Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.238
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2.212

Everything posted by Thiên Sứ

  1. Đúng như vậy! Cảm ơn longphibaccai. Vấn đề là người nhập dự liệu như thế nào vào cái phần mềm này.
  2. Báo phương Tây có tin về tài sản của lãnh đạo cấp cao TQ từ đâu? Hồng Anh 13/09/2014 09:25 (Soha.vn) - Đang có nhiều đồn đoán dấy lên về việc Rui Chenggang đã cung cấp thông tin về tài sản của nhiều lãnh đạo cấp cao Trung Quốc cho truyền thông phương Tây. Rui Chenggang Theo WantChina Times, trong vòng 6 tháng trước khi Đại hội đảng lần thứ 18 của Trung Quốc diễn ra vào tháng 11/202, Bloomberg đã công bố báo cáo nêu rõ đại gia đình của ông Tập Cận Bình đang sở hữu khối tài sản trị giá 376 triệu USD. Trong thời điểm đó, New York Times cũng đăng tải thông tin về "gia tài bí mật" trị giá ít nhật 2,7 tỉ USD của gia đình cựu Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Tuy nhiên, giới chức Trung Quốc đã bác bỏ những thông tin này và khẳng định đây chỉ là "chiến dịch bôi nhọ". Tiếp sau đó, khi Chu Vĩnh Khang bị chính thức điều tra, hàng loạt các thông tin liên quan tới tài sản và đời tư của ông này cũng xuất hiện lan tràn trên báo chí. Tạp chí Boxun cho hay, Rui Chengang, người dẫn chương trình bản tin kinh tế, một trong những chương trình rất được quan tâm trên Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV, đã sử dụng quan hệ của mình với các nhà báo phương Tây để tạo điều kiện cho Lệnh Kế Hoạch, một thân tín của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và vợ ông này, Gu Liping, cung cấp ra ngoài nhiều thông tin. Theo Boxun, Gu đã thừa nhận việc này với cơ quan chống tham nhũng của Trung Quốc, còn Lệnh thì phủ nhận mình có liên quan. Về phần mình, Rui Chenggang đã bất ngờ bị bắt giữ vào tháng 7. Các thông tin đồn đoán về số phận của Rui bắt đầu sau khi "người bảo trợ lâu năm" của ông này, Guo Zhenxi, giám đốc kênh tin tức tài chính của CCTV, bị bắt giữ vì tội danh nhận hối lộ. Các bản báo cáo cho thấy, việc Rui bị bắt giữ có liên quan tới vụ việc của Guo. BÀI LIÊN QUAN Dân TQ mắng đại gia tặng 7.500 tỷ cho Harvard là "giặc bán nước" Mỹ 'nhắn gửi' TQ: Bận trăm mối nhưng không xao lãng trục châu Á Báo Pháp: Giới cầm quyền TQ chuẩn bị đối mặt với "thời tiết xấu" Sau khi Rui Chenggang bị phát hiện là đồng sáng lập công ty truyền thông Pegasus vào năm 2002 và nắm giữ khoảng 7,92% - 36% cổ phiếu của công ty này trong 8 năm, thì nhiều nguồn tin cho rằng, Rui còn thu lợi cho cá nhân bằng việc sử dụng nguồn thông tin của CCTV. Pegasus đã được tập đoàn truyền thông Mỹ Edelman mua lại năm 2007 và từ năm 2009 - 2010, đã coi CCTV là một trong những khách hàng của mình. Trong thời điểm này, Rui vừa nắm giữ cổ phần ở đây, vừa làm việc cho CCTV. Nhiều nguồn thông tin còn cho rằng, chính Rui đã đưa thông tin về tài sản của các nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc, kể cả Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, cho truyền thông phương Tây. Tuy nhiên, các thông tin này vẫn chưa được kiểm chứng. Tạp chí Boxun cho hay, các điều tra viên đang xác định xem hành động của Rui là vô tình, hay Rui được trả tiền để làm nó. Rui bắt đầu làm việc tại CCTV từ năm 2003 và được coi là "Nhà báo lớn nhất Trung Quốc", khi chương trình của ông này được tới 300 triệu người xem mỗi tối. Ông này cũng đã thực hiện phỏng vấn hơn 300 quan chức cấp cao, theo trang mạng The nanfang.com. Rui đã nhiều lần công khai ca ngợi hệ thống chính trị - kinh tế Trung Quốc, và cũng không ít lần gây tranh cãi vì những phát biểu của mình. Đặc biệt, năm 2010, trong một cuộc họp báo của Tổng thống Mỹ Barack Obama bên kề hội nghị thượng đỉnh G20, khi ông Obama muốn một câu hỏi từ báo chí Hàn Quốc, Rui đã giơ tay và nói: “Tôi thật ra là người Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ tôi đại diện toàn bộ châu Á, một phần của gia đình phía bên này thế giới" =================== Ngày xưa, hồi còn gà tồ, Lão thường thấy mấy tay anh chị phát biểu: "Không có quả tạ, khó giải quyết!". Ngài Tập lấy đâu ra tiền nhiều thế? Không có "cơ sở khoa học". Muốn chứng minh ngài Tập có chỉ 1 triệu dollar thui, phải có 'di vật khảo cổ" tìm thấy. Nhưng ai tìm chứ lão Gàn thì không rùi ạ!
  3. Đến nay - sau hơn hai năm 2012 / 2014 - mọi chuyện đã rõ ràng hơn: Chính người Trung Quốc cũng thừa nhận thuyết ADNH và bát quái không thuộc về văn minh Hán. Và dự báo của tôi về cái sự loạn cào cào của thế giới đã bắt đầu chứng nghiệm: Ngày 30. 8 2014, tại Cafe Trung Nguyên 19B Phạm Ngọc Thạch, một giáo sư tiến sĩ vật lý được nhạc sĩ Dương Thụ giới thiệu là hàng đầu về vật lý lý thuyêt của Việt Nam, phản biện tôi với luận điểm: Tất cả các lý thuyết khoa học không cần tính hợp lý, trừ toán học. Rách việc ngồi nghĩ lại thấy nản quá! Giáo sư được coi là hàng đầu còn như vậy thì để thuyết phục loại hàng hai trở xuống đến những dạng Chí Phèo , Thị Nở thì thua rùi. Không cần tính hợp lý trong một hệ thống lý thuyết khoa hoc?! Vậy thì cái cõi đời này còn cần tính hợp lý không nhỉ! Oải quá!
  4. Hai chiếc máy bay Mỹ bị rơi tại phía Tây Thái Bình Dương (Vietnam+) lúc : 12/09/14 21:18 AFP đưa tin, Hải quân Mỹ ngày 12/9 cho biết hai máy bay F/A-18 Hornet của nước này đã bị rơi ở phía Tây Thái Bình Dương và một trong hai phi công đang mất tích. Theo thông báo của Hạm đội 7 thuộc Hải quân Mỹ, vụ việc xảy ra lúc 17 giờ 40 phút theo giờ địa phương. Cả hai chiếc Hornet chưa được tìm thấy này đều thuộc Không đoàn 17 triển khai trên tàu sân bay USS Carl Vinson. Một phi công đã được cứu và đang được chăm sóc y tế, trong khi lực lượng cứu hộ đang tìm kiếm viên phi công còn lại. Hiện chưa biết đích xác địa điểm xảy ra vụ việc. Trong báo cáo sơ bộ, Hạm đội 7 cho biết hai máy bay trên được phiên chế vào Phi đội tiêm kích 94 và Phi đội tiêm kích 113. Trong khi đó, Hải quân Mỹ chỉ cho hay tàu Carl Vinson "đang thực thi nhiệm vụ trong khu vực mà Hạm đội 7 phụ trách nhằm hỗ trợ an ninh và ổn định tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương truyền thống"./. Tin liên quan Rơi máy bay cỡ nhỏ ở Mexico, ít nhất 5 người thiệt mạng 11/09/2014 Chiến đấu cơ MiG-31 của Nga bị rơi, cả hai phi công thoát nạn 04/09/2014 Mỹ: Rơi máy bay tại bang Colorado, khiến 5 người thiệt mạng 01/09/2014 Rơi máy bay khiến ứng viên Tổng thống Brazil thiệt mạng 14/08/2014 ===================== Nếu cứ thống kê hết tất cả các vụ rơi máy bay thì năm nay thực sự là thảm họa của ngành hàng không.....
  5. Vũ điệu hoài nghi Trung-Ấn Thứ Sáu, 12/09/2014 - 18:13 (Dân trí) - Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ khởi động chuyến công du Nam Á đầu tiên bằng chuyến thăm dự án đầu tư mới nhất của Bắc Kinh tại Sri Lanka, dự án phát triển thành phố cảng 1,4 tỷ USD, bao gồm cả một bến du thuyền và một đường đua Công thức 1. Tất cả chỉ cách bờ biển Ấn Độ có 250km. Thủ tướng Ấn Độ Modi (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đến dự án nằm cạnh một cảng thương mại lớn khác cũng do Trung Quốc đầu tư sẽ là cách nhắc nhở rõ nhất về dấu chân kinh tế lớn mạnh của Bắc Kinh ở sân sau của Ấn Độ, ngay trước chuyến công du đầu tiên vào tuần tới của ông tới New Delhi. Mặc dù nổi tiếng với đường lối dân tộc chủ nghĩa cứng rắn, tân Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhanh chóng chìa tay với đối thủ truyền thống Trung Quốc sau khi lên nắm quyền hồi tháng 5, khi mời ông Tập sang thăm Ấn Độ. Nhưng ông Modi cũng đã tìm cách ngăn các nước láng giềng của Ấn Độ “sa” vào vòng tay của Trung Quốc, nên đã chọn Bhutan và Nepal cho chuyến công du nước ngoài đầu tiên với tư cách là Thủ tướng. Ngoài ra ông cũng chìa cành oliu cho đối thủ Pakistan. Nhưng điều đó có thể không làm Trung Quốc quá bận tâm. Ngược lại chính mối quan hệ thân thiết của ông Modi với Tokyo mới gióng hồi chuông cảnh báo ở Bắc Kinh. Giới phân tích cho rằng ông Modi có thể sẽ dùng lợi thế này của mình. Ông Modi có mối quan hệ bè bạn nồng ấm với người đồng cấp Nhật Shinzo Abe, người đã đón chào ông nồng nhiệt thậm chí ngay cả khi ông bị các cường quốc phương Tây chỉ trích vì cho rằng ông không ngăn được các cuộc bạo động tôn giáo gây chết người ở Gujarat, bang ông từng điều hành. Cả Ấn Độ và Nhật Bản đều lo ngại trước điều mà nhiều người xem là sự hiếu chiến ngày càng gia tăng trong vấn đề lãnh thổ của Bắc Kinh. Hơn nữa Washington cũng mong muốn Nhật-Ấn thiết lập hợp tác để đối trọng với Trung Quốc. “Trung Quốc lo ngại chúng tôi sẽ tiến gần hơn với Nhật và Mỹ dưới thời Modi. Họ không muốn điều đó xảy ra”, Jayadeva Ranade, giám đốc Trung tâm Phân tích và chiến lược Trung Quốc ở New Delhi cho hay. Theo Ranade, điều này có thể cho New Delhi động lực khi đàm phán với Bắc Kinh, nhất là sau khi Nhật cam kết trong chuyến công du gần đây của ông Modi rằng sẽ tăng gấp đôi đầu tư vào Ấn Độ trong vòng 5 năm tới. Hợp tác và cạnh tranh Liu Jianchao, trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc, vào tuần này cho biết ông Tập sẽ thảo luận về đầu tư vào đường sắt Ấn Độ cũng như hợp tác hạt nhân trong chuyến công du vào tuần tới. Phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn đang lộn xộn của Ấn Độ là một ưu tiên trọng yếu của chính phủ Modi. Ông Modi đã cam kết sẽ nâng cấp hệ thống xe lửa hiện nay và xây dựng đường tàu tốc độ cao đầu tiên cho Ấn Độ. Ông Liu cũng cho biết hai bên sẽ tìm kiếm thúc đẩy đàm phán về vấn đề tranh chấp biên giới trong chuyến thăm của ông Tập. Mặc dù biên giới Trung-Ấn chưa bao giờ chính thức được phân định, nhưng hai bên đã ký thỏa thuận. Giới phân tích cho rằng Bắc Kinh đang thực sự mong muốn duy trì hòa bình với nước láng giềng phía tây của mình. Theo nhà phân tích chính trị Syam Saran, Trung tâm nghiên cứu chính sách ở New Delhi, Ấn Độ, hai bên sẽ “tập trung vào những điểm chung” trong chuyến công du của ông Tập, tập trung vào thương mại, đầu tư cũng như hợp tác quốc tế. “Rõ ràng là Trung Quốc đang coi Ấn Độ dưới thời Modi là một đối tác nghiêm túc và tin cậy cũng như là một đối thủ tiềm năng”, Saran, người từng là ngoại trưởng Ấn Độ nhận định. Trung Quốc đã đưa ra những đảm bảo trước chuyến công du rằng họ không tìm cách “bao vây” Ấn Độ, nỗi lo đã có từ bấy lâu, một phần do sự thân thiết của Bắc Kinh với nước láng giềng Pakistan và đầu tư không ngừng gia tăng của họ vào Sri Lanka, Bangladesh và Maldives. “Trung Quốc coi Ấn Độ là đối tác phát triển”, ông Liu nói với các phóng viên tại Bắc Kinh. “Trung Quốc không và sẽ không bao vây Ấn Độ”. Mối quan hệ giữa các quốc gia láng giềng sở hữu vũ khí hạt nhân vẫn bao trùm bởi sự nghi kỵ, phần lớn là do di sản của cuộc chiến ngắn nhưng đẫm máu năm 1962 giữa Ấn-Trung. Nhưng Ấn Độ đang trải thảm đỏ đón ông Tập, người sẽ bắt đầu chuyến công du bằng việc ghé thăm bang quê nhà Gujarat của Thủ tướng Ấn Độ Modi vào ngày 17/9, đúng ngày sinh nhật lần thứ 64 của ông Modi. Theo báo chí Trung Quốc, ông Tập sẽ khởi động chuyến công du Nam Á vào 14/9 tới Maldives , nơi Bắc Kinh đang không ngừng mở rộng sự hiện diện của mình, khi thành lập một sứ quán hoàn chỉnh ở đây vào năm 2011. Từ đây ông sẽ tới Sri Lanka, nơi Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều và xây dựng một cảng nước sâu cùng một sân bay quốc tế trong vùng nằm giữa tuyến đường biển quốc tế đông-tây quan trọng, tuyến giao thương nhộn nhịp nhất thế giới. Kế hoạch cho một cơ sở không quân với đầu tư của Trung Quốc hiện vẫn “đóng băng” sau khi Ấn Độ bày tỏ những lo ngại riêng. Trung Quốc cũng đầu tư mạnh vào Bangladesh, rót tiền vào một trong những nhà máy than điện lớn nhất nước này cùng nhiều dự án hạ tầng quan trọng khác. Giới phê bình cho rằng chính phủ tiến nhiệm của Ấn Độ, do Đảng Quốc đại trung tả dẫn dắt, đã không đủ cứng rắn với Trung Quốc, trong khi lại bỏ quên mất các nước láng giềng Nam Á. Nhưng ông Ranade dự đoán điều đó sẽ thay đổi dưới chính phủ của Thủ tướng Modi. Ngoại trưởng Ấn Sushma Swaraj trong tuần này đã nói mối quan hệ Trung-Ấn là gồm cả “cạnh tranh và hợp tác”. “Chính phủ của ông Modi sẽ vạch ra một số đường giới hạn đỏ”, ông Ranade dự đoán. Vũ Quý Theo AFP ================= Chuyện đập ruồi của ngài Tập là chuyện "vi mô", còn chiện quan hệ Trung Ấn là chuyện "vĩ mô". Trong cái ghoàn cảnh hiện nay, ngài Tập có thể được đón tiếp rất wan trọng ở Ấn Độ, có cả kèn "bú zdích", có cả "đít cua", có cả "cary cay" kiểu Ấn....và thậm chí có cả tuyên bố chung một cách rất chung chung về quyết tâm bảo vệ hòa bình thế giới. Cuộc đón tiếp của Ấn Độ giành cho ngài Tập sẽ làm ngài cảm động hơn nhiều, so với việc ngài sang Huê Kỳ và được Tổng thống Obama đón tiếp một cách lạnh nhạt trong một trang trại ở cái bang khỉ gió gì, wên mất rùi?! Mọi chiện sẽ diễn ra y như vậy, nếu chuyến thăm của ngài Tập xẩy ra vào thời điểm này. Hãy chờ xem! Nhưng tất cả đều chỉ là hình tướng của một bản chất vấn đề: Các siêu cường đang cố gắng sắp xếp bàn cờ thế giới theo ý mình trong "canh bạc cuối cùng". Những quy luật của vũ trụ sẽ quyết định số phận của cái thế giới khốn khổ này. Bởi zdậy, cái anh nào giật tít bài báo này cũng hơi đúng đúng đấy. Hì! "Vũ điệu hoài niệm" - Í lộn - "vũ điệu hoài nghi". Nói "hoài niệm", người Ấn Độ lại nhớ đến kỷ niệm cuộc chiến biên giới 1962, cho đến nay vưỡn còn rất mơ hồ về những tuyên bố chủ quyền của cả hai bên. Chưa nói đến hàng loạt những mối quan hệ đầy khuých tạp và oái oăm giữa Tàu Ấn trong lịch sử. Cô gái Ấn Độ với ông bố Modi khó tính sẽ trang điểm lại và tham gia "canh bạc cuối cùng" - theo cách gọi của Lão Gàn -. Chỉ cuối năm nay là bắt đầu. Hãy chờ xem! Chém gió cho vui vậy, chứ Lão Gàn chẳng có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong mối quan hệ Ấn Tàu. Lão còn lo trả cái nợ đời đã. Hơn hai tỷ. Leo mựa! Số tiền đủ để người phàm chết ngất. Nhưng Lão chịu chơi lắm, Không thì đến mùa quýt ở Ghine Bitxao mới có nhà để ở.
  6. Trung Quốc bắt giữ băng trộm chuyên đột nhập nhà các quan chức 12/09/2014 10:20 (TNO) Một băng trộm ở Trung Quốc chuyên đột nhập tư gia của các quan chức tham nhũng. Nhóm tội phạm này tin rằng các nạn nhân sẽ “ngậm đắng nuốt cay” không dám báo cảnh sát vì phải kê khai quá nhiều tài sản. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đi ngang qua quan chức Trung Quốc trong một phiên họp quốc hội nước này - Ảnh: Reuters Cảnh sát Trung Quốc cho biết họ vừa bắt giữ một băng trộm đã "vét" được hàng triệu USD từ nhà của các quan chức Trung Quốc trong giai đoạn hai năm qua, theo tờ Telegraph (Anh) ngày 11.9. Băng trộm bao gồm 6 người đã “viếng thăm” tư gia của ít nhất 50 vị quan chức tại ba tỉnh ở miền trung Trung Quốc, trong giai đoạn 2010 và 2012, lấy đi hàng triệu USD tiền mặt và các thỏi vàng, Telegraph dẫn lại thông tin từ truyền thông Trung Quốc. Người đứng đầu băng trộm này là Wang Shengli (34 tuổi, ở tỉnh Hà Nam), từng ngồi tù và ra tù vào năm 2010. Trong thời gian ngồi tù, Wang đã chiêu mộ thêm 5 bạn tù để gia nhập băng trộm. Các điều tra viên cho biết băng trộm này chỉ nhắm vào những vị quan chức mà chúng tin rằng "có tham nhũng", với lý do vì những quan chức này sẽ không dám báo cảnh sát. Trước khi tiến hành bất kỳ một phi vụ nào, băng trộm này giám sát mục tiêu rất kỹ lưỡng nhiều tháng trước đó. Tuy nhiên, vào tháng 12.2012, một quan chức "mất của" đã báo cảnh sát khi bị băng trộm này đột nhập vào nhà riêng và cuỗm đi 10.000 nhân dân tệ (1.631 USD). Vài tuần sau đó, cảnh sát đã bắt giữ băng trộm, phát hiện nhiều tiền và vàng. Phúc Duy ================== Tất nhiên, băng trộm này chỉ có thể trộm ở nhà các quan từ cấp huyện giở xuống. Mần răng mà vào được nhà các quan Tàu cấp bự mà trộm được. Zdậy mà trộm được hàng triệu dollar, đủ hiểu "ruồi" trong quan chức Tàu nhiều như ...quân Nguyên. Hì! Bởi zdậy! Chỉ nội đập duồi không cũng mệt lém, ngài Tập ạ. Nhưng đã "cuoilungcop" rùi thì ngài cứ phải ngồi đấy thôi. Hì!
  7. Tin thầy phong thủy, đặt cầu thang giữa nhà Vì nghe và tin theo lời thầy phong thủy, lúc làm nhà, bác mình cứ nhất quyết bắt đặt cầu thang ở giữa nhà, không nghe lời khuyên của con cháu. Sau bao năm lăn lộn và cống hiến cho cơ quan, bác mình cũng được phân một mảnh đất 30m2, dựng tạm một cái nhà cấp 4 để cả gia đình có chỗ chui ra chui vào, không phải thuê trọ như trước nữa. Khi cậu con trai cả thông báo ý định lập gia đình riêng, bác quyết định dành số tiền tích cóp cả đời và vay mượn thêm bạn bè, anh em để xây ngôi nhà 3 tầng trên mảnh đất đó. Là cháu họ, lại làm nghề xây dựng nên tôi được bác gọi đến nhờ việc thiết kế và chỉ đạo thi công. Vì mảnh đất chỉ có vẻn vẹn 30m2 nên tôi cố gắng thiết kế để tăng diện tích cho ngôi nhà, đặt cầu thang vào góc để phòng khách tầng 1 được rộng rãi hơn. Nhà vệ sinh, bếp, cầu thang đều đặt vào trong góc. Trên tầng 2 và 3 sẽ chia mỗi tầng thành 2 phòng vì nhà bác có đông con cháu (nhà bác có 2 con trai, một con gái xây dựng gia đình đều về nhà bố mẹ đẻ ở, và các cháu ở quê lên học đại học đến ở nhờ). Ban đầu mọi người trong nhà đều tán thành phương án của tôi, vì đó là phương án hợp lí, tiết kiệm tối đa diện tích. Trong thời gian tiến hành tháo dỡ nhà để xây mới, một người quen của bác tôi ở trong miền Nam ra chơi, nghe nói anh này tuy tuổi đời còn trẻ nhưng là một thầy phong thủy rất có tiếng. Sau khi xem xét thế đất, hướng nhà, phong thủy, thì thầy phán mảnh đất đó không được tốt, vận khí xấu, cũng không nên đặt cầu thang trong góc nhà cạnh bếp mà nên đặt lui ra ngoài, vào khoảng gần giữa phòng. Như vậy mới hóa giải được vận khí không tốt cho ngôi nhà. Việc đặt cầu thang ở giữa cũng tiện cho việc chia 2 phòng ở các tầng trên hơn. Tôi cảm thấy phương án đặt cầu thang ở giữa không ổn bởi như vậy thực sự không hợp phong thủy chút nào, việc đặt cầu thang ở giữa vô tình đã chia tầng 1 thành 2 phòng, phòng khách vô tình bị thu hẹp bởi khu vệ sinh, phòng bếp và cầu thang đã chiếm một khoảng khá lớn. Tôi cũng đưa ra ý kiến của mình để bác có thể cân nhắc thiệt hơn vì làm nhà là chuyện trọng đại, cần phải cân nhắc kĩ, không thể hôm nay xây kiểu này, mai xây kiểu khác. Nhưng bác tôi quyết tâm nghe theo lời thầy phong thủy bởi là chỗ thân tình, ông này lại là thầy nổi tiếng, và bác tôi cũng khá duy tâm, cả đời mới xây được ngôi nhà cho riêng mình nên cũng không muốn có chuyện gì không hay xảy ra. Vậy là tôi phải làm theo ý bác, sửa lại bản thiết kế, đặt cầu thang lui ra phía giữa thay vì đặt trong góc. Sau khi xây xong ngôi nhà trông xấu hơn thiết kế ban đầu rất nhiều. Mỗi lần nhà bác tụ tập đông con cháu, khách khứa rồi tết nhất, mọi người đều phải trải chiếu ngồi dưới đất và vẫn cảm thấy chật chội vì chiếc cầu thang đặt không đúng chỗ nên bị vướng, che mất khoảng không gian gây cảm giác chật chội, tức mắt. Mặt sàn diện tích 30m2 không quá nhỏ mà mỗi khi bước vào nhà đều cảm giác chỉ như 22-25m2. Bác tôi cũng cảm thấy sự bất tiện này nhưng đã trót quyết như thế rồi thì đành chịu, cả nhà cũng không ai nhắc đến chuyện này mà cố gắng chịu đựng, khắc phục. Thiết nghĩ, làm nhà nghe theo phong thủy là tốt bởi ông bà ta có câu “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” nhưng trước hết phải nghĩ đến tiện ích khi ở trong căn nhà đó. Hải Thanh Mất vợ khi tin thầy phong thủyPhong thủy không có gì là mê tínPhong thủy: không phải niềm tin mù quáng mà có thờ có thiêngĐừng đẩy số phận cho thầy phong thủy Làm mát căn nhà mùa hè theo phong thủy ==================== Thấy tờ báo giật cái tít, cứ tưởng họ chỉ trích ngành phong thủy Đông phương. Hóa ra là thầy phoengshui này chê thầy phoengshui kia "dởm".
  8. Tôi cũng định đưa bài này lên diễn đàn từ mấy ngày hôm nay với những phân tích từ góc nhìn Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt. Nhưng "cơm áo gạo tiền" lấn bấn quá, nên chưa. Hôm nay thấy Phạm Hùng đưa lên. Tuy chưa phân tích gì, nhưng có thể nhận xét thế này: các nhà khoa học tinh hoa hình như bị rối trí rồi thì phải!
