-
Số nội dung
31.238 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2.212
Content Type
Hồ sơ
Forums
Calendar
Everything posted by Thiên Sứ
-
Chân lý và nhận thức chân lýkhoahoc.com.vn Cập nhật lúc 09h40' ngày 19/07/2014 Chúng ta đều biết, nhận thức là một quá trình tiệm cận tới chân lý mà không bao giờ đến được chân lý đó, cho dù là rất… rất gần. Điều này được lý giải bởi tính vô cùng vô tận của thế giới vật chất mà trong đó có chúng ta đang sống và nhận thức nó. Chính vì thế, khoa học luôn luôn phát triển không ngừng. Mỗi lý thuyết vật lý được đưa ra ở từng thời kỳ có thể sẽ tiến được đến gần hơn tới chân lý (có thể gọi là “hội tụ”, hay “tiệm cận”), nhưng cũng có thể sẽ rời xa hơn (có thể gọi là “phân kỳ”, hay “lạc hướng”). Nhưng điều oái ăm là ở chỗ chính cái gọi là “chân lý” ấy lại không bao giờ lộ diện đầy đủ để ta có thể đem “nhận thức” (lý thuyết vật lý) ra so sánh xem đã “gần” hay “xa”? “hội tụ” hay “phân kỳ”, “lạc hướng”? Bởi vậy, từ xưa tới nay, người ta thường phải dựa vào các thí nghiệm thực tế để kiểm chứng với tiêu chí: “Thực nghiệm là tiêu chuẩn của chân lý”, tức là thay vì “chân lý”, người ta dùng “thực nghiệm” làm “vật thay thế”. Chẳng hạn, để lật đổ quan niệm “Trái đất là trung tâm của vũ trụ”, Copernicus đã tiến hành đo đạc quỹ đạo chuyển động của các hành tinh và Mặt trời và nhận thấy: những kết quả “thực nghiệm” sẽ phù hợp hơn nếu cho rằng Mặt trời mới là “trung tâm”; để chứng minh “chân lý” – “Trên trái đất, mọi vật đều rơi như nhau”, Galileo đã thực hiện thí nghiệm với các vật rơi nặng, nhẹ khác nhau trước sự chứng kiến của các thẩm phán Toà án Vatican xét xử ông vì những tư tưởng “dị giáo” đó; để chứng minh “chân lý” – “ánh sáng là sóng”, thí nghiệm khe Young là một “thực nghiệm” được coi là có tính thuyết phục, nhưng thí nghiệm “hiệu ứng quang điện” cũng tỏ ra là một “thực nghiệm” không hề kém thuyết phục hơn để minh chứng cho một “chân lý” (ngược lại) – “ánh sáng là hạt”, v.v.. Tức là ở đây, thay vì “chân lý” là cái “trừu tượng” (không biết), người ta lựa chọn “thực nghiệm” là cái có thể “sờ mó” được làm “vật thay thế”, làm “tiêu chuẩn chân lý”. Và thế là đến đây, mọi sự việc lại thay đổi sang một hướng khác: thay thế “chân lý (khách quan)” bằng “nhận thức thực nghiệm (chủ quan)” để xây dựng “nhận thức lý thuyết” (tất nhiên là cũng chủ quan nốt). Chân lý là khách quan, không phụ thuộc vào chủ quan của con người, nhưng “vật thay thế” nó – “thực nghiệm” lại là nhận thức chủ quan phụ thuộc vào sự công nhận (biểu quyết) của số đông. Kết quả là trong suốt quá trình phát triển gần 400 năm nay của vật lý học, người ta đã lấy chính cái “chủ quan – thực nghiệm” làm tiêu chuẩn cho “chủ quan – lý thuyết”, tức là yếu tố “khách quan” bị đẩy ra ngoài lúc nào mà không hề hay biết(?). Bởi thế, chúng ta mới nghe thấy những điều tuyên bố hùng hồn tương tự như: “Lưỡng tính sóng-hạt được thực nghiệm khẳng định”, “Đã tìm thấy hạt quark”, “Thực nghiệm đo độ cong của tia sáng đi gần Mặt trời vào thời gian Nhật thực khẳng định tính đúng đắn của GR” v.v.. và v.v.. Tuy sự cần thiết của các thí nghiệm (thực nghiệm) là không có gì phải nghi ngờ, nhưng “sự tuyệt đối hóa” quá mức tính “chân lý” của nó đã khiến cho vật lý thực sự rẽ sang một lối khác: ngày càng rời xa “chân lý – khách quan” để sa vào cái “bẫy” của “nhận thức thực nghiệm – chủ quan” do chính con người tạo ra, và kết quả là đã dọn đường cho “nhận thức lý thuyết – chủ quan” (các phương trình toán học – con đẻ của tư duy trừu tượng) ngày càng rời xa thế giới vật chất khách quan hiện hữu để đến với siêu hình – điều mà chính Newton đã cảnh báo: “Vật lý! Hãy cẩn trọng với siêu hình!”. Từ đây xuất hiện một vấn đề: vậy, lấy gì làm “tiêu chuẩn chân lý” khi mà cái gọi là “thực nghiệm” lại có thể không đáng tin cậy như vậy? Không lẽ phải từ bỏ nó? Chúng ta biết rằng kết quả của cái được gọi là “thực nghiệm” như vừa đề cập bao giờ cũng là kết quả của việc đo đạc các thông số khác nhau của đối tượng, để qua đó nhận biết được nó là chính nó chứ không phải là một cái gì khác. Chính vì vậy, câu trả lời trước tiên phải dành cho các nhà đo lường học. “Đo lường học – là khoa học về các phép đo, phương pháp và phương tiện đảm bảo sự thống nhất của chúng và các giải pháp đạt tới độ chính xác cần thiết” trong đó, phép đo được hiểu là “quá trình tìm giá trị của đại lượng vật lý nhờ các phương tiện kỹ thuật chuyên dụng (gọi là phương tiện đo)”. Nói cách khác, đo lường chính là một phương pháp (thực nghiệm) để nhận thức “chân lý khách quan”. Nhà bác học người Nga Mendeleev đã rất có lý khi nói: “Khoa học chính xác chỉ bắt đầu khi người ta bắt đầu đo”. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học nổi tiếng mang tên ông là minh chứng cụ thể cho điều đó. Tuy nhiên, đối với các nhà đo lường học, phép đo không phải là “thần thánh” mà trái lại, cần phải hiểu bản chất cốt lõi của nó chỉ là quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin về đại lượng cần đo; các quá trình này luôn chứa đựng đầy rẫy những rủi ro, những yếu tố bất định tiểm ẩn do giới hạn của phương tiện kỹ thuật, của trình độ nhận thức con người về mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý và của cả ảnh hưởng môi trường xung quanh khi thực hiện phép đo. Chẳng hạn trong thí nghiệm rơi tự do của Galileo, các vật rơi tuy có khối lượng rất khác nhau, nhưng nếu so với khối lượng của Trái đất, vật thể quyết định tới gia tốc rơi của mọi vật, thì sự sai khác ấy chẳng đáng là bao, nên kết quả đo gia tốc rơi của tất cả chúng đều như nhau là điều dễ hiểu, chỉ có điều lúc bấy giờ, định luật vạn vật hấp dẫn chưa được phát minh ra nên sự rơi ấy không được gắn với bản thân Trái đất như đáng lẽ ra phải như thế. Tức là ở đây, đã có sự thiếu hụt nhận thức của con người đối với thế giới tự nhiên. Khi khối lượng của vật rơi so sánh được với khối lượng của Trái đất, mọi việc sẽ khác hẳn: vật càng nặng rơi càng nhanh, đúng như Aristotel đã tiên đoán từ 2500 năm trước. Hoặc giả có được thiết bị đo có độ chính xác cực lớn với sai số chỉ cỡ 10-24 thì chắc chắn cũng phát hiện được sự sai khác ngay trong thí nghiệm của Galileo. Điều này còn đặc biệt nghiêm trọng khi phải thực hiện các phép đo gián tiếp hay tổ hợp khi mà đại lượng cần đo không những còn cần phải được chuyển đổi về một trong những đại lượng thuận tiện cho phép đo, mà còn phụ thuộc vào các lý thuyết mà con người xây dựng nên để kết nối giữa các đại lượng vật lý đo được trực tiếp với đại lượng vật lý cần đo. Khi đó sẽ xuất hiện một thành phần sai số gọi là sai số phương pháp; nó không thể bị loại trừ khi xử lý kết quả đo và trực tiếp ảnh hưởng tới độ tin cậy của phép đo, cũng tức là độ tin cậy của cái gọi là “thực nghiệm”. Chẳng hạn trong “thực nghiệm” khẳng định vũ trụ giãn nở, người ta đo được “độ dịch chuyển đỏ” của các thiên hà phụ thuộc vào khoảng cách tới chúng. Khoan hẵng bàn tới bản thân khoảng cách tới các thiên hà là một đại lượng không thể đo được trực tiếp, mà bản thân sự dịch chuyển về phía đỏ của ánh sáng được cho là do hiệu ứng Dopler cũng chỉ là giả thiết khi mà bản thân cái gọi là “ánh sáng” còn chưa ai biết nó là cái gì? Theo CĐM, với cấu trúc là hai hạt electron và positron vừa quay xung quanh tâm quán tính của chúng, vừa chuyển động với tốc độ ánh sáng trong trường hấp dẫn đã khiến cho photon mất dần năng lượng (như bất kể một vật thể nào khác được biết tới) và kết quả là đã gây nên “sự dịch chuyển đỏ” chứ có phải các thiên hà đang chạy ra xa nhau đâu mà bảo là “vũ trụ giãn nở”? Tóm lại, cần phân biệt rõ: chân lý là khách quan không phụ thuộc vào chủ quan, nhưng nhận thức chân lý (cả lý thuyết lẫn thực nghiệm) đều là chủ quan, hoàn toàn phụ thuộc vào biểu quyết của số đông. Chính vì vậy, việc đặt niềm tin thái quá vào chúng có thể sẽ dẫn tới nhận thức sai lầm. Vậy, cần phải đặt ra câu hỏi là: nếu “thực nghiệm” cũng có thể sai thì làm thế nào để biết rằng nó sai? Không lẽ còn có một cái gì đó khác có thể đóng vai trò là “tiêu chuẩn của chân lý”? Đến đây, một lần nữa cần phải có kiến thức đầy đủ về đo lường học: Một kết quả đo được coi là tin cậy khi, và chỉ khi nó không chứa sai số hệ thống. Từ đây suy ra một “thực nghiệm” là đúng, nếu nó không chịu ảnh hưởng của những yếu tố có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tượng làm thí nghiệm, hoặc nếu có thì phải được tính đến đầy đủ và tìm cách bù trừ, hay loại trừ chúng. Nếu yếu tố liên quan là chính một lý thuyết nào đó, thì cần phải xác định rõ phạm vi áp dụng của lý thuyết ấy có phù hợp với điều kiện thí nghiệm hay không? Chẳng hạn trong thực nghiệm “vũ trụ giãn nở” ở trên, sự suy giảm năng lượng của ánh sáng trong trường hấp dẫn hoàn toàn không được tính đến, mặc dù rõ ràng nó bị trường hấp dẫn của Mặt trời tác động làm cong đi trong một thực nghiệm khác? Trong khi trên thực tế cuộc sống hàng ngày, không ghi nhận được bất kỳ chuyển động nào lại không bị tiêu hao năng lượng do có tương tác với các thực thể vật lý khác cả, chỉ là ít hay nhiều mà thôi. Một khi ánh sáng đã bị cong đi do tác động của trường hấp dẫn, thì tức là nó cũng đã bị thay đổi năng lượng, và khi lan truyền trên những khoảng cách lớn hàng triệu, hàng tỷ năm ánh sáng, nó có bị suy giảm năng lượng cũng là chuyện bình thường chứ? Sao lại chỉ trông chờ vào mỗi hiệu ứng Dopler không thôi? Nếu chưa xây dựng được lý thuyết về sự suy giảm năng lượng của ánh sáng trong trường hấp dẫn theo khoảng cách thì lại là một chuyện khác – cần phải xây dựng nó đã rồi hẵng tính đến hiệu ứng Dopler cũng chưa muộn. Cuối cùng, ngoài kiến thức về đo lường học ra, nhà khoa học còn cần phải có các kiến thức về lô-gíc học (lô-gíc hình thức cũng như lô-gíc biện chứng) và cả phương pháp biện chứng duy vật nữa. Sự thiếu hụt những kiến thức này sẽ dẫn đến những kiểu tư duy lộn xộn, phi lô-gíc và siêu hình trong nhận thức thế giới, kể cả là bằng “thực nghiệm” hẳn hoi như trong các thí nghiệm khe Young, rơi tự do, hấp thụ và bức xạ nhiệt, vũ trụ dãn nở v.v.. Kết quả là nhận được bức tranh méo mó về hiện thực khách quan như cơ học lượng tử, thậm chí đến mức phản khoa học như lý thuyết Big Bang, vũ trụ dãn nở tăng tốc… Vũ Huy Toàn ============= Đó là tác giả bài viết này trên khoahoc.com.vn nói và điều này chính SW Hawking cũng đã phát biểu gần đây: "Chúng ta sẽ không thể tìm ra lý thuyết thống nhất". Nhưng trong cái khái niệm "chúng ta" của đoạn trích dẫn ra thì xin trừ tôi ra. Bởi vì, tôi đã xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất. Tức là xác định rằng có một nền văn minh tạo ra lý thuyết này đã tiếp cận và nhận thức được tới chân lý tuyệt đối. Còn những vấn đề mà tác giả và rất nhiều nhà khoa học nói đến "vật lý thực nghiệm", suy cho cùng cũng chỉ là nhận thức trực quan được hỗ trợ bằng phương tiện kỹ thuật, để được gọi là "khoa học công nhận". Nhưng chính sự phát triển của phương tiện kỹ thuật, đã khiến nhận thức của con người từ những nhận thức tự nhiên, vũ trụ qua phương tiện tự thân, đã ngày càng nhận thức được bản thể cấu trúc vật chất hết sức phong phú: Từ các thiên hà khổng lồ đến các hạt vật chất nhỏ nhất mà những phương tiện hiện đại đã giúp còn người "nhìn thấy". Những nhà thông thái của nhân loại, bằng tư duy trừu tượng đã tổng hợp những nhận thức trực quan đó và đưa nó lên thành những hệ thống lý thuyết riêng phần, mô tả những quy luật cục bộ mà họ nhận thức được. Đương nhiên, để có một nhận thức trực quan đúng, nó còn phụ thuộc vào phương tiện và phương pháp nghiên cứu. Cũng phương tiện của nền văn minh hại điện, các nhà khoa học đã nhìn thấy "lưỡng tính sóng hạt" của vật chất vi mô. Và nó đẻ ra một thứ lý thuyết trên cơ sở bất định của vật chất vi mô mà họ "nhìn thấy", gọi là lý thuyết bất định. Nhưng cũng phương tiện ấy thì hai nhà bác học được giải Nobel 2013 thì lại xác định tính tất định của vật chất. Nay mai, cái máy gia tốc hạt to đùng của Tàu mới làm (Xem bài viết trên trong trang này) lại thấy vật chất biến mất. Híc! Thế là lại đẻ ra một thứ lý thuyết dở hơi nào đó. Trong điều kiện này Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt lại bị coi là "mơ hồ" và không có "cơ sở khoa học". Nền khoa học lấy nền tảng là thực chứng, thực nghiệm như hiện nay đã khiến cho những lý thuyết khoa học lệ thuộc vào khả năng nhận thức và chứng minh qua phương tiện kỹ thuật. Càng lao vào bản chất của vật chất thì càng đòi hỏi những phương tiện cực kỳ tốn kém. Thí dụ như để thẩm định lý thuyết Higg, người ta phải tạo ra một cổ máy gia tốc hạt chi phí lên đến gần 100 tỷ Dollar. Khiếp! Kết quả cuối cùng cũng phát hiện ra một dạng hạt trong tiên đoán của lý thuyết này, Nhưng nó không phải là "Hạt của Chúa' theo nghĩa là nguyên nhân để tạo ra tất cả các hạt cơ bản! Nhưng cũng chính những lý thuyết khoa học xuất hiện một cách sơ khai trên nền tảng thực chứng, thực nghiệm này đã phát triển hình thành những chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Rất nhiều tiêu chí khoa học rời rạc, rải rác đang ...."lưu truyền trong dân gian". Trên cơ sở tiêu chí khoa học và những gì nghiên cứu được của Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã xác định "không có Hạt của Chúa" và "không có sự sống trên sao Hỏa". Việc "không có sự sống trên sao Hỏa" chỉ là hệ quả của sự xác định: "Không có sự sống ngoài Địa cầu". Bởi vậy, vấn đề còn là phương pháp nghiên cứu và điều kiện nghiên cứu, cộng với khả năng tư duy. Cho nên tôi trừ tôi ra trong cái "chúng ta đều biết...". Với tôi chân lý là tuyệt đối và có thể giải thích được. Mình tôi thôi. lạc lõng và cô đơn quá. Bởi vì, để tiếp cận chân lý tuyệt đối thì không thể có một phương tiện nào có thể giúp con người - kể cả thánh thần - nhìn thấy. Nhưng nó chính là tập hợp lớn nhất bao trùm tất cả mọi tập hợp và không thể có một tập hợp nào lớn hơn nó, trong "Nghịch lý Cantor". Cũng có thể mô tả nó bằng lý thuyết Vonfram. Câu chuyện cũng còn dài. Nhưng một tiền đề để các nhà khoa học đầu bảng cần xem xét luận điểm của tôi là: Khái niệm điểm trong toán học - mở đầu cho toàn bộ ngành toán học đồ sộ của văn minh hiện này là một ý niệm quy ước của tư duy trừu tượng. Trên thực tế không có cái gì chứa "điểm" trong khái niệm của con người. Bởi vì "điểm" là một khái niệm không có định lượng.
-
Thưa quí vị và anh chị em quan tâm http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/33295-sach-minh-triet-viet-trong-van-minh-dong-phuong/page-2#entry236552 Tiểu luận "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" đã xác định nội dụng của nó ngay trong tựa đề: mô tả tính minh triết trong di sản văn hóa Việt, liên quan đến những giá trị tri thức nền tảng của nền văn minh Đông phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái - được mô tả trong kinh Dịch. Cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" đã chứng tỏ được nội dung sự liên hệ này. Và nó xác định rằng: Chỉ có nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương mới có đủ tư cách phục hồi một cách hoàn chỉnh nền văn minh Đông phương huyền bí, qua mối liên hệ giữa những di sản văn hóa truyền thống với những giá trị đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái. Tuy nhiên, không ít những học giả đã cho rằng tác giả của cuốn sách đã dựa vào truyền thuyết và việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống để chứng minh nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương là mơ hồ và không thuyết phục. Bởi vậy, ngay trong bài đầu tiên giới thiệu cuốn sách này trên diễn đàn, tôi đã đặt vấn đề: Trước khi trình bày phương pháp chứng minh của tôi, tôi xin chân thành cảm ơn tiến sĩ khoa học Hoa Kỳ Nguyên Đông, đã xem rất kỹ cuốn sách của tôi nhiều lần, mới hạ bút viết lời giới thiệu với nhũng nhận xét tốt đẹp. Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đối với giáo sư vật lý lý thuyết tên tuổi của Việt Nam là Đào Vọng Đức đã quan tâm viết lời giới thiệu và cả bình luận trên báo Tia Sáng về cuốn sách này. Giáo sư Đào Vọng Đức cũng là người duy nhất lên tiếng bày tỏ niềm tin vào sự xác định của tôi về thời tiết Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội. Cổ thư viết, đại ý: "Kẻ sĩ phải biết ơn người tri kỷ". Tất nhiên tôi không thể phụ lòng những bậc trí giả đích thực như giáo sư Đào Vọng Đức và nhà khoa học Nguyên Đồng. Do đó, tôi cần phải nói rõ hơn những vấn đề liên quan trong nội dung cuốn sách và phương pháp chứng minh của tôi trong bài viết này, để quý vị và anh chị em quan tâm thấy rõ rằng tôi hoàn toàn không mơ hồ. Thưa quý vị và anh chị em quan tâm. Trong cuốn sách này, nếu tôi nhớ không nhầm thì ít nhất là hai lần tôi xác định rằng: Còn ở trên diễn đàn thì sự xác định này của tôi không dưới vài chục lần. Trên diễn đàn, tôi còn nhiều lần nói rõ - Đại ý - rằng: "Tôi biết rất rõ hiện này, tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại chưa có tiêu chí xác định một sự giải mã như thế nào là đúng. Cho nên tôi không coi sự giải mã những di sản văn hóa truyền thống là luận cứ khoa học chứng minh cho Việt sử". Trong tọa đàm khoa học do báo Tia Sáng tổ chức, tôi cũng công khai xác định rằng: "Việc giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt để dẫn tới một định hướng nghiên cứu chỉ dành cho cá nhân tôi". Tức là nó hoàn toàn chủ quan. Tôi mô tả sự giải mã của cá nhân tôi trong nội dung cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" là để chia sẻ cái cảm nhận chủ quan đó của riêng tôi với bạn đọc. Và tôi hy vọng rằng sự chia sẻ này của tôi sẽ có ai đó cảm nhận được , để rồi tiếp tục sự hoàn chỉnh những giá trị của nền văn minh Đông phương, qua những di sản văn hóa truyền thống Việt. Nhưng vấn đề chứng minh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử và là cội nguồn của nền văn minh Đông phương hoàn toàn là một phương pháp khác, và tôi cũng chia sẻ với quý vị và anh chị em trong bài viết này. Thưa quí vị và anh chị em quan tâm. Trong hệ thống luận cứ của tôi chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến luôn có hai phần. Đó là: 1/ Phần giải mã những di sản văn hóa truyền thống Việt. Trong phần này, sự giải mã hoàn toàn mang tính chủ quan và cá nhân tôi cũng không bao giờ coi đó là luận cứ để chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Và tôi cũng nhắc nhở điều này không dưới hai lần trong cuốn sách của tôi. Phần giải mã này chỉ nhằm mục đích chỉ ra mối liên hệ giữa nền văn hóa truyền thống Việt với nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương thể hiện trong di sản văn hóa truyền thống Việt. 2/ Sự xác định Hậu Thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn Khôn) và liên hệ với Hà Đồ - được tôi xác định là nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Nền văn minh hán coi nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành là "Hậu thiên Văn Vương phối hợp với Lạc Thư". Đấy mới chính là luận cứ quan trọng của tôi nhân danh khoa học chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và là cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương. Chuẩn mực để thẩm định tính khoa học của luận cứ quan trọng này, chính là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tôi cũng xin lặp lại tiêu chí khoa học đó ở đây: Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, tôi đã xác định tính bất hợp lý của nguyên lý "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư". Và không phải chỉ có mình tôi - đã chứng minh cụ thể tính bất hợp lý trong nội hàm của nguyên lý này - mà tất cả những nhà nghiên cứu Việt Hán đều thừa nhận tính bất hợp lý đó (Đã dẫn chứng trong sách). Cũng từ chuẩn mực là tiêu chí khoa học - căn cứ vào sự hướng dẫn của di sản văn hóa truyền thống Việt được tôi giải mã - tôi đã xác lập một giả thuyêt là "Hậu Thiên Lạc Việt (đổi chỗ Tốn khôn/ so với Hậu Thiên Văn Vương) phối hợp với Hà Đồ", là nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Giả thuyết này thỏa mãn tất cả những yếu tố cần trong tiêu chí khoa học mà tôi đã trình bày. Nhưng cũng căn cứ theo chuẩn mực là tiêu chí khoa học thì nguyên lý "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" phải tiếp tục - giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Do đó, để chứng tỏ sự phủ hợp hoàn toàn với chuẩn mực tiêu chỉ khoa học, tôi đã liên hệ với tât cả các bộ môn ứng dụng, chuyên ngành - hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - là: Phong thủy, Tử Vi, Dịch học.....thì nguyên lý "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" đã chứng tỏ sự thỏa mãn hoàn toàn với chuẩn mực đối chiếu của nó, đã xác định đó là một giả thuyết nhân danh khoa học hoàn toàn đúng. Tức là nó đã tập hợp và hệ thống hóa toàn bộ ngành Phong thủy Đông phương với danh xứng Phong Thủy Lạc Việt, hiệu chỉnh Lạc Thư hoa giáp hoàn toàn bí ẩn trong sách Hán thành Lạc Thư Hoa giáp, từ đó hiệu chỉnh Tử Vi Lạc Việt.... Đấy mới chính là hệ thống luận cứ khoa học của tôi để chứng minh cội nguồn văn minh Đông phương thuộc về Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Tôi chưa bao giờ coi việc liên hệ những đồ hình Âm Dương Lạc Việt có ở khắp nơi trên thế giới là cơ sở để chứng minh cội nguồn văn minh Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt. Vâng! Chưa có một dòng chữ nào xác định điều đó. Việc liên hệ đồ hình Âm Dương Lạc Việt ở khắp nơi trên thế giới, tôi muốn trình bày một luận điểm nhằm xác định với độc giả rằng: Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là một hệ quả của tư duy trừu tượng, tất nhiên nó là kết quả của một sự nhận thức vũ trụ - liên hệ với nhận thức mới nhất của khoa học hiện đại, cũng dùng một mô hình biểu kiến tương tự như đồ hình Âm Dương Lạc Việt để mô tả sự vận động từ khởi nguyên của giải Ngân Hà (Đã dẫn chứng) - nhằm xác định một nền văn minh phi Hán có liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chứ không phải để xác định nền văn minh Việt là chủ nhân của một học thuyết qua đồ hình Âm Dương Lạc Việt. Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là mô hình biểu kiến, mang tính biểu tượng của một học thuyết. Nó không phải nội dung của một học thuyết - mong rằng quý vị học giả không nhầm lẫn khi phản biện như vậy. Bởi vậy, tôi viết bài này để xác định với quý vị và anh chị em quan tâm rằng: Chuẩn mực nhân danh khoa học của tôi là tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học là tiêu chí khoa học để thẩm định tất cả những giải thuyết và những luận cứ trong hệ thống phương pháp luận của tôi. Căn bản của những luận cứ nhân danh khoa học này là "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và mối liên hệ hợp lý của nó trong tất cả các vấn đề liên quan trong Phong thủy, Tử Vi, Dịch học....vv..... Một tiêu chí khoa học đã xác định rằng: Do đó, nếu như quý vị học giả nào quan tâm và có nhã ý phản biện để làm sáng tỏ vấn đề thì xin hãy chỉ ra một mắt xích sai trong hệ thống luận cứ này. Còn nói rằng việc tôi sử dụng những di sản văn hóa truyền thống Việt để giải mã là mơ hồ, thì tôi đành nhắc lại lần thứ tư khi mô tả lại nội dung sách này ở đây là: Tôi đã xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước. Vấn đề đã được đặt ra ngay trong cuốn "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương". Tất cả các vị học giả quan tâm trong và ngoài nước có thể phản biện điều này. Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh chị em. ================== PS: Qua sự phản biện hời hợt của một số học giả, mới thấy tinh thần khoa học thật sự của nhà khoa học Hoa Kỳ Nguyên Đồng khi xem đi xem lại cuốn sách của tôi vài lần mới hạ bút viết lời bình luận. Bởi vậy tôi rất cảm ơn vì sự quan tâm khoa học của ông.
