amouruniversel

Nguồn Gốc, ý Nghĩa Và Công Dụng Của Can/chi

2 bài viết trong chủ đề này

Kính thưa các chú bác, ACE trên diễn đàn,

Trong quá trình tìm hiểu học thuật, amour có "thắc mắc không biết hỏi ai" về hệ thống 10 thiên can và 12 địa chi. Can/chi là những đơn vị rất quen thuộc với người Á Đông, được dùng trong hệ thống lịch pháp và các học thuật khác. Tuy nhiên, nguồn gốc của Can và Chi thì không rõ ràng, vì vậy Amour lập ra topic này để các bậc tiền bối vào dạy bảo, cũng như để cho các ACE quan tâm cùng thảo luận. Amour trước tiên xin mở vấn đề này qua các câu hỏi sau:

1. Định nghĩa Can/Chi là gì?

2. Nguồn gốc của Can/Chi? Can chi dựa vào cái gì mà lập thành? (Hà đồ, lạc thư, âm dương,ngũ hành vvv?)

3. Trong sách lục nhâm và hiệp kỷ biện phương thư có nói về số của Can/Chi như sau:

CAN CHI SỐ

Giáp,Kỷ Tý, Ngọ 9

Ất, Canh Sửu, Mùi 8

... Dần, Thân 7

Đinh, Nhâm Mão, Dậu 6

Mậu, Quý Thìn, Tuất 5

... Tị, Hợi 4

tại sao lại có những số nói trên?

***********

Tìm trên mạng cũng có nhiều nơi bàn về Can Chi như sau"

1) Từ Điển Cao Đài:

Thập Thiên Can - Thập nhị Địa Chi:

  • 十天干 - 十二地支
  • A: Ten Heavenly Stems - Twelve Earthly Branches.
  • P: Dix Troncs Célestes - Douze Branches Terrestres.
Thập: Mười, hoàn toàn. Thập nhị: 12. Thiên can: Can của Trời. Địa Chi: Chi của Đất.

Thập Thiên Can là 10 Can Trời, gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.

Thập nhị Địa Chi là 12 Chi Đất, gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi được đặt ra là để tính thời gian và để làm lịch.

Thời gian thì có: Hội, Chuyển, Nguơn, Kỷ, Năm, tháng, ngày, giờ. Làm lịch thì người xưa căn cứ chu kỳ quay của Mặt trăng, nên gọi là Âm lịch, xác định các mùa và tiết trong năm.

Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi được đặt ra vào thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế. Vua Huỳnh Đế sai ông Đại Nhiễu chế ra Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi để tính thời gian mà làm lịch cho dân dùng.

Tại sao dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can?

Bởi vì trước thời vua Huỳnh Đế là vua Phục Hy tìm ra được Hà đồ, do quan sát các chấm đen trắng trên lưng con Long Mã xuất hiện ở sông Hoàng Hà mà lập thành. Nhờ đó, vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái.

Trên Hà đồ có tất cả 10 con số chia ra đứng theo Ngũ Hành. Do đó, người xưa dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can.

Tại sao dùng con số 12 để chế ra Thập nhị Địa Chi?

Bởi vì khoa Thiên văn thời xưa nhận thấy Mặt trời quay xung quanh Trái đất giáp một chu kỳ gọi là 1 năm, Mặt trăng quay chung quanh Trái đất giáp một chu kỳ là một tháng. Một năm có 12 tháng, tức là một năm có 12 chu kỳ quay của Mặt trăng. Do đó, người xưa dùng số 12 chế ra Thập nhị Địa Chi để gọi tên của 12 tháng.

Khi đã có Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi rồi thì người xưa cho phối hợp lại để tính năm, tháng, ngày, giờ.

Sự phối hợp khởi đầu là: GIÁP TÝ, tức là lấy 2 chữ đầu của Can và Chi ghép lại.

Ghép tiếp theo là: Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão,..........

Ghép như thế thì sau 60 lần sẽ trở lại chữ: GIÁP TÝ.

Vậy chu kỳ phối hợp Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi là 60.

Theo lịch của nhà Hạ (vua Hạ Võ) qui định đặt tên cho tháng Giêng là tháng Dần, gọi là Kiến Dần, bởi vì làm lịch là để cho dân dùng biết mùa màng thời tiết gieo trồng, mà Nhơn sanh ư Dần nên lấy chữ Dần làm tháng giêng đầu năm.

