Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Cóc Vàng

Hội viên
  • Số nội dung

    992
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Cóc Vàng

  1. Một phần của lịch sử Tác giả: KEVIN BOWEN Bài đã được xuất bản.: 2 giờ trước Bây giờ đã là 36 năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc. Nhớ 36 năm về trước hoặc gần hơn là thời gian mươi năm sau chiến tranh, hầu hết những người Mỹ và Việt Nam không hề nghĩ rằng: đến một ngày quan hệ của hai nước lại có thể đến gần nhau như bây giờ. Nhưng nếu không có những "chỉ dẫn" của văn hóa, hai dân tộc sẽ không tìm được con đường đến với nhau trong ý nghĩa cao cả nhất của con người. Và sự "chỉ dẫn" của văn hóa không những tối quan trong đối với hai dân tộc đã có một lịch sử bi thương mà đối với tương lai của toàn nhân loại. LTS: Ngay cả khi cuộc chiến tranh đang ở giai đoạn tàn khốc nhất thì có những người lính của hai phía bắt đầu nhìn thấy vẻ đẹp và chủ nghĩa nhân văn trong nền văn hóa của hai dân tộc. Nhiều người lính Việt Nam đã mang trong ba lô của họ vào mặt trận những tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học Mỹ như Ông già và biển cả, Tiếng gọi nơi hoang dã, Chuông nguyện hồn ai, Lá cỏ, Cuốn theo chiều gió, Chùm nho nổi giận.... Còn những lính Mỹ, tuy không có cơ hội đọc được những tác phẩm văn học Việt Nam trong thời gian chiến tranh nhưng họ được chứng kiến những vẻ đẹp và chủ nghĩa nhân văn của văn hóa trong chính đời sống ở các miền đất Việt Nam, nơi họ đã nổ súng và ném bom. Chính điều đó đã làm nên phong trào phản chiến. Ngay sau năm 1975, nền văn hóa của hai dân tộc đã gửi những sứ giả của mình đến với nhau. Những sứ giả đó chính là các nhà văn, nhà thơ và các nghệ sỹ của hai đất nước. Và lần đầu tiên một cách chính thức, hai dân tộc đã được chứng thực vẻ đẹp và chủ nghĩa nhân văn thông qua tác phẩm văn học nghệ thuật và những con người sứ giả đó. Đi qua mọi thách thức, mọi đe dọa, mọi ngờ vực, mọi nguy hiểm... những nhà văn, nhà thơ của hai dân tộc đã không ngưng nghỉ tạo dựng chân dung của dân tộc mình - một chân dung mà trong thời gian chiến tranh nó đã bị bộ máy tuyên truyền bóp méo. Nhân dịp kỷ niệm 36 năm ngày chiến tranh chấm dứt, TuanVietNam xin trân trọng giới thiệu một số bài viết của một số nhà văn, nhà thơ Việt Nam và Mỹ để bạn đọc có thêm một cái nhìn về sứ mệnh lớn lao của văn hóa trong việc chấm dứt chiến tranh, hàn gắn vết thương và tạo dựng lên một thế giới của những vẻ đẹp và chủ nghĩa nhân văn. Và họ chính là những người đã phác thảo một cách chân thực và chính xác nhất chân dung dân tộc mình - chân dung của một nền văn hóa. Bởi khi các công dân của một dân tộc không dựng được chân dung văn hóa cho dân tộc mình thì dân tộc của họ mãi mãi là một dân tộc mang đến nỗi ngờ vực và sự sợ hãi cho các dân tộc khác. Được nhận Giải thưởng Phan Châu Trinh là một vinh dự lớn. Hiếm có giải thưởng nào có ý nghĩa hoặc được trao bởi một nhóm học giả độc lập và xuất sắc như vậy. Với lòng khiêm cung, tôi xin nhận vinh hạnh này, biết rõ rằng nó không chỉ được trao cho bản thân mình, mà cho cả gia đình tôi, trung tâm và trường đại học của tôi, cùng nhiều bằng hữu, văn sỹ, nghệ sỹ, học giả và cựu chiến binh, ở cả hai phíaViệt Nam và Hoa Kỳ, cùng các nơi khác trên thế giới, những người đã và đang là một phần không thể thiếu của những cuộc giao lưu đã gần hai mươi lăm năm nay của chúng ta. Thế mà đã gần hai mươi lăm năm, vào cái đêm sau Giáng Sinh ấy, khi lần đầu tiên tôi trở lại Việt Nam kể từ sau cuộc chiến, trên một chuyến bay cất cánh từ New York. Phim Trung Đội vừa mới công chiếu ngày hôm đó. Tâm khảm tôi vẫn còn hằn rõ hình ảnh của chuyến trực thăng cuối cùng đưa tôi trở lại căn cứ để mãn hạn về nhà, bên dưới chỉ thấy những cảnh như trên mặt trăng, vùng thôn quê Tây Ninh, hoang tàn vì bom đạn và chất diệt cỏ. Ngay cả khi rời Việt Nam lúc ấy, tôi đã mơ đến một ngày trở lại trong hòa bình, nhưng đó là năm 1969, tôi đã không thể mường tượng được hòa bình sẽ như thế nào, sẽ đến ra làm sao. Ảnh minh họa: hoinhavanvietnam Khi trở lại Việt Nam năm 1987 cùng với Dự án Hòa giải Đông Dương của John McAulliff, tôi đã có những trải nghiệm làm thay đổi hẳn con người mình. Trong những chuyến viếng thăm đền chùa và bảo tàng, gặp gỡ các cựu chiến binh, các giáo sư, đặt từng bước chân đi trên mảnh đất này, tôi đã cảm thấy mình đang thực sự sống trên mặt đất, lần đầu tiên sau biết bao nhiêu năm. Các viên tướng trong chiến tranh gọi việc gia tăng quân số là "putting boots on the ground - cho ủng dẫm xuống đất", nhưng với tôi, một thường dân trở lại trong hòa bình, việc đặt chân xuống đất ở đây đã có ý nghĩa như thể lần đầu tiên tôi đứng trên đất thực sự, với cảm thức sâu thẳm rằng cả lịch sử, tinh thần và thi ca của xứ sở xung quanh đang thẩm thấu qua da thịt mình. Tôi cũng thấy một sự cởi mở tuyệt vời, một ước muốn được nói, nghe và tìm kiếm sự tương đồng. Tôi đã thực sự kinh ngạc. Ở những giai đoạn ấy, mức độ tin cậy và hiểu biết giữa hai nước chúng ta còn thấp. Quan niệm về Việt Nam ở Mỹ và về Mỹ ở Việt Nam đều u ám bởi nhiều thập niên tuyên tuyền và xuyên tạc. Việc cắt hầu hết ngân sách cho các chương trình dạy ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa Việt Nam ở Mỹ và những cắt giảm tương tự đối với các chương trình dạy tiếng Anh và nghiên cứu về Mỹ ở Việt Nam đồng nghĩa với tình trạng bất khả của những giao lưu trực tiếp và thực sự trong sáng. Nhưng đó là buổi ban đầu. Là giám đốc Trung tâm Joiner, tôi may mắn có cương vị được trở lại Việt Nam, lần này qua lần khác. Năm 1988 tôi quay lại cùng một nhóm nhỏ cùng trung tâm, có David Hunt, Ralph Timperi, Gene Michaud và vợ tôi - Leslie. Lúc ấy chúng tôi muốn thu thập tài liệu về những tác động cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam và những hậu quả dai dẳng của cuộc chiến. Đó là những ngày gian khổ ở Việt Nam. Thiếu điện, thiếu thuốc men, khan hiếm thực phẩm, hiếm cả khách sạn hoặc xe gắn máy hoạt động theo đúng nghĩa của chúng. Năm ấy chúng tôi đi từ Hà Nội vào Tây Ninh, qua Huế, Cam Lộ, Hội An, Đà Nẵng, Hóc Môn. Leslie chụp ảnh các nghĩa trang, trại trẻ mồ côi, bệnh viện, nhà máy, các trung tâm người tàn phế, với ý đồ giúp người Mỹ hiểu về Việt Nam. Lúc ấy chúng tôi là một phần của những hoạt động giao lưu đầu tiên, gửi thuốc men và thiết bị y tế, tổ chức trao đổi bác sỹ, các chương trình tiếng Anh và tiếng Anh cho người nước ngoài, giáo viên, nghệ sỹ và nhà văn. Như nhiều bạn đã biết, chúng tôi vẫn là một tổ chức bất thường. Trung tâm chúng tôi không lấy tên một chính khách hoặc tướng lãnh nổi tiếng nào; nó không có trụ sở ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn; và nó cũng chả có nhiều tiền. Trung tâm chúng tôi lấy tên một người lính bình thường, một cựu binh