ? Nếu đọc kỹ hai câu sau, chúng ta mới thấy cái ý nghĩa uyên áo trong đó . Tất cả chúng sinh không ai thoát được bốn điều khổ não là sinh, già, bệnh, chết, dù ở cõi chư Thiên (trên trời) hay cõi người (dưới trời) . Chỉ riêng "ta" là trên hết, vì "ta" đã thoát được sự ràng buộc này . Thử hỏi tất cả những hình tướng của thế gian, cái gì không chịu sự chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có diệt, có hình tướng thì phải có huỷ hoại, dù là thân hình có 38 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái Tử . Vì thế cái "ta" ở đây dứt khoát không phải là cái ngã hữu hình hữu hoại của Ngài, mà chính là cái "Chơn ngã" . Đó là chơn tâm, Phật tánh, là bản tâm thanh tịnh, là Phật tri kiến, là tâm viên giác, là bản lai diện mục …Nó còn vô số tên vì bản chất nó không có tên . Nó không có hình tướng nên không thể bị hủy diệt . Nó trùm khắp vạn hữu nên siêu việt cả không gian và thời gian . Tất cả mọi hàm linh đều có cái ngã này, không ai hơn không ai kém, Phật đã nhận ra và sống viên mãn với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi . Hiểu được những điều này, chúng ta thấy mình được đôi phần an ủi . Nếu chúng ta ngồi trong tư thế thiền toạ, tâm an định không bị vọng tưởng lôi dẫn thì rõ ràng ngay lúc ấy chúng ta cũng ngồi trên toà sen . Nếu chúng ta đi từng bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện tại mà không duyên theo các pháp, thì mỗi bước đi của chúng ta cũng có hoa sen nâng chân . Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội rửa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở trong cuộc đời mà không bị nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó , ánh trực giác đột nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ bao đờikiếp sẽ bị xua tan không còn dấu tích . Trong kinh A Hàm có câu : "Mộ chúng sinh duy nhất , một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì lòng bi mẫn , vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người ". Vì sao Đức Phật gọi là "một chúng sinh"? Ở đây ta phải hiểu chữ "chúng sinh" theo nghĩa, các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà thành . Như vậy, thân tướng của Đức Phật , dù vẻ đẹp và tướng tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất tịnh và vô thường như mọi người . Do đó Ngài cũng là con người. là chúng sinh; nhưng khác với chúng ta ở chỗ, Ngài là một con người phi thường, một chúng sinh duy nhất . Bởi vì Ngài là một chúng sinh duy nhất không còn tham sân si, không còn lậu hoặc phiền não . Bởi vì Ngài là một con người tuy sinh ra nơi chốn trần lao, nhưng tự tại với tất cả mọi cám dỗ của ngũ dục lục trần . Sự xuất hiện của Đức Phật nhằm mục đích cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và loài Ngươì . Cuộc đời Ngài là tấm gương sáng chói về sự quên mình, để đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối thượng cho chúng sinh . Kinh Pháp Cú –193, Phật dạy :"Khó gắp được Như Lai, không phải đâu cũng có . Chỗ nào Phật đản sinh nơi đó tất an lạc". Nếu cho rằng Như Lai là Đức Phật có 32 tướng tốt, gọi là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất khó gặp . Đức Phật Tích Ca ở A? Độ đã nhập diệt trên 2500 năm, đến nay chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời . Nhưng nếu hiểu theo tinh thần kinh Kim Cang, Như Lai tức không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta toạ thiền, tâm lặng lẽ mà hằng tri, thì ấy Như Lai đã hiện tiền . Một niệm tỉnh giác thì Đức Phật ra đời , vì Phật là Giác . Một niệm điên đảo chạy theo trần cảnh thì Đức Phật nhập diệt . Khi Như Lai tự tâm đản sinh , nghĩa là lúc tâm an định sáng suốt , thì rõ ràng nơi ấy tức khắ được an lạc . Trong kinh Pháp Cú – 182 : " Được sinh ra làm người đã là khó . được sống lại càng khó hơn . Được nghe chánh pháp là khó . Được gặp Đức Phật ra đời là rất khó ." Quả thật ,được làm thân người là khó , vì thế giới loài người gồm 4 châu nhân gian , còn các cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ , …Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường thì ở những nơi quá sung sướng (như cõi trời ) hoặc quá khổ sở ( như địa ngục ) , chúng sinh ít có điều kiện được nhắc nhở để tiến tu . Còn cõi người thì không quá sung sướng mà cũng không quá khổ cực , nhiều khi gặp những thăng trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất mát , đó là những cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý nhân quả , từ đó nguyện đi theo con đường Đức Phật dạy . Trong bốn cái khó ở trên , được gặp Phật ra đời là khó nhất . Trong một thế giới không bao giờ có hai vị Phật xuất hiện đồng thời . Chỉ khi nào giáo pháp của vị Phật trước đã hết lưu truyền , thì vị Phật sau mới ra đời . Hiện nay, dù trong thời mạt pháp , chúng ta không tận mắt thấy được ứng hóa thân của Phật , nhưng chúng ta vẫn còn nghe chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan của Ngài qua hình tượng . Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật , giảng pháp cho người người khác , hoặc phao tin sắp có hội Long Hoa , Phật Di Lặc ra đời … thì đó là những lời dối trá , mê hoặc người đời , nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối nào đó . Sự thị hiện của ứng hóa thân Phật trên cõi đời là một sự kiện hiếm gặp , là điều vị tằng hữu (chưa từng có) . Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi , Ngài xuất hiện trên đời để làm gì ? Trong kinh pháp hoa , Phật dạy : "Chư Phật xuất hiện ở đời chỉ vì một đai sự nhân duyên : Khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến " . Bản hoài của chư Phật mười phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy , ai cũng có tri kiến Phật , tức Phật tánh , như nhau , bình đẳng không khác . Từ đó sẽ nhận ra và hằng sống được với Phật tánh của chính mình một cách viên mãn . Kinh Phạm Võng Trường Bộ tập 1 , Phật dạy rằng : " Này các Tỳ kheo ! Thân của Như Lai còn tồn tại , nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác thường đã bị chặt đứt . Khi thân của Như Lai còn tồn tại, thì chư Thiên và loài Người có thể thấy thân ấy . Khi thân hoại mạng chung, thì chư Thiên và loài người không thể thấy được". Khi Đức Phật còn tại thế, thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một điều kiện tốt để dễ gần và dễ giaó hoá những chúng sinh căn cơ thấp kém . Vì chìu uốn theo tánh dục của chúng sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế . Nhưng dù thân ấy còn tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ lãnh thân sau đã không còn . Chính lòng ái dục đã tạo dòng nghiệp lực khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh báo và y báo tương ưng . Ứng hoá thân của Phật, vì có hình tướng nên chư Thiên và loài Người có thể thấy được . Khi thân ấy đã hoại, Đức Phật trở về với pháp thân vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài . Tất cả chúng ta đều có pháp thân vô tướng như thế, vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận ra không và tu hành cách nào để có thể sống được với nó, niêm mật từng phút giây . Chúng ta đã xét qua ý nghĩa về sự đản sinh của Đức Phật, để thấy rõ rằng sự xuất hiện của Thế Tôn, vị giaó chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời . Cứ mỗi lần mùa Khánh đản đến, người Phật tử về chùa, nghe quý thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính cao đẹp của Ngài, chúng ta mới biết rằng Ngài đã trải qua vô lưọng kiếp tu hành , cuối cùng mới thị hiện là Thái tử Sĩ Đạt Ta ở A? Độ, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con Phật khắp năm châu bốn biển . Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và đẹp đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn hoá để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện noi gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều người . Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát . Hôm nay, một lần nữa kỷ niệm ngày Phật Đản, chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài . Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được chư Tăng Ni hướng dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện . Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời, để noi gương Ngài cũng bước từng bước an lạc thảnh thơi trên những bất ổn của cuộc sống . Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trần thế, nhưng phải biết vươn lên không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm . Từ đó chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh phúc . Đây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó của Đức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta. nguồn:thuvienhoasen.org
  7. - Cháu xin chân thành cảm ơn bác Thiên Phú về những gì bác chỉ bảo.
  8. Một lá số Mệnh VCD của bản thân xin gửi đến quý bác cho ý kiến về tiểu vận, và đại vận Mệnh VCD như nhà không nóc! Xin cảm ơn!
