amouruniversel
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
156 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by amouruniversel
-
3.2 GIỚI THIỆU CÁCH SỬ DỤNG TAM TRUYỀN Uploaded with ImageShack.us
-
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
Cám ơn bác! những gì bác dạy cao siêu quá, mà cháu lại thích "mì ăn liền" thành ra lung tung hết cả :), mong bác không ngại cháu tối dạ tiếp tục chỉ bảo cho: Uploaded with ImageShack.us -
Chào chú Thiên sứ và bác Hà Uyên, Có rất nhiều sách cổ về y học, dưỡng sinh, đạo học như: - Hoàng đề nội kinh - Nam Hoa Kinh - Đạo Đức Kinh - Tham Đồng Khế - Tính Mệnh Khuê Chỉ Là những tài liệu quý giá của người xưa để lại, nhiều khi có chứa những kiến thức liên quan tới lịch pháp, chiêm đoán, y học vvv... nhưng những người đi sau như amour chẳng hạn khó có thể tiếp cận, tiếp cận rồi cũng chưa chắc đọc và được bởi nội dung quá thâm sâu, và khó nhất là sách sử dụng các từ Hán cổ mà nếu không được học qua chữ nho sẽ khó lòng khảo cứu. Để giúp cho hậu học có thêm phương tiện học hỏi, xin chú Thiên sứ và ban quản trị diễn đàn cho mở thêm chuyên mục [Đạo Học - Dưỡng Sinh, hoặc là Kinh sách cổ gì đó...] ở trong Trao đổi học thuật hay ở trong ngay mục Thái Ất - Độn giáp này thì tốt quá. Thanks!
-
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
BÁC HÀ UYÊN SỬA: ------------------------ Chào Amour Vòng 1 được trình bầy theo Lạc thư, có sự nhầm lẫn căn bản. Cụ thể như sau: 1. Hướng Tây: phối với can Đinh, bất kể quẻ nào trong 64 quẻ, thì sự khởi đầu luôn phải bắt đầu từ hào 2, tiếp đến hào 3, hào 4, hào 5, hào 6, hào 1. Như vậy can chi Đinh Hợi là tới "cực", can chi Đinh Tị là tới "cùng". 2. Hướng Tây Nam: phối can Ất, bất kể quẻ nào trong 64 quẻ khi bay về an tại cung Khôn 2, hướng Tây Nam, thì sự khởi đầu luôn phải bắt đầu từ hào 4,, tiếp đến hào 5, 6, 1, 2, 3 ứng với can chi Ất Sửu. Như vậy, thì can chi Ất Dâu sẽ tới "cực" và can chi Ất Mão sẽ tới "cùng". Đối với can Quý, thì sự khởi đầu là hào 6, tiếp đến hào 1, 2, 3, 3, 4, 5. 3. Hướng Nam: phối can Kỷ, bất kể quẻ nào trong 64 quẻ, khi bây về an tại cung Ly 9, hướng Nam, thì sự khởi đầu từ hào 6, tiếp theo là hào 1, 2, 3, 4, 5 4. Hướng Đông Nam: phối can Tân, tương tự như trên, sự khởi đầu từ hào 4, tiếp theo là hào 5, 6, 1, 2. 3. Đây là những cung được phối với bát quái mang tính "chất âm", nên thứ tự số hào là hướng tăng dần từ 1, 2, 3, 4, 5, 6. Đối với nhưng cung số 6, số 1, số 8, số 3, của Lạc Thư được phối với những quẻ mang tính "chất dương", thì thuận tự số hào là hướng giảm dần 6, 5, 4, 3, 2, 1. Cụ thể như sau: 5. Hướng Đông: phối với can Canh, sự khởi đầu là từ hào 4, tiếp theo là hào 3, 2, 1, 6, 5 6. Hướng Đông Bắc: phối với can Bính, sự khởi đầu là từ hào 6 phối Bính Dần, tiếp theo là hào 5 phối Bính Tý, tiếp theo là hào 4 phối Bính Tuất, rồi Bính Thân hào 3, Bính Ngọ hào 2, Bính Thìn hào 1 (thì mới phối ứng được với Giác Cang - Nhị thập bát tú) 7. Hướng Bắc: phối can Mậu, sự khởi đầu từ hào 2 ứng Mậu Thìn, tiếp theo Mậu Dần hào 1, Mậu Tý hào 6, Mậu Tuất hào 5 (sao Khuê), Mậu Thân hào 4, Mậu Ngọ hào 3. 8. Hướng Tây Bắc: phối can Giáp Nhâm, sự khởi đầu đối với Giáp Tý là từ hào 1, Giáp Tuất hào 6, Giáp Thân hào 5, Giáp Ngọ hào 4, Giáp Thìn hào 3, Giáp Dần hào 2 (mới sinh được vòng Lộc Tồn). Đối với can Nhâm, thì sự khởi đầu là từ hào 5, tiếp theo là hào 4, 3, 2, 1, 6. Amour nên sửa lại, vì đây là kiến thức vô cùng quan trọng. Hà Uyên. ------------------------ nay xin sửa lại chung cho cả 8 vòng như sau: Uploaded with ImageShack.us xin bác Hà Uyên xem lại giúp cháu đã đúng chưa ạ. -
bác ơi, cháu không biết tiếng Hán, thế này thì cháu bó tay.