-
Những bước đi của Triều Tiên khiến Trung Quốc "ngồi trên lửa" (Tin tức 24h) - Kêu gọi Hàn Quốc thành lập liên bang, công du châu Âu, thúc đẩy quan hệ với Nga... những bước đi của Triều Tiên khiến Trung Quốc thấp thỏm. Thêm dấu hiệu Triều Tiên 'phớt lờ' Trung Quốc Nga được gì khi làm "trung tâm hòa giải" Triều Tiên? Thúc đẩy lộ trình thống nhất hai miền Ngày 1/10, Triều Tiên hối thúc Hàn Quốc hồi đáp về đề xuất tái thống nhất hai miền thông qua hình thức liên bang ở mức thấp, trong bối cảnh sắp tới kỷ niệm 34 năm đề xuất trên được đưa ra. Trong một tuyên bố, người phát ngôn của một viện thuộc Bộ Ngoại giao Triều Tiên cho rằng trong bối cảnh hiện nay, "đây là đề xuất thực tế nhất để tái thống nhất đất nước một cách hòa bình và công bằng, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của toàn dân tộc". Rất nhiều lần Triều Tiên đã kêu gọi "tái thống nhất độc lập" dân tộc. Triều Tiên cho rằng miền Bắc và miền Nam nên cùng nhau xác định về việc thống nhất đất nước bắt cách "thành lập liên bang và nỗ lực hiện thực hóa điều này, tích cực thúc đẩy sự tồn tại, thịnh vượng và các lợi ích chung". Ngày 10/10 tới sẽ đánh dấu kỷ niệm 34 năm cố lãnh đạo Triều Tiên Kim Il Sung (Kim Nhật Thành) đưa ra đề xuất hướng tới thành lập một nhà nước tái thống nhất dân tộc ở cấp độ thấp, cho phép hai bên thực hiện quyền tự trị khu vực và theo các hệ tư tưởng khác nhau. Triều Tiên nhấn mạnh đề xuất này là "định hướng đúng nhất để đạt được tái thống nhất dân tộc". Dưới sự lãnh đạo của Kim Jong Un, Triều Tiên đang có những bước đi "thoát Trung" Trong một động thái tích cực, ba quan chức cấp cao của Triều Tiên, trong đó có ông Hwang Pyong-So mới được bầu làm Phó chủ tịch Ủy ban quốc phòng quốc gia, nhân vật số 2 sau nhà lãnh đạo Kim Jong Un, sẽ tham dự lễ bế mạc Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 17 (Asiad 17) tại Hàn Quốc. Dự kiến, ba quan chức trên sẽ gặp Bộ trưởng thống nhất Hàn Quốc Ryoo Kihl-Jae, đánh dấu cuộc tiếp xúc cấp cao nhất giữa hai miền Triều Tiên trong những năm qua. Việc Triều Tiên gần gũi hơn với Hàn Quốc có lẽ sẽ khiến anh bạn lớn Trung Quốc phải lo lắng bởi như thế cũng đồng nghĩa với việc Triều Tiên gần gũi với Mỹ hơn. Hàng chục năm qua Trung Quốc đổ tiền vào Triều Tiên chính là để dựng lên tấm lá chắn bảo vệ Trung Quốc trước các quốc gia phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Một khi Triều Tiên đứng về liên minh Mỹ-Nhật-Hàn, lại nắm trong tay con bài hạt nhân thì Trung Quốc cũng chẳng còn an toàn. Phá băng quan hệ với phương Tây, đẩy mạnh quan hệ với Nga Trong khi thúc giục Hàn Quốc về vấn đề tái thống nhất, Triều Tiên cũng thay đổi chính sách đối ngoại nhằm phá băng quan hệ với phương Tây và cải thiện quan hệ với Nga. Từ ngày 6/9, đoàn quan chức cấp cao của Bình Nhưỡng do Bí thư phụ trách đối ngoại của Đảng Lao động Triều Tiên Kang Sok-ju dẫn đầu đã bắt đầu chuyến công du châu Au với các chặng dừng chân tại Đức, Bỉ, Thụy Sỹ, Italy. Tiếp đó, từ ngày 30/9, Ngoại trưởng Triều Tiên Ri Su-yong cũng có chuyến thăm kéo dài 10 ngày tới nước Nga. Ngoại trưởng Triều Tiên và người đồng cấp Sergei Lavrov đã thảo luận vấn đề hợp tác song phương, trong đó có tăng cường đối thoại chính trị, đẩy mạnh hợp tác kinh tế và thương mại, đồng thời trao đổi quan điểm về việc giữ gìn hòa bình và ổn định trên Bán đảo Triều Tiên, khu vực Đông Bắc Á. Hai bên cũng bàn về các điểm nóng quốc tế khác như Ukraine, khu vực Cận Đông, chương trình hạt nhân Iran, những nỗ lực để tạo lập cấu trúc an ninh mới trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Quan hệ Triều-Nga được cải thiện tích cực trong những năm qua. Trước đó, vào tháng 5/2014, Nga đã mạnh tay xóa tới 90% khoản tiền 10,86 tỷ USD mà Triều Tiên nợ từ thời Liên Xô trước đây. Số nợ còn lại khoảng 1,09 tỷ USD, sẽ được Triều Tiên trả góp 6 tháng/lần trong vòng 20 năm tới. Theo thỏa thuận này, Mátxcơva dự kiến dùng số tiền nợ còn lại mà Bình Nhưỡng phải trả để đầu tư vào các dự án y tế, giáo dục và năng lượng ở Triều Tiên. Ngoài ra, Bộ Tài chính Nga có kế hoạch sử dụng khoản tiền này cho việc xây dựng đường ống dẫn khí đốt và hệ thống đường sắt đến Hàn Quốc xuyên qua Triều Tiên. Nhiều ý kiến cho rằng Nga đang dần thay Trung Quốc làm bạn lớn của Triều Tiên. Những động thái trên đang đẩy Triều Tiên ngày càng xa Trung Quốc khi Bình Nhưỡng tìm kiếm những người bảo trợ khác rộng rãi hơn. Đặc biệt, Nga, nước đang cực kỳ gắn bó với Trung Quốc sau loạt biện pháp trừng phạt của Mỹ và phương Tây do liên quan đến khủng hoảng Ukraine, lại trở thành đối thủ cạnh tranh tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Bị cấm vận, Nga đẩy mạnh hướng Đông, trong đó Triều Tiên là một mắt xích quan trọng. Đây là điều Trung Quốc không hề mong muốn một chút nào. Làm thế nào để giữ được Triều Tiên trong vòng kiểm soát? Đây có lẽ là bài toán khó đối với Trung Quốc trong lúc này, nhất là khi quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Bắc Kinh đã rạn nứt và nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong Un đang đẩy nhanh quá trình "thoát Trung". Minh Thái ================= Lão Gàn một lần nữa xác định sự ủng hộ sự thống nhất hai miền Cao Ly, những quy luật vũ trụ sẽ xác định những ý tưởng sáng suốt cho những quyết định của các bạn. Lão Gàn bỏ một phiếu từ lò gạch làng Vũ Đại ủng hộ các bạn. Tôi đã xác định hai miền Cao Ly không có chiến tranh và đất nước này sẽ phải thống nhất từ hơn 10 năm trước.
-
Triều Tiên, Hàn Quốc nhất trí nối lại đối thoại chính thức cấp cao (Vietnam+) lúc : 04/10/14 16:05 Ông Hwang Pyong-so được cho là nhân vật số 2 ở Bình Nhưỡng Bộ Thống nhất Hàn Quốc cho biết, ngày 4/10, Triều Tiên và Hàn Quốc đã nhất trí nối lại các cuộc đối thoại chính thức cấp cao vốn bị đình chỉ kể từ tháng 2 năm nay. Thỏa thuận trên đạt được trong một chuyến thăm Hàn Quốc đầy bất ngờ của ba quan chức Triều Tiên hàng đầu, mà hai người trong số này được coi là những phụ tá thân cận của nhà lãnh đạo Kim Jong-Un. "Hai bên đã nhất trí thảo luận các chi tiết để nối lại cuộc tiếp xúc cấp cao," tuyên bố của Bộ Thống nhất nêu rõ. Nhiều tháng nay, Seoul đã hối thúc Bình Nhưỡng nối lại đàm phán nhưng phía Bình Nhưỡng vẫn bác bỏ đề nghị này, một phần vì tức giận với cuộc tập trận chung Hàn-Mỹ.. Bộ Thống nhất cho hay các quan chức Triều Tiên đã bày tỏ "sự sẵn sàng" với việc tái khởi động đối thoại trong khoảng cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 tới. Cuộc đàm phán cấp cao gần nhất diễn ra tại Seoul hồi tháng 2 mà kết quả là Triều Tiên đã chủ trì một cuộc đoàn tụ hiếm hoi cho các gia đình bị ly tán kể từ Chiến tranh Triều Tiên 1950-53. Tuyên bố của Bộ Thống nhất cũng lưu ý rằng Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-Hye muốn gặp các quan chức Triều Tiên trong ngày 4/10 nhưng lịch làm việc khá kín trong chuyến thăm bất ngờ này không cho phép thực hiện một chuyến thăm tới dinh Tổng thống. Trước đó, Hãng thông tấn trung ương Triều Tiên (KCNA) ngày 4/10 đưa tin ông Hwang Pyong So, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Triều Tiên kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Triều Tiên, sẽ tham dự lễ bế mạc Đại hội thể thao châu Á lần thứ 17 (ASIAD 17) tại Incheon, Hàn Quốc. Theo KCNA, ông Hwang Pyong So đã cùng ông Choe Ryong-Hae và ông Kim Yang-Gon, đều là Bí thư Ban Chấp hành trung ương Đảng Lao động Triều Tiên, lên đường sang Hàn Quốc để tham dự lễ bế mạc ASIAD 17 diễn ra vào tối 4/10. Ông Hwang Pyong So được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hàn Quốc, thay ông Choe Ryong-Hae, tại phiên họp thứ 2 của Hội nghị Nhân dân Tối cao Triều Tiên khóa 13 diễn ra hôm 25/9 vừa qua./. ==================== Vấn đề không đơn giản chỉ để nối lại đàm phán. Nhưng thôi đại khái thế đi. Kết quả cuối cùng là đất nước này phải thống nhất trong hòa bình. Chúc các bạn Cao Ly vạn sự an lành.
-
Bộ 3 quyền lực Triều Tiên bất ngờ tới Hàn, chỉ báo trước 1 ngày 04/10/2014 15:19 Người được cho là nhân vật quyền lực số 2 Triều Tiên cùng các thành viên khác trong nhóm nòng cốt của chính quyền Bình Nhưỡng, hôm nay (4/10), có chuyến thăm bất ngờ tới Hàn Quốc. Hwang Pyong So, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Triều Tiên, dẫn đầu đoàn đại biểu tới Hàn Quốc. (Ảnh: AP) AP đưa tin, phái đoàn Triều Tiên tới Hàn Quốc dự lễ bế mạc Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD), và hai bên có các cuộc đối thoại trực tiếp ở cấp cao nhất trong vòng 5 năm qua. Sau nhiều tháng căng thẳng với nhiều lần khẩu chiến cùng một số vụ thử tên lửa của Bình Nhưỡng, hy vọng về một bước đột phá giữa hai miền Triều Tiên không nhiều. Tuy nhiên, đây được đánh giá là việc sẽ đem lại bước ngoặt trong quan hệ hai bên. Theo Reuters, dẫn đầu đoàn đại biểu là Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Triều Tiên, ông Hwang Pyong-So. Đi cùng ông Hwang là Bí thư Đoàn chủ tịch Bộ chính trị Đảng lao động Triều Tiên kiêm Chủ nhiệm Ủy ban chỉ đạo thể dục quốc gia Triều Tiên Choe Ryong-hae, cùng với Bí thư Đoàn chủ tịch Bộ chính trị Đảng lao động Triều Tiên kiêm Bộ trưởng Bộ chiến tuyến thống nhất Kim Yang-gon. Ông Hwang đáp xuống sân bay Incheon trong bộ quân phục. Đoàn đại biểu CHDCND Triều Tiên dự kiến sẽ gặp các quan chức Hàn Quốc. Từ trái qua: Ông Kim Yang-gon, ông Hwang Pyong-So và ông Choe Ryong-hae tại Seoul hôm nay, 4/10. Ảnh: AFP. Hãng tin Yonhap (Hàn Quốc) cho hay, vào ngày hôm qua (3/10), phía Hàn Quốc mới nhận được thông báo "Đoàn đại biểu cấp cao" do ông Hwang Pyong-So dẫn đầu sẽ tới Hàn Quốc vào ngày hôm nay. Hàn Quốc cũng đồng ý với chuyến đi này của ông Hwang. Sau khi đến một khách sạn để chuẩn bị gặp các quan chức Bộ Thống nhất Hàn Quốc, các quan chức Bình Nhưỡng tỏ ra vui vẻ, gật đầu chào phóng viên khi được hỏi liệu họ có lạc quan về kết quả của chuyến đi hay không. Hai bên đã gặp nhau ít phút vào buổi sáng. Phát ngôn viên Bộ Thống nhất Hàn Quốc Lim Byeong Cheol nói với các phóng viên rằng, phái đoàn Triều Tiên sẽ có các cuộc đối thoại quan trọng khi dùng bữa trưa với Bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc Ryoo Kihl-jae và Giám đốc An ninh quốc gia Kim Kwan-jin. Họ sẽ trở về nước ngay trong ngày. Bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc Ryoo Kihl-jae (phải) bắt tay Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Triều Tiên Hwang Pyong-So tại khách sạn, hoan nghênh chuyến đi của Đoàn đại biểu cấp cao Triều Tiên. Ảnh: Tân Hoa Xã/Yonhap. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh đồn thổi đang lan truyền ở Hàn Quốc về sức khỏe của Kim Jong-un, vì ông này không xuất hiện tại các sự kiện quan trọng của Triều Tiên từ ngày 3/9. Một bộ phim tài liệu chính thức mới đây cho thấy hình ảnh lãnh đạo Triều Tiên hồi tháng 8 bước đi khập khiễng. Đây là chuyến thăm cấp cao đầu tiên thuộc loại này của quan chức Triều Tiên tới Hàn Quốc kể từ khi Tổng thống Park Geun-hye nhậm chức đầu năm 2013. Chuyến thăm gần đây nhất là vào năm 2009. Hiện chưa rõ hai bên thảo luận những gì song phát ngôn viên Lim khẳng định không có kế hoạch cho phía đoàn Triều Tiên gặp Tổng thống Park. Mặc dù quan hệ căng thẳng với Hàn Quốc nhưng CHDCND Triều Tiên đang tiến xa hơn với các hoạt động ngoại giao cấp cao trong những tuần gần đây với việc ngoại trưởng Triều Tiên có nhiều chuyến công du và tham gia cuộc họp tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. theo Vietnamnet/Tuổi trẻ ======================== Cố lên các bạn Cao Ly. Lão Gàn bỏ một phiếu ủng hộ sự thống nhất đất nước các bạn.
-
Khi thế giới không tin vào lời nói “bằng hữu” viển vông của TQ VŨ HẢI THANH – VIỆN KHXH&NVQS 04/10/14 06:27 (GDVN) - Các nguyên thủ trên thế giới đang hợp sức dồn Trung Quốc vào chân tường UNCLOS Báo TQ xuyên tạc Công ước Luật biển 1982 được Việt Nam áp dụng Báo TQ phủ nhận hoàn toàn giá trị của Công ước LHQ về Luật biển Khi đã không còn nhiều niềm tin vào những lời nói “bằng hữu” viển vông do Trung Quốc vẽ ra, các học giả và nguyên thủ trên thế giới lần lượt nói thẳng với Trung Quốc về Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Nhà cầm quyền Bắc Kinh luôn né tránh pháp luật thế giới và tung hỏa mù bằng những ngôn từ mỹ miều, những lời hứa tốt đẹp nhưng chẳng có gì ràng buộc, và thực sự là “chẳng chết ai”. Bức tranh miêu tả cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma 14-3-1988 của Việt Nam (đang được treo tại Phòng Truyền thống của Vùng 4 Hải quân). Năm 1988, Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm lược một số đá ngầm ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc cũng đang dùng sức mạnh kinh tế, quân sự của mình để thúc đẩy xây dựng, hòng chiếm đoạt vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam cũng như của khu vực. Nhiều khi nhìn lại và đối chiếu với những hành động trên thực tế của Trung Quốc trong giải quyết mối quan hệ với các nước khác, người ta nhận thấy những ngôn từ như “bằng hữu”, “hữu nghị”, sự định lượng những “chữ vàng”, những điều “tốt” thật viển vông và vô nghĩa. Những lời nói đầy vẻ đạo đức, nhân văn ấy, những hứa hẹn xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa Trung Quốc và các quốc gia khác thật hư ảo như giấc mơ. Bởi lẽ, trong giải quyết các mối quan hệ thì pháp luật là đạo đức tối thiểu. Cái yêu cầu nhỏ nhất đó còn không làm được thi nói gì đến cái lớn hơn. Pháp luật góp phần điều chỉnh hành vi của con người và các tổ chức theo chuẩn mức đạo đức tối thiểu phải có. Song Trung Quốc luôn muốn “vứt” Luật Biển - thứ đạo đức tối thiểu phải có - vào sọt rác thì còn hy vọng gì nhiều hơn vào những cái đạo đức, nhân văn cao xa hơn thế… Con người văn minh hành động theo pháp luật, “chơi” theo cùng “luật chơi” ở một “sân chơi” chung ấy. Nhưng Trung Quốc muốn “lách luật”, muôn lờ đi pháp luật quốc tế. Để đánh lạc hướng, họ tung hỏa mù về các phương pháp giải quyết tranh chấp lãnh thổ bằng rất nhiều khái niệm mơ hồ và đôi khi là vô định, vô nghĩa… gần đây nhất họ đưa ra cái gọi là “bốn tôn trọng” ở Biển Đông. Nhiều nhà ngoại giao và học giả trên thế giới cho biết: trong các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế, các học giả và nhà ngoại giao Trung Quốc luôn nói thao thao bất tuyệt về “hảo ý” của Trung Quốc với các nước, không liên quan gì với chủ đề đang bàn luận… đến mức các thành viên cùng tham gia thảo luận cảm thấy mệt mỏi, ngao ngán và chủ tọa phải cầm lòng “bất lịch sự” cắt ngang những “diễn thuyết tốt đẹp” vô hại và vô dụng đó mới chịu thôi. Ngày nay, các học giả, các nhà ngoại giao và nguyên thủ trên thế giới đã nhận rõ đòn tung hỏa mù của Trung Quốc, họ yêu cầu Trung Quốc rất ngắn và rõ: tuân thủ UNCLOS. Tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á hay còn gọi là Đối thoại Shangri – La năm 2014, khi bị các học giả dồn hỏi về cơ sở pháp lý cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc là Vương Quán Trung đã bộc lộ “tâm đen” muốn vứt UNCLOS vào sọt rác khi khẳng định UNCLOS ra đời sau khi Trung Quốc có chủ quyền (mạo nhận, không được nước nào thừa nhận) với vùng biển này nên không thể áp dụng UNCLOS. Thế giới tạo ra UNCLOS không phải là để bỏ vào sọt rác, cũng không phải là để làm đầy thêm tủ sách pháp luật quốc tế. Nó phải được thực thi trên các vùng biển và đại dương của trái đất này, để duy trì trật tự, quy củ. Tiếp bước các học giả sáng suốt trên thế giới, các nguyên thủ khắp thế giới lần lượt nêu yêu cầu Trung Quốc phải giải quyết tranh chấp trên biển bằng pháp luật quốc tế nói chung và Luật Biển nói riêng. Ngày 19/9/2014, phát biểu sau cuộc hội đàm với Tổng thống Philippines Benigno Aquino III tại Berlin, Thủ tướng Đức Angela Merkel hối thúc Trung Quốc giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển: “Chúng ta tạo ra Tòa án LHQ về Luật Biển để giải quyết những tranh chấp như vậy. Đức ủng hộ và sẽ tiếp tục thúc đẩy việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông”, bà Merkel nhấn mạnh. Ngày 21/9/2014, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng đề cập đến vấn đề này trong cuộc trả lời phỏng vấn hãng tin CNN. Khi được hỏi phản ứng về cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông khiến một số chính phủ lo ngại, Thủ tướng Ấn Độ khẳng định Ấn Độ không thể làm ngơ trước mọi vấn đề. Theo ông, trong thời đại đối tác hiện nay, tất cả các bên đều phải tìm kiếm và mở rộng sự hỗ trợ lẫn nhau. Trung Quốc thừa hiểu họ phải chấp nhận luật lệ toàn cầu trong các tranh chấp lãnh hải với những nước láng giềng và phải đóng vai trò của họ trong việc hợp tác và tiến lên phía trước nếu không muốn bị cô lập. Ngày 24/9/2014, phát biểu tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Mỹ Barack Obama kêu gọi các nước tôn trọng luật pháp quốc tế trong bối cảnh căng thẳng về chủ quyền biển đảo tại châu Á - Thái Bình Dương đang gia tăng: “Chúng tôi nhấn mạnh tất cả các nước phải tôn trọng luật lệ và giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, tuân thủ theo luật pháp quốc tế”. “Đó là cách mà châu Á - Thái Bình Dương đã phát triển. Và đó cũng là cách thức duy nhất để bảo vệ sự phát triển này”. Và còn có rất nhiều nguyên thủ các quốc gia như Tây Ban Nha, Bỉ, Pháp, Nhật Bản, Australia … yêu cầu Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ biển, đảo theo UNCLOS. Nếu Tòa án Luật Biển ra phán quyết phủ nhận những yêu sách chủ quyền phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông thì cho dù Trung Quốc không tham gia vụ kiện và không chấp nhận phán quyết đó thì cũng sẽ bị thiệt hại vô cùng lớn về hình ảnh quốc gia “cường quốc có trách nhiệm” của họ. Đó sẽ là sự khởi đầu tệ hại cho chuỗi hiệu ứng Domino làm sụp đổ niềm tin của các quốc gia trên thế giới về các “thương hiệu” chính trị, kinh tế, văn hóa… của Trung Quốc. Khi ấy, nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục ném UNCLOS vào sọt rác thì cũng đồng nghĩa với việc ném theo rất nhiều thứ “tài sản” có giá trị của họ đi theo nó.
