Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.238
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2.212

Everything posted by Thiên Sứ

  1. Chìm tàu cá Hàn Quốc, 1 người chết, nhiều người mất tích 01/12/2014 19:00 (TNO) 1 người chết và hơn 50 người khác mất tích sau khi một tàu cá Hàn Quốc bị chìm ở ngoài khơi bờ biển Chukotka, miền viễn đông Nga, Reuters ngày 1.12 dẫn nguồn tin quan chức Chukotka. Một tàu cá của Hàn Quốc - Ảnh: AFP Tàu cá Oriong-501 của Hàn Quốc bị chìm lúc 12 giờ 30 (giờ Việt Nam) ngày 1.12. Theo ông Artur Rets, người đứng đầu cơ quan cứu hộ hàng hải tại cảng Petropavlovks-Kamchatsky, miền viễn đông Nga, sau khi kéo cá xong, tàu này bị sóng đánh chìm, theo Reuters. Ông Rets cho biết nhân viên cứu hộ đã cứu được 8 người nhưng trong số đó có một người đã chết. Theo số liệu của cơ quan cứu hộ, trên tàu có tổng cộng 62 người, hiện số phận những người còn lại chưa rõ ra sao, theo Reuters. Trong khi đó, Bộ Thủy sản Hàn Quốc cho biết có 60 người trên tàu. Trong đó, có 1 người Nga, 11 người Hàn Quốc, 13 người Philippines và 35 người Indonesia, theo Reuters. Cũng theo Bộ Thủy sản Hàn Quốc, một người chết là người Hàn Quốc và các hoạt động cứu hộ gặp khó khăn do điều kiện thời tiết xấu. Ngọc Mai
  2. Quan chức Nga: Chiến tranh Trung-Mỹ chỉ còn là vấn đề thời gian Đông Bình 01/12/14 09:11 Thảo luận (0) (GDVN) - Mặc dù Trung-Mỹ gần đây đạt được thỏa thuận về cơ chế lòng tin, nhưng chính điều đó phản ánh khả năng xung đột tiềm tàng giữa Trung-Mỹ, nhắc nhở hai bên... Tướng Nhật: "Không có Pháo binh 2 thì Hải quân TQ chỉ là bia ngắm" "TQ-Mỹ không thể tránh chiến tranh,Bắc Kinh đang mê hoặc dân chúng" Tác chiến trên không-biển và phương án đánh phủ đầu TQ của Mỹ "Nếu có chiến tranh Trung-Mỹ sẽ có chiến tranh hạt nhân toàn cầu” Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 11 tháng 11 năm 2014 Chiến tranh Trung-Mỹ chỉ là vấn đề thời gian Tờ "Nhân Dân" Trung Quốc ngày 29 tháng 11 dẫn trang mạng Đài tiếng nói nước Nga đưa tin, Chủ tịch Ủy ban các vấn đề quốc tế Duma Quốc gia Nga, Alexei Pushkov cho rằng, trong tương lai Trung-Mỹ có thể sẽ xảy ra xung đột quân sự. Trong cuộc họp báo ở Moscow ngày 27 tháng 11, ông Alexei Pushkov nói: "Trên phương diện chính sách ngoại giao, Trung Quốc đưa ra ngày càng nhiều yêu cầu mang tính độc lập, ngày càng ít để ý tới Mỹ. Rất nhiều người cho rằng, trải qua một khoảng thời gian, giữa Trung-Mỹ sẽ bắt đầu đối đầu chính trị không thể tránh khỏi". Ông cho rằng, sự thực các nhà lãnh đạo Trung-Mỹ ký kết thỏa thuận đề phòng xung đột quân sự ở Bắc Kinh "rất đáng để người ta thức tỉnh". Theo Alexei Pushkov: "Điều này có nghĩa là, họ cho rằng, các cuộc xung đột như vậy là có thể. Quả thực, có khả năng xảy ra xung đột, bởi vì máy bay trinh sát Mỹ luôn quanh quẩn ở gần không phận Trung Quốc trên bầu trời Thái Bình Dương. Hơn nữa, Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền đối với một số đảo ở khu vực này, những tuyên bố này đều nhằm vào đồng minh của Mỹ, ai biết tình hình sẽ phát triển như thế nào. Điều này đã có khả năng xảy ra xung đột". Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 11 tháng 11 năm 2014 Trung Quốc không minh bạch về quân sự Trang mạng tạp chí “Chính sách ngoại giao” Mỹ vào giữa tháng 11 cũng có bài viết cho rằng, Washington và Bắc Kinh gần đây đạt được thỏa thuận quân sự là để tránh vô tình làm leo thang tình hình, cuối cùng dẫn đến cục diện làm trầm trọng hơn xung đột. Bắc Kinh cho rằng, Mỹ tiến hành chuẩn bị cho khả năng xảy ra xung đột với Trung Quốc, vì vậy, Trung Quốc cũng đã chuẩn bị cho sự bất trắc này. Quan hệ căng thẳng hai nước không chỉ do Bắc Kinh nhanh chóng mở rộng ngân sách quân sự hoặc Mỹ thúc đẩy thực hiện chiến lược “tái cân bằng”, tiếp tục đầu tư ngày càng nhiều nguồn lực quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương; mà vấn đề lớn nhất là sự không minh bạch của Trung Quốc. Mặc dù quan chức Mỹ nhiều lần đề nghị, nhưng Bắc Kinh không sẵn sàng bàn về rất nhiều vấn đề quân sự quan trọng có thể giảm va chạm giữa hai bên, chẳng hạn quy mô và ý đồ tập kết lực lượng phản ứng nhanh của họ, sự phát triển công nghệ có thể làm suy yếu nghiêm trọng Hải quân Mỹ ở khu vực, sự tham gia của quân đội vào các cuộc tấn công mạng nhằm vào Mỹ. Hơn nữa, có lúc Bắc Kinh cắt đứt hoàn toàn trao đổi giữa quân đội hai nước như sau khi Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan vào năm 2010. Dư luận Mỹ ngày càng không tin tưởng đối với Trung Quốc, thậm chí có chuyên gia đề nghị bố trí thủy lôi ở bờ biển Trung Quốc để phong tỏa các cảng chính của Trung Quốc và phá hủy đường dây thông tin trên biển của Trung Quốc; điều lực lượng đặc nhiệm vũ trang cho dân tộc thiểu số khu vực miền tây Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 11 tháng 11 năm 2014 Nhưng, Trung Quốc cũng đã có hành động tương tự. Chuyên gia Trung Quốc kêu gọi Bắc Kinh nâng cao số lượng và chất lượng vũ khí hạt nhân để thu hẹp khoảng cách giữa Trung Quốc với Nga và Mỹ. “Mô hình mới” quan hệ nước lớn do Trung Quốc đưa ra hầu như cũng đã loại bỏ khả năng đàm phán kiểm soát quân bị, yêu cầu Mỹ chấp nhận sự thực Trung Quốc trỗi dậy. Cơ chế lòng tin quân sự không giải quyết triệt để vấn đề Tờ “Tầm nhìn” Trung Quốc dẫn tờ “Điều tra toàn cầu” Canada ngày 13 tháng 11 cho rằng, từ khi lên cầm quyền, trước tiên, Barack Obama đã triển khai bao vây Trung Quốc về ngoại giao và quân sự, nhằm bảo vệ sự thống trị của Mỹ ở toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chiến lược “điểm tựa châu Á” của Mỹ chính thức công bố vào tháng 11 năm 2011. Theo bài báo, Washington đã “đổ thêm dầu vào lửa” đối với tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, bao gồm tranh chấp nhóm đảo Senkaku giữa Trung-Nhật và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông giữa Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á. Sau cuộc gặp giữa ông Barack Obama và Tập Cận Bình ở California vào tháng 6 năm 2013, một số khu vực tranh chấp đã xuất hiện một loạt sự kiện, những sự kiện này đều có khả năng gây ra xung đột quân sự khu vực và đe dọa sự ổn định khu vực, xung đột khu vực có thể leo thang thành chiến tranh trực tiếp giữa Trung-Mỹ. Mỹ tăng cường hiện diện quân sự tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương Mỹ đang tích cực chuẩn bị về quân sự để chống lại lực lượng trỗi dậy ở châu Á, đã chuẩn bị triển khai 60% lực lượng không quân và hải quân ở châu Á để phục vụ cho chiến lược “tác chiến nhất thể trên không, trên biển” ở khu vực. Đây là một chiến lược dựa trên tấn công tên lửa, ném bom đường không và tiến hành phong tỏa trên biển đối với Trung Quốc. Do xung đột Trung-Mỹ chỉ là vấn đề thời gian, cho nên Washington đã nhiều lần thúc giục Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe làm dịu tình hình căng thẳng với Bắc Kinh, theo đó, gần đây, “cuộc gặp thoáng qua” giữa lãnh đạo hai nước Trung-Nhật đã được tổ chức bên lề Hội nghị cấp cao APEC 2014. Những xung đột tiềm tàng này buộc hai bên phải ký kết thỏa thuận về thông báo cho nhau các hành động quân sự quan trọng và bất ngờ gặp nhau trên biển, trên không ở vùng biển quốc tế. Tờ “Nhật báo phố Wall” cho rằng: “Trước đây, nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn phản đối lý giải thỏa thuận đụng độ quân sự giữa Trung-Mỹ thành quan hệ thù địch giữa Mỹ và Liên Xô”. Tuy nhiên, theo bài viết: “Trong 1 năm qua, hai bên nhận thức được họ không thể điều hòa sự giải thích khác nhau của hai bên đối với luật pháp quốc tế về các sự kiện trên biển, nhưng cũng không thể để các sự kiện bất ngờ của quân đội ảnh hưởng đến quan hệ tổng thể của hai nước”. Theo bài báo, “cơ chế lòng tin” quân sự mới không giải quyết căn bản vấn đề đối đầu giữa hai bên trước sự hung hăng của Trung Quốc. Đạt được cơ chế này là kết quả Washington nhiều lần kêu gọi Trung Quốc tiến hành minh bạch hơn về quân sự. Lầu Năm Góc hy vọng hiểu sâu hơn về năng lực quân sự của đối thủ tiềm tàng. Tập trận hải quân Vành đai Thái Bình Dương do Mỹ tổ chức, năm 2014 đã cho phép Trung Quốc tham gia Tại Bắc Kinh, Phó cố vấn an ninh quốc gia Mỹ tái khẳng định sự kiên trì lâu dài của chính quyền Obama, Bắc Kinh cần hoàn toàn phục tùng khuôn khổ địa-chính trị và quân sự “Mỹ thống trị châu Á-Thái Bình Dương sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai”. Bài học từ chiến tranh Triều Tiên Trang mạng “Lợi ích quốc gia” Mỹ vào cuối tháng 10 cũng nhắc nhở cần ghi nhớ bài học từ chiến tranh Triều Tiên giữa Trung-Mỹ vào năm 1950, khi đó các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã khó hiểu được thông điệp từ Trung Quốc, không hiểu quan hệ phức tạp giữa Liên Xô-Trung Quốc-CHDCND Triều Tiên, hiểu nhầm đó là thể thống nhất không có bất đồng chính trị. Về hành động quân sự, Mỹ hầu như không để ý tới sự cảnh báo xuất quân can thiệp của Trung Quốc, không thể hiểu được vai trò vùng đệm quan trọng của CHDCND Triều Tiên đối với Bắc Kinh và thực lực tổng thể của Quân đội Trung Quốc. Về quân sự, hiện nay, tình hình chính trị, xã hội và khoa học kỹ thuật để xảy ra chiến tranh mặt đất quy mô lớn ở bán đảo Triều Tiên như trước đây không còn tồn tại. Mỹ đã quen giao chiến với các đối tượng giỏi “chiến tranh hỗn hợp”, nhưng mấy chục năm qua, Quân đội Trung Quốc đã lâu không tham chiến. Đến nay, lực lượng mặt đất của Trung Quốc đang chuyển từ cơ giới hóa sang hậu cơ giới hóa, trong khi đó lực lượng không, hải quân đang hoàn thiện hệ thống tác chiến “chống can dự/ngăn chặn khu vực” rộng lớn nhất thế giới. Nếu tiếp tục xảy ra chiến tranh, Trung Quốc sẽ dùng phương thức chưa từng xảy ra trong chiến tranh Triều Tiên để thách thức quyền kiểm soát trên biển, trên không của Mỹ. Mỹ tăng cường hiện diện quân sự trên Biển Đông Bài học gây chú ý nhất và có ích nhất có lẽ liên quan đến kết cục chiến tranh vụng về. Sự trao đổi giữa Trung-Mỹ không thuận lợi, cộng với mối quan tâm của hai bên đối với uy tín của đối phương, thường để cho những vấn đề tương đối nhỏ bị phóng đại, làm cho chiến tranh lan tràn tới các lĩnh vực khác. Mỹ coi đó là chiến tranh đại diện càng làm cho vấn đề phức tạp hơn. Trong bất cứ cuộc xung đột nào trong tương lai, thậm chí là khi sắp xuất hiện leo thang tình hình hoặc vấn đề chính trị có liên quan đến danh tiếng, Bắc Kinh đều có thể gây chú ý toàn diện của Mỹ. Kinh nghiệm của chiến tranh Trung-Mỹ trước đây cần phải trở thành bài học sâu sắc cho các nhà hoạch định chính sách hai nước Trung-Mỹ. Chiến tranh Triều Tiên hoàn toàn không bất ngờ, sự tính toán nhầm và trao đổi không có hiệu quả làm cho cuộc chiến tranh vượt ranh giới cần thiết.
  3. Trung Quốc: Tham quan khai “ghế” bí thư giá hơn 16 triệu USD Thứ Hai, 01/12/2014 - 11:08 Dân trí - Nguyên bí thư thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, người bị kết án tử hình vì tham nhũng hồi năm ngoái, từng khai chiếc “ghế” của mình có giá 100 triệu nhân dân tệ (16,3 triệu USD), trong khi “ghế” phó thị trưởng có giá 10 triệu nhân dân tệ. Thông tin được tờ Bưu điện Hoa nam buổi sáng của Hồng Kông đăng tải, trích dẫn một bài viết trên Tân Hoa Xã đã bị gỡ bỏ không lâu sau khi xuất hiện. Nguyên phó chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc Từ Tài Hậu đang bị điều tra vì ăn hối lộ cực lớn Ai mua, ai bán? Bài viết có tiêu đề “Ai là người mua và ai là kẻ bán” được đánh giá là bất thường, bởi nó cho thấy tình trạng tham nhũng tại Trung Quốc là có hệ thống, đi ngược lại với quan điểm của giới lãnh đạo nước này đó là tham nhũng chỉ là sự suy đồi đạo đức của một số cá nhân. Và do chỉ là sai sót cá nhân, nên giải pháp đó là khai trừ đảng, đưa ra xét xử và tống giam những kẻ phạm tội. Tuy nhiên, nếu tham nhũng là vấn đề mang tính hệ thống, rõ ràng giải pháp không thể dừng lại ở đây. Theo bài viết, các cơ quan chống tham nhũng Trung Quốc đã nhận diện được 3 dạng người có thể “chạy chức”, đó là những người nóng lòng muốn thăng tiến, những người muốn được thuyên chuyển từ một đơn vị hay khu vực nghèo sang một đơn vị giàu có hơn, và những người chưa phải quan chức chính phủ nhưng muốn làm quan. Những kẻ bán là các quan chức cấp cao, đặc biệt là giới lãnh đạo chóp bu tại một vùng hoặc một đơn vị có thẩm quyền bổ nhiệm nhân sự. Cấp phó, và đôi khi là những quan chức đứng hàng thứ ba hoặc thứ tư tại mỗi vùng hoặc đơn vị đó sẽ nhận hối lộ để giúp người khác thăng tiến. Chạy ghế…trả góp Tân Hoa Xã thậm chí còn chỉ rõ nhiều phương thức “thanh toán” trong các thương vụ “mua ghế” và thời điểm hoạt động này diễn ra sôi động nhất. Trong khi một số kẻ chạy chức sẽ vay vốn ngân hàng để “đầu tư”, thì một số khác lại tìm kiếm sự “tài trợ” từ các doanh nhân, những người sẽ thu được lợi sau khi phi vụ chạy chức thành công. Một số khác thì dùng chính tiền nhận được từ các vụ tham nhũng hoặc hối lộ khác. “Người mua” cũng có thể thanh toán cho việc chạy chức của mình làm nhiều đợt, cho đến khi chính thức được bổ nhiệm vào vị trí mong muốn, không mấy khác những người mua nhà trả góp. Hoạt động “mua ghế” thường tăng lên ngay trước mỗi kỳ bầu cử và những đợt thay đổi nhân sự lớn trong đảng và đội ngũ lãnh đạo chính phủ Trung Quốc, có nghĩa là số lượng giao dịch thường nở rộ sau mỗi 5 năm. Thời điểm tốt nhất để hối lộ một quan chức cấp trên đó là khi họ đi nghỉ, khi một thành viên trong gia đình họ bị ốm, khi con của quan chức này đi du học nước ngoài hoặc trong những sự kiện quan trọng của gia đình họ như đám cưới hay sinh nhật. La Ấm Quốc nguyên bí thư thành phố Mậu Danh đã lĩnh án tử hình vì ăn hối lộ "khủng" Tiền càng nhiều ghế càng to Những vụ án tham nhũng bị phanh phui gần đây đã cho thấy rõ quy mô của các vụ “chạy chức”. Hồi năm ngoái, La Ấm Quốc nguyên bí thư thành phố Mậu Danh, tỉnh Quảng Đông đã bị tòa tuyên án tử hình sau khi nhận hối lộ hơn 100 triệu nhân dân tệ (16,3 triệu USD) từ 64 thuộc cấp muốn thăng tiến. Ông La đã khai ra một bảng giá cụ thể cho từng vị trí có thể “chạy”: 200.000 nhân dân tệ (32.587 USD) cho một vị trí ngành công nghệ, 2 triệu nhân dân tệ cho vị trí tại cấp sở, 10 triệu nhân dân tệ (1,63 triệu USD) cho vị trí phó thị trưởng thành phố. Thậm chí ngay cả “ghế” bí thư của mình cũng được La treo giá 100 triệu nhân dân tệ. Trong hai vụ việc gây chấn động khác, phó chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc, tướng Từ Tài Hậu, người từng là ủy viên Bộ chính trị cho đến khi về hưu năm 2012, và Cốc Tuấn Sơn, nguyên chủ nhiệm tổng cục hậu cần của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, cũng đã bị cáo buộc nhận hối lộ để đề bạt cho hàng trăm sỹ quan, thu lợi bất chính hàng chục triệu nhân dân tệ. Quy luật của thị trường này rất đơn giản, khoản “đầu tư” cho mỗi “chiếc ghế” càng lớn, mức độ sinh lời mà người mua mong muốn kiếm được càng cao. Các khoản tiền này cũng giải thích vì sao việc trở thành viên chức nhà nước là công việc được giới trẻ tại Trung Quốc đại lục khát khao nhất. Khảo sát cho thấy, có tới 76,4% sinh viên tốt nghiệp đại học nước này xem việc trở thành viên chức nhà nước là lựa chọn số 1. Trong khi đó ở các nước phát triển như Mỹ, Pháp hay Singapore, tỷ lệ này chỉ lần lượt là 3%, 5% và 2%. Thanh Tùng Theo SCMP ================== Mắc quá! Chịu! Hổng có chiền!