Kế tiếp, tháng 2 là tháng Mão, tháng ba là Thìn,......, tháng 11 là Tý, tháng 12 là Sửu. Tháng giêng năm sau là Dần....

***********************

2) http://www.thienvanvietnam.org/Thienvanhoc...Hanh_CanChi.htm

NGŨ HÀNH VÀ CAN CHI

Thiên văn thời cổ thường gắn liền với thần thánh. Tuy nhiên người Trung Hoa đã khái quát cao hơn, khi gắn thiên văn với những tư tưởng mang tính triết học, mà Ngũ hành là một minh chứng.

Tư tưởng cấu tạo vật chất của thế giới từ 5 yếu tố không phải là chỉ của riêng người Trung Hoa. Thần thoại Hy Lạp kể rằng thế giới được sinh ra từ Vực thẳm Khaox (Chaos - Hỗn mang) thể hiện thành 5 nguyên lý: Đất Gaia, Tối tăm Vĩnh cửu Erèbe, Đêm tối Nix, Địa ngục Tartar, và Tình yêu Erox. Triêt gia Aristole cho rằng 5 nguyên tố cơ bản của thế giới là Nước, Lửa, Đất, Không khí, Ánh sáng,... Nhưng có lẽ không bộ 5 yếu tố nào lại có tính triết lý cao như Ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ của Trung Hoa. Bộ 5 này được hình thành có lẽ từ 5 ngón tay của con người, cũng tựa như cơ số 10 trong hệ đếm.

Thuyết này xuất hiện từ đời nhà Tần (200 TCN), được củng cố phát triển trong thời Tây Hán. Lúc đầu 5 yếu tố là cấu tạo cụ thể, với các tính chất cụ thể:

Kim: kim loại, cứng rắn, lạnh, cương mãnh, bền chắc

Mộc: gỗ, cây, sống, tăng trưởng, dẻo dai, chịu đựng

Thủy: nước, mềm mại, nhu thuận, sâu hiểm

Hỏa: lửa, nóng, sáng, linh hoạt, sáng tạo

Thổ: đất, đầy đặn, chịu đựng, nguồn của sinh sôi

Nhưng rồi chúng được Triết lý hóa, trở thành Ngũ hành – 5 nguyên lý cơ bản của vật chất, gắn kết với mọi trạng thái triết lý từ Vật chất đến tinh thần

Hành Kim: màu Trắng phương Tây mùa thu Mũi Phế (phổi)

Hành Mộc: màu Xanh phương Đông mùa xuân Mắt Can (gan)

Hành Thủy: màu Đen phương Bắc mùa đông Tai Thận

Hành Hỏa: màu Đỏ phương Nam mùa hạ Lưỡi Tâm (tim)

Hành Thổ: màu Vàng phương Trung ương (không) Miệng Tỳ

Việc gắn phương hướng với các mùa và với Ngũ hành liên quan nhiều đến Thiên Văn. Người Trung hoa nhận thấy vào mùa Xuân thì đuôi của chòm sao Bắc Đẩu chỉ về phía Đông, mùa Thu chỉ về phía Tây, nên tương ứng mùa và phương. Như vậy chòm Bắc Đẩu thất tinh không phải chỉ là xác định phía Bắc, mà còn là sao chỉ phương và mùa trong văn hóa Trung Hoa.

Hai quy luật tương tác biến dịch quan trọng là tương sinh và tương khắc trở thành nền tư duy cho nhiều học thuyết (tuy nhiên sẽ không xét kỹ ở đây, mà chỉ đi vào khía cạnh Thiên văn)

Tương Sinh: Mộc sinh Hỏa - Hỏa sinh Thổ - Thổ sinh Kim - Kim sinh Thủy - Thủy sinh Mộc.

Tương Khắc: Mộc khắc Thổ - Thổ khắc Thủy - Thủy khắc Hỏa - Hỏa khắc Kim - Kim khắc Mộc

Về sau tư tưởng Ngũ hành được gán cho rất nhiều ý nghĩa, đi rất xa với tư tưởng gốc ban đầu. Cứ bộ 5 nào cũng thành Ngũ hành hết, chẳng hạn lý thuyết: Cái sinh Ta, cái Khắc Ta, Ta, cái Ta sinh, cái Ta khắc,…

Dựa trên tư tưởng Ngũ hành, năm sắc độ sáng của các ngôi sao được phân chia (từ nguội đến nóng) là ĐenĐỏ - VàngTrắngXanh.