  9. Thế khó của Mỹ trên 3 mặt trận: Ukraine, IS, xoay trục tới châu Á Thứ Năm, 11/09/2014 - 11:15 Vào thời điểm này, Mỹ đang mất thăng bằng. Washington phải đối mặt với những thách thức tại chiến trường Syria-Iraq cũng như những thách thức ở Ukraine. Mỹ cũng không có một phản ứng rõ ràng đối với các thách thức trên. Tổng thống Mỹ Barrack Obama. Ảnh; Reuters Theo ông George Friedman, một học giả khoa học chính trị người Mỹ và là người sáng lập công ty tình báo tư nhân Stratfor, sự tiến thoái lưỡng nan kiểu như vậy không phải là vấn đề bất thường đối với một cường quốc toàn cầu. Những lợi ích toàn cầu và việc mở rộng sức mạnh của Mỹ đã tạo ra những sự kiện bất ngờ. Những sự kiện này, đặc biệt là các thách thức xuất hiện đồng thời tại các khu vực khác nhau, tạo ra sự không chắc chắn và bối rối đối với Washington. Hiện nay có hai chiến trường thực sự mà các hoạt động quân sự có nguy cơ lan rộng. Một là Ukraine và hai là khu vực giữa Syria - Iraq, nơi lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) cực đoan đã phát động các cuộc tấn công nhằm kiểm soát các khu vực nằm ở cả hai quốc gia trên. Nhìn chung, không có sự kết nối giữa 2 khu vực chiến trường này. Nga đang phải đối mặt với vấn đề ở vùng cao Caucasus và có những báo cáo cho rằng các cố vấn Chechnya đang làm việc với IS. Moskva ít có khả năng liên quan đến những gì đang xảy ra ở Syria và Iraq. Đồng thời, bất cứ thứ gì khiến cho Mỹ chuyển hướng sự chú ý khỏi Ukraine là có lợi cho Nga. Về phần mình, IS có thể sẽ phải đối đầu với Nga trong dài hạn. Tuy nhiên, vấn đề trước mắt của lực lượng Hồi giáo này là sức mạnh Mỹ, vì vậy bất cứ điều gì khiến cho Washington phân tâm là có lợi cho IS. Mỹ đã và đang hạn chế sự can dự của mình ở Trung Đông trong khi cố gắng để đối phó với cuộc khủng hoảng Ukraine. Chính quyền Obama muốn tạo ra một Iraq không có các chiến binh thánh chiến và có sự chấp nhận của Nga về một Ukraine thân phương Tây. Nhưng Washington lại không muốn triển khai lực lượng quân sự đáng kể cho một trong hai chiến trường này. Thế tiến thoái lưỡng nan của Mỹ là làm thế nào để đạt được mục tiêu của mình mà không có rủi ro. Những thách thức chưa tính đến Nhưng với những tuyên bố đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh NATO ngày 3/9, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã cam kết với ba hướng triển khai sức mạnh của Mỹ: xoay trục về châu Á, tăng cường hiện diện tại châu Âu và cuộc đấu mới với lực lượng Hồi giáo cực đoan. Tuy nhiên, những cam kết này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với chính sách đối ngoại của Washington. Trong khi đó, giới chức Mỹ thừa nhận rằng những cam kết này sẽ tạo ra những khó khăn đối với các kế hoạch cắt giảm ngân sách quốc phòng của ông Obama trước khi rời nhiệm sở vào năm 2017. Các cam kết này cũng thách thức học thuyết chủ chốt của ông Obama trong nhiệm kỳ đầu. Đó là: sử dụng công nghệ cao và hạn chế triển khai lực lượng mặt đất trong việc răn đe các đối thủ và chống khủng bố. Phiến quân IS. Sự "chất đống" các sáng kiến phòng thủ mới hiện nay đặt ra câu hỏi là ông Obama có thể cam kết mạnh mẽ tới mức nào nhằm đảo ngược sự nghi ngờ, từ châu Âu cho tới Trung Đông và châu Á, rằng nước Mỹ đang trong thời kỳ cắt giảm chi tiêu? Trong chuyến công du châu Âu vừa rồi và tới châu Á sắp tới, ông Obama sẽ đối mặt với thách thức kép: thuyết phục các đồng minh và đối tác của Mỹ rằng ông không có ý định tạo ra "khoảng trống sức mạnh" trên toàn cầu cho các đối thủ cũng như thuyết phục người dân Mỹ rằng ông có thể đối mặt với các cuộc xung đột mà không cần phải "ném" họ trở lại kỷ nguyên cam kết quân sự lớn với thương vong nặng nề. Theo nhận định của ông Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, một viện nghiên cứu uy tín tại New York (Mỹ), thì "hiện có sự chênh lệch ngày càng tăng giữa hùng biện với chính sách". Ông Richard Haass cho rằng, nếu tăng các nguồn lực cần thiết để thực hiện chính sách xoay trục về châu Á, tái cam kết tại Trung Đông và tăng cường sự hiện diện tại châu Âu thì Mỹ không thể thực hiện được nếu không chi thêm tiền. Thế giới ngày càng có nhiều đòi hỏi với Nhà Trắng so với cách đây vài năm. Chính vì thế, không có gì ngạc nhiên khi ông Obama nói rằng chưa có một chiến lược để đối phó với lực lượng khủng bố IS, và giờ đây ông cần một loạt chiến lược, trong đó mỗi chiến lược sẽ được "thiết kế" để đối phó với các thách thức mà sự phức tạp trong những năm gần đây đã tăng lên một cách đáng kinh ngạc. Đối với hơn 10.000 tay súng của IS, ông Obama phải tìm ra cách đối phó với một kiểu khủng bố mới: quyết tâm sử dụng các thủ thuật tàn bạo để chiếm lãnh thổ. Chiến dịch ném bom tại Iraq chưa đến mức tốn kém như cuộc chiến trước đây, nhưng chi phí ước tính hiện nay cũng lên tới 225 triệu USD/tháng. Theo đánh giá của ông Matthew G. Olsen, Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia Mỹ, IS không phải là "không thể đánh bại", nhưng IS chưa tạo ra mối đe dọa trực tiếp với Mỹ như al-Qaeda trước đây. IS là lực lượng tàn bạo, và để đánh bại lực lượng này cần phải có một cam kết lâu dài - một hình thức cam kết mà ông Obama rõ ràng hồi đầu năm nay vẫn chưa tính đến. Tại châu Á, ông Obama đối mặt với một kiểu thách thức hoàn toàn khác trong chiến lược xoay trục của mình, cụ thể là Trung Quốc - một cường quốc đang nổi với các nguồn lực lớn và đang khẳng định ảnh hưởng tại khu vực theo cách mà nước này chưa thực hiện trong vòng hàng trăm năm qua. Ông Obama có vẻ bất ngờ trước sự khiêu khích mà Bắc Kinh thể hiện thông qua các nỗ lực đẩy mạnh tuyên bố chủ quyền chống lại các nước láng giềng. Một cựu thành viên trong nhóm cố vấn an ninh của ông Obama thừa nhận rằng họ đã không dự đoán trước được điều này, và chắc chắn vẫn còn có thêm nhiều cuộc thảo luận về cách thức để đối phó với Trung Quốc. Theo Công Thuận Tin tức/Stratfor/TTK
  10. Thủ tướng Thái Lan dùng nước thánh và phong thủy cầu may Hồng Thủy 10/09/14 10:13 Thảo luận (0) (GDVN) - Ông Prayuth xem xét kỹ và lựa chọn thời điểm 9 giờ sáng 9/9 để "nhập trạch" trụ sở mới. Đẻ thuê thương mại ở Thái Lan, lợi nhuận và đạo đức Video: Rắn vẫn cắn chết đầu bếp sau 20 phút bị chặt đầu Tướng đảo chính được bầu làm Thủ tướng Thái Lan Thủ tướng Thái Lan Prayuth. Bưu điện Hoa Nam ngày 10/9 đưa tin, trong khi chuẩn bị tới Văn phòng Thủ tướng ở Bangkok làm việc, Thủ tướng Thái Lan Prayuth Chan-ocha đã tìm đến sự trợ giúp tâm linh. Ông Prayuth 60 tuổi đã dẫn đầu một cuộc đảo chính quân sự lật đổ chính phủ tiền nhiệm hôm 22/5. Sau khi lên kế hoạch tỉ mỉ, ông đã có hệ thống dập tắt các lực lượng bất đồng chính kiến. Giống như nhiều chính trị gia và các tướng quân sự trước ông, Prayuth tin vào thần linh và bói toán. Hôm Thứ Hai, ông cùng các thành viên đoàn tùy tùng dã được nhìn thấy rước tượng Phật và các biểu tượng tôn giáo được cho là đem lại may mắn vào Văn phòng Chính phủ. Nhưng niềm tin của Prayuth đi xa hơn tôn giáo, tín ngưỡng thông thường khi hồi tuần trước Prayuth đã nói với một người thân cận rằng ông đã phải dội nước thánh từ đầu đến chân bởi vì kẻ thù đã cố gắng để nguyền rủa ông. Các quan chức quân đội Thái Lan nói rằng theo quan điểm của họ, các hoạt động nghi lễ tâm linh để tránh khỏi cái ác không có khả năng ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ. "Giống như hầu hết người Thái, Thủ tướng Prayuth có một sự tôn trọng sâu sắc với thế giới tâm linh, nhưng chính sách của ông sẽ được quyết định bởi tính cấp thiết, tính thực tiễn và nhu cầu của nhân dân", Phó phát ngôn viên quân đội Thái Lan Veerachon Sukhontapatipak cho biết. Thời gian bắt đầu làm việc tại Văn phòng Thủ tướng lần đầu tiên cũng được ông Prayuth xem xét kỹ và lựa chọn thời điểm 9 giờ sáng 9/9 để "nhập trạch" trụ sở mới. 9 được xem là một con số tốt lành ở một đất nước ccon số có nghĩa với tất cả mọi thứ. Đồ đạc trong Văn phòng của ông Prayuth được sắp xếp theo các nguyên tắc của phong thủy. Bàn làm việc của Thủ tướng Thái Lan được đặt ở phía Đông phòng làm việc được xem như sẽ hỗ trợ mọi thứ thông đồng bén giọt. Màu sắc trong tòa nhà Văn phòng Chính phủ Thái Lan chủ yếu là xanh lá cây vì đây là màu đặc trưng của quân đội và Prayuth, chỉ huy quân đội, một người phụ tá nói. Thành viên của đoàn tùy tùng đặt 3 pho tượng Phật trong tòa nhà Văn phòng Chính phủ để "tiêu diệt ma chướng". Những người chỉ trích nói rằng sự tồn tại của những niềm tin này gây tổn hại cho nền dân chủ và quá trình chính trị nên được quyết định bởi ý chí của người sống chứ không phải là niềm tin tâm linh và các vì sao. Kan Yuenyong, một nhà phân tích chính trị tại Siam Intelligence Unit cho biết: Không chỉ Prayuth, hầu hết các nhà lãnh đạo Thái Lan đều có niềm tin vào tâm linh. Nó có thể là điều nguy hiểm, bởi thay vì phân tích một tình huống theo sự kiện và tình hình chính trị thực tế, họ có thể dựa vào chiêm tinh bói toán để thay thế và làm trầm trọng thêm một tình hình biến động.
  11. Tai nạn thảm khốc tại Haiti, cháy rừng nghiêm trọng ở Mỹ (TTXVN/Vietnam+) lúc : 10/09/14 10:44 Đã có ít nhất 23 người thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương sau khi một xe chở khách tại Haiti mất lái và lao xuống vực sâu tại thị trấn ven biển Petit-Goave của nước này ngày 9/9. Chính quyền địa phương cho biết khi gặp nạn, trên xe khách nói trên có khoảng 60 người cùng nhiều hàng hóa. Trong số các nạn nhân thiệt mạng có một trẻ sơ sinh cùng nhiều trẻ em và phụ nữ. Lực lượng cứu hộ ngay lập tức có mặt tại hiện trường, triển khai công tác tìm kiếm, sơ cứu và đưa các nạn nhân tới cơ sở y tế gần nhất. Cảnh sát đã mở cuộc điều tra nguyên nhân vụ tai nạn đáng tiếc này. Trong nhiều ngày qua, hỏa hoạn tiếp tục hành hoành các khu rừng trong Công viên Quốc gia Yosemite, bang California, Mỹ, đe dọa các danh thắng và khu vực lân cận. Ngọn lửa bùng phát từ ngày 7/9 vừa qua và ngày càng lan rộng. Tính đến nay, đám cháy đã bao phủ gần 1.800 hécta, tương đương khoảng 5% diện tích công viên. Khoảng 330 lính cứu hỏa đã được huy động nhằm khống chế ngọn lửa. Tính nghiêm trọng của đám cháy đã buộc ban quản lý công viên phong tỏa nhiều tuyến đường trong khu vực này, trong đó có con đường dẫn tới đỉnh núi Half Dome nổi tiếng. Nhiều danh thắng trong Công viên Quốc gia Yosemite như thung lũng Little Yosemite, hồ Merced, trang trại Sunrise High Sierra, Clouds Rest và thung lũng Echo... đang đối mặt với nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Năm ngoái, một vụ cháy rừng tương tự cũng xảy ra tại đây, tàn phá khoảng 102.000ha trong công viên này. Được coi là không gian xanh nổi tiếng thế giới, hàng năm Công viên Quốc gia Yosemite đón tiếp hàng triệu lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Nhiều người đam mê môn thể thao leo núi đã đến đây để chiêm ngưỡng toàn cảnh thung lũng Yosemite rộng lớn từ đỉnh núi Half Dome./.
  12. Quý vị quan tâm và anh chị em thân mến. Một lý thuyết thống nhất thì nó phải giải thích được cả những vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh. Đây là một trong những yếu tố cần để thẩm định một lý thuyết thống nhất . Như vậy một lý thuyết thống nhất - cụ thể là thuyết Âm Dương Ngũ hành - phải chứng tỏ khả năng kết nối tất cả mọi vấn đề và sự kiện, trong đó có sự minh triết của các tôn giáo, niềm tin và tín ngưỡng và cả tư duy minh triết. Bởi vậy, tôi lập chủ "Lý học và các góc nhìn minh triết" để làm sáng tio3 thêm về tính bao trùm của Lý học Đông phương. mà nền tảng tri thức là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Xin cảm ơn sự quan tâm và tham gia của quí vị và anh chị em. CÕI THẬT & CÕI KHÔNG THẬT https://www.facebook.com/babywolfvn “Ta cứ ngỡ trần gian là cõi thật Thế cho nên tất bật đến bây giờ.” Hai câu thơ này được trích dẫn từ một bài thơ của cố thi sĩ Bùi Giáng. Ông còn được biết đến là nhà biên khảo triết học và dịch thuật văn học nước ngoài từ những thập niên 60. Ông có một cuộc sống vượt quá ước lệ thế tục trong một phong cách nửa thực, nửa hư rất kỳ bí, như có lần trong tâm trạng u hoài ông diễn cảm: “Chợt có lúc trên đường tôi đứng lại Ngó ngu ngơ xưa chính ở chỗ này”. Nói rằng hiện hữu là hiện hữu từ lý Duyên khởi, tức là tùy thuộc - phát sinh; và như vậy, tự tính của hiện hữu là không thực có. Tương tự như vậy, có một lần Stcherbatsky, nhà triết học Tây phương nổi danh có nhiều công trình nghiên cứu Phật học, khi đang ngồi trên ghế viết “Buddhist logic” đã nói: “Nói cái ghế đang ngồi là ‘không’ thì thật là đầu óc của những người khùng, nhưng tôi vẫn biết nó là ‘không’”. Có điều mâu thuẫn chăng? Khi nói đến nhận thức tức là có chủ thể nhận thức đặt trong một mối tương quan với đối tượng được nhận thức nào đó. Trên phương diện nhận thức luận và giải thoát luận thì bất kỳ một hiện hữu nào cũng được nhận diện qua ba tính chất: - Tự tính giả lập: Thông thường, ta thường sở hữu hóa căn tính sự vật qua nhận thức của mình và đặt một tên gọi nào đó, tuỳ thuộc vào quan điểm chung của cộng đồng và thời đại. Như vậy, tự tính giả lập đó hoàn toàn khác biệt với sự thể, mà chính nó bị giả lập bởi sự định danh. Sự giả định này xuất phát tự giao thoa của sự hòa hợp tương tác bởi căn-trần-thức (giác quan, đối tượng và cái biết). Ví dụ: Nước Pháp, tự thân nó khác biệt với cái gọi là Pháp. - Tự tính tùy thuộc là sự nương tựa nhau: tương tác với nhau mà hiện thành nên một sự thể hiện hữu. Tự tính tùy thuộc này đồng nghĩa với duyên sinh tính và vô ngã tính. Ví dụ cái ghế ngồi, nó là tổng hợp của gỗ, đinh, bàn tay, khối óc, người thợ.... Như vậy, mỗi hiện hữu xuất hiện như là chính nó (tổng tướng) lại vừa xuất hiện như cái gì khác nó (tự tướng). Tự tính tùy thuộc này thể hiện một tiến trình hiện hữu của sự vật. - Tự tính tuyệt đối có ý nghĩa rằng hiện hữu là như như, không mang tự tính giả lập, và ngay cả tự tính tùy thuộc chính là duyên sinh tính hay tự tính Không. Khái quát hơn đó là thực tính - vô tính, mang đặc tính Niết-bàn. Ba tự tính nói trên luôn luôn hiện hữu trong cùng thế giới thực tại mênh mông bao la. Nhận thức rõ ràng ba tự tính sẽ mở ra cái nhìn như thật, được phóng chiếu trên hai mặt tương đối và tuyệt đối. Trên mặt tương đối, hiện hữu được nhìn thấy là hữu vi thuộc về pháp sinh diệt. Trên mặt tuyệt đối, hiện hữu được nhìn thấu tận bản thể vô vi không sinh, không diệt, là Nhất thể. Đại luận sư người Ấn, ngài Nguyệt Xứng xác nhận rằng tất cả mọi sự vật hiện tượng đều mang hai khía cạnh khác nhau. Một khía cạnh, mang tính quy ước hay tương đối có thể nhận biết qua kinh nghiệm cảm nhận về mọi hiện tượng và một khía cạnh mang tính cách tuyệt đối và chỉ có thể nhận biết qua sự quán thấy của trí tuệ Bát-nhã, hay vô phân biệt trí. Như vậy, cái thật được định nghĩa qua hai cách nhìn khác nhau về thực tại: cách thứ nhất liên quan đến các kinh nghiệm cảm nhận giác quan thường ngày trong cuộc sống và cách thứ hai liên quan đến sự hiểu biết tối hậu của thực tại. Chúng ta hiểu rằng hai sự thật đó chỉ là hai cách nhìn khác nhau về sự vật hiện tượng tạo ra thế giới đang sống. Và cũng cần xác định rằng sự thật tối hậu vượt qua khả năng của tri thức thông thường mang tính nhị nguyên. Bất cứ đối tượng nào mà nhận biết được bằng trí thức nhị nguyên đều được xem là mang tính cách tương đối và quy ước. Sự thật và hiểu biết của tri thức Đối tượng của nhận thức như sông, núi, nhà cửa, xe cộ, đàn ông, đàn bà... trước mắt chúng ta đều là những gì được xem là hiện thực, là thật. Đây chính là sự hiện diện của thế giới thực tại khách quan, một thế giới với muôn vạn đa thù sai biệt, dù muốn hay không nó vẫn là đối tượng của nhận thức. Tuy nhiên, cái mà gọi là những tính cách đặc thù của thế giới thực tại khách quan mà thực chất chỉ là tự tính giả lập, nó được giả định bằng quy ước đơn thuần và do tri thức thường nghiệm tạo nên. Sự thật này chưa thoát ly khỏi biên kiến của sự phân biệt nhị nguyên “có và không”. Đây là cái bàn làm việc, nó là thật đấy chứ, ở trước mắt ta. Các nhà vật lý nói không phải đâu! Đi sâu vào trong nó, họ chỉ thấy không gian và những điện tử quay cuồng với tốc độ gần tốc độ ánh sáng và càng vào sâu hơn nữa chỉ thấy các hạt cực nhỏ, có chu kỳ sinh, diệt chóng mặt. Cái nhìn của các nhà vật lý đã khác hẳn với cái nhìn của người thường, họ thấy gần sự thật hơn. Tuy vậy khi cần ăn bánh họ vẫn ăn như mình dù họ biết trong đó là không gian chiếm phần lớn và chỉ có ít vật chất. Trên bình diện ngôn ngữ, tiếng nói đầu tiên về thực tại, sự thật như thế được gọi là “Tướng vô tánh”. Từ thế giới ý niệm cho đến thế giới thực tại khách quan luôn luôn có sự tác động lẫn nhau và điều kiện hóa cho nhau. Tất cả đều là hiện hữu tương duyên, nên biểu hiện là vô thường. Vì vậy khi nói rằng thế giới có thật như trong ý niệm thì đó là một hợp tướng, đó là sự vướng mắc vào một đối tượng. Cái mà gọi là hợp tướng chỉ là ước lệ ngôn ngữ, không có thực chất. Nói rằng hiện hữu là hiện hữu từ lý Duyên khởi, tức là tùy thuộc - phát sinh; và như vậy, tự tính của hiện hữu là không thực có. Do đó hiện hữu chính nó là “thực tại - hiện hữu”, nó thoát ly ngoài và thoát ly khỏi tương đối tính. Nó là thực tại tuyệt đối, bất khả tư nghi, bất khả thuyết, một cảnh giới thực tại tối hậu từ tự thể hay thực tại tánh Không hoặc thực tại Nhất thể. Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc - Sắc là pháp, là hiện tượng sự vật, nó đại biểu cho cái đa thù, cái vô số. Đây chính là sự hiện diện của thế giới hiện tượng khách quan, thế giới mà chúng ta đang sinh sống với tất cả những hình tướng ta thấy. Thông qua các kinh nghiệm cảm nhận quy ước của chúng ta, các sự vật hiện ra rất thật và dường như sự hiện hữu này khách quan, độc lập. Chẳng hạn như nhìn thấy một con chim, một cái xe, một con người..., chúng ta hẳn nhiên cho rằng những thứ ấy đúng là vậy, nhưng chính ra đó là những sự thật quy ước. Bản chất đích thực của các thứ này là tánh Không, là Nhất thể. - Không hay thực tại tánh Không theo Đức Đạt Lai Lạt Ma quan niệm: “Tánh Không là bản chất tự tại và đích thực, thuộc “bên trong” của mọi sự vật, thế nhưng đồng thời bản chất ấy cũng bị chi phối bởi hiện tượng tạo tác tương liên, khiến làm phát sinh ra đủ mọi hình tướng tức là các biểu hiện “bên ngoài” của chúng, và đấy cũng chính là nguyên nhân tạo ra tình trạng đa dạng của thế giới”. Như vậy, tánh Không là một danh từ dùng để mô tả và cắt nghĩa thuộc tính của thế giới sự vật hiện tượng dựa trên hai tính chất “bên trong” và “bên ngoài” . Tính đa dạng thuộc lãnh vực của các kinh nghiệm cảm nhận thường ngày chính là hình tướng, nhưng hình tướng đó lại không hàm chứa một hiện hữu nội tại nào cả và không mang thực thể riêng biệt và độc lập. Cái hình tướng này chỉ có thể hiện hữu nhờ vào sự liên kết với các nguyên nhân khác như điều kiện phát sinh ra nó, hoặc là các thành phần hợp tác cấu tạo ra nó. Cũng chính vì lý do này mà trong Tâm kinh Đức Phật dạy rằng: “Hình tướng là trống không, trống không là hình tướng”. Do đó, thực tại tánh Không này phải được nhìn từ hai mặt: giả danh tức là tên gọi lâm thời cho một sự thể và trung đạo là chân lý, siêu việt cả hai phương diện tương đối và tuyệt đối. Quan điểm của Đại thừa thì hai chân lý này “bất khả phân ly”: Hãy tìm Niết-bàn trong sinh tử. Quan điểm này xác định một mối quan hệ tương đồng giữa hai thế giới xem ra khác, nhưng lại phô diễn trong một mô hình toán học: “Quan hệ đẳng cấu”. Sự đẳng cấu giữa hai thế giới tương đối (sắc) và thế giới tuyệt đối (không) Tâm kinh lại viết: “Sắc chính là không, không chính là sắc, “ hàm ý khẳng định: hai thế giới tương đối và tuyệt đối có vẻ khác nhau đó, thực ra là một. Trong toán học có một khái niệm ta đề cập ở đây là sự đẳng cấu, nói lên một quan hệ đồng nhất về một mặt cấu trúc hay chức năng nào đó giữa những hệ thống. Do sự phức tạp của định nghĩa nên có thể mô tả qua hai giai đoạn như sau: + Một tập hợp M với tính chất xác định R giữa các phần tử x của M. Một tập hợp N với tính chất xác định Q giữa các phần tử z của N. Nếu giữa 2 tập M và N có một tương ứng một - một sao cho 2 phần tử x của M và z của N tương ứng với nhau khi x có tính chất R thì z có tính chất Q (hoặc x không có tính chất R thì z không có tính chất Q). + Định nghĩa về đẳng cấu mở rộng cho một tập hợp các tính chất R và Q, kể cả tập hợp n phần tử x, và n phần tử z. Bên ngoài lãnh vực toán học, khái niệm đẳng cấu còn được áp dụng cho các lãnh vực khác, lúc đó các phần tử được thay thế bằng những từ hiểu theo nội dung cụ thể, chứ không được định nghĩa một cách hình thức và không còn tính chặt chẽ toán học nữa. Trên góc độ này, mối quan hệ đẳng cấu hàm ý rằng hai thế giới khác nhau hay hai thế giới có vẻ khác nhau, thực ra không hề như thế. Vì vậy, “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc’ nói lên rằng thế giới của sắc “đẳng cấu” với thế giới của không. Mặc dù thế giới hiện tượng rất khác lạ đối với thế giới Nhất thể (thế giới tánh Không), trên thực tế hai thế giới này không hề khác biệt, tức không phải một nhưng không phải hai. Chúng ta đang vận hành ở cả hai thế giới này cùng một lúc (chúng là một thế giới) và hầu như chúng ta chưa thực sự trải nghiệm được thế giới của Nhất thể, nên thế giới đó chỉ là ý niệm, không phải cái mà ta thực sự cảm thấy. Thiền sư Santideva (Tịch Thiên) là Giáo sư Đại học Na-lan-da “cho rằng khi nào đã cảm nhận được tánh Không một cách thường xuyên thì chúng ta cũng sẽ dần dần loại bỏ được tác động của những phản ứng bản năng quen thuộc xuất sinh từ các chủng tử kết tập ở quá khứ xa xăm hay mới huân tập. Từ đó ta loại trừ được các xu hướng mang tính nhị nguyên được sinh khởi do sự giao tiếp giữa chủ thể và đối tượng. Ngài Long Thọ (Nagarjuna), một Đại sư và triết gia người Ấn, giải thích rằng tánh Không