Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.238
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2.212

Everything posted by Thiên Sứ

  1. Xe đi đám cưới rơi sông, 32 người chết 04/09/2014 18:46 GMT+7 TTO - Ít nhất 32 người đi đám cưới thiệt mạng khi chiếc xe buýt chở họ rơi xuống một con sông ở huyện Rajouri, vùng Jammu thuộc khu vực Kashmir do Ấn Độ kiểm soát. Khu vực xảy ra tai nạn đang bị ảnh hưởng bởi mưa lớn và lũ dâng - Ảnh: AP Nguồn tin cảnh sát cho Tân Hoa Xã biết tài xế xe buýt mất lái khiến chiếc xe lao xuống con sông gần thị trấn Noushera, huyện Rajouri. Đến nay, đã có 32 người được xác nhận thiệt mạng, 6 hành khách khác may mắn sống sót. Trong khi đó BBC dẫn lời một quan chức địa phương nói chiếc xe buýt bị lũ cuốn, và đến nay các nhóm cứu hộ vẫn chưa thể xác định vị trí của nó. Một số nguồn tin địa phương cho biết chiếc xe gặp nạn chở khoảng 50 người, trong đó có cả cô dâu chú rể. Hiện công tác cứu hộ đang gặp nhiều khó khăn do nước lũ dâng cao. MINH AN
  2. Những tuyên bố, hoạt động đáng chú ý về Biển Đông từ Đài Loan Đông Bình 03/09/14 10:35 Thảo luận (0) (GDVN) - Mã Anh Cửu cho rằng, hoạt động triển lãm một mặt có thể cho thấy Đài Loan "rất quan tâm" đến các đảo ở Biển Đông. TQ nhập khẩu tên lửa S-400 sẽ làm mất cân bằng sức mạnh ở Biển Đông? Thấy Việt Nam linh hoạt về sách lược, báo TQ đố kị, chia rẽ "TQ liên tiếp tập trận, ý đồ nhằm vào Việt Nam rất rõ ràng" Những thay đổi đáng sợ do TQ đang xây dựng ở Gạc Ma Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu Hãng tin Central News Agency (CNA) Đài Loan ngày 1 tháng 9 đưa tin, trong tương lai Đài Loan Mã Anh Cửu cùng ngày cho rằng, trong tương lai, khi các nước tiến hành bất cứ cuộc đàm phán nào về Biển Đông, Đài Loan đều "không thể vắng mặt", bởi vì Đài Loan "đóng vai trò quan trọng" ở đây. Sáng cùng ngày, ông Mã Anh Cửu tham dự lễ khai mạc triển lãm sử liệu "biên giới phía nam" Đài Loan tổ chức tại "Quốc sử quán" Đài Loan, ông cho rằng, Biển Đông là một trong những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới, năng lượng của các nước Đông Bắc Á hầu như có hơn một nửa có được hoặc đi qua vùng biển này, các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật rất phong phú, vì vậy luôn bị các nước "nhòm ngó", tranh chấp giữa các nước đòi hòi chủ quyền ngày càng quyết liệt. Theo Mã Anh Cửu, đặc biệt là vào tháng 5 vừa qua, quan hệ căng thẳng do Trung Quốc khoan thăm dò dầu khí (phi pháp) ở khu vực mà họ gọi là "Tây Sa" (vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, ở đây ‘Tây Sa’ thực chất là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) gây ra, không những xảy ra ở trên biển mà còn mở rộng tới đất liền, thương nhân Đài Loan cũng gặp phải cuộc "bạo động bài Hoa lớn nhất" (ý nói các cuộc biểu tình, tuần hành ở Việt Nam), gây ra tổn thất, cho nên, bản thân vấn đề này thực sự là một "quả bom chưa nổ", đáng để mọi người cùng quan tâm. Mã Anh Cửu cho rằng, khi xử lý vấn đề này, có rất nhiều góc độ khác nhau, trong một khoảng thời gian, Chính phủ (Đài Loan) rất tích cực tiến hành công việc có liên quan, bao gồm năm 2010, Bộ Nội vụ chính thức bắt đầu sử dụng trạm quản lý công viên quốc gia đá vòng Đông Sa, xây dựng cơ sở nghiên cứu quốc tế, thực hiện kế hoạch trạm nghiên cứu biển biển Hoa Đông, thúc đẩy Đông Sa trở thành thị trấn quan trọng nghiên cứu biển quốc tế; năm 2011 Bộ Kinh tế Đài Loan lần lượt lập ra ở khu vực khai thác khoáng sản ở xung quanh Đông Sa và đảo Thái Bình (đảo Ba Bình - thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) một vùng rộng tổng cộng 49.500 km2, hoàn thành sơ bộ công tác khảo sát khoa học vùng biển và thăm dò địa chất; năm 2011, Bộ Quốc phòng và Cục Hải tuần Đài Loan lần lượt thực hiện trại nghiên cứu học tập "Nam Sa" (quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Hoạt động phi pháp của Đài Loan ở đảo Ba Bình, quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Theo Mã Anh Cửu, năm 2011, Bộ Kinh tế Đài Loan lập thêm hệ thống quang điện mặt trời ở đảo mà họ gọi là "Nam Sa", xây dựng "đảo carbon thấp"; năm 2011 Bộ Khoa học công nghệ Đài Loan chính thức bắt đầu sử dụng tàu nghiên cứu biển cỡ lớn lớp 2.700 tấn mang tên "Nghiên cứu khoa học 5", tăng khả năng nghiên cứu; Các cơ quan như: Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông và Cục Hải tuần Đài Loan cùng thực hiện công trình xây dựng tổng thể hạ tầng giao thông "đảo Thái Bình-Nam Sa" (thuộc chủ quyền của Việt Nam, hiện do Đài Loan kiểm soát); Bộ Giao thông Đài Loan cũng xây dựng xong mạng lưới thông tin ở "đảo Thái Bình", bảo đảm liên tạc với nhân viên đồn trú, tàu cá hoạt động trên biển, đồng thời khi cần thiết cung cấp dịch vụ cần thiết. Mã Anh Cửu nói, những hoạt động này đương nhiên đều là "hòa bình", không phải "quân sự", mục đích một mặt để người Đài Loan hiểu nhiều hơn về "lãnh thổ", quần đảo ở Biển Đông; mặt khác cũng để quốc tế hiểu Đài Loan “đang rất tập trung quản lý những đảo này”. Đồng thời, khi tiến hành bất cứ cuộc đàm phán nào liên quan đến Biển Đông trong tương lai, "Đài Loan đều không thể vắng mặt", bởi vì "Đài Loan đóng vai trò rất quan trọng ở đây". Mã Anh Cửu cho rằng: "Chúng ta nói về Biển Đông, một mặt, chủ quyền nhất định phải bảo vệ, bởi vì, chủ trương liên quan chủ quyền nhất định phải cố gắng đưa ra". Tương tự, theo ông Cửu, khi giải quyết vấn đề, không phải như hai chiếc tàu hỏa đối đầu nhau, mà là phải tìm ra cách thức làm giảm căng thẳng và được giải quyết. Mã Anh Cửu cho rằng, hoạt động cùng ngày (triển lãm) một mặt có thể cho thấy Đài Loan "rất quan tâm" đến các đảo ở Biển Đông, mặt khác cũng có thể cho thấy, Đài Loan có cá mà họ tin là "chứng cứ tương đối vững chắc", tiếp tục lấy đó làm cơ sở, hy vọng Đài Loan "không thể bị gạt bỏ" khi tiến hành bất cứ cuộc đàm phán hay xây dựng bộ quy tắc ứng xử giữa các nước có liên quan ở Biển Đông. Máy bay vận tải C-130 của Đài Loan hoạt động phi pháp trên đảo Ba Bình, quần đảo Trường Sa của Việt Nam (ảnh tư liệu) Trên đây là toàn bộ nội dung trong bài báo trên mạng “Quan sát” Trung Quốc ngày 1 tháng 9 năm 2014. Bài viết đã nói đến đảo Ba Bình (hiện do Đài Loan kiểm soát) cùng với quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng như một loạt hoạt động (phi pháp) của Đài Loan xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. ===================== Sẽ đến lúc Hoa Kỳ phải loại một cách có định mức Đài Loan ra khỏi cuộc chơi, mới có thể nói chuyện thẳng thắn với Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến biển Đông và Hoa Đông. Ý tưởng vạch ra đường lưỡi bò xuất phát từ chính quyền Quốc Dân Đàng khi còn trên Đại lục. Láo! Tôi tin chắc rằng: Việt Nam có những chứng cứ lịch sử rất vững chắc hơn bất cứ quốc gia nào liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa. Chỉ có đám tư duy "ở trần đóng khố" mới lấy "cơ sở khoa học" là những di vật khảo cổ giống như Trung Quốc tìm kiếm di vật khảo cổ trên Trường Sa và Hoàng Sa thôi.
  3. Điều tra Chu Vĩnh Khang: Tiền liên quan hơn 80 tỷ USD (Tin tức 24h) - Sau một tháng lập án điều tra, số tiền liên quan trong vụ án tham nhũng Chu Vĩnh Khang đứng đầu hơn 81,07 tỉ đô la Mỹ... Thông tin được phương tiện truyền thông Trung Quốc tiết lộ ngày 3/9, sau một tháng lập án điều tra, số tiền liên quan trong vụ án tham nhũng do cựu Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc Chu Vĩnh Khang đứng đầu hơn 500 tỉ nhân dân tệ (hơn 81,07 tỉ đô la Mỹ). Tuần san Quảng Đông cho biết liên quan đến ông Chu Vĩnh Khang có một nhóm lợi ích rất lớn, chỉ một vụ tham nhũng liên quan đến một công ty dầu mỏ (CNPC) đã có hơn 10 quan chức cấp cao liên can, số tiền tham nhũng đến 102 tỉ nhân dân tệ (gần 16,54 tỉ đô la Mỹ), tương đương 10% lợi nhuận của tổng cộng 113 doanh nghiệp nhà nước trực thuộc trung ương. Cựu Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc Chu Vĩnh Khang bị lập án điều tra liên quan đến số tiền tham nhũng lên tới 500 tỉ nhân dân tệ hoặc nhiều hơn. Có nguồn tin cho biết cơ quan kiểm sát Trung Quốc đã bắt đầu soạn thảo bản cáo trạng chống lại ông Chu Vĩnh Khang, việc xét xử sẽ diễn ra công khai và sắp bắt đầu dù chưa xác định được ngày, ông Chu Vĩnh Khang có thể chịu hình phạt ít nhất 15 năm tù giam. Ông Chu Vĩnh Khang, 71 tuổi, sẽ là quan chức cấp cao nhất bị xét xử vì tội tham nhũng kể từ khi đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập chính quyền vào năm 1949. Tịch thu vô số tiền, vàng và nhà của ông Chu Trước đó, theo bản “Thông báo nội bộ” của “Tổ chuyên án Chu Vĩnh Khang và gia đình” thuộc Ủy ban Chính trị - Pháp luật trung ương về “Danh mục kiểm kê khám nhà” đối với Chu Vĩnh Khang cho biết: Trong các ngày 2/12/2012, 10 và 22/1/2014, Viện Kiểm sát 7 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Bắc Kinh, Liêu Ninh, Giang Tô, Sơn Đông, Thượng Hải, Quảng Đông đã ra lệnh khám xét 3 đợt đối với 29 khu nhà ở của gia tộc Chu Vĩnh Khang tại đây. Kết quả: Chu Vĩnh Khang và những người thân (vợ con, anh em) có tổng cộng 326 căn nhà với tổng trị giá 1 tỷ 760 triệu tệ ở 12 thành phố: Bắc Kinh, Thẩm Dương, Đại Liên, Tế Nam, Yên Đài, Thành Đô, Nam Kinh, Vô Tích, Tô Châu, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến. Qua khám xét đã thu giữ 47,850 kg vàng, bạc; số lượng rất lớn tiền mặt gồm hơn 150 triệu tệ, hơn 2 triệu 700 ngàn USD... Một trong vô số nhà và xe hơi đắt tiền của Chu Vĩnh Khang. Ngoài số tiền, vàng, các nhân viên điều tra còn thu giữ số lượng lớn đồ cổ, 55 tranh, thư pháp quý tổng trị giá ước tính từ 800 triệu đến 1 tỷ tệ; 62 xe ô tô các loại trong đó có cả xe quân sự và nhiều siêu xe đắt tiền. Nghiêm trọng hơn, đã phát hiện Chu Vĩnh Khang và người thân đã tàng trữ trái phép cả “kho vũ khí” 27 khẩu súng, gồm 15 khẩu súng ngắn K76, K96, K99 do Trung Quốc sản xuất, 12 khẩu súng ngắn của Đức, Nga, Anh, Bỉ và hơn 11 ngàn viên đạn các cỡ. Các nhân viên điều tra đã phong tỏa 947 tài khoản nội tệ, 117 tài khoản ngoại tệ đặt tại ngân hàng. Người ta còn thu giữ số cổ phiếu các ngành dầu khí, hàng không, ngân hàng.... Theo thống kê bước đầu, tổng số của cải mà Chu Vĩnh Khang và gia tộc vơ vét được đã lên tới 100 tỷ tệ (16 tỷ USD). Thu Thanh (Tổng hợp) ======================= Hoa Kỳ chỉ dùng khoảng 200 triệu Dollar mua đứt các tướng lĩnh cao cấp và quan chức Iraq, trong cuộc chiến IraqII. Ấy là cái thời hiện đại. Chứ thời cổ đại Lã Bất Vi còn mua đứt cả thiên hạ với giá bèo hơn nhiều. Vậy mà với 80 tỷ Dollar, ông Chu Vĩnh Khang vẫn phải chịu đi tù thì quá dở. Đây là một ví dụ cho thấy sự tham lam quá độ mà không biết sử dụng đúng chỗ cho những tham vọng chính trị.
  4. Đại Chủ ============ * Vị tiền bối được nêu ở đây chính là Giáo sư Trần Quang Vũ.
  5. GS TS Liam C Kelley Nghiên cứu phi lịch sử, hay thực hành “chủ nghĩa thực dân tinh thần”? Nguyễn Hòa Chủ nhật, 08 Tháng 6 2014 15:23 Năm 2006, một trang điện tử của người Việt ở nước ngoài công bố bài Thay đổi cách nhìn về quan hệ văn hóa Việt - Trung (bản dịch của Lê Quỳnh) giới thiệu một số quan điểm của GS TS Liam C Kelley - giảng viên Đại học Hawaii ởManoa (Hoa Kỳ), về lịch sử Việt Nam và quan hệ văn hóa Việt - Trung trong quá khứ. Từ việc đọc các bài thơ của sứ thần Việt Nam, Liam C Kelley không chỉ coi: “Chúng không bộc lộ bất kì cảm giác nào về sự kháng cự chống Trung Quốc, mà lại mô tả một sự khẳng định toàn diện về một trật tự thế giới mà quan hệ triều cống dựa vào và về vị trí phụ của Việt Nam trong thế giới ấy”, mà ông đi xa hơn bằng việc coi luận điểm về bản sắc dân tộc, văn chương chống ngoại xâm,... chỉ là “phóng chiếu các ý niệm và cảm xúc hiện tại vào quá khứ”, và “cái nơi mà chúng ta giờ đây gọi là Việt Nam đúng hơn đã từng là một vùng của sự giao tiếp văn hóa, một khu vực biên nơi mà việc anh là ai không quan trọng bằng việc anh làm gì?”. Thậm chí, GS TS Liam C Kelley còn không tin vào ý thức tự chủ, lòng tự tôn dân tộc của người Việt Nam, như đã cho rằng Bình Ngô đại cáo “không hẳn thể hiện niềm tự hào của người Việt trước người Trung Quốc, Bình Ngô đại cáo lại là sự cảnh cáo nghiêm khắc với những người Việt đã hợp tác với quân Minh chiếm đóng”! Vì thế với bút danh Hà Yên, tôi viết và công bố bài Từ một góc nhìn “xưa cũ và bảo thủ” về quan hệ văn hóaViệt - Trung, lạm bàn với Liam C. Kelleynhằm chứng minh Liam C Kelley đã nghiên cứu một cách chủ quan, như: khu biệt các sự vật hiện - tượng khỏi bối cảnh lịch sử và không gian sinh tồn, không quan tâm tới các nội dung có tính “ngầm ẩn”, “phi văn bản” của lịch sử - văn hóa,... Từ đó đến nay, qua bản dịch của Hoa Quốc Văn, tôi đã tiếp xúc với một số bài nghiên cứu Việt Nam của Liam C Kelley, như: “Tự sự về một mối quan hệ bất bình đẳng: Các trí thức Việt Nam tiền hiện đại lý giải quan hệ giữa vương quốc của họ với ‘phương Bắc’ thế nào”, “Bản địa hóa” và các “thế giới tri thức” trong quá khứ và hiện tại của Đông Nam Á, Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam, Tưởng tượng về “quốc gia” ở Việt Nam thế kỉ XX, Việt Nam là một “văn hiến chi bang”, Bách Việt và sự thiếu vắng sử học hậu thuộc địa ở Việt Nam, “Hồng Bàng thị truyện”như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại,… Càng đọc tôi càng nhận ra Liam C Kelley rất quan tâm tới lịch sử Việt Nam từ cổ đại tới trung đại. Ông khai thác nhiều tư liệu Đông - Tây, và có lẽ vì muốn “thay đổi cách nhìn” nên ông có xu hướng xới xáo, phản biện, bác bỏ một số luận điểm, giá trị văn hóa - lịch sử vốn là khá thống nhất trong giới nghiên cứu, cũng như trong tâm thức cộng đồng ở Việt Nam. Điều này không có gì đáng trách, vì đó là quyền của nhà nghiên cứu, và nếu phản biện có lý còn giúp chúng ta cẩn trọng hơn khi xem xét lịch sử - văn hóa của dân tộc mình; như bài Từ ngữ Thái (Tai) và vị trí của Thái trong quá khứ Việt Nam đã đưa tới một số gợi ý cần tham vấn. Đáng tiếc, đọc tác phẩm của Liam C Kelley, tôi nhận thấy một số phản biện, kết luận rất thiếu thuyết phục, nếu không nói là rất đáng ngờ. Lối nghiên cứu chỉ dựa trên văn bản, thoát ly hoặc ít chú ý tới các mối liên hệ, các bối cảnh của lịch sử một đất nước từng trải qua nhiều biến thiên phức tạp như Việt Nam đã đưa Liam C Kelley tới một số kết luận không thể tin cậy. Vì Liam C Kelley đề cập tới nhiều nội dung, đưa ra nhiều luận điểm, nên khó bao quát trong một tiểu luận. Do đó ở đây, tôi chỉ đề cập tới một số luận điểm theo tôi là cần thiết. Và cũng xin lưu ý, qua một số diễn đạt khác nhau, các luận điểm này được nhắc lại nhiều lần trong các nghiên cứu về Việt Nam của GS TS Liam C Kelley. 1. Trong bài “Tự sự về một mối quan hệ bất bình đẳng: Các trí thức Việt Nam tiền hiện đại lý giải quan hệ giữa vương quốc của họ với ‘phương Bắc’ thế nào”, sau khi trình bày nhiều lập luận rối rắm, Liam C Kelle viết: “Thực ra, đối với hầu hết các học giả Việt Nam ngày nay, không nghi ngờ gì nữa “Việt Nam” luôn luôn độc lập. Bất chấp một thực tế là khái niệm “độc lập” chỉ du nhập vào tiếng Việt ở đầu thế kỉ XX, các học giả ở Việt Nam ngày nay được thuyết phục rằng có một vương quốc độc lập ở đồng bằng sông Hồng trong thiên niên kỉ đầu trước Công lịch, và rằng sau một ngàn năm Bắc thuộc, vương quốc độc lập đó tái xuất hiện và làm ra vẻ một nhà nước triều cống trong 1000 năm tiếp theo từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX… Ở đầu thế kỉ XX, các trí thức cải cách, trong một thực thể đã trở thành Đông Dương thuộc Pháp trước đó không lâu, bắt đầu tiếp xúc với các khái niệm về quá khứ từ châu Âu và châu Mỹ khi họ được giới thiệu các “tân thư” của các nhà canh tân người Hoa như Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, những người lại chịu ảnh hưởng bởi trước thuật của các trí thức khác người Nhật. Được gợi hứng bởi những cái nhìn mới, và khiếp sợ những cảnh báo của thuyết tiến hóa xã hội rằng các quốc gia có thể biến mất dễ dàng nếu chúng không đủ mạnh, các trí thức cải cách ở đầu thế kỉ XX này bắt đầu viết lịch sử Việt Nam bằng những cách thức mới triệt để. Đó là giai đoạn mà những ý tưởng về độc lập và sự khác biệt văn hóa bắt đầu giữ địa vị chủ chốt”. Xét từ diễn trình du nhập và tiếp nhận tri thức, tới cuối TK XIX đầu TK XX ở Việt Nam mới manh nha và từng bước hình thành cách thức tư duy, phương pháp nghiên cứu theo học thuật phương Tây. Đã diễn ra một quá trình đầy khó khăn đối với việc du nhập, sử dụng, phổ biến một kiểu tư duy mới trong xã hội với tính cách là công cụ khám phá tự nhiên, xã hội, con người. Với văn hóa nói chung, với khoa học nói riêng, phải tới khi tầng lớp trí thức trải qua một quá trình thâu nạp, tìm hiểu nhất định thì chấm phá đầu tiên mới xuất hiện. Và ở Việt Nam, cần nói tới vai trò của Tân thư (tên gọi chung của sách vở, tài liệu giới thiệu các tư tưởng mới của Âu - Mỹ xuất hiện ở Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam từ cuối TK XIX tới đầu TK XX. Tân thư là khái niệm được sử dụng để phân biệt với Cổ thư là sách vở mang nội dung văn hóa - tư tưởng truyền thống, chẳng hạn như sách vở Nho giáo). Qua Tân thư, giới trí thức Việt Nam tiếp xúc và tiếp nhận tri thức mới. Sự tiếp xúc có được vừa do mối giao lưu truyền thống, vừa do có liên quan mật thiết với tình trạng cùng cảnh ngộ của Nhật Bản, Việt Nam, Trung Hoa - những dân tộc vốn “đồng văn đồng chủng” đang cùng phải đối mặt với chủ nghĩa thực dân có âm mưu thôn tính không chỉ về lãnh thổ, mà cả về văn hóa. Trong bối cảnh đó, sự phát triển của Nhật Bản, biến động tư tưởng theo xu hướng tiến bộ ở Trung Hoa không thể không tác động tới tư tưởng - tình cảm của các trí thức tiến bộ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Họ hy vọng tìm thấy hướng đi mới cho dân tộc từ phong trào Duy tân ở hai quốc gia này và với Tân thư, tinh thần khai sáng và nhiều công trình nghiên cứu lịch sử, chính trị, triết học,... của phương Tây đã có mặt ở Việt Nam, đưa tới sự ra đời của phong trào Tân học, cho thấy một khát vọng mới, một sự thức tỉnh mới trong nhận thức xã hội đã chi phối những đầu óc tiên tiến của Việt Nam khi đó. Về chính trị, nếu giai đoạn trên đặt nền móng cho việc tìm kiếm con đường giành độc lập, thì về khoa học cũng tạo tiền đề quan trọng để giới trí thức Việt Nam đi bước đầu tiên trên con đường khoa học theo đường hướng phương Tây. Do vậy trong sinh hoạt xã hội và trong học thuật, người Việt Nam bắt đầu làm quen các khái niệm từ máy bay, tàu hỏa, ôtô (automobile), xe máy - môtô (motocyclette), áo vét (veston), dầu tây,… đến tự do, bình đẳng, bác ái, dân quyền, độc lập, yêu nước, dân tộc,… Nếu Liam C Kelley cẩn trọng nghiên cứu các khái niệm mới xuất hiện ở Việt Nam ở đầu TK XX và suy xét sâu xa, ông sẽ thấy đó không thuần túy là sản phẩm từ tiếp biến văn hóa, mà còn là một cách thức hun đúc tinh thần dân tộc trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Nhưng, ý muốn “thay đổi cách nhìn” lại tự trói buộc vào văn bản đã làm cho Liam C Kelley thoát ly khỏi diễn biến và bối cảnh lịch sử - văn hóa của vấn đề, không phân tích (không cần phân tích?) sự xuất hiện, tình trạng sử dụng các khái niệm trong tính lịch sử - cụ thể. Nói cách khác, Liam C Kelley đã bỏ qua vai trò của yếu tố khách quan, không phân loại khái niệm để xem xét, mà dồn tất cả vào một “rọ” rồi lấy đó làm cơ sở phân tích, kết luận (đôi chỗ dường như hàm ý giễu cợt!?). Nếu nghiên cứu thật sự khách quan, chí ít ông phải thấy đầu TK XX, đã có hai kiểu loại khái niệm được du nhập vào Việt Nam: a. Các khái niệm liên quan tới văn hóa vật chất, như: máy bay, tàu hỏa, ôtô, xe máy, áo vét, dầu tây,… Đây là kiểu loại khái niệm biểu thị cho sự phát triển văn minh khoa học kỹ thuật phương Tây mà người Việt Nam chưa đạt được (thậm chí còn chưa từng xuất hiện trong quan niệm truyền thống), nhưng giá trị mà các khái niệm này mang tải đã chứng tỏ tính hữu dụng của chúng trong sinh hoạt xã hội, nên người Việt Nam nhanh chóng chấp nhận, sử dụng. b. Các khái niệm liên quan tới văn hóa tinh thần, như: tự do, bình đẳng, bác ái, dân quyền, độc lập, yêu nước, dân tộc,… Với kiểu loại khái niệm này, người Việt Nam không chỉ phải làm quen trong tư cách khái niệm, mà còn phải làm quen với thao tác xây dựng nội hàm. Điều đó có nguồn gốc từ lịch sử, hàng nghìn năm ở Việt Nam đã tồn tại những sự kiện - hiện tượng liên quan đến tự do, bình đẳng, bác ái, dân quyền, độc lập, yêu nước, dân tộc,… nhưng chưa được khái quát và thể hiện bằng khái niệm. Các trí thức tiến bộ ở Việt Nam đầu TK XX không chỉ tiếp nhận mà khi xem xét quá khứ, họ sử dụng các khái niệm này làm công cụ nghiên cứu, khái quát các sự kiện - hiện tượng từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam để xác lập nội hàm các khái niệm đó với nội dung cụ thể, gần gũi; đây là công việc mà các thế hệ đi trước, do hạn chế lịch sử, vẫn chưa làm được. Tiếp cận một cách bản chất và trên diện rộng, GS TS Liam C Kelley sẽ thấy không phải mọi khái niệm, tư tưởng từ phương Tây vào Việt Nam ở đầu TK XX đều có thể bắt rễ vào đời sống tinh thần xã hội Việt Nam. Tất nhiên khi du nhập một khái niệm nào đó, người ta không thể ít nhiều chịu ảnh hưởng từ nội hàm của nó, nhưng dù sao thì khái niệm không thể tạo ra thực tiễn, vì nó ra đời từ quá trình khái quát về thực tiễn. Do đó để xem xét, cần phải khảo sát, phân tích từ lý thuyết tiếp nhận với quan niệm về tầm đón nhận, về tương thích văn hóa,… chứ không thể khảo sát, phân tích từ cảm quan của nhà nghiên cứu có xu hướng “hiện đại hóa quá khứ” bằng việc tách văn bản khỏi bối cảnh, tách câu chữ khỏi văn cảnh rồi