-
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
Hê hê, bác ơi tại cháu xem phần bác giảng hay quá, nhưng lại không biết mình hiểu có đúng không, vì thế mới lập topic này để tìm hiểu thêm. Cháu học mà không dùng được nên cảm thấy bứt rứt trong người, vì vậy mới hỏi lung tung. Mong bác không phiền mà giảng cho. -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
Cám ơn bác nhiều, mong bác xem và kiểm tra lỗi để sửa giúp cháu. 4 ỨNG DỤNG TRONG CHIÊM ĐOÁN Thú thực là tối qua cháu ngồi cả buổi mà không sao tính ra để hiểu được tại sao bác lại nói (trong phần cùng học lục nhâm) là bác hiện nay đang ở vòng 6??? Cháu hiểu thế này có đúng không ah: để chiêm đoán cho người nào, thì lấy ngày sinh của người đó là vòng 1 của bảng hoa giáp, sau đo tiếp tục tính tới thời điểm cần tính toán xem là vòng mấy phải không ạ. Nếu đúng như vậy thì cứ hết 8 vòng lại quay lại vòng 1 để tiếp tục tính tới. Cháu hiểu như vậy không biết đã đúng chưa ạ, rất mong bác giải thích cho. Còn phần trên bác sửa, tối nay cháu về sẽ chỉnh sửa lại và post lên sau. Mong bác chỉ dạy phần ứng dụng của học thuyết này. -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
VÒNG 8 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày bằng bảng Lạc Thư Uploaded with ImageShack.us LƯU Ý VỀ CÁC SỐ TRÙNG LƯU TRONG 8 VÒNG CỦA BẢNG HOA GIÁP: Khi can Giáp Nhâm được nạp vào 8 vòng của quẻ Càn ta sẽ được 12 số trùng lưu như sau: Uploaded with ImageShack.us Như vậy, trong 24 ngày được gọi là "trùng lưu" này, thì số ngày thực tính mang thông tin, chỉ còn 12 ngày, vậy nên số "thông tin" thực có trong một Vòng sẽ là 60 - 12 = 48, tương đương với một vòng Dịch Can Chi. Khi trải qua 8 vòng thì số ngày mang "thông tin" là 48 x 8 = 384, tương đương với số hào của 64 quẻ Dịch. - Mỗi quẻ Dịch có 6 hào, ta ví dụ mỗi một Hào trong quẻ Dịch tương đương với đơn vị tính là một ngày. Như vậy, một vòng Dịch Can Chi sẽ tương đương với 60 ngày. Thuận tự hết 8 vòng, thì số ngày là: 60 x 8 = 480 ngày tương đương với 480 hào từ. Ta có thể đưa ra một kết luận rằng: trong quá trình thực tính, thì tổng số hào của Kinh Dịch là 480 hào, được phân làm 8 vòng, mỗi một vòng là 60 hào tương đương với 60 can chi, trong mỗi một vòng thì số "trùng lưu" sẽ là 12, số ngày mang "thông tin" thực là 48, theo tỷ lệ 1 / 4. Tỷ lệ này đã được Thiệu Ung ứng dụng, xây dựng học thuyết HOÀNG CỰC KINH THẾ, THIẾT BẢN THẦN SỐ, MAI HOA DỊCH SỐ, ...v.v... 480 HÀO LÀ SỐ THỰC CỦA KINH DỊCH. -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
VÒNG 7 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày bằng bảng Lạc Thư Uploaded with ImageShack.us -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
VÒNG 4 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày theo bảng Lạc thư: Uploaded with ImageShack.us VÒNG 5 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày theo bảng Lạc Thư: Uploaded with ImageShack.us VÒNG 6 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày theo bảng Lạc Thư: Uploaded with ImageShack.us -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
VÒNG 2 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày theo lạc thư: Uploaded with ImageShack.us VÒNG 3 CỦA BẢNG HOA GIÁP Uploaded with ImageShack.us Trình bày theo bảng Lạc Thư: Uploaded with ImageShack.us -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 5 Uploaded with ImageShack.us PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 6 Uploaded with ImageShack.us PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 7 Uploaded with ImageShack.us PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 8 Uploaded with ImageShack.us 3 DIỄN DỊCH BẢNG HOA GIÁP THEO 8 VÒNG Bảng 60 hoa giáp vốn là do 10 can và 12 chi tuần tự ghép với nhau mà thành. Trong bảng sau ta thấy số thứ tự của từng con giáp từ 1 tới 60. Ta nhận thấy rằng: • Số thứ tự 1 và 9 luôn luôn là hai can Giáp và