Trên thực tế, các ngôi sao có màu sắc gần đúng như cách phân chia này:

Nhiệt độ bề mặt dưới 2000 độ C, sao màu đỏ tối, chỉ phát bức xạ, gần như không nhìn thấy

Nhiệt độ bề mặt 2000-5000 độ C, sao màu đỏ

Nhiệt độ bề mặt 6000-9000 độ C, sao màu vàng

Nhiệt độ bề mặt 10,000-15,000 độ C, sao màu trắng

Nhiệt độ cao hơn nữa, hơn 20,000 độ C, màu xanh

Mặt trời của chúng ta là ngôi sao trung bình màu vàng, nhiệt độ bề mặt khoảng 6500 độ, ứng với màu của hành Thổ

Trong Thiên Quan thư, Tư Mã Thiên viết:

Muốn xem sắc trắng của tinh tú, hãy nhìn sao Thiên Lang; muốn xem sắc đỏ, hãy nhìn sao Tâm, muốn xem sắc vàng, hãy nhìn sao Sâm Tả, xem sắc xanh hãy nhìn sao Sâm Hữu, sắc đen thì nhìn sao Khuê

Cách phân chia đó khá đúng về màu sắc:

Sao Thiên Lang (sao Sirius - chòm Canis Major), là ngôi sao đôi sáng chói nhất bầu trời

Sao Tâm hay sao Thương (sao Antares – chòm Scorpius) có quang phổ M0, màu đỏ rất rõ

Sao bên phải sao sao Sâm (sao Rigel - b chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 7 bầu trời, quang phổ B2 màu xanh.

Sao Khuê (sao d - chòm Andromeda) quang phổ M0 đỏ tối, trong con mắt Tư Mã Thiên là đen.

Sao Antares chòm Scorpius (sao Tâm Tú trong chòm Tâm, khu vực Thần Nông), ngôi sao có ánh sáng đỏ rực không kém gì Sao Hỏa.

Sao Sirius trong Canis Major (sao Thiên Lang), ngôi sao có ánh trắng xanh, sáng nhất bầu trời. Tư Mã Thiên lấy ánh sáng này đại diện cho sắc trắng.

Chòm Orion (tương ứng với Chủy và Sâm). Sao Betelgeuse phía trên bên trái, sau 2000 năm đã chuyển từ sắc vàng sang đỏ. Sao Rigel phía dưới bên phải tượng trưng cho sắc xanh.

Chỉ có Sao bên trái sao Sâm (sao Betelgeusea chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 10 trên bầu trời, và là một trong thiên thể lớn nhất bầu trời quan sát thấy, mà dưới thời Tư Mã Thiên là màu vàng, thì ngày nay là ngôi sao rất lớn màu đỏ. Nghĩa là sau 2000 năm, ngôi sao đó đã nguội đi. Đó là hiện tượng nguội sao duy nhất mà loài người quan sát được trong lịch sử.

Và người Trung Hoa dùng Ngũ hành để đặt tên cho các hành tinh mà họ quan sát được, theo thứ tự từ mặt trời ra ngoài là Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh. Chính các hành tinh này và chu kì chuyển động của chúng là cơ sở tạo nên hệ đếm Can Chi.

Thiên Can Địa Chi

Can Chi chủ yếu dùng trong Lịch pháp, nhưng cũng có cơ sở từ quan sát Thiên Văn. Có lẽ do nằm ở vĩ độ cao, ngày Hạ chí mặt trời không thẳng đứng trên đỉnh đầu, cùng với việc canh tác nông nghiệp ít liên quan đến mặt trời hơn, nên Lịch pháp Trung hoa dựa vào Mặt trăng là chính. Việc dùng Can Chi tính ngày tháng đã xuất hiện vào cuối đời Thương (TK 12 TCN), việc gán tên con vật vào thì phải đến đầu công nguyên mới thực hiện.