-
Giẫm đạp trong lễ hội Hindu ở Ấn Độ, 32 người chết 04/10/2014 07:19 GMT+7 TTO - Ít nhất 32 người chết và nhiều người khác bị thương rất nặng trong vụ giẫm đạp tại lễ hội Hindu Dussehra ở bang Bihar (miền bắc Ấn Độ) vào hôm qua. Rất đông người Ấn Độ đã đến xem lễ hội ở khu đại lộ Gandhi Maidan hôm 3-10 - Ảnh: AFP AFP dẫn lời lãnh đạo cảnh sát bang Bihar, Gupteshwar Pandey cho biết nạn nhân phần lớn là trẻ em và phụ nữ. Trong lúc hàng ngàn người Ấn đã đổ về khu đại lộ Gandhi Maidan để xem những hình nộm khổng lồ mô phỏng nhân dạng của vua Ravana phát sáng theo truyền thống trong lễ hộ Dussehr thì xuất hiện tin đồn chập điện, khiến đám đông hoảng loạn và tháo chạy khỏi khu lễ hội. Nhiều phụ nữ và trẻ em vì yếu sức đã bị chèn ngã và bị giẫm đạp. "Có ai đó hét to rằng điện bị chập và đang gây hỏa hoạn lớn, mọi người tranh nhau thoát khỏi hiện trường càng sớm càng tốt, bất chấp cả việc giẫm đạp lên người khác" - AFP dẫn lời một cảnh sát. Hình ảnh trên truyền hình địa phương cho thấy khu lễ hội hỗn loạn sau vụ giẫm đạp, quần áo và giày dép rơi vương vãi trên đường. Nhiều cư dân địa phương giận dữ cho rằng thảm kịch xảy ra do chính quyền địa phương không trang bị đủ đèn chiếu sáng ở khu lễ hội khi có quá nhiều người tập trung ở nới này. Và, quan trọng là ban tổ chức lễ hội đã không có kế hoạch sơ tán khi xuất hiện tin đồn trên và thiếu biện pháp an ninh ở đây. Bihar là một trong những bang đông dân và nghèo nhất Ấn Độ với hàng triệu người đang sống trong nghèo đói. Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tuyên bố chính phủ sẽ bồi thường cho mỗi nạn nhân thiệt mạng trong vụ giẫm đạp 3,240 USD. Các vụ giẫm đạp chết người thường xảy ra trong các lễ hội tôn giáo ở Ấn Độ nhưng cho đến nay chính phủ nước này vẫn chưa đưa ra những biện pháp hay điều luật cụ thể để có thể khắc phục hiệu quả tình trạng này. Hồi tháng 9-2014, ít nhất 10 người thiệt mạng trong vụ giẫm đạp tại ngôi đền Hindu ở Madhya Pradesh. Tháng 10-2013, khoảng 115 người cũng đã thiệt mạng trong vụ giẫm đạp trên một cây cầu ở địa phương này. MỸ LOAN
-
Hồng Kông: Nhóm sinh viên biểu tình hoãn đối thoại Thứ Bẩy, 04/10/2014 - 08:34 (Dân trí) - Lãnh đạo của nhóm sinh viên biểu tình ủng hộ dân chủ tại Hồng Kông ngày 3/10 đã hoãn cuộc đối thoại dự kiến với chính quyền đặc khu này, sau khi nhiều cuộc đụng độ với các nhóm phản đối biểu tình diễn ra. >> Trưởng đặc khu Hồng Kông: Không từ chức, đề nghị đàm phán Một học sinh bị thương được cảnh sát đưa đi Nhóm sinh viên biểu tình cho biết chính quyền đã không hành động để bảo vệ người biểu tình một cách đầy đủ. Trong khi đó cảnh sát phủ nhận việc thông đồng với những kẻ tấn công người biểu tình, và khẳng định đã bắt giữ một số thành viên của các băng nhóm tội phạm hội Tam hoàng. Trước đó, lãnh đạo Hồng Kông hôm thứ Năm đã đề nghị đối thoại với người biểu tình để hạ nhiệt căng thẳng sau khi người biểu tình đề nghị ông từ chức. Tuy vậy, xô xát đã xảy ra giữa những người giận dữ với những gián đoạn do biểu tình gây ra, và họ đã tháo dỡ lều trại, rào chắn của người biểu tình. Trong thông báo của mình, Liên đoàn học sinh sinh viên Hồng Kông, nhóm được mời tham gia đối thoại với chính phủ, khẳng định đã từ bỏ kế hoạch đối thoại. “Chính phủ đã để những kẻ mafia tấn công người tham gia tuần hành hòa bình của phong trào Chiếm đóng trung tâm. Việc này đã cắt đứt con đường đối thoại, và họ phải chịu tránh nhiệm cho những hậu quả”, thông báo viết. “Chính phủ đã không giữ lời hứa. Chúng tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc ngừng đối thoại”. Lãnh đạo phong trào Chiếm đóng trung tâm Benny Tai khẳng định họ vẫn đang cân nhắc tẩy chay các cuộc đối thoại. Tuy vậy, theo ông này, cảnh sát đã không bảo vệ người biểu tình trước các cuộc tấn công của phe đối lập, và điều này không thể tiếp tục. Hiện chính quyền Hồng Kông chưa có phản ứng gì về tuyên bố hoãn đối thoại này. Theo tờ Bưu điện Hoa nam buổi sáng, có 37 người đã bị thương và phải được điều trị, nâng tổng số người bị thương kể từ khi biểu tình bắt đầu lên con số 131. Cảnh sát Hồng Kông khẳng định đã bắt giữ 19 người, trong đó có 8 kẻ từng dính tới hội Tam hoàng, một tổ chức tội phạm tại đặc khu này. Thanh Tùng Tổng hợp ================ Vấn đề Hớn Cỏong chỉ có thể giải quyết bằng con đường chính danh mà thôi. Nhưng như thế nào là "chính danh"? Cái này mặc dù xuất hiện lần đầu tiên trong Luận ngữ - được gán cho Khổng Tử - nhưng đến nay, thế nào là chính danh vẫn chưa có một định nghĩa rốt ráo. Không phải chủ nhân đích thực của Lý học Đông phương, nước Tàu còn khóc tiếng Urugoay cho những vấn đề liên quan.
-
Thưa quí vị và anh chị em quan tâm đến cội nguồn Việt tộc. Tôi có luận điểm của tôi về cội nguồn Việt tộc và đã trình bày nhiều lân trên diễn đàn. Nhưng tôi sẽ chứng minh cho tính chân lý của cội nguồn Việt tộc của tôi trước những phát kiến khoa học đang là hệ thống nền tảng tri thức hiện nay về sự hình thành ngồn gốc loài người như bài viết của tiến sĩ khoa học Đỗ Kiên Cường, với luận điểm của ông cho rằng: Có thể nói luận điểm của ông Đỗ Kiên Cường gần tương đồng với một nhà nghiên cứu cổ văn hóa sử Việt là bác Hà Văn Thùy. Tôi rất ủng hộ tất cả những ai có tấm lòng tìm về cội nguồn văn hóa Việt và bỏ thời gian đi tìm chân lý cho vấn đề này, kể cả những người quan tâm nước ngoài không phải Việt tộc. Nhưng vấn đề quan trọng lại không phải là tấm lòng và sự nhiệt tình khoa học. Mà là khả năng chứng minh cho chân lý. Trước khi tôi trình bày luận cứ của mình, tôi cũng xin tiếp tục trình bày một hệ thống luận cứ đã đăng tải trên diễn đàn của nhà nghiên cứu Trần Đại Sỹ, liên quan đến cội nguồn dân tộc Việt. Dưới đây là toàn bộ bài viết của giáo sư Trần Đại Sỹ. ========== Nguyên văn bài viết đã đưa lên trang chủ diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn từ lâu. Đây là bài chép từ trên diễn đàn do thanhdc đưa lên. Do sự sao chép từ trang web khác có tính năng cấu trúc vi tính về chữ viết khác nhau, nên có nhiều lỗi chính tả. Chúng tôi không thể sửa hết được. Nhưng xét những lỗi này không ảnh hưởng đến nội dung bài viết. Mong quý vị và anh chị em thông cảm. *** Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam: Bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống ADN Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ. Chúng tôi xin giới thiệu với ðộc giả Việt-Nam bài diễn vãn của Giáo-sý Trần Ðại-Sỹ ðọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp-Á (Institut Franco-Asiatique viết tắt là IFA). Nguyên vãn bằng tiếng Pháp, ðây là bản dịch tiếng Việt của chính tác giả và cô Tãng Hồng Minh chú giải. Trong dịp khai giảng niên học này, IFA ðã mời một số đông các học giả,trí thức và ký giả tham dự. Sau bài diễn văn, có cuộc trao đổi rất thú vị. Xin nhắc lại, trong khoảng thời gian 1977-1992, tác giả làm việc cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaçeutique, viết tắt là CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (Commité Médical Franco-Chinois viết tắt là CMFC), nên đã được các đồng nghiệp giúp đỡ, dùng hệ thống ADN để tìm lại nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Chính với công trình nghiên cứu của tác giả trong thời gian 1977-1991, dùng hệ thống ADN phân biệt dân-tộc Trung-hoa, dân tộc Việt-Nam...đã kết thúc cuộc tranh cãi 90 năm qua biên giới cổ của Việt–Nam. Kết luận về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam bằng khoa ADN đi ngược lại với tất cả các thuyết từ trước đến giờ. Các thuyết này khẳng định người Việt do người Hoa di cư xuống để trốn lạnh, để tỵ nạn v.v. Nhưng ADN cho biết chính người ở vùng Đông Nam Á đã đi lên phương Bắc thành người Hoa. Sau khi bài diễn vãn này phổ biến (1991), có một số "học giả" vì không theo kịp đà tiến hóa của khoa học, đã lên tiếng chỉ trích chúng tôi. Biết rằng họ dốt nát quá, muốn giải thích cho họ, họ phải có một trình độ nào đó... vì vậy chúng tôi không trả lời. Phần nghiên cứu của chúng tôi quá dài, quá chuyên môn. Độc giả muốn tìm hiểu thêm có thể đọc công trình nghiên cứu dưới ðây: * J.Y.CHU, cùng 13 nhà bác học Trung-quốc cũng nghiên cứu Di-truyền học ADN (DNA), công bố nãm 1998: The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 nãm 1998. Tài liệu khẳng ðịnh rằng nguồn gốc người Trung-hoa, Ðông Á, do ngýời Ðông-Nam-á ði lên, chứ không phải do ngýời Trung-hoa di cư xuống. *ALBERTO-PIAZZA (ðại học Torino, Ý): Human Evolution: Towards a genetic history of China, Proc.of Natl. Acad. Sci, USA, Vol 395, No 6707-1998. *LI YIN, Distribution of halotypes from a chrosmosomes 21 Region - distinguishes multiple prehistotic human migrations - Proc.of Natl. Acad. Sci - USA, Vol.96 , 1999. 1/ Về bài diễn vãn này, từ nãm 1991, có rất nhiều bản dịch sang nhiều thứ tiếng, ðãng trên nhiều báo khác nhau. Mỗi dịch giả lại tự ý lược ði, ðôi khi cắt mất nhiều ðoạn. Nay chúng tôi xin dịch nguyên bản, ðầy ðủ. Vì vậy độc giả thấy có nhiều đoạn quá chuyên môn, xin lướt qua. Trong khi diễn giả trình bầy, ông có ngắt ra nhiều đoạn, để thính giả thảo luận. Các bài trích đăng trước không ghi phần này. Để độc giả dễ theo dõi, cô Tăng Hồng Minh (THM) ghi chép, chú giải đặt ngay dưới đoạn liên hệ, thay vì ghi ở cuối bài. Khi xuất bản lần thứ nhất², bộ Anh-hùng Bắc-cương của giáo-sý Trần, chúng tôi có cho ích một phần bài này in vào cuối quyển 4. Nay chúng tôi công bố toàn bộ tài liệu, lấy làm tài liệu chính thức và phủ nhận tất cả những bản do nhiều nơi phổ biến trước ðây? Paris ngày 10-10-2001 Sở tu thư, viện Pháp-Á 2/ Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Kính thưa ông Viện–trưởng, Kính thưa quý đồng nghiệp, Kính thưa quý vị quan khách. Các bạn sinh viên rất thân mến, Tôi không phải là nhà sử học, cũng không phải là nhà khảo cổ, hay nhà chủng tộc học. Tôi chỉ là một thầy thuốc. Nhưng những may mắn ðến tiếp diễn trong suốt cuộc ðời, vô tình đã đưa tôi đến đây trình bày cùng quý vị về nguồn gốc, biên giới cổ của tộc Việt. Ở cuối giảng đường này tôi thấy có nhiều bạn trẻ bật cười. Tôi biết bạn bật cười vì đa số người ta đều than đời bất hạnh, toàn rủi ro. Còn tôi, tôi lại nói rằng suốt cuộc đời toàn may mắn. Tôi có thể nói thực với Quý-vị rằng, về phương diện nghiên cứu học hành, suốt ðời tôi,tôi có cảm tưởng tổ tiên ðã trải thảm cho tôi đi trên con đường vô tận đầy hoa. Nếu bạn chịu khó đọc bộ Sexologie médicale chinoise của tôi, phần bài tựa tôi có viết : « Trong lịch sử cổ kim nhân lọai, nếu có người may mắn về phưõng diện nghiên cứu học hành, tôi ðứng ðầu. Nhýng nếu có ngýời bất hạnh nhất trong tình trường tôi cũng ðứng ðầu ». Hôm nay tôi trình bày với Quý-vị về công cuộc đi tìm biên giới cổ của nước Việt-Nam và nguồn gốc tộc Việt, Quý-vị sẽ thấy tôi may mắn biết chừng nào, và Quý-vị sẽ thấy tộc Việt chúng tôi anh hùng biết bao. Nhưng gần ðây, vì chiến tranh tiếp diễn trong hơn 30 nãm, khiến cho ðất nước chúng tôi ðiêu-tàn, và... hiện nước tôi là một trong bốn nước nghèo nhất trên thế giới. I. SƠ TÂM VỀ TỘC VIỆT Năm lên năm, tôi học chữ Nho, một loại chữ của Trung-quốc, nhưng dùng chung cho hầu hết các nước vùng Á-châu Thái-bình dýõng (ACTBD). Thầy khai tâm của tôi là ông ngoại tôi. Ông tôi là một ðại thần của triều ðình Đại-Nam (tức Việt-Nam). Chế độ phong kiến của nước tôi đã chấm dứt từ năm 1945, hiện (1991) vị Hoàng-đế cuối cùng của Đại-Nam là Bảo Đại. Ngài vẫn còn sống ở quận 16 Paris. Năm lên sáu tuổi, tôi được học tại trường tiểu học do chính phủ Pháp mở tại Việt-Nam. Thời gian 1943-1944 rất ít gia đình Việt-Nam còn cho con học chữ Nho. Bởi đạo Nho cũng như nền cổ học không còn chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chính trị nữa. Thú thực tôi cũng không thích học chữ Nho bằng chơi bi, đánh đáo. Nhưng vì muốn làm vui lòng ông tôi mà tôi học. Hơn nữa học chữ Nho, tôi có một kho tàng vãn hóa vĩ ðại ðể ðọc, ðể thỏa mãn trí thức của tuổi thơ. Thành ra tôi học rất chuyên cần. Các bạn hiện diện nõi ðây không ít thì nhiều cũng đã học chữ Nho đều biết rằng chữ này học khó nhý thế nào. Nhưng tôi chỉ mất có ba tháng ðã thuộc làu bộ Tam tự kinh, sáu tháng để thuộc bộ Ấu-học ngũ ngôn thi. Năm bẩy tuổi tôi được học sử, và năm chín tuổi bị nhét vào đầu bộ Đại-học. Chương trình giáo dục cổ bắt học sinh học hai loại sử. Bắc-sử tức sử Trung-quốc. Nam sử tức sử của Việt-Nam. Tôi được học Nam sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài sử khai tâm bằng chữ Quốc ngữ vào năm bảy tuổi. Thời điểm bấy giờ bắt đầu có những bộ sử viết bằng chữ Quốc ngữ, rất giản lược, để dạy học sinh ; không bằng một phần trăm những gì tôi học ở nhà. Thầy giáo ở trường Pháp biết tôi là cái kho vô tận về sử Hoa-Việt, nên thường bảo tôi kể cho các bạn ðồng lớp về anh hùng nước tôi. Chính vì vậy tôi phải lần mò đọc những bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như : Đại-Việt sử ký toàn thý (ÐVSKTT), An-Nam chí lýợc (ANCL), Ðại-Việt thông-sử (ÐVTS), Khâm-ðịnh Việt sử thông giám cương mục KÐVSTGCM), Ðại-Nam nhất thống chí(ÐNNTC). Ðại cương mỗi bộ sử ðều chép rất giản lược về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam sau : « Vua Minh cháu bốn ðời vua Thần-Nông, nhân ði tuần thú phương nam, ðến núi Ngũ-lĩnh, kết hôn với một nàng tiên hạ sinh một con trai tên Lộc-Tục. Vua lập ðài, tế cáo trời ðất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc-Tục làm vua phương Nam. Ngài dạy hai thái tử rằng : « Nghi làm vua phương Bắc, Tục làm vua phương Nam, lấy núi Ngũ-lĩnh làm cương giới. Hai người làm vua hai nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy ðiều hiếu hoà mà ở với nhau. Tuyệt ðối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn ». Xét triều ðại Thần-Nông, khởi từ nãm 3118 trýớc Tây lịch, ðến ðây thì chia làm hai : 1. Thần-Nông Bắc. Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch) Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch) Vua Ly (2795-2751 trước Tây-lịch) Vua Du-Võng (2752-2696 trước Tây-lịch). Ðến ðây triều ðại Thần-Nông Bắc chấm dứt, ðổi sang triều ðại Hoàng-ðế từ nãm giáp Tý (2697 trước Tây-lịch). Các nhà chép sử Trung-quốc lấy thời ðại Hoàng-ðế làm kỷ nguyên. Trong bộ Sử-ký, Tý-mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ-đế bản kỷ, coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, không chép về thời đại Thần-Nông. 2. Triều ðại Thần-Nông Nam. Thái-tử Lộc-Tục lên làm vua nãm Nhâm-Tuất (2879 trước Tây-lịch) hiệu là Kinh- Dương, lúc mười tuổi. Sau người Việt lấy nãm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho ðến nay (1991) là 4870 nãm, vì vậy ngýời Việt tự hào rằng ðã có năm nghìn năm văn hiến. (1) Nội dung bài diễn văn hôm nay, tôi chỉ bàn đến diễn biến chính trị, lịch sử, văn hóa, địa lý của dân tộc -Trung-hoa, và dân tộc Việt-Nam trong khoảng thời gian 4870 năm từ năm 2879 trước Tây-lịch cho đến năm nay 1991. Còn như ði xa hơn về những thời tiền cổ, thời ðồ ðá, ðồ ðồng, ðồ sắt, quá phức tạp, quá dài, tôi không luận ðến ở ðây. Xét về cương giới cổ sử chép : « Thái-tử Lộc-Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh-Dương(2), ðặt tên nýớc là Xích-quỷ, ðóng ðô ở Phong-châu nay thuộc Sơn-Tây. Vua Kinh-Dương lấy con gái vua Ðộng-ðình là Long-nữ đẻ ra Thái-tử Sùng-Lãm. Thái-tử Sùng-Lãm lại kết hôn với công chúa Âu-Cơ con vua Ðế-Lai(3). Khi vua Kinh-Dương bãng hà thái-tử Sùng-Lãm lên nối ngôi vua, tức vua Lạc-Long, đổi tên nước là Vãn-Lang. Nước Vãn-Lang Bắc tới hồ Ðộng-ðình, Nam giáp nước Hồ-tôn, tây giáp Ba-thục, ðông giáp biển Ðông-hải.) Cổ sử ðến ðây, không có gì nghi ngờ, nhưng tiếp theo lại chép : « Vua Lạc-Long lấy công chúa Âu-Cơ sinh ra một bọc trãm trứng nở ra trãm con. Ngài truyền cho các hoàng tử ði bốn phương lập ấp, tổ chức cai trị giáo hóa dân chúng. Mỗi vị lập một ấp theo lối cha truyền con nối . Hoàng-tử thứ nhất tới thứ mười lập ra vùng hồ Ðộng-ðình.(Nay là Hồ-Nam, Quý-châu, Trung-quốc.) Hoàng-tử thứ mười một tới thứ hai mươi lập ra vùng Tượng-quận.(Nay là Vân-Nam và một phần Quảng-Tây, Tứ-xuyên thuộc Trung-quốc.) Hoàng-tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi lập ra vùng Chiêm-thành.(Nay thuộc Việt-Nam, từ Thanh-hóa ðến Ðồng-nai.) Hoàng-tử thứ bốn mươi mốt tới nãm mươi lập ra vùng Lão-qua.(Nay là nước Lào và một phần Bắc Thái-lan.) Hoàng-tử thứ nãm mươi mốt tới sáu mươi lập ra vùng Nam-hải. (Nay là Quảng-ðông, và một phần Phúc-kiến, Trung-quốc.) Hoàng-tử thứ sáu mươi mốt tới bảy mươi lập ra vùng Quế-lâm.(Nay thuộc Quảng-tây, Trung-quốc.) Hoàng-tử thứ bảy mươi mốt tới tám mươi lập ra vùng Nhật-nam.(Nay thuộc Việt-Nam từ Nghệ-an tới Quảng-bình.) Hoàng-tử thứ tám mươi mốt tới chín mươi lập ra vùng Cửu-chân.(Nay thuộc Việt-Nam từ Ninh-bình tới Thanh-hóa, Nghệ-an, Hà-tĩnh) Hoàng tử thứ chín mươi mốt tới một trãm lập ra vùng Giao-chỉ.