như là một sự hòa tan của tất cả mọi thứ tạo dựng nên nhị nguyên. Trên quan điểm đó thì vạn pháp bao gồm sự vật có hình tướng vật lý như con người, cây cỏ... đến các yếu tố tâm lý như vui buồn, yêu thương, giận dữ, nụ cười, hạnh phúc, hay bất hạnh đều là những biểu hiện của tánh Không. Vậy tánh Không là gì? Là tất cả những hiện tượng này mà không có nhãn hiệu dán lên chúng, có nghĩa là ta buông xả đi tất cả các nhãn hiệu, các tư tưởng về sự vật hiện tượng mà chỉ còn lại “cái đang là”, nó “chỉ-là-như-thế”, nó và mình chỉ là như thế, hiện thực cũng chỉ là như thế. Ngày xưa, thầy Nguyễn Bá Học, cũng là một nhà văn, khi viết “Lời khuyên học trò” chắc thầy chưa nghiên cứu về tánh Không, nhưng đã thấy tâm thức có vai trò tạo dựng nên thế giới Nhị nguyên, nên thấy có so đo, khó dễ, xa gần, có ngăn ngại núi sông. “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi Mà khó vì lòng người, ngại núi e sông”. Thầy Nhất Hạnh có kể lại chuyện một thiền giả nói như sau: “Khi tôi chưa học thiền thì thấy sông là sông, núi là núi. Khi tôi học thiền thì thấy sông không phải sông, núi không phải núi. Bây giờ học thiền rồi thì thấy sông là sông, núi là núi”. Núi sông, chỉ là những khái niệm quy ước, trong thế giới Nhị nguyên, nên khi ở thời khắc học thiền, hành giả đã buông xả sự dính mắc vào những khái niệm của mình, và khi những dính mắc bị rơi rụng, thì hiện thực như nó-đang-là sẽ có mặt. Điều phải làm Trong kinh nghiệm thiền định (Chỉ và Quán) thì phương cách trải nghiệm để cảm nhận tính Nhất thể, là phải buông bỏ cho được thể dạng tâm thức vô minh, bám víu vào ý niệm sự hiện hữu nội tại của “cái tôi”, tăng thêm ảo giác về “cái tôi” tức là tin vào sự vững chắc của nó, dù thực tế nó không hề hiện hữu. Chính “cái tôi” là hành trang nặng nề, chất chứa đầy những khái niệm và ý tưởng nên đã ngăn ngại đối với cái thấy về tính Nhất thể. Đo tính đẳng cấu của hai thế giới: thế giới tương đối sinh diệt và thế giới tuyệt đối của Nhất thể, nên một khi ta hiểu được tánh Không, thì sẽ có hành trang đi vào đạo, mà đạo chính là cuộc sống, Sinh tử tức Niết-bàn. Và một khi thực chứng được đạo, ta sẽ không còn vướng bận thắc mắc về bản chất của thực tại và hiện hữu, về cõi thật hay không thật nữa. Vấn đề, tất cả những gì còn lại là sự hoạt dụng của thực chứng đó, và để làm được điều này ta phải phủi bụi hàng ngày, bằng cách buông bỏ cái tôi. Không có cái tôi thì mọi thứ chỉ là như chúng, tồn tại độc lập khỏi những ý niệm và sự phân biệt của chúng ta, lúc đó có được nhiều “ánh sáng” hơn nữa để vào đạo. Học Phật đạo là học chính mình. Học chính mình là học quên cái tôi. Quên cái tôi thì ngộ ra tất cả các pháp, ngộ ra các pháp thì thân tâm của mình và thân tâm của tha nhân cũng rơi rụng nốt. Tỷ như khi đang ở trong con thuyền, nếu chỉ nhìn vào bờ ta có ảo tưởng bờ đang chạy, nhưng khi nhìn thuyền dưới chân mình mới hiểu rằng thuyền đang chạy. Học Phật đạo là theo lộ trình văn-tư-tu. Trước hết phải hiểu, không hiểu thì hành động sẽ mù mờ; rồi đến hành động, nếu không có, sẽ không có hiệu lực. Sau cùng hiểu và hành động thành một. Thật hay không thật, vướng mắc và mê lầm không đến từ thế giới, mà chính là từ những quan niệm và thái độ hành xử về thế giới, từ tương quan của chúng ta với thế giới. Câu hỏi đích thực phải là chúng ta cảm nhận thế giới là gì? Đặng Công Hanh ________________ TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tuệ Sỹ, Triết học tánh Không, NXB.Hồng Đức, 2013. 2. Đạt Lai Lạt Ma, Tu tuệ (Hoang Phong dịch), NXB.Hồng Đức, 2013. 3. Bernie Glassman, Vòng tròn bất tận (Nguyễn Quyết Thắng dịch), NXB.Hồng Đức, 2014
  13. NGƯỜI THÔNG MINH NHẤT HÀNH TINH https://www.facebook.com/namhhn/posts/745448165517123 (dành cho người quan tâm đến Toán, Vật lý và Triết học) ...Grigori Perelman, sinh năm 1966-đứng thứ 9 trong danh sách 100 thiên tài đang sống giữa chúng ta (bầu năm 2007 khi ông còn chưa được giải Clay vì lời giải bài toán “thiên niên kỷ” của Poincare , trong khi đó đứng đầu danh sách là Hoffman, cha đẻ của “thuốc gây ảo giác LSD”). Tuy vậy theo tôi biết thì cộng đồng khoa học đã từ lâu công nhận ông là nhà khoa học thông thái nhất hành tinh, tôi tuy ngoại đạo nhưng cũng rất tò mò muốn biết con người này thực ra là ai, ngoài những thông tin “lá cải” về việc ông từ chối nhận giải thưởng 1 triệu đôla và ở ẩn đối với tất cả xã hội và sống nghèo đói. Đơn giản khi một con người đã tuyệt đỉnh thông minh, thì ngoài việc “lập dị” ra thì mỗi hành động của ông ta phải có cả một câu chuyện dài phía sau, chứ không phải kiểu “nổ” bất thình lình...Và qua cuộc đời ông, tôi thấy được một câu chuyện rất hay về các nhà toán học thời hiện đại, cũng như toán học cần thiết để làm gì, từ những cuộc tranh cãi “32 con gà” ngày nay cho đến thành tựu của Ngô Bảo Châu đều có ý nghĩa cao siêu hơn ta hằng nghĩ! Đầu tiên phải nói thật, gây tò mò nhất đối với tôi là việc ngài Perelman là “chuyên gia từ chối các giải thưởng danh giá”. Hãy xem ông đã từ chối gì: -1996 từ chối giải của Hiệp hội toán học châu Âu (EMC) dành cho các nhà toán học trẻ-giải thưởng này như một bảo đảm cho người lĩnh giải sẽ được nhận vào làm việc tại các trường đại học danh giá nhất của Âu, Mỹ và đảm bảo cuộc sông vật chất dài lâu. -2006 ông từ chối nhận giải Fields danh giá -một "Nobel trong toán học" (lần kế tiếp Ngô Bảo Châu đã giành giải này cùng 3 nhà toán học khác tại Ấn Độ, 2010). -2010 ông từ chối nhận giải thưởng của Viện toán học Clay với số tiền 1 triệu đô la do giải được 1 trong 7 bài toán “thiên niên kỷ”-đó là bài toán Poincare từ 1904 và 98 năm sau loài người mới có lời giải! 6 bài toán kia vẫn còn chờ đợi... -2011 ông từ chối trở thành viện sỹ Viện hàn lâm khoa học Nga. Tuy chỉ là danh hiệu trong nước, nhưng về giá trị vật chất còn lớn hơn cả những lần “từ chối” trước kia... Vì sao như vây? Sinh ra ở Leningrad (CCCP), cậu bé Do Thái Perelman học ở một trường bình thường ở ngoại ô cho đến năm lớp 9, chỉ sinh hoạt ở nhóm học sinh giỏi toán tại Cung thiếu nhi thành phố. Năm 1982 cậu học sinh 15 tuổi này đoạt giải nhất với số điểm tuyệt đối ở cuộc thi Olimpic Toán quốc tế tại Hungary (khá giống Ngô Bảo Châu, trẻ hơn mấy tháng). Sau đấy cậu mới được vào học trường chuyên toán-lý 239 nổi tiếng của Leningrad. Vào đại học, vì được chọn trường, cậu suýt chọn trường nhạc (có chơi violin nhưng không cơ bản) nhưng sau nghe lời mẹ, lại đi vào khoa toán. Sau khi bảo vệ luận án tiến sỹ toán, cậu sang Mỹ đầu những năm 90 để làm việc tại một số trường đại học. Ngay lúc còn rất trẻ này cậu đã rất khác người: sống rất khắc khổ, thường xuyên chỉ ăn bánh mỳ, sữa và phomat. Ngay từ lúc này cậu đã bắt tay vào giải bài toán thiên niên kỷ của Poincare. Các phát hiện quan trọng lần lượt ra đời, ví dụ như một cách chứng minh ngoạn mục của Perelman cho “Lý thuyết về tâm hồn” (1994, hình học vi phân). Lần “từ chối” đầu tiên năm 1996, Perelman không chịu nhận giải EMC cho các nhà toán học trẻ xuất sắc đồng nghĩa với chìa khóa vàng mở cánh cửa vào những vị trí làm việc danh giá và nhiều bổng lộc, nhưng đối với chàng trai 30 tuổi này “nó không quan trọng”! Ông bắt đầu cuộc đấu tranh không khoan nhượng nhưng tất nhiên không hề cân sức với lề thói quan liêu, giả tạo của làng toán học thế giới. Ví dụ sau này khi đi xin việc ở đại học Stanford bắt buộc phải nộp lý lịch, ông kiên quyết từ chối đưa C/v. Ông bảo: “Nếu họ biết các công trình của tôi, thì họ cần gì C/v của tôi? Còn nếu họ cần C/v của tôi, nghĩa là họ không đọc các công trình của tôi...”-thật tự tin, một tuyên bố của chàng trai hơn 30 tuổi! Sau 1996 ông về nước, sống trong căn hộ một buồng với bà mẹ ở ngoại ô Sant Peterburg (Leningrad đã quay lại tên cũ)-bố và cô em gái đã ra sống ở nước ngoài. Người ta thường thấy người đàn ông trán hói, tóc dài, không già không trẻ đi bộ mua bánh mỳ, mua trứng hoặc đi tàu vào thành phố, ít khi giao tiếp với ai. Ông hoàn toàn không quan tâm đang ăn mặc gì, chẳng chịu cắt tóc, cạo râu, thậm chí không mấy khi cắt móng tay-tại sao như vậy chả ai biết, bởi vì ông chả nói chuyện với ai... Năm 2002-2003 ông công bố 3 bài viết lập tức gây nên xáo động trong làng toán thế giới, ngay từ bài đầu tiên đã suy ra được rằng Perelman đã có lời giải bài toán thiên niên kỷ Poincare! Cách ông công bố cũng chả giống ai: khác với truyền thống là phải gửi đến tòa soạn các tạp chí toán học uy tín trên thế giới, thì ông đưa lên internet cho tất cả mọi người khảo nghiệm! Bài toán có đầu đề chỉ hai chục chữ này đòi hỏi cách giải siêu phức tạp, và Perelman phải kết hợp cả những hiểu biết rất sâu sắc về vật lý lý thuyết của mình mới đi đến thành công. Nhiều nhà toán học hàng đầu thế giới công bố những công trinhg nghiên cứu về lời giải của Perelman, và đăng trên các tạp chí uy tín,do đó danh tiếng của Perelman được càng nhiều người biết đến. Trên đường chứng minh định lý đó Perelman đã phát triển tiếp nghiên cứu của nhà toán học Mỹ Richard Hamilton, người đã phải dừng bước giữ chừng vì không đủ các công cụ toán học. Lạ một cái, Hamilton lại không tin là Perelman đã giải được bài toán Poincare, do đó đã đề nghị “ông trùm toán học Trung Quốc” Khâu Thành Đồng nghiên cứu tiếp. Thế là họ Khâu cùng hai đệ tử của mình là Tào Hoài Đông và Chu Hy Bình tuyên bố với toàn thế giới rằng chính họ mới đưa ra lời giải trọn vẹn của giả thuyết Poincare, và “công lao của Perelman nếu có thì cũng nhiều nhất là 20% mà thôi!”. Thế là nhiều trường đại học lớn lập những nhóm chuyên tập trung để phân tích về lời giải bài toán thiên niên kỷ, trong đó tất nhiên có cả Viện toán Clay. Trong thời gian hàng chục triệu đô la được bỏ ra để tìm chủ nhân của cách giải bài toán hóc hiểm này, thì Perelman như ông đã kể lại, thi thoảng kiếm chút tiền còm qua việc được mời nói chuyện ở nước ngoài về chính cách giải bài toán của mình. Sự thật khoa học không thể bôi đen, nhất là trong thời đại internet, và đến 2006 thì tất cả, trong đó có cả Richard Hamilton đi đến kết luận, chính PERELMAN MỘT MÌNH đã giải quyết vấn đề trọn vẹn! “Bang hội toán gốc Trung Quốc” đành xấu hổ rút lại lời tuyên bố của mình, tuy vậy vẫn cay cú dọa kiện những ai đã vạch mặt họ, kể cả Viện toán Clay. Trong thời gian này, Perelman một mặt không mấy khi quan hệ với xã hội bên ngoài, mặt khác khá tích cực hợp tác với các đồng nghiệp quốc tế để làm sáng tỏ vấn đề, tất nhiên là qua...internet. Những cuộc chiến ngoài toán học, theo ông là quá vô bổ và thấp hèn, khiến ông mệt mỏi và từ 2005 tự ra khỏi trường đại học, ông thực tế đã chính thức xa rời giới khoa học. Khi cả nước nhận tin ông sẽ được giải Fields 2006 lập tức ông nổi tiếng kinh khủng, xung quanh căn hộ của mẹ con ông bao giờ cũng có bọn “kền kền” báo chí lấp ló, và ôg không còn dễ đi bộ mua thực phẩm như trước nữa. Tuy vậy ông kiên quyết không hề thay đổi: ăn mặc lôi thôi, không cắt tóc cạo râu, chẳng cắt móng tay và chưa bao giờ có vợ con. Môn thể thao yêu thích là bóng bàn và cờ vua lâu lắm rồi chẳng chơi cùng ai, chỉ còn âm nhạc ông chơi trên violin chứng tỏ sự tồn tại của ông trong xã hội... Tình trạng Perelman có thể từ chối giải Fields là “cú sốc” cho giới lãnh đạo trong làng toán. Chính chủ tịch Hội đồng toán học thế giới John Ball đến tận nơi và 2 ngày trời tìm cách đề xuất với ông các phương án khác nhau, kể cả “nhận giải mà không cần đến”. Tuy vậy Perelman vẫn khăng khăng không đến, ông “giận” giới toán học đã quá quan liêu và kẻ cả, làm ông và bao người khác tốn công tốn sức trong cuộc tranh chấp với “phe Tàu”. Ông giải thích: “Những người lập dị (như ông) không hề vi phạm chuẩn mực đạo đức” và “tôi dừng lại, để cho mọi người thấy tôi không phải là vật nuôi trong vườn bách thú”. Không nhận giải-đó là chính kiến của ông! Đối với người ngoại đạo như chúng ta, ông đơn giản là người “từ chối bắt tay Nhà vua Tây Ban Nha (Fields 2006 được trao tại Tây Ban Nha)-nhưng giới khoa học thì đều hiểu thông điệp của Perelman. Chẳng đi nhận giải, ông đã làm toán học trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết! Ông vẫn sống như một ẩn sỹ, chỉ đôi lần ông trả lời phỏng vấn báo chí Nga, nhưng sau đó dừng hẳn, vì “không tin tưởng”. Người ta quay được một phim ngắn về cuộc sống ngày thường của ông bằng cách xông cả đoàn quay phim vào nhà ông, đẩy bật bà mẹ già ra và quay ông đang vô cùng ngơ ngác. Sau đó ông chỉ đồng ý quay một phim tài liệu ngắn nữa của đài truyền hình Nhật NTK, còn lại người ta biết về ông càng ngày càng ít đi! Khi công trạng của ông đã được làm rõ, ngay cả Viện toán Clay (đơn vị xét và trao giải) cũng như cộng đồng quốc tế kêu gọi ông công bố công trình của mình lại trên tạp chí toán học uy tín bất kỳ nào, và trong vòng 2 năm không ai phản bác được, thì sẽ đủ tiêu chuẩn xét trao giải cho tác giả. Thế nhưng không ai thuyết phục được ông làm cái điều tưởng chừng đơn giản và hiển nhiên đó –tạp chí toán học uy tín đối với giới toán học như một dấu “OTK” về chất lượng, nhưng riêng Perelman kiên quyết không cần đến cái sự OTK đấy... Cuối cùng Viện toán Clay chịu thua, công nhận ông là người xứng đáng được trao giải 1 triệu $ vào năm 2010, khi mà theo một số nguồn tin thì Perelman đã tiêu hết tiền tích cóp thời còn “làm toán”, ông rất khát tiền. Ông suy nghĩ 3 tháng trời, rồi sau đó đưa ra câu trả lời làm tất cả mọi người phải kinh ngạc: “Tôi có rất nhiều nguyên nhân để đi nhận hay không đi nhận giải thưởng này, do đó tôi đã cân nhắc khá lâu, nhưng tôi quyết định không nhận nó. Nếu nói thật ngắn gọn về nguyên nhân, thì đó là sự không đồng ý với cách điều hành của giới toán học quốc tế. Tôi không thích các quyết định của họ, tôi thấy không công bằng. Tôi đánh giá đóng góp của ngài Richard Hamilton hoàn toàn không thua kém đóng góp của tôi trong việc giải bài toán”. Đây là một ví dụ tuyệt vời về tinh thần hiệp sỹ trong khoa học: ông đề cao chính Hamilton, người đã không tin tưởng ở ông, và đã cùng với nhà toán học Trung Quốc Khâu Thành Đồng cứ luẩn quẩn mãi ở cái lời giải và việc đó đã làm khổ ông mấy năm về trước! Từ chối nhận 1 triệu $ (hơn một năm sau các nhà tổ chức mới quyết định dùng số tiền này để hỗ trợ các nhà toán học trẻ) Perelman nổi tiếng vô cùng, biết bao người tìm cách hỏi ông tại sao lại không nhận tiền khi bây giờ ông nghèo rồi, thì chỉ một lần ông trả lời: “Tôi cái gì cũng có đầy đủ”. Câu chuyện cũng kết thúc có hậu cho Richard Hamilton: năm 2011 ông này cùng với một người nữa được nhận giải “Nobel châu Á”-giải Shaw và 1 triệu $ cho những thành tự toán học, mà trên cơ sở đó Perelman đã giải quyết thành công bài toán thiên niên kỷ. Hamilton đã đi nhận giải... Việc ông từ chối làm Viện sỹ viện hàn lâm khoa học Nga năm 2011 khá dễ hiểu, vì sau này ông xin visa 10 năm đi Thụy Điển. Nhưng để hiểu ông và bài toán của ông hơn, tôi xin tóm tắt một trong rất ít các cuộc phỏng vấn của ông-ngay cuộc phỏng vấn này (với một nhà làm phim Israel-qua quan hệ Do Thái của mẹ ông giới thiệu) đến nay cũng là đề tài tranh luận, rằng có nó thật không hay là bịa nốt. Những ý chính ông đã nói ra: -thời niên thiếu làm toán đối với ông như môn thể dục cho trí não. Hồi đó chỉ có bài khó, bài dễ chứ chưa gặp bài nào không giải được. Bài toán ông thấy khó nhất hồi đó do ông tự đặt ra: Chúa phải đi với vận tốc bao nhiêu mới có thể lướt trên mặt nước mà không chìm, đúng như trong Kinh thánh. Ông giải với những khái niệm về tô-pô học- “tôi thích tô-pô vì nhiều ứng dụng thực tế của môn học đó! Giải nhất toán quốc tế của tôi chỉ có rất ít ý nghĩa”. -bất kỳ một lý thuyết toán học đúng đắn nào đều sẽ tìm ra áp dụng thực tế của nó, ít ra là Perelman tin như vậy và từ trước tới nay đều thấy như vậy! Ví dụ tiêu biểu: George Bul muốn định đề hóa triết học, cuối cùng pháp mình ra lý thuyết hàm số Bul, trên cơ sở đó con người mới tạo ra được máy tính, tàu vũ trụ... -Định lý Poincare có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn. Nó giải thích cho nhiều quá trình trong việc hình thành vũ trụ, và sắp tới sẽ rất quan trọng trong công nghệ nano. -những phát mình mới đây trong khoa học nano đều vớ vẩn hết, cũng như nhiều hình dung sai lầm về việc hình thành vũ trụ. Vũ trụ xuất hiện ban đầu từ một điểm vô cùng nhỏ, sau đó là các khoảng không xuất hiện để vũ trụ to ra nhanh chóng. Định lý Poincare chính là “Công thức của vũ trụ”-dựa vào đó ta có thể có cách thu vũ trụ lại thành một điểm ban đầu. Tôi chính là người biết điều khiển các khoảng không đó! Bình luận thêm của tác giả: nghe thì có vẻ là “học thuyết âm mưu” nhưng thực sự những hiểu biết siêu đẳng của Perelman có nguy cơ đe dọa loài người và vũ trụ. Không phải ngẫu nhiên mà tình báo Nga cũng như nhiều nước khác không thể rời mắt khỏi ông. Và Perelman-con người với trí tuệ xuất chúng và hoàn toàn tỉnh táo này-phải biết làm gì, nói gì, hành xử ra sao để ít nhất là bảo vệ được bản thân và bảo vệ được nhân loại. Có cần thiết để chúng ta điều khiển được vũ trụ không, nếu ngay một trái đất này mà chúng ta còn làm cho bung bét hết cả? Đừng tin tất cả những gì ông tuyên bố, mặc dù đúng là “tôi là con người điều khiển được vũ trụ, vậy tại sao tôi còn phải chạy theo 1 triệu đôla gì đấy để làm gì?” P.S. Mới đây Stephen Hawking-nhà vật lý đương đại và là một trong những bộ óc sáng lạn nhất hành tinh đã tuyên bố :”các thí nghiệm với hạt Higgs có thể tiêu diệt không gian, thời gian!” và “bozon Higgs có thể dẫn đến việc phá tan chân không, làm cả vũ trụ chuyển sang trạng thái vật lý mới” - tác giả nhớ lại cuộc nói chuyện hầu như là duy nhất mấy năm trước của Perelman, ông đã nói về hiện tượng này trước đó lâu rồi. Chứng tỏ Perelman đã nói hoàn toàn tỉnh táo và nghiêm túc-ông biết “Công thức của vũ trụ”! P.S.2: bộ phim “Công thức của vũ trụ” sẽ do đạo diễn David Cameroon dàn dựng và Perelman đã nhận lời đóng vai của chính mình, tất nhiên không phải vì tiền... Còn chúng ta thì vẫn phân vân với 32 gà và 4 chuồng... -------- Dưới đây là bài dịch dành cho các bạn thích tìm hiểu ngọn ngành sâu hơn về học thuật (cám ơn bạn Ngô Văn Minh): Poincaré, Perelman, Khưu Thành Đồng và..... Ức đoán Poincaré, bài toán của thiên niên kỉ (được Viện Clay treo giải 1 triệu đô la) đã được G. Perelman chứng minh. Nhưng nhà toán học 40 tuổi từ chối huy chương Fields, và có lẽ cả 1 triệu đô la. Câu chuyện không ngừng ở đây khi ông Khưu muốn tranh công... Huy chương Fields 2006 Tháng 8 vừa qua, nhân Đại hội Thế giới họp tại Madrid, Liên hiệp Quốc tế các nhà Toán học (IMU) đã trao tặng huy chương Fields (về toán học, tương đương với giải Nobel), như thường lệ bốn năm một lần (1). Bốn người được giải : hai chuyên gia về tính xác suất Werner (Pháp) và Okoundov (Nga) – công trình của họ cũng liên quan tới những ngành khác – một nhà giải tích học và lí thuyết số người Úc gốc Hoa Terence Yao (Đào Triết Hiên), và một người Nga nữa, nhà tô pô hình học Grigori Perelman (viện Steklov, St-Petersburg). Phải nói là tiếng tăm của Perelman trên các media quốc tế đã vượt xa ba đồng nghiệp. Tên tuổi của ông đã ra khỏi lãnh vực khoa học thuần tuý, hiển hiện trên trang nhất của những nhật báo lớn. Đây là lần đầu tiên toán học trở thành đề tài sôi nổi của báo chí kể từ sự tích « anh hùng » của Andrew Wiles (chứng minh được định lí « lớn » của Fermat), cuối thế kỉ XX. Cũng phải nói là trong « vụ Perelman » này, có đầy đủ những tố chất « glamour » chẳng mấy khi tìm thấy nơi các nhà toán học và bộ môn khắc khổ của họ : đầu tiên là sự « hóc búa » phi thường của ức đoán Poincaré (bằng chứng là Viện Clay đã xếp nó trong « 7 bài toán của thiên niên kỉ », và treo thưởng 1 triệu đô la cho ai giải được một trong 7 bài ấy) ; sau đó là cá tính phi phàm của chính Perelman, sau khi chứng minh xong đã từ chối, không nhận huy chương Fields, và chắc cũng sẽ từ chối cả giải thưởng 1 triệu đô la ; thêm vào đó là cuộc tranh cãi hơi bị nhầu về « ai trước ai », « ai hơn ai » đang tác động tới sự « thanh cao » của toán học.... PERELMAN và POINCARE Với ngoại hình như Rasputin, móng tay dài như đồ nho, phong độ như ẩn sĩ, Grigory (Grisha, đối với người thân – nhưng biết ai là « thân » ?) đúng là bức chân dung biếm hoạ của nhà bác học lập dị trong quan niệm của đại chúng. Nhưng ngay cả những người dị ứng với tác phong của Perelman cũng phải thừa nhận khía cạnh « trước sau như một » của ông : năm 1990, Perelman đã từ chối huy chương Nhà toán học trẻ của Châu Âu (Société européenne de mathématiques), bây giờ từ chối huy chương Fields (mặc dầu chủ tịch MIU đã đích thân bay sang St. Petersburg tìm cách thuyết phục), mai kia chắc sẽ từ chối giải Clay. Một người đàn ông bốn mươi tuổi vẫn còn ở với mẹ, sống với 100 đô một tháng, mà từ chối 1 triệu đô la, thì không thể chỉ là làm điệu. Trong lịch sử khoa học, hành xử như Perelman hầu như không có tiền lệ. Mặc dầu trong giới toán học, không thiếu những nhân vật kì dị, chẳng hạn như nhà hình học đại số Alexandre Grothendieck, đang ở đỉnh cao vinh quang, đã từ bỏ tất cả để đi chăn dê, nghe nói trên núi Pyrénées. Nhưng ngay cả Grothendieck, tuy không chịu sang Moskva năm 1966 để nhận huy chương Fields vì bất đồng chính trị, cũng không từ chối giải thưởng này. Trong một lãnh vực khác, trường hợp duy nhất còn ở trong kí ức là trường hợp Jean-Paul Sartre từ chối giải Nobel văn học. Dù sao chăng nữa, cá tính của Perelman có thể không được nhất trí tán thưởng, song Perelman với tư cách nhà toán học thì không ai có thể phủ nhận : năm 1982, ở tuổi 16, đã được giải nhất trong cuộc thi Olympiad toán học với số điểm tuyệt đối (42/42) ; đỗ tiến sĩ vào cuối thập niên 1980, là người duy nhất trong cùng khoá, được tuyển mộ làm nghiên cứu viên ở Viện Steklov (tương đương với Viện quốc gia nghiên cứu khoa học CNRS của Pháp) ; trong những năm 