Mỹ gốc Phi đã làm việc để trợ giúp các cựu binh khác và đã chết vì căn bệnh ung thư có liên quan đến việc tiếp xúc với chất độc màu da cam. Những người làm ở trung tâm chúng tôi lúc nào cũng vẫn chủ yếu là cựu chiến binh. Như đã nói, chúng tôi chưa bao giờ có nhiều tiền, nhưng cũng như hầu hết cựu chiến binh, chúng tôi biết cách xoay xở, và điều đó thường có nghĩa là khi tiếp đãi khách từ Việt Nam sang, chúng tôi không để mọi người ở khách sạn, chúng tôi đưa họ về nhà mình. Có lẽ tôi sẽ chả bao giờ có thể đủ lời hay ý đẹp để nhắc lại buổi ban đầu ấy một cách xứng đáng. Những vị khách đầu tiên của chúng tôi chỉ sang có ít ngày. Lê Cao Đài và Bùi Tụng sang dự hội nghị y tế công cộng Mỹ. Những người khác sang dài ngày hơn và trở nên gắn bó lạ kì. Lê Lựu và Ngụy Ngữ là những sứ giả văn chương đầu tiên. Lê Lựu đã thành bạn của nhiều người suốt từ Boston đến Washington nhờ những mẩu chuyện đời của chính mình trong và sau chiến tranh. Biết nói gì đây khi nhớ lại cảnh ngay dưới mái hiên sau nhà mình, Nguyễn Quang Thiều, Hữu Thỉnh và Lê Minh Khuê thay nhau bế ẵm và hát ru Lily, đứa con gái mới 2 tháng tuổi của chúng tôi. Rồi cảnh Thiều, Phạm Tiến Duật và Tô Nhuận Vỹ cùng đá bóng với Myles - con trai chúng tôi, chạy quanh khắp sân sau; hoặc cảnh nổi tiếng nhất là Nguyễn Quang Sáng ném bóng rổ ở ngay gần đó. Những chuyện ấy đều như có phép lạ. Có lẽ một phần là vì cái lạ lùng thật sự của chúng: cứ nghĩ mà xem, những kẻ cựu thù, gặp gỡ nhau như thế, nấu nướng, mua sắm, ăn uống, kể chuyện cho nhau nghe như thế, và sống với nhau như một gia đình trong ngôi nhà ấy ở Dorchester. Mà tất cả những cái lạ lùng ấy lại còn phong phú sâu sắc hơn lên nữa nhờ những bài ca điệu nhảy cùng nhau, những bài thơ cùng đọc cùng nghe, và một niềm vui giản dị khi hình như tất cả đã cùng tìm thấy một con đường thoát ra khỏi cuộc chiến, khỏi câu chuyện bao trùm xưa cũ của quá khứ. Những hội thảo văn chương của chúng tôi hồi ấy thu hút mọi người từ khắp nơi đến chỉ cốt để gặp gỡ các nhà văn Việt Nam. Năm 1999 là thời điểm bước ngoặt của chúng tôi. Dự án Full Circle - Vòng tròn trọn vẹn - của chúng tôi đã đưa được hai nhóm cựu binh Mỹ trở lại thăm những chiến trường xưa ở Việt Nam và gặp gỡ những con người mà họ đã từng ngắm bắn. Hội Nhà văn chủ trì cuộc hội nghị đầu tiên của các nhà văn cựu chiến binh Việt Nam và Mỹ. Tôi nhớ cả "Đêm thơ trữ tình" ở Hà Nội, ngồi trong gian phòng đặc khói thuốc lá, lắng nghe các tác giả Mỹ và Việt thay nhau đọc tác phẩm của mình, lần đầu tiên nhận ra những tiết tấu không thể quên được của những dòng chữ mà nhiều năm sau này một số chúng tôi đã may mắn dịch được sang tiếng Anh, hoặc chí ít thì cũng đã cố làm công việc ấy. Và tôi cũng nhớ cái giây phút lúc đến thăm Hội Nhà văn, đang ngồi đó thì Vũ Tú Nam và Chính Hữu đến trao cho chúng tôi những trang giấy pơ-luya đánh máy của bản thảo sau này sẽ thành tác phẩm Mountain River. Đó chính là lịch sử, một lịch sử độc đáo, vì tôi không thấy có một giây phút nào khác sau chiến tranh mà những người lính làm thơ của nước này trao bản thảo tác phẩm của mình cho những người lính làm thơ của nước kia. Năm 1992, tôi có dịp trở lại Việt Nam để phỏng vấn các nhà văn ở khắp mọi miền đất nước. Với tôi, đó là một trải nghiệm khải huyền. Tôi đã nghe Vũ Tú Nam kể lại những ngày tranh cãi về giải thưởng trao cho cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, về những lá thư mà vợ chồng anh ấy viết cho nhau suốt những năm tháng xa cách trong chiến tranh. Tôi đã nghe Nguyên Ngọc kể về thời thơ ấu của anh ấy, chuyện vợ anh ấy bị bắt, cuộc đoàn tụ kì lạ khi tù binh được trao trả năm 1973. Tôi đã gặp Lý Lan, người đã hỗ trợ công việc dịch thuật của tôi lần đầu tiên ở Sài Gòn. Tôi vẫn giữ những cuốn băng ghi âm ấy, âm thanh nền là tiếng gà gáy, tiếng xe đạp và xe máy thảng hoặc chạy qua chứ chưa thấy tiếng xe hơi rồ máy bóp còi. Tôi nhớ một hôm ở Hà Nội, đang đánh vật với việc dịch ở báo Văn Nghệ Quân Đội thì có ai đó cúi xuống bên cạnh hỏi cái gì đó rồi rành rẽ nói mấy từ "La Colline des vaches machine" - đồi xay thịt bò, khiến tôi bỗng nhớ lại "Hamburger Hill", nơi diễn ra một trong những trận đánh khốc liệt nhất trong năm 1969. Vào cái ngày có tin bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam, tôi mới chợt nhận ra một sự thật là chúng ta đã là một phần của lịch sử, một phần của quá trình tiến lại gần nhau của hai đất nước chúng ta. Hôm đó, Nguyễn Duy đang ở chỗ chúng tôi và vừa rời nhà đi tham quan thủ đô Washington. Cùng ngày ấy, Nguyễn Duy đến thăm đài tưởng niệm các cựu binh của cuộc chiến tại Việt Nam và sau đó viết một bài thơ rất hay về nó. Cũng đúng hôm ấy, hoàn toàn không biết gì về sự có mặt của Duy tại Mỹ, tờ The Boston Globe đăng toàn bộ bản dịch một bài thơ của anh ấy - "A Small Song of Peace" - ngay trên trang xã luận để đánh dấu sự kiện bình thường hóa quan hệ. Hôm sau, trong mục thư gửi tổng biên tập của báo, một độc giả đã viết rằng cả số báo hôm ấy chỉ có bài thơ này là quan trọng nhất. Thời điểm ấy đánh dấu một bước tiến quan trọng, tôi nghĩ vậy. Nó báo hiệu rằng công việc giao lưu và dịch thuật mà chúng tôi đã khởi sự như một mạo hiểm chung với các cộng sự Việt Nam đã trở thành một sự nghiệp với sức sống riêng của nó, rằng nền văn học Việt Nam cũng như các tác gia của nó nay đã được công chúng Mỹ đón nhận. Một sự kiện xuất bản khác hồi đó cũng báo hiệu bước chuyển biến ấy là việc bài "To Return to the Urges of the Beginning" của Phạm Tiến Duật được chọn vào tuyển tập những bài thơ được yêu thích nhất tại Mỹ - một công trình lớn có ý nghĩa lịch sử của Robert Pinsky, thi khôi của nước Mỹ lúc bấy giờ. Một nhà giáo, nữ thi sỹ trẻ người Mỹ và một người bạn Việt Nam là học sinh của chị đã đề cử bài thơ này cho tuyển tập. Công việc đã không phải lúc nào cũng dễ dàng. Visa phải xin và lấy ở Bangkok. Lê Lựu, Nguyễn Quang Sáng, Ngụy Ngữ và Nguyễn Khải đã bị một đám đông tấn công sau một sự kiện tổ chức ở thư viện công cộng Boston. Một nhóm cựu binh Mỹ đã phải làm rào cản để bảo vệ họ. Một trong số đó, nhiều các bạn đã biết, là nhân vật chủ ngân hàng Bob Glassman. Dịch thuật lúc nào cũng là một thách thức. Những người cùng dịch cuốn Thời xa vắng - có David Hunt, tôi, Ngô Vĩnh Hải và Nguyễn Bá Chung, hai Việt hai Mỹ - chúng tôi đã học được rất nhiều khi cùng nhau đánh vật với từng dòng của cuốn sách đó, cố truyền đạt trung thực nhất những gì Lê Lựu đã mô tả, từ trời, đất, cuộc sống thành phố, nông thôn, rồi cuộc chiến, và cả những lối chơi chữ, tính hóm hỉnh và chất nồng ấm trong giọng văn của anh ấy. Được trở lại Việt Nam là quan trọng nhất, được về tận làng quê của Lê Lựu, thấy dân làng oằn mình ngoài đồng ruộng, bước dọc bờ sông vào ngày hội Tiên Dung, nhìn cờ phướn tung bay trong gió, những