  9. Nguồn gốc của đạo Phật là phát sinh từ xứ Ân Độ, Trung Quốc là một nước lớn đạo Phật du nhập sớm, kinh sách dịch ra chữ Hán rất nhiều, truyền sang nước ta gắn liền với âm lịch hiện nay ta vẫn dùng. So sánh hai thứ lịch này với nhau để xét tìm bàng cớ : Phật giáng sinh vào ngày nào, tháng nào của lịch Ấn Độ, ngày đó có phải ngày trăng tròn hay không, đem ghép vào lịch Trung Quốc mà tính toán, xem nhàm vào ngày nào, tháng nào của thứ lịch này thì mới thấy rõ được. Nhân dip Đại Lễ Phật Đản năm Quí Mùi 2003, tôi xin gửi đến quí độc giả bốn phương, nhất là Phật Tử, hãy cùng tôi tìm hiểu và xác định ngày nào là ngày Đại Lễ Phật Đản, tại sao tôi lại trở lại vấn đề này, vì có một số người hỏi tôi, bằng thơ, điện thoại, E-Mail và yêu cầu tôi giải thích, thực ra tôi không đủ trình độ để xác định ngày nào là ngày Đại Lễ Phật Đản chính thức và đúng, nhưng tôi cũng cố gắng sưu tầm biên soạn ra tư liệu này cống hiến quí vị Phật Tử hiểu rõ. Nếu quí Chư Tôn Đức Tăng, Ni và các vị thiện trí thức cao minh nào có các dữ kiện khác kính xin chỉ giáo. Đây là một sự kiện lịch sử, là một nghi lễ trọng đại nhất trong đạo, đối với ngày xuất thế của Đức Thế Tôn, ngày lễ này đã được lưu truyền từ ngàn xưa, ngay từ khi đạo Phật ở Ấn Dộ mới truyền sang các nuớc phương Đông, những bộ kinh Phật phiên dịch từ Phạn văn ra Hán văn, ở đơiø Đông Hán (Trung Quốc), bộ nào nói về lịch sử Phật Tổ, ngày giáng sinh của Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện là ngày 8 tháng 4 âm lịch, điều này nhiều nhất thấy ở các kinh sách Phật Giáo Bắc Tông. Nhưng Bắc Tông cũng có bộ nói sinh ngày 15 (trăng tròn) đó là bộ Tây Vực Ký đời nhà Đường. Trước kia nước ta cũng như các nước lớn trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên.....đều làm lễ Phật Đản vào ngày 8 tháng 4 âm lịch . Tên gọi cũng như việc làm ngày Phật Đản, “ngày tám tháng tư “ đã lưu truyền hàng bao thế kỷ ở nhiều nước trên thế giới, đã trở thành phong tục tập quán cổ truyền, ấn tượng ăn sâu vào đầu óc mọi người, kể cả người theo hay không theo đạo Phật cũng đều nhớ như vậy. “Cách xa dù mấy nhịp cầu. Đến ngày Phật Đản 5 châu cũng gàn.” “Dù ai buôn bán đâu đâu Nhớ ngày Phật Đản rủ nhău mà về” Nhưng kể từ đầu thập niên năm sáu mươi thi ngày Phật Đản lai là ngày 15 tháng 4 âm lịch và cứ tiếp nối từ đó đến nay hàng năm cứ đến ngày trang tròn tháng 4 là ngày Đản Sanh của Đức Thế Tôn mà hầu hết các nước ở Châu Á và những người con Phật trên kháp năm châu đều nhộn nhịp tổ chức kỷ niệm của Đức Phật giáng trần. Vậy ta thử tìm hiểu xem tại sao ?. Nguồn gốc của đạo Phật là phát sinh từ xứ Ân Độ, Trung Quốc là một nước lớn đạo Phật du nhập sớm, kinh sách dịch ra chữ Hán rất nhiều, truyền sang nước ta gắn liền với âm lịch hiện nay ta vẫn dùng. So sánh hai thứ lịch này với nhau để xét tìm bàng cớ : Phật giáng sinh vào ngày nào, tháng nào của lịch Ấn Độ, ngày đó có phải ngày trăng tròn hay không, đem ghép vào lịch Trung Quốc mà tính toán, xem nhàm vào ngày nào, tháng nào của thứ lịch này thì mới thấy rõ được. Ở đây chú ý một diều : Gọi là ngày trăng tròn, nhưng chính là thời điểm trăng tròn thì giờ quãng đầu của ngày đó, phải tưởng tượng như mình đang đứng ở góc độ múi thứ sáu của địa cầu làm mốc mà nhìn trăng tròn, mới đúng giờ “sao mai mọc” hay giờ Dần, khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni đản sinh ra cõi nhân gian trong ngày đó. Nếu chỉ chung chung, dựa vào những câu đơn thuần trong các bộ kinh sách nói từ xưa, thì không có gì xác đúng cho lám, không thể khám phá vấn đề mà giải quyết dứt khoát được. Trong bộ Phật tổ thống ký đã tập hơp sáu bộ kinh sử đều nói Phật giáng sinh năm Giáp Dần : a)Chu thư dị ký. B)-Pháp bản nội truyện, c)- Nguỵ thư – d)- Nam nhạc, -đ)- Phụ hành, e)-Pháp lâm. Tất cả đều thống nhất nói rằng : Đức Phật Thích Ca giáng sinh nhằm đời nhà Chu Cơ, vua Chiêu vương năm thứ 26 (có chỗ nói năm thứ 24) là năm Giáp Dần (tính theo lối 60 mươi năm hoa giáp của Trung Quốc). Bộ thống ký này tính toán rất tỷ mỷ, diễn tả từ khi Phật còn là vị Bồ tát ngự trên cõi trời, Đản sinh xuống cõi người, đến khi xuất gia (năm Mậu Dần, 25 tuổi đời), thành đạo ( năm Quí Mùi, 30 tuổi đời) , nhập diệt (năm Mậu thân, 79 tuổi đời). Tính đến năm Đinh mão – dương lịch 67 – niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10, đời vua thứ II Minh đế đời Đông Hán, kinh Phật băùt đầu truyền dịch sang chữ Trung Quốc, rồi tính tiếp đến năm 2003 thì được 3021 năm. Như vậy Đức Phật giáng sinh trước vị Giê-su giáng sinh 1027 năm (Năm kỷ nguyên theo tây lịch là năm Tân Dậu, vào khoảng đầu thế kỷ thứ 6, một số nước theo thiên Chúa giáo ở Châu Âu cũng chưa tìm được đúng năm sinh của vị Giê-Su, khi ấy họ hop nhau lại bàn cách đem số nguyệt chu nhân với số tuần chu để lấy kết quả được (19x28=532) liền quyết định lấy ngày năm đầu của số này làm năm kỷ nguyên của Thiên Chúa gọi tát là Công nguyên. Ngay cả cái ngày 25 tháng 12 cũng là ngày sinh của vị thần Công-xtăng-ti-nốp sùng bái, sau khi chinh phuc được nước này rồi lấy ngày đó làm ngày Noen của vị Giê-su, theo lối Âu Tây thường kể tuổi tròn, người ta qui định vị Giê-su tuổi Canh Thân, năm tuổi này là năm thứ hai trước kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, niên hiệu nguyên thọ, đời vua Ái Đế nhà Hán Trung Quốc. Khổng Tử sinh trước vị Giê-su 551 năm, khớp với thuyết của sư Tổ Hoàng Tán : Đức Phật giáng sinh trước ngài Khổng Tử 477 năm. Cộng được : (477-1+551)= 1027 năm. Người Anh lúc đó cai trị Ấn Độ có đào được tấm bia của Vua A-Dục khắc về niên đại Phật Đản, theo trên tấm bia này thì Phật giáng sinh lại là năm Bính Thân, tính đến năm 2003 là 2567 năm. Căn cứ trên các tư liệu nêu trên và các dữ kiện khác do đó trong đại lễ kỷ niệm Phật Giáo thế giới tại Tích Lan năm 1956 mới quyết định lấy ngày trăng tròn 15 tháng tư Âm Lịch làm ngày kỷ niệm Đức Phật giáng sinh cho cả thế giới. Tuy nhiên, ở những nước có Phật giáo nhưng không có Âm Lịch thì người ta theo dương lịch mà nói : “Phật giáng sinh ngày trăng tròn “ trong tháng năm dương lịch hằng năm cứ luôn luôn xê dịch : trong 100 năm chỉ có 4 năm là ngày 15 tháng 5 trăng tròn mà thôi. mặc dầu vậy, nhưng ngày trang tròn của tháng tư Âm Lịch lúc nào cũng rơi vào tháng 5 dương lịch. Nước ta và những nước theo Âm Lịch thì xưa nay vẫn tính năm, Phật sinh năm nào thì kể ngay năm ấy là một. Muốn xác định được ngày đại lễ Phật Đản trước hết phải tìm những điều ghi trong các kinh sách nói về lịch sử Phật tổ cả Bắc Tông lẫn Nam Tông (về ngày Phật Đản kinh sách Nam Tông nói rất đơn giản chi qui gọn một câu “ngày trăng tròn” mà thôi). đem đọ với giữa 2 thứ lịch Ấn Độ và Trung Quốc mà tra cứu thì mới đạt được yêu cầu mong muốn. Ấn Độ từ xưa vẫn có 4 thứ lịch : lịch Sóc vọng, lịch Mặt trời, lịch Địa cầu, lịch Ngôi sao. Trung Quốc cũng có 4 thứ lịch : lịch nhà Hạ, (chính kiến dần) lịch nhà Thượng hay nhà Ấn (chinh kiến sửu), lịch nhà Chu, (chính kiến tý), lịch nhà Tần (chính kiến hợi). Bốn thứ lịch này đều là Âm lịch. Lịch nhà Hạ vẫn hiện hành từ xưa đến nay, có thể gọi là âm dương lịch, vì nội dung đối chiếu cả các ngày tháng về dương lịch. Nay chỉ cần dùng 2 thứ lịch : Sóc vọng của Ấn Độ và Hạ lịch (ta thường gọi là nông lịch) của Trung Quốc mà xác định ngày lễ Phật Đản, vì 2 lịch này đều tính theo độ số chu toàn của sao Thái Âm xoay quanh trái đất mà làm lịch. Mỗi nguyệt chu là 19 năm, cũng mỗi năm 12 tháng, có tháng đủ, có tháng thiều và tháng nhuận bù trừ vào nhău, mặc dù ngày tháng sáp đạt có chênh lệch mỗi năm đều khác nhău. Mỗi tháng của lịch Ấn Độ đều muộn hớn lịch Trung Quốc một tháng rưỡi. Ngày trăng tròn của lịch Ấn Độ thì đạt vào ngàycuối cùng của mỗi tháng, chứ không phải giữa tháng như lịch Trung Quốc. Các ngày 30 trong mỗi tháng của lịch Ấn Độ đều trùng hợp với ngày 15 trong mỗi tháng của lịch Trung Quôc, như thế ngày trăng tròn của lịch Ấn Độ tức là ngày trăng tròn của lịch Trung Quốc vậy. Chỉ có một điều khác nhău giữa 2 lịch nhưng không ảnh hưởng sai trái với ngày trăng tròn. Nghĩa là lịch Trung Quốc một năm chia thành 4 mùa : Xuân, Hạ, Thu, Đông, lấy 12 con giáp Tý, Sửu, Dần, Mão.....đạt tên cho 12 tháng. Lịch Ấn Độ thì chia một năm làm 3 mùa : Xuân, Hạ, Đông (mỗi mùa 4 tháng) không có mùa Thu, lấy tên 12 ngôi sao đặt cho 12 tháng. Trên đây tôi sưu tầm biên soạn để chứng minh tại sao ngáy Phật Đản lại có sự thay đổi từ ngày 8 tháng 4 ra ngày 15 tháng 4 âm lịch, và xác định ngày Phật Đản là ngày trăng tròn. Đây cũng là ngày rất trọng đại đối với người Phật Tử chúng ta cần nghiên cứu tìm hiểu để am tường về bối cảnh lịch sử của Đức Bổn Sư .Tôi hy vọng đã góp một phần sự hiểu biết nông cạn của mình vào việc hoằng dương chánh pháp. Nếu qui chư Tôn Đức Tăng, Ni hoăïc các vị thiện trí thức, có những dữ kiện nào chính xác hơn xin chỉ giáo và có những gì thiếu sót kính xin quí ngài niệm tình thứ lỗi. nguồn: daophatngaynay.com
  10. em không hiểu, vì em còn quá trẻ

  11. Thật tiếc là ko ai nói gì với con
  12. Cháu xin được trình bày lại: Cháu đã tham gia diễn đàn cũng từ lâu. Đến nay đã được là hội viên chính thức của diễn đàn. Điều chiêm nghiệm thấy ở đây là tôi thán phục đó là: đoán mưa ngày 1000 năm Thăng Long Hà Nội và về cụ rùa. sự việc thứ hai là lần trước cách đây gần 20 ngày. Trưa đó 1/4/2011 AL, cháu ngủ trưa và có mơ thấy rụng răng ở hàm trên, lên mạng vào vào diễn đàn và đọc thông tin cũ của bác Thiên Sứ, Thiên Phú nói là báo hiệu có người thân bên nội sắp mất (đúng) 3 ngày sau đó ông nội ốm nặng, rồi mất (lúc 11h48 ngày 22/3/2011 AL, nay đã gần 49 ngày của ông. Điều thứ ba mà cháu muốn nói là cách đây 4 ngày cháu mơ thấy bàn thờ ông nội ở quê bốc cháy, và có một người phụ nữ quỳ vái trước đó, sau đó cháu gọi điện về nói với cha mình là xem trên bàn thờ ông có gì để đó ko chứ con mơ thấy bàn thờ ông cháy. Cha cháu quát to trong điện thoại cứ nói lung tung. ko có gì đâu. Tối hôm qua, sau ngày mơ đó 2 ngày cháu gọi điện về hỏi thăm sức khỏe bà nội. Cha cháu mới nói tối hôm qua, cha đi trực một người ốm, Chỉ có 1 người cô (em cha) và và bà ở nhà, không biết thắp nhang thế nào mà chỉ 1 cây nhang cháy mà cháy cả một bát nhang (chậu lớn) trên bàn thờ của ông bốc cháy rừng rực. Điều quan trọng là ko cháy một thứ gì xung quanh bàn thờ ông. Hôm nay tìm trên mạng "nhang tự cháy" đến được bài này một lần nữa lại thấy bác Thiên Sứ, Thiên Phú. Mong hai bác giải thích và cho gia đình cháu lời khuyên, đến nay vẫn chưa đến 49 ngày của ông. cháu chân thành cảm ơn!
  13. Cháu đã tham gia diễn đàn cũng từ lâu. Đến nay đã được là hội viên chính thức của diễn đàn. Điều chiêm nghiệm thấy ở đây là tôi thán phục đó là: đoán mưa ngày 1000 năm Thăng Long Hà Nội và về cụ rùa. sự việc thứ hai là lần trước cách đây gần 20 ngày. Trưa đó 1/4/2011 AL, cháu ngủ trưa và có mơ thấy rụng răng ở hàm trên, lên mạng vào vào diễn đàn và đọc thông tin thì bác thiên sứ đã có câu trả lời trước là có người thân bên nội sắp mất (đúng) 3 ngày sau đó ông nội ốm nặng và phải về quê 2 lần nay đã gần 49 ngày. điều thứ ba mà tôi muốn nói là cách đây 4 ngày mơ thấy bàn thờ ông nội bốc cháy ở quê, tôi gọi điện về nói với cha mình là xem trên bàn thờ ông có gì để đó ko chứ con mơ thấy bàn thờ ông cháy. Cha tôi quát to trong điện thoại cứ nói lung tung. ko có gì cả. Tối hôm qua, sau mơ đó 2 ngày tôi gọi điện về hỏi thăm sức khỏe bà nội. Cha cháu mới nói tối hôm qua, cha đi trực người ốm, mình cô mày và bà ở nhà, chỉ có một cây nhang và tự nhiên chân nhang (chậu lớn) trên bàn thờ ông bốc cháy rừng rực mà ko cháy một thứ gì xung quanh (cháu nói: con nói với cha trước rồi con mơ thấy...ông nói đúng thật và cười...để ít bữa nữa đi đền hỏi là lành hay dữ) Hôm nay tìm trên mạng "nhang tự cháy" đến được bài này một lần nữa lại thấy bác Thiên Sứ nói là hóa nhang là tốt, lần này cháu sẽ tiếp tục tin và chờ.....đang rất nghèo cũng mong được trúng số bác ạ heeee chúc các cô bác diễn đàn sức khỏe, hạnh phúc.