suy luận phải thế này, không phải thế kia. Bên cạnh đó, với các khái niệm Liam C Kelley đề cập, phải xem xét từ phương diện cơ bản hơn, vì chúng có khả năng đáp ứng được yêu cầu cấp bách nhất của người Việt Nam khi đó là giành lại Tổ quốc. Việc chứng minh nội hàm các khái niệm độc lập, yêu nước, dân tộc,… đã tồn tại trong lịch sử đất nước là một cách thức quan trọng giúp người Việt Nam có thêm hiểu biết về đất nước, tổ tiên, đánh thức lòng tự tôn, và hướng tâm thế xã hội theo tinh thần kế tục. Liam C Kelley không nhận ra điều này, chỉ vì thấy tới đầu TK XX khái niệm độc lập mới xuất hiện ở Việt Nam, mà ông vội kết luận là “gợi hứng bởi những cái nhìn mới, và khiếp sợ những cảnh báo của thuyết tiến hóa xã hội rằng các quốc gia có thể biến mất dễ dàng nếu chúng không đủ mạnh” rồi cho rằng các học giả ở Việt Nam ngày nay khẳng định về nền độc lập của đất nước mình là: “Bất chấp một thực tế là khái niệm “độc lập” chỉ du nhập vào tiếng Việt ở đầu thế kỉ XX, các học giả ở Việt Nam ngày nay được thuyết phục rằng có một vương quốc độc lập ở đồng bằng sông Hồng trong thiên niên kỉ đầu trước Công lịch, và rằng sau một ngàn năm Bắc thuộc, vương quốc độc lập đó tái xuất hiện và làm ra vẻ một nhà nước triều cống trong 1000 năm tiếp theo từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX”. Liam C Kelley có thể không đồng tình với kết luận của các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa ở Việt Nam về sự hình thành nước Việt Nam thời cổ đại (như ông trình bày trong một số tiểu luận tôi không đề cập ở đây), song không thể vì thế mà sổ toẹt bằng chứng lịch sử cho thấy người Việt sớm có ý thức về độc lập, sớm có lòng yêu nước. Chẳng lẽ sau hơn nửa thế kỷ, quan niệm về “sứ mạng khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân vẫn đeo bám, chi phối, ngăn trở, không giúp Liam C Kelley vượt qua tầm nhìn thiển cận? Theo tôi, việc lấy triều cống làm tiêu chí kết luận về quan hệ độc lập hay phụ thuộc giữa Việt Nam với Trung Hoa từ thời TK XX về trước, là việc làm kỳ quặc; chứng tỏ người nghiên cứu hoặc đi theo xu hướng sai lạc, hoặc không hiểu bản chất quan hệ triều cống giữa Trung Hoa với Việt Nam nói riêng, và giữa Trung Hoa với một số nước ở châu Á nói chung. Nếu coi triều cống là sự thần phục, liệu Liam C Kelley có thể từ hiện tượng triều cống của các triều đại phong kiến Nhật Bản, Triều Tiên, Thailand,… để cho rằng Nhật Bản, Triều Tiên, Thailand,… từng thần phục Trung Hoa? Hàng nghìn năm phải chấp nhận triều cống, phải tỏ vẻ thần phục để đất nước ổn định và phát triển, giữ yên bờ cõi, đồng thời vẫn khẳng định “nước ta” là một thực thể có tư cách riêng,… thiết nghĩ đó là lựa chọn khôn ngoan (thậm chí là duy nhất đúng?) với một nước nhỏ sinh tồn cạnh một nước lớn… Với ý niệm “sách trời” trong câu thơ “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, Liam C Kelley nhận xét: “khó mà nói chắc chắn rằng nó biểu thị cái gì”. Đúng vậy, và nếu chỉ bằng tinh thần duy lý, Liam C Kelley sẽ không thể lý giải được sự huyền bí của “sách trời”, bởi đó là điều chỉ có thể cảm nhận, khó có thể chứng minh theo tinh thần thực chứng. Nhưng oái oăm là ở Việt Nam một thời, sự huyền bí này lại chứa đựng một sức mạnh to lớn giúp khẳng định chủ quyền, và khích lệ người Việt Nam giữ vững chủ quyền. Tương tự, không thể lấy hiện tượng người Việt Nam thờ Khổng Tử ở Văn Miếu để đặt câu hỏi về thần phục. Trong một xã hội coi Nho giáo là “quốc giáo”, việc thờ phụng người khai sinh ra Nho giáo là điều rất bình thường, không phải là bằng chứng chứng minh sự thần phục. Đặt câu hỏi như thế, liệu khác gì vì thấy trước thế kỷ XV ở Việt Nam Phật giáo thịnh hành, nhiều vị cao tăng giữ trọng trách tại triều đình, thậm chí vua Trần Nhân Tông còn là người sáng lập một dòng Thiền,… để khẳng định Việt Nam đã từng… thần phục Nêpan! Trong lịch sử nhân loại, hiện tượng chấp nhận, tôn kính và thờ phụng một biểu tượng - con người có ý nghĩa tinh thần vượt ra ngoài phạm vi cộng đồng xuất thân không phải là đặc biệt, dị thường. Hàng tỷ người trên thế giới vẫn tôn thờ Jesus nhưng không mấy ai băn khoăn về quốc tịch của Jesus để buộc mình phải lựa chọn “tin hay không tin, theo hay không theo?”. Nghiên cứu lịch sử - văn hóa mà không quan tâm, thiếu khả năng nắm bắt tính chất “ngầm ẩn”, “phi văn bản” của một số vấn đề - sự kiện trong quá khứ vốn không được lưu trữ bằng các tài liệu, mà được truyền bá trong văn hóa dân gian, đã in dấu ấn vào vô thức cộng đồng, sẽ khó tìm được lời giải thuyết phục, dễ bị cuốn theo xu hướng suy đoán chủ quan. Sau hàng nghìn năm bị đô hộ, các văn bản ghi chép (nếu có?) về đất nước, con người Việt Nam hầu như không còn, và văn hóa dân gian trở thành nơi lưu giữ thông tin về nhiều sự kiện - hiện tượng lịch sử - văn hóa. Tất nhiên, không thể lấy văn hóa dân gian làm chuẩn mực định tính lịch sử nhưng chí ít thì căn cứ vào đó có thể hình dung câu trả lời về quá khứ đất nước và dân tộc được lưu giữ, trao truyền qua ký ức tập thể của người Việt Nam như thế nào. Trong lịch sử, ký ức ấy là “phi văn bản” nhưng mang tải các biểu tượng được thừa nhận như là lẽ tất yếu của điều kiện sinh tồn, có ý nghĩa liên kết cộng đồng. Nên có thể nói trong bài “Hồng Bàng thị truyện”như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại, khi đặt ra câu hỏi: “Ai đích xác là nhân dân / dân gian…”, “nếu những thông tin cốt lõi trong một câu chuyện như Hồng Bàng thị truyện bắt nguồn trong các câu truyện dân gian được lưu truyền từ thời viễn cổ, thì các học giả cần phải giải thích làm thế nào có thể xảy ra điều đó, và những sự lưu truyền nào đã chuyển tải các thông tin khi ngôn ngữ tiếng Việt phát triển qua các thế kỉ và khi những thông tin truyền miệng này rốt cuộc được dịch sang tiếng Hán cổ”,… GS TS Liam C Kelley cố tình trình bày một thách đố hơn là tự chứng tỏ nhãn quan khoa học của nhà nghiên cứu. Xem xét từ toàn cảnh, Liam C Kelley sẽ thấy văn học thành văn ở Việt Nam vẫn có tài liệu để tham khảo, như câu hỏi trước khi bị Trung Hoa xâm lược, người Việt có chữ viết hay chưa (?) chẳng hạn. Đặt sang một bên ý kiến khác nhau về tác giả của Thánh Tông di thảo, đọc truyện Mộng ký (Truyện một giấc mộng) sẽ thấy một câu chuyện đặc biệt. Truyện kể: Một hôm Lê Thánh Tông “dàn sáu quân thân hành đi kiểm soát” thì gặp trời mưa to, ông nghỉ lại bên hồ Trúc Bạch. Đêm ấy trong giấc mơ, ông thấy hai người con gái hiện lên bày tỏ oan ức rồi dâng “một tờ giấy trắng ngang dọc đều độ một thước, trên có 71 chữ ngoằn ngoèo như hình giun dế, không thể hiểu được. Dưới có hai bài thơ”. Vua đem tờ giấy về triều, vời học thần nội các đến xem, giải nghĩa. Sau ba năm, mà học thần nội các không ai giải nghĩa được. Lê Thánh Tông lại nằm mơ, thấy có người hiện lên giảng cho ông hai bài thơ chữ Hán. Vua hỏi âm và nghĩa của 71 chữ ngoằn ngoèo, người này bảo: đó là “lối chữ cổ sơ của nước Nam. Nay Mường Mán ở các sơn động cũng có người còn đọc được. Nhà vua triệu họ đến, bắt đọc thì khắc biết”. Dù Lê Thánh Tông hay ai đó là tác giả Thánh Tông di thảo, vẫn có thể liên tưởng tới việc truyện mang theo nỗi trăn trở về chữ viết riêng của dân tộc ở thời xa xưa. Nếu vua Lê Thánh Tông là tác giả Thánh Tông di thảo thì có lẽ khác biệt ở chỗ, là một ông vua, nên Lê Thánh Tông đã “thần bí hóa” nỗi trăn trở thành một vấn đề chỉ nhà vua mới được báo mộng? Phương thức canh tác nông nghiệp lúa nước và cuộc sống phụ thuộc vào tự nhiên đã làm nảy sinh trong lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam hiện tượng “cái thiêng” trở thành một bộ phận quan trọng của đời sống tinh thần. “Cái thiêng” - qua việc thờ cúng và sự kính trọng các biểu tượng “thánh, thần”, không chỉ là yếu tố chi phối cung cách ứng xử với tự nhiên để cầu mong mưa thuận gió hòa, được phù hộ, mà còn mang tải các giá trị khác, như: tưởng nhớ công ơn, xác định tấm gương để noi theo; mà hiện tượng các thế hệ trao truyền cho nhau truyền thuyết về anh hùng dân tộc, “thần thánh hóa” nhân vật có công với nước là ví dụ. Nghiên cứu lịch sử - văn hóa ở thời kỳ truyền thuyết, biểu tượng giữ vai trò quan trọng và “cái thiêng” không chỉ là “cái thiêng” mà còn có ý nghĩa thế tục, rồi văn bản thành văn sơ sài,… nếu đòi hỏi phải có thời gian xác định, phải có văn bản để phân tích để so sánh một cách duy lý, không đặt mình vào quá trình “nhập thân văn hóa” sẽ không hiểu được điều này. Dẫu xác thực hay chưa, thì lịch sử lâu đời của việc thờ phụng Lạc Long Quân - Âu Cơ, Hùng Vương, Bà Trưng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát,… và hàng trăm vị Thành hoàng, đều không thuần túy là tín ngưỡng, phong tục. Chỉ dựa vào văn bản, thấy cái này có thì công nhận, cái kia không có thì phủ nhận,… thì không những chứng tỏ thiếu hụt khả năng tư duy khoa học mà còn là sự xúc phạm. Chẳng nhẽ theo Liam C Kelley, những điều được lưu truyền như: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư - Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, “Như nước Đại Việt ta thuở trước - Vốn xưng nền văn hiến đã lâu - Bờ cõi, cương vực đã chia - Phong tục Bắc Nam cũng khác”, “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”, “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”,… lại không phải là biểu thị cụ thể về ý thức về độc lập, lòng yêu nước của người Việt Nam? Cuối TK XIX đầu TK XX, chỉ nhắc đến tên tuổi Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám,… là thấy hành động, sự hy sinh của những con người ưu tú ấy đã chứng minh họ có ý thức rất nghiêm túc về độc lập, yêu nước, sẵn sàng hy sinh tính mạng vì các giá trị này. Đến nửa cuối TK XX cũng vậy, hàng triệu người Việt Nam suy nghĩ và hành động theo khẩu hiệu “Tất cả cho Điện Biên Phủ”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đã tiếp tục chứng minh ý thức về độc lập, lòng yêu nước được kế tục như thế nào. Chẳng lẽ Liam C Kelley không quan tâm? Do đó, không thể nói chỉ tới khi người phương Tây du nhập các khái niệm độc lập, yêu nước tới Việt Nam thì người Việt Nam mới biết thế nào là độc lập, yêu nước. Có thể hàng nghìn năm người Việt Nam chưa biết các khái niệm này với tư cách khoa học, nhưng suy nghĩ, hành động của họ cho thấy khát vọng độc lập, lòng yêu nước không phải là sản phẩm hư cấu, chỉ nhờ vào học thuật phương Tây mới nhận thức được. Đó là sự thật để chí ít trước khi đặt vấn đề nghiên cứu, Liam C Kelley cũng nên tự vấn bằng câu hỏi: Tại sao, điều gì làm cho một dân tộc, trong hàng nghìn năm có thể đánh bại rất nhiều kẻ thù xâm lược, gần đây nhất là Pháp, Hoa Kỳ? Đó cũng là sự thật để Liam C Kelley cẩn trọng hơn, không tiếp tục coi phương Tây có “sứ mệnh khai hóa văn minh” đối với phương Đông, rồi biến mình thành tín đồ của “chủ nghĩa thực dân tinh thần” đã lạc lõng so với lịch sử, lạc lõng so với sự phát triển của khoa học. Hay, như Nguyễn Thị Minh Thương viếttrong tiểu luậnLý luận dịch thuật hậu thực dân là: “cường điệu hóa về một “kẻ khác” suy yếu, ấu trĩ, lười biếng, mê muội, tất cả chỉ để hiển thị rõ hơn một văn hóa phương Tây ưu việt bội phần” (phebinhvanhoc.com.vn, ngày 21.7.2012). 2. Trong bài Việt Nam là một “văn hiến chi bang”, GS TS Liam C Kelley viết: “có lẽ cũng giống như mọi dân tộc khác trên trái đất, người Việt cũng phải tưởng tượng ra rằng quốc gia của họ có tồn tại, một quá trình được hoàn thành với những khó khăn đáng kể. Tuy nhiên, có những “mối liên hệ với quá khứ” đã giữ vị trí cầm chịch lúc bấy giờ, giữa chúng là một cảm quan dai dẳng về sự kém cỏi ở chỗ không sống xứng đáng để thiết lập những chuẩn mực [riêng] và một sự bàn luận qua loa về hành động của các thế hệ học giả trước. Có lẽ, cái sự “nở rộ” trong những năm đầu thế kỷ XX ở Việt Nam phần nhiều không phải là từ một ý thức tiền quốc gia mà là từ một nỗi sợ hãi day dứt về sự khiếm khuyết”. Tôi coi kết luận trên đây của Liam C Kelley là kết quả của lối tư duy tư biện, và cảm tính hơn là tư duy khoa học trên cơ sở thực tiễn. Bởi, khi triển khai văn bản Việt Nam là một “văn hiến chi bang” nhằm “cố gắng soi rọi những cách nghĩ mâu thuẫn với các ý tưởng dân tộc chủ nghĩa phương Tây”, dường như tinh thần phương Tây, phương pháp thực chứng triệt để, và logic coi sự vật - hiện tượng chỉ có thể ở trong tình trạng “hoặc A, hoặc B” không có tình trạng “vừa A, vừa B” của vị Giáo sư Tiến sĩ này đã không đem tới cho ông một cái nhìn thấu đáo về các sự vật - hiện tượng mà bản thân chúng là tập hợp của nhiều giá trị được đặt trong các mối liên hệ (trong đó có một số quan hệ mang tính chất mờ - nhòe) nếu chỉ dựa trên văn bản sẽ rất khó có thể (thậm chí là không thể) làm sáng tỏ? Thí dụ, nếu chỉ với tinh thần duy lý phương Tây, không tìm hiểu cụ thể điều kiện sống, cách thức tổ chức cuộc sống của người Việt Nam, GS TS Liam C Kelley sẽ không thể lý giải được một điều ngỡ là nghịch lý như: người Việt Nam vừa khẳng định: “Một giọt máu đào hơn một ao nước lã” lại vừa khẳng định: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”!? Thêm nữa, khi viết rằng: “Cho đến thế kỉ XV, trí thức Việt đã tuyên bố một cách tự hào rằng mảnh đất của họ là “văn hiến chi bang”…” (phải chăng là Liam C Kelley căn cứ vào câu “Duy ngã Ðại Việt chi quốc thực vi văn hiến chi bang” trong Bình Ngô đại cáo?), chẳng nhẽ Liam C Kelley không biết, hay ông lờ đi một sự kiện cần tham khảo là theo Dư địa chí thì “văn hiến chi bang” là do Minh Thái tổ “ban” sau khi sứ giả nhà Minh là Dịch Tế Dân sang thông hiếu và nhà nhà Trần cử sứ thần sang đáp lễ; trong Đại Việt sử ký toàn thư, sự kiện này tương ứng với năm Mậu Thân - 1368? Để trở thành quốc gia có tên gọi, lãnh thổ, văn hóa, dân tộc (hoặc cộng đồng các dân tộc),… riêng biệt như ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều trải qua một quá trình lịch sử lâu dài với nhiều biến thiên phức tạp. Vì thế, qua thời đại của người Gaule, người Frank đến năm 508 Clovis Imới định đô ở Paris; tương tự phải sau mấy nghìn năm, trên vùng đất từng xuất hiện Văn hóa Beaker mới ra đời Vương quốc Anh… Và sau những biến thiên phức tạp đó, không phải mọi quốc gia đều có thể ghi lại, lưu giữ, truyền bá các văn bản chứa đựng thông tin, sự kiện, số liệu, thời gian về nguồn gốc, lịch sử. Chỉ các vùng đất (về sau hình thành nên quốc gia, dân tộc như Hy Lạp, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa,…) sớm có nền văn hóa - văn minh phát triển với sự ra đời của chữ viết, có ý thức ghi chép về các sự kiện - hiện tượng liên quan tới cộng đồng,… mới có thể lưu giữ tài liệu để trao lại cho hậu thế. Song, với những biến thiên phức tạp sau nhiều thế kỷ (như: chiến tranh xâm lược, thiên tai, tranh chấp quyền lực giữa các phe nhóm thống trị, thái độ kỳ thị…) ngay cả các vùng đất trên cũng khó có thể trao truyền các tài liệu một cách toàn bộ và hệ thống. Với các quốc gia trong lịch sử có thể từng xây dựng được nền văn hóa - văn minh với chữ viết riêng nhưng về sau bị xâm lược, bị đồng hóa, hay các quốc gia mà điểm xuất phát ở thời xa xưa còn ở trình độ thấp, chưa có khả năng ghi chép thành văn, thì tư liệu về nguồn gốc, lịch sử hầu như rất sơ sài, thường lưu giữ trong các truyền thuyết, huyền thoại, biểu tượng,… được truyền bá từ đời này sang đời khác. Do đó, không thể vì chỉ được lưu giữ trong những truyền thuyết, huyền thoại, biểu tượng,… mà phủ nhận ý nghĩa, vai trò của chúng trong lịch sử một quốc gia, dân tộc. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, truyền thuyết, biểu tượng về cội nguồn và tổ tiên, huyền thoại về người anh hùng dân tộc,… được lưu giữ trong ký ức cộng đồng từng góp phần rất lớn trong việc hun đúc ý chí để cộng đồng tồn tại, vượt qua mọi biến cố. Với một quốc gia ra đời muộn và lại đúng vào thời kỳ văn hóa - văn minh nhân loại đã phát triển như Hoa Kỳ, việc ghi chép và trao truyền tư liệu lịch sử có phần sáng rõ hơn; nhưng dù vậy, không thể lấy lịch sử hình thành Hoa Kỳ để quy chiếu lịch sử hình thành các quốc gia, dân tộc khác, rồi đòi hỏi phải như thế này phải như thế kia, hoặc phủ nhận vì thấy còn mơ hồ. Như với nước Israel ngày nay, không thể lấy thời điểm ra đời năm 1948 của quốc gia này mà bỏ qua lịch sử hàng nghìn năm trước Công nguyên của người Do Thái; cũng không thể từ phương pháp thực chứng để phủ nhận niềm tin về “cây gậy” quyền năng trong tay Moses - một biểu tượng của không biết bao nhiêu thế hệ người trong hàng chục thế kỷ. Không quan tâm tới ý nghĩa ngầm ẩn trong các tác phẩm văn hóa dân gian, không chú ý tới vai trò và ý nghĩa của ký ức tập thể, không xem xét những mối liên hệ quá khứ, thoạt nhìn thì rất mơ hồ, nhưng xét kỹ lại cực kỳ bền chặt, không nhìn nhận biểu tượng như là kết quả tổng hòa của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính,… nên Liam C Kelley không hiểu tại sao một dân tộc có thể đặt niềm tin vào biểu tượng Rồng - Tiên, tại sao họ có thể nỗ lực hết mình vì tin rằng bản thân có trách nhiệm tiếp nối sự nghiệp của vua Hùng, sẵn sàng hy sinh bảo vệ Tổ quốc theo gương Thánh Gióng. Điều GS TS Liam C Kelle cho rằng lịch sử Việt Nam chỉ là “tưởng tượng” thực ra thể hiện hết sức sống động, xin không dẫn lại, không phân tích, bởi chắc chắn không phải Liam C Kelle không biết. Phải chăng vì lịch sử Hoa Kỳ không có những con người sẵn sàng xả thân cho đất nước vì muốn noi theo tấm gương các anh hùng da đỏ như Crazy Horse (Ngựa điên), Mishikinakwa (Rùa nhỏ), Geronimo (Người ngáp ngủ),… nên GS TS Liam C Kelle không tin ở Việt Nam lại có những con người sẵn sàng hy sinh để không hổ danh con cháu vua Hùng? Nhìn rộng ra thử hỏi, với phương pháp thực chứng máy móc và thái độ võ đoán, Liam C Kelley lý giải sao đây một sự thật là từ ngày xưng “thiên tử” con cháu của “nữ thần Mặt trời” (Thái dương thần nữ) mang tính chất thần thánh trong hiển thị con người, Thiên hoàng (Nhật hoàng) lại luôn luôn nhận được sự tôn kính của người Nhật Bản trong suốt bao nhiêu thế kỷ? Năm 2006, tôi có lưu ý Liam C. Kelleyrằng: “trước khi đưa ra các kết luận về lịch sử - văn hóa Việt Nam, cần thiết phải đặt nó trở về với bối cảnh phức tạp của các biến thiên lịch sử ở một quốc gia không có truyền thống làm sử chính xác và cập nhật, thêm vào đó là tình trạng thất lạc, mất mát do giặc giã, thiên tai... Lại nữa, sự tồn tại và chen lấn của truyền thuyết, của huyền thoại, của các thành phần folklore khác không chỉ mang ý nghĩa bổ sung các nội dung lịch sử - văn hóa “bác học” mà đôi khi còn làm tăng thêm tính “mờ, nhòe” của một số sự kiện, dù có hoặc không được ghi chép”. Nhưng có lẽ Liam C. Kelleykhông quan tâm tới lưu ý này, ông tiếp tục nghiên cứu lịch sử - văn hóa Việt Nam theo một cung cách theo tôi có màu sắc không lương thiện. Nói có “màu sắc không lương thiện” có thể là nặng lời, nhưng tôi không thể đưa ra kết luận khác nhẹ nhàng hơn vì thấy khi nghiên cứu lịch sử - văn hóa Việt Nam, Liam C. Kelleythường đòi hỏi bằng cớ xác thực, bất chấp hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của các vấn đề. Nghiên cứu ý thức độc lập, tinh thần yêu nước của người Việt Nam, ông ít quan tâm tới niềm tôn kính người Việt Nam dành cho Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng,… Mà mỗi khi đề cập, ông lại đòi hỏi đâu là sử liệu chứng minh đó là con người với sự nghiệp xác thực. Nghiên cứu văn bản ở thời cổ - trung đại của người Việt Nam, ông không đặt câu hỏi: Nếu trước thiên niên kỷ I người Việt có văn tự, có ghi chép lịch sử - văn hóa thì sau 1.000 Bắc thuộc, liệu các ghi chép đó còn được bao nhiêu để tìm câu trả lời, mà ông soi mói, chộp lấy một vài văn bản không được biết tới rộng rãi, không được xem là ý kiến chính thức, phổ biến trong đời sống tri thức ở Việt Nam, rồi lấy bộ phận thay cho toàn thể, biến văn bản ít được chú ý thành phổ quát. Trước đây, từ mấy câu thơ của Nguyễn Huy Túc - một vị quan của triều Lê bày tỏ niềm vui khi thấy quân Thanh vào Việt Nam, GS TS Liam C. Kelleytỏ ra nghi ngờ tính xác thực của dòng văn chương chống ngoại xâm ở Việt Nam; thì chỉ mấy năm sau, trong bài Việt Nam là một “văn hiến chi bang”, ông lại lấy ý kiến của Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn đánh giá về sự yếu kém trong sách vở, thi ca để nghi ngờ vấn đề Việt Nam là một “văn hiến chi bang”! Chẳng lẽ, một Giáo sư tiến sĩ như Liam C. Kelleylại không thấy việc đòi hỏi văn chương, học thuật Việt Nam thời trung đại phải có được tầm vóc văn chương, học thuật Trung Hoa cùng thời kỳ là đòi hỏi bất khả, vô lý? Tuy điều này có thể là mặc cảm xuất hiện trong tâm thức một bộ phận trí thức Việt Nam song trên thực tế nó không giữ vai trò chi phối, cũng không nghiêm trọng đến mức trở thành “một nỗi sợ hãi day dứt về sự khiếm khuyết”. Ý kiến phê phán của Hoàng Đức Lương và Lê Quý Đôn cũng vậy, Liam C. Kelleycó thể coi đó là biểu thị của mặc cảm, song là một nhà nghiên cứu, lẽ nào ông lại không liên tưởng tới một chiều nghĩa khác: đó là Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn tổng kết và đánh giá, từ đó các ông yêu cầu học thuật, văn chương Việt Nam cần phải vượt khỏi “cái bóng” của học thuật, văn chương Trung Hoa, phải làm phong phú văn chương, học thuật của nước nhà? Có thể coi là thái độ khoa học nghiêm túc như khi đọc điều Lê Quý Đôn viết: “Không chỉ những tập tác phẩm mà chúng ta làm ra nhỏ nhoi, mà những nỗ lực bảo tồn của chúng ta cũng tùy tiện” Liam C. Kelleychỉ khai thác nội dung đáp ứng mục đích và kết luận của ông là “tác phẩm mà chúng ta làm ra nhỏ nhoi”, rồi tảng lờ nội dung “những nỗ lực bảo tồn của chúng ta cũng tùy tiện”? Chẳng nhẽ với ông, sự tùy tiện trong việc bảo tồn văn bản không phải là một khiếm khuyết đáng quan ngại? Theo tôi, chỉ từ ý kiến của Hoàng Đức Lương, Lê Quý Đôn để kết luận “cái sự “nở rộ” trong những năm đầu thế kỷ XX ở Việt Nam phần nhiều không phải là từ một ý thức tiền quốc gia mà là từ một nỗi sợ hãi day dứt về sự khiếm khuyết” là thiếu lương thiện. Khi nghiên cứu, chí ít Liam C. Kelleycũng phải quan tâm tới các tài liệu trong đó chứa đựng thông tin cho thấy tình trạng ít ỏi tác phẩm văn chương, học thuật của Việt Nam ở thời trung đại còn bị chi phối bởi một số lý do khác. Như Lý Tử Tấn viết trong bài tựa Việt âm thi tập: “Về sau, vì binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn”, hay Bùi Huy Bích viết ông làm tuyển tập “sau cơn binh hỏa” trong tiểu dẫn của Hoàng Việt thi tuyển,… Hơn nữa, Liam C. Kelleycần quan tâm tới điều Việt kiệu thư của Trung Hoa viết rằng, hoàng đế nhà Minh ra chỉ dụ yêu cầu: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn”, “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy những sách vở văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, như loại “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết, và tất thảy các bia mà xứ ấy dựng lên thì một mảnh một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại. Nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được, không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông không biết chữ, nếu đâu đâu cũng đều làm vậy thì khi đài tải sẽ mất mát nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không được lưu lại”. Theo Liam C. Kelley, với một chính sách như vậy, sau 20 năm đô hộ của nhà Minh, nếu có thì liệu sách vở học thuật, văn chương của Việt Nam còn được bao nhiêu? 