  4. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hạ chủ trương gây sự Thứ Hai, 01/12/2014 - 06:02 http://dantri.com.vn/the-gioi/chu-tich-trung-quoc-tap-can-binh-ha-chu-truong-gay-su-1001929.htm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hạ chủ trương gây sự của Bắc Kinh, yêu cầu chính phủ mở rộng hoạt động đối ngoại theo hướng hợp tác và ngoại giao, theo tin ngày 30.11. >> Trung Quốc dự định mở rộng khai thác dầu khí ở Biển Đông Ông Tập Cận Bình Khuya thứ Bảy 29.11, Tân Hoa Xã dẫn phát biểu chỉ đạo cuối tuần qua của ông Tập: "Trung Quốc nên quảng bá các giải pháp hòa bình về những bất đồng và tranh chấp giữa các nước thông qua đối thoại và tư vấn, phản đối việc cố tình sử dụng đe dọa vũ lực". Ông Tập nói tại một cuộc họp các lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Trung Quốc để bàn về chủ trương đối ngoại: Trung Quốc ủng hộ "một cách nhìn mới về an ninh bền vững, hợp tác, hiểu biết và vì quyền lợi chung". ... Việc ông Tập Cận Bình hạ chủ trương gây sự là dấu chỉ mới nhất, rằng Trung Quốc sẽ chọn các chiến thuật đối ngoại hòa dịu hơn, trấn an những nỗi sợ rằng sự phát triển kinh tế của Trung Quốc sẽ khiến nước này thể hiện quan điểm quân sự và ngoại giao cứng rắn hơn. Đầu tháng này, Trung Quốc nỗ lực nối lại quan hệ với Việt Nam, Philippines và Mỹ tại hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Bắc Kinh. Từ tháng 5, Trung Quốc cũng hứa chi hơn 120 tỉ USD ở châu Phi, Đông Nam Á và Trung Á, gồm quỹ 40 tỉ USD lập "Con đường tơ lụa" mới và lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á do Bắc Kinh đứng đầu với vốn ban đầu 40 tỉ USD. Ông Tập nói: "Chúng ta nên tăng cường quyền lực mềm, thể hiện ý tốt của Trung Quốc, và phát thông điệp của Trung Quốc đến với thế giới một cách hiệu quả hơn". Trung Quốc cũng "kiên định" với mục tiêu "toàn vẹn lãnh thổ, quyền lợi hàng hải và đoàn kết dân tộc"... Vài tháng qua, Bắc Kinh thể hiện quan điểm độc chiếm gần như toàn bộ Biển Đông giàu tài nguyên và là một trong những điểm nóng tranh chấp ở châu Á. Tuần rồi, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói Mỹ "có nhận định vô trách nhiệm", khi Mỹ kêu gọi Bắc Kinh ngưng các hoạt động trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đó là sau khi những bức không ảnh cho thấy Trung Quốc xây đảo nhân tạo trên bãi Đá Chữ Thập trong cụm đảo Trường Sa của Việt Nam. Theo Bảo Vĩnh Một Thế giới ==================== Lời nói của ngài Tập sẽ rất đáng được tin cậy, nếu như ngài long trọng tuyên bố chủ quyền biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng cá nhân tôi sẽ chưa thể tin ngài khi ngài vẫn tuyên bố bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và coi Trường Sa, Hoàng Sa của Trung Quốc. Nếu không thừa nhận đường lưỡi bò do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc vẽ ra năm 1948 là sai lầm thì những phát biểu của ngài Tập chỉ là sự thay đổi sách lược để đạt mục đích. Cũng nhân danh cá nhân, tôi chỉ có thể tin vào sự hữu nghị giữa hai dân tộc khi người Trung Quốc thừa nhận Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử - Như thời trước năm 1971.
  5. Tình hình rất nóng ở Hồng Kông: bệnh viện sẵn sàng tiếp nhận số đông người bị thương Đăng Bởi Một Thế Giới - 21:33 30-11-2014 Người phản đối quyết tâm kéo dài cuộc "Chiếm trung tâm" Tình hình rất nóng ở Hồng Kông (HK) khi cảnh sát báo trước sẽ có thể phải dùng đến các biện pháp mạnh. Các bệnh viện đã sẵn sàng tiếp nhận số người bị thương đông bất thường. Nhóm phản đối, đòi dân chủ ở Hồng Kông hiện đang tập kết đông đảo tại khu hành chính Admiralty trong đêm 30.11, sau khi Liên đoàn sinh viên HK (viết tắt LĐ) kêu gọi người ủng hộ nối dài cuộc phản đối vừa bước vào tháng thứ ba. LĐ cảnh báo giới ủng hộ rằng bất kỳ hành vi nào cũng có thể là cớ để cảnh sát “vịn” làm lý do “phải sử dụng vũ lực để ngăn chặn phá rối trật tự trị an”. Tình hình rất nóng ở Hồng Kông, khi cảnh sát HK tuyên bố sẽ “áp dụng biện pháp mạnh” nếu bất kỳ ai toan bao vây khu hành chính Admiralty, một sĩ quan nói vài giờ trước cuộc phản đối này. 7.000 cảnh sát đã được triển khai để đề phòng sự gia tăng phản đối “Chiếm trung tâm”, trong khi bệnh viện sẵn sàng nhận số thương vong có thể tăng bất thường. Cảnh sát triển khai 4.000 nhân viên đến khu lao động Mong Kok, trong khi 3.000 trực ở khu hành chính Admiralty, nơi LĐ kêu gọi gia tăng phản đối. Người phát ngôn cảnh sát Kong Man-keung nói ông biết các thủ lĩnh sinh viên đã kêu gọi người ủng hộ đem theo phương tiện đến điểm phản đối Admiralty trong đêm chủ nhật, như mũ bảo hiểm,ống nhòm,mặt nạ, dù và kêu gọi hành động, gồm bao vây khu làm việc của chính quyền đặc khu hành chính HK thuộc Trung Quốc. Ông nhấn mạnh cảnh sát không hề muốn bất kỳ ai bị thương, nhất là sinh viên. Một cựu thủ lĩnh sinh viên TQ có tên Wang và giấu tên họ, đã sống lưu vong sau sự kiện quân đội TQ đàn áp đẫm máu nhóm sinh viên biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 ở Bắc Kinh (TQ) nói với đài RTHK, rằng ông sợ sẽ có đổ máu ở cuộc tập kết phản đối tại khu Admiralty. Người này ở Đài Loan với tư cách chủ tịch nhóm Trường phái dân chủ mới nói: nếu xảy ra bạo lực, ông sẽ kêu gọi để buộc đặc khu trưởng Lương Chấn Anh phải hầu Tòa án hình sự quốc tế The Hague, về tội chống lại loài người. Đã có sự đồn đoán rằng người phản đối có thể chiếm khu trụ sở chính quyền, để buộc nhà cầm quyền phải ngồi lại vào bàn thương lượng về kế hoạch cải tổ bầu cử. Hôm qua, đài phát thanh Radio HK nêu phe phản đối có thể xâm chiếm các tòa nhà để “buộc” cảnh sát bắt giữ người phản đối và khóa khu Admiralty. Tương lai cuộc “Chiếm khu trung tâm” thể hiện ý đồ “bất tuân dân sự” đang bị soi kỹ, sau thăm dò 2 tuần trước nêu 83 % người HK không còn ủng hộ cuộc phản đối này. Nhưng người phản đối có lẽ hy vọng một sự đổi chiều, sau khi có kết quả bầu cử địa phương ở Đài Loan, vốn buộc Quốc dân đảng hiện thân Bắc Kinh phải chấp nhận thất bại. LĐ nói phải duy trì cuộc phản đối, để gây sức ép với chính quyền đặc khu và TQ phải giữ lời hứa cho người HK quyền tự do bầu cử vào năm 2017, cụ thể là bầu chức đặc khu trưởng. Hồi tháng 8, ban thường vụ quốc hội TQ ra nghị quyết, nêu một ủy ban đề cử sẽ chỉ chọn lọc vài ba ứng viên tranh chức đặc khu trưởng, tức đi ngược với lời hứa của Bắc Kinh hồi năm 1997, khi nhận lại xứ nhượng địa của Anh. Trần Trí (theo Bưu điện Hoa Nam, The Australian) =============================== Quả đúng là như vậy! Người Đài Loan nhận thấy Hồng Kong chính là một ví dụ sinh động cho chính sách "Một đất nước hai chế độ".
  6. Học giả Nga: Moscow nên tránh để Việt Nam thân Trung Quốc hay Mỹ Hồng Thủy 30/11/14 07:00 Thảo luận (0) (GDVN) - Cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam là đối tác độc quyền của họ, còn Nga có thể giúp Việt Nam thành một quốc gia trung lập vững chắc. The Diplomat: Bắc Kinh mà áp ADIZ ở Biển Đông lúc này là thất sách Tập Cận Bình và 3 mũi giáp công đẩy Mỹ khỏi châu Á Sân bay phi pháp ở Chữ Thập tạo đoàn kết chống Bắc Kinh bành trướng Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov. Học giả Anton Tsvetov thuộc Hội đồng Quan hệ quốc tế của Nga, phụ trách mảng truyền thông và quan hệ chính phủ ngày 24/11 phân tích trên trang web của Hội đồng Nga bình luận, mặc dù các văn bản chính thức của Moscow đều xem Hà Nội là một đối tác chiến lược quan trọng ở châu Á, thực tế mối quan hệ song phương sau sự tan rã của Liên Xô đã rơi vào trì trệ và tạo điều kiện cho Mỹ, Trung Quốc tìm kiếm chỗ đứng vững chắc ở Việt Nam. Với Nga một lần nữa mong muốn đạt được một sự hiện diện có ý nghĩa ở châu Á - Thái Bình Dương, lúc này là thích hợp để Moscow phân tích vai trò của quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam trong chiến lược khu vực của Nga. Quan hệ Việt - Nga xích lại gần nhau hơn nữa dường như chẳng liên quan gì đến lợi ích của Mỹ hay Trung Quốc. Học giả Anton Tsvetov đặt câu hỏi: "Đối tác chiến lược Nga - Việt là sự thật hay hư cấu? Quan hệ Nga - Việt có thực sự đáp ứng các tiêu chuẩn chính thức của một quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hay không?" Quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Nga - Việt, sự thật hay hư cấu? Học giả này cho rằng, hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng về "quan hệ đối tác chiến lược" nên việc trả lời câu hỏi này không đơn giản, nhưng dường như không có cảm giác xấu nào trong quan hệ Việt - Nga, kể cả về mặt nhà nước lẫn xã hội và người dân 2 nước. Điều 87 của Quan điểm chính sách Đối ngoại Liên bang Nga năm 2013 tuyên bố, Moscow theo đuổi mục tiêu "tăng cường quan hệ đối tác chến lược với Việt Nam" được thiết lập bởi một sắc lệnh của Tổng thống Nga tháng 5 năm 2012. Tài liệu này xếp Việt Nam đứng sau các nước Cộng đồng các quốc gia độc lập CIS, Trung Quốc, Ấn Độ, 2 miền Triều Tiên và Nhật Bản, mặc dù thực tế các văn bản chính sách năm 2012 xếp Việt Nam ở vị trí thứ 3 trong danh sách ưu tiên. Năm 2010, quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga được thêm 2 từ "toàn diện", trong khi Quan điểm Chính sách đối ngoại Liên bang Nga gọi mối quan hệ nước này với Trung Quốc là "toàn diện, bình đẳng, tin tưởng và dựa trên tương tác chiến lược". Mối quan hệ Nga - Ấn Độ được xác định là "đối tác đặc quyền". Điều đó cho thấy tồn tại nhiều cấp bậc khác nhau trong quan hệ đối tác chiến lược của Nga, và Việt Nam thì ở khá xa "đỉnh chiến lược". Nhưng nếu coi mối quan hệ đối tác chiến lược như một khả năng tương thích giữa các lợi ích quốc gia cơ bản, phương pháp tiếp cận tương tự với hầu hết các vấn đề hiện tại, tương tác trên các diễn đàn quốc tế thì quan hệ Nga - Việt gần như hoàn hảo. Tuy nhiên hai bên vẫn còn những điểm khác biệt, trong đó vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là một ví dụ. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì. Mối quan hệ đối tác chiến lược thường được đo bằng khối lượng thương mại và mức độ tổng thể của quan hệ kinh tế - thương mại. Trong lĩnh vực này quan hệ Nga - Việt với tổng kim ngạch thương mại hai chiều chỉ khoảng 3 tỉ USD, kém xa quan hệ thương mại Nga - Trung, Nga - Hàn và ngay cả Việt - Trung. Nga - Việt nên xem lại chiến lược không liên kết? Chính sách đối ngoại của Nga luôn ưu tiên cho việc tạo ra một môi trường tích cực cho phát triển kinh tế bền vững. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có liên quan, điều này có nghĩa là an ninh khu vực và sự ổn định có liên hệ với việc vùng lãnh thổ phía Đông của Nga hòa nhập vào hệ thống kinh tế Đông Á. Mục tiêu này của Nga sẽ đứng vững nếu Việt Nam trở thành một quốc gia có ảnh hưởng trong khu vực với một chính sách đối ngoại độc lập tương đối. Cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn Việt Nam là đối tác độc quyền của họ, còn Nga có thể giúp Việt Nam thành một quốc gia trung lập vững chắc. Một Việt Nam mạnh hơn trong khu vực và trong ASEAN có thể tăng cường chiến lược của hiệp hội này, phân phối đồng đều hơn ảnh hưởng của ASEAN như một khối trung lập được sự hỗ trợ của Nga. Trong bối cảnh cạnh tranh Trung - Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương ngày càng tăng, nguy cơ đối đầu trong khu vực ngày càng lớn, Nga dường như là một nước lớn theo đuổi chính sách cân bằng tương tự như chính sách của Việt Nam. Điều này khiến 2 nước chia sẻ một chương trình chung và Việt Nam có thể trở thành quốc gia đầu tiên "bay vào quỹ đạo Nga mà không phải thân Trung Quốc hay thân Mỹ". Nếu không phải Hoa Kỳ hay Trung Quốc thống trị ở châu Á - Thái Bình Dương, Nga và ASEAN tất nhiên thích ảnh hưởng của mình lớn hơn là vai trò của một bên trung lập. Nga cũng cực kỳ quan tâm đến việc duy trì nhu cầu đối với các công nghệ và sản phẩm mà Moscow có lợi thế cạnh tranh, bao gồm khai thác khoáng sản, năng lượng, hạt nhân, thủy điện, không gian, hợp tác quân sự quốc phòng. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Ở khía cạnh này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ, căng thẳng ở Biển Đông có thể "hữu ích" với Moscow khi họ thấy được sự quan tâm của người Việt đối với công nghệ quân sự và vũ khí của Nga. Đồng thời Moscow cũng không thể để các tranh chấp ở Biển Đông bùng phát thành một cuộc xung đột quân sự hay chiến tranh toàn diện. Sự đổ vỡ của hòa bình và ổn định ở Biển Đông thì tuyến hàng hải huyết mạch qua eo biển Malacca sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nền kinh tế châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và tất cả các quốc gia này là thị trường chính của Nga. Một cuộc đụng độ quân sự ở Biển Đông cũng gây ra sự phân cực trong khu vực khiến các nước hoặc là ngả theo Hoa Kỳ, hoặc là thân Trung Quốc, cả hai đều bất lợi cho Nga. =================== Cống hỉ, mét sì đây thuộc cả. Chẳng sang Tàu, tớ cũng đếch sang Tây. Ấy là cụ Tú Xương bảo thế. Trước mắt hãy cứ thế đã, sau này thì "quân tử tùy thời biến dịch". Nhưng Việt sử 5000 năm văn hiến phải được chứng minh tính chân lý và phải là chân lý phổ biến.
