Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

ndmph

Hội viên
  • Số nội dung

    60
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by ndmph

  1. Đột phá hay chạy tội (Thứ ba , 16/12/2008, 10:50) Sau cuộc Hội thảo “Chúa Nguyễn và triều Nguyễn” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức quy mô ở Thanh Hóa, dư luận xã hội quan tâm, vì có nhiều cơ quan thông tin đại chúng (báo, đài) quảng bá rộng rãi cốt gây sự chú ý trong dân chúng. Vấn đề đã quá cũ, nay “hâm nóng” lại thì phải có “thủ pháp” làm sao cho nổi bật. Có tờ báo đưa tít giật gân: “Đột phá(?) trong nhận thức về Chúa Nguyễn, triều Nguyễn”. “Đột phá” kiểu gì trong khi vấn đề đã rõ gần hai trăm năm nay? (KT. st) Ông Tương Lai đánh lừa dư luận trên Tuần Việt Nam Net 10-7-2008 như sau: “Một khi cái giả biến thành cái thật được đem rao giảng cho thế hệ trẻ thì khác nào axít gặåm nhấm tâm hồn họ, sự thật lịch sử bị vùi lấp, xuyên tạc bởi bất kỳ lý do nào cũng làm giảm sút, nao núng lòng tin, lòng tự hào về lịch sử dân tộc của lớp trẻ - chất xi măng kết dính những tâm hồn Việt Nam. Nhìn lại lịch sử triều Nguyễn chính là cách Việt Nam nâng cao bản lĩnh dân tộc (?) lựa chọn văn hóa, giải quyết bi kịch lịch sử”. Cái “bi kịch lịch sử” mà ông Tương Lai muốn nói là cái bi kịch nào? Phải chăng chính là cái “bi kịch” của ông GS NGND Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - đã nêu rõ trong báo cáo đề dẫn cuộc hội thảo: “Sau Cách mạng Tháng 8 - 1945 cho đến năm 1975 trong thời kỳ chiến tranh, công việc nghiên cứu nói chung có bị hạn chế, số lượng các công trình nghiên cứu chuyên đề không nhiều. Nhưng chính trong bối cảnh này đã xuất hiện một khuynh hướng phê phán gay gắt các Chúa Nguyễn cũng như các Chúa Trịnh và đặc biệt là vương triều Nguyễn thế kỷ XIX. Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1954 phản ánh trên một số luận văn trên tạp chí Văn Sử Địa, Đại học Sư phạm, Nghiên cứu lịch sử và biểu thị tập trung trong những bộ lịch sử, lịch sử văn học, lịch sử tư tưởng Việt Nam... Thái độ phê phán gay gắt trên có nguyên do sâu xa trong bối cảnh chính trị của đất nước thời bấy giờ và trong cách vận dụng những phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu. Quan điểm trên nảy sinh, xác lập trong những năm từ 1954 - 1956 và phát triển mạnh cho đến những năm 1970 của thế kỷ XX. Đó là thời kỳ cả dân tộc đang tiến hành cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trong thời kỳ đó, độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia là mục tiêu cao cả, có ý nghĩa thiêng liêng của cuộc chiến đấu. Vì vậy khi nhìn lại lịch sử, bất cứ hành động nào xúc phạm hay đi ngược lại độc lập và thống nhất đều bị phê phán. Cuộc tranh luận về cuộc thống nhất đất nước thời Tây Sơn và nhà Nguyễn cũng tiến hành trong không khí chính trị đó và đã xuất hiện quan điểm cực đoan cho rằng Tây Sơn đã hoàn thành, thậm chí hoàn thành triệt để khôi phục quốc gia thống nhất. Bối cảnh lịch sử của cuộc chiến tranh đã tác động đến thái độ của nhiều nhà sử học trong nhìn nhận và đánh giá về các Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”. Đặc biệt, đoạn văn sau này của ông Phan Huy Lê đã bộc lộ quan điểm của ông là: “Nguyên nhân về vận dụng phương pháp luận là thuộc về trách nhiệm của các nhà sử học. Đây là thời kỳ nền sử học hiện đại xây dựng trên hệ tư tưởng Mác-xít đang hình thành và trong vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử phạm những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức máy móc”. Ở một đoạn khác ông viết: “Áp dụng hình thái kinh tế xã hội và đấu tranh giai cấp một cách giáo điều đã dẫn đến những hệ quả đưa ra những phân tích và đánh giá lịch sử thiếu khách quan, không phù hợp với thực tế lịch sử. Không riêng các Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn mà những nhân vật lịch sử liên quan, và rộng ra khắp cả vương triều Mạc trước đó, đều bị đánh giá theo quan điểm chưa được khách quan công bằng như vậy”. Sau khi cuộc hội thảo kết thúc, ông Phan Huy Lê còn tuyên bố với báo chí hết sức chủ quan: “...Cuộc hội thảo lần này đã nhận được hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội”. Vâng, sự hưởng ứng rộng rãi dư luận xã hội mà giáo sư Phan Huy Lê nói, đó là những bài báo của các tác giả như giáo sư Trần Thanh Đạm, nhà viết kịch Trường Sinh, nhà nghiên cứu Đặng Trần Nguyên đăng trên tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh (số 41, 42, 43, 44, 45 tháng 11-2008) phản bác lại những luận điểm của ông