3. Trong bài Bách Việt và sự thiếu vắng sử học hậu thuộc địa ở Việt Nam, GS TS Liam C Kelle viết: “Tuy nhiên, điều thú vị là trong khi “viết lại” để chống những ý tưởng mà những kẻ thực dân đã tạo ra, người dân thuộc địa cũ đã sử dụng chính các khái niệm mà những kẻ thực dân đã tạo ra, mà chỉ đơn giản là đảo ngược chúng lại, biến mình thành ưu việt còn những kẻ thực dân cũ thì thấp kém hơn. Đây là hiện tượng mà các học giả gọi là “sự thực dân trong tinh thần”. Bởi vì người dân thuộc địa cũ vẫn dùng những khái niệm mà những kẻ thực dân trước đây đã tạo ra. Những người không thể vượt qua được những khái niệm mà những kẻ thực dân tạo ra vẫn đang “bị thuộc địa về tinh thần”… Cho đến nay, như tôi được biết, chưa có lí thuyết gia hậu thuộc địa người Việt nào xuất hiện. Không giống như ở Ấn Độ và ở Thái Bình Dương nơi lí thuyết hậu thuộc địa đã phát triển rất tốt, ở Việt Nam, đây vẫn là vùng đất chưa được khám phá. Kết quả là, những cái đầu thuộc địa tiếp tục sản sinh ra học thuật thuộc địa. Bằng cách đảo ngược lại những gì thực dân đã nói, họ nghĩ rằng họ đang làm cái mới, nhưng bằng việc đi theo chính những khái niệm do những kẻ thực dân tạo ra, họ vẫn bị thuộc địa về tinh thần và học thuật của họ vẫn mang tính thuộc địa”. Tôi nghĩ, có thể coi đoạn văn trên đây là thí dụ điển hình cho các kết luận phi khoa học, phi lịch sử của GS TS Liam C. Kelleykhi nghiên cứu Việt Nam. Trước hết, không thể nói ở các quốc gia từng là thuộc địa và có ý thức về con đường phát triển sau thời kỳ thực dân, việc tiếp tục sử dụng các khái niệm do thực dân mang tới là “thực dân trong tinh thần”. Với khoa học nào cũng vậy, hệ thống khái niệm, nguyên lý, phạm trù, phương pháp nghiên cứu,… là luôn thống nhất. Không phải vì khoa học đó ra đời ở một nước thực dân mà sau khi giành độc lập, quốc gia từng là thuộc địa phải lập tức xóa bỏ để xây dựng hệ thống khái niệm, nguyên lý, phạm trù, phương pháp nghiên cứu,… riêng của mình. Nếu có quan tâm, Liam C. Kelleynên xem xét việc làm đó đưa tới kết quả như thế nào. Kết luận như vậy, Liam C. Kelleytự chứng tỏ ông không có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa chủ nghĩa thực dân với ý nghĩa toàn nhân loại của các ngành khoa học (lẽ nào ông lại không biết điều đó?). Như Hoa Kỳ chẳng hạn, xét đến cùng, những thành tựu quốc gia này đạt được sau hơn 200 năm, chính là sự tiếp nối, sáng tạo, phát triển từ những gì châu Âu đã có từ trước. Cứ như Liam C. Kelleynghiên cứu, liệu đến một ngày nào đó, Giáo sư Tiến sĩ có thể kết luận: ảnh hưởng của triết học Khai sáng ở châu Âu, ảnh hưởng từ tư tưởng triết học của John Locke (1632 - 1704),… trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776) cũng là biểu hiện của hiện tượng “bị thuộc địa về tinh thần”!? Xem xét một cách toàn diện, điều Liam C. Kelleycho rằng “người dân thuộc địa cũ đã sử dụng chính những khái niệm mà những kẻ thực dân đã tạo ra, mà chỉ đơn giản là đảo ngược chúng lại, biến mình thành ưu việt còn những kẻ thực dân cũ thì thấp kém hơn” là rất phiến diện. Trong khi phê phán chủ nghĩa thực dân, nhiều tác giả ở các nước cựu thuộc địa khẳng định chính quyền thực dân đã bóp nghẹt tự do, gây bất bình đẳng, vi phạm dân quyền,… đâu phải để chứng tỏ các giá trị của dân tộc mình ưu việt hơn, mà việc làm này để chỉ đích danh tính chất phi nhân tính của chính quyền thực dân, đồng thời trực tiếp khẳng định tính chính nghĩa của sự nghiệp giành độc lập. Bên cạnh đó, ở thời thực dân, công trình nghiên cứu của một số nhà khoa học đến từ “chính quốc” đã góp phần tạo dựng, đánh giá, lưu giữ nhiều tài liệu về sau bị mai một,… thì việc các nước cựu thuộc địa tiếp thu thành quả của họ đâu phải “bị thuộc địa về tinh thần”. Trên thực tế, người Việt Nam có thái độ rất trân trọng đối với kết quả nghiên cứu Việt Nam của Henri Maspéro, Albert Sallet, Madeleine Colani, Georges Condominas, Yersin… Đó là hành xử lương thiện trí thức đâu phải là “để chống những ý tưởng mà những kẻ thực dân đã tạo ra, người dân thuộc địa cũ đã sử dụng chính những khái niệm mà những kẻ thực dân đã tạo ra, mà chỉ đơn giản là đảo ngược chúng lại, biến mình thành ưu việt còn những kẻ thực dân cũ thì thấp kém hơn” như Liam C. Kelleyđã suy diễn. Như là kết quả từ vô thức lịch sử, ở một số nước thuộc địa, chính quyền thực dân đã góp phần hình thành đội ngũ trí thức người bản xứ “kiểu mới”. Ở Việt Nam, những người này đã đặt nền móng cho sự ra đời tầng lớp trí thức hiện đại, đoạn tuyệt với lối học hành, thi cử truyền thống, tiếp thu quan niệm, phương pháp của một số ngành khoa học đến từ phương Tây để thực hành nghiên cứu. Việc họ kế thừa, thậm chí “không thể vượt qua được những khái niệm mà những kẻ thực dân tạo ra” là biểu hiện năng lực nghiên cứu của họ còn hạn chế, chứ không phải “bị thuộc địa về tinh thần”! Nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện sẽ thấy về mặt hình thức với các quốc gia từng trải qua thời kỳ bị thực dân đô hộ, có thể phân kỳ lịch sử theo logic thời gian: tiền thuộc địa - thuộc địa - hậu thuộc địa, nhưng về nội dung xã hội lại phức tạp hơn rất nhiều, không phải mọi quốc gia ở thời kỳ “hậu thuộc địa” cũng phải đối diện, phải giải quyết các vấn đề tương tự như nhau. Nghĩa là không thể vì thấy ở Ấn Độ và Thái Bình Dương là nơi có lý thuyết hậu thuộc địa phát triển mà đòi hỏi Việt Nam cũng phải có lý thuyết gia hậu thuộc địa. Tới các thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, các khái niệm thuộc địa, nửa thuộc địa hầu như chỉ còn là đối tượng nghiên cứu hơn là thực tế hiện tồn. Nhưng với lịch sử mấy trăm năm, với sự bành trướng, ảnh hưởng trên hầu hết các lục địa, thậm chí với một số trường hợp, chủ nghĩa thực dân còn giữ vai trò quyết định trong sự biến chuyển kinh tế - chính trị - xã hội - văn hóa,… của một số quốc gia cho nên khó có thể nói chủ nghĩa thực dân không để lại dấu vết trong đời sống. Và vấn đề còn phức tạp hơn khi điểm xuất phát của các nước trước khi bị thực dân hóa lại ở trong các trình độ khác nhau. Nếu trước khi người Anh tới Ấn Độ, người Tây Ban Nha tới Peru, các nước này có nhiều thành tựu văn hóa - văn minh (như văn hóa - văn minh Ấn Độ, văn hóa - văn minh Inca); thì trước khi người Tây Ban Nha tới miền đất nay là Brazil, người da đỏ ở đây vẫn sinh sống bán du mục, chưa có chữ viết. Tương tự là tình trạng kém phát triển của cư dân bản địa trong thời kỳ “tiền thuộc địa” ở Bắc Mỹ, Australia.Còn phải kể tới tình huống sau khi xâm chiếm vùng đất mới, chính quyền thực dân còn tìm cách tận diệt cư dân bản địa, hay đẩy họ tới những vùng đất hoang vu; từ đó, những người vốn là thực dân lại xây dựng nên các quốc gia mới với tên gọi riêng, nhà nước riêng, như Mỹ, Australia, Canada,… Tựu trung sau khi giành độc lập, sự khác nhau trong điểm xuất phát vật chất và tinh thần ở thời kỳ tiền thuộc địa; sự tồn tại của nhiều giá trị văn hóa - văn minh mang bản sắc riêng ra đời trước khi bị đô hộ; sự khác nhau trong quá trình tiếp biến các giá trị văn hóa - văn minh tiến bộ hơn mà chủ nghĩa thực dân vô tình gieo cấy vào đời sống; sự khác nhau trong cách thức tổ chức và cai trị xã hội mà mỗi nước thực dân đã thực hành ở từng thuộc địa; mối liên hệ khăng khít hoặc lỏng lẻo với “mẫu quốc”; nền tảng tinh thần mới, sự lựa chọn con đường phát triển,… đã không đưa tới mẫu số chung, mà còn đẩy tới sự phức tạp, tính đa dạng của thế giới sau khi chủ nghĩa thực dân đã cáo chung. Vì thế kết thúc thời thuộc địa, dù đa số quốc gia - dân tộc đều xây dựng chính thể cộng hòa thì không phải ở đâu cũng xây dựng được một xã hội phát triển. Thậm chí sau khi giành lại độc lập, nhiều quốc gia còn tự đẩy mình vào tình huống bi đát hơn, độc lập chưa trở thành động lực giúp vào sự phát triển, mà xã hội bị thao túng để trở thành biến thể của chế độ người bóc lột người. Trong bối cảnh đó, nhìn vào các quốc gia cựu thuộc địa, một số nhà nghiên cứu ở phương Tây không chỉ nhận ra sự chi phối từ cái nhìn “đàn anh” của phương Tây đối với phương Đông, mà còn nhận thấy tại nhiều nước, tình trạng bóc lột và bị bóc lột vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức, người nghèo vẫn chưa có vị trí, vai trò xã hội; rồi tệ phân biệt chủng tộc, các vấn đề nữ quyền, quyền và xu hướng “ngoại vi hóa” các nhóm thiểu số, bên lề,… đồng thời họ cũng nhận ra hạn chế của các lý thuyết phương Tây trong khi nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá, kết luận,… về các vấn đề văn hóa (trong đó nổi lên là văn học) ở các nước từng là thuộc địa. Và từ đó, Chủ nghĩa hậu thực dân ra đời. Trong cuốn sách Đông phương học (Orientalism), E. Said đặt vấn đề xem xét quan hệ văn hóa giữa phương Đông với phương Tây sau thời thuộc địa, mà ở đó thái độ tự thị văn hóa của phương Tây đưa tới quan niệm về vị trí “bên lề”, “ngoại vi” của văn hóa phương Đông. E. Said cho rằng phương Tây thường nhìn về phương Đông như “trung tâm” nhìn “ngoại vi” và coi phương Đông như là “cái khác”. Có thể chia sẻ với quan điểm của E. Said và các tác giả của Chủ nghĩa hậu thực dân khi họ đặt vấn đề nghiên cứu, nhưng từ việc Đông phương học của E. Said chủ yếu đề cập tới Trung Đông, sự chú ý của G.C. Spivak chủ yếu dành cho Ấn Độ,… thì khó có thể phóng chiếu kết quả nghiên cứu của họ trên phạm vi thế giới. Thêm nữa, không thể từ hiện tượng đa số tác giả của Chủ nghĩa hậu thực dân xuất thân từ một nước cựu thuộc địa (như E. Saidđến từ Palestine, A. Césaire đến từ Martinique, F. Fanon đến từ Algérie, G.C.Spivak, H. Bhabha đến từ Ấn Độ,…) mà đẩy tới lập luận cho rằng, ở các nước cựu thuộc địa khác cũng phải xuất hiện lý thuyết gia hậu thuộc địa. Bởi xuất hiện hay không, trước hết là phụ thuộc vào bối cảnh và tính chất xã hội của mỗi quốc gia sau khi giành độc lập. Tính chất phức tạp của quá trình thực dân hóa đã đẩy tới sự phức tạp của quá trình “giải thực dân” trên phạm vi thế giới. Xét từ góc độ văn hóa, có thể nói tính đa dạng văn hóa của các cộng đồng dân tộc trước khi bị đô hộ, ảnh hưởng văn hóa - văn minh do chủ nghĩa thực dân đem tới làm cho tâm thế văn hóa ở các nước cựu thuộc địa trở nên phức tạp, khó có thể tìm mẫu số chung cho tâm thế văn hóa của mọi quốc gia. Do đó người nghiên cứu cần đáp ứng yêu cầu về tính lịch sử - cụ thể, xa rời yêu cầu này, dễ đẩy tới tình trạng nghiên cứu, xét đoán chủ quan, áp đặt. Chỉ có đáp ứng yêu cầu đó, mới chấp nhận một sự thật với người nghiên cứu là: không có logic (dù là logic hình thức) các nước từng bị thực dân đô hộ đều phải trải qua thời kỳ “hậu thuộc địa” với những đặc điểm chung. Chỉ có như thế mới thấy trong khi nhiều quốc gia phải loay hoay tìm con đường phát triển, thoát khỏi “cái bóng” của chủ nghĩa thực dân, thì không chờ đến Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân của LHQ, dân tộc Việt Nam đã tự thân hành động, và tự mình đấu tranh để giành lại độc lập từ năm 1945. Tình huống lịch sử đó cung cấp cho người Việt Nam một tư cách khác, mà nổi bật nhất là từ sau năm 1945 đến nay chưa bao giờ người Việt Nam xem mình là “kẻ bại trận”; sau hơn nửa thế kỷ, “tâm lý thuộc địa” có lẽ chỉ còn là ý nghĩ mơ hồ trong một số người. Cần nhấn mạnh rằng, ở Việt Nam, quá trình “giải thực dân” được thực hiện nhanh chóng và triệt để, các tiêu chí cơ bản để xây dựng xã hội mới được xác định từ trước khi giành lại độc lập, thậm chí hệ thống giá trị của nền văn hóa mới được khẳng định từ năm 1943 qua Đề cương văn hóa Việt Nam. Như vậy, cái gọi là “hậu thuộc địa” nếu có ở Việt Nam cũng chỉ có ý nghĩa là phân kỳ lịch sử, không phải là thực tế xã hội cần nghiên cứu để ra đời “lý thuyết gia hậu thuộc địa người Việt”. Tất nhiên, thoát khỏi “cái bóng” của chủ nghĩa thực dân không thể diễn ra một sớm một chiều. Nhưng cùng với thời gian, khi mà “ông toàn quyền, ông sứ” vắng bóng, khi cái thời Hoài Thanh viết “ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây” chỉ là chuyện của quá khứ, thì với người Việt Nam hôm nay, có lẽ chỉ còn một số công trình kiến trúc ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, một vài nhân vật trong Số đỏ (Vũ Trọng Phụng), Sống mòn (Nam Cao), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Sống mãi với Thủ đô và Lũy hoa (Nguyễn Huy Tưởng),… là gợi nhớ tới một thời thực dân. Thế hệ đương đại biết về thời “Pháp thuộc, Mỹ thuộc” chủ yếu qua sách báo, phim ảnh, qua lời kể của số chứng nhân ít ỏi thuộc thế hệ trước. Và nhiều người Việt Nam hôm nay vẫn nói xích lô (cyclo), ghi đông (guidon), xi lanh (cylindre), xi măng (ciment),… mà ít quan tâm tới việc các khái niệm này xuất hiện vào thời thực dân. Bên cạnh đó, liệu tâm lý nhược tiểu, thói vọng ngoại có phải là hệ quả của chủ nghĩa thực dân? Khó có thể kết luận như vậy khi từ rất sớm, người Việt Nam đã tiếp xúc với các nền văn hóa - văn minh phát triển, như văn hóa - văn minh Ấn Độ, Trung Hoa. Hàng nghìn năm sinh tồn bên một quốc gia tự nhận là “thiên triều”, nếu tâm lý nhược tiểu, thói vọng ngoại có nảy sinh trong một số người thì cũng không ngạc nhiên. Điều đáng nói là tâm lý ấy, thói ấy chưa bao giờ chi phối nhận thức chung của xã hội. Sau khi giành được độc lập, dù phải trải qua hai cuộc kháng chiến, trong thời đoạn nhất định vẫn còn một bộ phận dân cư chịu sự đô hộ thực dân (nơi thực dân Pháp quản lý từ năm 1946 đến 1954, nơi chính quyền Sài Gòn quản lý từ năm 1954 đến năm 1975) thì về nguyên tắc, chế độ người bóc lột người đã bị xóa bỏ ở Việt Nam, Việt Nam đã lựa chọn một con đường phát triển hoàn toàn khác. Như vậy, nghiên cứu về Việt Nam sau khi giành được độc lập là việc mọi nhà khoa học có thể tiến hành, nhưng nếu sử dụng quan niệm của Chủ nghĩa hậu thực dân để nghiên cứu, sẽ rất dễ nhầm lẫn, từ đó có thể đưa ra yêu cầu phi lịch sử, và đưa tới kết luận có tính áp đặt. Nói cách khác khi nghiên cứu, không thể đánh đồng các tình thế, bối cảnh xã hội - con người khác nhau về bản chất. Vì hơn nửa thế kỷ nay, ở Việt Nam đâu còn tình trạng bóc lột và bị bóc lột, đâu còn chuyện người nghèo chưa có vị trí và vai trò xã hội; đâu có tệ phân biệt chủng tộc, đâu có các vấn đề nữ quyền, quyền và xu hướng “ngoại vi hóa” các nhóm thiểu số, bên lề,… Yêu cầu như vậy khác gì thấy ở Hoa Kỳ có tình trạng phân biệt đối xử với người Mỹ da đen, từng có hiện tượng xử tử do đám đông bạo hành (lynching) mà lại đi yêu cầu Việt Nam cũng không được phân biệt đối xử với người da đen, không thực hiện “lynching”, bất chấp sự thật là ở Việt Nam không có người da đen, không có “Ku Klux Klan”! Lời kết: Đọc bài viết này, có thể Liam C. Kelleysẽ xếp tôi vào nhóm người theo chủ nghĩa dân tộc (mà dường như qua một số bài viết, ông không có nhiều thiện cảm khi đề cập tới chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam?). Nếu ông nhận xét như vậy, tôi cũng không băn khoăn. Bởi theo chúng tôi, chỉ có người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan tự thị về dân tộc mình, bảo thủ, kỳ thị, coi thường dân tộc khác, rồi bức xúc không cần biết đúng - sai khi người khác giúp phân tích nhược điểm,… mới đáng quan ngại. Hơn nữa, muốn đất nước đổi mới, tiếp tục phát triển, cùng với nỗ lực tự thân, người Việt Nam cần phải tiếp tục học hỏi mở mang trí tuệ, vậy không có gì xấu hổ khi người khác bằng cách thức tiếp cận khoa học và thiện chí giúp chỉ ra hạn chế. Tôi trân trọng lựa chọn nghiên cứu của GS TS Liam C. Kelley, nhưng không có nghĩa phải trân trọng một số kết luận ra đời từ khảo sát thiếu tính lịch sử, suy đoán chủ quan, áp đặt, dựa trên một số tư liệu không có ý nghĩa phổ quát,… từ đó đào xới, bác bỏ. Phương pháp thực chứng và tư duy trên cơ sở văn bản có thể giúp Liam C. Kelleyrút ra kết luận khả dĩ về đối tượng nghiên cứu nào đó, song phương pháp và tư duy ấy sẽ là trở lực với ông khi nghiên cứu các vấn đề lịch sử - văn hóa có khoảng cách rất xa về thời gian và tư liệu sơ sài, đòi hỏi người nghiên cứu phải nhập thân vào đó mới có cơ may đưa ra kết luận hữu lý. Vì thế, từ các phân tích trên, xin đặt câu hỏi: Khi GS TS Liam C. Kelleykhông chú ý nghiên cứu lịch sử - văn hóa từ góc nhìn toàn diện - lịch sử - cụ thể, thì phải chăng, bằng cố gắng nghiên cứu để hạ thấp ý nghĩa một số giá trị lịch sử - văn hóa vốn đang là niềm tự hào của người Việt Nam, Liam C. Kelleymuốn thực hành một “chủ nghĩa thực dân tinh thần” trong thời hiện đại? Cuối cùng, các nội dung trên đây là khá xa công việc chuyên môn của tôi. Nói như thế không phải muốn “chặn trước” ý kiến phản biện, mà vì tôi không trả lời được câu hỏi: Tại sao trong khi quan điểm của GS TS Liam C. Kelleytỏ ra có ảnh hưởng tới một vài tác giả Việt Nam đương đại (như ý tưởng và luận điểm của Liam C. Kelleytrong bài “Hồng Bàng thị truyện”như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại dường như đã được một vị Tiến sĩ mô phỏng để viết bài Kinh Dương Vương - ông là ai? đăng trên Tia sáng tháng 9.2013?), thì một số tác giả chuyên sâu về lịch sử - văn hóa lại im lặng trước một số kết luận của Liam C. Kelley? Nếu họ không biết, đó là điều đáng tiếc! Nếu họ biết nhưng im lặng, phải chăng họ đồng tình với Liam C. Kelley? Bản do tác giả gửi VHNA ===================== Tôi mới chỉ xem thoáng qua nội dung bài viết. Nhưng đây là một ví dụ về cái gọi là "cộng đồng quốc tế ủng hộ quan điểm" phủ nhận Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Vị giáo sư Hoa Kỳ này được ông Trần Quốc Vượng đề cao và trích dẫn rất nhiều ý tưởng liên quan.
  6. Không chỉ "một số tác giả chuyên sâu về lịch sử - văn hóa lại im lặng trước một số kết luận của Liam C. Kelley? Nếu họ không biết, đó là điều đáng tiếc! Nếu họ biết nhưng im lặng, phải chăng họ đồng tình với Liam C. Kelley?". Tôi tin rằng ông Nguyễn Hòa trả lời được câu hỏi này. Ông chú ý chính đoạn trên của sử gia người Hoa Kỳ này: "Hồng Bàng thị truyện”như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại ". Đây là quan điểm của đám tư duy ở trần đóng khố" phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Mặc dù tôi chắc chắn rằng: những quan điểm phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt này, không hề có một cái mà họ gọi là "cơ sở khoa học". Còn nếu vinh danh văn hiến Việt thì sẽ có người hỏi ông: "Có mục đích gì?" đấy ông ạ. Họ mới hỏi tôi cách đây vài ngày và rất công khai. Tôi định trả lời họ và so sánh mục đích phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt. Nếu tôi chưa trả lời thì đó là tôi muốn họ suy nghĩ cho kỹ về tính chân lý của cội nguồn Việt tộc, một thời huy hoàng ở miến nam Dương tử.
  7. Khủng bố đánh cắp 11 máy bay tại Libya, Mỹ lo ngại tấn công dịp 11/9 Nguyễn Hường 03/09/14 19:14 Thảo luận (0) (GDVN) - 11 chiếc máy bay phản lực của hãng hàng không quốc gia Libya đã bị mất tích hồi tháng trước sau khi nhóm chiến binh khủng bố tấn công sân bay quốc tế Tripoli. Giới chức Mỹ hôm 3/9 đã bày tỏ quan ngại về khả năng xảy ra tấn công khủng bố hàng không trong khu vực nhân dịp kỷ niệm ngày 11/9 sau khi các chiến binh Hồi giáo đánh cắp 11 chiếc máy bay dân sự ở Libya. Chiến binh Hồi giáo cực đoan tấn công sân bay quốc tế ở thủ đô Tripoli hồi tháng trước. Theo đó, 11 chiếc máy bay phản lực của hãng hàng không quốc gia Libya đã bị mất tích hồi tháng trước sau khi nhóm chiến binh khủng bố tấn công sân bay quốc tế tại thủ đô Tripoli. Hai tuần qua, chính quyền Mỹ đã ban hành các cảnh báo về tình trạng an ninh đang xấu đi ở Libya và lo ngại những kẻ Hồi giáo cực đoan có thể sử dụng chiếc máy bay đánh cắp tiến hành tấn công khủng bố trong khu vực trong dịp kỷ niệm sự kiện ngày 11/9. Mỹ không chỉ kỷ niệm sự kiện Ngày 11/9 ở New York mà còn ở cả Đại sứ quán tại Benghazi, Libya, nơi diễn ra vụ tấn công giết chết Đại sứ Mỹ năm 2011. Trong khi đó, các quan chức an ninh Ma-rốc cho rằng nhóm chiến binh Hồi giáo The Masked Men Brigade ở Libya hiện đang kiểm soát 11 chiếc bay mất tích./.