1990, làm nghiên cứu « sau tiến sĩ » ở New York, được mấy trường, viện mời làm việc thường trực ở Hoa Kì, nhưng đều khước từ và trở về St. Petersburg. Từ đó, hầu như mất tăm mất tích, cho đến 2002-2003, Perelman đưa lên mạng internet ba bài viết ngắn. Chính ba bài viết trứ danh ấy, bốn năm sau, đã được tưởng thưởng vì « những đóng góp vào hình học, mang lại những hiểu biết cách mạng về cấu trúc hình học và giải tích của dòng chảy Ricci ». Câu văn « bí hiểm » đó của Uỷ ban xét duyệt giải Fields (chúng tôi sẽ trở lại ở dưới) không hề đá động tới nhân vật « đầu tiên » của câu chuyện : Henri Poincaré (1854-1912) – đừng nhầm với anh em họ là Raymond Poincaré, thủ tướng – mà nhân thân hoàn toàn trái nghịch với G. Perelman. Đỉnh cao của khoa học đương đại, nhà toán học kiêm vật lí học, triết lí khoa học, được rất nhiều giải thưởng quốc tế, thành viên hay chủ tịch không biết bao nhiêu hiệp hội bác học, thành viên Viện hàn lâm khoa học Pháp, Henri Poincaré là hình ảnh tiêu biểu tốt đẹp nhất về sự thành đạt trí tuệ và xã hội mà giai cấp tư sản thế kỉ XIX có thể sản sinh. Ông cũng là nhà bác học « xuyên ngành » cuối cùng : là nhà triết học về phương pháp luận, ông là tác giả những công trình kinh điển về nền tảng phương pháp khoa học, về cơ cấu não trạng của quá trình khám phá ; là nhà vật lí, ông đã 12 lần được đề nghị giải Nobel, và ngày nay được coi là đồng tác giả của thuyết tương đối « thu hẹp » (2) ; với tư cách nhà toán học, bên cạnh David Hilbert, ông được coi là nhà toán học vĩ đại nhất, đồng thời là « bậc thầy phổ quát cuối cùng », bao trùm đại số học lẫn hình học, lí thuyết số và hình học. Chính ông, trong một công trình năm 1895, đã sáng lập ra một ngành mới của hình học mà ông đặt tên là « analysis situs », ngày nay gọi là tôpô học (topo, tiếng Hi Lạp, có nghĩa : nơi, không gian). Trong một trong những tác phẩm cuối cùng (viết năm 1904), ông đã « nhân tiện » nêu câu hỏi (câu hỏi này sẽ được gọi là « ức đoán của Poincaré ») mà không đào sâu thêm vì « sợ nó dẫn chúng ta đi quá xa ». Nói theo ngôn ngữ toán học hiện đại dưới dạng tổng quát nhất, ức đoán Poincaré có thể phát biểu như sau : « Mọi đa tạp tô pô (không biên) n chiều, compac, liên thông đơn thuần, đều đồng phôi với mặt cầu n chiều ». Có thể nói, đối với các nhà tô pô học, mệnh đề ấy đã trở thành một thứ « Chén thiêng » (3), mục tiêu của không biết bao cuộc tìm kiếm, giống như định lí « lớn » của Fermat đối với các nhà số học trong suốt ba trăm năm trời. Không thể nào liệt kê được tên tuổi của tất cả các nhà toán học, trong đó có những tay cự phách, đã mắc « hội chứng Poincaré ». Giáo sư John Morgan, chủ nhiệm khoa Toán trường Đại học Columbia, thú nhận thoải mái : « Cuộc đời toán học của tôi đã bị ức đoán Poincaré chế ngự. Tôi tưởng sẽ không bao giờ được thấy nó được chứng minh. Tôi tưởng sẽ chẳng có ai tiếp cận được chứng minh ». Trước khi đi xa hơn, không thể không giải thích đôi chút để độc giả « ngoại đạo » có một ý niệm về nội dung mệnh đề « ức đoán » quá bí hiểm nói trên. Như chúng tôi đã có dịp đề cập trên cột báo này (4), viết bài « phổ biến » về toán học là một việc làm nguy hiểm, bởi vì ngôn ngữ toán học hết sức chuẩn xác, chệch đi một chút có thể làm lệch ý nghĩa, thậm chí đảo ngược ý nghĩa, và điều này thường hay xảy ra khi người trình bày dùng những hình ảnh trực quan và ngôn ngữ thường ngày. Ý thức rõ điều đó, chúng ta hãy thử xem xét từng từ ngữ của ức đoán Poincaré : Từ đầu bài đến đây, chúng tôi đã dùng mà không định nghĩa hai danh từ « hình học » và « tô pô học ». Theo trực quan, mọi người dễ chấp nhận định nghĩa hình học là bộ môn nghiên cứu các hình, dạng. Theo từ nguyên, chữ géométrie (hình học) trong tiếng Hi Lạp lại có nghĩa là đo đạc đất đai. Đối với các nhà toán học Cổ Hi Lạp, không có gì mâu thuẫn giữa hai khái niệm, bởi vì trong quan niệm của họ, khoa học là một thể thống nhất, nó phải vừa giải thích vừa làm chủ Thiên nhiên, nhà hình học và nhà trắc địa đều làm cùng một nghề. Còn thế nào là « nghiên cứu các hình, dạng » ? Hình dạng thì vô số, không thể nào kê khai cho xuể, mà có làm được cũng vô ích. Cho nên cách xử lí tự nhiên nhất là làm thế nào xếp loại theo những tiêu chuẩn nhất định, cũng như nhà thực vật học, nhà côn trùng học xếp cây cỏ, sâu bọ thành loại lớn, loại nhỏ, nhánh, họ... Toán học quan tâm tới cấu trúc, nên các nhà toán học xếp loại các đối tượng họ nghiên cứu bằng cái mà họ gọi là « quan hệ tương đương », tức là những quy tắc biến đổi một đối một mà vẫn giữ nguyên các cấu trúc (phép « đẳng cấu ») ; theo cách xếp loại như vậy, hai cá thể « đẳng cấu » có thể được đồng nhất hoá với nhau (đồng nhất hoá, chứ không đồng nhất, không « bình đẳng », nói rõ như vậy để trả lời những đồ đệ « dậy non » của Jean-Paul Sartre). Ta hãy lấy « analysis situs » của Poincaré làm ví dụ : các cơ cấu mà tô pô học nghiên cứu là những « không gian tô pô », nghĩa là những tập hợp trong đó người ta có thể định nghĩa khái niệm « lân cận », nói nôm na : thế nào là hai điểm « gần » nhau ; một phép đẳng cấu do đó là một phép biến đổi một đối một giữ nguyên được sự « gần nhau » ấy (hai điểm A và B « gần nhau » được biến thành hai điểm A’ và B’ cũng « gần nhau »). Phép đẳng cấu giữa hai không gian tô pô được gọi là phép « đồng phôi » (homéomorphisme), hay nôm na hơn, phép biến dạng liên tục (déformation continue). Cho nên người ta thường gọi tô pô học bằng cái tên nôm na gợi hình là « hình học cao su » : hai cái hình làm bằng màng cao su, thí dụ hình tròn và hình bầu dục, có thể biến hoá cái nọ thành cái kia bằng cách co kéo cái màng cao su mà không làm rách hay phải cắt nó. Có rất nhiều thí dụ dễ hiểu về không gian tô pô. Ai cũng biết những « không gian thực n chiều » mà kí hiệu là Rn : khi n=1 đó là đường thẳng, 2 chiều mặt phẳng (ở trường học, ai chẳng học trên đường thẳng, mỗi điểm được xác định bằng 1 hoành độ, trên mặt phẳng, mỗi điểm được xác định bằng 2 toạ độ), không gian R3 là không gian « quanh ta » mà cơ học Newton nghiên cứu, R4 là không – thời gian của thuyết tương đối (hẹp)... Hình dung ra không gian nhiều chiều cũng không có gì khó : chẳng cần đọc tiểu thuyết viễn tưởng, ta hãy xem sổ hộ tịch trong đó người ta kê khai tên họ, giới tính, tuổi, chiều cao, quốc tịch, tổng cộng là 5 tham số (được mã hoá thành số), mỗi cá nhân với « 5 toạ độ » ấy là một « điểm » trong không gian R5 ! Và để xếp loại các không gian tô pô (không phân biệt các không gian « đồng phôi »), người ta căn cứ vào những cái « bất biến », tức là những tính chất bất biến qua những phép đồng phôi. Để xếp loại côn trùng, các nhà động vật học đếm số chân, số cánh... Đối với các không gian Rn , tất nhiên nhà tô pô học nghĩ tới chiều kích của chúng, và đúng như vậy, một định lí nổi tiếng của Whitney (đầu thế kỉ XX) cho biết rằng hai không gian Rn và Rp đồng phôi với nhau nếu và chỉ nếu n=p. Định lí này dễ cảm nhận bằng trực quan, nhưng muốn chứng minh nó, phải có trình độ tối thiểu là MA đại học về toán, điều này cho thấy sự thâm sâu của những bài toán tô pô học. Một con số – chiều kích n – cũng đủ làm đặc trưng cho các không gian Rn, song sẽ quá ngây thơ nếu ta tưởng rằng đối với các không gian tô pô cũng đơn giản như vậy. Thực ra bài toán đặt ra quá tổng quát, chẳng cần nghiên cứu Sartre (làm sao mà hai cá nhân có thể « bình đằng », « bằng » nhau được ?) cũng có thể nhận thấy. Vì thế, các nhà tô pô học, theo chân Poincaré, sẽ khiêm tốn tự giới hạn trong « các đa tạp tô pô n chiều » mà đại khái ta có thể coi là các « hình » trong hình học đã nói ở trên. Một đa tạp n chiều như vậy là một không gian tô pô « đồng phôi cục bộ » (nghĩa là ở vùng lân cận của mỗi điểm ; chứ nếu « đồng phôi toàn bộ » thì chẳng còn gì để nói nữa) với không gian Rn. Xin lấy một ví dụ để bạn đọc có thể hình dung : Mặt Đất chúng ta đang sống trên đó « nằm trong » không gian (3 chiều) R3, nhưng ở cục bộ mỗi điểm trên địa cầu, nó đồng phôi với R2 (một mặt phẳng, tức là một đa tạp 2 chiều). Nói nôm na : đứng ở bất cứ nơi nào trên Mặt Đất, người quan sát cũng có cảm tưởng nó là mặt phẳng (chứ không phải mặt cầu). Nhưng ai chẳng biết rằng Mặt Đất không phải là mặt phẳng ! Magellan đã chứng minh điều đó khi ông đi một vòng quanh địa cầu. Đối với nhà tô pô học, hiển nhiên là mặt cầu không thể đồng phôi với mặt phẳng : mặt cầu là compac, mặt phẳng không. Tính compac rất khó giải thích bằng ngôn ngữ hàng ngày, song có thể nói thế này : một không gian tô pô nằm trong một không gian Rn, nếu nó compac thì tất nhiên nó « đóng kín, bị chặn » (hai từ này có thể hiểu theo nghĩa đời thường). Hai kiểu bất biến vừa nói ở trên – chiều kích và tính compac – được coi là « sơ cấp » vì chúng liên quan tới khái niệm lân cận gắn liền với định nghĩa đa tạp. Một trong những đóng góp quan trọng của Henri Poincaré là đề ra một bất biến kiểu mới, là khái niệm « nhóm cơ bản », một khái niệm liên quan tới lí thuyết nhóm. Một đa tạp sẽ được gọi là « liên thông đơn thuần » nếu nhóm cơ bản chỉ vỏn vẹn có một phần tử. Để cảm nhận bằng trực giác khái niệm « liên thông đơn thuần », ta hãy hình dung một mặt cong trên đó ta vẽ một « đường vòng », một thứ « dây thòng lọng » : nếu ta có thể « rút dây », thắt nó nhỏ dần, cho đến khi nó nhỏ tí, thành một điểm mà sợi dây vẫn nằm hoàn toàn trên mặt cong, thì mặt cong có tính « liên thông đơn thuần ». Nói khác đi, một đa tạp liên thông đơn thuần nếu bất cứ đường vòng nào nằm trong đa tạp có thể được biến dạng liên tục thành một điểm. Ta hãy lấy vài ví dụ đa tạp 2 chiều nằm trong không gian 3 chiều R3 : mặt phẳng, mặt cầu rõ ràng là liên thông đơn thuần, ngược lại mặt xuyến (thí dụ nhưng cái săm bánh ô tô hay bánh xe đạp) không liên thông đơn thuần (dây thòng lọng buộc quanh cái săm, « xuyên qua lỗ ở giữa », không thể « thắt » nhỏ thành một điểm mà không cắt đứt cái săm). Như vậy là mặt phẳng, mặt cầu và mặt xuyến là 3 đa tạp không đồng phôi đôi một với nhau : mặt phẳng và mặt cầu vì tính compac, mặt cầu và mặt xuyến vì tính liên thông đơn thuần. Mấy thí dụ trực quan này cho ta hình dung cách đặt vấn đề của ức đoán Poincaré. THURSTON, HAMILTON, PERELMAN và KHƯU (YAU) Trước khi Perelman thượng đài, tình hình bài toán Poincaré là như thế nào ? Trường hợp 2 chiều đã được Riemann lí giải từ trước khi Poincaré sáng lập ra tô pô học (tất nhiên, do đó, Riemann dùng một ngôn ngữ khác). Từ Poincaré trở đi, bộ môn này đã phát triển tột bực, tích luỹ một khối lượng những khái niệm, định lí nhờ đó Stephen Smale đã chứng minh được ức đoán Poincaré cho tất cả các đa tạp chiều kích bằng 5 hay lớn hơn (huy chương Fields 1961), sau đó Michael Freedman thanh lí trường hợp chiều kích 4 – cũng lạ là trường hợp này phức tạp hơn về mặt kĩ thuật – (huy chương Fields 1982) (5). Còn trường hợp chiều kích 3 vẫn « trơ gan cùng tuế nguyệt », dường như ở cấp độ của vũ trụ vật lí (chúng ta nên nhớ vũ trụ Einstein là một đa tạp 4 chiều, tính compac của một đa tạp nằm trong vũ trụ này tuỳ thuộc vào tỉ trọng của vật chất chứa đựng trong đó), khó khăn không chỉ đơn thuần là những khó khăn toán học. Bao giờ cũng vậy, tình hình khai thông là nhờ có sự đột phá về quan niệm. Đầu tiên là do William Thurston (huy chương Fields 1982) đề ra một cách phân loại các đa tạp 3 chiều. Ở đây, ta lại gặp một tình huống thường xảy ra, bài toán hóc búa, vì quá đơn lẻ, được lồng vào một lí thuyết bao quát hơn, mở ra những viễn tượng mới. Thurston đề ra mộc ức đoán mới, gọi là ức đoán về sự hình học hoá, theo đó tổng cộng có 8 kiểu đa tạp 3 chiều ; một trong 8 kiểu đó là kiểu « mặt cầu » 3 chiều nói tới trong ức đoán Poincaré. Song tính chất bao quát của ức đoán Thurston dường như làm cho nó ở ngoài tầm với của những lí thuyết hiện tồn (cũng như ở ngoài tầm với của khả năng phổ biến khoa học : từ nay trở đi, độc giả cho phép chúng tôi dùng nhiều ngoặc kép). Một trong những lí thuyết đó là « tô pô học vi phân », nhờ đó người ta đặt thêm lên các đa tạp một cấu trúc nữa để có thể áp dụng các phương trình vi phân riêng. Chính trong phương hướng mới này mà trong thập niên 1980, Richard Hamilton đã tạo ra sự khai thông cuối cùng với khái niệm « dòng chảy Ricci », một phương trình tương tự như phương trình quen thuộc trong vật lí học : phương trình nhiệt của Laplace. Sự truyền dẫn của « dòng Ricci » trên đa tạp cho phép phát hiện những « điểm kì dị ». Chương trình Hamilton đề nghị thanh lí những điểm kì dị đó bằng « phẫu thuật », một kĩ thuật quen thuộc đối với giới tô pô học, song khó khăn lớn ở đây là không chắc gì cuộc phẫu thuật này lại không tạo ra những điểm kì dị mới, và cứ như thế, quá trình này trở thành liên hồi bất tận. Ngược lại, nếu cuộc phẫu thuật thành công, thì ức đoán Thurston được chứng minh, và đương nhiên, cả ức đoán Poincaré. Chính trong thời gian sang Mĩ nghiên cứu sau khi đỗ tiến sĩ mà Perelman đã được biết chương trình Hamilton, và đã đến gặp Hamilton để được ông giải thích tường tận. Hình như Perelman đã tự « coi như là môn đệ » của Hamilton, một điều rất hiếm, chứng tỏ Perelman khá mến mộ Hamilton. Thực ra, hình như ngay từ đầu « Grisha » đã chắc mẩm dòng chảy Ricci là cái chìa khoá, và ông không hề cải chính rằng mình trở lại St Petersburg là để tiến công vào chương trình Hamilton. Ông đã bỏ ra 8 năm trời, và công trình này làm ta liên tưởng tới cuộc chiến đấu đơn độc của Wiles để chứng minh định lí lớn của Fermat. Câu chuyện lẽ ra đến đây là kết thúc. Nhưng không, trước tiên là vì Perelman không chịu tôn trọng luật chơi. Bởi vì các mệnh đề toán học, một khi đã được chứng minh rồi, trở thành những chân lí tuyệt đối (trong khuôn khổ những tiên đề nhất định), cho nên bài chứng minh nhất thiết phải được các chuyên gia kiểm tra kĩ lưỡng rồi được công bố để bất cứ nhà toán học nào cũng có thể tìm đọc, và nếu muốn, thì kiểm tra lại. Ba bài viết mà Perelman đưa lên mạng internet không tuân thủ khuôn phép ấy : một mặt, Perelman không gửi cho một tạp chí để chúng được kiểm tra, thẩm định ; mặt khác, đó không phải là một bài chứng minh đầy đủ, mà chỉ là những phác thảo (tuy khá chi tiết) đưa ra các nguyên tắc và nét lớn, bỏ qua những khó khăn kĩ thuật đôi khi khá quan trọng. Không ai nghi ngờ rằng nếu Perelman chịu khó thì ông sẽ hoàn tất, nhưng phải bao nhiêu nỗ lực và thời gian ? Song ý nghĩa khoa học (và, khốn thay, tác động của media) quan trọng đến mức cộng đồng toán học lần này chấp nhận không làm đúng các thủ tục một cách nghiêm ngặt. Ngoài các xêmina và các nhóm làm việc thường vẫn được tổ chức như trong các trường hợp tương tợ (tại Princeton, Lyon...) để thảo luận về các kết quả của Perelman, đã có hai sáng kiến vượt ra khỏi thông lệ, độc lập với nhau, với những động cơ khác nhau, đã được tiến hành và đi tới kết luận tích cực. Một mặt là viện Clay rất muốn trao giải đầu tiên (quảng cáo mà) cho một « bài toán thiên niên kỉ », nên đã cử hai chuyên gia về tô pô học vi phân, là John Morgan (trường đại học Columbia, đã nói ở trên) và Gang Tian (Điền Cương, viện MIT) tập trung toàn phần thời gian vào việc thẩm định các bài viết của Perelman, và biên tập toàn bộ các phần chứng minh với đầy đủ chi tiết. Họ đã hoàn thành công việc và kết quả là một cuốn sách 473 trang sắp sửa được Viện Clay xuất bản. Mặt khác, sau 3 năm làm việc, hai nhà toán học Trung Quốc, Xiping Zhu (Chu Hi Bình) và Huaidong Cao (Tào Hoài Đông), dưới sự « huấn luyện » của nhà hình học Shing-Tung Yau (Khưu Thành Đồng, huy chương Fields 1982), vừa công bố trên tạp chí Asian Journal of Math (cũng phải nói rõ : do họ Khưu làm đồng chủ biên) một bài viết 318 trang để chứng minh ức đoán của Thurston, « dựa trên » những ý tưởng của Hamilton và Perelman (chữ của họ). Cần nói rõ, theo tập tục của giới toán học, một bài chứng minh chỉ được coi là « nguyên khôi » nếu nó được thực sự tìm ra lần đầu tiên, hoặc là nó lấp được một lỗ trống hoặc sửa lại một sai lầm thực sự của một bài chứng minh trước đó (trường hợp thứ nhì này đã xảy ra với bài chứng minh định lí Fermat của Wiles, có một lỗ trống đã được học trò của Wiles là Richard Taylor bổ khuyết, vì vậy định lí này từ nay mang tên chính thức là định lí Wiles-Taylor). Nhưng trong câu chuyện đang bàn, theo ý kiến của các nhà chuyên môn, bài viết của Tào và Chu hoàn toàn không thể xếp vào hai trường hợp nói trên. Cũng như cuốn sách của Morgan và Điền Cương, nó chỉ có thể được coi là một công trình soi sáng (công phu) công lao của Perelman. Tất cả chuyện này lẽ ra chỉ gây sóng gió trong chén trà của giới chuyên môn nếu như, phía Trung Quốc không làm ầm ĩ trên báo đài : đầu tháng 6.2006, hai tháng trước Đại hội Madrid, Khưu Thành Đồng đã tổ chức họp báo để nói về việc chứng ming ức đoán Poincaré tại Viện toán học Bắc Kinh. Ông viện trưởng họ Khưu không ngần ngại phân phát công lao như sau : 50% về phần Hamilton, 25% về phần « người Nga Perelman », 30% về người Hoa – một con toán cộng đơn giản cho thấy nhà hình học họ Khưu chắc không phải là nhà lí thuyết số. Đến cuối tháng 6, ông Khưu lại tổ chức một « sô » hội nghị vật lí học ở Bắc Kinh, với sự hỗ trợ của nhà cầm quyền Trung Quốc và sự tham gia của những đại gia như Stephen Hawking (« nhà vật lí thiên văn ngồi xe lăn »), để trình bày trong một phiên họp khoáng đại một báo cáo về... ức đoán Poincaré, công lao của hai môn đệ họ Tào và họ Chu, và nói đây là một thành tựu vĩ đại của học thuật Trung Quốc. Phải nói là họ Khưu, sinh trưởng hầu như ở Hồng Kông (bố mẹ ông đã chạy trốn Giải phóng quân Trung Hoa năm 1949, khi Khưu mới 5 tháng), làm việc ở Hoa Kì, sau khi được giải Fields năm 1982 đã trở thành một ông quan đại thần của nền khoa học Trung Quốc, đầu óc « đại hán » cũng chẳng thua ai. Giới toán học khó chấp nhận cách hành xử thiếu đạo đức khoa học như vậy. Philip Griffiths, nhà hình học kiệt xuất, người đã giúp Khưu rất nhiều trên đường công danh, đã phải lên tiếng : « Chính trị, quyền lực và những trò ma giáo không có chỗ đứng chính đáng trong cộng đồng chúng ta, chúng đe doạ sự toàn vẹn tinh thần của toán học ». Khi quyết định trao giải cho Perelman mặc dầu biết rằng Perelman từ chối, có lẽ Uỷ ban Fields cũng không muốn nói gì hơn. Đỗ Thống (Kiến văn dịch từ nguyên tác tiếng Pháp)
  14. ​Lũ Nam Á: hơn 450 người chết, 400.000 người bị vây 10/09/2014 14:40 GMT+7 Nhà chức trách nói 400.000 người đang bị kẹt trong lũ ở khu vực Kashmir do Ấn Độ kiểm soát - Ảnh: BBC Tại khu vực Kashmir do Ấn Độ kiểm soát, các quan chức cho biết đã có 200 người chết và 400.000 người đang bị mắc kẹt do lũ, trong đó có hàng ngàn người đang tránh lũ trên mái nhà chờ được giải cứu. Riêng tại Srinagar, hàng trăm người đang tìm cách tháo chạy khỏi thành phố. Theo tường thuật của phóng viên BBC, trong khi các du khách cố gắng bắt các chuyến bay để ra khỏi thành phố thì những người có ít tiền như lao động nhập cư trông chờ các chuyến bay miễn phí. Hiện con đường chính dẫn tới sân bay thành phố và nhiều khu vực khác vẫn đang chìm dưới nước dù lượng mưa đã giảm. Tại Pakistan, lũ cũng cướp đi mạng sống của 254 người. Hãng tin AP dẫn lời Bộ trưởng Điện và nước Pakistan Khwaja Mohammad Asif cho biết khoảng 700.000 người đã được yêu cầu sơ tán do nơi họ ở có thể bị nước lũ nhấn chìm trong 4 ngày tới. Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif nói đợt lũ này là một "thời khắc buồn" của đất nước, và thừa nhận chính quyền đã không chuẩn bị trước cho đợt lũ lớn như vậy. "Lũ đến quá đột ngột và không ai biết rằng một trận lũ lớn như vậy đang tới", ông nói với các nạn nhân lũ lụt tại huyện Hafiz hôm 9-9. Hiện quân đội hai nước đang nỗ lực giải cứu và phân phát hàng cứu trợ cho những người bị mắc kẹt. Tại Ấn Độ, nhà chức trách nói việc thiếu thuyền cứu hộ và thiếu kết nối viễn thông đã ảnh hưởng đến hoạt động cứu hộ. Thành phố Srinagar (Ấn Độ) vẫn ngập sâu dù mưa đã giảm - Ảnh: Reuters Tại Pakistan, khoảng 700.000 người đã được yêu cầu sơ tán tránh lũ - Ảnh: EPA MINH ANH
  15. Người Trung Quốc dự báo có chiến tranh với Nhật 10/09/2014 15:06 GMT+7 TTO - Khảo sát do Trung Quốc nhật báo công bố ngày 10-9 cho thấy hơn 50% người dân nước này dự báo chiến tranh giữa TQ và Nhật sẽ nổ ra trong tương lai. Tàu tuần tra Trung Quốc và Nhật chạy song song ở vùng biển gần quần đảo tranh chấp Senkaku/ Điếu Ngư - Ảnh: Reuters Trung Quốc nhật báo và tổ chức phi chính phủ Nhật Genron đã khảo sát gần 1.600 người Trung Quốc từ 18 tuổi trở lên ở năm thành phố lớn là là Bắc Kinh,Thượng Hải, Thành Đô, Thẩm Dương và Tây An. Kết quả là 53,4% người được hỏi khẳng định chiến tranh Trung - Nhật sẽ nổ ra trong tương lai. Hơn 25% bi quan dự báo chiến tranh giữa hai quốc gia láng giềng Đông Á sẽ xảy ra chỉ trong vài năm nữa do xung đột tranh chấp quần đảo Senkaku mà phía Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư. Có tới 86,8% người được hỏi cho biết rất ghét nước Nhật. Trung Quốc nhật báo và Genron cũng khảo sát khoảng 1.000 người Nhật ở độ tuổi tương tự và 29% dự báo chiến tranh sẽ xảy ra. Có tới 93% người được hỏi cho biết không thích Trung Quốc. Khoảng 55% cho rằng các hành động của Trung Quốc đi ngược lại luật pháp quốc tế. Nhiều người Nhật cũng đánh giá các hành động nhằm vơ vét tài nguyên, năng lượng và thực phẩm mà Bắc Kinh đang thực hiện là “hết sức ích kỷ”. Xã luận của Trung Quốc nhật báo đánh giá kết quả khảo sát là “rất đáng lo ngại” và lãnh đạo chính phủ hai nước “cần phải lấy làm lo lắng”. “Lãnh đạo hai nước cần nhóm họp để cải thiện mối quan hệ đang ngày càng xấu đi” - Trung Quốc nhật báo khẳng định. Dù vậy báo này đổ lỗi cho Nhật nhiều hơn và nhấn mạnh “trái bóng đang nằm bên phần sân của Tokyo”. NGUYỆT PHƯƠNG =================== Cái lày cũng lói nâu rùi: Canh bạc cuối cùng sẽ xảy ra ở Hoa Đông. Híc.