và ông Tương Lai, cũng như tham luận của một số người cùng quan điểm với ông trong hội thảo. Không phải đợi đến cuộc hội thảo mà Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ở Thanh Hóa do GS Phan Huy Lê chủ trì mới đây đòi đánh giá và nhìn nhận lại lịch sử, mà hàng trăm năm qua từ lúc Gia Long lên ngôi (năm 1802) đến ông vua cuối cùng Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng (tháng 8-1945) kết thúc vương triều Nguyễn, nhân dân ta ngay từ thời Gia Long, Tự Đức, đã nhìn nhận lịch sử một cách khách quan, công bằng. Bằng những lời buộc tội không thể chối cãi như “Gia Long rước voi về giày mả tổ”, “Gia Long cõng rắn cắn gà nhà”, “Phan Lâm mãi quốc - Triều đình khí dân”, “Thà thua xuống láng xuống bưng réo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần”, “Thà đui mà giữ đạo nhà/Còn hơn có mắt ông cha không thờ”..., nhân dân ta thời ấy chỉ tập trung lên án Gia Long và Tự Đức chớ không một ai lên án cả vương triều Nguyễn. Trái lại, họ còn ca ngợi những ông vua yêu nước chống Pháp bị Pháp bắt bớ tù đày như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Vậy mà đến nay GS Phan Huy Lê - tờ Vietnamnet ngày 19-10-2008, báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 20-10-2008 đưa tin - trong ý kiến trả lời phỏng vấn, ông ta đã nói: “Việc Nguyễn Ánh đưa quân Xiêm vào trong cuộc chiến chống Tây Sơn, trước đây có người lên án là hành động “cõng rắn cắn gà nhà”, là “bán nước”. Đó là quan điểm cực đoan”. GS còn biện minh: “Việc cầu viện không phải là sai lầm. Việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”. Ông muốn nói đến Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh kéo quân qua đánh Tây Sơn để bảo vệ cái ngai vàng nhà Lê chăng? Và kết quả cuộc cầu viện đó thế nào chắc ông biết rõ, cũng như ông biết rõ hơn ai hết năm vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện đã bị Nguyễn Huệ tiêu diệt trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm 1785. Chiến thắng oanh liệt đó của Tây Sơn đã có sự tham gia tích cực của nhân dân Nam Kỳ thời ấy nên không có tên giặc nào chạy thoát. Ông Lê còn cố nói thêm: “Đó chỉ là hành động không sáng, một tì vết trong sự nghiệp Gia Long”. Đưa quân giặc về giày xéo đất nước, đốt nhà, cướp của, hãm hiếp dân thường mà cho là “hành động không sáng”, là “tì vết trong sự nghiệp Gia Long” thì quả là ngụy biện của một nhà sử học. Nếu Gia Long còn sống, hẳn ông Lê sẽ được trọng thưởng vì có công “chạy tội” bán nước cho ông ta. (Còn tiếp) Báo: Công An TPHCM
  2. Hoàng Sa mãi mãi là lãnh thổ thiêng liêng của VN 06:45' 08/12/2007 (GMT+7) (VietNamNet) – Chủ quyền thiêng liêng đối với Trường Sa và Hoàng Sa đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước VN đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này. >> HĐND Đà Nẵng khẳng định Hoàng Sa là huyện trực thuộc TP >> Cơ sở pháp lý xác lập chủ quyền VN tại Hoàng Sa Một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: TTO Cách đây hơn 3 thập kỷ, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; lại cũng là lúc một số nước lớn đang mặc cả và thoả hiệp với nhau để cản trở sự nghiệp thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam, thì ngày 19/01/1974, quân đội Trung Quốc đã tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính quyền Sài Gòn quản lý. Hơn ba thập kỷ qua, trong bối cảnh quan hệ Việt-Trung có những bước thăng trầm, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa cùng với Trường Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này. Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với Trường Sa) được minh chứng không chỉ bằng những tài liệu do người nước ngoài ghi chép như sách Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây phương như Le Poivre(1749), J,Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlaff (1849)…; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến hoạt động của các Đội Hoàng Sa xưa ở cửa biển Sa kỳ và đảo Lý Sơn (Cù lao Ré), mà còn được ghi lại trên nhiều thư tịch, trong đó có những văn bản mang tính chất Nhà nước của Việt Nam. Cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng đầy đủ về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các chúa Trịnh và Đàng Trong của các chúa Nguyễn đều tôn phò nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (của Đỗ Bá Công soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn (1776)… Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất rõ ràng: “Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…” Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa. Với sách Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1776), Hoàng Sa còn được mô tả kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân lãnh chức Hiệp trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam. Sách dành nhiều trang để mô tả về các “Đội Hoàng Sa” và “Bắc Hải” của chúa Nguyễn tổ chức cho dân vùng Tư Chính, Quảng Ngãi tổ chức thường kỳ việc vượt biển đến Hoàng Sa để thu luợm các sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại địa phương xã An Vĩnh (Cù lao Ré) còn nói tới “Đội Quế hương” cũng là một hình thức tổ chức do dân lập xin phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa. Qua thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện nước Việt Nam (dưới triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ và phân tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rõ cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi chú là “Vạn lý Trường Sa” (tên gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan niệm đương thời). Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều chép lại những nội dung của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các “Đội Hoàng Sa”. Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc gia. Ngay trong phần Tiền Biên chép về các tiên triều, bộ biên niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ thời các Chúa Nguyễn liên quan đến các quần đảo này. Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, trong phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm in khắc đã có 11 đoạn viết về những sự kiện liên quan đến hai quần đảo này. Nội dung cụ thể như là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và Đội Hoàng Sa ra đảo để “xem xét và đo đạc thuỷ trình” (quyển 50,52…đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa “dựng miếu, lập bia, trồng cây”, “vẽ bản đồ về hình thế”, “cắm bài gỗ dựng dấu mốc chủ quyền” (quyển số 104, 122, 154, 165 đời Minh Mạng). Ngoài ra còn các bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ(1851) cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã thực thi trên lãnh thổ Hoàng Sa. Và đặc biệt quý giá là những châu bản của các vị vua triều Nguyễn (tức là có thủ bút của nhà vua) có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này là sự thể hiện quyền lực của người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này. Ví như, phê vào phúc tấu của bộ Công ngày 12-2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua viết :”Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta), rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ “Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”; hay các châu phê về việc thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách nhiệm ở Hoàng Sa, đạc vẽ bản đồ v.v… Mãi đến năm 1909, lần đầu tiên Trung Quốc mới đề cập đến chủ quyền của mình đối với khu vực lãnh thổ này. Điều đó cho thấy, trong suốt 3 thế kỷ trước đó (XVII-XIX), các tài liệu thư tịch của Nhà nước Việt Nam kế thừa nhau đã liên tục thể hiện chủ quyền lịch sử và thực tiễn quản lý‎ đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. Điều đáng nói là, vào thời điểm này, giữa lúc hai nước Việt-Trung đã xác lập được những quan hệ hữu nghị, hợp tác trên những nguyên tắc của "16 chữ vàng” do chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra thì việc Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố cấp huyện Tam Sa” thuộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đáng để chúng ta phải nhắc lại những bằng chứng và bài học lịch sử! Dương Trung Quốc
  3. Chúng ta phải bảo vệ đất nước Việt Nam chúng ta bằng mọi phương tiện có thể.
  4. Nhân tiện mình xin hỏi, "ám động" và "mộ động", cái nào mạnh hơn?
  5. Tôi cũng đọc Tăng San Bốc Dịch, ngẫm lại thì thấy cũng chỉ khác ở hai chữ...Tăng San. Từ chuyện thường ngày cũng có thể suy, khi một câu hỏi lập lại nhiều lần là thể hiện điều bất an và hoài nghi. Khi tầng suất hoài nghi tăng cao thì việc lựa chọn các giải pháp sẽ bị nhiễu. Quẻ cũng vậy, khi đưa ra nhiều quẻ là đưa ra nhiều thông tin, nhiều giải pháp thì người ta cũng dễ bị rối trong cách lựa chọn quyết định. Do đó hỏi hoài một sự việc lại trở nên vô dụng. Tuy nhiên, ta cũng trừ một khả năng là người giải quẻ ở trình độ cao họ có thể giải từng quẻ như lật từng trang nhật ký. Như vậy ta có thể hỏi một chuyện nhiều lần, nhưng với (ở) những thời đoạn nhất định. Vài hàng góp ý.
×
×
  • Create New...