đội nhạc hỉ hội hè, tất cả thật không thể thiếu được. Có một nhà phê bình vĩ đại đã từng nói mục đích của nghệ thuật là khiến ta nhìn thấy. Các nhà văn Việt Nam đã làm việc với chúng tôi từng bước một để giúp cho cái phần dịch giả trong con người chúng tôi nhìn ra được những gì cần phải thấy. Chuyện này thật nhiều ý nghĩa. Với tôi chẳng hạn, cái có ý nghĩa nhất là những trải nghiệm tuyệt vời trong chuyến viếng thăm làng quê của Nguyễn Quang Thiều, thấy con đê anh ấy từng nằm ngủ trên đó hồi còn bé, những con chuồn chuồn chao lượn trên mặt ao, nằm ngủ trên chiếc giường của bà nội anh ấy. Như tôi đã nói, những chuyện ấy, cả cái quá trình ấy, không phải lúc nào cũng dễ dàng. Và khó nhất là với người Việt Nam ở hải ngoại. Có những người đã chống lại tiến trình giao lưu ấy cả trên báo chí và trên đường phố, với những cuộc biểu tình mỗi khi chúng tôi có khách từ Việt Nam sang. Đã có cả những lời dọa giết và đánh bom. Với nhiều người, nỗi đau ấy là chân thực và có vẻ không thể hàn gắn được. Dù sao, qua suốt những năm tháng ấy, một cuộc đối thoại đã ra đời, một cuộc đối thoại đòi hỏi lòng dũng cảm ở cả hai bên. Chúng tôi biết danh tiếng Nguyên Ngọc, Tô Nhuận Vỹ, Trần Văn Thủy, những người sang Mỹ bằng học bổng Rockefeller. Và tất nhiên là cả hai nhân vật danh tiếng khác nữa, hai học giả đầu tiên sang với chúng tôi bằng học bổng Rockefeller: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến - người đã vừa mới qua đời. Mặc những lời đe dọa chống đối, họ đã không lùi bước, đã sang với chúng tôi, và đã tạo lập được một cầu nối để nhiều người khác sau này tiếp bước họ. Theo dòng thời gian, những tác phẩm dưới dạng sách, bài viết và thơ trên các tạp chí đã lần lượt được thế giới biết đến và tiếp nhận. Writing Between the Lines, Mountain River, Distant Road, Six Vietnamese Poets, Early Zen Poems from Vietnam, đã mở đường cho những tác phẩm mới nữa mà chúng tôi biết là sẽ xuất hiện. Cuối cùng, cho phép tôi được nói một điều, rằng có lẽ tôi sẽ không thể có đủ lời để nói về chuyện toàn bộ những cuộc giao lưu ấy đã có ý nghĩa như thế nào đối với chính gia đình mình. Làm sao có thể quên được Đoàn nhạc Sông Hương của Võ Quê, đã diễn một đêm trên sông nước vằng vặc ánh trăng ở Huế, rồi lại diễn ở ngay sân sau nhà chúng tôi ở Doschester. Hay cái đêm chúng tôi bị tấn công ở Thư viện Công cộng Boston. Rồi những lúc ngồi ở hiên nhà nghe ca khúc Trịnh Công Sơn với phần đệm guitar nhẹ nhàng, mà nhiều năm sau lại được ngồi với Duy trong một quán bar Sài Gòn, nghe chính Trịnh Công Sơn hát những ca khúc ấy. Lại còn Chu Lượng, Lương Tu Duc, Nguyễn Quang Thiều và Thuật con trai anh, đem niềm vui của nghệ thuật múa rối nước sang cho trẻ em ở Dedham và Boston, thậm chí cả diễn riêng cho buổi sinh nhật của con gái tôi. Hoặc ngồi trong vườn thơ ở Sông Bé với Thu Bồn, nghe hát ca kịch và giọng đọc của các nhà thơ vang vọng vào trời đêm trên những làn khói của lửa trại. Hoặc ngồi ở Bắc Ninh, nhà Đỗ Chu, nghe các liền anh liền chị Quan Họ kể chuyện đời và cất tiếng hát. Hoặc cùng uống trà trên tầng áp mái của chúng tôi cùng với hàng chục nhà văn từ Việt Nam sang, mà Nguyễn Quyền và Paley thì mải mê trò chuyện đến tận khuya. Hoặc tất cả những buổi đọc văn đọc thơ ấy, khám phá những trang viết của những người sang làm khách ở nhà chúng tôi, mà lần lần tác phẩm của họ đã bắt đầu được dịch sang tiếng Anh; nghe những giọng văn độc đáo ấy - Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Lê Văn Thảo, Cao Tiến Lê, Ý Nhi, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Nguyễn Trí Huân, Ma Văn Kháng, Trần Đăng Khoa, Đỗ Chu, Văn Lê, Bảo Ninh, Chu Lai, Nam Hà, Trung Trung Đỉnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Như Trang, Ngân Vịnh, Bùi Ngọc Tấn, Dương Thuấn, và còn bao nhiêu người khác. Với một hạnh ngộ lớn lao như thế này, tôi chỉ còn biết cứ thật lòng nói lời cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn. Trịnh Lữ dịch
  2. Không quân Nga sẽ trang bị đĩa bay Cập nhật lúc25/04/2011 01:00:00 PM (GMT+7) http://www.vietnamnet.vn/vn/index.html Các nhà thiết kế hàng không Nga cho biết: Không quân Nga sẽ có một phương tiện bay mới, có hình dạng một chiếc đĩa bay theo hình dung của những nhà nghiên cứu UFO. Đây không phải lần đầu tiên các nhà khoa học Nga đề cập đến các thiết bị bay kiểu mới, hình dạng giống chiếc đĩa bay như mô tả của các nhà UFO học. Nửa năm trước, tại Ulianovsk, họ đã khẳng định chương trình 5 năm thiết kế máy bay nhiệt đạn đạo (thermoballastic), hình dạng đĩa bay, tạm gọi là ATLA. Không quân Nga sẽ được trang bị đĩa bay. Ảnh minh họa. Theo các nhà thiết kế, đó là một vật thể kích thước lớn, hình hai chiếc đĩa úp vào nhau, đường kính tới 250 mét, chiều cao 100 mét. Giá thành một thiết bị bay như vậy có thể lên đến 2 tỉ rúp. Về thực chất ATLA là một khinh khí cầu thế hệ mới. Sở dĩ gọi là thiết bị bay nhiệt đạn đạo vì ngoài thể tích heli trong khoang máy, còn có một khoang chứa không khí nóng và không khí lạnh. Cách kết cấu của các thiết bị đã được tính toán, cho phép điều khiiển lực nâng, tác dụng lên khinh khí cầu, khi bay theo chiều thẳng đứng và khi hạ cánh. Đĩa bay АТLА sử dụng động cơ điện. Ngoài ra, ở các mép của thiết bị có bố trí những cánh nhỏ, nhằm bảo đảm sự cân bằng để nó giữ được ổn định trước sức đẩy của gió khi đang “treo” ở một điểm trên không, thí dụ khi đang cẩu lên một trọng tải đến 600 tấn. Đây cũng không phải chỉ là ý tưởng “độc quyền” của các nhà kỹ thuật Nga. Vào năm 2008, các mô hình thiết bị bay mới cũng xuất hiện tại Mỹ. Trường Đại học Florida đã đăng ký sáng chế về dự án “thiết bị bay điện từ không có cánh” – hình dạng đĩa bay . “Chiếc đĩa bay Florida” là một thiết bị độc đáo dựa trên nguyên lý từ thuỷ động học (magnitohydrodynamic), sử dụng chất lỏng dẫn động, khí ion hoá trong sự có mặt của từ trường. Các điện cực bố trí dày đặc trên bề mặt của đĩa bay Florida và không khí bao quanh bề mặt của đĩa bay bị ion hoá, chuyển thành những dòng plasma. Hiệu ứng này cho phép đĩa bay chuyển động (kể cả chuyển động thẳng đứng) và treo lơ lửng trên không. Tuấn Hà (Theo KP.ru)
  3. Nhiệt liệt hoan nghênh cụ Phật đã hạ cố tiếp truyện tôi , cụ biết không :Lúc mới bắt được cụ Rùa ở cơ quan tôi người ta cứ bàn ầm lên là tiến sỹ nọ,phó giáo sư kia bảo thực ra là giống giải ở Thượng Hải ,chắc ngày xưa người Hán mang sang thả chơi .... cay thật , Mình mở miệng nói cái là họ ầm ầm bảo chỉ cóa ông vào cụ Đức là tin nó là rùa thần thôi . không hiểu ngày đó người Hán áp dụng chính sách đô hộ tàn khốc đến độ nào mà gần hết thảy mọi người đều nghĩ : van hóa,lịch sử .... rồi thì cả bàn chân cũng lai của người Trung Quốc thì giờ mới đẹp thế chứ của người Giao Chỉ thì bàn chân xòe ra như bàn chân ngan . Tức thật !!!! Tức thật !!!!!!