  14. Mời mọi người nghe khúc hát tuyệt vời về Đức Thích Ca VÌ CÓ PHẬT SÁNG TÁC: CHÂN QUANG - TRÌNH BÀY: HỢP CA http://www.youtube.com/watch?v=quijRfnnka4&feature=player_embedded#at=210 Mừng Đại Lễ Phật Đản Kể chuyện cuộc đời Đức Phật General Format : AVI Format/Info : Audio Video Interleave File size : 87.8 MiB Duration : 16mn 14s Overall bit rate : 755 Kbps Writing library : MPlayer Video ID : 0 Format : MPEG-4 Visual Format profile : Advanced Simple@L5 Format settings, BVOP : 2 Format settings, QPel : No Format settings, GMC : No warppoints Format settings, Matrix : Default (H.263) Codec ID : XVID Codec ID/Hint : XviD Duration : 16mn 14s Bit rate : 677 Kbps Width : 352 pixels Height : 240 pixels Display aspect ratio : 3:2 Frame rate : 29.970 fps Standard : NTSC Color space : YUV Chroma subsampling : 4:2:0 Bit depth : 8 bits Scan type : Progressive Compression mode : Lossy Bits/(Pixel*Frame) : 0.268 Stream size : 78.7 MiB (90%) Writing library : XviD 1.1.2 (UTC 2006-11-01) Audio ID : 1 Format : MPEG Audio Format version : Version 1 Format profile : Layer 3 Mode : Joint stereo Mode extension : MS Stereo Codec ID : 55 Codec ID/Hint : MP3 Duration : 16mn 14s Bit rate mode : Constant Bit rate : 64.0 Kbps Channel(s) : 2 channels Sampling rate : 48.0 KHz Compression mode : Lossy Delay relative to video : 33ms Stream size : 7.43 MiB (8%) Alignment : Aligned on interleaves Interleave, duration : 24 ms (0.72 video frame) Interleave, preload duration : 816 ms MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN Trăng soi bên hiên Gió reo thênh thang từng miền Nơi nơi hoan ca Mừng Đức Thích Ca Đến với đời CA KHÚC HOLY VESAK SONG - VESAK THIÊNG LIÊNG SÁNG TÁC: CHÂN QUANG | TRÌNH BÀY: HỢP CA [V-Z] Hôm nay, ngày Phật Đản lại về, khắp đất trời như tưng bừng, vui lại niềm vui của hơn hai ngàn năm trăm năm về trước. Ngày mà Đấng Cha Lành của chúng sinh thị hiện vào cuộc đời đau khổ lầm lỗi này để gióng lên tiếng chuông từ bi giải thoát. Ngài lớn lên trong cung vàng điện ngọc rồi khước từ cung vàng điện ngọc để vào rừng hoang tu hành khổ hạnh. Ngài thực hiện sự khổ hạnh khủng khiếp chưa từng thấy đến nỗi thân Ngài tiều tuỵ, mạng sống Ngài mong manh như sương trước nắng. Rồi Ngài lại khước từ sự khổ hạnh sai lầm đó để thực hành thiền định và chính con đường thiền định tuyệt vời này đã mang đến ánh sáng cho mười phương thế giới.Từ muôn kiếp qua vì vô minh mà chúng sinh trôi lăn mãi trong luân hồi sinh tử. Trong đêm dài sinh tử triền miên, chúng sinh tạo vô số nghiệp nhân thiện - ác để rồi khi thì được vui, khi thì chịu khổ. Nhưng dù khổ hay vui, dù là ông hoàng bà chúa hay kẻ ăn xin lầm than cơ cực, tất cả đều bị ràng buộc trong luân hồi mênh mông vô tận, chìm đắm trong vô minh âm u tâm tối. Sống trong cuộc đời bụi bậm này mỗi người chúng ta đều phải lo toan vất vả về sinh kế, tranh nhau từng chút hư danh, giành nhau từng chút ảo lợi. Để rồi cơn lốc vô thường cuốn phăng đi tất cả. Giữa biển khơi mênh mông ấy, ta không biết tấp vào đâu để có được một bến bờ yên vui, hạnh phúc. May mắn thay Đức Phật ra đời, Ngài thắp lên ánh sáng Từ Bi, mở ra con đường Giải Thoát, chỉ lối về an vui. Từ đây, ta có Bậc Đạo Sư cao cả, Đấng Cha Lành bao dung, có đảo cồn để nương tựa giữa biến khởi, có ánh sáng mặt trời quang minh trong đêm tối... ĐÔI ĐIỀU TÂM SỰ Lễ Phật Đản năm nay cũng như mọi năm, nhưng có một chút đặc biệt: Duy được ba mẹ cấp "visa" cho đi dự lễ tại Thiền Tôn Phật Quang (Bà Rịa Vũng Tàu), nơi mà vị trụ trì - Thượng Toạ Giảng Sư Nhạc Sĩ Thích Chân Quang là người đã sinh ra Duy lần nữa. Duy muốn làm một CD mừng ngày Vesak để đáp trả một chút gì đó những ân tình, đạo lý mà Thầy đã san sẻ, và cũng muốn cùng mọi người nhìn lại quãng đời đẹp hơn mọi kiệt tác nghệ thuật của Sidhattha Gotama - một con người vĩ đại, một người không phải là đấng tối cao, cũng chẳng phải là đấng ban phước gián hoạ, mà Ngài - Đức Thích Ca là một Bậc Thầy của nhân loại, một bậc Thầy từ bi, trí tuệ, đã vạch cho con người trên hành tinh nhỏ bé này con đường đi đến HẠNH PHÚC TUYỆT ĐỐI - điều mà bất cứ ai trong chúng ta đều khát khao, mơ ước. Vậy sao ta không cất bước theo sau Ngài? Trong CD này là cả một kho tàng những mẩu chuyện sâu sắc, độc đáo về cuộc đời Đức Phật mà có lẽ bạn chưa từng biết đến. Từ lúc Ngài đến với con người trong khu vườn Lumbini cho đến khi Ngài nhập Niết Bàn, đã có bao câu chuyện hay đáng để cho ta suy ngẫm. Và dĩ nhiên, có những bạn sẽ không thích xem video, cũng không thích nghe kể, mà lại thích đọc truyện tranh. Và bộ truyện tranh ĐỈNH NÚI TUYẾT - The White Peak (song ngữ Anh - Việt) dài 100 tập là sự đáp ứng hoàn hảo. Với nét vẽ trong sáng, rất Việt Nam của hoạ sĩ Hữu Tâm cùng chất lượng giấy rất tốt và thân thiện với môi trường, chắc chắn bạn sẽ có được những phút giây vừa thư giãn thoải mái sau giờ làm việc, vừa phải trầm trồ ngạc nhiên thích thú khi được từng trang sách dẫn đưa mình về nơi Ấn Độ hơn 2500 năm trước... Hiện đã xuất bản được tập 5 tập. Bạn nào muốn tìm đọc có thể liên hệ theo các địa chỉ sau: LINK DOWNLOAD BẢN XEM TRÊN DI ĐỘNG http://www.mediafire.com/?cclxle4coi1tv __________________________________________________ _____________ BẢN DVDRIP/ISO XEM TRÊN MÁY TÍNH Mặc dù khi tải về và nối lại bằng FFSJ thì mọi người sẽ nhận được một file .ISO. Tuy nhiên điều đó không thành vấn đề. Nếu bạn muốn xem CD này trên máy tính thì hoàn toàn có thể giải nén bằng Winrar file .ISO đó và thưởng thức. Còn trường hợp bạn thích xem trên đầu dân dụng để xem cùng cả nhà hay là để chép tặng người thân chẳng hạn, thì có thể dùng các phần mềm ghi đĩa để Burn ra CD. Mình khuyến cáo dùng Ultra ISO. http://www.mediafire.com/?8jjvx2uqs143f
  15. Kính gửi đến các bác trên diễn đàn Lý học! cháu dự định làm nhà nhỏ vào tháng 5, tháng 6 hoặc tháng 8 âm lịch. Mong các bác tư vấn dùm cháu ngày động thổ. Cháu (chồng sinh giờ dậu ngày 13/5/1981DL (10/4/1981AL) vợ cháu giờ sửu ngày 16/3/1982 AL con trai đầu lòng sinh giờ hợi ngày 18/2/2009 AL. Rất mong được sự quan tâm, giúp đỡ của quý bác! Trân trọng!
  16. NHờ bác xem con trai: thái nguyễn bình an sinh cuối giờ hợi ngày 18/2/2009 âm lịch
  17. Thiền sư Bá Trượng thoáng nhìn đã biết đây là người khác lạ ông già này mấy lúc gần đây thường theo chúng Tăng nghe sư thuyết pháp. Hôm nay chúng Tăng đã ra khỏi pháp đường mà ông vẫn nán lại và chậm chậm đi về phía sư. Bá Trượng hỏi: – Ông là người gì? Ông già thưa: – Bạch Hòa Thượng, con không phải là người, con là con chồn ở sau núi. Nguyên đời Đức Phật Ca Diếp con là vị Tăng. Vì có người hỏi con: “Bậc đại tu hành có rơi vào Nhân Quả chăng?” Con đáp: “Không rơi vào Nhân Quả!” Thế là con đọa làm thân chồn đã năm trăm kiếp. Nay dám xin Hòa Thượng nói lại một lời để con thoát thân chồn. Bá Trượng bảo: – Ông hỏi lại ta. – Bạch Hòa Thượng, bậc đại tu hành có rơi vào Nhân Quả chăng? Bá Trượng bảo: – KHÔNG LẦM NHÂN QUẢ! Ông già chợt đại ngộ, thưa: – Thế là từ nay con thoát thân chồn, dám xin Hòa Thượng lấy lễ Tăng chêt tống táng cho con. Nói rồi biến mất. Bá Trượng sai bạch kiền chùy với chúng: “Trưa mai ăn cơm xong đưa đám một vị Tăng” Chúng Tăng ngạc nhiên vì nhà bệnh không có ai nằm, không có ai chết. Hôm sau Bá Trượng dẫn chúng Tăng đi vòng sau núi đến cái hang lấy gậy bươi ra xác một con chồn rồi đem về làm lễ trà tỳ trịnh trọng. Câu chuyện trên đây được lưu truyền rộng rãi trong Thiền Tông khiến nhiều người kinh sợ, dè dặt bớt lời nói đại ngôn của mình. Vì sao chỉ đáp sai một câu mà bị đọa làm thân chồn ngót năm trăm kiếp?
  18. Điều gì tốt nhất mình có thể làm được cho một người sau khi họ đã qua đời? Bất cứ lúc nào thân nhân hoặc bạn bè làm được điều phước thiện gì cũng nên hồi hướng, nghĩ tưởng và chia xẽ cho người quá cố. Điều thiện đó có thể là: ăn chay, niệm Phật, thiền định, từ thiện, trồng cây, phóng sanh, v.v... Mỗi mỗi đều gởi tặng công đức này cho họ. Nên tụng niệm và làm phước thiện như vậy cho họ trong suốt 49 ngày. Nên thỉnh chư tăng ni hoặc các cư sĩ Phật tử về chùa tụng kinh và cầu nguyện cho người quá cố 7 lần trong 49 ngày đó. theo quangminh.org.au ----------------- Xin các thành viên, nếu muốn niệm phật cho người quá cố trong 49 ngày đầu thì cách thức thế nào, làm ra sao và nội dung niệm phật thế nào? xin cảm ơn!
  19. Lãnh đạo Al – Qaeda Osama bin Laden chết hay sống chẳng quan trọng cho lắm. Tại sao lúc này Mỹ công bố Bin Laden chết, theo tôi xin mạn đàm với 3 lý do sau: 1. Bầu cử Mỹ sắp tới gần, và Obama tung ra cú đòn đầu tiên là Qaeda Osama bin Laden-có thể ông chết lâu rồi (một lần nữa những lời ông hứa lúc ứng cử muốn được ông khẳng định), tiếp theo là gì...??? rồi sẽ còn nữa.... 2. Hiện nay cơ bản Mỹ không phải là nước cầm đầu ở Lybia và mục tiêu của Obama (Mỹ) và NATO trong những năm trở lại đây là quay lại châu Á trực tiếp là đối trọng với Trung Quốc. Với Triều Tiên thì chưa nhưng, qua nhiều năm Pakistan là bạn hàng kinh tế, vũ khí,,, thân cận của Trung Quốc (Trung Quốc dùng Paskistan để đối trọng với láng giềng Ấn Độ). Không lý do gì trong thời gian tới Pakistan sẽ rất khổ sở với Mỹ và NATO còn Trung Quốc biết thế nhưng cũng im lặng mà thôi 3. Ở tuổi 54 theo tử vi Trung Quốc rất nhiều người tử nạn, hầu hết là chết bất đắc kỳ tử và lãnh đạo Al – Qaeda Osama bin Laden là một trong số đó. Ông hưởng dương 54 tuổi.
  20. Đầu giờ tý, ngày dậu, thứ 7 ngày 24/3 ông đã về nơi an nghỉ cuối cùng!!!!!!
  21. Kính nhờ các bác giúp đỡ! Chuyện là: Đúng trưa ngày 1/4/2011AL cháu đang ngủ trưa thì mơ thấy mình rụng mộtchiếc răng hàm trên (mở mạng vào diễn đàn thì biết là có người bên nội sắp rađi). Sau đó 3 ngày được người chú ở quê gọi vào ông nội ốm nặng về gấp. Khôngchần chừ cháu đã mua vé máy bay về nhà để kịp gặp ông (ông 91 tuổi-63 năm tuổiđảng). Ông ốm vì tuổi già đột quỵ, đến nay đã 16 ngày không ăn chỉ tiêm thuốcbổ và uống nước chè xanh và nước lã (chè xanh và nước lã là do ông yêu cầu),hiện nay ông rất gầy nhưng vẫn tỉnh táo mặc dù ko ăn gì. Điều đáng thương làông ko ăn, không uống gì và chỉ yêu cầu nước chè xanh và nước bể rồi thỉnh thoảng ông ngồi dậy và nói sao lại lâu chết thế này. Gia đình và con cháu rất thương ông đã làm mọi cách có đi chùa, đền làm lễ nhưng vẫn không biết tại sao. Để ông sống lại khỏe mạnh thì hơi khó, thấy ông như thế rất tội nghiệp ôngmuốn ra đi cũng không được. Mặc dầu ông đang như thế ở quê nhưng, hôm nay, cháu phải trở lại cơ quan làmviệc và gửi đến các các trên diễn đàn lá số của cháu (cháu là cháu nội của ông)mong các bác xem xét, và quan tâm giúp đỡ ông và gia đình. Cháu chân thành cảm ơn!