Nhâm • Số thứ tự 2 và 0 luôn luôn là hai can Ất và Quý • Số thứ tự 3 luôn là can Bính • Số thứ tự 4 luôn là can Đinh • Số thứ tự 5 luôn luôn là Mậu • Số thứ tự 6 luôn luôn là Kỷ • Số thứ tự 7 luôn luôn là Canh • Số thứ tự 8 luôn luôn là Tân SẮP SẾP BẢNG HOA GIÁP THEO CỘT DỌC Uploaded with ImageShack.us SẮP SẾP BẢNG HOA GIÁP THEO CỘT NGANG Uploaded with ImageShack.us Sử dụng thuyết "Nạp Giáp" ta đã có thể lập ra 8 vòng như sau: VÒNG 1 CỦA BẢNG HOA GIÁP: Uploaded with ImageShack.us Trình bày vòng 1 theo bảng Lạc Thư Uploaded with ImageShack.us -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
Uploaded with ImageShack.us Tới đây ta đã tạm hiểu khái niệm "vòng" là gì, và ở phần "GIỚI THIỆU VỀ THUYẾT NẠP GIÁP" ta đã biết công thức nạp 10 Can và 12 Chi cho 8 quẻ thuần. Nay ta biết được rằng các quẻ thuần mỗi quẻ lại biến ra được 7 quẻ dưới nó, vì thế ta có thể tiếp tục xử dụng thuyết "Nạp Giáp" để phân ra cho 8 vòng của từng quẻ thuần đó như sau: PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 1: Uploaded with ImageShack.us PHỐI 10 CAN VÀO VÒNG 2 Uploaded with ImageShack.us PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 3 Uploaded with ImageShack.us PHỐI 1O CAN VÀO VÒNG 4 Uploaded with ImageShack.us -
Thuyết Nạp Giáp Và 8 Vòng Can Chi
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
PHÉP NẠP HÀO CHO 12 ĐỊA CHI Uploaded with ImageShack.us 2 64 QUẺ DỊCH QUY VỀ 8 QUẺ THUẦN Theo bác Hà Uyên đã giảng thì Nhà Đại Dịch học Trịnh Huyền đã công bố về "HÀO THẦN ĐỒ", trong kinh dịch có cả thảy 8 quẻ "Thuần" là: Càn - Khôn, Chấn - Tốn, Khảm - Ly, Tốn - Đoài, từ 8 quẻ thuần này được ông Kinh Phòng thời Hán phát minh ra quy luật biến đổi 8 quẻ thuần ra 56 quẻ còn lại, cách biến của Kinh Phòng là lần lượt từ hào 1 biến tới hào 6 của mỗi quẻ thuần: âm thì biến thành dương, còn dương thì biết thàm âm. MINH HỌA CÁCH BIẾN TỪ 8 QUẺ THUẦN RA 56 QUẺ CÒN LẠI I. Càn cung bát quái thuộc kim vòng 1 Càn Vi Thiên: quẻ bát thuần Càn có 6 hào dương vòng 2 Thiên Phong Cấu: hào thứ nhất của Càn dương biến thành âm vòng 3 Thiên Sơn Độn: tới lượt hào thứ 2 của Càn dương biến thành âm vòng 4 Thiên Địa Bỉ: tới lượt hào thứ 3 của Càn dương biến thành âm vòng 5 Phong Địa Quán: tới lượt hào thứ 4 của Càn dương biến thành âm vòng 6 Sơn Địa Bác: tới lượt hào thứ 5 của Càn dương biến thành âm. vòng 7 Hỏa Địa Tấn: nơi đây không thể quay lên biến hào 6 thành âm (bởi như vậy sẽ biến ra quẻ Khôn mất), vì vậy giữ nguyên hào 6 dương và quay chở về hào 4, biến ngược nó thành hào dương. vòng 8 Hỏa Thiên Dại Hữu: quay lại biến hào 1, 2, 3 từ âm biến ngược ra dương II. Khôn cung bát quái thuộc thổvòng 1 Khôn Vi Địa: quẻ này nguyên bản có 6 hào âm vòng 2 Địa Lôi Phục: biến hào âm thứ nhất của Khôn thành dương vòng 3 Địa Trạch Lâm: biến hào âm thứ hai của Khôn thành dương vòng 4 Địa Thiên Thái: biến hào âm thứ ba của Khôn thành dương vòng 5 Lôi Thiên Đại Tráng: biến hào âm thứ tư của Khôn thành dương vòng 6 Trạch Thiên Quải: biến hào âm thứ năm của Khôn thành dương vòng 7 Thủy Thiên Nhu: ở đây đã là lần biến thứ 6, và ta không thể biến tiếp hào âm cuối cùng của Khôn ra hào dương được nữa (bởi biến nữa thì sẽ ra quẻ Càn mất). Vì vậy ta quay lại hào thứ 4 giờ đây đang là một hào dương, đem biến ngược nó thành một hào âm. vòng 8 Thủy Địa Tỉ: quay về biến ngược các hào 1, 2, 3 từ các hào dương trở về thành hào âm. III. Chấn cung bát quái thuộc mộc vòng 1 Chấn Vi Lôi: quẻ bát thuần Chấn có hai quái đơn là Chấn chồng lên nhau. vòng 2 Lôi Địa Dự: biến hào dương thứ nhất của Thuần Chấn thành hào âm. vòng 3 Lôi Thủy Giải: biến hào âm thứ hai của Thuần Chấn thành hào dương vòng 4 Lôi Phong Hằng: biến hào âm thứ ba của quẻ Thuần Chấn thành hào dương vòng 5 Địa Phong Thăng: biến hào dương thứ tư của quẻ Thuần Chấn thành hào âm vòng 6 Thủy Phong Tỉnh: biến hào âm thứ năm của quẻ Thuần chấn thành hào dương vòng 7 Trạch Phong