Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên_Địa_Nhân

Hội viên
  • Số nội dung

    208
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Thiên_Địa_Nhân

  1. Vì sao ruột của con người lại không dùng để ăn thịt? Vì sao - Phát Hiện Lý Thú 1.Tạo hóa sanh ra con người để ăn Thực Vật thay vì ăn Động Vật: Ngày nay, các khoa học gia đã bỏ nhiều thì giờ để thí nghiệm về cơ thể loài người, đã đi đến kết luận rằng : Loài người được tạo hóa sanh ra để ăn rau cải, hoa quả tức ăn chay thay vì ăn mặn, vì hai hàm răng của con người được cấu trúc một cách đặc biệt, khéo léo, lại có răng hàm cùng xương quai hàm để nghiền và nhai thức ăn rất giống loài động vật ăn rau quả, không ăn thịt sống. Trong khi đó, loài động vật ăn thịt sống, thì có răng cửa và bộ răng nanh bén nhọn để xé thịt xong rồi nuốt trọng luôn. Ngoài ra, tạo hóa cũng tạo cho những động vật này có đường tiêu hóa chiều dài gấp 3 lần chiều dài của thân thể, vì lẽ đó giúp cho sự phế thải các chất cặn bã qua đường ruột bài tiết nhanh chóng hơn, cho nên ít bị nhiễm độc tố do chất thịt gây ra đối với loài người. Trong khi đó, loài người và những động vật ăn rau cải, hoa quả thì có đường tiêu hóa (đường ruột) chiều dài gấp 12 lần chiều dài của thân thể, tức dài gấp 4 lần của những động vật ăn thịt, cho nên, loài người chúng ta ăn chay là đúng nhứt, bởi vì mỗi lần chúng ta ăn chay, thấy trong mình nhẹ nhàng, trong khi chúng ta mỗi lần có đám tiệc ăn mặn, thì thấy trong mình nặng nề, khó chịu lại buồn ngủ nữa, bởi thận làm việc thật vất vả để thanh lọc những độc tố cặn bã của thịt đưa ra khỏi máu và đào thải ra ngoài bằng đường bài tiết. Đối với người còn tuổi thanh xuân, thận còn khỏe mạnh, thì chưa ảnh hưởng gì cả, trái lại, đối với những người lớn tuổi, thận càng ngày càng yếu đi, thì việc thận thanh lọc sẽ trở nên khó khăn, đôi khi thận không thể loại hết những cặn bã độc tố, làm cho máu dơ, từ đó dễ sanh bịnh là thế đó. Đặc biệt, những động vật ăn mặn, ví như chó, cọp, sư tử v.v... mỗi lần có trời nắng gắt, chúng ta thấy chúng nó le lưỡi để thở, bởi vì, chúng nó đổ mồ hôi bằng lưỡi, trái với loài người hay những động vật ăn chay thì mồ hôi bằng lỗ chân lông. Hơn nữa, trong bao tử của những động vật ăn mặn, có chứa dịch tiêu hóa tới 20 lần lượng hydrochloric acid nhiều hơn trong bao tử của loài người hay những động vật ăn chay, nhờ vậy những động vật ăn thịt sống tức ăn mặn khi thực phẩm vào bao tử sẽ tiêu hóa nhanh chóng và dễ dàng. Con người ăn chay sẽ tránh được bịnh và có sức khỏe không thua người ăn mặn nếu ăn đầy đủ chất bổ 2. Con người ăn chay sẽ tránh được bịnh và có sức khỏe không thua người ăn mặn nếu ăn đầy đủ chất bổ Như đã trình bày ở trên, tạo hóa sanh ra con người để ăn chay, cho nên chúng ta áp dụng đúng sự ăn uống, thì không khác chúng ta thực hiện câu : Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong. Bởi vì, chúng ta ăn mặn, sẽ dễ dàng đưa đến bịnh tim (xin xem về chất béo đã dẫn ở trước), gần đây các Bác sĩ chuyên gia đã bỏ nhiều thì giờ nghiên cứu, đưa đến kết quả chánh xác là người ăn thịt nhiều, thì có liên hệ mật thiết với chứng bịnh ung thư ruột già, bởi vì trong thịt chứa nhiều chất béo, nhưng lại ít chất xơ (fibre). Tiến sĩ Sharon Fleming thuộc Phân Khoa Dinh Dưỡng của Viện Đại Học California ở Berkeley đã viết rằng : "Ăn chay trường sẽ ngăn ngừa và làm giảm thiểu sự nguy hiểm của bịnh ung thư ruột già và ruột cùn". Trong khi đó, bài tường trình của Học Viện Khoa Học Quốc Gia Hoa Kỳ năm 1983, các chuyên gia y tế đã ân cần khuyên bảo dân chúng như sau: "Chúng ta có thể ngăn ngừa các chứng ung thư thông thường bằng cách tiết chế ăn thịt và nên ăn nhiều rau cải, hoa quả và ngũ cốc". Riêng ông Rollo Russell cũng phát biểu : "Tôi đã tìm thấy trong 25 quốc gia tiêu thụ thịt nhiều nhất trên thế giới, đã có tỷ số dân chúng mắc bịnh ung thư cao nhứt và chỉ có một quốc gia ở hàng tỷ số thấp. Ngược lại, trong 35 quốc gia không dùng thịt hay ít dùng thịt, không có quốc gia có tỷ số cao dân chúng mắc bịnh ung thư cả". Gần đây, các khoa học gia đã phát hiện nhiều chất hóa học độc hại đã tiềm ẩn trong thịt các loài thú mà khách hàng tiêu thụ không hề hay biết, bằng chứng là bên Anh Quốc có bò khùng và kế đến Bỉ Quốc có gà nhiễm độc, bởi vì những mánh khóe của một số xưởng sản xuất thực phẩm phối hợp với các nhà chăn nuôi, muốn các thú vật này lớn nhanh lại béo mập để bán ra thị trường hốt được nhiều bạc, để rồi khi phát giác thì đưa đến những người dùng thịt này phải bịnh, thì việc đã muộn rồi. Ngoài ra, họ cũng dùng thuốc để nuôi con vật ngay khi chúng còn trong bụng mẹ, để sau này con vật sẽ lớn và mập nhanh. Trong khi đó, những thịt con vật sau khi sát sanh, thì được ướp bởi chất thuốc Sodium Nitrate và Sodium Nitrite để giữ thịt tươi như mới tiêu sanh hoặc lâu hư thúi, làm cho người tiêu thụ không biết thịt con vật đó đã sát sanh thời gian quá lâu, bởi vì, những chất hóa học này làm cho chúng ta khó phân biệt được thịt để lâu ngày và thịt mới xẻ ra. Vì vậy, các chất hóa học này sẽ làm tai họa cho những người mua thịt và sẽ đem đến bịnh hoạn bất ngờ không lường được. Tuy nhiên, nhờ các chất hóa học này, hằng năm kỹ nghệ thịt đã thu vào một số lợi tức khổng lồ, song cũng đã gây ra biết bao sự chết chóc vì bệnh tật mà những khách hàng ngây thơ là kẻ vô tình gánh chịu. Hiện nay chưa co một quy luật nào rõ ràng bắt buộc các nhà chăn nuôi cũng như kỹ nghệ sản xuất thịt phải ghi rõ thành phần các loại thuốc mà họ đã dùng trong lúc chăn nuôi và để giữ gìn được lâu bền. Năm 1972 Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ đã khám phá ra chất thạch tín (Arsenic) đã được sử dụng trong kỹ nghệ nuôi gà, nên đã khuyến cáo kỹ nghệ này chỉ được dùng tối đa 15% chất độc tố thạch tín mà thôi. Ngoài những hóa chất độc hại được một số xưởng sản xuất thực phẩm phối hợp với các nhà chăn nuôi các thú vật và các kỹ nghệ sản xuất thịt cho vào thịt bán cho người tiêu thụ vừa kể trên, còn có người kiểm soát thịt cũng bị các kỹ nghệ thịt mua chuộc hoặc thông đồng ăn chia hay vì số lượng thịt khổng lồ, nên việc kiểm tra thịt không được chu toàn, nên cũng thường đưa đến số lượng thịt bị hư hay nhiễm độc lọt qua sự kiểm soát bất cẩn và đưa đến người tiêu thụ dễ dàng, để rồi số người này sẽ bị bịnh khi ăn số thịt hư nhiễm này. Trong một bản báo cáo của Cơ Quan Kiểm Dịch Hoa Kỳ năm 1972 xác nhận rằng có rất nhiều xác thú vật đã thông qua sự kiểm soát sau khi những bộ phận bị nhiễm bịnh được cắt bỏ hoặc tẩy rửa sạch. Điển hình gần 100.000 con bò bịnh ung thư mắt và 3.596.302 bịnh bướu gan súc vật đều qua mắt sự kiểm soát... Đặc biệt hơn nữa, các nhà nghiên cứu về ăn thịt đối với những động vật không ăn thịt như Voi, Trâu, Bò, Ngựa, Gà, Khỉ v.v... thì những động vật này vẫn có đầy đủ chất dinh dưỡng, như là chất Protein và chúng vẫn mạnh khỏe như thường. Giả thử chúng ta đem những động vật trên phân ra làm 2 nhóm, nhóm ăn thịt và nhóm không ăn thịt, rồi nuôi riêng rẽ một thời gian, chúng ta tin rằng nhóm ăn thịt sẽ lần hồi bịnh hoạn, không thể phát triển và sanh sản bình thường được, bởi vì, chúng nó là loài ăn cỏ, ăn ngũ cốc, ăn rau cải... Mặt khác, một cuộc nghiên cứu của Tiến sĩ Fred Stare thuộc Viện Đại Học Harward và Tiến sĩ Mavyn Hardinge thuộc Viện Đại Học Loma Linda cũng đem thí nghiệm bằng một cuộc so sánh giữa hai nhóm người ăn mặn và người ăn chay. Cuối cùng kết quả cho thấy nhóm người ăn chay đầy đủ tức là hằng ngày ăn ngũ cốc, rau đậu (nhứt là đậu nành, đậu phộng), hoa quả... thì có chất lượng amino acids trong cơ thể họ tăng gấp đôi nhóm người ăn mặn nhu cầu cần thiết. Ngoài ra, có nhiều cuộc thí nghiệm khác đã minh xác sự ăn chay đúng cách và đầy đủ sẽ cung cấp nhiều chất dinh dưỡng hơn ăn mặn. Hơn nữa, một cuộc nghiên cứu khác nữa của Tiến sĩ J. Lotekyo V. Kipani thuộc Viện Đại Học Bruxelles Bỉ Quốc cũng đem lại kết quả là người ăn chay đầy đủ và đúng cách, họ có sức khỏe dẻo dai hơn những người ăn mặn gấp đôi hay ba lần. Trường hợp này, không khác Giáo sư Lrwig Fischer thuộc Viện Đại Học Yale, sau nhiều cuộc thí nghiệm, đã long trọng tuyên bố rằng : "Ăn thịt hay ăn những vật có nhiều chất đạm, sẽ làm cho con người không đủ sức chịu nhọc, không khác nào như người uống rượu". Do vậy, người ăn mặn không có sức mạnh dẻo dai chịu đựng bằng người ăn chay trường. Bằng chứng là hai ví dụ đã đăng trong Tạp chí Liên Hoa số 12, tháng 12 năm Mậu Tuất : 1. Nhà vô địch Karl Mann chạy bộ từ Berlin tới Dresden đường dài ngót 200 cây số, chỉ mất 22 giờ đồng hồ, là người ăn chay trường. 2. Năm 1957, tại vận động trường Melbourne (Australia) một lực sĩ cũng ăn chay trường được lãnh 2 huy chương vàng trong cuộc tranh tài quốc tế này Do những sự dẫn trình ở trên, chúng ta đi đến kết luận là loài người do tạo hóa sanh ra để ăn chay, ăn chay sẽ tránh được bịnh hoạn và ăn chay đầy đủ thì sẽ có sức mạnh dẻo dai hơn người ăn mặn. Ăn chay sẽ đem lại hữu ích cho bản thân và cho người khác xung quanh 3. Ăn chay sẽ đem lại hữu ích cho bản thân và cho người khác xung quanh Như chúng ta đã biết, việc ăn chay đem lại hữu ích cho bản thân như : - Tránh được bịnh hoạn - Có sức khỏe hơn người ăn mặn Ngoài ra, ăn chay sẽ đem lại nghĩa cử cao đẹp như : • Tránh sát sanh : Đối với người Phật tử trong Đạo Phật, cần phải biết giữa "Tam Quy và Ngũ Giới". Tam Quy là ba phép gìn giữ về : Quy y Phật, Quy y Pháp và Quy y Tăng. Còn Ngũ Giới là năm điều cấm kkhông được : Sát sanh, Đạo tặc, Tà dâm, Nói dối và Uống rượu, cho nên, nếu chúng ta ăn chay thì chúng ta đã thực hiện được điều thứ nhứt trong ngũ giới cấm trong Đạo Phật rồi, từ đó chúng ta tránh được giết hại những sanh vật để cung ứng thức ăn hằng ngày cho chúng ta. Trong hàng Phật tử, có người ăn chay : * 2 ngày tức nhị chay, cứ mỗi tháng ăn chay ngày : Mùng một và ngày rằm (15). * 4 ngày tức tứ chay, cứ mỗi tháng ăn chay ngày : Mùng một, mùng tám, ngày rằm (15) và 23. * 6 ngày tức lục chay, cứ mỗi tháng ăn chay ngày : Mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, 23, 29 (nếu tháng thiếu) hay 30 (nếu tháng đủ). * 10 Ngày tức thập chay, cứ mỗi tháng ăn chay ngày : Mùng một, 10, 14, 15,18,23,24,28,29 và 30( nếu tháng thiếu ăn chay từ ngày 27, 28 và 29). 1 tháng tức nhứt nguyệt chay, người thọ chay thường ăn chay liên tục, xem như ăn chay trường một tháng hằng năm vào tháng giêng hoặc tháng bảy, bởi vì trong một năm tháng giêng có ngày rằm tức lễ thượng nguyên đầu năm và tháng 7 có ngày rằm tức lể Vu Lan. 3 tháng tức tam nguyệt chay, người thọ chay thường ăn chay trường liên tục ba tháng vào các tháng : Giêng, Bảy và Mười, bởi vì 3 tháng này có các ngày rằm lớn : Thương Ngươn (tháng giêng), Trung Ngươn (tháng bảy nhằm lễ Vu Lan) và Hạ Ngươn (tháng mười). Trường chay là người thọ chay liên tục, xem như người xuất gia suốt đời, hằng ngày chỉ có ăn chay bằng rau cải, hoa quả với tương chao mà thôi, mỗi ngày cũng ăn hai bữa chánh, đôi khi, có người thọ chay trường, mỗi ngày chỉ ăn một bữa vào giữa trưa tứ ngọ chay. - Tránh được lượng nước ô nhiễm môi sinh : Theo Cơ quan Nghiên cứu Nông Học Hoa Kỳ đã cho biết những cặn bã do các lò sát sanh thải ra làm dơ bẩn sông rạch, đưa đến các nguồn nước thiên nhiên tinh khiết càng ngày cạn dần. Bằng chứng là năm 1973, tờ báo New York Post đã đăng một tin đáng cho chúng ta chú ý như sau : Một lò sát sanh lớn tại Hoa Kỳ, chuyên cung cấp thịt gà, đã sử dụng tới 100 triệu gallon nước mỗi ngày tương đương lượng nước cung cấp cho một thành phố có 25.000 dân cư. Ngoài ra, trong quyển Population, Resources and Environment (Dân số, Tài nguyên và Môi sinh), tác giả Paul và Anne Ehrlich đã so sánh : Nếu chúng ta muốn thu hoạch 1 cân lúa mì, chỉ cần 60 cân nước, nhưng nếu chúng ta muốn sản xuất 1 cân thịt, phải tiêu thụ từ 2.500 đến 6.000 cân nước. Do vậy, nếu chúng ta ăn chay sẽ tránh được lượng nước ô nhiễm môi sinh. - Tránh được sự xung đột xã hội cũng như phí phạm đất đai và đem lại sự an vui, sung túc cho mọi người Quả thật vậy, nếu mọi người trên quả đất này ăn chay, thì con người sẽ giảm bớt sự tham, sân, si. Bởi vì, chúng ta sẽ không giết những loài vật như : Gà, Vịt, Heo, Bò... để cung phụng cho chúng ta bữa cơm hằng ngày và từ đó thế giới này sẽ không còn những lò sát sanh cũng như những tiếng rên la vì chết oan của chúng, do nhu cầu ăn mặn, cho nên thế giới này mới có cảnh nước lớn đến lấn chiếm nước nhỏ, từ đó gây nên chiến tranh. Một nhà Bác học đã nói : Muốn thế giới hòa bình, bắt đầu trong bữa ăn của con người phải không có một chút máu hay một miếng thịt, cá... Đây là lời nói rất đạo đức, không khác với câu của cổ nhân là : "Nhứt thế chúng sanh vô sát nghiệp, hà sầu thế giới động binh đao"; xin tạm dịch : Nếu tất cả mọi người không sát hại lẫn nhau, thì sợ gì thế giới có chiến tranh. Trong gia đình hay ngoài xã hội cũng thế, nếu chúng ta ăn mặn, thì đôi khi vì miếng ăn mà tranh giành, để rồi đưa đến kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu, giết hại lẫn nhau, làm cho huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt. Nên chúng ta ăn chay, thì sẽ tránh được sự xung đột xã hội là thế đó. Ngoài ra, nếu chúng ta ăn chay, thì chúng ta sẽ không thực hiện những trại chăn nuôi thú vật làm phí phạm đất đai và chúng ta cũng không đem nông phẩm quá nhiều để đổi lại miếng thịt trên bàn ăn của chúng ta. Theo tài liệu của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ, trên 90% tổng sản lượng lúa mì tại Hoa Kỳ được dùng vào kỹ nghệ chăn nuôi, cứ 16 cân lúa mì đem chăn nuôi chỉ thâu vào không đầy 1 cân thịt và theo Tiến sĩ Aaron Altshul, viết trong tác phẩm Protein : Their Chemistry and Politics (Protein : Hóa học và Chánh trị) đã viết : "Nếu chúng ta sử dụng một diện tích đất một mẫu Anh (4.046m2) để trồng hoa mầu cung cấp lương thực cho người ăn chay, chúng ta sẽ được một sản lượng gấp 20 lần hơn, nếu chúng ta sử dụng đất ấy để chăn nuôi sản xuất thịt". Hiện nay ở Hoa Kỳ, phân nửa diện tích đất trồng trọt được dùng để sản xuất thực phẩm gia súc. Nếu trên quả đất này, chúng ta đều trồng hoa mầu, nông phẩm cho mọi người, thì chúng ta sẽ đầy đủ lương thực cung ứng cho 20 tỷ dân một cách dễ dàng, từ đó, chúng ta sẽ không sợ nạn nhân mãn và việc phá thai khiến hằng năm có đến 50 triệu thai nhi trên thế giới đã bị giết một cách oan uổng cũng như không còn xảy ra nạn đói hay những cuộc chiến tranh xảy ra việc tranh giành sự sống nữa. Như dẫn chứng ở trên, nếu chúng ta dùng đất đai, nông phẩm để thực hiện trại chăn nuôi, ngõ hầu cung cấp cho chúng ta hằng ngày những miếng thịt trên bàn ăn thì quá phí phạm, hơn nữa, nếu chúng ta giết một con bò, thì chúng ta sẽ không đem lại lợi tức bằng chúng ta nuôi một con bò, để nó cung cấp cho chúng ta sữa và phó sản một cách liên tục. Đây là những thực phẩm có chất bổ dưỡng cao. Ở Hoa Kỳ, sản phẩm của sữa rất dồi dào. Đôi khi người ta còn muốn hạn chế bớt việc sản xuất. Ông Sam Gibbons, Dân Biểu thuộc Tiểu Bang Florida, gần đây đã báo cáo lên Quốc Hội rằng, chính phủ hiện nay đang bị bắt buộc phải dự trữ sản lượng sữa trên mức an toàn. Ông nói : "Chúng ta hiện nay đang quản thủ đến 440 triệu cân sữa, 545 triệu cân phómát và 765 triệu cân sữa bột. Hằng tuần mức tồn kho vẫn còn tăng lên 45 triệu cân, cho nên Ông khuyến cáo chánh phủ nên xuất kho hàng triệu cân để cung cấp hoặc viện trợ cho những dân tộc nghèo đói". Được biết, ở Hoa Kỳ chỉ có 10 triệu con bò sữa thôi, mà có sữa và phó sản của sữa như thế đó. Thật có lợi hơn chúng ta giết con bò để lấy thịt vô cùng. Do vậy, chúng ta ăn chay cũng đem lại sự an vui, sung túc cho mọi người là thế đó. Để tạm kết thúc bài này, trước hết tôi xin cảm ơn các tác giả và các bậc cao minh trí thức đã viết lên những tác phẩm cùng những bài viết mà tôi đã mạn phép trích dẫn, vì không biết địa chỉ, nên tôi không thể xin phép trước được, đồng thời nếu có gì sơ xuất, kém khuyết xin quý vị bổ túc và tha thứ cho tôi. Bài này, để cống hiến cho quý bà con đồng hương thường lãm và hy vọng rằng góp phần mọn cho việc ăn chay đem lại ích lợi thiết thực cho bản thân cũng như mọi người xung quanh hơn ăn mặn. - Lâu nay giới Khoa học vẫn khẳng định con người thuộc Động vật ăn "Tạp". :D
  2. Khi nhìn lên bầu trời, chúng ta thấy mặt trời luôn di chuyển về phía đông. Đường đi này của nó gọi là đường hoàng đạo. Trên thực tế, đường hoàng đạo là vòng tròn được tạo ra bởi quỹ đạo mở rộng vô tận của trái đất cắt ngang quả cầu vũ trụ giả định... Theo nguyên lý trên, điều khiến các hành tinh "yêu mến" đường hoàng đạo có liên quan tới quỹ đạo của chúng. Thực tế, quỹ đạo của 9 hành tinh quay quanh mặt trời tuy đan chéo nhau nhưng chênh lệch không nhiều lắm. Nếu lấy quỹ đạo của trái đất làm tiêu chuẩn để so sánh thì độ chênh lệch quỹ đạo của các hành tinh kia như sau (tính từ trong ra ngoài): - Sao Thủy: 7 độ 0 phút - Sao Kim: 3 độ 24 phút - Sao Hỏa: 1 độ 51 phút - Sao Mộc: 1 độ 18 phút - Sao Thổ: 2 độ 29 phút - Sao Thiên Vương: 0 độ 46 phút - Sao Hải Vương: 1 độ 46 phút - Sao Diêm Vương: 17 độ 9 phút. Như vậy, chỉ trừ sao Diêm Vương quá xa, các hành tinh khác chênh nhau nhiều nhất không quá 8 độ, tức là vị trí của chúng hầu như không cách xa đường hoàng đạo là mấy.
  3. (tiếp) Bí ẩn Kim tự tháp “Mặt Trời” ở Teotihuacan, Mexico Teotihuacan, Mexico, Trung Mỹ. Tọa độ: 19° 40’ N 98° 52’ W Đại lộ chính của khu tàn tích Teotihuacan, tranh vẽ năm 1878 Kim tự tháp “Mặt Trời”, 1832 Kim tự tháp “Mặt Trăng” ở cuối đại lộ chính, ảnh chụp năm 1905 Kim tự tháp “Mặt Trăng” ở cuối đại lộ, ngày nay Ảnh khu tàn tích Teotihuacan trước khi được trùng tu Désiré Charnay (1828-1915) là một lữ khách, đồng thời là nhà khảo cổ học và là một trong những nhiếp ảnh gia hành trình đầu tiên nổi tiếng nhất thế giới. Trong chuyến thăm Yucatan, Oaxaca và Chiapas vào những năm 1858 – 1860 và 1880 – 1886, Charnay đã trở thành một trong những người tiên phong sử dụng nhiếp ảnh để làm tài liệu những di chỉ khảo cổ học lớn của Trung Mỹ. Ông cũng đã chụp nhiều tấm ảnh về các dân tộc Mexico bản địa. Những cuốn sách lớn mà ông viết về các tàn tích ở châu Mỹ là những tài liệu quan trọng cho cuộc khảo cổ về sau của Alfred Maudslay. Kim tự tháp “Mặt Trời”, Teotihuacan, ảnh của Désiré Charnay, ©American Philosophical Society Kim tự tháp “Mặt Trăng”, Teotihuacan, ảnh của Désiré Charnay, ©American Philosophical Society Tổ hợp kiến trúc khi được trùng tu vào đầu thế kỷ 20 Toàn cảnh khu vực, ảnh chụp năm 1905 Cảnh công việc trùng tu đang được tiến hành dưới chân kim tự tháp “Mặt Trời”, ảnh chụp năm 1905 Thành phố nằm tại nơi mà bây giờ là đô thị San Juan Teotihuacan ở bang Mexico, thuộc nước Mexico, cách thành phố Mexico khoảng 40 km về phía đông bắc. Nó có diện tích khoảng 83 km2 và đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1987. Lịch sử của Teotihuacan là một bí ẩn, và nguồn gốc những người sáng lập ra nó vẫn đang bị tranh cãi. Kim tự tháp “Mặt Trời” “Kim tự tháp Mặt Trời” là kiến trúc lớn nhất tại thành phố Teotihuacan và là một trong những kiến trúc lớn nhất Trung Mỹ. Nó nằm gần ngọn núi Cerro Gordo, và là một phần của tổ hợp kiến trúc nằm ngay tại trung tâm của thành phố. Cái tên “Kim tự tháp Mặt Trời” là do người Aztecs đặt cho kiến trúc dạng kim tự tháp ấy sau khi họ viếng thăm thành phố này. Khi họ lần đầu tiên đặt chân đến, thì thành phố đã bị bỏ hoang từ bao giờ. Một số người cho rằng kim tự tháp này được xây dựng vào khoảng 2.200 năm trước, tuy nhiên ý kiến đó vẫn gây nhiều tranh cãi. Kim tự tháp này có chiều rộng khoảng 225m, cao 75m. Nếu không kể các kim tự tháp bí ẩn tại Trung Quốc, thì nó lớn thứ 3 trên thế giới, sau kim tự tháp Lớn của Ai Cập và kim tự tháp Chobula. Các khai quật khảo cổ lớn đầu tiên của tàn tích này đã được thực hiện bởi Leopoldo Batres vào năm 1906. Batres đã giám sát việc trùng tu Kim tự tháp cho lễ kỷ niệm 100 năm ngày độc lập của Mexico vào năm 1910. Việc trùng tu đó bị các nhà khảo cổ sau này cho là vụng về và có những chỗ thiếu chính xác. Việc khai quật nghiên cứu tỏ ra rất chậm chạp, cho đến nay vẫn còn đang tiếp tục. Kim tự tháp được xây dựng trên một đường hầm nhân tạo dẫn đến một “hang động” khoảng 6 mét bên dưới trung tâm của nó. Ban đầu hệ thống đường hầm và hang động đó được cho là do tự nhiên tạo ra, nhưng về sau đã được chứng minh là nhân tạo. Vào đầu năm 2010 người ta lại phát hiện được một hệ thống đường hầm và nhiều phòng ngầm bên dưới “Ngôi đền Quetzalcoatl” của tổ hợp tàn tích Teotihuacan Trong những năm 1960 và 1970 Hugh Harleston Jr. đã thực hiện một khảo sát toán học toàn diện khu tàn tích này. Ông cho rằng nguyên tắc cấu trúc xếp hàng dọc theo đại lộ dẫn vào cho thấy thành phố này là một mô hình tỉ lệ chính xác của Hệ mặt trời, bao gồm cả sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương (chưa được giới khoa học phương Tây phát hiện cho đến các năm 1787, 1846 và 1930). Mặc dù những chủ nhân thực sự xây dựng nên tổ hợp kiến trúc này là ai vẫn còn là điều bí ẩn, nhưng Teotihuacan đã trở thành một trong những thành phố lớn nhất thế giới với chừng 250.000 người vào những năm đầu công nguyên (Theo Rene Millon, 1973). Thành phố đột ngột bị bỏ rơi vào khoảng thế kỷ thứ 7, và cũng không ai biết được nguyên nhân. Bản đồ khảo cổ tổng thể khu tàn tích Teotihuacan. Phần màu xanh là đại lộ dẫn vào tổ hợp kiến trúc kim tự tháp, màu đỏ là các kim tự tháp “Mặt Trời” và “Mặt Trăng”. Kumiko Sugiyama vẽ năm 1973 Kim tự tháp “Mặt Trời” Ngôi đền cùng với phần trên cùng của đỉnh kim tự tháp này đã bị phá hủy và không thể trùng tu hoàn chỉnh được. Những nỗ lực trùng tu của Leopoldo Batres vào năm 1907 đã bị phê phán là vụng về, ví dụ hình dạng méo và lệch của nhiều phần được trùng tu. Kim tự tháp này được cho là gồm chỉ 4 tầng chứ không phải là 5 tầng như chúng ta thấy ngày nay. Vài số liệu về kim tự tháp “Mặt Trời”: Cao khoảng 71m, Góc nghiêng mặt bên 43.5º, Chu vi đáy khoảng 894m, Chiều dài mặt bên khoảng 233m Kim tự tháp “Mặt Trăng” Kim tự tháp này nằm tại đầu cuối phía Bắc đại lộ chính của thành phố. Là một kiến trúc tương tự như Kim tự tháp “Mặt Trời” nhưng nhỏ hơn. Kim tự tháp “Mặt Trăng”, đằng sau là ngọn núi Cerra Gordo. Đỉnh của ngọn núi và kim tự tháp này gần như thẳng hàng với đại lộ chính “Đền” Quetzalcoatl Là một kiến trúc hình kim tự tháp nhỏ, cao khoảng 22m và mặt đáy có diện tích khoảng 7.600 mét vuông. “Đền” Quetzalcoatl. Nó được xây chồng lên trên những kiến trúc tiền sử còn cổ xưa hơn “Đền” Mica Các tấm mica đầu tiên dày đến 30 cm được tìm thấy ở giữa hai tầng trên của Kim tự tháp “Mặt Trời” vào năm 1906, khi tổ hợp này được trùng tu. Tuy nhiên, chúng đã bị người phụ trách dự án trùng tu là Leopoldo Batres gỡ đem bán ngay sau khi được khai quật. “Đền” Mica, cách kim tự tháp “Mặt Trời” khoảng 100m về phía Nam. Ảnh chụp năm 2004 của Pascal Troxler Gần đây hơn, một “Ngôi đền Mica” đã được phát hiện tại khu tàn tích này, và lần này những tấm mica đã được giữ nguyên trạng. 2 lớp mica rộng khoảng 8m vuông, xếp chồng lên nhau, đã được phát hiện bên dưới các tầng đá lát của “Ngôi đền Mica”. Vì nằm bên dưới sàn đá, chúng rõ ràng là không phải để trang trí, mà phải có một chức năng nào đó. Kiểm tra các nguyên tố vi lượng cho thấy số mica này có nguồn gốc tại Brazil, cách đó những 3.400km. Mica cũng đã được tìm thấy tại một số tàn tích khác của người Maya và người Olmec. Một “cái bể” được dát mica, được tìm thấy tại một trong những kiến trúc thuộc khu tàn tích Teotihuacan Mica là một khoáng chất có chứa nhiều kim loại khác nhau. Loại mica được tìm thấy ở Teotihuacan được cho là chỉ có ở Brazil, cách đó 3.400km. Rõ ràng là sự hiện diện của mica tại Teotihuacan chứng tỏ nó đóng một vai trò quan trọng đối với các chủ nhân bí ẩn của những công trình này. Hiện nay chưa ai có thể đưa ra một lời giải thích thỏa đáng nào về những tấm mica bí ẩn, và mối quan hệ giữa chúng với các kim tự tháp. Mica có tính cách điện và ổn định về hóa học nên nó được dùng trong sản xuất tụ điện. Mica còn được sử dụng làm vật liệu cách điện trong các thiết bị cao thế. Mica được sử dụng trong công nghiệp điện tử, làm chất cách nhiệt và điện, có khả năng chắn các neutron nhanh, và hoạt động như một chất điều tiết trong các phản ứng hạt nhân.
  4. Những nền văn minh tiền sử làm con người hiện đại phải sửng sốt! Tại Yonaguni, phần còn lại của một nền văn minh cổ đại vẫn đang đứng lặng lẽ dưới đáy biển, bỏ qua sự ồn ào của mặt đất. Nửa thế kỷ trước, các thợ lặn đã tìm thấy tàn tích của những tòa nhà nhân tạo phía Nam Yonaguni gần đảo Okinawa – một thềm đất khổng lồ với những góc cạnh giống như những con đường, cầu thang và các công trình xây dựng hình vòm. Một giáo sư địa chất Đại học Tokyo giải thích phần đất được phơi bày ra từ khu vực của đại dương này đã ít nhất một triệu năm tuổi, có thể là từ kỷ băng hà cuối cùng. Các nhà khoa học ngày nay giả định rằng vào một triệu năm về trước, loài người vẫn còn sống trong hang động và săn bắn thú vật trong suốt thời kỳ đồ đá. Vào năm 1879, một nhà khảo cổ học người Anh là Alan Wace đã phát hiện ra nhiều hình dạng hiện nay của máy bay và một loạt các vật thể bay tương tự trong những bức bích họa đổ nát ở ngôi đền Abydos của Ai Cập, trong những sa mạc cằn cỗi. Một trong những thiết kế trông giống như máy bay trực thăng ngày nay, những mô hình khác giống như tàu ngầm hay tàu vũ trụ, thậm chí một “UFO” được thấy trong những bức hoạ này từ ba ngàn năm trước người của người Ai Cập cổ đại — ít nhất là ba hoặc bốn vật thể bay có hình dáng tương tự như máy bay ngày nay. Máy bay hiện đại phát triển trong thế kỷ XIX, nhưng đã được nhìn thấy trong bức bích họa người Ai Cập cổ đại từ ba ngàn năm trước đây Vào năm 1972, một nhà máy ở Pháp đã nhập khẩu quặng Uranium Oklo từ nước Cộng Hòa Gabon ở Châu Phi. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, quặng Uranium đó đã được khai thác. Bởi vì hàm lượng Uranium thấp, giống như chất thải từ các lò phản ứng hạt nhân hiện nay của chúng ta, nó đã thu hút nhiều nhà khoa học trên khắp thế giới tới để nghiên cứu quặng uranium Oklo Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng lò phản ứng hạt nhân cổ xưa này đã sản xuất khoảng năm trăm tấn quặng uranium với sản lượng điện (năng lượng) ước tính khoảng một trăm kilowatt. Các lò phản ứng được bảo quản tốt có cấu trúc hợp lý và dường như đã hoạt động năm ngàn năm trước. Những chất thải hạt nhân không nằm rải rác mà được tập trung xung quanh các mỏ quặng. .Những ai có nghiên về cách bố trí của lò phản ứng hạt nhân sẽ thấy rằng, cách bố trí lò phản ứng hạt nhân cổ đại tiên tiến hơn nhiều so với các nhà máy hạt nhân hiện đại của chúng ta. Các nhà khảo cổ học ở Chile, SA, đào được xương của một người khổng lồ Clip Người Khổng Lồ Sự hạn chế không gian được ghi chép chỉ cho phép chúng ta để cập đến một phần nhỏ của nền văn minh Maya , Hà Đồ, Lạc Thư, cuốn sách của những Thay Đổi, những câu chuyện về Atlantis, các kim tự tháp và những nền văn minh tiền sử khác Chu kỳ của những nền văn minh tiền sử cho chúng ta biết rằng sự lặp lại của lịch sử cũng giống như sự chuyển động tuần hoàn của các hành tinh vậy. Con người cũng như các nhà khảo cổ học, bắt đầu hiểu được bản chất chu kỳ của sự phát triển nền văn minh nhân loại, nhận ra giá trị thực sự của các truyền thuyết cổ đại, đặc biệt là câu chuyện của tổ tiên mình. Tiếp theo đó, các phân tích khảo cổ học đã thừa nhận tính đúng đắn của những câu chuyện cổ xưa Hậu duệ của những nền văn minh cổ đại có đức tin vào Thần và tin vào luật nhân quả, họ có chuẩn mực đạo đức cao. Họ biết về luật luân hồi của những nền văn minh từ các truyền thuyết trên khắp thế giới trước cả khi Kinh Thánh ra đời. Một ví dụ tương tự là câu chuyện về Đại Hồng Thủy và những thiên tai khác đã hủy diệt nhiều nền văn minh. Lý do của sự hủy diệt các nền văn minh đều giống nhau – Sự suy đồi của đạo đức con người. Những truyền thuyết cổ xưa dạy chúng ta biết loài người đã trở nên bại hoại, và họ đang tiến đến hủy diệt như thế nào. Một số ít người sống sót đã cảnh báo các thế hệ tương lai. Nhưng con người ngày nay lại coi những lời cảnh báo đó như những câu chuyện cổ tích. Nhiều nền văn minh rực rỡ đã biến mất; tất cả chúng ta có thể thấy chỉ có vài tàn tích còn xót lại. Plato nói: “Nền văn minh Atlantis đã bị chôn vùi dưới đáy biển”. Đối mặt một cách dũng cảm với lịch sử của nhân loại giúp chúng ta có thể nhận ra lý do tại sao những con người thông thái của thời kỳ đó lại xây dựng nên “những tượng đài” không thể phá hủy được. Các bức tượng đá khổng lồ ở Đảo Phục Sinh lặng lẽ nhìn về phía Đông với những giọt nước mắt trên khuôn mặt chúng. Có lẽ chúng là những lời cảnh báo quý giá nhất từ tổ tiên chúng ta.