  16. Nhật, Mỹ bí mật thảo luận khả năng Tokyo sở hữu vũ khí tấn công Thứ Tư, 10/09/2014 - 10:00 (Dân trí) - Mỹ và Nhật Bản đang xem xét khả năng để Tokyo sở hữu các vũ khí tấn công, vốn cho phép Nhật bắn hỏa lực ra xa ngoài biên nước nước này, giới chức Nhật cho biết, trong một động thái có thể khiến Trung Quốc giận dữ. Thủ tướng Nhật Shinzo Abe. Ba nguồn tin giấu tên của Nhật tiết lộ với hãng tin Reuters rằng Tokyo đang tiến hành các cuộc thảo luận không chính thức với Washington, mà trước đó không được tiết lộ, về các phương án vốn có thể đánh dấu một sự tăng cường khả năng quân sự cho Nhật Bản. Tuy nhiên, giới chức Nhật nói thêm, các phương án về điều mà Nhật Bản xem là "khả năng tấn công" mới chỉ ở giai đoạn ban đầu và không liên quan tới các thiết bị quân sự cụ thể trong thời điểm này. Hiến pháp Nhật hiện thời cấm Tokyo sở hữu vũ khí tấn công. Giới chức quốc phòng cho hay một khả năng tấn công đòi phải có sự thay đổi trong học thuyết quân sự phòng vệ đơn thuần của Nhật. Sự thay đổi này có thể mở ra cánh cửa đối với các hệ thống tên lửa tấn công và các khí tài khác trị giá hàng tỷ USD. Các khí tài có thể bao gồm các dạng khác nhau, như tên lửa hành trình bắn từ tàu ngầm, tương tự tên lửa Tomahawk của Mỹ. Theo giới chức Mỹ, không có cuộc thảo luận chính thức nào về vấn đề trên, nhưng không loại trừ khả năng các liên lạc không chính thức về chủ đề này đã diễn ra. Một quan chức Mỹ cho hay Nhật đã đề cập không chính thức với giới chức Mỹ về vấn đề này hồi năm ngoái. Quân đội Nhật rất mạnh nhưng bị kiềm chế bởi hiến pháp hòa bình. Lực lượng phòng vệ Nhật có hàng chục tàu hải quân mặt nước, 16 tàu ngầm, 3 tàu sân bay trực thăng, với nhiều tàu khác đang được chế tạo. Nhật cũng sẽ mua 42 máy bay chiến đấu tàng hình tối tân F-35 của Mỹ. Tái bố trí quân đội Nhật thành một lực lượng quyết đoán hơn là chính sách cốt lõi của Thủ tướng Shinzo Abe. Ông Abe đã chấm dứt một thập niên cắt giảm chi tiêu quốc phòng và một lệnh cấm các binh sĩ Nhật tham chiến ở nước ngoài, đồng thời nới lỏng các hạn chế về xuất khẩu vũ khí. Tokyo đã từ bỏ một đề nghị nhằm thảo luận các khả năng tấn công trong các cuộc đàm phán cấp cao nhằm sửa đổi các đường lối chỉ đạo cho liên minh an ninh Mỹ-Nhật, dự kiến sẽ kết thúc vào cuối năm nay. Thay vào đó, vấn đề nhạy cảm trên đang được thảo luận một cách riêng rẽ. Tuy nhiên, bất kỳ thỏa thuận nào với Washington cũng còn phải mất vài năm và các trở ngại là rất lớn, từ các chi phí cho tới những lo ngại về quan hệ với các láng giềng châu Á như Trung Quốc và các vấn đề nhạy cảm trong bản thân liên minh Mỹ-Nhật. Giới chức Nhật cho hay những người đồng cấp Mỹ tỏ ra thận trọng về ý tưởng của Nhật, một phần vì điều đó có thể khiêu khích Trung Quốc, vốn cáo cuộc ông Abe muốn làm hồi sinh chủ nghĩa quân phiện thời chiến. Tấn công các căn cứ tên lửa Triều Tiên Mặc dù sự kình địch giữa Nhật Bản và Trung Quốc đang gia tăng do tranh chấp lãnh thổ nhưng trọng tâm của Tokyo có thể là khả năng tấn công các căn cứ tên lửa của Triều Tiên, theo 3 quan chức Nhật giấu tên tham gia vào tiến hành thảo luận Mỹ-Nhật. Triều Tiên nằm cách Nhật Bản chưa đầy 600 km tính từ điểm gần nhất. Bình Nhưỡng đã cải thiện khả năng tên lửa đạn đạo và tiến hành 3 vụ thử vũ khí hạt nhân, gần đây nhất là vào tháng 2/2013. Hồi tháng 4 năm nay, Triều Tiên nói rằng trong trường xảy ra một cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên, Nhật có thể bị phá hủy hoàn toàn trong "các ngọn lửa hạt nhân". Một phần động lực của Nhật nhằm tăng cường khả năng là sự ngờ vực rằng Mỹ, vốn có 28.000 quân tại Hàn Quốc và 38.000 quân tại Nhật, có thể không muốn tấn công Triều Tiên trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, giới chuyên gia Nhật cho hay. Các lực lượng Mỹ có thể muốn kiềm chế trong một số tình huống, như nếu Hàn Quốc muốn ngăn chặn sự leo thang. Theo các đường lối an ninh hiện thời, trong trường hợp hảy ra một cuộc tấn công tên lửa đạn đạo, "các lực lượng Mỹ sẽ cung cấp cho Nhật thông tin tình báo cần thiết và có thể cân nhắc, nếu cần thiết, sử dụng lực lượng cung cấp hỏa lực tấn công bổ sung". Các cuộc thảo luận không chính thức về khả năng tấn công sẽ bàn tới mọi phương án, từ việc Nhật tiếp tục phụ thuộc hoàn toàn vào Washington để có được các vũ khí. Nhật muốn đi đến một thỏa thuận trong khoảng 5 năm và sau đó bắt đầu mua vũ khí, một quan chức Nhật tiết lộ. An Bình ==================== Cái lày Lão Gàn lói nâu rùi mà! Mà còn cụ tỷ tầm bắn của vũ khí tấn công đến đâu nữa chứ lỵ! Không có chuyện lày mới nà nạ. Thích thì chiều à! Ấy là hòa thượng Thích Thì Chiều bảo thế!
  17. Cảm ơn Tiên Lưu có lời nhắc nhở. Thực ra công cuộc chứng minh văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử đã vượt qua rất nhiều giai đoạn khó khăn. Cái khó khăn lớn nhất là sự u minh của nhận thức trong tính chấp từ hơn 2000 năm qua cho rằng: "Cội nguồn văn minh của Đông phương thuộc về văn minh Hán" đã bị phá bỏ. Mặc dù không phải ai cũng dễ dàng nhận thức được điều này - dù là giáo sư tiến sĩ - Chỉ những người có khả năng tư duy tổng hợp mới thấy được những giá trị của nó. Những gì mà tôi viết trong các sách đã xuất bản không phải để ai cũng có thể bình luận. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, tôi xác định những quy luật vũ trụ đang chi phối đến từng hành vi của con người và cả những suy nghĩ của họ. Đó cũng chính là nội dung câu nói nổi tiếng của nhà khoa học hàng đầu SW Hawking: "Nếu quả có một lý thuyết thống nhất thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?". Do đó, với nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại - mà tiêu biểu là những tri thức cao cấp - cho dù họ tự hào về tri thức của họ đến mấy thì cũng không vượt thoát được những giá tri thức nền tảng của trí thức thuộc về nền văn minh hiện đại. Cho nên, nếu cứ thuận tự theo quy luật tiến hóa thì đến một lúc nào đó, khi hội tụ đủ điều kiện trong một tương lai nào đó, sự phát triển của nền văn minh hiện đại sẽ tìm thấy (hoặc không) một lý thuyết thống nhất. Như vậy, một lý thuyết thống nhất thuộc về sự phát triển trong tương lai, tức là nó phải xuất phát từ một nền tảng tri thức của một nền văn minh vượt trội trong tương lai. Bởi vậy, ngay cả những tri thức hàng đầu của nền văn minh hiện nay, cũng chưa hiểu gì về lý thuyết thống nhất, cho dù những tri thức tinh hoa cỡ SW Hawking đã có ý niệm về những tiêu chí - tức là những điều kiện cần - của lý thuyết này. Nhưng một điều may mắn cho nền văn minh hiện nay là: Đã có một lý thuyết thống nhất tồn tại từ trước nền văn minh hiện nay. Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh Việt tộc với lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến. Do đó, để hiểu được bản chất học thuyết này - lý thuyết thống nhất - không phải cứ giáo sư tiến sĩ là hiểu được. Chưa nói đến đám lởm khởm phát biểu nhằm mục đích thể hiện là chính. Để hiểu được điều này cần một tư duy phức hợp. Đây là một dạng tư duy của tương lai mà giáo sư tiến sĩ Chu Hảo đã đề cập trong Hội nghị tông kết 10 hoạt động của Tổng Cty DTT: Như vậy, giáo sư tiến sĩ Chu Hảo đã xác định rằng: Đây là tư duy của tương lai. Do đó không hẳn cứ giáo sư tiến sĩ là phải hiểu được vấn đề, khi mà nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại chưa biết được nội dung của một lý thuyết thống nhất. Khái niệm tư duy phức hợp - tôi gọi là tư duy tổng hợp - phải là sự kết tinh cả một qúa trình tiến hóa của tư duy con người. Nó phải tổng hợp gồm cả: tư duy phân loại, tư duy hợp lý, tư duy biện chứng và khả năng phân tích và tổng hợp tất cả mọi sự kiện, vấn đề với mọi hiện tượng. Do đó, để hiểu được vấn đề phải là những nhà khoa học tinh hoa, hoặc những người hiểu được những tiêu chí cần cho một lý thuyết thống nhất, hay những người có khả năng tư duy trừu tượng phát triển (Không cần phải giáo sư tiến sĩ). Đây chính là khó khăn khăn lớn nhất phải vượt qua. Tôi quan tâm đến điều này nhiều hơn tất cả những khó khăn khác. Còn đám lởm khởm phát biểu chỉ để cho vui. Giáo sư Ngô Bảo Châu được cả thế giới vỗ tay, nhưng để hiểu và công nhận ông ta, lúc đầu chắc cũng chỉ có vài người. Thuyết ADNh chỉ tồn tại trên thực tế trong không/ thời gian của một quá khứ lịch sử bị phủ nhận; đó là Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử. Trong điều kiện hiện nay nó tồn tại dưới dạng ảo và người ta chỉ cảm nhận được sự tồn tại của nó qua các phương pháp ứng dụng, như: phong thủy, tử vi, đông y.....Lý thuyết này chưa chính thức thể hiện sự tồn tại một cách hoàn chỉnh qua bản văn trong nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại. Chưa có một bản văn dù của bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới, kể cả bản văn chữ Hán - vốn tự nhận là chủ nhân của nền văn minh Đông phương - mô tả một cách dù chỉ là khái quát học thuyết này, cũng không có. Bởi vậy, những kẻ tự cho mình là hiểu thuyết ADNh và kinh Dịch, thực tế chỉ là những kẻ chém gió thực sự và hoang tưởng. Tất cả những gì còn lại của học thuyết này trên thực tế chỉ là những hệ quả của học thuyết này - có thể gọi là những hệ thống lý thuyết chuyên ngành ứng dụng - trong cuộc sống, thiên nhiên, xã hội và con người - như: Đông y, tử vi, phong thủy...nhưng cũng không hoàn chỉnh, sai lạc vì thất truyền mà thôi. Do đó, gọi là "để chứng minh lý thuyết ADNH là lý thuyết thống nhất" - khi nó chưa thể hiện sự hoàn hảo trên thực tế qua các di sản của nó là các bản văn chữ Hán - thì trước hết phải mô tả đúng nguyên lý căn để và những nguyên lý, định đề đích thực trong hệ thống lý thuyết thể hiện và tính hoàn chỉnh của nó thông qua tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Đó chính là những cuốn: "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lạc thư hoa giáp", "Tìm về cội nguồn kinh Dịch", "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" và các bài viết trên diễn đàn ... Nền văn minh hiện nay chưa có nhu cầu về một lý thuyết thống nhất, nhưng nó đã thấy một khả năng có thể về sự hình thành lý thuyết này trong tương lai. Do đó, sự tương quan của nền văn minh này với lý thuyết thống nhất, cũng mới chỉ giống như cách suy nghĩ của một bà bán xôi thất học, không cần đến bất cứ một lý thuyết nào, nhưng vì mong muốn con cháu hiểu biết, nên tôn trọng thày giáo đang giảng dậy trong nhà trường mà thôi. Những tri thức tinh hoa của nền văn minh hiện đại - cũng tương tự như bà bán xôi với mong muốn con cháu phải chăm học, để tiếp thu kiến thức - và họ mới chỉ thể hiện ở cách đặt vấn đề cho tiêu chí của một lý thuyết thống nhất. Tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất trong cuốn "Lược sử thời gian" của ngài Hawking chưa hoàn hảo, mặc dù tương đối tập trung. Nó vẫn đang được bổ sung, đó là tiêu chí: "Một lý thuyết thống nhất phải giải thích được cả vấn đề tôn giáo và tâm linh".....Do đó, để chứng minh một lý thuyết thống nhất - vốn chưa hề tồn tại trong tất cả sự hiểu biết của nền văn minh hiện đại - phải căn cứ vào tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất làm chuẩn mực để so sánh đối chiếu. [Đó là một trong những nguyên nhân để không có "Hạt của Chúa" , mà tôi đã xác định từ lâu (Từ một lý thuyết đến một hiện tượng ứng dụng là tìm "hạt của Chúa" có mối liên hệ rất phức tạp, không thể gõ trên mạng với một topic được)]. Thuyết ADNh là một học thuyết không thuộc về nền văn minh hiện đại vốn có nguồn gốc từ văn minh Tây phương - và nó có trước tất cả những khái niệm về tri thức khoa học của nền văn minh hiện đại. Cho dù chưa nói đến vấn đề lý thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất - thì trước hết, để chứng minh bản chất của lý thuyết này là một lý thuyết khoa học, cũng phải lấy tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học làm chuẩn mực để so sánh, đối chiếu. Và để chứng minh nó chính là lý thuyết thống nhất cũng phải lấy tiêu chí khoa học cho một lý thuyết thống nhất làm chuẩn mực so sánh đối chiếu. Những ý tưởng cho rằng cần có "di vật khảo cổ" để chứng minh thì đó chỉ là thứ tư duy của đám "ở trần đóng khố". Vớ vẩn. Mất thời giờ tranh biện. Để chứng minh và được công nhận thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước, thì phải là sự tập hợp của tất cả những tri thức tinh hoa trong tất cả các lĩnh vực, như: các vị đứng đầu các tôn giáo, các nhà khoa học đứng đầu các ngành của khoa học tự nhiên và xã hội đang tồn tại trong nền văn minh hiện nay, và họ phải hoàn toàn thỏa mãn với những vấn đề họ đặt ra. Đấy mới là một sự công nhận hoàn hảo của một lý thuyết thống nhất (Ngay cả trong trường hợp này, vẫn có vài ý kiến lởm khởm, nhưng dễ thuyết phục). Còn sự công nhận và hiểu biết cục bộ thì nó cũng chỉ giống như người ta đi vay tiền của bà chúa Kho và được thỏa mãn vậy. Mặc dù như vậy cũng tốt lắm rồi - nhưng chỉ cho người đi vay. Tức là nó vẫn còn mơ hồ với các phần còn lại của thế giới. Đây chính là những chặng đường khó khăn phải vượt qua trong tương lai. Điều kiện tất yếu là lý thuyết này phải gắn liền với lịch sử văn minh Việt. Vì chỉ có những di sản còn lại của nền văn minh này mới đủ khả năng phục hồi lại một cách hoàn hảo thuyết ADNh. Nhưng tôi cũng cần xác định rằng: sự hình thành một lý thuyết thống nhất là cả một qúa trình tiến hóa lâu dài của cả một nền văn minh và nó phải thuộc về nền văn minh toàn cầu đã từng tồn tại trên trái Đất này. Do đó, ngay cả Việt tộc - một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử, cũng chỉ là hậu duệ của nền văn minh toàn cầu đã từng tồn tại trên trái Đất này và sở hữu những giá trị của nền văn minh đó. Hay nói cách khác: Không một dân tộc nào, một quốc gia nào, một khu vực cư trú nào trên trái Đất có thể tự nó phát hiện ra lý thuyết thống nhất. Lý thuyết thống nhất phải là hệ quả của một nền văn minh toàn cầu và là kết quả của một quá trình tiến hóa của cả một nền văn minh. Sự tiến hóa của nền văn minh hiện đại cho đến ngày nay, chưa thật sự có nhu cầu về một lý thuyết thống nhất. Nhưng nó đang mong muốn có sự hiểu biết về lý thuyết này. Tiền đề cho sự thể hiện nội dung của một lý thuyết thống nhất là thuyết ADNh thì phải xác định tính chân lý của Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miến nam sông Dương tử. Lý thuyết thống nhất khi con người tìm ra nó sẽ có tác dụng như thế nào với nền văn minh trong tương lai (*) thì ngay trong cuốn "Lược sử thời gian" đã đề cập tới. Nhưng đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Nhược đài sư tử thượng. Thiên hạ thái bình phong. ================== PS:Vài thí dụ cho những khả năng tư duy không lệ thuộc vào bằng cấp , là: Một người bạn tôi - cũng hàm giáo sư tiến sĩ - cho rằng: "Trong tiêu chí khoa học không có vấn đề tiên tri". Nếu không phải bạn tôi, mà là người khác vào diễn đàn với cái nicknem thì chắc chắn tôi delete khỏi diễn đàn. Nhưng tôi biết rõ bạn tôi với tinh thần trao đổi học thuật, nên chỉ nhắc bạn tôi là: Nếu không có tính tiên tri trong tiêu chí khoa học thi giữa lý thuyết khoa học có khả năng tiên tri và tôn giáo không phân biệt được. Chưa hết, có vài kẻ dốt nát, thấy hình thức của thuyết ADNH và tín ngưỡng, tâm linh có những nét giống nhau, thế là so sánh tôi với những nhà tâm linh học. Nhưng những cái đầu đất sét đó làm sao hiểu được rằng: Một trong những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất , là nó phải giải thích được những vấn đề, tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh. Hoặc một thí dụ khác, rất công khai đó là trong buổi trao đổi ngày 30. 8 tại 19B Phạm Ngọc Thạch, cafe thứ Bẩy Trung Nguyên , một giáo sư vật lý lý thuyết - ông Nguyễn Văn Trọng - được giới thiệu là thuộc loại hàng đầu của Việt Nam, phản biện tiêu chí khoa học cho một lý thuyêt khoa học mà tôi trình bày, là: Một lý thuyết khoa học không cần tính hợp lý, ngoại trừ toán học!? Tất cả mọi người tham dự và cả tôi đều nghe rõ phát biểu của giáo sư Trọng. Với quan niệm này cho thấy ông ta không phải giáo sư vật lý lý thuyết thuộc loại hàng đầu của Việt Nam (Nếu thế thì nền khoa học Việt Nam tệ quá! Híc!). Trong khi đó tư duy hợp lý là yếu tố cần ngay của một bà bán cá ở chợ Bắc Qua. Cụ thể: bà mua cá 10.000VND, thằng nào con nào trả mở hàng dưới gía đó, bị nghe chửi là một thí dụ về tính hợp lý. Chưa nói đến một lý thuyết khoa học. Giáo sư Trọng sau khi nghe tôi biện minh thì ông thừa nhận tính hợp lý có trong lý thuyết vật lý của Newton?!