  7. Đại chiến giá dầu thế giới 30/11/2014 08:00 OPEC đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan: chấp nhận giảm sản lượng chẳng khác nào tiếp thêm sức cho các đối thủ sản xuất dầu đá phiến Bắc Mỹ và nhường thị phần cho họ, còn để giá dầu trượt dốc sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng ngân sách phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ dầu của họ. >> Giá dầu lại rớt thê thảm >> OPEC quyết không giảm sản lượng dù giá dầu giảm Tổng thống Mỹ Barack Obama thăm một giàn khoan dầu - Ảnh: AFP Cách đây chỉ 5 năm, nguồn cung dầu thế giới dường như sắp đạt đỉnh và do sản lượng khí đốt truyền thống sụt giảm ở Mỹ, nước này có vẻ sẽ phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu với giá cả đắt đỏ. Nhưng những dự đoán đó hóa ra hết sức sai lầm. Cách mạng dầu khí đá phiến Theo tạp chí Foreign Affairs, sản xuất năng lượng toàn cầu đã bắt đầu chuyển hướng khỏi những nhà cung cấp truyền thống ở khu vực Âu - Á và Trung Đông, khi các nhà sản xuất khai thác các tài nguyên dầu khí phi truyền thống trên khắp thế giới, từ các vùng biển ở Úc, Brazil, châu Phi và Địa Trung Hải đến Canada. Tuy nhiên, cuộc cách mạng lớn nhất đã diễn ra tại Mỹ, nơi các nhà sản xuất tận dụng hai công nghệ mới: khoan ngang (horizontal drilling) và fracking. Sự kết hợp hai kỹ thuật này cho phép khai thác các nguồn tài nguyên từng bị xem là không khả thi về thương mại như đá phiến. Nhờ vậy, sản lượng năng lượng gia tăng đáng kể. Từ năm 2007 - 2012, sản lượng khí đá phiến của Mỹ tăng hơn 50% mỗi năm và tỷ lệ của khí đá phiến trong tổng sản lượng khí đốt Mỹ tăng từ 5 - 39%. Các cơ sở từng được sử dụng để đưa khí đốt hóa lỏng nhập khẩu (LNG) đến người tiêu dùng Mỹ đang được cải tạo lại nhằm xuất ngược khí đốt ra nước ngoài. Từ năm 2007 - 2012, fracking cũng giúp gia tăng gấp 18 lần sản lượng dầu nhẹ, loại dầu chất lượng cao khai thác từ đá phiến hay sa thạch. Sự bùng nổ này giúp đảo ngược chiều hướng sụt giảm kéo dài của sản lượng dầu thô Mỹ, đồng thời đưa quốc gia này sắp trở thành siêu cường năng lượng. Từ năm ngoái, nước này vượt qua Nga để trở thành nhà sản xuất năng lượng hàng đầu thế giới và theo tính toán của Cơ quan Năng lượng quốc tế, vào năm tới, Mỹ sẽ chiếm vị trí nhà sản xuất dầu thô số 1 thế giới của Ả Rập Xê Út. Theo Foreign Affairs, dù có nhiều nước trên thế giới sở hữu trữ lượng đá phiến, nhưng khó nước nào lặp lại được thành công của Mỹ. Không chỉ cần có đặc điểm địa chất thuận lợi, cuộc cách mạng fracking còn đòi hỏi có các nhà đầu tư dám mạo hiểm, chế độ sở hữu cho phép chủ đất có quyền đối với các tài nguyên dưới lòng đất, một mạng lưới các nhà cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng phân phối, cơ cấu công nghiệp với hàng ngàn doanh nghiệp chứ không phải công ty dầu quốc doanh duy nhất. Nhiều nước có đá phiến, nhưng ngoại trừ Canada thì không quốc gia nào có được môi trường trường thuận lợi như Mỹ. Không chỉ tác động thương mại, cuộc cách mạng dầu khí ở Mỹ còn tạo những hệ quả địa chính trị sâu rộng. Bản đồ thương mại năng lượng toàn cầu đang được vẽ lại bởi lượng nhập khẩu của Mỹ tiếp tục giảm và các nhà sản xuất tìm thấy thị trường mới. Chẳng hạn, phần lớn dầu ở Tây Phi hiện chảy sang châu Á thay vì Mỹ. Sản lượng tiếp tục tăng của Mỹ sẽ gây áp lực lên giá cả dầu khí trên toàn cầu, từ đó giảm bớt đòn bẩy địa chính trị mà một số nhà cung cấp năng lượng từng nắm trong tay nhiều thập niên qua. Lời tuyên chiến của OPEC Sự bùng nổ sản lượng dầu khí đá phiến cộng với tăng trưởng kinh tế uể oải ở Trung Quốc và châu Âu là hai nguyên nhân chính khiến giá dầu sụt giảm hơn 30% kể từ tháng 6, do nguồn cung trở nên thừa mứa trong khi nhu cầu chững lại. Điều này đặt các nước OPEC, nhất là Ả Rập Xê Út, vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: chấp nhận giảm sản lượng chẳng khác nào tiếp thêm sức lực cho các đối thủ sản xuất dầu đá phiến và nhường thị phần cho họ, còn để giá dầu trượt dốc sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng ngân sách phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ dầu của họ. OPEC phải đương đầu với sự bùng nổ sản lượng dầu đá phiến - Ảnh: Reuters Theo Reuters, trong cuộc họp tại Vienna (Áo) ngày 27.11, Bộ trưởng Ali al-Naimi của Ả Rập Xê Út đã kêu gọi các thành viên OPEC phải đương đầu với sự bùng nổ sản lượng dầu đá phiến, khi lập luận rằng việc giữ nguyên sản lượng sẽ giúp ghìm giá dầu và đánh vào lợi nhuận của các nhà sản xuất Bắc Mỹ. Kết quả ông al-Naimi đã chiến thắng sự phản kháng từ các quốc gia OPEC nghèo hơn như Venezuela, Iran và Algeria. Mặc dù muốn giảm sản lượng chung của OPEC để đảo ngược đà lao dốc, bản thân các nước này không sẵn lòng thực hiện cắt giảm lớn nên rốt cuộc chọn cách tránh đối đầu với Ả Rập Xê Út. Bằng cách giữ nguyên trần sản lượng 30 triệu thùng/ngày, Ả Rập Xê Út và các nước vùng Vịnh đặt cược rằng giá dầu thấp sẽ buộc các nhà sản xuất dầu đá phiến Mỹ và các nhà sản xuất dầu chi phí cao khác phải giương cờ trắng và cắt giảm sản lượng vì không còn lợi nhuận. “Găng tay thách đấu đã được quăng ra cho các nhà sản xuất ở Tây bán cầu như Brazil, Canada và Mỹ”, Tập đoàn đầu tư Bespoke viết trong một bản tin gửi đến khách hàng ngày 28.11. “Chúng ta sẽ thấy giá hòa vốn thực sự là bao nhiêu”, Giáo sư Jason Bordoff, Giám đốc Trung tâm năng lượng toàn cầu thuộc Đại học Columbia (Mỹ) đề cập đến điểm mốc mà việc khai thác dầu bằng cách fracking trở nên phi kinh tế. Ông Bordoff cho biết các cơ sở sản xuất dầu ở Texas vẫn sẽ đứng vững với giá dầu từ 40 - 50 USD/thùng. Giá dầu thông thường West Texas Intermediate ở Mỹ hiện 66 USD/thùng. Tuy nhiên, theo chuyên gia tư vấn Philip Verleger, với giá dầu West Texas Intermediate thấp hơn 70 USD/thùng, các dự án mới sẽ trở nên ít hấp dẫn do các nhà đầu tư lo sợ giá dầu sẽ tiếp tục sụt giảm. Sơn Duân
  8. Quốc Dân đảng thảm bại, Mã Anh Cửu bật khóc Hồng Thủy 30/11/14 06:53 Thảo luận (0) (GDVN) - Trong số 22 ghế Thị trưởng, Huyện trưởng toàn Đài Loan, Quốc Dân đảng chỉ dành được 6 ghế. Mã Anh Cửu: Bắc Kinh nên thận trọng xử lý biểu tình ở Hồng Kông Mã Anh Cửu: Trung Quốc không nên khinh suất áp đặt ADIZ ở Biển Đông Tập Cận Bình: 1 nước 2 chế độ sẽ là mô hình "tốt nhất" cho Đài Loan Ông Mã Anh Cửu. Đa Chiều, tờ báo của người Hoa hải ngoại ngày 29/11 đưa tin, cuộc bầu cử lãnh đạo các địa phương quy mô lớn nhất Đài Loan đã có kết quả, Quốc Dân đảng thảm bại còn đảng Dân chủ Tiến bộ đối lập đại thắng khiến Mã Anh Cửu Chủ tịch đảng bật khóc. Trong số 22 ghế Thị trưởng, Huyện trưởng toàn Đài Loan, Quốc Dân đảng chỉ dành được 6 ghế, đảng Dân chủ Tiến bộ 13 ghế và 3 ghế còn lại dành cho các nhân vật không đảng phái. Trong đó 5 địa phương quan trọng rơi vào tay đảng đối lập gồm Đài Bắc, Đào Viên, Đài Trung, Đài Nam, Cao Hùng. Giang Nghi Hoa, Viện trưởng Viện Hành chính Đài Loan và Tăng Vĩnh Quyền, Thư ký Quốc Dân đảng lần lượt từ chức và được chấp nhận. Ngay trước cuộc bầu cử địa phương, khả năng Quốc Dân đảng thất bại đã được dự báo trước nhưng không ngờ kết quả lại "thảm" như vậy, Đa Chiều bình luận. Do đó với vai trò là Chủ tịch Quốc Dân đảng, Mã Anh Cửu nên chủ động nhận trách nhiệm lần này và từ chức Chủ tịch đảng, Đa Chiều bình luận. Có thể thấy 2 năm cuối nhiệm kỳ người đứng đầu đảo Đài Loan, Mã Anh Cửu sẽ gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các chính sách của mình. Mã Anh Cửu được cho là người có quan điểm thân Bắc Kinh, trong 2 nhiệm kỳ cầm quyền, quan hệ giữa 2 bờ eo biển Đài Loan đã được cải thiện đáng kể sau một thời gian dài căng thẳng dưới thời người tiền nhiệm Trần Thủy Biển. Tuy nhiên những chính sách hợp tác hai bờ gần đây vấp phải phản đối khá mạnh từ dư luận Đài Loan.
  9. Chìm tàu khiến hơn 700 người chết 16/09/2014 10:49 GMT+7 TTO - Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) ngày 15-9 tuyên bố hơn 700 người di cư chạy khỏi châu Phi và Trung Đông đã thiệt mạng trong các vụ chìm tàu cuối tuần qua. Bảo vệ bờ biển Malta cứu hộ cứu nạn các tàu tị nạn bị đắm - Ảnh: Reuters Theo Reuters, tai nạn chìm tàu tồi tệ nhất năm nay là vụ chìm tàu ngoài khơi Malta khiến hơn 500 người thiệt mạng vào cuối tuần qua. Hai trong số chín nạn nhân sống sót đã tiết lộ việc các tàu chở người tị nạn của họ gặp phải bọn buôn lậu. Nhóm tội phạm này đã yêu cầu những người tị nạn đổi tàu khi đang ở giữa Địa Trung Hải. Bị từ chối, nhóm buôn lậu đã đâm thủng tàu chở những người tị nạn này khiến con tàu bị chìm. “Khoảng 500 người trên tàu là người Syria, Palestine, Ai Cập và Sudan. Họ cố gắng di cư đến châu Âu” - người phát ngôn IOM Christiane Berthiaume thông tin. Bà Berthiaume cho biết trong tuần qua cũng xảy ra một vụ chìm tàu ngoài khơi bờ biển Lybia khiến khoảng 250 người thiệt mạng. Reuters cho biết chỉ có 26 người sống sót sau vụ chìm tàu này. Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn (UNHCR) cho biết có khoảng 130.000 người di cư mạo hiểm vượt biển để đến châu Âu trong năm nay, hơn gấp đôi con số 60.000 người trong năm trước đó. Con số do UNHCR công bố thể hiện rõ tình hình bất ổn tại các khu vực như châu Phi và Trung Đông khi số người mạo hiểm di cư tăng vọt. Có tổng số 3.000 người tị nạn chết ở các vụ đắm tàu trong năm nay. “Trừ khi chúng ta giải quyết những nguyên nhân gốc của các cuộc khủng hoảng này, bằng không con số người di cư chết hoặc mất tích sẽ tiếp tục tăng cao”, đặc sứ UNHCR Angelina Jolie chia sẻ. ANH THƯ Tin liên quan ​Lại chìm tàu chở gần 400 người di cư Ý tìm thấy 600 dân di cư trên biển, 30 người chết ngạt
  10. ​Tàu cá bị đâm chìm ở vịnh Bengal, 26 người mất tích 28/11/2014 15:54 GMT+7 TTO - Một người thiệt mạng và 26 người khác đang mất tích khi một tàu cá bị đâm chìm trên vịnh Bengal, Bangladesh sáng nay 28-11. Một tàu cá ở vịnh Bengal - Ảnh: thedailystar.com Nguồn tin từ lực lượng bảo vệ bờ biển cho Tân Hoa xã biết tàu cá "Bhandan" bị một chiếc tàu khác đâm trúng vào khoảng 3g sáng và chìm ngay sau đó. Một chiếc tàu có tên Shamudrajoy đã vớt được 3 người trên tàu cá, trong đó 1 người đã chết. 26 người khác vẫn mất tích. Hiện tàu Shamudrajoy đang tiếp tục tìm kiếm những người mất tích. Lực lượng bảo vệ bờ biển từ Chittagong cũng đã được điều đến để tham gia cứu hộ. Hai tàu hải quân BNS Samudrajoy và BNS Atandra cũng đang đến hiện trường. Nguyên nhân vụ việc đang được điều tra. Theo thông tin ban đầu, tàu cá bị tàu Basundhara-4 đụng phải khi đang trên đường đến Singapore. T.VY
  11. Xử phạt NXB Đồng Nai vì không thu hồi quyết định xuất bản sai PV (TTXVN/Vietnam+) lúc : 28/11/14 21:59 Ngày 28/11, Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông) đã có quyết định xử phạt Nhà xuất bản Đồng Nai 15 triệu đồng vì vi phạm hành chính trong hoạt động xuất bản. Cụ thể, Nhà xuất bản Đồng Nai không thu hồi các quyết định xuất bản số 154B/QĐ-ĐoN, 155B/QĐ-ĐoN,156B/QĐ-ĐoN do Nhà xuất bản này ban hành ngày 25/7/2014 khi đối tác liên kết là Nhà sách Cao Minh vi phạm hợp đồng liên kết xuất bản 3 cuốn sách: “Từ điển tiếng Việt - Mở rộng từ và câu dành cho học sinh lớp 1, 2, 3” - tác giả Khắc Trí, Trọng Tấn (biên soạn), “Từ điển tiếng Việt - Mở rộng từ và câu dành cho học sinh lớp 4” - tác giả Khắc Trí, Trọng Tấn (biên soạn), “Từ điển tiếng Việt - Mở rộng từ và câu dành cho học sinh lớp 5” - tác giả Khắc Trí, Trọng Tấn (biên soạn). Hành vi này đã vi phạm điểm b, khoản 3, điều 23 Nghị định số 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản. Các cuốn từ điển này bị yêu cầu thu hồi đã vì in sai nội dung được duyệt, chưa nộp lưu chiểu... Giữa tháng 11/2014, Cục Xuất bản, in và phát hành đã có văn bản đề nghị Sở Thông tin Truyền thông các tỉnh, thành phố phối hợp kiểm tra, rà soát và thu hồi 8 cuốn Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đồng Nai. Trong số này có 3 cuốn từ điển trên. Cục Xuất bản, In và Phát hành cũng đề nghị Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo hệ thống thư viện trên toàn quốc không lưu trữ, không luân chuyển, không phục vụ bạn đọc các cuốn từ điển nêu trên./. =================== Nhà xuất bản Trẻ thừa nhận sai sót trong vụ "Từ điển Vũ Chất" Chưa đến 50% số xuất bản phẩm lưu chiểu được đọc hậu kiểm Bàng hoàng từ điển Vũ Chất và chuyện hài ở Lương Tài
  12. Thưa quý vị và anh chị em. Cho đến hai ngày gần đây, tôi mới nhận được nội dung video về cuộc trao đổi tại quán cafe Trung Nguyên ngày 30. 8. 2014. Tôi xác định rằng: Video mà tôi đưa lên đây đã được (hay bị) biên tập lại và cắt rất nhiều lời phản biện của giáo sư vật lý lý thuyết Nguyễn Văn Trọng. Mặc dù, yêu cầu của tôi khi quay fim là ghi lại từng chi tiết. Nhưng phần còn lại của video này cũng ghi lại những nét chính của cuộc trao đổi này, để quý vị và anh chị em quán xét. Tôi sẽ trình bày rõ hơn những gì mà quý vị và anh chị em thắc mắc qua video này.
  13. Đoạn này vốn trong một topic khác. Nhưng vì thích hợp chủ đề nên tôi đưa vào đây:
  14. Tài sản ông Trần Văn Truyền:'Con tôi làm CA vẫn trắng tay!' (Tin tức thời sự) - Bên hành lang Quốc hội, ĐBQH Đỗ Văn Đương cho rằng, tùy theo mức độ vi phạm của ông Trần Văn Truyền để kiểm điểm làm rõ trách nhiệm. Tổng Thanh tra: Thu tài sản ông Trần Văn Truyền kịp thời Ông Trần Văn Truyền lặng lẽ nhận kết luận kiểm điểm Đánh giá cao việc Ủy ban kiểm tra Trung ương công bố kết quả và thu hồi tài sản của ông Trần Văn Truyền, nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ, ĐBQH Đỗ Văn Đương nói về các bước tiếp theo trong vụ việc này: "Ông Truyền thuộc diện Ban Bí thư quản lý thì trước hết Ủy ban trung ương kiểm tra. Còn nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì phải xử lý theo con đường nhà nước. Đã bị thu hồi thì rõ ràng anh phải sai, phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm vì sao anh có ngôi nhà đó? Anh có lợi dụng chức vụ quyền hạn không, có nhập nhằng hay không? Điều này kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nói rõ cùng với việc thu hồi thì phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm. Từ đó tùy theo tính chất mức độ mà xử lý theo quy định của pháp luật". Biệt thự ở Bến Tre đứng tên con trai ông Trần Văn Truyền Nhận xét về ý định mua lại căn nhà bị thu hồi của ông Trần Văn Truyền, đại biểu Đương cho rằng không nên xem xét việc này bởi "mua lại rất nhập nhằng khó giải thích", thay vào đó phải thu hồi tài sản này. Đối với căn biệt thự được xây cất với chi phí hàng chục tỉ đồng trên thửa đất rộng 16.600 m2 ở TP Bến Tre đang đứng tên con trai ông Truyền, một đại úy CSGT, ông Đỗ Văn Đương đề xuất nên làm rõ. "Một người còn trẻ mà có khối tài sản lớn đến vậy, ẩn sau nó là vấn đề không bình thường. Cũng có thể tài sản đó do thừa kế, hay bằng tài năng của con ông Truyền, thì cũng nên làm rõ". "Ngay cả con tôi, cũng trong ngành công an nhiều năm nay mà vẫn trắng tay, chẳng có gì", ông Đương nói. Trong khi đó, bàn về vụ việc ông Trần Văn Truyền, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Vị, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre, Anh hùng LLVTND kể, khi thấy ông Truyền mới xây biệt thự đồ sộ quá, không phù hợp ở quê nghèo nên gây dư luận xấu, ông và vài cán bộ nghỉ hưu khác đến đề nghị cán bộ xã nhắc nhở ông Truyền nhưng cán bộ xã không dám. Các ông gặp lãnh đạo tỉnh Bến Tre đề nghị góp ý với ông Truyền nhưng không có kết quả. “Cán bộ cao cấp coi dư luận không là gì mà không ai dám góp ý, vậy làm sao không mắc sai lầm cho được”, Thiếu tướng Vị lắc đầu. An Nhiên (Tổng hợp) ====================== Nhà này còn bị phạm cách "Bốc tinh phòng" nữa này Thiên Đồng.
