<?xml version="1.0"?>
<rss version="2.0"><channel><title>D&#x1ECB;ch H&#x1ECD;c Latest Topics</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chuyen-muc/11-d%E1%BB%8Bch-h%E1%BB%8Dc/</link><description>D&#x1ECB;ch H&#x1ECD;c Latest Topics</description><language>vi</language><item><title>&#x110;&#xF4;i &#x110;i&#x1EC1;u V&#x1EC1; D&#x1ECB;ch L&#xFD; Vi&#x1EC7;t Nam ?</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/34218-%C4%91%C3%B4i-%C4%91i%E1%BB%81u-v%E1%BB%81-d%E1%BB%8Bch-l%C3%BD-vi%E1%BB%87t-nam/</link><description><![CDATA[
<div> VIỆT - NAM - KHOA   DỊCH - LÝ - HỌC được nêu lên cũng như đã thành chương-sách và đến dưới mắt các Bạn trong Vận-Hội nầy, giữa lúc các sự tàn-bạo , độc-ác nhất trong Lịch-sử Nhân-Loại đang tràn ngập đối-xử với nhau quá tàn-tệ trên lãnh-thổ Việt-Nam. Thoạt nghe qua VIỆT-NAM-KHOA DỊCH-LÝ-HỌC dường như rất xa lạ hoặc sẽ rất khó chịu đối với quân xâm-lăng, với bọn đầy tớ vong bổn, sùng ngoại,nhưng đối với những người Việt-Nam thì chúng tôi tin chắc từ già đến trẻ, ai cũng đều muốn nhìn biết, muốn thấy có được một Học-Vấn Quốc-Học như thế cả. Thầm nghĩ rằng : Nếu những bậc Trí-Thức đàn anh, những bậc cao niên cứ im hơi lặng tiếng mãi thì có thể làm cho Sinh-Viên Học-Sinh trở nên tự-ti mặc-cảm,vì lầm tưởng rằng người Việt-Nam muôn đời chỉ là học trò suông của Ngoại-bang ! </div>
<div> </div>
<div>Không, Không bao giờ có chuyện đó ! </div>
<div> </div>
<div>      VIỆT - NAM - KHOA   DỊCH - LÝ - HỌC chào đời là một lần nữa nhắc lại về nền VĂN-MINH ÂM-DƯƠNG-HỌC VIỆT-NAM ngàn xưa. Học vấn này đã được khôi phục với một sắc-thái HOÀ CỰU HỢP TÂN , do những tay thợ khéo của nhiều Nam Nữ trẻ già Việt-Nam đã âm-thầm cũng như đã công-khai đến để duy-trì và xây-đắp cho hoàn-hảo vấn-đề DỊCH-LÝ VIỆT-NAM trong sáu năm qua. Những người Việt-Nam này với tính-cách hết sức nghiêm-chỉnh đã khôi-phục nền VĂN-MINH ÂM-DƯƠNG-HỌC VIỆT-NAM ngàn xưa, đồng thời đề ra HỌC-THUYẾT ĐỒNG-NHI-DỊ , khai-mở KỶ-NGUYÊN-MỚI trong Nhân-loại , đóng góp vào công-cuộc Tiến-Hóa chung thuộc về Sự và Việc-QUÂN-BÌNH ĐẠO-LÝ KHOA-HỌC trong Vận-Hội hiện nay . Con người Biến-Hóa và tiến bộ khắp nơi trong VŨ-TRỤ-ĐẠO hằng tỷ tỷ năm với mọi ngành Khoa-Học dầu có tiến về cho đến Siêu-Khoa-Học đi nữa thì cũng chỉ là ở trong vòng TIÊN-THIÊN và HẬU-THIÊN TRÍ-TRI-Ý-THỨC mà thôi, chớ không còn có gì lạ hơn nữa cả ; bởi thế cho nên KỶ-NGUYÊN MỚI này người Việt-Nam đề danh là KỶ-NGUYÊN TIÊN-HẬU-THIÊN TRÍ-TRI-Ý-THỨC . VIỆT-NAM DỊCH-LÝ-HỘI đã đảm-trách giải-thích và chỉ rõ cách để cho tất-cả mọi Học-viên tự biện-minh chứng-nghiệm được CHƠN-LÝ BIẾN-HOÁ-LUẬT , thấu-đáo được về Luật Cấu-Tạo Hóa-Thành từ Siêu-Thức đến Hữu-Thể mà chưa ai chối cãi được, ngoại trừ những người tự dối mình và phản-động. </div>
<div>      Tóm lại, VIỆT - NAM - KHOA DỊCH - LÝ - HỌC đối với chúng-tôi dầu muốn dầu không nó vẫn xứng đáng là một nền QUỐC-HỌC VIỆT-NAM căn bản, hiểu biết nhất cho danh nghiã 4000 năm VĂN-HIẾN . Hơn nữa trong tương-lai, trên đường ngoại-giao thời VIỆT-NAM-KHOA DỊCH-LÝ-HỌC sẽ là một Học-vấn thực-tế quý-giá có thể đổi-chác giữa Sinh-Viên Thế-Giới du-học vào Việt-Nam với tư-cách Đồng-Minh ngang hành như Sinh-Viên Việt-Nam xuất-ngoại. </div>
<div>      Học thuật VIỆT-NAM QUỐC-BẢO đặt trọn niềm-tin và hy-vọng Tuổi-Trẻ VN cần-mẫn hiểu được cũng như giải-thích được rõ ràng rằng : </div>
<div> </div>
<div>" Muôn kiếp các Khoa Học Văn Minh Tiến bộ trên khắp Hoàn cầu đến nay chỉ là mới vừa có thể làm quen được với LÝ-THUYẾT VĂN-MINH ÂM-DƯƠNG-HỌC VIỆT-NAM ngàn xưa đó thôi ". </div>
<div> </div>
<div>Trân-trọng kính bút. </div>
<div> </div>
<div>Dịch-Lý-Sĩ XUÂN-PHONG</div>
<div> </div>
<div>Năm Mậu Thân 1968 tháng 8 Âm lịch,</div>
<div>ngày mùng 10, giờ mùi. </div>
<br /><div>GIỚI THIỆU VĂN-MINH DỊCH-LÝ VIỆT-NAM </div>
<div>      Gọi là giới-thiệu Dịch-Lý Việt-Nam , trong sự-thật giới-thiệu Dịch-Lý Việt-Nam không có nghiã là khoe-khoang, tự cao, tự đại, tự mãn, mà chỉ có ý-nghĩa rằng : VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI tự phải có trách-nhiệm về Dịch-Lý đối với quần-chúng Việt-Nam , cũng như tự có trách-vụ góp công góp sức chung lo xây-dựng nền Văn-Học Nước Nhà. </div>
<div> </div>
<div>      Trách-nhiệm Chính Danh và Chính Lý cho ý-nghĩa Danh-từ Dịch-Lý là bổn-phận của VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI , một HỘI đầu tiên tự cổ chí kim và duy-nhất trên khắp Hoàn-Cầu . Chúng tôi nghĩ rằng đây là trách-vụ của Hội không những trong hiện-tại mà phải là của muôn đời và mãi mãi . Nói rõ xương máu của Dân-Tộc Việt-Nam đã đổ ra một cách man-rợ trong 30 năm nay ; trong hoàn-cảnh ấy , một Chí-Khí tự-cường , một hướng tiến vươn lên để hình thành Nhóm ÂM-DƯƠNG-HỌC TỪ-THANH , rồi tiếp nối theo đó hoá-thành ra là VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI , kể từ năm Ất-Tị . Dịch-Lý Việt-Nam do Công-lao Thiện-chí và xương máu của nhiều người Việt-Nam có chí-khí Quốc-Gia Dân-Tộc . Cho nên bọn người vong-bản , bán nước cầu vinh không còn có lý-do gì để hãnh-diện khi lo in sách Dịch-Lý của ngoại-bang , là một điều đầu độc vô-tình hay cố-ý vào tuổi trẻ Việt-Nam . VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI đã thành hình trên năm năm nay. Chúng tôi đã có mặt nên không thể im-lặng nhìn thấy hoặc lắng nghe ngoại-bang đời đời phỉ-nhổ lên trên kiến-thức Văn Hóa Nước Nhà do bọn nguỵ trí-thức gây ra. </div>
<div> </div>
<div>      Với Trách-vụ sao cho xứng-đáng với danh xưng VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI , chúng tôi vạn bất đắc dĩ phải chính danh , chính lý cho cái ý-nghĩa của Danh-Từ Dịch-Lý , như đã nói , chúng tôi không tài nào ngồi im , cam chịu trốn tránh bổn-phận , khi mà khắp nơi trong nước Việt-Nam đều nói về Dịch-Lý , ca-ngợi Dịch-Lý mà hóa ra vô-tình hay cố-ý bôi lọ DỊCH-LÝ .</div>
<div> </div>
<div>      Thành lập VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI là để khai-mở KỶ-NGUYÊN MỚI, KỶ-NGUYÊN TIÊN-HẬU-THIÊN TRÍ-TRI Ý cho Nhân-loại . Với Tôn-chỉ đó , mục-đích đó , chúng tôi tự phải nói , phải làm trong phạm-vi Dịch-Lý nghèo-nàn . Nghèo nàn đang là cương-vị của tất cả Hội-viên VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI và chỉ nghèo trên phương-diện vật-chất mà thôi . Tuy vậy chúng tôi vẫn cố-gắng để trao được tận tay Bạn một ít tài-liệu cho tròn bổn-phận của VIỆT-NAM DỊCH-LÝ HỘI . Tài-liệu này đến tay các Bạn được là do sự cố-gắng của các Học-viên đàn em kịp ý-thức được trách-nhiệm trên bước đường tu-học .</div>
<div> </div>
<div>      Trên đường học hỏi với những năm , tháng , ngày , giờ lục lọi tìm tòi , nghiên cứu , chúng tôi có cơ-hội giao-tiếp với nhiều bậc cao-minh , thông hiểu về Dịch , chúng tôi được biết rằng : Mặc dầu cùng trong một Nhà DỊCH-LÝ , nhưng chúng ta mỗi người hiểu Dịch Lý hơi khác nhau , nhiều khi lại khác hẳn . Ấy là do công phu nghiên cứu riêng của từng người về một ngành học nào đó của Dịch , rồi cho rằng DỊCH-LÝ là như thế , theo nhu cầu riêng của mình . Chứ chúng ta chưa có một Thống quan Tổng tập , một nhận xét chung về Dịch Lý một cách Chính Danh và Chính Lý của nó .</div>
<div> </div>
<div>      Thiết nghĩ , chúng ta cũng cần nên chính danh ,chính lý một lần về danh từ DỊCH-LÝ , để về sau này hy vọng không còn nhiều người hiểu sai lệch về Dịch Lý nữa . </div>
<div> </div>
<div>      Vậy , vấn đề trước tiên được đặt ra hôm nay trong chúng ta chỉ vỏn vẹn có một câu hỏi như sau :</div>
<div> </div>
<div> </div>
<div>DỊCH-LÝ LÀ GÌ ? Ý-NGHĨA RA SAO ? </div>
<div> </div>
<div>      Sự trả lời cho câu hỏi Dịch Lý là gì đó , tức như gián-tiếp giới thiệu DỊCH-LÝ VIỆT-NAM , chơ không có gì khác hơn nữa.</div>
<div>      Lâu nay, Dịch Lý đã được và bị người đời vô-tình hay cố-ý Lồng vào trong hoặc khoác bên ngoài cho các ngành học thuật . Họ để cao Dịch Lý qua từng ngành học thuật theo sở trường , sở đoản của riêng mình . Chẳng hạn , như trong các ngành Y học , Võ học , Văn học , Triết học , Đạo học , Xã hội học , Chính Trị học , Quân Sự học hay trong các Khoa như Khoa Thiên Văn , Địa Lý , Bói Toán với nào là Tử Vi , Thái Ất , Lục Nhâm, Mai Hoa , Ký Môn , Bốc Dịch v.v… </div>
<div> </div>
<div>      Thiên hạ làm rầm rộ đến nỗi ngày nay các cánh Khoa Học Tây-Phương phải de dặt kiêng nể , phải bù đầu bù cổ , Họ tìm tòi khắp nơi những gì có liên quan đến Dịch Lý . Họ hy vọng khám phá ra một định lý , một định luật khả dĩ gọi là một phát minh mới để loè hàng xóm . Khối Tự-Do Tư Bản và Khối Cộng Sản , hai khối cực đoan này đang tự phản bội chủ trương của chúng , đang lúng túng và đang bị đe dọa trầm trọng tại lòng đất của chúng . Chúng xoay trở đủ cách , cầu cứu khắp nơi một cách khổ não . Thế rồi một hôm chúng quay về Văn Minh Đông Phương , moi móc những chồng sách cũ rích . Chúng rất mừng rỡ khi bắt gặp những quyển Kinh Dịch của trung Hoa và ngày đêm săn đón các tài liệu DỊCH LÝ VIỆT NAM.</div>
<div> </div>
<div>Việc này đã và đang trở thành một phong trào công khai hay ngấm ngầm nghiên cứu Dịch Lý trong khắp các Quốc Gia Văn Minh Tân Tiến , với niềm hy vọng : Biện Chứng DỊCH LÝ sẽ là nơi , là cửa ngõ mở rộng để cho chúng có CHÍNH NGHĨA đối với cục-diện Nhân-Loại hiện nay . Sở dĩ chúng mất CHÍNH NGHĨA , bởi vì , một khi Nhân-loại không còn tìm thấy được cái CHÍNH NGHĨA ra sao thì ắt họ chỉ còn thấy rõ-ràng Cộng Sản và Tư Bản đang hợp lực để giết hại con người và mùa màng trong 30 năm nay tại vùng Trời Đất Việt Nam này , và rồi còn đang lần lượt cố giết hại đến các Dân tộc Thiểu số khác nữa. </div>
<div> </div>
<div>      Nhưng có lẽ chúng ta chưa cần tìm hiểu vấn đề này ngay bây giờ , vì lẽ mục đích của chúng ta ngay từ đầu là giới thiệu DỊCH LÝ VIỆT NAM và đồng thời Chính Danh , Chính Lý cho hai chữ DỊCH LÝ mà thôi . Vậy chúng ta bắt đầu trải qua một số nghi vấn về DỊCH LÝ .</div>
<div> </div>
<div>NGHI VẤN THỨ NHẤT : DỊCH LÝ THUỘC VỀ DANH NGÔN </div>
<div> </div>
<div>Dịch Lý có phải là những câu chuyện được lồng vào trong các Danh Từ như Âm Dương, Vô Cực, Thái Cực, Lường Nghi, Tứ Tượng ( Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương ),</div>
<div>Ngũ Hành ( Kim,Mộc,Thuỷ,Hoả,Thổ ), Bát Quái ( Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài ) hoặc Tiên Thiên Bát Quái, Hậu Thiên Bát Quái hoặc Thập Can Thập Nhị Chi ( Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ), ( Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi)… </div>
<div> </div>
<div>      Xin thưa ngay rằng : Không phải . Đó chỉ là những Danh Từ , những hình bóng làm ký hiệu để diễn tả Dịch Lý chứ chưa phải là Dịch Lý .</div>
<div> </div>
<div>NGHI VẤN THỨ HAI : SỞ CHỦ CỦA DỊCH LÝ LÀ AI ? Ở ĐÂU ? AI PHÁT MINH, KHÁM PHÁ RA DỊCH LÝ ? </div>
<div> </div>
<div>Dịch Lý có phải là của Dân Tộc Trung Hoa , của Phục Hy , của Trần Đoàn , của Thiệu Khang Tiết , hay của Dân Tộc Việt Nam , của Trần Hưng Đạo , củaTrạng Trình , của La Sơn Phu Tử , của Phan Bội Châu …………… ? </div>
<div> </div>
<div>      Xin thưa : Dịch Lý không phải của bất cứ một Dân Tộc nào và cũng chẳng phải của ai cả . Đó chỉ là Địa phương và Con người ở vào một Thời đại nào đó , nghiên cứu , khám phá , hiểu biết sao đó về Dịch Lý rồi làm lại thành một vấn đề , áp dụng vào xã hội Loài người với ngành này, ngành nọ hoặc lập thành học thuyết , chủ nghiã dựa vào DỊCH LÝ . Các sự việc ấy chỉ đáng gọi là DỊCH LÝ HỌC mà thôi .</div>
<div> </div>
<div>NGHI VẤN THỨ BA : DỊCH LÝ THUỘC LÃNH VỰC SIÊU KHOA HỌC &amp; KHOA HỌC THỰC NGHIỆM . </div>
<div> </div>
<div>Dịch Lý có phải là Số học, là Nguyên Tử, Khinh khí học, là Sinh khắc học không ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là Bói toán mà người đời thường gọi là Bấm Độn , là Bốc Dịch , là Quẻ Diệc , xủ quẻ gieo tiền , mai rùa, cỏ thi chăng ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là xem Thiên văn , Địa Lý , các vì tinh tú , sơn thủy long mạch , bùa ngải ếm ma trừ quỷ chăng ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là phép trị liệu bệnh tật , tìm cách sống tràng sinh bất tử , tu Tiên mà người ta thường gọi là Y Dịch chăng ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là phép luyện thân thể để tự vệ hay đánh nhau như trong mọi ngành võ thuật xưa nay chăng ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là sách lược tranh bá đồ vương , giữ an bờ cõi như qua các truyện Tam Quốc Chí với Không Minh , Chu Du , Tư Mã Ý , …hay trong Lịch sử Việt Nam như Trần Hưng Đạo , La Sơn Phu Tử chăng ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là những triết Lý Siêu Hình , những Lý Luận Lý về Vũ trụ như Đạo Học của Lão Trang hay Thiền Học , Siêu Nhiên Học , Nguyên Thuỷ Học , Phân Tâm Học , Thần Học,…được lồng vào trong Giáo Lý , Giáo Điều của Bà La Môn , Phật Giáo , Thiên Chuá Giáo v.v… hay đó chỉ là những lề lối , khuôn phép sống trong xã hội Con người , tu thân , nhìn biết Dịch Lý có khi khác nhau và rồi kế tiếp theo đó đề ra những Học thuyết , như của Khổng Tử , học thuyết của Tư Bản , học thuyết của Cộng Sản , của Vô Thần , của Hữn Thần chăng ?</div>
<div>Dịch Lý có phải là những nguyên tắc , những định lý , định luật tự nhiên hay nhân tạo như trong các Khoa Học Thực Nghiệm hoặc Khoa Học Nhân Văn hiên nay chăng ?</div>
<div>........</div>
<div> </div>
<div>      Nếu cứ tiếp tục đặt mãi những câu hỏi như thế thì biết bao giờ mới hết . Vậy chúng tôi mạn phép tổng kết như sau : </div>
<div> </div>
<div>      Dịch Lý chẳng những hiện diện trong tất cả mọi ngành học thuật , dù là đã qua , dù là chưa đến và cho đến muôn đời mãi mãi về sau , tất cả mọi ngành học-thuật bất kể hữu-hình hay vô-hình , nhân-tạo hay thiên-nhiên , con người hay muôn loài vạn-vật đều được và bị Dịch-Lý hiện diện chi phối từng giây , từng phút một không sao tránh khỏi được . Vậy Dịch Lý là cái gì mà kỳ cục thế , tôi xin giải nghiã : </div>
<div> </div>
<div>- Dịch là Biến đổi , Biến-hoá ; Lý là lý lẽ thuộc về phạm vi Manh-Nha Vô-Hữu , vậy thì Biến-Hoá là cái Lý lẽ có thật trong muôn đời và khắp mọi nơi , là Chân-Lý . Hễ đã gọi là lẽ thật thì Lẽ ấy phải có thật từ lúc chưa có Trời Đất đến nay và từ nay đến mãi mãi về sau trong muôn đời và khăp mọi nơi , Lẽ ấy phải có thật mới xứng danh là Chân-Lý .</div>
<div>- Quý vị và các bạn hãy bình tâm thử đặt câu hỏi và suy xét lại kể từ trong thâm tâm sâu kín lặng lẽ , tận trong cõi lòng mình, cho đến bao la rông lớn bên ngoài , xem coi có cái gì là không Biến-Hóa , không biến đổi , không thay đổi , không luân chuyển , không xê dịch không ?? Nếu tất thảy đều Biến-Hoá thì Biến-Hoá là cái Lẽ có thật , lẽ thật trong tất cả , bất kể không-gian , thời-gian nào .</div>
<div>- Khi chúng ta nói đến Chân-Lý tức là muốn nói đến cái lý lẽ hằng có thật trong muôn đời và muôn nơi , bất chấp ý riêng của con người hoặc ý riêng của muôn loài vạn-vật . Người xưa đã định-nghiã DỊCH như sau : “ DỊCH ,BIẾN-DỊCH DÃ ; BIẾN DỊCH BẤT DỊCH DÃ “ . Tạm hiểu : Dịch, nghiã là Biến-Dịch, còn cái lẽ Biến-Dịch thì không làm sao còn Biến đổi được nữa đó vậy. Nói như thế có nghiã là cái lẽ Biến-Dịch thì hằng có mãi mãi khắp nơi và muôn đời . Nó chính là Chân-lý , là lẽ có thật đó vậy .</div>
<div>- Khi chúng ta đi tìm học Dịch-Lý tức như chúng ta bước chân vào con đường truy tầm Chân-Lý , vì Dịch-Lý là Chân-Lý . Khi đã là Chân-Lý thì nó phải có tính khắp cùng , nơi nào cũng có , chỗ nào cũng có và thời nào cũng đúng . Đúng cả cho vô-hình lẫn hữu-hình , đúng cả ở quá khứ hiện tại lẫn vị-lai , đúng cả ở chỗ cao nhất lẫn thấp nhứt , chỗ thanh khiết nhất lẫn chỗ dơ dáy nhất , đúng cả chỗ thiện nhất lẫn chỗ ác nhất , đúng ở xã-hội loài người thì cũng phải đúng cả ở xã-hội muôn loài đã qua và chưa đến .</div>
<div>- Nếu cái lẽ Biến-Hoá chưa có , thì linh-động , mầu nhiệm và huyền diệu cũng sẽ chưa có, Vũ-Trụ , Trời-Đất , con người cũng chưa có , nhưng hiện nay , cơ-nghiệp Tạo-Hoá đã dẫy đầy . </div>
<div>- Với tính cách khắp cùng đó , Dịch-Lý không thể giới hạn riêng trong một phạm-vi nào , một biên-cương nào , bởi thế , nên xưa kia có người đã nói “ Thần vô phương nhi Dịch vô thể “ là thế . Có nghiã là Thần không phương sở , Dịch không hình bóng . Biết như vậy , chúng ta sẽ không lấy làm ngạc-nhiên , thắc-mắc trước một câu nói tuy có vẻ quái gở nhưng lại quá đúng như sau : DỊCH KHÔNG LÀ GÌ CẢ MÀ DỊCH LÀ TẤT CẢ .</div>
<div>- Bởi vì tất cả đều Biến-Hoá , bất kể vô-thể hay hữu-thể . Và chúng ta cũng không lấy làm lạ gì khi các ngành học tập xưa nay đều tự nhận là thân thuộc với Dịch-Lý hay từ gốc Dịch-Lý mà ra . Mặc dầu sự tự nhận đó có khi chưa Chính-danh và Chính-lý của Dịch .</div>
<div> </div>
<div>      Chúng ta vừa trải qua một thời-gian khá dài chính-ý và chính-nghiã tức như để chính danh và chính lý cho hai chữ Dịch-Lý . Vậy, chúng ta hôm nay có quyền hy-vọng : Vấn đề Dịch-Lý sẽ không còn bị hay được hiểu lệch lạc một cách thật thà riêng qua bất cứ một cặp kiếng mầu nào chật hẹp nữa .</div>
<div> </div>
<div>      Bởi vì Dịch-Lý là lý lẽ Biến-Hoá không giây phút ngừng nghỉ , chi phối muôn loài vạn-vật , bất kể vô-hình hay hữu-hình , bất kể không-gian thời-gian nào .</div>
<div>      Dịch-Lý cũng chẳng phải độc-quyền của riêng một dân-tộc nào , một cá-nhân nào cả .</div>
<div> </div>
<div>Nói thế , có lẽ còn nhiều người thắc-mắc , tại sao có danh từ DỊCH-LÝ VIỆT-NAM ??? </div>
<div> </div>
<div>Xin thưa là : </div>
<div> </div>
<div>      Điều này rất dễ hiểu , sở dĩ có danh-từ Dịch-Lý Việt-Nam hay Việt-Nam Dịch-Lý Hội cũng chỉ là ký danh , ký hiệu để đánh dấu địa-danh và thời-kỳ suy-thịnh mờ tỏ trong vấn-đề Dịch-Lý mà thôi . Vì lâu nay , người đời thường khi nghe nói đến Dịch-Lý là liên tưởng ngay đến dân-tộc Việt-Nam như là Trạng Trình hoặc dân-tộc Trung-Hoa , đến Kinh-Dịch , đến Lão Tử , Trang Tử , đến Khổng Tử , như chúng tôi đã nói , Dịch-Lý không của riêng ai . Vậy để cho vô-tư , chúng ta người Việt-Nam , khi nói Dịch hoặc nghe người khác nhắc nhở đến Dịch , chúng ta cần phải hỏi rõ ràng xem muốn nói , muốn đề cập đến thứ Dịch nào . Vì cũng là Dịch-Lý mà dân Trung-Hoa nói khác , dân-tộc Việt-Nam nói khác , dân-tộc Đại-Hàn, Nhật-Bổn, Anh, Pháp, Mỹ Nga, Đức , Ấn-Độ … đều nói khác nhau , có khi lại khác rất xa trong một vấn-đề .</div>
<div> </div>
<div>      Thật vậy , Dịch-Lý Việt-Nam không giống với bất cứ Dịch-Lý của một dân tộc nào trên thế-giới , và sách vở cổ kim chưa từng thấy có , đó cũng chính là cái lý do khai mở một Kỷ-Nguyên Mới trong nhân-loại . Vấn-đề Dịch-Lý đã cực lu mờ trong nhân-thế , cho nên Văn-Minh Âm-Dương Học Việt-Nam ngàn xưa phải sống lại , nó đã sống lại giữa lúc cục-diện nhân-loại đang trông ngóng , chờ đợi luồng gió đông thổi lên . Một sự thật mà chúng ta cần phải lưu ý là chỉ có Dân-tộc Việt-Nam mới làm sáng tỏ nổi vấn-đề Dịch-Lý mà thôi . Nó đã thực sự sống dậy bằng cách khai mở một kỷ-nguyên mới trong nhân loại . Đó là Kỷ-nguyên Tiên-Hậu Thiên Trí-Tri Ý . Để chứng minh lời nói trên , chúng ta chỉ cần xét lại tự cổ chí kim , trên thế-giới xưa nay chưa hề bao giờ có một Hội Dịch-Lý , thế mà hôm nay dân-tộc Việt-Nam chúng ta đã thành lập được một Hội Dịch-Lý đầu tiên và duy nhất trên khắp hoàn-cầu . Đây là một điểm son Lịch-Sử , một kỳ quan trọng trong nhân-loại , một quốc -bảo của giòng giống Lạc-Hồng , một niềm hãnh diện lớn lao cho dân-tộc Việt-Nam trước năm châu .</div>
<div> </div>
<div>      Kỷ-nguyên Tiên-Hậu Thiên Trí-tri Ý là một chứng tích hùng-hồn , tiêu-biểu nhất cho « Bốn ngàn năm Văn-hiến » của Dân-tộc Việt-Nam . Khai-mở kỷ-nguyên mới trong nhân-loại từ năm Ất-Tỵ ( 1965 ) đến nay là Tân-Hợi ( 1971 ) , dân-tộc Việt-Nam kể như đã đánh tan cái mặc-cảm tự-ti , nhược tiểu , chậm tiến . Không còn có vấn-đề chỉ xách gói , xách bị theo học của ngoại bang xuông nữa . Nếu không muốn nói ngược lại , điều này đã chứng-minh và sẽ chứng-minh rõ hơn nữa trong tương-lai .</div>
<div> </div>
<div>      Chúng ta may mắn lạI có mặt ở một thời-đại huy hoàng nhất trong Lịch-sử Việt-Nam , một thời-đại mà dân-tộc Việt-Nam đã oai.hùng uy-nghi và nghiêm chỉnh khai mở cho Nhân-loại kỷ-nguyên mới . Chúng ta hãy lấy điều đó làm hãnh diện Dân-tộc và rồi chúng ta hãy chung lưng góp sức thổi luồng gió mới đó đến khắp tận hang cùng ngõ hẻm để toàn thể nhân-loại sớm tận hưởng an hoà lạc duyệt trong cảnh Trời rộng thênh thang của kỷ nguyên mới .</div>
<div> </div>
<div>      Trước khi chấm dứt , một lần nữa , nếu sự trình bầy của chúng tôi chưa được rõ ràng hay có điều chi sơ sót , kính xin các bạn cao-minh niệm tình tha thứ và chỉ điểm cho . Và trong quý vị có điểu chi thắc-mắc , chúng tôi xin trả lời đầy đủ hơn tại trụ-sở Việt-Nam Dịch-Lý Hội ( 457/96 Lê-văn-Duyệt , Hoà-Hưng , Sài gòn Quận 10 )</div>
<div> </div>
<div>Trân-trọng kính chào .</div>
<div> </div>
<div> </div>
<div>Xuân Phong Nguyễn văn Mì</div>
<div> </div>
<div>Năm Tân Hợi 1971tháng 07 âm lịch ,ngày 11 .</div>
<div>viết xong giờ Tuất- giờ Nhu-Thái </div>
]]></description><guid isPermaLink="false">34218</guid><pubDate>Fri, 21 Oct 2016 06:51:59 +0000</pubDate></item><item><title>V&#x1ECB; Lai B&#xE1;t Qu&#xE1;i Ph&#x1B0;&#x1A1;ng V&#x1ECB;</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/33292-v%E1%BB%8B-lai-b%C3%A1t-qu%C3%A1i-ph%C6%B0%C6%A1ng-v%E1%BB%8B/</link><description><![CDATA[
<p>Đây là thể ngộ của một người tu luyện Đại Pháp. Tôi coppy lên đây để mọi người tham khảo. Cũng mong rằng nó có thể sẽ có ích cho mọi người. Còn không cũng mong những ai không đồng ý thì cũng xem như một câu truyện vui giải trí không phỉ báng để tránh tạo nghiệp quả.</p>
<p><strong>1. Lời mở đầu</strong></p>
<p>“Vị lai Bát quái phương vị”, mọi người nghe thấy danh từ này có thể cảm thấy rất kỳ quái. Có lẽ tất cả độc giả hiểu được «Kinh dịch» đều đã biết về “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Tôi xác thực đã đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, hơn nữa kết quả là vô cùng chấn động nhân tâm, do đó tôi mới cắt ngang kế hoạch sáng tác để thêm vào đây một loại bài với tiêu đề có chút cổ quái này. Nguyên kế hoạch của tôi là trong loạt bài “Lịch sử quan của tôi” sẽ thảo luận về “Tiên thiên Bát quái phương vị”, “Hậu thiên Bát quái phương vị” và quan hệ tương hỗ trong một giai đoạn lịch sử. Do tôi đã đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, hơn nữa kết quả cho thấy những thông tin khá quan trọng, nên loạt bài này nhất định phải chen vào. Thưa quý độc giả, nếu kiên nhẫn đọc hết loạt bài này, có thể các bạn sẽ đồng tình với quan điểm của tôi.</p>
<p><em>Tác giả: Tiểu Nham</em></p>
<p><strong>2. Nguyên do</strong></p>
<p>Nói đến Bát quái, danh từ này đã bị người Trung Quốc thời nay làm biến dị mất rồi. Ví như nói cá nhân này rất “bát quái”, thì chính là nói cá nhân này rất bậy bạ, lời nói ra quá mức độ. Người “bái quái” cũng giống như là tự dưng dựng chuyện vậy. Bởi vì người ta không lý giải được, cho nên hiện tại họ cấp cho danh từ “bát quái” này hàm nghĩa rất thế tục. Kỳ thực đây là không tôn trọng văn hóa truyền thống Trung Hoa và khinh nhờn tổ tiên Trung Hoa, cũng giống như tên món ăn “Phật nhảy qua tường” vậy. Phật là khẩu đoạn chấp trước, làm sao có thể “nhảy qua tường” để đến nhân gian thưởng thức mỹ vị được! Cái gọi là “mỹ vị” ở nhân gian, đối với Phật mà nói cũng tựa như đồ rác rưởi vậy! Đây là bởi vì thế nhân vô tri, nên mới dám nói như thế. Lý giải về Bát quái của con người thế gian cũng giống như thế.</p>
<p>Nói đến Bát quái, tôi cũng cần phải nói về kết duyên của tôi với Bát quái. Người Trung Quốc hiện tại đại đa số là bất tín mệnh, không tin vào vận mệnh. Do chịu giáo dục bởi khoa học thực chứng của phương Tây nên người ta dần dần chỉ tin vào phấn đấu cá nhân và sức mạnh của đồng tiền, hơn nữa người Trung Quốc thời nay còn thực dụng hơn cả người Tây phương. Tuy nhiên tôi cũng giống như những người tu hành, đều là tín mệnh, tin vào vận mệnh. Tôi cho rằng duyên phận với Bát quái của tôi là khá lâu dài, nên muốn “kể từ đầu”; đương nhiên “từ đầu” này chỉ là từ đầu trong kiếp sống này, chứ còn nói về đời trước, thì e rằng rất nhiều người không tin nổi nữa.</p>
<p>Nói là từ đầu, thì cũng là hơn 30 năm trước, cũng chính là mấy năm khi “Cách mạng Văn hóa” vừa mới kết thúc. Khi ấy tôi còn là một thiếu niên liễu lĩnh. Tôi có một vị đồng học, tổ tiên từng làm quan lớn khi Chính phủ Dân Quốc rời Đông Bắc sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và tiếp nhận rất nhiều sách vở của Hoàng cung Mãn Châu (rất nhiều đều là Phổ Nghi năm ấy đem từ Bảo tàng Cố cung).</p>
<p>Một lần tôi và đồng học đến đó, chỉ thấy mấy gian phòng, khắp nơi là thư tịch; đồng học nói với tôi có thể lấy tùy thích. Khi ấy tôi chọn mấy bản đẹp, trong đó có cuốn «Cổ văn quan chỉ» được khâu chỉ, «Tứ khố toàn thư» trong Bảo tàng Cố cung, còn có «Thần thoại La Mã» xuất bản bằng tiếng Pháp từ thế kỷ 17, v.v. Tôi chọn mấy cuốn với tiêu chuẩn là nhìn đẹp, tốt nhất là văn hay tranh đẹp. Trong đó có một cuốn sách hình gọi là «Hán thượng dịch». Đây chính là lần kết duyên tối nguyên sơ của tôi với «Kinh dịch». Điều đáng tiếc chính là, những cuốn sách còn lại cuối cùng đều bị bán làm phế phẩm, trở thành bột giấy, không còn nữa.</p>
<p>Cầm cuốn «Hán thượng dịch» trở về nhà, tôi hỏi mẹ tôi cái này có nghĩa là gì; mẹ tôi trả lời không được, nói đến hỏi thử bà ngoại xem. Bà ngoại tôi đã học qua trường tư thục, đối với Tứ thư, Ngũ kinh thì thuộc làu làu. Bà ngoại tôi là thầy dạy nhập môn của tôi, từng giảng cho tôi rất nhiều cố sự thời Xuân Thu Chiến Quốc và các điển cổ truyền thống, do đó «Đông Chu liệt quốc chí» đã trở thành sách giáo khoa của tôi hồi còn nhỏ. Thế là sau khi đến bà ngoại, tôi đem cuốn «Hán thượng dịch» cho bà xem. Bà ngoại xem xong nói, mỗi chữ hoặc mỗi câu trong đó thì bà đều hiểu nghĩa, nhưng không biết là nói về điều gì. Tôi nghe bà nói xong thấy rất nhụt chí, sau đó định từ bỏ cuốn «Hán thượng dịch» này. Đây chính là lần kết duyên đầu tiên của tôi với «Kinh dịch». Sự việc đã trôi qua hơn 30 năm rồi. Dưới đây tôi lại nói về duyên phận lần thứ hai của tôi với «Kinh dịch». Lần duyên phận này tương đối lâu dài, trước sau lên tới 8 năm.</p>
<p>Hồi tưởng lại, thấy khi còn trẻ, tôi đã là người rất kiên định theo đuổi khoa học thực chứng. Tôi đặc biệt sùng bái thành tựu vật lý học cận đại. Giấc mơ thời niên thiếu của tôi chính là có thể tiến thêm một bước nữa, học tập vật lý học hoặc nghề nghiệp liên quan đến vật lý học. Xã hội thời bấy giờ giảng “học giỏi Toán Lý Hóa, có đi khắp thiên hạ cũng không sợ”. Đây cũng chính là những năm tôi lần đầu tiên tiếp xúc với «Hán thượng dịch». Tôi đã bắt đầu đọc cuốn «Vật lý học sử», đồng thời bắt đầu đọc sách liên quan đến triết học Newton và tư tưởng Einstein. Ở tuổi của tôi lúc bấy giờ, đây đã là rất quá mức rồi.</p>
<p>Tuy nhiên, đối với hình thành thế giới quan của tôi, ngoại trừ ảnh hưởng của khoa học thực chứng ra, thì còn có một sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của tôi. Đây chính là loạt tiết mục trên truyền hình, gọi là “Hướng về tương lai”, hình như là phim của Đức, nói về bí ẩn Kim tự tháp, bí ẩn Atlantis, bí ẩn đảo Phục Sinh, v.v. “Ồ, khoa học không thể giải quyết tất cả vấn đề, còn có rất nhiều ẩn đố chưa được nhân loại giải thích!” Đây là cách nghĩ của tôi năm ấy, từ đó thế giới quan của tôi cởi mở hơn nhiều, không còn phong bế chật hẹp như trước nữa; tôi cũng không còn coi khoa học thực chứng là một loại chân lý tuyệt đối nữa.</p>
<p>Sau khi vào đại học, vì một số nguyên nhân, tôi không chọn học vật lý học, nhưng vẫn muốn lấy phương pháp vật lý học để vận dụng vào lĩnh vực chuyên nghiệp của tôi. Như một loại sở thích và niềm tin, tôi không hề từ bỏ học tập và nghiên cứu vật lý học. Tôi nghiên cứu chủ yếu về lý luận kết cấu xua tan, nhiệt lực học phi cân đối, luận từ trường, lượng tử lực học, thuyết Tương đối rộng, thuyết Tương đối hẹp cũng nghiên cứu không ít. Tuy nhiên nghiên cứu đi nghiên cứu lại, tôi phát hiện vật lý học cũng không phải là chân lý tuyệt đối; vật lý học dựa trên rất nhiều mệnh đề và giả thiết. Đặc biệt sau khi học về giả thuyết kiểm nghiệm trong thống kê, tôi biết loại giả thiết kiểm nghiệm này kỳ thực là rất chủ quan. Chỉ nằm trong phạm vi những giả thiết ấy thì các loại công thức và lý luận mới chính xác. Tuy nhiên một khi vượt qua những mệnh đề và giả thiết ấy, thì công thức và lý luận vật lý học lại không sử dụng được. Cũng chính là nói vật lý học hay là khoa học thực chứng đều không phải là vạn năng, mà chỉ là một loại chân lý tương đối. Sau đó tôi bắt đầu suy ngẫm, thấy rằng tính chân lý của khoa học là hữu hạn, là tương đối; như vậy tôi phải đi đâu đó để tìm tri thức hoặc chân lý cao hơn. Cá nhân tôi rất thích tư duy lô-gíc, thế là sau đó tự nhiên nghĩ đến mặt đối lập của khoa học—tôn giáo (thực ra cũng không phải là đối lập, chỉ là khi ấy tôi nghĩ như thế). Do đó tôi bắt đầu nghiên cứu khá hệ thống các loại tri thức tôn giáo, ví dụ Cơ Đốc giáo, Thánh Kinh, Phật giáo, Đạo giáo, v.v. Khi ấy, tôi gặp được một vị bằng hữu A, là bằng hữu của cha mẹ tôi, sau đó trở thành bạn vong niên của tôi. Bằng hữu A bắt đầu dẫn dắt tôi tiếp xúc có hệ thống với văn hóa truyền thống Trung Quốc và tư tưởng Phật giáo. Sau đó tôi học mệnh lý học, xem tướng và tứ trụ bát tự, v.v. thậm chí tôi đã từng xem bói cho hơn 100 vị bằng hữu. Đây là thời kỳ tiếp xúc với Bát quái lần thứ hai của tôi. Tôi không chỉ xem các loại bản đọc «Kinh dịch» bạch thoại, mà còn tìm được mấy bản «Chu dịch» đã được phiên dịch thành Anh văn từ những năm 1930. Lúc bấy giờ tôi rất kinh ngạc, ảnh hưởng của «Chu dịch» đã sớm lan ra nước ngoài, vậy mà trong hệ thống giáo dục của chúng tôi khi ấy thì một chút cũng không có. Sau đó thông qua đọc rất nhiều bản dịch Anh văn, tôi đã có hiểu biết sâu hơn về bản «Kinh dịch» bằng tiếng Trung. Ví dụ Anh văn dịch «Kinh dịch» là “The Book of Change”; từ “change” là một tầng lý giải mới đối với “dịch” (biến hóa); trước đây tôi nghĩ «Kinh dịch» chỉ là một cái tên sách mà không ngộ được hàm nghĩa sâu hơn của chữ “dịch”.</p>
<p>Trong thời gian ấy, đối với nghiên cứu «Kinh dịch» của tôi còn có một động lực thúc đẩy, là gì vậy? Chính là tư tưởng binh pháp truyền thống của Trung Quốc. Thời ấy tôi rất hứng thú với «Binh pháp Tôn Tử» cũng như các tác phẩm tương quan, và những tư tưởng này cuối cùng đã trở thành một bộ phận trong hệ thống lý luận luận văn Tiến sĩ của tôi. Trong binh thư có một bản «Tam thập lục kế». «Tam thập lục kế» tại Trung Quốc có thể nói là người người đều biết, thế nhưng rất ít người chân chính nghiên cứu nó. «Tam thập lục kế» trở thành sách vào triều Minh, mỗi kế trong cuốn sách đều sử dụng nguyên lý trong «Kinh dịch» để giải thích. Điều này đối với tôi là một gợi ý rất lớn. Ví dụ cổ nhân dùng các số 6, 7, 8, 9 để biểu thị các hạng ứng dụng. Trong đó 6, 8 là Âm, 7, 9 là Dương. «Kinh dịch» dùng 6 để đại biểu Âm, lấy 9 để đại biểu Dương, ví như thượng cửu, thượng lục, sơ cửu, cửu nhị, cửu ngũ, v.v. Dương 9 Âm 6 chính là khái niệm hào của Âm Dương, và không chỉ có vậy. Thượng cửu, sơ lục, trưởng nam, thiếu nữ, vị trí trưởng ấu, Dương trưởng Âm thiếu; ở đây còn có khái niệm về hào vị. Điều này rất có quan hệ với ý nghĩa “trưởng nam thiếu nữ” của “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Ví như, “trưởng nam” đối ứng với 9, đại biểu Dương, Dương 7, 9 đứng đầu lấy làm trưởng giả, Dương giả là 9, làm trưởng, tức trưởng nam; “thiếu nữ” đối ứng với 6, đại biểu Âm, Âm 6, 8 đứng đầu lấy làm thiếu giả, là 6, làm thiếu, tức thiếu nữ.</p>
<p>Trở lại đề tài chính, như vậy vì sao gọi là «Tam thập lục kế»? Lẽ nào trí tuệ Trung Quốc chỉ có 36 cái thôi sao? Đương nhiên không phải vậy. «Tam thập lục kế» có nghĩa là gì? Chúng ta biết rằng, 6 đại biểu Âm, binh gia giảng chính là âm mưu quỷ kế, do đó lấy ý là 6×6=36; “lục” đại biểu ý là âm mưu, tam thập lục thuộc về âm của âm, chứ tuyệt không phải trí tuệ Trung Quốc chỉ có 36 cái.</p>