Khi quan sát quĩ đạo các hành tinh, họ lấy Bắc thiên cực làm gốc, rồi dựa theo 8 cung Bát quái (1) để xác định tọa độ. Sau rất nhiều năm quan sát và ghi chép lại, họ đưa ra các nhận xét của mình. Một số nhận xét về chu kỳ (trở về vị trí cũ trên bầu trời) của các Hành tinh như sau:

Sao Thủy: khoảng ¼ năm

Sao Kim khoảng 0,6 năm

Sao Hỏa khoảng 2 năm

Sao Mộc khoảng 12 năm

Sao Thổ khoảng 30 năm.

Các nhà làm lịch đã dùng 3 hành tinh là Hỏa, Mộc, Thổ làm chuẩn, bội số chung nhỏ nhất là 60, hay phải sau khoảng 60 năm, các hành tinh trên mới có được vị trí (tương đối với nhau) gần giống như cũ. Sao Hỏa sau 1 năm lại chuyển sang vị trí đối diện, rồi 1 năm sau lại về vị trí cũ, trở thành sao làm chuẩn cho chu kì 1 năm Âm 1 năm Dương. Sao Mộc có chu kỳ 12 năm được lấy làm chuẩn để tính năm, nên gọi là Tuế Tinh. Sao Thổ lâu nhất, gọi là Thiên Can.

Sau khi kết hợp cả thuyết Ngũ hành và Âm Dương, thì con số 5 được chia 2, thành 10 Can, ứng với Ngũ hành, mỗi hành 1 Âm 1 Dương, còn 12 năm của Tuế Tinh thành Chi. Can Chi ra đời còn muộn hơn Ngũ hành, và càng muộn hơn thuyết Âm Dương, mãi khoảng đầu công nguyên mới có.

Can (cán – thân cây) gồm: Giáp – Ất – Bính – Đinh – Mậu – Kỷ - Canh – Tân – Nhâm – Quý

Chi (cành cây), gồm: Tí – Sửu – Dần – Mão – Thìn – Tỵ – Ngọ - Mùi – Thân – Dậu – Tuất – Hợi

Trong đó: Giáp + Ất là là hành Mộc, Bính + Đinh là Hỏa, Mậu + Kỷ là Thổ, Canh + Tân là Kim, Nhâm + Quý là Thủy, cứ 1 âm 1 dương đổi nhau.

Bản thân các từ của Can và Chi đều là quá trình sinh trưởng và phát triển của Cây cối:

12 Chi (Con Giáp)

theo vòng từ Tý đến Hợi

(I). Giáp : nẩy mầm

(II). Ất : nhú lên mặt đất

(III). Bính : đón ánh mặt trời

(IV).Đinh : trưởng thành khỏe mạnh

(V). Mậu : rậm rạp

(VI). Kỉ : dấu hiệu hoa trái

(VII). Canh : thay đổi

(VIII). Tân : hoa quả mới

(IX). Nhâm : thai nghén cho mùa sau

(X). Quý : mầm đang chuyển hóa

(1). Tý : mầm hút nước

(2). Sửu : nẩy mầm trong đất

(3). Dần : đội đất lên

(4). Mão : rậm tốt

(5). Thìn : tăng trưởng

(6). Tỵ : phát triển

(7). Ngọ : sung mãn hoàn toàn

(8). Mùi : có quả chín

(9). Thân : thân thể bắt đầu suy

(10). Dậu : co lại

(11).Tuất : khô úa héo tàn

(12). Hợi : chết đi.

Như vậy nguyên thủy các chi không phải là các con vật như mọi người vẫn nghĩ.

Đến khoảng đầu Công nguyên, người Trung Hoa gán các chi với các con vật. Nguồn gốc của việc gán con vật không hoàn toàn rõ ràng. Có thuyết cho rằng nó gắn với truyền thuyết Phật giáo, thứ tự của 12 con vật là những loài đã đến từ biệt khi Phật Thích ca nhập Niết Bàn, và mới gọi là các con giáp, lần lượt là:

Tí: Thử: Chuột

Sửu: Ngưu: Trâu

Dần: Hổ: Cọp

Mão: Thố: Thỏ*

Thìn: Long: Rồng

Tỵ: Xà: Rắn

Ngọ: Mã: Ngựa

Mùi: Dương Dê

Thân: Hầu Khỉ

Dậu: Kê Gà

Tuất: Khuyển Chó

Hợi: Trư Lợn

*Riêng chi Mão thì ở Việt Nam là mèo chứ không phải thỏ

Chi Ngọ đứng ở vị trí giữa, trong lịch pháp ứng với thời điểm giữa trưa. Ngọ môn mang hàm nghĩa là Sung mãn, trọn vẹn. Tại sao lại là 12 con vật này với 12 cung giờ trong ngày, có thuyết gắn với thời điểm loài vật hoạt động mạnh nhất. Có nhận xét cũng thú vị dựa vào số móng của các con vật, cứ một chắn đi kèm với một lẻ.

