Văn Lang

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    465
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2

Everything posted by Văn Lang

  1. Hôm qua VL có thử lên quẻ cho khả năng trở thành Thủ tướng của bà Yingluck thì chả thấy luck (may mắn) tí nào. Quẻ Khai Lưu Niên thể hiện sự trì trệ, kéo dài rất gần như không có cơ hội trở thành TT Thái. Đúng như ban đầu bà nhanh chóng có cơ hội thắng cử thể hiện ở kết quả bầu cử nhưng càng về sau những toan tính, mưu mô chính trị can thiệp vào mọi việc bị ngăn trở.
  2. Xin chia buồn cùng anh Linh Trang.
  3. 6 chính đảng tại Thái Lan có thể bị giải thể Hiện đang xuất hiện cáo buộc bà Yingluck Shinawatra đã hỗ trợ 315-316 triệu baht để ủng hộ các hoạt động của phe Áo đỏ giai đoạn 2009-2010 Thủ tướng mới được bổ nhiệm của Thái Lan, bà Yingluck Shinawatra, khẳng định bà lạc quan rằng đảng của bà sẽkhông chịu ảnh hưởng gì từ những cáo buộc liên quan đến cuộc bầu cử ngày 03/07/2011. Ủy ban bầu cử Thái Lan đã chấp thuận kết quả bầu cử cho 358/500 ứng viên thế nhưng không chấp nhận kết quả của 142 ứng viên. Trong cuộc bầu cử mới đây,đảng Puea Thai đã chiến thắng vang dội. Ủy ban bầu cử Thái Lan có khoảng thời gian từ nay đến cuối tháng 7/2011 để tìm hiểu và đưa ra quyết định cuối cùng về các lời cáo buộc và chấp thuận cho kết quả bầu cử của khoảng 95% nghị sỹ tương đương 475 ghế trong Hạ viện Thái Lan và cho phép quá trình chuyển giao quyền lực tại nước này được diễn ra và việc lựa chọn Thủ tướng bắt đầu. Tổng thư ký Đại hội Nhân dân Thái Lan Chaiwat Sinsuwong đã đệ đơn đề nghị Ủy ban bầu cử (EC) giải tán 6 chínhđảng bao gồm: Pheu Thai (Đảng Vì Nước Thái), Dân Chủ, Bhumjaithai, Chartthaipattana, Chart Pattana Puea Pandin và Palang Chon. Ông Chaiwat cáo buộc các đảng này đã vi phạm quy định cấm các cá nhân bị khai trừ khỏi chính trường tham gia vào chính sự. Ông cỏn tuyên bố đảng Vì nước Thái (Pheu Thai) và Mặt trận thống nhất dân chủ chống độc tài (UDD) thuộc cùng một tổ chức chính trị. Hiện đang xuất hiện cáo buộc bà Yingluck Shinawatra đã hỗ trợ 315-316 triệu Baht để ủng hộ các hoạt động của phe Áo đỏ giai đoạn 2009-2010 Thái Lan nâng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát Trong một diễn biến khác, Ngân hàng Trung ương Thái Lan nâng lãi suất cơ bản thêm 25 điểm cơ bản lên 3,25% và khẳng định sẽ tiếp tục nâng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Chính phủmới của Thái Lan đặt mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế và tăng lương. Tuần trước, Ngân hàng Trungương Trung Quốc cũng đã nâng lãi suất cơ bản, Tháng 6/2011, Ngân hàng Trungương Đài Loan, Malaysia và Philippin và Ấn Độ nâng lãi suất. Ngân hàng Trung ương Thái Lan thể hiện sự lo lắng về khả năng lạm phát leo cao bởi chính phủ mới của bà Yingluck Shinawatra đã cam kết nâng lương tối thiểu thêm 40% trong các cuộc vận động tranh cử của mình. Ngân hàng Trung ương Thái Lan tuyên bố: “Các biện pháp như nâng lương tối thiểu và chi tiêu sẽ chỉ khiến áp lực lạm phát tăng cao hơn.” (CafeF)
  4. Câu chuyện Chí Phèo - Thị Nở thì ai cũng biết, nhưng qua tài giật tít của các "nhà" báo thì sao??? Cùng tham khảo nhé: 1. Chuyện anh Chí đâm chết Bá Kiến, có thể "thi triển" các tựa đề: - Kinh hoàng vụ sát hại trưởng thôn tại làng Vũ Đại - Say rượu, đâm chết cán bộ thôn - Đã tìm được kẻ giết trưởng thôn làng Vũ Đại - Bi kịch làng Vũ đại – trưởng thôn bị giết tại nhà - Kẻ giết trưởng thôn Bá Kiến là người cùng làng - Nghi phạm giết trưởng thôn là người đã có tiền án - Trưởng C.A làng Vũ Đại: Chúng tôi đang tiếp tục điều tra 2. Sau đó, có thể khai thác chuyện anh Chí với chị Nở trong vườn chuối: - Sốc với hình ảnh giới trẻ công khai tình yêu trong vườn chuối - Có hay không vụ hiếp dâm trong vườn chuối - Vừa ra tù đã phạm tội hiếp dâm - Đau lòng người đàn bà dở bị cưỡng bức - Chân dung kẻ đồi bại tại làng Vũ Đại - Đã xác định được kẻ hiếp dâm chị N. - Vụ lạm dụng tình dục ở làng Vũ đại – công an thôn vào cuộc 3. Tiếp tới, ngay lập tức chuyển sang các nội dung: - Phát sốt vì bộ ảnh cực "nóng" của Thị Nở - Ngắm Thị Nở mặt mộc đẹp ngỡ ngàng. - Bé Nở "lạ lẫm" trong trang phục tứ thân - Thị Nở vai trần đi vo gạo - Thị Nở thổ lộ về mối tình đầu - Thị Nở e ấp bên người "đặc biệt" - Thị Nở hot với yếm đào bên bờ sông - Thị Nở: Anh ấy không phải là đại gia - Thị Nở: Giữa tôi và anh Chí chỉ là mối quan hệ cùng thôn - Thị Nở: Còn quá sớm để nói về chuyện yêu - Lộ ảnh sốc Chí Phèo & Thị Nở trên facebook - Chí Phèo: Tôi chỉ coi em Nở như em gái - Những bóng hồng trong cuộc đời anh Chí - Rộ tin đồn Bá Kiến là người thứ 3 - Dàn sao nông dân "kute" làng Vũ Đại cùng chúc mừng cho bé Nở - Xôn xao đoạn ghi âm đêm hẹn hò của chị Nở và anh Chí tại vườn chuối - Chí Phèo & Thị Nở: đẳng cấp chuyện tình Titanic 4. Nếu "có tầm nhìn" thì đi ngang sang các đề tài: - Cảnh tỉnh về lối sống buông thả của 1 bộ phận thanh niên nông thôn - Nói về vấn nạn lạm dụng tình dục ở nông thôn - Có hay không việc cần thiết đưa giáo dục giới tính về nông thôn - Tình trạng thất nghiệp ở nông thôn và các hệ lụy xã hội 5. Hoặc xoáy sang các chủ đề hút khách: - Rượu, cháo hành (không thịt) và câu chuyện an toàn tình dục - Rượu và chuối xanh: Thần dược của tình yêu ! - Cháo hành có phải là phương pháp phục hồi hữu hiệu sau khi làm "chuyện ấy"? 6. Và cuối cùng là "vét máng": - Làng Vũ Đại ngày ấy và bây giờ - Lật lại Hồ sơ vụ án Chí giết Kiến - Những chuyện chưa kể về anh Chí Phèo - Lương y Phạm Thị Hồng nghi ngờ Chí "còn nguyên": có không chuyện tình Vườn chuối? (Sưu tầm)
  5. Các đấng bề trên và tâm linh khi qua những người có khả năng đặc biệt cũng đã tỏ ý trách móc nhiều người nói chung và giới khoa học tự nhiên nói riêng quá kiêu ngạo và tự cao tự đại. Giới khoa học tự nhiên có một niềm tin mù quáng rằng những gì mình không giải thích được thì là nhảm nhí. Đây là sự hẹp hòi nông cạn. Thực ra rất nhiều hiện tượng tự nhiên là do các đấng tâm linh tạo ra trong đó chủ yếu để trừng phạt con người. Sự việc 10 ngày dự báo và ngăn mưa thành công Đại lễ 1000 năm Thăng Long có ảnh chụp thời tiết từng ngày trên diễn đàn này hay chuyện dự báo động đất chính xác rõ ràng như ban ngày trên đây mà ông Phương vẫn còn bảo nhảm nhí thì cần xem lại ông ấy là người như thế nào. Đã gần như bất lực không dự đoán được lẽ ra người khác có khả năng đó thì ông phải mừng và tìm đến hợp tác mới phải. Hay vì ông không làm được, người khác làm được thì điều đó trở thành nhảm nhí. Không biết ông ấy đã tới nghĩa trang Trường Sơn và nói chuyện với các liệt sĩ chưa? Ông ấy chắc lại bảo nhảm nhí nốt nhỉ? Một người như vậy mà cũng gọi là PGS.TS. Hiện nay và thế kỷ 21 này thế giới tâm linh sẽ hoạt động nhiều hơn và cụ thể hơn và sẽ thường xuyên tiếp xúc với thế giới khoa học. Lúc đó người ta còn chứng kiến nhiều chuyện kỳ lạ nữa.
  6. Thưa chư vị, Hôm qua, khi chúng tôi đăng tải ý kiến của GS. Lê Văn Lan kịch liệt phản đối chiều bộ phim "Đường tới thành Thăng Long" trên sóng của Đài truyền hình quốc gia, đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. GS. Lê Văn Lan đang đi làm phim về Hoa Lư với đoàn phim Niu-Di -Lân ở Ninh Bình, đã về Hà Nội ngay trong đêm qua và đã dành cho Nguyễn Xuân Diện-Blog cuộc gặp và phỏng vấn sáng nay. Dưới đây là cuộc phỏng vấn, được thực hiện tại Hà Nội: NXD: Thưa GS Lê Văn Lan, vì sao ông lại phản đối kịch liệt việc chiếu bộ phim này trên sóng Đài TH quốc gia trong thời điểm này? LVL: Không chỉ trong thời điểm này. Nhưng càng trong thời điểm này, thì càng rõ ra một vấn đề cơ bản qua các thời điểm là: Không như công văn của Bộ Văn hóa - Thể thao Du lịch gửi Đài TH Việt Nam ngày 15 tháng 3 năm 2011, nó rằng phim này muốn chuyển tải cho người xem biết và tự hào về một giai đoạn lịch sử của nước ta. Qua tất cả các thời điểm, tôi đều không thể tự hào về cách người ta đưa giai đoạn lịch sử của nước ta lên phim như thế này. NXD: Thưa nhà sử học Lê Văn Lan, được biết là nhóm làm phim này đã đưa tên của ông vào danh sách những người cố vấn cho phim mà chưa được phép của ông. Việc đó có đúng vậy không? LVL: Ở lần xem phim thứ nhất, khi thấy tên tôi trên gie-ne-ríc phim, đề là cố vấn lịch sử, tôi đã trực tiếp phản đối với ông Trịnh Thanh Sơn, GĐ Hãng Trường Thành, đồng thời đã viết 2 bài báo để nói rõ chuyện đó, là: Tôi có được biết phim làm vào lúc nào đâu và làm ở đâu để mà nhận việc cố vấn. NXD: Thưa, vậy thì đến nay, tên của Giáo sư đã không còn trên gie-ne-ric của phim? LVL: Họ vẫn đề tên tôi với danh hiệu là Người Tu Chỉnh kịch bản. Nhưng đáng tiếc thay là những điều tôi đề nghi tu chỉnh họ đã không tiếp thu, và họ cứ làm theo ý của họ. NXD: Xin Giáo sư cho biết vắn tắt rằng vì sao lại không thể chiếu bộ phim này? Nó sai lầm về trang phục, đạo cụ, bối cảnh, hay là những xuyên tạc lịch sử, bạo lực, tình ái, hạ thấp tinh thần của người Việt Nam? LVL: Thứ nhất, không như công văn của Bộ VH - TT - DL đã nói: "Về cơ bản, tinh thần lịch sử trong phim được tôn trọng". Xin nêu một ví dụ: Về cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất (980 - 981) đây là niềm tự hào của tất cả những người Việt Nam chân chính. Nhưng phim này lại chỉ nói về cuộc kháng chiến này dưới dạng một trận đánh ở một ngọn núi ất ơ nào đó (tên là núi Chu Tước). Ở lần xem phim thứ nhất, thì tại trận (núi Chu Tước ất ơ này - lời GS Lan) diễn rõ cảnh Thiền sư Vạn Hạnh khuyên và trao cẩm nang cho Anh hùng dân tộc Lê Hoàn, nói rằng: Không cần đánh! Giặc sẽ tự tan. Và trên thực tế của phim, vai diễn Lê Hoàn còn ra lệnh: Kẻ nào bàn đánh. Chém!. Đến lần xem phim thứ hai và thứ ba (tức là lần duyệt cuối), sau ý kiến phản kháng kịch liệt của tôi, họ đã sửa lại nhưng vẫn kéo toàn bộ cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc ta thời đó vẫn vào trận núi Chu Tước ất ơ ấy. Và lại còn cho ông Vạn Hạnh đón đường hành quân ra trận của ông Lê Hoàn và lại khuyên: "Chớ sát sinh nhiều". Và vai diễn Lê Hoàn đã thực sự thể hiện sự băn khoăn về lời khuyên trận mạc này. Nói chung, tinh thần và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta oanh liệt là thế, nhưng phim này thể hiện rất mờ nhạt, còn thì đấu đá nội bộ, thậm chí chém giết, sát phạt nội bộ và được tô đậm bằng những trường đoạn rất rùng rợn (thậm chí có nhân vật Hạng Lang sua khi đánh nhau với anh ruột là Long Đĩnh, thì đã chết với những mũi công cắm xuyên từ gáy sang bên mặt, rất rùng rợn) NXD: Còn nhân vật Lê Hoàn là nhân vật lịch sử chính của giai đoạn này thì đã được thể hiện như thế nào trong phim, thưa giáo sư? LVL: Tất cả mọi người Việt Nam chân chính đều hiểu và tôn vinh Lê Hoàn là anh hùng dân tộc. Hơn nữa, đây là một nhà thủy lợi đầu tiên với việc đào Kênh Nhà Lê, bây giờ còn sử dụng. Nhưng trong phim này, Lê Hoàn lại hiện ra như một ông vua xa xỉ, chỉ biết bắt dân xây dựng cái gọi là "vườn ngự uyển", không cần biết đến những lời can gián, thậm chí còn trừng phạt cả Lý Công Uẩn vì đã dám ngăn vua xây dựng những công trình phục vụ cho việc ăn chơi xa hoa. Lê Hoàn còn hiện ra như một ông vua nhu nhược, đi kinh lý thì lại để cho giặc cỏ nó bắt được. Rồi lại sa thải các trung thần. Tóm lại là một ông vua không đúng như lịch sử đã ghi chép và các nhà sử học xưa nay đã nhận định và tôn vinh. NXD: Thế còn những nhân vật lịch sử khác thì hiện ra trong phim như thế nào? Như là Thái hậu Dương Vân Nga chẳng hạn? LVL: Tôi và một số nhà nghiên cứu khác đang được dòng tộc họ Dương mời làm một hội thảo khoa học về các nhân vật họ Dương trong lịch sử. Tôi rất sợ rằng dòng tộc họ Dương sẽ có thái độ phản kháng dữ dội khi phim này được chiếu trên song truyền hình quốc gia với hình tượng một Dương Vân Nga ủy mị, sướt mướt, thậm chí đã treo cổ tự tử khi được Lê Hoàn tỏ tình. Trong khi chính sử chép rõ bà là người thông tuệ, sắc sảo, và quyết đoán là thế trong những tình huống cam go của lịch sử. Ah, còn về Chi hậu Đào Cam Mộc nữa chứ.Đào Cam Mộc hiện lên trong phim, từ đầu chí cuối là một ông tướng võ biền, là cha của một ông tướng trẻ khác, cũng chỉ suốt ngày đòi thách đấu với Lý Công Uẩn. Còn khi được giao việc hộ vệ Lê Đại Hành tuần du thì lại ngơ ngẩn, sơ xuất, để cho hoàng đế của mình bị giặc cỏ bắt sống. Trong khi đó, mọi người đều biết Đào Cam Mộc là quan Chi hậu, tức là người quản mọi việc trong nội cung, và là quan văn. Tóm lại, những nhân vật lịch sử trong phim đều bị bóp méo làm cho sai lệch đi. Điều này rất nguy hiểm, không chỉ vì nó là một sự xuyên tạc lịch sử trong một tác phẩm nghệ thuật mà hơn thế qua đây thì việc giáo dục về truyền thống anh hùng của dân tộc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. NXD: Thưa giáo sư, thế còn các sự kiện lịch sử quan trọng trong giai đoạn này đã lên phim như thế nào? LVL: Một sự kiện quan trọng bậc nhất là việc Thái tổ Lý Công Uẩn lên ngôi. Phim này không chỉ gọi "lên ngôi" là "đăng cơ"(Tàu hoàn toàn - LVL) mà rành rành lịch sử viết Lý Công Uẩn lên ngôi ở Hoa Lư, được triều đình đồng thuận, nhưng trên phim thì Lý Công Uẩn lại lên ngôi ở ...một ngôi chùa...Tàu. NXD: Ồ! Thế ạ? Chao ôi! Kinh khủng quá! Thế trang phục của Đức vua Lý Công Uẩn thì sao? LVL: Không chỉ trang phục của nhà vua, mà của văn võ bá quan và trăm họ đều rất ...Tàu. Rồi thì lại cả cảnh chùa chiền, cung điện, nhà cửa, ngựa xe, binh khí...cũng đều là rất Tàu. NXD: Thưa giáo sư, đấy là cảnh trên phim, ở lần duyệt cuối cùng phải không? Và những cảnh đó sẽ được chiếu trên Đài truyền hình quốc gia phải không? LVL: Vâng! Đúng thế. Và chính vì thế tôi mới kiên quyết phản đối việc chiếu bộ phim này ở các rạp và trên sóng Đài Truyền hình quốc gia cũng như các Đài truyền hình địa phương. Tôi tin chắc rằng đồng bào tôi cũng như tôi, không thể "tự hào" về mình, và tổ tiên của mình, ở một giai đoạn lịch sử quan trọng lại Tàu như thế này! Và tôi nghĩ rằng, sẽ có nhiều người kêu gọi tẩy chay bộ phim này. NXD: Xin chân thành cảm ơn giáo sư Lê Văn Lan đã dành cho Nguyễn Xuân Diện-Blog cuộc phỏng vấn này! Kính chúc Giáo sư dồi dào sức khỏe. (http://xuandienhannom.blogspot.com)