Đại Quá: tới đây đã tới hào 6 của quẻ Thuần Chấn và ta không thể biến tiếp (vì biến tiếp nữa nó sẽ biến thành quẻ Bát thuần Tốn), vì vậy ta quay lại hào thứ 4 hiện nay là hào âm, biến ngược nó thành hào dương. vòng 8 Trạch Lôi Tùy: quay lại các hào 1, 2, 3: hào 1 đang là âm thì biến hành dương, hào 2 và 3 đang là dương thì biến thành âm. ..... Các quẻ Thuần còn lại (Tốn, Khảm - Ly, Tốn - Đoài) cũng biến theo quy tắc tương tự. Sau đây ta sẽ gọi mỗi lần biến là một "vòng", và ta sẽ có 64 quẻ của Kinh Dịch được sắp sếp vào 8 quẻ Thuần (vốn là gốc xuất phát của 56 quẻ còn lại). Như vậy, ta sẽ có: • Tám quẻ thuần: là vòng 1 • Tám quẻ lần biến thứ nhất: là vòng 2 • Tám quẻ lần biến thứ hai: là vòng 3 • Tám quẻ lần biến thứ ba: là vòng 4 • Tám quẻ lần biến thứ tư: là vòng 5 • Tám quẻ lần biến thứ 5: là vòng 6 • Tám quẻ lần biến thứ 6: là vòng 7 • Tám quẻ lần biến thứ 7: là vòng 8 Để có thể đem vào môn Lục Nhâm/Độn Giáp mà coi bói, ta diễn tiếp 64 quẻ của Kinh Dịch vào Lạc Thư như hình dưới đây: -
Topic này được lập để diễn giải topic "cùng nhau học dịch" của Bác Hà Uyên. Rất may là có bác Hà Uyên đã trao truyền những kiến thức quý báu về Nhâm, Giáp, Thái Ất. Amour lập topic này mong bác và các vị tiền bối khác chỉ giúp xem cách hiểu của amour có đúng hay không. Cám ơn các cụ trước! ------------------------------- Thuyết nạp Giáp và 8 vòng can chi 1 GIỚI THIỆU VỀ PHÉP NẠP GIÁP2 64 QUẺ DỊCH QUY VỀ 8 QUẺ THUẦN 3 DIỄN DỊCH BẢNG HOA GIÁP THEO 8 VÒNG 4 ỨNG DỤNG TRONG CHIÊM ĐOÁN 1 GIỚI THIỆU VỀ PHÉP NẠP GIÁP Theo cuốn Hiệp kỷ biện phương thư: "nạp Giáp là thuật ngữ dịch học đời Hán. Theo bát quái (mà ghép) với thiên can - lấy Giáp làm đầu, ngũ hành phương vị phối nhau, vì vậy gọi tên là thế. Phép này trươc theo bát quái với thiên can phân làm âm dương 2 tổ: Phân 8 quái ra 2 nhóm âm và dương quái: Quái dương Quái âm Càn Khôn Chấn Tốn Khảm Ly Cấn Đoài Can dương Can âm Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Như vậy sau lấy quẻ dương nạp với Can dương, quẻ âm nạp với can âm. Phép nạp giáp do Kinh Phòng thời Lương Hán sáng lập. Đến thời Đông Hán thì Ngụy Bá Dương trong "Chu dịch tham đồng khế" phát huy và gia thêm vào. Đời sau các nhà bói cỏ thi đều dùng vào việc dự đoán trong chiêm bốc. Việc chọn ngày, tuyển phương cũng áp dụng phương pháp này". Như vậy ta đã biết được nguồn gốc của phép "nạp Giáp". Để tìm hiểu sâu hơn, xin copy phần luận trong "Hiệp kỷ biện phương thư" như sau: "Lãi hải tập nói: thuyết về nạp Giáp, từ Giáp là 1 tới Nhâm là 9, đó là các số dương đầu và cuối, vì vậy quy về quẻ Càn. Từ Ất là 2 tới Quý là 10 là các can âm đầu và cuối, vì vậy quy về quẻ Khôn và nghịch hành: · Càn một lần cầu mà được nam là Chấn; Khôn một lần cầu được nữ là Tốn. Vì vậy can Canh phối Chấn, can Tân phối Tốn. · Càn cầu lần thứ 2 mà được nam là Khảm, Khôn cầu lần thứ 2 được nữ là Ly. Vì vậy can Mậu quy về Khảm và can Kỷ quy về Ly. · Càn cầu lần thứ 3 mà được nam là là Cấn, Khôn cầu lần thứ 3 được nữ là Đoài. Vì vậy can Bính theo Cấn và can Đinh theo Đoài. Dương sinh ở Bắc mà Thành ở Nam, vì vậy Càn bắt đầu ở Giáp Tý mà kết thúc ở Nhâm Ngọ. Âm sinh ở Nam mà thành ở Bắc, vì vậy Khôn bắt đầu ở Ất Mùi mà kết thúc ở Quý Sửu. Chấn - Tốn do cầu lần 1 nên Canh - Tân bắt đầu ở Tý Sửu. Khảm Ly do cầu lần 2 nên Mậu Kỷ bắt đầu ở Dần Mão. Cấn - Đoài do cầu lần 3 nên Bính Đinh bắt đầu ở Thìn Tị..." ---------------------------------------------- TÓM TẮT: Sách viết theo lối cổ thâm trầm khó hiểu, tóm lại theo sách thì ta có: Nếu ta lấy Lạc thư phối với Hậu thiên bát quái đã được nạp 10 thiên can (cùng với số thứ tự của từng can) ta sẽ có hình dưới: Uploaded with ImageShack.us ---------------------------------------------- "Khảo nguyên" nói rằng: lấy 6 quẻ ứng với nguyệt hầu (5 ngày thời gian có mặt trăng) mà Khảm Ly là bản thể của Nhật Nguyệt nên đóng ở giữa không dùng. Chấn trực sinh minh (tức ngày mùng 