(Nay là Bắc Việt-Nam và một phần tỉnh Quảng-tây, Vân-Nam thuộc Trung-quốc.) Ngài hẹn rằng : Mỗi nãm các hoàng-tử phải về cánh ðồng Tương vào ngày Tết, ðể chầu hầu phụ mẫu ». Một huyền sử khác lại thuật : Vua Lạc-Long nói với Âu-Cơ rằng : « Ta là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không ðược. Nay ta ðem nãm mươi con xuống nước, nàng ðem nãm mươi con lên rừng. Mỗi nãm gặp nhau tại cánh ðồng Tương một lần » Các sử gia người Việt lấy nãm vua Kinh-Dương lên làm vua là nãm Nhâm-tuất (2879 trước Tây-lịch), nhưng không tôn vua Kinh-Dương với Công-chúa con vua Ðộng-ðình làm Quốc-tổ, Quốc-mẫu, mà lại tôn vua Lạc-Long làm Quốc-tổ và Công-chúa Âu-Cõ làm Quốc-mẫu. Cho ðến nay Quý-vị hỏi trăm người Việt ở hải ngoại rằng tổ là ai, họ đều tự hào : « Chúng tôi là con Rồng, cháu Tiên. Quốc-tổ tên Lạc-Long, Quốc-mẫu tên Âu-Cơ ». Chủ ðạo của tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin này. Ghi chú của Tãng Hồng Minh, Ký giả chuyên về Văn-minh Đông-á Jean Marc Decourtenet hỏi về đoạn này như sau: « Thưa Giáo-sư, hiện Việt-Nam là nước theo chế ðộ Cộng-sản, liệu người Việt trong nước họ có cùng một niềm tin như người Việt hồi 1945 về trước cũng nhý người Việt hải ngoại hay không ? » Trả lời : « Những nhà lãnh đạo đảng Cộng-sản Việt-Nam suốt từ năm 1930 đến giờ, không một người nào muốn dùng triết lý Marxisme, Léninisme để xóa bỏ niềm tin con Rồng cháu Tiên. Trái lại họ còn dùng niềm tin này để quy phục nhân tâm. Vì niềm tin này đã ăn sâu vào tâm não người Việt. Những người lãnh đạo chính trị Việt cả hai miền Nam-Bắc trong thời gian nội hiến 1945-1975 cũng không ai dám, không ai muốn, không ai đủ khả năng xóa bỏ niềm tin này. Người Việt có niềm tin vào Chủ-ðạo của mình. Họ xây đền thờ các vua Hùng ở Phú-thọ dường như ðã hơn nghìn năm. Hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch là người người ðều tụ tập về ðây ðể tưởng nhớ công ơn các vua Hùng ðã dựng nước. Trong thời gian chiến tranh (1945-1975) vì tình hình an ninh di chuyển khó khăn, vì tình hình kinh tế không cho phép, số người hành hương có giảm thiểu. Nhưng từ sau 1987, số người hành hương tăng vọt. Ngay ở ngoại quốc, người Việt lưu lạc khắp nơi, nhưng hằng nãm ðến ngày 10 tháng 3, lịch Á-châu, nơi nào họ cũng tổ chức giỗ tổ rất thành kính. Các lãnh tụ của đảng Cộng-sản Việt-Nam như Chủ-tịch Hồ Chí Minh, Chủ-tịch Trường Chinh; Tổng bí thư Lê Duẩn, Đỗ Mười; Thủ-tướng Phạm Văn Đồng v.v. đều hành hương ðền thờ vua Hùng, và ðọc diễn vãn ca ngợi công ðức Quốc-tổ nhý một hành ðộng thu phục nhân tâm. Kết lại dù ở trong nước hay ngoại quốc, hiện người Việt vẫn cùng một niềm tin như nhau." Ghi của Tãng Hồng Minh dành cho người Việt. Theo sự tìm hiểu của Tăng Hồng Minh tôi, các lãnh tụ của đảng Cộng-sản Việt-Nam, đã viếng đền Hùng là : - Chủ-tịch Hồ Chí Minh, ngày 19-9-1954. 19-8-1962. - Tổng bí thư Lê Duẩn, 5-5-1977. - Chủ tịch nhà nước Trường Chinh 6-2-1959. 5-2-1978. - Thủ tướng Phạm Vãn Ðồng 6-2-1969. 27-8-1978. - Tổng bí thư Ðỗ Mười 27-4-1993. Tôi xin trở lại với ðầu ðề, 3. Triều ðình, dân tộc. Tôi đã trình bầy với Quý-vị về hai triều đại đầu tiên cai trị vùng Á-châu Thái-bình dương : Phía Bắc sông Trường-giang sau thành Trung-quốc. Phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan, sau thành Ðại-Việt. Hai triều ðại Thần-Nông Nam-Bắc cai trị dân chúng : - Không có nghĩa là dân chúng cùng một chủng tộc ; - Không có nghĩa là tộc Hoa, tộc Việt là một; - Cũng không có nghĩa tất cả dân chúng tộc Hoa, tộc Việt ðều là huyết tộc của vua Thần-Nông. - Trung-quốc, Ðại-Việt là anh em về phương diện chính trị. Giòng Thần-Nông cai trị vùng đất Trung-quốc, Đại-Việt là anh em, nhưng dân chúng không hoàn toàn là anh em. Dân chúng hai nước bao gồm nhiều tộc khác nhau như Mongoloid, Malanésien, Indonésien, Australoid, và cả Négro-Australoid...v.v. - Người Hoa, người Việt nhân triều ðại Nam-Bắc Thần-Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm tổ mà thôi. Chứ hai vùng hồi ðó hàng nghìn, hàng vạn bộ tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhau. Sau này các vãn nhân người Hoa ở vùng lưu vực Hoàng-hà, lưu vực sông Hán, nhân có chữ viết, lại không ði ra ngoài, rồi tưởng tượng mà viết thành sách, tự cho mình là con trời, tự trời mà xuống; sau đó đem văn minh, truyền bá ra khắp thế giới (Thiên-hạ), người sau lấy làm chủ ðạo của họ. Tôi sẽ bàn ðến ở dưới. Tôi xin cử một tỷ dụ, ðể Quý-vị nhìn rõ hơn. Ông Washington là vị Tổng-thống ðầu tiên lập ra nýớc Hoa-kỳ, chứ ông không phải là tổ của các sắc dân ðến từ châu Phi, châu Âu, cũng như dân bản xứ. Hai vị vua Nghi, vua Kinh Dương không phải là tổ huyết tộc của người Hoa, người Việt. Hai ngài chỉ là tổ về chính trị mà thôi. II. CHỦ ÐẠO TRUNG QUỐC, VIỆT-NAM. Như Quý-vị đã thấy, mỗi dân tộc đều có một chủ đạo, cùng một biểu hiệu. Người Pháp cho rằng tổ tiên là người Gaulois, con vật týợng trýng là con gà trống. Ngýời Anh lấy biểu hiệu là con sư-tử. Ngýời Hoa-kỳ lấy biểu hiệu là con chim ưng. Người Trung-hoa lấy biểu hiệu là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con chim Âu. Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử vua Lạc-Long là loài rồng, công-chúa Âu-Cơ là loài chim. Người Do-thái họ tự tin rằng họ là giống dân linh, ðược Chúa chọn. Vì vậy, sau hai nghìn năm mất nước, họ vẫn không bị đồng hóa. Khi tái lập quốc, với dân số bằng một phần trăm khối Ả-rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng chống với bao cuộc tấn công để tồn tại. Đó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chúa chọn. Tôi xin nói rõ về chủ đạo của Trung-quốc và Việt-Nam. Như Quý-vị đều biết, hiện Trung-quốc, Việt-Nam đều là những nước theo chủ nghĩa Cộng-sản, ðặt cãn bản trên thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels. Chủ thuyết này ðến Trung-quốc, Chủ-tịch Mao Trạch Ðông biến thể ði thành Maoisme. Tại Việt-Nam, người mang chủ thuyết Marx, Engels vào là Chủ-tịch Hồ Chí Minh ; ông ðược ðào tạo tại Liên-sô, vì vậy chủ thuyết của ông phảng phất Léninisme, pha thêm Việt-tính do ông tạo ra. Dường như hiện nay trên khắp thế giới, kể cả Liên-bang Sô-viết chỉ Việt-Nam là quốc gia duy nhất còn duy trì tượng Lénine tại một công viên lớn của Thủ-ðô (Hà-nội). Theo như dự ðoán của chúng tôi thì Trung-quốc, cũng như Việt-Nam cùng nhận thấy thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels không còn hợp thời, không còn ích lợi nữa. Cả hai đang từng bước, từng bước trở lại với chủ đạo của mình. Xin các vị cứ chờ, không lâu đâu cả hai sẽ hoàn toàn trở về với kho tàng quý báu của nước mình! Tôi thấy Trung-quốc trở lại quá mau, quá mạnh. Con rồng Trung-quốc mà Hoàng-đế Napoléon bảo rằng hãy để nguyên cho nó ngủ. Bằng như nó thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển thế giới. Thưa Quý-vị, con rồng Trung-quốc đã thức dậy rồi, nhưng nó chưa làm rung ðộng thế giới! Ghi chú của Tãng Hồng Minh (ngày 19-8-2000, nhân ðọc lại bài này). IFA trao cho tôi dịch hầu hết những bài diễn vãn của các nhà lãnh đạo Việt-Nam từ 1992 đến nay. Tôi thấy ông Tổng-bí-thư Đỗ Mười trong các diễn văn kỷ niệm 19-8 cũng như ngày Quốc-khánh, những từ ngữ ông dùng cũng như nội dung, ngày một xa Marx, Engels, Lénine. Nếu thời kỳ ông Lê Duẩn cầm quyền, khắp Việt-Nam ðều thi nhau phá bỏ hết phong tục, truyền thống, nhất là phá các di tích tôn giáo bao nhiêu; thì bây giờ hầu hết các truyền thống dân tộc đều được phục hồi ở cấp xã. Niềm tin (chủ đạo) của hạ tầng hầu như trở lại thời kỳ trước 1945. 1.- Chủ đạo của Trung-quốc. Người Hoa thì tin rằng mình là con trời. Cho nên trong các sách cổ của họ, vua được gọi là Thiên-tử, còn các quan thì luôn là người nhà trời xuống thế phò tá cho vua. Chính niềm tin đó cùng với văn minh Hoa-hạ, văn minh Nho-giáo đã kết thành chủ-đạo của họ. Cho nên người Hoa dù ở ðâu, họ cũng có một tổ chức xã hội riêng, sống với nhau trong niềm kiêu hãnh con trời. Cho dù họ lưu vong ðến nghìn năm họ cũng không bị đồng hóa, không quên nguồn gốc. Cũng chính vì vậy, mà từ một tộc Hoa nhỏ bé ở lưu vực sông Hoàng-hà, họ ðánh chiếm, ðồng hóa hàng nghìn nước xung quanh, và nước của họ rộng lớn như ngày nay. Hầu hết những nước khác ðến cai trị họ, ðều bị họ ðồng hóa. Mông-cổ, Mãn-thanh bị đồng hóa, bị mất hầu hết lãnh thổ. Nhưng chủ-ðạo và sức mạnh của ngýời Trung-quốc phải ngừng lại ở biên giới Hoa-Việt. Ghi chú của Tăng Hồng Minh Giáo sư Nhân chủng học Van Gotensbert (Hòa-lan) hỏi : « Tôi thấy người Hoa, kiều ngụ ở các nước Á-châu, châu Phi cũng nhý tại Hoa-kỳ, Canada, Úc cùng một số các nước Âu-châu, dù trải qua mấy trãm nãm, họ vẫn duy trì được dòng giống và không bị đồng hóa, đó là nhờ chủ đạo tự tin là con trời của họ. Thế nhưng tại sao, họ mới tới Pháp từ sau 1975, dưới danh nghĩa tỵ nạn Việt, họ bị ðồng hóa rất mau. Không lẽ chủ ðạo của Trung-quốc lại bị chủ ðạo của Gaulois xóa bỏ mau chóng như vậy sao ? ». Ðáp : « Thưa Giáo-sư, ðiều Giáo-sư hỏi, cũng là ðiều tôi chú tâm nghiên cứu từ 1975 ðến giờ. Khi ngýời Hoa tới bất cứ nước nào, họ cũng bị kỳ thị không ít thì nhiều, họ phải sống quần tụ với nhau, giúp đỡ nhau, bảo vệ nhau. Bên cạnh đó họ có niềm tin là con trời, tự hào về nền văn minh cổ của họ. Do đó họ tổ chức thành xã hội riêng : Giáo dục con em, thương mại, sinh hoạt vãn hóa, tương trợ. Vì vậy họ giữ được bản sắc Trung-quốc của họ. Còn khi người Hoa tới Pháp, thì người Pháp với tinh thần cởi mở, với tính hiếu hòa, không kỳ thị, lại tận tình giúp đỡ kẻ tha hương hơn chính người Hoa giúp nhau, thành ra người Hoa không cần sống quần tụ. Họ sống lẫn với người Pháp. Con em người Hoa ngày ngày tới trường ðược bạn học, ðược thầy yêu thương, chúng thu nhập vãn hóa Pháp rất mau. Trong khi cha mẹ chúng phải làm việc không có thời giờ dạy con cái về vãn hóa Trung-quốc. Do vậy chỉ trong vòng mấy năm là trẻ Hoa thành trẻ Pháp: Tiếng nói, cách suy tư, nếp sống, trừ...ẩm thực. Tôi xin nói một câu thẳng thắn, mong các vị ðừng buồn: trên khắp thế giới, khi người Việt tỵ nạn ðến ðịnh cư bất cứ nơi nào, ðều gặp nạn kỳ thị. Nước Pháp là nước duy nhất dân chúng không kỳ thị mà lại còn tận tình giúp đỡ. Do vậy nhiều người tỵ nạn đến các nước khác của châu Âu, rồi cũng tìm định cư ở Pháp, dù ở Pháp khó kiếm việc làm.Chính phủ và nhân dân Pháp biết thế, nên cánh cửa tự do không hề đóng lại. Tôi xin trở lại với đầu đề. Chủ đạo của Trung-quốc bắt nguồn từ thời nào ? Từ sách nào ? Do ai khởi xướng ? Ðầu tiên là Kinh-thư, không rõ tác giả là ai, xuất hiện trước Khổng-tử, thiên Vũ-cống gọi thế giới chúng ta ở là Thiên-hạ (Dưới trời). Thời cổ, các vãn nhân Trung-quốc không ði xa hơn vùng sông Hán, sông Hoàng-hà, họ tưởng ðâu thế giới chỉ có Trung-quốc, nên gọi Trung-quốc là Thiên-hạ. Thiên-hạ là Trung-quốc, tức là nước ở giữa. Bốn phía Trung-quốc là biển, nên gọi Trung-quốc là hải-nội, các nước khác là hải-ngoại. Kinh-thư thiên Vũ-cống chia Thiên-hạ thành 9 châu : Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương, Ung. Lại dùng khoảng cách, chia làm nãm cõi, gọi là Ngũ-phục, mỗi cõi cách nhau năm trăm dặm (250 km). Ngũ-phục là Điện-phục, Hầu-phục, Tuy-phục, Yêu-phục, Hoang-phục. Trung-ương là kinh ðô của nhà vua. - Ðiện-phục ở ngoài kinh ðô nãm trãm dặm. - Hầu-phục ở ngoài cõi Điện-phục năm trăm dăm : trong năm trăm dặm cõi Hầu thì khoảng cách một trăm dặm để phong thái ấp cho các quan khanh, đại phu. Hai trăm dặm nữa phong cho các tước Nam. Hai trăm dặm nữa phong cho các chư Hầu. - Kế tiếp Hầu-phục là Tuy-phục. Trong năm trăm dặm cõi Tuy thì ba trăm dặm là nơi truyền bá vãn chương, giáo hóa quần chúng ; còn hai trăm dặm để hưng thịnh võ bị, bảo vệ quốc gia. - Sau cõi Tuy là cõi Yêu. Trong ba trăm dặm cõi Yêu là nơi cho rợ phương Ðông ở. Hai trãm dặm còn lại là nơi ðể ðầy tội nhân. - Cõi cuối cùng là cõi Hoang, năm trăm dặm. trong ba trăm dặm gần dành cho mọi phương Nam ở, hai trãm dặm cuối cùng ðể ðầy người có tội nặng. - Ra khỏi cõi Hoang là... biển. Với lối phân chia lẫm cẩm, hài hước ấy, nãm nghìn năm qua, dân Trung-quốc coi là Kinh, tức những gì không thể thay đổi, rồi trở thành chủ đạo của tộc Hoa. Ghi chú của Tăng Hồng Minh: Giáo-sư khoa Chính-trị học J.Fr Longanacre (USA) hỏi : - Thế cái chủ đạo mà người Trung-quốc tự thị là con trời phát xuất từ ðâu ? Vào thời nào ? Ðáp : - Thưa Giáo-sư, cũng phát xuất từ Kinh-thư, thiên Thái-thệ : Trời sinh ra dân, Ðặt ra vua, ra thầy, Ðều ðể giúp Thượng-ðế, Vỗ về dân bốn phương. Giáo-sư Mohamed Khalid (Nhân chủng học Iran) hỏi: - Tôi nghiên cứu hầu hết các thuyết nói về nguồn gốc tộc Hoa. Tôi thấy dường như người ta ðều cho rằng tộc Hoa tự sinh ra, rồi di chuyển ði các nõi: Ra biển thành người Nhật, Nam-dương, Phi-luật-tân. Xuống Nam thành người Việt, Miên, Lào, Thái, Miến. Lên Bắc thành Ðại-hàn, Mông-cổ, sang phía Ðông-Bắc thành người Trung Ðông. Có ðúng thế không? Ðáp: - Thưa Giáo-sư họ suy nghĩ như vậy là sai hoàn toàn. Họ cãn cứ vào truyền thuyết mà nói như vậy. Truyền thuyết cãn cứ vào thư tịch cổ, nên sai, hoàn toàn sai. Vì thư tịch cổ do những vãn nhân không ði ra ngoài, ngồi ở vùng lưu vực Hoàng-hà, tưởng tượng mà viết ra. Cả hội trường cùng im lặng. - Nếu nói rằng người Trung-hoa nhờ có tinh thần thực dụng, nhờ có chữ viết, nhờ vãn hóa Nho-giáo, rồi trở thành hùng mạnh, rồi ðem quân ðánh chiếm các nước nhỏ xung quanh, tạo thành một nước vĩ ðại như ngày nay là ðúng. Còn như bảo rằng họ là con trời hoặc họ tự sinh ra, rồi di chuyển ðinh sinh sống các nơi... thì sai. Tôi sẽ dẫn chứng ở dưới bằng ADN: tộc Hoa, do giống người từ Ðông Nam-á ði lên. Mà những người Ðông Nam-á có gốc từ Phi-châu. Họ ðến Nam-á từ lâu. Rồi tộc ðó lại kết hợp với những người cũng từ châu Phi ði lên châu Âu, vào Bắc Trung-quốc khoảng 15.000 nãm trước. Chúng ta trở lại với ðầu ðề. Tiếp theo Kinh Thư, sách Tả-truyện, Tả Khâu Minh cũng viết : Trời làm chủ Thiên-hạ, Vua nối trời mà cai trị. Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên-tử. Ðến Mạnh-tử, thiên Ly-lâu viết: Thiên hạ là quốc gia, Gốc của thiên hạ là quốc, Gốc ở quốc là gia. Vì ảnh hưởng của sách cổ nên người Hoa mới nảy sinh ra tư tưởng « Nội Hoa hạ, ngoại Di, Ðịch ». Nghĩa là trong Ngũ-phục thì là chốn văn minh, còn ngoài ra thì là mọi rợ. Kinh-lễ, thiên Vương-chế nói : Ðông phương viết Di, Tây phương viết Nhung, Nam phương viết Man, Bắc phương viết Ðịch. Nghĩa là : Người ở Ðông phương gọi là Di, Tây-phương là Nhung, Nam phương là Man, Bắc phương là Ðịch. Di, Nhung, Man, Ðịch là những từ ðể chỉ mọi rợ. Bốn chữ ðó khi viết thì có bộ trùng, bộ thú, bộ khuyển ở cạnh. Có nghĩa các sắc dân đó là cầm thú, côn trùng, chó mèo ! Ngay đối với người Âu, Mỹ hồi thế kỷ thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bạch-quỷ ! (Thính giả cười ồ lên !) . Họ còn phân ra người Âu là Tây-dương Quỷ. Người Mỹ là Mỹ-lan-tây Quỷ. Người Anh là Hồng-mao Quỷ . Nguời Nga là La-sát Quỷ. Ghi chú của Tãng Hồng Minh Sinh viên Marta Maria Fernandes hỏi : « Thưa Giáo-sư, về Trung-quốc, tiếng Pháp gọi là La Chine, người Trung-quốc là Chinois. Còn sách của Chinois ở lục địa thì họ xưng là Trung-quốc ; của người ở Hương-cảng, Ðài-loan thì họ xưng là Trung-hoa. Ðôi khi họ xưng là Trung-nguyên, rồi Hoa-hạ. Tôi ðọc một số sách bằng Việt ngữ thì người Việt gọi là chữ Hán chứ không gọi là chữ Hoa, hay chữ Trung-quốc; và người Việt khi thì gọi Chinois là người Hoa, khi thì gọi là người Tầu. Như trên Giáo-sư ðã giải thích từ Trung-quốc. Còn từ Hoa ở đâu mà có ? Tại sao lại có những từ phức tạp như vậy ? » Ðáp : « Như tôi ðã trình bầy : Với lối phân chia Cửu-châu, Ngũ-phục ; trong năm cõi trên thì cõi Điện là vùng bao quanh Thiên-hạ. Phía trong cõi Điện là Giao. Trong Giao một trăm dặm là Quốc. Trong Quốc có thành gọi là Đô. Đô là nõi vua ở. Vì vậy họ mới xưng là Trung-quốc, tức nước ở giữa Thiên-hạ. Chữ Trung-quốc ở ðây có tính chất chính trị, và ðịa lý. Còn từ Trung-nguyên có nghĩa là vùng đất ở giữa. Trung-nguyên chỉ có nghĩa địa lý mà thôi. Sau cuộc cách mạng Tân-Hợi (1911), Bác-sĩ Tôn Văn và Quốc-dân đảng lên nắm quyền, lấy quốc danh là Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc, gọi tắt là Trung-Hoa Dân-quốc từ ngày 1-1-1912. Hiện chính phủ Đài-loan vẫn duy trì quốc danh này. Hồng-quân tiến chiếm được Bắc-kinh, lập nền cai trị Trung-nguyên, họ xưng là Cộng-hòa nhân dân Trung-quốc gọi tắt là Trung-quốc kể từ ngày 1-10-1949. 12 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Còn nguồn gốc từ Hoa thì lúc đầu Trung-quốc chỉ là mấy bộ tộc ở vùng Ung-châu, Lương-châu (Ghi chú xin ðừng lầm Ung này với Ung-châu thời Tống, nay là Nam-ninh thuộc Quảng Tây). Phía Ðông Nam là Hoa-âm, Ðông Bắc là Hoa-dương, giới hạn bởi Hoa-sơn. Vì vậy họ mới xưng nước là Hoa. Sau vì có văn minh, họ chiếm, đồng hóa các vùng xung quanh, mà có 9 châu như trong Kinh-thư. Hoa là tên nước chứ không phải là tên chủng tộc. Còn từ Hoa Hạ thì do con sông Hạ-thủy khởi nguồn từ Ung-Lương, nên lấy từ Hạ-thủy làm tên tộc. Hạ là tên tộc, không phải là tên nước. Sau này người ta ghép chữ Hoa là nước với chữ Hạ là tộc thành từ Hoa-Hạ vừa ðể biểu tượng cho nước, vừa biểu tượng cho tộc. Cao-tổ nhà Hán là Lưu Bang, khởi nghiệp từ sông Hán-thủy, nên xưng là triều Hán (207 trước Tây-lịch). Nãm 179 trước Tây-lịch, Triệu Ðà chiếm Âu-lạc (tên cũ của Việt-Nam). Y là thần tử triều Hán, cấm dân Việt học chữ Khoa-ðẩu của tộc Việt, bắt học chữ Hoa. Do vậy người Việt gọi chữ Hoa là chữ Hán. Người Việt gọi người Chinois là người Hoa, người Trung-quốc là lẽ thường. Còn danh tự người Tầu thì bắt nguồn từ những triều đại Trung-quốc bị sụp đổ, các di thần dùng tầu vượt biển sang Việt Nam xin kiều ngụ, nên người Việt gọi họ là người Tầu ». Chúng ta trở lại với ðầu ðề. Từ nguồn gốc kinh ðiển cổ, người Hoa tự cho mình là con trời (Thiên-tử), cho nên hầu hết các tiểu thuyết của họ thì vua luôn có tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh-y ðồng tử trên thượng giớí giáng sinh. Các quan võ thì luôn là Vũ-khúc tinh quân, các quan văn là Văn-khúc tinh quân. Quần thần thì là Nhị-thập bát tú giáng hạ. Với chủ đạo này, họ đã đánh chiếm mấy trăm nước tạo thành một Trung-quốc vĩ đại. 2.