  7. Dù kết quả bầu cử hôm 3/7 có ra sao thì Thái Lan gần như chắc chắn sẽ lại rơi vào rối loạn chính trị, thậm chí là bất ổn xã hội. Tương lai rối loạn Theo các cuộc thăm dò dư luận, hiện đảng Puea Thai của phe ông Thaksin dẫn đầu cuộc đua song mã khi giành được 38% số phiếu bầu, bỏ xa đảng Dân chủ là 22%. Nguyên nhân là từ thời làm Thủ tướng, ông Thaksin dù không được lòng số ít cử tri “giàu có bảo thủ” và bị lực lượng này lật đổ năm 2006 nhưng lại giành được sự ủng hộ to lớn của cử tri nông thôn với những chính sách dân túy. Kế thừa "di sản" này, Puea Thai tất nhiên được lòng nhiều cử tri. Ngược lại, đảng Dân chủ dù “cao tuổi” nhất ở Thái Lan nhưng trong hai thập kỷ qua, họ chưa giành thắng lợi trong bất cứ cuộc tổng tuyển cử nào; cũng như không có chính sách dân túy hiệu quả của riêng mình. Puea Thai được ủng hộ mạnh mẽ.Do đó, nhiều chuyên gia dự đoán, đảng Puea Thái dễ thắng cử nhất. Vấn đề sẽ chỉ còn lại là họ thắng với "tỉ số" bao nhiêu mà thôi. Nếu giành được quá bán số phiếu bầu, họ sẽ tự mình đứng ra lập tân Chính phủ. Trong trường hợp không giành được 50% số phiếu (nhiều chuyên gia dự đoán Puea Thai sẽ giành 220 – 240 ghế trong tổng số 500 ghế ở Quốc hội mới), họ sẽ phải liên minh với một số đảng nhỏ hơn để lập Chính phủ. Một rào cản cho kế hoạch này của Puea Thai chính là ông Thaksin bởi hiện một số đảng nhỏ không ưa ông, trong khi Puea Thai đang nỗ lực đưa ông hồi hương từ Dubai. Nhưng dù trường hợp nào trên đây xảy ra, Puea Thai của ông Thaksin và em gái Yingluck sẽ vấp phải sự chống đối của giới “thượng lưu” và một bộ phận tướng lĩnh quân đội (nhất là những người từng góp tay lật đổ ông Thaksin năm 2006). Bằng chứng là theo RUVR, ngày càng xuất hiện nhiều tin đồn về cuộc đảo chính quân sự sẽ xảy ra ở Thái Lan trong trường hợp Puea Thai giành chiến thắng. Các phương tiện truyền thông đưa tin rằng, nhiều đơn vị quân sự đang ở trong tình trạng cảnh giác cao…; bất chấp việc Tư lệnh lục quân Thái Lan là Tướng Prayut Chan-Ocha hôm 1/7 cương quyết phủ nhận tin đồn về một cuộc đảo chính quân sự đang được chuẩn bị ở nước này; kêu gọi các quân nhân đứng ngoài chính trị và giữ quan điểm trung lập trong quan hệ với các lực lượng chính trị. Tìm hiểu động cơ của quân đội, nhà phân tích Kan Yuenyong của Tổ chức tình báo Siam nhận định, người có khả năng làm Thủ tướng là bà Yingluck vẫn bị ảnh hưởng lớn bởi ông Thaksin, người có thể muốn “cơ cấu” lại quân đội, “trả thù” việc bị đảo chính năm 2006. Do đó, quân đội đang đối mặt với nguy cơ lớn, thậm chí là cả khả năng bị thanh lọc nếu bà Yingluck trở thành Thủ tướng. Một nhà phân tích giấu tên thì cho rằng: “Đảo chính là lựa chọn mà Tướng Prayut không muốn thực hiện bởi Bangkok sẽ tràn ngập phe "áo đỏ" ủng hộ bà Yingluck. Tuy nhiên, nếu Chính phủ của đảng Puea Thai thanh lọc quân đội, ông Prayut không còn lựa chọn nào khác”. Tương tự, nhà phân tích Kan Yuenyong chia sẻ: “Đảo chính là kịch bản tồi tệ nhất nhưng không thể không tính tới nếu ông Thaksin nắm lại quyền lực. Quân đội có những bài học trong quá khứ và họ sợ ông Thaksin trả thù”. Do đó, trong giai đoạn trước thềm tổng tuyển cử như hiện nay, bà Yingluck nhiều lần khẳng định sẽ nỗ lực hòa hợp dân tộc; cũng như không can thiệp vào các lực lượng vũ trang nếu trở thành Thủ tướng nhằm trấn an quân đội. Tuy nhiên, dường như quân đội không tin cam kết của bà Yingluck nên mới xuất hiện nhiều tin đồn như trên. Quân đội không ưa "áo đỏ" và ông Thaksin. Bên cạnh quân đội, Puea Thai còn có đối thủ là Liên minh vì Dân chủ (hay còn gọi là “áo vàng”). Lực lượng ủng hộ phe thủ cựu và đảng Dân chủ này rất có thể lại xuống phố tuần hành, biểu tình và gây áp lực như trong quá khứ, đe dọa gây bất ổn ở Thái Lan nếu Puea Thai thành lập Chính phủ. Do đó, để tránh nguy cơ bị đảo chính và bị phe “áo vàng phá rối”, Puea Thai có thể sẽ thỏa hiệp với quân đội mà theo đó, tân Chính phủ sẽ không “động chạm” vào quân đội, thậm chí là “tặng” cả ghế Bộ trưởng Quốc phòng cho một vị tướng nào đó. Nếu vượt qua mọi thách thức, Puea Thai sẽ tự lập Chính phủ hoặc liên minh với đảng khác. Khi đó, em gái ông Thaksin là Yingluck sẽ làm Thủ tướng. Dù vậy, khi đó khó khăn vẫn còn bởi bà Yingluck dù là nhà kinh tế tài năng nhưng kinh nghiệm chính trị vẫn còn non nớt, là một điểm yếu của Puea Thai trong chính trường nhiều biến động ở Thái Lan. Phe "áo vàng" có khả năng lại làm Bangkok tê liệt. Ngược lại, trong trường hợp đảng Dân chủ dẫn đầu cuộc tổng tuyển cử (khả năng rất thấp) thì sẽ dễ dàng lập Chính phủ liên minh bởi họ có quan hệ tốt với nhiều đảng phái và nhiều nhân vật có quyền thế, kể cả lực lượng bảo Hoàng. Khi đó, người của Mặt trận dân chủ chống độc tài (hay còn gọi là “áo đỏ”) ủng hộ ông Thaksin và Puea Thai sẽ lại xuống đường và có những hành động tương tự phe “áo vàng”; chỉ có khác là lực lượng này sẽ không được quân đội và một bộ phận có tư tưởng bảo Hoàng ủng hộ . "Áo đỏ" sẽ không ngồi yên nếu đảng Dân chủ thắng cử hoặc Puea Thai bị "chơi xấu". Còn trong trường hợp dễ xảy ra nhất là không đảng nào giành được quá bán số phiếu bầu và đảng Dân chủ chỉ thua đảng Puea Thai một ít thì xét toàn cục, lợi thế nghiêng về đảng Dân chủ bởi họ có nhiều cơ hội hơn Puea Thai để lập liên minh với các đảng phái khác để lập Chính phủ liên minh, cũng như không bị quân đội "ghét". Nhưng dù kịch bản nào trên đây xảy ra thì chính trường Thái Lan cũng sẽ không sớm ổn định, thậm chí là sẽ chìm sâu vào rối loạn như những năm vừa qua. (baodatviet.vn) ================================ Khả năng sẽ có tranh giành quyền lực kéo dài sau bầu cử ở Thái Lan rồi.
  8. Đây là một tội ác mà những thanh niên hầu như họ không nghĩ tới. Rõ ràng tạo nghiệp ác lớn rồi. Đáng tiếc Việt nam là một trong 3 nước dẫn đầu thế giới về nạo phá thai.
  9. Lại một bồi bút nữa rồi. Phải xem xong mới biết nghe thì có vẻ hợp lý về hình thức nhưng là hình thức bịp bợm. Nó gần tương tự phải ở trong một ngôi nhà sắp mua thì mới biết nhà có ở được hay không? Hay phải để Trung quốc nó dàn quân trên Biển Đông rồi mới bảo nó có âm mưu chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông hay không? Lợi ích nhóm gì ở đây khi cả xã hội phản đối. Từ các bậc học giả cho đến mọi tầng lớp nhân dân. Thế mà bảo vì lợi ích nhóm mà không cho chiếu. Lại còn lấy mấy ví dụ hoàng đế Quang Trung, tranh dân gian Đông Hồ hứng dừa không liên quan gì tới việc trang phục giống Tàu ở trong bộ phim này. Không biết là không hiểu hay không muốn hiểu. Bây giờ không nên phải phản đối chiếu bộ phim này nữa mà cần phải xem xét xử lý hình sự với kẻ nào làm phim này và nhất là cứ muốn chiếu phim này.
  10. http://lyhoc.vstatic.net/public/style_emoticons/default/39.gif
  11. Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cách đây hơn 3 thế kỷ, ông cha ta đã xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, những việc đó được ghi trong cả sách của ta, của quốc tế và ngay cả của Trung Quốc. Ông cha chúng ta cũng đã biết cắm mốc, đo đạc, vẽ bản đồ và hàng năm cử người ra để kiểm tra và thu hồi sản vật trên vùng đất mà nước mình quản lý. Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta có bờ biển dài 3.260km. Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích khoảng trên 1 triệu km2, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ gần và xa bờ. Biển Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, giao lưu quốc tế rất thuận lợi, lại có nhiều tài nguyên quý hiếm. Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời Lê, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier, có chữ quốc ngữ). Bãi cát vàng trên bản đồ tức là Hoàng Sa. Quần đảo Hoàng Sa nằm ở vĩ độ 15o45' đến 17o15' Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý; là một quần đảo đá san hô, cồn, bãi cát gồm hơn 30 hòn đảo, nằm trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, diện tích chừng 15.000km2. Quần đảo Trường Sa nằm ở vĩ độ 6o50' đến 12o vĩ Bắc, kinh độ 111o3' đến 117o2' Đông, gồm trên 100 đảo đá, cồn san hô, bãi cạn, bãi ngầm nằm rải rác trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam 360 hải lý, có diện tích khoảng 180.000km2, diện tích phần nổi thường xuyên khoảng 10km2, cách tỉnh Khánh Hoà 248 hải lý. Những chứng cứ lịch sử pháp lý xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Văn bản lịch sử của Việt Nam - Thời Lê Thánh Tông (1460-1497), trong “Toàn tập Thiên Nam tứ chi lộ đồ thư” ta đã vẽ bản đồ Hoàng Sa và Trường Sa, lúc đó ta gọi là “bãi cát vàng” và “Vạn lý Trường Sa”. (Nguyên bản này hiện đang lưu giữ tại Tokyo Nhật Bản). - Thế kỷ thứ XVIII, trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” đã ghi rõ Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa là một trong những đảo của Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1838. - Lê Quý Đôn (1726-1786) trong cuốn “Phủ biên tạp lục”, ông đã tả kỹ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.- Phan Huy Chú (1782-1840) trong sách “Lịch triều hiến dương loại chí” và “Hoàng Việt địa dư chí”, ông còn mô tả việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngoài ra còn có thể kể tên 5 cuốn sách của Việt Nam từng đề cập đến hai quần đảo này. - Thời thuộc Pháp: Từ ngày 6/6/1884, sau khi triều Nguyễn ký với Pháp Hiệp ước Giáp Thân, công nhận sự thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Từ đó, Pháp thực hiện chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. - Năm 1887, Pháp và triều đình Mãn Thanh ký công ước hoạch định biên giới trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Ngày 15/6/1938, toàn quyền Đông Dương I.Brévie ký Nghị định số 156-SC, quyết định tổ chức hành chính, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên. Ngày 21/12/1933, Thống đốc Krautheimer ký Nghị định số 4702-CP, sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức bàn giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền của Bảo Đại quản lý. Hôm đó, Tướng Phan Văn Giáo lúc đó là Thủ hiến Trung Phần đã đích thân đến đảo Hoàng Sa để chủ tọa buổi lễ. Tháng 9/1951, tại Hội nghị San Franxitco, ông Trần Văn Hữu - Thủ tướng Chính phủ của Bảo Đại, trưởng phái đoàn của Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Nhật đã trả lại tất cả lãnh thổ họ đã chiếm cứ trong chiến tranh thế giới thứ hai, 51 quốc gia tham dự, không hề có ý kiến phản đối. Tài liệu nước ngoài Một tài liệu giữ ở kho lưu trữ của Pháp đề ngày 10/4/1768 mang tên là “Note sur l'Asedemandés pas M. de la bonde à M. d' Etaing” cho biết là hồi đó hải quân Việt Nam đã tuần tiễu đều đặn giữa bờ biển Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Đô đốc d'Estaing đã tả hệ thống phòng thủ của Việt Nam có nhiều đại bác, phần lớn là mang huy hiệu của Bồ Đào Nha, có ghi năm 1661, và những khẩu nhỏ hơn mang hiệu xứ Campuchia và dấu khắc tên “Anh Quốc Ấn Độ công ty” (Brifish company of India). Những khẩu pháo nhỏ này đã được thu lượm ở Hoàng Sa. Ngoài ra còn có các tác giả Le Poivre (1740), J Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833), Gutzlagip (1840)… cũng từng khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ngay cả các tác giả người Trung Quốc trước đây cũng từng viết sách nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhà sư Thích Đại Sán trong cuốn Hải ngoại ký sự viết năm 1696 đã xác nhận các chúa Nguyễn hàng năm cho thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở vùng Vạn lý Trường Sa (tức Hoàng Sa của Việt Nam). Tập tài liệu của Trung Quốc “Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hội biên” do Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép dấu vết trên đảo Vinh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu gọi là Hoàng Sa tự. (Hoàng Sa tự được vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây dựng). Trong cuốn Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ, bản đồ Trung Quốc đời Thanh, xuất bản năm 1894 ghi chú rõ: “Điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, Quảng Đông, độ Bắc cực 18o13”. Còn quyển Quảng Đông dư địa toàn đồ, bản đồ tỉnh Quảng Đông, xuất bản năm 1897 cũng ghi: “Điểm cực Nam tỉnh này là mỏm núi bên ngoài cảng Du Lâm 18o09'10"”. Trong Đại Thanh đế quốc, bản đồ toàn Trung Quốc trong tập bản đồ mang tên “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910, cũng chỉ rõ phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam. Những bản đồ trên đây đều khẳng định cho đến thế kỷ XX, lãnh thổ Trung Quốc không bao giờ gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa Để quản lý về hành chính, ngày 29/2 năm Bảo Đại thứ 12 (30/3/1938), nhà vua đã ra Chỉ dụ số 10, sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn. Ngày 22/10/1956, họ đã ra Sắc lệnh số 143/NV quy định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 3/7/1961, Ngô Đình Diệm - Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ký quyết định quần đảo Hoàng Sa thuộc Thừa Thiên - Huế, nay thuộc tỉnh Quảng Nam và gọi là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang. Ngày 6/9/1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Sài Gòn ký Nghị định số 420/BNV-HCDB-26 sáp nhập Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Bức tượng Vệ sĩ dân chài đảo Hoàng Sa đứng ở phía Tây Nam đảo Hoàng Sa, có thể xưa kia được đặt trong ngôi miếu cổ khi nhà Nguyễn dựng miếu năm 1835 đã thấy. Sau khi thống nhất đất nước, ngày 9/2/1982, Hội đồng Bộ trưởng nước ta đã ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28/12/1982, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VII đã ra Nghị quyết đưa huyện Trường Sa sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là Khánh Hoà). Từ khi chiếm lĩnh được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông cha ta đã cho người ra cắm mốc chủ quyền. Khi chính quyền Pháp bảo hộ họ cũng đã cắm bia chủ quyền ghi: “Cộng hòa Pháp - Đế quốc An Nam quần đảo Hoàng Sa”. Năm 1938, Phòng (Service) Khí tượng Đông Dương xây dựng một trạm khí tượng tại đảo Itu Aba hoạt động dưới quyền Pháp. Đây là trạm thời tiết rất quan trọng nên đã được mang ký hiệu quốc tế là 48919. Đến thời chính quyền Sài Gòn quản lý, trạm khí tượng này vẫn hoạt động. Hiện nay 4 người còn sống, đó là các cụ: Nguyễn Văn Như, Trần Huynh, Phạm Miễn, Võ Như Dân. Những chứng tích lịch sử về việc thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa còn được lưu truyền trong dân gian khá sâu đậm. Khi nhà vua cử các đội đi Hoàng Sa, đã biết rằng cuộc ra đi vô cùng khó khăn, nên đã cho mỗi người lính mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi dây lạt và một tấm thẻ Bài có khắc tên họ, bản quán để phòng xa, nếu chẳng may hy sinh thì đồng đội sẽ bỏ xác vào chiếu thả trôi trên biển. Trước khi lên đường, thường là vào tháng Hai Âm lịch, thì làm lễ gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”. Đồng thời làm những “ngôi mộ gió”, nơi chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hy sinh ở Hoàng Sa. Một trong những người lính đó là Anh hùng Phạm Hữu Nhật cách đây hơn 170 năm đã có bia mộ trên triền núi ở Lý Sơn “Phục vị vong Cao Bình Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh vị. Sanh Giáp Tý (1804), Giáp Dần (1854) tôn diệt phong tự”. Như vậy là cách đây hơn 3 thế kỷ, ông cha ta đã xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, những việc đó được ghi trong cả sách của ta, của quốc tế và ngay cả của Trung Quốc. Ông cha chúng ta cũng đã biết cắm mốc, đo đạc, vẽ bản đồ xây miếu, đào giếng, trồng cây, xây trạm dự báo thời tiết, và hàng năm cử người ra để kiểm tra và thu hồi sản vật trên vùng đất mà nước mình quản lý. Cho đến nay, hầu như cả thế giới đều biết rằng, vào năm 1956, khi người Pháp rút, bàn giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lợi dụng lúc đó, Trung Quốc đã đưa quân đánh chiếm đảo Phú Lâm phía Đông Hoàng Sa, quân đội Sài Gòn phải chạy về đóng tại phía Tây Hoàng Sa. Ngày 20/1/1974, lợi dụng quân đội Sài Gòn đang thua trận (do Mỹ đã rút khỏi Việt Nam), Trung Quốc đưa quân đánh chiếm nốt phía Tây để chiếm toàn bộ Hoàng Sa của Việt Nam. Trong trận chiến đó Trung Quốc bị cháy và hỏng 2 chiến hạm, 2 tàu chiến. Quân đội Sài Gòn bị cháy 2 tàu, hỏng 2 tàu, 18 người chết, 43 người bị thương, 175 người mất tích. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam hàng vài thế kỷ. Trung Quốc dùng bạo lực quân sự để đánh chiếm và xâm phạm. Thế hệ trẻ hiện nay cần phải nắm chắc những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời tuyên truyền cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ, để củng cố quyết tâm cho các thế hệ người Việt Nam kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Trường Sa và đòi lại chủ quyền của chúng ta ở Hoàng Sa. Cũng cần làm cho nhân loại tiến bộ hiểu rõ sự thật, đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thành nội dung đấu tranh ở Liên hiệp quốc, trong dư luận bảo đảm sự công bằng của công pháp quốc tế. Các sách và tài liệu tham khảo: - Sự thật về quan hệ Việt Nam, Trung Quốc trong 30 năm qua; NXB Sự thật, 1979. - Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung; NXB Đà Nẵng, 1996. - Bạch thư về Hoàng Sa và Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa, công bố ngày 14/2/1975. - Những điều cần biết về Biển và Đảo Việt Nam; Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương. - Bài nghiên cứu của các tác giả: Dương Trung Quốc, Lam Điền, Hãn Nguyên Nguyên Nhã, Hoàng Mai Anh, Đặng Trung Hội, Mai Hạnh, Nguyễn Nhã, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Hồng Thao, Hoàng Trọng Lập, Đức Huy. Đại tá Nguyễn Huy Toàn(Dantri)