  8. Chú phản bác đặt sư tử đá trước cổng từ những khóa giảng về Phong thủy Lạc Việt lâu rồi, đến năm 2012 chỉ là công khai thôi. Đây là một cách trấn yểm theo cách hiểu của Phoengshui Tàu, rất nguy hiểm. Một ví dụ cho trường hợp này là bà Diệu Hiền bán cá. Nhà bà ta từ ngoài vào trong cả chục cặp sư tử đá, khiến bà phá sản và bệnh ung thư luôn. Sự kiện phá sản của bà này rất ầm ĩ, mọi người đều biết. Chưa nói đến việc đặt cái gọi là Thái sơn thạch cẩm đường - tạm dịch "Biểu tượng của núi Thái Sơn trước nhà". Đây là một trong những điều tối kỵ của phong thủy Lạc Việt. Bât đắc dĩ lắm mới dùng. Phong thủy Lạc Việt thì không cấm dùng núi. Nhưng phải đặt ở vị trí nào. Nhà chú cũng có cả dãy núi, lại đặt bên Thanh Long, trong hồ cá cảnh, mà theo lý thuyết phoengshui Tàu thì thường người ta đặt bên Bạch hổ. Còn đặt lung tung thì chết. Một ví dụ cho việc đặt núi trước "cẩm đường" là trụ sở chính của Vina Shin ở phố Quan Thánh thì phải. Sau này khi Vinashin bị khủng hoảng, đi tù gần hết, chú mới biết đến và yêu cầu bỏ ngay hòn núi và cái mỏ neo đằng trước ra (Vụ Vinashin này rất hấp dẫn trong lịch sử phong thủy được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, là: Từ hình tượng thiết kế trụ sở Vinashin, được đem ra làm bài tập trong khóa I PTLV. Linhtrang, một học viên khóa đầu của PTLV đã phân tích và xác định Vinashin sẽ phá sản sau 5, hoặc 6 năm nữa. Mặc dù trụ sở này chưa xây, mới chỉ vẽ dự án và trình duyệt. Khóa học trong năm 2006 thì đến 2010 Vinashin phá sản). Cũng may, các thầy phoengshui Tàu, ngay cả trên đất Tàu, dù giỏi đến mấy cũng không vượt qua được sự giới hạn của tâm thức phân biệt các trường phái. Do đó, họ có làm sai hay đúng cũng chỉ mang tính cục bộ, cho nên nhiêu doanh nghiệp chỉ ngắc ngoải, nhưng không chết hẳn. Do những yếu tố khác có thể không bị phạm phong thủy. Ngoại trừ cách làm của họ phạm vào những vị trí căn bản. Đấy là thời phong thủy Lạc Việt còn bị mờ ảo bởi sự ám ảnh của tư duy lối mòn và tà ma, ngoại đạo, chú bị chỉ trích tùm lum trên các trang mạng. Đến nay thì họ đang từ từ hiểu ra và bước đầu đã thừa nhận tính tổng hợp của Phong Thủy Lạc Việt trong ứng dưng. Đối với chú, phong thủy Lạc Việt độn toán, Tử Vi Lạc Việt...vv...cũng vậy; chỉ là phương tiện minh chứng cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và thuyết ADNH chính là lý thuyết thống nhất. Có người đặt vấn đề công khai trong một buổi trao đổi gần đây , là: Chú chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến có mục đích gì? Chú rất cáu tiết cách hỏi sặc mùi chụp mũ chính trị này. Chú đang cân nhắc để trong hôm nay và ngày mai, chú sẽ so sánh mục đích của sự làm sáng tỏ nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm và tính ứng dụng của nó với mục đích của sự phủ nhận Việt sử 5000 năm và tính ứng dụng của nó; để mọi người tự quán xét. Nếu chú chưa viết thì chú thành thật khuyên đám tư duy "ở trần đóng khố" trong "hầu hết những nhà khoa học trong nước" phủ nhận truyền thống văn hóa sử của Việt tộc, nên cảm ơn sự may mắn của số phận dành cho họ. Họ có thể suy nghĩ lại và tìm về chân lý đích thực của cội nguồn Việt tộc, trước khi quá muộn.
  9. Những nội dung rất đáng chú ý trong báo cáo của cơ quan nghiên cứu Mỹ Đông Bình 03/09/14 09:32 (GDVN) - Báo cáo của thượng tá Raul Pedroso ủng hộ rõ ràng yêu cầu chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. TQ nhập khẩu tên lửa S-400 sẽ làm mất cân bằng sức mạnh ở Biển Đông? Thấy Việt Nam linh hoạt về sách lược, báo TQ đố kị, chia rẽ "TQ liên tiếp tập trận, ý đồ nhằm vào Việt Nam rất rõ ràng" Trung Quốc sẽ triển khai nhiều tàu nổi, tàu ngầm hơn ở Biển Đông Máy bay cảnh báo sớm KJ-200 và máy bay ném bom H-6 Trung Quốc xuất hiện trên không vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam khi giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 hạ đặt phi pháp từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2014 Trang mạng “Asia Times Online” Hồng Kông ngày 27 tháng 8 đăng bài viết của Peter Lee nhan đề “Mỹ dán mác kẻ phi pháp trên biển cho Trung Quốc”. Bài viết cho biết, cơ quan nghiên cứu CNA Mỹ gần đây công bố một bản báo cáo dài 140 trang có tên là “Trung Quốc và Việt Nam: Phân tích về yêu sách chủ quyền xung đột lẫn nhau ở Biển Đông”. Báo cáo này đã đề xuất lý do hợp lý tiếp theo, ủng hộ Mỹ can thiệp nhiều hơn vào tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông. Mạng “Asia Times Online” Hồng Kông nói rằng Hoa Kỳ đã đại diện cho Việt Nam đối đầu với Trung Quốc. Theo bài viết, bản báo cáo này cần được coi trọng, bởi vì: Trước hết là tư cách của cơ quan nghiên cứu. Được biết, CNA là một tổ chức phi lợi nhuận. Nói một cách cụ thể hơn, đây là một cơ quan phân tích của Hải quân Mỹ, thành lập vào năm 1942, chuyên phục vụ cho Chính phủ Mỹ, do Chính phủ Mỹ cấp vốn toàn bộ, nhưng vào thập niên 90 của thế kỷ trước, cơ quan này được chuyển thành công ty, như vậy có thể thông qua cơ quan mang danh Viện nghiên cứu công tham gia các chương trình của Chính phủ, ngoài Bộ Quốc phòng. Theo bài viết, CNA không phải là viết tắt của Trung tâm nghiên cứu phân tích hải quân. Theo giới thiệu của bản thân công ty này, CNA không phải là viết tắt, diễn đạt chính xác chính là “Công ty CNA, một tổ chức nghiên cứu và phân tích phi lợi nhuận có trụ sở đặt ở Arlington, bang Virginia”. Nói chung, CNA cung cấp dịch vụ phân tích cho Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ, chức trách chủ yếu chính là nghiên cứu các vấn đề thể chế, chiến thuật và chiến lược của Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ. Cơ quan này đã dành mối quan tâm đặc biệt đối với khu vực này, bộ phận “Nghiên cứu Trung Quốc” của CNA có hơn 20 nhà phân tích nội bộ, ngoài ra “một mạng lưới khổng lồ do các chuyên gia ngành nghề đến từ các trường đại học, chính phủ và tư nhân của các nước trên toàn cầu đã dành sự ủng hộ đối với cơ quan này”. Trung Quốc sử dụng máy bay ném bom H-6 đe dọa Việt Nam khi hạ đặt phi pháp giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 7 năm 2014 (nguồn mạng sina Trung Quốc) Thứ hai là thân phận của tác giả báo cáo, “chuyên gia ngành nghề” Raul Pedroso. Raul Pedroso là thượng tá nghỉ hưu Hải quân Mỹ, cựu giáo sư luật quốc tế Học viện quân sự hải quân Mỹ, quan chức quân pháp Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ, trợ lý đặc biệt Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách các vấn đề chính sách. Người quan tâm đến tranh chấp trên biển của Quân đội Trung Quốc cần hiểu rõ báo cáo nghiên cứu của thượng tá Raul Pedroso. Năm 2009, Quân đội Trung Quốc đã gây phiền phức cho tàu khảo sát USNS Impeccable của Hải quân Mỹ, đồng thời tìm cách tuyên bố tiến hành hoạt động do thám quân sự ở trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc vi phạm “Công ước Liên hợp quốc về Luật biển”. Khi đó, Raul Pedroso đã công bố 2 báo cáo rất quan trọng: “Đụng độ cự ly gần trên biển: Sự kiện tàu USNS Impeccable của Hải quân Mỹ” và “Bảo vệ quyền lợi và tự do hàng hải: quyền lợi tiến hành hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế Trung Quốc”. Trong 2 báo cáo này, thượng tá Raul Pedroso tuyên bố, tàu khảo sát USNS Impeccable hoàn toàn không phải tiến hành đo vẽ bản đồ, trên thực tế là tiến hành giám sát quân sự đối với tàu ngầm Trung Quốc, điều này làm cho tàu USNS Impeccable không bị trói buộc bởi các quy định không được xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của “Công ước Liên hợp quốc về Luật biển”. Gần đây, trong thời gian Mỹ tổ chức diễn tập quân sự “Vành đai Thái Bình Dương”, Hải quân Trung Quốc điều tàu tiến vào vùng đặc quyền kinh tế Mỹ tiến hành giám sát, điều này cho thấy quan điểm này của thượng tá Raul Pedroso rõ ràng được Trung Quốc tiếp nhận. Có thể nói, thượng tá Raul Pedroso là một nhân vật quan trọng trong cuộc chiến pháp lý chống lại Trung Quốc. Máy bay cảnh báo sớm KJ-200 Trung Quốc xuất hiện tại khu vực giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 hạ đặt phi pháp ở vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam trong thời gian từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 7 năm 2014 (ảnh nguồn mạng sina Trung Quốc) Thứ ba là vấn đề báo cáo này bàn đến. Vấn đề chủ quyền quần đảo Trường Sa thực sự đã được phân tích triệt để, nhưng vấn đề trọng điểm được báo cáo bàn đến là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo này bị Trung Quốc khống chế hoàn toàn (xâm lược nốt năm 1974, thuộc chủ quyền của Việt Nam). Giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 Trung Quốc hoạt động (phi pháp) ở vùng biển quần đảo này phần nào đã cho thấy sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Biển Đông “vừa không hợp lý, vừa không cần thiết”. Thứ tư, báo cáo này đã né tránh một vấn đề thú vị, nhưng trên thực tế, trong lời mở đầu của báo cáo này, giám đốc điều hành chương trình Michael McDevitt đã đưa ra một vấn đề như sau: “Điều quan trọng là, báo cáo phân tích về việc Việt Nam và Trung Quốc đưa ra yêu cầu chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa này hoàn toàn không nhằm đề nghị Mỹ từ bỏ lập trường lâu dài của mình, đó là không đứng về bên nào trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Đây không phải là dự định ban đầu của báo cáo này, cũng không phải là một trong những kiến nghị của chương trình này”. Nếu Chính phủ Mỹ thực sự không muốn bày tỏ lập trường trong vấn đề tranh chấp chủ quyền, tại sao phải để cơ quan nghiên cứu hàng đầu hải quân mời luật sư hàng đầu hải quân viết báo cáo dài tới 140 trang về vấn đề này mà không hề phiền hà? Thứ năm, kết luận của báo cáo này đã phản bác kiên quyết yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, trong báo cáo, thượng tá Raul Pedroso ủng hộ rõ ràng yêu cầu chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Bài viết cho rằng, nói chung, thực tế hiện nay là, Trung Quốc hoàn toàn chiếm quần đảo Hoàng Sa đã tới 40 năm, trong tình hình Việt Nam không áp dụng hành động quân sự, Trung Quốc sẽ vĩnh viễn không từ bỏ. Vì vậy, cho dù chính sách của Chính phủ Mỹ là không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền Biển Đông, nhưng một cơ quan nghiên cứu Chính phủ Mỹ bổ nhiệm luật sư hải quân hàng đầu tiến hành điều tra đối với vấn đề này, trong khi đó, luật sư này coi chủ (thực tế là Trung Quốc sẽ vĩnh viễn không chịu rời đi) thuộc về Việt Nam. Tháng 8, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ thăm Việt Nam (ảnh tư liệu) Báo Hồng Kông, Trung Quốc tuyên truyền xuyên tạc cho rằng, một động cơ có thể là, một người nào đó của nhà lãnh đạo quân sự Mỹ hy vọng “cung cấp viện trợ và an ủi tâm lý” đối với Việt Nam, giúp Việt Nam đối phó Trung Quốc... Còn quan điểm của Mỹ trong toàn bộ vấn đề Biển Đông, ngoài việc dành sự viện trợ và “an ủi tâm lý” cho Việt Nam, bài viết nghi ngờ trong đó có thể có một chiến lược tổng thể của chủ nghĩa Machiavelli đang chi phối. Bài viết cho rằng, nếu trên cơ sở song phương Trung Quốc đạt được mục tiêu lâu dài có lợi về vấn đề “bình thường hóa tranh chấp Biển Đông”, từ đó thực hiện “hòa bình Biển Đông” thì Mỹ đã mất đi lý do can thiệp vấn đề Biển Đông và lấy nó để “tống tiền” Trung Quốc. Theo bài viết, thông qua phủ định triệt để tính hợp pháp trong yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lập trường này của Mỹ làm cho chiến lược Biển Đông thiết lập trên cơ sở “vùng đặc quyền kinh tế” của Trung Quốc đối mặt với mối đe dọa lớn hơn. Nếu Trung Quốc buộc phải đối đầu với toàn thế giới trong vấn đề Biển Đông, kiên trì giữ “đường lưỡi bò” (phi pháp) có thể dễ dàng hơn ý đồ hoạch định lại vùng đặc quyền kinh tế, bởi vì vấn đề xác định lại vùng đặc quyền kinh tế liên quan đến rất nhiều người đối thoại và vấn đề pháp lý phức tạp. Vì vậy, Trung Quốc sẽ thận trọng hơn trong vấn đề phải chăng sẽ từ bỏ yêu sách chủ quyền “đường chín đoạn” – hiện nay có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã làm như vậy. Theo tác giả bài viết, nếu Trung Quốc không thể từ bỏ yêu sách “đường chín đoạn”, đây là “tin tốt” đối với Mỹ. Đối với Mỹ, điều này có nghĩa là nhiều xung đột hơn, nhiều thù hận hơn, quan hệ tốt hơn, cơ hội đầy đủ, giúp cho Mỹ can thiệp với tư cách là một thành viên của cộng đồng quốc tế để “bảo vệ hệ thống vùng đặc quyền kinh tế”. Tháng 8 năm 2014, Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida thăm Việt Nam và cam kết cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam (ảnh tư liệu) Bài viết cuối cùng cho rằng, chiến lược này sẽ thực hiện vào lúc nào và như thế nào chỉ là suy đoán. Nhưng, cùng với thực lực của Trung Quốc được tăng cường, đồng thời Chính phủ Mỹ nhìn thấy thời kỳ cơ hội đánh lui Trung Quốc có hiệu quả trong vấn đề Biển Đông sẽ đi qua trong chớp mắt, bài viết cho rằng sẽ nhanh chóng xảy ra một số sự việc. ================== Sớm muộn gì Hoa Kỳ cũng sẽ công nhận Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Còn lại là ông "Láng giềng gần thân thiện, vì lợi ích của cả hai bên" cũng sẽ ủng hộ quan điểm Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam chứ nhỉ? Chân lý chỉ có một mà thôi.
  10. Tài trợ thể thao: Hàn Quốc tranh thủ Triều Tiên "thoát" Trung? (Quan hệ quốc tế) - Các quan chức Hàn Quốc cho biết họ sẽ chi một khoản tiền “vừa đủ” để tài trợ kinh phí cho đoàn vận động viên của Triều Tiên tham dự ASIAD 17 Vì sao Triều Tiên điều xe tăng áp sát Trung Quốc? Triều Tiên bắt người dân xem tivi TQ không dùng điều khiển Hành động lịch thiệp của Nam Triều Ngày 2/9/2014, một số tờ báo của Hàn Quốc đưa tin Seoul đang lên kế hoạch hỗ trợ một phần kinh phí cho đoàn thể thao của Triều Tiên khi tham gia ASIAD 17 được tổ chức tại thành phố Incheon của Hàn Quốc từ 19/9 đến 4/10/2014. Một số quan chức của Hàn Quốc cho biết Triều Tiên không có ý kiến gì về số tiền được tài trợ. Seoul cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ tài chính này sẽ không ảnh hưởng gì đến các thông lệ trong mối quan hệ Liên Triều. "Số tiền tài trợ không phải là toàn bộ, nhưng sẽ là một sự hỗ trợ rất lớn tới đoàn Triều Tiên để đảm bảo thành tích tốt nhất cho các vận động viên khi không phải lo ngại về vấn đề kinh phí. Có tổng cộng 273 vận động viên và quan chức Triều Tiên sẽ tới tham dự" - một quan chức của Hàn Quốc giấu tên cho biết. Sân vận động chính của ASIAD 17 tại Incheon, Hàn Quốc Trước đó, Triều Tiên đã có ý định hủy tham dự ASIAD 17 với lý do căng thẳng giữa hai bên. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng kinh tế mới là vấn đề của đoàn vận động viên này chứ không phải chính trị. Đồng thời, hành động của Hàn Quốc đã cho thấy một sự lịch thiệp và thiện chí cần thiết trong việc làm giảm căng thẳng vấn đề của bán đảo Triều Tiên. Bởi chỉ cách tuyên bố của các quan chức Hàn Quốc về việc tài trợ kinh phí một ngày, ngày 1/9, Triều Tiên đã bắn một tên lửa tầm ngắn ra vùng biển ngoài khơi phía Đông nước này (biển Nhật Bản). Được biết tên lửa này có tầm bắn khoảng 220km. Ba tuần trước, Triều Tiên cũng đã bắn 5 quả tên lửa tầm ngắn ra vùng biển này. Triều Tiên đẩy nhanh quá trình 'thoát Trung' Hàn Quốc có tranh thủ Triều Tiên thoát Trung? Thực tế cho thấy, mối quan hệ liên Triều dù còn nhiều căng thẳng nhưng từ thời điểm ông Kim Jong-Un lên nắm quyền, ngoài những cuộc tập trận tên lửa, pháo binh, hay những chỉ trích đầy gây hấn là bề nổi, thì thực tế, mối quan hệ giữa hai miền đã có những sự cải thiện đáng kể. Đáng chú ý nhất trong diễn biến này là việc ngày 14/8/2014, Triều Tiên đã lên tiếng kêu gọi Hàn Quốc gỡ bỏ các lệnh cấm vận kinh tế, ngừng các cuộc tập trận với Mỹ, yêu cầu Mỹ rút quân khỏi bán đảo Triều Tiên... và hai miền sẽ bước sang một trang sử mới cho quan hệ liên Triều. Tất nhiên điều này mâu thuẫn nghiêm trọng tới lợi ích Mỹ và an ninh Hàn Quốc, nhưng dù sao, Bình Nhưỡng đã có sự mở lời và đây là cái giá cho một nền hòa bình lâu dài, thậm chí là tương lai cho thống nhất. Dù nó chưa thể xảy ra trong hiện tại, nhưng chắc chắn, Seoul sẽ xem xét sự thực lòng của Bình Nhưỡng. Quân đội Triều Tiên bắn rocket Phải nói rằng để mối quan hệ liên Triều cải thiện được như vậy cần nhờ đến công lao của nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong-un. Dù khó tin nhưng đó là sự thật, bởi chính nhà lãnh đạo này đang theo đuổi chính sách "thoát Trung" và đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại. Triều Tiên đã có một loạt các biện pháp nhằm giảm lệ thuộc vào Trung Quốc và đòi thêm quyền lợi cho mình như tăng thuế xuất khẩu tài nguyên, thuế môi trường... Sản lượng ngũ cốc Triều Tiên nhập khẩu từ Trung Quốc trong nửa đầu năm nay đã giảm hơn phân nửa so với cùng kỳ năm ngoái. Theo số liệu được Hiệp hội Thương mại Quốc tế Hàn Quốc công bố hôm 30/7, Triều Tiên nhập 58.387 tấn ngũ cốc từ Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2014, giảm 53% so với con số 124.228 tấn được ghi nhận cùng kỳ năm 2013. Thậm chí, Triều Tiên còn đầu tư gia tăng sức mạnh cho quân đoàn số 12 từ năm 2010, có nhiệm vụ giám sát và ứng phó với mọi diễn biến bất thường từ Trung Quốc. Ông Kim Jong-un cũng quyết định thay đổi hình ảnh nhà lãnh đạo Kim Nhật Thành trên tờ tiền của Triều Tiên với quyết tâm thoát khỏi bóng cây đa cây đề của ông cha. Việc thanh trừng người chú quyền lực Jang Song-thaek cũng là một trong những minh chứng rõ nhất chính trị của Triều Tiên đã không cần tới sự kiểm soát của Bắc Kinh. Nhà lãnh đạo Kim Jong-un thị sát một cuộc tập trận của quân đội Đồng thời, Bình Nhưỡng mở rộng những mối quan hệ của mình không ngừng. Tiêu biểu vào tháng 8/2014, Nhật Bản đã xóa bỏ một số lệnh cấm vận đơn phương lên Triều Tiên. "Sân sau" của Trung Quốc tại Đông Bắc Á ngày càng bất ổn với một Kim Jong-un khó lường. Nhà lãnh đạo này vẫn lệnh cho quân đội tập trận, vẫn thử nghiệm tên lửa và vũ khí hạt nhân, nhưng cũng không ngừng kêu gọi những sự hỗ trợ từ bên ngoài, thậm chí là các quốc gia mang tính "thâm thù" như Nhật Bản. Dường như nhà lãnh đạo của miền Bắc đang theo đuổi chính sách tự lực tự cường một cách đầy quyết liệt. Vũ khí hạt nhân chính là át chủ bài để Triều Tiên tự chủ, song song với những tuyên bố cứng rắn để bảo vệ thể chế chính trị. Còn tự cường, có lẽ Bình Nhưỡng đã mất lòng tin vào Bắc Kinh và tìm kiếm sự đa phương hóa. Chiến lược này của ông Kim Jong-un đã để mở ra cơ hội cho tương lai hòa bình thực sự trên bán đảo Triều Tiên. Và có lẽ Hàn Quốc sẽ tận dụng thời cơ ấy để từng bước một giành được niềm tin. Dù sao họ cũng là những người đồng bào, và sẽ chẳng bên nào muốn chiến tranh. Trung Quốc có đủ can đảm buông Triều Tiên? Đỗ Minh Tú ================== Tốt lắm! Lão Gàn có thể xác định rằng: Việc tìm cách thoát khỏi quỹ đạo Tung Cóoc có từ thời ngài Kim Jong Il lận. Chính vì ngài nhận thấy người con trai út của ngài có khả năng thực hiện diều này, nên đã "bỏ trưởng. lập thứ" để đại tướng Kim Jong Il tiếp tục ý chí của ngài. Cái này Lão Gàn cũng nói lâu rùi, ngay trong topic này. Cố gắng lên quý vị! Lão Gàn xin chúc lành đến các bạn Cao Ly. Nhưng lưu ý các bạn rằng: Thời gian nên gấp rút một tý, nếu không chẳng may "canh bạc cuối cùng" diễn ra thì lộn xộn lắm. Quí vị ở hai miền Cao Ly nên chuẩn bị sẵn cho tình huống này.