  4. Xin chào quý vị ! Cuối cùng thì người Nga cũng đã giữ được truyền thống nhân hậu và văn hóa vốn có của mình ,điều này phần nào bị mai một đi dưới thời lộn xộn của Tổng thống Eltsin . ================================================= V. Putin không muốn hỏa táng thi hài Lenin Cập nhật lúc 25/04/2011 06:15:00 AM (GMT+7) Để đảm bảo việc giữ gìn thi hài Lenin không bị biến dạng, hơn 70 năm dưới chính thể Xô viết đã có tới 3 thế hệ các nhà khoa học Liên Xô nối tiếp nhau đảm nhiệm nhiệm vụ này. Một trong 3 sự nghiệp quan trọng nhất Đảng Cộng sản và chính phủ Liên Xô luôn coi công việc này như là một trong 3 sự nghiệp quan trọng nhất, đó là: bảo quản tốt thi hài Lenin, phát triển ngành hàng không vũ trụ, nghiên cứu và phát triển năng lượng hạt nhân. Việc bảo vệ thi hài Lenin là công việc hết sức phức tạp, thí dụ việc duy trì nhiệt độ trong phòng đặt quan tài Lenin luôn luôn phải ở 16 độ C với sai số không được vượt quá 0,7 độC. Để thực hiện công việc này luôn phải có 12 kỹ sư, bác sĩ chuyên ngành làm việc trong mỗi ca trực, và các ca phải trực liên tục 24/24 giờ. Còn kỹ thuật chống sự hoại tử thi hài thì được coi là một trong những bí mật trọng điểm của quốc gia. Lăng Lenin Trong hồi ký của mình, khi nhớ lại sự kiện này, Sibarski đã viết: “Nhằm đảm bảo bí mật, chúng tôi đã xuất phát khỏi lăng vào nửa đêm 3/7/1941 và được một ủy viên Bộ Chính trị dùng xe tăng đón tại nhà ga Orkovsk. Sau khi thi hài và toàn bộ nhân viên cùng những người thân trong gia đình Lenin lên tàu, đoàn được hộ tống bởi 410 binh lính và sĩ quan Hồng quân". Những ngày đó lại đặc biệt nóng. Để bảo vệ thi hài, họ đã phải dùng tới phương pháp rất thủ công, đó là xếp những thanh nước đá xung quanh quan tài, đồng thời phải dùng rượu cồn thường xuyên sát trùng để tránh hiện tượng hoại tử. Sau 5 ngày đoàn mới tới được Sumin (Uran) trong bối cảnh bí mật tuyệt đối. Ngay cả Bí thư thứ nhất Khu ủy vùng đó cũng không được biết thực chất người ta đã đưa đoàn người này đến đây làm gì. Sau đó tất cả những người theo đoàn, trong đó có cả những người trong gia đình giáo sư Sibarski đều phải lưu lại Xumin và được bố trí ở ký túc xá của Học viện Nông nghiệp, hoàn toàn cách ly với bên ngoài. Còn chiếc quan tài pha lê quàn thi hài Lênin thì được đặt tại phòng họp ở tầng hai của tòa nhà, và được gọi là “Phòng trắng” (Bạch cung). Tại địa điểm mới, nhóm của giáo sư Sibarski gặp muôn vàn khó khăn trong công việc. Do chiến tranh mỗi ngày một ác liệt nên ngay cả khẩu phần lương thực cũng không đủ, thì cũng dễ hình dung ra những dụng cụ, thuốc men và những điều kiện khác phục vụ cho việc bảo quản thi hài thiếu thốn đến mức nào. Nhưng chính tại nơi đây nhóm bảo quản do Sibarski đứng đầu đã phát minh ra những phương pháp bảo quản thi hài hoàn toàn mới. Thí dụ như Valuabov đã tìm ra phương pháp có tính đột phá trong công tác bảo vệ thi hài: khắc phục mỹ mãn toàn bộ những nốt tàn nhang trên khuôn mặt, đồng thời nâng cao được độ cao của mũi và con mắt như lúc Lênin còn sống. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn kéo dài, nhất là việc không thể duy trì được một nhiệt độ thích hợp, nên vào tháng 12/1943, thi hài bắt đầu xuất hiện hiện tượng hoại tử. Để khắc phục, các nhà bác học đành phải di chuyển thi hài xuống một căn hầm sâu dưới lòng đất với hy vọng lợi dụng được nhiệt độ thấp ở đây. Cho tới tháng 3/1945, khi mối đe dọa của quân phát xít đã bị đẩy lùi thì thi hài Lenin lại được đưa về Moscow để phục vụ nhân dân vào viếng. Kể từ đó thi hài Lenin càng được bảo vệ hết sức cẩn trọng. Theo Giáo sư Delsunov, người trực tiếp lãnh đạo nhóm bảo quản thi hài, cho biết: mỗi tuần 2 lần vào thứ hai và thứ sáu, thi hài lại được tiến hành bảo dưỡng. Đầu tiên là thay bộ quần áo, sau đó thi hài được xử lý bằng chất liệu thơm rồi đưa vào phòng vô trùng để tiến hành kiểm tra một cách toàn diện. Vẫn theo giáo sư Delsunov thì khi kiểm tra nếu phát hiện thấy bất kỳ một sự thay đổi nào, dù là nhỏ nhất, đều phải lập tức báo cáo lên Bộ Y tế Liên bang, và sau khi được Bộ chuẩn y mới được phép tiến hành các biện pháp khắc phục. Riêng người phụ trách phòng bảo ôn cứ 10 phút một lần phải báo cáo đầy đủ các thông số của phòng như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và phải chịu trách nhiệm duy trì các thông số cần thiết. Sau khi đã hoàn tất mọi công đoạn trên thì mới chỉnh sửa y phục, tư thế thi hài. Ngoài việc bảo dưỡng thường xuyên như trên, thì cứ nửa năm một lần thi hài được ngâm trong một loại dung dịch đặc biệt với thời gian kéo dài hai tuần liền. V. Putin không muốn thi hài Lenin bị hỏa táng "Sau khi Liên Xô sụp đổ, do rất nhiều nguyên nhân, chính quyền Nga khi đó đã không cấp kinh phí cho việc tiếp tục bảo quản thi hài Lenin. Phòng thí nghiệm lăng Lenin bị đổi tên thành “Trung tâm nghiên cứu y học kết hợp sử dụng thuốc thực vật toàn Nga”, khiến cho sự bảo quản thi hài ngày một khó khăn. Trong suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, việc bảo quản thi hài vẫn được tiếp tục, song hoàn toàn dựa vào sự tự nguyện của các cán bộ, nhân viên và các nhà khoa học, trong đó bao gồm cả con trai của Sibarski. Cũng cần nói thêm rằng trong thời gian nói trên, nước Nga dưới quyền của Tổng thống Eltsin đã rộ lên cuộc tranh luận dai dẳng xung quanh việc di chuyển lăng và xử lý thi hài Lenin như thế nào. Chỉ từ sau khi Putin trở thành tổng thống, thì cuộc tranh luận trên mới dần dần im hơi lặng tiếng. Cá nhân Tổng thống Putin không hề giấu giếm lòng tôn kính của mình đối với Lenin, hơn nữa ông còn cổ vũ người dân Nga “hãy tự hào với tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản Nga”. Chưa đầy một năm sau trên cương vị tổng thống Nga, Putin đã phát biểu: ông không muốn thi hài Lenin bị mang đi hỏa táng, mà “cần phải bảo vệ sự yên tĩnh của Người”. Cuối năm 2003, các nhân viên bảo vệ và các nhà khoa học đã tạm đóng cửa lăng để tiến hành bảo dưỡng thi hài và thay y phục của Lenin. Bakesov, người phụ trách lăng đã ra ra tuyên bố nhấn mạnh: “Thi hài Lenin vẫn được bảo quản rất tốt, ít nhất trong vòng hơn 100 năm nữa vẫn không có chuyện gì xảy ra”. (Theo ANTG,Bee) ================================================= Xin cảm ơn quý vị đã quan tâm xem báo ,mong quý vị ủng hộ mục này bằng cách bình luận ở mục này hoặc cập nhật những bài báo mới và những bài báo có thông tin hữu ích để mọi người cùng xem thay vì rất mất thì giờ để tìm từng loại báo mà tin mới thì chẳng có được bao nhiêu ! Hy vọng quý vịu nhiệt tình hưởng ứng ! Xin tạm biệt !