  12. Vâng. Mỗi người là một chiến sĩ. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, ai có bàn phím dùng bàn phím... Một việc mà mỗi người có thể làm ngay là không dùng hàng Tàu. Ngoài ra những ai sử dụng được Tiếng Anh (và cả Tiếng Trung) nên tham gia vào các diễn đàn Trung quốc và thế giới để chỉ rõ cái sai trái của Trung quốc đồng thời tuyên truyền về Việt nam. Bữa rồi em có vào cả báo của Malaysia phản hồi về vụ biểu tình lần 2 mà theo họ là được Nhà nước cho phép.\ Vậy yêu cầu họ đưa ra những quyển sách đó đi. Việc tự tạo ra những đầu sách và những cái gạch chân như thế không khó. Tốt nhất bảo họ đưa ra những bản scan. Sau đó là yêu cầu họ đưa ra tòa án pháp lý quốc tế vì tài liệu quá phong phú để cho thế giới nó thấy đựoc tài liệu thật hay giả. Hoặc cũng có thể hỏi rằng nếu nhiều như vậy (ngụy tạo) sao đến thời Thanh, Trung quốc vẫn không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của mình và thừa nhận đó là của Việt nam. Tại sao lính Việt nam từ 5 thế kỷ nay thực thi chủ quyền trên đó mà không có bóng một ai bên Trung quốc? Phải nói rằng ngoài là cơ sở sản xuất hàng giả, hàng nhái lớn nhất thế giới thì việc ngụy tạo bằng chứng Trung quốc cũng đang tỏ ra dẫn đầu. Từ đây đặt ra câu hỏi rằng với Hoàng Sa Trường Sa Biển Đông gần đây và rõ ràng như thế mà còn ngụy tạo được ra vô số "bằng chứng". Vậy thì về lịch sử xa xưa hơn Trung quốc hoàn toàn xóa bỏ, tẩy xóa, thay đổi lịch sử trên sách. Điều đó đặc biệt có tác dụng với những người làm sử mà căn cứ vào sách Tàu. Các cụ nói đâu có thừa "Không nghe đài địch, không dịch sách Tàu".
  13. Những bản đồ của phương Tây thời xưa cũng không phân biệt được quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nên đã vẽ cả hai thành một khối gọi là Hoàng Sa. Thí dụ, bản đồ của anh em Van Langren, 1595, bản đồ Les établissement et point de penetration européen en Extrême Orient au 18è siècle (Bản đồ 8 và 9). Bản đồ 8 Bản đồ 9 Bản đồ 10 Đại Việt đời Hồng Đức (Bản vẽ lại cho dễ đọc các địa danh) Bản đồ 11 Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ (Lê Trung Hưng) Trước thời Minh Mạng, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng được xem như một quần đảo, nên gọi hai quần đảo là Hoàng Sa, có khi gọi là Vạn Lý Trường Sa. Nhưng sau khi các đoàn công tác được Vua Minh Mạng ra lệnh lấy kích thước và thám sát cả hai quần đảo, thì bản đồ được vẽ sau đó (tức bản Đại Nam nhất thống toàn đồ), mới ghi rõ ràng hai tên khác nhau cho hai quần đảo. Nếu trên Bản đồ 2, chúng ta lấy bút khoanh cụm đảo ở đoạn A-B lại, và cũng khoanh chuỗi đảo ở đoạn B-C lại, thì ta sẽ thấy hai quần đảo riêng rẽ, với hai cái tên riêng rẽ (xem Bản đồ 5). Do đó, ta có thể kết luận rằng Việt Nam đã hành xử chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy mới có sự hiện diện của Đội Bắc Hải được cử đi khai thác và quản lý những đảo Trường Sa, Côn Lôn, vùng Hà Tiên,… (thể theo quyển Phủ Biên tạp lục, quyển 2). Người ta có thể thắc mắc tại sao Đội Bắc Hải đảm trách Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên, là những vùng phía Nam, mà lại gọi là Bắc Hải. Sử gia Võ Long Tê có giải thích rằng Bắc Hải theo nghĩa chữ nho cũng có thể là “xa xôi”. Như vậy “Bắc Hải” có thể hiểu là vùng biển xa xăm.[28] Nghĩa thứ hai mà ta có thể giải thích là Đội Bắc Hải kiêm trách cả vùng biển miền Bắc lẫn những đảo ở phía Nam. Vì quyển Phủ Biên tạp lục có ghi rằng Đội Bắc Hải hoạt động ở “… vùng Biển Bắc, những đảo Côn Lôn, Cù Lao, vùng Hà Tiên và Cồn Tự…”.[29] Nếu theo giả thuyết trên thì ta phải hiểu là hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải bổ túc cho nhau chứ không có sự phân chia vùng hoạt động giữa hai Đội. Theo như ghi chép trong Phủ Biên tạp lục thì sự phân chia giữa hai Đội là ở sản vật được khai thác: Đội Bắc Hải gần như chỉ thu thập các hải sản, còn Đội Hoàng Sa thu thập cả các hoá vật, vàng, bạc,… do tàu đắm để lại. Thêm một nhận xét nữa là: Trường Sa nằm ở gần đảo Côn Lôn nên không lẽ thời đó, Đội Bắc Hải hoặc dân đánh cá Việt Nam từ trước nữa đã khám phá và khai thác đảo Côn Lôn mà lại không hề biết đến đảo Trường Sa. Nhất là tàu thuyền của Việt Nam thời đó là một lực lượng hùng mạnh khiến nhiều nhà thám hiểm phương Tây phải xác nhận điều đó. Thí dụ, ông Gentil de la Barbinais đã viết trong quyển Nouveau voyage autour du monde (xuất bản vào năm 1738) như sau: “Quoique jusqu’ici les Cochinchinois, aient attaqué ou se soient défendus par terre, les emplois de I’armée navale sont plus recherchés, comme étant les plus honorifiques. Le Roi de Cochinchine entretient 150 galères. À la dernière revue des galères, qui se fit en 1678, il y avait 131 galères…”[30] (Có thể dịch là: “Mặc dù dân Việt Nam đến bây giờ vẫn tấn công hoặc phòng thủ trên đất liền, việc sử dụng lực lượng hải quân của họ tinh vi hơn, và có thể nói là xuất sắc nhất. Vua Việt Nam có 150 chiến thuyền. Nhân cuộc biểu trương chiến thuyền gần nhất, được tổ chức vào năm 1678, có tới 131 chiến thuyền…”). 1.3. Chủ quyền lịch sử viện dẫn bởi Trung Quốc Trung Quốc cũng viện dẫn quyền khám phá và sự hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 1.3.1. Quyền khám phá Trung Quốc đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời nhà Hán, năm 206 trước Công nguyên. Tuy nhiên, có tác giả Trung Hoa lại xác định là những tài liệu sớm nhất ghi chép sinh hoạt của người Trung Hoa trên những đảo này, thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII).[31] Trung Quốc đã viện dẫn nhiều đoạn trích từ sách sử địa của mình. Nhưng thực tế cho thấy các đoạn do Trung Quốc đưa ra, chỉ tả hai quần đảo như những gì nằm trong lộ trình đi ngang Biển Đông mà thôi. Ngoài ra, các đoạn được viện dẫn trước thế kỷ XIII cũng không nói đến đảo nào, mà chỉ nói đến biển Nam Hải. Những đoạn sách viết từ thế kỷ XIII mới bắt đầu nêu tên đảo, nhưng không có đoạn nào nói tới Xisha và Nansha. Nhiều điểm từ những đoạn được nêu ra, còn cho thấy rõ ràng Wanlishitang (Vạn Lý Thạch Sành) mà Trung Quốc nói là Nansha thực tế không phải là Nansha mà là đảo khác. a) Sách sử trước thế kỷ XIII· Quyển Dị vật chí thời Hán (Yi Wu Zhi), viết như sau:[32] “Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm…”. Những câu tả này rất mơ hồ, chỉ viết “có những đảo nhỏ”, mà không nói rõ đảo nào. · Quyển Zuo Zhuan viết từ thời Xuân Thu, ghi như sau:[33] “Triều đại vẻ vang của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu của Trung Hoa…” Chữ “đảo” là do tác giả Jian-Ming Shen thêm vào trong dấu ngoặc để ám chỉ rằng “Nam Hải” có nghĩa là “những đảo ở vùng Nam Hải”. Bản văn bằng tiếng Trung Hoa chỉ ghi “Nam Hải” chứ không phải “NamHaidao”. b ) Sách sử từ thế kỷ XIII · Quyển Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII) có ghi rằng: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường, và ngoài nữa là đại dương vô tận…”[34] · Quyển Hải Lục (On the Sea), tác giả Hoàng Chung, xuất bản đời Minh, ghi rằng: “Vạn Lý Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”.[35] · Ngay cả những tài liệu sử thế kỷ XIX của Trung Hoa, đồng thời với sự chiếm hữu và hành xử chủ quyền của các vua nhà Nguyễn tại Việt Nam, cũng chỉ tả những đảo này như những gì tình cờ thấy, nằm trên lộ trình xuyên Biển Đông của các thuyền Trung Hoa. Hơn thế nữa, có tài liệu còn mặc nhiên công nhận sự liên hệ của các quần đảo đối với Việt Nam, nếu không muốn nói rằng nó công nhận những quần đảo này là biên phòng của An Nam. Thí dụ quyển Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Lộ trình phía ngoài được nối liền với lộ trình phía trong bởi Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của quần đảo khoảng vài chục ngàn dặm. Nó là bức màn phòng thủ phía ngoài của An Nam”.[36] Từ đó, ta có những nhận xét sau đây về những chứng cớ lịch sử về quyền khám phá của Trung Quốc: Không có một quyển sách sử nào nói đến hai cái tên Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa), và không có một quyển sách nào nói đến chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này.[37] Những sách sử địa của Trung Quốc nhắc đến rất nhiều tên, nào là Qianli Chang sha, Wanlishitang, Quianlishitang, Jiuruluozhou, Qizhouyang, Zizhousan. Và bây giờ Trung Quốc nói rằng tất cả những tên đó đều ám chỉ Xisha và Nansha. Vì vậy, muốn xét đến những chứng cớ lịch sử này, thiết tưởng cần phải có những chuyên viên để nghiên cứu tại chỗ và khẳng định các tên này có đúng là Xisha và Nansha mà Trung Quốc nói tới hay không. 1.3.2 Hành xử chủ quyền Những dữ kiện mà Trung Quốc và các tác giả Trung Hoa đưa ra để chứng minh mình hành xử chủ quyền trên hai quần đảo gồm có: những cuộc thanh tra, những cuộc viễn chinh, và những di vật đào bới được từ các đảo. Thanh tra và viễn chinh Phần lớn những bài viết về thanh tra và viễn chinh là sự khẳng định nhưng không có đoạn sử nào được viện dẫn để chứng minh điều này. *Trước nhà Nguyên Đoạn sau đây được trích, không phải từ sách sử nào cả, mà từ kết luận của một viên chức chính quyền Trung Quốc, giáo sư Wang Hengjie thuộc Trung tâm chuyên về các sắc tộc thiểu số, vào năm 1991, dựa trên những di tích được đào bới trên đảo Xisha để kết luận rằng nhà Chu đã có những cuộc viễn chinh trên quần đảo này: “Chính quyền nhà Chu thuộc thời Xuân Thu không những chinh phục những “dân man rợ” ở phía Nam, mà cũng tổ chức những cuộc viễn chinh trên những đảo của biển Nam Hải để chiếm làm đất Trung Hoa…”.[38] Đây chỉ là một kết luận của một viên chức nhà nước vào năm 1991, chứ không phải từ sách sử khách quan. Nếu đã có những cuộc viễn chinh, và những hoạt động khác thì tại sao lại không được ghi trong sách sử của Trung Hoa – tương đương với những ghi chú trong sách sử của Việt Nam? Trung Hoa vẫn tự hào là xứ văn minh và các dân tộc khác là “man di” mà tại sao không biết ghi những hoạt động của nhà nước vào sách sử của mình, nếu những hoạt động đó có thực? Tác giả Shen viết rằng trong quyển Hậu Hán thư có ghi: Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái thú ở tỉnh Giao Chỉ (Jiaozchi) đã có những cuộc tuần tiễu và “thám thính trên (các đảo của) biển Nam Hải”. Và ông ta đã ghi trong dấu ngoặc chữ viết bằng tiếng Trung là “xing bu Zhanghai”.[39] Đoạn này cho thấy không có chỗ nào nói đến Xisha và Nansha cả. Hơn nữa, chữ “đảo” là do tác giả thêm vào trong dấu ngoặc, chứ bản viết tiếng Trung mà ông ta chêm trong ngoặc kép (xing bu Zhanghai) không có chữ “đảo”, mà chỉ là thám thính Zhanghai, tức là Nam Hải, mà thôi. Tác giả Shen cũng viết rằng quyển Nam châu dị vật chí (Nanzhou Yiwu Zhi) kể những thuỷ thủ nhà Hán đi viễn chinh từ bán đảo Malaixia trở về Trung Hoa. Rồi ông trích câu trong Nam châu dị vật chí: “đi thuyền về phía Đông Bắc, người ta gặp rất nhiều đảo nhỏ, đá ngầm, bãi cát ngầm, trở nên rõ rệt tại biển Nam Hải, nơi đây nước cạn và có nhiều đá nam châm”.[40] Như vậy, trong Nam Châu dị vật chí không có chỗ nào nói đến viễn chinh trên đảo Xisha và Nansha, hoặc tuần hành quanh đảo này, mà chỉ nói chung chung là họ đi thuyền qua Biển Đông mà thôi, hoặc viễn chinh tại các vùng như Malaxia, Bornéo. Chỗ khác, tác giả Shen viết là chính quyền địa phương dưới triều đại nhà Tấn đã hành xử chủ quyền trên đảo Xisha và Nansha bằng cách gửi tàu đi tuần tiễu trên vùng biển quanh đó. Để chứng minh điều này, tác giả viện dẫn quyển Quảng Đông tổng chí (General Record of Quangdong) do Hao Yu-lin viết, có ghi là quan phụ trách những vấn đề biển Nam Hải thời đó, có đi tuần tiễu và thám thính tại biển Nam Hải (xing bu ru hai).[41] Ở đây cũng như trên, tác giả Shen không trích thẳng đoạn nào trong quyển Quảng Đông tổng chí ghi lại sự kiện trên, nên chúng ta không biết chính thức đoạn đó viết như thế nào. Chỉ 4 chữ tiếng Trung được ghi trong dấu ngoặc là “xing bu ru hai”. Nếu đây là nguyên văn trong sách sử, thì nó chỉ nói đến thám thính trên biển Nam Hải (nếu thật tình là biển Nam Hải, vì chúng ta không biết đây có phải là biển Nam Hải không hay là biển khác). Dù sự kiện đi tuần tiễu thám thính có thật đi chăng nữa thì nó chỉ tổng quát tại biển mà Trung Quốc nói là biển Nam Hải, chứ không nói là tuần tiễu quanh hai đảo Xisha và Nansha. Mà nếu sự thật là biển Nam Hải, thì nó rộng mênh mông làm sao mà biết được họ có tuần tiễu quanh hai quần đảo Xisha và Nansha hay không. Và nếu có, có phải là tuần tiễu để thanh tra đảo với tư cách là chủ của đảo hay chỉ là tuần tiễu vùng biển nói chung? Nguyên văn quyển sách mà tác giả Shen nói có thực sự viết đó là những cuộc tuần tiễu hay chỉ là đi thuyền ngang qua đó mà thôi? Chỗ khác, tác giả Shen khẳng định là hai đảo được đặt dưới quyền quản trị của huyện Qiongzhou (là Hải Nam bây giờ), nhưng không viện dẫn chứng cớ lịch sử nào cả, mà footnote chỉ ghi là tài liệu của một cơ quan chính quyền của Trung Quốc năm 1992.[42] Vả lại, nếu Trung Hoa thời đó có sáp nhập hai quần đảo và đảo Hải Nam đi nữa, thì sự sáp nhập không cũng không đủ để tạo nên chủ quyền theo tiêu chuẩn của luật quốc tế. Trung Quốc cũng cho rằng những di vật tìm thấy trên các đảo chứng minh rằng dân Trung Hoa đã sống ở đó. Những di tích lịch sử đào được trên đảo Xisha như bình, đồ gốm, và các di vật khác từ những năm 420 cho đến thời nhà Thanh, cho thấy từ thế kỷ thứ V, dân Trung Hoa đã sinh sống làm ăn trên các đảo vùng biển Nam Hải.[43] Từ đó Trung Quốc lập luận rằng vì dân Trung Quốc sinh sống ở đó, nên Trung Quốc có chủ quyền. Tuy nhiên, luật quốc tế không chấp nhận chủ quyền trên một lãnh thổ được thụ đắc vì có dân sống trên đảo. Trên đảo có rất nhiều loại dân sinh sống tuỳ theo mùa, kể cả dân Việt Nam chứ không phải chỉ có dân Trung Hoa và tư nhân không có quyền chiếm hữu lãnh thổ. * Từ thời nhà Nguyên đến nay Trung Quốc viện dẫn rằng Trung Quốc gửi một nhà chiêm tinh học đến đảo để tham quan và lấy kích thước đảo.[44] - Những cuộc viễn chinh được viện dẫn cho thời kỳ này thực ra là viễn chinh đến những vùng khác như vùng Java chứ không phải tại Xisha hoặc Nansha. - Đoạn được viện dẫn để chứng minh cho những cuộc tuần tiễu và viễn chinh trên đảo Xisha và Nansha, trích từ quyển Nguyên Sử (Yuan Shi) như sau: “… thuyền đi qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),… họ đổ bộ lên những đảo như Hundun Dayang, đảo Ganlan, Jialimada, và Julan, họ đóng ở đó và chặt cây để làm những thuyền nhỏ…” Tác giả giải thích Qizhou Yang và Wanlishitang là Xisha và Nansha, còn Jialimada là Bornéo hiện nay[45]. Tuy nhiên, điểm này mâu thuẫn với đoạn trích trong quyển Hải Lục: “Vạn Lý Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường”.