  22. Cuộc đời đầy tai họa của người giết rùa khổng lồ ở Yên Bái Người dân quanh vùng kể rành rọt về những tai họa mà người giết rùa khổng lồ và gia đình phải gánh chịu. Người dân dọc sông Hồng coi loài mai cứng mới là rùa. Xưa nay, các nhà khoa học nghiên cứu về rùa vẫn giữ kín những thông tin về xuất xứ các loài rùa, giải nghi ngờ có họ hàng với các “cụ rùa” Hồ Gươm. Các nhà khoa học chỉ nói chung chung rằng, rùa Hồ Gươm có xuất xứ từ Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Tây (cũ)… chứ tuyệt nhiên không nói rõ địa điểm cụ thể là hồ nào, sông nào, suối nào. Ngay như hồ Đồng Mô (Ba Vì, Hà Nội), là hồ nước được các nhà khoa học để ý, nghiên cứu kỹ lưỡng và nghi ngờ có rùa khổng lồ từ mấy chục năm nay, song thông tin mà các nhà khoa học cung cấp cho bạn đọc chỉ là: “Phát hiện loài rùa có nguồn gốc với rùa Hồ Gươm tại hồ nước cách Hà Nội 60km về phía Tây!”. Chỉ đến khi một “ông rùa” bò ra khỏi hồ, bơi lõm bõm ở sông Tích Giang và được báo chí thế giới loan tin ầm ĩ, thì người ta mới biết rằng, hồ Đồng Mô có “rùa Hồ Gươm”. Chẳng thế mà chuyện một ông xã đội trưởng dùng súng AK bắn chết một “cụ rùa” ở Yên Bái từ năm 1984, được hầu hết các “nhà rùa học” nước ta và rất nhiều nhà khoa học yêu rùa trên thế giới biết đến, song hàng triệu người dân Việt Nam yêu mến “cụ rùa” Hồ Gươm vẫn không hay biết. Còn "cụ rùa" Hồ Gươm thì người ta gọi là con giải. Tôi lang thang nhiều ngày dọc các hồ nước lớn ven sông Hồng từ ngã ba Bạch Hạc, qua huyện Cẩm Khê, Sông Thao, Thanh Ba, Yên Lập, Hạ Hòa của tỉnh Phú Thọ, đến tận huyện Trấn Yên của Yên Bái hỏi về loài rùa khổng lồ, song ai cũng lắc đầu không biết. Nhưng ai cũng bảo: “Rùa bé lắm, chỉ có con giải là to thôi, to như con giải ở Hồ Gươm ấy!”. Tôi vô cùng yêu mến “nhà rùa học” Hà Đình Đức, người đã có trọn 15 năm nghiên cứu “cụ rùa” Hồ Gươm, và nhất nhất khẳng định rùa Hồ Gươm là loài rùa mới, có tên Rafetus Leloii, chứ không phải là con giải như hầu hết các nhà khoa học trong nước và thế giới phát biểu. Nhưng chuyện 100% người dân ở vùng đất dọc ven sông Hồng gọi “cụ rùa” Hồ Gươm là con giải, thì tôi cũng đành phải gọi “cụ rùa” Hồ Gươm là con giải cho dễ hỏi thăm. Hoàng hôn trên đầm Minh Quân. Cứ lần dò hỏi han dọc bờ sông Hồng, rồi tôi cũng có được địa chỉ của một người nổi tiếng… khắp xã Minh Quân (Trấn Yên, Yên Bái), đó là ông Hoàng Xuân Bốn. Ông Bốn không nổi tiếng vì giàu có, chơi sang hay có biệt tài gì, mà chỉ vì từ chục năm nay, liên tiếp có các nhà khoa học, có cả những ông Tây da trắng, cao lênh khênh đi ôtô xịn tìm gặp, thậm chí ăn ở nhà ông nhiều ngày chỉ để chụp ảnh, quay phim, ngắm nghía cái mai và cái sọ con giải đã mục. Họ tỉ mẩn hỏi ông về tập tính loài giải, cách săn giải, cách phát hiện ra giải và kết cục là họ muốn có một câu trả lời: Đầm Minh Quân còn giải khổng lồ hay không? Mỗi khi ra về, họ đều ngỏ lời được đẽo một mẩu mai rùa bằng đầu tăm để đem đi phân tích. Với người dân nơi dây, chuyện ông Bốn sở hữu cái mai rùa thì chả có gì đáng nói, bởi người dân nơi đây thường xuyên ninh mai rùa khổng lồ để nấu chuối xanh, hoặc đem nấu cao như nấu cao khỉ, đem pha với rượu uống tăng cường… khả năng đàn ông. Hoàng Xuân Bốn vừa trải qua cơn tai biến. Đã có không biết bao nhiêu lượt nhà khoa học trong và ngoài nước dựng lều, hoặc ở trọ trong các gia đình bên đầm Minh Quân, cái đầm khổng lồ ngay sau nhà ông Hoàng Xuân Bốn, chỉ để mong tìm được câu trả lời: Đầm còn rùa hay không? Họ thất bại hay thành công thì có giời mới biết. Dù có may mắn chụp được ảnh cụ rùa ngóc đầu lên mặt nước thở phì phò như trâu, hoặc bới được cả đống trứng rùa to như trứng ngỗng trên đảo lau sậy, thì họ cũng chả dại gì mà công bố cho đám săn “ba ba” mai mềm khổng lồ mò đến hành nghề. Loanh quanh mãi ở mấy cái đập của đầm Minh Quân, rồi tôi cũng tìm thấy nhà ông Hoàng Xuân Bốn. Nhưng mấy bà chỉ đường bảo: “Vào nhà ông ấy phải cẩn thận nhé, không vợ chồng ông ấy vác đòn gánh đánh cho té khói đấy!”. Ông Bốn kể về vụ săn rùa. Lý do mấy bà láng giềng đưa ra là bao nhiêu năm nay, gia đình ông Bốn đã quá mệt mỏi với việc đón tiếp các nhà khoa học, vừa mất thời gian, lại chả được lợi lộc gì. Tuy nhiên, theo họ, nguyên nhân chính khiến vợ chồng ông Hoàng Xuân Bốn nổi đóa là họ không muốn nhắc một từ, một chữ nào liên quan đến “cụ rùa” nữa, bởi theo họ từ sau khi ông Bốn giết “cụ rùa” khổng lồ kia, gia đình và bản thân ông Bốn gặp rất nhiều bất hạnh. Người dân quanh vùng kể rành rọt về những bất hạnh mà ông Bốn và gia đình phải gánh chịu sau ngày sát hại “cụ rùa”. Theo họ, thứ nhất là đứa cháu mới 6 tuổi bị mắc bệnh tự dưng nói năng nhảm nhí. Liệu đầm Minh Quân có còn loài rùa khổng lồ như thế này? Thứ hai, đúng một năm sau ngày làm thịt “cụ rùa” khổng lồ chiêu đãi hàng xóm, đôi mắt ông Bốn bỗng dưng mờ dần rồi mù tịt mà không rõ nguyên nhân. Vợ con phải đưa ông đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác chữa trị suốt mấy năm trời, tốn kém không biết bao nhiêu mà kể, đôi mắt ông mới bình thường trở lại. Tưởng rằng tai họa như vậy là “đủ” lắm rồi, nào ngờ, hai năm nay, ông Hoàng Xuân Bốn lại phải gánh thêm một tai họa không thể nặng hơn, với hai lần bị tai biến mạch máu não. Dù bị liệt nửa người với một cánh tay cứng đơ thừa thãi, dù mang làn da trắng bệch của người ít ra khỏi nhà, dù trí nhớ qua cơn "địa chấn" tai biến đã không còn rành mạch, song khi hỏi về vụ sát hại con giải khổng lồ, ông Hoàng Xuân Bốn vẫn kể lại với giọng vừa hào hứng vừa… sờ sợ. nguồn: xaluon.com Những tin đồn rùng rợn nơi mộ cô gái trẻ Mấy tháng qua, người dân xã Bối Cầu (Bình Lục, Hà Nam) xôn xao về những tin đồn, câu chuyện rùng rợn, ly kỳ về "ma nữ" chết trẻ chuyên "xui" trẻ em ăn đất và trêu thanh niên đi qua ngôi mộ ven đường. Để tìm hiểu thực hư về câu chuyện này, chúng tôi đã có mặt tại xã Bối Cầu gặp gỡ trực tiếp các nhân chứng. Những lời thì thầm bí ẩn ở xã Bối Cầu Khu nghĩa địa, nơi bé P. an nghỉ Chúng tôi về xã Bối Cầu vào những ngày trời mưa phùn, rét đậm. Những cánh đồng đang vụ cấy nhưng không một bóng người qua lại. Đến đầu thôn Ngọc Lâm, chúng tôi gặp một số học sinh cấp 3 đang đợi nhau đi học ở đầu làng. Hỏi những học sinh này về câu chuyện ma nữ trêu người, một nam học sinh nói nhỏ: "Chị ấy thiêng lắm, chúng em không dám kể đâu, anh vào làng mà hỏi". Cậu học sinh này chỉ tay về phía xa cho chúng tôi biết, mộ cô bé chôn cạnh đường, nơi mà chỉ cách chỗ tôi đứng chỉ hơn 100 mét. Câu chuyện bắt đầu vào tháng 6/2010, một thầy giáo đến xã Hương Công (cạnh xã Bối Cầu) dạy võ karate cho học sinh tiểu học. Để sang được xã Hương Công, phải đi qua nghĩa địa cạnh con đường chính. Lớp học võ thường tổ chức vào lúc 3h chiều. Chị Nguyễn H.T, một người dân xã Bối Cầu cho biết: "Tôi nghe người ta kể lại là một buổi chiều, có 4 học sinh học lớp 5 khi trên đường đi học võ về, bỗng nhiên một cậu bé tên Khương thôn Bối Cầu chạy qua các ngôi mộ khác, đến đúng ngôi mộ chôn cô gái trẻ ngồi ăn đất và luôn miệng khen ngon quá. Thấy lạ bạn bè xuống hỏi thì cậu ta liền bảo đang ăn xôi gà của một chị cho. Những đứa trẻ kia chạy về nhà gọi bố mẹ cậu bé ra đưa cậu bé về nhà. Được biết, sau đó, bố mẹ bé Khương đã bắt cậu đi đường khác nhưng một lần nữa, khi đi đến gần chỗ rẽ vào nghĩa địa, cậu lại chạy vào ngồi ăn đất". Khu nghĩa địa, nơi an nghỉ của bé P Người phụ nữ này ghé tai tôi thì thầm, ngày con bé mất, bố mẹ nó mời thầy cúng đến yểm bùa ở mộ và trước cổng nhà, nên bây giờ nó không về được nhà, phải đi lang thang ngoài đường. Gặp ai hợp tuổi, nó lập tức trêu ngay. Theo lời chỉ dẫn của chị H.T, chúng tôi tìm đến nhà anh Thưởng, chị Lan là phụ huynh của cậu bé Khương bị "ma nữ" dụ ăn đất, nhưng một hàng xóm của gia đình này cho biết, họ đã đi ăn giỗ ở huyện khác, không biết hôm nào mới về. Đến bây giờ, xã Bối Cầu còn rộ lên những tin đồn khiến cho người nghe phải "dựng tóc gáy". Chúng tôi tạt vào một quán nước ven đường hỏi chuyện, một người đàn ông trung niên kể lại: "Cuối năm ngoái, vào buổi tối, có một người tên Thuật ở làng Vọc (xã Vũ Bản) hành nghề buôn thóc đi xe máy qua con đường này. Khi đi đến nghĩa địa không biết "ma xui quỷ khiến" thế nào mà anh lại dựng cả xe trên đường, xuống mộ cô bé nói chuyện một mình. Sau đó, anh phóng xe máy về nhà cô bé P. đòi bố mẹ cô bán thóc. Mẹ cô bé tưởng anh nhầm nhưng khi anh nói tên và tả dáng người của cô gái kia, mẹ cô bé mới "ngã ngửa" ra. Anh bán thóc bảo, cô bé dẫn đến cổng thì tự nhiên biến mất" . Hay một tin đồn về chàng trai đến nhà bạn gái tìm hiểu, khi đi qua nghĩa địa cũng bỏ xe xuống mộ cô bé P. nói chuyện một mình. Mãi đến khi có một người câu ếch đi qua, thấy chàng trai ngồi đó một mình liền gọi dậy, anh chàng này cũng không biết tại sao mình lại "tâm sự" một mình ở nghĩa địa. Và câu chuyện một ông vào nhà cô bé mua bò. Đến khi dắt bò ra bị bò nhảy chồm lên giẫm vào người... Được biết, khi xuất hiện những tin đồn này, ban đêm, nhiều người không dám ra khỏi nhà. Cô gái đoản mệnh và "nhát cứa" của dư luận Khu nghĩa địa nơi có mộ của "ma nữ" có khoảng trên dưới 40 ngôi mộ được đặt cạnh con đường chính nối các thôn trong xã Bối Cầu với nhau. Cạnh khu nghĩa địa là một cây đa già cỗi, thân gốc xù sì. Những cơn gió đông đang rít trên cành lá phát ra những âm thanh khiến cho chúng tôi rợn người. Được biết, "ma nữ" mà người dân xã Bối Cầu hay kể là cô bé tên Chu Thị P., sinh năm 1991. Mới chỉ học lớp 9 qua đời vì căn bệnh giảm tiểu cầu. Lúc ấy, P. chỉ 17 tuổi. Trước đó, P. là một cô gái xinh xắn, ngoan ngoãn lễ phép, có thành tích học tập khá giỏi, được mọi người trong làng rất quý mến. Cô bé là chị cả trong gia đình gồm 3 chị em. Tâm sự với PV, anh Chu Văn Sơn, cậu ruột của cháu P. cho biết: "Năm 2007, cháu tôi thường xuyên bị chảy máu chân răng và rong huyết. Người bình thường thì rong huyết chỉ 4 - 5 ngày là hết nhưng cháu bị hơn 1 tháng trời. Thấy lạ, mẹ cháu nói với tôi. Chúng tôi đưa cháu đi bệnh viện khám và mua thuốc, cháu khỏi được 3 tháng sau đó lại bị lại. Lúc này, gia đình tôi đưa cháu đến Bệnh viện Bạch Mai khám lại, người ta kết luận cháu bị bệnh giảm tiểu cầu". Cả thôn Ngọc Lâm thương tiếc cho sự ra đi bất ngờ của cô bé. Cha mẹ của P. đã khóc hết nước mắt cho người con gái đoản mệnh. 3 năm trôi qua, tưởng chừng như vết thương lòng của gia đình bé P. đã lành, nhưng bỗng nhiên có tin đồn về "ma nữ" trêu người khiến cho vết thương tinh thần của gia đình cô lại thêm một nhát cứa. Chỉ là trò đùa của trẻ con? Trao đổi với chúng tôi, Chủ tịch UBND xã Bối Cầu - ông Trần Tuấn Anh cho biết: "Tôi cũng đã nghe được những tin đồn về chuyện "ma nữ" rủ trẻ cho xuống ăn đất, hay trêu những thanh niên... Tuy nhiên, chúng tôi chưa từng chứng kiến cũng như việc mọi người chỉ nghe tin đồn chứ chưa ai gặp nên không có căn cứ để kết luận. Theo tôi thì đó chỉ là việc người dân mê tín, tin vào những lời kể không đúng sự thật của những người có trí tưởng tượng phong phú". Ông Tuấn Anh chỉ tay về phía cánh đồng bảo: "Đấy, mộ con bé chỉ cách trụ sở UBND có hơn 50 mét, nhiều đêm tôi và các anh trong Ủy ban làm việc về muộn, đi qua mà có thấy gì đâu. Các anh cũng biết rồi đấy, tam sao thì thất bản. Câu chuyện một, họ truyền tai nhau, mỗi người thêm một tí là biến thành mười". Ông Trần Tuấn Anh - Chủ tịch UBND xã Bối Cầu Còn việc trẻ con "ăn đất" ở mộ "ma nữ" ông Tuấn Anh giải thích: "Tôi cho rằng lũ trẻ muốn trêu đùa nên thách thức nhau xuống mộ cô bé chứ làm gì có chuyện ma quái dụ người. Từ đó đến nay cũng không có thêm tin đồn nào nữa". Được biết, để tránh tâm lý học sinh sợ sệt khi đi học võ, UBND xã Bối Cầu đã trực tiếp mời thầy giáo dạy võ về tại xã mình giảng dạy. Lần theo tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông buôn thóc theo những lời đồn đại là từng bị ma trêu, chúng tôi tìm đến thôn Vọc, xã Vũ Bản. Khi đến đây, hỏi người tên Thuật hành nghề buôn thóc, cả thôn không ai biết. Ở làng bên có một anh tên Thuật nhưng khi hỏi đến chuyện "ma nữ" trêu người thì anh này hoàn toàn không nghe tin gì cả. Khi chúng tôi tìm đến nhà bé P., bố mẹ cô không có nhà, tiếp chúng tôi là anh Chu Văn Sơn, cậu ruột bé P. Anh Sơn tâm sự: "Việc xuất hiện các tin đồn đã khiến cho anh chị tôi rất đau lòng. Nhà tôi gần nhà cháu P. nhưng cũng chưa bao giờ nghe thấy anh chị tôi kể về người đàn ông bị ma dẫn đến nhà mua thóc, hay ông già mua bò bị ma nhập vào bò giẫm lên người... Theo tôi, tất cả chỉ là những câu chuyện mê tín của những người ngồi lê lắm chuyện, chứ làm gì có ma quỷ hiện về hại người".