3 sinh mặt trăng mới theo âm lịch). Lấy vào hoàng hôn bắt đầu của Nguyệt hầu thấy mặt trăng ở phương Canh. Đoài trực huyền (dựa vào lịch, nguyệt tướng là mùng 8) nhị dương dần dần thịnh, lại là thời của thượng huyền, lấy hoàng hôn bắt đầu hầu của mặt trăng thấy phương Đinh. Càn trực vọng (tức âm lịch ngày 16, tháng thiếu là ngày 15, nguyệt tướng gọi là vọng, cũng là trăng tròn) tam dương thịnh mãn, ngày vọng thì hoàng hôn bắt đầu hầu của mặt trăng thấy phương Giáp. Tốn sinh trực phách, lấy bình minh hầu của mặt trăng thấy phương Tân. Cấn trực hạ huyền (ngày 23 âm lịch) thời hai âm dần dần thịnh, vào hạ huyền lấy bình minh hầu của mặt trăng lấy phương Bính. Khôn trực hối (ngày 30 âm lịch) là tam âm thịnh mãn, thời hối lấy bình minh hầu của mặt trăng lấy phương Ất, đều cùng với thuyết nạp giáp tương ứng. Uploaded with ImageShack.us
-
Chào anh Vinh, Em nghĩ là chân lý hay “đạo” được thể hiện theo nhiều cách, mà các môn học thì là con đường dẫn đến chân lý nên khi đọc vào chủ đề “đạo” đều có thể cảm nhận cái gì đó “quen quen”. Trong đạo phật có một khái niệm gọi là “biến nhập pháp giới”, nghĩa là lấy một pháp mà dung thông vạn pháp khác, dĩ bất biến đối ứng vạn biến. Khi đã thông một môn rồi thì có thể hiểu rõ các pháp môn khác. Anh chú ý đến câu 17, 18 của bài “Lữ tổ bách tự bi” có nói tới vấn đề này: 17 Tọa thính vô huyền khúc 18 Minh thông tạo hóa cơ. khi tu luyện “Tính – mệnh” tới mức thành tựu thì có thể tự hiểu thông xuốt được các kinh sách, đây cũng là “biến nhập pháp giới” vậy. Em cho rằng ngay môn lục nhâm hay độn giáp vvv cũng có thể giúp người ta hiểu tới chân lý được, và khi thông qua một môn mà ngộ được “đạo” rồi thì sẽ thông tất cả các môn khác.
-
Cám ơn bác Hà Uyên, Xem quẻ bác giải, thấy được một tầng cao hơn của môn Lục nhâm này. Cháu tối qua đã nghiên cứu và hiểu sơ sơ được về "Hào đồ thần" mà bác viết, khi nào cháu thông rồi và trình bày lại cho dễ hiểu hơn (đối với các bạn amateur như cháu) cháu sẽ post lên 1 topic để bác chỉ dạy và mọi người cùng tham khảo. Còn một câu hỏi quan trọng mà cháu rất mong bác giải đáp: làm sao biết được cái mà mình tính đang ở vòng mấy? ví dụ như quẻ trên của bác thì làm sao bác biết được là bác đang ở vòng 6? Cám ơn bác trước!
-
Vòng Sao Quý Nhân Trong Lục Nhâm
amouruniversel replied to amouruniversel's topic in Lục Nhâm Độn Giáp
Anh Vinh thân mến, Em cũng thắc mắc là giả sử ta đã tìm ra và nhất trí với nhau về nơi khởi Quý nhân, thế còn các Thiên tướng khác thì sao? tại sao ta lại có thứ tự các sao trong vòng Quý nhân là: thứ nhất: Quý nhân thứ 2. Đằng xà thứ 3. Chu tước thứ 4. Thiên hợp thứ 5. Câu trận thứ 6. Thanh long thứ 7. Thiên không thứ 8. Bạch hổ thứ 9. Thái thường thứ 10. Huyền vũ thứ 11. Thái âm thứ 12. Thiên hậu -
Chào anh Vinh, Về vấn đề này, em cũng mơ mơ màng màng thôi. Mong anh giải thích chi tiết (và minh họa nếu đc) để cho em học hỏi với.
-
Anh VinhL đặt vấn đề tìm hiểu về nguyên lý "Thập can sở Ký" trong môn Lục nhâm, theo sách lục nhâm thì: can Giáp ký tại Dần địa bàn can Ất ký tại Thìn địa bàn can Bính ký tại Tị địa bàn can Đinh ký tại Mùi địa bàn can Mậu ký tại Tị địa bàn can Kỷ ký tại Mùi địa bàn can Canh ký tại Thân địa bàn can Tân ký tại Tuất địa bàn Can Nhâm ký tại Hợi địa bàn Can Quý ký tại Sửu địa bàn CÂU HỎI ĐỂ MỌI NGƯỜI THẢO LUẬN: Tại sao bốn dương Can [Giáp - Bính - Mậu - Canh - Nhâm] lại ký vào bốn địa bàn trường sinh (tứ sinh) là Dần - Thân - Tị - Hợi? Tại sao bốn âm Can [Ất - Đinh - Kỷ - Tân - Quý] lại ký vào bốn Mộ thổ địa bàn (tứ Quý hay tứ Mộ) là Thìn - Mùi - Tuất - Sửu? Tại sao 4 địa bàn tứ Chính (còn gọi là tứ Trọng) Tý - Ngọ - Mão - Dậu lại không ký can nào? Chúng ta hãy cùng thảo luận để tìm ra nguyên lý "Thập Can sở ký" này của môn Đại lục nhâm. Theo sách "Biện kỷ hiệp phương thư" thì (hình như) nguyên lý thập can sở ký của môn Lục nhâm khác với bên Phong thủy, bác Thiên sứ thấy sao ạ?