  15. TƯ LIỆU THAM KHƯỶU =============== Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay Kỳ 84: Tiên tri về tương lai Trung Quốc (I): Những bảo vật trấn địa ở Tào Khê Đăng Bởi MỘT THẾ GIỚI 10:00 18-11-2014 Những tiên tri về tương lai Trung Quốc có mối liên hệ sâu xa với những tiên tri trong quá khứ tại thắng địa Tào Khê (Quảng Đông) – nơi lực lượng công an thời Mao Trạch Đông phái đến chiếm giữ gây chấn động mạng mạch nơi này vào năm 1951… Bể nước Thần linh thiêng ở chùa Nam Hoa bên suối Tào Khê, nơi xưa kia Lục Tổ Huệ Năng dạy Thiền cho thánh chúng Trong các bảo vật trấn địa (được khắc lên tấm bia dựng tại Tào Khê theo sắc chỉ của vua Đường Huyền Tông có “tín y truyền từ Tổ Bồ-đề Đạt-ma với y bát do vua Trung Tôn ban, chơn tượng (Lục tổ Huệ Năng) do Phương Biện đắp (…) thảy đều giao cho người coi tháp chăm sóc giữ gìn, vĩnh trấn Bảo Lâm”. Bảo Lâm là ngôi cổ tự dựng lên theo lời tiên tri cách đây 1.500 năm của đại sư Trí Dược. Ngài là vị cao tăng ở miền Tây Ấn Độ sang Trung Hoa năm 502, đến suối Tào Khê dừng lại, bụm tay vốc nước uống, khen: - Nước ở đây ngọt mát chẳng khác gì nước ở Tây Thiên Trúc, vậy thế nào trên nguồn suối này cũng là nơi thắng địa. Đúng như lời ngài, khi đại sư cùng các đệ tử ngược theo dòng nước lên đầu nguồn, thấy hiện ra dưới tầm nhìn cả vùng núi non xanh biếc với khí chất thanh tịnh lạ lùng. Ngài gọi dân làng Tào Hầu quanh đó lên Tào Khê, báo trước với họ: - Khoảng 170 năm nữa sẽ có nhục thân Bồ Tát đến nơi này diễn hóa pháp môn vô thượng, giúp số người đắc đạo nhiều như cây rừng. Vậy bây giờ nên lập một cảnh chùa, đặt tên là Bảo Lâm (đắc đạo giả như lâm, nghi hiệu Bảo Lâm). Vị quan địa phương đem chuyện ngài Trí Dược tâu về triều. Vua Lương Võ Đế chấp thuận, sai lập một ngôi chùa ở Tào Khê và ban cho tấm biển ghi tên chùa: Bảo Lâm (tức chùa Nam Hoa). Quả nhiên hơn 170 năm sau, Lục tổ Huệ Năng (vị Tổ thứ 6 của Thiền tông Trung Hoa và là vị Tổ thứ 33 truyền trực tiếp từ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni xuống) đến chùa Bảo Lâm năm 677, khai pháp môn vô thượng cứu người. Khi diễn nói về “Vô thượng đại niết-bàn – Viên-minh thường tịch chiếu”, ngài có nhắc đến tai họa trong “kiếp hỏa” (kiếp lửa bừng cháy thiêu hủy tất cả) như sau: Kiếp hỏa thiêu đáy biển – Gió thổi núi va nhau (Kiếp hỏa thiêu hải để – Phong cổ sơn tương kích). Nghĩa là sẽ đến thời nào đó lửa nóng bao trùm khắp nơi, nước dưới đáy biển sôi lên sùng sục, gió thổi các ngọn núi bay lên khỏi mặt đất va chạm vào nhau vỡ nát. Tất cả sẽ được báo trước bằng những cơn động đất, cái chết đầy trời, hiếm ai còn sống sót. Về cảnh động đất (giữa thế kỷ 20) được hòa thượng Hư Vân – người chỉnh sửa phong thủy, xoay lại hướng chảy của dòng sông trước mặt Tào Khê (chùa Nam Hoa) thuật lại: * Động đất ở Côn Minh: “lúc 12 giờ đêm ngày mồng hai tết, tháng giêng năm Nhâm Tý (1912) bỗng xảy ra trận động đất dữ dội: tường thành, nhà cửa, phòng ốc… đồng loạt đổ sạch, người chết rất nhiều (…) tôi cũng đi theo, cùng mang dụng cụ đến để phụ đào lấy thây người trong đống đổ nát. Trải qua 5 ngày, số thi thể người lớn, trẻ em lấy ra được tổng cộng hơn 800. Trong đó có 84 cặp vợ chồng đang ngủ bị nạn. Có đôi vợ chồng bị chôn vùi nằm dưới đống đổ nát ngót mấy ngày, vậy mà khi được cứu lên vẫn còn sống và chẳng hề bị chút thương tích”. * Động đất ở Đại Lý: Năm 1914, lúc hòa thượng Hư Vân 75 tuổi đã “sang biên giới Tây Tạng tham quan 13 ngôi chùa của các vị lạt-ma”. Ngài viết: “năm này tôi đang giảng kinh tại Long Hoa Sơn, thì 4 huyện trong phủ Đại Lý phát sinh địa chấn kinh hồn. Tại Đại Lý là nặng nhất: nhà cửa thành quách đều nhất loạt sụp đổ không còn gì. Chỉ có chùa viện, bảo tháp là không đổ, vẫn đứng yên như cũ. Trong cơn địa chấn, đất rung chuyển nứt nẻ trầm trọng, còn phát sinh lửa cháy ngùn ngụt tràn lan. Người ta tranh nhau chạy lánh nạn, thì dưới chân đất bỗng nứt ra, làm họ bị lọt xuống mắc kẹt trong đó, họ cố hết sức trèo lên, nhưng vừa ló được cái đầu thì đất liền khép lại, cắt đầu đứt lìa thân thể họ, nằm mắc lại trên đất. Cảnh tượng hãi hùng nhìn giống như người đang sống mà bị hãm trong địa ngục lửa thiêu, thảm đến mắt chẳng nỡ nhìn. Mấy ngàn hộ dân trong thành tử nạn gần hết, sống sót rất ít. Trong đây có hai tiệm vàng: Tiệm Vạn Xương của họ Triệu và tiệm Trạm Nhiên của họ Dương - khi lửa cháy đến nhà hai gia đình này thì tự tắt. Chỗ họ ở cũng không hề bị địa chấn. Nhân khẩu mỗi nhà có mấy mươi người, nhưng tất cả đều bình an vô sự. Nguyên do là hai họ này, đời đời ăn chay trường và hay làm phước bố thí nên mới chiêu cảm được quả lành hy hữu như vậy. Ai biết chuyện cũng đều xúc động” (Hư Vân niên phổ - sđd Kỳ 49-50-51, tr. 131 & 134). Chuyện quá khứ là vậy. Chuyện tương lai cũng được thiền sư Hư Vân báo trước. Tiên tri cũng từa tựa như những “chuyện khó tin”, song nhiều chuyện khó tin đã “là sự thật”. Xưa kia, ngài Di Lặc nói: trong một cái búng ngón tay có đến 32 triệu tế niệm (tức là những ý nghĩ vi tế khởi lên trong tàng thức của mỗi người). Trước con số khổng lồ như vậy, không một ai có thể kiểm tra hoặc kiểm soát được chúng bằng kinh nghiệm giác quan, bề dày tri thức, hoặc bằng nghị lực thông thường của mình được. Cũng như không ai có thể nhìn thấu suốt đường đi của ánh sáng đang di chuyển trước mặt mình với một tốc độ “siêu nhanh”: hơn 330.000km trong một tích tắc giây. Các tiên tri nảy sinh từ những chiêm nghiệm bên ngoài (kết hợp chiêm tinh học) như ở Tây Tạng. Nhưng, tiên tri cũng có thể xuất phát từ bên trong tự tánh như trường hợp kể trên ở Trung Quốc (đại sư Trí Dược). Thêm một trường hợp khác, ngài Huệ Năng báo trước: “Sau khi ta tịch diệt chừng 5-6 năm, sẽ có một người đến lấy đầu ta. Hãy nghe lời sấm này: Đầu thờ cha mẹ – Miệng cần miếng ăn – Gặp nạn tên Mãn – Dương, Liễu làm quan (Đầu thượng dưỡng thân – Khẩu lý tu san – Ngộ Mãn chi nạn – Dương, Liễu vi quan). Sau khi Ngài nhập tháp (năm 713), tới năm Khai Nguyên thứ 10 (Nhâm Tuất 722, đời vua Đường Huyền Tông), nhằm nửa đêm ngày mùng 3.8, thình lình nghe trong tháp như có tiếng kéo dây sắt. Chúng tăng giật mình thức dậy, ngó thấy một người từ trong tháp chạy ra. Tìm thấy có vết thương từ nơi cổ sư, liền đem chuyện kẻ trộm trình lên châu huyện (…) ngày thứ 5, bắt được tội phạm”, khai tên Trương Tịnh Mãn “có nhận hai chục ngàn quan tiền của một vị Tăng xứ Tân La (thuộc Cao Ly, Triều Tiên ngày nay) để đi lấy trộm đầu của Lục tổ đại sư đưa cho vị ấy đem về xứ lễ bái cúng dường” (Pháp bảo đàn kinh – Đoàn Trung Còn và Huyền Mặc Đạo Nhân đồng dịch, Phật học tòng thư Sài Gòn 1972 – NXB Tôn giáo Hà Nội 2002). Rõ ràng, lời sấm của ngài Huệ Năng ứng với việc Trương Tịnh Mãn (gặp nạn tên Mãn) đến lấy trộm đầu nhằm thời Dương Khản làm huyện lệnh và Liễu Vô Thiểm làm thứ sử (Dương, Liễu làm quan). Các tiên tri trên được nhắc đến trong Pháp bảo đàn kinh – cuốn sách (pháp ngữ) duy nhất được gọi là Kinh – ghi chép những lời dạy của Lục tổ Huệ Năng về pháp vô thượng – vẫn đang được lưu giữ, hoặc đọc tụng, giảng giải tại tất cả các ngôi chùa theo thiền tông hiện nay ở Trung Quốc và Việt nam. Còn ở Tây Tạng, các câu tiên tri được khắc trên đá thường kèm theo hình vẽ vị trí các ngôi sao với những giải đoán về đường đi của các ngôi sao đó qua “bầu trời tương lai”. Ở đây, theo chỗ chúng tôi được mách bảo, vào một ngày Thìn, khi chòm sao Thiên Bình (Libra) bất ngờ di chuyển lệch qua hướng đông quá giới hạn bình thường và sao Cang Kim Long bị cuốn hút về phía chòm Trinh Nữ (Virgo) – thì dưới đất sông Trường Giang như con rồng khổng lồ nằm ngủ trên nền lục địa Trung Hoa thức giấc, quẫy mình. Con sông dài nhất của Trung Quốc này sẽ dậy sóng, mở đầu tai họa của một trận “hồng thủy” tràn ngập chân trời… (còn nữa) ­GIAO HƯỞNG =============== Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay Kỳ 85: Tiên tri về tương lai Trung Quốc (II): Tiến lên Lưỡng Quảng sơn hà ngày xưa Đăng Bởi Một Thế Giới 12:30 20-11-2014 Tào Khê và toàn tỉnh Quảng Đông ngày trước thuộc lãnh thổ Việt Nam: “Nếu (Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung Nam Hải) quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị lấn chiếm do chiến tranh võ trang (như Mao mong muốn) thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam toàn thể lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 trước C.N. bao gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Việt Nam” (Luật sư Nguyễn Hữu Thống – Hoàng Sa - Trường Sa theo Trung Quốc sử). Vua Quang Trung từng chuẩn bị xuất binh đòi lại hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm giữ Tài liệu trên ghi: Năm 181 trước CN, sau khi đánh thắng quân Tây Hán tại quận Trường Sa “Triệu Vũ Vương xưng đế hiệu là Nam Việt hoàng đế, ngang hàng với Hán cao tổ tại miền Bắc Trung Quốc”. Lam Giang Nguyễn Quang Trứ qua cuốn “Vua Quang Trung”, NXB Thanh Niên tái bản, Hà Nội 2004, viết: “Đất nước Nam Việt đã được vua Hán Văn Đế công nhận biên giới từ Ngũ Lĩnh trở về Nam. Thế mà, sau ngàn năm Bắc thuộc, đến khi khôi phục độc lập, người Việt vẫn không thu hồi được trọn vẹn phần đất Giao Châu, bỏ mất quận Hợp Phố, nói gì đến Quảng Châu gồm: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm”. Khôi phục lại phần lãnh thổ của nước Việt ở Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) là chuyện “nghĩ còn chưa dám huống chi làm! Nhưng vua Quang Trung dám dự định việc ấy. Ngài cho rằng Mãn Thanh bất quá chỉ là một bộ tộc hậu Kim mà thống trị cả Trung Hoa rộng lớn, thế thì tại sao Đại Việt lại không thu lại nổi bản đồ nước Nam Việt ngày xưa”. Vua Quang Trung thường nói với các quan thị giảng: “Không ai làm thì để ta làm cho mà coi!” (sđd. tr. 115). Gia Long và Quang Trung là hai vị hoàng đế thù địch nhau “một mất một còn”, song riêng việc Quang Trung - Nguyễn Huệ đòi Trung Quốc trả đất thì vua Gia Long ngỏ lời khâm phục hoài bão ấy: “Ngươi Huệ quả thật là một đấng anh hùng, việc không dám nghĩ tới mà y nghĩ tới!”. Hàng ngũ nho sĩ trí thức đương thời “cũng có nhiều người tán thành mưu đồ kỳ vĩ của vua Quang Trung, như Phạm Đình Hổ có câu: Vương sư bắc định Đông, Tây Việt – Gia miếu vô vong cáo nãi ông” (sđd. tr. 117). Lam Giang Nguyễn Quang Trứ phóng dịch: Ngày nào quân Việt chúng ta Tiến lên Lưỡng Quảng sơn hà ngày xưa Nén hương con cáo bàn thờ Suối vàng cha vẫn đợi chờ tin vui Để chuẩn bị “tiến lên Lưỡng Quảng”, vua Quang Trung không chỉ lo đường bộ mà còn nghĩ đến lợi thế đường biển. Sách Gia Khánh Đông Nam Tỉnh Hải Ký của Trung Quốc chép: Quang Trung “nhóm họp quân vong mệnh ở duyên hải, cấp cho binh thuyền, phong chức tước” thường đợi đến mùa hè nắng ráo kéo sang vùng Triết Giang, Phúc Kiến do thám, quấy phá: “mùa thu rút về, tông tích khôn lường, gây họa lớn cho tỉnh Quảng Đông”. Lại sai may 200.000 chiếc chiến bào, hẹn khi nào may đủ số sẽ xuất quân đánh sang Quảng Tây. Vua Quang Trung sai danh tướng Võ Văn Dũng cầm đầu sứ bộ Đại Việt sang Trung Quốc (thời vua Càn Long) để: 1. Cầu hôn công chúa 2. Xin đất để lập kinh đô mới (thực ra là đòi trả lại vùng lãnh thổ Trung Quốc đã chiếm đoạt của Việt Nam ngày trước). Cả hai việc đều được chấp thuận “vua Càn Long bằng lòng gả một công chúa Mãn Thanh cho vua An Nam (Quang Trung) và cho đất Quảng Tây để đóng đô” (sđd. tr. 117). Chuyện đang dở dang, vua Quang Trung đột ngột qua đời nên sứ bộ Võ Văn Dũng phải dâng biểu báo tin buồn “rồi ôm hận trở về” vì chưa khôi phục được chủ quyền Đại Việt ở vùng Nam Trung Quốc trong đó có Quảng Đông. Quảng Đông – nơi có thánh địa Tào Khê – và là nơi ngài Bồ-đề Đạt-ma (từ Ấn Độ sang Trung Quốc) đặt chân đến năm 520 (sau gần 3 năm lênh đênh trên biển). Khi Bồ-đề Đạt-ma có mặt tại Quảng Đông, hoạt động thiên văn học và tiên tri thành văn đã xuất hiện tại Trung Quốc từ lâu đời. Vào cuối nhà Thương, các nhà thiên văn và tiên tri cổ đại ngạc nhiên khi quan sát thấy 5 ngôi sao: Kim tinh, Hỏa tinh, Thủy tinh, Thiên vương tinh và Diêm vương tinh hội tụ nhau trên bầu trời ngày 28.5.1059 TCN. Họ tiên đoán một biến cố trọng đại sẽ xảy ra trong tương lai gần. Trong vòng chưa đầy hai thập niên sau, tiên tri đó phù hợp với sự xuất hiện của một danh nhân lịch sử kiệt xuất: Chu Vũ Vương. Lần khác, cũng 5 ngôi sao trên hội tụ một lần nữa ngày 29.5.205 TCN “báo trước sự sụp đổ của nhà Tần và sự đăng quang của nhà Hán”. Khi một vẫn thạch rơi vào thành phố Lạc Dương ngày 29.11.620, các nhà tiên tri cho biết: “theo như kinh nghiệm đã được ghi chép trong sách vở, hiện tượng trên báo trước cái chết của một tên nghịch tặc đang sống trong khu vực ấy, năm 620 lời tiên tri ứng nghiệm khi quân của Cao Tổ bao vây Lạc Dương và giết chết Vương Thời Trung” (Ts. Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh – Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc, NXB Tổng hợp TP. HCM, quý IV – 2004, tr. 134-135). Với ngài Bồ-đề Đạt-ma, những tiên tri lưu xuất thẳng từ bổn tánh (không thông qua chiêm nghiệm thiên văn) – như lời kệ của ngài: Ngô bổn lai tư độ Truyền pháp cứu mê tình. Nhất hoa khai ngũ diệp Kết quả tự nhiên thành. Phỏng dịch: Ta sang đất Trung Hoa. Truyền pháp cứu mê tình. Một hoa nở năm cánh. Kết quả tự nhiên thành. Câu tiên tri: “Nhất hoa khai ngũ diệp” đã ứng vào lịch sử phát triển của thiền tông Trung Hoa với sự xuất hiện năm thiền phái: 1. Lâm Tế, 2. Tào Động, 3. Vân Môn, 4. Pháp Nhãn, 5. Quy Ngưỡng. Trong năm thiền phái trên, phái thiền Quy Ngưỡng truyền đến đời Tổ thứ 8 là ngài Hư Vân (xem kỳ 49-50-51), rồi truyền trao Tuyên Hóa thượng nhân làm Tổ thứ 9. Lúc Mao Trạch Đông đưa lực lượng công an chiếm giữ chùa Nam Hoa (1951) thì hòa thượng Tuyên Hóa đã ra khỏi chùa (từ 1949) đến Hương Cảng, sang Mỹ và tiếp nối mạng mạch hoằng pháp ngoài biên giới Trung Quốc theo đúng lời tiên tri và sứ mệnh được giao. (còn nữa) ­GIAO HƯỞNG TIN LIÊN QUAN >> Kỳ 84: Tiên tri về tương lai Trung Quốc (I): Những bảo vật trấn địa ở Tào Khê >> Kỳ 83: Đức Đạt - lai Lạt - ma tiên tri và tái sinh >> Kỳ 82: Cái chết của Ban-thiền Lạt-ma và án tử hình ở Lhasa >> Kỳ 81: Xác ướp của các lạt-ma Tây Tạng >> Kỳ 80: Những bí ẩn dưới điện Potala =============== Để quý vị và anh chị em tiện theo dõi ký tiếp theo, Lão Gàn đưa đường link vào đây cho tiên việc khảo sát, tìm hiểu tư liệu: http://motthegioi.vn/quoc-te/mao-trach-dong-qua-bao-chi-trung-quoc-ngay-nay/ky-85-tien-tri-ve-tuong-lai-trung-quoc-ii-tien-len-luong-quang-son-ha-ngay-xua-123440.html