<p>Bởi vì «Tam thập lục kế» là dùng tư tưởng 8×8=64 quẻ trong «Kinh dịch» để tiến hành giải thích, nên khi ấy tôi nghĩ, liệu có thể lấy một bộ phận quẻ tượng trong «Kinh dịch» để dùng cho nghiên cứu quan hệ “mô hình xung đột đối kháng” của xã hội nhân loại hay không. Liệu có thể đem điều này áp dụng vào nghiên cứu xung đột xã hội “phi đối kháng”, ví dụ kinh tế hay không. Đây chính là cách nghĩ lúc bấy giờ của tôi. Sau đó tôi bắt đầu nghiên cứu «Kinh dịch» khá hệ thống, thậm chí còn tham gia các khóa học chuyên nghiệp, dùng phương pháp thống kê học để viết mấy bài luận văn học kỳ chuyên thảo luận về quan hệ giữa «Kinh dịch» và «Tam thập lục kế».</p>
<p>Chúng ta biết rằng, Dịch học có thể phân thành hai nhánh lớn là Nho học và Đạo học; Khổng Tử làm thập dực, càng chú trọng về bộ phận tư tưởng trong Dịch học, thuộc về Nho học dịch; còn Đạo học dịch càng chú trọng vào thuật số và toán lý. Tuy nhiên sau khi Đổng Trọng Thư thời Tây Hán độc tôn Nho thuật, Nho học dịch được đưa vào căn phòng thanh lịch, còn Đạo học dịch đi vào bí truyền trong dân gian. Trên thực tế, những thư tịch về Dịch học mà chúng ta thấy ngoài xã hội hiện nay đều thuộc về Nho học dịch, còn những họ lớn thuật toán trong lịch sử như «Mai hoa thi» của Thiệu Ung triều Tống, «Thôi bối đồ» của Viên Thiên Cang triều Đường, «Thiêu bính ca» của Lưu Bá Ôn triều Minh đều thuộc về Đạo học dịch, hơn nữa đều là những dự ngôn vĩ đại truyền tụng cổ kim.</p>
<p>Nói thẳng ra, trong thời kỳ này tôi chủ yếu mới chỉ dừng lại ở tầng diện gọi là “thuật” khi nghiên cứu và lý giải «Kinh dịch»; coi như học được thủ pháp này, toán pháp kia. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng thủ pháp chân chính là không thể từ Nho học dịch lưu truyền trong xã hội mà nắm được, cũng không thể từ cái gọi là thủ pháp và thuật số xuất bản ngoài xã hội để tìm được đáp án; những thứ chân chính đều là bí truyền cả! Toán lý chân chính, trong các sách này đều không có giảng.</p>
<p>Sau đó tôi bắt đầu tu luyện <a href="http://phapluan.org/intro.html" rel="external nofollow">Pháp Luân Đại Pháp</a>, do đó đã vứt bỏ những thứ này, không lại hiếu kỳ về cái gì gọi là cát hung nữa, không lại tìm tòi tiểu đạo về vận mệnh nữa. Vậy là duyên phận thứ ba đối với «Kinh dịch» của tôi đã kết thúc. Thật ra, đây là thời kỳ tôi học tập khá có hệ thống về «Kinh dịch». Tuy nhiên tư tưởng chân chính đằng sau những tri thức này (không chỉ tư tưởng triết học của Nho học dịch, mà tư tưởng toán lý và quy luật vũ trụ ẩn đằng sau) vẫn còn là đám sương mù, không cách nào từ bản chất, từ cơ chế mà thấy rõ ràng được. Kể từ đó, bởi vì đã học Đại Pháp rồi, đối với các chủng lý luận thế tục và sách vở ngoài xã hội tôi không còn hứng thú nữa, cũng không lại quan tâm đến học thuyết nào đó nơi người thường nữa, bởi vì những thứ đó rất đơn giản, không có gì là thật cả, nhìn một cái là biết ngay.</p>
<p>Lại khá nhiều năm qua đi như vậy. Đến năm 2005, do yêu cầu công tác, tôi cần phải tiến hành nghiên cứu các tư tưởng quản lý khác nhau ở cả Đông và Tây phương. Xuất phát từ gợi ý từ tư tưởng Bát quái phương vị, một ngày kia (có lẽ là tầm ngày 20 tháng 8 năm 2006) tôi đưa ra kết cấu nghiên cứu song bàn, trong là “nhân bàn”, ngoài là “thiên bàn”. Đồng thời tôi cũng phát hiện trong thể hệ tư duy Tây phương không hề có khái niệm về “vị trí” (khái niệm bối cảnh “context” là sau lý luận hệ thống mới có). Tôi phát hiện tư tưởng Tây phương bao giờ cũng tìm kiếm một loại góc độ quan sát tuyệt đối. Còn tư tưởng Bát quái, người phân Âm Dương, là dùng hào để biểu thị {hào gồm có hào Âm biểu thị bằng nét đứt và hào Dương biểu thị bằng nét liền}. Ngoài khái niệm về hào ra, còn có khái niệm về hào vị {vị trí của hào trong quẻ}, đây là điều không có trong truyền thống nghiên cứu Tây phương. Thông qua mô hình song bàn, căn cứ quan hệ tương hỗ giữa “chủ thể” và “khách thể” (tương đương với hào) cũng như “chủ vị” và “khách vị” (tương đương với hào vị), tôi đã nghiên cứu về “thiên nhân hợp nhất” trong truyền thống Đông phương và “tri hành hợp nhất” trong phương thức biểu đạt Bát quái. Tôi cũng nghiên cứu dưới điều kiện “Âm Dương phản bối”, quan hệ đảo ngược giữa “chủ thể” và “khách thể” trong tư tưởng Tây phương, cùng cái gọi là “khách quan” được nhấn mạnh trong tư tưởng Tây phương, cũng như vấn đề lai nguyên trong tư duy về thủ đoạn “vật chất”. Đây là bắt đầu lần tiếp xúc thứ ba của tôi với «Kinh dịch».</p>
<p>Lần này khác với những lần trước chính là, bởi vì bản thân là người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đã nhiều năm, hiểu rằng rất nhiều chỗ trong «<a href="http://phapluan.org/book/zfl_html/index.html" rel="external nofollow">Chuyển Pháp Luân</a>» đều là tiết lộ Pháp lý tầng thứ cao trong vũ trụ. Những vấn đề Dịch học trước đây nhìn không ra, những cơ lý đằng sau «Kinh dịch» mà trước đây không phát hiện ra thì nay đều minh bạch cả, thậm chí chỉ nhìn một cái là rõ ngay. Từ đó tôi dễ dàng đưa ra những phát hiện về lý luận. Trong thời gian này tôi cảm nhận sâu sắc rằng, không phải bản thân có bản sự gì, cũng không phải bản thân thông minh thế nào, vậy mà trong bao nhiêu năm căn bản không xem lại «Kinh dịch», nói gì đến nghiên cứu, thế nhưng chỉ nhìn một cái đã minh bạch rồi, đây hoàn toàn là công của Pháp Luân Đại Pháp. Bộ Pháp này quả thực là quá vĩ đại, có thể khai mở hết thảy bí ẩn trong vũ trụ. Những yêu cầu trong công tác và nghiên cứu của tôi hết thảy đều nằm trong bộ Đại Pháp này. Trong khoảng thời gian này, cụ thể là ngày 2 tháng 9 năm 2006, tôi đã vận dụng cơ lý xoay chuyển Pháp Luân của Pháp Luân Đại Pháp để suy ra nguyên lý chuyển từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”.</p>
<p>Sau khi tìm được cơ lý “Hậu thiên Bát quái phương vị”, tôi cảm thấy chẳng để làm gì và còn định bỏ tại đó, không định nghĩ đến nó nữa.</p>
<p>Lần này, nguyên do lần kết duyên thứ tư của tôi với «Kinh dịch» là như thế này. Hai tháng trước, tôi một lần nữa gặp lại bằng hữu A; tôi hỏi ông căn cứ nghiên cứu cổ tịch, mệnh lý học và thuật số bao nhiêu năm của ông thì ông có biết ai đã hiểu được năm xưa Văn Vương đã suy luận “Hậu thiên Bát quái” từ “Tiên thiên Bát quái” như thế nào? Bằng hữu A trả lời rằng ông chưa từng nghe nói có ai nghiên cứu ra điều này, chỉ biết mệnh lý thuật số mấy nghìn năm qua đều kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương. Còn Văn Vương đã suy ra “Hậu thiên Bát quái” như thế nào thì e rằng chẳng ai biết, ngoại trừ mấy pháp môn bí truyền của Đạo gia thì may ra có người biết. Sau đó tôi nói với bằng hữu A rằng tôi đã suy ra được rồi. Bằng hữu A giật mình.</p>
<p>Đây còn chưa phải toàn bộ chỗ mấu chốt của vấn đề. Chỗ mấu chốt là đoạn đối thoại sau đó giữa tôi và bằng hữu A. Bằng hữu A nói: “Ông đã có thể từ ‘Tiên thiên Bát quái’ mà suy ra “Hậu thiên Bát quái’, vậy thì nhất định ông có thể từ ‘Hậu thiên Bát quái” suy ra ‘Vị lai Bát quái’”.</p>
<p>Có lẽ có độc giả đã biết rằng, trong giới mệnh lý học, ngay từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, rất nhiều “cao nhân” đều biết thiên tượng của vũ trụ hiện nay đã biến đổi rồi. Văn Vương năm xưa đưa ra “Hậu thiên Bát quái” cũng chính hợp với biến đổi thiên tượng lúc ấy giờ; xem bói dùng “Tiên thiên Bát quái’ không còn linh nữa, do đó Văn Vương tất phải căn cứ biến hóa thiên tượng khi ấy để đưa ra một bộ “Hậu thiên Bát quái” thích ứng với thiên tượng mới. Hiện tại 3.000 năm đã qua rồi, lại tới thời đại biến hóa thiên tượng rồi, do đó căn cứ thuật số trong «Dịch lý», bất luận là xem bói bốc quẻ hay tứ trụ bát tự cũng đều không chuẩn xác nữa. Thiên tượng đã cải biến rồi, tất cả thuật số toán pháp kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái phương vị” đều không còn linh nữa. Bằng hữu A đã rất sớm nói với tôi, hiện tại gieo quẻ đã không còn linh nữa, nhưng xem tướng thì còn được, là vì tướng do tâm sinh, có thể tùy thiên tượng biến hóa mà biến hóa, thế nhưng quẻ tượng thì đã không thể sử dụng được nữa. Từ đó bằng hữu A cứ nghĩ rằng, hiện tại thiên tượng vũ trụ đã biến đổi rồi, dù sao cũng phải có người đứng ra công bố Bát quái phương vị đồ ứng với thiên tượng mới của vũ trụ chứ! Đây là điều mà bằng hữu A nhớ mãi không quên, do đó tự nhiên ông cứ kiến nghị tôi đưa ra “Vị lai Bát quái”.</p>
<p>Đây là sự việc mới xảy ra 2 tháng trước. Bằng hữu A cứ nói, tôi cứ nghe, cũng không có chuyển biến gì. Tối ngày 11 tháng 12, tôi mất ngủ, trằn trọc mãi không ngủ được. Mấy hôm ấy tôi đang chuẩn bị bài diễn thuyết về tư tưởng quản lý kinh doanh xí nghiệp và văn hóa truyền thống, do đó đến tối đại não vẫn khá hưng phấn. Đã quá 2 giờ đêm, tôi vẫn ngủ không được, xem ra cả đêm không ngủ được, thì đột nhiên nghĩ tới sự việc bằng hữu A mời tôi đưa ra “Vị lai Bát quái”. Thế là tôi nghĩ nên thử xem sao, vừa nằm vừa bắt đầu suy nghĩ, nói đến cũng thật thần kỳ, tôi không vẽ hình mà chỉ tính toán trong đầu não, tưởng tượng xem “Vị lai Bát quái” rốt cuộc là thế nào. Cứ như vậy, một tiếng đồng hồ trôi qua, tôi sắp nhắm mắt lại rồi mà vẫn cảm thấy thật khó mà tin nổi, chẳng lẽ đưa ra dễ dàng như vậy ư?!</p>
<p>Suy ra được rồi, tôi vẫn còn chưa yên tâm, thế là sáng sớm hôm sau ngồi dậy đã cầm bút vẽ hình trên giấy, nghiệm chứng một lần nữa. Cách tính toán không có gì, nhưng kết quả bức vẽ lại khiến tôi giật mình. Đây chẳng phải là kết quả Chính Pháp vũ trụ mà Pháp Luân Đại Pháp tiết lộ hay sao?! Đây chẳng phải là kết quả giảng chân tướng cứu thế nhân của vô số đệ tử Pháp Luân Đại Pháp tu luyện trong Chính Pháp ư?! Đây chẳng phải là kết cục cuối cùng của chúng sinh trên thế gian hay sao?! Là thẩm phán tối hậu?! Điều này không khỏi khiến tôi nghĩ về bài thơ “Vô đề” trong tập Hồng Ngâm II của Lý Hồng Chí Tiên sinh, trong đó có câu: “<em>Thần nhân quỷ súc diệt, Vị trí tự kỷ định</em>“.</p>
<p>Ôi chao, kết quả thật đáng kinh ngạc! Văn minh Trung Hoa 5.000 năm chỉ để đợi ngày này! Những ông tổ văn hóa Trung Hoa trong thời đầu của nền văn minh đã sớm đưa đại kết cục 5.000 năm sau vào ẩn đố trong Bái quái! Quả thực là quá thần kỳ, không thể tin được, quá vĩ đại! Những người Trung Quốc đáng quý, các bạn không được có lỗi với tổ tiên nhé! Phải xứng đáng với chiếu cố và an bài vi diệu vô cùng của Thần trên thiên thượng! Đừng để vì món lợi nhỏ trước mắt mà đánh mất cơ duyên đã chờ đợi trong hàng ức vạn năm!</p>
<p>Tôi có một vị bằng hữu là tư vấn quản lý công ty mới đây đã nhiều lần hỏi tôi rằng, xã hội nhân loại vì sao “khởi điểm đã là đỉnh điểm”? Thượng Đế đã có an bài tỉ mỉ trong 5.000 năm qua, mục đích để làm gì? Cuối cùng để nhân loại chúng ta hiểu được điều gì? Đối diện với những câu hỏi này, tôi đã không ngừng từ Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp để giải thích. Tuy nhiên vị bằng hữu này của tôi vẫn không ngừng hỏi. Hai ngày trước, tôi đã đưa phát hiện “Vị lai Bát quái phương vị” nói cho vị này, và vị bằng hữu trông như đang ôm bảo bối trước ngực vậy. Nguyên là tôi không định dùng phát hiện này để giải đáp vấn đề cho bằng hữu, thế nhưng kết quả phát hiện đã giải đáp trọn vẹn những bí mật mà bằng hữu của tôi quan tâm; điều này vượt ra ngoài dự liệu của tôi.</p>
<p><strong>(II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị</strong></p>
<p><strong>1. Nói từ «Phong Thần diễn nghĩa»</strong></p>
<p>Vào những năm 80, 90 thế kỷ trước, tôi đọc được một tin tức trên báo chí nói rằng tại nơi mà Phục Hy năm xưa nhìn thấy bạch quy {rùa trắng} lại một lần nữa xuất hiện bạch quy, trên mu rùa có Bát quái văn. Nghe nói năm xưa Phục Hy nhờ quan sát Bát quái trên lưng rùa, sau đó ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất mà sáng lập Bát quái, khai sáng khởi nguyên văn hóa Trung Hoa. Sau đây tôi sẽ đưa ra một số thông tin sưu tập trên mạng để mọi người tham khảo.</p>
<p>“19 năm trước (tác giả ghi chú: tức năm 1984), người ta bắt được một cụ rùa trắng hơn 200 tuổi tại hồ Tiền Thành, gần đài Họa Quái ở Hoài Dương. Do đó, hồ rùa trắng xuất ra rùa trắng, đã chứng minh tính chân thực của truyền thuyết 6.000 năm trước, ông tổ Thái Hạo Phục Hy bắt được bạch quy ở Thái Thủy, đào ao nuôi thả, ngày đêm quan sát, bắt đầu sáng tác Bát quái. Sau 6 năm biến mất trong hồ khi được phóng sinh, hôm nay rùa trắng lại hiện thân tại Hoài Dương.”</p>
<p>“Vì sao bạch quy này xuất hiện tại đây và ‘dẫn người đến xem’? Theo cán bộ huyện về hưu, người từng nghiên cứu phong tục dân gian thì trong truyền thuyết, ông tổ Thái Hạo Phục Hy bấy giờ từ Thái Hà bắt được một con bạch quy, đào ao tự nuôi, thường đến ao quan sát và nhờ được gợi mở từ hoa văn trên thân bạch quy mà vẽ ra Bát quái; bởi vậy bạch quy là thánh vật giúp Phục Hy sáng tác Bát quái. Vậy rốt cuộc trên đời có bạch quy hay không? Sớm ngày 16 tháng 8 năm 1984, tại Đông Quan thuộc huyện Hoài Dương, một thiếu niên tên là Vương Đại Oa đã câu được một con bạch quy tại ao Bạch Quy trước đài Họa Quái. Chú rùa này toàn thân trắng toát, trong sáng lung linh, nặng 1,3 cân, gần như hình tròn. Theo giám định của chuyên gia hữu quan, chú rùa này đã 235 tuổi. Các chuyên gia kinh ngạc khi phát hiện các hoa văn trên thân bạch quy, cùng với bức họa Tiên thiên Bát quái của Phục Hy là nhất trí đến lạ thường. Chính giữa mu rùa có năm miếng, tượng trưng cho ‘Ngũ Hành’ là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; xung quanh trung tâm mu rùa có tám miếng, tượng trưng cho Bát quái là Càn, Cấn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Khôn, Đoài; vòng ngoài mu rùa có 24 miếng, tượng trưng cho 24 tiết khí, dưới bụng có 12 miếng, tục xưng là ‘Địa chi’, tượng trưng cho Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi; móng rùa giống móng rồng, bắp chân có chữ ‘nhân’.”</p>
<p>“Theo «Nguyên hòa quận huyện đồ chí» thì: đài Bát quái và đàn Bát quái ở huyện Bắc chính là họa Bát quái do Phục Hy vẽ. Sử liệu hữu quan ở Hoài Dương ghi lại, sau khi định đô ở Hoài Dương, Phục Hy bắt được bạch quy từ Thái Thủy, đào ao nuôi dưỡng, ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất, quan sát vạn vật, lại căn cứ theo biến hóa thiên tượng và hình trên mu rùa để vẽ ra Bát quái. Năm 1984, bạch quy lại hiện thân tại Hoài Dương, còn ghi chép trước đó về bạch quy trong lịch sử thì chỉ là văn nhân mặc khách tưởng tượng mà thôi. Hôm nay, bạch quy lại một lần nữa hiện thân, khiến truyền thuyết trở thành hiện thực; vậy có thể nói, bạch quy là ‘hóa thạch sống’ để nghiên cứu văn hóa Phục Hy.”</p>
<p>Đương nhiên, đại đa số người ta chỉ coi đây là một câu chuyện để đọc cho vui, và coi việc lấy Bát quái từ bạch quy là một cố sự thần thoại không cách nào khảo cứu. Nhưng trên thực tế, dường như tất cả văn hóa các dân tộc đều bắt nguồn từ những cố sự thần thoại như vậy, chẳng lẽ cố sự thần thoại là chuyện của Thần thật ư? Bản thân tôi không định coi nó là cố sự, khi ấy tôi nghĩ, bạch quy tái hiện nhất định là biến hóa thiên tượng! Bạch quy tuyệt không phải là vô duyên vô cớ mà xuất hiện.</p>
<p>Ở đây tôi muốn kể cho mọi người một câu chuyện, và có thể các bạn chỉ coi như cố sự để nghe, bởi đây chẳng qua chỉ là một phỏng đoán của tôi mà thôi.</p>
<p>Mọi người nhất định đều từng nghe cố sự Đát Kỷ làm loạn triều đình rồi phải không. Điều này đối với việc Văn Vương suy ra “Hậu thiên Bát quái” là có quan hệ, là chủ tuyến của «Phong Thần diễn nghĩa». Đát Kỷ nguyên là con gái của Ký Châu hầu Tô Hộ, sau đó bị cáo chín đuôi phụ thể, rồi đi mê hoặc Trụ Vương nhà Thương, dẫn đến mất nước; Võ Vương từ đó khai sáng giang sơn nhà Chu kéo dài 800 năm, xã hội Trung Quốc từ đó tiến nhập vào “thời đại Thiên Tử” của “Hậu thiên Bát quái”.</p>
<p>Nếu như tôi nhớ không nhầm, thì đầu những năm 90 thế kỷ trước, tôi đã xem được một bài báo, nói trong rừng Tương Tây ở Hồ Nam, Trung Quốc, người ta đã phát hiện ra loài chim chín đầu có trong truyền thuyết. Đọc được tin tức này, tôi cảm thấy rất không hay, bởi tôi nghĩ tới cảnh thiên hạ đại loạn vì cáo chín đuôi năm xưa. Hồ ly yêu mị, hồ ly chín đuôi, nó nhất định là lẳng lơ dị thường; hôm nay xuất hiện chim chín đầu trong truyền thuyết, quả nhất định không thể xem thường. Chim thì thế nào? Chim thường ca hát, chim chín đầu ca hát thì nhất định là rất êm tai. Mấy năm sau, tại Tương Tây xuất hiện một “Spicy Girl”, luôn đứng hát bên cạnh Giang Trạch Dân, trở thành “quốc mẫu” nửa cấp ba lại nổi danh với nghiệp ca hát {nữ ca sĩ Tống Tổ Anh}. Đúng là thiên tượng đều có an bài ở bên dưới, chỉ có thế nhân là không tin mà thôi!</p>
<p><strong>(II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị</strong></p>
<p><strong>2. Tiên thiên Bát quái phương vị</strong></p>
<p>Sau đây chúng ta sẽ trở lại vấn đề chính. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta trong phần này là trình bày tôi đã suy luận Hậu thiên Bát quái phương vị từ Tiên thiên Bát quái phương vị dựa trên cơ chế nào. Như vậy trước tiên chúng ta phải xem hình dạng Tiên thiên Bát quái phương vị (Hình 1 và Hình 2) cùng những ngụ ý trong đó.</p>
<div>
<a href="http://chanhkien.org/wp-content/uploads/2011/08/TienThienBatQuai01.jpg" rel="external nofollow"><img height="340" src="http://chanhkien.org/wp-content/uploads/2011/08/TienThienBatQuai01.jpg" title="TienThienBatQuai01" width="313" alt="TienThienBatQuai01.jpg" /></a><p>Hình 1: Tiên thiên Bát quái phương vị đồ của Phục Hy</p>
</div>
<p>Trên đây là đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị”. Theo truyền thuyết, thủy tổ văn hóa Trung Hoa là Phục Hy đã ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất mà sáng tạo ra phương vị Bát quái này. Tất nhiên, đây là cách nói về nguồn gốc của Bát quái trong xã hội nhân loại. Kỳ thực Bát quái có khởi nguyên cao hơn, vượt ra khỏi nhân loại. Như vậy ý nghĩa của nghiên cứu Bát quái phương vị là gì? Vì sao chúng ta phải nghiên cứu Bát quái phương vị? Chúng ta biết rằng, Bát quái là một loại mô hình vũ trụ, có sẵn công năng dự báo tương lai của vũ trụ và vận mệnh của con người. Dự báo như thế nào? Đương nhiên kinh điển nhất chính là có thể xem bói thông qua cỏ thi hoặc đồng tiền. Đây là coi bói đối với một sự kiện cụ thể, xem một quẻ tượng cụ thể để dự đoán cát hung. Còn nếu phải nghiên cứu một quy luật sự kiện lớn, ví dụ quy luật diễn hóa và thay đổi của xã hội nhân loại, thì nhất định phải biết thứ tự sắp xếp giữa các quái {quẻ} với nhau; đây chính là vấn đề Bát quái phương vị cần phải giải quyết, cũng chính là thứ tự sắp xếp của Bát quái. Mấy nghìn năm qua, tất cả mệnh lý thuật số trong «Chu dịch» đều là căn cứ vào thứ tự “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương mà thành lập. Nhưng “Hậu thiên Bát quái phương vị” là Chu Văn Vương căn cứ quan sát của mình đối với biến hóa thiên tượng hậu thiên để đưa ra. Do đó đây là Dịch học hậu thiên của Chu Văn Vương, còn gọi là «Chu dịch». Kỳ thực Dịch học không phải chỉ có «Chu dịch», ví dụ Dịch học trước Văn Vương còn có «Thương dịch» (Dịch học nhà Thương), «Hạ dịch» (Dịch học nhà Hạ), v.v. «Hạ dịch» lại có «Liên Sơn dịch»; «Thương dịch» lại có «Quy tàng dịch», v.v. Chiểu theo tập quán đặt tên, Dịch học Tây Hán được gọi là «Hán thượng dịch» (Tây Hán, Đông Hán còn được gọi là Hán thượng, Hán hạ); đây cũng chính là căn bản Dịch học tuổi thiếu thời của tôi. Tuy nhiên, về bản chất mà nói, các phiên bản Dịch học từ «Chu dịch» trở đi là không có khác biệt về bản chất với «Chu dịch», đều là căn cứ vào trình tự sắp xếp “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, chỉ là thêm giải thích của người đời sau vào đó, ví dụ phiên bản «Chu dịch» hiện đại kèm theo giải thích của Thiệu Ung Thiệu Tử thời Bắc Tống.</p>
<p>Trước tiên chúng ta xem sự phân biệt các quẻ tượng của “Tiên thiên Bát quái” có ý nghĩa gì. “Tiên thiên Bát quái” phân biệt là 1 Càn (☰), 2 Đoài (☱), 3 Ly (☲), 4 Chấn (☳), 5 Tốn (☴), 6 Khảm (☵), 7 Cấn (☶), 8 Khôn (☷). Trình tự sắp xếp này dường như có chút kỳ quái, bởi vì nếu theo chiều kim đồng hồ thì phải là Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài, hoặc nếu ngược chiều kim đồng hồ thì phải là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Khôn, Cấn, Khảm, Tốn. Vậy thì tại sao tôi lại nói trình tự sắp xếp là như vậy? Đây gọi là “Thái Cực tuần hoàn”, chứ không phải “viên chu tuần hoàn” (tuần hoàn theo chu vi hình tròn) như chúng ta vẫn biết. Điều này chúng ta sẽ phải nói đến ở dưới đây. Như vậy 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn phân biệt đại biểu ý nghĩa gì? Nói tới đây, một số độc giả có thể phải kiên trì một chút, bởi vì phương thức trình bày của tôi ở đây là để những độc giả nào chưa có căn bản về «Chu dịch» vẫn có thể hiểu được, do đó tri thức cơ sở có thể phải nói tường tận một chút. Bởi vì “Tiên thiên Bát quái” đối ứng với thiên tượng của vũ trụ, nên hàm nghĩa “Tiên thiên Bát quái” cũng đối ứng với một số yếu tố trong giới tự nhiên, phân biệt là: 1 Càn đại biểu Thiên {trời}, 2 Đoài đại biểu Trạch {đầm}, 3 Ly đại biểu Hỏa {lửa} (tác giả ghi chú: Hỏa có thể đại biểu ‘điện’, trong “Vị lai Bát quái phương vị” chúng ta sẽ phải sử dụng hàm nghĩa này), 4 Chấn đại biểu Lôi {sấm}, 5 Tốn đại biểu Phong {gió}, 6 Khảm đại biểu Thủy {nước}, 7 Cấn đại biểu Sơn {núi}, 8 Khôn đại biểu Địa {đất}, tham khảo Hình 2.</p>
<div>
<a href="http://chanhkien.org/wp-content/uploads/2011/08/TienThienBatQuai02.jpg" rel="external nofollow"><img height="324" src="http://chanhkien.org/wp-content/uploads/2011/08/TienThienBatQuai02.jpg" title="TienThienBatQuai02" width="318" alt="TienThienBatQuai02.jpg" /></a><p>Hình 2: Biểu ý của Tiên thiên Bát quái</p>
</div>
<p>Như vậy đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” có ý nghĩa gì? Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Bát quái” là Dịch lý trước thời Văn Vương, là do Phục Hy sáng lập, đối ứng với thiên tượng vũ trụ trước thời Văn Vương. Như vậy thiên tượng vũ trụ thời ấy có đặc trưng gì? Chúng ta có thể từ đồ tượng “Tiên thiên Bát quái phương vị” để rút ra một số cái, bởi vì “Tiên thiên Bát quái phương vị” và thiên tượng vũ trụ thời bấy giờ là đối ứng. “Tiên thiên Bát quái phương vị” có thể phản ánh tầng không gian vũ trụ ở gần nhân loại, cũng chính là tầng vũ trụ mà nhân loại sinh tồn, trong đó vạn vật tự nhiên đều được sinh ra thành đôi, tồn tại đối lập nhau, ví dụ Thiên đối Địa (Càn đối Khôn), Hỏa đối Thủy (Ly đối Khảm), Phong đối Lôi (Tốn đối Chấn), Sơn đối Trạch (Cấn đối Đoài), mời xem Hình 2. Loại tồn tại đối lập này cũng chính là đặc tính vũ trụ thời ấy, rất nhấn mạnh tính đối lập của vạn vật, chính vì vậy có Phật thì có ma, có người thì có quỷ. Vì vậy đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” phản ánh một loại thế giới với Âm-Dương đối lập, cũng là phản ánh Lý tương sinh-tương khắc sản sinh từ một tầng thứ nhất định trong vũ trụ đi đến trạng thái cực đoan. Do đó “Tiên thiên Bát quái phương vị” trên thực tế là mô tả vũ trụ nguyên thủy đã đi đến một loại trạng thái đối lập cực đoan.</p>
<p>Như vậy chúng ta từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” còn có thể nhìn ra được gì nữa? Chính là phương thức định nghĩa về Âm-Dương trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”. Chúng ta biết rằng, trong Bái quái mỗi một nét gạch được gọi là ‘hào’. Hào có thể phân Âm-Dương. Dương là một gạch liền, Âm là một gạch đứt. Đây là phân biệt Âm-Dương trong hào. Vậy thì làm sao để phân biệt Âm-Dương trong một quẻ? Định nghĩa về Âm-Dương của quẻ tượng trong “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị” là khác nhau, đây là chỗ mấu chốt để hiểu được Lý chuyển từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Chúng ta biết rằng, trong Bát quái, ngoại trừ khái niệm về hào ra, còn có khái niệm về ‘vị’, cũng chính là điều gọi là ‘sơ vị’ (vị trí của hào ở dưới cùng), ‘trung vị’ và ‘thượng vị’ (tác giả ghi chú: trong 64 quẻ của «Chu dịch», vị trí hào ở dưới cùng nhất là sơ vị). Trong phân tích lý tính của Tây phương không hề có khái niệm “vị”, do đó “vị” là khái niệm đặc trưng của văn hóa phương Đông. “Tư tưởng trung dung” của Nho gia và cách nói “Cửu ngũ chi tôn” của văn hóa truyền thống cũng đều từ đây mà ra.</p>
<p>Trong “Tiên thiên Bát quái phương vị” thì Âm-Dương của hào ở vị trí sơ hào xác định Âm-Dương của quẻ tượng. Ví dụ vị trí sơ hào của Càn (☰), Đoài (☱), Ly (☲), Chấn (☳) đều là hào Dương, do đó bốn quẻ này đều là quẻ Dương; cũng như vậy vị trí sơ hào của Tốn (☴), Khảm (☵), Cấn (☶), Khôn (☷) đều là hào Âm, do đó bốn quẻ này đều là quẻ Âm. Chiểu theo cách phân định quẻ Âm-Dương này, chúng ta đưa Thái Cực vào đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” và được Hình 3; đây chính là quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực.</p>
<div>
<a href="http://chanhkien.org/wp-content/uploads/2011/08/TienThienBatQuai03.jpg" rel="external nofollow"><img height="323" src="http://chanhkien.org/wp-content/uploads/2011/08/TienThienBatQuai03.jpg" title="TienThienBatQuai03" width="318" alt="TienThienBatQuai03.jpg" /></a><p>Hình 3: Quan hệ giữa Tiên thiên Bát quái và Thái Cực</p>
</div>
<p>Như vậy từ Hình 3, chúng ta có thể có được thông tin gì? Chính là nói rằng thuộc tính Âm-Dương của bất kể sinh mệnh nào cũng đều là do thuộc tính Âm-Dương tại vị trí sơ sinh quyết định, cũng là Âm-Dương của vị trí sơ hào quyết định Âm-Dương tiên thiên. Bởi vì trong quá trình luân hồi, thuộc tính nam-nữ Âm-Dương của sinh mệnh không ngừng biến hóa; thế nhưng thuộc tính Âm-Dương của sinh mệnh chân chính là do Âm-Dương tiên thiên quyết định, cũng chính là Âm-Dương của vị trí sơ hào quyết định. Chúng ta biết rằng, ba hào vị của Bát quái là thượng vị, sơ vị và trung vị thay nhau đại biểu cho tam tài là Thiên, Địa, nhân, hơn nữa nhân ở trung vị, do đó phải thủ trung, cần trung dung. Trong 64 quẻ, ba hào trên được gọi là ‘thượng quái’, trong đó hào số năm xác định trung vị của thượng quái, đại biểu người, thuộc bề trên, là vị trí Đế vương, thời xưa gọi là ‘Cửu ngũ chi tôn’, đại biểu vị trí Đế vương. Còn ba hào dưới trong 64 quẻ được gọi là ‘hạ quái’, trong đó hào số hai làm trung vị, là nhân vị của hạ quái. Do đó nhân vị của hạ quái là người dưới, gọi là ngôi của bề tôi, thuộc vị trí ‘Cửu nhị thủ trung’. Hào thứ ba, hào thứ tư đều thuộc vào vị trí tiến thoái lưỡng nan, tựa như bước trên băng mỏng, lên không được xuống cũng không xong. Còn sơ hào, hào đầu tiên của phần dưới thường là cảnh tượng vạn vật sơ sinh, quyết định Âm-Dương của sơ sinh, thuộc năng lượng vô cùng yếu kém, thuộc điều gọi là trạng thái “tiềm long vật dụng” {rồng ẩn chớ dùng}. Còn hào thứ sáu ở trên đỉnh đầu thường thuộc vị trí vượt quá ‘trung dung trung chính’, thuộc về trạng thái “kháng long hữu hối” {rồng cao ngạo thì phải hối hận}.</p>
<p>Lý Hồng Chí Tiên sinh đã có một đoạn giảng Pháp trong «<a href="http://phapluan.org/book/zfl_html/index.html" rel="external nofollow">Chuyển Pháp Luân</a>» liên quan đến nguồn gốc của nam-nữ Âm-Dương, cũng có quan hệ đến ‘Âm Dương phản bối’ trong “Hậu thiên Bát quái’ mà chúng ta sẽ thảo luận sau. Do vậy xin cho phép tôi dẫn giải một chút cho quảng đại độc giả.</p>
<p>Trong mục “<a href="http://phapluan.org/book/zfl_html/lecture3.html#5" rel="external nofollow">Phản tu và tá công</a>“, Lý Hồng Chí Tiên sinh giảng: “<em>Thực ra [ngay cả] chủ nguyên thần cũng không nhất định có cùng [giới tính] với nhục thân; bởi vì chúng tôi đã phát hiện rằng bây giờ nữ nguyên thần của nam có rất nhiều, nam nguyên thần của nữ cũng có rất nhiều; hoàn toàn phù hợp với điều mà hiện nay Đạo gia gọi là thiên tượng âm dương đảo chiều và âm thịnh dương suy.</em>”</p>
<p>Trong giới tu luyện giảng rằng sinh mệnh con người nguyên là đến từ không gian vũ trụ, do đó thuộc tính sinh mệnh chân chính của con người là nguyên thần chứ không phải nhục thân, Pháp Luân Đại Pháp gọi là ‘chủ nguyên thần’, còn rất nhiều công pháp Đạo gia gọi là ‘thức thần’. Sinh mệnh chân chính của con người là nguyên thần chứ không phải nhục thân. Nhưng giới tính của nguyên thần và nhục thân không nhất định là giống nhau, đặc biệt đến thời đại ‘Âm dương phản bối’ (thời đại “Hậu thiên Bát quái”) thì lại càng như vậy. Hiển nhiên, chúng ta từ “Tiên thiên Bát quái” có thể thấy được Lý này, Âm-Dương của Bát quái là do Âm-Dương của sơ vị (hào vị thứ nhất) quyết định. Bản thân “Tiên thiên Bát quái” là có một tầng ngụ ý ấy.</p>
<p>Tiếp theo, chúng ta lại xem quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực. Chúng ta phát hiện thấy Thái Cực này là một dạng hình tượng ‘trái Dương phải Âm’, cũng chính là điều gọi là ‘nam tả nữ hữu’. Loại Thái Cực ‘nam tả nữ hữu’ này đã thuyết minh một vấn đề gì? Chúng ta biết rằng, Dương khí thanh mà nhẹ, thăng lên trên; Âm khí đục mà nặng, hạ xuống dưới. ‘Trái Dương phải Âm’ đại biểu Âm-Dương không thể tương giao. Không thể tương giao chính là không có cơ chế “tương sinh” (chỉ có cơ chế đối lập, tương khắc), cũng chính là “Thần nhân” hoặc “Thiên nhân” tại không gian cao tầng trong vũ trụ còn chưa hạ xuống. Dưới mặt đất nếu như có người (người trước thời Văn Vương), thì đó chỉ là người sinh ra trên mặt đất, cũng chính là nhục thân này của con người, còn chưa có tư tưởng và văn hóa, cũng chính là người trên mặt đất mặc lớp da người này, không có quan hệ với người trên thiên thượng. Ý nghĩa căn bản của “Tiên thiên Bát quái phương vị” chính là đại biểu cho đặc tính của “vũ trụ đầu tiên”. Tất nhiên “vũ trụ đầu tiên” mà tôi nói này không phải cái gọi là “tiểu vũ trụ” 13 tỷ năm ánh sáng mà khoa học thực chứng và tri thức nhân loại nhận thức được, mà là “đại vũ trụ” bao gồm hàng nghìn vạn hồng khung hoàn vũ được giảng trong Pháp Luân Đại Pháp. “Vũ trụ đầu tiên” cũng là điều gọi là “cựu vũ trụ”. Tất nhiên đây chỉ là lý giải của cá nhân tôi.</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">33292</guid><pubDate>Sat, 20 Sep 2014 07:50:49 +0000</pubDate></item><item><title>D&#x1ECB;ch H&#x1ECD;c V&#xE0; Phong Th&#x1EE7;y</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/30506-d%E1%BB%8Bch-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-phong-th%E1%BB%A7y/</link><description><![CDATA[
<p class="bbc_center"><strong class="bbc"><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 24px;"><span style="color: #ff0000">Chương Mộ phần</span></span></span></strong></p>