- Chủ đạo của Việt-Nam. Như trên đã trình bầy, với nguồn gốc lập quốc, ngýời Việt có niềm tin mình là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một sức bảo vệ quốc gia cực mạnh. Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước Tây-lịch lại thêm vào tinh thần của vua An-Dương. Sang ðầu thế kỷ thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một phụ nữ, và 162 anh hùng, trong ðó có hơn trãm là nữ. Cuộc khởi nghĩa ðuổi ngoại xâm Trung-hoa, lập lên triều ðại Lĩnh-Nam. Phụ nữ ðó là vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời ðại ðều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc. Tộc Việt ðã chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai nghìn năm của người Hoa. Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa ðến ðâu, nhưng khi bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau ðể bảo vệ quốc gia. Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ ðạo tộc Việt, ðều thành công trong việc giữ ðược quyền cai trị dân. Gần ðây nhất, người Việt bị các thế lực Quốc-tế, gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp (1945-1975). Nhưng nay, Việt-Nam ðang trên ðà phục hưng chủ ðạo. Ý tôi muốn nói sự cố gắng phi thường 13 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ của hơn hai triệu ngýời Việt ở ngoài lãnh thổ Việt-Nam, đã là bó đước sáng chuyển chủ đạo trở về nước mình. Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc theo chế độ Cộng-sản, theo chủ thuyết Quốc-tế. Nhưng họ biết khai thác cái chủ đạo của Việt-Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước của dân tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng. Cũng tiếc thay, những người cầm quyền miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thác lòng yêu nước của dân tộc, lại chấp nhận cho quân ðội Hoa-kỳ và ðồng minh nhảy vào vòng chiến, việc này có khác gì quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho miền Bắc! Tôi nghĩ những người lãnh đạo miền Nam như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết gì về kho tàng lòng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói ðến chữ chủ ðạo tộc Việt bao giờ. Trước họ, cố Tổng-thống Ngô Ðình Diệm (1954-1963), vì biết rõ chủ đạo tộc Việt. Ngài từ chối không cho Hoa-kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh của Hoa-kỳ, Ngài đã trở thành kẻ thù của Hoa-kỳ, bị Hoa-kỳ giết hết sức thảm khốc. III. ĐI TÌM LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT. Năm trước đồng nghiệp của tôi đã giảng cho các bạn sinh viên hiện diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm : 1.- Thuyết của giáo sư Léonard Aurousseau về cuộc di cư của người Ý-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-Lạc. 2.- Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang Âu-Lạc. 3.- Thuyết của học giả Ðào Duy-Anh, Hồ Hữu-Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống Nam. Tất cả các thuyết này ðều cãn cứ vào những thư tịch cổ Trung-quốc, Việt-Nam. Mà những thư tịch này không có một biện chứng khoa học nào cả. Cuối cùng các giáo sư ðồng nghiệp ðã nhận định rằng : Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ¨¨ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không còn những giả thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận : « Thoạt kỳ thủy, trên vùng ðất thuộc lãnh thổ Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại: Giống người ðã từ châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam-á, đến Đông Nam-á, ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang Bắc Trung-quốc. Cuối cùng cả hai giống người hòa lẫn với nhau trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn trong vòng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường-giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thái-lan. Ngýời Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Ngýời Mân-Việt ði xuống Giao-chỉ. Ngýời Việt di cư từ nam sông Trường-giang tránh lạnh xuống Bắc-Việt ðều ðúng. Ðó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam nãm 1954 ; chứ không phải họ là người Trung-quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt. » Chính vì lý do dùng hệ thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa này. Sau đây tôi trình bầy sơ lược về công trình nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một bác sĩ y-khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lý luận thực nghiệm, cùng lý luận y-khoa, nó hơi khác với những gì mà các bạn đã học. Ghi chú của Tăng Hồng Minh: Sinh viên Vũ-thị Thu-Dung hỏi: - Thưa Thầy, con có ðọc một bộ sách của nhà vãn Bình Nguyên Lộc nói về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Trong bộ sách đó, ông khẳng định rằng người Việt gốc từ Mã-lai. Xin Thầy cho biết ý kiến? - Tôi chưa ðọc bộ sách ðó, vả có ðọc tôi cũng không thể ðem ra bàn luận ở ðây. Giáo-sư Viện-trưởng: - Tôi xin bổ túc lời diễn giả. Ban tu thư của IFA sưu tầm tất cả những thư tịch nói về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Trước sau có 34 nguười ðã trình bầy. Nhưng chỉ những tác giả sau ðây ðược ghi vào album nghiên cứu: - Edouard Chavannes trong bản dịch bộ Sử-ký của Tý Mã Thiên. - Leonard Aurousseau trong bài nghiên cứu "La première conquête chinoise des pays anamites" đăng trong tạp chí của trường Viễn-đông bác cổ của chúng tôi tại Hà-nội (ý chỉ nước Pháp), ký hiệu BEFEO XXIII. 138-244. - Claude Madrolle, trong bài Le Tonkin Ancien đăng trong BEFEO XXXVII 264-332. - Lê Chí Thiệp, trong Văn-hóa nguyệt san (VNCH) số tháng 3-4 năm 1959. - Đào Duy Anh, trong Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, được ông Hồ Hữu Tường cổ võ trong bộ Tương lai vãn hóa Việt-Nam. - Gần ðây, giáo sý Nguyễn Khắc Ngữ trong bộ Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, xb nãm 1985 ở Canada. - Một số các bài của giáo sý Lương Kim Ðịnh, Nguyễn Ðãng-Thục và Tiến-sĩ Thái Vãn Kiểm, hội viên Hàn-lâm-viện Hải-ngoại của Pháp-quốc.. Một số tác giả viết chỉ với mục ðích khoa trương, lập dị, hoặc không có cãn cứ, hoặc thiếu kiến thức, chúng tôi không ghi vào thư mục nghiên cứu, nên Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ không tham khảo, và dĩ nhiên không ðem ra bàn ở ðây: - Paul Francastel trong Origine du Việt-Nam, France Asie xb. - Nguyễn Phương trong Tiến trình hình thành dân tộc Việt-Nam, tạp chí Đại-học Huế tháng 4 năm 1963. - Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm mà em đã đọc. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phýõng pháp y-khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới ðây. Tôi ðã được giáo sư Tarentino về khoa Anatomie của Ý và giáo sư sinh vật Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp ðỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng 5000 trước Tây-lịch, lãnh thổ tộc Việt nằm từ phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan. Phía Tây tới tỉnh Tứ-xuyên Trung-quốc , phía Ðông tới biển Nam-hải. Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa-Nam, và Ðông-dương. 1. Dùng biện chứng y-khoa vào khảo cổ. Biện chứng cãn bản của người nghiên cứu y-khoa là : « Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do » Biện chứng này ðã giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là huyền sử, dù là triết học, tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi ðã trình bày, nước tôi có một tôn giáo, mà toàn dân ðều theo ðó là thờ các anh hùng dân tộc. Tại những ðền thờ chư vị anh hùng, thường có một cuốn phổ kể sự tích các ngài. Vì theo thời gian, tiểu sử các ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những học giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ qua. Tôi lại suy nghĩ khác : « Không có nguyên do , sao có chứng trạng ? ». Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều lý thú. Tỷ dụ : Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua An-Dương cũng cho rằng chuyện thần Kim-quy do vua móng làm nỏ bắn một lúc hàng nghìn mũi tên khiến Triệu-Đà bị bại là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi tìm ra sự thật. Hồi ấy Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày nay. Tôi cũng tìm ra kích thước của ba mũi tên ðồng của nỏ này.(4) Trước tôi ðã có các nhà khảo cổ căn cứ vào xương sọ tìm được tại Trung và Bắc-phần (70 cái). Trong đó có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc thời đại Đồ-đá, thì 29/38 cái được kết luận là thuộc chủng loại Malanésien, Indonésien, Australoide hay Nam-á. Với 29 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể. Gần đây các học giả Việt-Nam lại tìm ra 32 xương sọ, thuộc thời ðại Ðồ-sắt (1000 nãm trýớc Tây-lịch ðến 300 sau Tây-lịch), thì 22/27 thuộc chủng loại Mongoide. Với 32 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể tộc Việt thuộc chủng loại Mongoide. Những tác giả trên đã căn cứ vào chỉ số xương sọ mà kết luận. Nhưng y học ðã tiến bộ, căn cứ vào chỉ số xương sọ ðể ðịnh nguồn gốc ðã bị đánh đổ. Nguyên do : Khi con ngýời di cư ðến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay ðổi xương sọ. Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những ngýời ðang sống của 35 dòng họ tại Hoa Nam với Việt-Nam, rồi với những dòng họ khác tại Hoa Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi tìm ra sự khác biệt của những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết luận : lãnh thổ Văn-lang, tới hồ Động-đình. (5) Ghi chú của Tăng Hồng Minh Một quan khách, nữ giáo sư khoa Thiên-văn học tên Madeleine Chevalier hỏi: - ADN là gì? Tôi nghe nói, cũng như ðọc trên báo hoài, mà không biết rõ chi tiết cái hệ thống này? Trần Đại-Sỹ: - Tôi xin nhường lời cho Giáo-sư Vareilla Pascale chuyên khoa về vấn đề này trả lời. Vareilla Pascale: - Cảm ơn Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ ðã cho tôi danh dự trả lời Giáo-sư Chevalier. ADN viết tắt của từ Acide désoxyribonucléique, tiếng Anh là Deoxyribosenucleic acide, viết tắt là DNA. ( Phần này khá dài, khoảng 20 trang A4, chúng tôi không dịch hết, vì quá chuyên môn, chỉ dành cho sinh viên y khoa.) 2. Những vấn đề. Ranh giới phía Nam của nước Văn-lLng tới nước Hồ-tôn đã quá rõ ràng. Ranh giới phía Tây với Ba-thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc qủa tới hồ Ðộng-ðình, thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba-thục và phía Đông phải giáp Đông-hải. Có thực như thế không? Vì vậy tôi đi tìm ranh giới phía Bắc. Dưới ðây là huyền thọai, huyền sử mà tôi ðã bấu víu vào để đi nghiên cứu. Tôi cần tra cứu cho ra: Vấn ðề thứ nhất, Cổ sử Việt ðều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Ðộng-ðình. Có thực nhý vậy không? Truyền thuyết nói Ðế-Minh lập ðàn tế cáo trời ðất, rồi chia thiên hạ làm hai. Từ Ngũ-lĩnh về Bắc cho Ðế-Nghi, sau thành Trung-quốc. Từ Ngũ-lĩnh về Nam truyền cho vua Kinh-Dương sau thành Văn-lang. Núi Ngũ-lĩnh, hồ Ðộng-ðình nay vẫn còn. Nhýng liệu có di tích gì chứng minh chăng? Tôi phải đi tìm Ngũ-lĩnh, hồ Động-đình. Vấn đề thứ nhì, Truyền thuyết nói : Sau khi vua Kinh-Dương, vua Lạc-Long kết hôn, ðều lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-ðình hưởng thanh phúc ba nãm. Lúc ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải ði tìm núi Tam-sơn ở hồ Ðộng-ðình. Liệu trên núi này có di tích gì về cuộc tình năm nghìn năm trước chăng? Vấn đề thứ ba, Truyền sử nói : Sau khi Quốc-tổ Lạc-Long, Quốc-mẫu Âu-Cơ cho các hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng : Mỗi năm về Tương-đài chầu Quốc-tổ, Quốc-mẫu một lần. Cổ sử nói : Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương. Cánh đồng Tương ở đâu? Nếu có cánh đồng Tương thì cũng có thể kết luận rằng biên giới nước Vãn-lang tới hồ Ðộng-ðình. Tôi phải đi tìm. Vấn đề thứ tư, chứng tích thứ nhất xác định: Bộ Sử-ký của Tư-mã, Nam-Việt liệt truyện có thuật việc: vua nước Nam-Việt là Triệu-Ðà thường ðem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hán là Nam-quận, Trường-sa (Mậu-Ngọ 183 trước Tây-lịch). Như vậy biên giới Nam-Việt (Tức Việt-Nam) với Hán ( Tức Trung-quốc) ở vùng này. Ngày nay Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam, nằm ngay Nam ngạn sông Trường-giang. Vấn ðề thứ nãm, Huyền sử nói rằng : trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng: - Khi Trưng Nhị, Trần Nãng, Phật Nguyệt, Lại Thế-Cường, Trần Thiếu-Lan ðem quân ðánh Trường-sa (39 sau Tây-lịch), thì nữ týớng Trần Thiếu-Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-giang (sự thật ðó là Tương-giang thông với hồ Ðộng-ðình). - Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh-Nam và Hán (42 sau Tây-lịch). Tướng Lĩnh-Nam tổng trấn hồ Ðộng-ðình là Phật Nguyệt, tướng Hán là Mã Viện, Lýu Long (40 sau Tây-lịch). Có thực thế không? Có hai trận Trường-sa, hồ Ðộng-ðình không? Nếu có thì ranh giới thời Lĩnh-Nam (40-43 sau Tây-lịch) quả tới hồ Động-đình. Vấn đề thứ sáu, Năm 42, sau Tây-lịch, ba tướng thống lĩnh Kỵ-binh thời vua Trưng là Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đánh nhau với quân Hán tại Bồ-lăng thuộc Tượng-quận, vì quân ít, thế cô, ba ông tự tử. Vậy Bồ-lăng ở đâu? Có trận này không? Nếu có trận này thì ranh giới Lĩnh-Nam phía Tây quả tới Ba-thục (Tứ-xuyên.) Thưa Quý-vị, Nhưng các sử gia gần ðây (1900-1975) ðều ðặt nghi vấn rằng : Làm gì biên giới thời Văn-Lang rộng như vậy? Nếu có chỉ ở vào phía Bắc biên giới Hoa-Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Lại cũng có những người dốt nát (1975-1991), không ðủ sách ðọc, không theo kịp sự tiến triển của y học, họ chỉ ðọc những tài liệu sai lầm, rồi họ như con ngựa kéo xe, chỉ biết có vậy, chúng tôi thấy họ ngu dốt quá, nên không trả lời, cũng nhuư giải thích. Tôi cãn cứ vào những chứng trạng trên mà ði tìm nguồn gốc. V. ĐI TÌM BIÊN GIỚI NÝỚC VÃN-LANG 1. Núi Ngũ-lĩnh. Cuối nãm Canh-Thân (1980) tôi lấy máy bay ði Bắc-kinh, rồi ðổi máy bay ở Bắc-kinh ði Trường-sa. Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam. Tất cả di tích của tộc Việt như hồ Ðộng-ðình, núi Tam-sơn, núi Ngũ-lĩnh, sông Tương, Thiên-ðài, Tương-ðài, cánh ðồng Tương ðều nằm ở tỉnh này. Tôi ði nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp-Hoa (CMFC). Có một sự hiểu lầm lớn, vì trong thư giới thiệu các giới chức y-khoa chỉ xin ðược giúp ðỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du-lịch, ty vãn hóa ðịa phưõng, họ ðều tưởng tôi tới Trường-sa ðể nghiên cứu sự cấu tạo hình thể cùng bệnh tật dân chúng tại đây. Thành ra tôi bị mất khá nhiều thì giờ nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn đề này. Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường-sa tân ðiếm nằm trên ðại lộ Nhân-dân. Tôi mua cuốn ðịa phương chí mới nhất của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty vãn hóa, sở bảo vệ cổ-tích, ðại-học vãn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên vãn khoa cũng ít ai ghé mắt tới. Ðầu tiên tôi ði tìm núi Ngũ-lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay đó là năm dãy núi gần như ngãn ðôi Nam, Bắc Trung-quốc : - Một là Ðại-dữu lĩnh. - Hai là Quế-dương, Kỳ-ðiền lĩnh. - Ba là Cửu-chân, Ðô-lung lĩnh. - Bốn là Lâm gia, Minh-chữ lĩnh. - Nãm là Thủy-an, Việt-thành lĩnh. Về vị trí : - Ngọn Thủy-an, Việt-thành chạy từ tỉnh Phúc-kiến, ðến huyện Tuần-mai tỉnh Quảng-ðông. - Ngọn Ðại-dữu chạy từ huyện Ðại-dữu (Nam-an), tỉnh Giang-Tây ðến huyện Nam-hùng tỉnh Quảng-ðông. - Ngọn Cửu-chân, Ðô-lung chạy từ Ðạo-huyện tỉnh Hồ-nam tới Gia- huyện tỉnh Quảng-tây. - Ngọn Lâm-gia, Minh-chữ chạy từ Lâm-huyện tỉnh Hồ-Nam ðến Liên-huyện tỉnh Quảng-Ðông. - Ngọn Quế-dương từ Toàn-huyện tỉnh Hồ-nam tới huyện Quế-lâm tỉnh Quảng-tây . Lập tức tôi thuê xe ði một vòng thăm các núi này. Tôi đi mất mười ngày, trải gần 15.000 cây số. Như vậy là Ngũ-lĩnh có thật, nay có núi ðã đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra : Tại sao khi vua Minh phân chia từ Ngũ-lĩnh về Nam thuộc Lộc-Tục mà lĩnh địa Việt tới hồ Động-đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây số. Tôi giải đoán như thế này : - Một là vua Minh tế trời ở trên núi Ngũ-lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia ðịa giới. Nhưng bấy giờ dân chưa ðông, mà sông Trường-giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh nãm nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngạn mà thôi. Còn vua Kinh-Dương thì sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con vua Ðộng-ðình (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia. - Hai là dân chúng Nam-ngạn Trýờng-giang với vùng Nam Ngũ-lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng-ðình mới thuộc lãnh địa Việt. Kết luận : « Quả có núi Ngũ-lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung-quốc hiện thời, vậy có thể núi này đúng là nõi phân chia lãnh thổ Văn-Lang và Trung-Quốc khi xưa ». Ánh sáng ðã soi vào nghi vấn huyền thọai. Còn tiếp ================== Xin quý vị và anh chị em xem toàn bộ bài viết của giáo sư Trần Đại Sĩ do Thanhdc đưa lên ở bài dưới.
-
Xin cảm ơn anh chị em đã dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi. Chân thành chúc anh chị em một cuộc sống yên bình và vạn sự như ý.