[46] Dựa vào câu trích dẫn trên trong quyển Hải Lục, nếu chấp nhận hai cái tên này ám chỉ Nansha và Xisha, thì Vạn Lý Trường Sa phải là Nansha, còn Vạn Lý Thạch Đường phải là Xisha. Thế nhưng, quyển Nguyên Sử nói trên thì lại được diễn giải Vạn Lý Thạch Đường (Wanlishitang) tức là Nansha, và Qizhou Yang tức là Xisha. Rút cuộc người đọc không biết đâu là Nansha, đâu là Xisha nữa. Nếu ráp hai câu trích dẫn trên với câu trong quyển Chu Phan Chí đã được nêu ở đoạn trên: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường”, thì Vạn Lý Thạch Đường có thể là Macclesfield Bank. Tác giả Marwyn Samuels cũng khẳng định như vậy (xem sách của Marwyn Samuels, tr. 18 và 19, Reference Note 31). Một điểm khác có thể chứng minh Wanlishitang thực ra là Macclesfield Bank là câu trích trên của quyển Nguyên Sử: “… thuyền đi qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),…”. Nếu theo thứ tự trước sau trong lộ trình thì Wanlishitang không thể là Nansha, mà là Macclesfield Bank vì thuyền không thể đi ngang Nansha trước khi đi ngang qua Giao Chỉ được. Hơn nữa, đoạn này cho thấy thuyền chỉ đi qua Quizhou Yang và Wanlishitang, chứ không có chỗ nào nói là tuần tiễu trên hai đảo Xisha và Nansha (nếu chấp nhận Qizhou Yang và Wanlishitang là Xisha và Nansha).[47] Một đoạn khác được viện dẫn từ quyển Đảo Di Chí Lược (Abridged Records of Islands and Barbarians) của Wang DaYuan mà tác giả giới thiệu là một nhà hàng hải nổi tiếng thời Nguyên: “Gốc của Shitang bắt nguồn từ Chaozhou. Nó ngoằn ngoèo như một con rắn dài nằm trên biển, vắt ngang biển tới gần nhiều nước; nó được gọi theo lối bình dân là: Wanlishitang. Theo sự ước đoán của tôi, nó dưới 10.000 lý… Ta có thể nhận định được những nhánh của nó. Một nhánh vươn tới vùng Java, một nhánh Boni và Gulidimen, và một nhánh vươn tới phía tây của biển về phía Kunlun… Muốn an toàn thì nên tránh nó, vì đến gần rất nguy hiểm.”[48] Cả đoạn này cũng thế, không thấy nói là quân của Trung Hoa đi tuần tiễu quanh đảo hoặc đi viễn chinh đổ bộ lên đảo. Ngược lại, quần đảo được tả như là một con quái vật, có phần ghê gớm và đáng sợ, đáng tránh xa là đằng khác. Nếu tả một lãnh thổ mà mình xem như sở hữu của mình thì không bao giờ văn lại xa lạ như vậy cả. Trung Quốc cũng lập luận rằng dưới thời Minh, thế kỷ XV, nhà thám hiểm Cheng Ho (Trịnh Hoà) đã đi xuyên Biển Đông 7 lần, và khi trở về đã đưa Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ.[49] Tuy nhiên, những chuyến đi này hoàn toàn không hề có sự chiếm hữu hai quần đảo nói trên.[50] Những chuyến đi này không phải là viễn chinh để chiếm hữu đất mà nhằm thám hiểm biển để biết địa hải, tìm mối giao thương, và phô trương lực lượng với các quốc gia trong vùng, chư hầu của Trung Hoa.[51] Tác giả Samuels kết luận rằng ngay trong thời ấy các đảo vẫn không được Trung Hoa chú ý tới.[52] Để kết luận cho đoạn “chủ quyền lịch sử của Trung Quốc”, chúng ta có thể nói rằng những đoạn viết trước thế kỷ XIII chỉ chứng minh được việc các thuyền của Trung Hoa có đi lại trên biển Nam Hải. Những tại liệu này không nói đến một tên đảo nào trong hai quần đảo cả. Những tài liệu đầu tiên nêu tên đảo là những tài liệu cuối đời nhà Nguyên và dưới đời nhà Tống (thế kỷ XIII). Tuy nhiên những tài liệu này nêu tên Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường – không biết có phải là Xisha và Nansha hay không, nhất là Vạn Lý Thạch Đường – được tả nằm ở phía đông đảo Hải Nam, thì chắc chắn không phải là Nansha, mà có thể là Macclesfield Bank. Dù sao, những tài liệu này cũng chỉ chứng minh các thuyền của Trung Hoa có đi ngang và tình cờ thấy các đảo này trên lộ trình xuyên Biển Đông. Không có chữ nào cho thấy rằng Trung Hoa đã cho tàu đi tuần tiễu quanh các đảo đó với tư cách là chủ của đảo, để bảo vệ đảo, như là biên giới của mình. Cũng không có câu nào chứng minh rằng Trung Hoa đã tổ chức những cuộc viễn chinh trên hai quần đảo Xisha và Nansha, mà chỉ nói đến đi trấn an Giao Chỉ, viễn chinh ở Malaixia, Bornéo, Java. Theo luật quốc tế cổ điển thì chỉ nhìn thấy đảo không cần đổ bộ lên là được chủ quyền trên quyền khám phá. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này áp dụng cho các quốc gia phương Tây ngày xưa ra đi để khám phá, để tìm đất mới. Còn Trung Quốc chỉ đi ngang, tình cờ thấy, sau đó không hề chiếm hữu, không hề xem đảo như là của mình, để rồi mấy thế kỷ sau, khi quốc gia khác chiếm, mới cho rằng mình đã khám phá. Trường hợp như vậy cũng phải đặt câu hỏi là chỉ tình cờ trông thấy, không hề có ý định chiếm đất thì có thực sự là quyền khám phá theo nghĩa pháp lý hay không? Có thể nại quyền khám phá hay không khi thiếu yếu tố tinh thần là ý chí muốn tìm thấy đất mới và xem nó thuộc quyền sở hữu của mỉnh? Trường hợp Trung Hoa là “biết” chứ không phải khám phá.[53] Đặt giả thuyết là Trung Hoa có quyền khám phá, thì quyền khám phá này mới là quyền ban đầu, quyền phôi thai (inchoate title), bởi vì sau đó Trung Hoa không hề chiếm hữu đảo, dù là chiếm hữu tượng trưng, không hề đổ bộ lên đảo, và không hề hành xử chủ quyền. Nói chung là không hề xem đảo như là của mình. Toà án quốc tế đã phán quyết nhiều lần rằng quyền khám phá phải được hoàn tất bởi sự chiếm hữu, trong một thời gian tương đối, thì mới có hiệu lực.[54] Giáo sư Marwyn Samuels đã phân tích thái độ của Trung Hoa thời đó. Ông cho rằng chính sách của Trung Hoa cuối thời nhà Minh và thời nhà Thanh, không quan tâm đến vùng biển ngoài khơi mà chỉ chú tâm đến việc trấn giữ biên cương nội địa, vùng SinKiang (Tân Cương), Mông Cổ và biên giới phía bắc, nên lực lượng hải quân rất kém.[55] Dưới thời nhà Nguyên, là thời lực lượng hải quân hùng mạnh (thế kỷ XIV), Trung Hoa cũng vẫn không quan tâm đến những đảo ngoài khơi biển Đông, và không có ý định chiếm hữu chúng.[56] Ngược lại, các thuyền bè còn sợ chúng và tránh không dám đến gần vì sợ đá ngầm và nước cạn đã từng làm đắm bao nhiêu tàu của các nước khác. Các thuỷ thủ Trung Hoa thời đó đã có câu tục ngữ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: “Trên đường đi ra thì sợ Thất Châu (tức là Thất Châu Dương mà Trung Quốc bây giờ cho là Xisha), trên đường đi về thì hãi Côn Lôn.”[57] Với tâm lý thời đó như vậy làm sao Trung Hoa có thể xem đảo như sở hữu chủ nhằm viễn chinh và tuần tiễu quanh đảo nhằm bảo vệ đảo được? Điều này được kiểm chứng bởi những thái độ im lặng không phản đối sự hành xử chủ quyền của Việt Nam, mặc dù Trung Hoa biết đến những hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Nó cũng được kiểm chứng bởi vụ đắm tàu La Bellona và Imeji Maru (xem mục I của bài này). Tất cả những dữ kiện trên cho thấy Trung Hoa không những không hành xử chủ quyền, không xem những quần đảo như của Trung Hoa, mà lại còn minh thị và mặc thị công nhận chủ quyền của Việt Nam. 2.Hiệp ước 1887 Trung Hoa ngày xưa đã viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1887 để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về mình. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước này để khẳng định Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc. Thực sự, Hiệp ước này không phải là hiệp ước phân chia những đảo ở ngoài xa khơi (high sea) giữa toàn bộ nước Việt Nam và Trung Hoa mà chỉ ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Ngày nay, trong những cuộc đàm phán, Trung Quốc không nhắc đến Hiệp ước này nữa. Nhưng cho đến hiện tại, không ít các tác giả mà phần lớn là những tác giả Trung Hoa sống ở nước ngoài viết về vấn đề này, vẫn viện dẫn Hiệp ước 1887 như một trong những lý lẽ chính để chứng minh là hai quần đảo thuộc về Trung Quốc. Và một số các tác giả phương Tây, có lẽ vì ảnh hưởng dây chuyền, dùng những bài viết trên, nên cũng kết luận là Hiệp ước này trao cho Trung Hoa chủ quyền trên các đảo tranh chấp.[58] Vì vậy, thiết tưởng cũng nên làm sáng tỏ sự lầm lẫn này, vì ảnh hưởng dây chuyền của nó trong dư luận thế giới. Một số tác giả trên đã trích đoạn sau đây của Hiệp ước để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. “Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía đông đến phía tây bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đã được hai phái bộ xác định, có thể coi là thuộc về Trung Quốc. Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có nghĩa là trục bắc-nam đi qua điểm phía đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam.” Các tác giả trên lý luận rằng vì Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía đông kinh tuyến Paris 105°43’ nên thuộc về Trung Quốc.[59] Có tác giả cho rằng phải giải thích Hiệp ước theo sát nghĩa lời văn trong Hiệp ước.[60] Thực ra, nếu giải thích sát nghĩa, thì phải hiểu Hiệp ước 1887 là một hiệp ước phân chia biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa mà thôi, chứ không phải chia các đảo ở ngoài xa khơi (high sea, haute mer), không thuộc vùng biển của miền Bắc Việt Nam. Chỉ cần nhìn tên của Hiệp ước cũng đủ để thấy điều đó. Tên Hiệp ước là “Convention relative à la delimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin.”[61] Hơn nữa, Công ước Vienne về điều ước quốc tế có ấn định rằng một hiệp ước phải được giải thích sát nghĩa những từ được dùng trong hiệp ước, nhưng nếu phương pháp này đưa đến một sự “vô lý hay ngu xuẩn”, thì có thể dùng những tài liệu hoặc hiệp ước khác, có liên quan đến hiệp ước này, hoặc tìm hiểu mục đích của hiệp ước để giải thích những điểm không rõ rệt.[62] Dựa vào những điều khoản trên của Công ước Vienne, chúng ta có thể xét Hiệp ước 1887 theo ba phương pháp: 1) xét sát nghĩa lời văn của Hiệp ước, 2) xét toàn thể bản Hiệp ước, và 3) tìm hiểu mục đích của Hiệp ước. 2.1. Xét sát nghĩa lời văn bản Hiệp ước Việc này thật ra rất đơn giản trong trường hợp Hiệp ước 1887, như đã nói trên, chỉ cần nhìn tên của Hiệp ước trên bản chính bằng tiếng Pháp, cũng đủ thấy Hiệp ước này chỉ liên quan đến biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Tiếng Pháp “Tonkin” là miền Bắc Việt Nam. Trong thời thuộc địa, Pháp đã chia Việt Nam ra làm ba kỳ: miền Bắc gọi là Tonkin, miền Trung gọi là An Nam hoặc vẫn giữ tên của cả nước Việt Nam, và miền Nam gọi là Cochinchine. Các tác giả nêu trên tưởng rằng Tonkin là toàn thể nước Việt Nam. Chữ “frontière” dùng trong Điều 2 của Hiệp ước cho thấy rõ ràng là kinh tuyến Paris 105°43’ là biên giới biển, nhưng chỉ là biên giới biển thuộc miền Bắc Việt Nam (Tonkin), chứ không phải là đường phân chia các đảo ngoài khơi xa, ngang với miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam. Hiệp ước đã ấn định rõ chiều hướng của biên giới đó là hướng bắc nam, và nó kéo ngang góc đông của đảo Trà Cổ. Và vì đây là biên giới giữa Tonkin và Trung Hoa nên phải hiểu biên giới này chấm dứt ở điểm nào ngang với ranh giới mà trước kia Pháp đã ấn định giữa Tonkin và Annam (tức là ranh giới giữa miền Bắc Việt Nam và miền Trung Việt Nam). Việc ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa cũng dễ hiểu nếu nhìn vào cách Pháp chia và quản trị nước Việt Nam thời đó. Nhằm thực hiện chính sách “chia để trị”, Pháp đã chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Miền Bắc theo chế độ bảo hộ, miền Trung – vì hệ thống vua và triều đình Huế vẫn còn (dù chỉ là tượng trưng) – nên theo chế độ tự trị, và miền Nam thì theo chế độ thuộc địa. Ba miền được xem gần như ba xứ riêng biệt. Vì vậy, vấn đề ấn định biên giới chỉ là giữa Tonkin (miền Bắc) và Trung Hoa mà thôi, chứ không phải miền Trung hoặc miền Nam, là chuyện dễ hiểu đối với chính sách thuộc địa của Pháp thời đó. Nói tóm lại, dùng phương pháp giải thích sát nghĩa cho thấy hai chữ “Tonkin” và “frontière” chỉ rõ đây là biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Nó bao gồm biên giới đất và biên giới biển tức là vùng Vịnh Bắc Bộ.[63] 2.2. Xét toàn bộ bản Hiệp ước Toàn bộ bản Hiệp ước không có chỗ nào nói đến Hoàng Sa và Trường Sa. Toàn văn bản Hiệp ước nói đến việc kẻ biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa, và ấn định những điểm mà Uỷ ban kẻ biên giới của hai bên Pháp-Thanh không đồng ý với nhau được, đó là hai đoạn biên giới Vân Nam và Quảng Đông. Các tác giả nói trên chỉ viện dẫn đoạn liên quan tới đoạn biên giới Quảng Đông. Tuy nhiên, trước đó, Hiệp ước có nói: “Những điểm mà Uỷ ban hai bên không đồng ý với nhau được, và những điều chỉnh được dự trù ở Điều 3 của Hiệp ước 9-6-1885 được ấn định như sau: ở Quảng Đông, những điểm tranh chấp…”. Sau đoạn nói đến biên giới Quảng Đông, tới đoạn ấn định biên giới Vân Nam: “Trên vùng biên giới Vân Nam, đường biên giới được ấn định như sau:…”[64] Nếu theo sự giải thích của Trung Hoa, là tất cả những đảo nào nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’ thuộc về Trung Hoa, thì không những Hoàng Sa, Trường Sa, mà tất cả các đảo ven bờ biển Việt Nam nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’ đều thuộc về Trung Quốc. Sự giải thích đưa đến một kết luận “vô lý hoặc ngu xuẩn” (absurd or unreasonable) theo đúng như danh từ mà Công ước Vienne dùng. Do đó, chúng ta có thể tìm hiểu mục đích của Hiệp ước 1887 bằng cách xét các tài liệu và các hiệp ước liên quan đến Hiệp ước 1887. 2.3. Mục đích của Hiệp ước 1887 Nếu đọc bản báo cáo của ông Dureau de Vaulcomte gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp giải thích Hiệp ước 1887, chúng ta càng thấy rõ hơn mục đích của Hiệp ước là kẻ hai đoạn tranh chấp của biên giới miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa.[65] Hiệp ước 1887 được ký thể theo Điều 3 của Hiệp ước 1885 là một hiệp ước hữu nghị nhằm chấm dứt sự xung đột giữa hai bên Pháp – Thanh. Sau khi Pháp đưa quân đến Việt Nam thì ba Tổng đốc: Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam cho quân vượt biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Vì vậy, để chấm dứt tình trạng này và vãn hồi lại biên giới cũ, Pháp đã thoả thuận với Trung Hoa ở Điều 3 của Hiệp ước 1885, là hai bên sẽ lập một Uỷ ban kẻ biên giới gồm chuyên viên của cả hai bên để kẻ lại biên giới. Hiệp ước 1885 cũng ấn định là nếu có điểm bất đồng giữa chuyên viên của hai bên về bất cứ điểm nào liên quan đến việc kẻ biên giới thì Uỷ ban này sẽ chuyển vấn đề sang cho chính quyền hai bên xét xử.[66] Biên giới được kẻ chia ra làm ba đoạn: đoạn biên giới Quảng Tây, đoạn biên giới Quảng Đông, và đoạn biên giới Vân Nam. Việc ấn định đoạn Quảng Tây không gặp rắc rối gì, nhưng hai bên không thoả thuận được trong việc kẻ hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam. Từ đó mới có Hiệp ước 1887 do hai chính quyền ký để giải quyết hai đoạn biên giới trên. Tại Quảng Đông, sự bất đồng liên quan đến vùng Paklung (Bạch Long) và những đảo quanh đó. Vì có quân thổ phỉ từ Trung Hoa sang tập trung ở vùng này, nên Pháp đã đưa quân đến chiếm đóng. Trung Hoa phản đối, đòi vùng này là vùng của Trung Hoa. Do đó, mới xảy ra sự tranh chấp.[67] Như vậy, sự tranh chấp không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa. Lúc đó, Trung Hoa chưa để ý đến hai quần đảo này, và Pháp cũng chưa biết rằng Việt Nam đã có chủ quyền trên hai quần đảo đó. Vì thế lúc đó chưa hề có tranh chấp trên hai quần đảo này. Cho nên, Pháp và Trung Hoa khi ký kết Hiệp ước 1887 không hề nghĩ đến hai quần đảo này. Tóm lại, mục đích của Hiệp ước 1887 là kẻ hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam; và đường biên giới kẻ theo Điều 2 của Hiệp ước 1887 chỉ giới hạn ở biên giới miền Bắc Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ mà thôi. Trung Quốc một mặt nói rằng Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa, là những đảo nằm ngoài khơi xa, nhưng mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ thì Trung Quốc lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ phân chia “những đảo ở vùng Bắc Bộ”, chứ không phải là biên giới biển. Ngày 12 tháng 5 năm 1973, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hàn Niệm Long (Han Nian Long) đã tuyên bố điều nói trên. Như vậy, Trung Quốc tự mâu thuẫn.