<span style="font-family: Arial"><span style="color: #222222"><strong class="bbc"><br></strong></span></span><span style="font-family: Arial">1-   Lấy tuổi người chết làm “Huyệt”, hào nào hợp với tuổi ấy thì gọi là “hào Huyệt”. Hào Thế ở vào hào Huyệt thì gọi là “Thế lâm Huyệt”. Hào Thế và hào Huyệt cần được tương sinh,tương hợp, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến sinh hợp và được gọi là “Huyệt hợp long, long nhậphuyệt”.Đó là chôn đúng huyệt, được cuộc đất tốt.</span><br><br><span style="font-family: Arial">2-   “Sơn” là nội quái, “Thủy” là Hợi Tý. Như Hợi Tý - Thủy lâm hào Thê tài,Tử tôn (phúc đức) ở nội quái là cát thần tại nội cung, có tương sinh tương hợpvới hào Thế, hoặc cùng hào Huyệt tương sinh, tương hợp, thì gọi là “Sơn bao thủy, thủy liênsơn” (Núi bọc lấy nước, nước làm núi liên lạc với nhau), tốt.</span><br><br><span style="font-family: Arial"><span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="font-family: Arial">3-   Hào Hỏa, Thủy vượng tướngvà phát động: Mộ huyệt ở gần chỗ dân cư, nên gọi là “Văn kê minh khuyển phệchi thanh “(Nghe tiếng gà gáy, chó sủa) được ấm cúng, tốt.</span><br><br><span style="font-family: Arial">4-   Hào Thế, hào ứng sinh phù,củng hợp cho hào Huyệt, hoặc hào Thanh long, Bạch hổ sinh hợp với hào Huyệt,hay là hào Huyệt ở giữa hào Thế và hào ứng (hào Giản), cũng như được hào Thếhào Ứng lâm Thanh long Bạch hổ phù củng, thì đều gọi là mộ huyệt được thế “Long bàn, hổ cứ” (rồng nằm phục, cọp ngồi giữ) Mộ kết phát,tốt.</span><span style="color: #222222"><span style="font-family: Arial"> </span></span><br><br><span style="font-family: Arial">5-   Hào Thế là “chủ sơn” (nơi chôn), hào ứng là “thục sơn” (gò án trước mặt). Ba hào Thế, ứng và Huyệthợp lại được thành một Tam hợp cục, lại là quẻ Lục hợp, hoặc có hai hào lâmThanh long, Bạch hổ cùng hào Huyệt lập thành một Tam hợp cục, thì nơi chôn cấtấy là nơi “tụ khí tàng phong” rất tốt, kết phát.</span><br><br><span style="font-family: Arial">6-   “Lai sơn” là gò đất làm nơiở, tức mộ phần, “Triều sơn” là gò đất chầu về mộ phần (Chữ“sơn” là gò đất cao, chữ “lai” là nhà ở). “Lai sơn” là hào Thế ở nộiquái, “Triều sơn” là hào ứng ở ngoại quái. Nếu Thế và ứng cùng Hành khí như nhauthì gọi là “hồi đầu cố tổ”, phải đổi hướng huyệt mộ lại.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="font-family: Arial">7-   Quan quỉ lâm hưutù, tử tuyệt thì biết rằng cạnh đó có ngôi mộ cổ bỏ hoang phế từ lâu.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Quan quỉ gặp Trường sinh của Nhật thần, hoặc động mà hóa Trườngsinh thì biết rằng nơi đây có huyệt phát phúc thọ.</span><br><br><span style="font-family: Arial">8-   Hàonào có Hành khí giống với tuổi người chết thì gọi là “hào Huyệt”. Thí dụ: Tuổi người chết là Mùi - Thổ thì hàonào có hành khí là Thổ là hào Huyệt. Ta lấy “Thổ” mà tính. Theo vòng Tràng sinh thì Thổ sẽ Mộ ởThìn, lấy “Thìn” làm “Mộ”. Mùi và Ngọ Nhị hợp, lấy “Ngọ” làm “hướng”. Thìn và Dậu Nhị hợp, lấy “Dậu” làm “hướng”. Như coi quẻ vào ngày Thìn Thân hoặc ứng lâmThìn Thân thì vì Ngọ ở giữa Thìn Thân, nên gọi là “cách đoạn ở Ngọ” (hướng). Nếu coi vào ngày Mùi Hợi thì vì Dậuở giữa Mùi Hợi, nên gọi là “cáchđoạn ở Dậu (hướng).Vậy là “huyệtmộ” không cùng với “hướngcủa mộ” cần phải xoay lại.</span><br><br><span style="font-family: Arial">9-   Huyệt lâm Tị Mùi hai hào,hào Thế lâm Nhật thần là Ngọ. Ngọ ở giữa Tị và Mùi, gọi là “phân khai Tị Mùi haihuyệt”. Ta biết rằng huyệt tả,huyệt hữu phản lại nhau, ta cần xét lại.</span><br><br><span style="font-family: Arial">10-    Hào Huyệt là hào Thế thìkể như được “sơnhình chi chỉnh” (đúng với hình của gò đất, thế đất), tốt. Hào Huyệt thuộc Thủy ởnội quái thuộc Kim, hoặc ở trong quẻ kép (6 hào) là Kim, thì được gọi là “bản tượng sinh huyệt”(thế đất sinh cho huyệt mộ) tốt.</span><br><br><span style="font-family: Arial">11-    Hào Lục là hào “Thủy khẩu”. Nếu Thế, Ứng ở hào Lục, hoặc tương hợp, nhịhợp với hào Lục thì gọi là “huyệtcó khóa cửa”, cửahuyệt bị đóng nên mộ không phát.</span><br><br><span style="font-family: Arial">12-    “Khảmsơn” là nội cung (nội quái) củaquẻ Khảm (Thủy) có hào Huyệt là Thân - Kim, là ngôi Trường sinh của Thủy, tốtlắm. Nếu coi quẻ vào ngày Thân gặp Không vong hay Nguyệt phá thì mộ phần lạihư.</span><br><br><span style="font-family: Arial">13-    Coi về lập sinh phần trướcthì lấy bổn mạng (tuổi) của người đứng lập làm hào Huyệt. Hào Huyệt ở vào nộicung, nội quái của quẻ (kép) hoặc bị quẻ hình khắc, thì xấu. Nếu hào Huyệt đượcsinh trợ, có khí (vượng tướng, lâm Nhật thần, Nguyệt kiến) thì vẫn tốt, nếu lâmKhông vong thì người sắp chết lại bị khắc kỵ, còn người sống (đứng lập) lạikhỏi lo.</span><br><br><span style="font-family: Arial">14-    Hào Huyệt gặpThanh long và Tử tôn hữu khí, sinh hào Huyệt, thì gọi là “Thanh longbái vị”,rất tốt. Nếu Phụ mẫu gặp Bạch hổ và sinhcho hào Huyệt, thì mộ phần có thể phát.</span><br><br><span style="font-family: Arial">15-    Hào Huyệt lâm Nhật thần cóHuyền vũ thì là dư khí chưa hết, có hình như cái lưỡi lè ra (Khoa Địa lý gọi là “thè lè lưỡi trai”): Có Huyệt mộ tốt.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt ở trên và trước hào Thế một vị gọi là “ẩn” nếu bị Nhật thần, Nguyệt kiến xung phá lạilâm Chu tước thì có hình như há miệng, gọi là “hàmrồng” thì có huyệt mộ phát lớn.</span><br><br><span style="font-family: Arial">16-    Hào Huyệt trì Thế gặp Câutrần và ở Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ, hoặc bị xung khắc, thì là: Mộ táng nơigò, vườn và bị phá lở.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt trì ứng gặp Huyền vũ và ở Hợi Tý - Thủy hoặc hội Thủycục (hóa Tam hợp Thủy cục Thân Tý Thìn) thì là: Mộ để dưới hố sâu, ngòi, ao,giếng, gọi là “oa”(chỗ nước sâu).</span><br><br><span style="font-family: Arial">17-    Huyệt hào gặp Bạch hổ, lạithêm Nguyệt phá lâm hào Thế, hào Huyệt, Quái Thân (thân quẻ) thì biết rằng đólà mộ cổ đã hư nát hết rồi. Nếu gặp quẻ Quy hồn hay hào Quan quỉ thì gọi là đấthoàn hồn, phát trở lại.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt gặp Đằng xà, lâm Phụ mẫu thì con cháu học hành khôngđược nhiều, mộ phần ở gò cao, liên tiếp đống nọ đống kia, khoa Địa lý gọi là “nhu, đột” là mộ hung táng.</span><br><br><span style="font-family: Arial">18-    Hào Huyệt ở Quanquỉ, thuộc Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Thổ và lâm Tử, Tuyệt thì là ngôi cổmộ.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt trong quẻ Du hồn, hào Quan quỉ động, gặp xung, không,thì biết là: Bên cạnh có ngôi mộ đã cải táng. Có Nhật thần khắc Bạch hổ, thì biếtlà: Huyệt này đã có ngôi mộ bị hủy nát rồi.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt ở Quan quỉ thuộc Thổ gặp Thanh long là mộ mới chôn.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt trong quẻ Quy hồn, lâm Quan quỉ thuộc Thổ là mộ đã “cảitáng rồi. (Tức Quan quỉ lấn vào tuổi người chết)</span><span style="color: #222222"><span style="font-family: Arial"> </span></span><br><br><span style="font-family: Arial">19-    Hào Kim là “đá”, Huyền vũ là “nước”. Hào Huyệt lâm Quan quỉ thuộc Kim gặp Huyền vũlà: Mộ phần có nước từ khe núi đá chảy ra, nếu gặp Bạch hổ cũng vậy.</span><br><br><span style="font-family: Arial">20- 	Hào Huyệt lâm Thanh longphát động, hoặc lâm Tử tôn là: Mộ mới rời tới. Hào Huyệt lâm Quan quỉ gặp Chutước, lại có hào động, Nhật thần lâm Quan quỉ khắc động là Phi thần cho HàoHuyệt thì là: Cướp đất mà sinh ra tranh chấp.</span><br><br><span style="font-family: Arial">21- 	Hào Huyệt trìứng, thuộc Mộc, lâm Huyền vũ thì là: Trước mặt mộ phần có ngòi rạch, có cầu.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Huyệt hào bị Đằng xà ở hào Thổ, cùng với Nhật thần, hào động xungkhắc thì là: Mộ phần gần đường đi.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Đằng xà lâm hào Thổ động phi nhập Huyệt hào, hoặc tương xung vớiHuyệt hào thì là: Có đường đi ngang qua mộ phần.</span><br><br><span style="font-family: Arial">22- 	Hào Huyệt lâm Thêtài thuộc Hỏa gặp Chu tước phát động thì là: Mộ phần ở gần nhàbếp hay lò nung.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Thê tài lâm Thanh long, gặp Tử Mộ, tương sinh Huyệt hào và hữu khíthì là: Mộ phần ở gần nơi buôn bán, ăn uống.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Thê tài lâm Thanh long, thuộc Kim, thì là: Mộ phần ở gần kho chứa.</span><span style="color: #222222"><span style="font-family: Arial"> </span></span><br><br><span style="font-family: Arial">23- 	Hào Thế lâm Huyềnvũ, lâm Nhật thần, phát động phi nhập hào Huyệt thì là: Mộ phần lén chôn trộm.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt thuộc Thổ gặp Câu trần, hoặc gặp Không vong, phát độngthì là: Táng ngay vào gần nơi đó, và táng nông cạn hơn.</span><br><br><span style="font-family: Arial">24- 	Hào Huyệt lâm Quan quỉvượng và có khí, hoặc lâm Thanh long, Quý nhân cùng Nhật thần tương hợp thì là:Mộ phần gần đền chùa, miếu mạo, cổ tích...</span><br><br><span style="font-family: Arial">25- 	Hào Huyệt lâm Quan quỉ,gặp Không vong, vượng và có khí, phát động thì là: Mộ phần ở gần chùa hoặc xưởngMộc luôn luôn có tiếng động.</span><br><br><span style="font-family: Arial">26- 	Có hào Thế, ứng gặp Thanhlong ở hào Thìn, gặp Bạch hổ ở hào Dần, sinh hào Huyệt thì là: “Long hổ hợp đầu”, tốt. Nếu khắc hào Huyệt thì xấu.</span><br><br><span style="font-family: Arial">27- 	Hào Thủy động vào Nhậtthần và đứng trước hào Huyệt thì là: “Mộ phần ở ngay sát sông ngòi.</span><br><br><span style="font-family: Arial">28- 	Huyệt hào lâm Tử tôn, gặpTuế quân, Nguyệt kiến, Nhật thần (Tam truyền) và tương sinh, tương hợp, thì là:Dòng họ “báchtử thiên tôn” conđàn cháu đông.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào ứng và Quan quỉ cùng quy vào một hào nhập Mộ, thì là: Mộ phầncó người ngoài cùng táng ở đó.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt lâm Quan quỉ gặp Không vong, hoặc hào Huyệt động, hóaQuan quỉ gặp Không vong ở quẻ Du hồn, thì là: “Quỉ Không nhập mộ” xấu, cuộc đất không phát.</span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt lâm Mộ, gặp Không vong của quẻ Du hồn, có hào Thế ởngoại quái, Quái Thân lâm Mộ, gặp Không vong, thì là: Cuộc đất không có huyệttốt. Nếu Quái Thân bị hung sát khắc chế thì là: “Ác tử vong mạng”(chết độc)<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt cùng tương sinh, tương hợp với Quan quỉ, thì là “Quỉ dị quy sơn (Đất có huyệt tốt nhưng long mạch đã dồn chomột mộ phần khác rồi).<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt trì ứng ở ngoại quái thì là: Phần mộ chỉ là táng thêm,táng ghẹ vào thôi.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">29-    Nhật thần, Huyềnvũ ở hào ứng là sát thần phi nhập hào Huyệt, hoặc hào động lại phi hào Huyệt,phá hào Mộ, thì là: Mộ phần bị khai quật, bị cướp mất.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thế và ứng lâm vào một hào bị Nhật thần khắc sát, mà hào ấy độngphá hào Huyệt, thì là: Trong gia đình có người đào mộ lên lấy tiền của rồi đemđi chôn nơi khác.  Nếu Nhật thần khắc sát hào Huyệt, thì là: Xác thây đểbỏ lộ, không được vùi lấp.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Dụng thần là hào Thế cùng Nhật thần, hào khắc với hào ứng phátđộng, thì là: Mình xâm táng đất mộ người khác.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào ứng cùng Nhật thần khắc hào Huyệt và phát động thì là: Ngườikhác xâm táng đất mộ nhà mình.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt trì ứng thuộc Thổ ở ngoại quái (khách Thổ), có hào Mộtương sinh, tương hợp và phát động, thì là: Chỉ là lấy đất nơi khác đắp phíatrước giả làm núi non triều hướng, chứ không phải là thật.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">30-    Hào Huyệt lâm Huynh đệ,trì Thế ứng hoặc ở Giản hào, hay ở trước hoặc sau hào Nhật thần, thì là: Mộphần chôn lệch về một bên huyệt, không đúng giữa.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">31-    Nhật thần phát động xungphá Mộ hào, và hào Thế ứng xung hào Huyệt thuộc Kim, xung hào Quan quỉ thuộcMộc, hoặc như quẻ động mà hào Phụ mẫu hóa Phụ mẫu, Huynh đệ hóa Huynh đệ, Thêtài hóa Thê tài, Quan quỉ hóa Quan quỉ, thì đều là: Mộ phần đã cải táng.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">32-    Hào Kim là thây xác, hàoMộc là ván hòm, hào Thổ là phần mộ, nên được xem xét cho kỹ.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">33-   Nhật thần lâm các hào độnglại sinh cho Huyệt hào, thì là: Phần mộ được lựa chọn và tạo dựng từ lâu ngày.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">34-   Hào ứng phi nhậpHuyệt hào (hào ứng động cùng Hành khí với tuổi người chết) thì là: Mộ này tángchung với người khác, hoặc chôn bên cạnh mộ người khác đã chôn.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt bị hào Hung sát (Kỵ thần) xâm phạm, hoặc lâm vào Tử,Tuyệt địa, thì là: Người chết một cách đau đớn hoặc “bất đắc kỳ tử” (chết không đúng lúc).<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">35-   Lục Không, tức Lục giápTuần không, Tam truyền, tức lâm Tuế quân, Nguyệt kiến, Nhật thần, (cũng gọi là “lâm Thái tuế”) lại hình với hào Huyệt, hoặc lâm hào có Kìnhdương, như: Ngày Kỷ Mão - Mộc coi gặp quẻ Khôn (Thổ), tuổi người chết là QuýDậu thuộc Tuần Giáp Tý (Tuất Hợi lâm Không vong). Hào Huyệt là hào Quý Dậu ởhào Thượng Lục, là hào lâm Không vong trong Tuần Giáp Tuất, tính tới khoảng từngày Giáp Dần đến ngày Quý Hợi thì Không vong lâm vào Giáp Tý (trong Tuần nàykhông có Tý Sửu) là Tuần của tuổi người chết thì hào Mão gặp Kình dương, gọi là“Tam hình”, hàoHuyệt chịu Kình dương, Hung sát làm thương tổn nếu lại lâm Không vong của Nhậtthần nữa thì hài cốt chẳng được nguyên vẹn.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">36-   Hào Huyệt, Dụngthần, gặp Hung thần (Kỵ thần) động và tuơng khắc, tương xung, tương hình thì ắtgặp sự xấu.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt lâm Tử tôn (phúc đức) gặp Thanh long hoặc được sinh phù, củng hợp thì phát phú quý cho concháu.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">37-   Hào Huyệt sinh hào Tử tônlại gặp Quan tinh (Thiên quan, Thiên phúc) gặp Quý nhân (Thiên Ất tức ThiênKhôi, Thiên Việt) lại lâm vào Tam truyền (Tuế quân, Nguyệt kiến, Nhật thần)cùng sinh cho hào Huyệt, và hướng của mộ phần lấy theo hào thuộc phương tuổi củangười chết, thì được gọi là “Ẩn”, con cháu được giàu sang.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">38-   Hào Huyệt được vượng khí(coi vào lúc hợp mùa), lại có các hào Thê tài, Tử tôn, Quan quỉ ở hào Ngũ, hoặcđược tương sinh, tương hợp (Nhị hợp, Tam hợp), con cháu giàu có lớn.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">39-   Hào Huyệt lâm Tửtôn (phúc đức) gặp Xung, gặp Không, thì là con cháu lang thang tha phương.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt gặp Bạch hổ, Đằng xà, mà Quan quỉ lại là Kỵ thần khắcQuái Thân thì là: Con cháu có kẻ chết bất ngờ.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">40-   Trong quẻ có:<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Phụ mẫu không xuất hiện, rồi Phục thần bị Phi thần khắc chế,hoặc lâm Không vong, thì độc đinh, hiếm con.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Tử tôn (phúc đức) thọ khắc, hoặc không xuất hiện mà Phục thầnbị Phi thần khắc chế, hoặc lâm Không vong, thì: Coi chừng tuyệt tự.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Thê tài bị thọ thương, hoặc không xuất hiện mà Phục thần bịPhi thần khắc, hoặc lâm Không vong, thì là: Có đàn ông ở góa một đời (hại nữgiới).<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Quan quỉ thọ thương hoặc không xuất hiện mà Phục thần lại bịPhi thần khắc, hoặc lâm Không vong, thì là: Có đàn bà ở góa trong nhà (hại namgiới).<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">41-   Hào Huyệt lâmQuan quỉ bị Nguyệt phá, hoặc bị hào Tam hình, Lục hại cùng khắc chế, mà:<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Càn thì: Phát bệnh về thần kinh, đau đầu, mặt xanh xám,hoặc ho hen, suyễn.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Khảm thì: Bệnh ở chân, tay, mặt, tai. Bệnh về tiểu tiện,về tâm, can, thận.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Cấn thì: Bệnh về mũi, ngón tay, đùi vế, mụn nhọt.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Chấn thì: Bệnh điên cuồng, đau xương, bệnh về gan, bắpvế và tam tiêu.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Tốn thì: Bệnh về tóc, trán, phong tà, huyết khí.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Ly thì: Bệnh ung thư, lá lách, dạ dày, mắt, tim, nóngbỏng ngoài da.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Khôn thì: Bệnh ở bụng, thổ tả, tả lỵ ra máu, xuất huyết,vàng da, vàng mắt, phạm phòng.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc quẻ Đoài thì: Bệnh ở miệng, răng, môi, bệnh ngoài da.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc hào Kim thì: Phát bệnh ho lao.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc hào Mộc thì: Phát bệnh phong tà<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc hào Hỏa thì: Phát bệnh phát nhiệt<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc hào Thủy thì: Phát bệnh thổ tả.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Thuộc hào Thổ thì: Phát bệnh hoàng thũng, (thũng da vàng)<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">42-    Hào Huyệt trì Thếgặp Huyền vũ, Nguyệt phá, ở quẻ Khảm thì là: Phát trộm cướp, vì đi trộm cướp màchết.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Huyền vũ ở hào Thế, lâm hào Huyệt hoặc Nhị hợp hào Huyệt thì là:Nữ giới không tốt.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Huyệt hào gặp Thanh Long và hữu khí, lại lâm Nguyệt kiến, hay được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh phù, thì là: Đấtphát tăng đạo, thầy tu, nếu bị khắc hại thì gian manh.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">43-    Hào Huyệt lâm Quan quỉ lạilà Quái Thân, Thể Thân, gặp Câu trần và lâm Nguyệt kiến, thì là: Sinh nhiềubệnh tật.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt như trên mà là hào Hỏa, gặp Chu tước, thì là: Sinh hỏatai, tàn hại.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">44- Phụ mẫu là hào côsát. Hào Huyệt lâm Phụ mẫu tại Hợi - Thủy mà Tử tôn (phúc đức) thuộc Hỏa, thìlà: “Phụ mẫu lâm Tử tôn chi tuyệt khí”, con cháu phiêubạt, tha phương.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Tử tôn (phúc đức) lâm hào Huyệt, hoặc phục ở Huynh đệ, được vượngtướng, thì con cái ở ngành thứ có lợi.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">45- Hào Huyệt là hàolâm Kiếp sát, Kình dương, Tam hình, Lục hại, Nguyệt phá, lại là Nhật thần trìTuần không phát động, làm thương tổn Quái Thân, thì là: Con cháu gặp tai nguy,trộm cướp liền.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><span style="font-family: Arial">Hào Huyệt ở Thê tài, Tử tôn, có Tấn thần của Nhật thần, thì là:Con cháu thịnh vượng. Thí dụ: Ngày Mậu Dần coi quẻ mà hào Huyệt là Kỷ Mão thuộcThê tài hay Tử tôn.<span style="color: #222222"> </span></span><br><br><span style="color: #222222"> </span><br><br><p class="bbc_right"></p>
<p class="bbc_right"><span style="font-family: Arial">(trích: Dịch Học Giản yếu)<span style="color: #222222"> </span></span></p>
]]></description><guid isPermaLink="false">30506</guid><pubDate>Mon, 03 Jun 2013 06:37:32 +0000</pubDate></item><item><title>Xu&#xC2;n V&#x1EC0; Gi&#x1EA2;i M&#xC3; Ph&#x1AF;&#x1A0;ng V&#x1ECA; H&#xC0; &#x110;&#x1ED2; Ph&#x1EE4;c Hy</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/18437-xu%C3%A2n-v%E1%BB%81-gi%E1%BA%A3i-m%C3%A3-ph%C6%B0%C6%A1ng-v%E1%BB%8B-h%C3%A0-%C4%91%E1%BB%93-ph%E1%BB%A5c-hy/</link><description><![CDATA[
<p><span style="font-family: Arial"><span style="color: #000080"><strong class="bbc"><span style="font-size: 12px;">Tản mạn vui</span></strong></span></span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman"><span style="font-size: 18px;"><p class="bbc_center"><span style="color: #ff0000">XUÂN VỀ GIẢI MÃ PHƯƠNG VỊ HÀ ĐỒ PHỤC HY</span></p></span></span><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 12px;"><strong class="bbc"><span style="color: #000080">Hậu Duệ Thiên Lương - Lê Hưng VKD</span></strong></span></span></p>
<p><span style="font-family: Arial"><span style="color: #000080"><strong class="bbc"><em class="bbc">BBT: Đây là bài viết của con trai cả cụ Thiên Lương, đã từng đăng trên diễn đàn Khoa Học Huyền Bí trước năm 1975, bút danh Lê Hưng VKD, đã xuất bản sách " Nghiệm Lý Phong Hòa Thủy Tú " và sách " Tâm Thiền lẽ Dịch Xôn Xao " và Sách tử vi " Nghiệm Lý Linh Khu Thời Mệnh Học " do nhà XB Tổng Hợp TP.HCM xuất bản vào các năm 2007, 2008, 2010</em></strong></span></span></p>
<p><span style="font-family: Arial"><span style="color: #000000"><strong class="bbc"><span style="font-size: 12px;">I/ Huyền thoại về Hà đồ Phục Hy:</span> </strong></span></span></p>
<p><span style="font-family: Times New Roman"><span style="font-size: 18px;"><span style="color: #ff0000">M</span></span></span>ỗi độ Tết đến Xuân về, mọi người đều có ít nhiều thời khắc hồi hướng và mong cầu điều may mắn – hanh thông sẽ đến với mình &amp; gia đình mình! Thực tế hiển nhiên này đã phát sinh nét văn hóa tâm linh từ nhiều đời nay ở Á Châu nói chung (và ở Việt Nam ta nói riêng) đó là vận dụng các <strong class="bbc">“khả năng tiên tri”</strong> để dự đoán các sự việc sẽ xảy ra…</p>
<p>Người tích cực thì tìm cách phòng ngừa – hạn chế điều xui rủi (bằng nỗ lực tự thân điều chỉnh cách hành sử hằng ngày của mình), còn người tiêu cực thì cố công cầu cạnh<strong class="bbc"> “tha lực” </strong>ban cho mình điều may mắn (bằng nỗ lực cung phụng – cúng bái thần linh….). Trong số các <strong class="bbc">“kiểu bói toán”</strong> cổ truyền được đông đảo người tín nhiệm là <strong class="bbc">bốc Dịch</strong>!</p>
<p>Bốc Dịch dựa trên sự ngẫu nhiên về thời gian cảm hứng, tương thích với 64 kênh thông tin cận tâm lý (trong bộ sách luận giải về quan hệ nhị phân Âm Dương của người Trung Hoa cổ); sách này được nhiều thế hệ nho gia vùng khí hậu Châu Á gió mùa (tức các nước Đông – Nam Á ngày nay) tôn trọng là minh thư và đặt tên là Kinh Dịch (1). Cụ học giả Nguyễn Hiến Lê khi sinh tiền (trước 1984) đã quan niệm về bộ sách Kinh Dịch như sau :</p>
<p><em class="bbc">- Triết lý trong Kinh Dịch tức vũ trụ quan, nhất là nhân sinh quan: cách xử thế trong Kinh Dịch mà tôi gọi là Đạo Dịch, đạo của bậc chính nhân quân tử thời xưa..</em></p>
<p><em class="bbc"><p class="bbc_right">(lời nói đầu của sách “ Kinh Dịch đạo của người quân tử” - NXB.Văn Học năm 1994)</p></em>Theo như nhiều đầu sách đã xuất bản từ trước đến nay (nhất là các tác giả Trung Quốc viết về Kinh Dịch) chỉ cho biết nét chính về truyền thuyết xuất xứ của 8 quẻ đơn và 64 quẻ kép trong Kinh Dịch là do ông vua <strong class="bbc">Phục Hy</strong> ( tộc họ Bào Hy, cầm quyền được 115 năm ở miền Sơn Tây – Trung Quốc, vào khoảng thế kỷ 43 trước Tây lịch) nhìn thấy trên lưng ngựa thần (Long Mã) ở sông Hoàng Hà có một bản đồ minh triết, dạy ông cách cai trị thiên hạ, gọi là Hà Đồ. Nhờ đó mà vua huyền thoại Phục Hy đã “thần khải” theo Hà Đồ (một cách nghĩ được, là do thần linh mách bảo) mà vạch ra tám ký hiệu tương tác của hai chủ thể Âm  &amp; Dương, đặt tên là bát quái tiên thiên (plan cosmique à priori ) theo thứ tự quĩ đạo tiên thiên :</p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic1.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p><span style="color: #0000ff"><em class="bbc">Ghi chú ( ký hiệu của  bát quái Phục Hy):</em></span></p>
<p>Càn    ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/CN-1.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"> (ba gạch không đứt đoạn )</p>
<p>Khôn  ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/KHN.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img">(ba gạch đứt đoạn )</p>
<p>Ly      ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/LY0.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img">(2 gạch không đứt đoạn ở trên và ở dưới, giữa là gạch bị đứt đoạn)</p>
<p>Khảm ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/KHM.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"> (2 gạch bị đứt đoạn ở trên và ở dưới, giữa là gạch không bị đứt đoạn)</p>
<p>Tốn    ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/TN.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img">	(2 gạch trên không đứt đoạn, gạch dưới cùng bị đứt đoạn)</p>
<p>Chấn  ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/CHN.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"> (2 gạch trên bị đứt đoạn, gạch dưới cùng không đứt đoạn)</p>
<p>Đoài   ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/OI.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"> (gạch  trên cùng đứt đoạn, hai gạch dươi không đứt đoạn)</p>
<p>Cấn   ═&gt; <img src="http://i123.photobucket.com/albums/o308/lacvietdontoan/CN.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"> (gạch trên cùng không đứt đoạn, hai gạch dưới bị đứt đoạn)</p>
<p>Ngoài nguồn truyền thuyết (thuộc phạm vi huyền sử thần thoại) nêu trên, không ai hiểu được lý do và căn cứ vào đâu (trên cơ sở nào ?) mà ông vua Phục Hy (Trung Hoa cổ đại) đã bố cục được mô hình phương vị của Tiên thiên bát quái ? Nhiều tác giả nghiên cứu văn hóa triết nhị phân Âm Dương mỗi khi lý giải Dịch Lý (của Kinh Dịch) đã mặc nhiên công nhận cấu trúc tiên thiên bát quái như là chân lý (không chứng minh ) của một tiên đề (sách toán học gọi là Định đề - postulatum). Còn như các “ thầy bói dân gian” từ lâu đều đã tâm phục khẩu phục (thần linh hóa  nhân vật Phục Hy) như một vị thánh sư mầu nhiệm, mỗi khi đoán quẻ cho ai thì phải lâm râm cầu nguyện Phục Hy, để được “ngài” ban cho quẻ bói….dị đoan!</p>
<p><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 12px;"><span style="color: #000000"><strong class="bbc">II/ Giải mã cấu trúc tiên thiên bát quái:</strong></span></span></span></p>
<p>Giới học giả nghiên cứu Kinh Dịch ở Châu Âu (như Regis – 1834 : Meclatchie – 1876: De Harley – 1889 : Raymond de Becker – 1870 : Legge – 1899: Wilhem – 1950: Blofeld – 1965: Alfred Douglas – 1972, nhất là Z.D.Sung năm 1934…) đều đã biết cấu trúc toán học của <strong class="bbc">Bát Quái</strong> (nền tảng của Dịch Lý) là “ hằng đẳng thức bậc 3 của Âm &amp; Dương”  hòa hợp như sau :</p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic8.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p>Nhưng vẫn chưa ai hiểu được cấu trúc phương vị tuần tự trên vòng tròn tiên thiên của <strong class="bbc">Phục Hy</strong> ?</p>
<p>Tại sao từ đất thấp<strong class="bbc"> “Khôn”</strong> lên trời cao <strong class="bbc">“Càn”</strong> lại có 2 lối đi:</p>
<p><em class="bbc">- lối đi âm phải là Khôn - Cấn - Khảm - Tốn ?</em></p>
<p>- lối đi dương phải là Chấn – Ly – Đoài – Càn ?</p>
<p>hoặc là tại sao từ Trời (cao) xuống đến Đất (thấp) bắt buộc phải trải qua hành trình: </p>
<p>- lối đi âm là chiều lượng giác ?</p>
<p>- lối đi dương là chiều kim đồng hồ ? </p>
<p></p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic2.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p>Năm nay Tân Mão 2011, các thế hệ thừa kế học phái <strong class="bbc">Đẩu Sơn – Thiên Lương</strong> (dòng họ <strong class="bbc">Lê Lã</strong> tỉnh <strong class="bbc">Hưng Yên</strong> năm xưa....) đã nghiệm lý được cách sắp đặt vòng tròn tiên thiên bát quái của Phục Hy bằng cơ chế nhị phân (<em class="bbc">numération binaire</em>) xếp chồng lên nhau đến lần thứ ba, theo toán học đại số phổ thông ngày nay, với tiến trình 4 bước như sau :</p>
<p><em class="bbc"><span style="font-family: Arial"><strong class="bbc">Bước 1:</strong></span></em> (chẻ đôi thái cực thành lưỡng nghi)</p>
<p>Tạm giả thiết Thái cực có tham số là số nguyên 1 (số đầu tiên phát sinh “Có” của khái niệm vạn vật Khả Hữu) </p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic3.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p><span style="font-family: Arial"><em class="bbc"><strong class="bbc">Bước 2</strong>:</em></span> (Chẻ đôi lưỡng nghi thành tứ tượng)</p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic4.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p><span style="font-family: Arial"><em class="bbc"><strong class="bbc">Bước 3:</strong> </em></span>(Chẻ đôi tứ tượng thành bát quái)</p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic5.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p><span style="font-family: Arial"><em class="bbc"><strong class="bbc">Bước 4</strong> :</em></span> (Vòng tròn bát quái tiên thiên)</p>
<p>Tôn trọng nguyên lý vạn vật đồng nhất thể (vòng tròn Thái cực khả Hữu sinh lưỡng nghi – tứ tượng – bát quái – trùng quái …) và qui tắc âm dương dạng<strong class="bbc"> “lưỡng cực đối xứng”</strong>, ta luận lý được phương vị của các quẻ (quái) căn cứ vào số đại số của mỗi quẻ: </p>
<p>- 7/8 đối xứng với + 7/8 -&gt; Khôn đối xứng với Càn</p>
<p>- 5/8 đối xứng với + 5/8 -&gt; Cấn đối xứng với Đoài </p>
<p>- 3/8 đối xứng với + 3/8 -&gt; Khảm đối xứng với Ly</p>
<p>- 1/8 đối xứng với + 1/8 -&gt; Tốn đối xứng với Chấn</p>
<p>Ta có ngay vòng tròn phương vị 8 quái Phục Hy (tiên thiên)</p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic6.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/Graphic7.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<p><em class="bbc"><span class="bbc_underline">Ghi chú:</span></em> vì Khôn quan niệm là đất (thấp nên ở phiá dưới) và Càn quan niệm là Trời (Cao nên phải ở phía trên) nên Càn – Khôn là trục tung (dọc) và ly - Khảm là trục hoành (ngang), trong hệ thống tọa độ “tiên thiên bát quái” của vua Phục Hy cổ đại.</p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 12px;"><strong class="bbc">Kết luận tạm</strong></span></span></p>
<span style="color: #696969"><strong class="bbc"><em class="bbc">Người viết cống hiến tản văn này đến bạn đọc, cũng là muốn : ngày Xuân của thế kỷ văn minh hiện đại 21 này, mỗi chúng ta khi thư giãn &amp; nhàn lãm bộ sách minh triết Kinh Dịch của người xưa, nên chăng cần hiểu hơn cho các thế hệ tổ tiên : các cụ cũng đã biết trải nghiệm cuộc sống thường ngày qua lập trình toán học như chúng ta bây giờ ! Kính nhi viễn chi (nhìn từ xa mà kính trọng) trí tuệ khôn ngoan đã có từ thời cổ đại vậy !</em><p></p></strong></span><p></p>
<p class="bbc_right"><span style="font-family: Arial"><span style="color: #000080"><strong class="bbc"><span style="font-size: 12px;">Lê Hưng VKD</span></strong></span></span></p>
<p><span style="font-family: Arial">(Bình Dương)</span></p>
<span style="font-family: Times New Roman"><span style="color: #000080">==========================</span></span><p><em class="bbc"><span style="font-size: 12px;"><strong class="bbc"><span style="font-family: Arial"><span style="color: #000080">Chú thích :</span></span></strong></span> <span style="color: #000080">Bác Hồ đã nói với cụ Nguyễn Thế Đoàn (nhiếp ảnh gia miền Nam tại chiến khu Việt Bắc thời kỳ kháng chiến chống Pháp, thập kỷ 50 của thế kỷ 20):</span></em></p>
<p>- Nếu các chú có thời gian đi sâu tìm hiểu về Kinh Dịch, sẽ biết được nhiều điều thú vị và bổ ích, mà người xưa đã đúc kết được trong lãnh vực này của nền văn hóa phương Đông. </p>
<p> </p>
<p class="bbc_right"><em class="bbc"><span style="color: #000080">(sách “ <span style="font-family: Arial"><strong class="bbc">Nghiệm Lý Hệ Điều Hành Âm Dương</strong></span>”</span></em></p>
<p>NXB Tổng Hợp Tp HCM – 2010, trang 7)</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">18437</guid><pubDate>Sun, 16 Jan 2011 03:06:34 +0000</pubDate></item><item><title>Th&#xE1;i Tu&#x1EBF; Ca</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/26106-th%C3%A1i-tu%E1%BA%BF-ca/</link><description><![CDATA[