  11. Nhìn thoáng cứ tưởng bể Đông, hóa ra Hoa Đông. Cái này dễ mà, người Nhật Bản biết rất rõ họ sẽ phải làm gì. Hì!
  12. Ghana Tai nạn xe buýt kinh hoàng, 21 người thiệt mạng 17:29 ngày 02 tháng 09 năm 2014 Cảnh sát cho biết, 21 người thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe buýt nghiêm trọng trên đường Kumasi-Accra gần thành phố Asankare, Ghana rạng sáng hôm qua (1/9). Vụ tai nạn xe buýt tại Ghana cướp đi sinh mạng của 21 người vô tội (Ảnh: Wapbaze) Rạng sáng qua (1/9), một vụ tai nạn xe buýt nghiêm trọng xảy ra trên đường Kumasi-Accara, gần thành phố Asankare, Ghana đã khiến 21 người thiệt mạng. Cụ thể, một chiếc xe buýt hiệu Mercedes Benz biển kiểm soát AS 6534-14 đi du lịch từ Accra đến Kumasi bất ngờ va chạm với một chiếc xe buýt khác đi chiều ngược lại. Vụ va chạm mạnh khiến 15 người thiệt mạng tại chỗ, trong khi đó 5 người khác cũng tử nạn trên đường đến bệnh viện gần Kumasi và người cuối cùng cũng không thể qua khỏi dù đã được cứu chữa tại bệnh viện Konongo. Theo quan chức Ghana, các nạn nhân thiệt mạng trong vụ đấu đầu xe buýt bao gồm 12 nam và 9 phụ nữ. Trước đó, cảnh sát cũng đã phải mất vài tiếng đồng hồ để giải cứu số hành khách sống sót bị mắc kẹt trong chiếc xe buýt và những người còn sống hiện đang được điều trị tại bệnh viện Konongo và Juaso. Hiện, cảnh sát vẫn đang tiến hành điều tra nguyên nhân và xác định danh tính các nạn nhân xấu số trong vụ tai nạn nói trên. Theo Hoàng Giang
  13. Ông Tập Cận Bình: Việt Nam và Trung Quốc không thể thay đổi láng giềng Hồng Thủy 02/09/14 07:00 (GDVN) - Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh: "Không thể dịch chuyển một nước láng giềng sang chỗ khác, vì thế nó sẽ là lợi ích của cả hai bên khi trở nên thân thiện với nhau." Học giả Mỹ: Trung Quốc đang ru ngủ láng giềng chấp nhận quyền bá chủ Thủ tướng Ấn Độ: Chuyến công du Nhật Bản có ý nghĩa "tối quan trọng" "Mỹ bỏ lệnh cấm bán vũ khí, sức mua của Việt Nam cũng không đáng kể" Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Tạp chí Bắc Kinh (Beijing Review) ngày 1/9 bình luận, quan hệ Việt - Trung căng thẳng sau vụ giàn khoan 981 đã "có dấu hiệu cải thiện" sau khi Thường trực Ban Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hồng Anh đã thăm Trung Quốc trong 2 ngày 26, 27/8 và hội kiến với Chủ tịch Tập Cận Bình. Khi tiếp ông Lê Hồng Anh, ông Tập Cận Bình nhấn mạnh: "Không thể dịch chuyển một nước láng giềng sang chỗ khác, vì thế nó sẽ là lợi ích của cả hai bên khi trở nên thân thiện với nhau." Tờ báo tiếp tục luận điệu bóp méo kết quả thỏa thuận chung 3 điểm đạt được trong cuộc hội đàm giữa Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh với ông Lưu Vân Sơn, Ủy viên thường vụ Bộ chính trị, Bí thư Ban bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong đó Tạp chí Bắc Kinh nói rằng 2 bên "đồng ý tìm kiếm giải pháp chấp nhận được cho cả hai bằng cách tập trung vào đàm phán song phương, nghiên cứu thảo luận về thăm dò chung ở Biển Đông và tránh các hoạt động có thể làm phức tạp và mở rộng tranh chấp" rất dễ gây hiểu lầm trong dư luận, tạo ra một cái bẫy với Việt Nam về mặt truyền thông. Đàm phán song phương là một kênh, nhưng chỉ có thể sử dụng đối với vấn đề song phương, ví dụ như quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp) chứ không thể áp dụng cho vấn đề đa phương (tranh chấp quần đảo Trường Sa giữa 5 nước 6 bên - PV) nên việc nói chung chung rằng "đàm phán song phương" về Biển Đông rõ ràng không ổn. Thứ hai, thăm dò chung ở Biển Đông cũng là một giải pháp tạm thời, nhưng theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà cả Trung Quốc và Việt Nam là thành viên, giải pháp thăm dò hay khai thác chung chỉ được áp dụng trong trường hợp 1 vùng chồng lấn được tạo ra bởi yêu sách các vùng biển 2 bên đưa ra trên cơ sở UNCLOS trong lúc chưa đi đến 1 giải pháp cuối cùng. Giải pháp tạm thời này không ảnh hưởng tới quan điểm, yêu sách của mỗi bên. Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Như vậy thăm dò hay khai thác chung không thể diễn ra ở toàn bộ hay phần lớn Biển Đông, mà chỉ có thể thực hiện tại các "vùng chồng lấn" giữa các vùng biển yêu sách bởi 2 nước đưa ra trên cơ sở UNCLOS. Cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa hề làm rõ về yêu sách của họ cũng như căn cứ nào trong UNCLOS để họ đưa ra yêu sách đó nên chưa thể xác định đâu là "vùng chồng lấn" ở Biển Đông. Zhou Qi, một nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc nói với Tạp chí Bắc Kinh rằng, "Việt Nam đã có 1 số giàn khoan dầu trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông những năm qua. Nếu Việt Nam cố gắng ngăn chặn Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu trong vùng biển của mình sẽ là điều không thể chấp nhận được đối với Trung Quốc"?! Thật buồn cười! Mariane Brown, phóng viên đài VOA ngày 1/9 bình luận, chuyến thăm Trung Quốc của Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh cho thấy Việt Nam đang nỗ lực để giảm căng thẳng trên Biển Đông cũng như cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc, nhưng căng thẳng vẫn còn âm ỉ. Giáo sư Jonathan London từ đại học Thành phố Hồng Kông và là một chuyên gia về Việt Nam nói với VOA, Trung Quốc đã tiếp tục "cảnh báo" Việt Nam không "di chuyển quá gần với Mỹ" nhưng điều đó không ngăn cản được Việt Nam đang hướng tới Nhật Bản và Ấn Độ nếu họ sẵn sàng tham gia. London cho biết, ông tin rằng không có ai ở Việt Nam tự tin về mối quan hệ Việt - Trung đã được hồi phục bởi cái cách Trung Quốc nói và làm vẫn khác nhau, người Việt Nam biết rõ điều này. ========================= "Không thể dịch chuyển một nước làng giềng ra chỗ khác" là hoàn toàn chính xác. Tất cả người Việt từ kẻ ăn mày đế những trí giả cao cấp đều biết rõ điều này, vì nó thuộc nhận thức trực quan đơn giản. Ngài nói: "vì thế nó sẽ là lợi ích của cả hai bên khi trở nên thân thiện với nhau". Rất đúng luôn thưa ngài Tập Cận Bình. Bởi vậy, từ một yếu tố trong nhiều yếu tố tương tác phức tạp, Lão Gàn tui nhiều lần phát biểu ngay trong chủ đề này, rằng: Sai lầm lớn nhất của Trung Quốc là đã xâm phạm tới Việt Nam. Chẳng phải ngẫu nhiên mà từ nhiều năm trước, một số chính khách Hoa Kỳ xác định rằng: Việt Nam không cần ngả theo phe nào; gần đây ngài Tổng Tham mưu trưởng Hoa Kỳ sang Việt Nam cũng nhắc lại điều này. Chính vì bởi họ cũng rất hiểu cái thế "tương lân" bên người làng giềng là nước Trung Hoa của ngài. Nhưng những sai lầm của các ngài đã làm mất đi lợi ích của cả hai bên. Những diễn biết quốc tế gần đây hoàn toàn bất lợi cho đất nước của ngài và không nằm ngoài lời tiên tri của Lão Gàn này. Một thí dụ cho những lời tiên tri này chính là Ấn Độ ngày càng tham gia sâu hơn vào "canh bạc cuối cùng". Điều mà ngày xưa khi cuộc chiến Trung Ấn xảy ra cũng chưa đến nỗi làm Ấn Độ phải dè chừng Trung Hoa như vậy. Cái gì sẽ xảy ra nếu các ngài kiên quyết thực hiện chiếm hữu biển Đông với đường chín đoạn? Người Việt khó chịu với hành vi này của các ngài đã đành, nhưng vấn đề lại không đơn giản như vậy. Hoa Kỳ vì "đại cuộc", họ có thể hy sinh một vùng lãnh thổ, thí dụ họ chấp nhận thua cuộc ở Việt Nam; hoặc cả một thực thể chính trị vũ trang Thiên Chúa Giáo ở Li Băng bị xóa sổ để đổi lấy một hiệp ước hòa bình với Do Thái. Nhưng các ngài thì lấn chiếm từng mét đất để thể hiện sức mạnh. Điều này cho thấy tầm tư duy đại cuộc của các ngài rất hạn hẹp. Chắc người Trung Quốc đều biết một đoạn sau đây trong Tam Quốc chí: Táo Tháo đem quân truy kích hai anh em Viên Đàm, Viên Thượng. Các mưu sĩ hạng hai của Tào Tháo, phấn khích thừa thắng đánh tới. (Nói là hạng hai, nhưng còn hơn khối chiến lược gia tầm quốc tế bây giờ, cụ thể là mấy tưởng diều hâu của các ngài). Nhưng Quách Gia khuyên Tào Tháo dừng quân lại và ông ta cho rằng: Không cần đánh, Công Tôn Thắng (Tôi không nhớ chính xác tên nhân vật này) sẽ tự đem đầu Viên Đàm, Viên Thượng đến nộp. Tào Tháo nghe theo dừng quân và quả đúng thế thật. Nếu các ngài đủ khả năng chỉ cần cỡ Quách Gia thì việc đầu tiên là long trọng công nhận Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Vân đề còn lại riêng với Lão Gàn này là: Khi Lão chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, có nhiều người đặt vấn đề: "Làm như vậy có mục đích gì?", Lão Gàn rất khó chịu với câu hỏi sặc mùi chính trị này, nên đặt câu hỏi ngược lại: "Việc phủ nhận Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến của cái gọi là 'hầu hết những nhà khoa học trong nước' và 'cộng đồng khoa học thế giới' có mục đích gì? Lão Gàn không muốn những thế lực chính trị quốc tế đứng đằng sau sự phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Nên Lão Gàn nói thẳng: Trong cuộc chiến đấm đá nhau, việc dùng thủ đoạn chơi nhau là lẽ thế gian thường tình, tại mấy thằng ngu dính bẫy mà thôi. Thời thế đã khác đi, bây giờ quốc gia nào trong số những siêu cường xác định - chứ không phải chỉ ủng hộ - Lão Gàn sẽ xem xét bỏ một phiếu bầu làm bá chủ thế giới - Nhân danh Lý thuyết thống nhất vũ trụ (Còn các người công nhận hay không, chuyện đó không quan trọng. Bởi chính lý thuyết thống nhất, tự nó sẽ quyết định điều đó). Không có Việt sử 5000 năm văn hiến thì sẽ không có Lý thuyết thống nhất. Việc hội nhập sẽ là một cuộc chiến có tính quyết định. Qui mô cuộc chiến thế nào tự tìm hiểu qua lời tiên tri của bà Vanga. Chắc chẳng ai muốn điều này nhỉ? Đứng bảo Lão Gàn chém gió nha.
  14. Chủ nghĩa duy vật tâm linh hay "nồi thắng cố triết học"? Đỗ Kiên Cường Thứ hai, 01 Tháng 9 2014 20:20 Văn hóa Nghệ An online ngày 21-8-2014 đăng tải bài viết Chủ nghĩa duy vật tâm linh, tại sao không? của Hồ Bá Thâm nhằm phản bác quan niệm của tôi và biện minh cho sự cần thiết của “triết thuyết” của ông. Như đã nhận xét trong bài Tiếp cận duy vật về tâm linh hay tiếp cận phản khoa học và vẽ rắn thêm chân (VHNA online, 28-8-2014), tôi cho rằng đó là một quan điểm phản khoa học, vì tâm linh theo nghĩa thiêng liêng hóa sự bí ẩn của vũ trụ và niềm tin vào sự thiêng liêng đó (theo Hồ Bá Thâm) là một quan điểm duy tâm về mặt triết học, nên không thể có sự kết hợp mang tính quái thai như vậy được. Ngay một bạn đọc bình thường như Phan Lan Hoa (tự nhận) cũng thấy việc ghép duy vật với tâm linh là không thể được trên quan điểm nhận thức (VHNA online, 27-8-2014); vậy mà một tiến sỹ triết học như Hồ Bá Thâm lại ra sức trích dẫn các nguồn tài liệu phi chính thống (tôi nhấn mạnh điều này) để bênh vực cái quái thai đó thì thật là kỳ quặc. Vậy chúng ta hãy xem xét “nồi thắng cố triết học” của Hồ Bá Thâm thêm một lần nữa. Thắng cố (gồm tất cả các bộ phận của ngựa hoặc trâu bò nấu chung một nồi; có thể có thêm rau) là một món ăn truyền thống trong các ngày lễ của người dân tộc; vậy nồi thắng cố “duy vật tâm linh” của Hồ Bá Thâm có thể trở thành một món ăn trên bàn ăn triết học hay không? Theo Hồ Bá Thâm, duy vật tâm linh có thể là một triết thuyết, vì theo ông, “chủ nghĩa duy vật tâm linh” tập trung nghiên cứu cấp độ (chiều dọc) vũ trụ - nhân sinh thì có ba vấn đề sau đây: i) Tâm vũ trụ - từ khái niệm của đạo Phật; ii) Tâm của con người, ý thức chiều sâu; iii) Cõi thiêng. Tâm linh theo nghĩa rộng là cả ba cấp độ ấy, còn theo nghĩa hẹp là cấp độ ba. Còn nghiên cứu cấp độ khác (chiều ngang): thì i) nghĩa rộng của tâm linh là toàn bộ đời sống tinh thần, nhưng ở chiều sâu sự tâm diệu, linh diệu, cao cả của nó; ii) chiều trung/vừa là cấp độ linh diệu và thiêng hóa đời sống tinh thần; iii) hẹp nhất là nghiên cứu vấn đề sau cái chết, nhưng không chỉ vấn đề linh hồn mà cả tín ngưỡng thờ phụng”. Có thể nhận xét gì về quan niệm đó? Có lẽ tác giả cũng không thật rõ mình đang nói gì. Còn tôi thì chỉ nhận thấy Hồ Bá Thâm tư duy lộn xộn, nhầm lẫn và phản khoa học, thể hiện ở các mặt như sau: 1) Xem “tâm vũ trụ” là một đối tượng để nghiên cứu (chứ không phải để phản bác) của chủ nghĩa duy vật; trong khi đó là một quan điểm duy tâm (tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần sau); 2) Xem “cõi thiêng” cũng là một đối tượng của duy vật luận, cho dù đi kèm với tính từ tâm linh; 3) Phải chăng “cõi thiêng” không phải là một cõi nằm trong tâm trí con người? 4) Cái mà tác giả gọi là cấp độ “chiều ngang” thì khác gì với “tâm của con người, ý thức chiều sâu” hoặc “cõi thiêng” theo cấp độ “chiều dọc”?; và 5) Tín ngưỡng thờ phụng là tín ngưỡng, tức chuyện tin hay không tin, tại sao lại mang ra bàn như một vấn đề khoa học mang tính thực chứng, tức chuyện đúng hay không đúng? Và tôi phải thú thực với bạn đọc rằng, mỗi khi đọc Hồ Bá Thâm, tôi lại mỏi tay vì phải giơ tay chào Rutherford, do luôn nhớ tới quan niệm về sự đơn giản trong lập luận của ông (chưa biết cách diễn giải đơn giản chứng tỏ chưa nắm được vấn đề cần diễn giải)! Để tránh hiểu lầm, tôi thấy cần nói rõ một vấn đề. Đó là bàn luận (mang tính duy vật) về việc tại sao lại xuất hiện vấn đề “tâm vũ trụ” và bàn luận để biện minh và giải thích cho “tâm vũ trụ” (tuy cũng mang danh duy vật) là hai trường hợp khác hẳn nhau. Trường hợp đầu là duy vật; còn trường hợp sau là duy tâm (về mặt nhận thức luận). Trong các bài viết của mình, Hồ Bá Thâm luôn muốn chứng tỏ sự tồn tại của “tâm vũ trụ” (chẳng hạn cách diễn giải “còn tâm - vật vũ trụ là đồng thời” trong bài Tâm linh và hướng tiếp cận duy vật về tâm linh (Thông tin và bình luận),VHNA online, 16-8-2014). Xem vũ trụ cũng có tâm, đồng thời và song song với vật, đó chính là nhị nguyên luận duy tâm, thưa ông Hồ Bá Thâm. Và để giải quyết trường hợp đầu, thì chỉ cần chủ nghĩa duy vật hiện có là đủ, chứ không cần đến nồi thắng cố “duy vật tâm linh”! Để thấy rõ sai lầm của Hồ Bá Thâm, tôi muốn trình bày một số vấn đề như sau. Nếu bạn đọc thấy chúng sơ đẳng đến mức nhàm chán thì tôi thành thực xin lỗi. Duy vật và duy tâm như vấn đề trung tâm của triết học: Đây là điều mà mọi bạn đọc bình thường đều biết. Chúng ta cũng đều biết rằng, nhất nguyên luận duy vật xem vật chất có trước và quyết định ý thức; còn nhất nguyên luận duy tâm xem ý thức có trước và quyết định vật chất. Nhất nguyên luận duy tâm có hai phiên bản, hoặc xem ý thức có trước và quyết định vật chất, hoặc xem vũ trụ tự có ý thức (phiếm thần luận). Ngoài ra còn có nhị nguyên luận duy tâm, xem vật chất và ý thức xuất hiện đồng thời với nhau. Tôi xin lưu ý thêm một lần nữa rằng, duy vật và duy tâm là hai quan điểm triết học đối lập nhau như nước với lửa, nhưng chỉ theo nghĩa bóng (chấp nhận quan điểm này đồng nghĩa với bác bỏ quan niệm kia), chứ không theo nghĩa đen (nước và lửa triệt tiêu nhau!). Tôi từng nói trong một cuộc gặp mặt tại nhà riêng nhà văn Đỗ Viết Nghiệm (có mặt nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên, nhà văn Anh Đức và nhà văn Văn Lê) rằng, tôi là một người duy vật, nhưng tôi tôn trọng niềm tin của những người duy tâm và hy vọng niềm tin cá nhân của tôi cũng được tôn trọng như vậy. Vì thế quan niệm của Hồ Bá Thâm, xem chủ nghĩa duy vật cứ thấy ai khác mình là phang (!) là một quan niệm quá ư lạc hậu và thiếu biện chứng. Nói chung về mặt tổng quát thì ai cũng đồng ý với cách phân biệt duy vật - duy tâm như trên. Tuy nhiên khi đi vào các vấn đề cụ thể, sự khác biệt có thể xuất hiện ngay lập tức. Chẳng hạn nhiều bạn đọc rất lưu tâm tới lý thuyết lượng tử của ý thức mà không biết rằng, lý thuyết của Penrose hoặc Hameroff chính là một kiểu nhị nguyên luận duy tâm, khi xem thế giới lượng tử có trước và sau đó sinh ra vật chất và ý thức đồng thời (xem Danah Zohar, Consciousness and Bose-Einstein condensates, in: Toward a Science of Consciousness: The First Tucson Discussions and Debates, Hameroff SR, Kaszniak AW, Scott A (editors), MIT, 1996, pp 439-450). Tôi từng vất vả thuyết phục một số sinh viên chuyên ngành vật lý lý thuyết tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, rằng đó là một quan niệm sai lầm (do sinh viên vật lý thiếu kiến thức thần kinh học, giống như trường hợp Hồ Bá Thâm). Hoặc khi bàn về then máy tạo hóa, với quan điểm vũ trụ cũng có ý thức (“tâm vũ trụ”), chính Hồ Bá Thâm cũng là một nhà duy tâm 100%, chứ không phải là nhà duy vật như ông tự nhận! (Tôi sẽ bàn về quan niệm tâm vũ trụ của ông sau). Vật chất sinh ra ý thức như thế nào? Sau khi đã thống nhất về bài toán duy vật - duy tâm như vấn đề trung tâm của triết học, quan điểm về bản chất của vật chất và ý thức, cũng như quan điểm về việc vật chất sinh ra ý thức (hoặc ý thức sinh ra vật chất) như thế nào, bắt đầu phân kỳ mạnh mẽ, tùy thuộc vào góc nhìn của từng học giả. Nếu xem ý thức có trước và quyết định vật chất (duy tâm luận), thì không cần đặt ra các câu hỏi khoa học về việc ý thức tạo ra vật chất như thế nào nữa. Khi đó một nguyên lý sáng tạo, một ý niệm tuyệt đối, hoặc một Đấng sáng tạo tối cao, toàn lực và toàn thức, có thể tạo ra mọi thứ dễ như lấy đồ trong túi (mặc dù nhà toán học Penrose, tác giả của thuyết lượng tử của ý thức, không đồng ý như vậy, khi tính được rằng, xác suất lựa chọn một vũ trụ như vũ trụ của chúng ta nhỏ đến mức ngay cả Thượng Đế cũng khó lòng thực hiện!). Và chúng ta cũng không cần đến khoa học nữa, khi chỉ cần nói “Trời sinh ra thế” mỗi khi đối mặt với một câu hỏi khó trả lời, giống như chàng rể nông dân trong chuyện dân gian. Với phiếm thần luận (xem vũ trụ tự có ý thức) hoặc nhị nguyên luận duy tâm (vật chất và ý thức xuất hiện đồng thời từ thế giới lượng tử) thì sao? Thoạt nhìn thì thấy, về mặt triết học, do là các nguyên lý nguyên thủy, nên chúng ta chỉ có thể thừa nhận hoặc bác bỏ chúng mà thôi. (Khi công nhận hoặc bác bỏ một giả thuyết, chúng ta phải tìm hiểu và phân tích nó bằng các giả thuyết cơ bản hơn. Nhưng với một giả thuyết nguyên thủy, tức cơ bản nhất, chúng ta không thể phân tích nó, vì không có các giả thuyết cơ bản hơn để mà phân tích). Tuy nhiên, nếu thống nhất được quan niệm về vật chất và ý thức, chúng ta sẽ thấy hai quan niệm duy tâm này sai trên phương diện khoa học. Vậy vật chất là gì? Cần phân biệt vật chất như một khái niệm vật lý học (tôi xin giới hạn ở 12 hạt cơ bản và 4 trường tương tác giữa chúng, cũng như toàn bộ vũ trụ xuất hiện do sự tương tác đó, kể cả bản thân con người với mọi sắc thái sinh học và môi trường) với vật chất như một phạm trù triết học. Rất nhiều người không phân biệt được điều này, chẳng hạn vị phó chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Rumani như tôi từng nhận xét. Nếu phân biệt như vậy, theo tôi quan niệm của Lenin là một chuẩn mực chưa bị/được vượt qua. Lenin xem vật chất là tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và được phản ảnh trong ý thức. (Trong bài trước, tôi đã viết nhầm “đối lập” thay cho “độc lập”, thành thực xin lỗi độc giả). Tôi đã viết về sự chuẩn mực, đơn giản và rõ ràng của quan niệm này (xin hãy nhớ đến Rutherford!), nên không nhắc lại ở đây. Tôi chỉ muốn nhắc tới ý kiến của Hồ Bá Thâm: “Chính Đỗ Kiên Cường đã quên một vế (ĐKC đã hiểu không đầy đủ). nên có điểm sai lệch (“vật chất đối lập với ý thức, cũng có nghĩa ý thức không thể là vật chất”) khi giải thích định nghĩa “vật chất” của Lênin, nên không thấy ràng, giữa vật chất và ý thức không chỉ đối lập/khác nhau mà còn thống nhất, đồng nhất với nhau.Hình như người ta chỉ nhấn mạnh sự đối lập, khác nhau là duy nhất (“vật