  18. Tập Cận Bình chống tham nhũng để tránh sụp đổ09/09/2014 17:26 (TNO) Cuộc chiến chống tham nhũng và hoang phí trong bộ máy công quyền Trung Quốc xuất phát từ mối lo sụp đổ chế độ, một nhà báo Singapore nhận định với Thanh Niên Online. Pháo hoa mừng lễ trung thu ở quảng trường Thiên An Môn năm 2012 nay trở thành hình ảnh dĩ vãng dưới chính sách thắt lưng buộc bụng của Chủ tịch Tập Cận Bình - Ảnh: AFP Nhà báo kỳ cựu không muốn xưng danh, hiện là một biên tập viên của tờ Straits Times, bác bỏ nghi ngờ rằng cuộc chiến chống tham nhũng và lộng quyền, được mệnh danh là “đả hổ lẫn ruồi nhặng”, mà Chủ tịch Tập Cận Bình khởi xướng từ khi nắm quyền hồi tháng 11.2012 là “thanh trừng lẫn nhau”, hay “có phần chiếu lệ”. “Tôi tin rằng ông Tập hiểu rõ tầm quan trọng của việc xóa bỏ tham nhũng để ngăn chặn sự sụp đổ của Đảng Cộng sản”, nhà báo từng nhiều năm thường trú ở Bắc Kinh và Đài Loan khẳng định. Am hiểu lịch sử và chính trường Trung Quốc, nhà báo người Hoa này giải thích thêm về lựa chọn hành động của ông Tập: “Sự sụp đổ của nhà Thanh là kết quả của nạn tham nhũng tràn lan bắt nguồn từ triều đại của Càn Long”. Trị từ chiếc bánh trung thu Tờ China Daily ngày 9.9 trích thông tin từ kênh truyền hình quốc gia Trung Quốc CCTV cho hay trong dịp lễ trung thu vừa qua, cả nước có 28 trường hợp tặng bánh và các vật phẩm khác tại các cơ quan nhà nước có tính chất vi phạm quy định “thắt lưng buộc bụng” của Chủ tịch Tập. Bài báo cũng cho biết hôm 8.9, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng (CCDI) công bố báo cáo hằng tuần cho hay từ ngày 1-7.9, cả nước có tổng cộng 177 trường hợp vi phạm quy chế, bao gồm 28 trường hợp nói trên. Riêng tại thủ đô Bắc Kinh mùa trung thu, có 2 trường hợp bị phanh phui. Trường hợp thứ nhất là giám đốc Trung tâm thương mại lương thực quốc gia dùng tiền cơ quan mua và phân phát cho nhân viên bánh và phiếu tặng quà. Trường hợp thứ hai xảy ra tại Trung tâm xúc tiến phát triển công nghiệp văn hóa quận Hoài Nhu nằm ở vùng ngoại ô. Vị giám đốc trung tâm đã lấy công quỹ phát cho nhân viên tổng cộng 27.300 nhân dân tệ (95 triệu đồng) tiền mặt. Hai vị này hiện đã bị kỷ luật cảnh cáo, tờ China Daily cho biết. Tờ báo này cũng nhìn nhận rằng trung thu là dịp lễ truyền thống lớn thứ hai trong năm của Trung Quốc, sau tết nguyên đán. Và việc biếu nhau bánh trung thu là truyền thống lâu đời. Nhưng bên cạnh bánh trung thu, nhiều nơi cũng kèm theo trong hộp bánh những thứ có giá trị khác, thậm chí là tiền mặt. Giáo sư Yan Jirong, từ Trường quản lý hành chính thuộc Đại học Bắc Kinh, nhìn nhận việc cho nhân viên bánh trung thu và kèm theo những thứ giá trị khác như một dạng “thu nhập xám” cũng là một nỗ lực của các lãnh đạo cơ quan nhằm bù đắp cho mức lương bèo bọt của nhân viên nhà nước. Tuy nhiên, “việc mua và phát những hộp bánh như thế bằng công quỹ của nhân dân là hoàn toàn sai trái”, và “việc thiếu kiểm soát cũng như hình phạt thích hợp đã khiến tập quán này trở nên quá phổ biến”, Giáo sư Yan phàn nàn. Bình luận với Thanh Niên Online về việc xử lý các vụ tặng bánh cho nói trên, nhà báo của Straits Times nói: “Quả thật điều đó có phần quá nặng tay. Tuy nhiên, đôi khi cần phải như vậy để đảm bảo quy định được chấp hành”. Tìm và diệt Trưởng ban CCDI Vương Kì Sơn trong một phát biểu mới đây nói rằng, vấn đề không nằm ở chỗ mấy chiếc bánh trung thu mà là những quà tặng xa xỉ, như nữ trang, điện thoại thông minh, thậm chí tiền mặt, ẩn trong những hộp bánh. Các nhà quan sát chỉ ra rằng, trong các “hộp bánh” tặng cho các quan chức thường chứa những thứ xa xỉ mà ông Vương đề cập. Hôm 6.9, CCDI đã đưa lên website tại vị trí nổi bật nhất một danh sách dài dằng dặc gồm số điện thoại, địa chỉ, email... của 4 bộ và 24 tỉnh, thành phố, vùng tự trị để mời gọi người dân liên lạc chỉ điểm những hành vi được coi là hoang phí của các quan chức. “Mục chỉ điểm trên trang web của CCDI cung cấp cho công chúng một kênh trực tiếp để theo dõi việc chi tiêu ngân sách nhà nước”, Giáo sư Yan đánh giá. Ông cũng khẳng định thêm: “Mọi chỉ báo về các hành vi trái phép sẽ bị truy tận gốc”. Theo China Daily, hồi cuối năm 2012, lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành một bản thông tư 8 điểm quy định cắt giảm tiêu xài hoang phí trong các đảng viên. Theo đó, CCDI đã phát động 6 chiến dịch lớn trên toàn quốc vào những dịp lễ nhằm ngăn chặn tham nhũng, hoang phí. Tính đến tháng 6.2014, theo số liệu của CCDI, đã có 61.703 cán bộ, quan chức bị kỷ luật dưới nhiều hình thức, do làm trái quy định. Đặt vấn đề về tính nghiêm minh và năng lực thi hành mệnh lệnh của ông Tập trên toàn quốc gia rộng gần 10 triệu km2, nhà báo Singapore nhận định: “Việc thực thi chắc chắn sẽ khó đồng đều trong cả nước. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng ông Tập có quyền lực tuyệt đối, đủ sức để bảo đảm công cuộc chống tham nhũng có hiệu quả, chứ không như thời ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo”. Khác với người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào, ông Tập Cận Bình ngay khi nhậm chức đã nắm trọn vẹn 3 vị trí quyền lực nhất quốc gia là Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch nước và Chủ tịch Quân ủy Trung ương. “Bên cạnh đó, ông ấy còn nhận được sự ủng hộ của đại bộ phận người dân Trung Quốc vốn mong muốn đẩy lùi nạn tham nhũng”, nhà báo này nói. Thục Minh (Văn phòng Singapore) ============== Nói đi, nói lại mãi nó cũng nhàm: Cho dù ngài Tập đánh chết hết cả hổ lẫn ruồi thì cái khó khăn lớn nhất phải vượt qua chính là sau khi hổ và ruồi chết hết. Huống chi ngài Tập còn chưa đập hết hổ và ruồi. Hì! Ấy là chưa kể hàng loạt những zdấn đề khuých tạp khác đang chở ngài Tập xử lý: Thí dụ như Hớn Cỏong đang làm hình ảnh một Tung Cóoc, hai cái chế độ trở nên mong manh. Hi! Hic! B)
  19. Nổ lớn tại nhà máy hóa chất của Đức Nguyễn Hường 10/09/14 07:54 (GDVN) - Tiếng nổ phát ra từ nhà máy được nghe thấy ở khoảng cách vài km và ngọn lửa lớn bốc lên từ nhà máy có thể được trông thấy từ rất xa trong đêm tối. Một vụ nổ lớn đã xảy ra tại nhà máy hóa chất gần Bremen, tây bắc nước Đức trong tối ngày 9/9 theo giờ địa phương. Hiện trường vụ nổ nhà máy hóa chất được nhìn từ xa. Theo RT, sự cố đã giết chết ít nhất 1 người và nhà máy bị thiệt hại nghiêm trọng. Hơn 300 nhân viên cứu hỏa đã được huy động để dập lửa tại nhà nguyên liệu để sản xuất sơn công nghiệp thuộc công ty Bergolin. Tiếng nổ phát ra từ nhà máy được nghe thấy ở khoảng cách vài km và ngọn lửa lớn bốc lên từ nhà máy có thể được trông thấy từ rất xa trong đêm tối, một phát ngôn viên sở cảnh sát địa phương nói với tờ Bild.
  20. TƯ LIỆU THAM KHẢO Cần nhìn nhận về hệ thống tư liệu chữ Hán ở nước ta như thế nào? Thanh Phong 10/09/14 07:07 Thảo luận (0) (GDVN) - Bản thân chữ Hán không có tội, nó chỉ là một loại công cụ của văn hóa, mà đã là công cụ thì hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng. Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? Tư duy Đại Hán và ẩn ý Kim Dung Gặp người đầu tiên dịch sắc lệnh Hoàng Sa Tòa soạn Báo điện tử giáo dục Việt Nam nhận được bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Phong, ở Đại học An Giang. Theo tác giả, ông đặc biệt ấn tượng với bài viết Thưa ông Bộ trưởng văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai trên chuyên mục Góc nhìn. Từ đây, dưới góc độ của người đã từng giảng dạy Hán Nôm, tác giả Thanh Phong có mong muốn trao đổi thêm về vấn đề sử dụng chữ Hán ở nước ta. Để rộng đường dư luận và tôn trọng chủ kiến của các nhà khoa học, Báo Giáo dục Việt Nam đăng tải ý kiến này của tác giả Thanh Phong. Văn phong, học thuật và chủ ý là của tác giả, tòa soạn chỉ giữ quyền biên tập cơ bản. Đọc bài viết Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? của tác giả Xuân Dương, tôi rất tâm đắc với nhiều quan điểm và kiến nghị của tác giả; thế nhưng, ở góc độ của người ít nhiều từng nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm ở trường đại học, tôi xin được phân tích một số vấn đề thuộc lĩnh vực Hán Nôm và trình bày những điều còn băn khoăn của cá nhân tôi xung quanh bài viết để chia sẻ cùng quý độc giả. Việt Nam ngay từ khoảng đầu Công nguyên bắt đầu tiếp nhận chữ Hán từ phương Bắc truyền sang. Mặc dù là công cụ để truyền bá văn hóa phục vụ đắc lực cho mưu đồ thống trị của phong kiến phương Bắc, thế nhưng trong bối cảnh nước ta chưa có một hệ thống chữ viết phục vụ cho nhu cầu ghi chép của người dân; thì chữ Hán, với những đặc điểm ưu việt của nó, đã dần dần được người Việt tích cực học tập. Từ chỗ e dè tiếp nhận, với phạm vi ảnh hưởng nhỏ hẹp là những người Việt phục vụ cho chính quyền người Hán; dần dần chữ Hán được giới tăng lữ Phật giáo và quý tộc đẳng cấp trên chủ động tiếp nhận, phục vụ đúng mực cho các nhu cầu giao tiếp trong xã hội. Từ sau khi giành độc lập tự chủ, người Việt thực sự chiếm lĩnh trọn vẹn chữ Hán, sử dụng nhuần nhuyễn chúng để phục vụ cho mọi hoạt động triều chính lẫn dân sinh, tạo nên nhiều thành tựu văn hóa, lịch sử to lớn trong quá khứ của dân tộc. Lịch sử du nhập chữ Hán vào Việt Nam cho ta thấy rằng, bản thân chữ Hán không có tội, nó chỉ là một loại công cụ của văn hóa, mà đã là công cụ thì hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sử dụng. Bọn bành trướng phương Bắc thì sử dụng nó làm công cụ nô dịch tư tưởng dân tộc khác, đồng hóa để lấn át đi bản sắc văn hóa riêng của dân tộc khác; người Việt thì lại dùng nó để truyền tải văn hóa và tư tưởng dân tộc mình, làm công cụ để đấu tranh giành độc lập tự chủ, chống lại chủ nghĩa bá quyền phương Bắc, củng cố vị thế hiên ngang của dân tộc mình. Những áng văn thơ tuyệt tác bằng chữ Hán trong kho tàng văn học dân tộc, không thể chối cãi, đã thể hiện rõ điều đó. Điều đáng nói là khi đối diện với chữ Hán, tổ tiên ta đã có thái độ ứng xử không giống như chúng ta ngày nay. Dẫu biết chữ Hán được du nhập từ phương Bắc, được sử dụng với những mưu đồ có lợi cho kẻ xâm lược, thế nhưng người xưa vẫn rất bản lĩnh khi tiếp nhận nó. Ông cha ta nhận thức rõ ràng rằng, tiếp thu chữ Hán và phụ thuộc vào tư tưởng lập trường của người Hán hoàn toàn là hai chuyện khác nhau. Vì vậy mà trên thực tế, chữ Hán đã chuyển tải được ý chí và tâm hồn dân tộc, song hành cùng với nhận thức, tư duy, tình cảm của dân tộc suốt chiều dài chế độ phong kiến đến giữa thế kỷ XX. Sau 1945, người Việt không còn học tập chữ Hán nữa, nền giáo dục Việt đã có chữ quốc ngữ thay thế, dòng mạch truyền tải văn hóa truyền thống bị đứt gãy, không còn liên tục giống như các nước Đông Á khác (Nhật Bản, Hàn Quốc). Nhận thức của thế hệ sau về văn hóa, lịch sử trong quá khứ ngày càng phôi phai, nhạt nhòa dần. Cuộc giao lưu giữa chữ Hán, chữ Tây, chữ quốc ngữ đã cho ra đời nhiều học giả uyên thâm cổ kim đông tây đầu thế kỷ XX trên nhiều lĩnh vực. Ở đó, không phải không có vai trò đóng góp của chữ Hán. Vì thế, trong quá khứ, ít khi nào ông cha ta đặt vấn đề chữ Hán là thứ chữ ngoại lai, là cái của người khác; mà hình như nó đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, của đời sống, nó ngấm sâu vào máu thịt người Việt, là tài sản tinh thần to lớn của người Việt. Chúng ta ngày nay, về mặt chữ viết hầu như đã thoát ly khỏi chữ Hán, hệ thống chữ quốc ngữ tiện lợi dễ học dễ nhớ có thể chuyển tải hầu hết mọi nhu cầu giao tiếp trong cuộc sống. Chữ Hán trong mắt người hiện đại trở thành một thứ chữ viết ngoại lai, bởi lẽ đa phần chúng ta không còn đọc hiểu được nó, mặc dù chúng hầu như vẫn dùng để chuyển tải tinh thần dân tộc. Sự xuất hiện của chữ Hán đâu đó lại ẩn chứa nhiều hiểm họa nếu nước khác tiếp tục lợi dụng chúng phục vụ cho những mưu đồ đen tối để chiếm đoạt chủ quyền. Bối cảnh này khiến chúng ta phải đặt một câu hỏi, làm sao để ứng xử đúng mực, phải lẽ với chữ Hán để một mặt vừa bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, vừa phải đấu tranh chống sự lai căng văn hóa, xâm thực văn hóa tinh vi, lúc ẩn lúc hiện từ bên ngoài. Việc sử dụng chữ Hán cổ khá phổ biến ở nhiều cơ sở thờ tự hiện nay không hoàn toàn giống như việc sử dụng chữ Hán hiện đại trên các biển quảng cáo hàng hóa, dịch vụ. Chữ Hán cổ là sản phẩm lịch sử, có quá trình hình thành và phát triển tự thân trong đời sống xã hội, đã đi vào quá khứ với những giá trị chuẩn mực được cố định hóa, được bao thế hệ người Việt, từ người có học giỏi chữ nghĩa đến những người dân thường mù chữ, trân trọng và kính ngưỡng. Thưa ông Bộ trưởng Văn hóa, đâu là phần chìm của văn hóa ngoại lai? Còn chữ Hán hiện đại trên các biển quảng cáo là sản phẩm của đời sống kinh tế hiện đại, không chứa đựng hàm lượng văn hóa dân tộc, chỉ thuần túy phục vụ nhu cầu giao dịch buôn bán của người sử dụng nó. Vì vậy, việc đánh đồng hai thứ này để xem xét hình như chưa thỏa đáng. Việc sử dụng kinh Phật bằng chữ Hán cũng vậy. Phật giáo Việt Nam trong chiều dài lịch sử là Phật giáo Hán truyền, trong khi ảnh hưởng của Phật giáo nguyên thủy Ấn Độ đến Việt Nam vẫn còn khá nhỏ lẻ, yếu ớt. Do đó, việc sử dụng kinh điển Phật giáo bằng chữ Hán cũng là điều dễ hiểu. Việc thiết lập chùa chiền, tạo dựng văn bia, liễn đối bằng chữ Hán là một sự tiếp nối truyền thống, điều đó chẳng có gì sai, chẳng có gì là nô dịch văn hóa ở đây cả. Nhiều năm gần đây, giới tăng lữ Phật giáo Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, dịch sang tiếng Việt nhiều kinh điển Phật giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá Phật pháp trong giới Phật tử Việt. Kinh điển chữ Hán còn sử dụng phổ biến ở nhiều chùa, được đọc bằng âm Hán Việt chứ không phải bằng âm Hán, đọc lâu dần những người không biết chữ Hán cũng có thể hiểu và chiếm lĩnh được nó. Việc sử dụng cùng lúc bản kinh chữ Hán, chữ quốc ngữ phiên âm Hán Việt hoặc bản dịch sang tiếng Việt đều có giá trị và ý nghĩa riêng của nó, vừa đáp ứng nhu cầu truyền thừa từ thầy tổ, vừa có ý nghĩa để hoằng dương chánh pháp. Quan trọng là các nhà chùa biết linh hoạt sử dụng chúng nơi nào và khi nào. Tôi không nghĩ việc bài trừ một sản phẩm ngoại lai vốn đã quá quen thuộc với người Việt là chữ Hán để tiếp nhận một thứ ngoại lai khác vốn còn xa lạ như chữ Phạn là một thái độ ứng xử đúng đắn. Vấn đề hiện nay là tác động giáo dục của tư liệu chữ Hán đến đa số người hiện đại không biết chữ Hán ngày càng hạn chế. Tôi rất đồng ý với quan điểm của Xuân Dương là cần có sự quy định rõ, đối với những công trình đã có trước đây (có thể lấy năm 1975 làm mốc) thì cần giữ nguyên trạng khi trùng tu, tái lập, việc làm đó thể hiện sự tôn trọng của chúng ta với tiền nhân và quá khứ; còn đối với những công trình được xây dựng mới sau này, cần có sự chuyển đổi dần sang sử dụng chữ quốc ngữ để đa số người dân dễ dàng đón nhận. Nếu vì không đọc được mà phá bỏ tất cả, thì có lẽ ngay cả những hoành phi, liễn đối bằng chữ Nôm, một sản phẩm thể hiện ý chí tự chủ cao độ của người Việt, cũng cùng chung số phận với chữ Hán. Trong vấn đề học tập và nghiên cứu khoa học, người Việt chúng ta đang gặp một trở ngại lớn là khó có thể tiếp xúc được với các văn bản nguyên tác chữ Hán trong lịch sử dân tộc. Trong khi các nước vẫn đang hoặc còn sử dụng chữ Hán khác ở Đông Á dễ dàng tiếp cận với văn bản chữ Hán của Việt Nam hơn, vì vậy mà chất lượng nghiên cứu về Việt Nam của họ có chiều sâu hơn cả người Việt mình. Học giả Việt Nam thiệt thòi nhiều hơn khi phải dành khá nhiều thời gian học tốt chữ Hán trước khi bắt tay vào nghiên cứu sâu văn bản chữ Hán từ các góc độ khác nhau. Vì vậy, việc dạy học chữ Hán cần được triển khai sâu rộng hơn ở những nơi đào tạo các ngành chuyên sâu về xã hội nhân văn như cổ sử, khảo cổ, văn học cổ, triết học phương Đông, ngôn ngữ học… Có như vậy, chất lượng nghiên cứu khoa học liên quan chữ Hán về lâu dài không thua sút so với bạn bè trong khu vực. Ứng xử với chữ Hán như thế nào cho phải lẽ quả không đơn giản. Chúng ta không thể loại trừ chữ Hán ra khỏi đời sống văn hóa hiện đại, càng không thể đánh đồng chữ Hán với tư cách là một sản phẩm văn hóa với chính sách bành trướng của thiểu số những người lãnh đạo quốc gia sáng tạo ra nó. Vì vậy, cần có một cái nhìn khách quan, lịch sử, tỉnh táo và đa diện để tránh rơi vào những cực đoan. Do có nhiều điểm tương đồng trong quá khứ, Việt Nam khi ứng xử với chữ Hán cần tham khảo nhiều hơn thái độ và cách làm của người Nhật Bản và Hàn Quốc, cần học hỏi các nước này trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc và bài trừ biểu hiện lai căng khi tiếp thu văn hóa ngoại lai, mà sư tử đá Trung Quốc là một ví dụ tiêu biểu. ================== Bài viết này sai ngay từ đầu với sự mặc định dốt nát. Bởi vậy, mọi chuyện cứ loạn cào cào, nếu Việt sử 5000 năm văn hiến không được xác định tính chân lý của nó. Nhưng cũng cần nói thêm rằng: Ông này đúng khi đề nghị giữ lại những chữ Nho trong các di sản văn hóa đã hình thành trong lịch sử.
  21. Sập mái đền ở Pakistan làm ít nhất chín người thiệt mạng (Vietnam+) lúc : 09/09/14 19:41 http://dunyanews.tv) Có ít nhất 9 người bị thiệt mạng khi mái một ngôi đền bị đổ sập tại thành phố Lahore ở miền đông Pakistan vào ngày 9/9, và theo các quan chức, số người chết có thể còn tăng lên. Vụ việc xảy ra tại Daroghawala, một khu vực dân nghèo ở ngoài thành phố với những con đường hẹp và luôn tắc nghẽn. "Thi thể của ít nhất 9 người cầu nguyên đã được kéo ra khỏi đóng đổ nát, trong khi còn chưa rõ con số bị vùi bên dưới," nhân viên cứu hộ Jam Sajjad nói với hãng tin AFP. Được biết có tới 30 người đang tham gia buổi cầu nguyện buổi chiều thường nhật. "Chúng tôi sợ rằng con số thiệt mạng có thể tăng lên. Các con đường rất đông nên các xe hạng nặng không thể tiếp cận để chuyển gạch đá rơi. Mọi người trong khu vực này cũng đang giúp cho công tác cứu trợ," Sajjad cho biết. Quan chức chính quyền địa phương Usman Ahmed đã xác nhận vụ sập mái đền cũng như con số thương vong./.
  22. Ở Bắc Kinh, Mỹ - Trung "đấu tới" vụ vờn máy bay 09/09/2014 19:37 GMT+7 TTO - Mỹ nói TQ cần phải dừng “những hành vi chặn đầu nguy hiểm”. TQ yêu cầu Mỹ “giảm dần và cuối cùng là ngừng hẳn hoạt động do thám trên biển và trên không gần TQ”. Bà Susan Rice bắt tay với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị - Ảnh: Reuters Ngày 9-9, các quan chức an ninh Mỹ và Trung Quốc đã chỉ trích qua lại vì vụ máy bay Trung Quốc chặn đầu một cách nguy hiểm máy bay tuần tra Mỹ trên không phận quốc tế. Theo Reuters, đến thăm Bắc Kinh Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Susan Rice tuyên bố Trung Quốc cần phải dừng “những hành vi chặn đầu nguy hiểm”. “Chúng ta phải tránh những sự cố có thể làm phức tạp quan hệ hai nước”- bà Rice nhấn mạnh. Ý bà Rice nhắn đến vụ một máy bay chiến đấu Trung Quốc ngăn chặn máy bay tuần tra của hải quân Mỹ trên vùng không phận quốc tế gần đảo Hải Nam hồi tháng 8. Có mặt cùng bà Rice ở Bắc Kinh, một quan chức Mỹ giấu tên cũng khẳng định hành vi của máy bay Mỹ là rất mạo hiểm và có thể đe dọa quan hệ song phương. Phản ứng lại, Tân Hoa xã dẫn lời ông Phạm Trường Long, Phó chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc, yêu cầu Mỹ “giảm dần và cuối cùng là ngừng hẳn hoạt động do thám trên biển và trên không gần Trung Quốc”. Trên thực tế, đó không phải là lần đầu tiên máy bay Mỹ và Trung Quốc đối đầu nhau ở không phận quốc tế. Tháng 4-2001, một máy bay chiến đấu Trung Quốc cũng chặn đầu máy bay tuần tra Mỹ dẫn tới va chạm khiến phi công Trung Quốc thiệt mạng. Khi đó máy bay Mỹ buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam. Phía Trung Quốc giam giữ 24 thành viên phi hành đoàn Mỹ trong vòng 11 ngày. Sau vụ đối đầu mới đây hồi tháng 8, quan chức Mỹ và Trung Quốc đã đàm phán ở Lầu Năm Góc về các quy định liên quan đến cách ứng xử trong các hoạt động hàng hải và hàng không. Tại Bắc Kinh bà Rice cũng kêu gọi Trung Quốc không phân biệt đối xử với các doanh nghiệp Mỹ. Trước đó Bắc Kinh mở hàng loạt cuộc điều tra tội độc quyền nhắm vào các doanh nghiệp Mỹ như Qualcomm hay Microsoft. Quan chức Mỹ đi cùng bà Rice cho rằng việc Trung Quốc dùng công cụ pháp lý để “quấy rối và đe dọa” các công ty Mỹ là hành động trái ngược lại các cam kết thương mại mà Bắc Kinh từng đưa ra. NGUYỆT PHƯƠNG ================= Lão Gàn đang vạch kế hoạch để trả nợ hơn hai tỷ, nhưng quên mựa nó cái vấn đề tiền đâu mua rau muống bữa cơm chiều. Hì. Cái ghoàn cảnh của Lão Gàn hiện nay nó giống với cái ghoàn cảnh Hoa Kỳ và Tung Cóoc bi wờ. B)
  23. Phát hiện muỗi to như chuồn chuồn kim ở Quảng Bình 09/09/2014 07:03 Một khách hàng tình cờ phát hiện con muỗi to như con chuồn chuồn kim ở một quán cà phê trên địa bàn TP Đồng Hới (Quảng Bình). Anh N. người phát hiện ra con muỗi cho biết: Sáng 8/9, khi đang ngồi uống cà phê trên đường Trần Nhân Tông thì nghe tiếng vò vò từ xa. Đang chưa hiểu chuyện gì thì bất ngờ anh thấy một con vật bay đậu vào áo của mình. Tưởng là con ong, anh hoảng hốt lấy tay phủi mạnh, con vật rơi xuống nền nhà. Định thần nhìn lại, ban đầu anh nghĩ là con chuồn chuồn kim, nhưng nhìn kỹ thì không phải, nó có hình dáng giống con muỗi. Anh N. chộp được con vật này và gọi mọi người tới xem, ai cũng khẳng định là rất giống con muỗi. Theo ghi nhận của PV, con vật này có hình thù như một con muỗi được phóng to, màu nâu đen, có đầy đủ vòi hút máu, thân, cánh, đặc biệt sải chân của nó rộng chừng 10cm. Ông Lại Văn Hải, Giám đốc Trung tâm Y tế Dự phòng TP Đồng Hới cho biết, qua kiểm tra sơ bộ tại phòng thí nghiệm và đối chiếu với các mẫu vật muỗi lâu nay thu thập được, có thể khẳng định đây chính là một cá thể muỗi. Nhưng nó thuộc loại muỗi nào thì chưa thể khẳng định vì các chuyên gia tại trung tâm của ông chưa nhìn thấy mẫu vật này bao giờ. Ông Hải cho biết thêm, ông đang làm các thủ tục để chuyển mẫu vật này đi kiểm tra.