[68] 3. Những lời tuyên bố của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa vì những dữ kiện sau đây: · Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nói rằng “theo những tài liệu của Việt Nam, trên phương diện lịch sử, Xisha và Nansha thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.” · Ngày 14 thágn 9 năm 1958, trong bối cảnh của thời kỳ chiến tranh lạnh, khi Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam, tuyên chiến với Trung Quốc, và hạm đội Mỹ đi lại tuần tiễu trên eo biển Đài Loan, Trung Quốc bèn tuyên bố lãnh hải của mình là 12 dặm. Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nguyên văn như sau: “Thưa đồng chí Tổng lý Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.[69] · Ngày 9 tháng 5 năm 1965, nhân lúc Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam và ấn định những vùng chiến thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố Xisha thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau: “Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”[70] (Có thể dịch là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”). Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp. Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.[71] Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.”[72] Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó. Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.[73] Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: 1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).[74] 2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”. 3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.[75] 4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…[76] Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.[77] Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó. Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.[78] Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt.[79] Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”. Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc. Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Toà án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc. Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.[80] Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.[81] Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý. Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay. Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời.[82] Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường. Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử.[83] Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương. III. KẾT LUẬN Những phân tích trên cho thấy lý lẽ của Việt Nam mạnh hơn của Trung Quốc, vì Việt Nam đã sử dụng hai quần đảo liên tục trong ba thế kỷ, sử dụng một cách hoà bình không có sự phản đối của bất cứ một quốc gia nào, kể cả Trung Quốc. Không những thế, sách sử của Trung Quốc lại còn công nhận rằng những quần đảo đó là vòng đai phòng thủ của Việt Nam, và qua thái độ của họ trong thời gian đó thì Trung Quốc cũng đã mặc thị công nhận chủ quyền của Việt Nam trên những quần đảo này. Nếu cho rằng Chúa Nguyễn đã khai thác các đảo từ đầu thế kỷ XVII, sau gần 100 năm, chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã hoàn tất. Chủ quyền lịch sử đó lại được củng cố thêm qua sự chiếm hữu của vua Gia Long và Minh Mạng. Đồng thời, chủ quyền vẫn được hành xử liên tục qua sự khai thác và quản trị của hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải, là những bộ phận của nhà nước. Phía Trung Quốc cũng đã đưa ra những tài liệu để chứng minh rằng mình đã khám phá và hành xử chủ quyền trước tiên. Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ cho thấy những thuyền bè của Trung Quốc thời đó đã lui tới Biển Đông, và trong lộ trình, họ tình cờ thấy những đảo mang nhiều tên khác nhau, nhưng không có đảo nào tên là Xisha hay Nansha. Nếu đặt giả thuyết là Trung Quốc đã khám phá ra những đảo này, thì Trung Quốc đã không hành xử chủ quyền trên đó. Sự hiện diện của những người đánh cá không đủ để gọi rằng đó là hành xử chủ quyền của nhà nước. Do đó, chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc khẳng định mình có, rất yếu. Phần lớn các tác giả luật gia chuyên về luật quốc tế, trừ những tác giả Trung Hoa, đều công nhận điều này.[84] So sánh chủ quyền lịch sử viện dẫn bởi hai bên, chúng ta có thể kết luận rằng giữa Việt Nam và Trung Quốc thì Việt Nam mới là quốc gia có chủ quyền lịch sử trên hai quần đảo. Phân tích còn cho thấy chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã được hoàn tất từ thế kỷ XVII, dưới thời Chúa Nguyễn. Hiệp ước Pháp-Thanh 1887 không trao chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc vì Hiệp ước này chỉ là hiệp ước ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Do đó, nó chỉ ấn định phần biên giới ở Vân Nam, Quảng Đông và Vịnh Bắc Bộ. Những lời tuyên bố trước đây của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về hai quần đảo này không có hiệu lực vì trước năm 1975 hai quần đảo này không thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hoà. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là quốc gia tranh chấp, nên những lời tuyên bố này chỉ là những lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không liên can. Hơn nữa, lúc đó nếu không chấp nhận rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia thứ ba, thì “estoppel” cũng không áp dụng trong những trường hợp này, vì Trung Quốc đã không bị thiệt hại gì, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hưởng lợi gì qua những lời tuyên bố đó. Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bị tác động bởi hoàn cảnh chiến tranh. Cuối cùng, nếu xem ba lời tuyên bố này như là của Việt Nam nói chung, thì nó thiếu tính liên tục và trường kỳ để có thể làm mất đi chủ quyền của Việt Nam, với tư cách là một chủ thể duy nhất, đã hành xử và khẳng định quyết liệt từ hơn ba thế kỷ nay. Trên thực tế thì hiện nay, Trung Quốc đã kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã cho xây cất nhiều công trình nhằm củng cố sự chiếm hữu bất hợp pháp. Một sự chiếm hữu bất hợp pháp, với thời gian, nếu không có sự phản đối từ quốc gia kia, và nếu có sự thừa nhận của các quốc gia thứ ba, sẽ tạo nên chủ quyền cho quốc gia chiếm hữu. Vì thời gian với sự công nhận sẽ “tẩy xoá tội lỗi”.[85] Trong hoàn cảnh hiện tại, muốn bảo đảm cho sự chiếm hữu của Trung Quốc không thể tạo ra chủ quyền được, thì Việt Nam phải thường xuyên lên tiếng phản đối và khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa (và cả Trường Sa nữa). Việt Nam cũng nên công khai đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa ra trước Toà án Quốc tế. Nếu Trung Quốc thật tình tin tưởng rằng mình có căn bản pháp lý vững chắc để khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo này, thì Trung Quốc không có lý do gì để từ chối một giải pháp pháp lý. Còn Trường Sa thì hiện nay đang bị 6 quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là: Philippin, Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Malaxia và Brunây. Quốc gia nào cũng đòi chủ quyền của mình trên hết cả quần đảo hoặc một số đảo. Đến nay, vấn đề vẫn chưa giải quyết được mà còn trầm trọng thêm. Năm 1988, Trung Quốc lần đầu tiên ra đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa, tàu của Việt Nam bị đánh đắm, nhưng Trung Quốc chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ đến cứu. Đây là một sự vi phạm những điều luật cơ bản nhất của chiến tranh. Như vậy, có thể suy đoán Trung Quốc sẽ không ngần ngại gì mà không tiếp tục sử dụng vũ lực. Từ đó đến nay, lâu lâu, Trung Quốc lại chiếm thêm vài đảo ở quần đảo Trường Sa. Trung Quốc một mặt vẫn hô hào tôn trọng luật quốc tế, và đề nghị thương thuyết song phương, nhưng lời nói của Trung Quốc không đi đôi với việc làm.[86] Vì vậy, không thể dựa vào những lời nói của Trung Quốc để kết luận rằng Trung Quốc sẽ ngừng không dùng vũ lực. Viễn tưởng Trung Quốc dùng biện pháp vũ lực để thôn tính hết các đảo tại quần đảo Trường Sa càng dễ xảy ra hơn, khi mà Mỹ và Nga đã rút khỏi Biển Đông, để lại một khoảng trống chính trị và quân sự tại vùng này, khiến cho Trung Quốc hiện nay là một quốc gia bá chủ ở Biển Đông.[87] Điều này rất đáng lo ngại. Trung Quốc nắm hết cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nắm hết Biển Đông, mà Biển Đông là con đường giao thông quan trọng của các thuyền bè Nga, Mỹ, Nhật Bản và các quốc gia khác trên thế giới.[88] Một giải pháp thương thuyết song phương giữa Trung Quốc và các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp khó thực hiện được một cách công bằng, vì sức mạnh để thương thuyết giữa hai bên không bằng nhau, nó chênh lệch và mạnh dĩ nhiên là Trung Quốc. Cũng vì vậy mà Trung Quốc cho đến nay chỉ chấp nhận thương thuyết song phương. Trung Quốc muốn thương thuyết song phương để buộc quốc gia đối phương phải thương thuyết theo chiều mà Trung Quốc muốn. Nếu không Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực.[89] Đây chỉ là một chiến thuật để Trung Quốc tranh thủ thời gian để củng cố thêm thế của mình đối với hai quần đảo. Thời gian càng kéo dài thì càng có lợi cho Trung Quốc. Giải pháp khai thác chung mà Trung Quốc đề nghị không thể thực hiện được khi mà vấn đề chủ quyền chưa được giải quyết. Như vậy, thời gian càng kéo dài thì lại càng củng cố được những sự chiếm hữu bất hợp pháp, và quốc gia nào có chủ quyền pháp lý vững vàng sẽ bị thiệt thòi. Giải pháp đưa ra Toà án Quốc tế hoặc Trọng tài Quốc tế có lẽ công bằng nhất, nhưng Trung Hoa ngày xưa đã hơn một lần phủ nhận giải pháp này, khi Pháp đề nghị vào năm 1932 và năm 1947. Đối với Trung Quốc bây giờ thì lại càng khó hơn nữa. Giải pháp hiện thời, thực tiễn nhất là đem ra khối ASEAN hoặc Liên hợp quốc để giải quyết. Liên hợp quốc là giải pháp có thể hữu hiệu hơn, vì đem ra cơ quan này có tính cách khoáng đại, cho phép Mỹ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia khác tham dự vào. Hơn nữa, trường hợp Liên hợp quốc không giải quyết được, hoặc nếu có vấn đề trong việc giải quyết, Liên hợp quốc vẫn có quyền đem vấn đề ra Toà án quốc tế và yêu cầu Toà cho ý kiến (avis consultatif) mà không cần sự đồng ý của bất cứ quốc gia nào. “Thủ tục cho ý kiến” của Toà án Quốc tế không có hiệu lực quyết định như một bản án thực sự, nhưng nó vẫn có một tác động mạnh mẽ trong dư luận thế giới. Vụ tranh chấp vùng Tây Sahara đã được Toà cho ý kiến trong những hoàn cảnh như trên (nghĩa là thể theo yêu cầu của Liên hợp quốc). [90] Cuộc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cần phải giải quyết càng sớm càng tốt. Để càng lâu, nó càng đe dọa hòa bình ở Đông Nam Á và có thể là hoà bình thế giới. * Tham luận đọc tại Hội Thảo Hè “Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông” tại New York City, ngày 15-16 tháng 8, 1998. [1] Tiến sĩ Luật, Đại học Sorbonne. [2] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục. Trích từ Võ Long Tê, Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages viêtnamiens d’histoire et de geographie, Sài Gòn, 1974, tr. 62. [3] Eveil economique de l’Indochine, no. 741. [4] Nguyễn Quốc Định: Droit International Public, LIbrarie Générale de Droit et de Jurisprudence, Paris, 1975. tr. 401-402. [5] Robert Jennings: The acquisition of territory in international law (New York, 1963), viện dẫn Charles de Visscher. Luật gia Charles de Visscher viết như sau về phương pháp consolidation: “… Le long usage établi, qui en est le fondement, ne fait que traduire un ensemble d’interêts et de relations qui tendent par eux meme à rattacher un territoire ou un espace maritime à un état determine… elle peut être repute acquise… par une absence d’opposition suffisemment prolongée…”, xem Jennings, tr. 25, lưu ý 2. [6] Võ Long Tê, Kes archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages viêtnamiens d’histoire et de geographie, Sài Gòn, 1974, tr. 39 và 40. [7] Sđd., tr. 34-35. [8] Sđd. tr. 48. [9] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, 1776. Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam viện dẫn: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1979, tr. 13. [10] Sđd, tr. 14-15. [11] Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982, tr. 13 và 14. [12] Võ Long Tê, Sđd, tr. 69. [13] M.A. Dubois de Jancigny: Thế giới, lịch sử và sự mô tả các dân tộc, các tôn giáo của họ, Ceylan, (1830). Võ Long Tê viện dẫn, Sđd, tr. 168. [14] J. B. Chaigneau (1769-1825): Notice sur la Cochinchine, 1820. Võ Long Tê viện dẫn, Sđd, tr. 168. [15] Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao, Sđd, tr. 21. [16] Võ Long Tê, Sđd, tr. 100. [17] Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao, Sđd, tr. 21. [18] Sđd, tr. 25. [19] Gutzlaff: Geography of the Cochinchinese Empire in Journal of the Geographical Society of London, 1849, tập XIX. Viện dẫn bởi Nhà xuất bản Sự thật, Sđd, tr. 16, Gutzlaff viết như sau: “Chính phủ An Nam thấy đặt một hạn ngạch thuế thì có thể thu được nhiều lợi bèn lập những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này (tức quần đảo Paracel, mà tác giả gọi là KatVang) để thu thuế mà mọi người tới đây đều phải nộp…” [20] Vụ án Clipperton: Recueil des Sentences Arbitrales, tập II. [21] Teh-Kuang Chang: China’s claim of sovereignty over Spratley and Paracel Islands: a historical and legal perspective, Case Western Reserve Journal of International Law, vol. 23 (1991), p. 418. [22] Jian-Ming Shen: International law rules and historical evidence supporting China’s title to the South China Sea islands, Hastings International and Comparative Law Review, vol. 21 (1997), p. 22 & 23. [23] Vụ án đảo Palmas: Receuil des Sentences Arbitrales, tập II, tr. 859-860. [24] Monique Chemillier-Gendreau: La souveraineté sur les Paracels et Spratleys. L’Harmatan, Paris, 1996, p. 71. [25] Võ Long Tê, Sđd, tr. 111. [26] Sđd, tr. 110. [27] Gendreau, Sđd, tr. 21, 23. [28] Võ Long Tê, Sđd, tr. 134. [29] Võ Long Tê, Sđd, tr. 61. [30] Sđd, tr. 157. [31] Tao Cheng: The dispute over the South China Sea Islands, Texas International Law Journal, vol. 10 (1975), p. 272. [32] Jian-Ming Shen, Sđd, tr. 18. [33] Sđd, tr. 17. [34] Elizabeth van Wie Davis: China and the Law of the Sea Convention, Follow the Sea, New York, 1995, p. 154. Cũng xem Marwyn Samuels: Contest for the South China Sea, New York/London, 1982, tr. 16. Và Shen, Sđd, tr. 21. [35] Van Wie Davis, Sđd. Cũng xem Shen, Sđd, tr. 31. Cũng xem Hungdah Chiu & Choon-ho Park: Legal status of the Paracels and Spratly Islands, Ocean Development and International Law Journal, tập 3 (1975), tr. 43. [36] Samuels, Sđd, note 31, tr. 38. [37] Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 10. [38] Shen, Sđd, tr. 15. [39] Sđd, tr. 18. [40] Sđd, tr. 19. [41] Sđd, tr. 20. [42] Sđd, tr. 21. [43] Sđd, tr. 20 và 21. Cũng xem Teh Kuang Chang, Sđd, tr. 400, và Hungdah Chiu, Sđd, lưu ý 32, tr. 463 và 465. [44] Shen, Sđd, tr. 27. [45] Sđd. [46] Xem chú thích 2 ở trang 361, Chiu, Sđd, lưu ý 32. [47] “… guo Qizhou Yang, Wanlishitang…”. Chữ “guo” của tiếng Trung, nghĩa là “qua” của tiếng Việt. [48] Shen, Sđd, tr. 28. [49] Hungdah, Sđd, tr. 463. [50] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 17. [51] Samuels, Sđd, tr. 21 