chất đối lập với ý thức, cũng có nghĩa ý thức không thể là vật chất”- ĐKC) mà quên sự thống nhất, đồng nhất tương đối giữa vật chất và ý thức”. Tôi cho rằng người hiểu không đầy đủ chính là Hồ Bá Thâm, chứ không phải tôi, thể hiện trên hai khía cạnh sau: 1) Khi cho rằng vật chất và ý thức đồng nhất với nhau, mặc dù có học vị tiến sỹ triết học, nhưng ông đã chứng tỏ mình không hiểu triết học. Khi vật chất và ý thức là một thì có còn bài toán duy vật - duy tâm như vấn đề trung tâm của triết học nữa hay không?; 2) Tính thống nhất giữa vật chất và ý thức thể hiện ở chỗ, vật chất sinh ra ý thức; và ý thức chỉ có thể tồn tại trong một cấu trúc vật chất thích hợp là bộ não đang hoạt động (với mọi sắc thái tự nhiên và giáo dục, sinh học và môi trường). Và điều này hoàn toàn phù hợp với cặp phạm trù cấu trúc - chức năng trong sinh học. Điều đó cũng có nghĩa, linh hồn như một sự sống sau cái chết là một quan điểm sai lầm cả về các mặt triết học (duy vật) và sinh học, thưa ông Hồ Bá Thâm! Và ông là nhà triết học kiểu gì mà cứ quan niệm ý thức chính là vật chất (!) như vậy? Còn ý thức thì sao? Thật đáng tiếc là không có một quan niệm đơn giản và rõ ràng như quan niệm của Lenin về vật chất. Tuy nhiên theo tôi, có thể quan niệm ý thức là sự phản ánh hiện thực trong tâm trí, là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, là đặc trưng hợp trội của bộ não con người, cấu trúc vật chất phức tạp nhất tự nhiên. Tôi xin nhấn mạnh quan niệm ý thức như đặc trưng hợp trội của bộ não, một quan niệm xuất phát từ lý thuyết các hệ thống phức tạp. Bạn đọc quan tâm có thể tìm bài viết của tôi Hợp trội luận và quy giản luận: Đối lập và song hành trên mạng để tìm hiểu thêm về hợp trội (emergence). Đây là những gì tôi đã viết trong bài viết đó: “Jeffrey Goldstein tại Khoa kinh doanh, Đại học Adelphi là người đưa ra quan niệm hiện đại về khái niệm trên tạp chí Emergence, năm 1999. Theo ông, có thể định nghĩa emergence là “sự nổi lên của các cấu trúc, hình thái hay tính chất mới và cố kết trong quá trình tự tổ chức của các hệ thống phức tạp”. Để làm rõ quan niệm của Goldstein, Peter A. Corning, 2002, viết cụ thể về các “chất lượng”của emergence như sau: “Các đặc trưng chung là: 1) Tính mới triệt để (những đường nét chưa hề thấy trong hệ); 2) Sự cố kết hay mối tương quan (theo nghĩa một toàn thể duy trì trong một thời gian nào đó); 3) Một mức độ toàn cục hay vĩ mô (như một tính chất mang tính toàn cục); 4) Là sản phẩm của quá trình động lực (tiến hóa); và 5) Có tính “thể hiện”- (nên) có thể được cảm nhận”. Là người vẫn tin ở các nguyên lý căn bản của triết học duy vật biện chứng, người viết bài này cho rằng, quan niệm emergence không phải cái gì khác, mà chính là quy luật lượng - chất của phép biện chứng Hegel, theo đó những biến đổi về lượng sẽ dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại. Duy vật luận biện chứng cho rằng, vật chất vận động sẽ tạo ra các hình thái hay chất lượng mới mỗi khi có sự biến đổi vượt ngưỡng về lượng. Những phát triển mới trong khoa học về sự tự tổ chức, về các hệ thống phức tạp, về tiến hóa vũ trụ, sinh giới và xã hội…cho thấy quan niệm như thế là đúng đắn”. Nói cách khác, ý thức không phải cái gì khác, mà là một đặc trưng hợp trội, xuất hiện do sự tự tổ chức của một hệ thống phức tạp nhất tự nhiên là bộ não con người, với mọi sắc thái tự nhiên và giáo dục, sinh học và môi trường (xin hãy nhớ lại hai minh họa về vị mặn của muối và thực tế ảo trong máy tính mà tôi từng nhiều lần nhắc tới). Nói cách khác, khoa học hiện đại ủng hộ quan điểm của duy vật luận biện chứng. Đó là quan điểm của các khoa học hình thức hoặc kiểu hình thức (như triết học, logic học, toán học hoặc lý thuyết hệ thống, là các khoa học quan tâm chủ yếu tới các quy luật chung của sự vận động của vật chất và ý thức). Tuy nhiên trên phương diện các khoa học sự sống, như thần kinh học hoặc các khoa học tâm trí, ý thức xuất hiện như thế nào vẫn là một bài toán hết sức nan giải. Tôi xin trình bày sơ lược sự nan giải của vấn đề qua trường hợp bộ não cảm nhận vị mặn của hạt muối. Khi chúng ta nếm muối, tinh thể NaCl sẽ tương tác với các thụ thể vị giác trên lưỡi, dẫn tới sự tạo thành các xung thần kinh, với các điện thế gợi (vị giác) cụ thể. Các nhà sinh lý học đã đo được chính xác các thế gợi giác đó. Các tín hiệu thần kinh đó sẽ tới trung khu vị giác trong não và được giải mã để chúng ta cảm nhận được vị mặn. Tín hiệu thần kinh, trung khu vị giác, sự tương tác và giải mã trong não thuộc đều phạm trù vật chất (nên có thể đo đạc được). Vấn đề ở đây là các quá trình vật chất đó (hình thành và giải mã xung thần kinh) biến thành ý niệm chủ quan (cảm nhận của chúng ta về vị mặn) như thế nào. Theo ngôn ngữ của nhà triết học Úc Chammers, nước biến thành rượu vang như thế nào? Theo Chammers, đó có thể là bí ẩn không có lời giải của khoa học; và nhiều học giả nổi tiếng đồng ý với ông. Chammers cũng cho rằng, để giải quyết vấn đề, có lẽ cần xem ý thức là một thuộc tính cơ bản của vật chất, giống như điện tích hay khối lượng, một quan niệm mang hơi hướm lý thuyết lượng tử của ý thức. Tôi cho rằng đó là một quan điểm sai lầm, vì các hạt cơ bản, như điện tử hoặc photon, không thể có các đặc trưng mang tính ý thức được (xin xem thêm bài Tôi chọn cả Thượng Đế và khoa học trên Tia Sáng, 2003; hoặc phiên bản online trên mạng). Một số nhà khoa học, như triết gia Mỹ Dennet, cho rằng, bài toán đó không cần đặt ra, vì nước chính là rượu vang, rượu vang là nước. Mặc dù cuốn Ý thức đã được giải thích (Consciosness Explained) của ông bán được hơn 100.000 bản, thật khó đồng ý với ông. Nếu xem vật chất và ý thức đồng nhất với nhau, thì không còn bài toán trung tâm của triết học nữa, như tôi đã nhiều lần khẳng định khi trao đổi với Hồ Bá Thâm. Ở đây, duy vật luận hợp trội (emergent materialism) của Alwyn Scott mới là chuẩn xác. Tôi xin lưu ý bạn đọc thêm một lần nữa rằng, đó chính là quan điểm của duy vật luận biện chứng chứ không phải cái gì khác. Quan niệm về tâm vũ trụ: Khi nói về tâm vũ trụ, chúng ta không chỉ nói tới nhất nguyên luận duy tâm, mà còn nói tới giả thuyết của các nhà vật lý học cuối thế kỷ XX, như tôi đã viết trong bài Không có cái gọi là chủ nghĩa duy vật tâm linh. Tại sao lại mâu thuẫn như vậy? Lý do là giới vật lý từng ngạc nhiên khi thấy các hằng số vũ trụ dường như được lựa chọn thật cẩn thận để tạo ra con người, khi chỉ cần khối lượng hoặc điện tích của điện tử hoặc proton thay đổi vài phầm trăm thì vũ trụ đã diễn biến khác hẳn. Và con người đã không thể xuất hiện để mà băn khoăn tự hỏi, tại sao vũ trụ lại diễn biến như vậy. Quan điểm tâm vũ trụ hay ý thức vũ trụ đã ra đời trong vật lý hiện đại như vậy. Tuy nhiên, lý thuyết đa vũ trụ cho thấy, quan điểm mang hơi hướm tôn giáo như thế là một sai lầm, như tôi đã từng trình bày. Lý thuyết đa vũ trụ ra đời nhằm chống lại xu hướng tôn giáo hóa khoa học của một số nhà vật lý, khi họ xem vũ trụ được thiết kế nhằm tạo ra con người như vừa nói ở trên (nhà vật lý thiên văn Anh nổi tiếng Martin Ree là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ đa vũ trụ, multiverse, đối ngược với các đơn vũ trụ, universe, như Thiên Hà của chúng ta). Theo đó, do nguyên lý bất định Heisenberg, từ chân không lượng tử, các bong bóng năng lượng luôn xuất hiện và biến mất không ngừng. Xin lưu ý bạn đọc, trong vật lý, vật chất và năng lượng là một, do hệ thức Einstein E = mc2 (và do đó đều thuộc phạm trù vật chất của Lenin). Mỗi bong bóng là một vũ trụ với các hằng số vật lý và hệ quy luật riêng. Trong vô vàn các vũ trụ sinh diệt không ngưng nghỉ đó, tình cờ có một vũ trụ có các hằng số vật lý và hệ quy luật phù hợp để sự sống có thể hình thành và phát triển. Đó chính là vũ trụ của chúng ta. Một số nhà khoa học, như Trịnh Xuân Thuận trong cuốn Giai điệu bí ẩn năm 1988, cho rằng giả thuyết đa vũ trụ trái với nguyên lý tiết kiệm Ockham, một dẫn dắt quan trọng trong nhận thức luận phương Tây (giữa hai lý thuyết cùng không biết đúng hay sai, cần chọn lý thuyết đơn giản hơn, vì tự nhiên không phát triển quá mức cần thiết). Theo họ, tại sao lại mất công tạo ra vô vàn vũ trụ, mà chỉ một vũ trụ phù hợp với sự sống (điều trái với nguyên lý tiết kiệm). Tuy nhiên như giới đa vũ trụ đã phản bác, thực ra việc tạo ra vô vàn các vũ trụ không chủ đích (với xác suất luôn bằng 1) lại dễ dàng và tiết kiệm hơn so với việc thiết kế một vũ trụ có chủ đích (với xác suất cực kỳ nhỏ, theo tính toán của Penrose). Đó là lý do trong các tác phẩm gần đây, Trịnh Xuân Thuận không nhắc tới sự lãng phí của tự nhiên trong lý thuyết đa vũ trụ nữa. Đa vũ trụ ra đời như thế nào? Về mặt triết học, đó là câu hỏi có thể trả lời tương đối dễ dàng. Vật chất như một phạm trù triết học luôn tồn tại, còn vật chất như một khái niệm vật lý thì có thể lúc có lúc không, theo nguyên lý bất định Heisenberg. Khi vật chất vật lý xuất hiện, chúng ta có một vũ trụ hiện hữu; còn khi vật chất vật lý mất đi, vũ trụ hiện hữu lại quay về chân không lượng tử như một trạng thái tiềm. Chỉ cần có chân không lượng tử và nguyên lý bất định là vũ trụ có thể tự sinh tự diệt, như tôi đã viết trong bài Vũ trụ ra đời như thế nào? trên An ninh thế giới cuối tháng năm 2004 (bạn đọc có thể tìm bản online trên mạng). Bạn đọc có thể đặt câu hỏi, tại sao lại có chân không lượng tử và nguyên lý bất định để vũ trụ tự sinh tự diệt? Đó có phải là “tâm vũ trụ” (Hồ Bá Thâm) hoặc ý thức vũ trụ hay không? Câu trả lời của triết học duy vật biện chứng là không, vì cả chân không lượng tử và nguyên lý bất định đều thuộc phạm trù vật chất, vì đều là “tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và được phản ảnh trong ý thức”, theo quan niệm vật chất của Lenin. Thiên đường và địa ngục được sinh ra như thế nào? Câu trả lời thật đơn giản theo quan điểm duy vật biện chứng. Do sự tự tổ chức của vật chất mà ý thức xuất hiện như một hình thái hợp trội của bộ não. Và bộ não con người sản sinh ra tín ngưỡng và tôn giáo như sự thiêng liêng hóa những bí ẩn chưa được giải đáp của vũ trụ (tôi lưu ý quan niệm của Shermer, người giữ chuyên mục Nghi ngờ của tờ Người Mỹ khoa học, cho rằng khi cái biết gặp cái chưa biết là khi khoa học gặp tôn giáo). Nói cách khác, linh hồn bất tử, cõi thiêng, thiêng đường và địa ngục, thánh thần và ma quỷ,… nằm trong chính bộ não của chúng ta, chứ không phải trên đỉnh Olympus huyền thoại hay trong lòng dòng Hằng Hà hùng vĩ. Theo cách nói của Henri Bergson, lúc ông thì thầm trước khi nhắm mắt, “vũ trụ là một cỗ máy làm ra các thượng đế…”. Và chúng ta chỉ cần tiếp lời nhà triết học vĩ đạirằng, “….thông qua bộ óc con người” là thu được một bức tranh đầy đủ. Về quan niệm của Hồ Bá Thâm: Với những gì đã trình bày (và chưa trình bày), rất dễ dàng bác bỏ các quan niệm của Hồ Bá Thâm. Và theo tôi, chúng ta không cần phải phân tích chi tiết các bài viết của Hồ Bá Thâm, mà chỉ cần xem ông quan niệm về “tâm vũ trụ” như thế nào là đủ. Trong bài Tâm linh và hướng tiếp cận duy vật về tâm linh (Thông tin và bình luận), VHNA, 16-8-2014, Hồ Bá Thâm viết: ““trí tuệ vũ trụ” (tâm vũ trụ) thực ra chính là lôgích (các qui luật), là kết quả các tương tác, phụ thuộc và tương sinh, là các dạng cấu trúc và năng lượng, phản ánh, cảm ứng, hiệu ứng, thông tin/hay siêu năng lượng, phản ánh, cảm ứng, hiệu ứng, thông tin, tức không chỉ là dạng vật lý, sinh học mà cả dạng cao sâu hơn, nó là năng lượng phản ánh, cảm ứng, hiệu ứng, thông tin, tâm bản”. Bạn đọc có hiểu Hồ Bá Thâm định nói gì hay không? Tôi thì tôi chịu, tôi hoàn toàn không hiểu rốt cục tâm vũ trụ là cái gì, theo quan điểm của tác giả! Tại sao một vị tiến sỹ triết học, người đang muốn cải biến duy vật luận biện chứng, lại không biết cách trình bày để người khác hiểu ý mình như vậy? Theo tôi lý do căn bản là chính tác giả cũng không hiểu những gì bản thân đang nói, nên làm sao ông có thể giúp người khác hiểu được! Chúng ta có thể thấy rõ sự lộn xộn và phản khoa học trong quan niệm của Hồ Bá Thâm. Tại sao lại xem logic, tức luận lý, là các quy luật? Tại sao lại ghép “các dạng cấu trúc”, chứ không phải các cấu trúc, với năng lượng? Tại sao thông tin lại là siêu năng lượng? Dạng cao sâu hơn dạng vật lý và sinh học là dạng gì? Sâu hơn và cao hơn không phải là trái ngược nhau sao, theo cách tổ chức theo thang bậc của vật chất, và do đó của các khoa học nghiên cứu chúng? Và đặc biệt, tại sao “tâm vũ trụ” hay “trí tuệ vũ trụ”, một khái niệm thuộc phạm trù tinh thần, lại chính là năng lượng, một khái niệm thuộc phạm trù vật chất (trong vật lý, năng lượng và vật chất là một, như tôi vừa nói ở trên) vv…và vv… Tôi nói quan niệm “duy vật tâm linh” của Hồ Bá Thâm là một nồi thắng cố triết học là vì vậy, khi trộn các phạm trù vật chất và tinh thần vào nhau. Và cuối cùng thì bạn đọc đã có thể hiểu tại sao tôi xem Hồ Bá Thâm đã và đang bị “tẩu hỏa nhập ma”! Tuy nhiên chúng ta phải chấp nhận những gì tác giả viết; do đó tôi xin khảo sát xem Hồ Bá Thâm muốn nói gì đằng sau sự rắc rối, mù mờ, lộn xộn và khó hiểu đó. Với bạn đọc chưa có kiến thức cần thiết về triết học, vật lý học (từng được xem là triết học tự nhiên) và các khoa học sự sống, quan niệm của Hồ Bá Thâm có vẻ rất “cao siêu”. Tuy nhiên với tôi, do nắm được phần cốt yếu của hệ quan điểm duy vật biện chứng và các lý thuyết mới nhất về vũ trụ và về tâm trí, nên có lẽ tôi hiểu ý tác giả khi “đọc giữa hai hàng chữ”. Hồ Bá Thâm muốn nói tới hệ quy luật của vũ trụ, cái quy định cách thức vận động của vật chất trong vũ trụ, và cái then máy ẩn giấu sau sự biến hóa vô cùng đa dạng của tự nhiên. Tuy nhiên, do thiếu sức nặng trong hành trang kiến thức và sự bay bổng trong tâm hồn, nên ông không thể diễn đạt quan điểm của mình một cách rõ ràng và khoáng đạt. Để Hồ Bá Thâm có thể biết giới vật lý hiểu và diễn giải vấn đề một cách đơn giản và tường minh như thế nào, tôi xin giới thiệu cách trình bày của nhà vật lý thiên văn Martin Ree vừa nói ở trên.Đây là những gì ông viết trong bài Khám phá vũ trụ của chúng ta và các vũ trụ khác trên Người Mỹ khoa học, số 12-1999, trang 49: “Một ngày nào đó các nhà vật lý có thể tìm ra lý thuyết thống nhất mô tả mọi thực thể vật lý, nhưng họ có thể không bao giờ cho chúng ta biết cái gì đã thổi lửa vào các phương trình của họ và cái gì đã hiện thực hóa chúng trong vũ trụ hiện hữu”. (Nói một cách đơn giản thì ý của Martin Ree là cái gì đã buộc vũ trụ phải tuân theo các quy luật tự nhiên?). Và mặc dù cho rằng “trả lời chúng có thể là câu hỏi không bao giờ chấm dứt”, Martin Ree và các nhà khoa học như ông không bao giờ xem “cái gì đã thổi lửa vào các phương trình” là “trí tuệ vũ trụ” hoặc “tâm vũ trụ”, như Hồ Bá Thâm. Tôi cũng xin nói thêm rằng, tại phương Tây, khá nhiều học giả nổi tiếng, kể cả người đoạt giải Nobel, ủng hộ quan điểm vũ trụ được thiết kế (do nguyên lý sáng tạo tối cao, ý thức vũ trụ hoặc Thượng Đế). Và có hẳn một quỹ nổi tiếng là quỹ Templeton, với ngân quỹ khổng lồ (hơn ba tỷ đô la Mỹ vào năm 2013) và giải thưởng hấp dẫn (1.800.000 USD), tự đặt ra nhiệm vụ truy tìm mục đích của loài người và hiện thực tối hậu, trên cơ sở những “thông tin tâm linh mới” (new spititual information). (Thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin và thuyết đa vũ trụ xem sự sống và vũ trụ không có mục đích tính. Nói cách khác bản thân sự xuất hiện của vũ trụ và sự sống cũng chỉ là các sự biến ngẫu nhiên). Tuy nhiên họ đủ trí tuệ để không tự xem mình là một nhà duy vật như Hồ Bá Thâm. Để kết thúc bài viết, xin nhấn mạnh rằng, tôi hoàn toàn tôn trọng sự lựa chọn cá nhân của Hồ Bá Thâm. Nhưng tôi trân trọng đề nghị ông hãy chấm dứt việc tự xem mình là một người duy vật chủ nghĩa. TP Hồ Chí Minh, 1-9-2014 ======================= Ngày trước, nhà ngoại cảm Phan thị Bích Hằng có nói tới một cụm từ "khoa học tâm linh" tôi rất phản bác (Cũng trên diễn đàn này), mặc dù rất cảm tình với cô Hằng. Nay đến "chủ nghĩa duy vật tâm linh" thì buồn quá. Mặc dù tôi cũng rất cảm tình với bác Hồ Bá Thâm, vì viết lời tựa cho cuốn "Hà Đồ trong văn minh Đông phương" của tôi. Tôi hơi khó chịu với ông Đỗ Kiên Cường vì cũng hay phản bác tôi, nhưng lần này ông đúng về căn bản khi phản bác khái niệm "chủ nghĩa duy vật tâm linh". Bình luận của tôi chỉ giới hạn trong cụm từ này với khái niệm nội hàm của nó, bài viết tôi chưa xem hết.
  15. Nhà ở tại sao phải tránh “Phản quang sát”? 04/08 Phong Thủy 203,285 views Phong Thủy học đặc biệt nhấn mạnh phản quang là đại hung, gọi là “phản quang sát”. Vào thời cổ đại, phản quang phần nhiều là do ao đầm, sông ngòi bên ngoài vật kiến trúc tạo thành thuộc về phản quang tự nhiên, có lúc không có cách nào tránh được. Khi ảnh ánh nắng lay động chiếu vào phòng thì hình thành “phản quang sát”. Nếu là phản quang của sông ngòi chiếu vào phòng tức sản sinh ra ảnh sóng lay động không ổn định. Trên trần nhà trong phòng sẽ hình thành bóng nắng lay động, sẽ kích thích đến tinh thần con người khiến tinh thần căng thẳng. Thời gian dài con người sẽ sinh ra ảo giác khủng hoảng, đó là điềm báo trước của tai nạn. Theo quan điểm khoa học hiện đại ngày nay, tần số từ trường sóng quang và tầng số từ trường bình thường cơ thể con người khác nhau rất lớn; đặc biệt là khi có sóng quang mãnh liệt kích thích mắt, từ trường sinh ra của nó sẽ phá hoại từ trường bình thường của cơ thể con người, tức sẽ giống như một bình phong chắn hết sinh khí của tự nhiên ngoài cửa nhà, trên cơ bản phá hoại sự ngưng tụ & đường vào của sinh khí. Phản quang trong đô thị hiện đại có một phần lớn là do con người tạo ra thuộc về ô nhiễm quang. Đặc biệt có rất nhiều tòa nhà có kiến trúc tường bằng kính, ánh sáng phản chiếu của nó chiếu vào nhà ở đối diện, từ đó hình thành quang khúc xạ đối với các tòa nhà kiến trúc bên cạnh. Còn một số ô nhiễm ánh sáng là tầng trệt của tòa nhà dùng các loại đèn màu để làm bảng hiệu, công suất của bóng đèn làm bảng hiệu quá lớn, quá mạnh sẽ hình thành “phản quang sát”. Nhìn trực quan, một số phản quang tường thủy tinh và đèn quảng cáo bảng hiệu đều rất mãnh liệt, nó không chỉ kích thích mắt khiến con người cảm thấy khó chịu dẫn đến tinh thần con người nôn nóng, dần dần sinh ra tâm lý tinh thần trốn chạy. Dựa vào nghiên cứu khoa học hiện đại, có sóng quang có hại sẽ làm tổn thương đến tế bào não, tạo nên những bệnh phụ khoa ở phụ nữ như kinh nguyệt không đều. Vì thế, chọn nhà ở cần phải tránh sự xâm hại của các quang tuyến có hại. Nếu nhà ở có phản quang mãnh liệt chiếu vào phòng, cách chữa là: dùng rèm cửa dày & có màu tối. Bản thân màu tối cũng có thể hút một phần ánh sáng phản xạ, khiến ánh sáng phản xạ chiếu vào phòng ít đi. Cũng có thể dùng kính mờ làm giảm ánh sáng phản quang chiếu vào phòng. Nhưng cách tốt nhất là đặt chậu cây cảnh ở cửa sổ làm một bình phong tự nhiên che chắn ánh sáng phản xạ, lại có thể làm đẹp môi trường nhà ở, có thể nói là một công đôi việc. Nguồn: Tổng hợp =================== Trong lớp cao cấp của Phong Thủy Lạc Việt gọi hiện tượng này là "huyết ma đại sát'. Nhưng cách giải thích có khác đôi chút. Phong Thủy Lạc Việt cho rằng: Sở dĩ "Huyết ma đại sát" nguy hiểm vì sự tương tác với những hiệu ứng thay đổi của sóng quang. Tương ứng với hiệu ứng gương vỡ.