<p class="bbc_center"><span style="font-size: 24px;"><span style="color: #FF0000"><strong class="bbc">太<span style="font-family: MingLiU">岁歌</span>  </strong><br><br></span></span> <span style="font-size: 36px;"><span style="color: #FF0000"><strong class="bbc">Thái tuế ca</strong></span></span> </p> <span style="color: #800080"> 太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁神中此独尊，生持万恶不能侵。若来冲克身和世，灾孽交加禦不成。</span></span></span><br><br>  thái tuế thần trung thử độc tôn，sinh trì vạn ác bất năng xâm。nhược lai xung khắc thân hòa thế，tai nghiệt giao gia ngữ bất thành。<br><br>  Thần thái  tuế ở trong quẻ là cao nhất, nếu sinh hào, nếu trì hào thì vạn ác không  xâm nhập. Nếu xung khắc thân, thế thì tai nghiệt sẽ cùng đến, chống lại  cũng không được.<br><br><span style="color: #800080">太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁居阳持世应，并持贵煞配官爻，更兼得位逢生旺，爵禄荣高神鬼钦。</span></span></span><br><br>  thái tuế cư dương trì thế ứng，tịnh trì quý sát phối quan hào，canh kiêm đắc vị phùng sinh vượng，tước lộc vinh cao thần quỷ khâm。<br><br>  Thái tuế ở  hào dương, trì thế, ứng mà lại trì quý sát cùng với hào Quan, lại đắc  vị, gặp sinh vượng thì tước lộc, vinh hoa cao đến mức quỷ thần phải kính  nể.<br><br><span style="color: #800080">入</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁临官持世身，仕途迁转得高升。庶人身世逢冲克，狱讼徒流灾难侵。</span></span></span><br><br>  nhập tuế lâm quan trì thế thân，sĩ đồ thiên chuyển đắc cao thăng。thứ nhân thân thế phùng xung khắc，ngục tụng đồ lưu tai nan xâm。<br><br>  Thái tuế lâm quan, trì thế thân, quan lộ thuyên chuyển sẽ được lên cao. Nhưng nếu  thân, thế bị xung khắc thì dễ bị hình ngục, kiện cáo, tù tội, lưu đầy, tai nạn.<br><br><span style="color: #800080">太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁兄持世与身，财妻两获讼终赢。如来冲克应遭盗，失产伤财妻命倾。</span></span></span><br><br>  Thái tuế  huynh trì thế dữ thân, tài thê lưỡng hoạch tụng chung doanh。như lai xung  khắc ứng tao đạo，thất sản thương tài thê mệnh khuynh。<br><br>  Thái tuế ở  hào Huynh lại trì thế, trì thân thì tiền tài, vợ và kiện tụng cuối cùng  đều có kết quả tốt. Còn nếu thái tuế đến xung khắc hào ứng thì bị cướp,  mất tài sản, mệnh của vợ cũng không tốt.<br><br>  太<span style="font-family: MingLiU"><span style="font-size: 12px;">岁父母临身世，营谋动作皆如意。冲克幼丁当损失，六畜田蠶皆不利。</span></span><br><br>  Thái tuế phụ mẫu lâm thân thế, doanh mưu động tác giai như ý。xung khắc ấu đinh đương tổn thất，lục súc điền thán giai bất lợi。<br><br>  Thái tuế ở  hào Phụ mẫu lai lâm thân, lâm thế thì lập mưu, hành động đều được vừa  ý. Nếu xung khắc thì trẻ con thiệt hại, gia súc, nuôi tằm đều bất lợi.<br><br><span style="color: #800080"> 太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁子孙持身世，后嗣荣昌财帛利。官方不扰病灾消，偃蹇功名难遂意。</span></span></span> <br>  Thái tuế tử tôn trì thân thế, hậu tự vinh xương tài bạch lợi。quan phương bất nhiễu bệnh tai tiêu，yển kiển công danh nan toại ý。<br><br>  Thái tuế ở  hào Tử tôn trì thân, trì thế thì con cháu vinh quang, phát đạt. Quan  phủ không quấy nhiễu, bệnh tật tiêu tan, nhưng yết kiến, cầu công danh  thì khó được như ý.<br><br><span style="color: #800080">太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁妻财持身世，富比陶朱仓廩备。因妻仕宦荷光荣，克害双亲祸难避。</span></span></span><br><br>  Thái tuế thê tài trì thân thế, phú bỉ đào chu thương lẫm bị。nhân thê sĩ hoạn hà quang vinh，khắc hại song thân họa nan tị。<br><br>  Thái tuế ở  hào thê tài trì thân, trì thế thì giàu có, đồ đạc, kho vựa đầy ắp. Bởi  vì gả con vào chỗ quan lại quang vinh, nhưng nếu khắc hại Phụ mẫu thì  khó tránh khỏi tai họa.<br><br><span style="color: #800080">出唐一行子房筮法曰:太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁为天子之尊，占命，主一生之荣枯。占年管一载之休咎</span></span></span><span style="color: #800080">.<br></span><br>  xuất  đường nhất hành tử phòng thệ pháp viết:thái tuế vi thiên tử chi  tôn，chiêm mệnh，chủ nhất sinh chi vinh khô。chiêm niên quản nhất tái chi  hưu cữu.<br><br>  Từ đời  đường có một nhóm theo phương pháp bốc phệ của Tử Phòng viết: Thái tuế  là địa vị cao như thiên tử, nếu xem về mệnh, chủ về cả đời vinh quang.  Nếu xem cho một năm thì quản tốt xấu cả năm.<br><br><span style="color: #800080"> 若加</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">贵马德合福禄龙喜生气，升爻在官印阳爻，旺相得位者，主极富贵终始无亏，威德声名，遐迩具瞻，神鬼奸邪，不敢侵犯，不忌日旬空亡，月日刑破，虽居死墓绝胎四凶之爻，亦不降祸。如占一年者，则仕宦一岁安荣，庶人一载顺利。</span></span></span><br><br>  nhược gia quý mã đức hợp phúc lộc long hỉ sinh khí，thăng hào tại quan ấn dương hào，vượng tương  đắc vị giả，chủ cực phú quý chung thủy vô khuy，uy đức thanh danh，hà nhĩ  cụ chiêm，thần quỷ gian tà，bất cảm xâm phạm，bất kị nhật tuần không  vong，nguyệt nhật hình phá，tuy cư tử mộ tuyệt thai tứ hung chi hào，diệc  bất hàng họa。như chiêm nhất niên giả，tắc sĩ hoạn nhất tuế an vinh，thứ  nhân nhất tái thuận lợi。<br><br>  Nếu có  thêm Quý, Mã cùng Phúc, Lộc cùng sinh, ở tại hào quan, vượng tướng, đắc  vị, thì chủ về phú quý, trước sau không thua thiệt, gần xa đều nhìn lên  oai đức, thần quỷ, gian tà đều không dám xâm phạm, không lo gặp không  vong, nhật nguyệt hình, phá, dù cho gặp bốn loại hào hung là tử, mộ,  tuyệt, thai đều không gặp họa. Nếu chiêm cho một năm thì tất sẽ được một  năm quan lộ yên ổn, vinh quang, đối với người thường thì cũng được  thuận lợi<br><br><span style="color: #800080">若太</span><span style="font-family: MingLiU"><span style="color: #800080"><span style="font-size: 12px;">岁加忌神、兄、鬼、蛇、虎、亡、劫、毛头、天祸、天杀、死气，降爻，并刑刃破害空动者，主凶灾叠至，一世无成。如占一年者，则损丁破财，灾祸接蹟，终岁不宁也</span></span></span><span style="color: #800080">。</span><br><br>  Nhược  thái tuế gia kị thần，huynh，quỷ，xà，hổ，vong，kiếp，mao đầu，thiên họa，thiên  sát，tử khí，hàng hào，tịnh hình nhận phá hại không động giả，chủ hung tai  điệp chí，nhất thế vô thành。như chiêm nhất niên giả，tắc tổn đinh phá  tài，tai họa tiếp kì，chung tuế bất ninh dã。<br><br>  Nhược  bằng thái tuế ở vào kị thần, hào huynh đệ hoặc quan quỷ, đằng xà, bạch  hổ, không vong, kiếp sát, mao đầu, thiên họa, thiên sát, tử khí, hàng  hào, hào tịnh bị hình, phá, hại, động lâm không vong, chủ về tai họa  trùng trùng, một đời không thành công. Nếu xem cho một năm tất sẽ tổn  hại con trai, phá tài, tai họa tiếp tai họa, cả năm không được yên ổn]]></description><guid isPermaLink="false">26106</guid><pubDate>Fri, 25 May 2012 03:53:53 +0000</pubDate></item><item><title>Lu&#x1EAD;n Qu&#x1EBB; H&#xE0;m V&#xE0; T&#xEC;nh Y&#xEA;u</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/23547-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%BB-h%C3%A0m-v%C3%A0-t%C3%ACnh-y%C3%AAu/</link><description><![CDATA[
<p class="bbc_center">  <strong class="bbc"><span style="font-size: 18px;"><span style="color: #FF0000">Quẻ Hàm - Cái Nhìn Về Tình Yêu Của Cổ Nhân</span></span></strong><br></p>Quẻ Hàm là nói về nam nữ trẻ tuổi cảm ứng nhau mà kết thành vợ chồng, nó  chính là Quẻ Tượng nói về cái Đạo Luyến Ái của Nam Nữ. Đương nhiên ở  đây Lý Quẻ nói về một hiện tượng chung trong tạo hóa, chứ không chỉ nói  riêng về Nam Nữ luyến ái. Bởi tuy duy Toàn Tức là tư duy chủ yếu của Chu  Dịch. Không dùng chữ Cảm (Gồm chữ Hàm trên chữ Tâm) mà bỏ đi chữ Tâm  chỉ lấy chữ Hàm, đó tức nói "Vô Tâm Mà Cảm" đó cũng là để nói, nam nữ  hấp dẫn lẫn nhau, cảm động lẫn nhau vốn căn bản là vô Tâm. Nam Nữ tương  thân tương ái cần có sự Hòa Tâm Thông Ý. Sự cố ý, cưỡng cầu có nhiều lúc  lại thành ngược lại. Đó như người xưa nói: "Cố ý trồng hoa hoa chẳng  nở, vô tình cắm liễu liễu lên xanh".<br><br>Quẻ Hàm Nữ trên Nam dưới, trên là tích cực chủ động, dưới là tiêu cực bị  động. Đó ý nói Nữ vốn thuộc về Âm nên cần khai mở thông đạt; Còn Nam  vốn thuộc Dương nên có sự khắc chế tiết độ, có như vậy thì sự Cảm mới  lâu bền. <br>Quẻ Hàm nếu Thượng Quái không động, sơ hào động biến thành  Quẻ Cách, hào hai biến thành Quẻ Quái, hào ba biến thành Quẻ Đoài. Nếu  Quẻ Dưới không động hào bốn động biến thành Quẻ Kiển, hào năm động biến  thành Quẻ Khiêm, hào sáu động biến thành Quẻ Cấn. Ý nói một người Nam  quá tích cực chủ động sẽ đưa đến "Bị Bách Biến Cách" hành động võ đoán,  tự mình quyết định, tức nói bị Tình Cảm bị áp bức phải thay đổi...Cũng  có nói người nữ như nếu quá tích cực chủ động, sẽ biến thành đường đi  gập nghềnh (Kiển là chân đi thậm thọt) kín đáo thúc đẩy và cuối cùng là  có được kết quả. <br><br>Nếu như là Sơ Hào và Tứ Hào cùng biến tức thành quẻ  Ký Tế tức đã hoàn thành, Hào Hai và Hào Năm cùng biến tức thành Quẻ  Thái tức sự thông thoáng, Hào Ba và Hào Sáu cùng biến thì thành Quẻ Tổn ý  chỉ sự tổn thất...Ý nói cả hai bên đã có sự cùng chủ động tiến bước thì  sẽ đạt được Luyến Ái Thành Công, mọi sự thông thoáng qua lại, cuối cùng  là cả hai cùng Tổn (Mất một ít trong Tâm) đó là sự <span style="color: #000000">hòa đồng của Tình  Yêu vậy.<strong class="bbc"><br><br></strong></span><span style="color: red"><span style="color: #000000"><strong class="bbc">A Tư Tiểu Khang dịch.</strong></span></span>
]]></description><guid isPermaLink="false">23547</guid><pubDate>Fri, 09 Dec 2011 09:50:38 +0000</pubDate></item><item><title>T&#x103;ng San B&#x1ED1;c D&#x1ECB;ch</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/23263-t%C4%83ng-san-b%E1%BB%91c-d%E1%BB%8Bch/</link><description><![CDATA[
<p><span style="font-size: 12px;"><span style="color: #000080"><strong class="bbc">Tư liệu tham khảo:</strong></span></span></p>
<p><span style="font-family: verdana, geneva, lucida,"><p class="bbc_center"><span style="font-size: 24px;"><span style="color: #ff0000"><strong class="bbc">TĂNG SAN BỐC DỊCH </strong></span></span></p>
<span style="color: #000080"><strong class="bbc"><span style="font-size: 10px;">Trứ tác: Dã-Hạc lão nhơn </span></strong></span></span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">Tăng san: Lý-văn-Huy Giác-tử</span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">Nguyễn-Minh-Thiện dịch</span></p>
<p><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #ff0000"><strong class="bbc">CUỐN THỨ NHỨT:</strong></span></span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">1: Bát quái </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">2: Bát quái đồ </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">3: Bát cung </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">4: Hỗn-thiên giáp-tý </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">5: Lục thân ca </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">6: Thế Ứng </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">7: Động b iến </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">8: Dụng-thần </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">9: Dụng-thần, Nguyên-thần, Kỵ-thần, Cừu-thần </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">10: Nguyên-thần, Kị-thần suy vượng </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">11: Ngũ hành tương sanh </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">12: Ngũ hành tương khắc </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">13: Khắc xứ phùng sinh </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">14: Động tịnh, sinh khắc </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">15a: Động biến, sinh khắc, xung hạp </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">15b: Tứ thời vượng tướng </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">16: Nguyệt tướng </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">17: Nhựt thần </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">18: Lục thần </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">19: Lục hạp </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">20: Lục xung </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">21: Tam hình </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">22: Ám động </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">23: Động tán </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">25: Phản phục </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">26a: Tuần không </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">26b: Sanh, Vượng, Mộ, Tuyệt </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">26c: Các môn loài đề-đầu tổng chú </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">26d: Các môn loại ứng-kỳ tổng chú </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">26e: Quy-hồn, Du-hồn</span></p>
<p><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #ff0000">CUỐN THỨ NHÌ </span></strong></span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">27: Nguyệt-phá </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">28: Phi, Phục thần </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">29: Tấn-thần, Thối-thần </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">30: Tùy quỉ nhập mộ </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">31: Độc phát </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">32: Lưỡng hiện </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">33: Tinh sát </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">34: Tăng san Huỳnh-kim Sách, Thiên-kim Phú </span></p>
<p><span style="font-size: 10px;">35: Thiên thời</span></p>
<p><span style="color: #ff0000"></span></p>
<p></p>
<p class="bbc_center"><span style="font-family: verdana, geneva, lucida,"><span style="font-size: 18px;"><strong class="bbc">TỰA</strong></span></span></p>
<span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 10px;">Thánh Dã Hạc nói: Đạo bói quẻDịch là Tâm pháp của bốn vị Thánh lớn: Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, và KhổngTử.</span></span><span style="font-family: Arial"> </span><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 10px;"><p>Ai học cho tinh vi thì có thể biết việc Trời Đất.Còn học lý chút ít, cũng có thể hiểu việc cát hung. </p>
<p>Phàm học bói có thể học đến chỗ cao xa, mà cũng cóthể học những điều sơ cạn, thì trước cần học trang quẻ, biết chỗ động biến,cùng là những quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, hay những quẻ lục hợp cùng làquẻ biến lục hợp. Hãy coi kỹ trong chương "Dụng Thần": chiếm chongười nào? Chiếm về việc gì? Rồi mới biết lấy hào nào làm Dụng Thần. </p>
<p>Lại nên xem coi: Thế nào là Tuần Không? Thế nào làNguyệt Phá? Thế nào là bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, suy vượng? Thế nào là sinhkhắc, là xung hình, thì sẽ tự biết quyết đoán họa phúc. </p>
<p>Giả như chiếm quẻ: </p>
<p>CẦU CÔNG DANH: Nếu đặng vượng quan trì Thế hoặcngày, tháng, hào động làm Quan Tinh (lâm hào Quan Quỷ) sinh hợp với Thế hào,thì cầu danh như là lấy đồ trong túi. Nếu gặp Tử Tôn trì Thế, hoặc Tử Tôn độngở trong quẻ, thì cầu thi đậu hay cầu thăng chức, đều là như mò trăng đáy nước. </p>
<p>CHIẾM CẦU TÀI: Nếu đặng Tài Tinh trì Thế, hoặcngày, tháng, hào động lâm Tử Tôn, sinh hợp Thế hào, hoặc Quan Quỷ trì Thế đượcTài động sinh ra nó, hoặc Phụ Mẫu trì Thế, Tài động khắc Thế đều là hứa chắccầu tài, dễ như bực trưởng giả gải ngứa mà thôi. Nếu gặp Huynh Đệ trì Thế, hoặchào Huynh Đệ động ở trong quẻ, hoặc Thế trúng Tuần Không, Nguyệt Phá, thì chẳngkhác nào leo cây bắt cá. </p>
<p>CHIẾM VẬN HẠN NĂM, THÁNG: Nếu là người hiện đangnhiệm chức quan thì phải Quan Tinh trì Thế, Tài động sinh ra nó, đều là hứachắc cát khánh. Nếu gặp Quan Quỷ tương khắc hay ngày, tháng, hào động, lâm Tửtôn xung khắc Thế hào (tức Quan Quỷ trì Thế), hoặc lâm Quan Quỷ xung khắc Thếhào (tức Huynh Đệ trì Thế), hoặc Thế lâm Tuần Không, Thế bị Nguyệt Phá, hayQuan bị Nguyệt phá hoặc lâm Tuần Không, hoặc Thế động hóa ra hồi đầu khắc, hoặcTử Tôn trì Thế đều là điềm Hung. </p>
<p>Thường dân chiếm Vận Hạn một tháng, mừng được hàoTài hay Tử Tôn trì Thế, hứa chắc một năm hanh thông. Nếu gặp Quan Quỷ trì Thếmà đặng ngày tháng, hào động làm Tài Tinh, sinh hợp Thế hào (tức Quan Quỷ trìThế) thì sẽ có cát lợi. Nếu không có Tài động sinh hợp Thế hào mà Quan Quỷ trìThế phải gặp tai nạn, thị phi (hoặc không có công việc làm, hoặc bị mấtviêc...). Nếu Thế bị Nguyệt Phá hay hồi đầu khắc phá, Thế lâm Tuần Không, cùngQuỷ động khắc Thế, hay Thế suy nhược lại bị hình, xung, khắc; hoặc Huynh độngkhắc Thế, sẽ gặp khẩu thiệt, phá tài, hoặc bệnh tật.</p>
<p>Thường Dân chiếm lưu niên (đoán Vận mỗi năm),tháng hợp với Thế hào thì kiết, tháng xung với Thế hào thì hung. Không nên cóThế hào biến Quỷ và hóa ra hồi đầu khắc, định có hung nguy. Lại cũng không nênTài động hóa Phụ, Phụ động hóa Tài, hoặc Quỷ động hóa Phụ Mẫu, phải có tai nạncho cha mẹ (người bề trên), hoặc bệnh tật nặng nề. Còn Huynh Đệ động hóa Quỷ,Quỷ biến Huynh Đệ, phòng anh em có tai ách và mình. Tài hóa Quỷ, Quỷ hoá Tài,Tài hóa Huynh, Huynh hóa Tài, chắc có thương khắc vợ hầu, tôi tớ, người làmcông. Tử hoá Quỷ, Quỷ hóa Tử, Phụ hóa Tử Tôn, Tử Tôn hóa Phụ, thì trẻ nhỏ sẽthọ hại.</p>
<p>Thanh Long, Thiên Hỉ (Dụng Thần) trì Thế, sinhThế, thì có điềm vui, hể Quỷ phá động sẽ có hiếu phục (có tang tóc). Phi Xà,Chu Tước gia ngay hào Huynh trì Thế, Quỷ động khắc Thế tu phòng khẩu thiệt,miệng tiếng thị phi, kiện tụng. Huyền Vũ gia ngay hào Huynh trì Thế, Quỷ độngkhắc Thế tu phòng đạo tặc (bị cướp), hoặc kẻ xấu hãm hại. (Theo tôi kiểm nghiệmthấy, dù Huynh Đệ trì Thế mà hóa Quỷ thì mình bị khẩu thiệt nhiều hơn, hoặc anhem gặp nạn, còn thân mình chẳng sao. Nếu mình không có anh em thì mới ứng vàomình. Trường hợp Quan trì Thế suy nhược lại động hoá khắc, hóa mộ thì chắcchết, thêm Phi Xà hay Bạch Hổ thì chắc nhập hoàng tuyền, được truy tặng mộ bia.Chắc hơn nữa, nên xủ lại nhiều lần, nếu quẻ đều hiện thế mà không lo tu hànhchắc phải chết). </p>
<p>CHIẾM TRÁNH TỤNG SỰ, PHÒNG THỊ PHI, TAI HỌA: nhưcừu nhân làm hại, và đi sông biển, vào hiểm địa, (ngủ đêm lữ điếm, tá túc chùamiểu), hoặc kinh doanh mậu dịch, mua lầm vật trộm, hoặc thấy nhà gần lửa cháy,hoặc hỏi về ôn dịch lưu hành, phòng hổ lang, phòng trộm cướp, hoặc đi gấp trongđêm, hoặc đã vào trường thị phi, lòng lo hoạn họa, hoặc muốn ngăn ngừa việc chimà e sinh tai phi, hoặc vào nhà người bệnh, đề phòng truyền nhiểm, hoặc ăn lầmđồ độc e phải chết, hoặc mang trọng tội cầu mong ân xá, hoặc vương bệnh hiểm màmuốn phong nguy, hoặc hỏi xem món vật này hoặc món thuốc kia có nên dùng không,hoặc hỏi về người lạ thú dữ có hại đến mình không, phàm gặp các việc đề phòngmà đặng Tử Tôn trì Thế hoặc Tử Tôn động ở trong quẻ, hoặc Thế động biến ra TửTôn, hoặc Thế động hóa hồi đầu tương sinh, hoặc Quan Quỷ động để tương sinh,thì dù thân mình ở trong miệng cọp, hứa chắc được yên ổn như ngồi trong núiThái Sơn. Duy kỵ Quan Quỷ trì Thế ngờ vực lo lắng khó giải. Quỷ khắc Thế, taihọa sẽ xâm. Thế động hóa Quỷ và hoá hồi đầu khắc, họa đã đến mình, không thểtrốn khỏi. Duy Thế hào lâm Tuần Không, không lo. Thế hào bị phá thì không lợi. </p>
<p>CHIẾM BỆNH: Như mình chiếm bệnh cho mình, nếu đặnghào Thế vượng tướng, hoặc ngày tháng, hào động sinh hợp với Thế hào, hoặc TửTôn trì Thế, hoặc Tử Tôn động ở trong quẻ, chẳng luận bệnh lâu, bệnh mới, hoặccầu thần, hoặc uống thuốc, tức khắc sẽ an khang.</p>
<p>Bệnh mới hào Thế gặp Tuần Không, hoặc Thế động hóaKhông, hoặc quẻ gặp lục xung hay biến lục xung, chẳng cần uống thuốc mà hứachắc sẽ lành mạnh.</p>
<p>Bệnh lâu quan Quỷ trì Thế hưu tu, hoặc ngày,tháng, hào động khắc hào Thế, hoặc Thế gặp Tuần Không, Nguyệt Phá, Thế động hóaKhông, hóa khắc phá, hoặc gặp quẻ lục xung, hoặc quẻ biến lục xung thì dù choBiển Thước cũng khó chữa.</p>
<p>Như có người bị bệnh khá nặng mà không biết, đếnkhi phát hiện bác sĩ cho hay có thể bị ung thư, chờ khám nghiệm trong khi hiệntại lại thấy còn đang rất khỏe. Gia đình rất sợ, gọi hỏi tôi xem sống chết thếnào? Chính đương sự xủ được quẻ Bát Thuần Khôn, ngày Quý Mão tháng Đinh Mùi.</p>
<p>Khôn vi Địa </p>
<p>- - Tử Dậu Thế (ám động)</p>
<p>- - Tài Tý </p>
<p>- - Huynh Sửu </p>
<p>- - Quan Mão Ứng </p>
<p>- - Phụ Tỵ </p>
<p>- - Huynh Mũi</p>
<p>Xem quẻ Thấy Tử Tôn trì Thế lẽ ra phải đoán làbình an vô sự, nhưng vì là quẻ lục xung, mà bệnh trì trệ không biết lâu mau, vìngười này đã bị bệnh ì ạch lâu rồi mà không biết, nên tôi đoán rằng: "Nếulà mới bệnh thì nhất định mạnh, còn bệnh lâu thì chắc là chết, tuỳ theo lâu mauthôi. Mong rằng chị ấy mới bệnh thì tháng 7 Âm Lịch Thế lâm vượng địa Hỏa củamùa hè không khắc được nữa thì lành. Còn bệnh lâu thì ngược lại vì Tử Tôn lâmBạch Hổ". Quả nhiên, chết ngày Đinh Sửu tháng Mậu Thân (7) năm Nhâm Ngọ.] </p>
<p>CHIẾM CHA MẸ BỆNH: Lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần.Nếu gặp hào Phụ Mẫu vượng tướng, hoặc ngày, tháng, hào động sinh Phụ Mẫu, hoặcPhụ Động hóa vượng, chẳng luận bệnh đau lâu hay mới bệnh, uống thuốc lập tứcbình an.</p>
<p>Bệnh mới đau, mà hào Phụ gặp Tuần Không, Phụ độnghoá Không, hoặc gặp quẻ lục xung, chẳng uống thuốc mà mạnh. Bệnh đau lâu, màhào Phụ gặp Tuần Không, Nguyệt phá, hoặc phụ động hóa Không, hóa phá, Phụ độnghóa Tài, Tài hoá Phụ Mẫu, gặp quẻ lục xung, hoặc hào Phụ hưu tù, lại bị ngày,tháng, hào động xung khắc, làm con phải gấp lo chạy thuốc men, bản thân sănsóc, chớ khá rời xa.</p>
<p>CHIẾM ANH EM BỆNH: Nếu đặng hào Huynh Đệ vượngtướng, hoặc đồng với ngày, tháng, hoặc ngày, tháng hào động tương sinh, hoặcHuynh Đệ động hóa vượng, hóa sinh, chẳng luận bệnh củ hay mới, hứa sẽ bình an.</p>
<p>Bệnh mới đau, hào Huynh gặp Tuần Không và động màhóa Không, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, uống thuốc thì mạnh. Bệnh đaulâu, hào Huynh gặp Tuần Không, Nguyệt phá, và động mà hóa Không hóa phá, gặpquẻ lục xung, quẻ biến lục xung, Huynh động hóa quỷ, quỷ hóa Huynh hào, hoặchào Huynh hưu tù, bị ngày tháng, hào động xung khắc, mau gấp uống thuốc, cầuphước. Bằng trể thì khó mà trị lành (chết nhiều hơn sống). </p>
<p>CHIẾM CON CHÁU BỆNH: Hào Tử Tôn vượng tướng, hoặcđồng cung với ngày, tháng, hào động, sinh hợp, hoặc hào Tử Tôn hồi đầu hóasinh, hóa vượng, chẳng luận bệnh đau lâu hay mới đau, uống thuốc, cầu phước thìmạnh.</p>
<p>Bệnh mới đau, Tử Tôn lại gặp Tuần Không, và độngmà hóa Không, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, chẳng uống thuốc, mà mạnh.Bệnh đau lâu, Tử Tôn gặp Tuần Không, và động mà hóa Không, gặp quẻ lục xung,quẻ biến lục xung, Tử Tôn động mà hóa Quỷ, Quỷ hóa Tử Tôn, Phụ hóa Tử, Tử hóaPhụ và ngày, tháng, hào động xung khắc, thì phải mau uống thuốc. Bằng trể thìkhó mà sống.</p>
<p>CHIẾM CHO VỢ HẦU ĐAU: Lấy Tài làm Dụng Thần. HàoTài vượng tướng, hoặc đồng với ngày, tháng, hào động tương sinh, hoặc hào Tàiđộng hóa Tử Tôn, hoặc động hóa sinh vượng, chẳng luận lâu mau, trị thì thấylành.</p></span></span>
]]></description><guid isPermaLink="false">23263</guid><pubDate>Tue, 15 Nov 2011 04:29:42 +0000</pubDate></item><item><title>&#x110;&#xE1;m M&#xE2;y L&#x1EA1; Tr&#xEA;n B&#x1EA7;u Tr&#x1EDD;i H&#xE0; N&#x1ED9;i</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/20033-%C4%91%C3%A1m-m%C3%A2y-l%E1%BA%A1-tr%C3%AAn-b%E1%BA%A7u-tr%E1%BB%9Di-h%C3%A0-n%E1%BB%99i/</link><description><![CDATA[
<p><span style="font-size:14px;"><span style="font-size:12px;"><span style="color:#ff0000;"><strong>Đám mây lạ trên bầu trời Hà Nội </strong></span></span></span></p>
<p><span style="color:#000080;"><em><strong>Hình ảnh đám mây trông giống con rồng bay ra từ mặt trời, phần trên là đầu rồng đang há miệng ngậm ngọc, phần thân uốn lượn và thu nhỏ dần về phía mặt trời. Bức ảnh chụp vào khoảng 17h30 ngày 18/4/2011 trên đường Nguyễn Phong Sắc kéo dài, quận Cầu Giấy, Hà Nội.</strong></em></span></p>
<p><img src="http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/04/19/08/20110419084025_may1.jpg" alt="Posted Image" /></p>
<p><img src="http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/04/19/08/20110419084025_may2.jpg" alt="Posted Image" /></p>
<p><em></em></p>
<p>(Theo Bee.net.vn </p>
<p>Căn cứ thời gian xuất hiện gieo quẻ dịch:</p>
<p>Quẻ chủ: <span style="color:#ff0000;"><strong>Sơn Địa Bóc</strong>  <span style="color:#000000;">quẻ biến</span> </span><span style="color:#008000;"><strong>Sơn Thủy Mông</strong> </span></p>
<p><span style="color:#000000;">Tựong quẻ năm hào âm đẩy một hào dương đi là tượng của dương hao âm thịnh. Là đạo kẻ tiểu nhân thắng, do  cơ trời chứ không phải do ý người </span></p>
]]></description><guid isPermaLink="false">20033</guid><pubDate>Tue, 19 Apr 2011 02:58:57 +0000</pubDate></item><item><title>Mai Hoa D&#x1ECB;ch S&#x1ED1;</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/1651-mai-hoa-d%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%91/</link><description><![CDATA[
<p>Tôi xin chép lại một số lý thuyết cơ bản phần Mai Hoa Dịch phục vụ cho việc lấy quẻ và dự đoán của các bạn cho thuận tiên.</p>
<p>1. Bát quái số : Càn 1; Đòai 2; Ly 3; Chấn 4; Tốn 5; Khảm 6; Cấn 7; Khôn 8.</p>
<p>2. Bát quái cung nạp ngũ hành:</p>
<p>Càn Đòai thuộc Kim</p>
<p>Khôn Cấn thuộc Thổ</p>
<p>Khảm thuộc Thủy</p>
<p>Ly thuộc Hỏa</p>
<p>Chấn Tốn thuộc Mộc</p>
<p>3. Bát quái thuộc phương vị</p>
<p>3.1 Ly hướng Nam</p>
<p>3.2 Khảm hướng Bắc</p>
<p>3.3 Chấn hướng Đông</p>
<p>3.4 Đòai hướng Tây</p>
<p>3.5 Tốn hướng Đông Nam (theo Hậu thiên Lạc Việt là Khôn)</p>
<p>3.6 Cấn hướng Đông Bắc</p>
<p>3.7 Càn hướng Tây Bắc</p>
<p>3.8 Khôn hướng Tây Nam (theo Hậu thiên Lạc Việt là Tốn)</p>
<p>4. Quái khí vượng suy tùy theo ngũ hành.</p>
<p>4.1 Quái khí vượng:</p>
<p>Chấn Tốn mộc vượng ở mùa xuân</p>
<p>Ly hỏa vượng mùa hạ</p>
<p>Càn Đòai vượng mùa thu</p>
<p>Khảm thủy vượng mùa đông</p>
<p>Khôn Cấn thổ vượng ở những tháng cuối mùa Thìn Tuất Sửu Mùi.</p>
<p>4.2 Quái khí suy</p>
<p>Chấn Tốn suy ở mùa thu</p>
<p>Ly hỏa suy ở đông</p>
<p>Càn Đòai suy ở mùa hạ</p>
<p>Khảm suy ở Thìn Tuất Sửu Mùi</p>
<p>Khôn Cấn suy ở mùa xuân.</p>
<p>5. Qui tắc lấy quẻ</p>
<p>5.1 Lấy quẻ theo Tiên thiên quái số</p>
<p>5.1.1 Căn cứ vào Năm Tháng Ngày Giờ đế lấy quẻ như sau:</p>
<p><strong>Năm</strong> (chỉ căn cứ vào Chi): T‎y số 1, Sửu số 2, Dần số 3, Mão số 4, Thìn số 5, Ti số 6, Ngọ số 7, Mùi số 8, Thân số 9, Dậu số 10, Tuất số 11 và Hợi số 12.</p>
<p><strong>Tháng</strong> (tháng mặt trăng): Giêng số 1, Hai số 2, Ba số 3, Bốn số 4, Năm số 5, Sáu số 6, Bảy số 7, Tám số 8, Chín số 9, Mười số 10, Một số 11, Chạp số 12.</p>
<p><strong>Ngày</strong> (ngày âm lịch): ngày mồng một số 1, mồng 2 số 2, mồng ba số 3, … ngày rằm số 15, ngày 30 số 30.</p>
<p><strong>Giờ</strong>: Giờ Ty số 1, giờ Sửu số 2, giờ Dần số 3, … giờ Tuất số 11, và giờ Hợi số 12.</p>
<p>5.1.2 Xác định Thượng quái: lấy số năm, số tháng và số ngày làm thượng quái </p>
<p>Ví dụ: Năm Ngọ, tháng 5, ngày 15.</p>
<p>Năm Ngọ số 7, tháng 5 số 5, ngày 15 số 15 cộng năm tháng ngày có tồng số 7+5+15 = 27 (lấy 27 trừ đi 3 lần 8 là 24) còn lại 3 là số quẻ Ly. Dùng Ly làm Thượng quái.</p>
<p>5.1.3 Xác định Hạ quái: lấy tổng số đã tính được của Thượng quái công thêm số giờ đang tính.</p>
<p>Ví dụ: lúc đang tính quẻ là giờ Ngọ, giờ Ngọ số 7. Lấy 27 + 7 = 34. (lấy 34 trừ đi 4 lần 8 là 32) còn lại 2 là số quẻ Đoài. Dùng Đòai làm Hạ quái.</p>
<p>Tổng hợp ta được Thượng quái là Ly và Hạ quái là Đòai tên quẻ Hỏa Trạch Khuể. Hỏa Trạch Khuể là Chánh quái.</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">1651</guid><pubDate>Wed, 10 Sep 2008 15:38:02 +0000</pubDate></item><item><title>T&#x1EA1;i Sao T&#xE2;n M&#xE3;o Thu&#x1ED9;c H&#xE0;nh M&#x1ED9;c? Kh&#xF4;ng Ph&#x1EA3;i H&#xE0;nh Kh&#xE1;c?</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/18487-t%E1%BA%A1i-sao-t%C3%A2n-m%C3%A3o-thu%E1%BB%99c-h%C3%A0nh-m%E1%BB%99c-kh%C3%B4ng-ph%E1%BA%A3i-h%C3%A0nh-kh%C3%A1c/</link><description><![CDATA[
<p class="bbc_center"><span style="font-size: 18px;"><span style="color: #FF0000">TẠI SAO TÂN MÃO THUỘC HÀNH MỘC MÀ KHÔNG PHẢI <br>HÀNH THỦY ? HÀNH HỎA ? HAY HÀNH NÀO KHÁC ?<br></span></span><br></p>
<br><strong class="bbc"><span style="color: #0000FF"><p class="bbc_right">(Tặng bạn đọc vốn yêu thích triết luận phương Đông)<br><span style="color: #FF0000">Lê Hưng VKD</span><br>( Lê  Hưng VKD là con trai cả cụ Thiên Lương, từng tham gia viết bài trên tập san Khoa Học Huyền Bí trước 1975 với bút danh GS Lê Trung Hưng)<br></p></span></strong><br><br><br><span style="color: #000080"><span style="font-size: 12px;"><strong class="bbc">I/ Hệ thống can – chi :</strong></span></span><br><br>Trong các triết luận của văn hóa phương Đông châu Á, khái niệm thời gian dịch chuyển được diễn tả bằng thuật danh Can &amp; Chi:<br><br>Can là hệ đếm thời gian theo chu kỳ 10 giai đoạn, gọi là thập thiên can (<strong class="bbc">Gíáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Qúi</strong>) tương thích với vận động của thế giới vũ trụ (được qui chiếu vào phương vị của trái đất theo tư duy của người trần gian).<br>Chi là hệ đếm thời gian theo chu kỳ 12 giai đoạn, gọi là thập nhị địa chi (<strong class="bbc">Tý,  Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi</strong>) tương thích với vận động của trái đất (được qui chiếu theo vị trí sinh sống của người trần gian).<br>Khi ghép nối <strong class="bbc">Can &amp; Chi</strong> gọi là <strong class="bbc">“nạp âm Can Chi”</strong> và bản chất vận động của tổ hợp thời gian này (tức: <strong class="bbc">nạp âm Can Chi – NÂCC</strong>) chính là việc làm của một hành trong hệ 5 hành (ngũ hành: <strong class="bbc">kim, <span style="color: #006400">mộc</span>, <span style="color: #0000FF">thủy</span>, <span style="color: #FF0000">hỏa</span>, <span style="color: #8B0000">thổ</span></strong>)<br><br>Ngày nay mọi người đều đã hiểu :<br><br><span style="color: #0000FF">1/ Cốt tủy tinh hoa minh triết phương Đông, là cổ thư Kinh Dịch<br>2/ Cốt tủy nội dung của Kinh Dịch, là luận bàn của học thuyết Âm Dương <br>3/ Cốt tủy vận động của Âm Dương, là lý giải (biện chứng) của học thuyết Ngũ hành<br></span><br>Thế nên, việc kết hợp hệ đếm Can – Chi ( tức NÂCC ) chính là một<strong class="bbc"> “ hình thái ma trận”</strong> (10 hàng 12 cột), để có 60 số đếm thời gian (thuật ngữ cổ gọi là lục thập hoa giáp) theo tiêu chí “âm cư âm vị - dương cư dương vị = can âm đi với chi âm; can dương đi với chi dương” được người xưa áp dụng vào lịch biểu xác định cho 4 thời điểm của mọi sự việc : thời dụng (giờ) – nhật dụng (ngày) - nguyệt dụng (tháng) và niên dụng (năm)….Khởi đầu cho một hoa giáp (tức 60 đơn vị NÂCC) là Giáp Tý (can khởi đầu của 10 can &amp; chi khởi đầu của 12 chi) kết thúc một hoa giáp là Qúi Hợi (can cuối cùng của 10 can &amp; chi cuối cùng của 12 chi)<br><br><span style="font-size: 12px;"><span style="color: #000080"><strong class="bbc">II/ Hệ thống ngũ hành:</strong></span></span><br><br>Vạn vật có sự sống ở trần gian này, được người xưa tích lũy trải nghiệm bằng luận  thuyết Ngũ hành ( Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ) tức là 5 cách vận động – dịch chuyển – biến thái – chuyển hóa… của mọi quá trình phát triển &amp; hủy diệt sự vật (cũng có thể khái quát hơn : số lượng &amp; chất lượng sự vật luôn tiếp biến cho nhau !)<br><br>- Hành vi <strong class="bbc">“bản năng”</strong> là động thái hành Mộc (sinh sôi, nẩy nở…)<br>- Hành vi<strong class="bbc"> “hành động”</strong> là động thái hành Hỏa (phát huy, phát triển...)<br>- Hành vi <strong class="bbc">“kinh nghiệm”</strong> là động thái hành Thổ (thu gọn, qui nạp…)<br>- Hành vi<strong class="bbc"> “phương pháp”</strong> là động thái hành Kim (chắt lọc, chọn lựa…)<br>- Hành vi <strong class="bbc">“phản xạ” </strong>là động thái hành Thủy (phát tán, thanh lý,đối phó…)<br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh1.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br>Các bộ môn xã hội – nhân văn cổ (<em class="bbc">như : đông y học, phong thủy, thiên văn, nông lịch khí tượng, tử vi, dịch lý…</em>) đều đã sử dụng “ <strong class="bbc">nạp âm can chi</strong>” (NÂCC) qui đổi ra “<span style="color: #FF0000"> ngũ hành</span>” để giải thích “ <span style="color: #FF0000">ngưỡng vô thường</span>” của mọi cấu trúc sự vật luôn biến &amp; hóa ở thế giới này <em class="bbc">(théorie des changements d’ici- bas)</em>. Bảng qui đổi 60 số đếm thời gian Can + Chi ra ngũ hành đã được người xưa công bố rộng rãi (và người đời nay đã nhuần nhuyễn thuộc lòng như định đề hiển nhiên – postulatum – của toán học phổ thông !).Thí dụ : <strong class="bbc">Tân Mão</strong> thuộc bản chất hành<span style="color: #006400"> Mộc</span>, <strong class="bbc">Ất Mão</strong> thuộc bản chất hành <span style="color: #0000FF">Thủy</span> , <strong class="bbc">Kỷ Mão</strong> là hành <strong class="bbc"><span style="color: #FFFF00">Thổ</span></strong>…<br>Nhưng một thực tế nghịch lý đang hiện có (trong các đầu sách đã xuất bản bấy lâu nay) là:<br><br>- Chưa sách nào giới thiệu được cách qui đổi từ nạp âm Can Chi ra hệ ngũ hành ?<br>- Trình tự nào, căn cứ nguyên do nào mà người xưa đã biến hóa số đếm Can Chi (số lượng ) thành ra 1 hành trong 5 hành ( chất lượng) ? <br>- Tại sao Giáp Ngọ phải là hành Kim? mà không phải là hành Hỏa?...v…v<br><span style="color: #000080"><span style="font-size: 12px;"><strong class="bbc"><br>III/ Đề xuất kỹ thuật lượng hóa hệ đếm Can Chi thành hệ ngũ hành :</strong></span></span><br><br>Trước các thắc mắc khái quát nêu trên, gia tộc của học phái<span style="color: #FF0000"><strong class="bbc"> Thiên Lương – Đẩu Sơn</strong></span> xin phép đề xuất  một qui trình nhỏ chuyển đổi nạp âm Can+ Chi ra ngũ hành, như sau :<br><br><strong class="bbc">Bước 1 (Bảng  A)</strong><br>Lượng hóa cho mỗi Can (trong 10 Can) bằng ký tự số đếm thập phân (numération décimale) từ số 0 (zéro) rồi tiếp theo 1, 2, 3, …                 <br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh2.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br><strong class="bbc">Bước 2 (Bảng :(</strong><br>Lượng hóa cơ chế tam phân của lưỡng nghi Âm -  Dương:<br>* 3 phân nghi âm: Thiếu âm, Quyết âm, Thái âm<br>* 3 phân nghi dương: Thiếu dương, Dương minh, Thái dương cũng bằng ký tự số đếm thập phân (0, 1, 2, 3…)                                                                                       <br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh3.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br><strong class="bbc">Bước 3  (Bảng  C)</strong><br><br>Lượng hóa cho mỗi chi ( trong 12 chi ) phân phối theo trình tự cơ chế 3 phân của Âm Dương: <br>- Từ Tý đến Tỵ thuộc nghi Dương, từ Ngọ dến Hợi thuộc nghi Âm, cùng ra ký tự số đếm hệ thập phân ( 0, 1, 2, 3…)<br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh4.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br><strong class="bbc">Bước 4  (Bảng D)</strong><br><br>Căn cứ tín hiệu “ nạp âm” của hệ ngũ âm trong nhạc lý cổ phương Đông (cung, thương, giốc, chủy, vũ ) được ghi trong sách Nội Kinh ( bộ y thư cổ nhất của y học cổ truyền Trung Hoa ) :<br><em class="bbc"><strong class="bbc">tại âm vi giốc, khí hóa vi Mộc<br>tại âm vi chủy, khí hóa vi Hỏa<br>tại âm vi cung, khí hóa vi Thổ <br>tại âm vi thương, khí hóa vi Kim<br>tại âm vi vũ, khí hóa vi Thủy </strong></em><br>chuyển đổi ra ký tự số đếm hệ thập phân ( 0,1,2,3…)      <br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh5.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br><strong class="bbc"><em class="bbc">Ghi chú: hành gốc (biến) căn cứ theo sách Nội Kinh, còn hành ngọn (hóa) thì theo luật sinh xuất ngũ hành (Thổ sinh Kim, Thủy sinh Mộc….)</em></strong><br><br><strong class="bbc">Bước 5 (Bảng  E)</strong><br><br>Đây là bảng tổng hợp tất cả số đếm của mỗi Can + Chi (gọi là “nạp âm” Can Chi – NÂCC): chuyển đổi ra ký tự số thập phân ( 0, 1, 2, 3…) <br><br>Thí dụ 1: Nạp âm Tân Mão có số ký tự :<br>* Can Tân là 3 (theo bảng A)<br>* Chi Mão là 1 (theo bảng C)<br>═&gt; NÂCC “Tân Mão”  =  3+1  =  <strong class="bbc">4</strong><br>Thí dụ 2: nạp âm Qúi Hợi  =  4 (bảng A)  +  2 (bảng C)  =  <strong class="bbc">6</strong><br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh6.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br><strong class="bbc">Bước 6 (Bảng  F)</strong><br><br>Vì hệ ngũ âm nhạc lý cổ chỉ vận hành từ ký tự 0 (zéro) đến 4 (tức là nhịp 5), nên số đếm của nạp âm Can Chi (NÂCC) ở bảng E cũng chỉ sử dụng nhịp 5 (từ 0 đến 4),<br>do đó nếu nạp âm Can Chi có ký tự 5 hoặc ký tự 6 , ta làm phép trừ cho 5 để tìm số dư (là số còn lại sau phép tính trừ) và lấy số dư này làm ký tự cho hành ngọn (hóa) theo bảng D;<br>	Thí dụ 1 :  * nạp âm Canh Thìn (theo bảng E) có ký tự 5; ta có số dư: 5 - 5 = 0<br>		═&gt;  Canh Thìn hành Kim (theo bảng D)<br>	Thí dụ 2 :  * nạp âm Nhâm Tuất (theo bảng E) có ký tự 6; ta có số dư: 6 - 5 = 1<br>		═&gt; Nhâm Tuất hành Thủy (theo bảng D)<br>	Toàn bộ ngũ hành của lục thập hoa giáp như sau :<br><br><p class="bbc_center"><img src="http://i1094.photobucket.com/albums/i455/vanhienlacviet/Hau%20Due%20Thien%20Luong/hinh7.jpg" alt="Posted Image" class="bbc_img"></p>