và 22. [52] Sđd, tr. 23. [53] Gendreau, Sđd, tr. 57 và 58. Cũng xem Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 14. [54] Vụ án đảo Palmas, Sđd, tr. 846. “Inchoate title must be completed within a reasonable time by effective occupation of the region…”. [55] Samuels, Sđd, tr. 30-31, 42. [56] Sđd, tr. 20. [57] Sđd, tr. 17 và 21. [58] Ít ra các tác giả sau đây đã viện dẫn Hiệp ước 1887: - Hungdah, Sđd, tr. 464 và 467. - Shen, Sđd, tr. 119. - Tao Cheng, Sđd, tr. 274. - John Chao: South China Sea: boundary problems relating to the Nansha and Xisha Islands, Chinese Yearbook of International Law, tập 9 (1989-1990): tr. 119 và tiếp theo. - Steve Kuan Tsy Yu, Who owns the Paracel and Spratlys? An evaluation of the nature and legal basis of the conflicting territorial claims, Chinese Yearbook of International Law, vol. 9 (1989-1990): p. 5, 7 and 8. - Choon-ho Park, The South China Sea dispute: Who owns the islands and the natural resources? Ocean Development and International Law Journal, vol. 5 (1978): p. 34. - Marwyn Samuels, Sđd, tr. 52-53. - Brian Murphy, Dangerous ground: the Spratly Islands and international law, Ocean and Coastal Law Journal, vol. 1 (1994), p. 201. - Elizabeth van De Wie, Sđd, tr. 52-53. - Michael Bennet, The PRC and the use of international law in the Spratly Islands dispute, Stanford Journal of International Law, vol. 28 (1992), p. 446. [59] Hungdah, Sđd, tr. 464. [60] Shen, supra, tr. 120. [61] Receuil des Traités de la France, Tome 17 (1886- 1887). Duran & Pedone (Paris), 1891, p. 387. [62] Convention de Vienne sur le Droit des Traités, 1969, Art. 32. [63] Có tác giả đã cho rằng Hiệp ước 1887 không ấn định biên giới biển, xem Elizabeth van De Wie, Sđd, tr. 156. Tuy nhiên, nếu theo sát nghĩa lời văn của Điều 2 của bản Hiệp ước (tức là hiểu những từ theo nghĩa thông thường của chúng) thì rõ ràng là kinh tuyến Paris 105°43’ là biên giới biển giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. “Les Iles qui sont à l’est du meridien de Paris 105°43’, … c’est à dire de la ligne Nord-Sud passant par le point oriental de l’èle de Tra Co, et formant la frontière…” [64] Receuil des Traités, Sđd, tr. 387 và 388. [65] Sđd, Rapport Vaulcomte, tr. 187. [66] Traité de Paix, d’Amitié et de Commerce conclu à Tien-Tsin le 9/6/1885 entre la France et la Chine, trong Receuil des Traités de la France, Tome 16, tr. 496. [67] Rapport Vaulcomte, Sđd, tr. 189-191. [68] Shen, Sđd, tr. 123. [69] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 105. [70] Gendreau, Sđd, tr. 123. [71] Shen, Sđd, tr. 57. [72] Charles Vallée: Quelqques observations sur l’estoppel en Droit des gens, Revue Générale de Droit International Publie (1973), p. 951, note 7. [73] D. W. Bowett: Estoppel before International Tribunals and its relation to acquiescence, Bristish Yearbook of International Law, vol. 33 (1957), p. 177. [74] Antoine Martin: L’Estoppel en droit international public Précédé d’un apercu de la théorie de l’estoppel en droit anglais, Revue Générale de Droit International Publie, vol. 32 (1979), p. 274. [75] Sđd, tr. 286-300. [76] Délimitation de la frontière maritime dans la region du Golfe de Maine, Cour Internationale de Justice Receuil, 1984, p. 309-310. - Activités militaires et para-militaires au Ncarague et contre celui-ci, Cour Internationale de Justice Receuil, 1984. p. 414-415. - Affaire du Temple Préah Vihear, Cour Internationale de Justice Receuil, 1962, p. 22-23, 32. [77] Brigitte Bollecker-Stern: L’Affaire des essays nucléaires francais devant la Cour Internationale de Justice, Annuaire Francais de Droit International (1974), p. 329. Cũng xem Megan Wagner: Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice, California Law Review, vol. 74, p. 1792. [78] Cour Internationale de Justice Receuil 1984, Sđd, p. 414. [79] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 75. [80] Cour Internationale de Justice Receuil, 1974, tr. 267 và 269. [81] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 104-110. [82] Megan Wagner, Sđd, lưu ý 64, tr. 1780. [83] Bollecker – Stern, Sđd, tr. 331. [84] Trong các tác giả phương Tây khẳng định lý lẽ chủ quyền lịch sử của Trung Quốc rất yếu, có ít nhất các tác giả sau: - Bennett, Sđd, tr. 446; - Murphy, Sđd, tr. 201; - Roque Jr., Sđd, tr. 203; - Chemillier – Gendreau, Sđd, tr. 66; - Jean Pierre Ferrieer, xem tiếp, tr. 182; - Samuels, Sđd, tr. 40. Giáo sư Samuels không bàn đến vấn đề chủ quyền, nhưng phân tích lịch sử sự liên hệ của Trung Hoa đối với biển Đông và các đảo; ông viết rằng cho đến thế kỷ XIX không có bằng chứng nào rằng nhà Thanh đã chiếm hữu những đảo này làm sở hữu của mình: “By the mid-19th Century, the literari cognitive map of the South China Sea had become more elaborate, but still barely touched upon the islands of the sea… There is no evidence here that the Ching State had in any sense absorbed the islands into the imperial domain.” [85] Jean Pierre Ferrier: Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabités, Annuảie Francais de Droit International (1975), p. 178: “… quoi qu’il en soit la conquête militaire des iles par la Chine ne peut résoudre le problème juridique: pour qu’une telle occupation, ellegale dans son principe, puisse avoir des effets juridiques, il faut que la reconnaissance par les autres états intervienne et ‘purge juridiquement de ses vices’ l’annexion ainsi réalisée.” [86] Mark Valencia: China and the South China Sea disputes, Oxford University Press, London, 1995, p. 7. [87] Bennett, Sđd, tr. 427. [88] Jeannette Greenfield: China’s practice in the Law of the Sea, Clarendon Press, Oxford, 1992, p. 13. [89] Mark Valencia, Sđd, tr. 6 và 7. Cũng xem Murphy, Sđd, tr. 209 và 210. [90] Vụ Sahara Occidental, xem Avis Consultatif, Cour Internationale de Justice Receuil, 1975, tr. 21 tới 28. Trong những trang này, Toà nói về thẩm quyền cho ý kiến của mình thể theo Điều 65, Đoạn 1 trong Quy chế của Toà. © Tạp chí Thời đại
  14. 1.2.4. Trung Quốc nói rằng những đảo trong bản đồ của Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ), không phải là Xisha (đảo Cồn cát Tây) và Nansha (đảo Cồn cát Nam) của Trung Quốc vì bản đồ cho thấy những đảo gần bờ biển quá.[21] Phải nói rằng kỹ thuật đo lường, kỹ thuật vẽ bản đồ, ý niệm về khoảng cách và thời gian ngày xưa không phải như ngày nay. Chính những tác giả Trung Quốc đã khẳng định điều đó.[22] Vấn đề xác định những đảo tranh chấp không phải là mới mẻ, vì nó đã được đặt ra trong nhiều bản án.[23] Vấn đề này cũng được đặt ra đối với lập luận của Trung Quốc ở mục 1.3. của bài này. Dù sao, trong trường hợp Việt Nam, chỉ cần nhìn bản đồ cũng thấy rằng không có sự nhầm lẫn giữa Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo ở ven biển, khi bản đồ được vẽ, vì những đảo ven bở biển như đảo Ré cũng đều được vẽ trên bản đồ, những đảo này đã được vẽ sát dọc theo bờ biển. Mà trên thực tế, giữa những đảo ven bờ biển và Hoàng Sa, Trường Sa, không có đảo hoặc quần đảo nào khác. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng những quần đảo mà bản đồ Việt Nam ghi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa chính là Hoàng Sa và Trường Sa. Phương pháp suy diễn này đã được áp dụng trong bản án Palmas. Người vẽ bản đồ chỉ không có ý niệm xác thực về khoảng cách không gian và tỷ lệ phải áp dụng khi chuyển nó lên mặt giấy để vẽ bản đồ, nên vẽ khoảng cách ngắn hơn thực tế. Ngay cả khoảng cách giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa cũng bị rút ngắn lại, khiến cho thoạt nhìn, người ta có thể tưởng rằng đây chỉ là một quần đảo. Tuy nhiên, nhiều điều rút từ những ghi chép trong sách sử Việt Nam, và từ những bản đồ thời đó, đã chứng minh đó không phải chỉ là một quần đảo Hoàng Sa: (1) Trên bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ có ghi tên hai đảo rõ rệt vẽ bằng chữ nho: Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. (2) Các sách sử địa của Việt Nam có nói đến 130 đảo. Con số này không phù hợp với số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, hoặc quần đảo Trường Sa tính riêng. Nhưng nếu cộng số đảo của hai quần đảo lại thì con số vừa đúng là 130.[24] (3) Nếu so sánh bản Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1), bản đồ phóng đại của quần đảo này trích từ Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 2), bản đồ The Times Atlas of the World (ghi tắt là Atlas, Bản đồ 3 và 6), bản đồ phóng to hiện thời của dãy Hoàng Sa (Bản đồ 4), và bản đồ của dãy Trường Sa (Bản đồ 7), thì sẽ thấy như sau: · Hình dạng của dãy quần đảo trên Bản đồ 1 không phù hợp với hình dạng của quần đảo Hoàng Sa nói riêng. Hình dạng của quần đảo của Hoàng Sa là theo hình vòng tròn, nó gồm hai cụm đảo chính là cụm Crescent hình dạng đúng như cái tên của nó, tức là các đảo nằm cụm vào nhau theo hình lưỡi liềm. Phía sau cụm Crescent (Lưỡi Liềm) là cụm Amphitrite (An Vĩnh), xếp theo hình vòng cung. Ngoài ra có vài đảo rải rác quanh đó, nằm theo hình vòng tròn vây quanh hai cụm đảo chính, chứ không phải hình dài (xem Bản đồ 3 và 4). Trong khi đó, nếu nhìn vào Bản đồ 2, ta sẽ thấy một quần đảo theo hình chuỗi trải dài xuống và bị thóp lại ở giữa, hoàn toàn không phải là hình cụm như quần đảo Hoàng Sa. Phần trên của chuỗi này, được xếp theo cụm giống như Hoàng Sa (xem đoạn từ A tới B trên bản đồ, do tác giả kẻ cho dễ thấy). Nhưng nửa dưới của chuỗi đảo mang một hình dạng xuôi dài xuống (đoạn kẻ từ B tới C), không giống một phần nào của quần đảo Hoàng Sa như ta thấy trên Bản đồ 3 hoặc Bản đồ 4. Phần này chắc chắn không phải là Hoàng Sa. Theo Bản đồ 6 thì giữa quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa không có một quần đảo nào khác cả, mà quần đảo hình chuỗi dài xuống thì lại càng không có. Như vậy phần dưới của chuỗi đảo được vẽ trên Bản đồ 2 không thể là quần đảo nào khác hơn là Trường Sa. Mỗi phần lại có một tên riêng viết bằng chữ nho: “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa”. Điều này chứng minh Đại Nam nhất thống toàn đồ phân biệt rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. · Bản Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1) cho thấy chuỗi đảo kéo dài suốt từ Quảng Nam đến tận Cam Ranh, đảo thấp nhất trên bản đồ nằm ngoài khơi Cam Ranh và Khánh Hoà. Trong khi đó quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ Atlas nằm ngoài khơi tỉnh Quảng Nam, đảo thấp nhất của nó theo hướng tây nam là đảo Triton (đảo Tri Tôn) nằm song song với tỉnh Quảng Nam. Trên Bản đồ 2, đảo thấp nhất phía tây của cụm đảo A-B nằm ngang với cửa Đại Cát (trong sách của Đỗ Bá gọi là Đại Chiêm), mà Đại Cát vị trí ngang với Quảng Nam. Như vậy, đảo nói trên là đảo Triton (gạch chữ X trên Bản đồ 2, do tác giả ghi). Và như thế thì làm sao cắt nghĩa được đoạn dưới của chuỗi đảo trên Đại Nam nhất thống toàn đồ, là đoạn bắt đầu từ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi trên bản đồ Atlas) đến vịnh Cam Ranh? Đảo Hoàng Sa không kéo dài xuống tới Khánh Hoà hoặc vịnh Cam Ranh. Nếu nhìn vảo bản đồ Atlas, ta sẽ thấy song song với tỉnh Phan Rang, gần vịnh Cam Ranh (xem Bản đồ 6), là đảo Thitu (đảo Thị Tứ) của dãy Trường Sa: Northeast Cay (đảo Song Tử Đông), Southeast Cay (đảo Song Tử Tây), South Reef (đá Nam), và West York Island (đảo Dừa), đều nằm ngoài khơi, ngang với khoảng cách từ Khánh Hoà tới Cam Ranh (xem Bản đồ 7). · Nhìn vào bản đồ của Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1), có thể có 4 giả thuyết: a) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải không biết đến Trường Sa và các tác giả chỉ vẽ Hoàng Sa mà thôi. b ) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải đã hoạt động ở cả quần đảo Hoàng Sa và toàn thể quần đảo Trường Sa, và tác giả của bản đồ muốn vẽ cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng vì kỹ thuật kém, nên toàn khối Trường Sa gần với Hoàng Sa hơn ngoài thực tế. c) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải chỉ hoạt động và thám thính các đảo phía bắc của dãy Trường Sa, tức Northeast Cay, Southeast Cay, South Reef và Thitu; và người vẽ bản đồ, vì kỹ thuật kém nên vẽ các đảo đó gần với quần đảo Hoàng Sa. d) Đội Hoàng Sa và Bắc Hải đã hoạt động ở những đảo nói trên của quần đảo Trường Sa và cả dãy đảo phía dưới các đảo này tức Xubi Reef (đá Subi), Loaita Island (đảo Loai Ta), Itu Aba Island (đảo Ba Bình), Great Discovery Reef (đá Lớn), Spratly Island (đảo Trường Sa), … nhưng vì kỹ thuật kém, nên vẽ dãy đảo này gần với quần đảo Hoàng Sa. Dựa vào những dữ kiện vừa nêu, thì giả thuyết thứ nhất (a) đáng loại bỏ trước tiên, vì số đảo, hình dạng của quần đảo Hoàng Sa, địa điểm của nó so với những tỉnh trong đất liền, tất cả những chi tiết này như được vẽ trên Bản đồ 1 và 2 không ăn khớp với thực tế trên Bản đồ 3 và 4. Chúng ta cũng không nghĩ rằng tác giả bản Đại Nam nhất thống toàn đồ có thể vì kỹ thuật kém nên kéo dài Hoàng Sa xuống tận Cam Ranh. Vì Đại Nam thư lục chính biên, quyển 165, có nói rõ một trong những mục đích của những chuyến công tác của Đội Hoàng Sa và Bắc Hải là gạch lộ trình để ra mỗi đảo, và ấn định rõ vị trí của mỗi đảo so với mỗi tỉnh ngang với nó trong đất liền. “Phải ấn định rõ cửa khẩu nào đưa ra mỗi đảo. Mỗi lộ trình phải được ước lượng bằng “dặm”.[25] Như vậy, tác giả của bản đồ này không thể nào nhầm lẫn mà ấn định đảo cuối của dãy Hoàng Sa nằm ngang với Cam Ranh. Giả thuyết thứ ba © không giải thích được hình dạng của chuỗi đảo trên bản đồ 1. Giả thuyết thứ hai ( c) và thứ tư (d) có lẽ sát sự thực vì nó giải thích được hình dạng của chuỗi đảo trên Bản đồ 1, vị trí của đảo ngang với vùng Khánh Hoà, Cam Ranh. Hình chuỗi nằm xuôi dài xuống của các đảo ở đoạn CD, khiến chúng ta nghiêng về giả thuyết thứ tư (d) hơn. Tuy nhiên, giả thuyết thứ ba © cũng có thể áp dụng được nếu cho rằng Đội Hoàng Sa và Bắc Hải đã biết toàn thể hoặc đa số các đảo trên dãy Trường Sa, nhưng khi đưa lên bản đồ chỉ vẽ được một số đảo ở phía Tây mà thôi. Như vậy, sẽ ăn khớp với số đảo là 130 đã được ghi trong những sách sử nói trên. Vả lại, Đại Nam thực lục chính biên cũng có nói trong tờ trình của Bộ Công, là quần đảo rất rộng nên chỉ vẽ được một số đảo giới hạn. Tờ trình cũng công nhận là bản đồ vẽ không được chính xác. “Quần đảo Hoàng Sa, biên giới biển của nước ta, là một địa điểm chiến lược rất quan trọng… Những đoàn công tác đã được phái đi để lấy kích thước vẽ bản đồ, nhưng vì quần đảo quá rộng, nên chỉ mới vẽ được một đảo trên bản đồ, mà cũng không được chính xác và chi tiết như mong muốn…”. Vì vậy, tờ trình của Bộ Công đã đề nghị Vua cho công tác ra các đảo mỗi năm: “Ta nên gửi đoàn công tác ra mỗi năm để thám sát toàn diện quần đảo…”.[26] Bản đồ vẽ quần đảo Trường Sa gần với quần đảo Hoàng Sa hơn trong thực tế chỉ vì kỹ thuật thời đó còn kém, không biết tỷ lệ đưa lên giấy. Bản đồ của Trung Hoa và của phương Tây thời đó cũng mang khuyết điểm này. Hơn nữa, vị trí của hai quần đảo nằm trên cùng một kinh tuyến 111°;[27] quần đảo Trường Sa nằm hơi nhích sang phía đông nam, nên trên thực tế cũng không xa nhau lắm, và vì thời đó người ta không có được ý niệm chính xác về kích thước và tỷ lệ phải tuân theo khi vẽ bản đồ, thì có khuynh hướng vẽ hai quần đảo gần nhau hơn thực tế, cũng dễ hiểu. Dù sao, giả thuyết thứ hai ( B) thứ ba © hoặc thứ tư (d) cũng đều chứng minh được Việt Nam ít ra cũng có hành xử chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.