  5. Mở tầm nhìn Vụ Vinalines: vượt đèn đỏ nên bị thổi còi Tác giả: Khương Duy Bài đã được xuất bản.: 24/04/2011 06:00 GMT+7 Có thể so sánh sự nóng vội của Vinalines khi quyết định giữ hàng của Trung Quốc đẫn tới thiệt hại 800.000 USD với việc rất nhiều người vượt đèn đỏ vì nóng vội và bị cảnh sát giao thông phạt, dù không ai không biết đó là hành vi phạm pháp và đầy rủi ro. LTS: Đã có rất nhiều ý kiến xung quanh vụ việc Vinalines, tuy nhiên chưa có bài viết nào phân tích cụ thể vụ tranh chấp này dưới góc độ pháp luật hàng hải quốc tế. Độc giả Khương Duy, giảng viên khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế của ĐH Ngoại thương Hà Nội đã gửi tới Diễn đàn Kinh tế Việt Nam bài viết này. Bài viết xin nêu lên một số vấn đề liên quan tới trách nhiệm của các bên trong hợp đồng thuê tàu và quyền bắt giữ tàu biển theo phán quyết của tòa án dựa trên một số nguồn luật: Công ước về bắt giữ tàu biển của Liên hợp quốc (International Convention on the Arrest of Ships hay Công ước Geneva năm 1999), Bộ luật hàng hải của nước CHND Trung Hoa năm 1992, Luật tố tụng hàng hải của nước CHND Trung Hoa năm 1999 và Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 Thẩm quyền bắt giữ tàu biển theo luật pháp quốc tế Khoản 1, Điều 2 Công ước Geneva 1999 quy định về thẩm quyền bắt giữ tàu nêu rõ "một con tàu chỉ có thể bị bắt giữ hoặc được giải phóng khỏi sự bắt giữ theo quyết định của toà án của quốc gia thành viên nơi tiến hành bắt giữ." Khoản 2 điều này khẳng định "một con tàu chỉ có thể bị bắt giữ căn cứ vào một khiếu nại hàng hải chứ không thể bị bắt giữ vì những khiếu nại khác." Chặt chẽ hơn, Khoản 3 điều này còn nhấn mạnh quốc gia bắt giữ tàu để đảm bảo cho khiếu nại hàng hải không nhất thiết phải là quốc gia nơi tòa án và/hoặc luật của quốc gia đó được lựa chọn để xét xử trong hợp đồng thuê tàu. Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của Công ước này, cho nên tòa án Trung Quốc hoàn toàn có quyền ra lệnh bắt giữ tàu Vinalines Global của Việt Nam theo quy định quốc tế nếu phán quyết của tòa án xuất phát từ một khiếu nại hàng hải và thỏa mãn điều kiện bắt giữ. Vậy một khiếu nại hàng hải và điều kiện bắt giữ tàu là gì? Điều 3 của Công ước liệt kê một số khiếu nại điển hình, thí dụ khiếu nại liên quan tới những mất mát, thiệt hại do vận hành tàu hoặc những thiệt hại do tàu gây ra với môi trường. Trong trường hợp Vinalines, khiếu nại yêu cầu bắt giữ tàu Vinalines Global có thể liên quan tới hai nội dung sau đây: "g) Thoả thuận về vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách bằng tàu, dưới hình thức hợp đồng thuê tàu hoặc hình thức khác; h) Mất mát hoặc thiệt hại gây ra cho tài sản hoặc liên quan đến tài sản (kể cả hành lý) vận chuyển trên tàu." Những căn cứ này được liệt kê vận dụng nguyên vẹn vào Điều 21 Luật tố tụng hàng hải của nước CHND Trung Hoa, đó là cơ sở để Tòa án nước này xem xét đơn khiếu nại và ra phán quyết bắt giữ tàu phục vụ việc điều tra. Về điều kiện bắt giữ tàu, Luật tố tụng hàng hải Trung Quốc nêu lên một số điều kiện quan trọng. Với trường hợp Vinalines, Tòa án có thể căn cứ vào ý đầu tiên của Điều 23:"Chủ tàu chịu trách nhiệm với khiếu nại hàng hải và là chủ sở hữu của con tàu tại thời điểm quyết định bắt giữ có hiệu lực." Khoản 1a) Công ước Geneva 1999 cũng nêu rõ: "Người có quyền sở hữu đối với tàu vào thời điểm phát sinh khiếu nại hàng hải, có trách nhiệm liên quan tới nghĩa vụ phát sinh từ khiếu nại hàng hải đó và vẫn là chủ sở hữu tàu vào thời điểm tiến hành bắt giữ" là một trong những điều kiện bắt giữ tàu để đảm bảo một khiếu nại hàng hải được thực hiện. Như vậy, xét tới ba lý do: khách hàng người Trung Quốc khiếu nại về thiệt hại liên quan tới hàng hóa vận chuyển trên tàu theo hợp đồng thuê tàu; tại thời điểm đó, quyền sở hữu con tàu vẫn thuộc về phía Vinalines; và Vinalines là người trực tiếp gây ra thiệt hại đề cập trong đơn khiếu nại hàng hải; quyết địn bắt giữ tàu của Tòa Trung Quốc hoàn toàn phù hợp về mặt luật pháp quốc tế. Sai lầm dẫn tới việc Vinalines phải bồi thường Trước hết, để hiểu được vấn đề của Vinalines, chúng ta cần điểm lại một số khái niệm pháp lý về hợp đồng thuê tàu. Pháp luật Việt Nam và Trung Quốc quy định hoàn toàn tương tự về hợp đồng thuê tàu định hạn và thuê tàu trần (time chater party và bareboat charter party). Điều này được thể hiện tại Điều 139 Bộ luật hàng hải Việt Nam và Điều 128 Bộ luật hàng hải Trung Quốc. Trong phạm vi bài viết, chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm hợp đồng thuê tàu định hạn theo quy định của pháp luật hai nước. Điều 129 Bộ luật hàng hải Trung Quốc quy định: "Hợp đồng thuê tàu định hạn là một hợp đồng theo đó chủ tàu cung cấp một con tàu đầy đủ thuyền bộ cho người thuê tàu; người thuê tàu sử dụng con tàu trong thời hạn của hợp đồng, trả phí thuê tàu và các dịch vụ đã thỏa thuận." Điều 138 Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định: "Hợp đồng thuê tàu định hạn là hợp đồng thuê tàu, theo đó chủ tàu cung cấp một tàu cụ thể cùng với thuyền bộ cho người thuê tàu." Nhìn chung, quyền và nghĩa vụ của chủ tàu và người thuê tàu định hạn trong hai Bộ luật của hai nước hoàn toàn tương tự nhau. Một điểm cần lưu ý là: quyền sở hữu và nghĩa vụ phát sinh liên quan tới quyền sở hữu con tàu trong thời gian cho thuê định hạn vẫn thuộc về phía chủ tàu. Rắc rối nảy sinh do đối tác thuê tàu định hạn của Vinalines lại cho thuê lại con tàu theo một hợp đồng thuê tàu chuyến. Như vậy, từ đây hình thành hai hợp đồng: một hợp đồng điều chỉnh mối quan hệ giữa Vinalines và đối tác thuê tàu định hạn; một hợp đồng điều chỉnh mối quan hệ giữa đối tác thuê tàu định hạn và khách hàng thuê lại theo chuyến người Trung Quốc. Hai hợp đồng này có tính độc lập tương đối và có một số đặc điểm cần lưu ý. Điều 140, Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định: "1. Trường hợp có thoả thuận trong hợp đồng thì người thuê tàu có thể cho người thứ ba thuê lại tàu, nhưng vẫn có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng được giao kết với chủ tàu. 2. Các quyền và nghĩa vụ của chủ tàu quy định tại Chương này cũng được áp dụng đối với người cho thuê lại tàu." Theo Điều 140, việc cho thuê lại tàu phải căn cứ vào thỏa thuận trọng hợp đồng giữa chủ tàu và người thuê tàu định hạn. Dù đã cho thuê lại tàu nhưng người thuê tàu định hạn vẫn phải thực hiện những nghĩa vụ với chủ tàu, mà quan trọng nhất là nghĩa vụ trả cước phí. Điều này còn hàm ý, người thuê lại tàu (sub-charterer) chỉ cần biết và tuân thủ mối quan hệ với người thuê tàu định hạn, giờ đóng vai trò chủ tàu. Mọi nghĩa vụ của người thuê tàu định hạn với chủ tàu, người thuê lại không có nghĩa vụ phải biết và thực hiện. Điều 137 Bộ luật hàng hải Trung Quốc cũng quy định rõ người thuê tàu có quyền cho thuê lại con tàu nhưng lưu ý người này phải thông báo lại cho chủ tàu thực sự. Mọi nghĩa vụ của hợp đồng thuê tàu chính không bị ảnh hưởng bởi hợp đồng cho thuê lại tàu. Một nội dung quan trọng được quy định tại Điều 141 Bộ luật hàng hải Trung Quốc nhưng không được quy định trong luật Việt Nam: "Trong trường hợp người thuê tàu không trả tiền thuê tàu hoặc các khoản tiền khác đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tàu, chủ tàu có quyền giữ lại hàng hóa của NGƯỜI THUÊ TÀU, các tài sản khác trên tàu và thu nhập từ VIỆC CHO THUÊ LẠI TÀU." (In case the charterer fails to pay the hire or other sums of money as agreed upon in the charter, the shipowner shall have a lien on the charterer's goods, other property on board and earnings from the sub-charter). Rõ ràng, điều này chỉ cho phép chủ tàu giữ hàng hóa, tài sản của người thuê tàu trực tiếp ký hợp đồng với mình và thu nhập của anh ta từ việc cho thuê lại tàu chứ không được phép làm tổn hại tới người đi thuê lại tàu. Cách hành xử của Vinalines trong trường hợp này đã vi phạm pháp luật của nước sở tại và hình phạt nặng dành cho Vinalines là hoàn toàn có thể hiểu được nhất là khi Việt Nam đã ở vào thế yếu trong vụ việc này. Kết luận Nếu đối tác thuê tàu định hạn của Vinalines cho thuê lại tàu mà không có thỏa thuận trước trong hợp đồng hoặc chưa thông báo cho Vinalines biết thì Vinalines sẽ có cơ sở để khiếu nại đối tác này. Trong trường hợp đó, đối tác thuê tàu định hạn của Vinalines sẽ phải chịu trách nhiệm vì hai lý do: chậm thanh toán tiền cước và không thông báo việc cho thuê lại tàu/cho thuê lại tàu không được sự đồng ý của Vinalines. Tuy nhiên, khả năng Vinalines không biết trước việc đối tác của mình cho thuê lại tàu là rất thấp. Đúng như TS Trần Hữu Huỳnh nhận định trong bài phỏng vấn gần đây trên VEF.VN, lỗi của Vinalines thuộc về cách hành xử. Người viết tin Vinalines hoàn toàn nắm được thông tin về việc cho thuê lại tàu và hiểu rõ những rủi ro của việc bắt giữ hàng trên tàu song có lẽ do nóng vội và lo lắng về việc thu hồi cước phí nên đã mắc sai lầm. Có thể so sánh sự nóng vội đó với việc rất nhiều người vượt đèn đỏ vì nóng vội và bị cảnh sát giao thông phạt, dù không ai không biết đó là hành vi phạm pháp và đầy rủi ro. -------------- Tài liệu tham khảo: 1. Công ước Geneva 1999: http://www.admiralty...arrest1999.html 2. Bộ luật hàng hải của nước CHNND Trung Hoa: http://publishing.eu...set/6943/14.pdf 3. Luật tố tụng hàng hải của nước CHND Trung Hoa: http://en.msa.gov.cn.../04/0401/040110 4. Bộ luật hàng hải của nước CNXHCN Việt Nam: http://www.vpa.org.v...at-Hang-Hai.htm
  6. xCó gì đâu bạn ! Cả hai tòa nhà này mới nhìn đã thấy không phù hợp với thẩm mỹ của đa số mọi người nên : - Trung tâm hội nghị quốc gia tuy lạ mắt thật nhưng về lâu dài thì tự nhiên mọi người sẽ không có cảm hứng họp hành ở đó và vị vậy có nhiều cuộc họp lớn lẽ ra sẽ được tổ chức ở đó thì người ta lại chon địa điểm khác . Điều này sẽ không sảy ra niếu tòa nhà này được tính toán kỹ hơn bởi các chuyên gia phong thủy từ khi thiết kế và xây dựng . - Tương tự như vậy : Thư viện quốc gia cũng báo hiệu cảnh không tấp nập tìm đọc sách như kỳ vọng của người thiết kế công trình này . Bạn thử để ý tìm hiểu mà xem !