<br><em class="bbc"><strong class="bbc"><span style="color: #FF0000">Tạm kết:</span></strong></em> ngày xuân “nhàn lãm” hệ đếm Can Chi của người xưa, ta không thể không “kính nhi viễn chi” (dù nhìn từ xa, mà đã bái phục) tầm cao “<strong class="bbc">huệ &amp; tuệ</strong>”(1) của học thuật và văn hóa dân gian cổ đại Đông phương !<br><br><em class="bbc">Ghi chú: </em><br>(1) <strong class="bbc">Huệ</strong> là vô tư trong sáng				<br><strong class="bbc">Tuệ</strong> là thấu đáo mọi hiểu biết<br><strong class="bbc"><p class="bbc_right"><span style="color: #0000FF">Lê Hưng VKD<br>(Bình Dương)</span></p></strong>
]]></description><guid isPermaLink="false">18487</guid><pubDate>Wed, 19 Jan 2011 09:52:43 +0000</pubDate></item><item><title>Kinh T&#x1EBE; Suy Tho&#xC1;i - Ngh&#x129; V&#x1EC1; Qu&#x1EBB; Di</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/17357-kinh-t%E1%BA%BF-suy-tho%C3%A1i-ngh%C4%A9-v%E1%BB%81-qu%E1%BA%BB-di/</link><description><![CDATA[
<p class="bbc_left">  		</p>
<p class="bbc_left"><span style="font-family: Times New Roman"><span style="font-size: 18px;"><span style="color: #ff0000">KINH TẾ SUY THOÁI - nghĩ về Quẻ DI</span></span></span><br></p>
<span style="font-family: Times New Roman"><span style="font-size: 18px;"><span style="color: #ff0000">Thiên Thanh</span></span></span><strong class="bbc"><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 12px;"><br>vn.360plus.yahoo.com/lyso01<br></span></span></strong><p class="bbc_center"><br></p>
<span style="color: #7f003f"><span style="font-family: Times New Roman"><span style="font-size: 18px;">K</span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;">hi   kinh tế phát triển thì có hiện tượng suy thoái về đạo đức. Khi kinh tế   suy thoái, đôi khi lại là điềm lành cho sự phục hưng của nền đạo đức   chân chính.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Trong   một thế giới mà nền kinh tế không dựa trên cơ sở của những giá trị nhân   bản, con người lúc nào cũng cuồng nhiệt đi tìm hạnh phúc theo một thứ   chủ nghĩa vật chất, đến nỗi người ta chẳng còn thì giờ để nghĩ xem cách   làm ăn của mình có phản ánh được các giá trị đạo đức mà mình trân trọng,   để rồi một lúc nào đó con người chợt nhận ra tâm thức của mình đã trở   nên hoang dã, khô cằn.. Phải chăng sự mất cân bằng bên trong con người   dẫn đến sự mất cân bằng của thế giới, và ngược lại ? Trong một thời điểm   mà thế giới đang oằn mình vì thiên tai, chiến tranh, suy thoái kinh tế   và nhiều nơi sống trong cảnh đói khổ triền miên, có lẽ mọi người nên   dành ít thời gian suy ngẫm về chính mình qua ý ‎nghĩa rất to lớn của quẻ   Di.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">DI   là quẻ thứ 27 trong 64 quẻ của Kinh Dịch, do quẻ dưới là Chấn và quẻ   trên là Cấn hợp thành, tượng trưng cho sự nuôi dưỡng (vật chất và tinh   thần).</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Quẻ   Di tuy có nghĩa là nuôi dưỡng, nhưng câu mở đầu của Quái từ đã răn giới   ngay là phải biết giữ gìn sự đúng đắn ngay chính. Ý nghĩa “nuôi dưỡng   ngay chính” trình bày trong quẻ được thể hiện ở hai điểm : Một là đạo   “nuôi mình” thì gốc ở đạo đức, không được bỏ đạo đức mà theo đuổi dục   vọng. Hai là “nuôi người” là phải công bằng, giúp mọi người tu dưỡng đạo   đức. Về ý nghĩa của 6 hào thì 3 hào dưới đều là “nuôi mình” không đúng   đạo là xấu, 3 hào trên là nỗ lực “nuôi người”nên đều được “cát”. Trong </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch chiết trung</span></em></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">,   viết: “Ba hào Sơ cửu, Lục nhị, Lục tam đều là nuôi lấy thân mình, tư   lợi nhỏ nhen. Ba hào Lục tứ, Lục ngũ, Thượng cửu đều là lấy đạo đức để   nuôi dưỡng người, công tâm to lớn. Công tâm to lớn thì tốt, đó là đi   đúng đạo Di. Tư lợi nhỏ nhen thì xấu, đó là đi sai đạo Di”. Qua đó có   thể thấy, nghĩa lớn của 6 hào đều tập trung ca ngợi thịnh đức của đạo Di   là “dưỡng nhân”, “dưỡng hiền” và “dưỡng thiên hạ”.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Quái từ viết: </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">“ Di, trinh cát. Quan di, tự cầu khẩu thực”</span></em></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">,   nghĩa là: quẻ Di tượng trưng cho sự di dưỡng, giữ gìn được sự ngay   chính thì thu được tốt lành. Quan sát hiện tượng nuôi dưỡng của ngoại   vật thì nên sáng tỏ một điều là, khi cầu thức ăn để bỏ vào miệng thì   phải theo đúng chính đạo. Câu “Quan di, tự cầu khẩu thực” là cứ nhìn đạo   nuôi dưỡng và việc tìm cầu thức ăn của con người thì mọi điều thiện ác,   tốt xấu đều thấy rõ cả.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Thoán truyện viết: </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">“...Thiên địa dưỡng vạn vật, Thánh nhân dưỡng hiền dỉ cập vạn dân, Di chi thời đại hỉ tai !”</span></em></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">   , nghĩa là : Trời đất nuôi dưỡng muôn vật, Thánh nhân nuôi dưỡng người   hiền và muôn dân. Công lao hiệu quả của Thời vận quẻ Di thật là to lớn   biết bao !</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Đại tượng truyện viết: </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">“Sơn hạ hữu lôi, Di. Quân tử dỉ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực”,</span></em></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">   nghĩa là : Dưới núi có tiếng sấm vang động (Quẻ Di tạo thành từ quẻ   Chấn ở dưới (động) và quẻ Cấn ở trên (tĩnh) là hình tượng của miệng nhai   thức ăn để nuôi dưỡng cơ thể ). Bậc quân tử nhìn tượng đó thì phải cẩn   thận lời nói để dưỡng đức, tiết chế ăn uống để dưỡng thân.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> Sau đây là ý ‎nghĩa các hào :</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><br></span></span>  <p class="bbc_center"><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f">1.         </span></strong></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"><br>初九: 舍爾靈龜, 觀我朵頤, 凶． <br></span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Sơ cửu:</span></em></span></span><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Xã nhỉ linh qui, quan ngã đóa di, hung.</span></em></span></span></p>
<span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Dịch:   hào 1, dương: dứt bỏ con rùa thiêng (tượng trưng phần tinh thần quí   báu) của mày mà cứ nhìn ta ăn uống đến nỗi xệ cả mép xuống, xấu. <br>Giảng: nội quái là Chấn, có nghĩa là động, cho nên cả ba hào đều diễn cái ý mình đi cầu cạnh người . <br>Hào   dương thực (hào1) mà lại cầu lợi dưỡng với hào âm hư (hào 4) ở trên,   dưỡng thân như vậy là trái đạo, thèm thuồng cầu ăn ở người khác để nuôi   xác thịt, mà quên phần tinh thần của mình (quí như con rùa thiêng ) như   vậy rất xấu. Sự tham dục này thể hiện tính xấu xa của những người chỉ   ham ăn, tham lam đến mất cả liêm sỉ. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch Trình thị truyện</span></em></span></span> <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">   viết: “ Lòng dục một khi đã máy động thì tuy là bậc hiền tài sáng suốt,   cuối cùng cũng sẽ thất thố. Vì vậy cái tài ấy cũng không đáng quý”.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <p class="bbc_center"><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f">2. </span></strong></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"><br>六二: 顛頤, 拂經, 于丘 頤, 征凶． <br></span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Lục nhị: điên di, phất kinh, vu khâu di, chinh hung .</span></em></span></span></p>
<span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Dịch:   Hào 2, âm: Đã điên đảo hướng xuống dưới để cầu được nuôi dưỡng, lại làm   việc trái với đạo lý là hướng đến bậc tôn giả ở trên gò cao mà cầu xin.   Cứ đảo lộn như thế là xấu.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Giảng:   Hào này âm nhu, không tự sức nuôi mình được, nên phải cầu ăn với hai   hào dương 1 và 6, như vậy là người trên xin ăn người dưới, đảo lộn, trái   lẽ thường rồi; còn như cầu ăn ở hào trên cùng (ví như cái gò cao), thì   hào này không ứng hợp với 2, 2 sẽ bị từ chối, bị khinh nên mang nhục. <br>Nên   để ý: theo lẽ thường hào 2 quẻ Di vốn là hào trung chính, nhưng vì   không ứng với hào Ngũ, nên trở thành điên đảo dẫn đến xấu. Đây là quẻ   nuôi dưỡng, mà hào này lại không đủ sức tự dưỡng được. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <p class="bbc_center"><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f">3.</span></strong></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> <br>六三: 拂頤, 貞凶．十年勿用无攸利． <br></span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Lục tam: Phật di, trinh hung. Thập niên vật dụng vô du lợi.</span></em></span></span></p>
<span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Dịch:   Hào 3 âm: Cách nuôi trái hẳn với chính đạo, xấu. Giữ gìn sự ngay chính   để đề phòng hung hiểm. Mười năm (có nghĩa là tới cùng) cũng không được   thi thố tài dụng. Nếu thi thố thì sẽ không được lợi ích gì.<br>Giảng:   Hào này âm nhu, bất trung, bất chính, lại hay động (vì ở trên cùng nội   quái Chấn) không chịu ngồi yên, thấy đâu có ăn là đâm đầu vào. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch chú</span></em></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">   viết: “ Cư xử bất chính để cầu lợi dưỡng ở bề trên là xiểm nịnh vậy, là   hoàn toàn trái với chính đạo”. Lời hào vẫn có ý tự mình răn giới. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch Trình thị truyện</span></em></span></span> <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> viết: “ Sở dĩ răn giới rằng cuối cùng sẽ không dùng được, vì đường lối mà mình đi theo là rất trái với đạo lý vậy”.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><br></span></span>  <p class="bbc_center"><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f">4.</span></strong></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> <br>六四: 顛頤, 吉．虎視眈眈, 其欲逐逐, 无咎． <br></span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Lục tứ: điên di, cát. Hổ thị đam đam, kì dục trục trục, vô cữu.</span></em></span></span><br></p>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Dịch:   Hào 4, âm: Đảo lộn cách nuôi mà tốt. Quay xuống dưới mà cầu được nuôi   dưỡng (rồi dùng đó để nuôi dưỡng người) thì tốt đẹp. Như con hổ nhìn một   cách chăm chăm, lòng ham muốn không dứt, không có lỗi. <br>Giảng: Hào   này ở vào thời ‘Di”, được âm nhu đắc chính, ở vào địa vị cao, được hào 5   chí tôn tương đắc với mình (cùng là âm cả) lại thêm có hào 1 dương ứng   với mình, như vậy là người trên biết trọng đạo nghĩa, biết hạ mình cầu   người dưới (hào1) nuôi mình. Tuy là điên đảo, trái lẽ thường nhưng do   hào này có đạo đức ở việc “nuôi dưỡng sự ngay chính”, cầu mong đúng đạo   để mình giúp đỡ dân chúng, cho nên vẫn là tốt. <br>Nhưng phải chân   thành, tha thiết, chuyên nhất, không gián đoạn (như mắt hổ nhìn chăm   chăm, ham muốn không dứt), cứ liên tục cầu hào 1 giúp hoài thì mới có   kết quả, không có lỗi. <br>Cầu nuôi ở hào này khác với cầu nuôi ở hào 2 ở chỗ hào này là cầu nuôi về tinh thần, chứ không phải về thể xác. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch Trình thị truyện</span></em></span></span> <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">   viết: “ Quay xuống cầu được lợi dưỡng mà lại được tốt. Đó là vì được   hào dương cương ứng hợp giúp đỡ cho. Còn như mình ở trên mà thi hành ân   đức, ánh sáng trùm khắp thiên hạ, thì ai còn tốt hơn thế nữa”.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <p class="bbc_center"><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f">5.</span></strong></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> <br>六五: 拂經, 居貞, 吉．不可涉大川． <br></span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Lục ngũ: Phật kinh, cư trinh, cát. Bất khả thiệp đại xuyên.</span></em></span></span></p>
<span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Dịch: Hào 5, âm: Trái lẽ thường, bền chí giữ đạo chính thì tốt. Không thể vượt sông lớn được. <br>Giảng:   Hào này như một vị nguyên thủ, có trách nhiệm nuôi người, nhưng vì âm   nhu, kém tài, nên phải nhờ người hiền (tức hào trên cùng) nuôi mình   (giúp đỡ mình); như thế là trái với đạo lý “nuôi người hiền và nuôi muôn   dân”, nhưng cứ bền chí, giữ gìn sự ngay chính thì sẽ được tốt đẹp; vì   nhờ người khác giúp đỡ để mình làm trọn nhiệm vụ nuôi dân. <br>Tuy   nhiên, ở vào thời này tài sức yếu kém (âm nhu), không thể tự mình làm   việc lớn , tuy được dựa vào bậc cương hiền (hào trên cùng) nhưng cũng   chỉ có thể xử lý những lúc bình thường, chứ không thể xử lý được trong   những lúc có biến cố nguy hiểm. Vì thế Hào từ khuyên: không thể qua sông   lớn được. <br>Cầu nuôi ở hào này cũng là cầu nuôi về tinh thần. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch Trình thị truyện</span></em></span></span> <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> viết: “ Kiên trì đi theo bậc hiền giả là hào Thượng cửu để nuôi dưỡng thiên hạ vậy”.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <p class="bbc_center"><span style="font-family: Verdana"></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f">6.</span></strong></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f"> <br>上九: 由頤, 厲吉, 利涉大川． <br></span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Thượng cửu: do di, lệ cát. Lợi thiệp đại xuyên.</span></em></span></span></p>
<span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <p class="bbc_left"><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><em class="bbc"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Dịch:   Hào trên cùng, dương. Thiên hạ nhờ mình mà được nuôi, trách nhiệm mình   lớn như vậy, mình phải thường lo lắng, cẩn trọng thì được tốt. Qua sông   lớn được. </span></em></em></span></span></p>
<span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span>  <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">Giảng:   Hào này dương cương mà ở trên cùng, như bậc làm thầy cho vị nguyên thủ,   vị nguyên thủ nhờ mình mà nuôi được thiên hạ, thì cũng như chính mình   nuôi thiên hạ. Trách nhiệm lớn như vậy nên mình phải thường lo lắng, sợ   hãi, rất thận trọng thì mới được tốt lành, mà thiên hạ được phúc lớn .<br>Hào này dương cương có tài, không như hào 5, cho nên làm được việc lớn gian hiểm. </span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Chu dịch Trình thị truyện</span></em></span></span> <span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><span style="color: #7f003f">   viết: “ Nếu hào Thượng cửu gánh vác nhiệm vụ lớn lao mà biết đau đáu   thận trọng, thiên hạ nhờ đó mà đội ơn trạch, thì đó là điều đại phúc   khánh vậy”.</span></span></span><span style="font-family: Verdana"><span style="font-size: 10px;"><br></span></span><br><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><em class="bbc"><span style="color: #7f003f">Mong   mỗi người trong chúng ta tự nhìn lại mình đang đứng ở vị trí nào trong 6   hào của quẻ Di, từ đó có sự tu dưỡng cho đúng với chính đạo, nếu được   đứng vào 3 hào trên thì đã là phúc lắm , còn nếu được ở hào trên cùng   thì phúc đức cao đẹp không gì bằng .</span></em></strong></span></span><br><br><span style="font-family: Arial"><span style="font-size: 10px;"><strong class="bbc"><span style="color: #7f003f"><em>Mong lắm thay !</em></span></strong></span></span>
]]></description><guid isPermaLink="false">17357</guid><pubDate>Sat, 20 Nov 2010 01:26:20 +0000</pubDate></item><item><title>C&#xF9;ng Nhau H&#x1ECD;c D&#x1ECB;ch</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/14443-c%C3%B9ng-nhau-h%E1%BB%8Dc-d%E1%BB%8Bch/</link><description><![CDATA[
<p>Chào Anh Chị Em </p>
<p>Chủ đề: "Cùng nhau học Dịch", được gợi mở khi anh Dichnhan đặt vấn đề: "Người đời học Dịch". Cũng mong Anh Chị em nhìn từ nhiều góc độ với sách Kinh Dịch, chúng ta cùng bình giải và bình luận khi học Dịch.</p>
<p>- Anh Dichnhan viết: </p>
<p>Hiện tại tôi đang soạn 2 tập tài liệu Kinh Dịch Tự Điển và Giải Mã Hào  Từ nên mất rất nhiều thời gian suy nghĩ cho chúng. Nhưng may sao nhờ có  chương V của Tâm Pháp nên đã bớt đi được phần nào khó khăn, giống như có  chiếc la bàn chỉ hướng vậy.</p>
<p>Tôi vừa mới giải lại hào 1 quẻ Quải, mời Bác cùng nghiệm xét: </p>
<p>Sơ Cửu: “Nhanh chóng một cách xằng bậy thì sớm dừng lại, đi chẳng  hơn được, gây nên lỗi.” </p>
<p>- Hà Uyên viết: </p>
<p>      Quá trình nhận thức cá nhân, thường tôi phân: giải  Dịch theo trường phái - hoặc giải Dịch theo "thuyết". Có nghĩa rằng,  giải Dịch theo "thuyết", thường tự xây dựng một học thuyết riêng, mang  tính độc lập. Đối với giải Dịch theo trường phái, thường lấy căn cứ theo  Âm Dương chọn nghĩa, tam tài chọn tượng.</p>
<p>     Hướng tư duy cá  nhân tôi, đang thăm dò hướng tới kết cấu khung, trong tổng thể 384 hào,  để khảo chứng tìm về nguyên nghĩa của ý nghĩa hào từ, trên nguyên tắc:  phải mang tính liên tục, tính hệ thống lôgíc của hào từ, sau đó mới xét  tới không gian Quái danh, sau tiếp mới xét tới thời điểm Quái vị.</p>
<p>      Cụ thể:</p>
<p>1. Kinh viết: <strong>"Quải, Sơ  Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu"</strong></p>
<p>    - Dịch: Hào  Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không  thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn tới cưu hại.</p>
<p>2. Anh Dichnhan giải Dịch: “Nhanh chóng một  cách xằng bậy thì sớm dừng lại, đi chẳng hơn được, gây  nên lỗi.”</p>
<p>      Tôi bình giải  theo kết cấu khung:</p>
<p>1. Tính liên tục hào từ: tìm nguyên nhân:  trước hào Sơ quẻ Quải, là hào Sơ quẻ Hàm</p>
<p>     - Hàm, Sơ Lục, hàm kỳ  mẫu.</p>
<p>     - Dịch: Hào Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chân cái.</p>
<p>2.  Tính hệ thống: tìm xu hướng từ quẻ "đối" và quẻ "đảo", sau đó mới giải  thích được tại sao lại " tráng vu tiền chỉ".</p>
<p> Mong anh chị em cùng tham gia bình giải khi học Dịch</p>
<p>Hà Uyên.</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">14443</guid><pubDate>Mon, 24 May 2010 23:28:13 +0000</pubDate></item><item><title>D&#x1ECB;ch Can Chi</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/15507-d%E1%BB%8Bch-can-chi/</link><description><![CDATA[
<p><span style="font-size:12px;"><span style="color:#800080;">CHU KỲ 1</span></span></p>
<p>............................. LY</p>
<p>........TỐN..................................KHÔN</p>
<p>...CHẤN.....................+...................ĐOÀI</p>
<p>.......CẤN...................................CÀN</p>
<p>.............................KHẢM</p>
<p>1. Giáp Tý – Thuần Càn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, tiềm long vật dụng”.</p>
<p>- “Chín Đầu, rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng.”</p>
<p>2. Ất Sửu – Thuần Khôn, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, quát nang, vô cữu vô dự.”</p>
<p>- “Sáu Bốn, thắt chặt miệng túi, tránh được tội lỗi (cữu hại) mà không cầu được khen”.</p>
<p>- Tượng “quát nang vô cữu, thận bất hại dã” - Hào Sáu Bốn tất phải thận trọng, cẩn thận mới có thể không gây ra tai họa.</p>
<p>3. Bính Dần - Thuần Cấn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, đôn cấn, cát”.</p>
<p>- “Hào Chín Trên, lấy phẩm chất đôn hậu để ghìm chặn tà dục, tốt lành.”</p>
<p>- Tượng “đôn cấn chi cát, dĩ hậu chung dã” – Hào Chín Trên với bản chất tốt đẹp đã giữ vững đến lúc cuối.</p>
<p>4. Đinh Mão – Thuần Đoài, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, phu đoài, cát, hối vong”</p>
<p>- “Hào Chín Hai, thành tín mà vui vẻ với mọi người, tốt lành, hối hận mất hết.”</p>
<p>- Tượng “phu đoài chi cát, tín chí dã” – Chín Hai chí nằm ở sự thành tín trung thực.</p>
<p>5. Mậu Thìn - Thuần Khảm, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc”</p>
<p>- “Chín Hai, Ở nơi hiểm nạn khốn cùng trong hố bẫy, từ nơi nhỏ hẹp mưu cầu thoát hiểm, tất có được điều mong muốn”.</p>
<p>- Tượng “cầu tiểu đắc, vị xuất trung dã” – Hào Chín Hai lúc này còn chưa thoát khỏi chỗ hiểm.</p>
<p>6. Kỷ Tị - Thuần Ly, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, vương dụng xuất chinh, hữu gia chiết thủ hoạch phỉ kỳ xú, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Trên, nhà Vua xuất quân chinh phạt, lập được công lớn, chém đầu quân địch, bắt những kẻ “dị kỷ” không chựu lệ thuộc, không có lỗi.</p>
<p>- Tượng “Vương dụng xuất chinh, dĩ chính bang dã” – hào Chín Trên làm như vậy để cho đất nước được yên ổn, trị vì được thiên hạ.</p>
<p>7. Canh Ngọ - Thuần Chấn, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, chấn toại nê”</p>
<p>- “Chín Bốn, lúc sấm động kinh hoàng thất thố, rơi vào đống bùn lấy”.</p>
<p>- Tượng “chấn toại nê, vị quang dã” – hào Chín Bốn đức dương cứng chưa thể sáng lớn. Sa vào nơi đồi trụy.</p>
<p>8. Tân Mùi - Thuần Tốn, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, hối vong, điền hoạch tam phẩm”</p>
<p>- “Sáu Bốn, hối hận mất hết, vật săn được chia làm ba loại (để làm vật tế tự, đãi khách, và dâng lên bếp Vua).</p>
<p>- Tượng “điền hoạch tam phẩm, hữu công dã” – hào Sáu Bốn tuân theo mệnh Vua, lập được công lao.</p>
<p>9. Nhâm Thân - Thuần Càn, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, phi long tại thiên, lợi hiện đại nhân”</p>
<p>- “Chín Năm, rồng lớn bay cao trên trời, lợi về sự xuất hiện đại nhân”.</p>
<p>10. Quý Dậu – Thuần Khôn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng”</p>
<p>- “Sáu Trên, rồng giao hợp trên cánh đồng, chảy máu đen máu vàng”.</p>
<p>- Tượng “long chiến vu dã, kỳ đạo cùng dã” - Đạo thuần âm của hào Sáu Trên đã phát triển đến cùng tận.</p>
<p>11. Giáp Tuất – Thuần Càn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, cang long hữu hối”</p>
<p>- “Chín Trên, rồng lớn bay cao đến cùng cực, cuối cùng sẽ có sự hối hận”.</p>
<p>12. Ất Hợi – Thuần Khôn, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, hoàng thường, nguyên cát”</p>
<p>- “Sáu Năm, xiêm váy mầu vàng, hết sức tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “hoàng thường nguyên cát, văn tại trung dã” - Sáu Năm lấy đức ôn hòa nhã nhặn để giữ vững đạo “trung”.</p>
<p>13. Bính Tý - Thuần Cấn, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong”</p>
<p>- “Sáu Năm, ghìm chặn miệng mình, không để nói càn, nói phải rành mạch đâu ra đấy, hối hận sẽ mất.</p>
<p>- Tượng “Cấn kỳ phụ, dĩ trung chính dã” – Sáu Năm có thể ở ngôi giữa giữ chính. Giữ chính là thừa.</p>
<p>14. Đinh Sửu – Thuần Đoài, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, lai đoài hung”</p>
<p>- “Chín Ba, quay lại để cầu vui, có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “Lai đoài chi hung, vị bất đáng dã” – Sáu Ba ngôi vị không chính đáng.</p>
<p>15. Mậu Dần - Tập Khảm, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, tập khảm, nhập vu khảm tãm, hung”</p>
<p>- “Sáu Đầu, ở nơi chất chồng hiểm họa cạm bẫy, rơi sâu vào hố bẫy, có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “tập khảm nhập khảm, thất đạo hung dã” – hào Sáu Đầu lạc đường rơi thêm vào chỗ hiểm nên tất có hung hiểm.</p>
<p>16. Kỷ Mão – Thuần Ly, hào 1</p>
<p>- "Sơ Cửu, lý thác nhiên, kính chi, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Đầu, làm việc cẩn trọng không cẩu thả, giữ thái độ cung kính, cẩn thận thì tất không tội lỗi.”</p>
<p>- Tượng “lý thác chi kính, dĩ tị cữu dã” – Ý hào Sáu Đầu có như vậy mới tránh được tội lỗi.</p>
<p>17. Canh Thìn – Thuần Chấn, hào 3</p>
<p>- "Lục Tam, chấn tô tô, chấn hành vô sảnh”</p>
<p>- “Sáu Ba, lúc sấm động kinh hãi không yên, do sấm động mà biết sợ, thì đi lên sẽ không gặp họa hoạn.”</p>
<p>- Tượng “chấn tô tô, vị bất đáng dã” – Ngôi vị hào Sáu Ba không thỏa đáng.</p>
<p>18. Tân Tị - Thuần Tốn, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, trinh cát, hối vong, vô bất lợi, vô sơ hữu chung; tiên canh tam nhật, hậu canh tam nhật, cát”</p>
<p>- “Chín Năm, giữ vững chính bền thì được tốt lành, hối hận mất hết, không gì không lợi ; lại ban mệnh lệnh, mới đầu không thuận lợi, nhưng cuối cùng tất sẽ thông thuận ; dự định ban bố lệnh mới vào ba ngày trước ngày Canh, là ngày tượng trưng cho sự “biến canh” (thay đổi), và thi hành mệnh lệnh mới, vào ba ngày sau ngày Canh, như vậy mà trên dưới thuận theo, tất được tốt lành.”</p>
<p>- Tượng “cửu ngũ chi cát, vị chính trung dã” – hào Chín Năm được như vậy là do ngôi hào này chính mà giữ vững được đạo “trung”.</p>
<p>19. Nhâm Ngọ - Thuần Càn, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, hoặc dược tại uyên, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Bốn, hoặc bay vượt lên trước, hoặc lui lại nằm trong vực, tất không tội lỗi.”</p>
<p>20. Quý Mùi – Thuần Khôn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, lý sương, kiên băng chí.”</p>
<p>- “Sáu Đầu, dẫm lên sương mỏng là sẽ đón đợi băng dày.”</p>
<p>- Tượng “lý sương kiên băng, âm thủy ngưng dã ; tuần chí kỳ đạo, chí kiện băng dã” – Khí Âm đã bắt đầu ngưng tụ, theo như quy luật thì băng dày tất sẽ đến.</p>
<p>21 Giáp Thân – Thuần Càn, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, phi long tại thiên, lợi hiện đại nhân”</p>
<p>- "Chín Năm, rồng lớn bay cao trên trời, lợi về sự xuất hiện đại nhân.”</p>
<p>22. Ất Dậu – Thuần Khôn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng”</p>
<p>- “Sáu Trên, rồng giao hợp trên cánh đồng, chảy máu đen máu vàng.”</p>
<p>- Tượng “long chiến vu dã, kỳ đạo cùng dã” - Đạo thuần âm của hào Sáu Trên đã phát triển đến cùng tận.</p>
<p>23. Bính Tuất - Thuần Cấn, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, cấn kì thân, vô cữu”</p>
<p>- "Sáu Bốn, ghìm chặn ở phần thân mình, không để vọng động, tất không tội lỗi.”</p>
<p>- Tượng “cấn kì thân, chỉ chư cung dã” – hào Sáu Bốn có thể tự ghìm chặn, yên giữ ngôi mình.</p>
<p>24. Đinh Hợi – Thuần Đoài, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, thương đoài vị ninh, giới tật hữu thỉ”</p>
<p>- "Chín Bốn, cân nhắc về sự vui nhưng trong lòng chưa yên, nếu cắt đứt hẳn với sự “tà tật” của bạn xiểm nịnh thì thật đáng mừng.</p>
<p>- Tượng “cửu tứ chi hỷ, hữu khánh dã” - Điềm mừng của hào Chín Bốn, là vì có tượng đáng chúc mừng vậy.</p>
<p>25. Mậu Tý - Thuần Khảm, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, hệ dụng huy mặc, chỉ vu tùng cức, tam tuế bất đắc, hung”</p>
<p>- “Sáu Trên, bị trói bằng dây thừng, giam hãm trong bụi gai, ba năm không được giải thoát, có hung hiểm.</p>
<p>- Tượng “thượng lục thất đạo, hung tam tuế dã” – hào Sáu Trên lạc chính đạo đi vào nơi hiểm, hung hiểm sẽ kéo dài suốt ba năm.</p>
<p>26. Kỷ Sửu – Thuần Ly, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, hoàng ly, nguyên cát”</p>
<p>- “Sáu Hai, giữ được sắc vàng trung chính phụ bám vào vật, cực tốt.”</p>
<p>- Tượng “hoàng ly nguyên cát, đắc trung đạo dã” – hào Sáu Hai đạo hợp giữa không lệch.</p>
<p>27. Canh Dần - Thuần Chấn, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, chấn lai lệ; ức táng bối, tê vu cửu lăng, vật trục, thất nhật đắc”</p>
<p>- “Sáu Hai, sấm sét ập tới, có nguy hiểm; mất nhiều tiền, nên lánh xa và trèo lên đỉnh đồi cao, không cần truy tìm, quá không đầy bảy ngày thì tiền mất lại tìm thấy.”</p>
<p>- Tượng “chấn lai lệ, thặng cương dã” – hào Sáu Hai cưỡi trên hào dương cứng mà nguy.</p>
<p>28. Tân Mão - Thuần Tốn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, tốn tại sàng hạ, táng kì tư phủ; trinh hung”</p>
<p>- “Chín Trên, thuận theo quá mức, nép ở dưới giường, giống như mất búa sắc cứng rắn, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.”</p>
<p>- Tượng “tốn tại sàng hạ, thượng cùng dã ; táng kì tư phủ, chính hồ hung dã” – hào Chín Trên ở ngôi cuối của sự khốn cùng ; hào Chín Trên nên giữ vững sự chính của dương cứng để phòng hung hiểm.</p>
<p>29. Nhâm Thìn – Thuần Càn, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, quân tử trung nhật càn càn, tịch thích nhược, lệ vô cựu”</p>
<p>- “Chín Ba, người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường, đến tối vẫn còn cảnh giác thận trọng, như vậy dù gặp nguy hiểm cũng không bị cữu hại.”</p>
<p>30. Quý Tị - Thuần Khôn, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, trực phương đại, bất tập vô bất lợi.”</p>
<p>- “Sáu Hai, ngay thẳng, vuông vắn, to lớn, không học tập cũng vị tất là không có lợi.”</p>
<p>- Tượng “lục nhị chi động, trực dĩ phương dã ; ‘bất tạp vô bất lợi’, địa đạo quang dã” - Sự biến động của hào Sáu Hai theo hướng ngay thẳng và vuông vắn ; ‘không học tập vị tất là không có lợi’ là đạo nhu thuận của Đất phát ra hào quang.</p>
<p>31. Giáp Ngọ - Thuần Càn, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, hoặc dược tại uyên, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Bốn, hoặc bay vượt lên trước, hoặc lui lại nằm trong vực, tất không cữu hại tội lỗi.”</p>
<p>32. Ất Mùi – Thuần Khôn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, lý sương, kiên băng chí”</p>
<p>- “Sáu Đầu, dẫm lên sương mỏng là sẽ đón đợi băng dày.”</p>
<p>- Tượng “lý sương kiên băng, âm thủy ngưng dã ; tuần chí kỳ đạo, chí kiện băng dã” – Khí Âm đã bắt đầu ngưng tụ, theo như quy luật thì băng dày tất sẽ đến.</p>
<p>33. Bính Thân - Thuần Cấn, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, cấn kì hạn, liệt kì di, lệ huân tâm.”</p>
<p>- “Chín Ba, ghìm chặn sự vận động của lưng, đến nỗi đứt cả nơi chỗ thăn lưng (chỗ trên dưới giao nhau), nguy hiểm như cháy ruột.”</p>
<p>- Tượng “cấn kì hạn, nguy huân tâm dã” - Sự nguy hiểm của hào Chín Ba sẽ như cháy ruột.</p>
<p>34. Đinh Dậu – Thuần Đoài, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, phu vu bác, hữu lệ.”</p>
<p>- “Chín Năm, tin kẻ tiểu nhân âm mềm, mà tiêu mòn hết đức dương cứng (bị nó lôi kéo mà cùng vui), có nguy hiểm.”</p>
<p>- Tượng “phu vu bác, vị chính đáng dã” - Thật đáng tiếc cho hào Chín Năm lại ở vào ngôi chính đáng mà thôi !</p>