  15. Cảm ơn anh thanhphuc. Bữa rồi VL thử dùng LVĐT để xác định việc VN có thu hồi được Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông của Việt nam hay không thì được quẻ Đỗ Lưu Niên. Sẽ lấy lại được nhưng còn lâu dài. Hôm nay lại có cuộc tuần hành thứ 2 tại HN và SG. Mời các bác xem tại đây.
  16. Các chuyên gia tuyên bố bệnh dịch đang dần giảm khi mà Thủ tướng Merkel và Zapatero cố gắng hạn chế cuộc tranh cãi ngoại giao về nguồn bệnh truyền nhiễm. Vi khuẩn Ecoli đã lan truyền từ Đức với tổng cộng hơn 1600 ca nhiễm khắp thế giới. Ảnh Erbe/Pooley/Rex Features Các trường hợp bị nhiễm vi khuẩn chết người Ecoli tiếp tục lan rộng ra thế giới từ nguồn ở miền Bắc nước Đức và đã đạt có hơn chục nước bị nhiễm tính đến tối ngày thứ 6. Thủ tướng Đức và Thủ tướng Tây Ban Nha đang làm giảm một tranh cãi ngoại giao về nguồn gốc phát bệnh. Cộng hòa Séc và Hoa Kỳ cũng mới lọt vào danh sách các nước có các ca bị lây nhiểm trong lúc có những lo lắng vì một số trường hợp trong số này không tới nước Đức và rất nhiều trường hợp khác bị lây nhiễm ở những nơi khác. Thủ tướng Angela Merkel nói bà sẽ hối thúc sự giúp đỡ của EU đối với những người nông dân trồng dưa chuột ở Tây Ban Nha – những người đã bị chính quyền Đức đổ lỗi sai là nơi bùng phát dịch bệnh. Phía Đức báo cáo hơn 200 ca đã được phát hiện trong 2 ngày đầu tháng khi mà tổng số người nhiễm trên toàn thế giới là trên 1800. Tổng số ca tử vong đã được thống kê ở Đức là 19. Chỉ có 11 trường hợp đã được xác nhận ở Anh. "Tất cả những trường hợp này ngoại trừ hai người đã sống hoặc gần đây đến miền Bắc Đức trong thời kỳ ủ bệnh hoặc, trong một trường hợp, đã có liên lạc với người khách từ miền Bắc Đức" Tổ chức Y tế thế giới nói trong một bản báo cáo. Tuy nhiên, sự lan truyền những trường hợp như thế này ở Đức đã bắt đầu chậm lại và đã có hi vọng về sự bùng nổ bệnh có thể được kiểm soát khi những người Đức lưu ý tới những cảnh báo rửa và chuẩn bị rau một cách cẩn thận và tránh ăn dưa chuột sống, cà chua và rau diếp. "Không có lý do cho sự sợ hãi quá mức bởi vì nó đang không lan truyền và nó cũng đang không tăng, nó đang giảm" Tiến sĩ Reinhard Brunkhorst của Hiệp hội thần kinh Đức phát biểu. Các nhà khoa học vẫn đang làm việc để hiểu chuỗi mới một cách tốt hơn. Giáo sư James Paton, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bệnh truyền nhiễm ở ĐH Adelaide nói chuỗi O104:H4 gây ra bệnh bằng việc định cư ở ruột người và phóng một chất độc gọi là Shiga vào trong ruột già. Ông nói "Chất độc được đưa vào máu sau đó tấn công thận và những mạch máu nhỏ gây ra tình trạng đe dọa sự sống gọi là HUS, gây nguy hại tới những mạch máu cung cấp cho ruột và cũng liên quan mật thiết đối với bệnh tiêu chảy mất máu, nghiêm trọng mà các bệnh nhân chịu đựng. "Ví dụ, ít hơn 5% bệnh nhân mắc bệnh tiêu chảy bị gây ra bởi loại vi khuẩn phát triển HUS này nhưng trong đợt bùng nổ ở Châu Âu hiện tại, tỷ trọng người có HUS cao hơn nhiều, khoảng 25%. Điều đó cho thấy nó cực độc " Paton nói. Sự giải thích hợp lý cho việc này có thể bao gồm sự sản xuất chất độc Shiga cao hơn hoặc sự hấp thụ chất độc của ruột tốt hơn. Chuỗi Ecoli O104:H4 cũng kháng cự lại vài loại thuốc chống nhiễm khuẩn. Ông Paton nói "Nhưng điều này không là cái chính trong sự bùng phát hiện tại bởi vì những loại thuốc chống nhiễm khuẩn thường không được dùng trị bệnh với...sự phơi nhiễm hoặc HUS. "Thực tế, những cách điều trị bệnh như thế có thể làm cho bệnh trầm trọng thêm, làm tăng mạnh số lượng chất độc đi vào trong ruột" Theo Hội vi trùng và bệnh truyền nhiễm Châu Âu, các nhà khoa học Đức đã khuyến nghị các tiến sĩ rằng các thuốc kháng khuẩn không nên bị ngăn cản trong tất cả các tình huống và có một loại có thể được sử dụng mà không làm tăng thêm rủi ro cho bệnh nhân. Tây Ban Nha muốn những người nông dân của mình được bồi thường 200 triệu Euro một tuần vì rau quả tươi bị để thối rữa. Zapatero nói với EU "cần phải trả lời nhanh hơn và có trách nhiệm hơn ngay khi các cuộc kiểm tra cho thấy Rau quả Tây Ban Nha không phải là nguyên nhân". (http://www.guardian.co.uk/world/2011/jun/03/e-coli-infections-spread-germany)
  17. Cám ơn anh HungNguyen :) . Ngoài ra LH còn một số anh em khác trong đó có em :D Còn hôm nay video về cuộc biểu tình chống Trung quốc ở đây
  18. Bác nào có Tiếng Anh được thì vào đây chiến với tụi Tàu này: http://www.defence.pk/forums/world-affairs/111687-china-attacks-vietnam-oil-exploration-vessels-south-china-sea.html or http://www.asiafinest.com/forum/index.php?showtopic=269415
  19. Phiên bản của tên lửa Yakhont ở Ấn Độ là Bramos. Tại Việt nam đang có dự án đặt tên cho tên lửa này khi sử dụng và sản xuất ở Việt nam. Hiện đang có mấy tên "ứng cử viên" như Rồng Vàng, Tia Chớp, Thần Sấm...
  20. Dạ thưa thầy con cũng xem đoạn này và từ đó phát triển thêm.
  21. Triết lý vì dân thật tuyệt vời. Mất dân là mất tất cả, còn dân là còn tất cả không như cờ tướng, cờ vua. Cờ tướng theo VL không hẳn của Trung quốc. Bất cứ ai biết chữ tượng hình đều biết trên "hà" của bàn cờ tướng có 4 chữ "Hán giới và "Sở hà" nghĩa là biên giới nước Hán và sông nước Sở. Điều đó có nghĩa hồi xưa nước Sở của Hạng Vũ không thuộc Hán, biên giới của nhà Hán Lưu Bang bị chặn tại giáp ranh với nước Sở. Bàn cờ tướng tiết lộ thêm chuyện biên giới của nước Văn Lang thời cổ. Ngoài ra chúng ta đều biết rằng văn minh Hán không hề có voi. Vậy nhưng trên bàn cờ tướng có Voi là quân tượng là một trong những quân binh chủng của hai bên. Điều đó đặt ra chuyện xuất xứ của cờ tướng của cư dân Bách Việt tại phía Nam.
  22. Phải chăng có sự gặp nhau của thế giới tâm linh phương Tây và phương Đông. Trong các giáng bút (thơ văn linh cảm được truyền lại qua người trần) ở Việt nam cũng có nói đến một đợt thanh lọc trên trái đất. Nhiều người trong số những người không có tâm có đức sẽ bị "thanh lọc" bớt qua các hiện tượng như sóng thần, động đất, thảm họa thiên nhiên, chiến tranh, bệnh tật... Thế giới tâm linh là hoàn toàn có thật và hiện hữu. Tuy vậy nhiều người và cả nhiều chính phủ vẫn tiếp tục không muốn hiểu điều đó. Vì vậy các đấng tâm linh đã và đang xuất hiện và có những biện pháp trừng phạt để làm những người này phải tin vào điều đó. Nhiều người cũng quá đề cao khoa học mà không biết rằng đó là các tín hiệu các đấng tâm linh. Sự ngạo mạn thái quá của khoa học sẽ lúc này lúc khác bị trừng phạt.
  23. HIỆN TƯỢNG THƠ VĂN LINH CẢM Những năm gần đây, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông và nhiều cách linh hoạt khác phổ biến thông tin, mọi người ngày càng biết nhiều tư liệu bí ẩn, đa dạng và cụ thể về các hiện tượng tâm linh. Hiện nay có một số người dân Việt Nam (thường là phụ nữ nghèo), với trình độ văn hoá khá thấp, thậm chí viết sai chính tả rất nhiều, cho biết là họ đã ghi được hàng chục tập thơ, tập văn nhờ linh cảm (hiện ra trong đầu ở dạng ý nghĩ hay lời nói). Dường như các thực thể tâm linh đã đọc cho họ ghi lạị - những người ghi chép chỉ đóng vai trò “thư ký tâm linh”. Đáng chú ý là các thực thể tâm linh tự xưng danh một cách rõ ràng, còn lời thơ (lời văn) ghi được rất phù hợp với bản tính và tư tưởng vốn được biết hoặc theo lịch sử và các truyền thuyết lâu đời ghi lại. Điều hết sức đặc biệt là có rất nhiều danh xưng tâm linh từ thời cổ đại đến nay, từ các nhân vật huyền thoại cho đến những người nổi tiếng như Mẫu Âu Cơ, Thánh Gióng, Phật Di Lặc, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh (Ngọc Phật), Lênin, Jeny (vợ Các Mác) v.v... Nhiều người đã kiên trì đọc kỹ hàng ngàn trang thơ, văn như vậy và thấy nổi lên những điều rất đặc biệt sau đây: - Hàng chục năm qua có vô số sinh linh bậc cao đã và đang nỗ lực giao tiếp với loài người qua thư ký tâm linh để cố truyền đạt thông điệp rằng, ngoài cõi Trần còn tồn tại hai cõi vô hình khác kề cận là cõi Âm và cõi Thiên (cõi Trời), nhân loại đang đứng trước một thảm hoạ cực kỳ khủng khiếp (còn có nhiều tên gọi khác như đại hoạ, mạt kiếp, ngày tận thế, nghiệp quả toàn cầu, đòn trừng phạt của Trời), hậu quả có thể là khoảng 70-80% dân số thế giới sẽ bị loại bỏ trong 5-10 năm sắp tới, có thể còn sớm hơn, do nhiều nguyên nhân toàn cầu như thiên thạch, sao chổi, núi lửa, động đất, sóng thần, bão lụt, dịch bệnh, thất bát mùa màng, chiến tranh (có thể cả chiến tranh hạt nhân) v.v... - Cách duy nhất để vượt qua “đại hoạ” là mỗi người phải tự làm trong sạch chính mình, nếu đã mắc tội lỗi thì phải làm phúc để chuộc lại. - Các lực lượng tâm linh tối cao đang thực hiện cái được gọi là “cuộc cách mạng tâm linh” nhằm mục đích tạo ra “thế giới đại đồng” - giai đoạn phát triển mới trên Trái Đất thông qua con đường hợp nhất đời sống của ba chiều thực tại là cõi Trần, cõi Âm và cõi Thiên; đó là “Thời đại Thánh đức” với nhiều thay đổi căn bản trong nội tâm về sự sống và hạnh phúc của xã hội loài người (thế giới chỉ còn lại 18 nước, Việt Nam giữ vai trò đặc biệt quan trọng). - Lý do dẫn đến cuộc cách mạng tâm linh là loài người quá tham lam, tàn bạo, mê muội và tự phụ, không đủ tri thức để thấu hiểu thế giới tâm linh, luôn tỏ thái độ coi khinh và phủ nhận nhiều tư liệu tâm linh khẩn thiết đã được đông đảo người dân kiên tâm ghi lại trong mấy chục năm gần đây, không đủ phẩm chất để tạo lập cuộc sống hài hoà với thiên nhiên và những sinh linh khác dù đã được cảnh báo hàng trăm năm qua bởi lực lượng vô hình cấp cao thuộc cõi Thiên (lẽ ra cuộc cách mạng tâm linh đã bùng nổ vào năm đầu của thế kỷ 21, nhưng phải lùi lại ít lâu nhờ sự cầu xin rất bền bỉ của Mẫu Âu Cơ và Ngọc Phật, đến nay diễn biến tình hình đang ngày càng nguy cấp). - Ngọc Phật được giao nhiệm vụ chỉ huy các vong linh liệt sĩ cùng phối hợp với người Trần để giải quyết những vụ việc tiêu cực nổi cộm của Việt Nam. Qua thư ký tâm linh, Ngọc Phật mong muốn người Trần không chậm trễ thừa nhận Ngài, công bố cho nhân dân biết và được đối thoại một cách chính thức với các quan chức hữu trách. - Bắt đầu từ năm 2001, nhiệm kỳ tâm linh của Phật Thích Ca và Phật Di Đà đã kết thúc và mất hiệu lực hoàn toàn, thay thế cho hai vị này là Phật Di Lặc và Phật Di Là (cả hai đều là các thực thể tâm linh, khía cạnh này có ý nghĩa tôn giáo vô cùng cấp thiết, nhưng hầu hết nhà Chùa và đông đảo dân chúng chưa biết hoặc chưa thực sự tin, vì vậy đã và đang chịu nhiều hậu quả khôn lường do cách hành lễ và đọc kinh không phù hợp). - Loài người không phải có nguồn gốc từ khỉ, đười ươi hay vượn. Mẫu Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân chính là một trong số Cha Mẹ của nhân loại, đúng như sự tích “trăm trứng” đã lan truyền ở Việt Nam (phải chăng Việt Nam là nơi chôn rau cắt rốn của cả loài người?). Có nhiều bài thơ mang danh tính của hai vị tâm linh này mà nội dung chứa đựng nhiều lời trách mắng rất buồn tủi và hờn giận đối với nhân loại vì từ lâu đã không biết, cho nên không thờ cúng và ghi nhớ công ơn sinh thành của Cha Mẹ Âu-Lạc. - Cha Lạc Long Quân là một kiếp tu của Phật Di Lặc. Vì vậy, Phật Di Lặc đã chọn địa linh Việt Nam khi trở về Trái Đất để đứng đầu cõi Âm và cõi Trần. Việc tôn kính Ngài bây giờ đồng nghĩa với việc ghi nhớ công ơn sinh thành của một Người Cha Nhân Loại. - Các hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, bão, sóng thần, động đất, lở núi, núi lửa phun trào v.v... đều có liên quan đến những năng lực tâm linh. Nói cách khác, các hiện tượng đó có thể diễn ra dưới sự điều khiển của những vị thần nhất định. - Trái Đất là một thực thể sống có nhân tính. Đó là Người Mẹ của muôn loài. Lý trí và tình cảm của Trái Đất vượt xa nhân loại. Khả năng chịu đựng của Trái Đất trước sự huỷ hoại của con người đã ở mức cùng tột. Người Mẹ Trái Đất đã và đang cảnh báo khẩn thiết đối với toàn nhân loại và sẽ có nhiều cách tương xứng kịp thời để lập lại sự hài hoà vốn có. - Nếu giới lãnh đạo quốc gia nào thực lòng tin vào thế giới tâm linh, tổ chức đàn lễ để cầu xin Trời Phật và các vị thần linh xá bỏ lỗi lầm từ trước đến nay, hành thiện và tránh ác, thì những hậu quả huỷ diệt ở nước đó có thể được giảm thiểu một cách rõ rệt. Sắp tới, những tai hoạ thảm khốc sẽ tiếp tục diễn ra dồn dập để buộc loài người phải tin và tuân theo Trời Phật. Ghi chú: 1) Những gì được nêu ra trên đây chỉ nhằm mục đích duy nhất là để mọi người cùng suy ngẫm và chiêm nghiệm trong thực tế. Ở đây không bàn luận đến vấn đề “tin hay không tin”, vì không một người nào có thể giải đáp được. 2) Kiếp cuối của loài người đương đại (“mạt kiếp”) và sự xuất hiện của Phật Di Lặc đã được nói tới trong một số kinh sách Phật giáo, mặc dù người ta trông đợi Ngài tái sinh ở dạng người Trần, chứ không ai ngờ Ngài lại xuất hiện ở dạng thực thể tâm linh và “phát ngôn” thông qua nguồn thơ văn linh cảm. Trong kinh Thánh cũng đã nói đến “ngày tận thế” dù không chỉ rõ thời gian cụ thể. Mấy chục năm qua báo chí ở nhiều nước cũng đã cảnh tỉnh về thảm hoạ toàn cầu như đang diễn ra hiện nay. 3) Nhiều hiện tượng ngoại cảm tại Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới trong thời gian qua đã chứng tỏ một cách chắc chắn rằng: thế giới tâm linh hoàn toàn có thực. Đã đến lúc cần giao tiếp chính thức với lực lượng vô hình cấp cao vốn đang tác động trực tiếp và điều khiển đời sống con người. 