-
Chiến lược nguy hiểm của TQ ngăn Mỹ dùng "dao mổ trâu" Thứ Sáu, 03/10/2014 - 17:17 Chiến lược gặm nhấm trên biển của Bắc Kinh rõ ràng được tính toán kỹ. Điều này thực sự sẽ là một thử thách rất lớn cho Mỹ. Thử lửa bằng cách nào để cái giá phải trả - nếu có vẫn có thể chấp nhận được. Câu trả lời là "cắt lát xúc xích" - "salami slicing" - một chiến lược chậm rãi, nhưng chắc chắn và bao trùm. Quan trọng hơn nó như mây giông một lần nữa đang tích tụ trên bầu trời Đông Á, khi biết sắp mưa bão, nhưng một bên chưa biết cách đối phó, một bên còn chưa biết mưa bão sẽ đổ chỗ nào. Đó là hình dung về các nước ASEAN và Mỹ. "Cắt lát xúc xích" - mới mà không mới Thuật ngữ "cắt lát xúc xích" được sử dụng đầu tiên bởi Robert Haddick, với nội hàm "tích lũy dần dần các hành động nhỏ để tạo nên những thay đổi lớn. Quan trọng hơn, hành động này đủ nhỏ để không khơi mào chiến tranh. Về phía Trung Quốc, chiến lược này còn gọi là "cái chết sau ngàn vết cắt", được xem như phương pháp tiếp cận chậm rãi, kiên nhẫn. Ở biển Đông, mục tiêu của việc "cắt lát xúc xích" của Bắc Kinh là sẽ tích lũy dần dần thông qua các hành vi nhỏ nhưng liên tục, tạo bằng chứng về sự hiện diện liên tục của Trung Quốc trong các vùng biển họ tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc hy vọng có thể thiết lập chủ quyền dựa trên chiếm hữu thực địa và tạo tiền đề về pháp lý (de facto and de jure). Theo Vương Nghĩa Ngôi, quyền Giám đốc Học viện Quan hệ Quốc tế Đại học Đồng Tế, vấn đề Biển Đông là một trải nghiệm của Trung Quốc trong quá trình chuyển đổi từ một nước lớn truyền thống sang nước lớn hiện đại, ví như một "hòn đá thử vàng". Mục đích, theo một số chuyên gia phân tích, là: (1) Trung Quốc muốn kiểm soát các lợi ích kinh tế, mà theo đó Hoa Kì sẽ bị ảnh hưởng; (2) tìm cách thiết lập trật tự khu vực theo mong muốn đơn phương để theo đuổi tham vọng bá quyền; (3) giảm sự tín nhiệm và dần phá vỡ niềm tin trong hệ thống liên minh của Mỹ, từ đó nới lỏng vành đai Đông Á của Mỹ; (4) Nhưng nguy hiểm nhất là Trung Quốc muốn kiểm soát các quyền được công nhận bởi UNCLOS, thậm chí là quyền tự do hàng hải và hàng không của tàu và máy bay giao thông trên những gì được coi là tài sản chung của nhân loại. Bản chất của chiến lược này thực chất là không mới. Tuy vậy, sự nguy hiểm của nó nằm ở việc vận dụng chiến lược tương tự trong quá khứ. Lịch sử đã có bài học trước chiến tranh thế giới thứ 2. Lúc đó, phát xít Đức và Nhật đã từng thực hiện các bước đi xâm lấn dần dần trước khi bắt đầu một cuộc chiến tranh tổng lực. Đối chiếu theo đó, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược này trong một thời gian rất dài. Năm 1974, nhân cơ hội Mỹ rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã chiếm nửa Tây Hoàng Sa. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục tấn công phía Bắc Việt Nam. Từ 1988 đến 1995, Trung Quốc tiếp tục thực hiện hàng loạt cuộc xâm lược trên biển để chiếm lấy nửa Đông Hoàng Sa và một số đảo, đá tại Trường Sa của Việt Nam. Từ 2009 đến nay, với năng lực kinh tế và quân sự gia tăng nhanh chóng, Trung Quốc lại tiếp tục tham vọng bành trướng của mình với các hành động gây hấn liên tục trên biển Đông. Tận dụng sự yếu thế của các nước láng giềng, về mặt thực địa, Trung Quốc đã thực hiện rất nhiều hành động quấy rối, xâm chiếm và gia tăng hiện diện kinh tế - quân sự trên biển Đông, ngăn cản và tấn công tàu thuyền của các nước trong khu vực. Điển hình là sự kiện Trung Quốc chiếm giữ Scarborough của Philippines suốt từ tháng 4/2012; cắt cáp các tàu thăm dò dầu khí và ngăn cản các dự án hợp tác của Việt Nam; đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên toàn biển Đông, tấn công và bắt bớ tàu cá của Việt Nam và các nước trong khu vực khi đang hoạt động trên ngư trường truyền thống,... Gần đây nhất là việc nước này triển khai các giàn khoan trên biển Đông. Về mặt hành chính, Trung Quốc đã đơn phương thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa, đưa ra các lệnh cấm đánh bắt cá, yêu cầu khám xét tàu thuyền lưu thông qua khu vực, công bố bản đồ đường 10 đoạn bao trùm biển Đông. TQ đã thành lập trái phép cái gọi là "thành phố Tam Sa" đặt trung tâm hành chính đảo Phú Lâm - thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh: Globalbalita. Toan tính chiến lược Chiến lược gặm nhấm trên biển của Bắc Kinh rõ ràng được tính toán kỹ. Thứ nhất, đối với những người láng giềng nhỏ yếu, sự thất bại của Philippines tại Scarborough đã là minh chứng quá rõ ràng cho sự hiệu quả của chiến thuật "cắt lát xúc xích". Với lực lượng quân sự vượt trội, ảnh hưởng kinh tế lớn và tư tưởng bất chấp luật pháp quốc tế, Trung Quốc đã có thể dễ dàng gây khó dễ với Philippines cũng như các quốc gia nhỏ yếu trong khu vực bằng các hành động gặm nhấm. Không một nước láng giềng nào của Trung Quốc có đủ nguồn lực để tham gia tất cả các xung đột thường xuyên. Đó là chưa kể là nếu chẳng may tai nạn "phát súng đầu tiên" rơi vào phe yếu thế thì hậu quả tất yếu sẽ là mất luôn chủ quyền. Bên cạnh đó, nỗ lực bất thành của ASEAN trong việc tập hợp lực lượng nhằm thiết lập một Bộ quy tắc ứng xử (COC) cũng đã mang lại ưu thế cho chiến lược "cắt lát xúc xích" của Trung Quốc. Còn về phía Mỹ, thành ngữ "dao mổ trâu không thể giết gà" là sự giải thích. Lầu Năm Góc đã lên kế hoạch gửi thêm quân đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Học thuyết Tác chiến không - biển ra đời chính thức năm 2010 nhằm kiềm chế sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách ở Washington dường như đang bế tắc trong nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự áp đảo để chống lại những "lát cắt xúc xích quá nhỏ để có thể trở thành cái cớ". Trong một phúc trình gửi cho Quốc Hội Mỹ vào giữa năm 2014, các nhà quan sát dẫn một ý kiến biện giải rằng "các tính toán chiến lược cho chiến tranh quy mô lớn với sức mạnh lớn" như Tác chiến không - biển được sử dụng vào các sự kiện nhỏ như vậy sẽ khiến mọi lý do trở nên buồn cười và tự đẩy Mỹ vào tư thế của kẻ khai mào chiến tranh. Trung Quốc hoàn toàn có thể kỳ vọng rằng với chiến lược "cắt lát xúc xích", những người láng giềng nhỏ yếu sẽ sớm mệt mỏi vì các hành động quấy rối liên tục và dần buông bỏ các nỗ lực chống lại các bước đi xác quyết chủ quyền thực địa từ chính quyền Bắc Kinh. Hơn nữa, trong khi Mỹ bế tắc thì các "lát cắt xúc xích" được tích lũy qua không - thời gian sẽ dần bổ sung vào sự thay đổi cơ bản và chiến lược trong toàn khu vực. Điều này thực sự sẽ là một thử thách rất lớn cho Mỹ và khu vực. Dù có thể gửi máy bay hay tàu chiến tới châu Á - Thái Bình Dương như một chỉ dấu của mong muốn can thiệp và biểu tượng của sức mạnh Mỹ, nhưng nếu không thể tìm ra cách kiềm chế nhau hoặc giải quyết các bước đi nhỏ đầy chiến lược của Trung Quốc, Mỹ sẽ sớm mất đi ảnh hưởng của mình. Theo Huỳnh Tâm Sáng - Vũ Thành Công Vietnamne ================= Híc! Cái thế giới này với cái nhìn của Lão Gàn từ trong lò gạch làng Vũ Đại thì nó cũng như cái làng Vũ Đại thôi. Gặm nhấm chỉ là hình tướng của vấn đề. Một con chuột gặm miếng xúc xích. Gặm miếng đầu, người ta không để ý. Miếng thứ hai, miếng thứ ba....cho đến miếng xúc xích có thể bị mất thì bụp, mà lý do đôi khi rất đơn giản.
-
Thứ trưởng Mỹ: Sẽ đánh nếu Senkaku bị Trung Quốc tấn công Bình Nguyên 03/10/14 13:42 Thảo luận (0) (GDVN) - Ông Robert O. Work cũng đã khẳng định lại rằng Mỹ từ chối đứng về bất cứ bên nào, bất chấp quần đảo Senkaku thuộc về Nhật Bản hay theo yêu sách của TQ. Báo Đa Chiều do người Trung Quốc ở hải ngoại vận hành đưa tin cho biết, Robert O. Work - Thứ trưởng quốc phòng Mỹ nói rằng chính quyền Mỹ sẽ trợ giúp Nhật Bản trong trường hợp quần đảo Senkaku của Nhật Bản bị Trung Quốc tấn công. Tuyên bố trên được ông Robert O. Work đưa ra tại một cuộc họp của Ủy ban đối ngoại Thượng Viện Mỹ. Thông tin này cũng đã được một hãng tin của Nga là Ria Novosti đăng tải. Ông Robert O. Work cũng đã khẳng định lại rằng Mỹ từ chối đứng về bất cứ bên nào, bất chấp quần đảo Senkaku thuộc về Nhật Bản hay theo yêu sách của TQ. Nhưng Robert O. Work đã tuyên bố rằng Mỹ phải trpwj giúp đồng minh Nhật Bản trong trường hợp Trung Quốc tấn công quần đảo Senkaku theo đúng tinh thần Điều thứ 5 trong Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật đã được ký kết. Khi được hỏi liệu Mỹ có sử dụng hành động quân sự không một khi tình hình căng thẳng leo thang, Thứ trưởng quốc phòng Robert O. Work nói: Điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào tình hình, có một điều chắc chắn rằng Washington sẽ hỗ trợ chính quyền Tokyo trong việc quản lý vùng đảo. Trong cuộc họp của Ủy ban đối ngoại Thượng Viện Mỹ, ông Robert O. Work nói rằng 60% sức mạnh quân sự của Mỹ sẽ được bố trí tại châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2020. Trong số này sẽ có 100.000 nhân viên quân sự. Trang Defense News có trụ sở tại Washington cho biết, ông Robert O. Work nói rằng việc thay thế trụ sở và nơi đồn trú cho lực lượng lính thủy đánh bộ ở Okinawa, Nhật Bản đang được xúc tiến rất nhanh. ====================== Phát biểu của chính phủ Hoa Kỳ với độ cứng rắn tăng dần từ đơn giản đến khuých tạp. B) Tình hình rất là tình hình và mọi chuyện sẽ không chờ đến 2020. Ngoại trừ bà Vanga sai.
-
Qua thí nghiệm này cho thấy, bằng những phương tiện khoa học, đã xác định được qua nhận thức trực quan (Vật lý thực nghiệm), rằng: tính hợp lý lý thuyết cho mọi hiện tượng tương quan trong vũ trụ là không hề thay đổi. Qua đó xác định luận điểm của tôi xác định rằng: Giữa một lý thuyết, một giả thuyết khoa học thì tính hợp lý thuyết là một yếu tố cần, khác hẳn nhận thức trực quan về tình bất định - khi chưa có thí nghiệm này. Hay nói theo một cách khác, như tôi đã trình bày: Tính hợp lý lý thuyết và sự nhận thức một thực tại hoàn toàn khác nhau. Yếu tố hợp lý trong tiêu chí khoa học được tôi ứng dụng một cách tự tin, ngay cả trước khi chưa có thí nghiệm của hai nhà khoa học được giải Nobel được công bố. Chính vì bản chất của Lý học - nhân danh nền văn hiến Việt - đã xác định một cách chắc chắn rằng: Tính hợp lý (Tất định) không chỉ thể hiện trong quy luật phát triển của ý thức, mà cũng là bản chất tất định của toàn thể vũ trụ từ khởi nguyên cho đến mãi mãi về sau. Điều này thể hiện qua khả năng tiên tri qua các phương pháp tiên tri Đông phương, mặc cho lịch sử biến động và phát triển của toàn bộ nền văn minh nhân loại, thì hiệu quả của khả năng tiên tri vẫn không hề thay đổi. Hiện tượng khách quan này của các bộ môn dự báo Đông phương qua hàng thiên niên kỷ đã chứng tỏ một quy luật vũ trụ tất định trong mọi vận động của nó . Phải có tính quy luật mới có khả năng tiên tri. Và chính điều này đã là một yếu tố quan trong xác định thuyết ADNh chính là một lý thuyết thống nhất khi nó thể hiện qua các phương pháp tiên tri, mô hình tiên tri cho hầu hết các vấn đề thiên nhiên, xã hội và con người.
-
Qua thí nghiệm này cho thấy, bằng những phương tiện khoa học, đã xác định được qua nhận thức trực quan (Vật lý thực nghiệm), rằng: tính hợp lý lý thuyết cho mọi hiện tượng tương quan trong vũ trụ là không hề thay đổi. Qua đó xác định luận điểm của tôi rằng: Giữa một lý thuyết, một giả thuyết khoa học thì tính hợp lý thuyết là một yếu tố cần, khác hẳn nhận thức trực quan về tính bất định - khi chưa có thí nghiệm này. Hay nói theo một cách khác, như tôi đã trình bày: Tính hợp lý lý thuyết và sự nhận thức một thực tại hoàn toàn khác nhau. Yếu tố hợp lý trong tiêu chí khoa học được tôi ứng dụng một cách tự tin, ngay cả trước khi chưa có thí nghiệm của hai nhà khoa học được giải Nobel được công bố. Chính vì bản chất của Lý học - nhân danh nền văn hiến Việt - đã xác định một cách chắc chắn rằng: Tính hợp lý (Tất định) không chỉ thể hiện trong quy luật phát triển của ý thức, mà cũng là bản chất tất định của toàn thể vũ trụ từ khởi nguyên cho đến mãi mãi về sau. Điều này thể hiện qua khả năng tiên tri qua các phương pháp tiên tri Đông phương, mặc cho lịch sử biến động và phát triển của toàn bộ nền văn minh nhân loại, thì hiệu quả của khả năng tiên tri vẫn không hề thay đổi. Hiện tượng khách quan này của các bộ môn dự báo Đông phương qua hàng thiên niên kỷ đã chứng tỏ một quy luật vũ trụ tất định trong mọi vận động của nó . Phải có tính quy luật mới có khả năng tiên tri. Và chính điều này đã là một yếu tố quan trong xác định thuyết ADNh chính là một lý thuyết thống nhất khi nó thể hiện qua các phương pháp tiên tri, mô hình tiên tri cho hầu hết các vấn đề thiên nhiên, xã hội và con người.
-
Cái này gọi là tút lại cơ thể đem dùng lại. Hì.
-
Video: So sánh sức mạnh quân sự của Nhật Bản và Trung Quốc Bình Nguyên 02/10/14 11:06 Thảo luận (0) (GDVN) - Video so sánh khá thú vị đề cập số lượng, chủng loại các phương tiện quân sự của TQ và Nhật Bản như xe tăng, máy bay chiến đấu, săn ngầm, tàu chiến... ================== Bổ sung của Lão Gàn: * Vũ khí hạt nhân: Nhật Bản: không. Trung Quốc trên 200 đơn vị * Đồng minh chiến tranh của Nhật: Hoa Kỳ và cả khối Nato, có thể gồm cả Úc và Đài Loan.... Trung quốc: không.
-
Bulgaria: Nổ lớn gần thủ đô, 15 người thiệt mạng Thứ Năm, 02/10/2014 - 17:58 (Dân trí) - Giới chức thủ đô Sofia của Bulgaria ngày 2/10 cho biết một vụ nổ lớn phá hủy một nhà xưởng ở phía Bắc thủ đô nước này, khiến ít nhất 15 người có thể đã thiệt mạng. (Ảnh minh họa) Vụ nổ đầu tiên xảy ra vào khoảng 17 giờ ngày 1/10 giờ địa phương, và một tiếng nổ lớn thứ hai được ghi nhận lúc 21 giờ 45 phút cùng ngày. “Không có dấu hiệu nào của sự sống tại hiện trường vụ nổ”, lãnh đạo lực lượng dân phòng Nikolay Nikolov cho biết. 3 nữ công nhân ở gần nhà máy nêu trên tại thời điểm xảy ra vụ nổ đã bị thương và được điều trị tại bệnh viện. Trong khi đó đài phát thanh công cộng cùng hãng tin BGNES News cho biết ít nhất 10 người tử nạn ngay tại hiện trường. 15 công nhân được tin là đã có mặt tại đây khi vụ nổ xảy ra. Hai chủ của nhà máy này cũng có mặt tại đây, Yordan Bakalov, Bộ trưởng nội vụ Bulgaria cho biết. Các nhân viên cứu hộ cho biết họ không thể vào trong hiện trường cho đến tận tối thứ Năm, do nguy cơ xảy ra các vụ nổ mới. Tuy nhiên, các quan chức Bộ nội vụ đã tới thị sát nhà máy trên trong đêm, bất chấp lệnh cấm, và cho biết họ không tìm thấy ai còn sống sót. Khu xưởng trên, nằm cách Sofia chừng 120km về phía Bắc, là nơi phá hủy những đạn dược đã cũ của quân đội Bulgaria, và theo tờ Dnes, nơi đây đang xử lý chất nổ từ Hy Lạp. Nguyên nhân vụ nổ hiện chưa rõ, nhưng có thông tin cho thấy 10 tấn hóa chất dễ cháy nổ đã được cất giữ tại nhà máy này. Các máy bay không người lái sẽ được điều tới hiện trường, và chính quyền đã điều một đội được trang bị xe bọc thép tới hiện trường, truyền thông địa phương cho biết. “Khu xưởng chỉ còn là tro bụi”, một người phát ngôn Bộ nội vụ nói. Thanh Tùng Tổng hợp
-
Giải Nobel Vật Lý 2012 và phép biện chứng duy vật khoahoc.com.vn Giải thưởng Nobel Vật lý 2012 được công bố trao cho hai nhà khoa học: Ha-rốt-chơ (Haroche, Pháp) và Uai-len-đơ (Wineland, Mỹ) vì công trình nghiên cứu của họ được cho rằng “có bước đột phá về vật lý lượng tử”, “có tính khả thi cao trong việc đo lường và kiểm soát riêng rẽ từng hệ thống lượng tử. Đây là một kết quả nghiên cứu mà giới vật lý thế giới đã mong đợi từ lâu và hôm nay, nghiên cứu này đã trở thành hiện thực”. Thậm chí theo Ủy ban Nobel, “Ha-rốt-chơ và Uai-len-đơ đã mở ra cánh cửa cho một kỷ nguyên thực nghiệm mới với vật lý lượng tử khi chứng minh: có thể quan sát trực tiếp các hệ lượng tử riêng rẽ mà không phá hủy chúng”. Trong đoạn mở đầu ở trên, tác giả đã cố ý đánh dấu chữ “lượng tử” bằng chữ nghiêng. Vậy, “lượng tử” là gì? “Vật lý lượng tử” là cái gì? Và “bản chất của công trình được giải thưởng Nobel vật lý 2012” là gì? Nói ra thì dài nhưng tác giả sẽ cố gắng tóm lược tới mức ngắn gọn nhất có thể dành cho những người không chuyên, theo quan điểm của phép biện chứng duy vật. Thế giới vật chất trong đó chúng ta đang sống được các nhà vật lý chia ra thành hai “mảng”: “thế giới vĩ mô” bao gồm các vật thể có kích thước lớn hơn nguyên tử, phân tử (có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, kính hiển vi hay kính viễn vọng), còn “thế giới vi mô” – bao gồm các vật thể nhỏ dưới kích thước đó (không thể nhìn thấy được). Bằng các thí nghiệm ở nửa đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng giữa “vĩ mô” và “vi mô” có một sự đột biến về chất mà không thể nào dung hoà được: Thế giới “vĩ mô” tuân theo cơ học cổ điển của Newton và thuyết tương đối của Einstein (còn gọi là thế giới “tất định”), còn thế giới “vi mô” lại tuân theo “Cơ học lượng tử” (còn gọi là thế giới “bất định”). Nguyên do là vì dường như ở thế giới vi mô, sự trao đổi năng lượng không xảy ra liên tục mà chỉ theo từng “khẩu phần nhỏ” gọi là “lượng tử”. Tính “lượng tử” này còn được thể hiện ở mô men động lượng quỹ đạo của điện tử trong nguyên tử. Và hơn thế nữa, để dung hoà với việc không thể giải thích được các vân sáng tối xen kẽ, được tạo bởi ánh sáng khi đi qua hai khe hẹp (có vẻ như ánh sáng là “sóng”?) với kết quả thí nghiệm quang điện theo đó ánh sáng chắc chắn phải là hạt, người ta buộc phải chấp nhận một khái niệm hết sức phi lý: “lưỡng tính sóng-hạt”. Và kết quả là dẫn đến việc thừa nhận tính bất định của thế giới hạ nguyên tử: lúc là hạt, lúc lại là sóng. Từ đó, người ta xây dựng nên một “lý thuyết” nhằm lý giải hành xử của thế giới vi mô, nhưng vẫn chấp nhận sự “phi lý” đó gọi là “cơ học lượng tử”, hay như trong bài báo đã nêu là “vật lý lượng tử”. Tuy nhiên, khi đó lại phải chấp nhận những phi lý mới: tính bất định về vị trí trong không gian – người ta không thể biết chắc một hạt ở vị trí nào mà chỉ là xác suất xuất hiện của nó, và tính bất định về thời gian, không tuân theo nguyên lý nhân quả. Chính vì thế, khái niệm “lượng tử” bây giờ còn được hiểu đồng nghĩa với “sự bất định về không gian-thời gian” – đây là tính chất không bao giờ quan sát thấy ở các vật thể vĩ mô. Nhà khoa học Serge Haroche (Pháp) và nhà khoa học David J.Wineland (Mỹ) đạt giải Nobel Vật Lý 2012 Mặc dù vậy, khái niệm “lượng tử” được sử dụng trong các thông báo về giải Nobel vật lý 2012 lại không liên quan gì tới các tính chất bất định vừa nói tới ở trên; nó chỉ có một nghĩa duy nhất đó là “vi mô”: hạt “lượng tử”, hệ “lượng tử”... đồng nghĩa với hạt “vi mô”, hệ “vi mô”... – nhưng tất cả chúng vẫn tuân theo các quy luật của cơ học cổ điển là “tính tất định”: có vị trí xác định trong không gian, bởi vậy mới có thể đo lường được chúng, và có quỹ đạo xác định theo thời gian, bởi vậy mới có thể điều khiển được chúng. Thật vậy, theo như bản “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012”, trong thí nghiệm của Uai-len-đơ, i-ôn được giữ bên trong một ống nghiệm bao quanh bởi điện trường tĩnh và điện trường dao động điều hoà. Ông sử dụng chùm xung la-de (laser) tử ngoại để triệt bỏ chuyển động nhiệt của i-on và nhờ điện trường kể trên để điều khiển trạng thái năng lượng của i-ôn: đưa điện tử ngoài cùng của nó lên các quỹ đạo tương ứng với hai tần số có giá trị kề cận sai khác nhau một “lượng tử”. Ha-rốt-chơ lại có hướng tiếp cận trái ngược: ông kiểm soát và đo các hạt phô-tôn cô lập bằng các nguyên tử Rít-bớc (Rydberg) đã được biết – nó lớn hơn hàng nghìn lần nguyên tử bình thường do điện tử ngoài cùng bị kích thích lên quỹ đạo rất xa hạt nhân và có thể hành xử giống như một hệ hành tinh kiểu như Mặt trời và Trái đất (tức là không có tính “lượng tử” nữa). Bên cạnh đó, ông còn tạo ra hạt phô-tôn vi sóng bật tới và nảy trở lại giữa hai gương cầu “siêu sáng” đặt đối diện nhau trong khoảng thời gian “khá dài”: gần 1/10 giây. Khi thả lần lượt các nguyên tử Rít-bớc bay ngang qua khe giữa hai gương, chúng sẽ lần lượt tương tác rất yếu (nếu có thể) với photon vi sóng “độc nhất” trong đó. Kết quả là sau khi ra khỏi hai gương, nếu nguyên tử nào tương tác được với photon, sẽ thay đổi trạng thái năng lượng và sau khi đi qua gương sẽ được phát hiện nhờ một bộ cảm biến (detector). Nói cách khác, thí nghiệm của Uai-len-đơ và Ha-rốt-chơ đã thành công trong việc chứng minh tính đúng đắn của các quy luật cơ học cổ điển ngay cả đối với những hạt vi mô như nguyên tử, điện tử, phô-tôn, tức là khẳng định tính “tất định” của thế giới vật chất mà trước đó người ta cho rằng không thể. Cái được gọi là “sự chồng chập” (superpositions) được sử dụng trong bản “Mô tả” chỉ ứng với tác động của các hạt tham gia tương tác, hoặc trạng thái năng lượng của chúng, chứ tuyệt nhiên không phải là chính bản thân các hạt đơn lẻ đó như ở trường hợp “Con mèo Srô-đing-gơ (Schrödinger)” vừa sống, vừa chết(?) – là nghịch lý của cơ học lượng tử khi phải chấp nhận tính bất định về không gian-thời gian. “Sự chồng chập” tác động và trạng thái này vốn là bản chất của thế giới vật chất mà chúng ta đang sống, chứ không chỉ là “đặc quyền” của thế giới vi mô: mỗi chúng ta đồng thời chịu tác động “chồng chập” của Trái đất, Mặt trăng, Mặt trời v.v.. cũng như đang phải tồn tại trong trạng thái năng lượng “chồng chập” với tất cả thế giới đó, nhưng sống là sống, chết là chết chứ không thể vừa sống lại vừa chết được. Có một điều không thể không nói thẳng ra rằng: giữa vật lý hiện đại