<p>35. Mậu Tuất - Thuần Khảm, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, khảm bất doanh, chỉ kí bình, vô cữu.”</p>
<p>- “Chín Năm, hố bẫy hiểm nạn còn trưa tràn đầy, thì gò nhỏ đã bị san bằng, tất không cữu hại.”</p>
<p>- Tượng “khảm bất doanh, trung vị đại dã” – hào Chín Năm tuy ở ngôi giữa, nhưng công sức làm cho phẳng chỗ hiểm còn được chưa sáng lớn.</p>
<p>36. Kỷ Hợi – Thuần Ly, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, nhật trắc chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, tác đại điệt chi ta, hung.”</p>
<p>- “Chín Ba, mặt trời sắp lặn, ngả dần “bám” về phía trời tây, lúc này nếu không gõ vò, vui vẻ ca hát tự vui, tất sẽ than thân già nua, ốm yếu, có hung hiểm.”</p>
<p>- Tượng “nhật trắc chi ly, hà khả cữu dã” – Ngả dần bám về phía trời Tây, tình trạng này thì làm sao mà giữ cho được lâu dài !</p>
<p>37. Canh Tý - Thuần Chấn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, chấn lai khích khích, hậu tiếu ngôn nha nha, cát.”</p>
<p>- “Chín Đầu, sấm sét ập tới mà biết mà biết kinh hãi khiếp sợ, thì sau sẽ biết thận trọng hành động, giữ phúc để được nói cười râm ran, tốt lành.”</p>
<p>- Tượng “chấn lai khích khích’, khủng chí phúc dã ; ‘tiếu ngôn nha nha’ hậu hữu tắc dã” – hào Chín Đầu kinh sợ thận trọng, thì có thể đưa phúc trạch đến ; hào Chín Đầu sau khi kinh sợđã biết tuân thủ phép tắc.</p>
<p>38. Tân Sửu - Thuần Tốn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, tiến thoái, lợi vũ nhân chi trinh.”</p>
<p>- “Sáu Đầu, thấp thuận quá mức, tiến thoái do dự, lợi về sự kẻ vũ dũng giữ vững chính bền.”</p>
<p>- Tượng “tiến thoái chí nghi dã ; lợi vũ nhân chi trinh, chí trị dã” – hào Sáu Đầu ý chí nhu nhược nghi sợ ; ‘lợi về sự kẻ vũ dũng giữ vững chính bền’ là để khuyến khích Sáu Đầu sửa trị và tạo lập ý chí kiên cường.</p>
<p>39. Nhâm Dần – Thuần Càn, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, hiện long tại điền, lợi hiện đại nhân.”</p>
<p>- “Chín Hai, rồng lớn đã xuất hiện ở cánh đồng, lợi về sự xuất hiện đại nhân.”</p>
<p>40. Quý Mão – Thuần Khôn, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, hàm chương khả trinh ; hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.”</p>
<p>- “Sáu Ba, ngậm chứa sự sáng đẹp của Dương cứng thì giữ được chính bền ; hoặc giúp dập cho sự nghiệp của đắng quân vương, khi thành công không quy công về mình, mà kính cẩn làm hết chức trách của kẻ bề tôi cho đến cùng.”</p>
<p>- Tượng “hàm chương khả trinh, dĩ thời phát dã ; hoặc tòng vương sự, tri quang đại dã” – hào Sáu Ba cần căn cứ vào thời cơ mà phát huy tác dụng ; hào Sáu Ba trí tuệ sáng láng, sâu rộng.</p>
<p>41. Giáp Thìn – Thuần Càn, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, quân tử trung nhật càn càn, tịch thích nhược, lệ vô cựu”</p>
<p>- “Chín Ba, người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường, đến tối vẫn còn cảnh giác thận trọng, như vậy dù gặp nguy hiểm cũng không bị cữu hại.”</p>
<p>42. Ất Tị - Thuần Khôn, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, trực phương đại, bất tập vô bất lợi. ”</p>
<p>- “Sáu Hai, ngay thẳng, vuông vắn, to lớn, không học tập cũng vị tất là không có lợi.”</p>
<p>- Tượng “lục nhị chi động, trực dĩ phương dã ; ‘bất tạp vô bất lợi’, địa đạo quang dã” - Sự biến động của hào Sáu Hai theo hướng ngay thẳng và vuông vắn ; ‘không học tập vị tất là không có lợi’ là đạo nhu thuận của Đất phát ra hào quang.</p>
<p>43. Bính Ngọ - Thuần Cấn, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, cấn kì phì, bất chửng kì tùy, kì tâm bất khoái.”</p>
<p>- “Sáu Hai, ghìm chặn sự cử động của cẳng chân, chưa thể bước lên đội kẻ vốn nên đi theo, trong lòng không được khoan khoái.”</p>
<p>- Tượng “bất chửng kì tùy, vị thoái chính dã” – hào Sáu Hai không thể bước lên đội kẻ vốn nên đi theo, lại không có cách nào lùi lại để nghe theo mệnh lệnh đang ghìm chặn (vì vậy trong long không khoan khoái).</p>
<p>44. Đinh Mùi – Thuần Đoài, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, dẫn đoài.”</p>
<p>- “Sáu Trên, dụ dỗ người ta cùng vui.”</p>
<p>- Tượng “thượng lục dẫn đoài, vị quang dã” – hào Sáu Trên đạo vui vẻ chưa thể (không thể) sáng lớn.</p>
<p>45. Mậu Thân - Thuần Khảm, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, tôn tửu, quỹ nhị, dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Bốn, một chén riệu nhạt, hai rá thức ăn đạm bạc, dùng vò sành thô lậu đựng các thứ trên (thành kính dâng biếu bậc tôn quý), nộp ước qua cửa sổ sáng, cuối cùng tránh được cữu hại.”</p>
<p>- Tượng “tôn tửu quỹ nhị, cương nhu tế dã” – Ý hào Chín Năm dương cứng và hào Sáu Bốn âm mềm giao tiếp với nhau.</p>
<p>46. Kỷ Dậu – Thuần Ly, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, đột như kì lai như, phần như, tử như, khí như”</p>
<p>- “Chín Bốn, đột nhiên hiện lên ráng bình minh đỏ rực, giống như ngọn lửa mạnh đang thiêu đốt, nhưng chỉ trong phút chốc sẽ bị tiêu tán, diệt vong, bị vứt bỏ trạch trơn.”</p>
<p>- Tượng “đột như kì lai như, vô sở dụng dã” – Cái hư thế của hào Chín Bốn, tất sẽ làm nó không nơi phụ bám, chứa chấp.</p>
<p>47. Canh Tuất - Thuần Chấn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, chấn tác tác, thị quắc quắc, chinh hung ; chấn bất vu kì cung, vu kì lân, vô cữu ; hôn cấu hữu ngôn”</p>
<p>- “Sáu Trên, lúc sấm động sợ đến nỗi hai chân co rúm lại không đi được, hai mắt nhớn nhác, cứ mạo hiểm tiến lên tất gặp hung hiểm ; nếu có thể khi sấm động còn chưa tới bản thân mình, mới tới nhà hàng xóm đã đề phòng trước, thì không gặp cữu hại ; nhưng nếu mong có được âm dương hôn phối, thì sẽ đi đến tranh cãi nhau.”</p>
<p>- Tượng “chấn tác tác, trung vị đắc dã ; tuy hung vô cữu, úy lân giới dã” – Hào Sáu Trên chưa ở được vào vị trí có thể ứng xử thích hợp được với đạo “trung” ; mặc dù có hung hiểm nhưng không có cữu hại gì, là do biết sợ tiếng sấm chấn động từ bên hàng xóm nên đã đề phòng trước.</p>
<p>48. Tân Hợi - Thuần Tốn, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, tốn tại sàng hạ, dụng sử, vu phân nhược cát, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Hai, thuận theo nép ở dưới giường, nếu có thể noi theo thầy bói, thầy cúng, lấy sự khiêm nhún mà phụng sự thần linh thì sẽ được nhiều tốt lành, tất không cữu hại.”</p>
<p>- Tượng “phân nhược chi cát, đắc trung dã” - Sẽ được nhiều tốt lành, là vì hào Chín Hai có thể giữ giữa không lệch.</p>
<p>49. Nhâm Tý – Thuần Càn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, tiềm long vật dụng.”</p>
<p>- “Chín Đầu, rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng.</p>
<p>50. Quý Sửu – Thuần Khôn, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, quát nang, vô cữu vô dự.”</p>
<p>- “Sáu Bốn, thắt chặt miệng túi, tránh được tội lỗi (cữu hại) mà không cầu được khen.”</p>
<p>- Tượng “quát nang vô cữu, thận bất hại dã” - Hào Sáu Bốn tất phải thận trọng, cẩn thận mới có thể không gây ra tai họa.</p>
<p>51. Giáp Dần – Thuần Càn, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, hiện long tại điền, lợi hiện đại nhân”</p>
<p>- “Chín Hai, rồng lớn đã xuất hiện ở cánh đồng, lợi về sự xuất hiện đại nhân.”</p>
<p>52. Ất Mão – Thuần Khôn, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, hàm chương khả trinh ; hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung”</p>
<p>- “Sáu Ba, ngậm chứa sự sáng đẹp của Dương cứng thì giữ được chính bền ; hoặc giúp dập cho sự nghiệp của đắng quân vương, khi thành công không quy công về mình, mà kính cẩn làm hết chức trách của kẻ bề tôi cho đến cùng.”</p>
<p>- Tượng “hàm chương khả trinh, dĩ thời phát dã ; hoặc tòng vương sự, tri quang đại dã” – hào Sáu Ba cần căn cứ vào thời cơ mà phát huy tác dụng ; hào Sáu Ba trí tuệ sáng láng, sâu rộng.</p>
<p>53. Bính Thìn - Thuần Cấn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, cấn kì chỉ, vô cữu, lợi vĩnh trinh”</p>
<p>- “Sáu Đầu, biết ghìm chặn ở ngón chân khi cất bước, tất vô cữu hại, lợi về sự giữ vững chính bề lâu dài.”</p>
<p>- Tượng “cấn kì chỉ, vị thất chính dã” – hào Sáu Đầu chưa từng vi phạm chính đạo.</p>
<p>54. Đinh Tị - Thuần Đoài, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, hòa duyệt, cát.”</p>
<p>- “Chín Đầu, dựu dàng, vui vẻ với người, tốt lành.”</p>
<p>- Tượng “hòa duyệt chi cát, hành vị nghi dã” – Hành vi của Chín Đầu đứng đắn mà không bị người ta nghi kị.</p>
<p>55. Mậu Ngọ - Thuần Khảm, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, lai chi khảm khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu khảm tãm, vật dụng”</p>
<p>- “Sáu ba, tới lui đều ở trong vòng hiểm hãm, đi tới là hiểm lui lại khó an, rơi xuống hố sâu không thể thi thố tài dụng.”</p>
<p>- Tượng “lai chi khảm khảm, chung vô công dã” – hào Sáu Ba cuối cùng khó thành công trong sự “hành hiểm”.</p>
<p>56. Kỷ Mùi – Thuần Ly, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát”</p>
<p>- “Sáu Năm, nước mắt chảy ròng ròng, ngậm ngùi than thở, (ở nơi tôn quý, được giúp dập, về cuối sẽ) tốt lành.”</p>
<p>- Tượng “lục ngũ chi cát, ly vương công dã” – hào Sáu Năm được phụ bám vào ngôi tôn quý của đấng vương công.</p>
<p>57. Canh Thân - Thuần Chấn, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, chấn vãng lai , lệ, ức vô táng, hữu sự”</p>
<p>- “Sáu Năm, khi sấm động thì bất kể là đi lên hay đi xuống đều có nguy hiểm ; nếu có thể thận trọng giữ đạo “trung” thì vạn lần cũng không thất thố một lần, có thể giữ lâu dài được việc trọng đại là việc tế tự.”</p>
<p>- Tượng “chấn vãng lai lệ, nguy hành dã ; kì sự tại trung, đại vô táng dã” – hào Sáu Năm cần thấy rõ sự nguy sợ mà thận trọng tiến lên, sử sự nên thận trọng giữ đạo “trung”.</p>
<p>58. Tân Dậu - Thuần Tốn, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, tần tốn, lận.”</p>
<p>- “Chín Ba, ưu sầu không vui, miễn cưỡng thuận theo, sẽ có thẹn tiếc.”</p>
<p>- Tượng “tần tốn chi lân, chí cùng dã” – Tâm chí Chín Ba khốn cùng không hăng hái.</p>
<p>59. Nhâm Tuất – Thuần Càn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, cang long hữu hối”</p>
<p>- “Chín Trên, rồng lớn bay cao đến cùng cực, cuối cùng sẽ có sự hối hận</p>
<p>60. Quý Hợi – Thuần Khôn, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, hoàng thường, nguyên cát.”</p>
<p>- “Sáu Năm, xiêm váy mầu vàng, hết sức tốt lành.”</p>
<p>- Tượng “hoàng thường nguyên cát, văn tại trung dã” – hào Sáu Năm lấy đức ôn hòa nhã nhặn để giữ vững đạo “trung”</p>
<p>................................................................................</p>
<p>.....</p>
<p><span style="color:#800080;"><strong>CHU KỲ 2</strong></span></p>
<p>................................LỮ</p>
<p>....TIỂU SÚC................................PHỤC</p>
<p>...DỰ........................+......................KHỐN</p>
<p>.......BÍ..........................................CẤU</p>
<p>...............................TIẾT</p>
<p>1. Giáp Tý – Thiên Phong Cấu, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, hệ vu kim nê, trinh cát ; hữu du vãng, kiến hung, luy thỉ phu trịnh trục”</p>
<p>- “Sáu Đầu, chặn ngay nó lại bằng cái “phanh” nhạy, cứng chắc, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; nếu vội đi lên thì tất nhiên sẽ có hung hiểm, giống như lợn cái nhảy nhót lung tung không thể ở yên.”</p>
<p>- Tượng viết “Hệ kim vu nê, nhu đạo khiên dã” – hào Sáu Đầu phải giữ đạo nhu thuận, chựu sự khống chế của dương cứng.</p>
<p>2. Ất Sửu - Địa Lôi Phục, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, trung hàng độc phục”</p>
<p>- “Sáu Bốn, ở giữa hàng chính, một lòng trở lại.”</p>
<p>- Tượng viết “Trung hàng độc phục, dĩ tòng đạo dã” – hào Sáu Bốn theo về chính đạo.</p>
<p>3. Bính Dần – Sơn Hỏa Bí, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, bạch bí, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Trên, văn sức bằng mầu trắng không diêm dúa, không có cữu hại”</p>
<p>- Tượng “Bạch bí vô cữu, thượng đắc chí dã” – hào Chín Trên hết sức toại chí do đạo văn sức chuộng về chất.</p>
<p>4. Đinh Mão - Trạch Thủy Khốn, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, khốn vu tửu thực, chu phất phương lai, lợi dụng hưởng tự ; chinh hung, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Hai, riệu thịt mà nghèo nàn, cùng khốn, vinh lộc sẽ tới, lợi về sự chủ trì đại lễ tế tự nơi tông miếu ; lúc này tiến thủ tuy nhiều hung hiểm, nhưng không có gì cữu hại”</p>
<p>- Tượng “Khốn vu tửu thực, trung hữu khánh dã” – hào Chín Hai chỉ cần giữ vững đạo giữa thì sẽ có phúc khánh.</p>
<p>5. Mậu Thìn - Thủy Trạch Tiết, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, bất xuất môn đình, hung”</p>
<p>- “Chín Hai, (cố chấp mà tiết chế) không ra khỏi sân nhà, có hung hiểm.</p>
<p>- Tượng “Bất xuất môn đình, thất thời cực dã” – hào Chín Hai lỡ mất thời cơ thích hợp.</p>
<p>6. Kỷ Tị - Hỏa Sơn Lữ, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, điểu phần kì sào, lữ nhân tiên tiếu, hậu hào đào ; táng ngưu vu dị, hung”</p>
<p>- “Chín Trên, tổ chim trên cành cao bị cháy, kẻ lữ khách trước được ngôi cao vui mừng cười nói, sau bị tai ương kêu gào khóc lóc ; giống như mất trâu nơi bơt ruộng hoang xa, có hung hiểm”</p>
<p>- Tượng “Dĩ lữ tại thượng, kì nghĩa phần dã ; táng ngưu vu dị, chung mạc chi văn dã” – Làm một kẻ lữ khách, mà lại ở cao ngôi trên, về lý thì tất gặp họa cháy tổ ; mất trâu nơi cánh đồng hoang xa, nói lên hào Chín Trên ăn nhờ ở đậu gặp họa, cuối cùng sẽ không người hay biết.</p>
<p>7. Canh Ngọ - Lôi Địa Dự, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, do dự, đại hữu đắc ; vật nghi, bằng hạp trâm”</p>
<p>- “Chín Bốn, người khác nhờ ta mà vui, ta có thể thành công lớn được ; cứ thẳng thắn đừng nghi ngờ gì, bè bạn sẽ tụ tập lại theo ta, như cả đám tóc được gài lại nơi chiếc châm cài đầu”.</p>
<p>- Tượng “Do dự đại hữu đắc, chí đại hành dã” – Chí dương cứng của hào Chín Bốn được thực hành nhiều.</p>
<p>8. Tân Mùi – Phong Thiên Tiểu súc, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, hữu phu ; huyết khứ thích xuất, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Bốn, nếu có sự thành tín với dưới thì sẽ tránh được sự buồn phiền, thoát được sự sợ hãi, như vậy tất sẽ “vô cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Hữu phu thích xuất, thượng hợp chí dã” – hào Sáu Bốn có ý chí tương hợp với bậc tôn thượng dương cứng.</p>
<p>9. Nhâm Thân – Thiên Phong Cấu, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, dĩ khởi bao qua ; hàm chương, hữu vẫn tự nhiên”</p>
<p>- “Chín Năm, lấy cành lá cây khởi bao bọc che chở cây dưa hấu ở dưới ; trong lòng ngậm chứa sự sáng đẹp, tất nhiên có sự ngộ hợp lý tưởng từ trên trời xuống”.</p>
<p>- Tượng “Cửu Ngũ hàm chương, trung chính dã ; hữu vẫn tự nhiên, chí bất xả mệnh dã” – Trong lòng hào Chín Năm ngậm chứa sự sáng đẹp, là do ở ngôi giữa, giữ chính ; tất nhiên có sự ngộ hợp lý tưởng từ trời xuống, nói lên tâm chí Chín Năm không đi ngược mệnh trời.</p>
<p>10. Quý Dậu – Địa Lôi Phục, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, mê phục, hung, hữu tai sảnh. Dụng hành sư, chung hữu đại bại ; dĩ kì quốc, quân hung: chí vu thập niên bất khắc chính”</p>
<p>- “Sáu Trên, mê lạc nhầm bước không biết đường trở lại, có hung hiểm, có tai ương họa hoạn. Nếu như dùng vào việc đem binh giao chiến, thì cuối cùng sẽ thảm bại ; dùng vào việc trị nước, điều hành chính sự, tất làm cho nước loạn, vua gặp hung hiểm, cho đến mười năm sau cũng không thể chấn hưng phát triển”.</p>
<p>- Tượng “Mê phục chi hung, phản quân đạo dã” – Do bởi Sáu Trên đi ngược với con đường, của đạo quân chủ dương cứng.</p>
<p>11. Giáp Tuất – Thiên Phong Cấu, hào 6 (11 = 59)</p>
<p>- “Thượng Cửu, cấu kỳ giác ; lận, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Trên, gặp nơi trống vắng ; lòng có hối tiếc, nhưng không gặp cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Cấu kỳ giác, thượng cùng lận dã” – hào Chín Trên ở cao nơi cùng cực, nên dẫn đến sự hối tiếc là tương ngộ mà không người.</p>
<p>12. Ất Hợi - Địa Lôi Phục, hào 5 (12 = 60)</p>
<p>- “Lục Ngũ, đôn phục, vô hối”</p>
<p>- “Sáu Năm, đôn hậu, dốc lòng thành trở lại, không có gì phải hối hận”.</p>
<p>- Tượng “Đôn phục vô hối, trung dĩ tự khảo dã” – Ý nghĩa hào Sáu Năm ở ngôi giữa không lệch, đồng thời có thể tự xét mình, để thành được đạo phục thiện.</p>
<p>13. Bính Tý – Sơn Hỏa Bí, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, bí vu khâu viên, thúc bạch tiển tiển ; lận, chung cát”</p>
<p>- “Sáu Năm, văn sức ở gò vườn, mang một bó dải lụa mỏng (lễ vật đến mời kẻ hiền sỹ), mặc dù hào dưới không ứng mà có sự hối tiếc, nhưng hào trên lại ứng, cuối cùng sẽ tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Lục Ngũ chi cát, hữu hỷ dã” - Sự tốt lành của Sáu Năm nói lên tất có sự mừng.</p>
<p>14. Đinh Sửu - Trạch Thủy Khốn, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, khốn vu thạch, cứ vu tật lê ; nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung”</p>
<p>- “Sáu Ba, khốn ở dưới đá lớn (đá rắn khó vào), dựa vào cây tật lê (nhiều gai khó dẫm) ; dù có chạy về nhà cũng không thấy vợ, có hung hiểm.</p>
<p>- Tượng “Cứ vu tật lê, thặng cương dã ; nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, bất tường dã” - Dựa vào cây tật lê, nhiều gai khó dẫm, nói lên hào Sáu Ba lấy chất âm mềm cưỡi trên kẻ cương cường ; dù có chạy về nhà cũng không thấy vợ, đây là hiện tượng chẳng lành.</p>
<p>15. Mậu Dần - Thủy Trạch Tiết, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, bất xuất hộ đình, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Đầu, (tiết chế thận trọng giữ gìn), không ra khỏi sân cổng nhà, tất không có cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Bất xuất hộ đình, tri thông tắc dã” – Không ra khỏi sân cổng nhà, nói lên hào Chín Đầu rất biết lẽ đường thông thì đi, đường bị ngăn thì dừng.</p>
<p>16. Kỷ Mão - Hỏa Sơn Lữ, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, lữ tỏa tỏa, tư kỳ sở thủ tai”</p>
<p>- “Sáu Đầu, người lữ khách ngay từ đầu đã có hành động nhỏ nhen, ti tiện, ấy là tự chuốc lấy họa”.</p>
<p>- Tượng “Lữ tỏa tỏa, chí cùng tai dã” – Ngay từ đầu đã có hành động nhỏ nhen ti tiện, nói lên hào Sấu Đầu ý chí quẫn bách, tự chuốc lấy tai họa.</p>
<p>17. Canh Thìn – Lôi Địa Dự, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, vu dự hối ; trì hữu hối”</p>
<p>- “Hào Sáu Ba, xun xoe với trên để cầu vui, tất hối hận ; nếu tỉnh ngộ chậm tất lại sinh hối hận”.</p>
<p>- Tượng “Vu dự hữu hối, vị bất đáng dã” – Xun xoe tất có hối hận, nói lên hào Sáu Ba ngôi vị không chính đáng.</p>
<p>18. Tân Tị - Phong Thiên Tiểu súc, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, hữu phu loan như, phú dĩ kỳ lân”</p>
<p>- “Chín Năm, có lòng thành tín, liên kết cả bầy dương cùng có lòng thành tín với một âm, dùng cái cứng của dương để làm giầu cho làng giềng”</p>
<p>- Tượng “Hữu phu loan như, bất độc phú dã” – Liên kết bầy dương thành tín với một âm, nói lên hào Chín Năm không riêng hưởng sự giầu có dương cứng.</p>
<p>19. Nhâm Ngọ - Thiên Phong Cấu, hào 4 (19 = 31)</p>
<p>- “Cửu Tứ, bào hữu ngư, khởi hung”</p>
<p>- “Chín Bốn, trong bếp mất một con cá, nổi lên sự cãi nhau, tất có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “Vô ngư chi hung, viễn dân dã” - Mất một con cá là có hung hiểm, nói lên hào Chín Bốn ở quẻ trên, cũng như xa cách hạ dân, mất lòng dân.</p>
<p>20. Quý Mùi - Địa Lôi Phục, hào 1. (20 = 32)</p>
<p>- “Sơ Cửu, bất viễn phục, vô chỉ hối, nguyên cát”</p>
<p>- “Chín Đầu, chưa được bao xa đã quay trở lại đường chính, tất không gặp tai họa, không phải hối hận, hết sức tốt lành.</p>
<p>- Tượng “Bất viễn chi phục, dĩ tu thân dã” - Khởi đầu không xa đã quay trở lại, nói lên hào Chín Đầu khéo về việc sửa đẹp bản thân.</p>
<p>21. Giáp Thân – Thiên Phong Cấu, hào 5 (9 = 21)</p>
<p>- “Cửu Ngũ, dĩ khởi bao qua ; hàm chương, hữu vẫn tự nhiên”</p>
<p>- “Chín Năm, lấy cành lá cây khởi bao bọc che chở cây dưa hấu ở dưới ; trong lòng ngậm chứa sự sáng đẹp, tất nhiên có sự ngộ hợp lý tưởng từ trên trời xuống”.</p>
<p>- Tượng “Cửu Ngũ hàm chương, trung chính dã ; hữu vẫn tự nhiên, chí bất xả mệnh dã” – Trong lòng hào Chín Năm ngậm chứa sự sáng đẹp, là do ở ngôi giữa, giữ chính ; tất nhiên có sự ngộ hợp lý tưởng từ trời xuống, nói lên tâm chí Chín Năm không đi ngược mệnh trời.</p>
<p>22. Ất Dậu - Địa Lôi Phục, hào 6 (10 = 22)</p>
<p>- “Thượng Lục, mê phục, hung, hữu tai sảnh. Dụng hành sư, chung hữu đại bại ; dĩ kì quốc, quân hung: chí vu thập niên bất khắc chính”</p>
<p>- “Sáu Trên, mê lạc nhầm bước không biết đường trở lại, có hung hiểm, có tai ương họa hoạn. Nếu như dùng vào việc đem binh giao chiến, thì cuối cùng sẽ thảm bại ; dùng vào việc trị nước, điều hành chính sự, tất làm cho nước loạn, vua gặp hung hiểm, cho đến mười năm sau cũng không thể chấn hưng phát triển”.</p>
<p>- Tượng “Mê phục chi hung, phản quân đạo dã” – Do bởi Sáu Trên đi ngược với con đường, của đạo quân chủ dương cứng.</p>
<p>23. Bính Tuất – Sơn Hỏa Bí, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, bí như, bà như, bạch mã hàn như ; phỉ khấu, hôn cấu”</p>
<p>- “Sáu Bốn, văn đức được đẹp đẽ thanh bạch đến nhường ấy, toàn thân một mầu trắng toát tới nhường ấy, ngồi trên con ngựa trắng lại thuần khiết vô tạp thanh bạch tới nhường ấy ; phía trước không có giặc mạnh, mà là lễ ăn hỏi của đôi giai ngẫu”.</p>
<p>- Tượng “Lục Tứ đương vị, nghi dã ; ‘phỉ khấu hôn cấu’, chung vô vưu dã” – hào Sáu Bốn đáng ngôi được chính, nhưng trong lòng mang mối nghi ngờ, sợ hãi ; Không phải giặc mạnh mà là lễ ăn hỏi, nói lên Sáu Bốn cứ bắt chấp đi đến và rút cục trong lòng không có sự oán trách gì.</p>
<p>24. Đinh Hợi - Trạch Thủy Khốn, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, lai từ từ, khốn vu kim xa, lận, hữu chung”</p>
<p>- “Chín Bốn, bị một cỗ xe sắt chặn lại, có điều ân hận ; nhưng cuối cùng được phối ngẫu như nguyện”.</p>
<p>- Tượng “Lai từ từ, chí tại hạ dã, tuy bất đương vị, hữu dư dã” - Đến một cách từ từ nghi ngại, tâm chí Chín Bốn ở nơi cầu hợp với hào Sáu Đầu ở dưới ; mặc dầu ngôi vị không thỏa đáng, nhưng do đến một cách khiêm cẩn, nên tất có thể đẹp lòng như nguyện.</p>
<p>25. Mậu Tý - Thủy Trạch Tiết, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, khổ tiết ; trinh hung, hối vong”</p>
<p>- “Sáu Trên, tiết chế quá mức, khiến người ta quá khổ sở ; nên giữ vững chính bền để phòng hung hiểm, thì hối hận có thể tiêu vong”.</p>
<p>- Tượng “Khổ tiết trinh hung, kỳ đạo cùng dã” - Tiết chế quá mức khiến người ta quá khổ sở, nói lên đạo tiết chế của Sáu Trên đã khốn cùng.</p>
<p>26. Kỷ Sửu - Hỏa Sơn Lữ, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, lữ tức thứ, hoài kỳ tư, đắc đồng bộc, trinh”</p>
<p>- “Sáu Hai, kẻ lữ khách thuê ở nơi quán trọ, giữ được tiền bạc, lại có đầy tớ, nên giữ vững chính bền”.</p>
<p>- Tượng “Đắc đồng bộc trinh, chung vô vưu dã” – hào Sáu Hai cuối cùng sẽ không có gì phải quá oán.</p>
<p>27. Canh Dần – Lôi Địa Dự, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát”.</p>
<p>- “Sáu Hai, chí vững như đá, không đợi đến hết ngày (mà biết được rằng sự vui phải có mức độ), giữ vững chính bền thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Bất chung nhật trinh cát, dĩ trung chính dã” – Không đợi ngày mà biết, vì Sáu Hai đã trung, lại chính.</p>
<p>28. Tân Mão – Phong Thiên Tiểu súc, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, ký vũ ký xử, thượng đức tái ; phụ trinh lệ, nguyệt cơ vọng, quân tử chinh hung”.</p>
<p>- “Chín Trên, mây dầy đã đổ mưa, dương cứng đã bị ngăn cản, dương đức ở cực cao bị khí âm tích chứa ; lúc này người vợ phải giữ vững chính bền, để đề phòng nguy hiểm, phải như trăng sáng sắp tròn mà không quá đầy, người quân tử nếu cứ thẳng tiến sẽ gặp hung”.</p>
<p>- Tượng “Ký vũ ký xử, đức tính tái dã ; ‘quân tử chinh hung’, hữu sở nghi dã” - Thẳng tiến sẽ gặp hung, nếu cứ đi lên trước, thì sẽ khiến chất dương bị âm khí ngưng tụ làm cho biến hóa hết.</p>
<p>29. Nhâm Thìn – Thiên Phong Cấu, hào 3 (29 = 41)</p>
<p>- “Cửu Tam, đôn vu phu, kỳ hành tư thư ; lệ, vô đại cữu”</p>
<p>- “Chín Ba, mông mất da, đi lại chập chững khó tiến ; có nguy hiểm, nhưng không có cữu hại lớn”.</p>
<p>- Tượng “Kỳ hành tư thư, hành vi khiên dã” – Đi lại khó tiến, nói lên Chín Ba chưa từng khống chế được kẻ khác (vì vậy tuy không gặp được ai mà không bị hại về kẻ âm tà).</p>
<p>30. Quý Tị - Địa Lôi Phục, hào 2 (30 = 42)</p>
<p>- “Lục Nhị, hưu phục, cát”</p>
<p>- “Hào Sáu Hai, sự trở lại đẹp đẽ, tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Hưu phục chi cát, dĩ hạ nhân dã” – hào Sáu Hai có thể cúi xuống thân cận với người có đức nhân.</p>
<p>31. Giáp Ngọ - Thiên Phong Cấu, hào 4 (31 = 19)</p>
<p>- “Cửu Tứ, bào hữu ngư, khởi hung”</p>
<p>- “Chín Bốn, trong bếp mất một con cá, nổi lên sự cãi nhau, tất có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “Vô ngư chi hung, viễn dân dã” - Mất một con cá là có hung hiểm, nói lên hào Chín Bốn ở quẻ trên, cũng như xa cách hạ dân, mất lòng dân.</p>
<p>32. Ất Mùi - Địa Lôi Phục, hào 1 (32 = 20)</p>
<p>- “Sơ Cửu, bất viễn phục, vô chỉ hối, nguyên cát”</p>
<p>- “Chín Đầu, chưa được bao xa đã quay trở lại đường chính, tất không gặp tai họa, không phải hối hận, hết sức tốt lành.</p>
<p>- Tượng “Bất viễn chi phục, dĩ tu thân dã” - Khởi đầu không xa đã quay trở lại, nói lên hào Chín Đầu khéo về việc sửa đẹp bản thân.</p>
<p>33. Bính Thân – Sơn Hỏa Bí, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, bí như, nhu như, vĩnh trinh cát”</p>
<p>- “Chín Ba, văn sức được đẹp đẽ đến nhường ấy, nhiều lần ban huệ trạch cho người, giữ vững sự chính bền được lâu dài, sẽ được sự tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Vĩnh trinh chi cát, chung mạc chi lăng dã” – ‘Giữ vững chính bền được lâu dài, sẽ được sự tốt lành’, nói lên Chín Ba có thể làm được như vậy, thì không bao giờ bị kẻ khác lấn nhờn.</p>
<p>34. Đinh Dậu - Trạch Thủy Khốn, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, tị ngoạt, khốn vu xích phất ; nãi từ hữu thoát, lợi dụng tế tự”</p>
<p>- “Chín Năm, dùng hình phạt xẻo mũi, chặt chân, để trị chúng dân, đến nỗi ở ngôi tôn quý mà bị khốn cùng ; nhưng có thể dần dần thoát khỏi cảnh khốn, lợi về sự làm lễ tế”.</p>
<p>- Tượng “Tị ngoạt, chí vị đắc dã ; nãi từ hữu thoát, dĩ trung trực dã ; lợi dụng tế tự, thụ phúc dã” – Dùng hình phạt để trị chúng dân, nói lên tâm chí vượt khốn của Chín Năm chưa thể gọi là đạt ; ‘dần thoát khỏi cảnh khốn’, đây là kết quả của sự giữ vững đạo cương trung, chính trực ; ‘lợi làm tế lễ’, như vậy thì có thể thừa hưởng phúc trạch của thần linh ban giáng.</p>
<p>35. Mậu Tuất - Thủy Trạch Tiết, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, cam tiết, cát ; vãng hữu thượng”</p>
<p>- “Chín Năm, tiết chế một cách thích đáng, khiến người ta cảm thấy đẹp đẽ vừa phải, tốt lành ; tiến về phía trước, tất được tôn sùng”.</p>
<p>- Tượng “Cam tiết chi cát, vị cư trung dã” – Do bởi vậy là vì Chín Năm ở cao ngôi giữa, được chính.</p>
<p>36. Kỷ Hợi - Hỏa Sơn Lữ, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, lữ phần kỳ thứ, táng kỳ đồng bộc, trinh lệ”</p>
<p>- “Chín Ba, kẻ lữ khách (quá cứng nóng vội), bị cháy nhà trọ, lạc mất đầy tớ ; nên giữ vững chính bề đề phòng hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “Lữ phần kỳ thứ, diệc dĩ thương hỹ ; dĩ lữ dữ hạ, kỳ nghĩa táng dã” - Bị cháy nhà trọ, cũng do vậy mà Chín Ba bị tổn thương ; kẻ lữ khách mà chuyên gia ơn cho kẻ dưới, lẽ tất nhiên sẽ dẫn đến táng vong.</p>
<p>37. Canh Tý – Lôi Địa Dự, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, minh dự, hung”</p>
<p>- “Sáu Đầu, quá vui mà reo mừng đắc ý, có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “Sơ lục minh dự, chí cùng hung dã” – Quá vui, chí cùng cực của sự vui vẻ sẽ đưa đến hung hiểm.</p>
<p>38. Tân Sửu – Phong Thiên Tiểu súc, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, phục tự đạo, hà kỳ cữu ? cát”</p>
<p>- “Chín Đầu, trở về đạo dương cứng của mình, có cữu hại gì đâu ? Tốt lanh”.</p>
<p>- Tượng “Phục tự đạo, kỳ nghĩa cát dã” – Quay trở về đạo dương cứng của mình, hành vi của Chín Đầu là thích hợp, có được sự tốt lành.</p>
<p>39. Nhâm Dần – Thiên Phong Cấu, hào 2 (39 = 51)</p>
<p>- “Cửu nhị, bao hữu ngư, vô cữu ; bất lợi tân”.</p>
<p>- “Chín Hai, trong bếp có một con cá, không có gì cữu hại ; nhưng bất lợi nếu cứ tự tiện dùng nó để mời tiếp khách”.</p>
<p>- Tượng “Bào hữu ngư, nghĩa bất cập tân dã” – Trong bếp thấy có một con cá, xét theo ý nghĩa về sự không tương ứng giữa Chín Hai và Sáu Đầu, thì không thể tự tiện dùng (cá) để mời khách đến ăn.</p>
<p>40. Quý Mão - Địa Lôi Phục, hào 3 (40 = 52)</p>
<p>- “Lục Tam, tần phục, lệ vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, nhăn mày gắng gượng trở lại, tuy có nguy hiểm nhưng không có cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Tần phục chi lệ, nghĩa vô cữu dã” - Sự nguy hiểm của việc nhăn mày gắng gượng trở lại, xét về nghĩa của vật hào Sáu Ba cố gắng phục thiện thì không có cữu hại.</p>
<p>41. Giáp Thìn – Thiên phong Cấu, hào 3 (41 = 29)</p>
<p>- “Cửu Tam, đôn vu phu, kỳ hành tư thư ; lệ, vô đại cữu”</p>
<p>- “Chín Ba, mông mất da, đi lại chập chững khó tiến ; có nguy hiểm, nhưng không có cữu hại lớn”.</p>
<p>- Tượng “Kỳ hành tư thư, hành vi khiên dã” – Đi lại khó tiến, nói lên Chín Ba chưa từng khống chế được kẻ khác (vì vậy tuy không gặp được ai mà không bị hại về kẻ âm tà).</p>
<p>42. Ất Tị - Địa Lôi Phục, hào 2 (42 = 30)</p>
<p>- “Lục Nhị, hưu phục, cát”</p>
<p>- “Sáu Hai, sự trở lại đẹp đẽ, tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Hưu phục chi cát, dĩ hạ nhân dã” – hào Sáu Hai có thể cúi xuống thân cận với người có đức nhân.</p>
<p>43. Bính Ngọ - Sơn Hỏa Bí, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, bí kỳ tu”</p>
<p>- “Sáu Hai, văn sức bộ râu đẹp cho bậc tôn quý”.</p>
<p>- Tượng “Bí kỳ tu, dĩ thưỡng hưng dã” – hào Sáu Hai và Chín Ba đồng tâm một lòng dấy lên văn sức cho nhau, Dựa theo ngôi vị chỗ đứng, được ngôi mà không ứng.</p>
<p>44. Đinh Mùi - Trạch Thủy Khốn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, khốn vu cát lũy, vu niết ngột ; viết động hối hữu hối, chinh cát”.</p>
<p>- “Sáu Trên, bị khốn trong đám sắn dây chằng chịt, lại bị khốn ở nơi lung lay nghiêng ngả, nên suy nghĩ một chút ; đã động rồi sau hối thì sẽ biết hối ngay, như vậy nếu đi lên tất được tốt lành.</p>
<p>- Tượng “Khốn vu cát lũy, vị đáng dã ; ‘động hối hữu hối’, cát hành dã” - Khốn trong đám sắn dây, nói lênđịa vị của Sáu Trên chưa từng ổn đáng. ‘động rồi sau hối’, nói lên cứ làm ngay đi thì có thể giải trừ khốn mà được tốt lành.</p>
<p>45. Mậu Thân - Thủy trạch Tiết, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, an tiết, hanh”</p>
<p>- “Sáu Bốn, yên lòng tự tiết chế, hanh thông”.</p>
<p>- Tượng “An tiết chi hanh, thừa tượng đạo dã” – hào Sáu Bốn nghiêm cẩn giữ đạo “thuận thừa” bậc tôn trưởng.</p>
<p>46. Kỷ Dậu - Hỏa Sơn Lữ, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, lữ vu xử, đắc kỳ tư phủ, ngã tâm bất khoái”</p>
<p>- “Chín Bốn, kẻ lữ khách chưa được yên ổn tại nơi ở tạm, như được búa sắc chặt bỏ gai góc, nhưng trong long ta chẳng sướng”.</p>
<p>- Tượng “Lữ vu xử, vị đắc vị dã” – Chín Bốn chưa thể được ở ngôi chính đáng.</p>
<p>47. Canh Tuất – Lôi Địa Dự, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, minh dự thành, hữu du vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Trên, đã thành hậu quẻ xấu, vì mê muội trong hoan lạc, sửa lỗi sơm thì không nguy hại”.</p>
<p>- Tượng “Minh dự tại thượng, hà khả trường dã” - Mệ muội trong hoan lạc ở ngôi trên, sự vui vẻ này làm sao có thể giữ được lâu dài.</p>
<p>48. Tân Hợi – Phong Thiên Tiểu súc, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, khiên phục, cát”</p>
<p>- “Chín Hai, được dắt quay trở lại đạo dương cứng, tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Khiên phục tại trung, diệc bất tự thất dã” - được quay trở lại đọa dương cứng, ở ngôi giữa, nói lân hào Chín Hai cũng có thể không để từ mất dương đức.</p>
<p>49. Nhâm Tý – Thiên Phong Cấu, hào 1 (1= 49)</p>
<p>- “Hệ vu kim nê, trinh cát ; hữu du vãng, kiến hung, luy thỉ phu trịnh trục”</p>
