HoaiDuc Posted 8 Tháng 12, 2010 Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Có rất nhiều trang web trích dẫn bài viết của bác Thiên sứ về Lạc thư hoa giáp, nhưng có điều trích dẫn không giống nhau (dù cùng ghi tên bác Thiên Sứ là tác giả) ở Nhâm Tuất, Quý Hợi. Ví dụ có trang ghi Nhâm Tuất, Quý Hợi là Thiên Thượng Hỏa, như trang sau : http://www.thegioivohinh.com/diendan/showthread.php?t=2356 lại có trang ghi Nhâm Tuất, Quý Hợi là Phúc Đăng Hỏa, như trang sau (xem bảng liệt kê ở cuối trang): http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/....php/t5008.html Kính mong các bác cho ý kiến ạ. Sự khác biệt này làm cháu phân vân quá vì cùng gọi là Lạc thư hoa giáp mà sao lại không giống nhau ??
Quản trị Diễn Đàn Thiên Luân Posted 8 Tháng 12, 2010 Quản trị Diễn Đàn Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Nhâm Tuất - Quý Hợi - Thiên Thượng Hỏa là bản chính xác nhất!
Mục Đồng Posted 8 Tháng 12, 2010 Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Nhâm Tuất - Quý Hợi - Thiên Thượng Hỏa là bản chính xác nhất! Có nhầm lẫn không vậy huynh, bắt đầu từ Giáp Ngọ, Ất Mùi là Sa Trung Kim cứ cách bát sinh tử đến hết 30 năm lại quay lại từ đầu Kỷ II mà tính tiếp như thế thì đến Nhâm Tuất, Quí Hợi là Phúc Đăng Hỏa là đúng rồi mà huynh. Vả lại theo như quy tắc Sinh - Vượng - Mộ thì trong vòng 6 năm thì 2 năm đầu là Sinh, 2 năm sau là Vượng, 2 năm cuối là Mộ, Nhâm Tuất, Quí Hợi là 2 năm cuối của Vận 5 Kỷ II nên phải thuộc Mộ của Hành Hỏa chứ nhỉ? Có phải hành Hỏa kỷ II theo chu kỳ Sinh Vượng Mộ như thế này không vậy huynh: Thiên Thượng Hỏa --> Sơn Hạ Hỏa --> Phúc Đăng Hỏa không huynh hay là đệ hiểu sai nhỉ? Như vậy thì theo đệ Nhâm Tuất, Quí Hợi là Phúc Đăng Hỏa mới đúng. Phần Luận Tuổi Lạc Việt của Sư Phụ cũng ghi vậy mà: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...t=0&start=0 Kính huynh!
Quản trị Diễn Đàn Thiên Luân Posted 8 Tháng 12, 2010 Quản trị Diễn Đàn Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Có nhầm lẫn không vậy huynh, bắt đầu từ Giáp Ngọ, Ất Mùi là Sa Trung Kim cứ cách bát sinh tử đến hết 30 năm lại quay lại từ đầu Kỷ II mà tính tiếp như thế thì đến Nhâm Tuất, Quí Hợi là Phúc Đăng Hỏa là đúng rồi mà huynh. Vả lại theo như quy tắc Sinh - Vượng - Mộ thì trong vòng 6 năm thì 2 năm đầu là Sinh, 2 năm sau là Vượng, 2 năm cuối là Mộ, Nhâm Tuất, Quí Hợi là 2 năm cuối của Vận 5 Kỷ II nên phải thuộc Mộ của Hành Hỏa chứ nhỉ? Có phải hành Hỏa kỷ II theo chu kỳ Sinh Vượng Mộ như thế này không vậy huynh: Thiên Thượng Hỏa --> Sơn Hạ Hỏa --> Phúc Đăng Hỏa không huynh hay là đệ hiểu sai nhỉ? Như vậy thì theo đệ Nhâm Tuất, Quí Hợi là Phúc Đăng Hỏa mới đúng. Phần Luận Tuổi Lạc Việt của Sư Phụ cũng ghi vậy mà: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...t=0&start=0 Kính huynh! Bản này là bản đầu tiên, sau này sư phụ có đính chính lại trong "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt". Đợi 1 tý up lên cho nhé!