  7. Xin chào quý vị ! Vậy là Rùa của chúng ta mới đúng là rùa chứ không phải là con Giải vớ vẩn của Trung Quốc . http://vietnamnet.vn/vn/index.html Đã chắc chắn rùa Hồ Gươm là 'cụ bà' Cập nhật lúc 23/04/2011 11:29:31 AM (GMT+7) Sau hơn nửa tháng đưa rùa Hồ Gươm về chân Tháp Rùa chữa bệnh, vấn đề được không chỉ giới khoa học mà nhiều người dân đặc biệt quan tâm là đây có phải loài mới hay không? Chiều qua (22-4), kết quả này chính thức được GS-TS Lê Trần Bình (Phó hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học và Công nghệ Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học) công bố.Rùa Hồ Gươm (Rafetus Vietnamensis) Đây là tên gọi chính thức của cá thể rùa Hồ Gươm theo cách gọi trong nước cũng như theo danh pháp quốc tế được GS Lê Trần Bình khẳng định thông qua kết quả phân tích ADN. Phương pháp giám định gene được lựa chọn là dùng gene ti thể - một trong những phương pháp hiện đại nhất thế giới hiện nay - để xác định loài. Ba mẫu (máu, bông dùng rửa vết thương và một ít da) đã được sử dụng để giải mã gene. “So sánh mẫu gene thu được từ cá thể rùa Hồ Gươm với một số mẫu gene rùa khổng lồ hiện được lưu giữ tại chùa Hưng Ký (Hà Nội) và Quảng Phú (Thanh Hóa) đã được phân tích trước đó cho thấy giống nhau một cách tuyệt đối. Đây là loài động vật đặc hữu của cả nước, có vùng phân bố thuộc lưu vực ba con sông là sông Hồng, sông Mã, sông Đà ở miền Bắc Việt Nam” - GS Lê Trần Bình khẳng định. Nhân viên y tế bôi thuốc chữa bệnh ngoài da cho rùa Hồ Gươm. Ảnh: Hà Hồng Theo GS Lê Trần Bình, năm 2003, ông đã công bố mẫu cá thể rùa lưu giữ ở chùa Hưng Ký có tên khoa học là Rafetus Vietnamensis. Năm 2010, ông và các cộng sự tiếp tục công bố kết quả đề tài nghiên cứu khoa học “So sánh hình thái và phân tích DNA (nhận dạng gene - PV) mẫu rùa mai mềm nước ngọt của Việt Nam gần với rùa hồ Hoàn Kiếm”. Phân tích hình thái hộp sọ của các mẫu vật thu được cho thấy, rùa lớn mai mềm của Việt Nam khác với rùa Rafetus swinhoei (còn được gọi là giải Thượng Hải). Trình tự giải mã gene cũng cho kết quả tương tự. Phân tích phát sinh loài cho thấy rùa lớn mai mềm của Việt Nam tạo thành một nhóm riêng biệt, gần Rafetus swinhoei và Rafetus euphraticus. Điều này cho thấy, rùa lớn mai mềm nước ngọt của Việt Nam là loài mới, chưa từng được nghiên cứu phân loài và có thể đặt tên là Rafetus vietnamensis. Hiện trên Ngân hàng dữ liệu bò sát quốc tế cũng đã xuất hiện tên gọi nêu trên. GS-TS Lê Trần Bình cho biết thêm: “Chúng tôi chưa so sánh giữa cá thể rùa Hồ Gươm với cá thể rùa Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội). Thực tế, đã có thông tin cho rằng, rùa Đồng Mô tương đồng với cá thể rùa Hưng Ký. Nếu chiếu theo tính chất bắc cầu, thì rùa Hồ Gươm cũng tương đồng với rùa Đồng Mô. Tuy nhiên, trong khoa học không ai làm thế. Cũng không thể khẳng định rùa Hồ Gươm có cùng loài với hai cá thể đang sống ở Trung Quốc vì nước này chưa công bố lên ngân hàng gene quốc tế. Từ dữ liệu gene có được, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt là hướng đến xây dựng sơ đồ tiến hóa của loài này”. Cũng theo kết quả giải mã gene, cá thể rùa Hồ Gươm được xác định là thuộc giống cái. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận định trước đó của nhiều chuyên gia thông qua phân tích kích thước, đuôi, màu da, độ bóng của da và vai có răng cưa hay không. Cần đẩy nhanh tiến độ cải tạo môi trường Hồ Gươm Tại cuộc họp của Tổ khám, chẩn đoán, chữa trị cho rùa Hồ Gươm tổ chức chiều qua, các chuyên gia khẳng định rằng, việc chữa trị cho rùa có nhiều tín hiệu tích cực. Đến nay, sức khỏe của rùa Hồ Gươm tốt hơn so với khi bắt đầu chữa trị là ngày 4-4. Những vết thương trên mai, cổ, chân và diềm mai đều dần lành trở lại. Tuy nhiên, nếu quá trình cải tạo môi trường Hồ Gươm không được đẩy nhanh tiến độ thì việc sớm đưa rùa trở lại với hồ sẽ phải chậm lại. Chăm sóc rùa Hồ Gươm tại bể dưỡng thương. Ảnh: Đan Nhiễm TS Lê Xuân Rao, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, những ngày tới sẽ làm mái che tại bể dưỡng thương nơi rùa đang sống nhằm đề phòng thời tiết quá nắng nóng, ảnh hưởng đến sức khỏe của cá thể này. Ở đây cũng cho thiết kế một đài phun nước để làm mát và cung cấp thêm ôxi. Ngoài ra, Sở cũng kiến nghị với thành phố cho phép đưa rùa ra bể quây rộng khoảng 1.000m2 tại chân Tháp Rùa để rùa có điều kiện tái hòa nhập với môi trường sống tự nhiên bấy lâu. Riêng về công tác chữa trị, dự kiến khoảng một tuần/lần sẽ đưa rùa lên để kiểm tra và bôi thuốc. Trong quá trình cải tạo hồ, nhất thiết cần có sự giám sát thường xuyên các chỉ số môi trường để không ảnh hưởng đến sức khỏe của rùa.< Được biết, UBND thành phố Hà Nội đã giao cho các ngành chức năng khẩn trương nạo vét bùn, cải tạo môi trường Hồ Gươm. Những ngày gần đây, công việc này đã được đẩy nhanh tiến độ và có thể hoàn thành trong khoảng 2 tháng tới. (Theo HNM)
  8. Xin chào ban quản trị diễn đàn ! Không thấy các sư huynh góp ý về Nick nữa ,vậy chắc là cái Nick : Cóc vàng là ổn rồi . Vậy đề nghị BQT đổi cho tôi từ Nick : Vanvatho thành Nick : Cóc vàng Xin cảm ơn !
  9. Xin chào quý vị ! Nếu quý vị nào thấy ai đào được các cổ vật nghi là của người Việt cổ thì nhớ báo ngay cho cơ qua chức năng và chụp ảnh đưa lên đây nhé .Ức thật ! Không hiểu ngày xưa khi quân Hán sang xâm lược ,khi ấy thái thu Sỹ Nhiếp nhà hán bắt dân ta đốt hết sách và bỏ tiếng nói cùng chữ viết của người Việt và học chữ Hán thì các cụ nhà mình chôn dấu sách vở ở đâu ? Không lẽ lại bị động nên không kịp tẩu tán ít nào sao ? Ức thật !