-
Anh VinhL đặt vấn đề về vòng sao Quý Nhân như dưới đây, mời các cụ vào chỉ giáo: Uploaded with ImageShack.us Bản an Quý Nhân trên theo sách Bí Tàng Đại Lục Nhâm có vấn đề: Nếu ta cho Dấu + là Dương Quý, dấu – là Âm Quý, thì ta có 2 bản như sau: Dương Quý [Nhâm Quý +][Tân..................+][...........][..................] [---------------].........................................[..................] [...................].........................................[--------------] [...................][Giáp Mậu Canh +][Ất Kỷ +][bính Đinh +] Âm Quý [..................][..............][Giáp Mậu Canh –][Ất Kỷ...... –] [--------------]............................................[bính Đinh –] [Nhâm Quý –]............................................[-------------] [Tân...........–][..............][.........................][................ ] Theo hình trên ta thấy cách an quý nhân này mất đi tính quy luật. Theo bộ “Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành”, Quý Nhân được an như sau: Canh Mậu Kiến Ngưu Dương, Giáp Quý Mùi Sửu Tường Ất Quý Thân Tý Thị, Kỷ Quý Thư Hầu Hương. Bính Quý Dậu Ngọ Chước, Đinh Quý Trư Kê Phương Quí Quý Tầm Tỵ Mão, Nhâm Quý Thố Xà Tàng Lục Tân Phùng Mã Hổ, Đán Mộ Định Âm Dương Tóm lại theo bài thơ này ta có Giáp.………….Mùi +, Sửu – Ất.……………Thân +, Tý – Bính………….Dậu +, Hợi – Đinh………….Hợi +, Dậu – Mậu, Canh……Sửu +, Mùi – Kỷ……………Tý +, Thân – Tân…………..Dần +, Ngọ – Nhâm………..Mão +, Tỵ – Quí…………..Tỵ +, Mão – Như vậy Dương Quý được bày bố như sau: [Quí........][..................][Giáp +][Ất.... +] [----------]................................[bính. +] [Nhâm. +]................................[--------] [Tân.... +][Mậu, Canh +][Kỷ… +][Đinh +] Và Âm Quý được bày bố như sau: [Nhâm -][Tân. -][Mậu, Canh -][Kỷ.. -] [---------]..............................[Đinh -] [Quí.... -]..............................[-------] [...........][Giáp -][Ất........... -][bính -] Theo cách này thì ta có thể thấy tính quy luật của vòng Quý Nhân, Dương Quý khởi tại Mùi thuận bố, Âm Quý khởi tại Sửu nghịch bố, gặp cung Thìn Tuất thì không vào, Mậu Kỷ thổ thì chuyển hướng, đặc biệt Mậu thì bỏ một cung. Lục Nhâm Đại Độn dùng cung ký của Can để khởi khóa, nhưng nguyên lý của cách khởi khóa này đến nay vần chưa thấy sách nào nói đến. Nếu tra xét kỷ thì thấy ký cung này an gần giống như Nhật Lộc (Lâm Quan). Nếu ta lấy Trường Sinh theo cách Dương Sinh Âm Tử, Dương Tử Âm Sinh thì ta có Giáp Dương Mộc Lộc tại Dần, Ất Âm Mộc Lộc tại Mão (Không lấy Mão mà lấy Thìn) Bính Dương Hỏa Lộc tại Tỵ, Đinh Âm Hỏa Lộc tại Ngọ (Không lấy Ngọ mà lấy Mùi) Mậu theo Bính Hỏa, Kỷ theo Âm Hỏa Canh Dương Kim Lộc tại Thân, Tân Âm Kim Lộc tại Dậu (Không lấy Dậu mà lấy Tuất) Nhâm Dương Thủy Lộc tại Hợi, Quí Âm Thủy Lộc tại Tý. (Không lấy Tý mà lấy Sửu) Nhưng vì đâu lại dời Lộc của các Âm hành một cung, tức không lấy Tý Ngọ Mão Dậu, mà lấy Thìn Tuất Sửu Mùi cho các Âm hành làm cung Lộc? Hay là vòng trường sinh của cung Ký nào là an theo Dương Sinh Âm Mộ, Âm Sinh Dương Mộ??? Nếu là vậy thì cách an cung ký này hoàn toàn hợp lý và ta sẻ có các vòng trường sinh của các hành như sau: Giáp Dương Mộc Sinh tại Hợi, Lâm Quan (Lộc) tại Dần, Mộ tại Mùi Ất Âm Mộc Sinh tại Mùi, Lâm Quan tại (Lộc) tại Thìn, Mộ tại Hợi Cho nên Giáp khóa Dần hề, Ất khóa Thìn Bính Dương Hỏa Sinh tại Dần, Lâm Quan (Lộc) tại Tỵ, Mộ tại Tuất Đinh Âm Hỏa Sinh tại Tuất, Lâm Quan (Lộc) tại Mùi, Mộ tại Dần Cho nên Bính (Mậu) ký tại Tỵ, Đinh (Kỷ) ký tại Mùi Canh Dương Kim Sinh tại Tỵ, Lâm Quan (Lộc) tại Thân, Mộ tại Sửu Tân Âm Kim Sinh tại Sửu, Lâm Quan (Lộc) tại Tuất, Mộ tại Tỵ Cho nên Canh ký tại Thân, Tân ký tại Tuất Nhâm Dương Thủy Sinh tại Thân, Lâm Quan (Lộc) tại Hợi, Mộ tại Thìn Quí Âm Thủy Sinh tại Thìn, Lâm Quan (Lộc) tại Sửu, Mộ tại Thân Cho nên Nhâm ký tại Hợi, Quí ký tại Sửu Theo vòng Trường Sinh Dương Mộ Âm Sinh, Âm Mộ Dương Sinh thì Âm Dương Đế Vượng tại cùng một cung. Nhưng vấn đề là vòng Trường này chưa bao giờ thấy trong các sách vỡ. Vậy thì Chân lý của vòng ký Can này ở đâu???