  24. Chặn bức "trường thành" trái luật của Trung Quốc trên biển Đông Thứ Ba, 09/09/2014 - 17:29 Các dữ liệu lịch sử cho thấy tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc (TQ) trên biển Đông là không có cơ sở. LTS: Cuối tuần qua, người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN đã lên tiếng phản đối hành vi TQ khai trương tuyến du lịch biển đến quần đảo Hoàng Sa, bởi đây là nơi VN có “chủ quyền không thể tranh cãi”. Tờ National Interest mới đây đăng tải một bài viết phân tích những điểm bất hợp lý trong đòi hỏi chủ quyền của TQ trên biển Đông, từ góc dữ liệu lịch sử và luật pháp. Xin trân trọng giới thiệu tư liệu này, như góc nhìn tham chiếu trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của VN. Chuỗi hành động Nửa đầu 2014 liên tục chứng kiến các hành vi gây hấn của Trung Quốc trên biển Đông, khi Bắc Kinh tiếp tục chiến lược "ăn từng lát" (salami-slicing) chủ quyền biển. Bắc Kinh muốn thay đổi nguyên trạng trong khu vực nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền (phi nghĩa - ND) của họ với hai quần đảo tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa, cũng như hải phận bao quanh. Vào tháng Hai, Trung Quốc bắt đầu một dự án khai hoang lớn trên đảo Gạc Ma (Johnson South Reef) thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà có thể là để xây dựng một sân bay quân sự nhằm kiểm soát các tuyến đường biển trọng yếu trên biển Đông. Những tháng tiếp theo, chính quyền Trung Quốc bắt đầu thực thi luật đánh bắt cá mới, yêu cầu tàu thuyền nước ngoài phải xin phép trước khi khai thác trong vùng biển rộng hơn hai triệu cây số vuông mà Trung Quốc nói là nằm trong "đường chín đoạn". Vào tháng Năm, Trung Quốc hạ đặt một giàn khoan nước sâu (Hải Dương 981) cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý, và khoan dầu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Tàu chiến của quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và các tàu tuần tra thuộc chính quyền Bắc Kinh, cũng như một lượng lớn các tàu cá dân sự, đã được dàn trận để che chắn cho giàn khoan này. Những tuần tiếp theo, Cơ quan Quản lý An toàn Biển Trung Quốc đã ngăn chặn việc cung cấp nhu yếu phẩm cho 10 lính Philippines đóng quân trên tàu BRP Sierra Madre tại bãi Cỏ Mây (Second Thomas) thuộc Trường Sa, dù cho quân đội Philippines đã đồn trú tại đây từ năm 1999. Cuối cùng, trong một động thái phớt lờ đề xuất của Mỹ tại Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN nhằm chấm dứt các hành vi gây hấn trên biển Đông, Bắc Kinh tuyên bố vào tháng Tám rằng họ sẽ xây hải đăng trên năm điểm, trong đó có hai đảo nhỏ thuộc Hoàng Sa, với mục đích được cho là đảm bảo an toàn hàng hải. Vào tháng Năm, Trung Quốc hạ đặt một giàn khoan nước sâu (Hải Dương 981) cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý. Ảnh: Cảnh sát biển VN Hai tuần sau đó, một máy bay chiến đấu Su-27 đã thực hiện một cuộc can thiệp nguy hiểm vào máy bay tuần tiễn US Navy P-8, vốn đang thực hiện hoạt động khảo sát thông thường cách đảo Hải Nam 135 dặm về phía tây. Giống như sự kiện EP-3 vào năm 2001, máy bay chiến đấu Trung Quốc đã lượn vài vòng phía dưới và dọc chiếc P-8, trước khi bay lên mũi và chỉ cách chiếc máy bay loại Poseidon này từ 6-10m. Đòi hỏi chủ quyền vô lý Bắc Kinh cho rằng hành động trên là phù hợp, bởi họ tuyên bố có "chủ quyền không thể tranh cãi" trên các đảo và hải phận bao quanh chúng ở biển Đông, cũng như quyền chủ quyền và tài phán ở hải phận và đáy biển bên trong "Đường chín đoạn". Tuy vậy, khi xem xét một cách cẩn trọng những dữ liệu lịch sử và luật pháp, có thể thấy rằng đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông là vô lý. Lý lẽ của Bắc Kinh cho chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa dựa vào các chứng cứ cho thấy Trung Quốc từ triều Hán đã thực hiện các hành vi khẳng định chủ quyền liên tục và mở rộng trên hai quần đảo này. Tuy thế, dù các nhà thám hiểm Trung Quốc có thể biết đến sự tồn tại của các quần đảo thuộc biển Đông, thì cũng không có bằng chứng rõ ràng cho thấy Trung Quốc thực sự "tìm ra" chúng trước các vương quốc láng giềng ở Việt Nam, Malaysia, Indonesia, và Philippines. Hơn nữa, ngay cả nếu Trung Quốc có thực sự tìm ra các quần đảo này, luật quốc tế quy định khá rõ ràng rằng chỉ phát hiện không thôi là chưa đủ để giành lấy quyền lãnh thổ, nếu không có các hành động kiểm soát và chiếm hữu thực tế. Chiếm hữu thực tế đòi hỏi ý định và ý chí của một bên nhằm thực hiện quyền chủ quyền, đồng thời phải có những động thái hoặc phô diễn thực tế ý định và ý chí đó. Hoàn toàn là không có bất kỳ chứng cứ đáng tin cậy nào cho thấy Trung Quốc chiếm hữu các quần đảo trên một cách hòa bình và liên tục, hay thực hiện các hành động cần thiết chứng tỏ chủ quyền của mình ở đó. Bắc Kinh chủ yếu dựa vào những ghi chép cho thấy ngư dân Trung Quốc đôi lúc ngụ cư ở một số hòn đảo của Trường Sa trong thời gian ngắn. Tuy vậy theo luật quốc tế, hành động không mang tính chiếm hữu của cá nhân không được coi là "hành động của quốc gia" trừ khi được chính quyền chỉ đạo. Không có bằng cứ thuyết phục nào chứng tỏ chính quyền Trung Quốc đã từng đưa ra những chỉ đạo như thế. Động thái đầu tiên chứng tỏ chủ quyền Trung Quốc ở Hoàng Sa mà có thể kiểm chứng được diễn ra vào năm 1909. Tuy thế, hành động này diễn ra sau gần 100 năm khi vua Gia Long của Việt Nam chiếm hữu quần đảo một cách chính thức vào năm 1816. Việt Nam và Pháp kiểm soát thực tế và liên tục quần đảo này cho đến khi Nhật Bản tiếp quản trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Động thái đầu tiên chứng tỏ chủ quyền Trung Quốc ở Trường Sa mà có thể kiểm chứng được diễn ra còn muộn hơn, vào năm 1933, sau khi Pháp tuyên bố chủ quyền vào năm 1929 với lý do "đất vô chủ" (terra nullius). Người Pháp chính thức chiếm hữu quần đảo vào năm 1933. Tại thời điểm Pháp sáp nhập và chiếm hữu thực tế quần đảo Hoàng Sa, xâm chiếm vẫn được coi là một phương pháp mở rộng lãnh thổ được thừa nhận trong luật quốc tế. Xâm chiếm chỉ trở nên bất hợp pháp sau khi Hiến chương Liên hợp quốc được công bố vào tháng 10/1945. Trung Quốc cũng dựa vào một số hiệp ước, tài liệu và tuyên bố để chứng minh tuyên bố chủ quyền của mình với các quần đảo trên biển Đông. Tuy thế, không có văn bản nào ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh. Trung Quốc cho rằng Pháp từ bỏ tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa - Trường Sa sau Hiệp ước Pháp - Thanh năm 1887. Quan điểm của họ tuy vậy lại không xác đáng khi đọc lại hiệp ước này, hay xem xét hành động của các bên liên quan trong vụ tranh chấp. Biên giới được thiết lập sau năm 1887 chỉ quyết định quyền sở hữu các đảo gần bờ, chứ không phải các đảo ngoài khơi ở Vịnh Bắc Bộ hay Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Bắc Kinh phụ thuộc vào Tuyên bố Cairo (1943) và Tuyên cáo Potsdam (hay Tuyên bố các điều kiện định rõ cho sự đầu hàng của Nhật Bản - 1945) để chứng minh cho quan điểm của mình cũng rõ ràng là không có cơ sở. Các văn bản trên chỉ nói rằng Trung Quốc sẽ được lấy lại Mãn Châu, Đài Loan, và đảo Bành Hồ sau chiến tranh. Câu tiếp theo nói rằng quân Nhật sẽ bị đuổi ra khỏi "các lãnh thổ khác" mà đã sáp nhập bằng vũ lực, nhưng không nói rằng các "lãnh thổ khác" này sẽ thuộc về Trung Quốc. Kết luật logic duy nhất là các lãnh thổ này có bao gồm Hoàng Sa - Trường Sa, vốn được chiếm đóng bằng vũ lực từ Pháp, chứ không phải Trung Quốc. Các quần đảo này vì vậy sẽ được trả lại cho Pháp, chứ không phải Trung Quốc, sau chiến tranh. Kết luận này được ủng hộ bởi thực tế là Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch xuất hiện tại hội nghị Cairo, nhưng lại không có văn bản nào liên quan đến các đảo thuộc biển Đông trong tuyên bố. Chắc chắn là nếu Hoàng Sa và Trường Sa được coi là lãnh thổ Trung Quốc trước Thế chiến, Tưởng Giới Thạch đã yêu cầu các quần đảo này được trả lại cho Trung Quốc tại hội nghị. (Còn tiếp) Theo Khắc Giang(theo National Interest) Tuần Việt Nam
  25. So sánh nhận thức của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam Đăng ngày Thứ hai, 07 Tháng 7 2014 10:33 Giới sử gia quốc tế đã đặt lại vấn đề về lịch sử Việt Nam: sử quan ngày trước, trong thời phong kiến, nhận thức quốc sử ra sao? Học giả Yu Insun trả lời câu hỏi trên bằng cách so sánh quan điểm sử học của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên, theo thứ tự là sử quan đời Trần và sử quan đời Lê, tác giả bộ Đại Việt Sử Ký và bộ Sử Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, (gọi tắt là Toàn Thư). Theo bộ sử Đại Việt Toàn Thư, vua Trần Thánh Tông, trị vì từ năm 1258 tới 1278, chỉ thị cho Lê Văn Hưu tham khảo sách sử và soạn thành bộ Đại Việt Sử Ký, gồm 30 quyển, dựa theo phương pháp viết sử của Tư Mã Quang, tác giả bộ sử Tư Trị Thông Giám của Trung Quốc. Nội dung bộ sử của Lê Văn Hưu, bắt đầu từ Triệu Đà, trị vì vào khoảng cuối thế kỷ III và chấm dứt vào cuối đời nhà Lý (1225). Ngày nay giới sử học trong và cả ngoài Việt Nam chỉ tìm thấy bộ Toàn Thư gồm 15 cuốn. “Một so sánh về nhận thức của hai sử gia Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về lịch sử Việt Nam” [“Lê Văn Hưu and Ngô Sĩ Liên - A Comparative of their Perception of Vietnamese History”] là tựa đề tiểu luận của Yu Insun, nguyên giáo sư ban Sử Á châu tại Đại học Quốc gia Hán Thành [seoul National University]. Tiểu luận này đã được tình bày tại Hội nghị “Vietnam: Beyond the Frontiers” do Viện Quốc tế, Đại học California tại Los Angeles tổ chức trong hai ngày 11-12, 2001. Nghiên cứu này của giáo sư Insun đã đăng lại [p. 47-71] trong cuốn “Viet Nam: Borderless Histories” do Nhung Tuyet Tran và Anthony Reid là chủ biên và University of Wisconsin Press phát hành năm 2006. Bạn đọc có thể tham khảo nguyên bản Anh ngữ tại đây. Dưới đây bản lược dịch và nhận định về tiểu luận của Insun đã đăng trên Tạp chí Truyền Thông Communications, số 41 & 42, Thu Đông 2011, trang 156-168. Bộ Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, lấy bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên, Trung Quốc, làm mẫu mực, là một bộ sử biên niên, khởi từ đời Hồng Bàng, khoảng ba ngàn năm trước công nguyên, kéo dài tới cuối nhà Lê vào năm 1428. Năm 1428,vua Lê Thánh Tông xuống chiếu chỉ thị cho các sử thần thâu thập sử liệu gửi về tàng trữ tại Đông Các. Ngô Sĩ Liên được chỉ định tham dự vụ thâu thập sử liệu nói trên, nhưng ông có tang thân phụ, phải về quê cư tang. Hết tang, ông trở lại viện Đông Các thời việc thâu thập sử liệu đã hoàn tất. Ngô Sĩ Liên, sử dụng những sử liệu do ông thu thập được, trong số đó có bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, đối chiếu sử liệu Việt Nam với sử liệu Trung Quốc, viết thành bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, gồm có Ngoại Kỷ, Bản Kỷ và Lê Thái Tổ Kỷ, dâng lên vua Lê Thánh Tông năm 1479. Số sử liệu tàng trữ tại viện Đông Các đã thất lạc, chỉ còn bộ Toàn Thư truyền lại tới ngày nay. Sau đó, sử quan dưới triều Lê ghi chép việc nước viết thành bộ Đại Việt Sử Ký Tục Biên. Hai bộ sử Đại Việt Sử Ký và Toàn Thư, tạm đủ cho việc đối chiếu quan điểm sử học của hai sử quan Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên. Trong Đại Việt Sử Ký, Lê Văn Hưu viết ra 30 lời bàn. Trong Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên để lại 170 lời bàn. Trong số đó, cho tới hết triều nhà Lý, sử quan Ngô Sĩ Liên viết 83 lời bàn: tức là có 56 lời bàn nhiều hơn tổng số lới bàn của Lê Văn Hưu. Có nhiều lời bàn, cả hai sử quan cùng bàn về một sử kiện. Đối chiếu lời bàn của hai sử quan trong những trường hợp này giúp người đọc dễ bề so sánh quan điểm sử học của hai nhà viết sử. Tác giả bộ Đại Việt Sử Ký Tục Biên không ghi thêm lời bàn. Lê Văn Hưu Chế độ truyền ngôi vua cho con để làm Thái Thượng Hoàng bắt đầu từ năm 1258 dưới triều vua Trần Thái Tông gây thêm mối căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. Hơn nữa tục nhà Trần cho các hoàng tử công chúa thành hôn với nhau, nhắm mục đích củng cố vương quyền, cùng sự việc nho giả không được trọng dụng trong triều đình, đều đi ngược lại với tục lệ Trung Quốc. Thế nên việc vua Trần sai Lê Văn Hưu viết Đại Việt Sử Ký 大 史 có thể coi như triều đình nhà Trần muốn chứng tỏ quyền bình đẳng và sự độc lập giữa nước Đại Việt với triều đình nhà Nguyên khi đó đang đô hộ Trung Quốc.Lê Văn Hưu người Thanh Hóa, sinh năm 1230, mất năm 1322, thọ 93 tuổi. Ông đậu tiến sĩ năm 1247. Sau khi phục vụ trong nhiều chức vụ trong triều, ông được bổ nhiệm làm Chưởng Sử Quán, kiêm binh bộ thượng thư. Nhiều sử gia nghiên cứu về Lê Văn Hưu đặt câu hỏi: có những sử kiện quan trọng nào đã xẩy ra từ năm năm 1230 khi Lê Văn Hưu ra đời tới năm 1272 khi ông hoàn tất bộ Đại Việt Sử Ký? Hiển nhiên sử kiện quan trọng nhất là thời kỳ quân Nguyên xâm lăng nước Đại Việt năm 1257, tiếp theo là cuộc chiến thắng của Trần Hưng Đạo đuổi quân Nguyên ra khỏi bờ cõi. Triều đình nhà Nguyên phải phong cho vua Trần Thánh Tông, năm 1261 làm An Nam Vương, từ đó việc bang giao giữa Nhà Nguyên với nhà Trần mới trở lại bình thường. Tuy nhiên nhà Trần luôn luôn phải đề phòng nạn xâm lăng của nhà Nguyên. Năm 1271, nhân dịp đăng quang vua Nguyên đòi vua Trần sang chầu. Năm sau vua Nguyên lại gửi ba sứ thần sang Đại Việt tìm cột đồng do Mã Viện trồng để đánh dấu biên thùy Hoa-Việt sau khi thắng quân Hai Bà Trưng năm 42 Tây lịch. Việc Lê Văn Hưu chọn Triệu Đà 佗 làm khởi điểm cho việc dựng nước Đại Việt là bằng chứng sự bình dằng giữa hai nước Hoa-Việt. Điều đó căn cứ trên truyền thuyết lịch sử dưới đây. Năm 196 trước Tây lịch. Sau khi thống nhất được đất nước, Hán Cao Tổ 漢 リ 祖 sai sứ là Lục Giả x ネ sang Nam Việt phong vương cho Vũ Vương Triệu Đà. Gặp sứ giả nhà Hán, Triệu Đà hỏi: “Ta với Cao Tổ ai lớn hơn ai?” Lục Giả trả lời Hán Cao Tổ trị vì một nước lớn hơn ắt là lớn hơn.” Triệu Đà hỏi tiếp: “Nếu ta sinh ra tại Trung Quốc, liệu ta có lớn bằng Cao Tổ không?” Sau khi Lữ Hậu 呂后 tiếm ngôi nhà Hán, việc bang giao giữa Nam Việt và nhà Hán trở nên căng thẳng hơn. Năm 183 trước Tây lịch, Triệu Đà tự xưng là Vũ Đế ngang hàng với các Hoàng Đế nhà Hán. Sau khi Hán Văn Đế 漢 文 帝 lên ngôi, một mặt Triệu Đà sai sứ sang triều cống nhà Hán, để duy trì hoà bình giữa hai nước, một mặt vẫn tự coi là ngang hàng với hoàng đế nhà Hán. Suốt thời gian Lê Văn Hưu làm quan trong triều nhà Trần, nước Đại Việt luôn luôn bị nạn xâm lăng của Bắc Triều đe dọa, nên chắc chắn là ông thấu hiểu tầm quan trọng của việc duy trì nền độc lập, cùng việc tranh đấu để tránh những mối nhục trong việc bang giao. Triệu Đà là vị vua khéo léo giữ được độc lập cho đất nước mà không hy sinh sự đồng đẳng giữa hai nước Nam Việt và Trung Quốc nên không bị mất mặt trên đường ngoại giao. Đó là những lý do khiến Lê Văn Hưu coi Triệu Đà như người sáng lập ra nước Việt Nam. Dĩ nhiên Lê Văn Hưu cũng biết đến những vị lãnh đạo khai quốc khác trước Triệu Đà, nhưng hình ảnh những vị khai quốc đó mờ nhạt trước hình ảnh Triệu Đà vì những vị lãnh đạo khai quốc trước Triệu Đà đều bằng lòng với danh hiệu vương 王 do triều đình Trung Quốc phong cho, và không dám nghĩ tới việc xưng đế 帝. Bình về Triệu Đà, Lê Văn Hưu viết cái lớn lao của người trị nước không phải là cái lớn lao của diện tích đất nước người đó mà là cái đức 德 của người đó. Lời đó là lời Lê Văn Hưu bác bỏ lời Lục Giả so sánh Triệu Đà với Hán Cao Tổ trên đây. Trong lời Lê Văn Hưu, chữ đức không chỉ trọn vẹn là chữ đức của đạo nho. Chứ đức này là chữ đức của một vị đế, biết hạ mình để giữ nước, như lời Lão Tử Đạo Đức Kinh. Lê Văn Hưu đã đoan kết là hai vị vua đầu nhà Trần, Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đều đã theo đúng gương Triệu Đà, một mặt giữ viện toàn được đất nước, mặt khác mềm mỏng giữ được bình đẳng ngoại giao với triều nhà Nguyên. Lê Văn Hưu căn cứ trên mức bình đẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam để ghi làm năm khởi đầu nền độc lập của nước Việt Nam đối với Trung Quốc. Ông không chọn năm 939, năm Ngô Quyền xưng vương, một năm sau khi đánh bại quân Nam Hán; mà ông chọn năm 966, năm Đinh Bộ Lĩnh xưng đế sau khi dẹp xong loạn mười Hai Xứ Quân, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đặt kinh đô tại Hoa Lư. Ông công nhận công lao Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán, nhưng ông chỉ trí Ngô Quyền không xưng đế, không chọn quốc hiệu, không đặt kinh đô, do đó Ngô Quyền không hoàn tất sự nghiệp dựng nước cho người Việt. Đinh Bộ Lĩnh, theo Lê Văn Hưu mới chính là người Trời sai xuống, dẹp tan loạn xứ quân, tiếp tục truyền thống dựng nước của Triệu Vũ Đế. Đặt cao nền độc lập của người Lạc Việt, Lê Văn Hưu kết tội những ai đã làm mất nền tự chủ của nước nhà. Ông nghiêm khắc chỉ trích tể tướng Lữ Gia 呂 嘉. Vào cuối năm 113 trước Tây lịch. Dưới triều vua Triệu Ai Vương 哀 王, vua nhà Hán sai An Quốc Thiếu Quí 安 國 少 季, sang Nam Việt. Sứ nhà Hán nguyên là tình nhân của hoàng hậu Cù Thị 樛 氏, bà hoàng này vốn chỉ là tỳ thiếp của Triệu Minh Vương, nên cùng dỗ dành Ai vương đem nước Nam Việt về dâng nhà Hán. Lữ Gia biết mưu này, can ngăn không được, nên cùng mấy đại thần đem cấm binh vào giết sứ giả nhà Hán, Cù Thị và Ai vương, tôn Kiến Đức建 德, con trưởng của Minh Vương, mẹ là người Nam Việt lên làm vua. Nhà Hán nhân truyện này dấy quân xâm chiếm Nam Việt. Lữ Gia không chống nổi, và Nam Việt trở thành quân huyện nhà Hán. Việc Lê Văn Hưu kết tội Lữ Gia không giữ nổi nước chứng tỏ lòng ông thiết tha với nền tự chủ của Nam Việt. Tiếp theo, Lê Văn Hưu chỉ trích những nhà lãnh đạo quần chúng, nổi dậy chống Trung Quốc, nhưng không đạt được tự chủ cho đất nước. Đó là trường hợp Lý Bí 李 チ (còn đọc là Lý Bôn) dưới triều vua Lương Vũ Đế 梁 武 帝, năm 541 thống lĩnh người nghĩa dũng nổi lên đánh đuổi thái thú Giao Châu là Tiêu Tư 蕭 諮 về Trung Quốc rồi chiếm giữ thành Long Biên 龍 編. Theo truyền thống truyền lại từ Triệu Đà, Lý Bí tự xưng là Nam Việt Đế, lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó vua nhà Lương sai tướng Trần Bá Tiên s 8 先 mang quân sang tái chiếm Giao Châu. Lý Bí thua, phải chạy trốn vào ẩn trong vùng núi, rồi sau đó bị bệnh chết. Lê Văn Hưu chỉ trích Lý Bí khá nặng. Ông coi Lý Bý chỉ là một viên tướng trung bình, nhưng đồng thời ông tiếc cho Lý Bí, trong tay có cả năm chục ngàn quân, đã để lỡ dịp giành lại tự chủ cho người Nam Việt, chỉ vì tài cầm quân của Lý Bí không bằng tài cầm quân của Trần Bá Tiên. Theo Yu Insun, Lê Văn Hưu thay đổi quan điểm về sử học của ông khi bàn về Hai Bà Trưng. Dẫu cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, chống triều đình Trung Quốc, chấm dứt bằng một chiến bại, nhưng tinh thần chiến đấu giành tự chủ cho đất nước đã ăn sâu vào lòng toàn dân. Điều đó chính là điều đã giúp người dân nước Đại Việt thành công trong việc đánh đuổi quân Nguyên. Vốn là một nhà Nho, Lê Văn Hưu tất tin tưởng rằng người phụ nữ đã đứng lên giành tự chủ cho đất nước, tất nhiên người trai đất Đại Việt phải bảo vệ đất nước hữu hiệu hơn nữa. Lê Văn Hưu đề cao việc bảo tồn nền tự chủ của đất nước khi ông so sánh vua Lý Thái Tổ, tức Lý Công Uẩn 李 公, vị vua khởi nghiệp nhà Lý, và trị từ 1010 tới 1028 với vua Lê Đại Hành nhà Tiền Lê tên là Lê Hoàn ホ 桓 làm quan Thập Đạo Tướng Quân nhà Đinh. Nhân khi vua nhà Đinh còn nhỏ tuổi, và lại có quân nhà Tống sang xâm, quân sĩ tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức Đại Hành Hoàng Đế 大L 皇帝. Người đời sau ca tụng Lê Đại Hành có công phá Tống bình Chiêm, dẹp yên được loạn nước. Dưới mắt Lê Văn Hưu, Lý Công Uẩn không hơn Lê Hoàn vì công dựng nước nhưng vì Lý Công Uẩn có đức dầy hơn Lê Hoàn lập ra triều nhà Lý lâu dải hơn, bởi khi đất nước lâm nguy, ngưòi lãnh đạo không những cần có tài mà còn cần có cả đức mới giữ được nước lâu dài. Lê Văn Hưu cho là nhà Tiền Lê không tồn tại lâu dài vì Lê Hoàn đã không sớm chọn thái tử, khiến khi khi Lê Hoàn vừa băng hà thời đã xẩy ra việc tranh giành ngôi vua giữa các hoàng tử kéo dài bẩy tháng. Để cuối cùng người con út là Long Đĩnh フ cướp ngôi của anh là vua Lê Trung Tông ホ 中 宗 mới lên ngôi được ba ngày. Long Đĩnh là một ông vua vô cùng bạo ngược, và theo Lê Văn Hưu thì chính Long Đĩnh là người làm đổ ngôi nhà Tiền Lê. Đằng khác Lê Văn Hưu chỉ trích triều Lý không sớm chọn thái