  16. Đặt sư tử đá trước cửa rước họa vào nhà Báo GTVT - 21/08/2014 09:16 Theo các chuyên gia về tín ngưỡng, văn hóa, việc dùng sư tử đá đứng canh công sở, doanh nghiệp để cầu may mắn, phát tài phát lộc là dị đoan. Thậm chí trong quan niệm phong thủy, đặt sư tử đá trước cửa là tối kỵ. Theo phong thủy đặt sư tử đá trước cửa là tối kỵ Mạnh tay dẹp bỏ linh vật trái thuần phong mỹ tục Trước thực trạng nhiều địa phương trưng bày, sử dụng biểu tượng, vật phẩm, linh vật (sư tử bằng đá và một số vật phẩm khác) theo tạo hình, hình thức không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam ở cổng, cửa khu di tích, đình, chùa, công sở... gây phản cảm, Bộ VH, TT&DL đã ra văn bản chấn chỉnh. Theo đó, không trưng bày, không sử dụng, cung tiến biểu tượng, sản phẩm, linh vật và các vật phẩm lạ không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Tuyên truyền và vận động những nơi đang sử dụng tháo dỡ biểu tượng, sản phẩm, linh vật và các vật phẩm lạ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam ra khỏi các nơi công cộng. Sở VH,TT&DL các tỉnh, thành tăng cường tuyên truyền, kiểm tra và đề xuất xử lý việc trưng bày, sử dụng biểu tượng, vật phẩm, linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam ở các nơi công cộng, đặc biệt là các khu di tích lịch sử văn hóa tại địa phương. Tuy nhiên, theo nhiều người, với hiện vật trong khu di tích có thể thực hiện được ngay, còn các cơ quan công sở, trụ sở công ty doanh nghiệp, khu vui chơi giải trí công cộng thì khó mà dọn dẹp được. Ông Trần Đình Thành - Trưởng phòng Quản lý di sản, Cục Di sản văn hóa, Bộ VH, TT&DL cho biết, từ cuối tháng 8/2014, Cục Di sản văn hóa sẽ phối hợp cùng Thanh tra Bộ thành lập đoàn kiểm tra đối với các di tích có sư tử đá cùng các hiện vật có nguồn gốc từ nước ngoài, trái với lịch sử, kiến trúc, thuần phong mỹ tục của Việt Nam. Trong đợt thanh tra cao điểm này những sai phạm sẽ bị xử lý nghiêm. Cũng theo ông Thành, Luật Di sản không với tới các phạm vi là công sở, doanh nghiệp vì thế phải tuyên truyền nâng cao hiểu biết về văn hóa để người dân biết nên đưa cái gì vào nhà, vào công sở cho phù hợp với truyền thống và có lợi về phong thủy. “Khi chính lãnh đạo, “ông chủ” các cơ quan, công sở, doanh nghiệp... thấy “sợ” cách sử dụng bừa bãi những biểu tượng không đúng văn hóa truyền thống, lệch lạc về ý nghĩa... thì họ sẽ tự tháo dỡ”, ông Thành nói. Nhà nghiên cứu - TS Trần Hữu Sơn, Giám đốc Sở VH, TT&DL Lào Cai cho biết, những con sư tử, hổ đá đưa vào di tích không phải từ dân mà do các lãnh đạo cung tiến. “Khi lãnh đạo đưa về, ai không dám nhận. Do vậy phải tuyên truyền để các quan chức cần gương mẫu mới mong dẹp được hiện vật lạ”, ông Sơn đề nghị. Đặt sư tử đá trước cửa là tối kỵ Trên thực tế, ở Trung Quốc, sư tử đá là linh vật để canh mộ. Đặc điểm chung sư tử đá canh mộ của Trung Quốc mang hình thức dữ dằn, gân guốc với dáng vẻ đe dọa. Khi được “sao y bản chính” vào Việt Nam không hiểu sao linh vật này lại được đặt “nghễu nghện” ở lối ra vào các đình, chùa, công sở và một số nhà dân với suy nghĩ cặp sư tử đá này sẽ giúp phát tài, phát lộc. Nhiều năm nghiên cứu về tín ngưỡng, văn hóa, GS. Trần Lâm Biền cho biết, không có tài liệu nào ghi đặt sư tử đá tàu hai bên cửa nhà mang lại may mắn và tài lộc. PGS.TS. Bùi Quang Thanh, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam cho rằng, chuyện dùng sư tử đá đứng canh công sở, doanh nghiệp vì loài vật này tượng trưng cho sự quyền lực, may mắn, phát tài phát lộc là hoàn toàn bịa đặt. Theo ông Tuấn Anh, ở những nơi trang nghiêm như đình, chùa mọi người nên đặt con nghê. Đây là con vật biểu tượng của Việt Nam và mang lại sự may mắn. Cục Mỹ thuật giới thiệu một số mẫu linh vật Ngày 19/8, Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm đã gửi công văn về việc Giới thiệu các mẫu linh vật của Việt Nam tới Sở VH, TT&DL các tỉnh/thành, Thanh tra văn hóa, các cơ quan báo chí, truyền thông. Kèm theo công văn là tập tư liệu hình ảnh một số mẫu tượng linh vật hiện đang được sử dụng tại các di tích và được lưu giữ tại một số bảo tàng. Những mẫu tượng linh vật này nhằm bước đầu giúp cho công tác tuyên truyền, vận động, kiểm tra, xử lý cũng như hướng dẫn những nơi sản xuất, tiêu thụ, để các Sở VH,TT&DL các tỉnh/thành; Thanh tra văn hóa nghiên cứu, tham khảo. Phạm Lý ================ "Dị nhân" Nguyễn Vũ Tuấn Anh chỉ ra 5 sai lầm thường gặp khi xử lý phong thủy cho doanh nhânCafeF - 15/10/2012 14:47 Một số giám đốc doanh nghiệp chỉ tập trung làm lại phong thủy cho căn phòng của mình chứ không quan tâm đến phong thủy của toàn trụ sở. “Dị nhân” Nguyễn Vũ Tuấn Anh đang tư vấn cho khách hàng về ý nghĩa của linh vật phong thủy cá rồng. Được biết đến qua những nghiên cứu ứng dụng Lý học Đông phương trong việc dự báo trước các sự kiện như Sóng thần Ấn độ dương (2004), khủng hoảng kinh tế thế giới 2008, 7 ngày đại lễ 1000 năm Thăng Long không mưa.., ngày 11/10 vừa qua, “dị nhân” Nguyễn Vũ Tuấn Anh trở lại với vai trò tư vấn phong thủy tại Tọa đàm “Phong thủy trong Kinh doanh” do Công ty Vàng bạc Đá quý Vietinbank tổ chức, nhân ngày Doanh nhân Việt Nam. Ông rất cởi mở chia sẻ 5 sai lầm thường gặp khi làm phong thủy cho doanh nhân. Sai lầm số 1: Chỉ tập trung vào chi tiết, không quan tâm đến tổng thể. Khi làm phong thủy cho doanh nghiệp, cần xem cả 4 yếu tố tương tác đến môi trường làm việc của doanh nghiệp bao gồm: Cảnh quan môi trường (Loan đầu), Địa từ trường (Bát trạch), Cấu trúc hình thể ngôi nhà (Dương trạch Tam yếu), và Tác động của vũ trụ (Huyền không). Sai lầm số 3: Núi chắn trước nhà, hồ nước sau nhà: Rất nhiều doanh nghiệp sử dụng hòn non bộ, giả sơn chắn trước cửa nhà. Tuy nhiên, họ không hiểu rằng núi trong phong thủy có tác dụng ngăn cản sức phát triển của cơ quan, doanh nghiệp đó. Nguyên tắc phong thủy từ xưa đến nay chỉ có chân lý “Tọa sơn, hướng thủy”, lưng nhà tựa núi, phía trước là mặt nước. Khi lật ngược lại thế phong thủy này, chúng ta đã đi ngược lại những nguyên lý phong thủy. Sai lầm số 4: Lạm dụng đồ phong thủy, nhưng không hiểu ý nghĩa và đặt sai chỗ: Rất nhiều doanh nhân làm tưởng rằng càng mua nhiều đồ trang trí phong thủy càng tốt. Chúng ta cần nhớ rằng những đồ vật phong thủy chỉ phát huy tác dụng khi ta đặt nó trong môi trường đã hoàn chỉnh về phong thủy và đặt đúng chỗ thì những đồ vật đó mới phát huy hết tác dụng của nó. Sai lầm số 5: Phong thủy chỉ có tác dụng thay đổi định lượng chứ không làm thay đổi định tính. Phong thủy có tác dụng hỗ trợ. Làm đúng phong thủy, giúp cho doanh nhân đó đến nhanh hơn với thành công, tuy nhiên không có tác dụng thay đổi định mệnh của người đó. Ví dụ: làm tốt phong thủy, chủ một tiệm café nhỏ có thể phát triển thành một quán lớn hơn, chứ không thể khiến chủ quán café thành chủ một tập đoàn kinh tế lớn… Theo TTVN
  17. Hiện vật không phép về đâu sau di dời? Cập nhật lúc 09:47 27/08/2014 KTĐT - Mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng qua khảo sát sơ bộ có khoảng hàng chục ngàn cặp sư tử đá ngoại lai tồn tại trong di tích Việt. Bộ VHTT&DL đang quyết tâm loại bỏ hiện vật lạ, không phép này. Tuy nhiên, có nên lập kho chứa các cặp sư tử đá ngoại lai lại là vấn đề khiến người ta phải bàn cãi. Dời từ di tích về... công sở Không còn ngạc nhiên về việc Bộ VHTT&DL sẽ chấn chỉnh hiện vật ngoại lai sau Công văn số 2662/BVHTTDL - MTNATL. Bởi, một tuần sau khi công văn ra đời, không chỉ "khởi động" đoàn kiểm tra tại các di tích, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Đặng Thị Bích Liên còn khẳng định: "Sau khi khảo sát, đánh giá thực tế, tuyên truyền, vận động người quản lý di tích, thanh tra Bộ VHTT&DL sẽ xử phạt, cưỡng chế những đơn vị không chấp hành quy định. Hạn chót cho các đôi sư tử đá tồn tại trong di tích Việt là khoảng từ tháng 12/2014 - 1/2015". Đôi sư tử đá trước cổng chùa Gia Quất, quận Long Biên. Ảnh: Bảo Kha Bài toán đặt ra đối với người quản lý di sản là tìm nơi chốn cho các cặp sư tử đá sau di dời. Sau khi kiểm tra thực tế trưng bày đồ thờ tự tại đình và chùa Mộ Lao (Hà Đông, Hà Nội), đoàn thanh tra đã phát hiện 8 cặp sư tử đá, 2 bức tượng Quan âm, đèn đá, quả cầu đá... là hiện vật không phép, được yêu cầu di dời. Thế nhưng, ông Bạch Ngọc Thụy - Tổ trưởng Tổ Quản lý di tích đình và chùa Mộ Lao băn khoăn, ở Thủ đô "tấc đất tấc vàng", lấy đâu ra vị trí làm kho cho các hiện vật này? Trả lời báo chí trong cuộc họp báo thường kỳ của Bộ VHTT&DL sáng 26/8, ông Nông Quốc Thành - Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa cho biết: "Về nguyên tắc, hiện vật chưa được cấp phép sau cưỡng chế sẽ trả lại cho chủ nhân". Thế nhưng, khi mà cặp sư tử đá đã tồn tại trong di tích hơn 10 năm thì việc xác định chủ nhân của các hiện vật trên là ai, khó có đơn vị quản lý nào nắm được. Đó là chưa kể, nếu xác định được người hiến tặng, xét dưới góc độ tâm linh, không ai muốn nhận hiện vật do nhà chùa trả lại. Thế mới có chuyện, đôi sư tử đá ở chùa Gia Quất (quận Long Biên) vừa di dời khỏi di tích hôm 24/8 đã được chuyển đến cơ quan công sở, nơi cũng được Bộ VHTT&DL khuyến cáo không trưng bày sư tử ngoại lai. Vấn đề nhạy cảm Hiện nay, có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề tìm nơi chốn cho hiện vật không phép. Ông Trần Hữu Sơn - Giám đốc Sở VHTT&DL Lào Cai đề xuất: "Tôi cho rằng phải tiêu hủy. Hoặc đưa cả bầy lập thành công viên cho ai cưỡi, ai chơi thì tùy". Một nhà nghiên cứu cũng cho rằng, nên tập hợp cả chục ngàn đôi sư tử đá ở một địa điểm, để nhìn vào đó mà rút kinh nghiệm. Là một nhà nghiên cứu di sản lâu năm, PGS Trần Lâm cho rằng, ngành thủ công mỹ nghệ có thể tán toàn bộ số sư tử đá này, tái sản xuất ra các linh vật Việt theo mẫu đã được Cục Mỹ thuật nhiếp ảnh và Triển lãm thẩm định. Rõ ràng câu chuyện đằng sau các hiện vật ấy không chỉ là hình dáng, là số tiền vài chục triệu mua một cặp sư tử..., để có thể đập đi mà là sức mạnh vô hình của chủ nhân hiến tặng. Nói như một vị lãnh đạo Bộ VHTT&DL, việc di dời các cặp sư tử đá khỏi di tích là vấn đề nhạy cảm. Hiện nay, Bộ VHTT&DL yêu cầu Cục Di sản văn hóa không cứng nhắc theo kiểu hiện vật trả chủ nhân mà cần nghiên cứu từ trường hợp phát sinh tại thực tế để đưa ra các hướng dẫn di dời hợp lý cho địa phương. Bộ sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ, Ban Trị sự Hội Phật giáo Việt Nam đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu và sử dụng linh vật Việt. Linh Anh ================= Với cái nhìn của tôi thì suy cho cùng chẳng có cái gì của cái gọi là văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng tới văn hóa Việt cả, kể cả hình ảnh sư tử đá. Nguồn gốc sâu xa thì nó cũng thuộc về cội nguồn văn hiến Việt. Khí nền văn hiến Việt sụp đổ ở Nam Dương Tử vào thế kỷ thứ III BC thì nó bị biến tướng sau hơn 1000 năm Hán hóa. Nhưng tôi ủng hộ việc tống cổ các cặp sư tư đá ra khỏi đình chùa miếu mạo Việt của Bộ VHTT, vì tính biến thái của biểu tượng này trong quá trình Hán hóa, chứ không phải vì nó có nguồn gốc Hán. Hình tượng sư từ đá chỉ để dùng cho các cơ quan công quyền cao cấp và mang tính võ nghiệp - Chứ không thể tràn lan như vậy. Về góc độ phong thủy hình tượng sư tử đá đặt ở cổng rất nguy hiểm vì tính xung sát của hình tượng sư tử bị biến thái vì Hán hóa này. Theo quan sát của cá nhân tôi thì có thể nói: Hầu hết những doanh nghiệp dùng sư tử đá đều ngắc ngoải hoặc phá sản. Những con sư tử đá này nên chôn, hoặc xếp chung vào một nơi nào đó tùy địa phương, hướng về phương vị cần sự dữ dằn của nó. ========== PS: Nhà tôi không trấn yểm bằng sư tử đá, mà chỉ có bốn cụ cóc ở cổng và cửa.
  18. Trung Quốc muốn phá liên minh của Mỹ 05/07/2014 07:58 GMT+7 TT - Giới quan sát nhận định với chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Seoul, Trung Quốc muốn lôi kéo Hàn Quốc ra khỏi liên minh với Mỹ và Nhật để phá chiến lược “xoay trục châu Á” của Washington. Nhật sẽ thực thi quyền phòng vệ tập thể Chủ tịch Trung Quốc đến Seoul trước, Bình Nhưỡng sau Trung Quốc, Hàn Quốc thống nhất nhắc nhở Bình Nhưỡng Ông Tập Cận Bình phát biểu chỉ trích Nhật tại ĐH Quốc gia Seoul - Ảnh: Reuters Trước khi ông Tập đến Seoul, giới truyền thông Hàn Quốc đưa tin chính quyền Tổng thống Park Geun Hye đã bày tỏ hi vọng hai bên sẽ ra một tuyên bố mạnh mẽ nhắm vào chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Tuy nhiên sau cuộc hội đàm giữa ông Tập và bà Park hôm 3-7, tuyên bố của hai nhà lãnh đạo chỉ có thông điệp chung chung là “cương quyết phản đối” vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Theo Yonhap, trong bài phát biểu ở ĐH Quốc gia Seoul hôm qua, ông Tập chẳng hề nhắc gì nhiều đến chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng. Thay vào đó, ông Tập khổ công kể lể những tội ác mà chế độ quân phiệt Nhật đã gây ra tại Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên ở nửa đầu thế kỷ 20. Tân Hoa xã còn đưa tin ông Tập đề xuất với bà Park rằng Trung Quốc và Hàn Quốc tổ chức chung hoạt động tưởng niệm 70 năm chiến thắng phát xít Nhật trong Thế chiến thứ hai vào năm 2015. Ý đồ chia rẽ Quyền phòng vệ tập thể của Nhật có lợi cho Hàn Quốc Trên báo Wall Street Journal, nhà phân tích quốc phòng Bruce Bennett của Hãng RAND Corporation cho rằng việc Nhật thực thi quyền phòng vệ tập thể chỉ có lợi chứ không có hại gì đối với Hàn Quốc. Bởi động thái của Nhật sẽ có lợi cho an ninh Đông Á. Trong trường hợp CHDCND Triều Tiên tấn công Hàn Quốc, Mỹ sẽ phải bảo vệ nước này và điều động lực lượng cực lớn tham gia chiến tranh. Mỹ sẽ phải sử dụng các căn cứ tại Nhật để hỗ trợ chiến dịch quân sự. Quyền phòng vệ tập thể của Nhật sẽ tạo điều kiện cho Mỹ làm như vậy. Những tuyên bố của ông Tập chắc chắn sẽ được dư luận Hàn Quốc hưởng ứng. Bởi quan hệ giữa Nhật và Hàn Quốc đang ở mức tồi tệ nhất trong nhiều năm qua, chủ yếu do vấn đề quá khứ chiến tranh và vụ tranh chấp quần đảo Dokdo/Takeshima, hiện do Seoul kiểm soát. Cũng giống như Bắc Kinh, Seoul tỏ ra bồn chồn khi Thủ tướng Nhật Shinzo Abe công bố “cách hiểu mới” hiến pháp hòa bình Nhật, tạo điều kiện cho Tokyo thực thi quyền “phòng vệ tập thể”. Chuyên gia Frank Jannuzi, chủ tịch Tổ chức Mansfield Foundation, nhận định Trung Quốc “đánh hơi” thấy đây là một cơ hội tốt để phá vỡ thêm mối quan hệ giữa Nhật và Hàn Quốc. Còn báo New York Times của Mỹ dẫn lời ông Chun Yung Woo, cố vấn an ninh quốc gia của cựu tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak, như sau: “Ông Tập không muốn bỏ lỡ cơ hội đổ thêm dầu vào ngọn lửa bất đồng giữa Tokyo và Seoul. Trung Quốc đang cố lôi kéo Hàn Quốc càng xa Nhật và Mỹ càng tốt”. Seoul và Tokyo là hai đồng minh lớn nhất của Washington ở châu Á, và việc lợi dụng sự bất đồng giữa hai quốc gia này sẽ giúp Bắc Kinh chống lại chiến lược “xoay trục châu Á” của chính quyền Tổng thống Barack Obama. “Trung Quốc muốn gửi thông điệp tới Mỹ rằng nước này đang tìm cách định hình lại khu vực châu Á và sẵn sàng hành động để thể hiện rằng Bắc Kinh là cường quốc tại đây” - ông Evans Revere, cựu thứ trưởng ngoại giao Mỹ phụ trách Đông Á, khẳng định. Trung Quốc đã bộc lộ ý đồ lợi dụng Hàn Quốc để phá thế liên minh quân sự tại Mỹ trong khu vực từ trước chuyến đi của ông Tập. Khi đi tiền trạm đến Seoul, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã bày tỏ sự phản đối việc Mỹ muốn lập hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD ở Hàn Quốc. Cơ sở để Bắc Kinh tin tưởng vào chiến lược lôi kéo Seoul là quan hệ thương mại song phương 229 tỉ USD năm 2013 và đang tăng trưởng. Chính quyền Tổng thống Park cũng xem Trung Quốc là một đối tác trong nỗ lực đối phó với chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Không dễ cho Bắc Kinh Nhưng các nhà quan sát cho rằng Trung Quốc sẽ không dễ thực hiện thành công chiến lược chia rẽ này. Ông Chun Yung Woo quả quyết dù Tổng thống Park có quan điểm cứng rắn với Nhật nhưng sẽ “không để Bắc Kinh dụ dỗ”, bởi Seoul không muốn trở thành con tốt trong cuộc đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh. Ông Revere cũng nhấn mạnh nỗ lực của Trung Quốc nhằm đẩy Hàn Quốc và Mỹ ra xa nhau “sẽ không đi đến đâu”. Bởi quan hệ liên minh 60 năm giữa Hàn Quốc và Mỹ vẫn là nền tảng của chiến lược quốc phòng Hàn Quốc. Hiện Mỹ triển khai 29.000 binh sĩ đóng tại Hàn Quốc và Seoul được “ô hạt nhân” của Washington bảo vệ. Ông Chung cho rằng Tổng thống Park hiểu rất rõ ý đồ thâm sâu của ông Tập cũng như tầm quan trọng của liên minh Mỹ - Hàn. Sức mạnh của dư luận cũng là một yếu tố lớn. Theo khảo sát mới đây của Viện Nghiên cứu chính sách Asan ở Seoul, người Hàn Quốc có cái nhìn thiện cảm hơn đối với Trung Quốc so với năm ngoái, nhưng vẫn đánh giá Mỹ là quốc gia được họ yêu chuộng nhất và là đồng minh quan trọng nhất. Một vấn đề nữa là Hàn Quốc cũng có thể trở thành nạn nhân trong tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc. Năm 2012, chính quyền Tổng thống Lee Myung Bak đã phản đối dữ dội khi Tổng cục Hải dương Trung Quốc tuyên bố bãi đá ngầm Ieodo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) Hàn Quốc thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Phía Seoul đã xây một trạm nghiên cứu hải dương trên bãi đá ngầm này. EEZ của Hàn Quốc và Trung Quốc chồng lấn, và trước năm 2012 hai nước đã đàm phán 16 vòng về vấn đề này nhưng không đạt được bất kỳ thỏa thuận nào. Chính vì vậy, các nhà quan sát cho rằng Trung Quốc sẽ còn phải tốn rất nhiều công sức để chia rẽ tam giác Mỹ - Nhật - Hàn tại châu Á - Thái Bình Dương. HIẾU TRUNG =========== Chẳng cần phải đến tài ngoại giao của ngài Tập, Hàn Quốc - dù là đồng minh của Hoa Kỳ - sẽ không tham gia vào canh bạc cuối cùng.
  19. NXB Springer: ĐH Tôn Đức Thắng không liên quan đến APJCEN Nguyễn Vũ Thứ Năm 14/8/2014, 17:03 (GMT+7) (TBKTSG Online) – Chủ sở hữu của tạp chí Asian-Pacific Journal of Computational Engineering (APJCEN) do GS Nguyễn Đăng Hưng làm Tổng biên tập là nhà xuất bản Springer, đại diện NXB này khẳng định trong một thư điện tử gởi cho TBKTSG Online. Ông Renate Bayaz, Giám đốc truyền thông của NXB Srpinger cũng cho biết trong hợp đồng thành lập tạp chí này, trường Đại học Tôn Đức Thắng không hề được nhắc đến. Thư của ông Bayaz là nhằm trả lời câu hỏi của TBKTSG Online rằng ai là chủ sở hữu, hay nói theo ngôn ngữ quen thuộc của Việt Nam, ai là cơ quan chủ quản của tạp chí APJCEN. Đây là câu hỏi then chốt trong vụ kiện do trường ĐH Tôn Đức Thắng khởi xướng đối với GS Nguyễn Đăng Hưng, trong đó ĐH Tôn Đức Thắng cho rằng GS Hưng đã không hoàn thành nhiệm vụ xây dựng tạp chí APJCEN cho trường và “đã có dấu hiệu gian dối khi tự ý thỏa thuận về việc Nhà xuất bản Springer và ban biên tập sẽ là các nhà sáng lập song hành của tạp chí, gạt bỏ đi vai trò sáng lập của trường ĐH Tôn Đức Thắng”. Theo tường thuật của các báo, nội dung đơn kiện còn cho biết sau khi trường ĐH Tôn Đức Thắng và ông Hưng thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn vào tháng 3/2014 thì ông Hưng đã dùng tên một trường đại học khác thay thế trường ĐH Tôn Đức Thắng trong vai trò là đối tác chính của tạp chí APJCEN. Chính vì thế trường ĐH Tôn Đức Thắng đã khởi kiện và “yêu cầu ông Hưng phải hoàn trả toàn bộ kinh phí mà trường đã đầu tư cho ông và cộng sự có liên quan để thực hiện việc xây dựng tạp chí APJCEN là 461.364.522 đồng”. Trong lá thư nói trên của NXB Springer, ông Bayaz kể GS Nguyễn Đăng Hưng, lúc đó là cố vấn cho trường ĐH Tôn Đức Thắng cùng TS Lê Văn Út, giảng viên ĐH Tôn Đức Thắng và lúc đó là trợ lý cho GS Hưng đã tiếp xúc với Springer và đưa ra đề án thành lập tạp chí APJCEN. Theo thỏa thuận xuất bản được ký giữa hai bên thì APCEN là tạp chí thuộc dạng “truy cập mở” (open access) – tức người đăng bài sẽ trả tiền. Theo trang chủ của tạp chí thì phí đăng bài vào khoảng 1.400 đô la Mỹ nhưng những nhà nghiên cứu từ các nước nghèo như Việt Nam thì được miễn khoản tiền này. Và trong thỏa thuận không hề nhắc đến trường ĐH Tôn Đức Thắng. Trong một email gởi TBKTSG Online, GS Nguyễn Đăng Hưng cũng khẳng định: “Theo thông lệ, những tờ báo khoa học lớn đều trực thuộc các nhà xuất bản lớn. APJCEN tuy mới ra nhưng cũng thuộc loại này. Một hợp đồng đã được ký kết giữa Ban biên tập (BBT, Editorial Board) mà tôi là đại diện và Springer trước khi tờ báo ra đời. Đây chính là hợp đồng sáng lập và những người ký tên đương nhiên là những nhà sáng lập. Không ai khác có thể tự xưng hay nhảy vào đòi được quyền sáng lập”. Trong khi đó đại diện trường ĐH Tôn Đức Thắng từ chối trả lời phỏng vấn vì cho biết tòa đang thụ lý. Như vậy có thể thấy vụ kiện giữa trường ĐH Tôn Đức Thắng và GS Nguyễn Đăng Hưng sẽ chỉ xoay quanh vấn đề liệu giữa hai bên có ai vi phạm hợp đồng lao động hay không mà thôi. Chuyện tranh chấp quyền sở hữu hay quyền định đoạt tạp chí APJCEN không được đặt ra. ========================== Chuyện lùm xùm này từ rất lâu, nhưng hôm nay Lão Gàn mới đưa vào "quán zdắng" để suy ngẫm. Cái nhà ông Nguyên Vũ này nói thế mà chí lý. "Pha học" hay không "pha học" thì cái zdấn đề ló lằm ở chỗ chất lượng bài viết, chứ không phải là do cái danh của tờ báo. Với một tờ báo lá cải, nhưng sau đó toàn là những bài viết chất lượng về những vấn đề khoa học kỹ thuật nóng thì tự nó sẽ nổi tiếng. Tức là phải có thực chất cái đã. Lão Gàn đang có tham vọng biến trang web lyhocdongphuong.org.vn thành một trang web thuần túy học thuật cao cấp trong nền tảng tri thức khoa học hiện đại.