Khi đó Can gọi là Hoa, Chi gọi là Giáp, nên Can Chi còn gọi là Hoa Giáp. Từ điểm bắt đầu là Giáp Tí (I.1) cho đến hết vòng là Quý Hợi (X.12), chỉ có số chẵn đi với chẵn, lẻ đi với lẻ, nên không thể có Giáp Sửu hay Quý Tuất.

Trong thiên văn, khu vực của 12 cung còn ứng với 12 nước thời Xuân thu chiến quốc:

Tí : Tề - Sửu: Ngô Việt - Dần: Yên – Mão: Tống – Thìn: Trịnh – Tỵ: Sở - Ngọ: Chu – Mùi: Tần – Thân: Vệ - Dậu: Triệu – Tuất: Tấn – Hợi

12 Chi có ý nghĩa rất quan trọng trong tính Lịch pháp (thực chất là Âm-dương lịch) và thời tiết. Trong 1 năm chia ra 12 tháng, có 24 ngày tiết khí, cứ 1 tháng 2 ngày.

Cùng với Ngũ hành, Can chi hay Hoa Giáp đã tạo thành một tư tưởng khép kín về chu kỳ vận động của Vũ trụ, với chu kỳ 60. Các thước đo thời gian đều được gắn với Can chi. Một ngày chia làm 12 giờ, một năm 12 tháng; 12 năm là một chu kỳ ngắn, 60 năm là một vòng “Lục thập Hoa giáp”, 3600 năm là một chu kỳ lớn của Vũ trụ. Khi viết năm, họ chỉ dùng can chi, nên phải thêm triều đại cai trị tương ứng mới đủ. Không chỉ thế, phương vị trên bầu trời cũng được chia ra 12 cung, khi xác định vị trí ngôi sao thì nói nó nằm trong cung nào.

Sau khi hoàn chỉnh hệ Can Chi với chu kỳ 60 năm, người Trung Hoa gán cách tính lịch pháp này cho Hoàng Đế - vị vua thái cổ huyền thoại, người đặt ra các quy tắc cho con người, và lấy năm 2636 TCN làm năm đầu của chu kỳ này, gọi là Đại Nguyên niên, cho đến nay đã được 78 chu kỳ, hơn một Chu kỳ lớn (60 chu kỳ nhỏ).

Share this post


Link to post
Share on other sites

do bài post bị lỗi, Amour xin post lại các bài tham khảo sau (xin bộ phận kỹ thuật của diễn đàn chỉnh lại giúp cho):

NGŨ HÀNH VÀ CAN CHI

Thiên văn thời cổ thường gắn liền với thần thánh. Tuy nhiên người Trung Hoa đã khái quát cao hơn, khi gắn thiên văn với những tư tưởng mang tính triết học, mà Ngũ hành là một minh chứng.

Tư tưởng cấu tạo vật chất của thế giới từ 5 yếu tố không phải là chỉ của riêng người Trung Hoa. Thần thoại Hy Lạp kể rằng thế giới được sinh ra từ Vực thẳm Khaox (Chaos - Hỗn mang) thể hiện thành 5 nguyên lý: Đất Gaia, Tối tăm Vĩnh cửu Erèbe, Đêm tối Nix, Địa ngục Tartar, và Tình yêu Erox. Triêt gia Aristole cho rằng 5 nguyên tố cơ bản của thế giới là Nước, Lửa, Đất, Không khí, Ánh sáng,... Nhưng có lẽ không bộ 5 yếu tố nào lại có tính triết lý cao như Ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ của Trung Hoa. Bộ 5 này được hình thành có lẽ từ 5 ngón tay của con người, cũng tựa như cơ số 10 trong hệ đếm.