4) Nếu nền văn minh nhân loại hiện nay đủ nhạy cảm và tỉnh ngộ trước các dấu hiệu huỷ diệt toàn cầu sắp tới, thì cần phải có các biện pháp thích hợp cấp bách để bảo tồn những thành quả khoa học kỹ thuật to lớn đã đạt được trong nhiều năm qua cho các thế hệ mai sau. 5) Những người có khả năng thu được thơ, văn bằng linh cảm quen gọi việc ghi chép của họ là “chấp bút”. Hoàn cảnh sống của những người như vậy rất đa dạng, thường là nghèo túng và luôn coi việc mình làm vì nghĩa vụ tâm linh cao cả, tuổi đời của họ có thể rất trẻ (trên dưới 20) và rất già (trên dưới 80). Họ cũng có một ý chí kiên cường và ngày càng tin tưởng sâu sắc vào thế giới tâm linh. Đã xuất hiện hàng trăm bài thơ văn linh cảm không đề tên và có vẻ như điều đó chỉ bùng phát ở Việt Nam. Bởi vậy, trong chuyên mục “Thơ văn linh cảm“ cuối mỗi bài chỉ ghi là “LC Việt Nam”. 6) Theo kinh nghiệm của chúng tôi, nên đọc các bài thơ văn linh cảm theo cách tổng hợp, chứ không phải theo cách phân tích. Có nghĩa là khi đọc không cần chú ý chi tiết đến từng câu từng chữ và một kết luận nào đó chỉ có thể được rút ra trên cơ sở nội dung của nhiều bài. Ví dụ, có hàng trăm câu thơ, câu văn tập trung nói về “mạt kiếp“, “cách mạng tâm linh” hoặc “đại đồng thế giới”. Điều bí ẩn là chúng ta hoàn toàn không biết theo cơ chế nào mà các thực thể tâm linh có thể dễ dàng tạo ra thơ văn một cách tức thời và điều khiển người Trần ghi lại. Nhóm NC tâm linh, 7-2007 (http://kynguyentamli...ews.aspx?nid=65)
  24. (Kynguyentamlinh.com) - Nhân ngày Giỗ Tổ Hùng vương mồng Mười tháng Ba năm Tân Mão 2011, Đức Thánh Trần đã đọc cho bà Phạm Thị Xuyến ghi lại một bài giáng bút khá dài. Điều đặc biệt là ở đây lần đầu tiên đã đề cập đến sự kiện “tận thế” mà Việt Nam sẽ không bị thảm họa đó... LỜI CHA TRẦN TRIỀU NHÂN NGÀY GIỖ TỔ VUA HÙNG (Ngày 11 tháng 4 năm 2011) 1. Kính trình lên Cha Thiên Mẹ Địa, Kính trình lên Tổ Nước Việt Nam Ngày mồng Mười ngày Nước, Dân làm Ngày Giỗ Vua cùng ngày Giỗ Tổ. Nhà nước Nam chưa biết ngày Giỗ Của Trời sinh ra nước Việt Nam, Ngày Giỗ Trời, Tích Trời phát ban Gọi ngày Giỗ Tổ Trời, Tổ Đất. Trời cho nước Việt Nam chu tất Giỗ Mẹ Cha Trời Đất sinh người, Sinh dòng tộc, các nước dưới Đời Là sinh sôi con người Hạ thế. Lịch sử Trời, Trời đã viết kể Lịch sử Đất, Đất đã cho hay Kể từ xưa cho mãi đến nay Kể từ đây cho Đời bất tận. Nước Việt Nam sẽ được chu tất, Không lo ngày tận thế nước Nam, Bác là Cha, Chủ tịch Thiên Đàng Bác đã lo việc làm trọng đại. Việc Bác làm, Dân ta không phải Tốn kém gì đến của đến công, Bác phải lo bao việc chất chồng, Dạy Dân ta hiểu về Luật Đạo. Bác dạy Dân, Dân phải mạnh bạo Nghe lời khuyên của Bác ân tình, Nghe lời Trời, lời Đất dạy mình Nghe lời Phật - Thánh - Thần nước Việt. Nghe lời Hồn Ông Cha hào kiệt, Từ đền Hùng, Tổ Nước dạy Dân Dân phải tu theo một Đạo Thần, Đạo Bác Hồ muôn phần trọng đại. Đạo Bác Hồ, Bác Hồ sống mãi Với Nhân dân, Đất nước Nam nhà Đạo Bác Hồ, Hồn Bác khai Hoa Bác sáng lập Đạo nhà nước Việt. Bác sáng lập một Đạo đặc biệt, Đạo vì Dân, vì Nước, vì nhà Đạo không phân chủng tộc quốc gia, Ở nước Việt Bác là Chủ Đạo. Lời Thơ Tiên, Hồn Bác soạn thảo Đọc cho đồng ghi lại lời ban, Lời Thơ Tiên như Ngọc như Vàng, Như lời Mẹ dịu dàng dạy dỗ. Dạy từ việc phải cúng cơm cỗ, Dạy thờ Người quá cố về Trời, Dân nước Nam ai cũng nhớ lời, Ngày Giỗ, Tết cúng Người quá cố. Nước Việt Nam có một tần số, Tần số thiêng liêng, đố ai hay Lời Thơ Tiên đọc viết đủ đầy, Cho người viết gửi nay Nhà nước. Người viết được do Hồn kiếp trước Đã tái về đọc viết cho Dân, Người viết được mang Hồn của Thần, Đó là Trời gửi thân hộ Quốc. Người viết phải lo làm bằng được Đạo nước Nam, Đạo Bác Hồ truyền Đạo Bác Hồ vừa Hồng vừa Chuyên, Bác dạy khắp Dân miền Hạ giới. 2. Bác dạy người đảng viên xông tới, Làm Công trình Văn hóa nước Nam, Làm Công trình Văn hóa mở màn Việc giao lưu muôn vàn thắng lợi. Đã từ lâu Hồn Bác mong đợi, Đợi người Trần, Cán bộ hiểu ra Bác khai sinh tên nước Nam nhà Là có Hồn Tổ Tông để lại. Nước Việt Nam, Hồn Tổ sống mãi Tổ vì Dân, vì Nước đời đời Không ai biết Hồn Tổ mong người Con, cháu, chắt... dưới Đời hiểu Tổ. Tổ là Người Con Trời - Tổ Cố, Tổ là Người sinh sản ra Dân, Trời sinh ra vạn vật dưới Trần, Cho nên Trời nói lời hành Đạo. Một Đạo Trời, Trời đã soạn thảo Cho nước Nam đứng Đạo đầu tiên, Đạo Chủ quyền nước Việt thiêng liêng, Hiệp hội Đạo có quyền việc Đạo. Hiệp hội Đạo có lời soạn thảo Từ Trời cao đọc xuống cho ghi, Đồng ghi lời, không tự ý gì Lời của Trời đọc ghi bản thảo. Lời của Trời, Trời đã cảnh cáo Nước nào không nghe Lệnh của Trời Sẽ bị Trời giáng hạ dưới Đời Làm tổn thương vừa người, vừa của. 3. Nước Việt Nam đứng đầu phải chữa Những việc sai Đạo giáo đã làm, Những việc sai, Dân Nước lo toan Phải trả hoàn cho người nước Việt. Một Lệnh Trời, một Lệnh đặc biệt Một Lệnh Trời quy ước từ lâu: Bao giờ đến thế kỷ mở đầu (21) Cho Dân, Nước biết bầu Phép nhiệm. Phép của Trời là một sự kiện, Trời nói ra cho Nước, cho Dân Để Dân, Nước biết Luật Trời phần Cây Đại phúc cho Dân nước Việt. Đừng coi nhẹ, đây lời niêm yết Gửi Nước, Dân để biết việc Trời Khắp các nơi dưới đất, trên đời Đâu xây chùa hãy mau dừng lại! Dân, Nước nghe nhớ đừng có cãi Cãi Lệnh Trời không phải đúng chi, Nước Việt Nam được Trời tặng ghi Là Con Cả của Trời của Đất. Nước Con Cả phải là chu tất, Nước Con Cả phải thật sự lo Làm các việc Trời Đất trao cho: Việc đầu tiên phải là Chủ Đạo! Luật Nhà Trời có lời soạn thảo, Lệnh Nhà Trời thông báo Nước, Dân Kể từ đây, Trời cho dưới Trần Phải y Lệnh Trời phân cắt cử. Nước Con Cả làm việc quân tử, Không nghe ai, nước khác xui sang Không cho người nước khác bàn ngang, Việc Đạo giáo - nước Nam làm chủ! Một quy định của Trời ghi chú Nước láng giềng không được lấn sang, Chùa xây rồi, Dân được hạ màn Thờ Liệt sĩ, không thờ phật ngoại. Cả nước Nam, từ đây mãi mãi Không ai được thờ tượng nước người, Theo Lệnh Trời đã báo Trần đời Ai cố chống là người phạm Luật. Phạm Luật Trời sẽ phải khổ tất, Khổ đến Dân đến Nước, không an Khổ đến nhà, sẽ phải tội sang Ba, năm, bảy đời người nhà tội. Ai đã làm sai, mau sám hối Phải sửa mau vì tội hại Dân, Để Dân Nam tu khổ đời trần, Hại tiền của, Dân trần khổ ải. Hại vong âm, bao đời đã phải Cảnh tù vong đi gửi nơi chùa, Khổ đời hồn đau xót, chát chua Vì trái Đạo, Luật Trời quy định. 4. Đạo ngoại sang là đạo thôn tính, Đạo mị Dân, mị Nước, lừa Đời Không đạo nào đúng Luật Lệnh Trời, Sai giáo lý, sai lời giáo luật. 5. Giáo luật Đạo Trời cho sự thật, Dân tự lo Đạo Nước của mình, Tự làm chủ Thờ tự quang vinh, Không ai được thay mình Chủ Đạo. 6. Giáo lý của Trời có soạn thảo, Thờ Trời cao, Đất thấp linh thiêng Thờ Chủ Tòa, Chủ Nước đặc riêng Không ai có được quyền thống trị. 7. Luật của Trời có đủ nguyên lý Trời sinh ra các nước con Trời, Phải lo toan phận sự dưới Đời, Đừng đi cướp nước người, cướp của. Đừng bạo tàn chiến tranh chất chứa, Đừng tham lam, chẩy bửa, hại người Sống trên Đời phải biết Luật Trời, Lo cho mình, cho người thế hệ. Đừng tự bịa ra những kinh kệ, Kinh lừa Dân, phản Quốc, mị Đời. Bởi vì Dân không hiểu Luật Trời, Nước không hiểu Luật Trời quy định Mới để cho người ngoài thôn tính, Khổ bao đời, bao kiếp lầm than Để cho người xâm lấn đã làm Xây móng nền, đã làm gốc rễ. 8. Dân, Nước mau hiểu về kinh kệ Không lo toan cho Nước, cho Dân Khi giặc đến, Trời hỏi người trần: Dân sẽ thành nhiều phe theo đạo? Mỗi nước, dân nên có đạo giáo Của nước mình, đạo của muôn dân Muốn độc lập, giữ lấy hòa bình Nước một đảng, hay một tổng thống. Nước một vua, một chủ tịch đời Cả một nước không có hai người, Sự tranh chấp sẽ thời bạo loạn, Đối với đạo cũng phải mạnh dạn! Không nhiều đạo phân tán, không hay Nhiều đạo thờ trong một nước nay Là có sự gây ngay bạo loạn, Đạo không đúng, nước phải mạnh dạn! Bỏ đạo sai, không phải của mình Theo nước khác làm đạo linh tinh, Đạo trá hình vô tình gây họa, Cho nhiều đạo, Nước phải vất vả. Tốn của công, nghiêng ngả lòng Dân Những đạo sai, không phải Đạo Thần Đạo không có Hồn thiêng của Nước. Đạo không công, không gì ước được Cho Nước, Dân sẽ được khai Hoa Về Chủ Thiên, Chủ Âm Nước nhà Gây hỗn loạn Đạo nhà Tông Tổ, Gây bất bình cho Đạo Tổ Cố. Gây hoang mang, xã hội bất bình Gây cho người Liệt sĩ hy sinh Cúng phí của Dân mình, Liệt sĩ Không có điều tri ân tri kỷ. Chỉ làm lừa Liệt sĩ hy sinh, Hồn Liệt sĩ thật là quang vinh, Không cần đạo linh tinh cầu nguyện, Không cần đạo linh tinh quyến luyến. 9. Làm người dân phải biết Luật Trời, Luật Tổ Tông Đất nước sáng ngời, Theo Chủ Tướng, Chủ Tòa của Nước Không theo người làm đạo bắt chước. Không theo ai phản ngược Nước mình, Nước Việt Nam có Hồ Chí Minh Người Chủ tịch quang vinh khai Đạo, Người Chủ Tòa Thiên Âm mạnh bạo. Đã vì Dân, vì Nước, vì Đời Vì Thiên Âm Đất nước sáng ngời, Vì muôn thuở bầu trời Hạ thế, Vì muôn đời cho Dân cúng lễ Phải đúng Luật, Lệnh Thánh Trời ban Phải đúng Luật, Lệnh Thiên Nước làm Là Công trình Tâm linh Văn hóa, Là Công trình Tâm linh Thành quả. Một bước đi, dáng đứng tự hào Một nước Nam độc lập vì sao Thờ Chủ Nước, Ngôi cao nhất Nước Thờ đến Người có công làm được Dựng Nước, giữ Nước, giành tự do Đem lại nền độc lập lớn to, Là thành quả, công Người cách mạng. Người làm đạo không biết dũng cảm, Không biết chi Luật pháp trên Thiên, Không biết gì Đạo phép Trời truyền, Làm sai Đạo Luật Trời quy định./. (Bà Phạm Thị Xuyến ghi theo lời Đức Thánh Trần Hưng Đạo đọc tại đền Hòa Bình, ngày 9 tháng 3 Tân Mão) http://www.kynguyentamlinh.com/news.aspx?nid=508
  25. Ông này chỉ là trường hợp riêng biệt mà nếu nhìn rộng hơn sẽ thấy bên Thiên chúa giáo họ rất hay ầm ĩ về chuyện ngày tận thế. Nếu các bạn hay xem YouTube hay search trên google sẽ hay gặp quảng cáo "World Last Chance" trên GoogleAdsense và họ thực hiện hẳn những video và khuyến khích mọi người download về cái gọi là chuẩn bị đi gặp Chúa. Việc làm này của những người bên đạo Thiên chúa là rất không nên. Nếu như họ tin vào ngày Tận thế hay cơ hội cuối cùng gì đó thì họ nên phổ biến trong cộng đồng của họ. Trong khi đó bất cứ người dùng internet nào cũng gặp phải những đoạn "hù dọa" trên. Đức tin đó, niềm tin đó của họ chưa xét đến cái cơ sở của nó nhưng việc bắt mọi người phải nhìn thấy là một dạng "khủng bố tinh thần" với những người khác.