-
Kính gửi anh Vinh, Vòng quý nhân là một đề tài rất quan trọng, theo em chúng ta nên mở một topic chuyên để mổ xẻ vòng quý nhân, và tiếp tục sau đó tới các topic về vòng thái tuế, vòng trường sinh, vòng lộc tồn, Thiên mã vvv. Ý anh thế nào ạ?
-
Bác Hà Uyên kính mến, Phần trên cháu nói tới các tháng hành thổ như 3, 6, 9, 12 bệnh sẽ có chiều hướng nặng lên là sai lầm. Sau khi suy nghĩ cháu thấy rằng phải đoán ngược lại mới đúng. Bởi vì Hào Quan Quỷ là Sửu tại bản mệnh hành thổ tới những thời gian/khí hậu hành Hỏa và hành Thổ sẽ được vượng tướng khí, theo sách lục nhâm (câu 13 trong Tất pháp tập) "Quỷ tặc đương thời vô úy kị", tức là Hào quan quỷ khi vượng tướng khí sẽ không gây hại.
-
Chào bác Hà Uyên, Bác có thể giải thích thêm về phần này không ạ?
-
Uploaded with ImageShack.us PHÂN HÀO VỊ - LOẠI THẦN TẠI LỤC XỨ Hỏi về bệnh tật, sức khỏe thì liên quan tới các chức năng của ngũ tạng trong cơ thể, đồng thời tương tác của “ngũ vận, lục khí” trong môi trường. Vì vậy trong quẻ này ta xem xét từng chỗ như sau: (TẠNG PHẾ) CAN: ứng nơi bản thân, Can ngày là Nhâm nên Can thượng thần là Mậu Thân tác hào Phụ Mẫu (độn can là Mậu nên Mậu Thân cũng tác hào Ám Quỷ). Thân kim có thừa Bạch hổ cũng kim, trong cơ thể là tạng Phế. * Can thần là Tân Hợi * Can âm thần là Ất Tị CHI/HÀNH NIÊN: ứng nơi chứng bệnh, Chi thượng thần là Kỷ Dậu tác hào Phụ Mẫu (độn can là Kỷ nên Kỷ Dậu cũng tác hào Ám Quỷ). Dậu hành kim, trong cơ thể ứng với tạng Phế. * Chi thần là Nhâm Quý * Chi âm thần là Bính Ngọ (TẠNG TÂM) SƠ TRUYỀN: ứng nơi khởi phát sự việc, Sơ thượng thần là Bính Ngọ hành hỏa tác hào Thê Tài, trong cơ thể ứng tạng tâm. * Sơ âm thần là Mão = Tuần không (TẠNG CAN) TRUNG TRUYỀN: ứng khởi nơi giữa sự việc, Trung truyền thượng thần là Mão = Tuần không hành âm mộc, trong cơ thể ứng tạng Can * Trung truyền âm thần = Nhâm Tý (TẠNG THẬN) MẠT TRUYỀN: ứng nơi kết thúc sự việc, Mạt truyền thượng thần là Nhâm Tý tác hào Huynh đệ, đóng vào không địa. Trong cơ thể ứng vào tạng Thận. (TẠNG TỲ) BẢN MỆNH: là nơi gốc vận mệnh của vấn nhân, bản mệnh thượng thần là Quý Sửu hành thổ tác hào Quan quỷ. Trong cơ thể ứng với tạng tỳ. TIẾN HÀNH PHÂN TÍCH Xem về bệnh tật chú ý vào hào Quan Quỷ, sao Bạch Hổ, Can ngày và Chi ngày: • Can ngày ứng cho người bệnh có thừa sao Bạch hổ xem vào tháng 5 nên Thân là “Thư hổ sát”, Thân kim sinh Can Nhâm thủy nên tác hào Phụ mẫu, Thân ở trường sinh cục lại chính là Can sinh. Nơi đây toàn hình tượng nguồn sinh lực của cơ thể, tuy nhiên xem vào tháng Ngọ thì Thân kim bị tử khí, lại thấy Thân xung với Thái tuế của năm tức là đóng vào đất đại hao, cộng với sao Bạch hổ là điềm bệnh tật. Tuy nhiên tác Phụ Mẫu sinh ra Can ngày nên không ngại. Can thần là Hợi đóng vào Dần là Tuần không địa bàn có thừa Can lộc chính là không lộc cách, gợi ý rằng nguồn sinh dưỡng của cơ thể cần phải được chú ý bổ xung. Cũng ý này thấy Can âm thần chính là Ất Tị có mệnh lộc đóng cùng Can Tuyệt. Kết luận: xem xét nơi Can ngày cộng với quái thể cho thấy rằng vấn nhân tuy bị bệnh nhưng không đến mức nguy hại tính mạng. • Chi