  5. Đúng vậy, em cũng nghĩ thế vì nó không thuộc sản phẩm của nền văn minh hiện nay.
  6. Theo tôi cái này ngoài mục đích câu khách du lịch thì hầu hết những quốc gia có kim tự tháp cho dù có biết bí mật cũng không dại gì công bố lý do chính trong nguồn gốc hình thành của nó. Cho dù bất cứ 1 quốc gia hay 1 dân tộc nào cũng đều có lịc sử hình thành và cội nguồn gốc rễ của mình và họ luôn tự hào về điều đó. Giả sử những KTT đó thuộc về 1 nền văn minh cổ xưa, không thuộc nền văn minh hiện đại và không phải là do tiền nhân của dân tộc đó xd lên thì mặc nhiên họ đã đánh mất đi sự ngưỡng mộ của thế giới và dân tộc khác. Sự bí ẩn của KTT đến nay chưa được KH giải thích thuyết phục về mọi khía cạnh liên quan đến nó. Họ lợi dụng vào điểm này để "Lập lờ đánh lận con đen" và để cho thế giới luôn mơ hồ về nó.
  7. KIM TỰ THÁP Ở TRUNG QUỐC Những câu chuyện đầu tiên về các kim tự tháp ở Trung Quốc đã bắt đầu ngay từ thế chiến thứ hai. Một phi công của Không quân Hoa Kỳ tên là James Gaussman đã báo cáo rằng từng thấy một kim tự tháp có đỉnh màu trắng trong một chuyến bay giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào năm 1945. Walter Hain, một tác giả đồng thời là nhà khoa học, đã nói về những phản ứng của Gaussman lần đầu tiên nhìn thấy kim tự tháp này. Kim tự tháp bí ẩn. Ảnh chụp năm 1947 Walter Hain, một tác giả đồng thời là nhà khoa học, đã nói về những phản ứng của Gaussman lần đầu tiên nhìn thấy kim tự tháp này. “Tôi nghiêng cánh để tránh một ngọn núi và chúng tôi đã ra đến một thung lũng bằng phẳng. Thẳng đứng phía bên dưới là một kim tự tháp khổng lồ màu trắng. Nó trông giống như một cái gì đó trong truyện cổ tích. Nó được bọc trong vẻ lung linh màu trắng. Thứ đó có thể là kim loại, hoặc một loại đá nào đó. Nó có màu trắng tinh khiết trên tất cả các mặt bên. Điều đáng chú ý là khối đá trên đỉnh, một mảnh vật liệu khổng lồ trông giống như một món đồ trang sức, có thể là một khối tinh thể. Không có cách nào hạ cánh, mặc dù chúng tôi muốn. Chúng tôi đã kinh ngạc vì sự khổng lồ của nó”. Câu chuyện sau đó đã được đăng trên tờ New York Times trong một bài báo nói về kim tự tháp vào ngày 28 tháng 3 năm 1947. Đại tá Maurice Sheahan, Giám đốc khu vực Viễn Đông của hãng hàng không Trans World Airlines đã phát biểu trong một cuộc phỏng vấn rằng ông đã nhìn thấy một kim tự tháp khổng lồ cách 40 dặm về phía tây nam Tây An. Hai ngày sau báo cáo này, tờ báo nọ đã đăng một tấm hình, mà sau này được cho là do Gaussman cung cấp. Kim tự tháp lớn nhất thế giới này được đồn đại là ở quận Qin Lin trong một ’vùng cấm’ của Trung Quốc, ước tính khoảng 300 m chiều cao và được làm từ đất hút nước và đất sét, có chứa nhiều ngôi mộ lớn. Chính quyền Trung Quốc đã từ lâu phủ nhận sự tồn tại của 100 kim tự tháp hoặc hơn, mặc dù sự tăng trưởng của du lịch tới khu vực lăng mộ Tây An (đội quân đất nung) đang đe dọa bí mật này. Nhiều khách du lịch đã tự mình leo lên các kim tự tháp cao từ 25 tới 100m này. Chính phủ cũng đã trồng cây lên chúng để che giấu. Sau khi hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của chúng, chính phủ cuối cùng đã thừa nhận sự tồn tại của một số “ngôi mộ hình thang”, tuy nhiên “truyền thuyết” về một kim tự tháp trắng cao 300m thì chỉ có một vài người phương Tây được nhìn thấy trong thế kỷ này. Đây là một đoạn trích từ một cuốn sách: “Tôi đang tìm kiếm một kim tự tháp từng được nhắc đến, một lần, nhiều thiên niên kỷ về trước, nhiều màu, và đến giờ phủ đầy bụi màu trắng. Đây là một kim tự tháp, mà theo ghi chú, có chiều cao đáng kinh ngạc là 300m – 4/5 độ cao của tòa nhà Empire State. Không chỉ có kiến trúc bất thường này được cho là kim tự tháp lớn nhất thế giới (Kim tự tháp khổng lồ của Ai Cập chỉ cao 137m), mà trong các thung lũng xung quanh nó, người ta nói là có hàng chục kim tự tháp khác, một số cao lớn gần bằng nó. Cho đến gần đây, các quan chức Trung Quốc vẫn lảng tránh tất cả các câu hỏi về các kim tự tháp này và tất cả các yêu cầu được xem chúng. Một thương nhân người Mỹ, tình cờ gặp các kiến trúc tuyệt vời này trong năm 1912, đã yêu cầu nhà sư Phật giáo của ông nói về chúng. Nhà sư đã cho ông biết rằng: các tài liệu 5.000 năm tuổi của tu viện không chỉ chứa đựng thông tin về các kim tự tháp này, mà còn cho biết các kim tự tháp này đã cực kỳ cổ xưa khi những ghi chép đó được viết ra. Chính quyền Trung Quốc trồng cây lên kim tự tháp để che giấu Nhà doanh nghiệp, ông Fred Meyer Schröder, đã quan sát thấy một số kim tự tháp nhỏ hơn ở xa xa. Ông viết trong nhật ký du lịch của mình rằng khi ông lần đầu tiên nhìn thấy kim tự tháp khổng lồ đó, cùng với “những người anh em họ” nhỏ hơn của nó, cảnh tượng ấy đã làm cho ông gần như câm lặng. “Điều đó thậm chí còn kỳ lạ hơn bởi vì chúng ta đã không tìm thấy nó ở nơi hoang vắng”, ông viết, “mà những kim tự tháp này lại khá công khai trước con mắt của thế giới, nhưng vẫn hoàn toàn chưa được thế giới phương Tây biết đến”. “Kim tự tháp lớn cao khoảng 300m (các tài liệu khác ước tính nó cao 300 tới 370m) và cạnh đáy rộng khoảng 460m, khiến nó to lớn gấp đôi bất cứ kim tự tháp nào ở Ai Cập. Bốn mặt của kiến trúc này được định hướng theo các điểm la bàn”. Ở vùng Viễn Đông vào mùa xuân năm 1945, mặc dù quân Nhật vẫn còn chiến đấu ở Trung Quốc, quân đội Mỹ và đồng minh của họ đang trên đường đẩy lùi quân Nhật ra khỏi đại lục. Một ngày, viên phi công người Mỹ tên là James Gaussman khi đang trên đường trở về Assam, Ấn Độ thì động cơ gặp trục trặc, ông buộc phải tạm thời hạ độ cao xuống thấp hơn trên vùng trời Trung Quốc. Sau này ông đã viết: “Tôi nghiêng cánh để tránh một ngọn núi và chúng tôi đã ra đến một thung lũng bằng phẳng. Thẳng đứng phía bên dưới là một kim tự tháp khổng lồ màu trắng. Nó trông giống như một cái gì đó trong truyện cổ tích. Nó được bọc trong màu trắng lung linh. Thứ đó có thể là kim loại, hoặc một loại đá nào đó. Nó có màu trắng tinh khiết trên tất cả các mặt bên. Điều đáng chú ý nhất của nó là khối đá trên đỉnh: một mảnh vật liệu khổng lồ trông giống như một món đồ trang sức, có thể là một khối tinh thể. Chúng tôi đã hết sức kinh ngạc do kích thước khổng lồ của nó”. Hai năm sau, vào năm 1947, một phi công người Mỹ khác tên là Maurice Sheahan – lần này bay trên tỉnh Thiểm Tây, không xa Tây An – đã trông thấy một kim tự tháp khổng lồ trong cảnh mù sương ở dưới và đã nhanh chóng chụp hình. Lần này, một số tờ báo Mỹ, gồm cả tờ New York Times ngày 28 tháng 3 năm 1947, đã đang các tài liệu báo cáo của viên phi công. Nhưng các nhà khảo cổ Trung Quốc tiếp tục phủ nhận sự tồn tại của một kiến trúc như vậy, mặc dù những tấm ảnh của Sheahan cho thấy nó cao hơn bất cứ kim tự tháp nào ở Ai Cập”. Năm 1978 nhà nghiên cứu New Zealand tên là Bruce L. Cathie cố gắng làm rõ câu đố này. Dựa theo một số phản hồi của đại sứ quán Trung Quốc và lực lượng không quân Hoa Kỳ, ông đã giữ lại bức ảnh chụp năm 1947. Sau này ông đã xuất bản hình ảnh đó trong cuốn sách của mình “Chiếc cầu vô tận” (The Bridge to Infinity) vào năm 1983. Dựa theo bức ảnh và các báo cáo trên, nhà nghiên cứu New Zealand ước tính rằng kim tự tháp phải có chiều dài cạnh móng 450 mét và chiều cao khoảng 300 mét. Nó là một kim tự tháp với bốn mặt bên hình thang, có đỉnh bằng phẳng và nền móng hình vuông, giống như các kim tự tháp ở Ai Cập và Mexico. Các kim tự tháp này vẫn chưa được các chuyên gia trong thế giới phương Tây biết đến và sự tồn tại của nó luôn luôn bị phủ nhận: “Không có kim tự tháp ở Trung Quốc! Chỉ có chùa chiền, các tòa nhà có đỉnh giống như đền thờ mà thôi!”. Một chuyên gia người Áo tên là Walter Hain đã viết một báo cáo ngắn trong ấn bản tiếng Đức “Bầu trời cổ xưa” số 6, năm 1991 – là tạp chí của “Hội phi hành gia cổ đại”. Tuy nhiên họ không muốn đăng bức ảnh chụp năm 1947 đó. Gene Phillips, người sáng lập của hội này, đã từ chối đăng một bản tin do Walter Hain viết trong tạp chí tiếng Mỹ của hội – với lý do rằng, những bức ảnh có thể là “một cái gì đó đã bị chỉnh sửa”. Ông ta đã cho rằng bức ảnh là một sự giả mạo. Hôm nay, với sự giúp đỡ của các hình ảnh vệ tinh, chúng ta biết chắc chắn rằng các kim tự tháp ở Trung Quốc là có thực. Với sự giúp đỡ của Google Earth, chúng ta có thể nhìn thấy chúng rất rõ ràng. Chúng vuông vức, có các cạnh theo hướng đông tây nam bắc, rất tương đồng với các kim tự tháp ở Ai Cập và Mexico. Kim tự tháp nằm gần thành phố Tây An, ở tọa độ 34,22 Bắc và 108,41 Đông. Một so sánh của một hình ảnh vệ tinh cũ của một kim tự tháp ở Thiểm Tây với hình ảnh chụp năm 1947 Một phức hợp kim tự tháp ở Thiểm Tây Kim tự tháp ở Trung Quốc – bản đồ (bấm vào để phóng to). Tọa độ của các Kim tự tháp Trung Quốc: * Kim tự tháp 1: kích thước 222 x 217 m, 34 ° 20’17 “N 108 ° 34’11″ E * Kim tự tháp 6: kích thước 153 x 158 m, 34 ° 21’47 0,16 “N 108 ° 37’49 0,80″ E * Kim tự tháp 7: kích thước 149 x 155 m, 34 ° 21’42 0,48 “N 108 ° 38’24 0,36″ E * Kim tự tháp 11: kích thước 155 x 154 m, 34 ° 22’29 0,64 “N 108 ° 41’51 0,36″ E * Kim tự tháp 15: kích thước 219 x 230 m, 34 ° 23’52 “N 108 ° 42’43″ E * Kim tự tháp 31: kích thước 126 x 149 m, 34 ° 14’09 0,00 “N 109 ° 07’05 0,00″ E * Kim tự tháp 33,34,35: lớn nhất 160 x 167 m, 34 ° 10’45 0,00 “N 109 ° 01’41 0,00″ E * Kim tự tháp 37: kích thước 354 x 357 m, 34 ° 22’52 “N 109 ° 15’12″ E * Kim tự tháp 6: kích thước 153 x 158 m, 34 ° 21’47 0,16 “N 108 ° 37’49 0,80″ E * Kim tự tháp 7: kích thước 149 x 155 m, 34 ° 21’42 0,48 “N 108 ° 38’24 0,36″ E * Kim tự tháp 11: kích thước 155 x 154 m, 34 ° 22’29 0,64 “N 108 ° 41’51 0,36″ E * Kim tự tháp 15: kích thước 219 x 230 m, 34 ° 23’52 “N 108 ° 42’43″ E * Kim tự tháp 31: kích thước 126 x 149 m, 34 ° 14’09 0,00 “N 109 ° 07’05 0,00″ E * Kim tự tháp 33,34,35: lớn nhất 160 x 167 m, 34 ° 10’45 0,00 “N 109 ° 01’41 0,00″ E ’ * Kim tự tháp 37: kích thước 354 x 357 m, 34 ° 22’52 “N 109 ° 15’12″ E * Kim tự tháp 1: kích thước 222 x 217 m, 34 ° 20’17 “N 108 ° 34’11″ E
  8. Tính cách không khuất phục trước trước quê hương bị chiếm đóng, tính kiên cường và tính đấu tranh luôn sôi sục trong mỗi con người Việt. Và bây giờ cũng vậy dù 2 mặt trận khác nhau hoàn toàn.Kính anh!
  9. Chào ACE. Chúng ta cùng bình luận ý nghĩa của biểu tưởng trong bức hình này nhé. (Hình tháp có 1 cái mắt sáng) Xin cám ơn!
  10. Xin chào ACE! Tôi có 1 cái tín vật này, chữ trong hình chắc chắn không phải là chữ "Tàu khựa" rồi, nhưng tôi cũng không biết được nó thuộc hệ ngôn ngư nào. Nội dung thì tôi hiểu vì được khẩu truyền, cái này xuất xứ trên đất trung Quốc nhưng cổ xưa là của Bách Việt. Mong mọi người giúp xem nó thuộc ngôn ngữ nào? Giống chữ Việt Cổ quá. Nếu đúng chữ Việt Cổ thì đúng là tổ tiên linh thiêng. Xin chân thành cảm ơn!
  11. [VIỆT NAM thời lập quốc từ truyền thuyết đến lịch sử 3[/color] Tộc Xá người Khmer (Tây Khương) còn gọi là Xá Cẩu đến ngày nay vẫn duy trì việc sùng bái vật tổ Chim. Trong các tộc Khmer có đến 24 họ mang tên các loài chim nhưng quan trọng nhất là chim Phượng Hoàng đất vì nó là chúa tể muôn loài chim. Ngôn ngữ dân tộc học gọi là “THRÀNG” mang một ý nghĩa óng ánh, nhấp nháy, tương tự như “Mling” chỉ một loài chim trong tiếng Việt cổ. Người Miêu (Miao) mà dân gian ta vẫn gọi là Mèo, họ là cư dân bản địa ở Trung Nguyên trước khi Hán tộc xâm lấn. Người Miêu có truyền thuyết về cuộc di tản của họ, một số người vượt qua bờ nước, một số người lên miền núi cao như một dị bản của truyền thuyết Rồng Tiên của Việt và hiện còn thấy ở Quý Châu. Họ cũng thờ vật tổ Chim, thiếu nữ Miêu trang điểm tóc của họ giống như đuôi chim công … Người Mạng ư, người Xing Minh tức Xá Puộc cũng có nhiều họ chim nhưng toàn bộ thì thờ chim Đa Đa. Người Thái có họ Lò là họ gốc và cũng từ họ Lò này chuyển hoá ra nhiều họ khác. Hiện giờ người Thái vẫn còn giữ tục thờ vật tổ Chim. Đó là chim Phượng Hoàng đất.(18) Đồng bào Stiêng, người J’ro trước ở miền Đông Nam Việt hiện nay còn ở Phước Long cũng nhận là học nói tiếng chim nên phát âm nhẹ nhàng líu lo, đặc biệt họ đều lấy họ là Điểu (chim) Theo nhà nghiên cứu Đoàn Nam Sinh thì năm 1838, đồng bào Stiêng đã được vua Minh Mạng cho nhận họ là họ Hồng và Nhạn (chim Hồng của Việt tộc). Trên khắp địa bàn cư trú của Âu Việt đều tôn thờ vật tổ là chim. Chim là biểu tượng của Mẹ Âu nên hình tượng Mẹ Âu đẻ ra trứng là điều dễ hiểu chứ không hoang đường quái đản gì cả. Phụng Hoàng là chúa tể của các loài chim, Phụng Hoàng còn đọc là Phượng Hoàng. Theo dân gian thì mỗi khi chim Phượng Hoàng xuất hiện là có thánh nhân ra đời. Phụng là chim trống, Hoàng là chim mái. Thời kỳ Quang Trung Hoàng Đế xướng nghĩa thì chim Phượng Hoàng xuất hiện nên dân gian tin Quang Trung là thánh nhân xuất hiện cứu dân giúp đời. Chính vì vậy, Hoàng Đế Quang Trung đã cho xây dựng Phượng Hoàng Tây Đô. Rừng núi Trường Sơn là môi trường sinh cảnh thích hợp của loài chim Phượng Hoàng. Sách Lâm Ấp ký chép: “ Phía Tây Tùng Nguyên quận Cửu Chân thì chim muông rất dạn, không biết sợ cung. Đàn bà góa ở vậy, xoã tóc cho đến già. Đèo vào phương Nam không cao lắm chim Thương Canh nhớ Xuân phương Bắc, chim Phỉ Thuý vui cảnh phương Nam ..” Thủy Kinh Chú quyển 36 chép “Từ Hàm Hoan ở phía Bắc Nghệ An vào Nam Hươu Hoẵng đầy gò, kêu gọi vang đồng, chim công (Phượng) bay lượn, che rợp quanh núi. Vượt qua Tạc Khẩu đến Cửu Đức, cửa sông Cửu Đức phía trong qua suối Cửu Đức suối Nam Lăng”. Nhà điểu học Pháp Jabouills cho rằng những con chim quý này là đặc chủng của rừng Đông Trường Sơn, vì trên thực tế người ta đã tìm thấy loài chim này trong những khu rừng ở đầu nguồn sông Hương. Tên của núi Kim Phụng và núi Cẩm Kê ở Huế, ngày xưa là nơi cư ngụ của đôi chim Loan Phụng trong truyền thuyết Đông phương biểu trưng cho hạnh phúc lứa đôi (Loan Phụng Hoà Minh). Việt tộc tôn thờ vật tổ (Totem) biểu trưng Phượng Hoàng đất là chúa tể các loài chim. Ngôn ngữ các tộc người Nam Á gọi giống chim này là “Thràng” và địa danh Mê Linh của quốc gia Văn Lang xuất phát từ Miling, Ma Ling, Minh Linh có nghĩa là lấp lánh tương tự như “thràng” (Phượng Hoàng đất) vật tổ biểu trưng linh thiêng của người Việt cổ xưa (19). Theo nhà điểu học Nhật Bản Hachi Suka thì chim Trĩ (còn gọi là Công) là bản gốc trong thiên nhiên của hình tượng chim Phượng Hoàng huyền thoại trong văn hoá truyền thống xa xưa của châu Á, kể cả trong sách cổ Trung Hoa và Nhật Bản. Hình tượng chim Loan thì chính là chim Trĩ Cẩm Kê có tên khoa học Argussianus argus. Thật vậy, Trĩ chữ Nho gọi là Địch. Địch là một loài Trĩ có đuôi dài, lông ngũ sắc. Lạc Địch là giống chim Trĩ của Lạc Việt cũng như Tất Phương, Uyên Ương là những giống chim đặc biệt của Lạc Việt mà người cổ đại đã tôn thờ như vật tổ. Theo Kim Định thì đặc trưng riêng biệt Trĩ Lạc Việt là khi bay thường thu cánh bên trái trước “Lạc địch tập kỳ tả dực” mà cổ thư gọi là Tả nhậm. Hình ảnh con chim Trĩ của Việt tộc bay theo hướng mặt trời (Tùy dương Việt Trĩ) vừa nói lên vật tổ biểu trưng vừa là tín ngưỡng nguyên thủy thờ mặt trời cư dân sống bằng nghề nông. Truyền thuyết về sự tích dân tộc Mường kể rằng: Xưa kia từ một tổ chim nở ra hai anh em chi Quyền chấp và chi Quyền chợ là tổ tiên người Việt và người Mường. Điều đó chứng tỏ cả Việt lẫn Mường đều có thờ vật tổ chim mang ý nghĩa biểu tượng của thị tộc. Người BơRu ở dọc Trường Sơn còn có sự tích kể rằng ngày xưa trời đất mưa nhiều, mưa mãi nước dâng lên ngập hết chỉ còn lại một quả bầu, từ trong quả bầu chui ra mấy anh em đặt tên là Tà Ôi, Bơ Ru, Lào Kinh… Nhiều dân tộc ở Tây Nguyên như Banar, Eđê cũng có những truyền thuyết tương tự như vậy. Mling, Mlang, Kling klang, Bling Blang là những cặp tên có tính chất lấp lánh, theo tiếng đồng bào Thượng ở Tây Nguyên đều có nghĩa là một loài chim. Người Xá Khmer còn có họ “Thràng”, thờ chim Thràng làm vật tổ. Người Mường có chim đẻ trứng, trăm nghìn trứng, nở ra muôn vật muôn loài, nở ra người Kinh tức người Việt, người Mường ..(20) Lĩnh Nam Trích Quái còn ghi truyền thuyết về đất Bạch Hạc với cây Chiên đàn và con chim Hạc trắng đến đó làm tổ. Dư Địa chí của Nguyễn Trãi cũng chép : “ Ở sông Hát có cá Anh Vũ bơi lội tới sông Giang Hán là sông Dương Tử và Hán Thủy vì cây Chiên Đàn ở sông Hát cao hàng nghìn trượng, rễ lâu năm kéo dài bám liền tới sông Giang Hán. Cá Anh Vũ bơi lội thông thương trong hốc cây, hốc đất. Cá Anh Vũ cũng có ở Hoa Lư là gốc rễ cây Chiên Đàn nói trong truyện Mộc tinh ở Lĩnh Nam Trích quái nay là ngã Ba Hạc đã thông tới Hoa Lư vì thế ở Hoàng Hạc Lâu có Anh Vũ Châu ..”. Theo Lê Quí Đôn trong Vân Đài Loại ngữ thì : “Trầm Hương, Tốc Hương, Bạch Đàn, Quế, Long Não, Giáng Châu Hương, Kỳ Nam, Uất Kim Cương, Tường Vi và các vị có hương đều sản sinh ở biên giới phía Nam. Nam phương Hỏa thịnh sinh Thổ, Thổ vị ngọt mà thơm. Cây cỏ ở phương Nam được vượng khí của Hỏa bồi dưỡng nên anh hoa phát tiết ra ngoài cho nên có hương thơm”. Thư tịch cổ cũng xác nhận người Việt cổ ở nước Sở chọn vật biểu là chim Hồng Hộc. Hồng Hộc là một loại chim nước gần với loài Cò, Sếu, Hạc. Chim Hồng chim Lạc là loài chim bay cao nên người xưa tự hào dòng giống LẠC HỒNG, hàm ý một tộc người có ý chí tiến thủ cao giống như chim Lạc, chim Hồng tung cánh bay cao vút từng mây hơn các loại chim khác. Theo Đào Tử Khai thì khi nghiên cứu hoa văn trên mặt trống đồng đã chứng tỏ:“Totem của các thị tộc Tổ tiên của người Đông Sơn là con chim Hồng mà mãi đến thời Đông Sơn, chim Hồng vẫn là vật tượng trưng cho ho”. Nhà nghiên cứu Đoàn Nam Sinh cho biết trên trống Cửu Cao tìm thấy ở Văn Giàng Hải Hưng mà giới nghiên cứu đã nhận ra 4 loại chim Hồng khác nhau gồm 2 loài cổ trụi mỏ nhọn như loài Hạc xám ở đồng bằng sông Hồng và 2 loài có phướn vì túm lông như cờ bay từ đỉnh đầu ra sau gáy. Trên mặt trống Miếu Môn I và Hà Nội I cũng khắc họa chim Hồng giống như Hồng Hạc ôn đới Flamingo. Số lượng chim Hồng cổ trụi chiếm một tỉ lệ khá cao trên các trống làng Hích, làng Vạc, Đắc Giao, Trường giang, làng Vạc IV, Đông Sơn IV, Giảo Tất, làng Gộp, Hà Nội III, Xuân Lập II, Phượng Tú, Vũ Bị, Bản Thôm, Pha Long .. còn lại hầu hết là chim Hồng mỏ dài có phướn. Theo tài liệu điều tra của nhà nghiên cứu người Pháp Blanford 1929 thì người ta đã xác lập được bản đồ phân bố và di cư của chim Hồng trải dài khắp phía Nam Trung quốc và Bắc Việt Nam . Nhà nghiên cứu Đoàn Nam Sinh cũng cho biết theo sách đỏ Việt Nam phần động vật xuất bản ở Hà Nội năm 2.000 thì Hồng Hạc hay Sếu đầu đỏ có tên khoa học là Grus Antigone Sharpii, Sarus crane hiện nay còn ở rừng Tràm Tam Nông. Những đàn chim Hồng Hạc này bay đi kiếm ăn khắp Mo Xo Hà Tiên, núi mây, Kiên Lương và nhiều nơi khác trên đồng bằng sông Cửu Long, đôi khi chúng nghỉ cánh ở Tân Hưng Long An hoặc sân chim Cần Giờ. Tài liệu khảo cổ học cung cấp rất nhiều hình chim và hình người hoá trang thành chim, hình thuyền, hình vũ nhân trang sức bằng lông chim trên các trống đồng và những đồ đồng Đông Sơn khác. Mọi tài liệu đều nói lên một cách thống nhất là bộ lạc đó khi xưa mang tên một loài chim (Mling, Bling, Kling, Blang, Klang) với một thị tộc (Bào tộc) gốc thờ chim làm vật tổ. Đó là các bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước. Tên Trưng Trắc thời cổ phải phát âm là Mling Mlack hay Bling Black… Với tên đất, tên bộ lạc và ở thời xa xưa tên vật tổ được lấy làm tên họ. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tín ngưỡng nguyên thủy với lối đặt tên đất, tên người thời cổ.(21) Nhân dân Nam Trung Hoa và cả Đài Loan vẫn bảo lưu truyền thuyết Phượng Hoàng Lửa trong đó Bái Điểu tộc tức Việt tộc thờ chim bị Thiên ma tộc tức Hán tộc đánh đuổi khỏi quê cha đất tổ nên vẫn âm thầm chờ ngày Phượng Hoàng Lửa xuất hiện để dẹp lũ yêu ma, khôi phục lại giang sơn xưa cũ.(22) B. VẬT TỔ RỒNG Bên cạnh vật biểu chim của chi Âu Việt, chi Lạc Việt của Việt tộc còn tôn thờ vật tổ Rồng, biểu trưng cho tổ phụ của dòng giống như lời trần tình của Bố Lạc. Nếu mẹ Tiên là biểu trưng của tình cảm và đời sống tinh thần mang tính tâm linh thì Bố Rồng biểu tượng cho ý chí và sức mạnh của vật chất để sinh thành một con người Việt Nam toàn diện với đầy đủ ý chí và tình cảm, sức mạnh vật chất và đời sống tinh thần mang tính tâm linh cao độ. Rồng là con vật đứng đầu trong tứ linh là Long, Ly, Qui, Phượng. Việt tộc là cư dân nông nghiệp sinh sống ở miền sông nước với nghề trồng lúa nước nên tiền nhân ta đã hình tượng hóa thần thánh hóa con Giao Long thành Rồng, biểu tượng môt sức mạnh tiềm tàng, lúc ở dưới nước lúc bay lên trời để phun nước xuống cho dân cày cấy. Rồng còn biểu trưng cho giống dòng Việt với tinh thần dân tộc cao độ, lòng yêu nước tiềm tàng, sự kiên gan trì chí chịu đựng mọi gian khổ, tính linh động sáng tạo hầu thích ứng với mọi hoàn cảnh, mọi thách thức để tồn tại mãi tới ngày nay. Chính vì vậy, Rồng được xem là Totem vật tổ biểu trưng cho sự che chở của Bố Lạc tràn đầy may mắn hạnh phúc cho con cháu giống dòng Việt. Thật vậy, các nhà dân tộc đã minh chứng rất nhiều tài liệu dân tộc học cũng như truyền thuyết dân gian về hình tượng vật tổ linh thiêng “Rồng” là loài vật quý đứng đầu tứ linh. Vật linh Rồng gắn liền với nước là một nhu cầu sống còn đối với cư dân nông nghiệp không chỉ ở Việt Nam mà còn lan toả khắp châu Á gió mùa. Theo DV Deopik (1993) thì “ Rồng là con vật đặc thù chung cho tất cả các dân tộc Việt và chính từ đây nó đã đi vào văn hoá Trung Hoa”. Nhà nghiên cứu J. A Chesnov cho rằng “Hình tượng Rồng phát sinh từ Đông Nam Á đã thâm nhập đến những vùng xa xôi nhất của châu Âu”.(23) Các công trình khảo cổ phát hiện trên lưỡi qua đồng ở núi Voi có khắc hình một con vật bò sát có chân, đuôi dài, đầu có sừng, mình có vẩy cứng. Hiện nay, dân gian vùng Vĩnh Phú vẫn còn tổ chức lễ hội thờ cúng Rồng và đồng bào ta vẫn giữ tục kiêng cữ đối với loài thuồng luồng và loài giải… Trong dân gian vẫn truyền lưu những câu truyện thần kỳ về sự thụ thai huyền bí giữa người và Rồng như truyện truyền kỳ dân gian về sự giúp đỡ của Rồng đối với người khi gặp hoạn nạn… Giao Long là loài bò sát lưỡng thê khổng lồ phần nhiều sống ở dưới nước. Dân gian gọi giao long là thuồng luồng hay rồng rắn là con vật khổng lồ mình rắn có vẩy ngược. Thân to như cột đình, đầu to và miệng có nanh sắc. Tầm nguyên ngữ nghĩa của địa danh Giao Chỉ sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa vật biểu “Rồng” của Việt tộc. Thật vậy, theo Tân Biên Hoa Việt từ điển của Lý Văn Hùng (1960) thì chữ Giao (long) là một hình dung từ cho ta ý niệm về một sự gặp gỡ, tiếp xúc. Quan sát một con thuồng luồng nằm ngủ trên cạn, bốn chi (chân) duỗi thẳng vuông góc với thân nó chẳng khác nào hai vạch nhỏ chạy ngang qua một vạch lớn nên người ta gọi nó là con Giao. Chữ “ Giao” ở đây là danh từ riêng nên viết ghép với chữ trùng để chỉ con Giao thuộc loại bò sát họ“Long” vì vậy mới có tên là Giao Long(24). Chữ “Long” dùng để chỉ những con vật khổng lồ, có sức mạnh khủng khiếp thời cổ đại như Khủng Long, Lôi Long, Dực Long, Cù Long và Giao Long mà tiếng Việt gọi là Rồng. Còn chữ “Chỉ” viết tượng ý bàn chân in trên mặt đất hàm nghĩa là tại, ở. Mặt khác, căn cứ vào tự dạng của chữ Chỉ ở đây còn cho ta một ý nghĩa nữa là vùng đất, nơi ở như ta vẫn dùng từ địa chỉ. Như vậy, chữ Giao đi liền với chữ Chỉ thành đọc là Giao Chỉ(25). Chữ “Giao” ở đây có chữ “Trùng” nên có nghĩa là con Giao Long và Giao Chỉ là vùng đất có nhiều Giao Long chứ không có nghĩa là hai ngón chân cái giao nhau như người ta vẫn thường giải thích từ trước tới giờ(26).. Kinh Xuân Thu cũng nói tới địa danh Giao Chỉ theo đó năm 2205-2197 TDL, vua Hạ vũ định ra phép 9 châu, chép rõ núi sông, đường xá xa gần, sản vật từng nơi. Lúc đó vùng đất nước ta có nhiều Giao Long sinh sống nên đặt là Giao Chỉ và chép là Khuyết địa có nghĩa là đất trống. Trên thực tế, có thể lúc đó dân cư còn thưa thớt nên được gọi là đất trống một cách vô tình hay cố ý của Xuân Thu? Thư tịch cổ Trung Hoa có đề cập tới Nam Giao như là vùng đất tiếp giáp với phương Nam của các triều đại Nghiêu Thuấn cổ xưa. Theo công bố mới đây của giáo sư Hà Nỗ trong sở Khảo cổ của Viện khoa học xã hội Trung Quốc (IACASS) thì di tích “Đàn tế tự” kiêm đài quan sát thiên văn tại làng Đào Tự, huyện Tương Phần tỉnh Sơn Tây TQ có thể chính là đàn Nam Giao thời Nghiêu Thuấn. Tuổi di tích theo niên đại thiên văn xấp xỉ bằng tuổi đo bằng đồng vị phóng xạ carbon là hơn 4 ngàn năm. Theo nhà nghiên cứu Trương Thái Du thì Giao Chỉ là khái niệm nói về vùng đất tiếp giáp phía Nam của vương quốc Trung Hoa cổ đại. Lãnh thổ Trung Quốc cách đây hơn 4 ngàn năm nằm phía trên dòng Hoàng Hà. Trong suốt tiến trình xâm lược, lãnh thổ ấy ngày một bành trướng theo gót chân đế quốc “ Đại Hán”. Như vậy, nếu Giao Chỉ là một khái niệm thì chắc chắn khái niệm ấy sẽ di chuyển liên tục về phương Nam . Điều này đã được thư tịch cổ các triều đại Trung Quốc xác nhận khi viết về Giao Chỉ một khác. Như vậy, Giao Chỉ là tên chung những vùng đất có Giao Long sinh sống. Thư tịch cổ Trung Quốc cho biết ở lưu vực sông Dương Tử, địa phận Giang Nam Trung Quốc cũng có đất Giao Chỉ. Sách cổ cho biết ngay từ thời Xuyên Húc thì Giao Chỉ đã văn minh “ Xuyên Húc chi thời, Giao Chỉ để le”. Trong Phương Đình Dư địa chí, Nguyễn Siêu dẫn Thượng thư đại truyện chép: “ Chữ chỉ để bên phụ nghĩa là đất ở ngoài dãy núi đến bể là hết, nghĩa là bể dựa vào đấy”. Như vậy Chỉ ở đây là phần đất từ rặng Ngũ Lĩnh ra tới biển Đông bao gồm cả miền Hoa Nam TQ. Theo Nguyễn Đoàn Tuân thì Giao Chỉ là Sơn chỉ thủy giao khi mạch núi ngưng tụ thì gặp nước bọc lấy như một luồng khí tụ lại rất mạnh. Địa danh vùng đất này gọi là GIAO CHỈ chạy dài từ đầu dãy Ngũ Lĩnh xuống Trường Sơn đến tận Nam Dương quần đảo. Trên bình diện tâm linh thì chúng ta phải hiểu Giao Chỉ là Chỉ trời Chỉ đất giao nhau ở phương Nam vì tiền nhân ta là dân cư nông nghiệp nên hàng năm lễ tế trời đất gọi là Tế Nam Giao. Theo sách “Thuyết văn” thì chữ Chỉ là nền dưới vì tượng cây cỏ mọc có nền, cho nên lấy làm chân. Theo kim Định thì chính vì ý nghĩa này đem đến cho chữ chỉ bộ “túc” và ý nghĩa lớn nhất của túc là miền chân núi. Đó là ý nghĩa được nhiều học giả qui cho Giao chỉ kể cả sử gia Tư Mã Thiên. Miền chân núi này ở rặng Ngũ Lĩnh còn gọi là Nam Sơn nối dài dãy núi Côn Luân và Hi Mã Lạp Sơn. Cõi Nam Giao xa xưa được Kinh Thư gọi là vùng đất đỏ Xích Qui phương bao gồm vùng Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng, sông Lạc và Tam giang Nam với sông Nguyên, sông Tương, sông Dương Tử gọi là Cửa Việt hay Giao Chỉ là thế. Sau này, trước sự xâm lăng của Hán tộc đẩy lùi Việt tộc xuống Phương Nam , người Việt cổ mang theo địa danh cũ là Giao Chỉ xuống miền Bắc Việt Nam . Về sau Hán triều đặt tên quận Giao Chỉ nhưng chỉ vỏn vẹn hữu ngạn sông Hồng gồm miền Hà Nội và các vùng phụ cận. Theo Đào Duy Anh thì khoảng 5000 năm trước, vào đầu thời đồ đá mới, người Giao Chỉ đã hình thành xã hội nguyên thủy ở lưu vực sông Dương tử, họ sinh sống bằng nghề chài lưới thường lặn xuống nước bắt cá nên hay bị Giao Long làm hại. Truyền thuyết kể rằng: “Bố Lạc từ thủy phủ trở về, bố diệt ngư tinh, mộc tinh và dạy dân xâm vẽ mình để khi xuống nước khỏi bị các loài thủy tộc làm hại”. Tục xâm mình có từ đó như một phong tục, bản sắc riêng biệt của Việt tộc nên từ thứ dân đến vua chúa đều xâm mình, mãi đến đời Trần Anh Tông không xâm mình nữa nên tục này mới mai một dần. Theo “Sơn Hải Kinh” thì quan niệm của người xưa muốn tham dự vào vật tổ thiêng liêng thường cầu nguyện gọi tên vật tổ, xâm vẽ hình vật tổ lên thân mình và lên tới cực độ thì ăn thịt vật tổ. Các nhà Trung Hoa học xác nhận tục xâm vẽ mình khởi đầu từ hồ Động Đình. Tập tục này phổ biến khắp Hoa Nam bao gồm Triết Giang, Đài Loan, Hải Nam, Nam Tứ Xuyên và cả Ai Lao, Nhật Bản nữa. Theo H. Wiens thì người Việt ở Triết Giang cùng một chi tộc với Thục Sơn ăn liền với Kinh Sở. Cho dù Rồng là một con vật có thật hay không nhưng nó đã trở thành vật tổ thiêng liêng biểu trưng nguồn cội dòng giống, thấm đậm tâm thức Việt như sự che chở ban phát may mắn, hạnh phúc tốt lành cho Việt tộc