tử, nên khó tránh được nạn nội loạn, bởi theo tục nhà Lý, tới khi lâm bệnh nặng, vua cha mới chọn người có tài năng đảm lược làm người kế vị. Nhà Trần lấy đó làm gương, nên vua cha sớm chọn thái tử, nhường ngôi cho thái tử và lên ngôi thái thượng hoàng. Lê Văn Hưu chỉ trích vua Đinh Bộ Lĩnh phong cho năm bà vợ lên ngôi hoàng hậu. Sau đó, Lê Hoàn cũng như nhiều vua nhà Lý phong chức hoàng hậu cho nhiều bà vợ. Sụ kiện này chứng tỏ nhà vua muốn củng cố sức mạnh của triều đình bằng cách liên kết với gia đình các hoàng hậu. Tuy nhiên cũng vì vậy mà cơ đồ triều chính bị đe dọa bởi nội loạn trong thời kỳ tuyển chọn người kế vị hay chính trong ngày truyền ngôi. Lê Văn Hưu còn chỉ trích Lý Công Uẩn chỉ phong vương cho cha, trong khi vua Thái Tổ nhà Tống phong đế cho thân phụ. Sử gia còn hiểu là việc phong vương cho cha là do đức vô kỷ của Lý Công Uẩn. Đồng thời ông chỉ trích Lý Công Uẩn đã sao lãng truyền thống vun đắp tự chủ từ Triệu Đà truyền xuống. Cũng vì chủ ý đề cao việc duy trì nền tự chủ của đất nước, nên Lê Văn Hưu kết tội mọi hành động của các vị vua chúa sao lãng việt đề cao nền tự chủ. Đó là trường hợp Ngô Xương Văn, con trai của Ngô Quyền. Lê Văn Hưu ngợi khen Ngô Xương Văn 吳 昌 文về việc ông tha thứ cho Dương Tam Kha 楊 三 哥 cậu ruột ông về tội cướp ngôi vua của cháu, nhưng ông chỉ trích Ngô Xương Văn về việc mời Ngô Xương Ngập 吳 昌 岌 về cùng coi việc nước, khiến từ đó xẩy ra việc Ngô Xương Ngập tranh quyền, thế lực nhà Ngô mỗi ngày một kém và đất nước lâm vào nạn mười hai xứ quân. Lê Văn Hưu chỉ trích vua Lý Thái Tông 李 太 宗 trong việc dẹp giặc Nùng, đã cương quyết xử tử Nùng Tồn Phúc 儂 存 福 nhưng đã vì lòng từ bi tha cho Nùng Trí Cao 儂 智 リ và còn gia phong cho y chức Thái Bảo, và chỉ một năm sau Trí Cao lại làm loạn, và xin phụ thuộc vào Trung Quốc. Lời chỉ trích của Lê Văn Hưu chứng tỏ mối lo ngại của ông nhân vụ tạo phản của Trí Cao mà mở đường cho Trung Quốc xâm lăng Nam Việt. Lê Văn Hưu cũng chỉ trích vụ vua Lý Anh Tông 李 宗 bình Chiêm Thành, lập một vua mới cho Chiêm Thành. Chỉ ít lâu sau, vị vua này bị một hoàng thân cướp ngôi. Vua Anh Tông phong vương cho hoàng thân phản loạn đó. Chính vị vua thứ hai này chỉ it năm sau mang quân xâm phạm đất nước nhà Lý. Ngoài mối quan tâm về nền tự chủ và hoà bình của đất nước, Lê Văn Hưu còn nặng lòng về việc tham gia triều chính của nho giả. Ông chỉ trích vua Lý Thái Tổ, sau khi di đô về Thăng Long đã không xây cất Thái Miếu cho xứng đáng, như vậy là không tròn chữ hiếu của đạo Nho. Ông còn chỉ trích việc vua Lý Thái Tổ cho xây cất quá nhiều chùa chiền, làm hao tài sản quốc gia phí phạm công lực của nhân dân. Chắc chắn là Lê Văn Hưu phải biết là vua Lý Thái Tổ thủa trẻ đã được nhà sư Phật Giáo chùa Cổ Pháp tên là Lý Khánh Vân 李 慶 文 nhận làm con nuôi, dậy dỗ thành người, nhưng phải chăng vì lợi ích quốc gia ông đã thẳng thắn chỉ trích lòng mộ đạo Phật của nhà vua. Đằng khác, người đọc sử ghi nhận rằng ngay từ đầu nhà Trần đã có những kỳ thi kén người tài theo học đạo Nho ra giúp nước. Nhưng trên thực tế, số nho giả trong triều không nhiều, và không được giữ những địa vị then chốt. Cho tới khi quân nhà Nguyên xâm lấn dất Đại Việt, vì nhu cầu ngoại giao, địa vị nho gia trong triều nhà Trần mới được nâng cao và dần dần tăng tiến thành một lực lượng chống đối ảnh hưởng Phật Giáo ở trong triều. Yu Insun cho rằng việc Lê Văn Hưu chỉ trích vua Lý Thái Tổ trên đây chỉ là một đường lối khéo léo của sử gia để gián tiếp chỉ trích phe thân Phật Giáo trong đời Trần. Ngô Sĩ Liên Ngô Sĩ Liên người trấn Sơn Nam 山 南, có người nói ông từng theo phò Lê Lợi ホ 利 trong cuộc khởi nghĩa chống quân nhà Minh. Ngô Sĩ Liên đậu tiến sĩ năm 1442, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Ông giữ chức Đô Ngự Sử dưới triều vua Lê Nhân Tông. Dưới triều vua Lê Thánh Tông, ông làm Quốc Tử Giám Ty Nghiệp, và tham dư vào việc soạn thảo bộ quốc sử. Năm sinh năm mất của ông không được sách sử ghi chép rõ, nhưng nhiều người tin rằng ông mất năm 99 tuổi. Với tuổi thọ đó, cuộc đời Ngô Sĩ Liên trải dài qua nhiều thăng trầm của lịch sử: cuộc suy thoái của nhà Trần và nhà Hồ; tiếp theo là hai mươi năm đô hộ dưới triều nhà Minh với chính sách tàn khốc tiêu diệt văn hóa Việt Nam; nhưng quan trọng hơn cả là cuộc chiến đấu giành tự chủ cho đất nước của Lê Lợi. Từ khi Lê Lợi dựng nên nhà Lê, ảnh hưởng Khổng Giáo trong triều lớn mạnh cùng số quan gia nho học ngưòi vùng châu thổ sông Nhị và thắng thế ảnh hưởng Phật Giáo của nhóm Phật Tử được trọng dụng người vùng Thanh Hóa trong việc triều chính, và ảnh hưởng Khổng giáo trở thành độc tôn dưới triều vua Lê Thánh Tông. Trong sinh hoạt tinh thần đó Ngô Sĩ Liên đã trước tác bộ sử Toàn Thư. Nhiều sử gia ngày nay tự hỏi lý do nào đã khiến Ngô Sĩ Liên trước tác bộ sử Toàn Thư, trong khi ông đã từng là một thành viên trong công cuộc sưu tập bộ quốc sử tàng trữ tại viện Đông Các? Có thể trả lời là việc soạn thảo bộ quốc sử là một công cuộc gồm nhiều nho giả, thế nên người tham dự khó bề bày tỏ những lời phê phán bình luận. Bởi vậy, theo sử gia Wolter(1), Ngô Sĩ Liên đã đơn độc trước tác bộ sử Toàn Thư với chủ đích là đề cao Khổng Giáo như một cơ động giúp cho người nước Đại Việt có một học thuyết căn bản để duy trì nền tự chủ trong thời gian đất nước gặp cơn nguy biến và theo Yu Insun, thì hành động này giúp Ngô Sĩ Liên đứng được ra ngoài vụ tranh chấp ảnh hưởng giữa Nho Giả vùng châu thổ sông Nhị với Phật Tử được trọng dụng vùng Thanh Hóa. Trong toàn bộ Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên viết ra tổng cộng 170 lời bàn, trong số đó có 86 lời bàn về sử kiện xẩy ra dưới triều nhà Lý; 72 lời bàn về sử kiện xẩy ra dưới đời nhà Trần và nhà Hồ cùng hai chục năm tranh đấu chiến thắng quân xâm lược nhà Minh, phần còn lại là lời bàn về sử kiện dưới triều vua Lê Thái Tổ. Khổng Học, nhất là Tân Khổng Học ảnh hưởng mãnh liệt trên việc trước tác của Ngô Sĩ Liên, lời bàn của ông đều đặt trên đạo lý gia tộc và tương quan giữa vua và dân. Ông tin tưởng chắc chắn rằng đó là hai điểm quan trọng trong việc trị nước an dân. Năm 1320, khi vua Trần Anh Tông (tri vì từ 1293-1314) băng hà, ông trích sách Mạnh Tử(2): 天 下 之 本 在 國 Thiên hạ chi bổn tại quốc 國 之 本 在 家 quốc chi bổn tại gia 家 之 本 在 ? gia chi bổn tại thân Nghĩa là: gốc của thiên hạ là nhà nước, gốc của nước là nhà, gốc của nhà là thân. Rồi Ngô Sĩ Liên thêm: “thân có tu, nhà mới tề, nước mới trị, điều ấy là khuôn vàng thước ngọc từ đời Nghiêu Thuấn, và đến ngày nay vẫn thật đúng như vậy.” Do đó ông chỉ trích bất kỳ ai vi phạm nguyên tắc này. Ngô Sĩ Liên hết lời ca tụng vua Trần Anh Tông, vì nhà vua dốc lòng tu thân, thờ phụng cha mẹ, giữ vẹn niềm hòa hảo với họ hàng, và nhất là thờ kính tổ tiên. Thế nên, theo Ngô Sĩ Liên, triều vua Trần Anh Tông là một triều thịnh trị, nhân dân sống đời an lạc. Tuy nhiên, ông vẫn còn chỉ trích vua Trần Anh Tông hãy còn một điều thiếu sót trong lễ quốc táng Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Ngô Sĩ Liên cực lục chỉ trích việc làm loạn luân nhân để củng cố cho ngôi nhà Trần được bền vững. Đó là sự việc Thái Sư Thống Quốc Hành Quân Chinh Thảo Sự Trần Thủ Độ cưỡng ép vua Trần Thái Tông, giáng Chiêu Thánh Hoàng Hậu, người đã lấy vua Trần Thái Tông được 12 năm, xuống làm công chúa, rồi đem chị bà Chiêu Thánh, tức vợ Trần Liễu lên làm Hoàng Hậu, bởi vì Hoàng Hậu Chiêu Thánh không có con nối dõi và bà chị đã có thai được ba tháng. Việc phi luân này đã được lập lại dưới Triều vua Trần Dụ Tông (trị vì từ 1341 tới 1369). Ngoài ra, Ngô Sĩ Liên còn trách vua Trần Thái Tông đã hứa gả công chúa cho Trung Thành Vương, rồi cuối cùng lại gả cho một hoàng thân khác. Ngô Sĩ Liên tin tưởng là ngôi vua sẽ truyền cho người con trưởng của vua cha. Nếu Hoàng Hậu không có con nối dõi, con một thứ phi có thể được phong làm Thái Tử. Trong trường hợp Hoàng Hậu sau đó sinh Hoàng Nam, Thái Tử con bà thứ phi phải từ chức nhường ngôi cho Hoàng Nam con bà Hoàng Hậu. Thế nên Ngô Sĩ Liên thương tiếc Hoàng Thân Trần Quốc Chấn bị sát hại dưới triều vua Trần Minh Tông (trị vì từ 1314 tới 1329) chỉ vì hoàng thân đã can ngăn việc lập một Hoàng Nam con một bà thứ phi lên làm Thái Tử, không đợi Hoàng Hậu sinh Hoàng Nam. Ngô Sĩ Liên cũng tin tưởng là Hoàng Nam em có thể được nối ngôi vua khi Hoàng Nam anh không đủ khả năng nối ngôi. Thế nên Ngô Sĩ Liên chỉ trích vua Đinh Bộ Lĩnh lập con bà thứ phi là Hạng Lang làm thái tử thay vì truyền ngôi cho con trưởng con bà Hoàng Hậu là Hạng Liễn vốn là người văn võ toàn tài. Trong trường hợp Hoàng Đế không có Hoàng Nam nối ngôi, thời phải lập một ngưòi cháu trai, như trường hợp vua Lý Nhân Tông nhưòng ngôi cho cháu. Ông cực lực chống lại việc nhường ngôi cho một công chúa như việc vua Lý Huệ Tông nhường ngôi cho Công Chúa Lý Chiêu Hoàng. Theo Ngô Sĩ Liên thì vua Lý Huệ Tông đã không noi gương vua Lý Nhân Tông nên đã mở cửa cho Trần Thủ Độ lật đổ ngôi nhà Lý và lập ra nhà Trần. Nhà Trần cũng theo gương nhà Lý không nhất thiết truyền ngôi vua cho Hoàng Nam con cả của vua. Để tránh việc tranh giành ngôi vua, nhà Trần đặt ra tục lập ngôi Thái Thượng Hoàng. Dầu thấu hiểu tục lệ nhà Trần như vậy, Ngô Sĩ Liên cũng bàn là không nên lập vua mới khi vua cha hãy còn sống, để một nước một lúc có hai vua. Ngô Sĩ Liên chủ trương đàn bà góa không được tái giá để giữ tiết với chồng cũ, theo đúng lệ tam tòng của Nho Giáo. Tục này phải được bắt đầu từ trong hoàng tộc, để làm gương cho tứ dân. Chủ trương đó nhằm tránh những vụ thoán ngôi vua như vụ Lê Hoàn lấy bà Dương Hậu lập ra nhà Tiền Lê, vụ Trần Thủ Độ lấy vương Hậu Linh Từ lập ra nhà Trần. Đi xa hơn, Ngô Sĩ Liên ca ngợi việc các vương hậu nước Chàm phải chịu thiêu sống để giữ vẹn đức tam tòng. Người đọc sử tự hỏi rằng, vốn là một nho giả chân chính, phải chăng Ngô Sĩ Liên nhiệt liệt cổ động cho việc gái hóa phải chết theo chồng là để duy trì chữ Trung của đạo nho theo câu tục trai trung một chúa, gái trinh một chồng. Cũng trong dòng tư duy này, sử còn chép truyện năm 1285, khi quân nhà Trần phá quân Nguyên, chủ tướng quân Trung Quốc là Toa Đô bị trúng tên chết. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp vua Trần Nhân Tông, vua thấy người dũng kiệt hết lòng với chúa mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này!” rồi cởi áo bào đắp vào thủ cấp Toa Đô, sai làm lễ mai táng theo quân cách. Với chủ trương trai trung một chúa, Ngô Sĩ Liên cực lưc bài bác những mưu đồ thoán nghịch của Lê Hoan, Trần Thủ Độ và nhất là Hồ Qúy Ly, cả ba cùng là những tặc thần lập mưu giết vua để cướp ngôi vua. Theo Ngô Sĩ Liên, Lê Hoan đáng tội chết chém, Trần Thủ Độ không đáng so sánh với loài chó lợn và Hồ Qúy Ly bi trời phạt khiến giặc Nam không giết nổi thời giặc Bắc không tha. Theo Yu Insun thời Ngô Sĩ Liên nặng lời chỉ trích Lê Hoàn, Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly thí vua cướp ngôi báu, không chỉ riêng bởi Ngô Sĩ Liên là một tân nho giả mà còn phản ánh nội tình triều nhà Lê, ngày đó, khi vua Lê Nhân Tôn bị người anh là Nghi Dân 宜 民, trước kia đã được phong làm Thái Tử, sau vì mẹ phải tội cho nên bị phế bỏ. Năm 1459 Nghi Dân đồng mưu với Lê Đắc Ninh 黎 得 寧, Phạm Ban 范 般 v.v… nửa đêm trèo vào thành giết vua Lê Nhân Tôn và hoàng thái hậu, tự xưng làm vua rồi sai sứ sang Trung Quốc cầu phong. Mối quan tâm của Ngô Sĩ Liên là sự an nguy của đất nước trước sự đe dọa của kẻ thù phương Bắc, dẫu rằng nhà Minh sau khi bị đuổi ra khỏi bờ cõi không còn là một mối đe dọa nặng nề như quân nhà Nguyên dưới đời Trần. Thế nên, theo Yu Insun, từ khi vua Lê Lợi chiến thắng quân Minh sau hai mươi năm đô hộ, mối lo chính của Ngô Sĩ Liên là sự bất ổn của tình hình quốc nôi khơi ngòi cho việc xâm lăng của ngoại bang. Đó là lý do khiến Ngô Sĩ Liên đặt bản văn Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi vào trong bộ sử Toàn Thư. Bản Bình Ngô Đại Cáo xác quyết Đại Việt là một nước có văn hiến riêng, bờ cõi phân chia rõ ràng, phong tục khác hẳn Trung Quốc. Khác với Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên khẳng định là nước Đại Việt có một lịch sử dài không thua lịch sử Trung Quốc, bắt đầu từ vua Thần Nông. Theo tục truyền Kinh Dương Vương, vị vua đầu tiên của đất Nam Việt là anh khác mẹ của Đế Nghi, vị vua đầu tiên của người phương Bắc. Thật thế, Đế Minh, cha của Đế Nghi và Kinh Dương Vương là cháu ba đời vua Thần Nông, có ý lập Kinh Dương Vương lên nối ngôi, nhưng Kinh Dương Vương từ chối nhường ngôi cho Đế Nghi làm vua phương Bắc, còn mình làm vua phương Nam. Ngô Sĩ Liên lo lắng cho mối an nguy nước Đại Việt phản ánh trong lời bàn của ông về những vụ xâm lăng của quân Mông Cổ từ phương Bắc, qua những vụ xâm phạm bờ cõi miền Nam của quân Chiêm. Ngô Sĩ Liên ca tụng thượng hoàng Trần Nhân Tông, không những có tài điều binh khiển tướng đánh đuổi được quân Nguyên, mà còn triệu tập Hôi Nghị Diên Hồng, đoàn kết toàn dân thành một khối quyết tâm bảo vệ đất nước. Ngược lại ông chê trách triều nhà Trần bỏ ngỏ biên giới miền Nam mở đường cho quân Chiêm Thành sang quấy phá Đại Việt. Ông chê trách Thượng Hoàn Dụ Tông quen sống trong cảnh đất nước thịnh vương bình an mà trở thành quá phóng túng, chỉ nghĩ tới chuyện mua vui. Ông cũng chê trách vua Trần Nghệ Tông quá mải mê với văn học mà sao lãng việc binh đến độ để quân Chiêm Thành vào cướp phá thành Thăng Long vào mùa thu năm 1371. Nhân danh một nhà Tân Nho, Ngô Sĩ Liên bài bác ảnh hưởng Phật Giáo trong hai triều nhà Lý và nhà Trần. Ông quan niệm việc vua Lý Thái Tổ khi vừa đăng quang liền cho xây chùa tô tượng Phật khắp nơi trong nước là một điều quá đáng, dầu ông không quên là vua Lý Thái Tổ là con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân, và nhờ vậy mà thành nhân. Ngô Sĩ Liên ca tụng vua Trần Nhân Tông là một vị minh quân từng chiến thắng quân Nguyên xâm phạm đất Đại Việt, nhưng ông coi việc vua Trần Nhân Tôn, sau khi thoái vị làm Thái Thượng Hoàng, trở thành đệ nhất tổ giòng Thiền Trúc Lâm, là một hành động chứng tỏ vua Trần Nhân Tôn không giữ vẹn chữ Trung Dung của đạo Nho. Hơn nữa,vẫn nhân danh là một nho sĩ, Ngô Sĩ Liên còn phê bình việc thay đổi niên hiệu của vua Lý Thái Tổ năm 1034. Năm ấy hai nhà sư Nghiêm Bảo Tính và Phạm Minh Tâm tự thiêu, thi thể cháy kết thành thất bảo. Vua xuống chiếu đem thất bảo đó giữ ở chùa Trường Thánh để thờ, nhân dịp đó vua đổi niên hiệu là Thụy Thông; sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn(3): Thuyết nhà Phật gọi là xá lị tức là khi tự thiêu mình, tinh khí tụ lại kết thành một thứ lửa không cháy được, cho nên gọi là bảo. Tương truyền là người nào học Phật thành thì xác hồn làm bảo như thế. Vì rằng người sãi đoạn tuyệt tính dục thì tinh khí kết thành ra thứ ấy. Người đời cho là không thường, thấy mà cho là lạ, có biết đâu là tinh khí dương tụ lại mà thành thôi. Vua cũng mê hoặc mà đổi niên hiệu. Từ đấy về sau những người hiếu danh, cạo đầu làm sãi, nhẫn nại chịu chết như loại Trí Không này nhiều lắm. Xuống tới đời Hoàng đế Lý Nhân Tôn, năm 1096, thái sư Lê Văn Thịnh làm phản, Vua Lý Nhân Tôn tha tội chết, an trí tại Thao Giang. Nguyên bấy giờ vua ngự thuyền xem đánh cá tại hồ Dâm Đàm. Chợt có mây mù, trong đám mù có tiếng thuyền bơi tới, vua lấy giáo ném. Bỗng chốc mây mù tan, trong thuyền ngự có con hổ. Có người than: Nguy lắm rồi! Có người đánh cá tên Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì hổ biến ra thành thái sư Lê Văn Thịnh. Lê Văn Thịnh vốn có tà pháp làm ra vậy để tính truyện cướp ngôi. Vua thưởng cho Mục Thuận, và cắt đất cho lập ấp. Ngô Sĩ Liên có lời bàn về truyện này(4): Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết! Thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin Phật Giáo. Mùa thu tháng 7 ngày 25, Ỷ Lan hoàng thái hậu băng hà, hỏa táng; dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, lại bắt người thị nữ chôn theo. Ngô Sĩ Liên có lời bàn về việc này(5): Hoả táng là theo Phật Giáo, chôn theo là tục nhà Tần. Nhân Tôn Hoàng Đế làm cả hai việc ấy, hoặc giả theo lời của Thái Hậu chăng? Theo Yu Insun, lời bàn của Ngô Sĩ Liên, đặt câu hỏi về lời di chú của Ỷ Lan hoàng thái hậu, là bởi Ngô Sĩ Liên có ý bài bác vua Lý Nhân Tông vì chính nhà vua, theo tục lệ Phật Giáo, ban lệnh thi hành việc hỏa táng và việc chôn theo thị nữ của hoàng thái hậu. So Sánh hai Sử Gia Yu Insun cho rằng quan điểm sử học của Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên là sản phẩm của thời đại của mỗi người. Với Lê Văn Hưu, sử kiện đáng chú ý nhất là những thành tích kháng Nguyên giữ nước của triều nhà Trần. Với Ngô Sĩ Liên, một sử thần của triều nhà Lê, Khổng Học lúc đó đã trở thành một nền quốc học, thế nên giáo lý cũng như tập tục Khổng Giáo là những mối quan tâm hàng đầu. Đằng khác, Ngô Sĩ Liên đã từng sống qua hai chục năm dưới sự đô hộ của quân Minh, nên ông hiểu rõ tầm quan trọng của nền an ninh quốc nội trong việc ngăn chặn người phương Bắc xâm lấn đất nước vả duy trì nền tự chủ của nước Đại Việt. Khác biệt giữa quan điểm sử học của hai sử thần thấy rõ qua sự khác biệt giữa những lời bàn trên cùng một sử kiện. Lời bàn của Lê Văn Hưu chú trọng tới nền an nguy của đất nước và sự bình đẳng giữa nước Nam với nước Bắc. Ngô Sĩ Liên chỉ bàn về hai vấn đề này trong bốn sự kiện. Đằng khác, Ngô Sĩ Liên dành 11 lời bàn về giáo lý Khổng Học, Lê Văn Hưu chỉ nói tới vấn đề liên quan tới Khổng Hoc trong 5 lời bàn. Sự khác biệt giữa hai sử thần còn rõ rệt hơn nữa qua những lời bàn cùng về những sử kiện dưới triều vua Ngô Quyền và vua Đinh Bộ Lĩnh. Lê Văn Hưu tin chắc rằng Ngô Quyền không hoàn toàn tạo dựng được nền tự chủ cho đất nước như Triệu Đà đã đặt được trước khi quân của Hán Vũ Đế sang xâm lấn, bởi chiến thắng của Ngô Quyền đã khiến nhà Hán phải bỏ mộng xâm lược, nhưng ông tiếc cho Ngô Quyền không nhân dịp đó xưng đế như Triệu Đà. Ngược lại Lê Văn Hưu ca tụng Ngô Quyền ngoài tài thống lĩnh quân đội còn giỏi tổ chức việc nội trị, tạo nên nề nếp cho đời sống nhân dân. Ông kết luận rằng với một công nghiệp như vậy, Ngô Quyền xứng đáng là một Hoàng Đế của nước Nam Việt. Lê Văn Hưu chủ xướng là Đinh Bộ Linh đã giành được nền tự chủ hoàn toàn cho đất nước, không kém gì Triệu Đà đời trước. Đinh Bộ Lĩnh đã tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu mới, sửa sang giềng mối triều chính. Ngược lại, Ngô Sĩ Liên coi nhẹ công nghiệp của Đinh Tiên Hoàng, vì ông chủ trương là Ngô Quyền đã giành được hoàn toàn nền tự chủ cho Nam Việt. Ngược lai ông chỉ trích Đinh Bộ Lĩnh và con cả là hoàng tử Đinh Liễn là không hành xử theo đúng tập tục Khổng Học. Đinh Bộ Lĩnh đã vượt qua truyền thống truyền ngôi của các triều đại Trung Quốc đặt trên nền tảng Khổng Học: nhà vua đã bỏ con trưởng Đinh Liễn và lập con út là Hạng Lang lên nối ngôi. Đinh Liễn đã tùng theo cha chinh chiến nhiều năm trong việc dẹp loạn 12 xứ quân, nên tức giận lập mưu giết Hạng Lang, nên cũng không giữ tròn đạo làm tôi theo Khổng Học, đồng thời gây ra mối loạn trong nhà để người phương Bắc có cơ hội nhòm ngó bờ cõi. Người đọc sử có thể hiểu rằng lời Ngô Sĩ Liên chỉ trích cha con Đinh Bộ Lĩnh phản ảnh ý ông muốn ám chỉ trích việc tranh giành ngôi báu trong triều nhà Lê lúc bấy giờ. Ảnh hưởng Khổng Giáo từ triều nhà Lê không những chỉ mỗi ngày một lớn mạnh trong việc triều chính mà còn thấm nhập từ từ vào trong mọi hoạt động trong dân gian, truyền qua đời nhà Nguyễn, cho tới khi người Pháp bỏ thi Hương hồi đầu thế kỷ XX mới suy giảm. Nhiều nhà sử học ngày nay cho rằng điểm triều đình các nhà Đinh, Lê, Lý và Trần tôn trọng Phật Giáo hơn Khổng Giáo là một truyền thống của người Việt Nam khác với truyền thống của người Trung Quốc lấy Khổng Giáo làm quốc giáo. Chính nhờ điểm khác biệt đó mà dân Việt Nam đã không bị Trung Quốc đồng hóa. Theo NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ================== (1) Wolter, “What Else May Ngô Sĩ Liên Mean” in “Sojourners and Settlers: Histories of Southeast Asia and the Chinese”, University of Hawai Press 2001. Edited by Reid Anthony. (2) Đoàn Trung Còn, Tứ Thơ Mạnh Tử, NXB Thuận Hóa, Huế, 1996, tr.12. (3) Ngô Sĩ Liên, Toàn Thư, Tập 1, bản dịch của Cao Huy Gịu, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1967, tr. 210. (4) Ngô Sĩ Liên, ibid. tr. 242. (5) Ngô Sĩ Liên, ibid. tr. 248.