  23. Lý giải việc tìm mộ liệt sĩ qua giấc mơ Ở huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên - Huế), ông Nguyễn Viết Xu (còn có tên Nguyễn Xu, SN 1941), Đội trưởng Đội quy tập mộ liệt sỹ của xã Hương Xuân được khá nhiều người biết đến vì ông cho rằng mình đã từng tìm thấy nhiều ngôi mộ liệt sĩ qua những giấc mơ. Những giấc mộng lạ Theo lời kể của ông Xu, sau ngày đất nước giải phóng, ông giã từ quân ngũ, phục viên về quê. Đất nước đã thanh bình, cuộc sống đã bình yên nhưng ông vẫn mang nỗi niềm canh cánh: "Lòng vẫn chưa yên vì thương các đồng đội đã không thể trở về với gia đình, người thân, còn nằm lại trong những cánh rừng sâu, ngọn núi thẳm", ông chia sẻ. ông tự nguyện tham gia tìm hài cốt liệt sĩ với vai trò là Đội trưởng Đội quy tập mộ liệt sỹ của xã. Theo lời tự bạch, ông Xu phát hiện ra khả năng tìm mộ qua ...chiêm bao của mình bắt đầu vào tháng 5/2008. Mùa hè năm đó, đoàn tìm kiếm được lệnh tìm mộ liệt sĩ Ấu Triệu (tên thật là Lê Thị Đàn, trú tại Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên - Huế). Ấu Triệu trước khi hi sinh là thư kí của nhà yêu nước Phan Bội Châu. Trước khi lên đường, đoàn không có thông tin nào đáng giá ngoài việc biết bà đã hi sinh tại nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị). Ông Nguyễn Xu, người tự nhận có khả năng tìm mộ qua báo mộng Đêm trước ngày lên đường, không hiểu sao ông Xu trằn trọc, đến gần sáng thiếp đi, ông mộng thấy quang cảnh nhà tù Lao Bảo và phần mộ của liệt sĩ ấu Triệu, dù trước đó, ông chưa từng một lần đặt chân đến khu vực này. ông Xu kể lại: "Lúc đầu, tôi không tin vào giấc mơ nên giữ bí mật trong lòng, sợ kể ra thì mọi người lại chê cười mình là mê tín này nọ. Nhưng khi đoàn đến Lao Bảo, tôi sững người, bủn rủn chân tay bởi cảnh vật trước mắt y hệt trong mơ. Lúc này, tôi thắp nhang khấn vái rồi lấy nhà tù làm trung tâm để xác định vị trí ngôi mộ như đã được báo mộng. Mọi người đào sâu hơn nửa mét thì phát hiện hài cốt của bà ấu Triệu". Theo ông, cuộc sống của ông có chút thay đổi từ ngày ấy, hàng đêm ông luôn có những giấc mơ kì lạ, nhiều nhất là mơ về các đồng đội đã hy sinh. "Tôi nghe thấy tiếng đồng đội đang gọi tôi đâu đó", ông Xu nói. Bà Phạm Thị Lệ (62 tuổi, vợ ông Xu) cũng phát hiện ra sự thay đổi ở chồng mình: "Từ ngày ấy, chồng tôi bỗng có tư thế nằm ngủ khác người. Chân gác cao lên tường nhà như đang tập thể dục, rồi thường xuyên nói chuyện một mình khi ngủ". "Bí kíp" tìm mộ "Năm 2008 tìm được hơn 200 phần mộ liệt sĩ, năm 2009 tìm được 100 ngôi, năm 2010 tìm hơn 50 ngôi, năm nay vừa tìm được hơn 10 hài cốt...", ông Xu lật cuốn vở học sinh ghi chép những lần đi tìm hài cốt đồng đội nhẩm tính. ông cho biết, từ sau lần đi tìm mộ liệt sĩ ấu Triệu, ông liên tiếp xác định đúng vị trí của mộ nhiều liệt sĩ khác. Vì vậy, ngày càng có nhiều người tìm đến nhờ ông giúp đỡ. Có những tháng, ông chỉ ở nhà vài ba hôm, thời gian còn lại là những tháng ngày rong ruổi khắp núi rừng từ Quảng Nam đến Thanh Hoá, sang tận biên giới Lào, Campuchia... trong các chuyến quy tập mộ liệt sĩ. Vợ ông cho biết: "Hễ có ai nhờ là ông ấy lại khăn gói lên đường, lúc nào xong việc mới trở về, có hôm, vừa về tới nhà đã có người đến nhờ đi tiếp". ông Xu cho biết, để tìm mộ của liệt sĩ nào, ông chỉ cần thuộc lòng một vài thông tin như: Họ tên đầy đủ, năm sinh, quê quán, nơi hy sinh... Qua đó, nếu may mắn, trong giấc mơ ông sẽ tìm thấy. Ngay chính bản thân ông cũng không thể lí giải, đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay khả năng đặc biệt nào đó. Theo lời ông, với những gia đình ở xa có con em hy sinh trong chiến tranh tại Huế nhưng không có điều kiện về tận nơi, ông vẫn sẵn sàng giúp đỡ qua thư từ, điện thoại: "Tôi ghi lại tên tuổi, địa chỉ rồi lúc nào tìm thấy báo người ta đến nhận là được", ông Xu đưa chúng tôi xem những bức thư nhờ ông giúp đỡ gửi về từ khắp nơi. Như để minh chứng câu chuyện của mình, ông đưa ra bức thư cảm ơn của ông Mạc Tiến Khoát, quê ở Hưng Yên là thân nhân của liệt sĩ Mạc Tiến Quang. Thư đề ngày 14/1/2009 viết: "Nhờ khả năng của anh, gia đình chúng tôi đã đưa được hài cốt liệt sĩ Mạc Tiến Quang về quê. Gia đình tôi vô cùng cảm kích, không bao giờ chúng tôi quên ơn này...". Nhờ giấc mơ hay nhờ ký ức và kinh nghiệm? Để thẩm định thêm độ chính xác về câu chuyện của ông Nguyễn Xu, chúng tôi đã liên hệ với thân nhân một số liệt sĩ đã được ông Xu tìm mộ giúp. Anh Nguyễn Hồng Khoan (SN 1971), trú tại xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) là con của liệt sĩ Nguyễn Công Trứ (SN 1963) khẳng định: "Tôi từng tìm đến rất nhiều nhà ngoại cảm để xác định tung tích của người cha quá cố nhưng không có kết quả. Qua bạn bè giới thiệu, tôi đã đến nhờ bác Xu tìm giúp. Vị trí phần mộ do bác Xu tìm ra trùng khớp với vị trí trên bản đồ do người chôn cất bố tôi để lại". Trường hợp thứ hai là gia đình cụ Bùi Thanh (85 tuổi) trú tại số 111, Chi Lăng, TP Huế. Theo lời kể của cụ Thanh, em gái cụ là liệt sĩ Bùi Loan (SN 1922) hy sinh năm 1948 tại mặt trận Thanh Lương (Thừa Thiên - Huế). Chỉ với ít ỏi thông tin như vậy nhưng ông Xu đã tìm ra hài cốt liệt sĩ Bùi Loan trước sự kính nể của nhiều người. "Giữa hàng nghìn ngôi mộ vô danh, anh Xu đã tìm ra phần mộ anh tôi nằm ở hàng thứ 14, mộ số 6, lô 9A", ông Thanh cho biết. Chúng tôi cũng đã tìm đến chính quyền địa phương tìm hiểu sự việc. ông Ngô Quang Thảo, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hương Xuân xác nhận: "Bác Nguyễn Xu tham gia tìm kiếm mộ đồng đội đã nhiều năm nay và nhiều lần thành công. Chúng tôi có nghe bác nói đến chuyện có những khi nằm mộng thấy địa điểm mộ liệt sĩ, nhưng thực hư như thế nào thì không ai biết được". ông Thảo cũng khẳng định: "Bác Xu còn là một người trưởng thôn mẫu mực, luôn đi đầu trong mọi hoạt động xã hội ở địa phương, từ trước đến nay tuyệt đối chưa từng có hoạt động mê tín dị đoan nào. Chưa khi nào có chuyện bác lợi dụng việc tìm mộ liệt sĩ để làm chuyện xấu". Anh Lê Ánh, một người dân trú tại thôn Thượng Thôn kể: "Có những gia đình ở tận Hải Phòng, Hà Nội... vào đây nhờ bác Xu tìm giúp hài cốt con em mình. Cứ mỗi khi tìm được là thế nào người nhà cũng định quay lại hậu tạ tiền bạc, lễ vật rất hậu hĩnh nhưng bác Xu nhất quyết không nhận một nghìn tiền lẻ". Bản thân ông Xu cũng băn khoăn: "Tôi có phải thần thánh gì đâu, không phải mộ nào tôi đều tìm thấy cả. Ngoài giấc mơ, tôi luôn lấy kinh nghiệm của mình làm thước đo cho sự chính xác. Ngày trước, tôi hoạt động ở vùng rừng núi Thừa Thiên - Huế nên nắm rất rõ địa bàn hoạt động của từng đơn vị. Từ đó, đối chiếu với thông tin do gia đình cung cấp có thể xác định được đồng chí nọ, đồng chí kia có thể hy sinh tại địa điểm như trong giấc mơ hay không. Trường hợp nào logic thì mình kiểm tra, triển khai tìm kiếm. Có rất nhiều gia đình tìm đến nhờ tôi giúp đỡ nhưng tôi không thể, với những trường hợp không đáng tin cậy thì mình không thể phát ngôn bừa được". Kết thúc câu chuyện, ông trầm ngâm: "Nếu có thể, tôi cũng rất mong các nhà khoa học tìm hiểu về trường hợp của tôi ra sao. Cũng có lẽ những ký ức về đồng đội một thời gắn bó không bao giờ phai nhạt, luôn day dứt khiến đêm đêm tôi lại có những giấc mơ kỳ lạ về những người còn đang nằm lại nơi chiến trường xưa?". nguồn: 24h.com.vn
  24. Lăng Ba Vành có phải là lăng mộ Vua Quang Trung? Giadinh.net - Cái chết của vua Quang Trung vốn đã chứa đựng quá nhiều điều bí mật, không những thế, tháng 11 năm 1801, vua Gia Long lại cho phá huỷ nơi chôn cất ông và san thành bình địa. Hơn 200 năm qua, vị trí lăng mộ Quang Trung chính xác ở nơi nào vẫn là dấu hỏi lớn? Và đã có quá nhiều giả thuyết gây nên những cuộc tranh cãi đến mức căng thẳng. Chúng tôi đã có cuộc hành hương về thành Phú Xuân (Huế) xưa, và ghi chép được rất nhiều điều lạ... Không rõ rằng, chuyện tìm mộ Quang Trung Hoàng đế và mộ Thành Cát Tư Hãn, câu chuyện nào chứa đựng nhiều bí ẩn hơn? Mộ thiêng trong hoang phế Người đầu tiên tung “quả bom tấn” ra dư luận về vấn đề lăng mộ Quang Trung là ông giáo Trần Viết Điền - Giảng viên môn Vật Lý trường ĐH Sư phạm Huế. Trước những tranh cãi cho rằng, lăng Ba Vành là lăng Đức ý hầu Lê Quang Đại, một vị quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát đã chết vào đầu năm 1746, bằng phương pháp vật lý, ông Điền đưa ra 5 luận cứ nhằm vén bức màn bí mật và lật lại hoàn toàn vấn đề, khẳng định lăng Ba Vành chính là lăng mộ Quang Trung. Lăng Ba Vành đổ nát Phế tích lăng Ba Vành Lăng Ba Vành nằm ở ngọn đồi Thiên An, phía Tây thành phố Huế. Một người chăn bò ở gần đấy thấy chúng tôi lụp xụp áo mưa tìm lên lăng thì lắc đầu nửa tin nửa ngờ. Theo như ông biết, cách đây hàng vài chục năm đã có nhiều người đến đây đào bới nghiên cứu. Nhưng đấy là chuyện của thời ông mới lấy vợ. Còn giờ đây, khi con ông đã sắp lập gia đình, cái lăng mộ cổ này vẫn vậy và càng ngày, nó càng bị trâu bò ngứa sừng đào bới cho tung toé. Ông vạch cây, rẽ lối chỉ đường cho chúng tôi mò đến tận lăng. Theo ý ông Điền, lăng Ba Vành chính là lăng mộ Vua Quang Trung. Thế nhưng tại sao những người đời sau lại cho rằng đấy là lăng của Đức ý hầu Lê Quang Đại? Tìm tòi ròng rã nhiều năm, ông Điền phát hiện ra rằng đã có nhiều người tìm cách biến nơi này thành... một ngôi mộ giả! Phế tích lăng Ba Vành nằm giữa rừng thông bạt ngàn và chằng chịt bởi những