suốt dòng lịch sử. Người việt cổ xưa vẫn trân trọng nghi lễ truyền thống“ Múa Rồng” trong các lễ hội dân gian. Tục này vẫn còn bảo lưu ở Việt Nam và ở Nam Trung Hoa nữa. Trò chơi “Rồng rắn lên mây” vẫn còn thịnh hành trong giới thiếu nhi … và hẳn không phải là ngẫu nhiên trong khi người xưa đặt tên cho con sông MêKong là sông Cửu Long mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã viết thành thơ “ Chín con rồng bơi ngược Cửu Long Giang ..” để hướng về miền đất tổ xa xưa. Sông Cửu Long dài 4184km, bắt nguồn từ cao nguyên Côn Sơn xuống Tây Tạng được coi như nóc nhà của thế giới. Sông Cửu Long mà người Tây Tạng gọi là Dza-Chu, Trung quốc gọi là Lac Cang Jiang, Thái Lào gọi là Mae Nam Khong, Cambodia gọi là Mékong, rồi xuống Việt Nam chia làm hai nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang đổ ra biển Đông qua 9 cửa: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa BaTri, cửa Hàm Luông .. Chính vì vậy, người Việt đã gọi tên một cách thân thương gắn liền với cội nguồn dân tộc là sông Cửu Long. Cư dân gốc người Việt cổ ở Vân Nam vùng Jinghon gọi là Dòng Sông Mẹ. Theo cổ Thư và truyền thuyết dân gian tự xa xưa, cư dân bản địa đã gọi tên sông một cách tôn kính, đượm vẻ huyền thoại là: “Sông Cưỡi Rồng”. Tương truyền thuở xa xưa có một tiên nữ đi tắm sông đụng phải một vật lạ từ thượng nguồn trôi xuống rồi về nhà thụ thai sau đẻ ra 100 người con ..Truyền thuyết về tiên nữ thụ thai trên dòng sông Rồng theo lối “dã hợp” của người Việt cổ xưa để rồi sinh ra trăm con như một dị bản huyền thoại Rồng Tiên của Việt Nam. Từ đó dân gian gọi là “Dòng Sông Mẹ” hay còn gọi là “Sông Cưỡi Rồng”. Kết quả công cuộc khảo cứu dân tộc học về ngọn nguồn dân tộc được minh chứng bởi khoa Tiền sử học cho chúng ta biết về cuộc thiên cư vĩ đại của những người Tiền Việt (Protoviet) tổ tiên của đại chủng Bách Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trải dài hàng nghìn năm lịch sử, Cộng đồng Bách Việt mỗi khi nạn biển tiến thì phải ngược lên miền cao, khi biển lùi lại xuôi theo triền sông xuống miền Nam định cư lập nghiệp để thành lập các quốc gia vùng Đông Nam Á ngày nay. Các tư liệu Dân tộc học ở vùng Tây Bắc Việt Nam cũng cho thấy sự liên hệ mật thiết giữa vật biểu Rồng và cuộc sống hằng ngày của họ. Thật vậy, tín ngưỡng Rồng của đồng bo thiểu số Xá,Thái liên quan đến vấn đề nước là yếu tố hết sức cần thiết cho việc đồng áng của nông dân và nghề đánh bắt cá của ngư dân. Trong ngôn ngữ và ý niệm của chi tộc Mơn-Khmer có một giống vật gọi là PRUDỒNG là một con vật to lớn giống như rắn, có mào như mào gà, có vẩy và có bờm như ngựa được xem như thần làm cho mưa nắng thuận hoà, mùa màng gặt hái, thóc lúa đầy kho. Các chi tộc Thái xem Tu-Luông là vật linh che chở cho họ cho nn dù cư trú tại đâu cũng đều có một nơi mà họ gọi là “Văng Mường” được xem như thủy phủ để cho Prudồng và Tu-Luông ngự trị làm thần hộ mạng cho bản Mường. Từ Quỳnh Nhai đến Mường Lài trên sông Đà có khoảng 20 thác nước thì có đủ 20 Văng Mường. Nơi thờ cúng Tu-Luông mang vẻ huyền bí, linh thiêng mà dân làng thường xuyên đem lợn, gà đến cúng để tế vị thần bản mệnh này che chở cho họ vượt thác, qua ghềnh an toàn thuận lợi. Tiếng Việt hiện đại biến thể của âm Việt cổ từ Pru-Dồng trại âm dần thành Rồng cũng như Tu-Luông thành thuồng luồng (27) Hình tượng Rồng không chỉ được trân trọng ở Việt Nam mà người Lào, người Nhật cũng có truyền thuyết tôn thờ vật biểu Rồng. Thủy kinh chú của Lê Đạo Nguyên viết:“Lý Lào cũng có truyền thuyết thờ Rồng”. Sách cổ Nhật ghi rõ là người Nhật có tục thờ Rồng nên tự xa xưa, lâu lắm rồi hình tượng Rồng được xem như sứ giả của hạnh phúc. Đặc biệt hơn nữa, Rồng được tôn vinh như một “vị thần” giữ gìn dòng giống. Điều này, một lần nữa chứng tỏ Nhật cũng là một chi tộc Việt trong Bách Việt. Tại thủ đô Tokyo có một cây cầu cổ có tên Nihon Baxi, mỗi dịp tết đến, người Nhật từ khắp nước đổ xô đến để thắt nơ đỏ lên cổ Rồng bằng đồng ở thành cầu với hy vọng Rồng ban phát may mắn suốt cả năm(28). Hình tượng Totem thuở ban sơ thường là đơn thể nghĩa là chỉ có một vật tổ biểu trưng nhưng về sau xuất hiện hình tượng phức thể nửa người nửa thú như Nữ Oa đầu người mình rắn, Viêm Đế Thần Nông đầu người thân trâu, rồi Cửu Thiên Huyền Nữ đầu người thân chim. Điều này phù hợp với sự phát triển theo quy luật tiến hoá nên Totem phức thể mang nét đặt trưng tổng hợp nhiều loại động vật, phản ánh thời kỳ hợp nhất của nhiều chi tộc nhưng mang ý nghĩa biểu trưng nhiều hơn. Hình tượng Totem còn hàm ẩn bản sắc riêng biệt của một tông tộc, một dòng họ như Viêm Đế Thần Nông đầu người thân trâu để biểu trưng cho hậu duệ của Thần Nông, với nền văn minh nông nghiệp mà huyền sử nói về hình tượng nguyên thủy thuở ban sơ. Từ những Totem đơn thể như Rồng, Chim, tới đầu người mình rắn như hình tượng bà Nữ Oa của chi tộc thờ Rồng (Lạc-Việt ), đầu người thân chim như Cửu Thiên Huyền Nữ của chi tộc thờ chim ( Au-Việt ) và cuối cùng là sự kết hợp của Lạc Việt thờ Rồng với Âu Việt thờ Chim của hình tượng Bố Lạc (Rồng) Mẹ Âu (Tiên) được thần thoại hoá thành huyền thoại Rồng Tiên. Trong khi các dân tộc khác chỉ chọn một vật tổ biểu trưng thì Việt tộc lại chọn 2 vật tổ biểu trưng là Rồng và Tiên. Tự thân Rồng Tiên đã hàm ẩn sự thống nhất hài hòa giữa Am và Dương, tương sinh tương khắc nhưng không dẫn đến mâu thuẫn loại bỏ nhau mà cùng nhau tương hòa để cùng tồn tại. Lơì trần tình của Bố Lạc với mẹ Au bên cánh đồng Tương đ nĩi ln điều ny: “ Ta là giống Rồng đứng đầu Thủy Phủ, Nàng là giống Tiên người ở trên đất vốn không đoàn tụ được với nhau. Tuy khí âm dương hợp lại mà sinh con nhưng giống dòng tương khắc như nước với lửa , khó bề ở với nhau dài lâu được. Nay phải chia ly ..”. Tự thân huyền thoại Rồng Tiên đã hàm tàng uyên nguyên của triết lý âm dương, nguyên lý sinh tồn tiến hóa của vũ trụ vạn vật muôn loài.Tất cả đã đi vào tâm thức Việt về cội nguồn con Rồng cháu Tiên với nền văn minh đạo đức Việt cổ, biểu trưng của triết lý Đông Phương tỏa rạng suốt dòng vận động của lịch sử. Nguồn:: http://nguyenquangnhat.page.tl/VI%CA%26%23...%23777%3B-3.htm
  12. Tình hình Quảng Châu sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao Morita Kentaro, Trường Đại học Waseda, Nhật Bản * Tiểu luận này khảo sát về một giai đoạn lịch sử chi phối vùng Lãnh Nam của nhà Tống sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao. Vùng Lãnh Nam từ Nam Việt đến thời Đường là phạm vi bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam hiện nay. Nhưng sau thế kỷ X, chính quyền độc lập xuất hiện liên tiếp và xây dụng nhà nước riêng ở miền Bắc Việt như nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê và nhà Lý. Do vậy, nhà Tống bình định nước Nam Hán mà không chiếm được miền Bắc Việt Nam. Sau đó nhà Tống trải qua cuộc xâm lược thất bại năm 980, mới thừa nhận chính quyền Đại Cồ Việt. Đến thời nhà Lý, thế lực ấy dần dần bành trướng đến lưu vực Tả Giang, Hữu Giang, và có ảnh hưởng đến các thế lực sống ở lưu vực đó. Đến thời Tống Nhân Tông, Nùng Trí Cao là một thủ lĩnh thế lực ở châu Quảng Nguyên, tiếp sức với cả nhà Lý lẫn nhà Tống để giữ thế lực riêng. Nhưng đến năm 1052, vì không những phải đối diện với nhà Lý mà còn bị nhà Tống cự tuyệt nộp cống của mình, Nùng Trí Cao khởi binh, trước hết đi chiếm Ung Châu, rồi xưng là Nhân Huệ hoàng đế, lập nước Đại Nam và đổi niên hiệu là Khải Lịch, giao cho Hoàng Vị, Hoàng Sư Mật… một chức quan theo chế độ phong kiến Trung Quốc. Cuối cùng, mặc dù không chiếm được thành Quảng Châu và thua quân Tống do Địch Thanh thống lĩnh nhưng cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao không chỉ lan rộng khắp vùng Lãnh Nam mà còn bộc lộ sự yếu kém của chế độ chi phối Lãnh Nam của nhà Tống. Quảng Châu vừa là trung tâm chi phối Lãnh Nam, vừa là hải cảng quan trọng nhất trong nhà Tống về ngoại thương Nam Hải, và tất cả sản vật vùng Lãnh Nam tập trung ở đó. Nhưng Quảng Châu đã bị quân Nùng Trí Cao phá hủy một cách nghiêm trọng mặc dù không bị đánh chiếm. Thành Quảng Châu có rất nhiều truyền thuyết liên quan với Nùng Trí Cao. Trong báo cáo này, bằng những truyền thuyết đó, tôi sẽ khảo sát về những đặc điểm trong quá trình khôi phục thành Quảng Châu và quan hệ giữa sự khôi phục Quảng Châu và bang giao Việt – Tống. 1. Sự vây thành Quảng Châu và tín ngưỡng Nam Hải thần Ngày Quí Sửu tháng 5 năm 1052, Nùng Trí Cao đem quân từ Ung Châu tiến sang phía đông và chiếm được các thành châu bên sông Úc là châu Hoành, Quý, Củng, Tầm, Đằng, Ngô, Phong, Khang, Đoạn và đến dưới thành Quảng Châu trong vòng 2 tuần. Sở dĩ vậy là vì các châu ở Quảng Nam lộ như trên đều không có binh lực đầy đủ để chống lại. Cho nên hầu hết tri châu đều bỏ thành trốn, trừ 2 người tri châu của Phong và Khang. Từ ngày Bính Dần, Nùng Trí Cao đã bắt đầu vây đánh thành Quảng Châu. Nhưng 57 ngày mà không hạ được thành nên Nùng Trí Cao phải rút về Quảng Tây. Theo các tài liệu Trung Quốc, lý do mà Quảng Châu không bị quân Nùng hạ thành là nhờ Ngụy Quán, làm tri châu năm 1045, bổ sung thành trì theo sáng kiến của Nhậm Trung Sư là tri châu Quảng Châu trước. Tục tư trị thông giám trường biên (sau này viết tắt là TB) chép rằng “Đầu tiên Ngụy Quán xây thành Quảng Châu, đào giếng để tích trữ nước, làm nỏ to cho [việc] hộ thành. Mặc dù quân Nùng Trí Cao đánh thành một cách nghiêm trọng, thậm chí chắn nước vào thành, nhưng thành vẫn kiên cố, nước giếng không hết, nỏ bắn thì trúng, trúng thì xuyên qua, do vậy thế lực địch dần dần yếu đi [1] ”. Nhưng khi đó thành Quảng Châu vẫn hẹp, hơn nữa không có la thành. Vì thế khi mà quân Nùng Trí Cao đi dưới thành, vô số cư dân ở bên ngoài thành đều muốn vào thành bằng cách hối lộ, rất nhiều người không thể vào được đã gia nhập đội ngũ quân Trí Cao[2]. Sau khi Nùng Trí Cao rút về, Ngụy Quán làm tri Quảng Châu lại và Nguyên Giáng là Quảng Đông chuyển vận sứ cùng tu bổ thành trị để nhằm sự chống lại quân Nùng Trí Cao sang lại. Theo Tống hội yếu tập cảo (sau này viết tắt là THY) chép, Ngụy Quán và Nguyên Giáng đã tuyển mộ các phú hộ và đinh nam cả Hán lẫn Ngoại Man để làm công trình xây thành [3]. Sau đó nhà Tống không chỉ tu bổ thành mà còn tích cực phổ biến tín ngưỡng một vị thần ở Quảng Châu, đó là “Nam Hải quảng lợi vương”, tên tắt là “Nam Hải thần”. Năm 1053, nhà Tống phong cho vị thần ấy thêm hiệu là “Thiều Thuận” vì có linh nghiệm cho việc chống lại Nùng Trí Cao [4]. Theo văn khắc Hoàng Hưu 5 niên điệp (đó là bia kỷ niệm cho phong hiệu thêm đó) chép rằng, Nguyên Giáng nghe những người Quảng Châu nói là nhờ Nùng Trí Cao đến Quảng Châu muộn vì đột ngột bị bão trên đường từ Đoạn Châu, Quảng Châu đã có thời gian chuẩn bị bảo vệ thành. Sau bị Nùng Trí Cao vây thành, Nùng Trí Cao vẫn không thể tuỳ tiện đánh được vì bão, nhưng trong thành người ta có thể giải thoát cơn khát được. Hơn nữa khi nào Quảng Châu bị gặp nguy cơ, thiên biến cũng nổ ra và khiến cho Nùng Trí Cao hoảng sợ và rút về. Nguyên Giáng tin tưởng rằng tất cả linh nghiệm của Nam Hải thần nói trên là không những nhờ tất cả quan viên và nhân dân Quảng Châu cầu kinh mà còn nhờ Tống Nhân Tông rất lo nghĩ tình trạng phương nam, và nài xin triều đình phong cho Nam Hải thần và vợ của Nam Hải thần thêm hiệu [5]. Các quan viên và nhân dân Quảng Châu cầu nguyện cho Nam Hải• thần• là vì Nam Hải thần vừa là vị thần bảo vệ hàng hải gần gũi nhất đối với người Quảng Châu, vừa• là vị thần chủ quản an ninh phương nam đối với các vương• triều phong kiến Trung Quốc. Đời nhà Tống, bất cứ• tàu biển nào đi• lại Quảng Châu, mặc dù đó• là• tàu nước ngoài cũng phải đến miếu và thờ Nam Hải thần, thậm chí các quan viên cũng vậy. Đến thời kỳ Gia Hựu (1056 – 1063), tín ngưỡng Nam Hải thần vẫn thịnh đạt. Năm 1063, miếu Nam Hải thần do Dư Tĩnh là tri Quảng Châu xây dựng lại. Dư Tĩnh là người Thiều Châu có công lao về cuộc chiến với Nùng Trí Cao. Văn khắc Trùng tu Nam Hải miếu bi chép rằng, khi mà quân Quảng Nguyên xâm lược, nhiều người dân bị chết và người còn lại cũng lưu lạc nên chiến tranh đã kết thúc, sau đó về quê rồi mà người dân không được thu hoạch nhiều như trước. Nhưng đến mùa thu năm 1062 thì thời tiết ổn định, thu hoạch được mùa, những người dân không có dịch bệnh, trên biển không có bão, và trong 9 huyện và 15 châu chỗ nào cũng không bị trộm cướp xâm lược. Cho nên người dân nói với nhau là tất cả điều tốt dạo này đều nhờ chính trị của phủ soái (Dư Tĩnh) và linh nghiệm của Nam Hải thần. Họ đi đến phủ Quảng Châu và kính cẩn yêu cầu về việc miếu thờ Nam Hải thần hiện nay bị cũ rồi nên họ rất mong muốn tự đầu tư và xây dựng lại miếu đó để đáp lễ cho tất cả lịnh nghiệm của vị thần đó. Dư Tĩnh cũng rất đồng lòng [6]. Như vậy, có thể nói là qua mười năm sau sự kiện Nùng Trí Cao, triều đình Tống và người Quảng Châu vẫn tôn sùng Nam Hải thần để cho khu vực Quảng Đông khôi phục lại và bình yên. Đối với nhà Tống và các quan viên và người dân ở khu vực Quảng Đông, Nam Hải thần không chỉ là vị thần bảo vệ hàng hải mà còn đã hoàn toàn trở thành là vị thần chính chủ quản an ninh phương nam Trung Quốc. Tóm lại, do cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, nhà Tống tán dương sự linh nghiệm của Nam Hải thần và xây lại miếu thần để lấy lòng người Quảng Châu. 2. Sự phát triển thành Quảng Châu trong thời kỳ Hy Ninh Trong Thời kỳ Hy Ninh (1068 – 1077), nhà Tống tiến hành xây dựng lại ở Quảng Châu. Đó là việc xây dựng thành trị, châu học và quan Thiên Khánh. 2.1. Xây rộng châu thành Sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, nhà Tống khiến cho tri Quảng Châu xây dựng la thành. Nhưng trong nhiều năm các tri châu không xây được la thành vì trong đất của Quảng Châu có nhiều vỏ hến, không thích hợp với việc xây dựng. Nhưng ngày 23 tháng 4 năm 1068, Lữ Cư Giản, là tri Quảng Châu trước, đề nghị xây dựng thành mới ở địa thành xưa, liên kết với bên đông “Thành Tử”. Địa thành xưa là một bộ phận của thành Việt do Triệu Đà nước Nam Việt xây dựng. Vì thế, đến cuối năm ấy thành mới được xây dựng, đó là “Đông Thành” [7] . Sau đó, tháng 10 năm 1072, Trình Sư Mạnh là tri Quảng Châu xây dựng thành mới thứ hai, đó là “Tây Thành”. Sự nghiệp đó không chỉ do tri Quảng Châu và Giám ty Quảng Đông cùng làm mà còn do triều đình cũng sai người xây thành giỏi để giúp cho [8]. Như vậy, có thể nhận xét được là sự nghiệp xây rộng thành Quảng Châu là sự việc quan trọng nhất đối với nhà Tống. Thành Quảng Châu được mở rộng qui mô từ cuộc chiến với Nùng Trí Cao, và trở thành một ngôi thành lớn bao gồm 3 ngôi thành nhỏ (Thành Tử, Đông Thành và Tây Thành). Hơn nữa theo THY chép, Tân Áp Đà La là sứ nộp cống của nước Vật Tuần Đại Thực, muốn hiến tiền bạc để giúp cho sự nghiệp xây lại thành Quảng Châu và xin cho phép làm quan “Phiên Trường”. Và triều đình trả lời là không cự tuyệt, việc Tân Áp Đà La hiến tiền và làm Phiên Trường thì tùy Quảng Châu xét đoán [9]. Như thế, sự nghiệp xây thành không chỉ nhà Tống tích cực tổ chức mà còn nhiều người Phiên ở Quảng Châu cũng rất quan tâm và muốn cùng tham gia cho sự việc đó. 2.2. Thiết lập châu học Châu học là một trường học quốc lập ở các châu của nhà Tống. Năm 1044, Tống Nhân Tông ra chiếu chỉ cho các châu trong khắp nước để xây trường. Châu học Quảng Châu được coi là một trung tâm quan trọng giáo hóa các sĩ phu Quảng Châu để nhằm mục đích tăng thêm tiến sĩ và khiến cho văn hóa Nho giáo phổ biến rộng rãi. Vì thế châu học Quảng Châu có quan hệ mật thiết với sự chi phối vùng Lĩnh Nam của nhà Tống. Châu học Quảng Châu đầu tiên được thiết lập ở miếu Phu tử, miếu này ở chợ Phiên, phía tây của Thành Tử. Nhưng miếu đó không rộng lắm nên không thể thu dụng được nhiều môn sinh. Năm 1050, Điền Du là tri Quảng Châu chuyển trường sang phía đông nam của Thành Tử. Đến đầu năm Hy Ninh (1068) vì sự nghiệp xây lại Đông Thành, châu học mới có kế hoạch xây dựng ở phía tây của Thành Tử, bên đông của chùa Quốc Khánh. Nhưng vì Trương Điền là tri châu đột nhiên qua đời nên sự nghiệp xây trường bị trì hoãn. Sau đó Lưu Phú là người Quảng Châu, tự đầu tư kế thừa việc xây dựng nhưng Quảng Đông chuyển vận sứ là Trần An Đạo không cho phép và cấp tiền tiếp tục xây trường, đến năm 1071 thì làm xong. Trình Sư Mạnh là quan tri châu đã tích cực miệt mài quảng bá châu học và giáo hóa sĩ phu [10]. Về một người Quảng Châu Lưu Phú nêu trên, Học điền ký chép rằng, trong khi Trình Sư Mạnh làm tri châu, Lưu Phú đang làm quan chức Thí tương tác giám chủ bộ. Một hôm, Lưu Phú chạy đến phủ và nói với tri châu là “Tôi có đất ở bên cạnh thành rất tốt, tôi đã xây lại nhà cửa và kho hàng ở đấy, tiền đã mất tất cả là 1 triệu 5 trăm nghìn, xin phép cho tôi hiến tất cả cho kinh doanh châu học”. Trình Sư Mạnh đã đồng ý [11]. Ngoài ra, những địa phương chí cũng lập truyện cho Lưu Phú. Theo các tài liệu, Lưu Phú từng là tiến sĩ của kỳ thi hương được tổ chức thời Chí Hòa (1054 – 1056) [12]. Còn theo TB chép, năm 1076 nhà Tống ra chiếu sai sứ đến Chiêm Thành và Chân Lập nhằm mục đích khiến cho hai nước tấn công nhà Lý cùng với nhà Tống. Triều Tống cho Hứa Ngạn Tiên và Lưu Sơ tuyển bổ vài người làm ngoại thương để tổ chức đoàn ngoại giao thì Lưu Phú đã làm sứ đến Chân Lạp [13]. Vì vậy, lý lịch của Lưu Phú rất phong phú và đáng chú ý. Ngoài ra, thời kỳ Trình Sư Mạnh làm tri châu, Tân Áp Đà La cũng yêu cầu xây dựng nhà trường cho người Phiên [14]. Đời nhà Tống đã có kinh nghiệm xây dựng trường học như vậy ở biên giới với nước Tây Hạ. Trong trường học đó có một giáo sư biết rõ ngôn ngữ và chữ viết của khu vực đó giảng dạy kinh thư và kinh phật [15]. Phiên học của Tân Áp Đà La là Phiên học đầu tiên ở Quảng Châu. 2.3. Xây lại quán Thiên Khánh Quán Thiên Khánh là một ngôi quán quốc lập, bắt đầu xây dựng năm 1009, Tống Chân Tông ra chiếu xây dựng quán đó trong khắp nước. Quán Thiên Khánh ở Quảng Châu đầu tiên đã từng ở phía tây nam bên ngoài Thành Tử nhưng bị quân Nùng Trí Cao phá hủy [16]. Văn bia Quảng Đông trùng tu Thiên Khánh quán ký chép rằng “Hoàng Hựu năm thứ 4 (1052), quân Nùng Quảng Nguyên [nhân quân Tống] không có phòng bị, đi theo sông đến Phiên Ngung – Quảng Châu – một cách thầm vụng, ở ngoài Thành Tử, ngôi điện quán bị tai nạn và đã hoàn toàn cháy thành tro tàn. Hoang phế như vậy thì ai có thể xây lại, nếu một người không phải là người giàu và thích theo đạo, chăm chỉ cầu phúc thì ai dám quan tâm đến đó?” [17] Mặc dù vậy, theo văn bia Quảng Đông trùng tu Thiên Khánh quán ký tiếp chép, trong thời kỳ Trị Bình (1064 – 1067), sứ giả của Địa Hoa Ca La, là “Địa chủ đô thủ lĩnh” của nước Tam Phật Tề Chu Liễn Quốc, đi thấy địa điểm quán đó và báo cho Địa Hoa Ca La biết. Địa Hoa Ca La bất ngờ muốn tôn sùng Đạo giáo, đến năm 1067, Địa Hoa Ca La sai sứ đến Quảng Châu và được cho phép, sau đó bắt đầu xây đựng lại quán đó. Còn Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư có một truyện lạ về quá trình mà Địa Hoa Ca La muốn tôn sùng Đạo giáo. Theo truyện đó, khi mà tàu biển sứ giả bị đắm vì bão thì một ông lão xuất hiện giữa mây và bình định sóng gió. Khi đến Quảng Châu, sứ giả đi qua di chỉ quán Thiên Khánh thì bất ngờ phát hiện một bức tượng của Lão Tử, giống như đúc với ông ấy. Sau đó đến năm 1079, sự việc xây dựng xong rồi thì văn bia như trên được làm [18]. Dù truyện đó là sự thật hay không, sự việc xây dựng quán Thiên Khánh chắc chắn là có ảnh hưởng tốt cho nhà Tống đối với Địa Hoa Ca La. Sở dĩ vậy là vì quán Thiên Khánh vốn là cơ quan tín ngưỡng quan trọng nhất trong thành Quảng Châu đối với nhà Tống. Trải qua sự việc xây lại quán Thiên Khánh, Địa Hoa Ca La chắc chắn tạo mối quan hệ mật thiết được với nhà Tống và được lợi ích nhiều, còn theo nhà Tống, những “Man di” hoài mộ văn hóa Trung Hoa là điều tốt và rất tiện lợi cho sự tuyên bố trên khắp thế giới. Như đã nói ở trên, thời kỳ Hy Ninh nhà Tống đã cố gắng làm các sự nghiệp lớn như trên và kết quả có thể nói là Quảng Châu không chỉ chống đỡ những vết thương do Nùng Trí Cao tấn công, mà còn phát triển mở rộng hơn so với ngày xưa. Nhưng sự kiện nào đều được những người sống ở Quảng Châu quan tâm đến nhiều và tích cực tham gia, còn các quan viên Quảng Châu cũng hay lắng nghe góp ý của họ chứ không có quan tâm đến nguyện vọng của họ đâu. Trước khi làm ba việc đó, nhà Tống đã làm một sự việc khác, đó là sự chấn hưng tín ngưỡng Nam Hải thần đã nói trên. Sự việc đó cũng là một việc rất quan trọng khi triều đình làm theo ý kiến của người Quảng Châu sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao. Còn các sự nghiệp nói trên sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao đều có quan hệ mật thiết với người Quảng Châu về ngoại thương Nam Hải. Lý do thứ nhất là Nam Hải thần vốn là vị thần bảo vệ hàng hải an ninh cho người Quảng Châu. Người dân đều nhớ đến sự linh nghiệm của Nam Hải thần và rất muốn triều định xưng tụng Nam Hải thần, chấn hưng tín ngưỡng mạnh mẽ hơn trước. Lý do thứ hai là ba nhân vật nêu trên là Lưu Phú, Tân Áp Đà La và Địa Hoa Ca La. Họ đều làm ngoại thương Nam Hải. Sở dĩ Lưu Phú được tuyển mộ sứ giả đến Chiêm Thành và Chân Lạp là vì Lưu Phú không chỉ được quan chức trong thời Hy Ninh, mà còn có lẽ vốn là nhà buôn đã có kinh nghiệm đi biển Nam Hải. Còn Tân Áp Đà La là người sứ nước Vật Tuần Đại Thực và có lẽ vừa làm quan chức Phiên Trường. Và Địa Hoa Ca La là thủ lĩnh nước Tam Phật Tề Chú Liễn Quốc. Cho nên có thể nói là sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, nhờ những người làm ngoại thương Nam Hải cống hiến lớn cho sự thống trị Quảng Châu, triều đình Tống và Quảng Châu mới tổ chức thuận lơi các sự nghiệp quan trọng và làm cho tình hình ngoại thương Nam Hải ở Quảng Châu sôi nổi hơn trước. Tóm lại, điều đặc điểm quan trọng nhất trong cuộc khôi phục Quảng Châu là nhà Tống gắn liền sự nghiệp khôi phục Quảng Châu với ngoại thương Nam Hải ở Quảng Châu vì ngoại thương Nam Hải có thể nói là sự nghiệp rất quan trọng ở Quảng Châu đối với nhà Tống. 3. Quan hệ giữa chính sách sai sứ sang Chiêm Thành và khôi phục của Quảng Châu Sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, nhà Tống do sự nghiệp khôi phục Quảng Châu làm cho quan hệ với ngoại thương Nam Hải gắn bó mật thiết. Bởi vậy, ngoại thương Nam Hải cũng phồn vinh trở lại như trước khi Nùng Trí Cao vây đánh thành Quảng Châu. Vậy thì cuộc khôi phục Quảng châu có vai trò gì cho quan hệ Việt – Tống? Do bị Nùng Trí Cao xâm lược, nhà Tống mới tích cực chi phối lưu vực Tả Giang và Hữu Giang một cách mạnh mẽ, ví dụ làm việc huấn luyện các khê động biên giới và dụ hàng họ và dòng dõi Nùng Trí Cao nội phụ, tên là Nùng Tông Đán, Nùng Thiện Mỹ và Nùng Trí Hội. Trong hoạt động đó, năm 1060, lúc nhà Lý khiến cho Thân Thiệu Thái thống lĩnh quân đội của mình, tấn công vào Ung Châu đánh quân Tống, nhà Tống ra chiếu phong Tiêu Cố là tri Quế Châu tổng binh, chống lại quân Giao Chỉ với Tống Hàm làm chuyển vận sứ và Lý Sư Trung làm Đề điểm hình ngục, bổ nhiệm Dư Tĩnh Quảng Nam Tây lộ thể lượng an phủ sứ xuất binh đánh quân Giao Chỉ. Dư Tĩnh đi đến Ung Châu rồi đề nghị tổ chức cuộc đàm phán cho Giao Chỉ, sau đó Dư Tĩnh hỏi Phí Gia Hựu bộ trưởng nhà Lý về lý do xâm lược của Thân Thiệu Thái và yêu cầu trả lại những người bị bắt trong hội đàm đó. Phí Gia Hựu biện giải nên Dư Tĩnh đã hối lộ Hựu nhiều. Nhưng khi Phí Gia Hựu báo cáo về triều đình nhưng nhà Lý không đồng ý. Nhưng năm 1062, Lý Nhật Tôn báo cho nhà Tống rằng, theo Chiêm Thành báo, Dư Tĩnh sai sứ đến Chiêm Thành để kêu gọi tấn công đến Giao Chỉ với quân Quảng Năm Tây lộ [19]. Hơn nữa, trong thời Hy Ninh, tình hình quan hệ Việt – Tống ngày càng căng thẳng vì Vương An Thạch được cầm quyền, nhà Tống và muốn xâm lược nhà Lý. Vương An Thạch làm cho Lưu Di và Thẩm Khỉ biên chế quân khê động. Nhà Lý quan sát rồi do Lý Thường Kiệt thống lĩnh quân đội và nhân khi nhà Tống không đề phòng, bất ngờ đánh Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu cuối năm 1075. Vì thế, nhà Tống sai Quách Quỳ đi xâm lược Giao Chỉ. Cuộc chiến tranh Tống – Việt rơi vào thế giằng co, đến đầu năm 1077 hai bên ký hoà ước. Trong cuộc chiến tranh đó, nhà Tống dùng thủy quân để tấn công vào Giao Chỉ, và sai sứ lại đến Chiêm Thành, Châu Lạp để yêu cầu cùng đánh Giao Chỉ. Như vậy, nhà Tống thích dùng sách lược sai sứ đến Chiêm Thành để đối sử với Giao Chỉ sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao. Vậy nhà Tống đã được tin tức về quan hệ giữa Giao Chỉ và Chiêm Thành như thế nào? Đến thế kỷ 10 sau, tình hình giao thông biển Nam Hải thay đổi nhiều, nhất là giữa Quảng Đông và Chiêm Thành có đường trực tiếp, không cần đi qua vùng duyên hải Giao Chỉ nữa [20]. Vì thế, nhà Tống và Chiêm Thành hai nước cũng có thể tránh qua Giao Chỉ và liên lạc trực tiếp với nhau được. Từ đầu đời Tống, Chiêm Thành cũng có quan hệ triều cống với nhà Tống như Giao Chỉ. Và hầu hết hàng năm Chiêm Thành sai sứ đến cống ở Quảng Châu. Cho nên nhà Tống do triều cống của hai nước có thể biết tình trạng của quan hệ giữa Giao Chỉ vả Chiêm Thành được. Đôi khi Giao Chỉ báo tin tức về chiến thắng đánh Chiêm Thành. Năm 981, Lê Hoàn xin cho phép hiến 93 người tù Chiêm Thành cho nhà Tống, nhà Tống an ủi họ ở Quảng Châu sau đó trả lại cho Chiêm Thành. Và bởi vì bị Giao Chỉ áp bức, nạn dân Chiêm Thành sang Quảng Nam lộ nhiều lần rồi [21]. Ngoài ra, năm 1045, nhà Tống biết Lý Đức Chính tuyển binh rồi cho Quảng Nam Đông lộ chuyển vận sứ tuyển người lẻn vào Giao Chỉ để thăm dò thực trạng, và năm sau thì nhà Tống kiểm tra tất cả 16 con đường thủy, đường bộ quan trọng đến Giao Chỉ và cho Đỗ Kỷ – Quảng Tây chuyển vận sứ phòng giữ các đường đó [22]. Vì vậy, nhà Tống đã được tin tức về Giao Chỉ và Chiêm Thành từ lập nước thông qua hoạt động của Giao Chỉ. Nhưng nhà Tống tiêu cực chi phối vùng biên giới Lãnh Nam và không muốn xảy ra vấn đề đến quan hệ với Giao Chỉ mặc dù Giao Chỉ bành trướng đến biên giới. Cho nên khi đó thì nhà Tống đương nhiên không có ý làm Chiêm Thành kiềm chế Giao Chỉ. Nhưng sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, nhà Tống mới tích cực đối xử với Giao Chỉ và theo các ý kiến của người công lao đánh Nùng Trí Cao như Dư Tĩnh. Năm 1061, Dư Tĩnh được quan chức ở Quảng Châu sau hội đàm với Giao Chỉ. Dư Tĩnh không chỉ làm tri châu mà còn làm quan chức Kinh lược an phủ sứ, bản lộ khuyến nông sứ, đề cử thị bách sứ, đề điểm bạc đồng trường công sự và Quảng Nam Đông lộ đô kiềm hạt [23]. Như vậy, nhà Tống ủy nhiệm Dư Tĩnh hầu hết tất cả quyền lực thống trị Quảng Đông về chính trị, quân sự, kinh tế, và ngoại thương. Mặc dù chỉ có một số tài liệu viết về sự nghiệp của Dư Tĩnh ở Quảng Châu, nhưng do đó, ví dụ là tiếp xúc với Chiêm Thành và trùng tu Nam Hải thần miếu, có thể thấy được là Dư Tĩnh chắc chắn có quan tâm nhiều đến giao thông Nam Hải. Theo người Tống, tàu biển nước ngoài đến Quảng Châu thực sự không nhiều lắm [24]. Nhà Tống cho tri Quảng Châu và Quảng Đông chuyển vận sứ cố gắng khuyến khích tàu nước ngoài sang lại. Hơn nữa chế độ Quảng Châu thị bách ty cũng ngày càng mục nát. Vì vậy, trong khi làm ở Quảng Châu, Dư Tĩnh tích cực cải cách chế độ giao dịch, bãi bỏ quan thuế và cấm các quan viên tự mua hàng hóa ngoại lai thoải mái để khuyến tàu ngoại thương sang Quảng Châu [25]. Vậy thì ngoại thương Nam Hải có liên quan với bang giao với Giao Chỉ như thế nào? Trước nhà Tống, quan hệ đối ngoại của các triều đại Trung Quốc đều được cấu trúc bằng 2 quan niệm, đó là giao dịch triều cống và chế độ sách phong. Đến đời Tống, những quan niệm đó vẫn tồn tại nhưng tình trạng quốc tế xung quanh nhà Tống đặc biệt khó khăn, nên nhà Tống không thể thực hiện hoàn thành được chức năng của 2 quan niệm đó. Thế kỷ 10~13, chế độ ngoại thương quốc tế chủ yếu được cấu trúc bằng hoạt động hăng hái của “Hải thương”. Cho nên nhà Tống thường tạo quan hệ với nước ngoài nhờ ngoại thương dân gian. Theo nghiên cứu của học giả Nhật, khi nào nhà Tống muốn đi biển để tiếp xúc với các nước trên thì thường tặng quan chức cho người buôn nào giao dịch thường xuyên với nước ấy và uỷ nhiệm người đó làm mối, hay là khiến cho cơ quan nào đó tuyển mộ người buôn rồi tặng quan chức cho người đó và làm người hướng dẫn như Lưu Phú [26]. Vì thế, tình hình phát triển ngoại thương Nam Hải chắc có ảnh hưởng sâu sắc đến bang giao nước ngoài của nhà Tống. Vì vậy, nếu nhà Tống muốn làm quan hệ mật thiết với Chiêm Thành để đánh Giao Chỉ thì không thể không nhờ hoạt động của người buôn Nam Hải được. Vì vậy, các tri Quảng châu như Dư Tĩnh và Trình Sư Mạnh đều tích cực làm khôi phục Quảng Châu và thu hút các người buôn Nam Hải. Khảo sát như thế, sự nghiệp khôi phục Quảng Châu sau cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao thì không chỉ phát triển thành Quảng Châu mà còn khôi phục tình trạng ngoại thương Nam Hải, do đó nhà Tống mới có chính sách tích cực với Giao Chỉ. Kết luận Tóm lại, cuộc vây thành Quảng Châu bắt buộc nhà Tống cải tiến chế độ chi phối vùng Lãnh Nam. Quảng Châu là đô thị hải cảng quan trọng nhất đối với nhà Tống nên nhà Tống phải tích cực khôi phục Quảng Châu cũng như chi phối biên giới Quảng Tây mạnh mẽ. Trong quá trình khôi phục, những người tri châu tổ chức việc xây dựng thì chăm chỉ tham khảo các ý kiến của người sống ở Quảng Châu, nhất là người buôn Nam Hải, thậm chí nhờ họ làm mối với các nước Nam Hải. Như thế, Quảng Châu dần dần trở lại hoạt động ngoại thương thịnh đạt, đóng một vai trò rất quan trọng với bang giao Việt – Tống. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đái Duệ Huyên, Khảo thích do Tam Phật Tề trùng tu Quảng châu Thiên Khánh quán bi ký trong đời Tống, Luận tùng lịch sử Đông Nam Á tập thứ 2 (Quảng châu; Sở nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á ĐH Trung Sơn), 1979, trang 105-127. 2. Fukami Tadao, Giới thiệu sử liệu Quảng châu trùng tu Thiên Khánh quán ký, Bukkyo geijutsu Ars buddhica. số 287, 2006, trang 74-80. 3. Fukami Tadao, Reexamination of San-fo-ch’i ––– Change of perspective of the Study on Early History of the Western Part of Insular Southeast Asia –––, Tounan Asia Kenkyu Nghiên cứu Đông Nam Á. số 25-2, 1987, trang 205-232. 4. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao & tông giáo triều Lý, Nxb Qquân đội nhân dân, H. 2003, 452 trang. 5. Kondo Kazunari, Bunjin kanryo Soshoku no tai Kourai seisaku Chính sách đối với Cao Lý của Tô Thức quan liêu văn nhân, Shiteki số 23, 2001, trang 2-22. 6. Momoki Shiro, Giao dịch Nam Hải và Việt Nam trong thế kỷ 10-15 ––– một góc nhìn về quan hệ Trung Việt –––, Sekai-shi eno Toi Câu hỏi về lịch sử thế giới. tập 3, Tokyo; Iwanami shoten 1990, trang 225-256. 7. Morita Kentaro, Lưu Phú Và Tân Áp Đà La ––– những diện mạo về thống trị Quảng châu thời kỳ Bắc Tống –––, Shiteki số 23, 2001, trang 23-39. 8. Morita Kentaro, Ảnh thật của tín ngưỡng Tư Hải của triều Tống, Kỷ yếu khoa nghiên cứu Văn học VĐH ĐH Waseda, 2004, trang 67-79. 9. Tan Yeok Seong, The Sri Vijayan Inscription of Canton (A.D.1079), Journal of Southeast Asian History 5(2), 1964, trang 17-24 ———- * Chú thích: 1 TB, quyển 173, Hoàng Hựu năm thứ 4 (1052), tháng 7, ngày Nhâm Tuất. 2 TB, quyển 172, Hoàng Hựu năm thứ 4 (1052), tháng 5, ngày Bính Dần. 3 THY, Phương vực 9-27, Phần Quảng châu phủ thành, Hoàng Hựu năm thứ 4 (1052), tháng 10, ngày 29. 4 TB, quyển 174, Hoàng Hựu năm thứ 5 (1053), tháng 6, ngày Ất Muì. 5 Quảng Đông thông chí (Nguyễn Nguyên biên soạn. sau này viết tắt là QĐTC), quyển 206, kim thạch lược 8 tập lục. Thạch bia do Nguyên Giáng lập năm 1054, hiện nay có ở miếu Nam Hải thần, Quảng Châu, Trung Quốc. 6 QĐTC, quyển 206, kim thạch lược 8 tập lục. Thạch bia đó do Lữ Cư Giản lập năm 1067, hiện nay có ở miếu Nam Hải thần, Quảng Châu, Trung Quốc. 7 THY, Phương vực 9-27, Phần Quảng châu phủ thành, Hy Ninh năm thứ 1 (1068), tháng 4, ngày 23. Về khởi nguyên của thành cổ, Dư Tĩnh viết thi Hòa Đổng chức phương kiến thị sơ đáo Phiên Ngung thi chép, “Nghìn năm vẫn tồn tại thành Việt cổ” (Dư Tĩnh “Võ khê tập”, quyển 2, Luật thi). 8 THY, Phương vực 9-27, phần Quảng Châu phủ thành, Hy Ninh năm thứ 5 (1072), tháng 8, ngày 12. 9 THY, Phiên di 4-92, phần Đại Thực, Hy Ninh năm thứ 5 (1072), tháng 6, ngày 21. 10 Vinh Lạc đại điển, quyển 21984, Học 12, Trương Tiết ̣(?) “Quảng châu phủ di học ký” và Trình Sư Mạnh “Học điền ký”. 11 Vinh Lạc đại điển, quyển 21984, Học 12, Trình Sư Mạnh “Học điền ký”. 12 Khánh Hy Nam Hải huyện chí, quyển 5, Tuyển cử chí chép Lưu Phú trở thành “Hương cống tiến sĩ ”. 13 TB, quyển 271, Hy Ninh năm thứ 8, tháng 12, ngày Quí Sửu và quyển 290, Nguyên Phong năm thứ 1 (1078), tháng 7, ngày Đinh Sửu. 14 Vinh Lạc đại điển, quyển 21984, Học 12, Trình Sư Mạnh “Học điền ký”. 15 THY, Sùng nho 2-12, Phần Quảng châu phủ thành, Sùng Ninh năm thứ 4, tháng 8, ngày 28. 16 Theo sử tịch Quảng châu thành phường chí chép, quán Thiên Khánh ở Quảng Châu vốn là một ngôi chùa đổi tên từ chùa Khai Nguyên mà Đường Huyền Tông ra chiếu xây dựng. 17 Văn bia “Quảng Đông Trùng Tu Thiên Khánh ký” được học giả phát hiện và giới thiệu trong những năm 1960. Tuyên Thống Nam Hải Huyện chí, quyển 12, Kim thạch lược 1 tập lục. Nghiên cứu về văn bia đã có [Tan 1964], [Đái 1977], [Fukami 1987; 2006] v.v.. 18 Thiên hạ quân quốc lợi bệnh thư, phần Tam Phật Tề, Quảng châu cựu chí. 19 Về quá trình sự kiện đó xem TB, quyển 192, Gia Hựu năm thứ 5, tháng 8, ngày Ất Hơi, Đại Việt sử lược, quyển 2 và Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 3, năm Canh Tý (1060). Và Lý Nhật Tôn viết thư cho nhà Tống là xem THY, Phiên di 4-34, phần Giao Chỉ, Gia Hựu năm thứ 7, tháng Giêng. 20 [Momoki 1990] 21 THY, Phiên di 4-61~65, phần Chiêm Thành, Kiến Long năm thứ 1 đến Đoạn Củng năm thứ 1. ký lục hiến cống bắt đầu là năm 960. nạn dân đến Quảng Đông là năm 986, 987 và 988 22 TB, quyển 157, Khánh Lịch năm thứ 5, tháng 12, ngày Bính Thìn và quyển 158, Khánh Lịch năm thứ 6, tháng 3, ngày Kỷ Sửu. Và THY, Phiên di 4-32, phần Giao Chỉ, Khánh Lịch năm thứ 6, tháng 3. 23 Võ Khê chí, quyển 15, Biểu, “Quảng châu Tạ Thượng biểu”. 24 THY, Chức quan 44-4, Thiên Thánh năm thứ 6, tháng 7, ngày 16 chép “Chiếu, Quảng châu dạo này ít khi tàu phiên đến. làm cho châu này cùng với chuyển vận sứ chiêu an họ.” 25 Vạn Lịch Việt đại ký, quyển 9, loại quan tích, truyện Dư Tĩnh. 26 [Kondo 2001], [Morita 2001]. Theo [Kondo 2001] , nhà Tống làm quan hệ được với Cao Lệ nhờ người buôn Tuyền châu. Nguồn Bảo Tàng Nhân Học
  13. (Tiếp) Tết Ô ka rế của đồng bào Ca Dong Người Ca Dong là một nhánh địa phương của dân tộc Xơ Đăng sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy, săn bắt, hái lượm, có nghề dệt thổ cẩm với nhiều mô típ hoa văn trang trí rất đẹp. Hàng năm, khi mùa đông lùi dần, tiết trời dần trở nên ấm áp báo hiệu mùa xuân lại về, lúa trên rẫy đã thu hoạch xong, phơi khô và đưa hết vào kho, người Ca Dong lại cùng nhau chuẩn bị ăn tết Ố Karế, đón mừng năm mới. Thời gian ăn tết của mỗi plây (làng) không trùng nhau, nhưng nằm trong khoảng từ cuối tháng 12 đến đầu tháng giêng âm lịch. Người Ca Dong tin rằng đâu đâu quanh họ cũng có những vị thần (Yàng) như: Thần lửa (Yàng Pui), Thần núi (Yàng Kong), Thần Lúa (Mó Pế), Thần Đất (Kará Tơní), Thần Mặt Trời (Kará Mặt hy), Thần Nước (Kará Mo huýt),... Họ tin rằng chính các vị thần này đã phù trợ, chở che, đùm bọc họ vượt qua mọi hiểm nguy, hoạn nạn, nghèo đói, bệnh tật để người tồn tại và phát triển giống nòi. Tết Ố Karế là dịp dâng cúng để tạ ơn các vị thần, cầu xin một năm mới an lành, hạnh phúc, mùa màng bội thu. Đây cũng là dịp các thành viên trong mỗi gia đình và cả cộng đồng được ăn uống, nhảy múa, vui chơi sau một mùa nương rẫy gian lao, khó nhọc. Chuẩn bị ăn tết, người ta nuôi sẵn heo gà, làm cá khô, thịt khô, ủ rượu cần, lên rừng săn chuột, sóc, xuống suối bắt ốc, hái rau rừng...; đàn bà, con gái giã gạo lúa mới, làm bánh; đàn ông dựng nêu, sửa nhà. Đồng bào Ca Dong vui tết mùa Nghi thức mang tính cộng đồng và khởi đầu cho tết Ố Karế là dựng cây nêu, làm lễ cúng máng nước (tà reo Yá Co), cầu mong một năm mới no đủ, yên bình. Máng nước tượng trưng cho sự sinh tồn của cộng đồng làng. Cúng máng nước là một hình thức cố kết các giềng mối, quan hệ, thể hiện sinh động ở việc cả làng góp lễ vật đến cúng và ăn chung ở máng nước, sau đó mới trở về tổ chức cúng bái, ăn uống theo từng nhà. Người có uy tín nhất trong làng đứng ra làm chủ lễ. Lời khấn của ông cầu xin cho người già, người trẻ, con gái, con trai trong cả làng được khoẻ mạnh, cây lúa trên rẫy nhiều hạt, con heo, con gà sinh nở đầy đàn. Trong giờ khắc thiêng liêng, chủ làng mời mọi người đến cùng chạm tay vào cây nêu, vừa thể hiện sự tôn kính đối với thần nước, vừa thể hiện ý chí gắn bó, kết đoàn, sẵn sàng cùng nhau vượt qua gian khó. Chủ làng lại đem một con gà đến cúng Yá Co, cắt tiết gà cho chảy vào máng nước. Những người phụ nữ là chủ của mỗi gia đình dùng ống tre hứng lấy, đem về nấu bánh thiêng. Ở mỗi nhà, nghi thức quan trọng nhất là lễ cúng bánh thiêng và chia bánh cho các thành viên trong gia đình. Từ sáng sớm, người phụ nữ chủ nhà mang gùi lên rẫy để lấy lúa thiêng đem về gói bánh. Lúa thiêng được gieo trên một mảnh đất nhỏ gọi là pađăm, trong rẫy riêng của gia đình. Bánh thiêng lớn bằng ngón chân cái, một đầu nhọn, gói bằng lá đót, có nhân làm bằng thịt chim hoặc thịt chuột. Khi mang lúa thiêng từ rẫy về, người phụ nữ cũng mang theo một khúc gỗ để nấu bánh mà không dùng củi có sẵn ở chòi củi gia đình. Nhà có bao nhiêu thành viên thì người ta gói bấy nhiêu chiếc bánh. Bánh đã nấu chín được đem làm lễ dâng cúng thần linh, tổ tiên. Cúng xong, chia cho mỗi người một chiếc. Mọi người ngồi quanh cây cột thiêng, cạnh bếp lửa, cùng ăn bánh trong không khí đầm ấm, chan hòa tình cảm yêu thương. Sau lễ cúng bánh thiêng, cả gia đình lo thịt heo, thịt gà, nấu bánh tét và làm các món ăn khác để tiệc tùng, đãi khách. Ngày Tết tiếp theo, bắt đầu bằng lễ cúng ở nhà chủ làng, sau đó lần lượt mới đến các gia đình trong plây. Theo phong tục của người Ca Dong, các nóc nhà trong một plây phải ăn Tết cùng một ngày đã được định sẵn. Họ hàng, bà con ở plây khác khi được mời đến ăn Tết cùng gia chủ, thường mang thêm ít rượu, gạo nếp, thịt, cá khô... để vui cùng gia đình. Tất cả đều sống trong không khí vui tươi, nhộn nhịp. Sáng sớm, khi mặt trời phía đằng đông vừa chồm qua sườn núi, ánh nắng bắt đầu chạm lên phiến lá đầu làng, người ta trịnh trọng dọn một mâm cúng gồm: một chén rượu, một gói bánh bằng lá dong, một ống xôi nướng trong ống tre, bốn bát cơm mới, một con chuột, một con sóc nướng, một con cá nướng, một đĩa trầu cau cùng một bát than hồng để đốt trầm. Ngoài những thực phẩm nầy, tục lệ của người Ca Dong nghiêm cấm dùng các loại thịt khác để dâng cúng. Đặc biệt, trên bốn bát cơm mới, đều cắm bốn đôi đũa và bốn lá răm chăm, một loại lá rừng rất được người Ca Dong ưa thích. Người chủ lễ mặc trang phục truyền thống của người Ca Dong, trên đầu cài một chiếc lá răm chăm… Ông ta khấn vái và mời các thần, ông bà, tổ tiên về dự lễ và ăn tết với cả nhà. Một con gà trống và một con heo còn sống được đặt lên mâm cúng, khấn xong rồi mới đem mổ thịt. Sau khi đã mổ thịt, lòng gà, lòng heo được luộc chín bày lên giữa mâm, phần thịt sống và đầu heo, đầu gà cùng được đặt lên mâm cúng. Trong khi đang cúng, dân làng kéo đến càng đông cùng ăn Tết, nhà đó càng mừng vì coi đây là một năm may mắn và hạnh phúc. Họ cùng ăn uống, mời rượu no say, hỏi thăm sức khoẻ, công việc nương rẫy... trong sự đùm bọc, yêu thương của mọi người. Ngày trước lễ hội Ố karế kéo dài cả tuần. Trong tết có tục “nhảy co” nhảy múa xung quanh bếp lửa, gần chỗ thờ cúng tổ tiên, tung vãi cơm nếp đun trong ống nứa. Khi chiêng trống nổi lên, mọi người ca hát, reo hò, cầu năm mới mùa màng tốt tươi, lúa bắp đầy kho. Ngày nay, đồng bào ăn tết chỉ trong 3 ngày, tuy nhiên do mỗi plây có một ngày ăn tết riêng trong khung khê ning noong (mùa nhàn việc, lễ hội) nên không khí vui tươi hội hè ở vùng Ca Dong kéo dài, từ làng này sang làng khác, men say hội hè lan tỏa khắp núi rừng. (Theo quangngai.gov) TẾT CỦA NGƯỜI GIÁY Đã là con người, ai cũng nghĩ về bản thân, gia đình mình, nghĩ về người thân, nghĩ về xóm làng, nghĩ về xã hội và nghĩ về thời cuộc, sự kiện… Nhưng nghĩ về ngày tết thì chắc chắn không giống nhau, nhất là giữa các tộc người. Trong 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc nào cũng có những phong tục tập quán riêng, đặc biệt là ngày tết. Đối với người Giáy, một năm có 12 tháng, riêng tháng 11 không có tết, thế mà trong một năm người Giáy vẫn có tới 13 cái tết lớn nhỏ, như vậy 11 tháng trong năm thì tháng nào cũng đều có tết. Có tháng tới 3 cái tết như tháng giêng. Dù cái tết đó chỉ làm bánh phở ăn với một chân giò, hay một con gà, thậm chí có tết chỉ là gói bánh trưng, bánh gio, bánh trôi hay chỉ làm bánh tẻ. Người Giáy tính lịch và gọi các tháng âm lịch trong năm là: Tháng chạp ( tháng12 âm ), tháng tết ( tháng 1 âm ), tiếp đó tháng hai, ba, bốn, năm …Tháng một của năm mới (tháng giêng) thì người Giáy gọi là tháng tết. Vì trong ngôn ngữ người Giáy, ngày tết nguyên đán gọi là “ván siêng”. “Ván” là ngày, “siêng” là tết; ăn tết là “cơn siêng”. Tết nguyên đán người Giáy gọi là “cơn siêng láo”, nghĩa là ăn tết to. Trong tháng giêng, ngoài tết nguyên đán ra còn có tết rằm tháng giêng - “ cơn sịp há” ; tết 30 tháng giêng - “ cơn đáp” ngoài ra còn có tết tháng 3 - “cơn siêng sam”; tết tháng 6 - “cơn siêng róc”; tết tháng 7 “cơn sịp tsỳ”... Người Giáy có câu hát về tháng giêng: Đươn siêng đươn dù vàng Đươn tó tràng tó cú Đươn tsong dú pú nồi. Nghĩa là: Tháng tết tháng nhàn rỗi Tháng ăn chơi đánh cầu Tháng phong lưu con trẻ. Tháng giêng người Giáy gọi là tháng tết. Bởi tết là chơi vui, là nghỉ ngơi, là ăn uống chúc tụng nhau … Tháng giêng là tháng vui chơi, cả tháng nghỉ ngơi và cũng là tháng ăn uống, mời bạn bè, mời khách, ca hát. Vào tháng giêng, tiếng khèn, tiếng trống ngày đêm vang khắp xóm làng, bếp lửa hồng thâu đêm để người già tâm tình, uống rượu kể chuyện đời, chuyện cổ tích …, những đôi trai gái học hát, học thổi khèn, học đánh đàn, kéo nhị, thổi sáo vui với nhau của tuổi xuân. Tết là vậy, nên người Giáy nghĩ về tết là nghĩ về một tháng vui, một tháng chơi, một tháng hàn huyên xum họp. Người ở nhà, sau rằm tháng chạp là mọi người luôn ngóng trông người thân đang ở xa về xum họp. Người đi công tác, đi làm dâu, ở rể làm sao nhanh chóng trở về quê hương, gia đình người thân, xóm làng ăn tết. Người Giáy nghĩ “Có không có cũng ăn tết”, “To nhỏ cũng bữa cơm tết”. Ngày tết là ngày thiêng liêng, ngày tết là ngày xum họp, hội tụ gia đình. Vì thế sau tháng mười một bước vào tháng chạp là mỗi người đã háo hức, hồi hộp chờ tết. Ngày xưa, người ta vừa mong tết đến lại vừa lo tết đến. Người chờ, người mong tết đến là mong được nghỉ ngơi, xum họp, vui chơi… Người lo tết đến là lo: không hiểu gia đình có xum họp không? Quần áo mới cho trẻ ở đâu? Lấy gì mua sắm rượu, thịt, gạo, bánh … và còn cái lo nữa là nợ cuối năm không được để sang năm mới, mà lấy tiền đâu về trả nợ, trả rồi ăn gì, mặc gì trong tết này… Nhưng bây giờ, chuyện đó cũng có thể xem là chuyện quá khứ. Hiện nay, tuy vẫn còn có người lo. Lo bây giờ là khác cái lo ngày xưa, lo bây giờ là chỉ lo ăn chưa ngon, mặc chưa đẹp chứ không phải là cái lo thiếu thốn như ngày xưa. Hiện nay, người người, nhà nhà đang háo hức mong tết đến, đang háo hức mua sắm, đang làm nhà mới, tu sửa nhà cũ để chờ tết đến. Dù ở hoàn cảnh nào người Giáy có câu: Tăng siêng nò cà ma Hong ná hun cà tấu Nghĩa là: Đến tết khắc có thịt Đến mùa khắc có mưa. Nghĩ về tết như thế cho nên người Giáy chuẩn bị tết khá kỹ, trước hết lo nuôi lấy một con lợn để đến tết mổ. Sắp đến tết, người ta thường hỏi nhau năm nay nhà anh có lợn mổ không? lợn to hay nhỏ? Chưa mổ con lợn tết năm trước mọi nhà đã lo đến nuôi lợn tết sang năm. Mọi người còn nghĩ đến gạo nếp để làm bánh bỏng, bánh trưng, bánh dầy, bánh khảo… Khi cấy đã phải tính đến loại nếp nào, làm bánh gì và sẽ cấy bao nhiêu là đủ, cùng với gạo là đường mật. Nhà nào trồng được mía để dành kéo mật, nhà nào không có thì phải lo đi mua … Không chỉ thế, củi đun những ngày tết, tháng tết và những ngày mùa cũng được mọi nhà tập trung kéo, thồ, vác, vào khoảng tháng mười một và tháng chạp. Bởi tháng tết là tháng chơi cho nên không ai đi lấy củi tháng tết và sau tháng tết là vào mùa nương, mùa ruộng rồi, nếu tháng mười một, tháng chạp lấy được nhiều củi thì bớt đi phần công việc trong khi bận làm mùa. Người Giáy nghĩ về tết là nghĩ về sự ấm cúng, xum họp và sự bình yên trong tâm hồn./. Lò Văn Chiến Phong tục lạ ngày Tết của các dân tộc Việt Nam Tết là thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và mới, thời điểm trọng đại nhất trong vòng quay bất tận của vũ trụ. Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em với những phong tục đón Tết độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của từng tộc người. Dù các phong tục đón Tết có khác nhau nhưng đều hướng tới một ý nghĩa tốt đẹp chung nhất là cầu mong Năm Mới được ấm no, hạnh phúc, mùa màng tốt tươi, gặp nhiều may mắn. Người Mường với tục thờ cúng ngày Tết Đối với người Mường, Tết Nguyên Đán là cái Tết quan trọng nhất, to nhất trong năm. Trong dịp Tết, mỗi nhà tổ chức một bữa cơm thịnh soạn nhất để dâng tổ tiên và thần thánh, bữa đó gọi là làm Tết. Bữa làm Tết có thể làm cỗ dâng tổ tiên bằng thịt gà hoặc thịt lợn, xôi, rượu và các đồ lễ khác. Gia đình nào có cả một con lợn thịt trong dịp Tết thì được coi là ăn nên làm ra, tổ tiên vui mừng, con cháu hoan hỉ, cỗ bàn đầy đặn, cửa nhà sáng sủa. Nhiều gia đình người Mông làm thịt lợn từ sáng 30 Tết. (Ảnh minh họa: baodatviet.vn) Trong một mâm thờ thường có các lễ vật như bánh chưng và mật, rượu chai, cơm nếp, thịt luộc, chả rang và dồi, quếch, một ít tiền, một bát nước lã, trầu cau, mắm muối. Món thịt được bày trên một mảnh lá chuối khoảng 30cm x 40cm. Gia chủ chọn đủ miếng trong một con lợn để bày vào mảnh lá chuối này. Sau khi mâm cỗ đã soạn đủ món được bưng lên đặt vào bàn thờ. Thông thường, bàn thờ tổ tiên được đặt 3 mâm: mâm ngoài cùng thờ bố mẹ, mâm thứ hai thờ ông bà, mâm thứ ba (trong cùng) thờ cụ kỵ. Các vị trí đặt đồ thờ có thể ở trong nhà hay ngoài sân. Khi các mâm lễ được đặt vào vị trí, thầy cúng bắt đầu thực hiện khấn lễ. Đầu tiên, ông xướng tên và nơi ngự của các vị được thờ và lạy từng vị một; tiếp đó là phần trình bày lý do mời và dắt các vị về tận nhà chủ thờ. Sau khi các vị đã an tọa, thầy cúng cùng tất cả con cháu trong nhà lạy chào tổ tiên và thần thánh. Sau thủ tục lạy chào, thầy cúng bắt đầu khấn dâng; dâng đủ 10 tuần cơm rượu thì được coi là các vị đã thật sự no say; rồi xin mời các cụ đứng dậy thu dọn đồ đạc trở về nơi ngự; con cháu lại xin được “rút mâm lui, lùi mâm xuống”, hưởng lộc của các cụ. Mâm cỗ bày ăn gồm tất cả các món có trong mâm thờ và thêm món ớt, món nộm thịt thủ lợn, các loại rau đắng đồ, măng đắng đồ. Trước khi ăn, con cháu xếp hàng lạy kính các bậc cha mẹ, ông bà. Người già đứng lên nói lời chúc cho con cháu sang Năm Mới mạnh khoẻ, làm ăn giàu có. Sau khi đã ổn định chỗ ngồi các mâm - tiếng Mường gọi là “buông cỗ” là thủ tục chào chúc tốt lành, mọi người mời nhau uống rượu, mời ăn các món lần lượt từ món rau đắng đồ đến món thịt luộc. Sự mời mọc diễn ra liên tục suốt cả bữa cỗ, gần như là mỗi lần gắp là một câu hát thường dang, bọ mẹng, hát ví, mo, kể chuyện tình... làm bữa ăn thêm hoan hỉ. Sự nhiệt tình của mọi người đem lại niềm vui cho các thành viên trong gia đình. Tất cả đều thể hiện một ước vọng mong muốn một Năm Mới nhiều hạnh phúc và may mắn cho mọi người. Tết của người Mông Người Mông có một hệ lịch riêng, vì vậy Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 Âm lịch. Tuy nhiên, ngày nay, đa số đồng bào Mông đã ăn Tết Nguyên đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ người Mông ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ. Như người Kinh, khoảng 25, 26 tháng Chạp, mọi người bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Với người Mông, 3 món không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết là thịt, rượu và bánh ngô. Tuy nhiên, họ không đón Giao thừa như người Kinh. Tối hoặc giữa đêm 30, mỗi nhà đều phải làm lễ cúng "ma nhà" (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (phải là gà trống tơ). Sau khi cúng xong, đem lợn và gà đi giết thịt, rồi cúng một mâm thịt chín. Sau đó mới được ăn và uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên. Đối với họ, tiếng gà gáy sáng sớm của mùng Một mới đánh dấu một Năm Mới bắt đầu. Bên cạnh đó, lễ hội Sải Sán hay Gầu Tào (hội cầu phúc) trong ngày Tết là lễ hội lớn nhất trong năm và thể hiện nét văn hóa đặc trưng không thể thiếu của người Mông. Lễ hội này thường diễn ra vào ngày mùng Hai của Năm Mới nhằm tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật, cầu cho con cháu đầy đàn. Tết của người Cơ Tu Người Cơ Tu thường ăn Tết sau vụ thu hoạch, họ mở hội vui chơi trong ngày lễ cúng thần lúa gọi là Tết Progiêrâm, đây là lễ lớn nhất trong năm. Trước Tết một tuần, dân làng thường tổ chức đi bắt cá tập thể ở những con sông lớn. Họ ngâm các loại trái, vỏ, rễ cây làm cho cá bị say tự động nổi lên mặt nước rồi tha hồ bắt. Thực phẩm của người Cơ Tu trong ngày Tết chủ yếu là món ăn do đồng bào tự tay làm ra như nếp, lúa, sắn, ngô. Rượu cần và rượu tà vạt là thứ không thể thiếu trong ngày Tết của họ. Ngoài việc ủ rượu, phụ nữ Cơ Tu còn lo giã nếp, hái lá đốt để làm bánh sừng trâu, nấu nhiều cơm lam để ăn và đãi khách. Ngoài ra, đồng bào Cơ Tu còn làm thêm món Za zá - món ăn được xem là đặc trưng của dân tộc. Họ dùng các loại rau, măng, lá môn, chuối xanh, thịt rừng hoặc cá, ếch nhái... trộn lại với nhau rồi cho vào ống nứa tươi và đốt lửa bên ngoài. Đây là món ăn dùng nhắm với rượu tà vạt. Bên cạnh việc chuẩn bị nhiều món ăn, người Cơ Tu còn tổ chức các hoạt động văn hóa vui chơi như lễ hội đâm trâu, đánh cổng chiêng, nhảy điệu Za zá - điệu múa thiêng trong nghi lễ hiến sinh của người Cơ Tu, thể hiện sự vui mừng, lòng biết ơn đối với thần linh. Người Thái với tục gọi hồn ngày Tết Thông thường ngày 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm của người Thái. Sau vài ngày dọn dẹp nhà cửa, tối 29 người Thái bắt đầu gói bánh chưng. Ngoài bánh chưng như của người Kinh, người Thái còn có thêm một loại bánh chưng màu đen. Để làm bánh chưng, họ đốt rơm, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch muội tro mà vẫn giữ được màu đen. Sau lễ cúng Giao thừa tối ngày 30, mọi người uống rượu suốt đêm và canh cho nhang khói trên bàn thờ tổ tiên cháy liên tục. Nhà nào có chiêng, cồng thì mang ra gõ tại nhà. Một phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Thái là tục gọi hồn. Thường vào tối 29 hoặc 30, mỗi gia đình thịt hai con gà, một để cúng tổ tiên, một để gọi hồn cho mọi người trong nhà. Đầu tiên, người cúng (thường là thày cúng) lấy một cái áo của mỗi người trong gia đình, bó lại một đầu với nhau, vắt lên vai, tay cầm một cây củi đang cháy, mang ra đầu làng gọi hồn hai ba lần, sau đó về chân cầu thang lại gọi một lần nữa. Xong việc, thầy cúng đích thân buộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà. Tết của người Dao đỏ Vốn có bản sắc văn hóa riêng biệt và độc đáo, nên Tết của người Dao đỏ cũng mang nhiều nét đặc trưng cho đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc mình. Đến nay, dù đời sống đã phát triển hơn về mọi mặt, song đồng bào người Dao đỏ vẫn giữ được những phong tục đón Tết truyền thống. Cũng giống như người Kinh và nhiều dân tộc khác, người Dao đón Tết cổ truyền theo lịch âm. Khoảng ngày 20 tháng Chạp, hầu hết các gia đình đều gác lại công việc làm ăn để chuẩn bị đón Tết. Người Dao đỏ cũng có tục cúng ông Công, ông Táo như người Kinh, nhưng họ không cúng vào ngày 23 tháng Chạp mà làm chung với lễ cúng tất niên. Trong mâm cỗ, ngoài bánh chưng, loại bánh gù đặc trưng của người Dao, thịt lợn, thịt gà, rượu, thường có thêm đĩa bánh dày hoặc bánh nếp gói trong lá chít. Người Dao đỏ không tự làm lễ mà mời thầy cúng hoặc những người lớn tuổi có uy tín trong cộng đồng. Trước sự có mặt đông đủ của mọi thành viên trong gia đình, thầy cúng thay mặt gia chủ làm lễ cúng giải hạn, để xua đi tất cả những điều rủi ro, không may mắn trong năm cũ. Và mời “ma nhà”, gồm có ông bà, tổ tiên và những người đã khuất, về ăn Tết, cầu xin sức khỏe, may mắn và sự bình an cho tất cả mọi người, xin cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, trâu bò lợn gà khỏe mạnh./. (Theo Vietnam) Độc đáo Tết của người Lô Lô ở Cao Bằng Không quá ồn ào, khoa trương, những phong tục tập quán trong ngày Tết của người Lô Lô ở Cao Bằng mộc mạc nhưng rất hấp dẫn và đầy sức sống. Người Lô Lô quan niệm khi bước sang năm mới trong nhà không chỉ có ngũ cốc, mà phải có nhiều củi và nước - biểu hiện một năm làm ăn sung túc. Ngoài mặt tâm linh thì việc tích trữ đó còn thể hiện như là một nguyên tắc sống được truyền từ đời này qua đời khác để tồn tại được ở mảnh đất đầy khắc nghiệt này. Người Lô Lô. (Ảnh: Internet). Chỉ những lúc rét và khô hạn nhất, nhiệt độ thường chỉ vài độ C mới thấy hết tác dụng của phong tục này. Cách Tết khoảng 3-4 ngày, mọi người quét dọn nhà cửa sạch sẽ và đổ rác với ý nghĩa tống khứ những rủi ro, uế tạp của năm cũ và chuẩn bị đón tài lộc năm mới. Chiều 30 Tết, theo phong tục, người Lô Lô thường tổ chức bữa cơm sum họp của cả nhà. Tất cả các thành viên trong gia đình đều được gia chủ tổ chức cúng sức khỏe, gọi hồn (hồn sống) về với ông bà, cha mẹ, vợ con, anh em sum họp đầy đủ để đón mừng năm mới. Đàn ông, con trai cúng bằng gà mái, đàn bà, con gái cúng bằng gà trống. Chiều 30 Tết là ngày "niêm phong" cho tất cả những gì thuộc về gia đình. Từ cái cuốc, cái xẻng, con dao, cái rựa, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại... đều được dán giấy quét màu vàng hay màu bạc để các vật này được "nghỉ Tết" và con người không được chạm đến hay di chuyển đi nơi khác. Đối với người Lô Lô dù khá giả hay nghèo, Tết đều phải có thịt lợn đen treo trên gác bếp. Cỗ Tết được coi là to và sang thì ngoài món thịt lợn đen hay món gà trống thiến, phải có nhiều món khác như món cá lam thơm ngon nổi tiếng. Để có được cá lam người ta thường vào rừng tìm những con suối, con khe có loài cá này sinh sống. Cá bắt về được làm sạch rồi mổ bỏ ruột, tẩm muối và một số loại lá rừng, rồi cho vào ống tre để nướng. Khi cá vừa chín tới thì bầy ra đĩa. Cá lam nướng đạt tiêu chuẩn phải không còn mùi tanh, thơm mùi tre non và lá rừng nhưng cũng không được mất đi hương vị của cá. Ngoài ra, phải kể thêm các món như nhái nướng, nhái rang, món nhện nướng, châu chấu, cào cào rang... Đó là những món được đồng bào cho là món ngon, chỉ khi nào có khách quý đến chơi Tết mới được đem ra mời nhắm rượu. Để kiếm được những con côn trùng thơm ngon bổ dưỡng này, người Lô Lô phải vào rừng lật từng viên đá, ống bương, ống tre mục hay vạch từng chiếc lá, có khi đi cả buổi cũng chỉ tìm được vài con mang về nhà. Món bánh chưng ở đây cũng khác hẳn bánh dưới xuôi, người ta không gói theo hình vuông mà gói theo kiểu hình dài rồi buộc lạt chặt, khi chín bánh cong xuống và được gọi là bánh lưng gù. Đêm giao thừa là đêm nhộn nhịp nhất trong năm, già trẻ gái trai đều thức. Các cụ bà cùng các cháu nhỏ quần tụ bên bếp lửa hồng với nồi bánh chưng và kể chuyện cổ tích râm ran. Các cụ ông thì nhâm nhi chén rượu với đồ nhắm. Các thiếu nữ thì đi qua các nhà để xin lộc bằng cách "lấy trộm" vài thanh củi, mấy ngọn rau hay vài cành ngô khô. Khắp nơi hương khói thơm lừng, trong nhà đèn sáng tỏ, ngoài đường những ngọn đuốc sáng rực. Thanh niên và trẻ con đổ ra các ngả đường và tập trung ở các sân chơi để chờ tiếng chúc mừng của gà gáy sáng. Với người Lô Lô, tiếng gà gáy đầu tiên trong bản đó chính khoảnh khắc đón giao thừa. Bất kể là gà nhà ai, miễn là ở trong làng có một con gà cất tiếng gáy đầu tiên là chủ gia đình gọi mọi người đón mừng năm mới. Chủ nhà thắp hương lên bàn thờ, quỳ lạy cúng khấn tổ tiên, mời các cụ trong dòng họ qua các đời về ăn Tết với con cháu. Trong gia đình cử người đi gánh nước, người thì cho lợn ăn, khua hết các con vật dậy, tiếng lợn kêu, chó sủa, ngựa hí vang làm ầm ĩ, náo nhiệt cả bản làng./. (Theo Vietnam.net) Tục ăn tết của người Hoa ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Sinh sống ở Chợ Lớn đã qua ba thế hệ, nhưng đến nay gia đình tôi vẫn giữ tập quán sinh hoạt của người Triều Châu (Trung Hoa), nhất là phong tục truyền thống trong những ngày lễ, tết. Ngày Đông chí, má tôi thường nấu “ỉ” cúng. Đó là viên nếp nhỏ, tròn, không nhân, được nấu chung với nước đường và gừng, khi ăn rắc thêm muối mè lên mặt; người Việt thường gọi đó là chè trôi nước. Trong tiếng Tiều, “ỉ” nghĩa là “viên”, “tròn”. Người Tiều cúng “ỉ” với mong muốn gia đình sẽ luôn được đoàn viên. Khi Sài Gòn se se lạnh báo hiệu tiết Đông chí đến, chúng tôi biết là chỉ còn từ một đến hai tháng nữa là đến tết Nguyên Đán. Những ngày lạnh nhất trong năm ở đất Sài Gòn thường đến trước hoặc sau Đông chí 10 ngày. Lúc đó, ăn chén chè “ỉ” nóng, thêm chút gừng cay, người ta cảm nhận được mùa xuân đang về. Các chùa người Hoa thường treo đèn lồng trong ngày tết. Trong ảnh là chùa Bà Hải Nam ở Chợ Lớn. Ảnh: Phúc Minh Những ngày trước tết Bước sang tháng Chạp, người Hoa chọn ngày tốt để quét dọn dẹp nhà cửa, làm lễ tạ thần. Đó là lễ đáp tạ Trời, Phật, Ông Bà đã cho gia đình một năm bình an. Cúng xong, người ta mang vật cúng chia cho họ hàng, người quen, gọi là chút quà thơm thảo. Nhà này mang vật cúng cho nhà kia. Đến khi nhà kia cúng sẽ mang cho lại nhà này. Đây cũng là cách làm cho tình thân thêm gắn bó. Cúng tạ thần. Ảnh: Phúc Minh Sau đó là lễ đưa ông Táo. Khác với người Việt cúng đưa ông Táo vào tối ngày 23 tháng Chạp, người Hoa thường tiễn ông Táo về Trời vào sáng hôm sau, ngày 24 tháng Chạp. Vật cúng ông Táo thường có các món ngọt như thèo lèo và quýt. Trong tiếng Hoa, “quýt” đồng âm với “cát” (cát tường = may mắn). Người ta hy vọng ông Táo sẽ tâu những lời tốt lành, mang lại may mắn cho gia đình. Ba mươi “xuân” đến Câu đối "Hợp gia bình an". Ảnh: Phúc Minh Trong nhà người Hoa thường dán câu đối liễn. Đến ngày 30 tết, người ta thay câu đối liễn mới, giấy đỏ chữ vàng, nội dung thường mang thông điệp tốt lành như Xuất nhập bình an, Kim ngọc mãn đường, Tân xuân đại cát... Với những gia đình làm ăn buôn bán tại nhà, nội dung câu đối liễn thường là Nhất bổn vạn lợi, Khai trương hồng phát, Sinh ý hưng long... Ngoài ra, người ta còn dán chữ “Xuân” và “Phúc” ngược trên cửa, chữ “ngược” tiếng Hoa đọc là “đáo”, nghĩa là Xuân đến, Phúc đến. Chiều 30 Tết, trẻ con được tắm rửa sạch sẽ, thay bộ quần áo mới màu đỏ - màu may mắn theo quan niệm của người Hoa - rồi đi chúc tết ông bà, cha mẹ và nhận tiền lì xì. Giao thừa cũng là ngày đoàn tụ gia đình. Tối giao thừa, các thành viên trong gia đình sẽ quây quần bên nhau ăn bữa cơm đoàn viên thịnh soạn. Mọi người đón giao thừa vào lúc 12 giờ tối. Người Việt có mâm ngũ quả “cầu, sung, dừa, đủ, xoài” thì người Hoa có quýt, bánh bao, bánh Tổ. Tiếng Hoa gọi bánh bao là “Phát bao”, bánh Tổ là “Niên cao”… Tựu trung đều mang ý nghĩa là sự ước mong cho năm mới, gia chủ được may mắn, phát tài, năm mới sẽ tốt hơn năm trước… Người Quảng Đông cúng giao thừa còn có giò heo, cải xà lách xanh sống. Tên những thứ này khi đọc lên thường có ý nghĩa tốt lành. Heo đọc là “trư”, đồng âm với “châu” - ý là "châu long nhập thủy", châu báu đầy nhà. Cải xà lách tiếng Quảng đọc là “Phát soi”, đồng âm với “Phát tài”… Bánh bao. Ảnh: Phúc Minh Mồng Một “tết Mẹ” Sáng mồng Một tết Nguyên Đán, con gái đã có chồng ở riêng sẽ đưa chồng con về nhà ông bà ngoại chúc tết, nghĩa là ăn “tết Mẹ” trước; sau đó, người ta mới “tết Cha”, rồi đến thăm họ hàng, người thân. Điểm này không giống với tập quán của người Việt là “mồng Một tết Cha, mồng Hai tết Mẹ”. Mồng Bốn đón ông Táo về. Sang mồng Bảy, người ta ăn bảy thứ cải nấu chung. Trong xã hội nông nghiệp xưa, người ta ăn các loại cải phong phú với hy vọng trong năm mới, mùa màng sẽ được bội thu. Ngày nay, không nhiều người làm nông nữa nhưng người ta vẫn giữ thói quen ăn bảy thứ rau cải. Đến rằm tháng Giêng là tết Nguyên Tiêu, ngày tết mới thật sự kết thúc đối với người Hoa. Trong khi người Việt chỉ ăn tết đến ngày thứ bảy thì hạ nêu, hết tết. Nguồn: Người Triều Châu Huyền bí Tết Katê của người Chăm Giadinh.net - Người Chăm có ba ngày Tết trong năm để cùng nhau tụ họp lại tưởng nhớ các vị thần linh, tổ tiên và tổ chức những hoạt động vui chơi giải trí. Cuối thu, khi mùa màng đã thu hoạch xong, theo lịch của người Chăm là ngày 1 tháng 7 (tương ứng vào khoảng cuối tháng 9 Dương lịch), các làng Chăm lại rộn ràng vui Tết Katê. Hư thực chuyện di vật vua Chăm Theo ông Phú Trạm - Inrasara, một nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam: Trước đây, ngày Tết của người Chăm là một dịp lễ khác được tiến hành vào đầu tháng tư (lịch Chăm). Đây mới là ngày lễ có ý nghĩa xua đuổi cái xấu của năm cũ, đón mừng cái may mắn của năm mới. Tuy nhiên, do quy mô của lễ hội Katê lớn hơn, lại có thêm phần lên tháp tiến hành các nghi thức, nên lễ Katê được biết đến nhiều hơn và trở thành cái Tết lớn nhất của người Chăm trong năm. Những cụ già người Chăm kể lại: Ngày trước, lễ hội Katê có thể kéo dài đến nửa tháng, nhưng ngày nay đã được rút xuống chỉ còn ba ngày. Ngày đầu tiên dành để chuẩn bị quần áo cho các thần linh. Ngày thứ hai rước quần áo lên tháp cho các thần. Ngày thứ ba, dành cho cúng tế thần làng và tổ chức trò chơi, cúng tế tại gia đình. Nhà nghiên cứu Phú Trạm cho biết, theo truyền thuyết, người Raglai vốn là con út của vua, là em của người Chăm. Trong thực tế, qua nhiều lần trải qua thăng trầm trong hàng trăm năm lịch sử, các vị vua người Chăm đã phải nhiều phen lánh nạn. Khi rời quê nhà lánh nạn, không muốn tháp bị hoang phế nên phải gửi lại vương miện, mũ mão, quần áo cho người Raglai, vốn là tộc người sống ở miền núi, trong các bản làng có đường lên hiểm trở để ai có ý định trộm cướp cũng khó thực hiện được. Hàng năm, cứ trước ngày khai hội một hôm, người Raglai lại từ buôn làng trên núi, rước các di vật xuống làng Chăm. Trước lễ hội chính một ngày, cả hai dân tộc cùng làm lễ rước y phục về đền thờ trong làng. Lễ thỉnh y phục gồm các tiết mục đàn hát ca ngợi công đức của các vua, dâng lễ vật và khấn mừng thần kéo dài đến khuya mới chấm dứt. Người từ khắp nơi đổ về dự lễ. Sau lễ hội, di vật lại theo họ về bảo quản, thờ cúng trong một ngôi nhà riêng. Qua nhiều đời, ngày nay vẫn còn nhiều bảo vật của các vị vua được gìn giữ như áo, thắt lưng... Để "đến hẹn lại lên", mùa Tết Katê năm sau, anh em người Chăm - Raglai lại cùng nhau sum họp. Cũng ở một số nơi, tục lệ này không còn. Ông Phú Trạm kể lại câu chuyện ở chính ngôi làng quê hương ông: Làng Chăm Chakleng, xã Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Trong làng có đền thờ một vị tướng tài người Chăm nhưng y phục của vị tướng lại được gửi mãi tại một làng người Raglai trên đèo Xông Pha (thuộc huyện Ninh Sơn, cách đó khoảng 30km). Hàng trăm năm không sao, đến một mùa Katê gần đây, người Raglai của làng đó sau lễ hội xin với các già làng được gửi lại y phục cho được ở đền làng Chăm luôn vì người ở làng Raglai cùng họ với người Chăm đến nay đều đã không còn ở nhà, không có điều kiện đi lại hàng năm. Mùa katê năm sau đó, lễ hội ở làng quê ông Phúc Trạm vắng bóng áo xanh của người anh em Raglai. Lễ Katê - bức tranh nhiều sắc màu Từ 5 giờ sáng ngày lễ chính, dân làng Chăm đã bắt đầu làm lễ xin rước y phục từ đền thờ làng lên tháp Chăm. Trong khi vị cả sư (Pô Dhia) làm lễ khấn tại đền thờ làng, đoàn rước gồm các thầy trong ban tế lễ, dàn nhạc người Chăm và người Raglai, các nam thanh niên khiêng kiệu, các thiếu nữ trong đội múa... đã chờ sẵn trước sân đền thờ làng. Đúng 7 giờ sáng, sau màn trình diễn của các thiếu nữ với tiết mục vừa múa quạt vừa đội bình hoa trên đầu mà bình không hề ngả nghiêng, lễ rước y phục từ làng lên tháp bắt đầu. Đi đầu đoàn rước là cờ Tổ quốc và đoàn nhạc công người Raglai, tiếp đến là các thầy trong ban điều hành. Kiệu đặt y phục của các thần được hộ tống xung quanh bởi các bức trướng, lọng che nắng, cờ lễ hội và đội thiếu nữ múa quạt. Thiếu nữ Chăm chuẩn bị cho màn đội bình hoa múa. Đoàn người gồm dân làng và khách thập phương kéo dài theo sau trên đường làng dẫn lên tháp Chăm trong tiếng nhạc do đội nhạc lễ vừa đi vừa cử hành. Cờ đỏ sao vàng của cờ Tổ quốc, áo tím nẹp xanh của người Raglai, áo trắng khăn đỏ của đàn ông người Chăm và muôn vàn sắc tía của trang phục truyền thống phụ nữ Chăm tạo thành một bức tranh khổng lồ nhiều màu sắc. Tại cụm tháp chính của tỉnh Ninh Thuận, qua đoạn đường khoảng 4 km từ thôn Phước Đồng tới khu vực tháp Poklong Garai, đội rước lễ còn phải leo qua hàng trăm bậc thang dẫn lên chân tháp. Hàng vạn người dân địa phương và khách du lịch đã đợi sẵn đoàn rước lễ từ dưới chân đồi. Những nghi thức huyền bí Lễ Katê cuốn hút khách thập phương tới tham dự không chỉ để ngắm nhìn bức tranh sinh hoạt cộng đồng nhiều màu sắc, không chỉ vì những điệu múa huyền ảo của các vũ nữ hay tiếng kèn saranai, tiếng trống ginăng bập bùng... Katê còn huyền ảo với những lời khấn nguyện, những nghi thức hành lễ độc đáo và đầy chất huyền bí. Múa hát bên Tháp Chàm. Trên sân tháp hướng về phía tháp chính, sau phần tặng quà và chúc mừng của chính quyền địa phương, sẽ là phần trình diễn điệu múa quạt của các thiếu nữ người Chăm và các nhạc công Raglai trình diễn điệu nhạc dân tộc. Kết thúc phần múa hát, lễ cúng xin phép thần Siva cho mở cửa tháp được cử hành với lễ vật là rượu, trứng, trầu cau và nước thánh (nước pha trầm). Đọc xong những lời cầu khấn bằng tiếng Chăm, một vị trong ban tế lễ hắt lọ nước thánh lên phù điêu thần Siva trên vòm cửa tháp, xin phép được mở cửa tháp để ban tế vào hành lễ. Các gia đình cúng lễ bên tháp. Theo quan niệm của người Chăm, đền tháp là nơi trú ngụ của thần linh, vì vậy trong lễ hội lớn nhất trong năm này, phải có nghi thức tắm cho tượng. Nước thánh được vảy lên mình tượng, trong khi những người xung quanh nhảy múa, hát và hứng nước rỏ từ tượng thần rớt xuống để bôi lên cơ thể mình cầu may mắn. Ban tế lễ tiếp tục cử hành buổi lễ với các nghi thức tiếp theo là mặc y phục cho tượng, đại lễ với nghi thức dâng lễ vật, lễ tạ, lễ ban ơn. Trong tất cả các bước hành lễ, đều có đặc trưng là thầy cả sư đọc kinh, thầy kéo đàn hát các bài hát lần lượt mời các vị thần về chứng giám dự lễ (tổng cộng có khoảng hơn 30 bài hát trong buổi lễ tương ứng với lời mời hơn 30 vị thần), bà bóng thì rót rượu, dâng lễ vật lên thần linh. Trong khi đó, bà con người Chăm ở phía ngoài tháp cũng bày đồ cúng ra trên bãi cỏ để cúng tế, cầu mong thần linh ban cho một năm mới mưa thuận gió hòa, ban cho gia đình và người thân được may mắn, khỏe mạnh... Tuy nhiên, những nghi thức bên trong tháp như đã nêu trên chỉ được các giáo sỹ trong ban tế lễ chứng kiến và mô tả lại cho người khác biết, chứ chưa từng nhà nghiên cứu, hay du khách nào được chiêm ngưỡng. Vì vậy, chưa từng có bức ảnh hay cuốn video nào được thực hiện trong các tháp Chàm nơi thờ các vị vua. "Ngay cả đến tôi là một người Chăm, lại là một người nghiên cứu văn hóa, nhưng không phải là người có nhiệm vụ nên cũng chưa lần nào trong đời được chiêm ngưỡng phía bên trong tháp Chàm, dù đã nhiều lần năn nỉ được vào bên trong", ông Phú Trạm nói. Cũng theo ông Phú Trạm, các giáo sỹ người Chăm thường "giấu nghề", vì vậy không ít nghi lễ, tập tục kỳ bí của người Chăm hoặc không được giải thích, hoặc đã dần mai một. Ông nêu ra một ví dụ: "Không ít trường hợp, các giáo sỹ khi không có người kế tục đã thả trôi sông hàng trăm cuốn kinh sách quý. Vì theo quan niệm của họ, sách là của thánh thần, nếu giáo sỹ không dùng nữa thì phải thả trôi sông trả thần linh". Nhiều thế kỷ trước, sách "Đại Nam nhất thống chí" đã viết: "Tục Chăm thì hàng năm cứ tháng 10, tức như tháng giêng của Kinh là Tết. Đến kỳ thì sắm đủ cỗ bàn cúng tiên tổ, hội khách khứa bạn bè". Nhiều thế kỷ sau, những phong tục này vẫn được người Chăm giữ vẹn nguyên. Mai Minh Síp xí - tết của người Thái đen ở Yên Bái Nếu ai đến Mường Lò vào dịp 13 - 14/7 âm lịch, hẳn sẽ vô cùng thích thú khi được tham dự vào lễ tết đặc biệt cổ truyền của người Thái đen, đó là tết Síp Xí cổ truyền. Mường Lò, Yên Bái một vùng đất phì nhiêu, trù phú của vùng Tây Bắc nổi tiếng với “gạo trắng, nước trong”, với đặc sản chè tuyến Shan cổ thụ, với hương thơm nồng nàn của nếp Tan Tú Lệ. Nơi đây còn là mảnh đất quần cư của người Thái đen giàu bản sắc, đậm đà phong tục, tập quán. Mường Lò - theo các nhà khoa học, đó là mảnh đất quần cư đầu tiên của người Thái đen khi vào Việt Nam. Các cụ già nơi đây cũng không nhớ tết Síp Xí có tự bao giờ, chỉ biết rằng hàng năm bản Thái đều tổ chức Tết Síp Xí một cách trang trọng, đầm ấm, vui tươi. Là tết lớn nhất của người Thái đen Mường Lò nên ngày 10 -13/7 Âm lịch, các bà, các mẹ, các chị trong mỗi gia đình đều chuẩn bị lá chuối rừng, gạo nếp, thịt gà, lạc... để làm món bánh síp xí (pảnh síp xí), một loại bánh quan trọng nhất trong lễ tết này bánh síp xí của người Thái đen Mường Lò. Bánh síp xí 2 loại: một loại là “Pảnh cuổi”, bánh làm bằng gạo nếp nghiền với chuối tiêu, gói bằng lá chuối xôi chín; loại thứ 2 là “Pảnh cáy”, bánh có nhân làm từ đỗ xanh và thịt gà băm nhỏ với lạc, cũng được gói bằng lá chuối đồ chín. “Pảnh síp xí” được gói 2 chiếc trên một tàu lá chuối sau đó xoắn giữa cặp đôi 2 chiếc vào với nhau, dùng một dây lạt buộc ở đầu. Bánh cuổi Trong ngày tết Síp Xí, bánh này ngoài dùng làm lễ vật cúng ma nhà (Co lo hoóng), còn được đồng bào dùng làm quà biếu bà con anh em trong dòng họ, biếu tặng khách quý và những người dân tộc khác. Ngoài việc làm thật nhiều “Pảnh síp xí” để đón tết các thiếu nữ dân tộc Thái ra chợ lựa chọn mua hoặc tự đi lấy các loại lá cơm màu để về làm xô ngũ sắc dâng cúng tổ tiên, lễ vật không thể thiếu. Thịt vịt là món ăn chính trong Tết Síp Xí, theo quan niệm của người dân là tổng kết một vụ mùa, cầu xin cho con trâu được khỏe mạnh, cây lúa được tốt tươi, người người được hạnh phúc. Do đó gia đình nào cũng mổ một vài con vịt trong dịp tết để “phá xúi” xua tan đi những điều đen đủi, không may mắn trong cuộc sống. Rượu, thịt, cá và các món ăn được đồng bào chuẩn bị khá chu đáo để thiết đãi bạn bè, khách khứa trong dịp tết này. Cùng với việc chuẩn bị lễ vật để cúng tổ tiên, thì nhà cửa, ngõ xóm, ruộng vườn cũng được đồng bào sửa sang trang hoàng cho thật sạch đẹp. Các cô gái tuổi cập kê cũng chuẩn bị lựa chọn cho mình những bộ áo váy cùng dây xà tích, khăn piêu đẹp nhất để diện trong dịp tết. Bắt đầu bước vào tết Síp Xí là lễ cúng tổ tiên (co lo hoóng) của gia chủ. Chủ nhà cúng khấn mời tổ tiên, các ma nhà về dự tết chung vui cùng con cháu. Lễ cúng này được diễn ra ngay tại gian thờ “co lo hoóng”, bao gồm xôi ngũ sắc, bánh síp xí và một thủ lợn. Nghi thức tiếp theo là lễ cúng ruộng “Tam tế ra”. Mâm cúng xôi và thịt gà đặt ngang đầu ruộng của gia đình. Thầy cúng ngồi trước thửa ruộng cầu xin ma bản, ma làng, tổ tiên thần thánh về phù hộ và chăm sóc cho cây lúa của gia đình không bị con sâu, con thú về phá hoại, cho lúa lên nhanh, hạt to, chắc, mẩy. Kết thúc lễ cúng, lễ vật sẽ được thả xuống ruộng như lời minh chứng về sự cầu xin thành khẩn của gia đình trong ngày tết. Con trâu là con vật quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp của người Thái đen Mường Lò. Một năm cầy cấy vất vả trong dịp tết Síp Xí đồng bào dân tộc Thái nơi đây cũng cho trâu được “ăn tết” bằng nghi thức cúng vía cho trâu “Tám khuôn quai”, cầu xin tổ tiên thần thánh che chở, bảo vệ cho trâu được khỏe mạnh để giúp đỡ gia đình trong sản xuất nông nghiệp. Trong ngày tết Síp Xí, các cháu chắt nội ngoại sống gần nhà, ông bà sẽ mang những cặp bánh síp xí mới nhất, ngon nhất cùng 1 bộ gan vịt (đó là phần mà đồng bào quan niệm là ngon nhất và quan trọng nhất) sang nhà ông bà chúc phúc mừng tuổi ông bà. Đáp lại tình cảm của các cháu, ông bà tặng mỗi cháu 2 cặp bánh síp xí cầu mong cho các cháu luôn khỏe mạnh, ngoan ngoãn. Rất nhiều những món ăn đặc sắc của người Thái đen Mường Lò được người dân thể hiện trong tết Síp Xí cổ truyền này. Cùng với đó là những nét văn hóa trong sinh hoạt văn hóa ẩm thực hết sức đặc sắc mà đồng bào còn lưu giữ được như một “gia sản” văn hóa mà không phải bất cứ dân tộc nào cũng được sở hữu. Sau bữa cơm síp xí, theo phong tục truyền thống, các nam thanh nữ tú rủ nhau đi chơi hội hang Thẩm Lé, hội chơi núi hái nêm (quả sim), mọi người đều nô nức vui chơi trong niềm vui tươi phấn khởi. Múa xòe then Kết thúc tết Síp Xí cổ truyền là nghi thức cúng then và xòe then (xe then) tại nhà Mo Then trong bản. Mọi người từ khắp nơi đều tập trung tại đây. Các điệu xòe then như: xòe gậy, xòe khăn, xòe quạt, xòe hoa... được đồng bào thể hiện trong suốt đêm hội “xe Then” để múa mừng và mời các thần Then về dự tết và chung vui cùng trai làng gái bản. Cùng với đàn tính và chùm sắc nhạc rung lên liên hồi làm cho không khí của ngày hội càng rộn ràng như không có hồi kết. (Theo vietbao) Phong tục đón tết của người Tày Tết của người Tày bắt đầu vào 30 và kết thúc (lễ tạ tổ tiên) vào khoảng sáng mùng 3, tuy vậy cũng như nhiều dân tộc, thường họ chơi dài đến hết cả tháng giêng. Mùng 7 họ ra đồng làm một chút, mang tính hình thức là chính. Đến ngày 15, họ ăn Tết lại, gần giống như ăn rằm tháng Giêng của người Việt, nhưng người Tày thì gọi là ăn Tết lại. Người Tày làm bánh chưng dài. Ngày 27 hay 28, các gia đình đã thịt lợn, gói bánh... Bàn thờ được lau chùi, người ta buộc bốn cây mía vào bốn góc chân bàn thờ, quan niệm đó là cái gậy để tổ tiên chống. Tối 30, vừa tiếp bạn bè đến chơi, phụ nữ trong nhà vừa làm bỏng, chè lam, bánh khảo. Để làm bỏng, người ta phải đồ xôi lên từ mấy ngày trước, để khô rồi trộn cám vào cho hạt gạo xôi tơi ra, tiếp đó phun ít rượu rồi rang lên, đến tối hôm tất niên chỉ đem ra nấu với mật, rồi đổ ra khay, cắt miếng... Mọi sự thăm thú kết thúc trước 12h đêm 30, sau đó ai về nhà nấy. Trẻ con phải thức trực tuổi cả đêm. Khác với người Thái, người Tày kiêng sáng mùng Một có người bất kỳ vào nhà. Họ chọn mời người xông nhà là người có đạo đức trong bản, người có phúc lớn, kị nhất là người có tang hoặc bị ma gà ám... Đàn ông Tày mùng Một chơi cha (tức bố mẹ vợ), mùng ba chơi thầy (thầy cúng). Một số trò chơi cũng được phát động trong Tết mà phổ biến nhất là tung còn. Ra xuân, người Tày còn có hội lồng tồng (xuống đồng). Vào dịp Tết, người ta mặc những bộ quần áo đẹp nhất đi chơi. Màu sắc áo Tày khá trầm. Phụ nữ mặc áo dài màu chàm 5 thân, một thân ngắn, bốn thân dài, ống tay hẹp, thắt lưng cũng màu chàm bỏ mối ra phía sau lưng, đầu đội khăn vuông chàm, trong có vải quấn tóc màu đen hoặc chàm, chân đi hài thêu mũi cong hình mỏ gà. Sưu Tầm Xem Thêm Phong tục đón năm mới của dân tộc Tày Khi những cơm mưa phùn lất phất bay, tiết trời se lạnh, những cành đào, cành mận nở hoa khoe sắc đấy là lúc báo hiệu một mùa xuân mới đang về. Tết đến xuân về là đồng bào các dân tộc vùng cao trong tỉnh lại nô nức chuẩn bị đón một cái Tết đầm ấm, vui vẻ Khác với người dân miền xuôi, người miền núi lại có phong tục đón tết rất đặc trưng mang đậm nét văn hóa của dân tộc mình. Với người Tày cũng vậy họ cũng có cách đón năm mới rất riêng của mình. Tết Nguyên đán là mở đầu cho một năm mới và họ bắt đầu ăm tết từ ngày 28 tháng chạp âm lịch. Những ngày này trai gái trong bản lại khẩn trương trang trí lại nhà cửa, quét dọn sạch sẽ và sắp xếp lại đồ đạc trong nhà để cho gian nhà thêm mới mẻ và ấm cúng hơn. Bước sang ngày 29 người Tày bắt đầu làm thịt lợn và chế biến ra những món ăn như: giò, chả, thịt luộc, thịt nướng và lạp sườn... Nếu ngày này ai đó có dịp đến với vùng cao sẽ thấy nhà nào cũng treo những dây lạp sườn trong bếp trông thật hấp dẫn. Đến ngày 30 tết thì người Tày cất tất cả những đồ dùng trong nhà như: Dao, dựa, cày, bừa vào một nơi rồi làm lễ cúng để cho chúng nghi ngơi ăn Tết, vì theo đồng bào nơi đây những vật dụng đó đã gắn bó và theo người dân suốt một năm lao động vất vả nên chúng cũng phải được nghỉ ngơi đón tết. Đêm giao thừa là dịp mà các thành viên trong gia đình quây quần bên nhau để trò chuyện, cùng nhau thưởng thức những món ăn đặc biệt hơn ngày thường và chúc nhau những lời chúc năm mới hạnh phúc, thịnh vượng. Chuẩn bị đón tết còn là dịp cho trai, gái trong bản rủ nhau xuống chợ mua sắm cho mình những bộ quần áo mới nhất để đi chơi xuân. Ngày tết cũng là cơ hội để cho cả người già, trẻ em, thanh niên nam nữ kéo nhau đi xem các lễ hội vui xuân như: Tung còn, múa xòe và trao cho nhau những điệu hát Sli, hát lượn thật hay thật tình tứ. LenDuong.VN (TH Tết của Người Mông Việt Nam có 54 dân tộc anh em, trong đó đa phần là các dân tộc thiểu số sinh sống ở các tỉnh trung du, miền núi. Mỗi dân tộc lại có những phong tục Tết mang đặc trưng riêng... Dân tộc Mông gồm nhiều nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ), Mông Đú (Mông Đen), Mông Súa (Mông Mán). Hiện số dân của họ khoảng 558.000 người, cư trú tập trung ở miền núi vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An. Người Mông có một hệ lịch riêng, theo nhận định của các nhà nghiên cứu, có lẽ họ tiếp thu cách tính lịch của dân tộc Di (Trung Quốc). Theo đó, Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch của Âm Dương hợp lịch mà ngày nay chúng ta sử dụng. Tuy nhiên, ngày nay đa số các vùng người Mông đã ăn Tết Nguyên Đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ, chẳng hạn người Mông ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ. Ngày 25, 26 tháng Chạp, người Mông bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Khi đó, họ phong tất cả các công cụ sản xuất lại, ví dụ như các lò rèn phải làm lễ đóng lò, cối xay ngô tháo ra, dán một tờ giấy bản lên rồi làm lễ với gà, bánh ngô, rượu. Hiện nay, đa số các vùng của người Mông ăn tết như người Kinh Trước đây người Mông không gói bánh chưng. Bây giờ thì có gói, nhưng bánh chưng không nhất thiết có trong bữa cỗ Tết của họ. Với họ, ba món không thể thiếu là thịt và rượu và bánh ngô. Người Mông không đón giao thừa. Đối với họ, tiếng gà gáy đầu tiên của sáng sớm mùng Một mới là cái mốc đánh dấu một năm mới bắt đầu. Tối hoặc nửa đêm 30, người ta cúng ma nhà (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (và phải là gà trống, mà tốt nhất là gà trống tơ). Sau đó mới mang lợn và gà ấy đi giết thịt (nhà nào giàu có thì thịt một con lợn từ 28, 29 để ăn trước). Thịt xong đem cúng một mâm thịt chín, rồi ăn cơm uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên. Các nhóm Mông có phong tục hơi khác nhau nhưng về đại thể đều rất quan trọng lúc cúng ma nhà bằng lợn và gà sống vào tối 30. Từ mùng 1 trở đi họ mặc quần áo mới, đi hài đi chơi. Ném papao là một trong những trò chơi ngày Tết mà người Mông rất thích; ngoài ra còn múa khèn, múa ô, chơi cầu lông gà, hát ống, hát dân ca, đua ngựa, bắn nỏ... Đặc biệt, nói đến Tết của người Mông không thể không nói đến một lễ hội gọi là hội Sải Sán hay Gầu tào (hội cầu phúc). Một gia đình trong làng, nếu hay đau ốm hay chậm có con thì mùng 2 đi dựng một cây nêu lớn ở bãi cỏ đầu làng. Hội này tiếng là do một gia đình tổ chức (gia đình đó gọi là chủ nêu) nhưng thật ra đó là một lễ hội của cộng đồng, thậm chí khi làng này dựng nêu, làng khác cũng đến dự hội. Hội Gầu tào nhằm tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật; cầu cho con cháu đông đàn. Hội có thể kéo dài 3 ngày nếu 1 năm tổ chức một lần hoặc 9 ngày nếu 3 năm tổ chức một lần. Đây là lễ hội lớn nhất của người Mông trong năm và nó thể hiện rõ nhất những đặc trưng văn hoá Mông trong ngày Tết. Trong lễ hội này, sau phần lễ là hát giao duyên và các trò chơi yêu thích của người Mông như vừa kể trên. (Theo vietnamnet) Tục tắm lá mùi sáng mùng 1 Tết Vào ngày 30 Tết, người ta đi mua lá mùi già về để tắm tất niên đón chào năm mới. Đó là loại cây lá và thân ngào ngạt mùi hương rất thơm. Tết Nguyên Đán, theo nghĩa gốc Hán, "Nguyên" là "đứng đầu", còn "Đán" là "buổi sáng". Do đó, "Tết Nguyên Đán" là "Tết mừng buổi sáng đầu năm". Sáng mùng 1 tháng giêng là thời điểm quan trọng nhất, đánh dấu một năm mới chính thức được bắt đầu. Phong tục đón Tết của nhân dân ta có nhiều nét độc đáo riêng, bắt nguồn từ những điển tích, huyền thoại xưa. Những phong tục này đều thể hiện những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt và mang nhiều ý nghĩa thực tế trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Chẳng biết từ bao giờ người Việt Nam đã coi việc tắm chiều cuối năm như một thứ nghi lễ. Cùng với việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, ai cũng muốn thân thể mình sạch sẽ. Và nước lá hoa mùi không chỉ cho người ta được sạch sẽ gột rửa bụi trần, mà còn như được tắm rửa tinh thần. Mùi hương của mùi ngấm vào thịt da. Người với người gần nhau hơn, thân ái hơn, khi tắm lá mùi mùa xuân và hương thơm làm người ta tĩnh tâm sau bao mệt mỏi của cuộc mưu sinh. Từ khoảng tháng 10 âm lịch, đường phố Hà Nội đã xuất hiện những chiếc xe đạp chở phía sau những bó mùi với hương quyến luyến. Nó vốn là rau gia vị nhưng để già cao chừng bằng hai gang tay thì để đun nước tắm gội.Chi chít những quả nhỏ như hạt đỗ, cây mùi ngào ngạt hương, nhất là ngày đông giá hay khi xuân về. Từ lâu lắm rồi, người phụ nữ Việt Nam vẫn gội đầu bằng bồ kết và nước đun lá mùi. Mùi hương là biểu hiện của đồng bằng Bắc bộ, của văn minh lúa nước sông Hồng, của chốn thôn làng truyền thống. Sưu Tầm Tắm lá mùi Vào ngày 30 Tết, người Hà Nội còn có thói quen đi mua lá mùi già về để tắm tất niên đón chào năm mới. Đó là loại cây lá và thân ngào ngạt mùi hương rất thơm, thường có nhiều vào dịp Tết, mùi thơm của cây mùi già luôn gợi nhớ tới ngày Tết. Xuất hiện như tín hiệu mùa vào tháng Mười âm lịch, khi những chiếc xe đạp chở phía sau xanh um những bó mùi hương quyến luyến các ngả đường, len vào từng ngõ phố. Loài cây như cô gái mảnh mai nói với tạo vật bằng hương thơm từ khi mới lộ trên mặt đất lá mầm xanh biếc, mùi hương làm nên ý nghĩa sự tồn tại của loài cây ấy, từ tên gọi: Cây Mùi. Từ lúc xanh non đến khi già, mùi luôn được bó mớ. Lúc xuân thì, nó là rau sống, là gia vị mà ai cũng có thể ăn, thứ rau thơm kèm được với nhiều món mà không e khắc vị. Như gia vị, người ta bó mớ mùi ấy bằng sợi lạt nút mỏng; bằng bàn tay, thân mùi chừng 10 đến 13cm, để nguyên đoạn rễ (cả rễ cũng có mùi thơm), những chùm rễ trắng còn vương chút đất. Rau mùi không bao giờ thiếu trên quầy rau thơm, mẹt rau góc chợ, gánh hàng rong gánh phố trưa khê ngủ hay lúc buông chiều. Như những loài cây gieo trồng bằng hạt, cây mùi có thời gian sinh trưởng ngắn, chẳng khi nào người trồng nhổ hết. Những luống mùi già, cao chừng bằng hai gang tay chi chít những quả nhỏ như hạt đỗ, cũng ngào ngạt mùi hương, như lá, như thân mùi. Đây chính là thứ “đặc sản” không thể thiếu trong những ngày Đông giá hay khi he hé Xuân về. Những vùng ven đô hay bãi phù sa sông Hồng quanh năm trở mình mùa vụ, vào độ cuối năm lại thơm một mùi thơm toả lan và khoáng đạt. Mùi của hoa, của đủ thứ rau thơm, mùi của phù sa ngàn năm bồi lở, mùi lá và hoa mùi cắt mình lên khơi luống lan chảy vào không gian trong giác quan cảm xúc của người. Từ lâu lắm rồi, người phụ nữ Việt Nam vẫn gội đầu bằng bồ kết. Quả bồ kết nướng thơm, cho vào nồi đun sôi có thể đum thêm cả vỏ bưởi, rồi gội với chanh. Các cô cầu kỳ thích gội lá hương nhu hay đun nước cỏ mầm trầu cho tốt tóc, lại rắc thêm vài bông hoa bưởi vào độ tiết Xuân. Thời hiện đại, có biết bao loại dầu gội đầu: Sunsilk, Pantene, Essential, Enchanteur, Sifone, Clear, Head and Shoulders, Lux, Lifebouy, Mỹ Hảo, Daso.. nhưng bồ kết và hương lá mùi vẫn là loại “dầu gội” tốt nhất cho tóc, hiển lộ xuyên thời gian bằng việc vượt qua một cách ngạo nghễ bởi sự yêu thích