và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác hoàn toàn không có một tiếng nói chung nào. Bắt đầu từ những phạm trù cơ bản nhất như vật chất, không gian, thời gian, cho tới các quy luật cơ bản như “đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập”, “lượng đổi chất đổi”, cũng như các nguyên lý cơ bản như “nguyên lý thống nhất tính vật chất của thế giới”, “nguyên lý nhân quả”… Sự vi phạm thô bạo những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đưa vật lý của thế kỷ XX đến bờ vực của sự khủng hoảng không lối thoát: không thể giải thích được một cách nhất quán hành xử của các thực thể vĩ mô và vi mô, thậm chí ngay cả ở lĩnh vực vĩ mô cũng chứa đựng đầy rẫy những nghịch lý và bất cập, chấp nhận vô điều kiện những giả thiết phi lý, trái với tự nhiên, bất chấp lô-gíc, bất chấp tính nhân quả… Kết quả là phải thừa nhận chỉ mới hiểu biết được có 4% những gì cấu thành nên vũ trụ mà họ gọi là “vật chất”, còn lại 26% là “vật chất tối” và 70% cái gọi là “năng lượng tối”(?). Ngay trong sơ đồ phân loại “cấu trúc” của vũ trụ này đã cho thấy việc đánh đồng “vật chất” với “năng lượng” (vốn chỉ là một đặc tính của vật chất) đã cho thấy sự lộn xộn trong tư duy của các nhà vật lý theo chủ nghĩa duy tâm siêu hình là như thế nào rồi. Và lẽ đương nhiên nó cũng chỉ là hệ quả của lý thuyết “Vụ nổ lớn” (Big Bang) mà từ “không có gì” đã sinh ra vật chất (bao gồm cả không gian, thời gian) và cả vũ trụ như chúng ta đang quan sát thấy – như thế có khác gì thừa nhận: “Chúa đã sáng thế” đâu? Vậy là từ những thiếu hiểu biết thế giới vật chất hữu hình và về phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nhà toán học núp dưới danh “vật lý học” đã vô tình xoá sổ một bộ môn khoa học về thế giới tự nhiên là vật lý để thay thế bởi một thứ “giả vật lý” duy tâm siêu hình: cơ học lượng tử và thuyết tương đối. Giải thưởng Nobel vật lý năm nay rất may là được trao cho các công trình thực nghiệm chứ không phải lý thuyết, nên mặc dù cách hành văn và diễn giải các thí nghiệm trong “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012” vẫn vay mượn những thuật ngữ của vật lý lượng tử, nhưng không vì thế mà làm thay đổi được bản chất vật chất của thế giới tự nhiên hữu hình: chúng vẫn tuân theo các quy luật của vật lý cổ điển, chỉ có điều ở mức tinh tế hơn theo quy luật lượng đổi chất đổi của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà thôi. Chính vì thế, có thể nói các công trình thực nghiệm được trao giải lần này về thực chất là bằng chứng hùng hồn về sự cáo chung của cái gọi là “vật lý lượng tử”, mở đầu cho sự cáo chung của “vật lý hiện đại” trong thời gian không xa nữa Vũ Huy Toàn =============== Cá nhân tôi không ý kiến gì về kết luận của tác giả ở đoạn cuối bài. Nhưng rất quan tâm đến phần đầu giới thiệu về vật lý lượng tử và kết luận cuối cùng của giải vật lý Nobel, là: Bởi vì, toàn bộ đoạn giới thiệu nội dung về sự quan hệ giữa thế giới vi mô và vĩ mô, quan hệ tương tác lượng tử qua thí nghiệm trực quan với kết luận: Điều này cho thấy một phát minh mới nhất của khoa học hiện đại đã xác định tính hợp lý thể hiện trong những quy luật của sự tiến hóa, của mọi mối quan hệ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô. Chính vì tính hợp lý đó mới dẫn đến tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri, trong tiêu chí khoa học mà tôi thường nói đến. Và điều này Lý học Đông phương đã thể hiện từ lâu , qua nền tảng tri thức của là thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Học thuyết này và những ứng dụng của nó mô tả toàn bộ sự phát triển của ý thức trong lịch sử phát triển của vũ trụ: Đó là ý niệm về tính cảm ứng, tính phân loại (Ngũ hành), tính hợp lý , tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng (Mô tả sự vận động và tương tác có tính quy luật của các phạm trù Âm Dương, Ngũ hành), đều được tổng hợp trong học thuyết này. Nó cũng mô tả mọi sự vận động trong lịch sử vũ trụ. Từ trạng thái khởi nguyên (Thái cực) cho đến mọi quy luật vận động của các thiên hà, các hạt vật chất nhỏ nhất và đặc biệt cả những trạng thái vật chất mà nền văn minh hiện đại chưa biết đến....cho đến mọi quy luật vận động của xã hội, cuộc sống , đến từng hành vi của con người với khả năng tiên tri. Những mô hình biểu kiến của học thuyết này - nhân danh nền văn hiến Việt - hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí khoa học khó tính nhất. cho một lý thuyết. Giải Nobel vật lý 2012 là một phát minh khoa học mới nhất xác định tính hợp lý trong sự vận động của toàn bộ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô (Tính tất định). Điều này đã xác định tính hợp lý trong tiêu chí khoa học mà tôi đã trình bày và đó cũng là chuẩn mực để xác định tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành - lý thuyết thống nhất - nhân danh nền văn hiến Việt. ===================== PS: Khái niệm về "tính tất định" trong vật lý lý thuyết thực chất là sự mô tả mối liên hệ có tính hợp lý trong tự nhiên, nó là tiền đề của tư duy biện chứng là một trong giai đoạn phát triển của ý thức. Trước đây, giới vật lý lý thuyết cho rằng trong cấu trúc trạng thái vật chất vi mô không có tính tất định (Hợp lý), mà họ gọi là "bất định". Đấy có thể là nguyên do giáo sư Trọng cho rằng: Chỉ có toán học mới có tính hợp lý. Sau đó, trước sự biện minh của tôi, giáo sư Trọng thừa nhận tính hợp lý có trong vật lý cổ điển Newton (Lý thuyết vật lý cho những vật thể vĩ mô - đã mô tả trong bài báo). Tuy nhiên giải Nobel vật lý 2012 đã xác định tính Tất định ở cả trong thế giới vi mô và đã mô tả trong bài báo. Hay nói một cách khác: Tri thức khoa học hiện đại cập nhật mới nhất đã xác định mối liên hệ tương tác có tính quy luật tất định ở mọi trạng thái vật chất mà nền khoa học hiện đại nhận thức được chính là tính hợp lý - yếu tố căn bản trong tiêu chí khoa học, mà tôi đã trình bày từ lâu trên diễn đàn. Đến đây, quý vị và anh chị em đã nhận thấy rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là lý thuyết thống nhất , và là một hệ thống tri thức vượt trội khi nó mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ một cách hợp lý, có hệ thống và nhất quán, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Tất nhiên nó xác định tính tất định - hợp lý - về các mối liên hệ tương tác trong sự vận động của cả vũ trụ này.
-
Trung Quốc sẽ có máy gia tốc hạt lớn nhất thế giới Cập nhật lúc 08h08' ngày 23/09/2014 Các nhà khoa học Trung Quốc đang gấp rút hoàn thiện kế hoạch xây dựng máy gia tốc hạt khổng lồ, có kích thước lớn hơn bất kỳ máy gia tốc nào khác trên thế giới. Máy gia tốc hạt CEPC của Trung Quốc được xây dưới lòng đất, dự kiến có kích thước lớn hơn gấp hai lần so với máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider), được chế tạo bởi tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN). LHC là chiếc máy gia tốc hạt hiện đại lớn nhất và cung cấp gia tốc mạnh nhất trên thế giới hiện nay. Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider) là cỗ máy lớn nhất và hiện đại nhất thế giới hiện nay. Nó được xây dựng dưới lòng đất ở biên giới Pháp và Thụy Sĩ. (Ảnh: CERN) Với chu vi 80km, CEPC của Trung Quốc có thể bao quanh toàn bộ đảo Manhattan của Mỹ. Cơ sở nghiên cứu máy gia tốc được đặt ở Bắc Kinh. Thiết kế sơ bộ của CEPC dự kiến hoàn thiện trong tháng 12, với sự nghiên cứu của các nhà vật lý học hàng đầu Trung Quốc cùng các đối tác phương Tây. Máy gia tốc khổng lồ của Trung Quốc có thiết kế ban đầu với chức năng phá vỡ các hạt electron và phản vật chất, sau đó là proton, ở tốc độ gần tiến tới tốc độ ánh sáng. Quá trình này sẽ tái tạo các điều kiện siêu năng lượng, hỗ trợ nghiên cứu nguồn gốc của vật chất, năng lượng và không-thời gian. Máy gia tốc lớn hơn có thể đạt mức năng lượng lớn hơn so với CERN, giúp các nhà vật lý khám phá loại hạt mới, vượt xa những hạt đã có theo mô hình chuẩn của vật lý hạt. Theo Aljazeera, chiếc máy gia tốc được hy vọng có thể trở thành biểu tượng của Trung Quốc, nhằm khẳng định vị trí siêu cường trên thế giới về nghiên cứu khoa học thuần túy. Máy gia tốc hạt (máy gia tốc hạt nhân, máy gia tốc hạt cơ bản) là thiết bị sử dụng các năng lượng bên ngoài truyền cho các hạt nhằm tăng vận tốc, nhờ đó năng lượng của hạt chuyển động. Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đổi lại. ========================== Tốn kém nhỉ? Chả hiểu mục đích để làm gì và ứng dụng vào việc gì? Mơ hồ, không có "cơ sở khoa học". Bởi vì, cho dù với một tốc độ gia tốc lớn hơn gấp 4 lần cỗ máy LHC thì kết quả sẽ là sự biến mất của vật chất sau một chớp lóe nhỏ, thay vì một đám bụi lớn hơn như ở LHC, mà tôi đã tiên tri.
-
Giải Nobel Vật Lý 2012 và phép biện chứng duy vật khoahoc.com.vn Giải thưởng Nobel Vật lý 2012 được công bố trao cho hai nhà khoa học: Ha-rốt-chơ (Haroche, Pháp) và Uai-len-đơ (Wineland, Mỹ) vì công trình nghiên cứu của họ được cho rằng “có bước đột phá về vật lý lượng tử”, “có tính khả thi cao trong việc đo lường và kiểm soát riêng rẽ từng hệ thống lượng tử. Đây là một kết quả nghiên cứu mà giới vật lý thế giới đã mong đợi từ lâu và hôm nay, nghiên cứu này đã trở thành hiện thực”. Thậm chí theo Ủy ban Nobel, “Ha-rốt-chơ và Uai-len-đơ đã mở ra cánh cửa cho một kỷ nguyên thực nghiệm mới với vật lý lượng tử khi chứng minh: có thể quan sát trực tiếp các hệ lượng tử riêng rẽ mà không phá hủy chúng”. Trong đoạn mở đầu ở trên, tác giả đã cố ý đánh dấu chữ “lượng tử” bằng chữ nghiêng. Vậy, “lượng tử” là gì? “Vật lý lượng tử” là cái gì? Và “bản chất của công trình được giải thưởng Nobel vật lý 2012” là gì? Nói ra thì dài nhưng tác giả sẽ cố gắng tóm lược tới mức ngắn gọn nhất có thể dành cho những người không chuyên, theo quan điểm của phép biện chứng duy vật. Thế giới vật chất trong đó chúng ta đang sống được các nhà vật lý chia ra thành hai “mảng”: “thế giới vĩ mô” bao gồm các vật thể có kích thước lớn hơn nguyên tử, phân tử (có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, kính hiển vi hay kính viễn vọng), còn “thế giới vi mô” – bao gồm các vật thể nhỏ dưới kích thước đó (không thể nhìn thấy được). Bằng các thí nghiệm ở nửa đầu thế kỷ trước, người ta cho rằng giữa “vĩ mô” và “vi mô” có một sự đột biến về chất mà không thể nào dung hoà được: Thế giới “vĩ mô” tuân theo cơ học cổ điển của Newton và thuyết tương đối của Einstein (còn gọi là thế giới “tất định”), còn thế giới “vi mô” lại tuân theo “Cơ học lượng tử” (còn gọi là thế giới “bất định”). Nguyên do là vì dường như ở thế giới vi mô, sự trao đổi năng lượng không xảy ra liên tục mà chỉ theo từng “khẩu phần nhỏ” gọi là “lượng tử”. Tính “lượng tử” này còn được thể hiện ở mô men động lượng quỹ đạo của điện tử trong nguyên tử. Và hơn thế nữa, để dung hoà với việc không thể giải thích được các vân sáng tối xen kẽ, được tạo bởi ánh sáng khi đi qua hai khe hẹp (có vẻ như ánh sáng là “sóng”?) với kết quả thí nghiệm quang điện theo đó ánh sáng chắc chắn phải là hạt, người ta buộc phải chấp nhận một khái niệm hết sức phi lý: “lưỡng tính sóng-hạt”. Và kết quả là dẫn đến việc thừa nhận tính bất định của thế giới hạ nguyên tử: lúc là hạt, lúc lại là sóng. Từ đó, người ta xây dựng nên một “lý thuyết” nhằm lý giải hành xử của thế giới vi mô, nhưng vẫn chấp nhận sự “phi lý” đó gọi là “cơ học lượng tử”, hay như trong bài báo đã nêu là “vật lý lượng tử”. Tuy nhiên, khi đó lại phải chấp nhận những phi lý mới: tính bất định về vị trí trong không gian – người ta không thể biết chắc một hạt ở vị trí nào mà chỉ là xác suất xuất hiện của nó, và tính bất định về thời gian, không tuân theo nguyên lý nhân quả. Chính vì thế, khái niệm “lượng tử” bây giờ còn được hiểu đồng nghĩa với “sự bất định về không gian-thời gian” – đây là tính chất không bao giờ quan sát thấy ở các vật thể vĩ mô. Nhà khoa học Serge Haroche (Pháp) và nhà khoa học David J.Wineland (Mỹ) đạt giải Nobel Vật Lý 2012 Mặc dù vậy, khái niệm “lượng tử” được sử dụng trong các thông báo về giải Nobel vật lý 2012 lại không liên quan gì tới các tính chất bất định vừa nói tới ở trên; nó chỉ có một nghĩa duy nhất đó là “vi mô”: hạt “lượng tử”, hệ “lượng tử”... đồng nghĩa với hạt “vi mô”, hệ “vi mô”... – nhưng tất cả chúng vẫn tuân theo các quy luật của cơ học cổ điển là “tính tất định”: có vị trí xác định trong không gian, bởi vậy mới có thể đo lường được chúng, và có quỹ đạo xác định theo thời gian, bởi vậy mới có thể điều khiển được chúng. Thật vậy, theo như bản “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012”, trong thí nghiệm của Uai-len-đơ, i-ôn được giữ bên trong một ống nghiệm bao quanh bởi điện trường tĩnh và điện trường dao động điều hoà. Ông sử dụng chùm xung la-de (laser) tử ngoại để triệt bỏ chuyển động nhiệt của i-on và nhờ điện trường kể trên để điều khiển trạng thái năng lượng của i-ôn: đưa điện tử ngoài cùng của nó lên các quỹ đạo tương ứng với hai tần số có giá trị kề cận sai khác nhau một “lượng tử”. Ha-rốt-chơ lại có hướng tiếp cận trái ngược: ông kiểm soát và đo các hạt phô-tôn cô lập bằng các nguyên tử Rít-bớc (Rydberg) đã được biết – nó lớn hơn hàng nghìn lần nguyên tử bình thường do điện tử ngoài cùng bị kích thích lên quỹ đạo rất xa hạt nhân và có thể hành xử giống như một hệ hành tinh kiểu như Mặt trời và Trái đất (tức là không có tính “lượng tử” nữa). Bên cạnh đó, ông còn tạo ra hạt phô-tôn vi sóng bật tới và nảy trở lại giữa hai gương cầu “siêu sáng” đặt đối diện nhau trong khoảng thời gian “khá dài”: gần 1/10 giây. Khi thả lần lượt các nguyên tử Rít-bớc bay ngang qua khe giữa hai gương, chúng sẽ lần lượt tương tác rất yếu (nếu có thể) với photon vi sóng “độc nhất” trong đó. Kết quả là sau khi ra khỏi hai gương, nếu nguyên tử nào tương tác được với photon, sẽ thay đổi trạng thái năng lượng và sau khi đi qua gương sẽ được phát hiện nhờ một bộ cảm biến (detector). Nói cách khác, thí nghiệm của Uai-len-đơ và Ha-rốt-chơ đã thành công trong việc chứng minh tính đúng đắn của các quy luật cơ học cổ điển ngay cả đối với những hạt vi mô như nguyên tử, điện tử, phô-tôn, tức là khẳng định tính “tất định” của thế giới vật chất mà trước đó người ta cho rằng không thể. Cái được gọi là “sự chồng chập” (superpositions) được sử dụng trong bản “Mô tả” chỉ ứng với tác động của các hạt tham gia tương tác, hoặc trạng thái năng lượng của chúng, chứ tuyệt nhiên không phải là chính bản thân các hạt đơn lẻ đó như ở trường hợp “Con mèo Srô-đing-gơ (Schrödinger)” vừa sống, vừa chết(?) – là nghịch lý của cơ học lượng tử khi phải chấp nhận tính bất định về không gian-thời gian. “Sự chồng chập” tác động và trạng thái này vốn là bản chất của thế giới vật chất mà chúng ta đang sống, chứ không chỉ là “đặc quyền” của thế giới vi mô: mỗi chúng ta đồng thời chịu tác động “chồng chập” của Trái đất, Mặt trăng, Mặt trời v.v.. cũng như đang phải tồn tại trong trạng thái năng lượng “chồng chập” với tất cả thế giới đó, nhưng sống là sống, chết là chết chứ không thể vừa sống lại vừa chết được. Có một điều không thể không nói thẳng ra rằng: giữa vật lý hiện đại và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác hoàn toàn không có một tiếng nói chung nào. Bắt đầu từ những phạm trù cơ bản nhất như vật chất, không gian, thời gian, cho tới các quy luật cơ bản như “đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập”, “lượng đổi chất đổi”, cũng như các nguyên lý cơ bản như “nguyên lý thống nhất tính vật chất của thế giới”, “nguyên lý nhân quả”… Sự vi phạm thô bạo những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đưa vật lý của thế kỷ XX đến bờ vực của sự khủng hoảng không lối thoát: không thể giải thích được một cách nhất quán hành xử của các thực thể vĩ mô và vi mô, thậm chí ngay cả ở lĩnh vực vĩ mô cũng chứa đựng đầy rẫy những nghịch lý và bất cập, chấp nhận vô điều kiện những giả thiết phi lý, trái với tự nhiên, bất chấp lô-gíc, bất chấp tính nhân quả… Kết quả là phải thừa nhận chỉ mới hiểu biết được có 4% những gì cấu thành nên vũ trụ mà họ gọi là “vật chất”, còn lại 26% là “vật chất tối” và 70% cái gọi là “năng lượng tối”(?). Ngay trong sơ đồ phân loại “cấu trúc” của vũ trụ này đã cho thấy việc đánh đồng “vật chất” với “năng lượng” (vốn chỉ là một đặc tính của vật chất) đã cho thấy sự lộn xộn trong tư duy của các nhà vật lý theo chủ nghĩa duy tâm siêu hình là như thế nào rồi. Và lẽ đương nhiên nó cũng chỉ là hệ quả của lý thuyết “Vụ nổ lớn” (Big Bang) mà từ “không có gì” đã sinh ra vật chất (bao gồm cả không gian, thời gian) và cả vũ trụ như chúng ta đang quan sát thấy – như thế có khác gì thừa nhận: “Chúa đã sáng thế” đâu? Vậy là từ những thiếu hiểu biết thế giới vật chất hữu hình và về phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nhà toán học núp dưới danh “vật lý học” đã vô tình xoá sổ một bộ môn khoa học về thế giới tự nhiên là vật lý để thay thế bởi một thứ “giả vật lý” duy tâm siêu hình: cơ học lượng tử và thuyết tương đối. Giải thưởng Nobel vật lý năm nay rất may là được trao cho các công trình thực nghiệm chứ không phải lý thuyết, nên mặc dù cách hành văn và diễn giải các thí nghiệm trong “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012” vẫn vay mượn những thuật ngữ của vật lý lượng tử, nhưng không vì thế mà làm thay đổi được bản chất vật chất của thế giới tự nhiên hữu hình: chúng vẫn tuân theo các quy luật của vật lý cổ điển, chỉ có điều ở mức tinh tế hơn theo quy luật lượng đổi chất đổi của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà thôi. Chính vì thế, có thể nói các công trình thực nghiệm được trao giải lần này về thực chất là bằng chứng hùng hồn về sự cáo chung của cái gọi là “vật lý lượng tử”, mở đầu cho sự cáo chung của “vật lý hiện đại” trong thời gian không xa nữa Vũ Huy Toàn =============== Cá nhân tôi không ý kiến gì về kết luận của tác giả ở đoạn cuối bài. Nhưng rất quan tâm đến phần đầu giới thiệu về vật lý lượng tử và kết luận cuối cùng của giải vật lý Nobel, là: Bởi vì, toàn bộ đoạn giới thiệu nội dung về sự quan hệ giữa thế giới vi mô và vĩ mô, quan hệ tương tác lượng tử qua thí nghiệm trực quan với kết luận: Điều này cho thấy một phát minh mới nhất của khoa học hiện đại đã xác định tính hợp lý thể hiện trong những quy luật của sự tiến hóa, của mọi mối quan hệ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô. Chính vì tính hợp lý đó mới dẫn đến tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri, trong tiêu chí khoa học mà tôi thường nói đến. Và điều này Lý học Đông phương đã thể hiện từ lâu , qua nền tảng tri thức của là thuyết Âm Dương Ngũ hành, nhân danh nền văn hiến Việt. Học thuyết này và những ứng dụng của nó mô tả toàn bộ sự phát triển của ý thức trong lịch sử phát triển của vũ trụ: Đó là ý niệm về tính cảm ứng, tính phân loại (Ngũ hành), tính hợp lý , tư duy trừu tượng, tư duy biện chứng (Mô tả sự vận động và tương tác có tính quy luật của các phạm trù Âm Dương, Ngũ hành), đều được tổng hợp trong học thuyết này. Nó cũng mô tả mọi sự vận động trong lịch sử vũ trụ. Từ trạng thái khởi nguyên (Thái cực) cho đến mọi quy luật vận động của các thiên hà, các hạt vật chất nhỏ nhất và đặc biệt cả những trạng thái vật chất mà nền văn minh hiện đại chưa biết đến....cho đến mọi quy luật vận động của xã hội, cuộc sống , đến từng hành vi của con người với khả năng tiên tri. Những mô hình biểu kiến của học thuyết này - nhân danh nền văn hiến Việt - hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí khoa học khó tính nhất. cho một lý thuyết. Giải Nobel vật lý 2012 là một phát minh khoa học mới nhất xác định tính hợp lý trong sự vận động của toàn bộ vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô (Tính tất định). Điều này đã xác định tính hợp lý trong tiêu chí khoa học mà tôi đã trình bày và đó cũng là chuẩn mực để xác định tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành - lý thuyết thống nhất - nhân danh nền văn hiến Việt. ===================== PS: Khái niệm về "tính tất định" trong vật lý lý thuyết thực chất là sự mô tả mối liên hệ có tính hợp lý trong tự nhiên, nó là tiền đề của tư duy biện chứng là một trong giai đoạn phát triển của ý thức. Trước đây, giới vật lý lý thuyết cho rằng trong cấu trúc trạng thái vật chất vi mô không có tính tất định (Hợp lý), mà họ gọi là "bất định". Đấy có thể là nguyên do giáo sư Trọng cho rằng: Chỉ có toán học mới có tính hợp lý. Sau đó, trước sự biện minh của tôi, giáo sư Trọng thừa nhận tính hợp lý có trong vật lý cổ điển Newton (Lý thuyết vật lý cho những vật thể vĩ mô - đã mô tả trong bài báo). Tuy nhiên giải Nobel vật lý 2012 đã xác định tính Tất định ở cả trong thế giới vi mô và đã mô tả trong bài báo. Hay nó một cách khác: Tri thức khoa học hiện đại cập nhật mới nhất đã xác định mối liên hệ tương tác có tính quy luật tất định ở mọi trạng thái vật chất mà nền khoa học hiện đại nhận thức được chính là tính hợp lý - yếu tố căn bản trong tiêu chí khoa học, mà tôi đã trình bày từ lâu trên diễn đàn. Đến đây, anh chị em đã nhận thấy rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là lý thuyết thống nhất , và là một hệ thống tri thức vượt trội khi nó mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Tất nhiên nó xác định tính tất định - hợp lý - về các mối liên hệ tương tác trong sự vận động của cả vũ trụ này.