Thuyết này xuất hiện từ đời nhà Tần (200 TCN), được củng cố phát triển trong thời Tây Hán. Lúc đầu 5 yếu tố là cấu tạo cụ thể, với các tính chất cụ thể:

Kim: kim loại, cứng rắn, lạnh, cương mãnh, bền chắc

Mộc: gỗ, cây, sống, tăng trưởng, dẻo dai, chịu đựng

Thủy: nước, mềm mại, nhu thuận, sâu hiểm

Hỏa: lửa, nóng, sáng, linh hoạt, sáng tạo

Thổ: đất, đầy đặn, chịu đựng, nguồn của sinh sôi

Nhưng rồi chúng được Triết lý hóa, trở thành Ngũ hành – 5 nguyên lý cơ bản của vật chất, gắn kết với mọi trạng thái triết lý từ Vật chất đến tinh thần

Hành Kim: màu Trắng phương Tây mùa thu Mũi Phế (phổi)

Hành Mộc: màu Xanh phương Đông mùa xuân Mắt Can (gan)

Hành Thủy: màu Đen phương Bắc mùa đông Tai Thận

Hành Hỏa: màu Đỏ phương Nam mùa hạ Lưỡi Tâm (tim)

Hành Thổ: màu Vàng phương Trung ương (không) Miệng Tỳ

Việc gắn phương hướng với các mùa và với Ngũ hành liên quan nhiều đến Thiên Văn. Người Trung hoa nhận thấy vào mùa Xuân thì đuôi của chòm sao Bắc Đẩu chỉ về phía Đông, mùa Thu chỉ về phía Tây, nên tương ứng mùa và phương. Như vậy chòm Bắc Đẩu thất tinh không phải chỉ là xác định phía Bắc, mà còn là sao chỉ phương và mùa trong văn hóa Trung Hoa.

Hai quy luật tương tác biến dịch quan trọng là tương sinh và tương khắc trở thành nền tư duy cho nhiều học thuyết (tuy nhiên sẽ không xét kỹ ở đây, mà chỉ đi vào khía cạnh Thiên văn)

Tương Sinh: Mộc sinh Hỏa - Hỏa sinh Thổ - Thổ sinh Kim - Kim sinh Thủy - Thủy sinh Mộc.

Tương Khắc: Mộc khắc Thổ - Thổ khắc Thủy - Thủy khắc Hỏa - Hỏa khắc Kim - Kim khắc Mộc

Về sau tư tưởng Ngũ hành được gán cho rất nhiều ý nghĩa, đi rất xa với tư tưởng gốc ban đầu. Cứ bộ 5 nào cũng thành Ngũ hành hết, chẳng hạn lý thuyết: Cái sinh Ta, cái Khắc Ta, Ta, cái Ta sinh, cái Ta khắc,…

Dựa trên tư tưởng Ngũ hành, năm sắc độ sáng của các ngôi sao được phân chia (từ nguội đến nóng) là Đen – Đỏ - Vàng – Trắng – Xanh.

Trên thực tế, các ngôi sao có màu sắc gần đúng như cách phân chia này:

Nhiệt độ bề mặt dưới 2000 độ C, sao màu đỏ tối, chỉ phát bức xạ, gần như không nhìn thấy

Nhiệt độ bề mặt 2000-5000 độ C, sao màu đỏ

Nhiệt độ bề mặt 6000-9000 độ C, sao màu vàng

Nhiệt độ bề mặt 10,000-15,000 độ C, sao màu trắng

Nhiệt độ cao hơn nữa, hơn 20,000 độ C, màu xanh

Mặt trời của chúng ta là ngôi sao trung bình màu vàng, nhiệt độ bề mặt khoảng 6500 độ, ứng với màu của hành Thổ

Trong Thiên Quan thư, Tư Mã Thiên viết:

“Muốn xem sắc trắng của tinh tú, hãy nhìn sao Thiên Lang; muốn xem sắc đỏ, hãy nhìn sao Tâm, muốn xem sắc vàng, hãy nhìn sao Sâm Tả, xem sắc xanh hãy nhìn sao Sâm Hữu, sắc đen thì nhìn sao Khuê“

Cách phân chia đó khá đúng về màu sắc:

Sao Thiên Lang (sao Sirius - chòm Canis Major), là ngôi sao đôi sáng chói nhất bầu trời

Sao Tâm hay sao Thương (sao Antares – chòm Scorpius) có quang phổ M0, màu đỏ rất rõ

Sao bên phải sao sao Sâm (sao Rigel - b chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 7 bầu trời, quang phổ B2 màu xanh.