lùm bụi mâm xôi. Cây rựa trong tay người chăn bò tốt bụng khua lên loang loáng. Một khoảng tường thành xây dựng bằng các phiến đá to chồng lên nhau thấp thoáng hiện ra sau đám cỏ cây rậm rạp. Những viên gạch sứt mẻ, nhưng với “người trần mắt thịt” như chúng tôi vẫn có thể hình dung ra đấy là một bức tường đã từng được xây rất kiên cố. Vừa phạt quang bụi rậm, người đàn ông có đôi bàn tay vàng khè của một người tứ mùa làm ruộng kể: Cách đây gần 20 năm, khu vực này còn có cả khỉ. Đường lên lăng gồ ghề, xóc nẩy. Thi thoảng có việc lên núi lấy củi, ông thấy một số viên đá to, dài cả sải tay bị đổ cạnh lăng đã bị cỏ mọc trùm lên. Ngoài ra, còn có một số bức phù điêu có khắc chữ đã mòn trắng bị trẻ chăn bò đập phá rồi ném cách lăng đến 5m. Một thời gian sau, có nhiều nhà khoa học đến đây. Họ phát quang cây cối cả một vùng, rồi đào bới nhặt nhạnh từng mảnh vỡ về ghép lại để nghiên cứu và mở ra nhiều chi tiết lạ kỳ của một ngôi lăng tưởng như đã chìm trong hoang phế. Tôi nhớ lại lời của ông Trần Viết Điền trước khi mình khăn gói lên tận Thiên An xem lăng: “Ba Vành trước đây là lăng của một vị quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát tên là Lê Quang Đại đã chết vào đầu năm 1746. Sau đó, vua Gia Long cho san thành bình địa tất cả các địa điểm có liên quan đến vua Quang Trung. Lăng Ba Vành hoang phế từ đấy. Vì bị cỏ cây che lấp nên ai cũng tưởng ngôi lăng có qui mô vừa. Chúng tôi đã phát lộ và dùng thước đo đạc mới thấy qui mô của lăng, dẫu đã bị quật phá nặng vẫn có quy mô rất hoành tráng”. Ngôi lăng độc nhất vô nhị Điều đầu tiên đập vào mắt sau khi đoàn nghiên cứu của thầy trò Trần Viết Điền phát lộ cây cối là nhìn toàn cảnh, lăng Ba Vành có hình elip với các trục lớn 60m, trục nhỏ 40m. Quy mô của một ngôi lăng như thế này là quá hoành tráng, chưa kể tân nguyệt trì (hồ trăng non) bên cạnh. Lăng gồm 3 uynh thành ghép lại. Uynh ngoài hình móng ngựa, kết thúc bằng hai trụ cửa khá lớn. Uynh thứ hai có hình cong ngược với 4 phù điêu có hình voi đắp nổi. Uynh trong cùng là hình tượng hai con cù dậy, ôm nấm mộ xây có hình mai rùa, còn đầu rùa như ngậm cái bia thẻ. Các uynh thành có một trục đối xứng hình học và trục này theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, nghiêng Bắc góc 60o. Còn đường thần đạo của lăng, vuông góc với trục đối xứng vừa nêu, tọa hướng càn (Đông Nam- Tây Bắc, nghiêng Bắc 30o). Đây mới là hướng chính của ngôi lăng. Trục nhỏ này là trục đối xứng của nhà bia có đế chữ thập, từng có bia thờ, đã bị ai đó băm nát, cắt đầu bia, gọt tai bia... Nghiên cứu sâu thêm, ông Điền hốt hoảng nhận ra giữa uynh thành 2 và uynh thành 3 có một hầm hình hộp, nhận đường thần đạo làm trục đối xứng và hiện nay nắp hầm còn ở bờ tân nguyệt trì trước lăng. Nắp này là một phiến đá lớn được gọt đẽo mà thành. Theo các nhà khoa học, hầm này có khả năng chứa các đồ thờ và chủ yếu là các vật tùy thân của chủ nhân ngôi lăng. Khảo sát miệng hố, đục cái nấm xây và đoán hướng huyệt của ngôi mộ, ông nhận thấy về phương pháp vật lý và dịch lý Đông phương, thi thể của chủ nhân ngôi lăng nằm theo hướng thần đạo, đầu tọa tốn, chân hướng càn, bên trái chủ nhân là 3 cung liền, và bên phải chủ nhân là 3 cung đứt (đó là 3 cửa vào lăng). Người thiết kế lăng đã xử lý rất tuyệt diệu về phong thủy và dịch lý Đông phương. Theo đường thần đạo mà tính, 3 uynh thành tạo thành quẻ càn kép (bát thuận càn), theo hướng vuông góc với đường thần đạo mà tính thì đạt quẻ thái (quẻ khôn ghép với quẻ càn). Đây là lý do ngôi lăng này có đến 3 uynh thành đăng đối hình học và cả đăng đối dịch lý. Các lăng mộ ở Huế, trừ lăng các vua, không tìm thấy ngôi lăng thứ hai nào như vậy. Những hoa văn kỳ lạ Điều mà ông Điền khám phá ra là hai con cù dậy tìm thấy trong mộ là tiền thân của con rồng bởi chúng có cái sừng đắp nổi, hoàn toàn khác với giống cù như một số tài liệu trước đó đã có. Mô tip trang trí này cũng thuộc loại độc nhất vô nhị ở Huế. 4 phù điêu đắp nổi 4 con voi ở uynh thành thứ 2 đều được xác định không phải hình tượng voi chầu, cúp vòi phủ phục như vẫn thấy ở lăng mộ vua chúa triều Nguyễn, triều Lê. Voi ở lăng Ba Vành uốn vòi lên trên, cặp ngà cũng chĩa lên và đặc biệt trên đầu voi cũng... mọc sừng. Toàn bộ công trình kiến trúc lăng mộ được thiết kế nhất quán theo thuật phong thuỷ và dịch lý phương Đông. Hoa văn, sừng voi, ngà voi, sừng cá sấu, mí mắt cá sấu, các dải hồi văn luôn có một vạch liền nét (chỉ dương) và thành phần thứ hai là hai vạch đứt xếp lại, nhỏ hơn, khép nép, e ấp (chỉ âm). Đây cũng là một lối trang trí độc đáo nữa, chứng tỏ người thiết kế rất uyên thâm dịch lý và rất yêu kính chủ nhân ngôi lăng. Theo khám phá ban đầu của ông Điền, tân nguyệt trì bên phải ba uynh thành có chữ nguyệt, bửu thành có chữ nhật. Nhật nguyệt nghĩa là Minh, ý chỉ người nằm trong lăng là bậc minh quân: “Nghiên cứu các lăng tẩm của các vua và mẹ vua ở Huế, chúng tôi nhận thấy một qui luật là chỉ có nhà vua từng lên ngôi và hoàng thái hậu (mẹ vua) khi mất, xây lăng mộ mới có Tân nguyệt trì, cha của vua mà không làm vua thì trước lăng không được xây Tân nguyệt trì. Lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Dục Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Thành Thái, lăng Khải Định và lăng mẹ của các vị vua này đều có Tân nguyệt trì và đương nhiên có nhà bia thánh đức thần công, với đế chữ thập. Như vậy, lăng Ba Vành có đủ các cấu kiện độc đáo: nhà bia có bệ chữ thập, trước bửu thành có Tân nguyệt trì mà chỉ có bậc đế vương mới được xây dựng trang trí như thế, bởi một ông quan thời phong kiến, dù có tiền nhiều cũng không dám xây lăng như thế này vì dễ mang tội khi quân”. Mười năm nghiên cứu một... loại gạch Để chứng minh lăng Ba Vành là lăng vua Quang Trung một cách khoa học và thuyết phục, ông Điền đã dốc toàn lực trong 10 năm chỉ nghiên cứu một loại gạch phát hiện được trong lăng mộ này. Và để chứng minh đây là loại gạch của Tây Sơn sản xuất và sử dụng trong các công trình kiến trúc văn hóa, ông Điền đã phải sưu tầm các loại gạch được sản xuất và sử dụng từ thế kỷ 14 đến nay trên đất Thuận Hóa. Ông Điền và những viên gạch thời Tây Sơn Nơi đầu tiên ông khăn gói quả mướp đến tìm hiểu là đàn Viên Khâu của thời đại Tây Sơn ở Núi Bân. ở đàn Viên Khâu còn một số mảnh gạch thẻ nung non, dày 2cm, rộng 12cm, dài 14cm. Sau đó nhóm ông đã kiểm chứng kết quả ở những công trình kiến trúc mà Tây Sơn có tôn tạo, dựng thêm... Không ngại gian khổ, ông đã đến Khải Thánh Từ (nơi mà sau này trở thành Văn miếu của triều Tây Sơn) đã từng có mở thêm học cung, nghĩa là có xây dựng bằng gạch Tây Sơn. Thật thú vị và bất ngờ lớn nhất là ở đây còn rất nhiều loại gạch đã phát hiện ở Núi Bân. Ông lại tiếp tục lên chùa Thiền Lâm, nơi Thái sư Bùi Đắc Tuyên trưng dụng làm dinh thự của Thái sư và đã phát hiện rất nhiều loại gạch Tây Sơn như vậy... Ông lại khăn gói về tận Bãi Dâu, đến miếu Ông Mọi, nơi từng thờ một vị chỉ huy người Ba Na tử trận năm Bính Ngọ 1786, rồi lên chùa Linh Mụ... thật lạ, tất cả những nơi này đều có rất nhiều gạch của Tây sơn. Để khẳng định chắc chắn thời Tây Sơn có một loại gạch riêng, ông đã tiến hành kiểm chứng loại gạch này ở các công trình thuần thời Nguyễn như lăng các bà vợ của chúa Nguyễn... thì không phát hiện loại gạch nào như vậy. Ông Điền đã quay lại khảo sát cả vùng đồi Thiên An và tìm thấy trong lăng Ba Vành và xung quanh còn rất nhiều gạch Tây Sơn cùng loại. Như vậy, theo ông Điền, lăng Ba Vành là công trình kiến trúc do Tây Sơn xây dựng. Đi tìm mộ vua Quang Trung: Lăng Ba Vành có phải là lăng mộ Vua Quang Trung? (2) Giadinh.net - Nếu trước đây, các nhà sử học cho rằng Lăng Ba Vành là của Đức ý hầu Lê Quang Đại thì càng khám phá lăng, ông Trần Viết Điền càng bàng hoàng nhận thấy nhiều chứng cứ giả đã được tạo ra trên các tấm bia bị quẳng lăn lóc ở quanh lăng. Việc làm có chủ đích của một người nào đó chăng? Mộ thật, mộ giả Lăng Ba Vành có phải là lăng mộ Vua Quang Trung? (1) Khởi nguồn chuyến hành trình đi tìm lăng mộ của ông giáo Điền được bắt đầu cách đây 20 năm. Đó là cuộc gặp gỡ với cụ Nguyễn Hữu Đính (nguyên Chủ tịch UBMTTQ TP Huế), người đã dựa vào các dữ kiện lịch sử, quan niệm phong thủy và quan niệm chọn sính phần của vua chúa Việt Nam để rồi nhận: Lăng Ba Vành chỉ có thể là lăng Quang Trung được triều Tây Sơn ngụy trang để phòng nguy cơ Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân rồi tàn phá. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông Đính trước đó đã không có nhiều sức thuyết phục. Đến lượt mình, ông Điền quyết định tìm lăng mộ Quang Trung cùng hướng với cụ Đính nhưng theo cách riêng của mình. Thông tin đầu tiên ông đưa ra khiến giới nghiên cứu Huế choáng váng: Ông khẳng định lăng Ba Vành không phải lăng của ý Đức hầu Lê Quang Đại, một vị quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát và chết vào đầu năm 1746, như công bố trước đây. Chứng cứ đầu tiên mà ông đưa ra là bài viết đăng trên báo Đại Chúng vào năm 1974. Trong bài viết đó, khi trả lời về sự tích lăng Ba Vành cho một vị linh mục người Pháp, một chức sắc làng Cư Chánh (nơi lăng Ba Vành ngự trị) cho biết, đó là ngôi mộ xưa, nguyên đắp ba lớp thành, thường xưng là Ba Vành, bỏ phế đã lâu, chỉ lưu lại tòa bia đá bị phá hủy. Đặc biệt, trong giấy tờ để lại vào năm 1901, lý trưởng làng lúc đó có tên Nguyễn Bút đã đồng ý cho Cơ mật viện có tên là Bá Khương đem thân nhân hình như là người cha chôn vào lăng ấy. Còn tại tờ phúc bẩm của Bộ Lễ thì Bá Khương khai rằng, mộ ở Lăng Ba Vành là của Hộ Bộ kiêm Binh Bộ Lê Quý Công (tức Lê Quang Đại). Như vậy nếu nói rằng lăng Ba Vành chỉ là lăng của ông Hộ Bộ kiêm Binh Bộ Lê Quang Đại thì quá đáng ngờ. Vậy mộ thật của Lê Quang Đại ở đâu? Ông Điền đã tìm đến họ Lê, một dòng họ thuộc hàng danh gia vọng tộc ở Huế và phát hiện ra một chi tiết quan trọng: Họ Lê của làng Xuân Hòa (gần chùa Thiên Mụ) có ông tổ từng giữ chức Hộ Bộ (thượng thư) kiêm Binh Bộ. Rà soát Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, chỉ có 4 vị từng giữ chức Hộ Bộ kiêm Binh Bộ thời chúa Nguyễn, đó là các ông Trần Đình Hy, Nguyễn Thừa Tự, Lê Quang Đại và Hoàng Ngọc Uẩn . Ông Điền cho biết: “Tôi lại tiếp cận gia phả họ Nguyễn ở làng An Hòa, có Nguyễn Cư Trinh là rể của ông Hộ Bộ kiêm Binh Bộ Lê Quang Đại. Vợ Nguyễn Cư Trinh là bà Lê Thị Màn, có tên trong gia phả gốc của họ Lê Xuân Hòa. Ông Hộ Bộ kiêm Binh Bộ Lê Quang Đại là chủ nhân ngôi mộ nằm trong khuôn viên miếu Khai canh của làng Xuân Hòa. Vậy tại sao người ta lại làm hồ sơ để ông nghiễm nhiên nằm ở lăng Ba Vành”? Bằng các lập luận và bằng chứng, ông Điền khẳng định Toà khâm sứ Pháp xứ Trung kì đã từng làm hồ sơ giả để hợp thức hoá chủ nhân lăng Ba Vành là của ông Lê Quang Đại. Theo ông Điền, tại Hội nghị về Quang Trung được Hội lịch sử Thừa Thiên Huế tổ chức trước đây, nhiều nhà khoa học đã công nhận lăng Ba Vành chưa có chủ nhân. Nghĩa là Ông Lê Quang Đại phải trở về Miếu khai canh ở làng Xuân Hòa và nhường lăng Ba Vành lại cho các nhà nghiên cứu. Ai đang nằm trong lăng? Ông Điền thuật lại, trong hai cái bia mình tìm được vào năm 1986 (gồm một cái cao lớn, kiểu bia thẻ và một cái bia hình chữ nhật nhỏ hơn) thì cả hai tấm bia đều đã bị đục nát chữ. Có người đã lấy xi măng trát vào mặt bia và khắc thêm các dòng chữ mới một cách vụng về để nguỵ trang. Có thể thấy, nhóm làm hồ sơ giả cho chủ nhân ngôi mộ trước đó và nhóm thao tác trên bia là một. Còn về thông tin người nằm dưới mộ là Bá Khương, ông Điền lý giải: Trong khi mộ của thân phụ của ông Bá Khương là ông Bá Bình đã được gia táng ở gần Đàn Nam Giao thời triều Nguyễn. Thế thì ông Võ Bà Khương đã đưa ai vào chôn tại lăng Ba Vành? Ông Điền cho biết, sau năm 1975, GS Phan Huy Lê đã dùng búa gỡ lớp xi măng nói trên dòng chữ “Cảnh Hưng Thất Niên Tứ Nguyệt...”. GS tạm kết luận Lăng Ba Vành là lăng của Lê Quang Đại, không phải lăng của hoàng đế Quang Trung. Tuy nhiên, theo ông Điền trong những dòng chữ này có nhiều điều đáng ngờ. Thứ nhất văn khắc thì hay nhưng tai bia và đế bia đều đã bị gọt và phá đến mức quá cẩu thả. “Với góc nhìn phong thủy và đăng đối dịch lý, chúng tôi tin rằng bia này nguyên thủy là bia thờ, đại diện cho linh hồn chủ nhân ngôi mộ, và nó đăng đối trên đường thần đạo của lăng. Sau này bia bị phá nát, chỉ còn lại như một tảng đá và bị ai đó khắc chồng lên 4 chữ “Sơn nhạc chung linh” nhằm mục đích làm sai ý đồ thiết kế của ngôi lăng”. Điều kì lạ là trên vết hỏng những chữ đã bị đục, người ta tiếp tục dùng đục khắc vào vị trí chữ thứ 2 mà theo ông Điền, có thể là chữ NGUYÊN đã bị đục thành chữ THẤT. Chữ THẤT này nét đá quá cao như chữ thảo, trong khi bia được khắc theo lối chữ chân. “Chúng tôi đã đo độ sâu những nét chữ giống nhau thì thấy quá lệch nhau; chứng tỏ người ta đã sửa bia sao cho phù hợp với năm mất của ông Hộ Bộ kiêm Binh Bộ Lê Quang Đại”.Ông Điền cùng các học trò đã tỉ mỉ cạo lớp rêu bám vào mặt bia thì thấy ở phía trên, góc trái có khắc một chữ “LA” (ý nói bắt được) và góc phải có khắc dòng chữ “NHÂM TUẤT MẠNH ĐÔNG”. Đầu bia phía này, lai đục hình một lưỡi mác nhỏ, rất sắc sảo, biểu tượng chủ nhân ngôi mộ bị trảm quyết. Bên dưới lại có dòng chữ được khắc vụng về: “TỰ TÔN VÕ BÁ ĐẠM PHỤNG LẬP”. Dòng này mới khắc thêm vào với ý đồ lái niên đại “Nhâm Tuất mạnh đông” nói trên sang một năm khác. Những năm NHÂM TUẤT trong lịch sử gồm: 1742, 1802, 1862, 1922, 1982. Dễ dàng loại năm 1742, 1862, 1982 vì không đúng thời điểm. Chỉ còn hai năm 1802 và 1922. Nếu ông Bá Khương lập bia, chí ít phải lập từ 1901 đến 1906, nhưng giai đoạn này không có năm Nhâm Tuất. Như vậy, có thể ai đó đã đưa người cháu Võ Bá Đạm vào, đóng vai trò lập bia cho ông nội với những dòng khắc vụng về trên lớp vữa mới được đắp lên mặt bia. Với cách xử lý này, việc ông Võ Bá Đạm lập bia vào năm 1922 là quá hợp lý. “Không may cho kẻ gian, chúng tôi rà soát trong gia phả của dòng họ Bá Khương, ở làng La Ỷ không có ông Bá Đạm dựng bia một cách “vô lễ” và “tồi tệ” với ông nội của mình đến như thế. Vậy hai người cháu LÊ XUÂN, Võ Bá Đạm chỉ là hai nhân vật “hư cấu” của bộ hồ sơ giả mà thôi”. Như vậy, theo nghiên cứu của ông Điền, chủ nhân Lăng Ba Vành chính là Vua Quang Trung nhưng đã có một bàn tay tạo “chứng cứ” giả để “hạ giá” ngôi lăng thành mộ của một vị quan. Đi tìm mộ Vua Quang Trung: Cung điện Đan Dương và những bí mật chưa từng khám phá (3) Giadinh.net - Cùng với nghiên cứu lăng mộ Vua Quang Trung của ông Trần Viết Điền, tại khu vực gò đồi Bình An, gần Chùa Thiền Lâm, Nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân cũng đã khai quật ra nhiều bí ẩn chưa từng được công bố. Một đường huyền đạo chạy xuyên dưới nền nhà, nhiều gạch đá lạ có hoa văn đẹp và một số phiến đá như những tấm bao quanh quách quan tài. Những phát lộ này phần nào vén bức màn bí mật về một Phủ Dương Xuân tráng lệ và dưới đó có an táng Vua Quang Trung. Chuyện truyền kỳ về tìm mộ Vua Quang Trung Khám phá của ông Xuân đã được nhiều nhà sử học xem là đúng đắn và các di vật được công nhận là có giá trị lớn, xác thực. Tuy nhiên, một số ý kiến nghiên cứu cho rằng, không phải Phủ này đã bị Gia Long quật phá mà nó đã được ai đó chủ động di dời cải táng.Bí ẩn quanh chốn Thiền Lâm Chùa Thiền Lâm được khai sơn vào cuối thế kỷ 17, trên gò đồi Bình An thuộc làng Bình An - Huế. Tương truyền, đây là nơi dành cho gia đình các chúa tụng niệm mỗi lần họ lên trú đông tại Phủ Dương Xuân gần đấy. Trong sử sách, Chùa Thiền Lâm và Phủ Dương Xuân của thời Nguyễn là hai ngón tay trên một bàn tay. Cùng với sự biến mất một cách bí ẩn của Phủ, ngôi chùa cũng đã bị xoá sổ trong một thời gian dài trước đó. Điều kỳ lạ, khoảng năm 1987, khi Tì kheo Thích Chơn Trí đến đây khai hoang, dựng lại ngôi chùa, ông đã phát hiện nhiều kỷ vật bí ẩn dưới lòng đất, cùng nhiều lăng bia bị đục nát. Nơi đầu tiên chúng tôi tìm đến là ngôi chùa chất chứa toàn bộ bí mật về hành trình tìm mộ Quang Trung của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Chùa nằm trên đỉnh gò đồi Bình An, thuộc xã Dương Xuân và bị cắt ra làm hai bởi con đường Điện Biên Phủ. Hoà thượng Thích Chơn Trí giờ đã là trụ trì chùa Thiền Lâm kể: Khi ông cùng một số đệ tử đến đây, chùa chỉ có một chánh điện và một điện thờ mẫu mục nát, không có nơi ăn, ở. Xung quanh chùa toàn là mộ địa. Thầy trò ông phải đào đất trồng rau chống đói. Khi đặt những nhát cuốc đầu tiên, ông bàng hoàng thấy đầu cuốc nẩy lên toé lửa vì chạm phải gạch đá lạ. Đào bất cứ chỗ nào trong vườn chùa, ông cũng chạm phải các hố gạch vồ, đá cổ. Hàng ngàn viên gạch vồ, mấy chục viên đá tảng và hàng chục viên đá khối khác đã được khai quật. Điều lạ lùng là các viên gạch có màu đỏ như son. Thậm chí nhiều viên còn nguyên cả khuôn dấu cổ. Thầy trò ông mang những viên gạch son này rửa sạch, những viên còn lành ông để xây tường, những viên bị bể thì đem đập ra đúc bờ lô. Các viên đá tảng, đá khối được dùng xây hồ nước, làm đôn kê chậu cảnh. Điều đáng ngạc nhiên, tại ngã ba đường lên chùa Vạn Phước (cạnh chùa Thiền Lâm) cũng có hai phiến đá táng cột cỡ 45x45cm được chôn xuống mặt đường. Những viên đá này được nghi ngờ là có xuất xứ từ một cung điện lớn hiếm có. Gần đây, khi TP Huế kiên cố hoá lại đường sá, hai viên đá quý này bỗng dưng biến mất. Người dân xung quanh khu vực đất chùa Thiền Lâm cho biết, ở vùng này trước kia người ta đào được hàng trăm viên đá như thế và đã bán dần cho các thợ làm bia mộ. Những viên xấu không làm bia được, dân mới đem ra lát đường. Đi theo con đường này khoảng vài chục mét, người ta phát hiện ra nhiều đống gạch ngói, vôi vữa cũ được vun thành bờ rào phía sau chùa Vạn Phước. Đống phế liệu này chứng tỏ đã có những công trình kiến trúc cổ bị triệt hạ. “Giếng Loạn” Cách Chùa Thiền Lâm khoảng nửa cây số, ngay cạnh con suối Tiên và một hồ sen bán nguyệt (giờ đã trồng đầy rau răm) là chùa sư nữ Diệu Đức. Quanh khu vực chùa Diệu Đức, ông Xuân còn khám phá nhiều giếng cổ kỳ lạ. Giếng cổ được xây bằng những viên đá to xếp chồng lên nhau và là nguồn nước sinh hoạt chính của chùa. Nó vốn bị bỏ hoang và được ông Phó bảng Nguyễn Đình Hiến, nguyên Phủ doãn Thừa Thiên phát hiện vào năm 1930 khi ông đến chơi vùng này. Không ai đo được độ sâu của giếng là bao nhiêu, nhưng dân chúng thì khẳng định mùa hè nước mát lạnh như đá, mùa đông lại ấm áp kỳ lạ. Đặc biệt giếng chưa bao giờ cạn trong khi những giếng đào mới của dân xung quanh vẫn bị khô vào mùa hạn. Ném một viên đá xuống nước, tiếng động vọng lên nghe rất âm và thanh. Người địa phương cho biết giếng thường được gọi là “giếng loạn”. Trở lại bờ Bắc con suối Tiên và hồ bán nguyệt, ông Xuân lại khám phá thêm được một “giếng loạn” thứ hai. Giếng này đã bị