  10. Xin kính chào quý vị ! Kiến trúc hiện đại Việt Nam đang đứng ở đâu? Tác giả: Trần Trọng Chi - Nguyễn Trực Luyện Bài đã được xuất bản.: 8 giờ trước Trong lĩnh vực nghệ thuật kiến trúc, phải chăng ta cần một tiêu chí, và chỉ 1 mà thôi: Đó là hiện đại Việt Nam (chữ Việt Nam được hiểu như một tính từ). Gặp đồi là san, gặp cây là chặt Kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian sống cho con người và cộng đồng. Bắt đầu dưới dạng hang động, lều chòi nơi hoang dã, tiến dần đến những cung điện, lâu đài, những đô thị, và ngày nay là những toà nhà, những khu nhà chọc trời trong những thành phố cực lớn tràn ngập cây xanh và ánh sáng, với cảnh quan và môi trường tuyệt vời trên khắp các châu lục. Từng tồn tại theo cách truyền khẩu, mãi đến những năm 30 của thế kỷ vừa qua, nghề kiến trúc có bản vẽ mới được nhập từ phương Tây vào nước ta. Từ bấy đến nay, đặc biệt là từ sau ngày độc lập, thống nhất, nền kiến trúc nước nhà đã có những bước phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy. Cả nước là một công trường khổng lồ. Từ các cơ quan, tổ chức cho đến người dân đều có nhu cầu xây dựng, đều đua nhau xây dựng. Nhà xây sau to đẹp hơn, tiện nghi cao hơn nhà xây trước, nhờ nhiều thành tựu của thế giới trong lĩnh vực xây dựng đã được nhập vào Việt Nam. Đó là một thực tế đáng ghi nhận. Tuy nhiên, so với đòi hỏi của dân tộc và thời cuộc, so với tiềm năng về tài nguyên, về cảnh quan thiên nhiên - môi trường và trí lực Việt Nam, so với tốc độ phát triển của các nước có điểm xuất phát thấp như Việt Nam, nếu xét cho kỹ thì thấy sự phá hoại cũng là... đáng kể. Dẫm chân tại chỗ, thậm chí thụt lùi ở một số mặt, trước hết là về chăm sóc môi trường - cảnh quan - di sản, quy hoạch đô thị - nông thôn và các giải pháp kiến trúc công trình mang đặc thù địa dư, khí hậu và tâm lý cội nguồn. Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Ảnh vietnamtourism Môi trường - cảnh quan - di sản là những thực thể khách quan do hoàn cảnh địa dư - khí hậu và nhờ thành quả của các thế hệ đi trước mà có, tạo nên dấu ấn đặc thù. Vậy mà nàng Tô Thị bị nung vôi bán lấy tiền, cổng thành nhà Mạc được mặc mới bộ xiêm áo sida. Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa bị biến dạng và ngày càng mất dần sự tinh tế. Một thành phố trung du từng san phẳng 54 quả đồi (thực tế có lẽ còn hơn nhiều) để biến cái hiếm có thành cái ở đâu cũng có. Gặp đồi là san, gặp cây là chặt, những việc làm tương tự từng xảy ra cách đây 50 năm, nay vẫn còn tiếp diễn. Quy hoạch đô thị vốn là sản phẩm cần trí tuệ Bách Việt thì có nơi, có lúc trở thành thứ hàng chợ, bị làm rập khuôn hàng loạt, chạy sô để quay vòng nhanh, thu phí lớn, và vì vậy chắc chắn chất lượng không thể cao. Một cơ quan lập quy hoạch cho một thành phố cửa ngõ lên Tây bắc đã thuyết minh rằng lợi thế thành phố ta là có đường cao tốc Láng-Hoà Lạc chạy qua (?!). Không thiếu những trường hợp gắp các cách quy hoạch miền xuôi lên miền núi. Dường như chúng ta còn chưa bắt đúng được cách làm quy hoạch, nên chưa kiến tạo được bản sắc đô thị. Vẫn còn nhiều nội dung bị bỏ ngỏ, như gắn giao thông, văn hoá, khoa học công nghệ v.v.. với quy hoạch không gian - cảnh quan trong một giải pháp đồng bộ, gắn tổ chức nếp sống nông thôn mới với biện pháp nâng cao thu nhập của nông dân, xử lý làng nghề trong thành phố lớn để bảo tồn và hiện đại hoá v.v... Vốn liếng tự nhiên của ta chỉ duy nhất có một lần, chung cho ta và cho cả các thế hệ mai sau. Nếu ngày nay chúng ta đối xử với tự nhiên không tốt khi quy hoạch xây dựng thì sẽ vô phương cứu chữa, sẽ bị con cháu mai sau oán trách. Bài học tương tự đã được quốc tế đúc rút từ nhiều năm trước vẫn còn là thời sự đối với các quốc gia như chúng ta. Kiến trúc luôn là... "người đến sau" Phát triển Thủ đô là một chủ đề chiến lược có tính lịch sử. Có nhiều mô hình và cách đi khác nhau từ kinh nghiệm của thủ đô các nước cho chúng ta tham khảo, lật đi lật lại vấn đề để tìm ra đáp án phù hợp với hoàn cảnh nước ta, nhằm tới mục tiêu đi nhanh mà không vấp, không phải trả giá. Vì vậy, rất cần dành thời gian thích đáng cho sự bàn thảo sâu rộng, cân nhắc ý kiến nhiều chiều, không thể phán quyết vội vàng. Quy họach không chỉ đóng khung trong việc tổ chức không gian - hình khối - cảnh quan, mà trên cả những điều đó, quy hoạch còn có sứ mạng góp phần thúc đẩy việc tổ chức cuộc mưu sinh và các quyền khác của người dân, trước hết là của số đông người lao động thu nhập thấp, gắn với bình đẳng xã hội, hài hoà lợi ích giàu nghèo. Xin đơn cử một ví dụ: Việc xây những khu ở quy mô lớn chỉ dành riêng cho người thu nhập thấp liệu đã tính đến những hệ luỵ tiêu cực? Hàng ngàn gia đình thuộc diện này bị dồn vào một chỗ sẽ kiếm sống ở đâu, bằng cách nào? Nhà đầu tư nào sẽ bỏ tiền xây nơi chăm sóc y tế, xây trường, một khi biết chắc hiệu quả từ việc này đối với họ gần như bằng không? Chưa nói đến các tệ nạn xã hội rất có thể nảy sinh. Bài toán ở đây không còn đơn thuần chỉ là giá bán căn hộ rẻ, mà đã mang những nội dung xã hội sâu sắc hơn nhiều. Nhiều người đánh giá kiến trúc công trình ở ta khá đẹp, dù bị sắp xếp trong những quần thể xấu xí. Tuy nhiên, số công trình như vậy chưa nhiều và thường có quy mô nhỏ lẻ, nhất là những công trình do các kiến trúc sư ta thiết kế. Chưa thầy có nhiều những bứt phá về triết lý, về triển khai các công nghệ tiên tiến, về giải pháp thích nghi khí hậu nóng ẩm, sử dụng năng lượng rẻ, vật liệu tại chỗ v.v... trong lúc sự xa hoa, diêm dúa, sự tuỳ tiện về nghiệp vụ, sao chép những hình thức lỗi thời của nước ngoài hay nhại cổ còn khá phổ biến. Bảo tàng Hà Nội, Ảnh chudu Trừ một số ít toà nhà được ưu tiên đầu tư chu đáo, có những thành công nhất định về công nghệ và hình thức kiến trúc, các công trình do nhà tư vấn nước ngoài thực hiện ở nước ta thường lạm dụng kính bao che, máy điều hoà nhiệt độ, ít phù hợp khí hậu, ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm thế người sử dụng. Xét một cách toàn cục, cái hiện đại trong quy hoạch - kiến trúc của ta hiện nay thường ít tính Việt Nam, còn cái tưởng như có chất Việt thì lại chưa hiện đại. Đầu tư phô trương hình thức, ít chú ý đến hiệu quả bền vững và thân thiện môi trường. Sự nhận biết hậu họa một cách chậm chạp và ngộ nhận thành tựu khiến chúng ta luôn là người đi sau, khoảng cách kiến trúc giữa chúng ta và các nước ngày càng bị nới rộng. Liệu có chăng một ngày nào đó, khi thời gian đã đủ chín để nhìn lại, ta bỗng giật mình nhận thấy nhiều việc theo bề nổi, ăn liền đã đưa chúng ta vào cái thế không cách gì gỡ lại được? Chỉ 1 tiêu chí: Hiện đại Việt Nam Dường như chúng ta còn chưa bắt đúng được cách làm quy hoạch, nên chưa kiến tạo được bản sắc đô thị. Vẫn còn nhiều nội dung bị bỏ ngỏ, như gắn giao thông, văn hoá, khoa học công nghệ v.v.. với quy hoạch không gian - cảnh quan trong một giải pháp đồng bộ, gắn tổ chức nếp sống nông thôn mới với biện pháp nâng cao thu nhập của nông dân, xử lý làng nghề trong thành phố lớn để bảo tồn và hiện đại hoá v.v... Vốn liếng tự nhiên của ta chỉ duy nhất có một