<p>- “Sáu Đầu, chặn ngay nó lại bằng cái “phanh” nhạy, cứng chắc, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; nếu vội đi lên thì tất nhiên sẽ có hung hiểm, giống như lợn cái nhảy nhót lung tung không thể ở yên”.</p>
<p>- Tượng viết “Hệ kim vu nê, nhu đạo khiên dã” – hào Sáu Đầu phải giữ đạo nhu thuận, chựu sự khống chế của dương cứng.</p>
<p>50. Quý Sửu - Địa Lôi Phục, hào 4 (2 = 50)</p>
<p>- “Lục Tứ, trung hàng độc phục”</p>
<p>- “Sáu Bốn, ở giữa hàng chính, một lòng trở lại”</p>
<p>- Tượng “Trung hàng độc phục, dĩ tòng đạo dã” – hào Sáu Bốn theo về chính đạo.</p>
<p>51. Giáp Dần – Thiên Phong Cấu, hào 2 (51 = 39)</p>
<p>- “Cửu Nhị, bao hữu ngư, vô cữu ; bất lợi tân”.</p>
<p>- “Chín Hai, trong bếp có một con cá, không có gì cữu hại ; nhưng bất lợi nếu cứ tự tiện dùng nó để mời tiếp khách”.</p>
<p>- Tượng “Bào hữu ngư, nghĩa bất cập tân dã” – Trong bếp thấy có một con cá, xét theo ý nghĩa về sự không tương ứng giữa Chín Hai và Sáu Đầu, thì không thể tự tiện dùng (cá) để mời khách đến ăn.</p>
<p>52. Ất Mão - Địa Lôi Phục, hào 3 (52 = 40)</p>
<p>- “Lục Tam, tần phục, lệ vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, nhăn mày gắng gượng trở lại, tuy có nguy hiểm nhưng không có cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Tần phục chi lệ, nghĩa vô cữu dã” - Sự nguy hiểm của việc nhăn mày gắng gượng trở lại, xét về nghĩa của vật hào Sáu Ba cố gắng phục thiện thì không có cữu hại.</p>
<p>53. Bính Thìn – Sơn Hỏa Bí, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, bí kỳ chỉ, xả xa nhi đồ”</p>
<p>- “Chín Đầu, văn sức cho ngón chân của mình, bỏ xe lớn mà cam lòng đi bộ”</p>
<p>- Tượng “Xả xa nhi đồ, nghĩa phất thừa dã” – Cam lòng đi bộ, là do xét về ngôi vị mà hào Chín Đầu đang ở thì không nên đi xe lớn. Bỏ thuyền xuống nước. Bỏ chỗ ích lợi mà tìm đến nơi tổn hại.</p>
<p>54. Đinh Tị - Trạch Thủy Khốn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất dịch”</p>
<p>- “Sáu Đầu, mông bị khốn ở dưới gốc cây, không thể ở yên, chỉ lui vào nơi sơn cốc u tối, ba năm không thấy ló mặt.</p>
<p>- Tượng “Nhập u vu cốc, u bất minh dã” - Chỉ còn cách lui vào nơi sơn cốc u tối, nói lên hào Sáu Đầu ẩn thân tạm bợ nơi u ám, không sáng sủa.</p>
<p>55. Mậu Ngọ - Thủy Trạch Tiết, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, bất tiết nhược, tắc ta nhược, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Ba, không tiết chế được, nhưng biết than vãn tự hối, thì có thể tránh được cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Bất tiết chi ta, hựu thùy cữu dã” – Không tiết chế được, nhưng biết tự hối, hỏi còn kẻ nào dám đổ lỗi cho nữa !</p>
<p>56. Kỷ Mùi - Hỏa Sơn Lữ, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, xạ trĩ, nhất thỉ vong ; chung dĩ dự mệnh”</p>
<p>- “Sáu Năm, bắn con chim trĩ, mất một mũi tên (mặc dù có tổn thất nhưng), sau được tiếng khen và được ban tước lệnh.</p>
<p>- Tượng “Chung dĩ cư mệnh, thượng đãi dã” - Được khen và ban tước mệnh, nói lên Sau Năm có thể theo kịp người trên.</p>
<p>57. Canh Thân – Lôi Địa Dự, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, trinh tật, hằng bất tử”</p>
<p>- “Sáu Năm, giữ chính phòng bệnh, tất sẽ khỏe lâu không chết”</p>
<p>- Tượng “Lục Ngũ trinh tật, thừa cương dã ; hằng bất tử, trung vị vong dã” – Hào Sáu Năm tất phải giữ chính phòng bệnh, nói lên âm mềm đội dương cứng khó tránh nguy hiểm hoạn nạn ; ‘Khỏe lâu không chết’, là vì ở giữa không lệch, thì vị tất đã bại vong.</p>
<p>58. Tân Dậu – Phong Thiên Tiểu súc, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, dư thoát bức, phu thê phản mục”</p>
<p>- “Chín Ba, nan hoa bánh xe đứt hết, vợ chồng ly dị mỗi người một hướng”.</p>
<p>- Tượng “Phu thê phản mục, bất năng chính thất dã” - Vợ chồng ly dị, hào Chín Ba không làm cho nhà cửa được nghiêm chỉnh.</p>
<p>59. Nhâm Tuất – Thiên Phong Cấu, hào 6 (59 = 11)</p>
<p>- “Cấu kỳ giác ; lận, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Trên, gặp nơi trống vắng ; lòng có hối tiếc, nhưng không gặp cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Cấu kỳ giác, thượng cùng lận dã” – hào Chín Trên ở cao nơi cùng cực, nên dẫn đến sự hối tiếc là tương ngộ mà không người.</p>
<p>60. Quý Hợi - Địa Lôi Phục, hào 5 (60 = 12)</p>
<p>- “Lục Ngũ, đôn phục, vô hối”</p>
<p>- “Sáu Năm, đôn hậu, dốc lòng thành trở lại, không có gì phải hối hận”.</p>
<p>- Tượng “Đôn phục vô hối, trung dĩ tự khảo dã” – Ý nghĩa hào Sáu Năm ở ngôi giữa không lệch, đồng thời có thể tự xét mình, để thành được đạo phục thiện.</p>
<p><span style="color:#800080;"><strong><strong>CHU KỲ 3</strong></strong></span></p>
<p>................................ĐỈNH</p>
<p>......GIA NHÂN................................LÂM</p>
<p>...GIẢI........................+.........................TỤY</p>
<p>......ĐẠI SÚC..................................ĐỘN</p>
<p>................................TRUÂN</p>
<p>1. Giáp Tý – Thiên Sơn Độn, hào 1 (G. Tý – N. Tý) (1 = 49)</p>
<p>- “Sơ lục, độn vỹ ; lệ, vật dụng hữu du vãng”</p>
<p>- “Sáu Đầu, trốn tránh không kịp mà lại rơi vào phần đuôi, có nguy hiểm, không nên có sự đi”.</p>
<p>- Tượng “Độn vỹ chi lệ, bất vãng, hà tai dã” - Trốn tránh lại rơi vào phần đuôi có nguy hiểm, nhưng lúc này, nếu không đi lên phía trước, thì có tai họa gì đâu !</p>
<p>2. Ất Sửu - Địa Trạch Lâm, hào 4 (2 = 50)</p>
<p>- “Lục Tứ, chí lâm, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Bốn, hết sức gìn giữ để tới gần giám sát mọi người, tất vô cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Chí lâm vô cữu, vị đáng dã” – hào này ở ngôi chính đáng.</p>
<p>3. Bính Dần – Sơn Thiên Đại súc, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, hà thiên chi cù, hanh”</p>
<p>- “Chín Trên, đường trời sao mà thông suốt đến vậy, hanh thông”</p>
<p>- “Tượng “Hà thiên chi cù, đạo đại hành dã” – nói rằng, đạo chứa đức của Chín Trên hết sức thông suốt”.</p>
<p>4. Đinh Mão - Trạch Địa Tụy, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, dẫn cát, vô cữu ; phu nãi lợi dụng Thược”</p>
<p>- “Sáu Hai, được người dẫn dắt mà tụ hội với nhau thì được tốt lành, không dẫn đến cưu hại ; chỉ cần trong lòng thành tín, thì sẽ làm cho lễ “tế Thược” đơn sơ cũng lợi về sự dâng hiến cho thần linh”</p>
<p>- Tượng “Dẫn cát vô cữu, trung vị biến dã” – Tâm chí ở ngôi giữa giữ chính đạo của Sáu Hai chưa từng biến đổi.</p>
<p>5. Mậu Thìn - Thủy Lôi Truân, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, Truân như, chiên như. Thừa mã ban như, phỉ khấu hôn cấu, nữ tử trinh bất tự, thập niên nãi tự”</p>
<p>- “Sáu Hai, thời khai sáng buổi đầu rất nhiều gian nan, dùng dằng loanh quanh chẳng tiến. Người cưỡi ngựa dập dừu tới, nhưng họ không phải là bọn cường đạo, mà là những người đến cầu hôn ; Người con gái giữ vững chính bền không vội lấy chồng, chờ mười năm sau mới kết lương duyên”</p>
<p>- Tượng “Lục nhị chi nan, thừa cương dã ; thập niên nãi tự, phản thường dã” – Sáu Hai khó đi không tiến, là do âm mềm cưỡi trên dương cứng. Chờ mười năm là để nói ý “nan cực thì đến lúc thông”, mọi việc lại quay trở lại bình thường.</p>
<p>6. Kỷ Tị - Hỏa Phong Đỉnh, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, đỉnh ngọc huyễn, đại cát, vô bất lợi”</p>
<p>- "Chín Trên, vạc có đòn bằng ngọc, hết sức tốt lành, không gì không lợi”</p>
<p>- Tượng “Ngọc huyễn tại thượng, cương nhu tiết dã” – Đòn vạc bằng ngọc ở cao phía trên, là chỉ Chín Trên dương cứng có thể điều tiết bằng âm mềm.</p>
<p>7. Canh Ngọ - Lôi Thủy Giải, hào 4</p>
<p>- “Cửu tứ, giải nhi mẫu, bằng chí tư phu”</p>
<p>- “Chín Bốn, lìa bỏ kẻ tiểu nhân dính bám, giống như thư giải cái tật kín ở ngón chân cái, sau đó bạn bè mới tới mà ứng với lòng thành tín”</p>
<p>- Tượng “Giải nhi mẫu”, vị đáng vị dã” - rằng ngôi của Chín Bốn còn chưa thỏa đáng.</p>
<p>8. Tân Mùi – Phong Hỏa Gia nhân, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, phú gia, đại cát”</p>
<p>- “Sáu Bốn, làm giầu cho nhà, hết sức tốt lành”</p>
<p>- Tượng “Phú gia đại cát, thuận tại vị” – Làm giâu cho nhà, là do Sáu Bốn thụân, đội hào dương cứng ở ngôi tôn quý.</p>
<p>9. Nhâm Thân – Thiên Sơn Độn, hào 5 (9 = 21)</p>
<p>- “Cửu Ngũ, gia độn, trinh cát”</p>
<p>- “Chín Năm, kịp thời làm đẹp mà trốn lánh, giữ vững chính bền thì được tốt lành”</p>
<p>- Tượng “Gia độn trinh cát, dĩ chính chí dã” – Chín Năm có tâm chí lánh trốn chính đính.</p>
<p>10- Quý Dậu – Địa Trạch Lâm, hào 6 (10 = 22)</p>
<p>- “Thượng Lục, đôn lâm, cát, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Trên, ôn nhu đôn hậu mà tới với mọi người, tốt lành, tất vô cữu hại”</p>
<p>- Tượng “Đôn lâm chi cát, chí tại nội dã” – Ý tâm chí của Sáu Trên gắn bó với đất nước, thiên hạ.</p>
<p>11. Giáp Tuất – Thiên Sơn Độn, hào 6 (11 = 59)</p>
<p>- “Thượng Cửu, phì đôn, vô bất lợi”</p>
<p>- “Chín Trên, cao chạy xa bay, không có gì không lợi”.</p>
<p>- Tượng “Phì độn vô bất lợi” – Chín Trên không hoài nghi lưu luyến gì.</p>
<p>12. Ất Hợi – Địa Trạch Lâm, hào 5 (12 = 60)</p>
<p>- “Lục Ngũ, tri lâm, đại quân chi nghi, cát”</p>
<p>- “Lục Ngũ, đến với mọi người bằng sự thông tuệ minh trí ; bậc đại quân vương nên như vậy, tốt lành”</p>
<p>- Tượng “Đại quân chi nghi, hành trung chi vị dã” - Bậc đại quân vương nên như vậy, nói lên Lục Ngũ tất phải đi theo trung đạo.</p>
<p>13. Bính Tý – Sơn Thiên đại súc, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, phần thỉ chi nha, cát”</p>
<p>- “Sáu Năm, bẻ nanh con lợn thiến, tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Lục Ngũ chi cát, hữu khánh dã” - cái tốt lành của Sáu Năm nói lên ý “ngăn kẻ mạnh” đúng phép, đáng được chúc mừng.</p>
<p>14. Đinh Sửu – Trạch Địa Tụy, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, tụy như ta như, vô du lợi ; vãng vô cữu, tiểu lận”.</p>
<p>- “Sáu Ba, (muốn) tụ hội (mà) không người, nên luôn miệng ca thán, không được lợi gì ; đi lên sẽ không có cữu hại, nhưng có sự đáng tiếc nhỏ”.</p>
<p>- Tượng “Vãng vô cữu, thượng tốn dã” – Đi lên trước không có cữu hại, nói lên Sáu Ba có thể hướng lên trên, thuận theo với dương cứng.</p>
<p>15. Mậu Dần – Thủy Lôi Truân, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu”.</p>
<p>- “Chín Đầu, loanh quanh, lợi về sự ở yên, giữ vững chính bền, lợi về việc kiến lập chư hầu”.</p>
<p>- Tượng “Tuy bàn hoàn, chí hành chính dã ; ‘dĩ quý hạ tiện’ đại đắc dân dã” - Mặc dầu loanh quanh, nhưng hành vi tâm chí đều giữ được đoan chính ; thân phận tôn quý mà lại ở ngôi thấp, nói lên Chín Đầu sẽ rất được lòng dân.</p>
<p>16. Kỷ Mão – Hỏa Phong Đỉnh, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, đỉnh điên chỉ, lợi xuất bĩ ; đắc thiếp dĩ kỳ tử, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Đầu, vạc đổ chổng chân, lợi về sự đổ đồ phế bỏ ; như lấy được người thiếp sinh ra con, đỡ đần người vợ cả, tất không cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Đỉnh điên chỉ, vị bội dã ; ‘lợi xuất bĩ’ dĩ tòng quý dã” - Vạc đổ chổng chân, vị tất đã là trái lẽ ; ‘Lợi về sự đổ đồ phế bỏ’ nói lên Sáu Đầu nên theo lên với bậc tôn quý (đợi đưa vật phẩm mới vào). Thải đồ phế bỏ để nhận vật mới.</p>
<p>17. Canh Thìn – Lôi Thủy Giải, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, phụ thả thừa, chí khấu chí ; trinh lận”.</p>
<p>- “Sáu Ba, mang đội vật nặng mà ngồi xe lớn, tất xúi bọn cướp đến cướp ; giữ vững chính bền để phòng hối tiếc”.</p>
<p>- Tượng “Phụ thử thừa, diệc khả xú dã, tự ngã chí nhung, hữu thùy cữu dã” – Mang đội vật nặng mà ngồi xe lớn, ấy là nói hành vi của Sáu Ba rất xấu xa, do bản thân không có đức, trộm ngôi mà đưa nạn binh nhung đến, như vậy thì còn quy lỗi vào ai được ?</p>
<p>18. Tân Tị - Phong Hỏa Gia nhân, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, vương cách hữu gia, vật tuất, cát”.</p>
<p>- “Chín Năm, đấng quân vương lấy đức đẹp cảm cách chúng dân, sau đó bảo vệ nhà mình, không phải lo lắng, tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Vương cách hữu gia, giao tương ái dã” - Lấy đức đẹp cảm cách chúng dân, nói lên lúc này người người đều thân ái, hòa mục với nhau.</p>
<p>19. Nhâm Ngọ - Thiên Sơn Độn, hào 4 (19 = 31)</p>
<p>- “Cửu Tứ, hiếu độn, quân tử cát, tiểu nhân bĩ”</p>
<p>- “Chín Bốn, trong lòng lưu luyến mà thân mình thì đã trốn lánh, người quân tử đương tốt lành, kẻ tiểu nhân không thể làm được”.</p>
<p>- Tượng “Quân tử hiếu độn, tiểu nhân bĩ dã” - Người quân tử trong lòng lưu luyến, mà thân thì đã trốn lánh, kẻ tiểu nhân không thể làm được. Cái “thần” của sự “tri cơ”, ai là người sẽ làm được vậy.</p>
<p>20. Quý Mùi – Địa Trạch Lâm hào 1 (20 = 32)</p>
<p>- “Sơ Cửu, hàm lâm, trinh cát”</p>
<p>- “Chín Đầu, cảm ứng với bậc tôn quý mà thực hiện việc “giám lâm”, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Hàm lâm trinh cát, chí hành chính dã” – Tâm chí và hành vi chí hướng của Chín Đầu đoan chính không a dua.</p>
<p>21. Giáp Thân – Thiên Sơn Độn, hào 5 (21 = 9)</p>
<p>- “Cửu Ngũ, gia độn, trinh cát”</p>
<p>- “Chín Năm, kịp thời làm đẹp mà trốn lánh, giữ vững chính bền thì được tốt lành”</p>
<p>- Tượng “Gia độn trinh cát, dĩ chính chí dã” – Chín Năm có tâm chí lánh trốn chính đính.</p>
<p>22. Ất Dậu – Địa Trạch Lâm, hào 6 (22 = 10)</p>
<p>- “Thượng Lục, đôn lâm, cát, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Trên, ôn nhu đôn hậu mà tới với mọi người, tốt lành, tất vô cữu hại”</p>
<p>- Tượng “Đôn lâm chi cát, chí tại nội dã” – Ý tâm chí của Sáu Trên gắn bó với đất nước, thiên hạ.</p>
<p>23. Bính Tuất – Sơn Thiên Đại súc, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, đồng ngưu chi cốc, nguyên cát”.</p>
<p>- “Sáu Bốn, buộc gông lên đầu nghé không sừng, hết sức tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Lục Tứ nguyên cát, hữu hỷ dã” – Sáu Bốn hết sức tốt lành, nói lên ý “ngăn kẻ mạnh” có phương pháp, đáng được vui mừng.</p>
<p>24. Đinh Hợi – Trạch Địa Tụy, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, đại cát, vô cữu”</p>
<p>- “Chín Bốn, hết sức tốt lành, tất không có cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Đại cát vỗ cữu, vị bất đáng dã” – Đã quá tốt lành, lại phải ‘tất không cữu hại’, nói lên ngôi vị của Chín Bốn còn rất không thỏa đáng.</p>
<p>25. Mậu Tý – Thủy Lôi Truân, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, thừa mã ban như, khấp huyết liên như”.</p>
<p>- “Sáu Trên, người cưỡi ngựa muốn cầu hôn phối (nhưng lại không có được sự cảm ứng), nên thương tâm khóc đến nỗi máu mắt chảy đầm đìa”.</p>
<p>- Tượng “Khấp huyết liên như, hà khả trường dã” – Khóc đến nỗi nước mắt chảy đầm đìa, nói lên Sáu Trên làm sao mà có thể trường cửu như vậy được.</p>
<p>26. Kỷ Sửu – Hỏa Phong Đỉnh, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, đỉnh hữu thực ; ngã cừu hữu tật, bất khả năng tức, cát”</p>
<p>- “Chín Hai, trong vạc chứa đầy vật phẩm ; người phối ngẫu với ta, thân có tật bệnh, tạm thời không đến làm tăng gánh nặng cho ta, tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Đỉnh hữu thực, thận sở chi dã ; ‘ngã cừu hữu tật’, chung vô vưu dã” – Trong vạc chứa đầy vật phẩm, ý nói rằng Chín Hai phải cẩn thận khi đi lên ; ‘người phối ngẫu với ta thân có tật bệnh’, nói lên Chín Hai tạm thời chưa ứng được với Sáu Năm, cuối cùng không có điều gì phải trách cứ.</p>
<p>27. Canh Dần – Lôi Thủy Giải, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ ; trinh cát”.</p>
<p>- “Chín Hai, đi săn bắt được ba con cáo, được mũi tên mầu vàng (tượng trưng cho đức trung thực) ; giữ vững chính bền thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Cửu Nhị trinh cát, đắc trung đạo dã” – Chín Hai giữ vững chính bền thì được tốt lành, nói lên được đạo ở giữa không lệch.</p>
<p>28. Tân Mão – Phong Hỏa Gia nhân, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, hữu phu, uy như, chung cát”</p>
<p>- “Chín Trên, lấy lòng chí thành, uy nghiêm để trị nhà, cuối cùng sẽ được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Uy như chi cát, phản thân chi vị dã” – Uy nghiêm trị nhà thì được tốt lành, ý trước tiên Chín Trên phải tu tỉnh mình, đòi hỏi phải nghiêm khắc ở chính bản thân mình.</p>
<p>29. Nhâm Thìn – Thiên Sơn Độn, hào 3 (29 = 41)</p>
<p>- “Cửu Tam, hệ độn, hữu tật lệ ; súc thần thiếp, cát”</p>
<p>- “Chín Ba, trong lòng chựu sự ràng buộc, lưu luyến, không thể trốn lánh, sẽ bị tật bệnh, nguy hiểm ; nếu nuôi đầy tớ, nàng hầu thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Hệ độn, chi lệ, hữu tật bị dã ; ‘súc thần thiếp cát’, bất khả đại sự dã” - Sự ràng buộc trong lòng dẫn đến nguy hiểm, nói lên Chín Ba sẽ gặp tật bệnh, cực kỳ gầy yếu ; ‘nuôi đầy tớ nàng hầu thì tốt’, nói lên Chín Ba không thể làm việc lớn như việc trị nước.</p>
<p>30. Quý Tị - Địa Trạch Lâm, hào 2 (30 = 42)</p>
<p>- “Cửu Nhị, hàm lâm cát, vô bất lợi”</p>
<p>- “Chín Hai, cảm ứng với bậc tôn quý mà thực hiện sự “giám lâm”, tốt lành, không gì không lợi”.</p>
<p>- Tượng “Hàm lâm cát vô bất lợi, vị thuận mệnh dã” - Thực hiện sự giám lâm, nói lên Chín Hai thật ra không phải là do thuận theo mệnh vua.</p>
<p>31. Giáp Ngọ - Thiên Sơn Độn, hào 4 (31 = 19)</p>
<p>- “Cửu Tứ, hiếu độn, quân tử cát, tiểu nhân bĩ”</p>
<p>- “Chín Bốn, trong lòng lưu luyến mà thân mình thì đã trốn lánh, người quân tử đương tốt lành, kẻ tiểu nhân không thể làm được”.</p>
<p>- Tượng “Quân tử hiếu độn, tiểu nhân bĩ dã” - Người quân tử trong lòng lưu luyến, mà thân thì đã trốn lánh, kẻ tiểu nhân không thể làm được. Cái “thần” của sự “tri cơ”, ai là người sẽ làm được vậy.</p>
<p>32. Ất Mùi – Địa Trạch Lâm, hào 1 (32 = 20)</p>
<p>- “Sơ Cửu, hàm lâm, trinh cát”</p>
<p>- “Chín Đầu, cảm ứng với bậc tôn quý mà thực hiện việc “giám lâm”, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Hàm lâm trinh cát, chí hành chính dã” – Tâm chí và hành vi chí hướng của Chín Đầu đoan chính không a dua.</p>
<p>33. Bính Thân – Sơn Thiên Đại súc, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, lương mã trục, lợi gian trinh ; nhật nhàn dư vệ, lợi hữu du vãng”</p>
<p>- “Chín Ba, ngựa tốt hay rong ruổi, lợi về nhớ kỹ sự gian nan, giữ vững chính bền ; không ngừng rèn luyện kỹ năng phòng vệ của ngựa xe ; lợi về có sự đi”.</p>
<p>- Tượng “Lợi hữu du vãng, thượng hợp chí dã” - Lợi về có sự đi, nói lên ý Chín Ba hợp chí với Chín Trên.</p>
<p>34. Đinh Dậu – Trạch Địa Tụy, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, tụy hữu vị, vô cữu, phỉ phu ; nguyên vĩnh trinh, hối vong”.</p>
<p>- “Chín Năm, ở thời hội tụ, ở nơi cao tôn quý không bị cữu hại, nhưng còn chưa được sự tin rộng của chúng dân ; là một vị quân trưởng có đức, nên giữ vững chính bền mãi mãi không đổi thay, thì sự hối hận tất sẽ mất”.</p>
<p>- Tượng “Tụy hữu vị, chí vị quang dã” - Thời hội tụ ở cao ngôi tôn quý, nói lên tâm chí hội tụ thiên hạ của Chín Năm còn chưa sáng lớn.</p>
<p>35. Mậu Tuất – Thủy Lôi Truân, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, truân kỳ cao. Tiểu, trinh cát ; đại, trinh hung.</p>
<p>- “Chín Năm, muốn khắc sự gian nan thời khai sáng buổi đầu, cần rộng ban bố ân trạch. Việc nhỏ, giữ được chính bền thì tốt ; việc lớn, giữ được chính bền để phòng hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng “Truân kỳ cao, thi vị quang dã” - Cần rộng ban bố ân trạch, ý nói đức trạch của Chín Năm ban bố còn chưa tỏa sáng.</p>
<p>36. Kỷ Hợi – Hỏa Phong Đỉnh, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, đỉnh nhĩ cách, kỳ hành tắc ; phương vũ khuy hối, chung cát”</p>
<p>- Chín Ba, tai vạc đang bị biến dạng, chỗ xỏ gậy để khênh ở tai vạc bị tịt ; món trĩ hầm thơm ngon, tinh khiết chưa đem ra cho người ăn được, đợi đến khi có trận mưa dầm âm dương điều hòa, tất sẽ không còn hối hận nữa, về cuối sẽ được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Đỉnh nhĩ cách, thất kỳ nghĩa dã” – Tai vạc bị biến dạng, nói lên Chín Ba mất sự thích nghi ở khoảng trống giữa.</p>
<p>37. Canh Tý – Lôi Thủy Giải, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Đầu, (hiểm nạn mới bắt đầu được giải) không có gì cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Cương nhu chi tế, nghĩa vô cữu dã” – Sáu Đầu giao tiếp cùng Chín Bốn, tương ứng với nhau, xét về lẽ thư giải hiểm nạn, thì tất nhiên không có gì cữu hại.</p>
<p>38. Tân Sửu – Phong Hỏa Gia nhân, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, nhàn hữu gia, hối vong”.</p>
<p>- “Chín Đầu, phòng ngừa tà ác, sau đó bảo vệ gia đình mình, hối hận sẽ tiêu vong”.</p>
<p>- Tượng “Nhàn hữu gia, chí vị biến dã” – Phòng ngừa tà ác, bảo vệ gia đình mình, đó là nói lên Chín Đầu cần phòng ngừa khi ý chí còn chưa thay đổi.</p>
<p>39. Nhâm Dần – Thiên Sơn Độn, hào 2 (39 = 51)</p>
<p>- “Lục Nhị, chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi thắng thoát”.</p>
<p>- “Sáu Hai, bị dây da bò trói chặt, không ai có thể cởi được”.</p>
<p>- Tượng “Chấp dụng hoàng ngưu, cố chí dã” - Bị dây da bò trói chặt, nói lên ý Sáu Hai có ý chí bền vững giúp cho thời, không lui.</p>
<p>40. Quý Mão – Địa Trạch Lâm, hào 3 (40 = 52)</p>
<p>- “Lục Tam, cam lâm, vô du lợi ; ký ưu chi, vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, dựa vào lời nói ngọt mà tới với mọi người thì không có lợi, nhưng nếu đã lo sửa lỗi của mình thì không cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Cam lâm, vị bất đáng dã, ‘ký ưu chi’, cữu bất trường dã” - Bằng lời nói ngọt mà tới với người, chỉ để bộc lộ ngôi vị của Sáu Ba không chính đáng ; ‘đã lo và biết sửa lỗi’, nói lên sự cữu hại không thể lâu dài.</p>
<p>41. Giáp Thìn – Thiên Sơn Độn, hào 3 (41 = 29)</p>
<p>- “Cửu Tam, hệ độn, hữu tật lệ ; súc thần thiếp, cát”</p>
<p>- “Chín Ba, trong lòng chựu sự ràng buộc, lưu luyến, không thể trốn lánh, sẽ bị tật bệnh, nguy hiểm ; nếu nuôi đầy tớ, nàng hầu thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Hệ độn, chi lệ, hữu tật bị dã ; ‘súc thần thiếp cát’, bất khả đại sự dã” - Sự ràng buộc trong lòng dẫn đến nguy hiểm, nói lên Chín Ba sẽ gặp tật bệnh, cực kỳ gầy yếu ; ‘nuôi đầy tớ nàng hầu thì tốt’, nói lên Chín Ba không thể làm việc lớn như việc trị nước.</p>
<p>42. Ất Tị - Địa Trạch Lâm, hào 2 (42 = 30)</p>
<p>- “Cửu Nhị, hàm lâm cát, vô bất lợi”</p>
<p>- “Chín Hai, cảm ứng với bậc tôn quý mà thực hiện sự “giám lâm”, tốt lành, không gì không lợi”.</p>
<p>- Tượng “Hàm lâm cát vô bất lợi, vị thuận mệnh dã” - Thực hiện sự giám lâm, nói lên Chín Hai thật ra không phải là do thuận theo mệnh vua.</p>
<p>43. Bính Ngọ - Sơn Thiên Đại súc, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, dư thoát phúc”.</p>
<p>- “Chín Hai, xe long moayơ không đi được”.</p>
<p>- Tượng “Dư thoát phúc, trung vô vưu dã” – nói lên ý Chín Hai ở ngôi giữa mà không nóng vội tiến lên, cho nên không phạm lỗi lầm.</p>
<p>44. Đinh Mùi – Trạch Địa Tụy, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, tê tư thế di, vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Trên, ta thán buồn than, lại đau đớn khóc lóc nước mắt nước mũi dàn dụa, có thể tránh được cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Tê tư thế di, vị an thượng dã” - Buồn than, lại đau đớn khóc lóc, nói lên hào Sáu Trên mong “tụ” không được, chưa thể ở yên tại ngôi trên cùng.</p>
<p>45. Mậu Thân – Thủy Lôi Truân, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, thừa mã ban như, cầu hôn cấu ; vãng cát, vô bất lợi”.</p>
<p>- “Sáu Bốn, cưỡi ngựa dập dừu tới, muốn cầu hôn ; đi lên tất sẽ tốt lành, không gì là không lợi.”</p>
<p>- Tượng “Cầu nhi vãng, minh dã” - Muốn cầu hôn ở phí dưới mà tiến lên, nói lên Sáu Bốn là kẻ sáng suốt, hiểu biết.</p>
<p>46. Kỷ Dậu – Hỏa Phong Đỉnh, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, giải nhi mẫu, bằng chí tư phu”.</p>
<p>- “Chín Bốn, lìa bỏ kẻ tiểu nhân dính bám, giống như thư giải cái tật kín ở ngón chân cái anh, sau đó bạn bè mới tới mà ứng với lòng thành tín”.</p>
<p>- Tượng “Giải nhi mẫu, vị đáng vị dã” – nói lên ngôi của Chín Bốn còn chưa thỏa đáng.</p>
<p>47. Canh Tuất – Lôi Thủy Giải, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chi, vô bất lợi”.</p>
<p>- “Sáu Trên, vương công bắn chim cắt đậu trên thành cao, một phát bắn trúng, không gì không lợi”.</p>
<p>- Tượng “Công dụng xạ chuẩn, dĩ giải bội dã” – Vương công bắn chim cắt đậu trên thành cao, nói lên Sáu Trên giải trừ hiểm nạn do kẻ bội nghịch gây nên.</p>
<p>48. Tân Hợi – Phong Hỏa Gia nhân, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, vô du toại, tại trung quỹ, trinh cát”.</p>
<p>- “Sáu Hai, không có thành tựu gì, coi sóc việc nấu nướng trong nhà, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng “Lục Nhị chi cát, thuận dĩ tốn dã” - Sự tốt lành của Sáu Hai là do sự nhu thuận, ôn hòa, khiêm tốn đưa đến.</p>
<p>49. Nhâm Tý – Thiên Sơn Độn, hào 1 (49 = 1)</p>
<p>- “Sơ lục, độn vỹ ; lệ, vật dụng hữu du vãng”</p>
<p>- “Hào Sáu Đầu, trốn tránh không kịp mà lại rơi vào phần đuôi, có nguy hiểm, không nên có sự đi”.</p>
<p>- Tượng “Độn vỹ chi lệ, bất vãng, hà tai dã” - Trốn tránh lại rơi vào phần đuôi có nguy hiểm, nhưng lúc này, nếu không đi lên phía trước, thì có tai họa gì đâu !</p>
<p>50. Quý Sửu – Địa Trạch Lâm, hào 4 (50 = 2)</p>
<p>- “Lục Tứ, chí lâm, vô cữu”</p>
<p>- “Hào Sáu Bốn, hết sức gìn giữ để tới gần giám sát mọi người, tất vô cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Chí lâm vô cữu, vị đáng dã” – hào này ở ngôi chính đáng.</p>
<p>51. Giáp Dần – Thiên Sơn Độn, hào 2 (51 = 39)</p>
<p>- “Lục Nhị, chấp chi dụng hoàng ngưu chi cách, mạc chi thắng thoát”.</p>
<p>- “Sáu Hai, bị dây da bò trói chặt, không ai có thể cởi được”.</p>
<p>- Tượng “Chấp dụng hoàng ngưu, cố chí dã” - Bị dây da bò trói chặt, nói lên ý Sáu Hai có ý chí bền vững giúp cho thời, không lui.</p>
<p>52. Ất Mão – Địa Trạch Lâm, hào 3 (52 = 40)</p>
<p>- “Lục Tam, cam lâm, vô du lợi ; ký ưu chi, vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, dựa vào lời nói ngọt mà tới với mọi người thì không có lợi, nhưng nếu đã lo sửa lỗi của mình thì không cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Cam lâm, vị bất đáng dã, ‘ký ưu chi’, cữu bất trường dã” - Bằng lời nói ngọt mà tới với người, chỉ để bộc lộ ngôi vị của Sáu Ba không chính đáng ; ‘đã lo và biết sửa lỗi’, nói lên sự cữu hại không thể lâu dài.</p>
<p>53. Bính Thìn – Sơn Thiên Đại súc, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, hữu lệ, lợi dĩ”</p>
<p>- “Chín Đầu, có nguy hiểm, lợi về sự tạm dừng không tiến”.</p>
<p>- Tượng “Hữu lệ tắc dĩ, bất phạm tai dã” – Ý nói không thể cứ dấn thân vào tai biến, hoạn nạn mà đi.</p>
<p>54. Đinh Tị - Trạch Địa Tụy hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, hữu phu bất chung, nãi loạn nãi tụy ; nhược hào, nhất ác vi tiếu: Vật tuất, vãng vô cữu”.</p>
<p>- “Sáu Đầu, nếu không giữ được đến cùng sự thành tín trong lòng, tất sẽ làm loạn mà tụ họp bừa bãi với mọi người ; nếu chuyên tình mà kêu gọi mọi người ở trên, thì có thể chỉ một cái bắt tay với người bạn dương cứng là lại vui cười được ngay: Không phải lo nghĩ, đi lên tất không gặp cữu hại”.</p>
<p>- Tượng “Nãi loạn nãi tụy, kỳ chí loạn dã” – Làm loạn mà tụ họp bừa bãi với mọi người, nói lên tâm chí Sáu Đầu có sự mê loạn.</p>
<p>55. Mậu Ngọ - Thủy Lôi Truân, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, tức lộc vô ngu, duy nhập vu lâm trung ; quân tử cơ, bất như xả, vãng lận”.</p>
<p>- “Sáu Ba, đuổi hiêu không có ngu nhân dẫn đường, thì chỉ đi sâu vào rằng rậm vô ích ; người quân tử cần kiến có hành sự, lúc này bỏ không đuổi nữa là hơn cả, nếu cứ nhất mực tiến nữa, tất sẽ hối tiếc”.</p>
<p>- Tượng “Tức lộc vô ngu, dĩ tòng cầm dã ; quân tử xả chi, vãng lận, cùng dã” – Không có người dẫn đường, mà vẫn đuổi bắt, nói lên Sáu Ba lòng tham đã thái quá. Người quân tử bỏ không đuổi nữa, nếu cứ đuổi mãi thì sẽ cùng khốn.</p>
<p>56. Kỷ Mùi – Hỏa phong Đỉnh, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, đỉnh hoàng nhĩ kim huyễn, lợi trinh”.</p>
<p>- “Sáu Năm, vạc có tai mầu vàng, đòn vạc cứng rắn, lợi về sự giữ vững chính bền”.</p>
<p>- Tượng “Đỉnh hoàng nhĩ, trung dĩ vi thực dã” - Vạc có tai mầu vàng, nói lên Sáu Năm ở ngôi giữa mà được tính cứng đặc.</p>
<p>57. Canh Thân – Lôi Thủy Giải, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, quân tử duy hữu giải, cát, hữu phu vu tiểu nhân”.</p>
<p>- “Sáu Năm, người quân tử có thể thư giải hiểm nạn, tốt lành, thậm chí còn có thể dùng đức thành tín để cảm hóa kẻ tiểu nhân”.</p>
<p>- Tượng “Quân tử hữu giải, tiểu nhân thoái dã” - Người quân tử có thể thư giải hiểm nạn, kẻ tiểu nhân tất sẽ sợ phục, lui bước.</p>
<p>58. Tân Dậu – Phong Hỏa Gia nhân, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, gia nhân hạc hạc, hối lệ, cát ; phụ tử hy hy, chung lận”.</p>
<p>- “Chín Ba, người trong nhà sầu oán gào khóc, mặc dù có hối hận, có nguy hiểm, nhưng vẫn được tốt lành ; còn nếu là đàn bà trẻ con mà nô đùa hớn hở, thì cuối cùng sẽ thẹn tiếc”.</p>
<p>- Tượng “Gia nhân hạc hạc, vị thất dã ; ‘phụ tử hy hy’, thất gia tiết dã” - Người trong nhà sầu oán gào khóc, nói lên đây là thời chưa thể thoải mái nhàn vui ; ‘đàn bà trẻ con cười đùa hớn hở’, nói lên đã mất lễ tiết trong nhà.</p>
<p>59. Nhâm Tuất – Thiên Sơn Độn, hào 6 (59 = 11)</p>
<p>- “Thượng Cửu, phì đôn, vô bất lợi”</p>
<p>- “Chín Trên, cao chạy xa bay, không có gì không lợi”.</p>
<p>- Tượng “Phì độn vô bất lợi” – Chín Trên không hoài nghi lưu luyến gì.</p>
<p>60. Quý Hợi – Địa Trạch Lâm, hào 5 (60 = 12)</p>
<p>- “Lục Ngũ, tri lâm, đại quân chi nghi, cát”</p>
<p>- “Lục Ngũ, đến với mọi người bằng sự thông tuệ minh trí ; bậc đại quân vương nên như vậy, tốt lành”</p>
<p>- Tượng “Đại quân chi nghi, hành trung chi vị dã” - Bậc đại quân vương nên như vậy, nói lên Lục Ngũ tất phải đi theo trung đạo.</p>
<p><span style="color:#800080;"><strong>CHU KỲ 4</strong></span></p>
<p>..............................VỊ TẾ</p>
<p>........ÍCH....................................THÁI</p>
<p>...HẰNG.....................+.....................HÀM</p>
<p>.......TỔN......................................BĨ</p>
<p>..............................KÝ TẾ</p>
<p>1. Giáp Tý – Thiên Địa Bĩ, hào 1 (1 = 49)</p>
<p>- “Sơ Lục, bạt mao nhự, dĩ kỳ vựng ; trinh cát, hanh”.</p>
<p>- “Sáu Đầu, nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, thế là cùng loại thì tụ tập nhau mà ra ; giữ vững chính bền thì được tốt lành, hanh thông”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bạt mao trinh dã, chí tại quân dã” - Nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, nói lên ý chí Sáu Đầu giữ chính không muốn tiến, là do nghĩ tới người Trên, không dám nghĩ đến việc dùng xiểm nịnh mà tiến bừa. Cho nên tốt và hanh thông.</p>
<p>2. Ất Sửu – Địa Thiên Thái, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, phiên phiên, bất phú, dỹ kỳ lân bất giới dỹ phu”.</p>
<p>- “Sáu Bốn, dập dừu đi xuống, rỗng không chẳng giầu, với hàng xóm chẳng cần bảo nhau mà đều một lòng thành tín”.</p>
<p>- Tượng viết: “Phiên phiên bất phú, giai thất thực dã ; ‘bất giới dĩ phu’ trung tâm nguyện dã” – “Dập dừu đi xuống, rỗng không chẳng giầu”, nói lên các hào âm ở quẻ trên đều mất đi cái thực của mình ; “chẳng cần phải bảo nhau mà đều một lòng thành tín”, nói lên trong lòng các hào âm đều mang ý nguyện ứng với dưới.</p>
<p>3. Bính Dần – Sơn Trạch Tổn, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, phất tổn ích chi ; vô cữu, trinh cát, hữu du vãng, đắc thần vô dã”.</p>
<p>- “Chín Trên, mình không tổn gì mà làm ích được cho mọi người ; tất không có cữu hại, giữ vững chính bền thì được tốt lành, nếu có sự đi, tất sẽ được quảng đại thần dân ủng hộ, chẳng phải chỉ một nhà”.</p>
<p>- Tượng viết: “Phất tổn ích chi, đại đắc chi dã” – “Mình không tổn gì mà làm ích được cho người, nói lên Chín Trên đắc chí lớn về sự ban ân cho thiên hạ.</p>
<p>4. Đinh Mão – Trạch Sơn Hàm, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, hàm kỳ phì, hung ; cư cát”</p>
<p>- “Sáu Hai, giao cảm ở bụng chân, có hung hiểm ; ở yên tĩnh thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Tuy hung cư cát, thuận bất hại dã” – Sáu Hai mặc dù có hung hiểm, nhưng nếu ở yên giữ tĩnh thì được tốt lành, nói lên ý thuận theo chính đạo “giao cảm” thì có thể tránh gặp phải sự họa hại.</p>
<p>5. Mậu Thìn – Thủy Hỏa Ký tế, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, phụ táng kỳ phất, vật trục, thất nhật đắc”.</p>