của các cô, các bà. Mùi hương xuyên qua những thế kỷ như một trong những biểu hiện của đồng bằng Bắc bộ, của văn minh lúa nước sông Hồng, của chốn thôn làng qua bao biến thiên vẫn giữ được phong tục cổ truyền, đất lề quê thói. Những cô gái đua nhau cắt tóc tém mà tôi thấy, bỗng nhiên lại nuôi tóc dài. Dường như mái tóc dài vẫn là mốt của mọi thời đại, người con gái nuôi tóc dài, để thấy mình nữ tính hơn trong gợi cảm mềm mại, dịu dàng. Nhìn những cửa hiệu gội đầu, những đầu tóc được chăm sóc bởi những ngón tay mơn trớn, bỗng thèm được thấy cảnh bến nước giếng làng... Cây đa, bến nước, sân đình là ba hiện diện của làng quê vùng đồng bằng ngàn năm, nơi phản ánh đời sống tụ cư, tính cộng đồng gắn kết của người nông dân với quê hương, xứ sở. Hình ảnh những cô thôn nữ mặc yếm ra bến làng gội đầu chiều tất niên, bỗng thấy như huyền thoại, khiến ta như trở về ấu thơ với niềm tin một ngày được gặp những cô tiên giáng trần thường tắm gội vui đùa rồi thay xiêm y mới. Còn những-cô-tiên-tóc-đen trong tiềm thức ấy của tôi, thì đang bay khắp trần gian suốt mùa Xuân cùng hương lá và hoa quả quyến rũ. Quyến rũ, với những cảm giác thánh thiện, mơ mộng và ngọt ngào hơn tất cả những loại nước hoa đắt tiền, sang trọng. Tắm tất niên bằng nước đun với lá mùi gắn với tâm thức người Việt như một nghi thức tất yếu. Người muốn tắm gội nước lá hoa mùi, đã được thoả mãn vào cữ tháng Mười, nhưng hầu hết tất cả mọi người đều thấy cần phải tắm gội thứ nước ấy vào chiều cuối cùng của năm (âm lịch). Cùng với việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, ai cũng muốn thân thể mình sạch sẽ. Và nước lá hoa mùi, không chỉ cho người ta được sạch sẽ, gột rửa bụi trần, mà còn được tắm rửa tinh thần, để cả tâm hồn và toàn thân thể được tinh khiết, thơm tho, thanh thản trong cảm giác bay bổng, yên bình. Mùi hương của mùi ngấm vào thịt da, như thể con người vừa làm nghi lễ cho mình. Tôi cho rằng việc tắm gội lá mùi chiều ba mươi Tết là nghi lễ thuộc về văn hoá tinh thần. Nó tồn tại không nhất thiết phải hiện hữu trước mắt, mà trong ý nghĩ, hồi ức và hoài niệm của chúng ta. Hoài niệm về những cái còn, cái mát. Như những ngôi nhà cổ cuối cùng và những bức tranh phố cuối cùng còn lại ở Việt Nam của Bùi Xuân Phái. Như những khuôn mặt già nua của các bà hàng xén, hàng rau với mẹt rau có những mớ rau thơm bé xíu “lướt” vào chiều không gian xa ngái khi mà các siêu thị đang tới tấp mọc lên. Như bóng dáng ông đồ viết câu đối mừng năm mới. Như tiếng pháo nổ giòn trong truyện, thơ và ký ức... Người với người gần nhau hơn, thân ái hơn, khi tắm lá mùi mùa Xuân và hương thơm làm người ta tĩnh tâm sau bao mệt mỏi của cuộc mưu sinh và vòng quay bon chen, tham vọng... Hình như khi một cô gái mang hương lá mùi trên thân thể, ai cũng muốn gần cô hơn. ý thức bản năng và giới tính trước mùi hương gợi cảm và tinh khiết, được bao bọc bởi niềm đam mê thanh sạch. Tôi như thấy các mẹ, các bà trẻ lại, khi tắm gội nước lá mùi và hong tóc trước sân. Những sợi lá mùi vương vào mái tóc nhiều muối tiêu của bà gội xanh người về thời son trẻ Tôi vẫn tin ở sự bền vững của những tình yêu lớn lao và cao cả. Như vẫn sung sướng với niềm tin vào nghi lễ tắm gội lá mùi, một nghi lễ linh thánh gắn kết vĩnh viễn những cặp uyên ương, những cặp vợ chồng mãi là người yêu của nhau nhờ mùi hương vượt qua mọi giới hạn khi phu thê quấn quýt tắm gội cho nhau bằng nước lá mùi, để tình yêu không bao giờ có tuổi, lại thăng hoa trong cảm xúc tươi mới, hồn nhiên, đằm thắm vô bờ. Vi Thùy Linh Tết nhảy của người Dao Đỏ (Lào Cai - Tả Phìn) chứa đựng nhiều giá trị văn hóa cổ. Tết nhảy của người Dao đỏ được tổ chức vào khoảng ngày 1 – 2 Tết Nguyên đán. Trong những ngày này, lễ tết diễn ra ở nhà ông trưởng họ, do ba họ lớn của người Dao nơi đây (Tả Phìn) là Lý, Bàn, Triệu đứng ra tổ chức. Nghi lễ chính trong lễ tết này là các điệu nhảy do một tốp nam nữ (sài cỏ) trong làng thể hiện dưới sự hướng dẫn của thầy cả (chái peng pi). Có rất nhiều điệu nhảy như: nhảy mở đường, nhảy bắc cầu đưa đón thần linh về dự tết, điệu nhảy mời tổ tiên, bố mẹ bằng một chân, đầu cúi thấp, ngón tay trỏ giơ cao; điệu nhảy mời tiên nương, tiểu nữ giáng trần được diễn tả bằng điệu múa cò (pè họ) mô phỏng cò bay; điệu múa mời tổ sư thầy cả về dự tết diễn tả kiểu đi của hổ (mùng hú)... Mỗi điệu nhảy múa đều mang tính hình tượng cao, diễn tả cảnh các thiên thần, tổ tiên về hạ giới dự tết với con cháu. Sau nghi lễ nhảy múa là lễ rước và tắm tượng tổ tiên, kế đến là điệu nhảy dâng gà trống đỏ, gà trống vàng... Kết thúc là điệu múa cờ. Nghi thức rước và tắm tượng Tiếp theo sau nghi lễ chính, cả dòng họ làm lễ rước và tắm tượng tổ tiên. Tượng tổ tiên được làm bằng gỗ, cao khoảng 20 –25 cm, đường kính thân 5 cm. Tượng được chạm khắc đẹp với trang phục thời cổ xưa, ở bàn tay phải của các tượng đều cầm thẻ bài ghi rõ tên ông tổ. Ngày thường, tượng được bọc kín bằng vải trắng. Ngày tết được con cháu rước xuống làm lễ tắm gội, thay khăn choàng mới. Nước tắm là thứ nước thơm chế từ loại vỏ cây “sum mụ”. Nhảy dâng gà Sau lễ tắm gội cho tượng, con cháu lại tổ chức các điệu nhảy dâng gà. Thầy cả và 3 thanh niên tay cầm gà trống đỏ và vàng nhảy theo nhiều động tác dâng gà, có động tác rước gà trên đầu, có động tác “vác” gà qua hai vai, có động tác vừa múa vừa vặt đầu gà… Kết thúc Tết nhảy của người Dao đỏ là điệu múa cờ. Tết nhảy của người Dao đỏ (Lào Cai - Tả Phìn) chứa đựng nhiều giá trị văn hóa cổ, đâu đó vẫn còn phảng phất tín ngưỡng thờ gà làm vật tổ (Totem giáo), cầu mong sự bảo hộ và che chở của vật tổ cho sự phát triển và tồn tại của tộc người mình. Ngoài ra, lễ tết này còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong nghi thức thờ cúng tổ tiên (mời, rước và tắm tượng gỗ - hay lễ mộc dục). Mùa xuân là mùa của sự giao hòa giữa trời và đất, mùa của những lễ hội vui tươi. Nếu yêu thích những lễ hội dân tộc, xin mời bạn hãy đến với xứ sở sương mù để tắm mình trong không khí lễ hội của Lào Cai quê mình (Theo Viettravel)
  14. Phong tục đón Tết của người Mường Về trình tự và phong tục, có lẽ Tết của người Mường là gần với Tết của người Kinh nhất. Dân tộc Mường hiện còn khoảng gần một triệu người, cư trú chủ yếu ở Hoà Bình, Hà Tây, Vĩnh Phú, Sơn La, Thanh Hóa. Trong đó nhiều nhất là ở Thanh Hoá (trên 22 vạn người). Họ sống hiền hoà trong các thung lũng được khép kín bởi những triền núi đá vôi bao quanh. Mường Bi (Hoà Bình) là một trong những Mường cổ nhất. Tết đến, xuân về, người Mường rất coi trọng đền thờ Thành Hoàng làng. Việc đầu tiên mà các cụ già trong làng nhắc con cháu phải làm trước Tết là ra đền để dọn dẹp, lau rửa sạch sẽ đồ thờ cúng. Giáp Tết, nhà nào cũng tất bật làm bánh dầy, bánh chưng, đóng oản và trang trí nhà cửa. Người Mường xưa, không ăn Tết ông Công, ông Táo như người Việt, vì thế Tết bắt đầu từ ngày 27, 28. Đêm 30, tức ngày "chín cối tháng ba" theo lịch của người Mường, tất cả con cháu sẽ tụ tập ở đền thờ để làm lễ "khai sáng". Lễ này được cúng cả bằng lễ chay và bằng lễ mặn. Lễ chay gồm các loại hoa quả trong vườn, càng nhiều càng tốt, để tổ tiên, thánh thần phù hộ cho mùa xuân mới nhiều lộc, hoa, trái. Lễ mặn gồm oản, gà, thịt, bánh dầy, bánh chưng. Trước đây, ngày Tết người Mường chỉ ăn thịt lợn, thịt gà chứ không có giò, chả, mọc như người Kinh. Đến thời điểm sang canh thì con cháu tất cả phải ở phía ngoài đền, chỉ có ông Trùm, ông Seo và những người già trong bản mới được vào đền làm lễ. Sau khi lễ ở đền, mọi người ai về nhà nấy đón giao thừa. Một thủ tục không thể thiếu trong đêm giao thừa của người Mường đó là một lễ cúng ngoài trời gồm một con cá diếc và một cái bánh chay. Sáng ra, lễ này được mang cho con trâu ăn trước, vì họ cũng quan niệm như người Kinh - "con trâu là đầu cơ nghiệp", cho con trâu ăn trước để con trâu đi làm. Với người Mường, việc thờ cúng ngoài trời rất quan trọng nên trong những ngày Tết nhà ai cũng chuẩn bị cho mỗi thành viên trong gia đình một cây hương để cúng bản mệnh ngoài trời. Món ăn trong ngày Tết của người Mường từ xưa đến nay không bao giờ thiếu bánh chưng và bánh dầy để biểu hiện trời tròn, đất vuông và cũng là để tưởng nhớ đến ông vua của người Mường là Vua Lang. Gia đình nhà nào thờ cúng bao nhiêu người thì làm bao nhiêu cái bánh chưng. Trong ba ngày Tết, người ta chỉ tết cha, tết mẹ và tết thầy cúng - những người quan trọng nhất trong quan niệm của họ. Trong ngày tết của người Mường, có một phong tục đặc sắc mà họ còn lưu giữ được là hát sắc bùa. Đây là một thể loại hát chúc tụng năm mới. Ngày mùng 1, mùng 2, trẻ con Mường dắt nhau đi hàng đàn, đánh cồng rộn ràng, miệng hát sắc bùa. Đi qua nhà nào thì nhà ấy mở cửa cho trẻ ít tiền hoặc bánh. Trong ngày xuân, hội cồng Mường là hội không thể thiếu. Đi chơi ngày Tết, người ta mặc những bộ quần áo đẹp nhất. Phụ nữ Mường Bi, Mường Chậm (Hoà Bình) mặc váy đen, áo trắng ngắn, cạp váy to dệt hoa văn trang nhã, đầu quấn khăn màu trắng, áo trắng phủ ra ngoài che một phần cạp váy, lấp ló chiếc yếm dệt hoa văn bên trong. Ở Mường Thanh Hoá, trang phục đậm đà trầm ấm hơn: khăn chàm thẫm, thêu hoa, áo cánh đủ màu với hai gam chính là xanh nhạt và vàng nhạt và cạp váy thường quấn ra ngaòi áo... Cạp váy với những hoa văn, với những mảng màu bị đập vụn, y phục Mường không có những mảng màu sắc chói chang... Trong những ngày Tết, nếu chưa được sự cho phép của ông Trùm thì không ai được phép ra đồng làm việc. Đến ngày 7 tháng Giêng là ngày lễ lớn nhất của người Mường, đây là lễ hội "mở mắt cồng, mắt lệnh", lễ hội "xuống đồng". Từ 5 giờ sáng, người dân trong bản tập trung tại phủ thờ Thành Hoàng. Theo phong tục của người Mường thì trước khi mở hội Cồng Chiêng, làng phải có một thủ tục làm mâm lễ trình với các vị Thánh trong làng. Mâm lễ bắt buộc phải có một con lợn "non 5 già 3" để làm cỗ vành 3-5-7-9 tính từ trong ra. Mở đầu lễ hội Cồng Chiêng, ông Trùm sẽ có lời trình báo với dân làng rằng: "Lang co le chao khoan". Sau đó ông Trùm sẽ đánh ba hồi chiêng đầu, sau đó con chá mới được bước vào phủ để làm lễ, và tiếng chiêng kết thúc cũng là lúc kết thúc phần lễ ngày hôm đó... Ngày nay, phong tục lễ của người Mường cũng có nhiều thay đổi. ở nhiều nơi họ cũng bắt đầu ăn Tết 23 tháng Chạp, cũng mua cá về nhà để thả, việc thờ cúng cũng gọn nhẹ hơn. Nhiều trò chơi dân gian vẫn được tổ chức nhưng cũng có thêm các trò chơi hiện đại thu hút nhiều người tham gia. (Tổng hợp) Nguồn: giadinhtoi Tết của người Thái Bữa cơm Tết của người Thái có một món không thể thiếu, đó là cá, với các món nướng, chua, khô... Người Thái ở VN có khoảng hơn 1 triệu người, chủ yếu sống ở Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An. Đối với người Thái nhiều vùng, thường 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm, sau đó là nghỉ ngơi chơi Tết. Sáng ngày 27 hoặc 28, ông trưởng bản chủ trì tổng vệ sinh cho cả bản. Tối 29 bắt đầu gói bánh chưng. Người Thái thường gói hai loại bánh chưng màu đen và màu trắng. Để làm bánh màu đen, họ đốt rơm lên, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sẩy sạch muội tro mà vẫn giữ lại màu đen. Nhiều nơi không cho nhân bánh. Người ta quan niệm hương vị của Tết ở trong bánh chưng chủ yếu thể hiện ở hương vị của lá dong, và đó cũng là cái chủ yếu để dâng lên tổ tiên (ma nhà). Sáng 30, các nhà luộc bánh chưng và thịt lợn. Tối 30 là bữa cơm tất niên, có sự góp mặt của bà con, bạn bè, rồi cả đêm người ta thức uống rượu, nhang không bao giờ tắt. Sau lễ cúng giao thừa bằng thịt, bánh, các đồ thổ cẩm, bạc nén..., nhà nào có chiêng hay cồng thì mang ra gõ tại nhà. Cũng không thể không nhắc tới phong tục gọi hồn của người Thái. Vào tối 28, 29 hoặc 30, gia đình người Thái thịt hai con gà, một để cúng tổ tiên, con còn lại dùng để gọi hồn cho mọi người trong nhà. Để gọi hồn, thầy cúng lấy của mỗi người một chiếc áo, bó lại một đầu với nhau, vắt lên vai, tay thầy cầm một thanh củi đang cháy, rồi mang ra đầu làng gọi hồn hai ba lần, sau đó về chân cầu thang lại gọi một lần nữa. Xong việc, thầy cúng đích thân buộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà, sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu dứt đứt thì chủ nhân dễ bị ốm. Thiếu nữ Thái Sáng mùng một người Thái dậy sớm, múc nước luộc bánh chưng cho mỗi người uống một ít, có lẽ để phòng đau bụng! Các người nữ trong nhà hôm mùng 1 được đem xôi đã đồ ra quạt ở giữa gian cúng ma nhà (bình thường họ không được 'bén mảng' đến khu vực đó!). Sau đó người ta dọn ra hai hoặc ba mâm cúng, mâm đặt trên cao là để cúng tổ tiên nhà chồng, còn mâm thấp cúng tổ tiên nhà vợ. Cúng xong, tất cả con trai trong lui vào để cho phụ nữ ăn trước, và chỉ như thế mỗi ngày mùng 1 thôi. (Hàng ngày, phụ nữ ăn cùng hoặc ăn sau đàn ông). Bữa cơm Tết của người Thái có một món không thể thiếu, đó là cá, với các món nướng, chua, khô... Người Kinh mùng 1 kiêng đến nhà, nhưng người Thái thì mùng 1 đã đi nườm nượp đến nhà nhau chúc Tết. Họ chỉ kiêng vứt lá dong xuống gậm sàn, kiêng quét nhà vào ngày mùng 1. Tối ngày mùng 1 họ đã làm lễ tạ. Từ chiều mùng 1, thanh niên bắt đầu đi chơi, và muốn đi chơi đến bao giờ thì đi, đến làng nào ăn uống ở làng ấy, có khi đi đến qua cả mùng 10 mới về. Các trò chơi khá náo nhiệt, gồm đánh cầu lông (cầu lông gà), ném còn; khắc loỏng... (Theo Vietnamnet)
  15. Phải chăng đây là dị bản của Đại hồng Thuỷ và Bọc trứng của Lạc Long và Âu Cơ Cao Bằng: Di chỉ ngườm Bốc Truyền thuyết Pú Luông, Giả Cải và di chỉ ngườm Bốc Luông và Cải là hai anh em. Người ta gọi Luông, Cải dựa vào vóc dáng của họ, tên đặt không phải để phân biệt với người khác.Sau cơn đại hồng thủy không còn người thứ ba. Hai anh em may mắn chui được vào trong một quả bầu khổng lồ nổi lềnh bềnh nên sống sót. Khi trẻ họ là Báo Luông, Sao Cải (trai to, gái lớn). Lúc cao tuổi họ được tôn là Pú Luông, Giả Cải (ông to, bà lớn). Nguồn gốc cơn đại hồng thủy, chương tổng thiên (cánh đồng trời) của Pụt Tày kể rằng: Ngày xửa ngày xưa trời cách đất không xa, người giơ rìu bổ củi còn chạm tới. Lại có mười hai mặt trời liên tục chói chang, đất đai nứt nẻ khô cong, nhân loại điêu đứng. Trước nguy cơ diệt vong, mọi người cầu xin một chàng Thiện Xạ đi bắn hạ mặt trời. Chàng Thiện Xạ leo lên đỉnh núi, dương cung bắn hạ được mười mặt trời. Mặt trời thứ mười một bị mũi tên sượt qua tuy không rớt nhưng xì hết hơi nóng trở thành mặt trăng, chỉ sót một mặt trời nguyên vẹn. Hai cái sau sợ quá trốn biệt tăm. Đất trời sầm lại, tối đen như mực, mưa đổ không ngớt, lũ dâng ào ào. Phút chốc mọi thứ đều chìm đáy nước, thiên hạ không ai chạy thoát. Cầm thú nháo nhác, bầy chim cánh ngắn cánh dài họp nhau quyết định cử gà trống đi gọi mặt trời. Mặt trời chốn tít tận ngoài biển đông. Gà trống không biết bơi, tập thể phải nhờ vịt cõng gà tới đó. Nghe tiếng gà gáy, mặt trời ló rạng, mưa tạnh mây quang, nắng hồng khắp nơi. Nước rút rất nhanh, Quả bầu dập dà dập dềnh cuối cùng mắc cạn(tiếng Tày: Vạn). Nó quệt chạm đất ở một mỏm đồi rộng rãi thoai thoải, tạm gọi là đồi Vạn. Luông dìu Cải từ cuống bầu chui ra. Phong cảnh thật thê lương. Bốn bề toàn bùn nhão nhoét, những cổ thụ chết úng trơ thân trụ phủ quánh lớp đất nâu xỉn, đụng vào đâu đều nhớp nhúa. Nhu cầu trước mắt hai người là phải tìm được một nơi có thể đặt chân đặt tay. Họ ngỡ ngành đứng quan sát Phía tây trùng trùng dãy núi đá vôi, nơi ấy cao, nước không ngập tới. Luông dắt Cải đi hướng đó. Men theo chân núi họ phát hiện một cái hang thật lý tưởng. Đó là Ngườm Bốc, tức cái hang Cạn. Cửa hang rộng, vòm cao, đi sâu vào đoạn cuối có ngách thoát, nền đất bằng phẳng, vừa khô vừa thoáng. Tiện nhất ngay cửa hang xuống vài bước sẵn mỏ nước chảy trong vắt lúc nào cũng ăm ắp tràn trề. Quanh đó, cây cỏ bết bùn khô cứng như những miếng mo, bước chân người dẫm qua, tiếng vỡ vụn lạo xạo, không còn thức gì có thể cho vào mồm được. Tuy nhiên Báo Luông, Slao Cải vẫn tìm được cái ăn nước rút rồi các loài thủy sản dồn về chỗ trũng nhiều vô kể, chỉ việc đến nơi vũng cạn, suối nông bắt lấy. Dễ hơn cả là nhặt ốc, đủ loại: ốc nhồi, ốc bươn, nhiều nhất ốc vặn. ốc vặn tuy con nhỏ, vỏ cứng, ít thịt nhưng được cái ê hề chúng tập trung bám vào nhau tựa những viên sỏi. Chỉ việc nhặt đem về hang dùng cục đá ghè vỡ vỏ, nhặt phần thân mềm nhai. ăn sống như vậy tuy nhơn nhớt người văn đủ dinh dưỡng khỏe mạnh. Thế rồi một đêm có cơn dông tố sấm chớp đùng đùng. Sáng ra xuống bờ mỏ nước, ngước nhìn đỉnh núi thấy cột khói ngùn ngụt bốc cao, anh em kéo nhau lên xem. Đó là một thân cây to chết khô từ lâu bị sét đánh trúng phát lửa. Trong hốc có ổ sóc hay chột gì đó cháy đen thui. Báo Luông, Slao Cải chia nhau ăn thấy ngon lạ thường. Anh em bèn đem lửa từ nơi đó về hang. Nơi đó được gọi là Lũng Phầy (Lũng Lửa) ở Phia Ngả. Trong núi san nhiều cây khô, mục, anh em vác về giữ cho lửa cháy nhấm suốt đêm ngày. Từ đấy họ không còn lo đêm lạnh. ốc đem về vùi cạnh đống than hồng nóng sôi sủi bọt, thân quắt lại, nắp miệng há ra, dùng gai rừng nhể lấy dễ dàng. Bữa ăn vừa ngon, vừa dễ dàng, ốc trở thành thức ăn hàng ngày, vỏ ốc chất dần thành đống. Ngườm Bốc , Lũng Phầy nay thuộc xã Hồng Việt, huyện Hòa An. Thời gian thấm thoát, Báo Luông, Slao Cải trưởng thành, xuân tình rạo rực, nhưng không thể tìm ra bạn. Họ rủ nhau xuống mỏ nước tắm, anh tắm vũng trên, em tắm vũng dưới. Thế rồi người em ba tháng sau thấy trong người khác lạ, bảy tháng sau thấy trong người khác thường. Thai đến kỳ thì ra hoa đến hạn thì nở. Lạ thay thai sinh chỉ là một bọc mềm mềm nhẵn trơn. Luông, Cải vừa sợ vừa tò mò, dùng mảnh đá sắc khía xem trong bọc có gì. Thì ra hết lớp này đến lướp khác chỉ toàn những mảng nhầy nhầy máu mủ. Họ dọn đống dơ dáy đó ra ngoài hang, bẻ cành cây phủ kín. Chuyện đã quên đi, bỗng nhiên thời gian sau, từ đống dơ dáy đó ùa ra một lũ trẻ con. Chúng kéo nhau vào hang nhao nhao kêu đói, Cải phải đặt cho mỗi đứa một cái tên để khỏi lẫn đứa này với đứa khác. Trước đây chỉ hai miệng ăn, cái ăn dồi dào. Nay thêm lũ con đông, ốc, cua không thề đủ. Luông, Cải phải dẫn chúng đi xa, tới bãi có lúa mọc hoang Nà Coóc (ruộng thóc) tự tay mỗi đứa bứt từng bông đem về hơ trên lửa nổ lép bép rồi nhặt ăn. Hàng ngày đi lại xa như vậy tốn công vô ích, vả lại người đông hang cũng thành chật chội, ngườm Bốc không còn thích hợp, Luồng, Cải tính chuyện phải rời ở nơi khác thuận tiện hơn. Họ nhớ địa điểm quả bầu mắc cạn khi trước, đồi Vạn. Nơi đó rộng rãi, ở trung tâm đi phía nào cũng gần, cao ráo mà không xa nước, duy chỉ khó một điều là không sẵn hang. Việc ấy đến nay không lo, sức người (ra san. Báo Luông, Slao Cải đưa đàn con đi lấy cột ở Chỏ Sliêu (tổ cột) đi cắt gianh ở Pò Cà (đồi gianh) đem về dựng một loạt chòi sàn quanh mỏm đồi, trở thành bản đầu tiên. Xưa là Đồi Vạn, nay trở thành Bản Vạn. Gần kề Bản Vạn có Phia Ma (núi chó) chó tập trung đông. Đặc tính loài chó thích sống gần người, chúng quanh quẩn kẻo về sống dưới chòi sàn. Chúng chạy theo người hỗ trợ đắc lực việc săn bắt và được người xẻ chia lợi phẩm thu được . Chó đã giúp gia đình Luông cải thuần hóa các gia cầm: Vịt ở Lậu Pất (chuồng vịt), gà Rằng Cáy (ổ gà); các gia súc: Bò ở Nà Mò (ruộng bò), trâu Nà Vài (ruộng trâu), ngựa Nà Mạ (ruộng ngựa), lợn Coỏc Mu (cũi lợn). Chúng cũng giúp xua đuổi thú dữ ra xa nơi cư trú; sói chạy lên Khau Hân (đồi sói), hổ trốn về Ngườm Slưa (hang cọp) thuồng luồng ẩn thân nơi Khuôn Ngước (khe thuồng luồng). Về cách chế biến cái ăn, con người cũng khéo dần. Ban đầu tất cả đều chỉ nướng trực tiếp trên lửa, sau Báo Luông, Slao Cải đem thóc đi giã ở Sộc Khăm (cối râm), ngâm đãi cho sạch trấu cám ở Po Má (Bố ngâm). Gói gạo khoét đất đặt xuống rồi vùi tro đốt lửa lên trên cho chín thành cơm ở Nà Mỏ (ruộng nồi) đem rau xuống mảnh đá khum khum sào chín ở Po Héc (Bố chảo). Con cái ngày càng lớn, Báo Luông, Slao Cải hướng dẫn chúng đắp bờ nơi đất bằng, đưa nước vào, nhổ những dảnh lúa hoang đem cấy tạo thành những thửa ruộng, thóc thu được nhiều ăn từ vụ trước tới vụ sau. Họ không phải đi cấy đi săn bắt hái lượm tự nhiên như trước. Rồi họ còn biết đưa những cây cần thiết về trồng tập trung thành Sluôn ỏi (vườn mía), Khau Thúa (đồi đỗ), Pò Phải (gò bông) . Họ dùng bông dệt thành sống áo, không dùng bẹ chuối, mo khô để che thân như xưa. Đời sống ổn định. Pú Luông, Gia Cải tuổi ngày càng cao. Việc đồng áng do các con ông bà chỉ việc giữ nhà.Tuy nhiên nhiều con nhiều rắc rối. Đứa nào cũng tự cho mình là khôn, là giỏi, chỉ muốn làm thầy. Tị nhau chia buồng chuối nải to nải bé, tranh nhau làm đám ruộng này tốt, đám kia xấu. Suốt ngày ông bà nhức cả đầu về chuyện phân xử, cuối cùng đành quyết định chia chúng đi ở mỗi đứa một nơi. Ông bà phán: Thằng Bế ở Bản Vạn, thằng Đoạn đi Bản Ngần Thằng Đàm đi Ảng Giàng thằng Hoàng đi Đâu Ngả Thằng Lê đi Bằng Hà, thằng Hà đi Đà Lạn Thằng Đinh đi Khau Mắng, thằng Đặng đi Pò Lài. Vâng theo lời phán, mỗi người con đến nhận nơi được chia, lập bản mới: tên của người con sau trở thành tên dòng họ bản đó. Suốt thung lũng, dọc hai bờ sông chính của vùng, mọc lên những bản làng đông đúc, trù phú. Pú Luông, Gia Cải cùng thằng Bế Ở Bản Vạn. Sau khi ông bà mất, các con lập đền thờ trên gò đất ven suối Sẩy, giữa cánh đồng Bản Vạn. Đến nay xuân thu sóc vọng vẫn hương khói thường xuyên. (Theo Tạp chí NN-CB)
  16. Mình không nhớ nổi, vừa đọc hôm kia mà đã quên. Khi nào tìm thấy mình sẽ dẫn link.
  17. Trăng rằm gây hiểm họa Ẩn sau vẻ đẹp thơ mộng của chị Hằng là sức tàn phá ghê gớm mà xung lực mạnh nhất tập trung vào những ngày rằm. Các vụ động đất, các ca bộc phát bệnh tật thường gặp nhiều vào ngày này. Từ xưa đến nay, người ta đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để ca ngợi vẻ đẹp thanh bình, hiền hòa, của chị Hằng trong những ngày trời trong gió mát. Thế nhưng, ít người biết được rằng ẩn giấu bên trong bóng hình thơ mộng ấy là một sức tàn phá ghê gớm khôn lường mà xung lực mạnh nhất được tập trung vào những ngày rằm hằng tháng. Trăng rằm không chỉ là thủ phạm gây ra những tai họa tức thời cho con người mà nó còn gieo mầm hiểm họa sâu xa ẩn khuất không dễ gì thấy được. Rõ nhất và cũng khốc liệt nhất là những trận động đất. Hầu hết các trận động đất lớn xảy ra trong suốt thập niên qua (1993-2003) xảy ra vào đêm của những ngày sóc (mùng 1) và ngày vọng (ngày 15), hoặc dao động xung quanh các ngày đó. Trăng rằm cũng ảnh hưởng khá toàn diện đến thể chất và tâm hồn của con người. Từ hơn 6.000 năm về trước, con người đã biết đến những tác động tiêu cực của ánh trăng lên sự sống, gây ra những biến đổi rõ rệt về tâm sinh lý, đặc biệt là đối với phụ nữ thuộc bản thể âm. “Dưới ánh trăng rằm, phụ nữ dễ bị mê muội” - đó là lời cảnh báo được các nhà thông thái thời xưa ghi lại trong một ngôi đền cổ ở Ai Cập. Còn trên một chiếc bình cổ được tìm thấy tại Hy Lạp có niên đại từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên đã mô tả: Tất cả các đồ vật đều ngả theo ánh trăng. Trong một bài viết có nhan đề “Mặt trăng có điều khiển tâm tính của bạn không?” đăng trên tạp chí Newsciences, tác giả Edga Zigler cho biết: Sở Cứu hỏa Phoenic thuộc tiểu bang Arizona (Mỹ) báo cáo, số cuộc gọi điện thoại tăng 25-30 lần vào những đêm trăng rằm. Các vụ phạm tội và tai nạn cũng tăng vọt khi trăng tròn. Do đó, cảnh sát Nhật và một số bang ở Mỹ đã có quy định tăng cường tuần tra vào những đêm trăng tròn. Trăng rằm gây biến đổi tâm sinh lý rõ rệt đến mức trong tiếng Anh ngày nay có thêm các từ mới nhằm chỉ những người lâm vào trạng thái đó như lunancy (chứng điên rồ – xuất xứ từ tiếng latinh "luna" là mặt trăng), Moonstruc (đồ hâm, đồ gàn dở, trong đó "moon" là mặt trăng)... Hiện tượng mộng du, động kinh, tâm thần cũng được xác nhận là có liên quan trực tiếp đến chu kỳ hoạt động của mặt trăng. Những ngày trăng tròn thường là thời điểm người mộng du hay hoạt động nhất, người bị động kinh hay lên cơn nhất, bệnh nhân tâm thần bị kích động mạnh nhất. Và thực tế là nếu để ánh trăng chiếu vào gối, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, uể oải với những giấc ngủ bất an. Mặt trăng và khí âm Các nhà dịch lý học Việt Nam thời xưa cũng đã hiểu biết sâu sắc về tác động có hại của nguồn sáng trăng rằm và đã nói điều đó qua những câu ca dao. Chẳng hạn, vào những ngày nguyệt kỵ thì “làm gì cũng chẳng có ra việc gì” hay “đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn”. Hay như: “Trai mồng một gái hôm rằm. Nuôi thì nuôi vậy trong lòng vẫn căm”... Đó là bởi những đứa trẻ sinh ra vào đúng ngày đã bẩm thụ nặng nề hoặc là khí dương của mặt trời nhật thực, hoặc là khí âm của trăng rằm nên bị mất cân bằng âm dương, dẫn đến biểu hiện một số tính cách thái quá trong cả cuộc đời. Khoa học và dịch lý học giải thích rằng, nguồn khí âm thái quá của ánh trăng trong ngày rằm là căn nguyên tạo ra trạng thái thần kinh không quân bình, dẫn tới tính khí thất thường, ngang ngạnh, u tối hay tâm lý bất ổn, hoảng loạn. Như thủy triều ngoài đại dương, sức hút của mặt trăng đã gây ra trạng thái “thủy triều máu”, “thủy triều sinh học” trong cơ thể con người. Nó chính là nguyên nhân gây nên những kích thích thần kinh đến khủng hoảng, bị rối loạn và mất thăng bằng, làm trầm trọng thêm các chứng bệnh thần kinh và là nguyên nhân trực tiếp của nhiều vụ tai nạn, tự tử, ngộ sát, phạm tội... Cũng chính “thủy triều máu” đã làm cho máu chảy mạnh trong huyết quản, gây nguy hiểm cho các ca mổ (không chỉ làm bệnh nhân mất máu nhanh mà còn giảm sự minh mẫn, chính xác của phẫu thuật viên). Nó còn làm cho thuốc tiêm khó được cơ thể con người tiếp nhận, dễ bị phân rã và đào thải. Vì thế mà nhiều nhà khoa học cho rằng cần xem xét việc định ngày giờ cho các ca mổ, đồng thời đề cao thuyết “nguyệt y học” (về ảnh hưởng của mặt trăng đến y học). Sức mạnh của nguyệt thực Mặt trăng tròn vành vành của ngày rằm đã nguy hiểm, nhưng nếu nó bị mặt trời che lấp đi (nguyệt thực) thì cơn cuồng nộ của chị Hằng còn khủng khiếp hơn nữa. Những trận động đất, sóng thần, lũ lụt, hạn hán lớn đều xảy ra vào những năm có nguyệt thực xuất hiện, ngay khoảng thời gian trước đó không xa. Chẳng hạn như các trận động đất ở Đường Sơn (Trung Quốc), Cobe (Nhật Bản) đã cướp đi hàng chục ngàn sinh mạng. Các vụ hạn hán ở khu vực miền tây và trung Mỹ trong 400 năm qua với chu kỳ 18,6 năm một lần đều rơi vào những năm có nguyệt thực. Người xưa có lẽ không sai khi cho rằng nguyệt thực là triệu chứng chẳng lành; nó như một điềm báo trước sẽ có thiên tai dịch họa. Tại sao mặt trăng lại có ảnh hưởng to lớn đến thế? Giới nghiên cứu cho rằng trăng rằm có độ lạnh (âm) rất cao, nhưng nhiệt độ phân bố không đều trên bề mặt tinh cầu này đã tạo ra một nguồn khí âm không đồng nhất: Vùng ngoài quá lạnh còn lõi giữa lại quá nóng. Chính luồng khí âm đặc thù như vậy đã làm cho phụ nữ bị mê muội, còn những người khác thì tâm sinh lý mất cân bằng (ít nhiều tùy thuộc vào mỗi bản thể). Trong quá trình xảy ra nguyệt thực, do nguyệt cầu không nhận được ánh sáng từ mặt trời nữa nên nhiệt độ giảm đi rất nhiều và rất nhanh. Trong khoảng 2 giờ đồng hồ, nhiệt độ có thể tụt từ 0 độ xuống -117 độ, nghĩa là giảm gần 200 độ. Sự giảm nhiệt đột ngột và nhanh chóng cùng hiệu số lớn đã tạo ra những xung biến mạnh và dồn dập. Thêm vào đó, sự chuyển động vòng quanh trái đất của mặt trăng luôn kèm theo dao động lắc ngang lắc dọc đã tác động đến nguồn khí âm, khiến lực hút cũng phải dao động theo nhịp điệu của chị Hằng. Chính nguồn khí âm luôn biến động ấy đã gây nên những kích thích địa chấn, gây biến đổi thời tiết, tác động nguy hiểm cho quả đất và cho con người. (Theo Sức Khỏe & Đời Sống) Không chỉ cần 1 mình ta sống trong rừng thì sẽ trở thành người rừng mà chỉ cần trong tp này không có ai sống cùng ta thì ta cũng sẽ trở thành người gì đó. Cs của mỗi chúng ta hay bất cứ thứ gì đều bị ảnh hưởng của những thứ khác, những hiện tượng, sự việc và thế giới xung quanh. "Con gà tức nhau tiếng Gáy". Dù gì thì sự ảnh hưởng của MT lên thế giới này cũng đã được xác đinh ít nhất từ 5000 năm trước!