  20. Mexico Xe tải đâm xe con, 18 người thương vong 15:12 ngày 01 tháng 09 năm 2014 Ít nhất 8 người chết và 10 người bị thương trong vụ tai nạn xảy ra tại một cao tốc ở bang Michoacan (Mexico) vào ngày hôm qua. Hiện trường vụ tai nạn giữa xe con và xe tải trên đường cao tốc tại Mexico hồi tháng 4/2014. (Ảnh: ABC News) Cơ quan bảo vệ công dân của bang Michoacan (Mexico) cho biết, vụ tai nạn xảy ra vào sáng sớm ngày Chủ nhật (theo giờ địa phương) tại km số 189 trên đường cao tốc Siglo 21, con đường nối thủ phủ bang, Morelia với thành phố Lazaro Cardenas. Vụ va chạm xảy ra giữa một chiếc xe tải và một chiếc ô tô con ở khu vực gần thị trấn Cuatro Caminos. Vụ tai nạn khiến ít nhất 8 người chết và 10 người khác bị thương. Trong số 8 nạn nhân thiệt mạng có 1 em bé, 4 phụ nữ và 3 người đàn ông. Các nạn nhân bị thương đã được đưa đến bệnh viện địa phương. Trong số đó, một số người vẫn đang trong tình trạng nguy kịch. Chưa có báo cáo cụ thể về nguyên nhân vụ tai nạn, nhưng theo nhận định sơ bộ, vụ tai nạn có thể xuất phát từ lỗi đi quá tốc độ của cả 2 phương tiện trên. Theo VOV giao thông Mỹ Máy bay rơi lộn ngược, 5 người chết thảm 15:25 ngày 01 tháng 09 năm 2014 Năm người đã thiệt mạng sau khi một chiếc máy bay loại nhỏ bị rơi gần sân bay thành phố Erie, bang Colorado, Mỹ vào hôm qua (31/8). Hiện trường vụ rơi máy bay khiến 5 người thiệt mạng gần sân bay thuộc thành phố Erie, bang Colorado, Mỹ Theo phát ngôn viên của Cơ quan vận tải quốc gia Hoa Kì (NTSB), đã có 5 người thiệt mạng trong một vụ rơi máy bay loại nhỏ ở gần sân bay thành phố Erie, bang Colorado, Mỹ vào hôm qua (31/8). Chiếc máy bay mang số hiệu Piper PA-46 bất ngờ gặp nạn vào khoảng 11h50. Theo Peter Knudson, phát ngôn viên của NTSB cho biết, vụ tai nạn đã cướp đi sinh mạng của cả 5 người trên máy bay. Trong đó, 3 người tử vong tại chỗ, 2 người được đưa tới bệnh viên nhưng cũng không qua khỏi không lâu sau đó. Cảnh sát thành phố Erie cho biết, chiếc máy bay chở 5 người đã bị rơi cách vài trăm mét về phía Tây Bắc của đường băng nhưng vẫn chưa xác định được máy bay gặp nạn là do cất cánh hay đang cố gắng hạ cánh. “Chúng tôi nghe thấy tiếng gió thổi mạnh, kèm theo là một thứ âm thanh ù ù và một tiếng va chạm rất lớn. Chúng tôi biết là đã xảy ra một vụ tai nạn”, một nhân chứng có mặt gần sân bay cho biết. “Đó là một chiếc máy bay bị lộn ngược và một số người đã cố gắng bò ra khỏi máy bay. Dù chỉ đứng từ xa quan sát nhưng tôi cũng có thể nhìn thấy họ gặp chấn thương vô cùng tồi tệ”. Theo thống kê của bang Colorado, sân bay gần thành phố Erie đã xảy ra nhiều vụ tai nạn máy bay. Trong năm 2012 và 2013 đã xảy ra 3 vụ tai nạn máy bay, nhưng may mắn là không có thiệt hại về người. Ca tử vong cuối cùng tại sân bay là vào tháng 5/2011, khi phi công Christian R.Hansen (64 tuổi) bất ngờ lên cơn đau tim và khiến máy bay rơi với tốc độ tự do. Hiện tại, cảnh sát thành phố Erie vẫn đang nỗ lực điều tra nguyên nhân của vụ tai nạn và xác định danh tính của những nạn nhân xấu số. Theo VOV giao thông
  21. Nổ lớn đánh sập chung cư 4 tầng ở Paris Chủ Nhật, 31/08/2014 - 18:45 (Dân trí) - 2 người đã thiệt mạng, nhiều người mất tích và hàng chục người bị thương trong vụ nổ khiến một tòa nhà chung cư 4 tầng ở ngoại ô Paris, Pháp, bị đánh sập vào ngày 31/8. Người phát ngôn của cơ quan cứu hỏa Pháp cho biết các nhân viên cứu hộ đang bới trong đống đổ nát để tìm kiếm ước tính 9 người, trong đó có 2 trẻ em, hiện mất tích. Hiện vẫn chưa biết có bao nhiêu người trong tòa nhà khi vụ nổ xảy ra. Vụ nổ đã làm rung chuyển con phố ở ngoại ô Rosny-sous-Bois, đông bắc Paris ngay trước 8h sáng ngày 31/8. Một số người được hi vọng có thể đã đi nghỉ hè. Bộ trưởng Nội vụ Pháp Bernard Cazeneuve và cảnh sát cho biết nguyên nhân vụ nổ có thể là do rò rỉ khí gas. Gabriel Plus, chỉ huy đội cứu hỏa, cho biết có mùi gas ở hiện trường. Tuy nhiên ông không kết luận khí gas có liên quan trực tiếp tới thảm họa. Trong số những người thiệt mạng có một em bé 8 tuổi và một cụ già. Lực của vụ nổ khiến các tòa nhà cách đó cả 100m rung chuyển. “Nhà tôi bị rung lên, chúng tôi đều run rẩy sợ hãi”, Pauline, một người dân ở đó cho biết. Vụ nổ lớn tới nỗi “tai chúng tôi ù đi”, cô cho biết thêm. Một số khác chạy ra phố để giúp đỡ các nạn nhân Ghislaine Poletto, 55 tuổi, sống cách đó khoảng 50km cho biết bà “vội mặc quần áo” và nhanh chóng tới hiện trường để cùng mọi người “cố gắng đưa 2 em nhỏ ra ngoài”. Giới chức trách đã dùng một ngôi trường gần đó để cho gia đình các nạn nhân trong vụ nổ ở tạm. Phó thị trưởng Serge Deneulin cho biết tòa nhà được xây từ những năm 1970 và “hoàn toàn tốt”. Thêm một số hình ảnh về vụ nổ: Vũ Quý Theo AFP, Independent
  22. Hồng Kông: Bắc Kinh chỉ định ứng viên lãnh đạo, quận trung tâm bị dọa chiếm Chủ Nhật, 31/08/2014 - 17:42 (Dân trí) - Trung Quốc hôm nay 31/8 khẳng định quyền chỉ định ứng viên cho vị trí lãnh đạo kế tiếp của Hồng Kông, khiến những người phản đối cho biết sẽ thực hiện đe dọa chiếm quận tài chính trung tâm của đặc khu này. Lãnh đạo Trung Quốc họp bàn về tương lai chính trị Hồng Kông Cảnh sát chuẩn bị hàng rào chắn bên ngoài các văn phòng chính quyền vào ngày hôm nay 31/8. Ban thường vụ quốc hội Trung Quốc sau một tuần nhóm họp đã quyết định trưởng đặc khu tiếp theo của Hồng Kông sẽ được bầu bằng phiếu phổ thông vào năm 2017, tuy nhiên, các ứng viên phải giành được sự ủng hộ quá bán của một “ủy ban đại diện đề cử”. Những người phản đối tại Hồng Kông cho rằng điều này có nghĩa là Bắc Kinh vẫn sẽ có thể đảm bảo được ảnh hưởng của mình và loại bỏ được các nhân vật đối lập. Nhóm “Chiếm trung tâm” tuyên bố sẽ thực hiện đe dọa chiếm quận tài chính trung tâm của Hồng Kông để phản đối. Tuy nhiên, ngày tiến hành chưa được đưa ra. “Đây là ngày đen tối và đau lòng nhất cho nền dân chủ Hồng Kông”, Ronny Tong, thuộc Đảng dân sự sụt sùi trên kênh truyền hình cáp địa phương. Hãng thông tấn Trung Quốc Tân Hoa xã dẫn quyết định của giới chức Trung Quốc, lý giải: “Phải giữ vững nguyên tắc, trưởng đặc khu phải là người yêu đất nước và yêu Hồng Kông”. Những người muốn có quyền tự do hơn trong lựa chọn trưởng đặc khu tiến hành nhiều cuộc biểu tình trong thời gian qua. Tân Hoa xã cũng cho biết quyết định Ủy ban đề cử sẽ chọn 2 đến 3 ứng viên đã được nhất loạt thông qua tại Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc. Li Fei, thành viên quốc hội Trung Quốc, phủ nhận yêu cầu của những người phản đối, cho biết “xã hội Hồng Kông đã mất quá nhiều thời gian bàn luận về điều không có thực”. Ông cho rằng trưởng đặc khu Hồng Kông phải trung thành với đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như đất nước và thành phố Hồng K ông. Anh trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc vào ngày1/7/1997 theo thỏa thuận “một đất nước, hai chế độ”, cho phép người dân có các quyền tự do dân sự, trong đó có tự do ngôn luận và quyền biểu tình. Những người ủng hộ chính phủ trung ương cũng tiến hành các cuộc tuần hành ở Hồng Kông. Kể từ đó, trưởng đặc khu được một ủy ban 1.200 thành viên ủng hộ Bắc Kinh lựa chọn. Trung Quốc đã cam kết tiến hành bỏ phiếu phổ thông bầu trưởng đặc khu vào năm 2017, nhưng lại kiểm soát chặt việc lựa chọn các ứng viên. Những người phản đối đã tiến hành một cuộc tuần hành lớn hồi tháng 7, đòi có tiếng nói lớn hơn trong việc lựa chọn lãnh đạo của họ. Tháng sau, hàng chục ngàn người đã biểu tình phản đối chiến dịch “Chiếm trung tâm”. Sự kiện do Liên minh hòa bình và dân chủ (APD) ủng hộ chính phủ Trung Quốc tiến hành. Tân Hoa xã vào sớm ngày thứ sáu vừa qua đã đăng tải bài báo với lời lẽ mạnh mẽ, cho rằng chính phủ trung ương có “quyền toàn diện” với Hồng Kông và “sẽ luôn tham gia” vào công việc của đặc khu này. “Trung Quốc sẽ không đè bẹp sự tự trị của Hồng Kông, nhưng các nhóm chống chính phủ trung ương nên từ bỏ ảo tưởng Hồng Kông được tự trị hoàn toàn”, bài báo cho biết. Trung Anh Tổng hợp
  23. Ai Cập:Xe buýt bốc cháy rừng rực, 11 hành khách bị thiêu chết 13:24 ngày 31 tháng 08 năm 2014 Sau khi bị nổ lốp, chiếc xe buýt lật nhào và bốc cháy ngùn ngụt trên đường cao tốc. Vụ tai nạn khiến 11 hành khách trên xe bị thiêu chết, 5 người khác bị thương nặng. Hiện trường vụ tai nạn. Hãng thông tấn MENA (Ai Cập) cho biết ít nhất 11 người đã bị thiêu chết và 5 người khác bị thương nặng vào tối qua (30/8) khi một chiếc xe buýt nhỏ chở khách bị lật nhào và bốc cháy ngùn ngụt trên đường cao tốc ở miền Bắc tỉnh Sharpiya, Ai Cập. Thảm kịch này xảy ra trên đường cao tốc Cairo – Ismailia sau khi chiếc lốp trước bên trái của chiếc xe buýt bất ngờ bị nổ. Nhận tin báo, các nhân viên cứu hỏa và xe cứu thương đã nhanh chóng có mặt và giải cứu 5 hành khách bị thương sau khi cắt cánh cửa ra ngoài của chiếc xe. Tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra phổ biến ở Ai Cập do đường xá không được bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên và ý thức chấp hành luật giao thông của người dân còn kém. Tuần trước, khoảng 33 người đã thiệt mạng và hơn 40 người khác bị thương khi hai chiếc xe buýt xảy ra va chạm trên đường cao tốc gần thành phố nghỉ mát Sharm El-Sheikh ở Nam Sinai của Ai Cập. Gần đây nhất, vào rạng sáng ngày 26/8, 19 người đã thiệt mạng và 12 người khác bị thương khi hai xe buýt nhỏ đâm vào nhau và rơi xuống một kênh thủy lợi ở tỉnh Luxor, miền nam Ai Cập. Theo VOV giao thông
  24. Mỹ: Phi công bất tỉnh, máy bay rơi xuống Đại Tây Dương Chủ Nhật, 31/08/2014 - 09:24 (Dân trí) - Bộ chỉ huy phòng không Bắc Mỹ đã phái 2 chiến đấu cơ khi một máy bay loại nhỏ bay vào vùng cấm bay trên Washington do phi công bất tỉnh. Máy bay sau đó hết nhiên liệu, đâm xuống Đại Tây Dương. Một chiếc máy bay giống với Cirrus SR20. Máy bay một động cơ Cirrus SR20 cất cánh từ sân bay Waukesha ở Wisconsin và dự kiến bay tới sân bay khu vực Manassas của Virginia. Máy bay đã bị hai chiến đấu cơ F-16 của Bộ chỉ huy phòng không Bắc Mỹ (NORAD) ngăn chặn khi bay vào vùng cấm trên bầu trời thủ đô Washington vào chiều thứ bảy. Phi công trên chiến đấu cơ F-16 sau đó phát hiện phi công trên máy bay loại nhỏ Cirrus SR20 bị bất tỉnh. Sau đó, máy bay F-16 vẫn tiếp tục hộ tống chiếc Cirrus SR20 thêm hơn 200km nữa trước khi máy bay Cirrus SR20 bị hết nhiên liệu và đâm xuống gần đảo Wallops trên Đại Tây Dương, cách bờ biển Virginia khoảng 80km. Phi công trên máy bay Cirrus SR20 chưa được xác định danh tính song được biết máy bay được đăng ký ở Brookfield, bang Wisconsin và cất cánh từ sân bay Waukesha của bang này. Hiện NORAD đang hỗ trợ Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ tìm kiếm xác máy bay. Cơ quan an toàn hàng không Mỹ cho biết vụ việc sẽ được điều tra. Trong diễn biến khác, cũng trong ngày 30/8, 2 người đã thiệt mạng khi máy bay loại nhỏ một động cơ Cessna 177 rơi xuống khu dân cư trong thành phố Curitiba, miền nam Brazil. Được biết trên máy bay có 4 người và nguyên nhân rơi được cho là do động cơ gặp trục trặc. Trung Anh Tổng hợp
  25. Người Trung Quốc ở Iraq 30/08/2014 18:22 (GMT + 7) TTCT - Tại sao Trung Quốc lại sớm lên tiếng tán đồng Mỹ không kích Iraq song lại hục hặc với Mỹ chuyện Thủ tướng Nouri Maliki? 11 năm sau khi chế độ độc tài của Saddam Hussein cáo chung, mọi thứ đều đảo lộn ở đây. Công ty Trung Quốc khai thác dầu tại Iraq bằng kỹ thuật không quá phức tạp - Ảnh: New York Times Tối thứ năm 7-8 (sáng thứ sáu giờ Bắc Kinh), Tổng thống Obama từ phòng dạ tiệc Nhà Trắng loan báo: “Hôm nay, tôi đã cho phép hai chiến dịch quân sự ở Iraq, các cuộc không kích nhắm mục tiêu đã chọn nhằm bảo vệ nhân viên người Mỹ, và mục đích nhân đạo nhằm giúp cứu hàng ngàn thường dân Iraq đang bị kẹt trên một ngọn núi không chút thức ăn, nước uống và đang đối diện với cái chết chắc chắn”. Hôm sau, China Daily cho biết: “Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm thứ sáu đã nói với China Daily trước khi có các cuộc không kích rằng Bắc Kinh đã chọn một “thái độ mở” đối với mọi hành động nào nhằm tạo thuận lợi cho việc đảm bảo an ninh, ổn định ở Iraq và với điều kiện tiên quyết là tôn trọng chủ quyền của Iraq… Bộ Ngoại giao cho biết thêm rằng Trung Quốc hi vọng Iraq sẽ sớm trở lại ổn định và bình thường”. Chi tiết “trước khi có các cuộc không kích” trong bản tin trên rất đáng chú ý. Có phải do Trung Quốc được Mỹ báo trước? Không! Việc Mỹ sửa soạn không kích Iraq trở lại là việc có thể dự đoán, trước đà tiến như vũ bão của Nhà nước Hồi giáo (IS). CNN ngày 27-6 đã bình luận rằng chuyện Mỹ không kích Iraq để giải cứu Iraq khỏi IS là nhất định rồi, vấn đề là chờ đến khi có một chính phủ mở rộng được thành lập. Coi như một đòn cân não buộc Thủ tướng Maliki sớm rời nhiệm sở sau hai nhiệm kỳ. Thành ra, chuyện “Bộ Ngoại giao Trung Quốc phát biểu với China Daily trước các cuộc không kích” chỉ là một thủ thuật ngôn ngữ trịch thượng, ý nói “chúng tôi bật đèn xanh cho các người đấy nhé”, kèm theo nhấn mạnh “với điều kiện tiên quyết là tôn trọng chủ quyền của Iraq” hàm chứa một mâu thuẫn với Mỹ về số phận ông Maliki. Phần của "kẻ đến sau" Sở dĩ Trung Quốc ủng hộ việc Mỹ quay trở lại Iraq là do Trung Quốc có rất nhiều lợi ích tại quốc gia vùng Vịnh này. Mới hôm 12-8 đây thôi, khi nội tình Iraq còn chao đảo vì Thủ tướng Maliki chưa chịu ra đi, thì China Daily chạy tít: “Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC) hoàn thành đường ống dẫn dầu Iraq bất chấp xung đột” và đưa chi tiết: “CNPC, nhà sản xuất dầu khí lớn nhất đất nước, hôm qua cho biết đã hoàn thành một đường ống xuất khẩu dầu thô tại Iraq. Đường ống dẫn dầu này là dự án xuất khẩu dầu thô đầu tiên của Iraq tái thiết sau chiến tranh, sẽ cải thiện hợp tác giữa Trung Quốc và Iraq trong lĩnh vực năng lượng… Đường ống dẫn dầu mới, có công suất vận chuyển hằng năm là 50 triệu tấn, sẽ giúp các công ty dẫn dầu thô từ các mỏ dầu Halfaya và Burzugan ở miền nam Iraq đến cảng Al-Fao. CNPC hoạt động ở Halfaya, hiện đạt sản lượng 106.000 thùng dầu/ngày, nhưng mục tiêu đề ra sau sáu năm tới là 535.000 thùng/ngày. Đường ống dẫn dầu mới dài 272km này là một liên doanh giữa CNPC và CNOOC… CNOOC, nhà phát triển dầu khí lớn thứ ba ở Trung Quốc, cũng đang hoạt động ở khu vực Burzugan”. Gọi là “đường ống dẫn dầu mới” do lẽ đường ống dẫn dầu cũ được xây từ những năm 1970 với công suất 200.000 thùng/ngày đã bị hư hại trong cuộc chiến tranh Iran - Iraq 1980-1988. Các hãng dầu Trung Quốc không chỉ mở đường ống dẫn dầu. Hôm 22-7, khi chiến sự với IS đang lên đến cao điểm, China Daily loan tin: “Iraq cho biết đã thông qua một hợp đồng 607 triệu USD với Công ty Đường ống dầu khí Trung Quốc (CPP) để xây dựng một kho chứa dầu mỏ gần Nassiriya ở phía nam Iraq”. Ở Iraq - hậu Saddam, song song với tham gia đấu thầu khai thác dầu mỏ từ năm 2009, Trung Quốc còn tập trung khai thác cơ sở hạ tầng xuất khẩu vốn là rào cản chính đối với các nước thành viên OPEC trong việc giữ xuất khẩu ổn định. Chiến sự ảnh hưởng đến các công ty Trung Quốc, theo China Daily, khi hơn 1.000 công nhân Trung Quốc ở miền bắc Iraq đã được sơ tán trên tổng số 10.000 người ở Iraq, còn các doanh nghiệp Trung Quốc ở phía nam, bao gồm cả các dự án trong tỉnh Maysan, làm việc bình thường. Từ Baghdad, Tim Arango của New York Times mô tả cách các công ty dầu hỏa Trung Quốc “phá giá” đầu tư vào Iraq như thế nào: “Các chuyên gia năng lượng quốc tế cho biết Trung Quốc có một lợi thế cạnh tranh so với các công ty dầu phương Tây tại Iraq. Họ lưu ý rằng không giống như nhiều công ty dầu khí phương Tây, người Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận các hợp đồng dịch vụ với chi phí cho mỗi thùng dầu rất thấp mà không cần có hứa hẹn gì về quyền khai thác các nguồn dầu dự trữ trong tương lai. Trong khi các công ty dầu tư nhân Âu - Mỹ cần phải liệt kê trữ lượng dầu trên sổ sách kế toán của họ để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển của các cổ đông, các công ty dầu Trung Quốc không cần phải trả lời câu hỏi đó cho các cổ đông”. Lợi thế vô song đó đến từ nguồn vốn “không đáy” của “chủ nợ thế giới”. Badhr Jafar, chủ tịch của Crescent Petroleum - một công ty dầu khí độc lập có trụ sở tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất và là một nhà sản xuất khí đốt lớn ở Iraq, phát biểu: “Họ cung cấp rất nhiều vốn và sẵn sàng để có được dầu một cách nhanh chóng bất chấp rủi ro. Họ không cần phải đi qua trung tâm tài chính thế giới để huy động vốn mà làm việc”. Nhờ đó, theo nhấn mạnh của Tim Arango, các công ty Trung Quốc và công nhân của họ dễ dàng giành chiến thắng trong các vụ đấu thầu khai thác, miễn là đừng có đòi hỏi trình độ kỹ thuật quá phức tạp. Tim Arango còn bổ sung lợi thế “bẩm sinh” của các công ty dầu Trung Quốc mà các công ty dầu Âu - Mỹ không thể nào có: “Tình hình an ninh không ổn định có thể khiến nhân viên gặp nguy hiểm. Một số công ty như Statoil của Na Uy đã bỏ đi hoặc cắt giảm hoạt động của mình. Tuy nhiên, Trung Quốc, vốn là đối tác với các công ty châu Âu khác như BP (Anh) và công ty dầu mỏ của Thổ Nhĩ Kỳ, đã lấp đầy khoảng trống. Và họ được hạnh phúc để tập trung vào dầu mà không can dự vào các vấn đề khác của địa phương. Một quan chức Bộ Dầu Iraq cho biết: Người Trung Quốc rất đơn giản. Họ là những người thực tế. Họ chẳng dính dáng gì tới chính trị hay tôn giáo. Họ chỉ việc ăn và ngủ”. Kẻ thù chung Còn một lý do sống còn khác khiến Bắc Kinh tán đồng việc Mỹ không kích IS ở Iraq là do IS đang có liên hệ với các tổ chức Hồi giáo quá khích ở Tân Cương. Bắc Kinh đã nhiều lần tố cáo rằng các tay súng Hồi giáo Tân Cương đang tham chiến ở Iraq. Một khi “rảnh tay” ở Iraq, IS sẽ tham chiến ở Tân Cương là chuyện có thể dự kiến. Cùng hòa giọng với China Daily, cũng hôm 8-8, tuần báo Phượng Hoàng, một tạp chí tin tức của Hong Kong được phát hành rộng rãi ở Trung Quốc, nêu bật mối đe dọa của IS đối với Trung Quốc. Theo tạp chí Foreign Policy 11-8, bài báo này được đưa lại rộng rãi trên các trang web tin tức của Trung Quốc khiến người dân “bình thường” trước kia còn cho rằng các cuộc thảm sát của IS ở Iraq là xa xôi, nay cảm thấy sát rạt trước cửa nhà mình. Bài báo này trích phát biểu hôm 4-7-2014 tại Mosul, Iraq, của lãnh đạo IS là Abu Bakr Al-Baghdadi, theo đó ông này cáo buộc rằng người Hồi giáo đang bị cầm tỏa ở Trung Quốc, Ấn Độ và hơn một chục quốc gia khác, đang chờ IS cứu viện. Tuần báo Phượng Hoàng lưu ý chi tiết Trung Quốc được đề cập đầu tiên trong danh sách của Giáo vương Baghdadi, cùng một bản đồ gọi là lãnh thổ mà IS lên kế hoạch chiếm trong năm năm tới, trong đó bao gồm một phần quan trọng của Tân Cương. Chuyện báo chí Trung Quốc “nặn ra” tùy thích những cáo buộc hay quả quyết để giật dây dư luận là điều không xa lạ, như đã và sẽ còn thấy trên biển Đông. Từ đó có thể hiểu tại sao Trung Quốc tán đồng việc Mỹ không kích IS ở Iraq. Mỹ và Trung Quốc có thể đang tranh giành nhau Thái Bình Dương, song vẫn có một kẻ thù chung là khủng bố Hồi giáo, và nay cụ thể là IS ở Iraq. Xúc ốc cò xơi! Tai họa ngày nay xuất phát từ hai cuộc chiến tranh Iraq. Năm 2003, khi loan báo chiến thắng Iraq, tổng thống Bush “con” đâu ngờ rằng sẽ có ngày người đã từng chống kịch liệt chiến tranh Iraq là ông Obama nay lại phải vất vả tung máy bay F-18 trở lại Iraq từ tàu sân bay mang tên tổng thống Bush “bố”, và rằng nay Trung Quốc đã nhảy vào Iraq làm ăn và trúng đậm! Russ, một độc giả của New York Times từ Monticello, Florida, chua chát phản hồi bài phóng sự của Tim Arango: “Hóa ra chúng ta vay bạc tỉ từ Trung Quốc, hàng ngàn người đã chết trong một cuộc chiến tranh không cần thiết, mà kết quả là Mỹ cung cấp và bảo vệ một nguồn cung cấp năng lượng mới cho Trung Quốc, để cho họ sản xuất chiếm chỗ của chúng ta. Trong khi đó, chúng tôi đã đặt các đồng minh của Iran lên nắm quyền ở Iraq, cho phép việc chuyển giao vũ khí và máy bay chiến đấu để bảo vệ kẻ thù của chúng ta là chế độ Assad ở Syria, mở rộng ảnh hưởng của Iran, giảm chi phí quốc phòng của Iran (với việc Saddam ra đi)… Có vẻ như Bush, Cheney, Rumsfeld, Wolfowitz đã thiết kế một thất bại chiến lược quan trọng cho nước Mỹ: tổn thất nhân mạng, khả năng quân sự, hàng tỉ đôla, ảnh hưởng và cả sự an toàn! Khi nào thì Bush, Cheney, Rumsfeld và Wolfowitz sẽ được đề cử cho các giải thưởng mà họ xứng đáng?”… Có lẽ người lao động Trung Quốc ở Iraq chỉ biết có “ăn và ngủ” như Tim Arango nghĩ, song những “ông chủ” ở Bắc Kinh lại không thế! Ngay giữa lúc dầu sôi lửa bỏng bên ngoài Baghdad vào đầu tháng 7, một đặc phái viên của Trung Quốc tên Wu Sike đã đến Iraq và đưa ra một thông điệp ủng hộ “các nỗ lực của Iraq trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập và đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố”. Wu cam kết “Trung Quốc tiếp tục hỗ trợ chính trị, tinh thần và vật chất đối với chính phủ của ông Maliki”. Việc Trung Quốc ra mặt “động viên” Thủ tướng Maliki “bảo vệ chủ quyền quốc gia, độc lập” trước cả “đấu tranh chống khủng bố” vào lúc mà Mỹ đang khản cổ kêu gọi ông này mở rộng chính phủ cho các thành phần khác vào chẳng khác gì xúi ông này ở lại càng lâu càng tốt, đã có Bắc Kinh đứng sau! Bởi thế, hôm 8-8, trả lời phỏng vấn của “ông thế giới phẳng” Thomas Friedman, Tổng thống Obama mới trách rằng: “Trung Quốc, vốn hưởng lợi nhiều nhất về kinh tế từ chiến tranh Iraq, nên gánh vác chung với cộng đồng quốc tế gánh nặng Iraq”, China Daily 13-8 thuật lại vụ việc và hỏi ngược lại: “Trung Quốc hưởng lợi như thế có gì sai không?”! HỮU NGHỊ =============== Ngày xưa, khi ông SD Hussen bị kết án tử hình, Lão Gàn là người công khai trên mạng, tỏ ý lấy làm tiếc cho quyết định này của chính phủ Iraq và đồng minh Hoa Kỳ. Lão Gàn đã có lời khuyên công khai trên mạng rằng thì là mà: nếu tử hình ông SD Hussen, mọi chuyện sẽ rất rắc rối về sau. Đến nay quả nhiên đúng như vậy. Tất nhiên, cái nhìn mang màu sắc trực quan và cái nhìn từ Lý học có một khoảng cách rất lớn. Nhưng thôi, mọi chuyện đã rồi theo định mệnh. Lão Gàn cũng chỉ "chém gió, đập ruồi" sau những tiệc nhậu chuối xanh, muối ớt trong cái lò gạch làng Vũ Đại. Bây giờ là cái hiện tại nó vốn dĩ như thế. Dạ! Cứ theo Lão Gàn thì hổng có gì sai, khi chú Ba Tàu sài dầu hỏa ở Iraq. Nhưng cái zdấn đề còn lại là: "gánh vác chung với cộng đồng quốc tế gánh nặng Iraq" mới là cái zdấn đề được đặt ra. Không chỉ vậy mà còn phải thể hiện vai trò một siêu cường có trách nhiệm khi ứng xử trong quan hệ quốc tế. Nhưng đằng này chú Ba chỉ nghĩ đến lợi và ứng xử theo kiểu "sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi". Tuy nó hơi đểu một tý, nhưng vẫn chấp nhận được. Đằng này còn ra mặt đòi chia chác quyền lợi lớn hơn với Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương, thách thức quyền lợi Hoa Kỳ ở đây với những tham vọng lãnh thổ và biển đảo. Họ chấm dứt giai đoạn "ẩn mình chờ thời" sớm quá. Do đó, trên thực tế, họ đã chấm dứt quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ. Dạ vơơng! Đấy mới là cái zdấn đề zdĩ mô cần bàn. Do đó, cho nên, Hoa kỳ phải nhanh chóng rút quân khỏi Iraq và Afganixtan để kéo quân về châu Á - Tây Thái Bình Dương vì vị đồng minh tráo trở. Tất nhiên, mặc dù chưa ra khỏi cái lò gạch làng Vũ Đại, nhưng Lão Gàn dễ dàng nhận thấy điều này với những lời tiên tri. Đó cũng là nguyên nhân để ngài Obama tiếp đón một cách hờ hững với ngài Tập Cận Bình ở một trang trại nghỉ dưỡng. Tất nhiên, cũng không nằm ngoài lời tiên tri của Lão Gàn (Khoe một tý). Đấy là vài cái zdí zdụ để thấy rằng: chú Ba đang "mất cả chì lẫn chài". Cái zdấn đề dầu hỏa ở Iraq, cũng chỉ là một cái zdí zdụ nữa cho thêm phần sinh động cho "giấc mộng Trung Hoa" nó đi về đâu. "Giấc mộng Trung Hoa" là một mục đích có tính đại cuộc của chú ba Tàu và họ cũng hay nói tới cái "đại cuộc". Nhưng cái zdấn đề còn lại để đặt ra cái zdấn đề, chính là cái zdấn đề tầm nhìn cái "đại cuộc" đó đến đâu. Nếu tầm nhìn của Lão gàn không vượt quá giới hạn cái lò gạch làng Vũ Đại, thì tầm nhìn của chú ba Tàu chắc có hơn thì cũng không vượt quá tường rào nhà Bá Kiến, cũng quanh quẩn trong làng Vũ Đại cả. ================= PS: Tham vọng gì cũng nên vừa phải. Tham vọng quá đến mức đòi làm chủ cả con cá vàng thì quay trở về cái máng lợn.