<p>- “Sáu Hai, người đàn bà đánh mất rèm xe (không đi được), không cần phải đi tìm, quá không đầy bảy ngày tất vật mất sẽ trở lại”.</p>
<p>- Tượng viết: “Thất nhật đắc, dĩ trung đạo dã” – “Quá không đầy bẩy ngày, tất vật mất sẽ quay trở lại”, nói lên Sáu Hai có thể giữ đạo trung chính không lệch.</p>
<p>6. Kỷ Tị - Hỏa Thủy Vị Tế, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu ; nhu kỳ thủ, hữu phu thất thị”.</p>
<p>- “Chín Trên, tin dùng kẻ khác, an nhàn uống riệu thì không có gì cữu hại ; nhưng (chơi bời quá độ) sẽ như con cáo nhỏ qua sông đánh (làm) ướt đầu, đó là quá tin người mà hại tới chính đạo.</p>
<p>- Tượng viết: “Ẩm tửu nhu thủ, diệc bất tri tiết dã” – “An nhàn uống riệu mà (như con cáo nhỏ qua sông) làm ướt đầu gặp phải tai họa”, nói lên Chín Trên nếu như vậy, thì thật là không biết tiết chế gì hết.</p>
<p>7. Canh Ngọ - Lôi Phong Hằng, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, điền vô cầm”</p>
<p>- “Chín Bốn, đi săn không được cầm thú”.</p>
<p>- Tượng viết: “Cửu phi kỳ vị, ân đắc cầm dã” – Chín Bốn ở lâu không đúng chỗ của mình, săn bắn làm sao mà bắt được cầm thú ?</p>
<p>8 . Tân Mùi – Phong Lôi Ích, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, trung hàng cáo công tòng, lợi dụng vi y thiên quốc”.</p>
<p>- “Sáu Bốn, giữ điều trung, thận trọng sự hành, cung kính thăm hỏi bậc vương công, tất sẽ được lời nghe, kế theo, lợi về sự dựa vào bậc quân thượng trong việc dời đô, ích dân”.</p>
<p>- Tượng viết: “Cáo công tùng, dĩ ích chí dã” – “Cung kính thăm hỏi bậc vương công, tất sẽ được lời nghe, kế theo”, nói lên ý chí Sáu Bốn lấy sự tăng ích tâm chí thiên hạ để khuyên gián vương công.</p>
<p>9. Nhâm Thân – Thiên Địa Bĩ, hào 5 (9 = 21)</p>
<p>- “Cửu Ngũ, hưu bĩ, đại nhân cát ; kỳ vong kỳ vong, hệ vu bào tang”.</p>
<p>- “Chín Năm, làm cho tắt nghỉ sự “bĩ”, đó là điều tốt lành cho bậc đại nhân ; (trong lòng lúc nào cũng phải tự nhủ): có thể mất đấy, như vậy thì mới có thể giữ vững như buộc vào một bụi dâu (yên tâm, không phải lo lắng gì nữa).</p>
<p>- Tượng viết: “Đại nhân chi cát, vị chính đáng dã” – “Tốt lành cho bậc đại nhân”, nói lên Chín Năm ở ngôi vị trung chính, rất thích đáng.</p>
<p>10. Quý Dậu – Địa Thiên Thái, hào 6 (10 = 22)</p>
<p>- “Thượng Lục, thành phục vu hoàng ; vật dụng sư, tự ấp cáo mệnh, trinh lận”.</p>
<p>- “Sáu Trên, thành đổ xuống hào nước cạn khô ; không thể xuất binh chiến nữa, nên tự giảm bớt các phép tắc, bố cáo, chính lệnh đi, giữ vững chính bền để phòng những điều đáng tiếc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Thành phục vu hoàng, kỳ mệnh loạn dã” – “Thành đổ sụp xuống hào nước khô cạn”, nói lên xu hướng phát triển của Sáu Trên đã trở lên hỗn loạn.</p>
<p>11. Giáp Tuất – Thiên Địa Bĩ, hào 6 (11 = 59)</p>
<p>- “Thượng Cửu, khuynh bĩ ; tiên bĩ hậu hỷ”</p>
<p>- “Chín Trên, đánh đổ được “bĩ bế” ; trước còn bĩ bế, sau thì “thông thái” mừng vui”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bĩ chung tắc khuynh, hà khả trường dã” – Bĩ bế lúc cùng cực tất đi đến đổ, làm sao giữ được lâu dài !</p>
<p>12. Ất Hợi – Địa Thiên Thái, hào 5 (12 = 60)</p>
<p>- “Lục Ngũ, Đế Ất quy muội, dĩ chỉ nguyên cát”.</p>
<p>- “ Sáu Năm, vua Đế Ất cho em gái về nhà chồng, như thế là có phúc trạch, hết sức tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Dĩ chỉ nguyên cát, trung dĩ hành nguyện dã” – “Như thế là có phúc trạch, hết sức tốt lành”, nói lên Sáu Năm ở ngôi giữa không thiên lệch, thực hiện ý nguyện ứng dưới.</p>
<p>13. Bính Tý – Sơn Trạch Tổn, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, nguyên cát”.</p>
<p>- “Sáu Năm, có người tiến dâng một con rùa lớn quý, có giá trị “mười bằng”, không thể từ tạ, hết sức tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Lục Ngũ nguyên cát, tự thượng hựu dã” – Sáu Năm hết sức tốt lành, đây là Trời phù hộ.</p>
<p>14. Đinh Sửu – Trạch Sơn Hàm, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, hàm kỳ cổ, chấp kỳ tùy, vãng lận”.</p>
<p>- “Chín Ba, cảm được tới đùi, khăng khăng nhắm mắt đi theo người ; như vậy tất sẽ thẹn tiếc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hàm kỳ cổ, diệc bất xử dã, ‘chí tại tùy nhân’, sở chấp hạ dã” – “Cảm được tới đùi”, nói lên Chín Ba không thể yên tĩnh lúc lùi ; “tâm chí ở chỗ nhắm mắt theo người”, nói lên Chín Ba cứ khăng khăng là thấp hèn.</p>
<p>15. Mậu Dần – Thủy Hỏa Ký tế, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, duệ kỳ luân, nhu kỳ vỹ, vô cữu”.</p>
<p>- “Chín Đầu, kéo ngược bánh xe về phía sau (để không đi nhanh), con cáo qua sông đánh (làm) ướt đuôi (để không đi nhanh), tất không có lỗi”.</p>
<p>- Tượng viết: “Duệ kỳ luân, nghĩa vô cữu dã” – “Kéo ngược bánh xe về phía sau (để không đi nhanh), nói lên hành vi của Chín Đầu hợp với ý nghĩa: cẩn thận giữ gìn mọi thành tựu mà không dẫn đến cữu hại.</p>
<p>16. Kỷ Mão – Hỏa Thủy Vị tế, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, nhu kỳ vỹ, lận”.</p>
<p>- “Sáu Đầu, cáo nhỏ qua sông bị nước làm ướt đuôi, đáng thẹn tiếc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Nhu kỳ vỹ, diệc bất chi cực dã” – “Cáo nhỏ qua sông bị nước làm ướt đuôi”, nói lên Sáu Đầu rất không biết cẩn thận giữ giữa.</p>
<p>17. Canh Thìn – Lôi Phong Hằng, hào 3</p>
<p>- “Cửu Tam, bất hằng kỳ đức, hoặc thừa chi tu ; trinh lận”</p>
<p>- “Chín Ba, không thường giữ được đức đẹp, có khi bị người làm cho hổ thẹn ; phải giữ vững sự chính bền để phong sự thẹn tiếc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bất hằng kỳ đức, vô sở dung dã” – “Không thường giữ được đức đẹp, ý nói Chín Ba sẽ không có chỗ dung thân.</p>
<p>18. Tân Tị - Phong Lôi Ích, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, hữu phu huệ tâm, vật vấn nguyên cát: hữu phu huệ ngã đức”.</p>
<p>- “Chín Năm, có lòng chân thành tín thực ban ơn cho thiên hạ, không còn nghi ngờ gì là hết sức tốt đẹp ; Người trong thiên hạ tất sẽ chân thành tín thực cảm ân huệ và nghĩ tới sự báo đáp ân đức của ta”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hữu phu huệ tâm, vật vắn chi hỹ ; ‘huệ ngã đức’ đại đắc chí dã” – “Có lòng chân thành tín thực ban ơn cho thiên hạ”, nói lên sự hết sức tốt lành là điều không cần phải hỏi ; “người trong thiên hạ tất báo đáp ân đức của ta”, nói lên Chín Năm được lớn chí “tổn thượng ích hạ”.</p>
<p>19. Nhâm Ngọ - Thiên Địa Bĩ, hào 4 (19 = 31)</p>
<p>- “Cửu Tứ, hữu mệnh vô cữu, trù ly chỉ”</p>
<p>- “Chín Bốn, mệnh trời xoay chuyển đạo Bĩ không có cữu hại, bạn mình nhờ cậy mình đều được hưởng phúc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hữu mệnh vô cữu, chí hành dã” - Mệnh trời xoay chuyển đạo “Bĩ”, không có cữu hại, nói lên chí vượt khỏi cuộc Bĩ của Chín Bốn đang được thực hiện.</p>
<p>20. Quý Mùi – Địa Thiên Thái, hào 1 (20 = 32)</p>
<p>- “Sơ Cửu, bạt mao nhự, dĩ kỳ vựng ; chinh cát”.</p>
<p>- “Chín Đầu, nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, thế là cùng loại thì tụ tập nhau mà ra, thẳng tiến lên phía trước thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bạt nhự chinh cát, chí tại ngoại dã” – “Nhổ cỏ mao thẳng tiến lên phía trước thì được tốt lành”, nói lên tâm chí của Chín Đầu là có hướng tiến thủ ra bên ngoài.</p>
<p>21. Giáp Thân – Thiên Địa Bĩ, hào 5 (21 – 9)</p>
<p>- “Cửu Ngũ, hưu bĩ, đại nhân cát ; kỳ vong kỳ vong, hệ vu bào tang”.</p>
<p>- “Chín Năm, làm cho tắt nghỉ sự “bĩ”, đó là điều tốt lành cho bậc đại nhân ; (trong lòng lúc nào cũng phải tự nhủ): có thể mất đấy, như vậy thì mới có thể giữ vững như buộc vào một bụi dâu (yên tâm, không phải lo lắng gì nữa).</p>
<p>- Tượng viết: “Đại nhân chi cát, vị chính đáng dã” – “Tốt lành cho bậc đại nhân”, nói lên Chín Năm ở ngôi vị trung chính, rất thích đáng.</p>
<p>22. Ất Dậu – Địa Thiên Thái, hào 6 (22 = 10)</p>
<p>- “Thượng Lục, thành phục vu hoàng ; vật dụng sư, tự ấp cáo mệnh, trinh lận”.</p>
<p>- “Sáu Trên, thành đổ xuống hào nước cạn khô ; không thể xuất binh chiến nữa, nên tự giảm bớt các phép tắc, bố cáo, chính lệnh đi, giữ vững chính bền để phòng những điều đáng tiếc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Thành phục vu hoàng, kỳ mệnh loạn dã” – “Thành đổ sụp xuống hào nước khô cạn”, nói lên xu hướng đang phát triển của Sáu Trên đã trở lên hỗn loạn.</p>
<p>23. Bính Tuất – Sơn Trạch Tổn, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, tổn kỳ tẳt xuyền hữu hỷ, vô cữu”</p>
<p>- “Sáu Bốn, tự ta giảm bớt tật tương tư, có thể nhanh chóng tiếp nhận dương cứng, tất có sự vui, không có cữu hại”.</p>
<p>- Tượng viết: “Tổn kỳ tật, diệc khả hỷ dã” – “Tự giảm bớt bệnh tương tư”, ý nói Sáu Bốn tiếp nhận hào dương cứng là việc rất đáng mừng. Bốn dựa vào hào Đầu, để nhanh chóng đến “ích”, là cái lý của hào.</p>
<p>24. Đinh Hợi – Trạch Sơn Hàm, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, trinh cát, hối vong ; đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư”.</p>
<p>- “Chín Bốn, giữ vững chính bền thì được tốt lành, hối hận sẽ mất hết ; lăng xăng qua lại, bạn bè cuối cùng sẽ thuận theo sự nghĩ của anh thôi”.</p>
<p>- Tượng viết: “Trinh cát hối vong, vị cảm hại dã ; đồng đồng vãng lai, vị quang đại dã” - Hối hận tất sẽ mất hết, nói lên Chín Bốn chưa từng vì giao cảm bất chính mà gặp điều hại ; ‘lăng xăng qua lại mà lòng ý bất đinh’, nói lên ý lúc này đạo giao cảm còn chưa sáng lớn.</p>
<p>25. Mậu Tý – Thủy Hỏa Ký tế, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, nhu kỳ thủ, lệ”.</p>
<p>- “Sáu Trên, con cáo nhỏ qua sông đánh ướt đầu, có nguy hiểm”.</p>
<p>- Tượng viết: “Nhu kỳ thủ, lệ’, hà khả cửu dã” – “Con cáo nhỏ qua sông đánh ướt đầu, có nguy hiểm”, dụ chỉ sau khi việc thành, nếu không cẩn thận, thì làm sao bảo vệ sự thành công cho được lâu dài !</p>
<p>26. Kỷ Sửu – Hỏa Thủy Vị tế, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, duệ kỳ lân, trinh cát”.</p>
<p>- “Chín Hai, kéo ngược bánh xe về phía sau (để không đi mạnh), giữ vững chính bền thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Cửu Nhị trinh cát, trung dĩ hành chính dã” – Chín Hai giữ vững được tốt lành”, nói lên phải giữ giữa, mà làm việc đoan chính không lệch.</p>
<p>27. Canh Dần – Lôi Phong Hằng, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, hối vong”.</p>
<p>- “Chín Hai, hối hận tiêu hết”</p>
<p>- Tượng viết: “Cửu Nhị hối vong, năng cửu trung dã” – Chín Hai hối hận tiêu hết, nói lên có thể giữ đạo lâu dài không thiên lệch.</p>
<p>28. Tân Mão – Phong Lôi Ích, hào 6</p>
<p>- “Thượng Cửu, mạc ích chi, hoặc kích chi ; lập tâm vật hằng, hung”.</p>
<p>- “Chín Hai, không có ai làm ích cho anh ta, mà có người còn công kích anh ta nữa, là vì không thường giữ được sự yên ổn trong lòng (mà tham cầu không chán), có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng viết: “Mạc ích chi, thiên từ dã ; ‘hoặc kích chi’, tự ngoại lai dã” – Không có ai làm ích cho anh ta, nói lên Chín Hai đơn phương đưa ra lời cầu ích ; ‘có người công kích anh ta’, đây là sự hung hiểm từ bên ngoài, không vời gọi mà tự đến.</p>
<p>29. Nhâm Thìn – Thiên Địa Bĩ, hào 3 (29 = 41)</p>
<p>- “Lục Tam, bao tu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, được che chở nên làn điều phi đạo lý, cuối cùng đi đến sự hổ nhục”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bao tu, vị bất đáng dã” - Được che chở nên làm điều phi đạo lý, nói lên Sáu Ba ngôi vị không chính đáng.</p>
<p>30. Quý Tị - Địa Thiên Thái, hào 2 (30 = 42)</p>
<p>- “Cửu Nhị, bao hoang, dụng bằng hà, bất hà di, đắc thượng vu trung hàng”.</p>
<p>- “Chín Hai, có tấm lòng bao dung như sông lớn, có thể lội qua sông lớn, không bỏ những người ở xa ; và cũng không kết bè phái, có thể giúp đỡ vị quân chủ kiên trì đạo trung”.</p>
<p>- Tượng viết: “’Bao hoang’, ‘đắc thượng vu trung hoàng’, dĩ quang đại dã” – “Có tấm lòng bao dung như sông lớn”, “có thể giúp đỡ đấng quân chủ kiên trì đạo trung”, nói lên đạo đức Chín Hai chính đại quang minh.</p>
<p>31. Giáp Ngọ - Thiên Địa Bĩ, hào 4 (31 = 19)</p>
<p>- “Cửu Tứ, hữu mệnh vô cữu, trù ly chỉ”</p>
<p>- “Chín Bốn, mệnh trời xoay chuyển đạo Bĩ không có cữu hại, bạn mình nhờ cậy mình đều được hưởng phúc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hữu mệnh vô cữu, chí hành dã” - Mệnh trời xoay chuyển đạo “Bĩ”, không có cữu hại, nói lên chí vượt khỏi cuộc Bĩ của Chín Bốn đang được thực hiện.</p>
<p>32. Ất Mùi – Địa Thiên Thái, hào 1 (32 = 20)</p>
<p>- “Sơ Cửu, bạt mao nhự, dĩ kỳ vựng ; chinh cát”.</p>
<p>- “Chín Đầu, nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, thế là cùng loại thì tụ tập nhau mà ra, thẳng tiến lên phía trước thì được tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bạt nhự chinh cát, chí tại ngoại dã” – “Nhổ cỏ mao thẳng tiến lên phía trước thì được tốt lành”, nói lên tâm chí của Chín Đầu là có hướng tiến thủ ra bên ngoài.</p>
<p>33. Bính Thân – Sơn Trạch Tổn hào 3</p>
<p>- Tượng viết: “Nhất nhân hành, tam tắc nghi dã” - Một người đi một mình, thì có thể chuyên nhất cầu, ba người cùng đi sẽ khiến cho đối phương nghi hoặc không có chủ.</p>
<p>- “Lục Tam, tam nhân hành tắc tổn nhất nhân ; nhất nhân hành tắc đắc kỳ hữu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, ba người cùng đi đều muốn cầu một dương, tất sẽ bớt một người là dương cứng đó ; một người đi một mình mà một lòng cầu hợp, thì sẽ được những người bạn dương cứng”</p>
<p>34. Đinh Dậu – Trạch Sơn Hàm, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, hàm kỳ mai, vô hối”.</p>
<p>- “Chín Năm, cảm tới thăn lưng, không đến nỗi hối hận”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hàm kỳ hối, chí mạt dã” – “Cảm tới thăn lưng, nói lên chí hướng giao cảm của Chín Năm quá nông mỏng.</p>
<p>35. Mậu Tuất – Thủy Hỏa Ký tế, hào 5</p>
<p>- “Cửu Ngũ, đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi Thược tế, thực thụ kỳ phúc”.</p>
<p>- “Chín Năm, nước láng giềng bên đông giết trâu tế lớn, chẳng bằng lễ “tế Thược” sơ sài của nước láng giềng bên tây, được thực hưởng nhiều phúc trạch của thần linh ban giáng hơn”.</p>
<p>- Tượng viết: “Đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi thời dã ; ‘thực thụ kỳ phúc’ cát đại lai dã” – “Chẳng bằng “tế Thược” của nước láng giềng phía tây”, ý nói nước láng giềng phía tây tế lễ hợp thời ; “nước láng giềng phía tây càng được thực hưởng phúc trạch của thần linh ban giáng nhiều hơn”, dụ chỉ sự tốt lành nối tiếp nhau đến.</p>
<p>36. Kỷ Hợi – Hỏa Thủy Vị tế, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, vị tế, chinh hung, lợi thiệp đại xuyên”.</p>
<p>- “Sáu Ba, việc chưa thành, đã vội tiến lên tất có hung hiểm, nhưng lợi về sự vượt qua sông cả sóng lớn để thoát khỏi hiểm nạn”.</p>
<p>- Tượng viết: “Vị tế chinh hung, vị bất đáng dã” - Việc chưa thành đã vội tiến lên tất có hung hiểm, nói lên ngôi vị Sáu Ba không thích đáng.</p>
<p>37. Canh Tý – Lôi Phong Hằng, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, tuấn hằng trinh hung, vô du lợi”</p>
<p>- “Sáu Đầu, quá mông được đạo hằng cửu, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm, nếu không thì không có lợi”.</p>
<p>- Tượng viết: “Tuấn hằng chi hung, thủy cầu thâm dã” - Sự hung hiểm của việc “quá mong cầu đạo hằng cửu”, nói lên Sáu Đầu ngay từ đầu đã cầu được quá sâu.</p>
<p>38. Tân Sửu – Phong Lôi Ích, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, lợi dụng vi đại tác, nguyên cát, vô cữu”.</p>
<p>- “Chín Đầu, lợi về sự làn việc lớn, hết sức tốt lành, tất không cữu hại”.</p>
<p>- Tượng viết: “Nguyên cát vô cữu, bất hậu sự dã” - Hết sức tốt lành mà không có cữu hại, nói lên Chín Đầu vốn không thể gánh vác được việc lớn (nhưng lúc này được ích, có thể làm việc lớn)</p>
<p>39. Nhâm Dần – Thiên Địa Bĩ, hào 2 (39 = 51)</p>
<p>- “Lục Nhị, bao thừa, tiểu nhân cát ; đại nhân phủ, hanh”.</p>
<p>- “Sáu Hai, phải chựu sự bao dung che trở và vâng thuận người trên, là tiểu nhân thì tốt lành ; là đại nhân mà phủ định đạo này thì hanh thông”.</p>
<p>- Tượng viết: “Đại nhân phủ, hanh, bất loạn quần dã” - Đại nhân mà phủ định đạo này thì hanh thông, nói lên ý không để cho bọn tiểu nhân làm loạn.</p>
<p>40. Quý Mão – Địa Thiên Thái hào 3 (40 = 52)</p>
<p>- “Cửu Tam, vô bình bất bì, vô vãng bất phục ; gian trinh vô cữu, vật tuất kỳ phu, vu thực hữu phúc”.</p>
<p>- “Chín Ba, không có nơi bằng phẳng nào mà không lồi lõm, không có sự ra đi nào mà không trở lại ; ghi lòng gian khổ, giữ vững chính bền thì sẽ không gặp phải điều cữu hại, không sợ không giữ được điều tín với người, tự sẽ có phúc khánh được thực hưởng bổng lộc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Vô vãng bất phục, thiên địa tế dã” - Kẻ ra đi không thể không quay trở lại, nói lên Chín Ba ở ranh giới giao tiếp của “Trời Đất”</p>
<p>41. Giáp Thìn – Thiên Địa Bĩ, hào 3 (41 = 29)</p>
<p>- “Lục Tam, bao tu”.</p>
<p>- “Sáu Ba, được che chở nên làn điều phi đạo lý, cuối cùng đi đến sự hổ nhục”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bao tu, vị bất đáng dã” - Được che chở nên làm điều phi đạo lý, nói lên Sáu Ba ngôi vị không chính đáng.</p>
<p>42. Ất Tị - Địa Thiên Thái, hào 2 (42 = 30)</p>
<p>- “Cửu Nhị, bao hoang, dụng bằng hà, bất hà di, đắc thượng vu trung hàng”.</p>
<p>- “Chín Hai, có tấm lòng bao dung như sông lớn, có thể lội qua sông lớn, không bỏ những người ở xa ; và cũng không kết bè phái, có thể giúp đỡ vị quân chủ kiên trì đạo trung”.</p>
<p>- Tượng viết: “’Bao hoang’, ‘đắc thượng vu trung hoàng’, dĩ quang đại dã” – “Có tấm lòng bao dung như sông lớn”, “có thể giúp đỡ đấng quân chủ kiên trì đạo trung”, nói lên đạo đức Chín Hai chính đại quang minh.</p>
<p>43. Bính Ngọ - Sơn Trạch Tổn, hào 2</p>
<p>- “Cửu Nhị, lợi trinh, chung hung ; phất tổn ích chi”.</p>
<p>- “Chín Hai lợi về sự giữ vững chính bền, vội tiến ngày sẽ có hung hiểm ; không làm tổn hại đức của mình thì có thể làm ích cho người trên”.</p>
<p>- Tượng viết: “Cửu Nhị lợi trinh, trung dĩ vi chí dã” – Chín Hai lợi về sự giữ vững chính bền, nói lên nên kiên trì giữ đạo trung làm hướng của mình.</p>
<p>44. Đinh Mùi – Trạch Sơn Hàm, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, hàm kỳ phụ giáp thiệt”</p>
<p>- “Sáu Trên, cảm bằng lời nói”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hàm kỳ phụ giáp thiệt, đằng khẩu thuyết dã” – “Cảm bằng lời nói”, nói lên Sáu Trên chẳng qua được tâng bốc lên bởi những lời rỗng tuếch mà thôi.</p>
<p>45. Mậu Thân – Thủy Hỏa Ký tế, hào 4</p>
<p>- “Lục Tứ, nhu hữu y như, chung nhật giới”</p>
<p>- “Sáu Bốn, quần áo đẹp rồi sẽ biến thành rách nát tả rơi, phải luôn đề phòng họa hoạn”.</p>
<p>- Tượng viết: “Chung nhật giới, hữu sở nghi dã” - Phải luôn đề phòng họa hoạn, nói lên Sáu Bốn đang có sự nghi sợ.</p>
<p>46. Kỷ Dậu – Hỏa Thủy Vị tế, hào 4</p>
<p>- “Cửu Tứ, chinh cát, hối vong ; chấn dụng phạt Quỷ Phương, tam niên hữu thưởng vu đại quốc”.</p>
<p>- “Chín Bốn, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; đánh nước Quỷ Phương với uy thế mạnh mẽ, qua ba năm chiến đấu công thành, được phong thưởng là chư hầu của nước lớn”.</p>
<p>- Tượng viết: “Trinh cát hối vong, chí hành dã” - Giữ vững chính bền hối hận mất hết, nói lên Chín Bốn đang thực hiện chí cầu “tế”.</p>
<p>47. Canh Tuất – Lôi Phong Hằng, hào 6</p>
<p>- “Thượng Lục, chấn hằng, hung”.</p>
<p>- “Sáu Trên, chấn động không yên ở nơi đạo hằng cửu, có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng viết: “Chấn hằng tại thượng, đại vô công dã” - Chấn động không yên ở nơi đạo hằng cửu, mà lại ở cao tại ngôi trên, nói lên Sáu Trên giải quyết mọi việc tất sẽ uổng công vô ích.</p>
<p>48. Tân Hợi – Phong Lôi Ích, hào 2</p>
<p>- “Lục Nhị, hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, vĩnh trinh cát ; vương dụng hưởng vu đế, cát”.</p>
<p>- “Sáu Hai, có người cho một con rùa lớn quý đáng giá mười bằng, không từ tạ được, giữ vững chính bền lâu dài thì được tốt lành ; lúc này nhà vua đang tế trời cầu xin giáng phúc tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hoặc ích chi, tự ngoại lai dã” – “Có người cho (một con rùa lớn quý, đáng giá mười bằng), nói lên Sáu Hai được tăng ích là từ bên ngoài tự đến.</p>
<p>49. Nhâm Tý – Thiên Địa Bĩ, hào 1 (49 = 1)</p>
<p>- “Sơ Lục, bạt mao nhự, dĩ kỳ vựng ; trinh cát, hanh”.</p>
<p>- “Sáu Đầu, nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, thế là cùng loại thì tụ tập nhau mà ra ; giữ vững chính bền thì được tốt lành, hanh thông”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bạt mao trinh dã, chí tại quân dã” - Nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, nói lên ý chí Sáu Đầu giữ chính không muốn tiến, là do nghĩ tới Vua.</p>
<p>50. Quý Sửu – Địa Thiên Thái, hào 4 (50 = 2)</p>
<p>- “Lục Tứ, phiên phiên, bất phú, dỹ kỳ lân bất giới dỹ phu”.</p>
<p>- “Sáu Bốn, dập dừu đi xuống, rỗng không chẳng giầu, với hàng xóm chẳng cần bảo nhau mà đều một lòng thành tín”.</p>
<p>- Tượng viết: “Phiên phiên bất phú, giai thất thực dã ; ‘bất giới dĩ phu’ trung tâm nguyện dã” – “Dập dừu đi xuống, rỗng không chẳng giầu”, nói lên các hào âm ở quẻ trên đều mất đi cái thực của mình ; “chẳng cần phải bảo nhau mà đều một lòng thành tín”, nói lên trong lòng các hào âm đều mang ý nguyện ứng với dưới.</p>
<p>51. Giáp Dần – Thiên Địa Bĩ, hào 2 (51 = 39)</p>
<p>- “Lục Nhị, bao thừa, tiểu nhân cát ; đại nhân phủ, hanh”.</p>
<p>- “Sáu Hai, phải chựu sự bao dung che trở và vâng thuận người trên, là tiểu nhân thì tốt lành ; là đại nhân mà phủ định đạo này thì hanh thông”.</p>
<p>- Tượng viết: “Đại nhân phủ, hanh, bất loạn quần dã” - Đại nhân mà phủ định đạo này thì hanh thông, nói lên ý không để cho bọn tiểu nhân làm loạn.</p>
<p>52. Ất Mão – Địa Thiên Thái, hào 3 (52 = 40)</p>
<p>- “Cửu Tam, vô bình bất bì, vô vãng bất phục ; gian trinh vô cữu, vật tuất kỳ phu, vu thực hữu phúc”.</p>
<p>- “Chín Ba, không có nơi bằng phẳng nào mà không lồi lõm, không có sự ra đi nào mà không trở lại ; ghi lòng gian khổ, giữ vững chính bền thì sẽ không gặp phải điều cữu hại, không sợ không giữ được điều tín với người, tự sẽ có phúc khánh được thực hưởng bổng lộc”.</p>
<p>- Tượng viết: “Vô vãng bất phục, thiên địa tế dã” - Kẻ ra đi không thể không quay trở lại, nói lên Chín Ba ở ranh giới giao tiếp của “Trời Đất”</p>
<p>53. Bính Thìn – Sơn Trạch Tổn, hào 1</p>
<p>- “Sơ Cửu, dĩ sự xuyền vãng, vô cữu, chước tổn chi”.</p>
<p>- “Chín Đầu, hoàn thành việc tự tu dưỡng, liền mau chóng đi lên giúp cho người ở ngôi cao, tất không có cữu hại ; nên châm chước giảm bớt chất cứng của bản thân”.</p>
<p>- Tượng viết: “Dĩ sự xuyền vãng, thượng hợp chí dã” – Thành việc tu dưỡng bản thân rồi đi giúp người trên cao, nói lên Chín Đầu tâm chí hợp nhất với bậc tôn trưởng.</p>
<p>54. Đinh Tị - Trạch Sơn Hàm, hào 1</p>
<p>- “Sơ Lục, hàm kỳ mẫu”.</p>
<p>- “Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chấn cái”.</p>
<p>- Tượng viết: “Hàm kỳ mẫu, chí tại ngoại dã” – Giao cảm ở ngón chân cái, nói lên chí hướng của Sáu Đầu phát triển ra phía ngoài.</p>
<p>55. Mậu Ngọ - Thủy Hỏa Ký tế, hào 3 (ý thông 46)</p>
<p>- “Cửu Tam, Cao Tông phạt Quỷ Phương, tam niên khắc chi ; tiểu nhân vật dụng”.</p>
<p>- “Sáu Ba, vua Ân Cao Tông đánh nước Quỷ Phương, kéo dài ba năm cuối cùng mới thắng ; không thể dùng kẻ tiểu nhân nóng vội gấp tiến”.</p>
<p>- Tượng viết: “Tam niên khắc chi, bị dã” – Kéo dài ba năm cuối cùng mới thắng, nói lên Chín Ba nỗ lực, bền bỉ tới mức sức lực cùng kiệt.</p>
<p>56. Kỷ Mùi – Hỏa Thủy Vị tế, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, trinh cát, vô hối ; quân tử chi quang, hữu phu cát”.</p>
<p>- “Sáu Năm, giữ vững chính bền thì được tốt lành, không có gì phải hối hận ; đây là do sự sáng của người quân tử, (lại thêm) trong lòng thành tín mà được tốt lành.</p>
<p>- Tượng viết: “Quân tử chi quang, kỳ huy cát dã” - Sự sáng của người quân tử, dụ chỉ sự rực lên những tia sáng của Sáu Năm, là thể hiện của sự tốt lành.</p>
<p>57. Canh Thân – Lôi Phong Hằng, hào 5</p>
<p>- “Lục Ngũ, hằng kỳ đức, trinh ; phụ nhân cát, phu tử hung”.</p>
<p>- “Sáu Năm, muốn thường giữ phẩm đức mềm đẹp, nên giữ vững chính bền ; đàn bà thì được tốt lành, đàn ông tất có hung hiểm”.</p>
<p>- Tượng viết: “Phụ nhân trinh cát, tòng nhất nhi chung dã ; phu tử chế nghĩa, tòng phụ hung dã” – “Đàn bà giữ vững chính bền thì được tốt lành”, nói lên cần suốt đời thuận tòng một bề theo một chồng ; đàn ông phải điều hành mọi việc sao cho thích hợp, nếu mềm thuận như đàn bà thì tất có hung hiểm.</p>
<p>58. Tân Dậu – Phong Lôi Ích, hào 3</p>
<p>- “Lục Tam, ích chi dụng hung sự, vô cữu ; hữu phu trung hàng, cáo công dụng khuê”</p>
<p>- “Sáu Ba, nhận “ích” phần lớn phải dấn thân để cứu người khỏi điều ác, giải trừ hiểm nguy (như vậy) mới không lỗi ; tất phải giữ lòng thành tín, giữ đạo trung, thận trọng trong công việc, lúc nào cũng phải như tay cầm Ngọc khuê tâu việc với bậc vương công”.</p>
<p>- Tượng viết: “Ích dụng hung sự, cố hữu chi dã” - Nhận “ích” rất nhiều nên nỗ lực dấn thân vào việc “cứu hung bình hiểm”. Như vậy Sáu Ba mới có thể giữ “ích” đã nhận được một cách chắc chắn.</p>
<p>59. Nhâm Tuất – Thiên Địa Bĩ, hào 6 (59 = 11)</p>
<p>- “Thượng Cửu, khuynh bĩ ; tiên bĩ hậu hỷ”</p>
<p>- “Chín Trên, đánh đổ được “bĩ bế” ; trước còn bĩ bế, sau thì “thông thái” mừng vui”.</p>
<p>- Tượng viết: “Bĩ chung tắc khuynh, hà khả trường dã” – Bĩ bế lúc cùng cực tất đi đến đổ, làm sao giữ được lâu dài.</p>
<p>60. Quý Hợi – Địa Thiên Thái, hào 5 (60 – 12)</p>
<p>- “Lục Ngũ, Đế Ất quy muội, dĩ chỉ nguyên cát”.</p>
<p>- “ Sáu Năm, vua Đế Ất cho em gái về nhà chồng, như thế là có phúc trạch, hết sức tốt lành”.</p>
<p>- Tượng viết: “Dĩ chỉ nguyên cát, trung dĩ hành nguyện dã” – “Như thế là có phúc trạch, hết sức tốt lành”, nói lên Sáu Năm ở ngôi giữa không thiên lệch, thực hiện ý nguyện ứng dưới.[/size]</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">15507</guid><pubDate>Tue, 03 Aug 2010 03:08:06 +0000</pubDate></item><item><title>Chi&#x1EBF;t T&#x1EF1; S&#x1ED1; - Ch&#x1EEF; Qu&#x1ED1;c Ng&#x1EEF;</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/14290-chi%E1%BA%BFt-t%E1%BB%B1-s%E1%BB%91-ch%E1%BB%AF-qu%E1%BB%91c-ng%E1%BB%AF/</link><description><![CDATA[
<p>Chào Anh Chị Em trên diễn đàn.</p>
<p>Khi tìm hiểu những phương pháp để lập quẻ Dịch, trong MAI HOA DỊCH SỐ của ngài Thiệu Ung, có phương pháp CHIẾT TỰ SỐ. Theo sách "Bí bản trắc tự toàn thư", ngài Tự Thạch đã nổi danh thiên hạ về khoa Chiết tự. Chữ Quốc ngữ VN có thể xây dựng nên phương pháp Chiết tự này. Tham khảo từ Nguồn: Dichminh.co.cc, được xây dựng Chiết tự số như sau:</p>
<p>    <strong><span style="font-size:12px;"><span style="color:#ff0000;">A : 3 nét ; Ă : 4 nét ; Â : 5 nét</span></span></strong></p>
<p>  B : 3 nét</p>
<p>  C : 1 nét</p>
<p>  D : 2 nét ; Đ : 3 nét</p>
<p>  E : 4 nét ; Ê : 6 nét</p>
<p>  G : 2 nét ;</p>
<p>  H : 3 nét</p>
<p>  I : 1 nét</p>
<p>  K : 3 nét</p>
<p>  L : 2 nét</p>
<p>  M : 4 nét</p>
<p>  N : 2 nét</p>
<p>  O : 2 nét</p>
<p>  Ô : 4 nét</p>
<p>  Ơ : 3 nét</p>
<p>  P : 2 nét</p>
<p>  Q : 3 nét</p>
<p>  R : 3 nét</p>
<p>  S : 1 nét</p>
<p>  T : 2 nét</p>
<p>  U : 1 nét</p>
<p>  Ư : 2 nét</p>
<p>  V : 2 nét</p>
<p>  X : 2 nét</p>
<p>  Y : 3 nét</p>
<p>  Sắc(/) : 1 nét</p>
<p>  Huyền (\) : 1 nét</p>
<p>  Hỏi (?) : 2 nét</p>
<p>  Ngã (~) : 1 nét</p>
<p>  Nặng (.) : 1 nét</p>
<p><span>Một ví dụ về khoa Chiết tự số tương ứng với chữ Quốc ngữ:</span> Câu thành văn như sau:</p>
<p><span style="font-size:12px;"><span style="color:#800080;">Trèo lên ngọn cây, thấy mình cao   quá, </span></span></p>
<p>Mọi người ở dưới thấp, nên tự chán.</p>
<p></p>
<p><strong><span>Cụ thể: </span></strong></p>
<p></p>
<p>- "Trèo lên   ngọn cây": tổ hợp Chiết tự số làm Ngoại quái</p>
<p>- "thấy mình cao quá":   tổ hợp Chiết tự số làm Nội quái</p>
<p><strong><span>Thực hiện:</span></strong></p>
<p></p>
<p>- Chữ <span style="color:#0000ff;">"Trèo"</span>: T   = 2, r = 3, e = 4, 0 = 2, dấu "huyền" = 1 </p>
<p>=&gt; 2 + 3 + 4 + 2 + 1 =   12</p>
<p>- Chữ <span style="color:#0000ff;">"lên": </span>l = 2, ê = 6, n = 2</p>
<p>=&gt; 2 + 6 + 2 = 10</p>
<p>-   Chữ <span style="color:#0000ff;">"ngọn"</span>: n = 2, g = 2, 0 = 2, n = 2, dấu "nặng" = 1</p>
<p>=&gt; 2 + 2 +   2 + 2 + 1 = 9</p>
<p>- Chữ <span style="color:#0000ff;">"cây": </span>c = 1, â = 5, y = 3 </p>
<p>=&gt; 1 + 5 +   3 = 9</p>
<p>Tổ hợp câu "Trèo lên ngọn cây" = 12 + 10 + 9 + 9 = 40</p>
<p>40   / 8 = 5 =&gt; được quái <strong>Khôn.</strong></p>
<p></p>
<p>-   Chữ <span style="color:#0000ff;">"thấy"</span>: t = 2, h = 3, â = 5, y = 3, dấu "sắc" = 1</p>
<p>=&gt; 2 + 3 + 5   + 3 + 1 = 17.</p>
<p>- Chữ <span style="color:#0000ff;">"mình": </span>m = 4, i = 1, n = 2, h = 3, dấu   "huyền" = 1</p>
<p>=&gt; 4 + 1 + 2 + 3 + 1 = 11</p>
<p>- Chữ <span style="color:#0000ff;">"cao": </span>c = 1, a   = 3, 0 = 2</p>
<p>=&gt; 1 + 3 + 2 = 6</p>
<p>- Chữ <span style="color:#0000ff;">"quá"</span>: q = 3, u = 1, a =   3, dấu "sắc" = 1</p>
<p>=&gt; 3 + 1 + 3 + 1 = 8</p>
<p>Tổ hợp câu: "thấy   mình cao quá" = 17 + 11 + 6 + 8 = 42</p>
<p>42 / 8 = 5 dư 2 =&gt; được quái <strong>Đoài</strong></p>
<p><strong>Câu:   "Trèo lên ngọn cây, thấy mình cao quá" được quẻ ĐỊA TRẠCH LÂM.</strong></p>
<p>Tiếp   tục với vế <span style="color:#ff0000;"><strong>đối </strong></span>là   câu: "mọi người ở dưới thấp, nên tự chán", lại phân câu này thành 02   quái:</p>
<p>- Chữ <span style="color:#ff0000;">"mọi": </span>m = 4, 0 = 2, i = 1, dấu "nặng" = 1</p>
<p>=&gt; 4   + 2 + 1 + 1 = 8</p>
<p>- Chữ "<span style="color:#ff0000;">người</span>": n = 2, g = 2, ư = 2, ơ = 3, i =   1, dấu "huyền' = 1</p>
<p>=&gt; 2 + 2 + 2 + 3 + 1 + 1 = 11</p>
<p>- Chữ <span style="color:#ff0000;">"ở"</span>:   ơ = 3, dấu "hỏi" = 2</p>
<p>=&gt; 3 + 2 = 5</p>
<p>- Chữ <span style="color:#ff0000;">"dưới"</span>: d = 2, ư =   2, ơ = 3, i = 1, dấu "sắc" = 1</p>
<p>=&gt; 2 + 2 + 3 + 1 + 1 = 9</p>
<p>-   Chữ <span style="color:#ff0000;">"thấp": </span>t = 2, h = 3, â = 5, p = 2, dấu "sắc" = 1</p>
<p>=&gt; 2 + 3 + 5   + 2 + 1 = 16</p>
<p>Tổ hợp câu: "mọi người ở dưới thấp" = 8 + 11 + 5 + 9   + 16 = 59</p>
<p>59 / 8 = 7 dư 3 =&gt; được quái <strong>Ly</strong></p>
<p></p>
<p>- Chữ <span style="color:#ff0000;">"nên"</span>: n = 2,   ê = 6, n = 2</p>
<p>=&gt; 2 + 6 + 2 = 10</p>
<p>- Chữ <span style="color:#ff0000;">"tự": </span>t = 2, ư = 2,   dấu "nặng" = 1</p>
<p>=&gt; 2 + 2 + 1 = 5</p>
<p>- Chữ <span style="color:#ff0000;">"chán": </span>c = 1, h = 3,   a = 3, n = 2, dấu "sắc" = 1</p>
<p>=&gt; 1 + 3 + 3 + 2 + 1 = 10</p>
<p>Tổ   hợp câu: "nên tự chán" = 10 + 5 + 10 = 25</p>
<p>25 / 8 = 3 dư 1 =&gt; được   quái <strong>Càn</strong></p>
<p></p>
<p><strong>Câu   "mọi người ở dưới thấp, nên tự chán" được quẻ HOẢ THIÊN ĐẠI HỮU.</strong></p>
<p>-   Tượng hai quẻ Lâm thừa Đại hữu: theo Bốc Dịch, động hào 3, 4, 6</p>
<p><img src="http://tuvilyso.net/forum/quedich/quedich_19.jpg" alt="Posted Image" /><img src="http://tuvilyso.net/forum/quedich/quedich_14.jpg" alt="Posted Image" /></p>
<p>-   Theo Dịch Lâm được quẻ Lâm chi Đại hữu.</p>
<p>Chúng ta tham khảo thêm một phương thức lập quẻ Dịch.</p>
<p>Hà Uyên.</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">14290</guid><pubDate>Mon, 17 May 2010 06:32:10 +0000</pubDate></item><item><title>Fulham M&#x1A1; V&#x1EC1; &#x111;i&#x1EC1;u Th&#x1EA7;n K&#x1EF3; &#x1EDF; Chung K&#x1EBF;t Europa League</title><link>https://diendan.lyhoclacviet.vn/chu-de/14219-fulham-m%C6%A1-v%E1%BB%81-%C4%91i%E1%BB%81u-th%E1%BA%A7n-k%E1%BB%B3-%E1%BB%9F-chung-k%E1%BA%BFt-europa-league/</link><description><![CDATA[
<p>Chào HMD, đừng khen tớ quá vậy, dự đoán là dự đoán, đúng sai đâu có ảnh hưởng gì đâu  :rolleyes: </p>
<p>01h45 ngày 13/5,</p>
<p><strong><span style="color:#FF0000;">Thương Vô vong</span></strong></p>
<p>Kinh nghiệm sẽ thắng sự non nớt  :( , Aleticomadrid sẽ thắng Fullham,</p>
<p><strong><span style="color:#0000FF;">Đỗ Đại an</span></strong></p>
<p>Kết quả trận đấu:</p>
<p>Aleticomadrid thắng Fullham cách biệt 2 bàn.</p>
<p>Dự đoán tỷ số: 2 - 0; 3 - 1.</p>
]]></description><guid isPermaLink="false">14219</guid><pubDate>Wed, 12 May 2010 18:46:56 +0000</pubDate></item></channel></rss>