  18. Chào bạn!Hôm qua tôi đọc ở đâu đó (kô nhớ được) nói về sử Ca của Ấn độ, theo tác giả thì đó là dị bản của Sử thuyết Họ hùng. Thân chào!
  19. Những nhà khoa học như bạn hoặc Cộng đồng khoa học khi muốn chứng minh điều gì cũng đòi bằng chứng kể cả nền văn hiến Việt. Tuy nhiên có nhiều bằng chứng sờ sờ ra đó thì bạn lại phủ nhận. Kim tự tháp là 1 bằng chứng, ngày nay cho dù chúng ta có tự hào rằng nền văn minh khoa học của chúng ta đã phát triển vượt bậc so với cổ nhân, nhưng cũng chính từ những cái miệng đã từng phát biểu ấy lại thừa nhận bó tay với việc xây dựng và khám phá Kim tự tháp. Có lẽ do TỰ NHIÊN tạo ra hoặc theo phương Tây là do chúa. Kim tự tháp là cái hiên hữu mà bất cứ ai cũng có thể chiêm ngưỡng chứ nó không mơ hồ như kiểu tam Giác quỉ BAMUDA hay thế giới siêu hình hoặc các hiện tượng tâm linh đang sảy ra trên mọi miền của ngay đất nước nhỏ bé này. Qui luật phát triển của XH loài người và mọi thứ trên trái đất này đều có sinh có diệt (Sinh, mạnh, lão, tử) giống như hình SIN mà các nhà khoa học đã từng công nhận. Không có gì được gọi là vĩnh cửu trong vũ trụ này, có chăng chỉ là thời gian dài hay ngắn. Tuy nhiên cũng theo các nhà KH thì chúng ta sẽ phát triển mãi mãi và không ngừng có nghĩa lúc nào chúng ta cũng trong tình trạng đang leo đến đỉnh hình SIN và chúng ta cứ leo lên 1 bước thì hình SIN lại cao thêm 1 bước. Thế giới đang tồn tại những điều mà đến nay khoa học của nền Văn Minh hiện đại chưa giải thích 1 cách thuyết phục, nhưng không vì thế chúng ta lại chỉ với những định kiến của mình phủ nhận điều đó.Trong bài bàn về dựng quả trứng trên mặt gương có nhà khoa khọc (GS_TS) vì hổ thẹn mà tuyên bố "Đó là cân bằng phiếm định" giống như người đi thăng bằng trên dây và còn khẳng định ai cũng có thể dựng được như vậy. Dù sao cũng phải khẳng định việc dựng quả trứng trên gương thường chỉ sảy ra và thành công với những người có liên quan đến thế giới tâm linh và siêu hình ở ít nhất 1 góc độ nào đó. Kính bạn!
  20. Xin chào ACE ! TĐN xin kể câu chuyện tìm mộ tại gia đình Bác họ trong đợt về quê vừa qua: Theo lời kể của anh con nhà bác họ thì gia đình đi gọi hồn Bác trai hy sinh trong những tháng năm chống Mỹ cứu nước. Hồn về nhập vào người em họ và kể rằng "Toàn bộ trung đội mất hết trong 1 đợt Mỹ ngụy tấn công và được chôn chung trong 1 hố lên xương cốt lẫn lộn hết, Hồn còn nói rõ địa chỉ, hòn núi và chết cách cái đèo đó bao nhiêu mét, giọng hồn yếu ớt nói rằng không muốn về vì nếu về cả trung đội sẽ chết đói cho nên gia đình không cần vào chuyển hài cốt về cho tốn công sức". Tuy nhiên sau khi đi xe từ Duy Tiên-Hà Nam về thì lái xe đi sai đường sai hướng khoảng 30km (Lái xe cùng quê với hồn). Cả nhà choáng váng vì trời sẩm tối, trong lúc đang bối rối có người trách lái xe thì tự dưng có người trong xe nói ra "Tôi về đây tham gia đình người đồng đội". Sau 1 lúc người đó trở lại bình thường, mọi người tập trung hỏi chuyện gì thì người đó không nhớ được những gì mình nói. Điện thoại hỏi thầy thì được biết lúc hồn Bác về cũng có lính về cùng và sau đó đã điều khiển lái xe về quê đồng đội và câu chuỵen sảy ra như vậy. Kinh quá!
  21. Lời nguyền của TĐN: "Lời tiên tri của bà VANGA sẽ sớm trở thành sự thật, Bách Việt sẽ toàn vẹn" Chữ Việt Cổ (khoa đẩu tự) Chúng ta có cơ sở để tự hào về dân tộc chúng ta Văn minh dưới thời vua Hùng giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc. Vấn đề là ở chỗ người Hán âm mưu đồng hóa dân Việt mình, cho nên họ đã cấm người Việt học chữ khoa đẩu, là chữ viết riêng của dân Việt. Khi người Việt không đọc được chữ của mình thì lịch sử, văn học, văn minh của một dân tộc không còn nữa. Người Việt chúng ta đã bị biến thành dân mọi rợ ngu dốt, học chữ Hán để chúng dễ dàng biến dân Việt thành dân Hán. Theo những nghiên cứu dựa vào chữ khoa đẩu dưới thời Lý thì lúc đó (thời Hùng Vương) bên đất Việt mình văn minh, võ học, tư tưởng, học thuật có phần hơn Trung Quốc. Về võ học, sử sách còn ghi Vạn Tín hầu Lý Thân thắng các cao thủ trong triều Tần Thủy Hòang, giúp xây Vạn Lý Trường Thành, đánh giặc Hung Nô. Chúng ta có chữ khoa đẩu từ xưa ghi lại văn minh thời vua Hùng, văn minh thời Lĩnh Nam đều chép bằng loại chữ này. Đến thời Hai Bà Trưng, công chúa Phùng Vĩnh Hoa cũng đã tìm được 74.988 bộ sách đã được viết trong suốt các triều đại lịch sử trước kia. Kinh thì có các bộ Bách Tộc, Kinh Dương, Lạc Long... Những sách chép về y học, thiên văn học, lịch số học, cùng với hàng nghìn bộ sách lặt vặt rất nhiều. Có thể nói, lúc đó văn minh hai nước Trung-Việt ngang nhau. Khi Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng rồi chiếm lấy nước ta, Mã Viện đã ra lệnh thu hết sách vở chở về Lạc Dương, cấm học chữ khoa đẩu hoặc trong nhà người nào có sách bằng chữ khoa đẩu sẽ bị bắt để cho dân Việt chúng ta không còn biết nguồn gốc và xem chúng ta giống như các bộ tộc man di mọi rợ. Cái thành công của tụi Hán là làm cho chúng ta tin mình như vậy. Vì những thư tịch cổ của mình bị mất nên tụi Tàu nó muốn chép láo lếu về dân Việt của mình như thế nào cũng được vì tụi nó nghĩ rằng không còn ai biết để mà sửa lại. Trong bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp còn ghi rằng dân Việt lúc đó không biết lễ nghĩa và chính Sĩ Nhiếp là người đầu tiên dạy dân Việt học chữ Hán với lễ nghĩa. Thế mà ngày nay nhiều người Việt còn coi bộ sách này làm khuôn vàng, thước ngọc để tra cứu sử Việt. Cũng may là đến thời nhà Lý vẫn còn công chúa Bình Dương con vua Lý Thái Tông và một số người vẫn còn biết chữ khoa đẩu để mà ghi chép lại, nếu không thì không biết đâu mà tìm. Nếu chúng ta không có 1 nền văn minh tích tụ trước từ thời vua Hùng, người Việt không có nguồn gốc lịch sử, văn học hay võ thuật không thể tự nhiên tình cờ có Hai Bà Trưng cùng với 162 vị anh hùng nổi lên đánh những trận kinh thiên động địa như trận Trường An, Nam Hải, Hồ Động Đình, Tượng Quận... gắn liền với tên tuổi của các vị công chúa Hoàng Thiều Hoa, Thánh Thiên, Phật Nguyệt, Phùng Vĩnh Hoa làm cho tụi Hán phải chống cự vất vả. Những trận chiến kia vẫn còn vết tích để lại trên phần đất Lĩnh Nam của chúng ta mà tụi Tàu chiếm giữ đến ngày nay. Thiên cổ Miếu, thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì, nơi thờ hai vợ chồng thày giáo Vũ Thê Lang, thời vua Hùng Nhà giáo về hưu 71 tuổi Đỗ Văn Xuyền (sinh năm 1937), hiện đang sống tại Việt Trì, sau một thời gian để công nghiên cứu đã bước đầu công bố công trình hơn 50 năm trời nghiên cứu “Giải mã chữ Việt cổ” tại Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi Việt Nam. Để phản biện kết quả nghiên cứu của ông - một số người ngoài ngành tin rằng cần có một hội đồng chuyên gia đa ngành đánh giá và kết luận. Sơ bộ, đó là một thành quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc, phản ánh sự lao động kiên trì, giàu nghị lực của tác giả và thành quả là một đóng góp có giá trị giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cội nguồn lịch sử, văn hóa của dân tộc và có thể mở ra "cửa sổ mới" hết sức thú vị để chúng ta hiểu được các thư tịch cổ Sau nhiều năm nghiên cứu các Ngọc phả tại các đền thờ khác nhau rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, ông đã tìm ra 18 nơi thờ các thầy giáo, học trò từ thời An Dương Vương, Hùng Vương. Từ đó ông đưa ra một giả thiết ban đầu của mình là trước năm 186 công nguyên là năm chữ Hán được đưa vào Việt Nam thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng - chữ Việt cổ, chữ viết đó được các thầy giáo thời Hùng Vương sử dụng. Giả thiết này hoàn toàn khác với điều đa số người Việt hiện nay vẫn cho rằng là trước khi bị Tàu đô hộ, nước Văn Lang (tức nước Việt) không có chữ viết riêng mà chỉ đến khi người Tàu qua xâm chiếm thì người Việt mới bắt đầu dùng chữ Hán để viết. Qua nghiên cứu các thư viện và tìm đọc các thư tịch trong, ngoài nước của nhiều nhà nghiên cứu tiền bối đã đi sâu vào vấn đề này: Từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... ông đều gặp may bởi họ đã khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ có liên hệ gì với chữ Quốc Ngữ? Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ 17. Nhiều cuốn sách cổ được in từ buổi đầu chữ Quốc ngữ xuất hiện, đến nay hầu như không ai đọc được. Khi đem bộ chữ Việt cổ đã được giải mã thử đọc một số cuốn sách cổ, như cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) của Alexandre de Rhodes, hay cuốn “Sách sổ sang” của Philip Bỉnh (Giám mục người Việt, ở Thủ đô Bồ Đào Nha những năm 1790-1820), thầy giáo Xuyền đã rất thú vị khi dễ dàng đọc được những từ khó mà lâu nay nhiều người không đọc cũng không giải thích được. Chính từ việc này, thầy Xuyền đã đưa ra một giả thuyết: Chữ Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de Rhodes. Những trang viết trong cuốn “song ngữ” La Tinh- Việt cổ do ông Xuyền biên soạn. Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?! Giả thuyết của thầy Xuyền không phải không có căn cứ. Bởi chữ Quốc ngữ và chữ Việt cổ do ông giải mã có cùng cấu trúc ghép vần tương tự nhau, chỉ khác nhau về hình dạng mà thôi! Chính trong cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La”, Alexandre de Rhodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, nó đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo ông Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ! Tôi xin góp ý về bài thơ trên bằng chữ cổ, tức là xem kỹ thì thấy: - ở từ "nghêu" thiếu chữ "-u" (phải viết thêm "c" đảo lộn) - quen viết thành "engn" ("vv" là -e-, "nb" là ng-, còn U-vuông là n/m) ->lối viết nguyên âm rất giống tiếng Khmer, Thái Quy luật đặt âm, vần của chữ Việt cổ Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, ông sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là: - Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ? - Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của ký tự đó không ? - Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm) Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ La Tinh của phương Tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí. Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông mới tìm ra quy luật – Quy luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ: từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được quy luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa đẩu". Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu. Về việc này, sách Thông Giám Cương Mục do Chu Hy đời Tống viết: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ IV (2352 trước Công nguyên) có Nam Di Việt Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn”. Sách Thông Chí của Trịnh Tiểu cũng đời Tống nói rõ hơn: “Đời Đào Đường, Nam Di Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa ước được ngàn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ Khoa Đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch”. - Đây còn là khởi thủy của KINH DỊCH đấy ! Một lần trên đường đi tìm kiếm ông đã dừng chân bên ngôi miếu nhỏ của một xóm núi, đọc được một bản Ngọc Phả thời Trần Thái Tông với những dòng chữ vang vọng tự hào: "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa đẩu". Như vậy thời Hùng Vương, dân tộc ta đã có chữ viết với tên gọi Khoa Đẩu, đó là điều có thể khẳng định chắc chắn. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15, cuộc đốt phá hết thư khố quốc gia và thư khố của các bộ (sau cuộc tấn công vào đồn Mang Cá) của Pháp năm 1875, liệu có còn sót lại những gì? Ông Xuyền đến Sa Pa, trên tảng đá vùng Hầu Thảo, sau khi cạo lớp rêu phủ đã tìm được những chữ giống như chữ cái của Vương Duy Trinh, Hiệp biện Đại học sỹ, Tổng đốc Thanh Hóa. Trong cuốn Thanh Hóa quan phong viết năm 1903, Vương Duy Trinh đã giới thiệu một số chữ lạ sưu tập được, khẳng định đó là chữ Việt cổ từ thời Hùng Vương, và đưa ra nhận xét: “Vì Thập Châu là nơi biên viễn nên dân ta còn lưu giữ thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết để học chữ Trung Quốc”. Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố công trình nghiên cứu “Về một nền văn tự trước Hán và khác Hán”, Giáo sư Lê Trọng Khánh thì khẳng định “Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa Đẩu thời tiền sử để ghi tiếng dân tộc mình”. Nhớ tới câu nói của Vương Duy Trinh: "Vì thập Châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy", ông hướng tìm tòi lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc, vùng khu 4 cũ, rồi lăn lộn lên cả Đông và Tây dãy Trường Sơn để tìm theo dấu vết. Để đi được dài ngày và đi xa, với số tiền lương hưu ít ỏi, ông đã phải tính đến việc ăn ngủ giản tiện nhất, đó là: một chiếc võng bạt, một bi đông đựng nước, một ít bánh mì sấy khô và dăm gói mì tôm. Thế là ông "cầm cự" được hàng chục ngày để đi đến các vùng sâu vùng xa, quyết tìm cho ra chữ Việt cổ. Trong các tài liệu sưu tầm được, ông đặc biệt chú ý đến một bộ chữ lạ. Rất tiếc là những trang sách này đã bị nguỵ trang và khoá mã, mặc dù vậy nó đã tồn tại hàng mấy trăm năm mà không ai chú ý tới. Linh cảm mách bảo, ông đã thức nhiều đêm trắng để mày mò giải mã. Kiến thức tổng hợp và vốn ngoại ngữ đã giúp ông rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Việt cổ. Kết quả, ông đã khu biệt được loại ký tự này với các loại văn tự xung quanh, tìm ra được hình dạng, chức năng của từng chữ cái và cách cấu trúc của một loại ký tự mà người ta đã nhầm là chữ Mường, chữ Thái... Qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ người Việt cổ HauĐricourt, ông khẳng định được bộ ký tự này có từ trước công nguyên (loại ký tự bắt nguồn từ chữ Khoa đầu tượng hình chuyển sang chữ cái có ghép vần). Căn cứ vào ý kiến của giáo sư Lê Trọng Khanh: "Các dân tộc Bách Việt dùng thứ chữ này". Khi đã đọc thông viết thạo chữ Việt cổ, ông lại tìm đến các vùng người Thái, người Mường. Loại văn tự này có thể ghi được tiếng Thái, tiếng Mường nhưng không đầy đủ. Ông lại tìm đến các vùng quê Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thanh Nghệ Tĩnh... để lắng nghe những người già phát âm. Thứ ký tự này đã giúp ông ghi lại đầy đủ giọng nói, âm vực của họ, giúp ông giải thích được tiếng nói khác nhau của từng vùng - gần như nó đã ghi lại nguyên tiếng nói người Việt cổ. Nó đã giúp ông giải thích được nhiều vấn đề còn thắc mắc. Ví dụ: Vì sao trong tờ Le Paria và tờ L'Humanité từ những năm 20 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chữ Nguyễn Ái Quốc được viết là Nguyễn ái Quấc. Và trong cuốn sách sổ sáng của Filíp Bỉnh viết ở Bồ Đào Nha năm 1822, chữ huyên được viết là huên, chữ dòng được viết là dào. Cũng như vậy ông có thể chứng minh được một nền văn tự có trước Hán và khác Hán, của giáo sư Hà Văn Tấn qua việc giải thích sự tồn ghi trong cuộc khai quật của bà Cô La Ni ở Lam Giận Hoà Bình năm 1923. Tháng 9/2004, giáo sư Hà Văn Tấn đã mời ông về Hà Nội nghe ông kể lại quá trình đi tìm chữ Việt cổ và khi được ông tặng bản Hịch của Hai Bà Trưng đã chuyển sang chữ Việt cổ, giáo sư đã cảm động nghẹn ngào: "Vấn đề lớn lắm. Chúng ta phải sớm báo cáo lên nhà nước". Dịp hè năm nay, nghe tin tỉnh Sơn La tìm được hàng nghìn cuốn sách cổ có chữ lạ. Ông cầm vài tờ photo lên, đọc mà nước mắt ràn rụa. Như vậy điều dự đoán của các nhà khoa học trước đây đã được chứng minh: Thứ ký tự đặc biệt để ghi âm tiếng nói của người Việt cổ (thứ chữ dân tộc ta đã có từ thì đại Hùng Vương) đã được các dân tộc sử dụng chung và còn được lưu giữ bảo tồn ở vùng Tây Bắc cho đến ngày nay. . TIẾNG VIỆT TRÊN THƯ TỊCH CỔ Tìm về nguồn gốc chữ Việt cổ chính là những ưu tư khắc khoải của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước. Lịch sử ghi nhận vua Lê Thánh Tông (1460-1497) là một vị minh quân, không những sáng suốt trong việc trị quốc an dân mà nhà Vua còn là nhà có tài văn chương thi phú. Lê Thánh Tông là vị vua duy nhất trong lịch sử đứng đầu "Nhị thập bát tú" đã để lại nhiều tác phẩm thi văn cho hậu thế. Theo "Cổ Việt Hùng thị Thập bát Diệp Thánh Tông Ngọc Phả cổ truyền" do Hàn Lâm viện Trực học sĩ soạn năm Nhâm Thìn 1472, niên hiệu Hồng Ðức thứ 3 thì vua Lê Thánh Tôn giao cho Bảng Nhãn Nguyễn Như Ðỗ nghiên cứu về cương giới nước Việt xưa. Bản "Hùng Vương bát cảnh" do Nguyễn Như Ðỗ sưu tập thì lãnh thổ nước Văn Lang gồm: 1. MIỀN GÒ NGỰA (Mã Kỳ) rộng khoảng 2.000 dặm, xưa tên là châu Ðiền nay thuộc tỉnh Vân Nam TQ. 2. MIỀN CỎ TRÂU (Ngưu Lan) rộng khoảng 1.500 dặm tức Việt Tây nay là tỉnh Quảng Tây TQ. 3. MIỀN AO CÁ (Ngư Trì) rộng 1700 dặm xưa có tên là Việt Ðông nay là tỉnh Quảng Ðông Trung Quốc. 4. MIỀN RỪNG QUẠ (Ô Lâm) xưa là châu Kiềm nay thuộc tỉnh Phúc Kiến, Quí châu giáp hồ Ðộng Ðình TQ. 5. MIỀN ÐỘNG HOA tức tức nước Phù Nam cổ rộng khoảng 1.000 dặm thời LêThánh Tôn là nước Chân Lạp. Vương quốc Phù Nam cổ ở Hạ Lưu sông Mekong, Vương quốc này tồn tại mãi đến thế kỷ thứ VI. Cương giới Phù Nam trải rộng hầu như khắp lục địa Ðông Nam Á cổ bao gồm cả miền Nam Trung Việt, Nam Việt Nam sang phía Tây gồm cả thung lũng sông Mê Nam Thái Lan. Phía Bắc tời vùng trung lưu sông Mê Kông tức lãnh thổ Lào ngày nay trải dài xuống phương Nam tới tận bán đảo Mã Lai, tức nước Malaysia bây giờ. 6. MIỀN NÚI QUAû (Quả Sơn) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Hồ Tôn ( Lâm Aáp cổ còn gọi là Chămpa ) sau là Chiêm Thành. 7. MIỀN BẦY VOI (Tượng Tào) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Ai Lao. 8. MIỀN LŨ HƯƠU (Lộc Hữu) rộng khoảng 1.000 dặm ở phía Nam Ai Lao tức Cao Miên (Cambodia) bây giờ. Còn về trước nữa thì biên giới nước ta lên tới Hồ Bắc và Nam Hà Nam lấy phân dã 2 sao Ngưu Nữ làm giới cận.(18) Thuở xa xưa Tổ Tiên ta định cư ở cuối dãy Nam Sơn, sau dời xuống vùng Tam giang Bắc gồm sông Hoàng Hà, sông Vị, sông Lạc. Ðời Kinh Dương Vương dời xuống vùng Tam giang Nam gồm sông Dương Tử (Trường Giang) sông Nguyên và sông Tương. Vùng đất này là vùng đất đỏ Basalt nên Kinh Thư gọi là Xích Qui phương nên Kinh Dương Vương mới đặt tên nước là XÍCH QUI. Cổ thư Trung Hoa gọi vùng này là Nam Giao, Cửa Việt, Giao Chỉ. Người Việt cổ thông đạt thiên văn ngay từ thời cổ đại. Người xưa đã quan sát chiêm nghiệm vị trí các vị sao với thời tiết mùa vụ để làm ra Nông Lịch đầu tiên trên thế giới. Theo nhà nghiên cứu "Tiên Tích Việt", Giáo sư Nguyễn Ðoàn Tuân thì toàn bộ chòm sao TĨNH theo kinh Thái Aát đóng tại giữa cung Khôn và Ly bao bọc các châu Lương, Tần, Kinh, Sở, Dương, Trinh của Xích Qui phương thời Kinh Dương Vương. Ðứng trước sao Tĩnh là sao VIỆT nên mới gọi là "Việt Tĩnh cương" là cương giới, phân dã sao ứng cho Ðông Việt, Tây Việt, Việt Thường và Bách Việt. Quan sát vị trí của 17 sao trong chòm sao Tĩnh, phận dã ứng với 15 bộ của VĂN LANG. Hai sao Thủy Phủ (Suifu) và Thiên Lang được chọn làm Kinh đô THỦY PHỦ{Suifu) và đặt tên nước là VĂN LANG. Mới đây, các nhà thiên văn người Pháp gồm 2 Thạc sĩ Sử Ðịa là Baron và P. Gourou cùng với Tiến sĩ văn chương P. Loubet đã tìm ra địa danh Thủy Phủ (Souifou) trên bản đồ Thái Bình Dương Pacific Ocean của National Geographic Society nay là cảng Thành Ðô tỉnh Tứ Xuyên. Địa danh Thủy Phủ (Suifu) cũng được ghi rõ trên bản đồ New International ATLAS of the World của Geographical Publishing company in năm 1949. Chòm sao Tĩnh đứng đầu 7 sao của chòm sao Chu Tước. Chu Tước chính là chim huyền thoại Phượng Hoàng chính là chim Trĩ, Công cùng họ với Bạch Trĩ là vật tổ biểu trưng của chi Aâu Việt. Chu Tước có bộ lông màu đỏ, hai sao Bạch Trĩ và Chu Tước ứng về phương Nam của Việt tộc. Về sau Hán tộc xâm lăng đẩy Việt tộc phải lùi dần về phương Nam nên "Tấn thư" mục Thiên văn chí chép:" Ðất Việt thuộc về phận dã sao Khiên, Ngưu và Vụ Nữ .. Ngày nay Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải và Nhật Nam đều thuộc về địa phận nước Việt. Vua nước ấy thuộc dòng họ Vũ, con thứ của vua Thiếu Khang nhà Hạ phong ở đất Cối Kê". Ðây chính là nước VIỆT (U-Việt) của Việt vương Câu Tiễn đã từng xưng Bá thời Xuân Thu. Ðến thời Hán, nước NAM VIỆT của Triệu Vũ Ðế chỉ còn lại phía Nam Ngũ Lĩnh nên "Hán Thư", Thiên văn chí chỉ chép phân dã Việt ứng với 2 sao Dực Chẩn, sao Ngưu Nữ ứng với địa phận Dĩnh Xuyên nên truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ là của người Việt chứ khơng phải của Tàu như người ta viết từ trước đến giờ. Tập " Thánh Tông dị thảo" gồm 20 truyện ký đặc biệt là truyện Mộng ký kể lại giấc mơ của nhà Vua như nỗi thao thức trăn trở về ngọn nguồn gốc tích dân tộc gửi lại cho những thế hệ sau. Truyện kể, một lần Vua Lê đi dạo chơi gặp mưa, nghỉ đêm bên hồ Trúc Bạch, Vua nằm mộng thấy hai người con gái thời Lý Cao Tông hiện lên dâng thư bày tỏ nỗi niềm oan ức gồm một bài thơ bằng chữ Hán và một tờ tấu bằng chữ bản địa có 71 chữ ngoằn ngoèo. Vua đọc không được, suốt ba năm cả triều đình cũng không có ai đọc được tờ tấu đó. Thế rồi, Vua lại nằm mơ có người hiện lên giảng giải cho Vua thêm về bài thơ chữ Hán. Vua hỏi âm, nghĩa của 71 chữ ngoằn ngoèo trên thì người ấy nói :" Chữ ấy là lối chữ cổ của nước ta. Nay Mường Mán ở núi rừng có người còn đọc được, nhà Vua cho vời họ đến thị tự khắc sẽ biết". Vấn đề ở đây không phải ở tình tiết thực hư của giấc mơ mà cốt lõi là Vua Lê Thánh Tông trao chiếc chìa khoá cho thế hệ sau chúng ta cùng giải mã vấn nan lịch sử đó. Cứ theo Vua Lê thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng lối chữ cổ đó còn rơi rớt hiếm hoi ở thời Lý, theo đó hình dáng của lối chữ Việt cổ có nét chữ ngoằn ngoèo và hiện lối chữ ấy còn bảo lưu ở một đồng bào Mường Mán của chúng ta. Ðiểm đặc biệt là chính thư tịch cổ Trung Quốc cũng xác nhận Việt tộc đã có thứ chữ riêng hình con Nòng Nọc mà họ gọi là "Khoa Ðẩu tự" từ thời xa xưa. Sử ký Tư Mã thiên chép " Ðất Giao Châu ở phía Nam có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch, đến hiến một con chim Trĩ trắng". Sách Thông giám cương mục do Chu Hi đời Tống soạn cũng ghi:"Năm Mậu Thân đời Ðường Nghiêu thứ 5 (tức năm 2353TDL) có Nam di Việt-Thường Thị đến chầu, hiến rùa lớn" và sách Thông Chí do Trịnh Tiêu đời Tống chép rõ hơn: " Ðời Ðào Ðường, Nam di có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ "Khoa đẩu" chép việc từ lúc khai thiên lập địa tới nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui lịch". Sự kiện lịch sử này được xem như mối giao hảo giữa hai dòng Thần Nông phương Nam và phương Bắc của Việt tộc chứ không phải giữa nước ta với nước Tàu như các sử gia viết sai lầm từ trước đến giờ. Nguồn thư tịch cổ trên cho chúng ta thấy là Họ Việt Thường, một trong 15 chi tộc sau này họp lại thành quốc gia Văn Lang đã hiện hữu ngay từ thời Ðào Ðường thị Ðế Nghiêu. Việt Thường là một nhà nước sơ khai của Việt tộc đã cĩ chữ viết và một nền văn minh khá cao nên mới làm được lịch gọi là lịch rùa (Qui lịch). Ðặc biệt, trên lưng rùa có ghi chép những sự việc từ thời khai thiên lập địa được xem như khởi đầu của triết học với vũ trụ quan phương Ðông, uyên nguyên Âm Dương Dịch biến luận của người Việt cổ. Sự kiện sứ giả Việt Thường đến được Trung Nguyên trong khi đó dòng Thần Nông phương Bắc chưa biết đến Việt Thường đã chứng tỏ kiến thức về địa lý và thiên nhiên của Việt Thường cao hơn thời Ðường Nghiêu khiến Vua Nghiêu phải sai chép lại lịch rùa (Qui lịch). Quan trọng hơn là lúc đó Việt Thường đã có chữ viết dạng Khoa đẩu tức lối viết theo hình loăn quăn ngoằn ngoèo như con Nòng nọc. Truy cứu lại lịch sử chữ viết Trung Hoa cho chúng ta biết chữ Bát quái của Phục Hi, chữ Kết thằng là lối chữ ký hiệu bằng cách thắt nút giây của Ðế Thần Nông. Ðến đời Hoàng Ðế có Thương Hiệt là sử gia đã thống nhất được lối chữ cổ kể trên, đồng thời theo dấu hình chân chim thú bay nhảy mà biết văn lý phân biệt rồi khuếch trương bằng hình thanh đặt ra lối chữ ÐIỂU TRIỆN. Ðến thời Chu Tuyên Vương của Hán tộc mới sai thái tử Trứu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ ÐẠI TRIỆN nét tròn thường viết bằng sơn trên gỗ tre. Bởi vậy, lối chữ đại triện này gọi là Trứu thư được xem là của Hán tộc vì nó hoàn toàn khác với lối chữ khoa đẩu, Ðiểu triện thời Hoàng Ðế của Việt tộc. Theo những công bố gần đây được hầu hết học giả Trung Hoa học các nước chấp nhận thì cái gọi là văn hoá Trung Hoa chính là VĂN HOÁ VIỆT CỔ mà cổ thư gọi là văn hoá tứ di hay Di-Việt. Triều Thương của Hán tộc đã tiếp thu nền văn hoá này nhưng mãi đến đời Chu mới đưa thêm vào một số yếu tố du mục, chịu ảnh hưởng của Iran như chế độ thiên tử, hoạn quan, luật hình và tổ chức quân đội chuyên nghiệp… để rồi từ đó mặc nhiên tự nhận là văn hóa Hán. Triều Chu đóng đô ở Thiểm Tây và đặt ra chế độ Tông pháp để bảo vệ chế độ. Triều Chu phong cho họ hàng và các công thần làm Vua 15 nước chư hầu để làm phên giậu bảo vệ lãnh thổ của Chu. Ngày nay, các học giả đều thừa nhận là đời Chu mới bước vào văn minh với những thể chế hình mẫu của nhà nước phong kiến. Chức thiên tử uy quyền tuyệt đối mà Vua Chu tuy không quan niệm Vua là Thần thánh như ở Iran, nhưng Vua là con trời (thiên tử) nên vừa làm Vua, vừa là tư tế thượng phẩm. Vua Chu đại biểu của chế độ phong kiến nên độc tài chuyên chế, trói buộc người dân trên mọi phương diện. Vị Vua thế quyền nắm cả giáo quyền đã khống chế cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của dân bị trị. Chu là một chư hầu của Thương ở Tây Thiểm Tây, là một tộc người du mục chứ không phải dòng dõi Ðế Cốc như các sử gia "Ðại Hán" đã tô điểm thêm thắt. Thế mà thư tịch cổ Trung Hoa chép Chu là dòng dõi ông Khí (con của Ðế Cốc) làm quan Hậu tắc, coi việc nông chính dưới triều Vua Thuấn, được phong ở đất Thái (tỉnh Thiểm Tây) truyền đến Công Lưu thì dời sang đất Mâu cũng giữ chức Hậu tắc. Tám đời sau đến Cổ Công Ðản phụ vì tránh nạn Bắc địch phải dời đến ở dưới núi Kỳ mới đổi quốc hiệu là Chu. Theo các công trình nghiên cứu của học giả Eberhard và Gernet thì Chu là một bộ lạc Thổ (Turc) sống chung với người Tạng (Tibet) chịu ảnh hưởng của văn hoá Thương tức văn hoá Di-Việt do Thương tiếp thu của Hạ. Tộc Chu có dòng máu Thổ và Hung nô nên qúi tộc Chu đã phân biệt giai cấp và gọi nhân dân là dân đen (Lê dân) tức dân tóc đen khác với tóc hung vàng của giới thống trị Thổ (Turc). Chu sau khi tiếp nhận văn hoá Di Việt, cộng thêm bản chất du mục đã hình thành nền văn minh Chu với đế chế phong kiến chuyên chế thống trị nhân dân trong nước mà còn phân biệt chủng tộc. Giới thống trị Chu tự cho họ là văn minh và gọi các dân tộc khác là Man Di, di địch. Ðời Chu công Quí Lịch đi chinh phục các nước đã gọi cửu hầu là cửu quỉ (19). Sau Chu đến Tần cũng lấy lối chữ Ðại triện của đời Chu làm tiêu chuẩn để thống nhất chữ viết kể cả giọng nói để triệt tiêu ngôn ngữ của các dân tộc khác. Ðế chế Tần buộc các địa phương phải gửi người về Hàm Dương để học giọng Quan Thoại và lối chữ viết thống nhất khi trở về địa phương dạy lại từ quan đến dân lối chữ ấy. Tần ra chỉ dụ cấm đoán và trừng phạt khắt khe những ai còn nói giọng địa phương và viết chữ của dân tộc họ. Biện pháp cưỡng bách này khiến ngôn ngữ riêng của các dân tộc biến mất theo thời gian. Theo "Trúc thư kỷ niên" thì vào thế kỷ thứ 22 TDL mới có thứ chữ để viết dùng trong việc hành chánh, nghĩa là vào khoảng thời nhà Hạ của Việt tộc (2.205-1766TDL). Ðó là thứ chữ dựa vào câu sử truyền như sau: "Thượng cổ thánh nhân Kết thằng dĩ trị, hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ Thư khế bá quan dĩ trị, vạn dân dĩ sát" nghĩa là thời xưa, đấng thánh dùng loại chữ "kết thằng" để trị, đời sau thánh nhân biến chữ đó làm một thứ "Thư khế" trăm quan theo đó mà trị, vạn dân lấy đó mà xét nghiệm. Câu nói này cũng chép trong mục "Thần Nông" tựa kỷ. Theo Nguyễn Ðoàn Tuân thì Kết Thằng còn đọc là Cát Thặng hay Kết thừa nghĩa là nhắc nhớ tới thời Lão Long Cát thị truyền chữ lại và coi chữ Kết Thằng như một "Kết ước thần linh". Chính vì vậy mà đời sau đổi Kết Thằng thành Thư Khế. Thư khế là sách ước xưa truyền lại và nhờ đó mà kết tinh trong Dịch. Ðiều này đến đời Thiệu Khang Tiết mới phát hiện. Các chữ cổ đời Hạ, Thương đều là lối chữ phiên thiết, nói chung lối chữ gọi là Hán tự thay đổi hoài. Ðến đời Tần, Tần Thủy Hoàng sai thừa tướng Lý Tư (213TDL) lấy lối chữ Kết Thằng đời Thần Nông (Viêm Việt) soạn ra chữ Tiểu Triện, mới được khoảng 3300 chữ. Thực ra Lý Tư chỉ lấy chữ Kết Thằng của Viêm Việt để hợp thành những danh tự chỉ đồ vật. Năm 120, Hứa Thận soạn sách "Thuyết văn Giải tự" kiểm điểm sắp xếp lại chữ Tiểu triện sắp lại thành 540 chìa khoá bộ chữ tạo thành 10.515 chữ được xem là chữ Hán định hình. Sau đó sách "Thuyết văn Thông thuận Ðịnh thành Lục thư thông" đã bổ túc và định nghĩa chắc chắn từng chữ một. Sau đó, Trình Mao Tạo ra cây viết chì nhọn, chấm vào mực để viết tròn ra vuông, cong ra gẫy. Mông Ðiềm giao lưu văn hoá với Hung Nô (Mông cổ) tạo ra bút lông, bút giấy. Bút lông không viết ngược chiều được, giấy hút mực nên phải viết cho lẹ, nét chữ biến hoá một cách tự do, nét đậm nét nhạt, mập mờ, nét móc, nét lồi, nét gối, nét nối liền nhau, thành thảo tự gọi là viết thảo. Người đời sau do sai lầm cứ dựa vào "Lục thư" mà tuỳ tiện xét đoán. Khi tìm thấy lối chữ cổ của vua Ðại Vũ viết trên tấm bia chôn ở núi Cú Lũ (tên cổ là hang rùa). "Lĩnh Nam Dật sử" có chép chuyện này, tác giả đoán chắc đó là bảng chữ Việt. Sách "Tô Ký Kinh ngoại" cũng xác nhận đó là tiếng Việt. Sách "An Nam Chí lược" của Lê Tắc, dẫn lời cẩn bạch của Ngạn Ngân Hương đề cao lối chữ này là "Thần vũ hữu Cú Lũ sơn" rằng :"Thiết nghĩ thước ngọc khuôn vàng vườn Côn Luân bản đồ trình hiến, chữ xanh vằn đỏ (xích văn lục tự) thơ truyền Vụ Uyển, thư tịch lưu truyền". Ðây chính là thứ chữ trong Lạc thư Bách Việt, ý người xưa Lạc là Thần, phát xuất từ cái nôi sinh tụ đầu tiên của tộc Việt là Rượu Cô Dịch di chuyển về Tiểu Côn Lôn là vùng núi Vụ Uyển nơi Ðại Vũ đã chôn giấu tấm bia mà sách Lĩnh Nam Dật sử nhắc tới. Thực tế lịch sử cũng cho chúng ta biết thời Xuân Thu các quốc gia Bách Việt cũng đã có ngôn ngữ riêng. Thật vậy, Nước Việt có quốc luật, Sở quốc có Hiến lệnh là những pháp lệnh thành văn đầu tiên cùng thời Tử Sản người nước Trịnh(20) năm 532 TDL đã soạn ra Hình thư rồi đem văn bản hình khắc lên chín cái đỉnh đúc bằng sắt gọi là Chú Ðỉnh hình. Tả truyện của Tả Khâu Minh chép truyện quan lịnh doãn nước Sở là Tử Ngươn đi đánh Trịnh, đến bên thành Trịnh thì thấy dân chúng bình tĩnh như không có gì xảy ra, lại còn lên đầu thành mà nói với xuống bằng tiếng nước Sở, cũng là tiếng Việt của họ. Sở dĩ họ không lo sợ gì vì là đồng chủng nên đối với họ, chiến tranh chỉ là sự tranh giành quyền lãnh đạo của giới cầm quyền mà thôi. Ðến ngày nay mà sách giáo khoa Tàu vẫn gọi tiếng Quảng Ðông là Việt ngữ. Học giả Lê Mạnh Thát trong tác phẩm "Vài tư liệu mới cho việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam giai đoạn trước 939" đã đưa ra chứng cớ về sự hiện diện của chữ Việt cổ, căn cứ trên " Thuyết uyển" do Lưu Hướng viết vào khoảng năm 16 TDL. Nguồn sử liệu minh văn trên đã xác nhận một cách đúng đắn là người Việt đã có ngôn ngữ riêng, âm nhạc riêng đó là bài "VIỆT CA". Lục độ tập kinh cùng với "Cựu Tạp Thí dụ kinh" đã để lại cho chúng ta một loạt những cấu trúc tiếng Việt cổ quý giá mà từ đó, chúng ta tham khảo thêm bài Việt ca do Lưu Hướng chép lại trong Thuyết Uyển để có thể phục chế lại một phần nào diện mạo của tiếng nói dân tộc ta cách đây mấy ngàn năm. Ðặc biệt, ngoài bản Việt ca còn bảo lưu được trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt cổ. Toàn văn Lục độ tập kinh thể hiện một cách có hệ thống và toàn diện, liên tục nhất quán của ngữ pháp, cú pháp về ngữ vựng của tiếng Việt ví dụ như tiếng Tàu gọi Trời xanh là thanh thiên, mây trắng là bạch vân hoàn toàn khác với tiếng Việt. Lê Huy Yêm trong tác phẩm " Lê phổ chí tục biên" đã viết về lối chữ Khoa Ðẩu của dân tộc ta như sau: "Con Rồng cháu Tiên, chữ con chữ Rồng viết như thế này .. Bọn Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang cai trị dân ta bắt đốt hết sách ta, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Ðây không phải chữ Nôm đâu, chữ Nôm về sau, cách đây khoảng năm trăm năm do Nguyễn Thuyên, tức Hàn Thuyên đặt ra bằng cách ghép chữ, còn chữ cổ Việt Nam đã có hàng mấy nghìn năm về trước. Nhà ta cất giữ được quyển sách này từ cụ Lê Huy Nghiêm. Các cháu phải biết là nước ta có chữ trước chữ Hán rất lâu .."