chùa Thiền Lâm lấp vào năm 1992. Theo ông Xuân, cùng với các tấm bia và giếng cổ, chứng tỏ đây là một vùng từng có đông người ở, về sau bỏ hoang và phải chăng vì liên quan đến chuyện “binh loạn ” với Tây Sơn? Mả loạn Ở phía trái con đường đi qua Giếng Loạn, người dân phát hiện ra nhiều ngôi mộ tập thể. Mỗi ngôi vun cao và dài như những vồng khoai lớn. Một số mộ hoang này đã có ở đó từ xưa, một số mới dời vào đây khi người Pháp làm đường Nam Giao Tân Lộ và tất cả đều được đặt tên là “mả loạn”. Một điều lạ lùng nữa là khi gia đình ông Nguyễn Văn Minh (ở sát chùa Diệu Đức) phá nhà làm lại, đã vô tình phát hiện thấy dưới nền nhà có 27 bộ xương cốt chồng lên nhau. Ông Minh sợ quá, vội chuyển 27 bộ xương ấy ra táng ở vườn nhà của mình. Nhiều người dân ở đây cũng cho biết, chung quanh chùa Thiền Lâm cũng tìm thấy nhiều hố tro cốt của nhiều người từng bị dập xuống như ở nhà ông Minh. Tấm bia đá đã bị mài nhẵn hết chữ, đặt trên lưng rùa và được dựng tại sân sau chùa Thiền Lâm Theo ông Xuân hồ nghi, phải chăng những hài cốt vô danh này chính là hài cốt của quân Tây Sơn thua trận đã bị quân Nguyễn tàn sát và chôn tập thể khi Nguyễn Ánh trở lại Phú Xuân hồi đầu thế kỷ XIX? Cùng với những giếng cổ đã từng cấp nước uống cho các lực lượng của Tây Sơn trong cung điện Đan Dương bị miệt thị là “giếng loạn”, hàng trăm ngôi mộ hoang đã mấy thế kỷ nay cũng được gọi với cái tên dân gian “mả loạn” để chỉ những gì thuộc về quân Tây Sơn.Cung điện trong lòng đất Qua những hiện vật phát hiện ở chùa Thiền Lâm, ông Xuân khẳng định chùa đã bị dời đi và sau này được xây dựng lại trên một khu đất đã từng vùi lấp một kiến trúc hoành tráng nào đó từng bị triệt phá. Những gạch vồ, đá lát, đá táng cột, đá tảng, đá trang trí ở đầu cột trụ và nhiều loại đá có hình thù khác nhau không thể của dân chúng trong bất cứ thời đại nào mà là một vùng cung điện vua chúa. Ở đây chính là Phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn. Như vậy, Phủ Dương Xuân của các chúa Nguyễn và Cung điện Đan Dương của Vua Quang Trung là một. Nghĩa là Vua Quang Trung khi lên ngôi đã cải tạo Phủ Dương Xuân thành Cung điện Đan Dương. Vì thế sau này, khi Vua Quang Trung băng hà vào cuối 1801, quan quân nhà Nguyễn đã trả thù bằng cách quật phá và vùi Cung điện Đan Dương xuống đất. Khu vực Cung điện Đan Dương đã rõ khi xác định được nó toạ lạc trên vòng tròn: Chùa Thiền Lâm, chùa Vạn Phước (nơi có các đống vôi vữa cũ vun thành đống) và chùa Diệu Đức (nơi có các giếng loạn có chứa trong lòng những bức liễn và mả loạn). Chỉ còn câu hỏi: “Lăng mộ vua Quang Trung ở đâu trong Cung điện Đan Dương?”. Địa điểm huyệt mộ táng Vua Quang Trung đã bị quật phá cụ thể ở chỗ nào trong khu vực cung điện này? Để xác định chính xác nơi tồn tại huyệt mộ trong khu vực khả nghi có tồn tại Cung điện Đan Dương, Ông Xuân đã mời thầy địa lý Dương Văn Sinh xác định địa điểm và quyết định thám sát thử. Thật bất ngờ, hàng trăm câu chuyện huyền bí cũng được lật lên theo từng nhát cuốc. Đi tìm mộ Vua Quang Trung: Những phiến đá bọc mộ và bí mật huyệt đạo (4) Giadinh.net - Theo cách tính toán của thầy địa lý Dương Văn Sinh, nếu có huyệt mộ chắc chắn chỉ có thể nằm trong khu vực nhà của chị em ông Nguyễn Hữu Oánh, ngay dưới chân chùa Vạn Phước. Thật ngỡ ngàng bởi chính từ ngôi nhà này, hàng trăm câu chuyện có thật được nhuốm một màu huyền bí đã dần dần được hé lộ. Những viên đá lạ Ngôi nhà giấu trong lòng đất vô số những điều bí ẩn đó nằm dưới con dốc trước cổng chùa Vạn Phước. “Nhân chứng sống” Nguyễn Hữu Oánh, chủ nhân ngôi nhà vẫn còn bàng hoàng chưa quên được những điều bất thường mà gia đình ông đã trải qua trong thời gian gần đây. Chuyện truyền kỳ về tìm mộ Vua Quang Trung Kỳ 1: Lăng Ba Vành có phải là lăng mộ Vua Quang Trung? Kỳ 2: Hồ sơ một lăng mộ cổ Kỳ 3: Cung điện Đan Dương và những bí mật chưa từng khám phá Theo lời ông Oánh, đời thứ nhất được tính từ ông nội ông Oánh là lý trưởng nhưng con đông, vợ mất sớm. Lúc ấy, có người con gái nói giọng Nghệ An văn hay chữ tốt đi buôn qua Phá Tam Giang bị mất sạch đồ đạc và nguyện đến xin làm vợ thứ của ông lý trưởng và trở thành bà nội ông Oánh từ đấy. Sau đó, bà đã lập một am thờ lớn hơn bất cứ am nào trong khu vực và giải thích với con cháu nôm na là am thờ người khuất nào đó. Khi bà qua đời, con cháu vẫn chưa biết quê quán bà ở đâu, có họ hàng gì với anh em nhà Tây Sơn không và liệu cái am bà lập có phải là để thờ vua Quang Trung hay không? Ông Oánh nhớ lại cụ thân sinh mình từng kể, khi họ tộc ông đến đây, xung quanh làng mạc trắng xoá nhưng kỳ lạ là dưới lòng đất có nhiều mả loạn và giếng loạn. Khi canh tác, cụ thân sinh ông Oánh bắt gặp nhiều dấu vết của những thành quách đã bị sập, những công trình xây dựng bị chôn vùi dưới lòng đất. Thậm chí, sau lưng nhà ông vẫn còn tồn tại một giếng loạn rất sâu. Đáng ngạc nhiên hơn là vào khoảng năm 1925, trong lúc đào đất làm vườn, đầu cuốc của cụ đã chạm phải 4 tấm đá lớn. Tấm đá có chiều dài hơn 2m, rộng chưa đầy 1m và dày 3,5cm. Tấm đá này thuộc loại đá granít, mặt trên được mài trơn nhẵn, mặt dưới thô ráp còn hằn rõ vết đẽo của một loại dụng cụ thô sơ. Khi đào được những phiến đá lạ, gia đình ông Oánh tự giải thích đây là những hiện vật của một ngôi “mộ Chàm” nào đó, nên đã bán cho dân Phủ Cam một tấm, cho một người thân ở Bến Ngự một tấm, một tấm bị bể và tặng chùa Vạn Phước một tấm. Đặc biệt, trong lúc canh tác đất đai, gia đình ông phát hiện rất nhiều vật liệu xây dựng ẩn tàng dưới đất. Thậm chí, gia đình ông còn đào được cả một hầm gạch nguyên trong lòng đất, đủ xây một ngôi nhà. Cũng trong thời gian này, cụ thân sinh ông Oánh cũng đào được nhiều tượng đá. Tuy nhiên, chúng tiếp tục bị chôn xuống vườn nhà vào năm 1947 và gia đình không thể nhớ nổi là góc nào. Còn 4 phiến đá lạ, giờ chỉ còn duy nhất một tấm đang được dùng làm mặt bàn nhà bếp chùa Vạn Phước. 3 tấm kia đã hoàn toàn thất lạc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân khẳng định: “đây rất có thể là những phiến đá bọc quanh huyệt mộ để bảo vệ quan tài Vua Quang Trung. Còn những tượng này phải chăng đã từng được dùng để trang trí lăng Đan Dương?”. Bí mật đạo huyệt Theo lời ông Hữu Oánh, dòng họ của ông là dòng họ đầu tiên khai canh nên làng Bình An. Và nếu đúng như gia phả để lại, thì ông chính là hậu duệ thứ 13 của Vua Quang Trung. Khi phát hiện những dấu tích thành quách, gia đình cho rằng đây là thủ phủ của người Chăm Pa. Gia đình ông đã tận dụng toàn bộ vật liệu đào được để xây nhà to, lát sân, làm cổng to hoành tráng. Nhưng rồi đến năm 1982, ông phá tan cả cửa nhà, gánh toàn bộ gạch đá lên biếu nhà chùa. Ông Oánh nhớ lại, quả đúng gia đình ông đã từng gặp được một huyệt mộ bí ẩn. Trước năm 1945, người Nhật chiếm chùa Thiền Lâm làm doanh trại. Sợ máy bay Đồng Minh thả bom, dân Bình An quanh chùa Thiền Lâm đều phải đào hầm tránh bom. Khi đào hầm trú ẩn trong vườn nhà, gia đình ông gặp một đường hầm xây kiên cố đã bị lấp đầy đất. Vét hết đất trong hầm, cả nhà khoảng chục người dắt díu nhau xuống tránh bom. Lúc ấy, bà Nguyễn Thị Liên, chị gái ông Oánh mới 12 tuổi, hay bồng ông mới 6 tuổi xuống hầm. Vì quá nhỏ, nên sau này cả hai không nhớ đường hầm nằm vị trí nào trong vườn nhà. Để xác định lại vị trí huyệt mộ, năm 1988, bác sĩ Dương Văn Sinh, một thầy địa lý nổi tiếng ở Huế đã đến xem quanh khu vực chùa Thiền Lâm. Ông xác định, nếu có huyệt mộ Quang Trung thì nhất định phải ở trước vườn nhà ông Oánh, và ở phía Tây nhà bà Nguyễn Thị Liên hiện nay. Nghe “ông thầy địa” nói vậy, bà Liên không dám giấu điều bí mật mà bà đã cố tình giấu lâu nay và công nhận: “đường hầm ở khoảng ấy”. Ngày 17/12/1988, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân và nhiều nhà sử học đầu ngành ở Huế đã tiến hành khai quật gần chục điểm quanh chùa Thiền Lâm để thám sát. Đến đầu hè phía tây ngôi nhà của bà Liên, khi đào xuống sâu nửa mét, cả nhóm thám sát bàng hoàng khi gặp một lớp thành dày chạy dọc theo hiên phía tây ngôi nhà. Mặt trong của thành nằm sâu dưới nền nhà. Đào sâu thêm 1,5m vẫn chưa đến chân thành. Đào dọc theo bức thành 3m vẫn chưa giáp với hai đầu bức thành. Bà Liên xác nhận: “cái đường hầm nằm dưới nền nhà tôi không thể đào sâu thêm được nữa, đào thêm nữa nhà sẽ sập”. Việc thám sát đành phải dừng lại. Lấy vôi vữa của bức thành xem xét thì thấy, vôi vữa này giống vôi vữa còn bám ở tấm đá đang dùng làm mặt bàn trong nhà bếp chùa Vạn Phước và cũng giống với những vôi vữa lộ thiên hay chôn dưới đất thỉnh thoảng còn tìm thấy chung quanh khu vực chùa Thiền Lâm. Đây là loại vôi vữa trộn bởi mật mía, vôi nung từ vỏ sò, vỏ hến và cát. Đặc biệt những vỏ sò, vỏ hến này được giã bằng chày nên còn nguyên “mày” lấm tấm trong vôi. Đem so sánh với một số công trình khác, ông Xuân thấy di tích được ẩn dưới lòng nhà bà Liên có trước nhà Nguyễn, khớp với giai đoạn lịch sử xuất hiện khu lăng mộ vua Quang Trung. Trong khi chờ các nhà khảo cổ vào cuộc, ông Xuân kết luận: “Tấm đá lớn đang giữ ở nhà bếp chùa Vạn Phước và bức thành bên ngoài đường hầm (được xem là kim tỉnh hay khuôn tỉnh), ở chái phía tây nhà bà Nguyễn Thị Liên, là dấu hiệu của huyệt lăng mộ Vua Quang Trung đã bị quật phá”.
  25. Có những người họ làm một việc nhưng có cả trăm người khi làm trăm việc lại nhờ 1 việc đó! Cảm ơn Bác nhàn cư!

×
×
  • Create New...