ngày ứng cho chứng bệnh, có thừa sao Thiên không là thần hư hao, lâm Tý địa bàn là tượng cái phòng dưỡng bệnh, thừa Kỷ Dậu tác hào Phụ mẫu ứng tạng Phế trong cơ thể, đóng nơi Can Bại nên suy yếu vô lực. Nơi đây lại là hành niên thì càng ứng chuyện cơ thể (tạng phế) cần bảo dưỡng. Chi thần là Tý đóng vào Mão địa bàn cũng là không địa, Chi âm thần là Bính Ngọ chính là Sơ truyền nơi phát khởi sự việc, Bính Ngọ hỏa ứng vào tạng tâm nên bệnh phát ra hình tướng nơi tim mạch. Kết luận: các yếu tố nơi Chi ngày gợi ý rằng nơi cần giải quyết của chứng bệnh nằm tại Phế hoặc Lá lách (Chi thượng thần là Dậu thiên bàn ứng với phế kim). Bệnh cần phải dưỡng lâu dài. • Hào Quan quỷ: đóng ngay nơi Bản mệnh của vấn nhân có thượng thần là Quý Sửu đóng vào Thìn địa bàn có thừa sao Chu tước tác hào Quan quỷ, Chữ thượng thần là Quý Sửu là hành thổ và hành thủy, gia lên Thìn địa tức là gia mộ địa bàn gọi là “Quan tinh nhập mộ”, lại thấy có Bệnh Phù và Nguyệt tú cùng Can Suy. Trong lục nhâm có câu “Quỷ tặc đương thời vô úy kị” ý nghĩa là giặc quỷ đang lúc thịnh vượng, tức là hào quỷ được vượng tướng trong mùa hiện tại, thì không kỵ sợ, vì nó không làm hại tới mình, nay thấy Quý Sửu tác hào quan quỷ, xem vào mùa Hạ được tướng khí, lâm vào Thìn địa bàn là trùng ngũ hành, vật tụ cùng loại nên vượng khí, lại thấy nó nhập mộ nên chứng bệnh ẩn khuất không phát. Tuy nhiên, qua mùa hạ tới mùa thu, đông, xuân sẽ tới giai đoạn hưu tù tử khí của hào quan quỷ, vì vậy luận rằng bệnh tật nên có hướng giải quyết tốt trước thời gian đó. KẾT LUẬN: Xem thế quẻ thấy một hào trên khắc xuống, đồng vị âm dương với ngày nên gọi là quẻ “Tri nhất”, quẻ này chủ về “thực”, chủ về “bên ngoài”, quẻ nói rằng “trăm việc nên hòa thì tốt”, trong bối cảnh xem về bệnh tật ta có thể hiểu rằng trị bệnh nên dưỡng không nên công phạt. Sơ truyền phát dụng tại nơi Bính Ngọ hỏa, xem vào mùa hạ nên Bính Ngọ hỏa rất được vượng khí, đóng vào Dậu địa bàn nên nội cung của Sơ truyền có quan hệ “khắc”, lại thấy có sao Huyền vũ hành thủy đóng chính là tam truyền nội chiến. Luận đoán rằng Tâm hỏa quá thịnh khắc phế kim, vì tâm hỏa thịnh nên Can mộc tất vì sinh nó mà bị hao tổn, điều này càng thấy rõ bởi Can thượng thần và Chi thượng thần là Thân và Dậu đều là hành kim bị tử khí và có đóng Thiên không, Bạch hổ là hai Thiên tướng gây hư hao. Nói theo quan hệ dây truyền về tương sinh tương khắc ngũ hành thì: Hành kim thương tổn sẽ không sinh ra được hành thủy, trong quẻ ta thấy rằng Hợi và Tý thiên bàn đều đóng lên không địa (chính là Can thần và Chi thần), vậy đoán là tạng Thận do đó sẽ bị ảnh hưởng, Thận thủy đã suy yếu tất khó sinh được Can mộc, ta cũng thấy trong quẻ Dần và Mão đều là Tuần không thiên bàn… Xem vào hai tạng Can Thận mà nói thì vấn nhân tất sẽ bị tay chân tê bại, lưng nhức mỏi và các triệu chứng khác về tiết niệu. Tóm lại, ta có thể kết luận bệnh bệnh này cần phải trị nơi phế kim, nên dưỡng không nên phạt. Nếu có thể dùng phương pháp luyện tập về khí công khiến cho nội khí thu liễm, tâm thận tương giao thì sẽ thuyên giảm bệnh tật.