Quản trị Diễn Đàn Thiên Luân Posted 8 Tháng 12, 2010 Quản trị Diễn Đàn Report Posted 8 Tháng 12, 2010 LẠC THƯ HOA GIÁP Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ KỶ THỨ NHẤT Lục khí - Vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Tí. Ất Sữu ---------------- Hải Trung Kim Bính Dần. Đinh Mão -------------Giáng Hạ Thuỷ Mậu Thìn.Kỷ Tỵ--------------- Đại Lâm Mộc Lục khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Ngọ. Tân Mùi -------------Lộ Bàng Thổ Nhâm Thân. Quí Dậu----------- Kiếm Phong Kim Giáp Tuất. Ất Hợi--------------Tuyền Trung Thủy Lục khí - Vân 3 Tam Âm Tam Dương Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Lư Trung Hỏa Mậu Dần, Kỷ Mão-------------- Thành Đầu Thổ Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc Giáp Thân, Ất Dậu--------------Sơn Đầu Hỏa Bính Tuất, Đinh Hợi------------ Ốc Thượng Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Tí, Kỷ Sữu---------------- Trường Lưu Thủy Canh Dần, Tân Mão------------ Tùng Bách Mộc Nhâm Thìn, Quí Tỵ------------- Tích Lịch Hỏa KỶ THỨ II Lục khí - vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Ngọ, Ất Mùi ---------------Sa Trung Kim Bính Thân, Đinh Dậu------------ Thiên hà Thủy . Mậu Tuất, Kỷ Hợi--------------- Bình Địa Mộc Lục Khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Tí, Tân Sữu---------------Bích Thượng Thổ Nhâm Dần, Quí Mão-------------Kim Bạch Kim Giáp Thìn, Ất Tỵ----------------Đại Khê Thủy Lục Khí - Vận 3 Tam Âm Tam Dương Bính Ngọ, Đinh Mùi--------------Sơn Hạ Hỏa Mậu Thân, Kỷ Dậu-------------- Đại Dịch Thổ Canh Tuất, Tân Hợi------------ Thoa Xuyến Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc Giáp Dần, Ất Mão-------------- Phúc Đăng Hỏa Bính Thìn, Đinh Tỵ------------- Sa Trung Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Ngọ, Kỷ Mùi --------------Đại Hải Thủy Canh Thân, Tân Dậu-----------Thạch Lựu Mộc Nhâm Tuất, Quí Hợi------------Thiên Thượng Hỏa 1
Mục Đồng Posted 8 Tháng 12, 2010 Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Bản này là bản đầu tiên, sau này sư phụ có đính chính lại trong "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt". Đợi 1 tý up lên cho nhé! Oa oa, thì ra là Sư Phụ sửa ở trong Hà Đồ và văn minh Lạc Việt, em chỉ đọc phần chữ và bản cũ mà không có đọc phần hình chụp 2 bản kỷ I kỷ II của SP nên không biết ạ! Thanks huynh Thiên Luân nhiều ạ! Như vậy là Phúc Đăng Hỏa --> Sơn Hạ Hỏa --> Thiên Thượng Hỏa sắp xếp theo chu kỳ Sinh Vượng Mộ phải không ạ? Kính huynh!
Quản trị Diễn Đàn Thiên Luân Posted 8 Tháng 12, 2010 Quản trị Diễn Đàn Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Sơn Hạ - Phúc Đăng - Thiên Thượng mới là Sinh vượng mộ chứ nhỉ?
Mục Đồng Posted 8 Tháng 12, 2010 Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Dạ em trả lời trước lúc huynh post bảng LTHG lên nên có chút nhầm lẫn ấy mà! Thân mến!
HoaiDuc Posted 8 Tháng 12, 2010 Author Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Sơn Hạ - Phúc Đăng - Thiên Thượng mới là Sinh vượng mộ chứ nhỉ? Nhưng em không hiểu vì sao Thiên Thượng lại là Mộ nhỉ, trong khi Thiên Thượng Hỏa là nắng mặt trời, là thứ hỏa mạnh nhất trong các thứ hỏa, về mặt trực giác thì nó có vẻ là vượng, nhưng nó lại được xếp vào Mộ. Mong các anh giải nghĩa thêm.
Quản trị Diễn Đàn Thiên Luân Posted 8 Tháng 12, 2010 Quản trị Diễn Đàn Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Sơn Hạ - Phúc Đăng - Thiên Thượng không phải để hiểu theo nghĩa đơn giản như Lửa dưới núi, lửa đèn ... mà đây là các mức độ vận động của hành Hỏa, từ nhỏ tới lớn, từ đơn giản đến phức tạp!
HoaiDuc Posted 8 Tháng 12, 2010 Author Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Sơn Hạ - Phúc Đăng - Thiên Thượng không phải để hiểu theo nghĩa đơn giản như Lửa dưới núi, lửa đèn ... mà đây là các mức độ vận động của hành Hỏa, từ nhỏ tới lớn, từ đơn giản đến phức tạp! Anh cho em hỏi thêm chút, chữ "Mộ" ở đây có phải nghĩa là điêu tàn "hết thời, quá đát" không ạ ? Hay "Mộ" nghĩa là đạt đến cực đại và dừng lại không phát triển nữa ạ ? Em cảm ơn anh !
Mục Đồng Posted 8 Tháng 12, 2010 Report Posted 8 Tháng 12, 2010 Anh cho em hỏi thêm chút, chữ "Mộ" ở đây có phải nghĩa là điêu tàn "hết thời, quá đát" không ạ ? Hay "Mộ" nghĩa là đạt đến cực đại và dừng lại không phát triển nữa ạ ? Em cảm ơn anh ! Mộ là đặt đến mức cao nhất và sẽ chuyển sang hành khác, ví dụ như hành Hỏa thì Mộ của Hỏa là hỏa cao nhất và sẽ chuyển sang chu kỳ sinh của hành Thổ, chỉ có Mộ mới chuyển đổi sang hành mà nó sinh ra chứ Sinh và Vượng không có tính chất này mà chỉ là sự phát triển của vật chất ở các cáp độ cao hơn thôi. Thân mến! 1
Recommended Posts
Vui lòng đăng nhập để bình luận
Bạn sẽ có thể bình luận sau khi đăng nhập
Đăng nhập ngay