-
Rơi máy bay trực thăng ở Pháp khiến 7 người thương vong (TTXVN/Vietnam+) lúc : 02/10/14 19:22 Giới chức Pháp ngày 2/10 cho biết 5 người Thụy Sĩ đã thiệt mạng và 2 người khác bị thương trong vụ rơi máy bay trực thăng ở Pháp, gần biên giới với Thụy Sĩ. Theo cảnh sát Pháp, chiếc máy bay trực thăng EC130 đã rơi xuống vườn một ngôi nhà ở vùng ngoại ô gần thành phố Montbeliard, cách biên giới với Thụy Sĩ khoảng 13 km. Chiếc máy bay nói trên xuất phát từ sân bay Lausanne của Thụy Sĩ và gặp nạn ở khu vực chỉ cách sân bay Montbeliard vài trăm mét. Hiện nguyên nhân vụ tai nạn đang được điều tra làm rõ./.
-
Tránh dùng vũ lực ở Hồng Kông, Trung Quốc có thể "thí" Lương Chấn Anh Hồng Thủy 02/10/14 14:33 Thảo luận (0) (GDVN) - Vẫn còn có chỗ để Bắc Kinh giải quyết vấn đề mà không phải dùng đến vũ lực, Lương Chấn Anh (mất chức) là một lựa chọn. Biểu tình ở Hồng Kông có thể thành chất xúc tác cho Tân Cương Báo Nga, Mỹ: Không loại trừ TQ dùng quân đội dẹp biểu tình ở Hồng Kông Bắc Kinh: Mặt trời vẫn mọc như thường lệ! Lương Chấn Anh, Trưởng đặc khu hành chính Hồng Kông đang bị người biểu tình yêu cầu từ chức. CNN ngày 2/10 bình luận, các cuộc biểu tình đường phố đã càn quét Hồng Kông từ cuối tuần qua đã đẩy lãnh đạo Trung Quốc vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Bắc Kinh gọi các cuộc biểu tình này là bất hợp pháp, Trưởng đặc khu hành chính Hồng Kông Lương Chấn Anh nhiều lần khẳng định Trung Nam Hải sẽ không đảo ngược quyết định về việc kiểm duyệt nhân sự bầu cử năm 2017. Mục tiêu của những người biểu tình ở Hồng Kông là thay đổi chính sách này, họ cho rằng phổ thông đầu phiếu sẽ trở nên vô nghĩa nếu ứng viên phải được Bắc Kinh gật đầu đồng ý trước. Chính điều này tạo ra rất ít không gian cho sự thỏa hiệp để cả hai bên thoát khỏi bế tắc, các nhà phân tích bình luận. David Zweig, một giáo sư đại học Khoa học công nghệ Hồng Kông nói với CNN: "Tập Cận Bình không muốn bị xem là người không thể quản lý nổi các sinh viên tại Hồng Kông". Cho đến nay các nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc phần lớn đều im lặng về những gì đang xảy ra ở Hồng Kông, Tập Cận Bình đã để cho các quan chức thấp hơn và giới truyền thông nhà nước thể hiện quan điểm của Bắc Kinh. Tân Hoa Xã cho biết Trung Nam Hải hoàn toàn tự tin rằng chính quyền Hồng Kông có thể xử lý các cuộc biểu tình chiếm trung tâm ở Hồng Kông mà họ vẫn gọi là "tụ tập bất hợp pháp". Tân Hoa Xã vẫn bảo vệ quan điểm về quyết định "cải cách bầu cử" hôm 31/8 của quốc hội Trung Quốc là "bền vững". Tập Cận Bình đã nổi lên như một nhà lãnh đạo cứng rắn, đặc biệt mạnh tay với các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Tạng hay Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Willy Lam, giáo sư trợ giảng đại học Trung Quốc tại Hồng Kông nói với CNN. Bắc Kinh cũng lo ngại rằng những gì đang xảy ra ở Hồng Kông có thể tạo ra một hiệu ứng domino với các thành phố khác ở Trung Quốc, đặc biệt là vùng duyên hải giàu có. Cảnh sát Hồng Kông tay không tìm cách đối thoại với người biểu tình sau khi dùng hơi cay, dùi cui giải tán bất thành. "Đối với Tập Cận Bình để thỏa hiệp về Hồng Kông sẽ là lựa chọn mất mặt to lớn", WIly Lam bình luận. Victor Gao, một cựu phiên dịch của Đặng Tiểu Bình nói với CNN, những người biểu tình ở Hồng Kông sẽ "tưởng bở" nếu họ nghĩ rằng chính quyền trung ương sẽ lùi bước. Tuy nhiên Zweig cho rằng vẫn có một số khả năng cải cách bầu cử cho Hồng Kông "dân chủ hơn" dự kiến vào kỳ bầu cử năm 2022, đó có thể là một lựa chọn. Người tiền nhiệm của Lương Chấn Anh, ông Đổng Kiến Hoa - Trưởng đặc khu hành chính đầu tiên của Hồng Kông đã phải rời ghế năm 2005 trong bối cảnh mất lòng công chúng rộng rãi. Những người biểu tình đòi Lương Chấn Anh từ chức và Willy Lam cho rằng, không phải không thể tưởng tượng chuyện Bắc Kinh có thể kéo Lương Chấn Anh xuống. "Đó là một tình huống khó khăn, nhưng tôi nghĩ rằng vẫn còn có chỗ để Bắc Kinh giải quyết vấn đề mà không phải dùng đến vũ lực, Lương Chấn Anh (mất chức) là một lựa chọn. Ông ấy là một nhân vật gây chia rẽ và không được lòng dân." Trường hợp xấu nhất, phương sách cuối cùng Bắc Kinh có thể triển khai quân đội trên đường phố Hồng Kông. Quân đội Trung Quốc có khoảng 6000 lính đồn trú tại đây và vừa trải qua huấn luyện chống bao động qua vùng giáp ranh với Thâm Quyến. "Tôi không nghĩ Bắc Kinh sẽ sử dụng vũ khí gây chết người, nhưng dù sao việc triển khai xe bọc thép trên đường phố có thể khiến những người biểu tình lo sợ mà phải rời đi. Nhưng đó là phương sách cuối cùng. Hình ảnh xe tăng lăn trên đường phố Hồng Kông sẽ rất có hại cho chính quyền Tập Cận Bình", Willy Lam bình luận. ======================= Khó nhểy! Híc! B)
-
Hồng Kông trước 'giờ tối hậu thư' 02/10/2014 16:48 (TNO) - Người biểu tình vẫn kiên quyết bám trụ trên đường phố Hồng Kông, nhưng không khí vào trưa hôm nay khá bình yên. Có thể đây chỉ là khoảng lặng trước cơn giông khi tối hậu thư yêu cầu thời hạn Đặc khu trưởng từ chức kết thúc vào nửa đêm nay. Trưa nay, 2.10, tôi quay trở lại khu vực Admiralty (Kim Chung) nơi tập trung trụ sở chính quyền, tòa nhà làm việc của Đặc khu trưởng Hồng Kông và tòa nhà lập pháp (Legco), tình hình có vẻ yên ắng. Khu vực vỉa hè trước tòa nhà làm việc của Đặc khu trưởng Hồng Kông Lương Chấn Anh bị rào chắn, nhưng lực lượng cảnh sát rải rác, và không có vẻ gì là căng thẳng. Có thể đây chỉ là khoảng yên lặng trước cơn giông khi tối hậu thư của giới học sinh, sinh viên yêu cầu thời hạn Đặc khu trưởng từ chức kết thúc vào nửa đêm nay (2.10). Ảnh chụp mặt trước tòa nhà làm việc của Đặc khu trưởng Lương Chấn Anh lúc 12 giờ trưa 2.10 - Ảnh: Nguyễn Thành Trung Tối qua, 1.10, khi có mặt ở khu Admiralty, tôi đã thấy phóng viên của các hãng thông tấn lớn trên thế giới như AP, BBC, Al Jazeera trực chiến ngay trên cầu bộ hành nối vào tòa nhà chính quyền. Có lẽ là họ muốn chứng kiến giây phút giới trẻ Hồng Kông chiếm giữ các tòa nhà chính quyền như đe dọa trước đó. Tuy nhiên, thật ra tối hậu thư mà hai nhóm học sinh, sinh viên gồm Tổng Hội Sinh Viên (HKFS) và Học Dân Tư Triều (Scholarism) đòi Đặc khu trưởng từ chức là vào tối thứ năm, tức hôm nay (2.10). Phóng viên các hãng thông tấn đã túc trực tại khu vực toà nhà chính quyền Hồng Kông - Ảnh: Nguyễn Thành Trung Hai sinh viên mà tôi phỏng vấn trưa nay, Woody Chan, 19 tuổi và David Ngan, 20 tuổi, đều cho biết họ vẫn chưa biết cuộc biểu tình bất tuân dân sự (civil disobedience) này kéo dài đến khi nào. Họ cho biết sẽ bám trụ ít nhất là cho đến tuần tới. Khi được hỏi liệu các bạn có đồng ý thực hiện hành vi chiếm giữ tòa nhà chính quyền hay không, thì Woody và David đều trả lời là không. Tuy nhiên, Woody và David bổ sung rằng mỗi người một nhiệm vụ và họ vui vẻ khi làm nhiệm vụ cung cấp nước suối và thực phẩm cho người biểu tình. David (trái) và Woody (phải). Ảnh chụp lúc 12 giờ trưa 2.10: Nguyễn Thành Trung Woody và David tiêu biểu cho một thế hệ trẻ Hồng Kông tranh đấu phi bạo lực cho lý tưởng của mình. Khi được hỏi, liệu bố mẹ của họ có phản đối hành động xuống đường hay không thì cả hai đều trả lời là bố mẹ không phản đối, nhưng cũng không lấy gì làm vui vẻ. Tôi cũng chứng kiến các bạn học sinh trung học rút trong balô của mình từng chai nước, quyên cho trạm tiếp tế. Các trạm tiếp tế của giới trẻ ghi rõ là họ chỉ cần quyên thực phẩm, không cần quyên tiền. Có vẻ giới trẻ Hồng Kông biết họ đang cần gì, và sẽ phải làm gì để bảo đảm cho cuộc kháng nghị giữ vững được mục tiêu đề ra. Nhiều bạn trẻ thậm chí mang vở ra khu vực biểu tình học bài - Ảnh chụp ở khu Admiralty vào trưa 2.10: Nguyễn Thành trung Cuộc biểu tình trên đường phố Hồng Kông sắp kết thúc tuần đầu tiên, nhưng giới trẻ Hồng Kông tỏ ra kiên định với đường lối của mình, và họ sẵng sàng cho một cuộc đấu sức dài ngày. Nhiều bạn trẻ thậm chí mang bài vở ra khu vực biểu tình học bài. Ngày 1.10 và ngày 2.10 là ngày nghỉ lễ ở Hồng Kông bởi đây là dịp Quốc Khánh Trung Quốc và Tết Trùng Dương (mùng 9.9 âm lịch), chính vì vậy các cơ quan nhà nước và trường học đều đóng cửa. Ngày 3.10, đời sống thường nhật trở lại bình thường và đây chính là thời điểm quan trọng cho phong trào đòi quyền bỏ phiếu của giới trẻ Hồng Kông. Giới kinh doanh Hồng Kông nhiều thế lực hiện bị ảnh hưởng bởi phong trào này vẫn chưa lên tiếng. Theo Sở Tiền tệ Hồng Kông ngày hôm qua, chỉ số chứng khoán Hang Seng đã sụt giảm 9% và các ngân hàng đã đóng cửa 44 chi nhánh do biểu tình. Nếu cuộc biểu tình kéo dài đến tuần sau thì học sinh, sinh viên sẽ bước vào tuần lễ thứ 3 bãi khóa. Giới kinh doanh cũng có thể sẽ cảm thấy bị ảnh hưởng rõ ràng hơn. Nguyễn Thành Trung (từ Hồng Kông) ==================== 12 giờ đêm nay là kết thúc ngày thứ ba, để ngài Tập có quyết định cuối cùng.
-
Biển Đông lần đầu tiên giữ vị trí số 1 trong Tuyên bố chung Mỹ - Ấn Hồng Thủy 02/10/14 07:00 Thảo luận (0) (GDVN) - India Times lưu ý, Biển Đông đứng đầu Tuyên bố chung Mỹ - Ấn còn đặt trong bối cảnh New Delhi vừa cam kết cung cấp cho Việt Nam 100 triệu USD tín dụng... Khủng hoảng Ukraine, Trung Đông là thời cơ TQ bành trướng ở Biển Đông Mỹ-Ấn tăng cường hợp tác an ninh tạo ra đối trọng mới với Trung Quốc Ngoại trưởng Việt - Mỹ tập trung thảo luận về vấn đề Biển Đông Tổng thống Mỹ Barack Obama và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Tờ India Times ngày 2/10 đưa tin, lần đầu tiên một bản Tuyên bố chung Mỹ - Ấn Độ đã đặc biệt đề cập đến tình hình căng thẳng ở Biển Đông, cả Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Narendra Modi đều bày tỏ lo ngại xung quanh những căng thẳng tranh chấp lãnh hải khu vực này. Tuyên bố chung được đưa ra sau hội nghị thượng đỉnh giữa 2 nhà lãnh đạo và cũng chỉ sau vài ngày Trung Quốc và Ấn Độ cùng rút quân khỏi khu vực đối đầu ngoài biên giới. Bế tắc ở biên giới Trung - Ấn tiếp tục kéo dài nhiều ngày mặc dù ông Tập Cận Bình đã cam kết với Thủ tướng Modi sẽ rút quân trong chuyến thăm Ấn Độ hồi tháng trước. Theo bản Tuyên bố chung này, Modi và Obama tái khẳng định mối quan tâm chung của họ trong việc giữ gìn hòa bình và ổn định khu vực bởi điều này rất quan trọng đối với việc duy trì sự thịnh vượng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. "Các nhà lãnh đạo bày tỏ quan ngại về sự gia tăng căng thẳng trong tranh chấp lãnh hải, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh hàng hải, tự do hàng hải và hàng không trong khu vực, đặc biệt là ở Biển Đông", Tuyên bố chung viết. Trong thực tế, Tuyên bố chung Mỹ - Ấn trong các cuộc họp trước đây giữa Tổng thống Obama và Thủ tướng Manmohan Singh chỉ đơn thuần bày tỏ mong muốn hợp tác chặt chẽ hơn vơi các nước châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm phối hợp tốt hơn với Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN, không hề đề cập đến tranh chấp hàng hải trong khu vực hoặc bất cứ điều gì nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do hàng hải. Không những thế, Tuyên bố chung Mỹ - Ấn lần này còn kêu gọi tất cả các bên tránh việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, sức mạnh quân sự để thúc đẩy yêu sách của mình, mặc dù chưa chỉ đích danh Trung Quốc. "Hai nhà lãnh đạo kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp lãnh thổ và hàng hải của họ thông qua tất cả các biện pháp hòa bình, phù hợp với nguyên tắc chung được luật pháp quốc tế thừa nhận, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS)". India Times lưu ý, Biển Đông đứng đầu Tuyên bố chung Mỹ - Ấn còn đặt trong bối cảnh New Delhi vừa cam kết cung cấp cho Việt Nam 100 triệu USD tín dụng ưu đãi để mua tàu tuần tra sử dụng ở Biển Đông, một thông điệp chính trị rõ ràng muốn gửi tới Bắc Kinh "tội lỗi" trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mukherjee. Ấn Độ và Trung Quốc cũng đồng ý nâng cấp đối thoại chiến lược 3 bên với Nhật Bản ở cấp Ngoại trưởng. ======================== Tóm lại, cô gái Ấn Độ đã tham gia "canh bạc cuối cùng". Nhà tôi có sẵn bộ đầu đĩa xem video. Có điều là hồi chiến tranh Vùng Vinh I, phim do Tung Cóoc làm. Còn bây giờ không bít ai? Híc! Cá nhân tôi rất mong muốn "canh bạc cuối cùng" xảy ra trong hòa bình, bất chấp lời tiên tri của bà Vanga: "Sẽ xảy ra chiến tranh thế giới thứ III". Híc! Rầu quá! Chỉ có Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến được xác định, mới có thể cứu vãn được điều này. Đây cũng là một lời tiên tri đã có từ lâu trong nền văn hiến Việt. Chỉ tiếc rằng lời tiên tri này không xác định không gian cụ thể bằng lời tiên tri của bà Vanga. Nó đặt một điều kiện "nếu" ("nhược"). Nhược đài sư tử thượng. Thiên hạ thái bình phong. Ngay cả những tri thức khoa học hiện đại, khi nói đến lý thuyết thống nhất, cũng bắt đầu từ chữ 'nếu": - "Nếu" quả thật có một lý thuyết thống nhất .... - "Nếu" chúng ta có đủ khả năng phát hiện ra nó...(Tức lý thuyết thống nhất). Hawking. Lược sử thời gian. ======================== PS: Có thể có một Thụy Sĩ ở Tây Thái Bình Dương không nhỉ?
-
Tập Cận Bình chỉ định Uông Dương xử lý biểu tình Hồng Kông 02/10/2014 10:09 (TNO) Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Dương được cho là đã được Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ đạo sẵn sàng đối phó với các cuộc biểu tình đòi dân chủ tại Hồng Kông, trang tin Duowei của người Trung Quốc ở hải ngoại, có trụ sở tại Mỹ, đưa tin. Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Dương - Ảnh: Reuters Phong trào Chiếm Trung Tâm (Occupy Central) tại Hồng Kông vẫn đang diễn ra mạnh mẽ sau 4 ngày, với hàng chục ngàn người tham gia, bất chấp trước đó cảnh sát đã dùng đến hơi cay. Chỉ 2 tuần trước khi phong trào này chính thức bắt đầu, ông Uông đã được thông báo đi thăm Quảng Đông, tỉnh giáp ranh với Hồng Kông, để thanh tra các công tác có liên quan đến ngoại thương, theo Duowei. Truyền thông nhà nước Trung Quốc cũng đưa tin ông Uông, người từng nắm giữ chức Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông từ năm 2007 đến năm 2012, đã ghé thăm nhiều thành phố khác nhau trong tỉnh này trong 2 ngày 11.9 và 12.9, gồm Thâm Quyến, Đông Hoản và Châu Hải. Mặc dù ông Uông đã về lại Bắc Kinh để dự một đêm nhạc mừng quốc khánh vào hôm 29.9, trang tin Duowei khẳng định chuyến đi Quảng Đông của Phó Thủ tướng Trung Quốc là nhằm bắt kịp tình hình diễn biến tại Hồng Kông. Duowei cũng cho biết thêm rằng đích thân ông Tập chọn ông Uông để xử lý phong trào Occupy Central, nhất là khi Đặc khu trưởng Hồng Kông Lương Chấn Anh có thể sẽ sớm bị thay thế. Phó Thủ tướng Uông được xem là người có khả năng giải quyết vấn đề linh hoạt và ông từng chứng tỏ năng lực của mình trong vụ biểu tình ở Ô Khảm hồi năm 2011. Chính quyền địa phương tại thời điểm đó đã mạnh tay trấn áp người Ô Khảm biểu tình, khiến bùng phát bạo động. Ông Uông, khi đó là bí thư tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông, đã xoa dịu sự phẫn nộ của người dân bằng cách ra lệnh thả những người bị bắt và hứa sẽ không truy tố. Hoàng Uy ================== Hì! Ông Uông Dương sẽ chịu trách nhiệm với ngài Tập về những quyết định của mình. Ngài Tập không trực tiếp xử lý, hậu quả sẽ giảm nếu xử lý sai. Để xem ông Uông quyết định thế nào. Nhanh thì ngay mai bít liền, chậm không quá bẩy ngày.