(21) Năm 1932, nhà văn Lê Dư trên Tạp chí Nam Phong đã cho rằng dân tộc ta có chữ viết từ thời cổ. Thời Tự Ðức, Văn Ða cư sĩ đã viết : "Ta học chữ Tàu, thầy dạy hay học trò học, thế nào cũng pải lấy tiếng nước ta mà giải thích mới có thể hiểu, lại phải có một thứ chữ gì để làm phù hiệu, ghi cho dễ nhớ. Nhân vậy, Sĩ Vương (Sĩ Nhiếp) mới lựa những chữ Hán nào phát âm như tiếng ta, lấy những chữ ấy để làm phù hiệu, âm các tiếng chữ Tàu. Nhân vậy mới lấy một nửa hình chữ Hán khác hợp lại thành chữ hoặc dùng nghĩa, hoặc dùng ý hội, đem làm phù hiệu dịch thứ tiếng của ta. Vả chăng, Sĩ vương người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô (trước thuộc lãnh thổ Bách Việt) thuộc nước Tàu bây giờ, mà bên ấy xưa cũng có một thứ chữ tục tự hệt như chữ Nôm của ta vậy …". Sách "An Nam kỷ lược" viết " Nước Việt Nam ta có lối chữ viết từ đời Ðinh, Lê trở về trước thì không trông thấy được nữa. Còn lối chữ từ thới Lý, đời Trần trở về sau thì bắt chước triều Tống". Trương Vĩnh Ký cũng cho rằng dân tộc ta đã có chữ viết trước thời Hán thuộc nhưng sau khi bị Hán tộc thống trị cấm sử dụng tiếng Việt cổ, đồng thời bắt dân ta phải học tiếng Hán nên sau hơn một ngàn năm nô lệ, tiếng Việt cổ mai một dần theo thời gian. TIẾNG VIỆT TRONG NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Các nhà ngôn ngữ học ghi nhận ở vùng Nghệ Tĩnh ngôn ngữ địa phương vẫn còn giữ lại được nhiều từ tiếng Việt cổ như xưa họ nói "nác" nay là nước, "cơn" nay gọi là cây, "lả" là lửa, "ló" là lúa… Năm 1903,Vương Duy Trinh là Hiệp Biện Ðại học sĩ làm Tổng Ðốc Thanh Hóa đã sưu tập đựơc 35 mẫu tự của chữ cổ ở "Châu", đó là "Phụ Man mẫu tự tam thập ngũ tự" (Ba mươi lăm mẫu tự của chữ "Châu"). Vương Duy Trinh, tác giả Thanh Hoá Quan phong (thế kỷ XI) viết : " Ðây là chữ Châu tiếng Châu. Trên kia đã dịch làm tiếng chợ, một khúc ca có 12 đoạn, có tầng thứ, có nông sâu, có mở đóng, có hồi cố. Có khác gì 13 nước Phong-thi. Người làm bài ca là người có học. Vậy mới biết có văn tự thì phải có văn chương. Tỉnh Thanh Hóa một châu quan có lối chữ thập châu đó. Người ta thường nói rằng Việt Nam không có chữ, tôi nghĩ rằng không phải. Thập Châu vốn là đất nước ta. Trên Châu còn có chữ lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ trên Châu chính là lối chữ nước ta đó. Nay xem chữ trên Châu với chữ Xiêm, chữ Lào … tuy rằng viết dọc viết ngang có khác dạng nhưng cũng là một lối chữ Loan Phụng Khoa Ðẩu. Ðời xưa Trung quốc từ người Lý Tư đời Tần trở về sau hay có người thay đổi làm lối khác, mà nước ta nội thuộc kể đã dư ngàn năm. Từ sau Sĩ vương dạy lấy chữ Trung quốc mà lối chữ nước ta bỏ hết. Thập châu bởi là nơi biên viễn cho nên lối chữ ấy còn ..". Nguyễn Ðổng Chi trong tác phẩm "Việt Nam cổ văn học sử" đã sưu tầm được 35 chữ cái của đồng bào Mường. Ðó là lối chữ ngoằn ngoèo như con nòng nọc đúng như Tiền Hán thư chép và cũng đúng như giấc mơ cũng chính là ưu tư của Vua Lê Thánh Tông đã gợi mở cho chúng ta. Mặt khác, vùng Tây Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh địa bàn cư trú của Việt Thường, Văn Lang xưa cũ mà Tiền Hán thư ghi rõ là ngay từ thời Ðào Ðường khoảng thiên niên kỷ thứ II trước Dương lịch, người Việt cổ đã có một thứ chữ riêng biệt trông như con nòng nọc. Hình dạng chữ viết của đồng bào Mường gần giống như những hoa văn với những đường cong lạ trên mặt trống đồng Lũng cú, Hà Tuyên mới được phát hiện trong thập niên 70 với những hoa văn kỷ hà có những nét giống chữ Phạn cổ trên bia đá Võ Canh ở Khánh Hoà và chữ cổ khắc trên đá ở di chỉ Óc Eo (An Giang). Theo các nhà Tiền Sử học thì cách nay hơn 6 ngàn năm, một nhánh Malaynesian đã thiên di sang Ấn Ðộ định cư, một số lại quay trở lại Ðông Dương. Các công trình khảo cổ mới tìm thấy ở 2 bang Punjap và Sin ở Tây Bắc Ấn Ðộ một nền văn minh Harrapa và Mohenjo Daro. Ðó là nền văn minh tối cổ của MaLaynesian mà các nhà nhân chủng gọi là cư dân Dravidian. Ðó là nền văn minh sông Ấn. Nền văn minh này phát sinh rất sớm vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TDL và tàn lụi vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ II TDL vì sự xâm lấn của chủng Á Âu (Arian). Cư dân Dravidian tôn thờ mặt trời, thờ nữ thần Mẹ và nhiều thần có liên quan đến nông nghiệp và chăn nuôi. Cư dân Dravidian có tín ngưỡng phồn thực và đã sáng tạo ra lối chữ cổ Ấn Ðộ. Ðặc biệt trong sử thi Anh hùng ca Ramayana của Ân Ðộ cổ cũng có truyền thuyết về cội nguồn được xem như dị bản của huyền thoại Rồng Tiên với khái niệm Bách Việt mà Hoàng tử Rama là con trai trưởng giống như Hùng Quốc vương trong huyền thoại Rồng Tiên. Tất cả tự dạng trên có một điểm chung nhất là ký hiệu sổ ngang sổ uốn tròn như bộ di chuyển của con Nòng nọc. Tự dạng mang tính biểu trưng, lối chữ tượng ý chứ không tượng hình như Hán tộc.Theo Ðặng Ðức Siêu thì bên cạnh hình ngôi sao12 cánh, hoa văn vòng tròn có chấm, đường thẳng song song hướng tâm, đường gấp khúc hoặc nửa hình thoi, hình người hoá trang cách điệu, người ta còn thấy những đường nét uốn lượn tạo thành các hình dạng ngoằn ngoèo hoặc những vạch thẳng phối hợp với nhau thành những góc, những hình, những đường có tính chất kỷ hà. Phải chăng đó là dấu tích của lối chữ viết "ngoằn ngoèo như con nòng nọc" được khắc hoạ trên trống đồng Lũng cú Hà Tuyên? Rõ ràng là loại chữ này đã vượt qua giai đoạn chữ viết tranh vẽ như kiểu thư của bộ tộc XiTơ gửi cho vua Ba Tư. Nó cũng không phải là loại chữ tượng hình còn gắn bó nhiều với các yếu tố đồ hoạ như chữ cổ Ai Cập. Rất có thể, đó là thứ chữ bao gồm một hệ thống ký hiệu khá đơn giản. Mỗi ký hiệu là một đường nét ngắn, uốn lượn theo một thể thức nào đó. Số lượng ký hiệu hoạt động trong hệ thống chắc cũng có hạn, cho nên, khi viết nhiều ký hiệu đã được lập đi lập lại nhiều lần nên trong giống như đàn nòng nọc đang quấy bơi. Căn cứ vào sự mô tả ngoại hình đó, chúng ta có thể suy đoán rằng đó là một hệ thống văn tự được xây dựng trên nguyên tắc ghi âm. Những ký hiệu ghi âm trong hệ thống văn tự ấy được sử dụng độc lập không cần đến sự hiệu chính của các ký hiệu tượng hình ghi ý. Nếu những dấu tích trên trống đồng Lũng cú đúng là dấu tích văn tự thật và niên đại tuyệt đối của di vật này được xác định rõ thì đó sẽ là một đầu mối rất quan trọng giúp chúng ta lần tìm ra hình ảnh hệ thống chữ viết cổ sơ của dân tộc. Gần đây, giới khảo cổ mới khám phá ra một di tích tại thung lũng Mường Hoa, Hoàng Liên Sơn cách thị trấn Sapa khoảng 6 km. Ðó là những tảng đá trên bề mặt có nhiều nét chạm trổ. Chúng nằm rải rác xen giữa những thửa ruộng bậc thang của đồng bào Hmong-Dao. Di tích bãi đá cổ rộng khoảng 8 km2 được các nhà khảo cổ Pháp nghiên cứu từ năm 1925 gồm khoảng 159 hòn đá kích thước to nhỏ. Lớn nhất là hòn Bố dài 15 m, cao 6m trong đó đáng chú ý là những hình vẽ người, nhà sàn và các dấu hiệu có thể là hình thức phôi thai của chữ viết. Kế đến là đàn hổ đá và tấm bia có khắc chữ Việt cổ. Tại bản Pho thuộc thung lũng người ta tìm thấy những hòn đá có khắc chữ viết cổ, gần đó trên những thửa ruộng bậc thang thuộc 2 xã Lao Chẩy và Hầu Thào cũng tìm thấy những chữ viết cổ được khắc trên mặt đá. Theo nhận định của các nhà chuyên môn thì đây là chữ Việt cổ nhưng còn phải nghiên cứu giải mã những ký tự, văn tự này mới thoả đáp được vấn đề. Năm 1965, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tìm thấy một thanh kiếm cổ trong ngôi mộ cổ ở núi Vọng Sơn, Gia Lăng tỉnh Hồ Bắc thuộc địa bàn cư trú của Bách Việt xưa. Sau khi gột rửa lớp đất bám trên kiếm, các nhà khảo cổ vô cùng ngạc nhiên xen lẫn thán phục vì thanh kiếm bị chôn vùi dưới lòng đất gần 2.500 năm nhưng vẫn sáng loáng dưới ánh sáng mặt trời và toả ra một làn ánh sáng màu xanh. Dùng mũi kiếm rạch nhẹ lên một chồng giấy gồm 10 thếp manh, chồng giấy bị cắt đứt như khi ta dùng máy xén bây giờ. Ðặc biệt trên thân thanh bảo kiếm có 8 chữ nạm sợi bạc, khắc theo lối "Ðiểu triện" tức lối chữ Triện viết theo dạng hình chân chim, nội dung như sau:" Việt vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm" nghĩa là vua Việt Câu Tiễn tự đúc kiếm ..". Toàn thân và chuôi kiếm có cẩn ngọc Minh Châu màu Lam và lục tùng rất đẹp. Lối chữ " Ðiểu Triện" của người Việt cổ chính là lối chữ Thương Hiệt thời Ðế Hoàng. Công trình nghiên cứu trên được kiểm chứng bởi các công trình khảo cổ. Ðặc biệt gần đây giáo sư Hà văn Tấn, viện trưởng viện Khảo cổ CHXHCNVN đã tìm thấy một lưỡi cày Ðông Sơn, một qua đồng ở Thanh Hoá và 3 qua đồng trong 1 ngôi mộ của người nước Sở ở Hồ Nam Trung Quốc bây giờ. Trên những di vật này đều có những ký hiệu được xem là dấu vết của một hệ thống chữ viết có niên đại vào thời Chiến quốc. Giới nghiên cứu ghi nhận:"Loại chữ này có từng ký hiệu riêng rẽ, phần lớn không phải chép lại hình ảnh hiện thực nghĩa là không phải các ký hiệu hình vẽ mà là các ký hiệu qui ước. Mỗi ký hiệu có khả năng tương ứng với một từ. Như vậy, đây là một loại chữ rất tiến bộ trong lịch sử chữ viết. Nó đã trải qua giai đoạn chữ viết hình vẽ mà ý tứ trong cả văn bản được thể hiện bằng một bức vẽ như vậy có thể hệ thống chữ viết này đã ở giai đoạn chữ viết biểu ý". Theo cách phân loại của các nhà nghiên cứu chữ viết hiện nay, thì chữ viết hình vẽ được gọi là chữ viết ghi câu vì hình vẽ truyền đạt ý cả câu. Còn chữ viết mà trong đó mỗi ký hiệu tương ứng với một từ thì gọi là chữ viết ghi từ. Hệ thống chữ cổ mà chúng tôi vừa phát hiện có thể là chữ viết ghi từ (logogramme) hoàn toàn khác biệt với chữ Hán. Chữ viết trên lưỡi cày văn hoá Ðông Sơn thì hẳn là chữ viết của người Việt cổ. Các nhà nghiên cứu cũng vừa tìm thấy qua đồng ở vùng sông Mã Trung Việt và sông Dương Tử bên Trung Quốc bây giờ, trên lưỡi qua có lối chữ chỉ có thể là của người Lạc Việt, chủ nhân nền văn hoá Ðông Sơn. Như vậy, ngay giờ đây đã có thể nói rằng: " Có một hệ thống chữ viết cổ thời kỳ văn minh Ðông Sơn phát triển rực rỡ vào khoảng thế kỷ thứ IV TDL, trước khi người Hán vào xâm lược và đô hộ đất nước của người Việt cổ hơn một nghìn năm và đến năm 938 đã bị đánh đuổi về phương Bắc .."Này mời các bạn bảng hình chữ Việt cổ chép lại cho nó đúng hơn một chút... - nhóm I gồm những âm cao - nhóm II dành cho những âm tiết thấp - nhóm III là những dạng chữ ở đuôi các từ - những chỗ có dấu hỏi tôi chưa thấy có / chưa dám chắc chắn ... - cách sắp xếp và hình dáng khá giống chữ Devanagari (Thai,Khmer) - cách phát âm (gi=d=r, x=s) viết cũng theo sát âm Việt hiện đại nên thứ chữ này không thể có trước CN (thời các vua Hùng đó) Với những nghiên cứu gần đây về : Chữ Việt Cổ, Nguồn gốc Kinh Dịch, Nguồn gốc Luận thuyết Âm Dương Ngũ Hành ... xu thế tìm hiểu cội nguồn dân tộc được các nhà Học Giả tập trung nghiên cứu đã tạo nên một tâm thế mới, kích thích lòng tự hào dân tộc của chúng ta. Dân tộc Việt Nam có thể ngẩng cao đầu nếu một mai lịch sử ghi nhận những nghiên cứu của ngày hôm nay là chính xác - Chúng ta có thể giành lại bản quyền của nhiều phát kiến có tầm ảnh hưởng lớn. Chi tiết: http://i4vn.com.vn/forum/kham-pha/111390-chu-viet-co-khoa-dai-u-tui.html
  22. Chữ Việt cổ: Một phần kho tàng văn minh Việt còn ít được biết đến Hì hì...Nhân dịp nhà GIST dưới chỗ em hôm nay có bữa tiệc vui, anh em ngồi bàn luận từ truyện làm vườn, tưới cây, chuyển sang truyền thống yêu nước của dân tộc VN, ...Văn hóa Viêt>< Văn hóa Trung Quốc, và dừng lại ở Tiếng nói, Chữ Viết của người Việt_ đồng hóa hay chỉ là bị ảnh hưởng nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc... Tranh luận khá sôi nổi và bất ngờ là ngay khi về, em được một người bạn cung cấp luôn chút tài liệu này, xin luôn tí đất đai 4rum nhà mình, em mạn phép post, Mời các bác cùng bạn luận tiếp quan điểm của các bác nhé. Mọi bàn luận xoay quanh chủ đề: Việt nam bị đồng hóa bởi Trung Quốc, hay chỉ là bị ảnh hưởng nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc riêng. Trước hết giới thiệu về bài viết về chữ Việt cổ: Nội dung mời tham khảo tại đây: Chữ việt cổ phần 2 Ngoài ra các bạn có thể vào diễn đàn lịch sử VN để tìm hiểu thêm. Thi thoảng mình có vào, và rất có ich khi theo dõi các dòng tranh luận sự kiện. biết thêm thông tin nhiều chiều ================= Một trong nhiều điều nhầm tưởng của nhiều người Việt hiện nay rằng dân tộc ta có một nền văn minh cổ thấp kém hơn một số vùng khác trên thế giới, một phần vì chúng ta phải vay mượn chữ viết từ nước ngoài, trước là từ Trung hoa, sau từ La-tinh. Mặc cảm tự ti về tình trạng mù chữ của người Việt xưa là một chủ đề đã được nhắc đến nơi này, nơi khác. Sự thực hoàn toàn không phải như vậy: người Việt cổ là một trong số ít những dân tộc trên thế giới đã sáng tạo ra chữ viết cho riêng mình. Xin giới thiệu bài nghiên cưu của Đỗ Quang về chữ viết của người Việt cổ. Cách đây chưa lâu, từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta thường được nghe thầy cô giảng về lịch sử 4000 năm của dân tộc. Nhiều sách viết về lịch sử, hầu hết đều cho rằng Việt Nam có nền văn hiến 4000 năm.Thực ra cách đây 5.000-6.000 năm, cộng đồng các cư dân Việt cổ đã sinh tụ và phát triển trên một lãnh thổ rộng lớn (Xem thêm bản đồ Migration patterns of early Humans và M175 từ Genographic project). Sử sách nước ta và nước ngoài từ xưa và hiện nay đều xác định rõ niên đại của triều đại Hồng Bàng, với Quốc hiệu Văn Lang là từ năm 2.879 trước Công nguyên (nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương – Hùng Vương 1) đến năm 258 trước Công nguyên (kết thúc triều đại của chi thứ 18), cũng được gọi là Kỷ Hồng Bàng, thời đại các Vua Hùng.Thời kỳ này, nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, lúa nước đã khá phát triển với kỹ thuật đồ đồng, những trống đồng nổi tiếng mà hơn trăm năm qua đã tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước ta hiện nay và lãnh thổ nước Văn Lang xa xưa. Theo Khảo cổ học thì ở Việt Nam lúa nước đã có từ 10.000 năm về trước (Xem thêm bài 7: Văn hoá Hoà Bình – Hoabinhian) và đồ đồng đã phát triển khoảng cách đây 5.000 năm (Xem thêm bài 15 : Đồ đồng cổ Đông Sơn) .Thành tựu khảo cổ học, chủng tộc học, v.v…về cư dân Việt cổ và vùng Đông Nam Á, tuy đến nay vẫn còn là bước đầu, mới mẻ nhưng cũng đã chứng minh được phần nào những điều trên. Đặc biệt vui mừng là trong vài thập niên gần đây, nhiều chuyên gia trên thế giới và trong nước, đã có những thành tựu quan trọng chứng minh và khẳng định nền văn hoá tiền sử của cư dân Việt, văn hoá Văn Lang, tồn tại nhiều năm trước công nguyên. Một trong những thành tựu rực rỡ nhất mà ông ta xây dựng nên từ thời tiền sử là thành tựu giáo dục. Thời Hùng Vương chúng ta đã có một hệ thống giáo dục với các trường học, các thầy cô giáo và các em học sinh. Cha ông ta đã phát minh ra giấy viết và đặc biệt đã phát minh ra hệ thống chữ viết riêng. Chữ của thời Hùng Vương là loại chữ gì ? Chúng ta có thể khẳng định rằng: Không phải là chữ Hán. Mặc dù những tài liệu quý báu đã thất lạc rất nhiều, như việc Mã Viện đã tịch thu nhiều trống đồng có khắc chữ trên đó để đúc ngựa dâng cho Hán Quang Vũ và đúc cột đồng trụ, năm 207 sau công nguyên, Sỹ Nhiếp du nhập sang nước ta chữ Hán đồng thời ra lệnh thiêu huỷ sách vở và cấm nhân dân không được dùng thứ chữ viết của tổ tiên ta, nhưng chữ Việt Cổ càng ngày càng phát lộ nhiều : Trên trống đồng, trên qua đồng, trên vách các hang động, bãi đá cổ ở Sapa, ở Pá Màng xã Liệp Tè Thuận Châu Sơn La, chữ Việt Cổ còn tồn tại ở vùng biên viễn Thập Châu Nghiên cứu về chữ Việt cổ . Người Việt ta lập nước rất sớm, nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có thầy giáo và học trò, điều đó chứng tỏ dân tộc ta đã có chữ, nhưng đó là thứ chữ gì ? Trong hơn một chục năm gần đây, vấn đề chữ viết của người Việt cổ đã được đặt ra trên tinh thần nghiêm túc và khoa học trong các hội nghị nghiên cứu thời kỳ các vua Hùng. Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” nghĩa là thời vua Nghiêu nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu. Theo cổ sử Trung Quốc “vào thời Vua Nghiêu ( năm 2357 trước công nguyên) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau”. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch. Sang thế kỷ 20, nhờ khảo cổ học và các môn khoa học khác phát triển, cung cấp nhiều bằng chứng khoa học mới về sự tồn tại của chữ Việt cổ. Năm 1979 Giáo sư Hà Văn Tấn phát hiện trên một công cụ bằng đồng - mà các nhà khảo cổ học quen gọi là lưỡi cày hình cánh bướm, đặc trưng cho vùng sông Mã - có hai kí hiệu ở hai bên họng tra cán. Hai kí hiệu này do hai bên không đối xứng nhau, ít có khả năng là hoa văn trang trí, nhiều khả năng là chữ viết. Những chữ việt cổ còn được phát hiện trên nhiều hiện vật khảo cổ khác. Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự. Đó là những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được. Ngược dòng thời gian, năm 1930 một hiện vật gốm quý hiếm được M-CoLan phát hiện dưới chân vách đá Lan Gan ở Hoà Bình. Ban đầu người ta chỉ coi chúng là vật trang sức, “không có công dụng thực tế, không rõ để làm gì ...” . Hai chiếc đĩa cổ bằng đất nung có chữ Việt cổ (chữ O và chữ S) ở Lan Gan (Hòa Bình) Đây là những chữ cổ có tuổi khảo cổ học một vạn năm, thuộc nền văn hoá đồ đá giữa Hòa Bình (xem thêm bài 7: Văn hoá Hoà Bình – Hoabinhian) và trong đó có chữ thứ 2 giống chữ Sĩ của Hán tự ngày nay, phát hiện này trong thời gian dài đã làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu, vì nó có trước Chữ Giáp cốt Ân - Thương (1392 - 1122 - Tr. CN) khoảng 6000 năm. Lúc đó cả tộc danh Hoa Hạ và chủng Trung Mông -gô lô-ít đều chưa có mặt (xem thêm bản đồ Migration patterns of early Humans và M175 từ Genographic project). Sử cũ cho biết, sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị thi hành chính sách đồng hoá. Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, sau này cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15…, Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, tưởng rằng đã bị xoá sạch là điều dễ hiểu. Trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do Viện Văn hoá in năm 1986, Giáo sư Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Như vậy, dân tộc Kinh - Lạc Việt lại không còn văn bản hay sao? Riêng ở Việt Nam, chữ khoa đẩu được dùng lâu hơn. Mãi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn còn, tuy Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng. Nhiều nhà nghiên cứu, từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ được phát hiện ngày một nhiều trên nhiều hiện vật khảo cổ, được khắc trên đá, trên xương thú, trên đồ đồng như vũ khí, trống đồng cổ và phân bố rộng khắp lưu vực có người Việt sinh sống. Chữ Việt cổ trên thân trống đồng Lũng Cú Chữ cổ trên bãi đá cổ Sapa Một số văn bản có chữ Việt cổ tìm được tại Sơn La. . Gần đây Nhóm nghiên cứu Chữ Việt cổ và giáo dục thời Hùng Vương, do nhà văn Khánh Hoài- Đỗ Văn Xuyền lãnh đạo đã có những khám phá rất quan trọng. Một trong những kết quả nghiên cứu của Nhóm là phát hiện ra một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Các nhà khoa học cho rằng văn tự này có thể là một biến thể của chữ “Khoa đẩu” hay “Hoả tự” đã ghi trong cổ sử. Thứ chữ đã tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt - Mường. Do không được sử dụng phổ biến, bộ chữ này bị đóng băng, không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. . . Thầy Xuyền và một số chữ Việt cổ được phát hiện tại các khu vực khác nhau. . . Một sổ khu vực phát hiện dấu tích chữ Khoa đẩu. . Vào năm 1903 Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh công bố việc tìm ra một văn bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa vờn cháy mà ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh ông dịch được nội dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề "Mời trầu" có nội dung ca ngợi tình yêu. Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của tổ tiên ta từ thời các vua Hùng nay vẫn còn truyền lại và lưu hành trong một bộ phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì:"Thập châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ này". Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1855) đã phát hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự , trong đó có một bộ chữ cái có kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần trắc. Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần bằng, 15 thể chữ cái theo vần trắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà Ông gọi là "tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu" (tức là có thể chuyển ngữ cho chữ Hán). Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, ông sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là: - Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ? - Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của ký tự đó không ? - Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm) Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ La Tinh của phương Tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí. Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông mới tìm ra quy luật – Quy luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được quy luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, những nhà truyền giáo người BồĐào Nhađã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La Tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ. Chính trong cuốn “Từ điển Việt Bồ La”, Alexandre de Rodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, anh ta đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo thầy Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ ! Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi cả nước khởi nghĩa giành độc lập, mùa xuân năm 40, được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ . . Một số bài thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ . (Doremon360 tổng hợp từ bài viết của 2 tác giả Đỗ Quang và Quang Hoà, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh) . . Phụ lục : Chữ Ba Tư cổ (Iran) . Chữ Ai Cập cổ, chữ Arap, chữ Hy Lạp cổ. Chi tiết: http://vikool.org/thread10432.html
  23. Liệu những cư dân trên trái đất hiện nay có từng sảy ra trong quá khứ như cách giải thích của bạn? Có thể lắm chứ? Tôi đã từng đọc trong cuốn "101 câu chuyện bí ẩn"(tôi ko nhớ chính xác) trong đó có 1 câu chuyện kể về 1 vùng cư dân ở Nam Mỹ họ thường xuyên nhìn về chòm sao Bắc Đẩu và nói đó là quê hưong của họ và họ đến trái đất trên 1 phi thuyền (đại thể giống như thế vì lâu lắm rồi tôi không nhớ chính xác). Tuy nhiên điều trên cũng khó giải thích nền văn minh hiện tại vì với khoa học phát triển như vậy thì tại sao nền văn minh của chúng ta hiện nay vẫn còn thua họ? CHỉ có cách giải thích theo các tài liệu cổ về trận Đại hồng thủy và nền văn minh đó bj diẹt vong và nền văn minh của cúng ta hiện nay chỉ là hậu duệ của nền văn vinh đó Kính bạn!
  24. CHào bạn LT. Tôi công nhận câu "Vật chất quyết định ý thức" là đúng ngay với khoa học hiện tại. Tuy nhiên ngay mệnh đề đó hình nhu cũng tự chia Vật chất và ý thức ra 2 phạm trù khác nhau."Hổ cũng không an thịt con" và trong cs hiện tại tôi thấy dù 1 kẻ có tàn ác thế nào thì với vợ, con, bố mẹ chúng vẫn còn nhân tính người (trừ vài trường hợp đặc biệt). Tuy nhiên đối với XH và đồng loại thì lại là chuyện khác chúng sẵn sàng hành động bằng mọi cách để đạt được mục đích. Tôi cũng không đồng tình với quan điểm Mê tín dị đoan cuồng tín, nhưng nếu "Chết chưa phải đã hết" thì mỗi con ngừoi trong xh này đều có thể sẽ khác và sống có tâm hơn. Tôi cũng đã chứng kiến rất nhiều các hiện tượng trong thế giới siêu hình từ áp vong, gọi hồn, đứng cách xa đọc thư...Vậy trong hiện tượng áp vong vào nguòi thân thì theo quan điểm "VC quyết định YT" sẽ được hiểu thế nào? và Những điều mà vong nói ra đúng nhu thực tại thì liệu YT có lý trí như con người hay ko? Tôi không muốn bàn về hai chữ Nhân Đức ở đây. Điều này để Xh đánh giá và mỗi chúng ta tụ hiểu và hãy sống theo những gì mình biết.
  25. Vật chất quyết định Ý thức Chính điều này đã làm băng hoại đạo đức XH, quan điểm "chết là hết" giống như kiểu thằng cùn, thằng cùng đường không còn gì để mất nên sẵn sàng "làm tất cả" để có được mọi thứ trong cuộc sống. Theo tôi câu nói trên chúng ta phải xem xét "ý thức" thuộc phạm trù hữu hình (VC) hay siêu hình (TL) đã, mà cái này thì khoa học đang pó tay.
×
×
  • Create New...