  16. BỐN NGÀN NĂM VĂN HIẾN © Giáo Sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC Vấn đề dân tộc Việt Nam có “bốn ngàn năm văn hiến” như các nhà văn hóa hiện nay đã tuyên bố khiến cho trong giới thanh niên trí thức thắc mắc và nghi ngờ, không biết hai chữ “văn hiến” có ý nghĩa gì, và căn cứ vào đâu để nói với cả một tin tưởng. Nguyễn Trãi, khi giúp Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh, xây dựng lại nền độc lập, tự trị của nước nhà cũng chỉ tuyên cáo với quốc dân: Duy ngã Việt chí quốc, Thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi phong vực kỳ thù Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Việt, Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương. (Bình Ngô Đại Cáo) Nghĩa là: Thử xét nước nhà Đại Việt Vốn thật một nước văn hiến Núi sông khu vực đã khác biệt Phong tục phương Bắc, phương Nam không giống. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần dựng nên nước ta Với Hán, Đường, Tống, Nguyên ai nấy làm chúa một phương. Đấy là Nguyễn Trãi, muốn cổ võ cho tinh thần quốc gia dân tộc mà cũng chỉ dám kể từ nhà Triệu, tự xưng là Nam Việt vương đóng đô ở Phiên Ngung ngày nay là Quảng Châu tỉnh Quảng Đông vào năm 237 tr.cn. Như vậy thì lấy đâu ra 4000 năm văn hiến? Nói đến Văn hiến là ngụ ý có văn chương bút ký và người hiền tài, có công trình xây dựng cho nước, cho dân mà đời sau còn tôn thờ làm Anh hùng Dân tộc. Nói “Bốn ngàn năm văn hiến” của Việt Nam chẳng hóa ra ngoa ngôn cuồng tín hay sao? Khổng Phu tử xưa kia nói đến nước Hạ, nước Âu cũng chỉ dám tuyên bố: Hạ lễ ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã. Ân lễ ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã. Văn hiến bất túc, cố dã! (Luận ngữ – Bát dật) Nghĩa là: Chế độ nhà Hạ ta có thể nói được mà nước Kỷ là dòng dõi nhà Hạ không còn gì đủ chứng lời ta. Chế độ nhà Ân ta có thể nói được mà nước Tống là dòng dõi nhà Ân không còn gì đủ chứng lời ta. Xem thế đủ thấy nhà sử gia có lương tâm của một người học giả phải thận trọng điều mình nói, mình viết là nhường nào! Nay nói “bốn ngàn năm văn hiến” có nghĩa là bốn ngàn năm nước Việt Nam đã có văn học và người hiền, vậy thì lấy gì làm chứng cứ? Lại theo quốc sử, vua Trần Nhân Tông khi sai Quốc Tuấn ra chận đánh quân Nguyên có ban cho câu thơ nhắc đến Việt tộc: Cối kê cựu sự quân tu kỳ Hoan Diễn do tồn thập vạn binh. Nghĩa là: Chuyện cũ ở kinh đô Cối kê của Việt vương Câu Tiễn, ông nên nhớ, Châu Hoan, châu Diễn (Thanh Hóa, Nghệ An) còn có mười vạn quân. Ở đây, Trần Nhân Tông đã nhắc đến dòng dõi nhà Trần ngược dòng lịch sử đến thời oanh liệt và nhục nhã của ông Tổ xa xăm là Việt vương Câu Tiễn, đóng đô ở Cối Kê miền Triết Giang bên Tầu. Theo “Sử ký Tư Mã Thiên” mục “Việt vương Câu Tiễn thế gia” q.41, ch.11: “Việt vương Câu Tiễn dòng dõi vua Vũ mà là con thứ của vua Hạ hậu Thiếu Khang (2079 tr.cn) được phong ở Cối Kê để thừa tự họ Vũ. Vẽ mình cắt tóc, phá cỏ rậm để lập ấp, sau hơn 20 đời đến Ô Doãn Thường. Doãn Thường bấy giờ cùng với vua Ngô Hạp Lư đánh nhau gây thành oán thù lẫn nhau. Doãn Thường mất, con là Câu Tiễn được nối ngôi làm vua Việt. Năm đầu vua nước Ngô là Hạp Lư nghe tin Doãn Thường đã chết mới kéo quân sang đánh nước Việt, Việt vương Câu Tiễn dùng mưu đem ba trăm tử tù đến trước cửa doanh vua Ngô, bầy hàng hô lên rồi tự đâm vào cổ chết. Quân vua Ngô ra xem, quân Việt nhân thế đánh tập kích quân Ngô, quân Ngô thua ở Tuy lý, quân Việt bắn trúng vua Ngô Hạp Lư, Hạp Lư bị thương rồi chết, bảo với con là Phù Sai rằng: “Không được quên mối thù đối với nước Việt!” Ba năm Câu Tiễn thấy vua Ngô Phù Sai đêm ngày luyện quân sĩ để báo thù nước Việt. Nước Việt muốn đánh Ngô trước khi nước Ngô chưa động binh. Phạm Lãi can vua rằng: “Không nên. Tôi nghe dạy rằng binh đao là đồ dữ, đánh nhau là cái đức tính ngược, tranh dành là việc hèn mạt vậy. Âm mưu, bạo ngược, thích dùng khí giới dữ tợn, đem thân thí nghiệm vào công việc hèn mạt ấy là điều Thượng Đế ngăn cấm, kẻ làm điều ấy không có lợi ích!” Vua Việt nói: “Ta đã quyết định rồi!” Vua kéo quân đi đánh nước Ngô. Vua nước Ngô được tin mới đem quân tinh nhuệ đánh quân Việt bại ở Phù tiêu. Vua Việt mới thu quân còn lại 5000 người về giữ ở Cối Kê. Vua Ngô đuổi đánh vây Côi Kê. Vua Việt gọi Phạm Lãi lại nói: “Vì không nghe lời ông cho nên đến nỗi này, biết sao bây giờ?” Lãi tâu: “Đầy mà không tràn là đạo Trời, khiêm nhường là đạo người, tiết dụng là theo phép đất: Đưa đồ lễ hậu sang, lấy lời nói nhún nhường của khúm núm, không để cho lấy nước Việt mà tự đem thân mình sang hầu hạ!” Nếu căn cứ vào dòng dõi Việt vương Câu Tiễn thì theo bộ sử cổ điển nhất của Tư Mã Thiên, một sử gia danh tiếng thế kỷ I trước công nguyên thì chủng tộc Việt Nam bắt nguồn từ nhà Hạ bên Tàu (2205-1770 tr.cn) mà họ Hồng Bàng theo Việt sử có từ 2879 tr.cn, bắt đầu từ Kinh Dương Vương, truyền đến Hùng Vương tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Phong Châu theo sử cũ thì phía Đông đến bể, Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động Đình hồ, Nam tiếp giáp với Hồ tôn. (Việt sử tiêu án) “Việt sử lược” là bộ sử đầu tiên của Việt Nam cũng viết rõ hơn: “Xưa Hoàng Đế dựng muôn nước thấy Giao Chỉ ở xa ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được bèn chia giới hạn ở góc Tây Nam. “Đến đời Thánh vương nhà Chu (1024-1005 tr.cn) Việt Thường thị mới đem dâng bạch trĩ, sách Xuân Thu, gọi là Khuyết địa Đài ký (Lễ ký Đại Đái, Tiểu Đái chú) gọi là Điêu đề. “Đến đời Trung vương nhà Chu (696-682 tr.cn) ở bộ Gia Ninh (tức là Mê Linh nhà Hán. Phong Châu đời Đường quê hương của Trưng Trắc mà theo truyền thuyết là dòng dõi Hùng Vương) có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong thục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn (505-465 tr.cn) đã sai sứ tới dụ, Hùng Vương chống cự lại. “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu. “Cuối đời Trần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm Nam Hải, Tượng Quận, xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung, quốc hiệu là Việt, tự xưng là Vũ Vương” (Việt Sử lược I, 1b) Trong các đoạn văn sử kiện chính thức của Tàu và Ta thì có điểm nào là sự thực, điểm nào là truyền thuyết? Ông giáo sư Henri Maspéro, trường E.F.E.O, Viễn Đông bác cổ học viện, có căn cứ vào hai chữ Văn Lang để mô tả xã hội xưa của giống người Việt trên đất Giao Chỉ. Truy nguyên hai chữ Văn Lang, H.Maspéro viết: “có sự lầm lẫn giữa chữ Văn Lang với chữ Dạ Lang. Sự sai lầm không phải hoàn toàn là một giả thuyết; những bản văn chứng rằng sự lầm lẫn đó đã xảy ra thực. Sách “Thông điển” viết: “Phong châu là nước Văn Lang cũ và chú thích rằng hiện nay có con sông con gọi là sông Văn Lang” (q.184 tr.25b). Sách “Nguyên hòa quận huyện chí” lại viết: “Phong châu là tên nước Dạ Lang cũ. Thực vậy, hiện nay thuộc huyện Tân Xương có con sông Dạ Lang. thế mà vào khoảng đầu đời nhà Hán có một nước Mèo ở về phía Nam Trung Hoa tên gọi là Dạ Lang chiếm một phần tỉnh Quảng Tây và Quế Châu. Về phía Tây giáp nước Điều của người Lô Lô miền Tây tỉnh Vân Nam bấy giờ, phía Đông hồ Vân Nam. Nhưng người ta biết rằng nước Mèo đã quy phục nhà Hán năm 111 tr.cn và gọi là Kiện Vi. Sau này quận đó chia làm hai, quận Kiện Vi ở phía bắc và quận Thương Ngô ở về phía nam. Nếu muốn biết rõ biên giới của hai quận này thì cũng không khó khăn lắm. cuối đời Tiền Hán, quận Kiện Vi phía Bắc và phía Tây giáp sông Dương Tử giang ngăn quận Kiện vi với quận Ba. Còn quận Thương Ngô thì phía Bắc giáp quận Kiên Vi, phía Tây giáp quận Tấn Ninh tức là nước Điền cũ, phía Đông Bắc giáp quận Vũ Lăng tức là quận Kiến Trung đời nhà Tấn. Ở đó có hồ Động Đình” (H.Maspéro, Le royaume de Văn Lang, BEFEO t.XVIII 3, 1918) “Vậy người ta có thể nói rằng, nước Dạ Lang một mặt thì giáp quận Ba Thục và một mặt thì giáp hồ Động Đình”. Đấy là Văn Lang về khu vực địa lý. Maspéro còn truy nguyên Văn Lang về ý nghĩa chủng tộc nữa như sau: “Nhưng cái tên Văn Lang ở đâu mà ra? Một tên không thấy nói đến trong văn chương đời xưa cho tới thời Đường xuất hiện một cách đột nhiên, và lúc bấy giờ đã bị lầm với tên Dạ Lang. Phải chăng người ta tự hỏi cái tên đó là do một sự lẫn lộn khác? Sách “Lâm ấp ký” đặt về phía Nam huyện Chu ngô trong hạt Nhật Nam, nơi có giống mọi gọi là Văn Lang (sách Thuỷ kinh chú, Thái bình hoàn vũ ký cũng có ghi như thế). Họ không biết xây nhà, ở trên cây, ăn cá và thịt sống, buôn bán các chất thơm. Họ lấy tên họ đặt cho con sông phía Nam huyện ấy. Văn Lang Cứu…. Sau này họ lại lầm Văn Lang với Dạ Lang thành thử họ cho Văn Lang ở quận Phong thuộc địa phận huyện Bạch Hạc và Việt Trì ngày nay, đồng thời lại viết lầm hai chữ mà sử gia Việt Nam đã chép theo”. Đoạn văn suy diễn trên đây của Maspéroo toàn là suy từ giả thiết lầm chữ nọ ra chữ kia của người xưa, thật cũng khó cho chúng ta tin, duy có chữ Văn Lang là tên một giống người ở phương Nam Trung Hoa là đáng cho chúng ta để ý. Sách sử ký của Tư Mã Thiên chép lại đoạn văn ở Chiến Quốc sách (q.6 tờ 21) thế kỷ thứ III tr.cn: “tiễn phát văn thân thố tí tả nhậm Âu Việt chi dân dã” (Sử ký q.43 tờ 9). Sách Hoài Nam tử (q.1 tờ 4) cũng có đoạn viết về tục người Việt, và là tài liệu xưa nhất về ký chú: “Cửu nghi chi Nam lục sự quả nhi thuỷ sự chúng. Ư thi dân nhân bị phát văn thân dĩ tượng lân trùng”. Nghĩa là: “Phía nam Cửu Nghi (tức Thương Ngô) người ta làm việc trên bộ ít mà làm việc dưới nước nhiều. Bởi thế nên nhân dân cắt tóc ngắn, vẽ mình để bắt chước thuồng luồng”. Theo giáo sư La Hương Lâm là nhà sử học danh tiếng Trung Quốc hiện đại, trong tác phẩm “Bách Việt nguyên lưu dữ văn hóa”: Việt tộc thời cổ lấy cắt tóc vẽ mình “bị phát văn thân” làm dấu hiệu đặc trưng duy nhất. Mặc tử thiên “Cống Mạnh” “Việt vương Câu Tiễn phát văn thân”. Hàn Phi tử thiên Thuyết lâm: “Lũ vì lý chi dã, nhi Việt nhân tiện hành, cảo vi quán chi dã, nhi Việt nhân bị phát”: “dép gai làm giầy mà người Việt đi chân, the lụa làm mũ mà người Việt búi tóc”. “Hán thư địa lý chí” viết: “Nay Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Châu, Nam Hải, Nhật Nam đều là địa phận của người Việt, là sau vua Vũ, con thứ vua Thiếu Khang Đế, được phong ấp ở Cối Kê, vẽ mình cắt tóc để tránh cái hại về giao long, thuồng luồng, cá sấu”. Tóm lại, các sách cổ Hán văn đều ghi từ kỷ nguyên trước kỷ nguyên Thiên Chúa, ở phương Nam nước Tàu ngày nay có một giống người có tục vẽ mình, Văn Lang phân chia ra nhiều bộ lạc mà sử gia giáo thụ La Hương Lâm đã kê cứu: Ô Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Sơn Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Tây Ấu Việt, Việt Thường, Đan Việt, Đằng Việt, Điều Việt, Việt Tuỷ, Cứu Việt, Dạ Lang, Quỳ Việt v.v… Đấy là tổng danh Bách Việt vậy. Giáo sư L.E.Aurousseau trường Viễn Đông bác cổ cũng căn cứ cái tục Văn Lang, nghĩa đen là bộ lạc giống người vẽ mình để truy nguyên nói giống Việt, căn cứ vào đoạn văn Sử ký sau đây: “Tiễn phát văn thân thố tí tả nhậm Âu Việt chi dân dã” (Sử ký q.43 tờ 9) Nghĩa là: “Cắt tóc vẽ mình, khoanh tay, cài bên trái, đấy là tục của dân Âu Việt”. Và chú giải của Tư Mã Thành rằng: “Họ Lưu bảo ngày nay (đầu thế kỷ thứ VIII) người quận Châu Nhai và Đàm Nhĩ có Âu Việt”. Trương Thủ Tiết (737) giải thích: “Tôi nghĩ gọi là Âu Việt bởi vì dân ấy thuộc về Nam Việt. Theo “Dư Địa chí” thì Giao Chỉ là xứ Lạc Việt thời nhà Chu (841-256 tr.cn), đến thời nhà Tần gọi là Tây Âu. Vẽ mình, ngắn tóc để tránh rồng (cá sấu). Nếu người ta gọi là Âu Lạc phía Tây (Tây Âu Lạc) là cũng vì xứ ấy ở về Tây Nam quận Phiên Ngung. Việt với Âu Lạc đều họ Mi. Thế Bản nói người Việt họ Mi cùng với người Sở một tổ vậy.” Rồi Aurousseau suy luận rằng: “Đoạn văn sử ký Tư Mã Thiên với lời chú giải và văn trích dẫn rất đáng chú ý về nhiều mặt. Những nét phong tục phác họa ở đấy ứng dụng vào cho nhân dân miền Lưỡng Quảng và Bắc kỳ hiện nay vào thời thế kỷ thứ III thứ II tr.cn. Không có gì phân biệt giữa nhân dân trên lãnh thổ rộng lớn ấy cả. Điều ấy rất hợp cho các bộ lạc miền cực Nam là dân An nam tr.cn cho nên có thể kết luận là toàn thể nhân dân tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam là giống người Việt Nam trước thế kỷ II tr.cn. Một danh từ nhân chủng là Việt chỉ định tổng quát. “Mặt khác, một tên họ Mi thời ấy được xác nhận cho người Việt – Việt Quảng Đông và Việt Phúc Kiến. Như vậy có sự quan hệ mật thiết về dòng dõi giữa nhân dân Phúc Kiến và nhân dân các xứ Việt Nam vào thế kỷ thứ III tr.cn. “Danh từ Việt vào giữa thế kỷ thứ IV trước kỷ nguyên Thiên Chúa còn ứng dụng cho một nước mà kinh đô ở tại tỉnh Thiệu Hưng (Triết Giang) ngày nay. Theo tôi hiểu thì nhân dân của nước ấy là nước Đại Việt thuộc về nòi giống Việt phương Nam tức là giống người Việt Nam vậy. “Thực thế, Tư Mã Thiên nói ở thiên sách sử ký về “Việt thế gia!”: Tổ Câu Tiễn là dòng vua Vũ… Văn thân đoạn phát… Danh từ “văn thân đoạn phát” đúng như danh từ được dùng “Chiến Quốc sách” (thế kỷ III tr.cn) ở sử ký (cuối thế kỷ II tr.cn) và ở “Tiền Hán Thư” (thế kỷ I đầu kỷ nguyên) để nói về phong tục giống nhau của giống người Việt, Việt phương Nam và Âu Việt tức Việt Nam. “Một tác phẩm khác cổ xưa, chuyên nói về sự suy bại của nước Việt là “Việt tuyệt thư” (thế kỷ I kỷ nguyên tây lịch) cũng nói ở mục Bản sự rằng: “Vua Việt Câu Tiễn, ở miền duyên hải phía Đông và cai trị một dân mọi vẽ mình”. Cái tên Việt với tục “văn thân” giống nhau ấy là xác chứng danh từ Việt phổ thông chỉ định vào thế kỷ III tr.cn cho toàn thể chủng tộc nhân dân các tỉnh Trung Hoa miền Nam và các xứ Việt Nam. “Cùng một nhân chủng Việt, cùng một họ Mi và cùng một phong tục, như vậy phải kết luận rằng người Việt Nam nguồn gốc ở nước Việt xưa, thiết dựng tại miền Triết Giang từ bao giờ không biết và, lần đầu thấy ở trong lịch sử chính thức vào cuối thế kỷ IV trước công nguyên” (L.Aurousseau, La première conquête chinoise des pays Annamite (IIIè siècle avant notre ère) BEFEO, t.XXIX, 1929). Vậy có thể nói chắc rằng thời cổ xưa ở miền Nam nước Trung Hoa có một giống người theo tục vẽ mình gọi là “Văn thân, Văn Lang” phân biệt với giống người Hán tộc ở trên phía bắc Trung Hoa, trong lưu vực Hoàng Hà, còn lưu vực Dương Tử kể từ nước Sở trở xuống là khu vực sinh hoạt của Việt tộc Văn Lang, họ Mi gọi chung là Bách Việt, mà Việt vương Câu Tiễn ở kinh đô Cối Kê, miền Triết Giang đã từng có một thời đế bá oanh liệt. Bởi thế nên trong thơ “Sở từ” của Khuất Nguyên mới có lời ai oán, tiếc nhớ: Răng đen mình trổ dọc ngang. Và lời thơ của vua Trần Nhân Tông giữa lúc vận nước điêu linh đã nói cho thượng tướng thống lĩnh quân dân cứu quốc” Cối Kê cựu sự quân tu kỳ! Như đã dẫn trên để chứng minh nhà Trần vẫn nghĩ đến dòng dõi Việt tộc Câu Tiễn ở Triết Giang thưở xưa. Hơn nữa chính sử của ta đều chép về nhà Trần sự kiện sau đây: “Thượng hoàng (Nhân Tông) thường ra ngự cung Trùng Quang. Vua Anh Tông đến chầu có Quốc Công, Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói: Dòng nhà ta vốn sống nghề thuyền chài, đời đời hùng dũng ai ai đều xâm vẽ ở đùi. Đời nọ sang đời kia chuộng võ nghệ nên phải xem xâm vẽ đùi tỏ ra không quên gốc. Bấy giờ người thợ xâm mình đang chờ ở cửa để thừa hành mệnh lệnh. Vua Anh Tông liếc thấy Thượng Hoàng nhìn đi chỗ khác bèn bỏ về cung Trùng Hoa. Một lát sau Thượng Hoàng hỏi: Vua đâu? Tả hữu tâu rằng Vua đã về cung Trùng Hoa. Thượng Hoàng nói: Vua đã trốn chăng? Mới chỉ xâm mình cho Huệ Vũ Vương, Quốc Trân Vương, Hưng Đạo Vương ở đùi cái hình rồng “loa thoa”. Từ đấy về sau các vua nối nghiệp nhà Trần không xâm vẽ đùi nữa là bắt đầu từ vua Anh Tông vậy. “Buổi đầu lập quốc nhà Trần, quân sĩ đều cùng xâm hình rồng ở bụng, ở lưng và ở hai bên đùi, gọi là “thái long”, “vẽ rồng”. Bởi vậy mà lái buôn nhà Tống thấy dân Việt ta vẽ hình rồng vào thân mình mới bảo là giống thuồng luồng biển sợ hình rồng, thuyền đi biển gặp gió chìm đắm thì thuồng luồng không dám làm hại cho nên tự gọi là “thái long, vẽ rồng” vậy”. Xem đấy đủ thấy rằng không những ở giới lãnh đạo những người hiền năng “văn hiến” thuộc người phương bắc di cư xuống Việt Nam, lai máu định cư ở đấy lâu năm với người bản xứ, mà còn có cả lớp người bình dân như dòng Việt tộc phương Nam Trung Hoa đã di cư xuống Việt Nam còn giữ những tập tục cổ truyền Văn Lang. Ngoài ra, bên cạnh cái nền Văn hiến dòng Việt Câu Tiễn trong nền Văn hiến Việt Nam kể từ thế kỷ thứ IV, thuộc về sử kiện lịch sử, ngày nay người ta lại chứng minh cách chính xác sự có thật của Văn hiến Ba Thục (Tứ Xuyên) trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Theo Lã Sĩ Bằng trong tác phẩm “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam” do “Đại học Trung văn” ở Hương Cảng xuất bản có trình bày sự kiện về tiền sử văn hóa Thục Việt như sau: “Qua sự khai quật khảo cổ cận đại, người ta thấy hai khu vực văn hóa trên rất giống nhau. Sự phát hiện về tiền sử ở Tứ Xuyên có thể phân ra 4 thời kỷ đồ đá: - thời đồ đã đẽo, - thời đồ đá truốt đẽo. - thời đồ đá đẽo - thời đồ đá mài sáng Trong bốn loại ấy, thì loại thứ 1 và thứ 2 thấy ở tầng lớp vị trí trước sau rõ ràng giống hệt với văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn ở Việt Nam. Như thế có nghĩa là thời đại Trung thạch khí (Mesolithic) ở Tứ Xuyên đến thời đại Á tân thạch khí (subsolithic) thì giống với văn hóa Việt Nam thời đại Hòa Bình Trung thạch khí, và thời đại Bắc Sơn nguyên tân thạch khí. Đại thể thì kỹ thuật thời tiền sử của hai khu vực văn hóa đó là một, có đường lối thông đồng. Chủ nhân của văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam thuộc về chủng tộc “Proto-Australoid” và “Proto-Melanésoid”, còn chủ nhân của văn hóa Bắc Sơn thành phần chủ yếu thuộc về “Indonesian” và “Proto-Melanésoid”. Về văn hóa thời đại Thanh đồng thuộc đồ kim khí ở Việt Nam gọi là văn hóa Đông Sơn lấy Trống đồng đại biểu cho nên gọi là văn hóa Trống đồng. Di tích phát hiện Trống đồng thấy ở một khu vực địa lý rộng lớn chu vi gồm lục địa Đông Nam Á, bán đảo hải đảo từ Tứ Xuyên cho đến quần đảo Malacca. Theo giáo sư Lăng Thuần Thanh từng nghiên cứu thì bắt đầu khởi đúc trống đồng là ở Trung Quốc Bách Việt mà Hoa trung là địa khu từ xưa của dân tộc Bách Việt chiếm cứ sinh hoạt. Theo sự phát hiện trống đồng tối cổ ở Hoa trung thì thấy nhiều nhất ở huyện Hưng Văn tỉnh Tứ Xuyên. Còn ở bán đảo Đông Dương thì trống đồng Lạc Việt ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ là có danh tiếng hơn cả. F.Heger, nhà khảo cổ học gọi trống đồng Lạc Việt thuộc hạng thứ nhất. Khảo về dân tộc Bách Việt thời cổ, bao hàm Bách Việt miền Đông Nam với Bách Bộc miền Tây nam Trung Quốc thấy rằng thời cổ xưa khu vực địa lý của nước Thục với Bách Việt vốn liền với nhau. Theo “Hoa dương quốc chí” q.3 Thục chí: “Vua Vũ nhà Chu đánh vua Trụ cùng với nước Thục. Đất Thục phía đông liền với nước Ba, phía Nam giáp với nước Việt, phía bắc phân giới với nước Tần, phía Tây gồm núi Ngọ và núi Phồn, đất ấy xưng là Thiên Phủ”. Nước Thục giao thông với bên ngoài rất phát đạt. Sự giao thông ấy lấy Điền (Vân Nam) và đất Kiềm làm chủ yếu, mà sự mở mang đất Vân Nam lại hướng vào nước Thục làm trọng tâm để buôn bán mậu dịch. Vân Nam với Bắc Việt liền tiếp với nhau, từ thời cổ xưa hai miền giao thông rất thịnh, cho nên thời cổ sự giao thông giữa Tứ Xuyên với Bắc Việt chắc hẳn là tấp nập. Bấy giờ miền hạ lưu sông Trường Giang chưa có ảnh hưởng khai hóa của Hán tộc, mãi đến thời Chiến quốc (dân mà người Hán gọi là man di phía Tây trong vùng Tứ Xuyên – Bắc Việt, và “Tây nam di ở Điền, Kiềm (Vân Nam, Quý Châu ngày nay), nước Tần, nước Sở đang đua tranh vũ lực để thôn tính, kết quả là vua nước Sở Trang Kiêu làm vua Điền (Vân Nam) nước Tần, chiếm lấy nước Ba, nước Thục, nước Kiềm tức Quý Châu. Theo Hoa dương quốc chí q.1 Ba chí viết: “Chu Thuận (Thuyến) làm vua 5 năm (316 tr.cn) vua nước Thục đánh chúa Tư, chúa Tư chạy vào nước Ba, nước Ba xin nước Tàu cứu. Vua Tần Huệ Văn sai Trương Nghi, Tư Mã Thác đi cứu nước Tư, Ba, bèn đánh nước Thục mà diệt đi. Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr.cn) nước Thục mất về nước Tàu, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr.cn) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt Nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tân dần dần đi xuống phương Nam, đi vào bắc bộ Việt Nam, cùng với vua Hùng nước Văn Lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu, vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn Lang. Về việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt, thì sách sử của Tàu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần. “Hoa dương quốc chí” q.3 mục Thục chí viết: Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm, quan đại phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô Uý Mặc cùng theo đường Thạch Ngưu đánh nước Thục. Vua nước Thục từ đất Hạ Manh chống cự, thất bại, vua chạy trốn đến đất Vũ Dương bị quân Tần giết hại. Tướng, Phó cùng Thái tử rút lui về Bàng Hương, chết ở dưới núi Bạch Lộc, họ Khai Minh mới hết, làm vua nước Thục 22 đời.” Lã Sĩ Bằng trong “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam” suy diễn sử kiện trên đây như sau: “Xét về việc vua Thục bị ở đất Vũ Dương, ngày nay là Bái Sơn vị trí ở phía nam Thành đô, tên bờ sông Manh khoảng giữa đến như Bàng hương núi Bạch Lộc ngày nay ở đâu thì hông thể tìm xét, chỉ nên hiểu là ở phía nam núi Bành, thế nhân vì quân Tần từ phía bắc xuống miền Nam, tập đoàn ngừơi Thục chống đối quân Tần bị thua mà hướng phương Nam để thoát lui vậy. Từ đấy về sau 59 năm có lịch sử đích thực là vua Thục Phán làm vua Việt. Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị bại ở Vũ Dương, quan Tướng, Phó, Thái tử đều chết ở núi Bạch Lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Qúy Châu và Vân Nam thuộc phạm vi thế lực người Sở… Nhưng khu đất giao tiếp giữa Quý Châu (Kiềm) và Vân Nam (Điền) thời Hán là Trường Kha là đất thuỷ lảo nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, và thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển về phương Nam tiến vào đất bình nguyên Bắc Việt, khí hậu ôn hòa, nông sản phì nhiêu, cùng với Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo Vương năm 518 (tr.cn 257) mới chinh phục được Văn Lang. “Sách sử Trung Hoa và Việt Nam đều có ghi nhận giai đoạn lịch sử giữa Thục Phán An Dương Vương đánh nhau chinh phục Hùng Vương” Xem thế đủ biết chắc chắn là có sự cống hiến vào văn hiến nước Việt Nam của nòi giống Bách bộc bên cạnh sự cống hiến của Bách Việt. Sự hiện diện của Bách bộc do Thục An Vương với tập đoàn nhà Thục từ Tứ Xuyên đi xuống qua Quý Châu và Vân Nam phía tây bắc Bắc Việt ngày nay mà di tích là kiểu thành Cổ Loa vốn của nước Ba Thục. Một khi đã chứng nhận có Thục An Dương Vương vào thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên Thiên Chúa thì phải công nhận có Hùng Vương của nước Văn Lang, là chủ nhân đất Bắc Việt trước khi tập đoàn vua Thục Phán chinh phục. Căn cứ vào kết quả của khảo cổ học của trường Viễn Đông Bác Cổ trước đây ở Thanh Hóa, Bắc Ninh (Bắc Việt Nam), và ở Óc Eo (Nam Việt Nam), giáo sư Olov Janse hội viên của Viện, đã tổng kết về “Việt Nam ngã ba của dân tộc và văn minh” (carrefour de peuples et de civilisations) ed France-Asie Tokyo 1961, tr.1645: “Theo một ý kiến thông thường trước đây thì văn minh Việt Nam hoàn toàn từ lưu vực sông Dương tử di chuyển xuống vào thế kỷ thứ IV tr.cn. Dân mới đến định cư tại Bắc Việt hiện thời đã mang theo một thứ văn hóa lai Tàu để rồi dần dần trở nên mô thức bản xứ. Thuyết ấy thiếu căn cứ, không dựa vào một cơ sở chắc chắn và không được hoặc khảo cổ học, hoặc ngữ học, hoặc nhân chủng học công nhận ấn chứng. Những phát hiện trong khoảng 30 năm gần đây chứng minh trái lại rằng văn minh Việt Nam đã tuần tự phát triển ở miền Bắc Việt và Trung Việt từ những pha trộn chủng tộc và những cống hiến văn hóa mà nguyên lai phải tìm không những ở Tàu mà là ở các biên giới phía Nam lục địa Á châu. Nếu người ta nghiên cứu về thời gian tính sự thành hình cá tính văn hóa thuần tuý Việt Nam người ta có thể phân thành được ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có một đặc tính kỹ thuật nhất định. Giai đoạn thứ nhất ngày nay gọi là văn minh Đông Sơn bao quát một thời đại giữa kỷ nguyên trước Thiên Chúa đến đầu kỷ nguyên sau Thiên Chúa. Về khu vực địa lý của kỹ thuật này thì thuộc miền tây nam Trung Hoa mà dân cư ở đấy không phải Tàu, bao hàm khắp bán đảo Đông Dương (Indochine) và một phần các xứ ngoại Ấn. Về Việt Nam thì văn minh Đông Sơn phần lớn của dân tộc Proto-Melanésoid Indonesian. Giai đoạn thứ hai là đặc trưng của kỹ thuật Lạch Trường bao quát đại khái ba thế kỷ trước và sau kỷ nguyên Thiên Chúa. Nó chi phối một khu vực không được giới hạn rõ rệt nhưng gồm một phần tây nam Trung Hoa Bắc Việt và một vài tỉnh trung Việt. Văn minh thời kỳ này là của chủng tộc phần lớn nguồn gốc Thái. Hai nhóm trên đây ảnh hưởng quyết định không những vào văn minh Việt Nam mà còn vào cả văn minh của nhân dân miền núi hiện đang sinh hoạt ở tây nam Trung Hoa và phần lớn miền Đông Nam Á. Giai đoạn thứ ba là văn minh Óc Eo mà đặc trưng là kỹ thuật thuộc thời kỳ đầu thế kỷ thứ II sau công nguyên cho đến năm 500. Nó bao quát một khu vực hãy còn chưa định rõ gồm miền nam Việt Nam và cũng phải đã ảnh hưởng ít nhiều vào các dân tộc sinh hoạt thời ấy theo bờ biển phía bắc đến tận Thanh Hóa. Văn minh Óc Eo thuộc hẳn về dân tộc Ấn Độ hay là Indo-Seythe (Nguyệt thị) hình như có giao dịch thông thương trực tiếp hay gián tiếp với miền Cận Đông và Đông La Hy”. Những suy đoán trên đây của nhà khảo cổ học về tiền sử Việt Nam trên dải đất Bắc Việt có vẻ chính xác hơn là những suy luận về tài liệu sử ký Tần. Tiếp tục công cuộc khảo cổ trên đây của trường Viễn Đông, Viễn Bảo tàng Hà Nội năm 1963 có phát hiện ở vị trí Văn điển gần Hà Nội những dụng cụ thuộc về thời kỳ “Nguyên tân thạch khí” (Upper Neolithic). Và ông Văn Tân đã suy đoán rằng: “Những hình dạng, kiểu thức và kỹ thuật sản xuất của chúng, cũng như những chất liệu nhắc lại những phát hiện ở Phùng Nguyên (Phú Thọ có đền Hùng). Vị trí của nơi phát hiện ở trung tâm trung châu chứng minh rằng 5000 năm về trước Tiên tổ chúng ta đã định cư tại đấy” (The beginnings of archaeology in the Democratic Republic of Việt Nam – Xunhasaba – Hanoi) Còn về thời đại đồ đồng thì những phát hiện mới đây ở Bắc Việt vẫn theo tài liệu ông Văn Tân dịch thuật ra Anh ngữ trên đây thì: “Một kho tàng gần 10.000 đầu tên nỏ bằng đồng đã khai quật ở Cổ Loa (kinh đô Thục An Dương Vương gần Hà Nội) ngày 17 tháng 7 năm 1959. Những đầu tên ấy đều lớn khổ, ba cạnh… Tất cả những đầu tên nỏ ấy đều tương tự với đầu tên của người Tàu thời Chiến Quốc (463-200 tr.cn). Ở vị trí Việt Tiên (Phú Thọ) phát hiện năm 1961 trong khoảng đất chu vi 400 thước vuông, người ta thấy những mảnh đất gốm, trang trí rất phong phú, mà đề tài thì tương tự với đề tài trang trí trên đồ khai quật được ở Phùng Nguyên. Hơn nữa, trong sự phát hiện thấy có đến 54,3% đồ bằng đá, điều này chưa từng thấy ởo các vị trí “thời đại đồ đồng” khác. Còn đồ đồng ở đây, phần lớn bị hủy hoại, thì đại khái là đồ nhỏ như lưỡi câu và vòng khuyên hoa tai. Chúng khác hẳn với những đồ phát hiện ở Đông Sơn, do đấy mà có thể kết luận rằng Văn minh Việt tiên (hay Phùng Nguyên) có trước thời Đông Sơn và các thời đồ đồng khác đã được khám phá ở Việt Nam. Tháng 9 ngày 14 năm 1960 sẩy bờ sông lở ở vị trí Dao Thịnh (Yên Bái, phía trên Phú Thọ) làm xuất hiện một cái cóng bằng đồng có nắp cao 0,84m và rộng 0.7m. Trên sườn có trạm trổ hình thuyền, người và chim (như ở trên trống đồng Đông Sơn) trên nắp có 4 đối tượng, đàn ông đàn bà đang giao hợp… Việt lở núi ngày 24 tháng 9 năm 1962 lại làm xuất hiện một cái trống đồng lớn. Theo giáo sư khảo cổ học ngừơi Nga là Boriskoswki đã hướng dẫn Viện lịch sử Hà Nội thì sự phát hiện vị trí Núi Do ở Thanh Hóa chứng minh miền ấy là một trung tâm văn minh thạch khí thời đại cổ nhất. Nó xác nhận cái giả thuyết khoa học cho rằng Việt Nam và toàn cõi Đông Dương là một khu vực có lẽ đã là một trong những cái nôi của nhân loại”. (thuật theo tài liệu đã dẫn trên) Kết luận của khảo cổ Bắc Việt hiện thời trên đây cũng phù hợp với kết luận của nhà khảo cổ Mỹ Wihelm G.Solheim đăng tải ở tạp chí National Geographic Vol 139 n.3 tháng 3-1971, dưới nhan đề “New light on forgotten past”: “Tôi đồng ý với Sauer rằng sự thuần thục các thứ cây ở thế giới đã là công trình của nhân dân thuộc văn hóa Hòa Bình ở một địa điểm Đông Nam Á. Tôi không thấy ngạc nhiên nếu sự kiện bắt đầu sớm nhất từ 15.000 năm trước dương lịch. “Tôi nghĩ rằng những đồ đá sắc cạnh có sớm nhất tìm thấy ở miền Bắc châu Uc 20.000 năm trước dương lịch nguyên lai thuộc Hòa Bình. Người ta hiện biết rằng đồ gốm sớm nhất là thấy ở Nhật Bản khoảng 10.000 tr.cn. Tôi mong rằng khi nào có nhiều phát hiện về văn minh Hòa Bình với đồ gốm có dấu dây thừng được quy định thời đại tính, bấy giờ chúng ta sẽ thấy loại đồ gốm ấy là do dân ở Hòa Bình chế tạo vào trước 10.000 tr.cn. “Thuyết tập truyền cho rằng tiền sử Đông Nam Á đã di chuyển từ phương Bắc xuống, mang theo những tiến triển quan trọng về nghệ thuật. Tôi thấy trái lại rằng văn hóa Nguyên tân thạch hệ (proto-neolithic) phía bắc Trung Hoa gọi là văn minh Yang-shao đã do trình độ thấp văn hóa Hòa Bình phát triển lên từ miền bắc Nam Á vào khoảng kỷ nguyên thứ VI hay thứ V tr.cn. “Tôi có ý kiến rằng văn hóa sau này được gọi là Lungshan mà người ta xưa nay vẫn cho nó xuất phát ở Yangshan phía bắc Trung Hoa, rồi mới bành trướng sang phía đông và đông nam, thì thực ra cả hai nền văn hóa ấy đều phát triển từ căn bản Hòa Bình. “Việc dùng thuyền độc mộc có lẽ đã được sử dụng trên các dòng sông nhỏ ở Đông Nam Á từ lâu, trước kỷ nguyên thứ V tr.cn. Tôi tin rằng việc di chuyển bằng thuyền ra ngoài bể bắt đầu khoảng 4000 tr.cn tình cờ đã đi đến Đài Loan và Nhật Bản đem theo nghề trồng khoai sọ và có lẽ các hoa màu khác. “Vào khoảng kỷ nguyên thứ III tr.cn các dân tộc Đông Nam Á đã lành nghề đi thuyền mới đi sang các đảo Nam Dương và Phi luật tân. Họ đem theo kiểu nghệ thuật kỷ hà học như các hình vòng tròn, xoáy ốc, hình tam giác và hình chữ nhật vẽ trên đồ gốm, trạm vào gỗ, xâm vào mình, quần áo bằng vỏ cây và sau đến là vải dệt. Đấy là những hình tượng thấy trên đồ đồng ở Đông Sơn (Thanh Hóa) mà có giả thuyết cho nó đã từ Đông Âu đưa đến. “Dân tộc Đông Nam Á cũng đã di chuyển sang phía Tây, đạt tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 trước. Có lẽ họ đã cống hiến một số cây thuần thục cho nền kinh tế miền Đông Phi châu. “Vào khoảng đồng thời ấy có sự tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Địa Trung Hải có lẽ qua đường biển do kết quả của việc thông thương. Một số đồ đồng ít thông dụng xác chứng nguồn gốc từ Địa Trung Hải cũng đã được tìm thấy ở địa điểm Đông Sơn”. Kết Luận Với những tài liệu của sử học và khảo cổ học sơ lược trên đây của học giả đáng tin cậy, có quan hệ đến cổ sử dân tộc Việt Nam chúng ta, nay có thể tạm kết luận về “Bốn ngàn năm văn hiến” của nền văn hóa dân tộc. Người ta không còn có thể hoài nghi về di tích Cổ Loa với tên nỏ bằng đồng và triều đại nhà Thục của An Dương Vương vào thế kỷ thứ III tr.cn. Như thế thì cũng không có thể phủ nhận cuộc chinh chiến giữa nhà Hồng Bàng của nước Văn Lang, nước người xâm mình ở di tích Phùng Nguyên tỉnh Phú Thọ, Yên Bái theo bờ sông Hồng Hà ngày nay. Văn hóa Phùng Nguyên đã có đồ đồng đặc biệt là cóng bằng đồng với hình thuyền và người chim trạm trước văn hóa Đông Sơn với đặc trưng biểu hiệu của Trống đồng. Đồ đồng ở đây có trước Trung Hoa 1000 năm, vậy thì Văn Lang, Hồng Bàng hay Lạc Việt ít ra phải có trên 4000 năm văn hiến kể tới nay. Đặc biệt với tinh thần truyền thống dân tộc là cái Trống đồng tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn Việt Nam đã từ một dụng cụ kỹ thuật biến thành một đối tượng tín ngưỡng tôn giáo Quốc gia như là một vị Thần linh. Quốc tổ bắt đầu với triều Lý để thành cái Quốc lễ long trọng hàng năm triều đình, từ Vua đến các quan chức đến trước Thần Núi Trống đồng “Đồng cổ sơn thần” để thề trung thành với tổ quốc. Theo Đại Nam nhất thống chí - tỉnh Thanh Hóa chép rằng: “Ngày xưa vua Hùng đi đánh Chiêm Thành, đóng quân ở núi Khả Lao, đêm mơ thấy thần báo mộng bảo vua: “Xin có cái trống đồng và dùi đồng giúp nhà vua thắng trận phen này!” Đến lúc ra trận thì thấy trên không văng vẳng có tiếng trống đồng rồi quả nhiên Vua được toàn thắng. Vua bèn sắc phong là “Đồng cổ Đại vương”. Đời vua Lý Thái Tông khi còn làm Thái tử (1020) vâng mệnh đi đánh Chiêm Thành, đêm mơ thấy một người mình mặc áo nhung, tay cầm bảo kiếm tâu vua rằng: “Tôi là Thần núi Đồng Cổ xin theo để lập công cùng Thái tử”. Tới khi bình định được giặc liền lập miếu để thờ. Sau khi thái tử lên ngôi lại mộng thấy Thần mang bài thơ đến bảo cho biết là có ba vị vương định gây loạn, sau cả quả nhiên có thật. Nhân thế mới phong chức “Thiên hạ minh chủ” thăng lên làm Thượng đẳng Thần, và hàng năm đắp đàn ở trước cửa đền sai các quan đến lễ và đọc lời thề: “Đạo làm dân một nước, làm con một nhà cốt ở luân thường! Làm con, mà bất hiếu, làm dân mà không hết lòng yêu nước, xin Thần linh ngầm xét, tiêu diệt cả họ!” Ngày nay, nghĩa là trước năm 1945, theo tường thuật của Victor Goloubew (BEFEO t.33-1933) chùa Đồng Cổ trên con đường đi Phủ Quảng, gần bến đò Yên Định sông Mã. Chùa là một ngôi Đình kiến trúc khá xưa. Cái trống đồng để thờ trong chùa ấy được đặt trên cái giá gỗ trạm và sơn son tại trong cung cấm đình trong, bề kính, 0.85m bề cao 0.58m. Bên cạnh Trống có cái biểu gỗ khắc chữ. Đây là bản dịch của Trần Văn Giáp: “Tại phía Tây tỉnh Thanh Hóa, ở làng Đan nê, huyện Yên Định có ngọn núi Đồng Cổ. Ba ngọn hình ngôi sao cho nên cũng lại gọi là núi Tam thai. Trong thung lũng, gần núi ấy có ngôi đền cổ thờ Thần. Núi mà uy linh đã nổi tiếng là huyền diệu. “Mùa xuân năm Canh Tuất (1790) theo mệnh của đức vua cha, tôi nhậm chức cai quản hạt tỉnh lỵ biên thuỳ này. Trong khi ấy dân miền núi nổi lên khiến tôi phải cầm quân hai lần dẹp giặc. Đi qua hạt này, tôi thường hay nghỉ chân trong đền và tôi có kêu cầu Thần linh. Nhờ quyền năng vô hình, quân cảu tôi tấn công được dễ dàng. Biết có thần linh đã che chở, tôi tra hỏi các bô lão trong làng để được hiểu biết ít nhiều về vị thần cũng như về cái Trống Đồng, nhưng thiếu tài liệu ký chú, tôi không được biết chi hết, thời giai đã nhòa tátcả di tích quá khứ trong ký ức mọi người. “Vào năm Canh Tuất (1800) hai ngày trước ngày hội vào 9 tháng 9 sự tình cờ khiến tôi tìm thấy trên bờ sông phía Nam một cái trống đồng, cao 0.56m và rộng 0.75m, còn nguyên vẹn, công trình khuôn đúc tỉ mỉ công phu nhưng về nguyên lai vẫn mù tịt. “Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802) trong khi đi giám sát,tôi lại đến bái yết ngôi đền, và khi trở về tôi có ra lệnh cho Quận công Tá trị Trương Hữu Tá và cho Xuân Hoa Nguyễn Xuân cho rước cái trống đồng để dâng cúng cho đền thờ Thần”. (Bản văn viết vào năm Bảo Hưng thứ 2 (1812) của em vua là Đức Tuyên, thanh tra chính trị tỉnh Thanh Hóa, do Trần Đình Hựu khắc viết vào gỗ bởi tay Quán quan sự Hoàng Đình Đồng). Ở trên núi Tam thai nói trên đây còn một tấm bia mới dựng để kỷ niệm ngày vãn cảnh chùa của ông Pierre Pasquier. Lời bia dịch ra như sau: “Trải qua các thế hệ chúng ta đã kính thờ thần Đồng cổ. Tiền nhân truyền lại cho chúng ta biết rằng vào thời Hùng Vương (265 tr.cn) nhà vua có cầm quyền dẹp giặc, và dưới triều vua Lý (1028-1253) để thuần phong mỹ tục nhà vua có lập tòa án để phạt kẻ phạm phép. Sơn Thần Đồng cổ là đệ nhất Thượng đẳng Thần cai quản thế gian và bảo vệ hòa bình, nhân loại. Nhờ những công lao phò trợ ấy mà các Đế vương các triều đại đã ban sắc phong cho Thần. Danh tiếng của Thần được lan truyền từ ba bốn ngàn năm nay, do đấy mà nhân dân sâu lắng chúng tôi đều muốn phụng thờ Thần linh quyền năng siêu việt”. Đấy là nét trọng yếu Thần đạo và Phật đạo, Đình với Chùa hợp nhất dung thông trong tin tưởng vào một nước”Bốn ngàn năm văn hiến” mà nhân dân Việt Nam ngày nay đòi trở về nguồn tổ Hùng Vương để biểu dương tinh thần dân tộc bất diệt vậy. © Giáo Sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC
  17. http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A1c_ng%E1%BB%AF_h%E1%BB%8Dc
  18. NGHĨA TỪ NGUYÊN CỦA TỪ “VĂN HIẾN” QUA BỐI CẢNH TRI THỨC NHO GIÁO VIỆT NAM - TRUNG HOA TRẦN TRỌNG DƯƠNG Tóm tắt “Văn hiến” là khái niệm trước nay hay được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Trung đại. Đây là một thuật ngữ của Nho gia có lẽ đã được sử dụng tại Việt Nam trong gần hai thiên niên kỷ qua. Mục đích của bài viết xuất phát từ quan niệm: khi nghiên cứu bất cứ một lĩnh vực nào thì người nghiên cứu nên tự đặt mình vào bối cảnh thời đại cũng như bối cảnh tri thức của thời đại đó, tộc người đó. Điều này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn từ bên trong, tránh đi lối nhìn đã “hiện đại hóa” của đời sau. Chính vì vậy, bài viết sẽ khảo về từ nguyên của “văn hiến” để ngõ hầu lý giải được phần nào nội hàm của khái niệm này trong quá khứ từ đó góp phần vào việc nghiên cứu văn hiến nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung. 1. Cách hiểu về “văn hiến” sau khi Nho học bị bãi bỏ Văn hiến là từ vựng gốc Hán, được viết bằng tự dạng 文獻. Kể từ sau khi Nho học bị bãi bỏ ở Việt Nam năm 1919, và nhất là kể từ sau khi chữ Hán chữ Nôm bị thay thế hoàn toàn bởi chữ quốc ngữ vào năm 1945, thì văn hiến cùng những từ gốc Hán khác đã chịu chung một số phận. Đó là sự cắt đoạn rời khỏi lịch sử vốn có của nó. Thêm nữa, việc cắt rời ấy đã khiến cho ngành từ nguyên học gặp rất nhiều khó khăn; ấy là chưa kể đến những thất thiệt khác cho sự đọc hiểu và nghiên cứu về tiếng Việt. Mục này, bài viết sẽ tiến hành khảo lại các định nghĩa của một số từ điển tiếng Việt được biên soạn trong thế kỷ XX, để hiểu thêm về lịch sử các cách định nghĩa cho khái niệm này. Đại từ điển tiếng Việt kế thừa và bổ sung “văn hiến: dt. Truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều nhân tài” (1, tr.1744). Từ điển từ Hán Việt của Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các (2, tr.534) và Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển (3, tr.1697) ghi: “văn hiến.t.d. truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp”. Từ điển bách khoa Việt Nam (2003) ghi: “văn hiến. truyền thống văn hoá tốt đẹp và lâu đời. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách "Luận ngữ" như sau: "Văn là điển tịch; hiến là tốt đẹp, tài giỏi" (sic). Như vậy, "văn hiến" nguyên nghĩa là văn chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hoá lâu đời (4). Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học ghi: “văn hiến.d.truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp” (5, tr.1100). Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý bổ sung ghi: “văn hiến.t. Cg. Văn vật. Yêu chuộng văn học, văn hóa: Việt Nam là nước văn hiến” (6, tr.846). Từ điển Hán Việt từ nguyên (1999) của Bửu Kế ghi: “văn hiến. văn: sách sử. Hiến: kẻ hiền tài...Một nước có nhiều hiền tài có sử sách thì gọi là nước văn hiến” (7, tr. 2309). Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971) ghi văn hiến cũng như văn minh (8, tr.911). Từ điển Việt Nam phổ thông (1951) của Đào Văn Tập, sau ghi giải thích đúng từ nguyên chữ văn hiến, lại phân suất nghĩa thành: “chỉ những cái hay trong một đời, đáng làm gương mẫu” (9, tr.689). Việt Nam tân từ điển (1951) của Thanh Nghị ghi: “văn hiến.d. sách vở hay và nhân vật tốt, nghĩa rộng như tiếng văn minh: nghìn năm văn hiến” (10, tr.1428). Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của Gustave Hue ghi nhận văn hiến = văn minh (11, tr.1113). Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy Anh ghi: “văn hiến: sách vở và nhân vật tốt trong một đời” (12, tr.537). Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hiến文憲: học hành, hiền đức. Nơi văn hiến” (14, tr.626). Tuy nhiên, chữ Hán chế bản sai do đồng âm, 獻nhầm thành 憲. Đây là cuốn từ điển sớm nhất có mục từ này. Các từ điển của A.de Rhodes (1651) cho đến Huỳnh Tịnh Của (1898) đều không thấy ghi nhận. Có thể nói, các từ điển tiếng Việt hiện đại chỉ phân suất khái niệm này với một nét nghĩa chung chung mơ hồ. Đặc biệt là sự không phân biệt rạch ròi giữa khái niệm văn hóa và văn hiến, coi văn hiến là nền văn hóa tốt đẹp được kéo dài. Gần đây, để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, bộ sách “Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long” đã được ấn bản với số lượng trang sách lên đến 8000 trang, trong đó tinh thần làm việc của các soạn giả đều bàng bạc một sự mơ hồ về khái niệm. Có tác giả, mặc dù sau khi đã bàn qua về từ nguyên của khái niệm văn hiến vẫn sẵn sàng quy tất cả những lĩnh vực như toán học, kiến trúc, thương nghiệp, nghề truyền thống, thiết kế đô thị, và...tinh thần yêu nước vào nội hàm của văn hiến (15). Hơn thế nữa, cách hiểu ôm đồm ấy còn dẫn đến việc tác giả dùng các khái niệm (văn hiến, văn minh, văn hóa, văn vật,...) một cách lẫn lộn theo cảm hứng của người cầm bút. Năm 1998, Đỗ Trọng Huề đã định nghĩa như sau: “Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng của thời kỳ lịch sử” (16). Đặc biệt, trước đó, văn hiến còn được triết gia Kim Định sáng tạo theo phong cách tư duy triết học của mình, bất kể sự thực lịch sử và những giới hạn cho phép của từ nguyên học cũng như văn hóa học và lịch sử tư tưởng. Ông viết: “Văn hiến là những người hy hiến thân tâm cho văn hóa và được người trong nước kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, chỉ mới có văn hào, văn sĩ ” (17, tr.303). Cách định nghĩa của Kim Định xuất phát từ cách ông hiểu về nguyên tự của văn hiến. Ông hiểu văn là văn hóa (theo nghĩa rộng và khá hiện đại), và hiến là hy hiến (hy trong từ hy sinh, hiến với nghĩa cơ bản của nó trong tiếng Hán là dâng hiến). Ông coi văn hiến là một danh từ trỏ người (người hy hiến, như văn hào, văn sĩ), chứng tỏ ông cũng từng biết đến nét nghĩa nguyên gốc thứ hai mà cổ nhân hiểu (hiến còn trỏ hiền nhân). Nhưng tư duy tư biện của ông quá mạnh! Có thể nói, văn hiến là một khái niệm đến nay khá mơ hồ đối với người hiện đại, nhất là khi nó được so sánh với một số khái niệm khác như văn hóa*, văn minh**, văn vật***. Thực tế, những thuật ngữ cơ bản trên của ngành văn hóa học đều xuất phát từ kinh điển Nho giáo. Nguyễn Vinh Phúc nói “Phương Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này” (15) là hoàn toàn hữu lý. Như trên đã bàn, văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia, thuật ngữ này đã đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt khá sâu. Sâu đến mức nhiều người Việt (quãng gần 100 năm trở lại đây) dường như đã quên hẳn ý nghĩa từ nguyên của nó vốn được dùng trong quãng thời gian rất dài. Đây là một ví dụ cho thấy sự đứt gãy văn hóa do từ bỏ văn tự truyền thống (chữ Hán và chữ Nôm, và nhiều văn tự truyền thống khác). Chúng tôi cho rằng từ văn hiến đã gia nhập vào ngôn ngữ Việt Nam từ trước đây khá lâu. Nếu theo lý thuyết, thì chữ này có thể được đưa vào nước ta cùng với kinh sách của Nho học cách nay 2000 năm, ít nhất từ thời Sĩ Nhiếp. Nhưng từ văn hiến thực sự là một yếu tố của tiếng Việt thì có lẽ chỉ trong khoảng 1200 năm trở lại đây (18). Để xác định được thời điểm gia nhập của nó, chúng ta có thể tiến hành khảo cứu theo hai hướng. Hướng thứ nhất là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong một văn bản tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Hướng thứ hai là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong văn bản Hán văn Việt Nam. Nhưng trước khi thực hiện những khảo cứu trên, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu về khái niệm này trong lịch sử tiếng Hán và văn hóa Hán. 2. Khái niệm văn hiến trong lịch sử tiếng Hán 2.1.Sách Luận ngữ thiên Bát dật có đoạn: Tử viết: Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã” 子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 nghĩa là “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà Hạ) chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống (dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ”. Chu Hy chú: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也, (văn là điển tịch; hiến là người hiền vậy). Đoạn này cho thấy ý rất quan trọng về văn hiến. Trong đó, ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa văn hiến và lễ. Cộng với lời chú của Chu Hy thì ta có thể có tam đoạn luận sau: Đoạn 1: Văn hiến = lễ Đoạn 2: Văn = điển tịch ; Hiến = người hiền à Đoạn 3 Văn hiến = điển tịch (ghi chép về lễ) + người hiền (người chế lễ, hành lễ) Đây có thể coi là nghĩa nguyên bản nhất của từ văn hiến từ bối cảnh tri thức của Nho học Trung Quốc, và cũng có thể coi đây là khái niệm trùng khít giữa Nho học Tiên Tần và Tân Nho học. 2.2. Sách Vũ cống đồi chỉ 禹貢錐指(quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh có đoạn: “自兩漢以降嶺南之風氣漸移犀象毒冒珠璣銀銅果布之湊於是乎在魁奇忠信材徳之民於是乎生一以為脂膏之地一以為文獻之邦 nghĩa là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam**** dần đổi; cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đã nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi [Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến” Đoạn này nhấn mạnh đến nhân vật - yếu tố chủ thể làm nên văn hiến của một đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi kỳ, có đức trung tín và tài năng theo quan niệm của Nho giáo. 2.3. Từ điển Từ nguyên - cuốn từ điển phổ dụng được soạn vào đầu thế kỷ XX, đã giải thích trên cơ sở định nghĩa của Chu Hy, nên đã viết: “văn trỏ những tư liệu văn tự liên quan đến điển chương chế độ, hiến trỏ những người nghe rộng biết nhiều” [tr.737]. Cách định nghĩa trên đây của từ điển Từ nguyên là tiếp thu tinh thần của Chu Hy. Tuy nhiên, định nghĩa hiến (trỏ những người nghe rộng biết nhiều) lại mang nét nghĩa hơi hẹp hơn so với thực tế. Bậc hiền đương nhiên là “bác lãm quần thư”, tri thức hoàn bị; song tri thức chỉ là một yếu tố, ngoài ra người hiền còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác như đức độ, khí tiết, phải có chính tích, có trứ thư lập ngôn. 2.4. Từ điển Từ hải sau khi giải thích về từ nguyên, đã ghi nhận nghĩa của chữ văn hiến trong tiếng Hoa hiện nay chỉ còn một nghĩa mở rộng là “những tư liệu văn vật có giá trị lịch sử như: lịch sử văn hiến, đồng thời cũng chỉ những tư liệu sách vở quan trọng liên quan đến một ngành khoa học cụ thể, ví dụ: y học văn hiến. Nay (văn hiến) còn là tên gọi chung cho bất cứ một dạng vật chất nào sử dụng văn tự, tranh ảnh, phù hiệu, để kí tải tri thức, thông tin như: ấn phẩm, băng từ, đĩa CD, băng hình, bản in ốp sét”. Tóm lại, có thể nói rằng, từ văn hiến trong tiếng Hán đã thu hẹp nét nghĩa ban đầu của Nho học, mà trỏ chung cho các tư liệu lưu trữ thông tin. Còn từ văn hiến trong các từ điển tiếng Việt hiện đại được biên soạn trong suốt thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI thể hiện sự bất nhất và không tường minh về mặt khái niệm như đã nêu. 3. Từ văn hiến trong tiếng Việt lịch sử Chúng tôi tìm được văn liệu có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ XVII trong cuốn Thiên Nam ngữ lục khi viết về Sĩ Nhiếp/ Tiếp 士燮 *****. Tác phẩm này đã ca ngợi “Nam Giao học tổ” như sau: Quan quân mà lại thầy ta, Phủ quân tôn vị hiệu là Sĩ vương Nước nên “văn hiến chi bang” Đức giáo chẳng nhường Đậu thị Hà Tây (câu 1930-1933) Ca ngợi Sĩ Nhiếp ở các mặt: tuần này ắt chẳng lo chi mối giềng đã tỏ, luật lề đã phân Đồng niên quý thuế có ngần Quan quân rõ phép, binh dân rõ đường Điều hòa chế độ kỷ cương Mở kho giáo hóa, rỡ ràng nhân luân” (c.1924-1928) Đoạn thơ trên ca ngợi họ Sĩ là bậc vương, bởi ông đã có công giáo hóa biến Giao Chỉ trở thành “văn hiến chi bang”. Về hình thức, ông là “quan quân”, nhưng thực tế ông lại là bậc sư biểu (thầy ta). Bậc sư biểu ấy đã dùng đức giáo để cho dân ta hiểu rõ “mối giềng”, “luật lệ”. Chữ mối giềng dịch từ chữ cương thường. Như thế, văn hiến ở đây tạm có thể phân suất được những nét nghĩa sau: 1) Cương thường (nhân luân); 2) Luật lệ (cho binh và dân); 3) Giáo hóa. Trong đó, cương thường là những thiết chế về mặt huyết tộc và đạo đức xã hội. Luật lệ là những quy phạm mang tính pháp chế và quản lý hành chính nhà nước. Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có uy tín trong dân chúng. Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người"... Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Đoạn trên cho ta hai nét nghĩa nữa của khái niệm văn hiến: 1) Thông thi thư (thông: hiểu; thi: Kinh thi; thư: Kinh thư); 2) Học Lễ và Nhạc. Ngữ cảnh tiếng Việt thứ hai mà chúng tôi biết được, xuất hiện trong lời giáng bút của Thánh Mẫu năm 1923, có đoạn mở đầu như sau: Sông Nhị núi Nùng, nước bốn ngàn năm văn hiến Con Hồng cháu Lạc, dân hai mươi triệu đồng bào (13, tr.216-218). Văn cảnh này không cung cấp thêm nét nghĩa nào cho khái niệm văn hiến. Tạm thời chúng tôi không bàn đến quãng thời gian đã được kéo dài bằng tâm lý dân tộc bản vị. Giá trị là ở chỗ, đây là văn cảnh tiếng Việt sớm nhất xuất hiện cụm từ “bốn ngàn năm văn hiến”. 4. Khái niệm văn hiến qua bối cảnh tri thức Nho gia Việt Nam 4.1. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi do Lý Tử Tấn viết thông luận, có đoạn: “từ khi người Nguyên vào Trung Quốc, về sau thiên hạ biến thành nói tiếng Hồ, mặc áo Hồ. Không thay đổi thì chỉ có nước ta cùng họ Chu ở Kim Lăng, họ triệu ở Kim Sơn mà thôi. Đến khi Thái tổ nhà Minh lên làm vua, sai Dịch Tế Dân sang thông hiếu, vua Dụ Tông sai Doãn Thuấn Thần sang cống nhà Minh. Vua Minh úy lạo, hỏi quốc sứ, khen phong tục, y phục vẫn giống như văn minh Trung Hoa, ban cho bài thơ ngự chế rằng”: 安南際有陳 / 風俗不元人 衣冠周制度/ 禮樂宋君臣 An Nam tế hữu Trần/ Phong tục bất Nguyên nhân Y quan Chu chế độ/ Lễ nhạc Tống quân thần. (Đất An Nam có họ Trần/ Phong tục không theo người Nguyên Áo mũ vẫn theo chế độ nhà Chu/ Lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống) Rồi cho bốn chữ “Văn Hiến Chi Bang” và thăng địa vị cho sứ thần của Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp” (22, tr.30a-30b). Đây là đoạn thông luận mà Lý Tử Tấn chua cho phần chính văn của Nguyễn Trãi đang gián tiếp bàn về văn hiến, đoạn ấy cụ thể như sau: “Người trong nước không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước” (22). Đoạn văn trên cho chúng ta biết một số dữ kiện như sau: 1) Chữ văn hiến được dùng cho Đại Việt vào cuối đời Trần; 2) Nho sĩ đời Trần mạt ít nhiều tạo dựng được bối cảnh tri thức cũng như bối cảnh văn hóa Nho giáo ở một mức độ nhất định, đến mức vua Minh Thái Tổ làm thơ ngự chế và ban tặng đích danh bốn chữ “văn hiến chi bang文獻之邦” vào năm Đại Trị thứ nhất (1368); 3) Như thế, đây là tư liệu thành văn sớm nhất (trái với quan niệm phổ biến trước đây, coi chữ văn hiến lần đầu xuất hiện trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi). Đoạn văn trên cũng cho biết một số thông tin cụ thể về nội hàm của khái niệm văn hiến trong bối cảnh tri thức Nho giáo. Đó là bốn yếu tố: 1) Phong tục; 2) Chế độ y quan; 3) Chế độ lễ nhạc; 4) Ngôn ngữ. 4.2. Chữ văn hiến được đưa vào văn chương trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (1428): 維我大越之國/ 實為文獻之邦 Duy ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang Nghĩa là: Như nước Đại Việt ta/ Thực là nước văn hiến. Thế kỷ XV trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội), khoa Quang Thuận thứ 4 (1463) có ghi đoạn văn sau: "Học trò may được khắc trên bia đá này, phải theo danh nghĩa sửa đức hạnh, bắt chước tính giữ gìn văn hiến.
  19. Lại nổ mỏ than ở Trung Quốc, 11 người chết 27/11/2014 14:30 (TNO) Ít nhất 11 người thiệt mạng trong vụ nổ mỏ than Tùng Lâm, tỉnh Quý Châu (Trung Quốc). Đây là vụ nổ than thứ 2 liên tiếp trong 2 ngày ở Trung Quốc, theo The Guardian ngày 27.11. Mỏ than ở Liêu Ninh (Trung Quốc) bị nổ khiến 26 người chết - Ảnh: AFP Ít nhất 11 người chết trong tổng số 19 người đang làm việc tại mỏ than Tùng Lâm, The Guardian dẫn tin từ Tân Hoa Xã. Hiện vẫn chưa rõ tình hình của 8 người còn sống đang bị thương. Vụ nổ xảy ra sáng sớm 27.11, cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra nguyên nhân vụ việc. Đây là vụ nổ mỏ than thứ 2 liên tiếp sau vụ nổ mỏ than hôm qua ở Liêu Ninh làm 26 công nhân thiệt mạng cùng 30 người bị bỏng nặng, trong đó 4 ca trong tình trạng nguy kịch. Nhà chức trách địa phương vẫn chưa có phản ứng về vụ việc. Các vụ tai nạn mỏ than xảy ra thường xuyên ở Trung Quốc, nước tiêu thụ than lớn nhất thế giới nhưng tiêu chuẩn an toàn lao động cho công nhân tại các mỏ than bị phớt lờ. Trước đó, vụ nổ mỏ than của công ty khai thác than Fuxin giết chết 214 công nhân vào năm 2005. Hơn 1.000 ca tử vong trong tổng số 604 vụ tai nạn mỏ than được báo cáo ở Trung Quốc trong năm 2013, theo The Guardian. Mộc Di
  20. Động đất 7 độ Richter ở Indonesia 27/11/2014 07:30 (TNO) Trận động đất mạnh 7,0 độ richter đã xảy ra ngoài khơi biển Molucca, Indonesia, CNN dẫn thông tin từ Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ (USGS). Cảnh tan hoang sau sóng thần năm 2004 ở Aceh, Indonesia - Ảnh: AFP USGS cho biết tâm chấn của trận động đất vào 22 giờ 33 tối ngày 26.11 nằm ở độ sâu 65 km, trong vùng biển giữa đảo Sulawesi và quần đảo Maluku của Indonesia. Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương không đưa ra cảnh báo sóng thần nào. Hiện chưa có báo cáo về thương vong và thiệt hại do trận động đất gây ra. Indonesia thường xuyên hứng chịu những trận động đất lớn. Vào ngày 26.12. 2004, một trận động đất 8,7 độ richter xảy ra ngoài khơi quần đảo Sumatra gây ra sóng thần đã cướp đi sinh mạng của gần 230.000 người. Đây là một trong 6 trận động đất lớn nhất trên thế giới từ năm 1900. Trận động đất gần đây nhất ở Indonesia xảy ra ngày 15.11 ở quần đảo Maluki có mạnh 7,3 độ richter. Thiên Thư
  21. Sư phụ sức khỏe không ổn định. Thậm chí dt cũng không nghe được. Từ từ đã. VinL có lẽ phải xem lại ý tưởng này. Tôi thí dụ: Nam 37 tuổi. Không phạm Kim Lâu và trong bàn tay "Hoang Ốc" thì được Tứ tấn tài.
  22. TƯ LIỆU THAM KHƯỶU. ====================== Giang Trạch Dân từ chối gặp khi Từ Tài Hậu cầu cứu? (Tin tức 24h) - Tướng Từ Tài Hậu đã cố tìm cách gặp cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân để cầu cứu trước khi chính thức bị điều tra tham nhũng. “Trảm” xong Từ Tài Hậu, ông Tập thăng cấp hàng chục tướng Chuyện lạ về tấn tiền vàng trong nhà Từ Tài Hậu Thượng tướng Từ Tài Hậu, nguyên Phó Chủ tịch quân ủy trung ương khóa 18, đã bị Viện kiểm sát quân sự Trung Quốc chính thức khởi tố với tội danh nhận hối lộ, theo Tân Hoa Xã ngày 28/10. Khoảng trước khi cơ quan chống tham nhũng đưa ra thông báo chính thức điều tra ông Từ hồi tháng 3, vị tướng này được cho là đã đi đến Tam Á, thành phố thuộc đảo Hải Nam, theo tuần san Phượng Hoàng. Tuần san này khẳng định mặc dù chuyến đi được tiến hành với danh nghĩa là đi thăm “các cán bộ lão thành”, nhưng mục đích chính của ông Từ là đi cầu xin sự ân xá từ cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân. Tuy nhiên, tướng Từ đã không có được cuộc gặp với ông Giang, lúc đó đang đi nghỉ ở Hải Nam. Ông Giang Trạch Dân Tờ Phượng Hoàng cho biết thêm rằng mặc dù có buồn vì một số quan chức cấp cao cùng thời với mình “ngã ngựa”, nhưng cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân ủng hộ mạnh mẽ cho chiến dịch chống tham nhũng của Chủ tịch đương quyền Tập Cận Bình. Ủng hộ Tập Cận Bình? Hãng tin Reuters cho biết, cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã ủng hộ ông Tập Cận Bình mở cuộc điều tra đối với ông Chu Vĩnh Khang. Bởi trước đó, có nguồn tin cho rằng, những con hổ mà ông Tập Cận Bình tiêu diệt gần đây là Từ Tài Hậu rồi Chu Vĩnh Khang đều được biết đến như những người thân cận nhất của cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân. Theo giới phân tích chính trị, Chủ tịch Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình sẽ không thể điều tra một nhân vật quyền lực như ông Chu Vĩnh Khang, nếu không có sự hậu thuẫn của quan chức cấp cao trong đảng và những quan chức lãnh đạo đã nghỉ hưu. "Các ông Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Tập Cận Bình đã đạt được sự đồng thuận về việc tiến hành điều tra đối với ông Chu Vĩnh Khang, liên quan tới hành vi vi phạm kỷ luật đảng", một trong những nguồn tin nói với Reuters. Tuy nhiên, ông Giang Trạch Dân cũng cho rằng chiến dịch này đã đi đủ xa và việc tiếp tục đẩy mạnh nó có thể gây hại đến những lợi ích hoặc phe phái của họ. Ngoài ra, ông Giang còn lo ngại sẽ mất đi sự ổn định và ủng hộ trong nội bộ đảng nếu chiến dịch chống tham nhũng kéo dài quá lâu và quá mạnh tay. Các cựu quan chức lãnh đạo của Trung Quốc vẫn thường có những ảnh hưởng hậu trường trong hệ thống chính trị nước này. Thanh Giang (Tổng hợp TNO/ĐVO) ==================== Bởi zdậy, ngài Tập tổng kết sơ bộ chiến dịch "đả hổ, đập ruồi" sau hội nghị Bắc Đới Hà và "xuonglungcop" về cơ bản. Hì! Mâu thuận xã hội Trung Quốc sẽ tăng nặng đến mức báo động đỏ.
  23. Giải mã chiến thuật đối ngoại mới của Trung Quốc Thứ Tư, 26/11/2014 - 14:30 (Dân trí) - Sau nhiều năm theo đuổi chính sách cứng rắn với các nước láng giềng, thời gian gần đây, Trung Quốc bỗng tỏ ra dịu giọng và ôn hòa hơn. Vì sao lại có sự thay đổi khác thường này? >> Những "chông gai" trên con đường ngoại giao của Trung Quốc Dư luận đang đặt nhiều câu hỏi về sự thay đổi chính sách gần đây của Trung Quốc. Chính sách mới này được Trung Quốc áp dụng từ giữa tháng 7 vừa qua sau khi nước này đột ngột cho rút giàn khoan Hải Dương-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Không chỉ chủ động hạ căng thẳng ở vùng biển của Việt Nam, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh cũng đã đảo ngược chính sách đối đầu với Nhật Bản, Philippines và Hàn Quốc, đồng thời thăm dò các mối quan hệ tốt hơn với Ấn Độ và tách dần chính sách của Trung Quốc ra khỏi các chính sách của Triều Tiên. Ngoài ra, Trung Quốc còn dồn mọi nỗ lực đẩy mạnh quan hệ với Nga thông qua việc ký kết các dự án năng lượng khổng lồ và đẩy mạnh liên kết kinh tế với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Giới chính trị và chuyên gia phân tích đã thực sự bất ngờ với sự thay đổi đột ngột này của Trung Quốc. “Chúng tôi cần phải theo dõi xem điều gì sẽ xảy ra trong 6-12 tháng tới, thậm chí lâu hơn”, theo lời của ông Shi Yinhong, Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Mỹ thuộc Đại học Nhân dân Bắc Kinh. Tuy nhiên, khi sâu chuỗi lại những động thái gần đây của Trung Quốc, có thể thấy nổi lên một điểm rất đáng chú ý: Sức mạnh kinh tế đã thay thế sức mạnh quân sự trong hoạt động ngoại giao của Trung Quốc thời gian qua. Vì sao như thế? Thứ nhất, Trung Quốc quyết tâm phải tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 22 ở Bắc Kinh. Đây là diễn đàn kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là sự kiện mang tầm quốc tế đầu tiên được Trung Quốc tổ chức dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình . Vì thế, trong suốt thời gian xung quanh hội nghị này, ban lãnh đạo Trung Quốc đã làm mọi cách để vãn hồi tình hình khu vực và hạ nhiệt quan hệ căng thẳng với các nước láng giềng. Bên cạnh đó, Bắc Kinh cũng tìm cách xoa dịu quan hệ Trung – Mỹ vốn bị bào mòn bởi sự nghị kỵ lẫn nhau trong thời gian qua. Bắc Kinh thừa hiểu rằng cả Mỹ và Trung Quốc đều không thể đơn phương hành động ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. “Nếu Trung Quốc muốn thực hiện được ‘Con đường tơ lụa mới’ và chính sách ngoại giao của mình, nước này phải tìm cho được sự đồng thuận với Mỹ. Đó là lý do căn bản giải thích cho những nhượng bộ và tham vấn lẫn nhau mà chúng ta đã thấy”, tờ Le Monde của Pháp dẫn lời một giáo sư tại Đại học Bắc Kinh. Thứ hai, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã thấm mệt trước việc phải liên tục kéo giãn quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt trong tranh chấp ở Biển Đông và Hoa Đông. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo ngại nếu tiếp tục kéo dài tình trạng này sẽ khiến “hàng xóm” của mình lần lượt ngả hết sang phía Mỹ và tạo thuận lợi cho Washington đẩy nhanh hơn chính sách xoay trục sang châu Á - Thái Bình DươngĐể phá vỡ mạng lưới đồng minh không chính thức được Washington tạo ra nhằm hạn chế quyền lực ngày càng mạnh của Bắc Kinh, ban lãnh đạo Trung Quốc rút ra rằng cách tiếp cận quyết đoán hiện nay là phản tác dụng. Trung Quốc cần thay đổi phương pháp để được hưởng nhiều lợi ích kinh tế hơn. Tuy nhiên, hiện chưa biết đây chỉ là chiến thuật ngắn hạn hay là sự điều chỉnh thận trọng lâu dài của Bắc Kinh. Thứ ba, nếu nhìn sâu hơn vào lịch sử đối ngoại của Trung Quốc, có thể nhận thấy Bắc Kinh luôn tiến hành xen kẽ các giai đoạn “cương, nhu” trong quan hệ với các nước và vùng lãnh thổ. Trước đây, thế giới cũng đã được chứng kiến điều này trong quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan. Ban đầu, Đại lục theo đuổi chính sách đối đầu và không thỏa hiệp với Đài Loan trong suốt thời gian từ năm 1949 đến cuối những năm 1980s. Đầu những năm 1990s, Đại lục áp dụng chính sách hòa giải hơn nhưng chỉ sau đó 5 năm, Đại lục lại áp dụng các chiêu bài khiêu khích. Lập trường cứng rắn này được duy trì đến năm 2008, khi một giai đoạn hòa giải mới lại nổi lên sau khi ông Mã Anh Cửu được bầu làm người đứng đầu chính quyền Đài Loan thay ông Trần Thủy Biển. Đối chiếu với quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng hiện nay, nhiều khả năng nước này đang muốn “nới lỏng sợi dây” sau một thời gian “kéo căng quá mức”. Thứ tư, Trung Quốc tự nhận thấy rằng nước này đang nắm trong tay quân bài chủ chốt trong quan hệ quốc tế: đó là sức mạnh kim tiền. Với nền kinh tế hiện đứng thứ hai thế giới và dự trữ ngoại tệ không ai bằng, Trung Quốc hoàn toàn có thể “vung tiền mua quan hệ”. Dẫn chứng mới nhất là Trung Quốc đã lập quỹ 40 tỷ USD để xây dựng “Con đường tơ lụa mới” và đóng góp 50 tỷ USD, chiếm 50% tổng vốn điều lệ của Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Theo tính toán của Bắc Kinh, khó nước nào cưỡng lại được sức hút kinh tế mạnh mẽ từ dự án “Con đường tơ lụa mới” kết nối Đông Á với châu Âu, cũng như với ngân hàng AIIB do các nước châu Á đang cần tới 8.500 tỷ USD để hoàn thiện hệ thống liên cơ sở hạ tầng. Với Chủ tịch đầu tiên của AIIB là người Trung Quốc, ngân hàng này lại đặt trụ sở chính ở Bắc Kinh, nên Trung Quốc có thể sử dụng ảnh hưởng của mình áp đặt ý chí lên các quốc gia thành viên. Ví dụ, nước này có thể sử dụng AIIB tài trợ cho dự án “Con đường tơ lụa mới”, cả đường bộ và đường biển; hay mượn AIIB thúc đẩy liên kết khu vực để phục vụ lợi ích riêng và tăng ảnh hưởng quốc tế của mình. Trong một phát biểu gần đây ở Quốc hội Áo, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cố gắng xoa dịu lo ngại của thế giới về sự thay đổi chính sách đối ngoại của nước này khi nhắc đến một câu nói cổ: “Một quốc gia chuyên đi gây chiến cuối cùng sẽ diệt vong cho dù quốc gia ấy có lớn tới mức nào”. Tuy nhiên, vế sau của câu nói này mà ông Tập tránh nhắc đến lại khiến dư luận không khỏi suy nghĩ. Vế sau đó nói rằng: “Mặc dù thế giới đang hòa bình, song chúng ta sẽ gặp nguy hiểm nếu quên không chuẩn bị cho chiến tranh”.Vì vậy, dư luận vẫn đang hoài nghi về tuyên bố nửa vời của nhà lãnh đạo Trung Quốc, cũng như những sự thay đổi bất ngờ trong chính sách đối ngoại của nước này. Sự hoài nghi đó một phần xuất phát từ hành động sẵn sàng bỏ qua luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông và Hoa Đông, phần khác do chính hành động phô diễn máy bay tàng hình hiện đại ở triển lãm hàng không Chu Hải diễn ra ngay trước thềm cuộc gặp của ông Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama bên lề APEC 22. Đức Vũ =============== Chẳng cần phải giải mã, cũng thấy đây chỉ là vấn đề phương pháp thực hiện. Mục đích bành trướng và chiếm đoạt lãnh thổ với mưu đồ bá chủ không thay đổi.
  24. Nhà tư tưởng Pháp Pascal phát biểu thế này: "Ai cũng thích được đề cao mình. Kể cả tôi khi đang nói câu này". Nhưng vậy cái về "Ưa nịnh" rõ ràng là dân tộc nào cũng có. Còn "thích dìm" thì là hệ quả của ưa nịnh. Do đó suy ra dân tộc nào cũng vậy, chẳng cứ Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề cần bàn là mức độ nghiêm trọng đến đâu.
  25. Bởi vậy, Tổng thống Hoa Kỳ - ngài Obama mới tuyên bố: Tấn công mạng là hành vi chiến tranh.