lần, chung cho ta và cho cả các thế hệ mai sau. Nếu ngày nay chúng ta đối xử với tự nhiên không tốt khi quy hoạch xây dựng thì sẽ vô phương cứu chữa, sẽ bị con cháu mai sau oán trách. Bài học tương tự đã được quốc tế đúc rút từ nhiều năm trước vẫn còn là thời sự đối với các quốc gia như chúng ta. Nguyên do từ đâu và lối ra nào? Vẫn là từ nhận thức và cách làm. Lâu nay, chúng ta có số công thức quen dùng cho định hướng văn nghệ nói chung. Trong lĩnh vực nghệ thuật kiến trúc, phải chăng ta cần một tiêu chí, và chỉ 1 mà thôi: Đó là hiện đại Việt Nam (chữ Việt Nam được hiểu như một tính từ). Sẽ cần đến cả loạt dẫn giải để làm rõ nội hàm này. Và việc thực thi thành công điều vừa nêu chắc sẽ không phải chờ đến khi có ai đó ra cho được một vài bản định hướng này nọ, như có nơi đang dự kiến làm. Nền kiến trúc Xô viết trước đây đã từng thất bại do cách làm tương tự. Bản thân chất lượng của nghệ thuật sẽ tự nó bật ra từ chính cuộc chơi sáng tạo của mỗi cá thể hay nhóm tác giả - kiến trúc sư. Thành công của các giải Pritzker (một dạng giải Nobel về kiến trúc, mỗi năm chỉ trao duy nhất cho một KTS trên tòan thế giới) đã cho thấy các tác gia đứng được không hề nhờ vào một định hướng soạn sẵn nào, mà điều cần làm để thúc đẩy nền kiến trúc lại nằm ở chỗ khác. Trước hết, đó là sự cần thiết tạo một môi trường hành nghề lành mạnh để từng cá thể phát huy hết năng lực của mình. Sự sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi người làm nghề phải được hoá thân vào tác phẩm, sống toàn tâm toàn ý với nghề, có đủ thời gian và phương tiện để trăn trở, cọ sát cùng nhau, cân nhắc nhiều loại giải pháp, thay vì suốt ngày chạy sô chuyện áo cơm, vào ra lo lót các cửa. Đó cũng là việc đầu tư thích đáng của Nhà nước vào nghiên cứu khoa học, vào những quan trắc cộng phu về khí hậu, tập tục, địa hình địa mạo, vật liệu v.v...của mỗi địa danh, mối vùng trong nước, làm cơ sở chắc chắn giúp người sáng tạo các quần thể và công trình. Không phải chúng ta chưa từng triển khai các công việc nghiên cứu, nhưng luôn làm theo kiểu đánh trống bỏ dùi, không đến đầu đến đũa, chưa có sự kết nối đồng bộ và nhất quán giữa các khâu, các chuyên ngành nên rốt cuộc là có rất ít tác dụng. Thái Lan và nhiều nước láng giềng với ta làm khá tốt việc này. Nếu chúng ta cũng làm được như các bạn thì ta sẽ có cơ sở vững chắc không những để tìm tòi sáng tạo nét đặc thù quy hoạch - kiến trúc, mà còn là công cụ cần thiết cho những nhà quản lý, nhà phê bình nghệ thuật, và cho cả những bè bạn nước ngoài cần tìm hiểu về đất nước chúng ta khi họ thực hiện các hợp đồng về tư vấn thiết kế - xây dựng tại Việt Nam. Đào tạo KTS nên trọng chất lượng hơn số lượng, có sự giám định chặt chẽ về thứ bậc khi hành nghề. Hiện tượng cào bằng hoặc hạ thấp vai trò người thiết kế đều dẫn đến những lãng phí về tinh thần và tiền của. Gần đây, một số nhà đầu tư đã mời được các hãng, các tác gia tư vấn hàng đầu thế giới vào làm việc cho Việt Nam. Việc làm tốt đẹp này có thể kích hoạt sự trưởng thành của các nhà thiết kế quy hoạch - kiến trúc trong nước. Đất nước chúng ta cũng có 1 Ngô Bảo Châu trong toán học. Điều gì ngăn cản chúng ta mơ ước có được 1 vài Ngô Bảo Châu trong lĩnh vực kiến trúc vào một ngày không phải là quá xa? Kính xin quý vị quan tâm xem xét và lên tiếng để đất nước ta có những công trình tầm cỡ như thế này ,nhưng vận dụng được cả yế tố khoa học và tự nhiên để nó thật sự phát huy được hết tác dụng như ý tưởng của nhà nước và toàn dân tộc . Trong xây dựng mà có vài KTS giỏi như Ngô Bảo Châu để thiết kế những công trình tốn kém như thế này mà lại không phát huy hết hiệu quả thì thật là chán cho nước nứoc nhà ! Xin cảm ơn !
  11. Xin chào huynh ! Vậy nhờ sư huynh đổi luôn cho đệ thành : Cóc Vàng À mà có cần chọn ngày giờ không ạ ! Cái khoản này thiif đệ vẫn mù tịt . Mong tin của các huynh !
  12. Con chào sư phụ ạ ! Sư phụ ơi ! Con định đổi Nick thành : Cóc Vàng Con nhờ sư phụ và các sư huynh tính hộ con xem có được không ạ ? Nếu được thì xin đổi luôn cho con ạ ! Con xin cảm ơn !
  13. Hay quá !!!!! Hay quá sư phụ ơi !
  14. Xin chào huynh ! Tại đệ viết nhầm . Đệ định đổi là : Cóc vàng Huynh xem có được không ạ !
  15. Con xin chào sư phụ ạ ! Có thể ở đâu nhỉ?
  16. Sư huynh ơi ! Các sư huynh xem hộ đệ xem cái Nick này có được không ạ ! Nếu được thì cho đệ đổi luôn đi ạ !Xin cảm ơn !
  17. Xin chào các vị ! Vậy là sư phụ Thiên Sứ của chúng tôi đã đúng ,như vậy thì chiến tranh hóa học sẽ không xảy ra và bắt đầu từ Lybya - Châu Âu và thế giới sẽ tránh được một thảm họa diệt vong thê thảm !
  18. Xin chào hunh Hạt Gạo Làng và huynh Thiên Luân ! Đệ định đổi thành Nick : Cóc Vàng . Cóc Vàng vừa ẩn chứa nhiều tri thức minh triết Việt ,vừa tránh được từ phạm húy do trùng tên vào cụ Khiết mà lại vẫn là cụ Khiết . Nick này lại rất phù hợp với hình đại diện của đệ ,hơn nữa Cóc Vàng là loại cóc quý nhất trong loài cóc .Ngày xưa khi còn nhỏ ,đệ hay đi bắt Cóc về cho bố đệ làm duốc cóc cho bọn đệ ăn để đỡ bị còi xương và cụ thích nhất là những con Cóc màu vàng . Xin ý kiến các huynh ạ ! Xin cảm ơn !
  19. À đúng rồi ! Vậy để đệ nghĩ đã ! cảm ơn các huynh đã quan tâm !
  20. Các huynh ơi ! Đệ vừa chợt nghĩ ,cụ Rùa thì mọi người trên diễn đàn lại cứ phải gọi đệ là "cụ" ,như vậy e đệ lại đắc tội với các vị cao tuổi !Hay là : kim quy có được không ạ ! Nhờ các huynh tính luôn cho cái tên này xem nó có trường tồn hay không ạ ! Xin cảm ơn các huynh đã quan tâm !
  21. Ôi chà ,huynh làm đệ toát cả mồ hôi ,chân tay hiện đang run lẩy bẩy !!!!! Chợt nhớ lại chuyện khi xưa Cao Biền giả làm lễ để mời thần Tản Viên về núi tản nhằm mục đích trấn yểm để hại thần ,không may cho Cao Biền là Thần Tản Viên biết được ý đồ của hắn và Thần bay về mắng cho một trận và cùng lúc đó một cơn gió lớn nổi lên hất tung đồ cúng của hắn ... làm sợ mất cả mật .Từ đó hắn từ bỏ luôn ý định trấn yểm để triệt hạ nhân tài nước Việt . Tuy nhiên đệ chỉ có ý tôn trọng và ngưỡng mộ thần linh nước Nam nên mới lấy tên các ngài . Nhưng thôi,huynh đã có kinh nghiệm về vụ này rồi thì đệ xin nghe theo luôn ạ ! Để đệ nghĩ thêm ........ Cảm ơn huynh đã nhắc nhở !
  22. Xin chào huynh ! Đệ muốn có một cái Nick thật ngắn và thật Lạc Việt ; Khó quá !!!!!!! Hay đổi cho đệ là : Tản Viên Có được không ạ !
  23. Xin chào ban QT diễn đàn ! BQT làm ơn cho hỏi : Gần đây có hai đồng nghiệp của đệ tử muốn tham gia diễn đàn ; Đệ tử đã làm luôn việc tạo Nick hộ hai người này ,quá trình đã hoàn tất và họ đã đăng nhập vào diễn đàn được ,nhưng sao họ lại không gửi được bài viết ạ ! 1. Nick : Gabong 2.Nick : Quocdung Xin BQT hướng dẫn a! Xin cảm ơn !
  24. Vanvatho xin chào sư phụ và ban quản trị diễn đàn ạ ! Thưa Sư Phụ ! Con muốn đổi Nick : Vanvatho thành Nick : Cụ Khiết ( hay : Ông Khiết - Con chưa hiểu từ nào là chuẩn nhất ạ ) có được không ạ . Vì cái tên Vanvatho con thấy nó hay gặp trục trặc khi tham gia diễn đàn sư phụ và ban quản trị diễn đàn ạ ! Nếu có thể được xin sư phụ và BQT diễn đàn đổi Nick cho con với ạ ! Con xin cảm ơn !
×
×
  • Create New...