Sao Khuê (sao d - chòm Andromeda) quang phổ M0 đỏ tối, trong con mắt Tư Mã Thiên là đen.

Sao Antares chòm Scorpius (sao Tâm Tú trong chòm Tâm, khu vực Thần Nông), ngôi sao có ánh sáng đỏ rực không kém gì Sao Hỏa.

Sao Sirius trong Canis Major (sao Thiên Lang), ngôi sao có ánh trắng xanh, sáng nhất bầu trời. Tư Mã Thiên lấy ánh sáng này đại diện cho sắc trắng.

Chòm Orion (tương ứng với Chủy và Sâm). Sao Betelgeuse phía trên bên trái, sau 2000 năm đã chuyển từ sắc vàng sang đỏ. Sao Rigel phía dưới bên phải tượng trưng cho sắc xanh.

Chỉ có Sao bên trái sao Sâm (sao Betelgeuse – a chòm Orion), ngôi sao sáng thứ 10 trên bầu trời, và là một trong thiên thể lớn nhất bầu trời quan sát thấy, mà dưới thời Tư Mã Thiên là màu vàng, thì ngày nay là ngôi sao rất lớn màu đỏ. Nghĩa là sau 2000 năm, ngôi sao đó đã nguội đi. Đó là hiện tượng nguội sao duy nhất mà loài người quan sát được trong lịch sử.

Và người Trung Hoa dùng Ngũ hành để đặt tên cho các hành tinh mà họ quan sát được, theo thứ tự từ mặt trời ra ngoài là Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh. Chính các hành tinh này và chu kì chuyển động của chúng là cơ sở tạo nên hệ đếm Can Chi.

Thiên Can Địa Chi

Can Chi chủ yếu dùng trong Lịch pháp, nhưng cũng có cơ sở từ quan sát Thiên Văn. Có lẽ do nằm ở vĩ độ cao, ngày Hạ chí mặt trời không thẳng đứng trên đỉnh đầu, cùng với việc canh tác nông nghiệp ít liên quan đến mặt trời hơn, nên Lịch pháp Trung hoa dựa vào Mặt trăng là chính. Việc dùng Can Chi tính ngày tháng đã xuất hiện vào cuối đời Thương (TK 12 TCN), việc gán tên con vật vào thì phải đến đầu công nguyên mới thực hiện.

Khi quan sát quĩ đạo các hành tinh, họ lấy Bắc thiên cực làm gốc, rồi dựa theo 8 cung Bát quái (1) để xác định tọa độ. Sau rất nhiều năm quan sát và ghi chép lại, họ đưa ra các nhận xét của mình. Một số nhận xét về chu kỳ (trở về vị trí cũ trên bầu trời) của các Hành tinh như sau:

Sao Thủy: khoảng ¼ năm

Sao Kim khoảng 0,6 năm

Sao Hỏa khoảng 2 năm

Sao Mộc khoảng 12 năm

Sao Thổ khoảng 30 năm.

Các nhà làm lịch đã dùng 3 hành tinh là Hỏa, Mộc, Thổ làm chuẩn, bội số chung nhỏ nhất là 60, hay phải sau khoảng 60 năm, các hành tinh trên mới có được vị trí (tương đối với nhau) gần giống như cũ. Sao Hỏa sau 1 năm lại chuyển sang vị trí đối diện, rồi 1 năm sau lại về vị trí cũ, trở thành sao làm chuẩn cho chu kì 1 năm Âm 1 năm Dương. Sao Mộc có chu kỳ 12 năm được lấy làm chuẩn để tính năm, nên gọi là Tuế Tinh. Sao Thổ lâu nhất, gọi là Thiên Can.

Sau khi kết hợp cả thuyết Ngũ hành và Âm Dương, thì con số 5 được chia 2, thành 10 Can, ứng với Ngũ hành, mỗi hành 1 Âm 1 Dương, còn 12 năm của Tuế Tinh thành Chi. Can Chi ra đời còn muộn hơn Ngũ hành, và càng muộn hơn thuyết Âm Dương, mãi khoảng đầu công nguyên mới có.

Can (cán – thân cây) gồm: Giáp – Ất – Bính – Đinh – Mậu – Kỷ - Canh – Tân – Nhâm – Quý

Chi (cành cây), gồm: Tí – Sửu – Dần – Mão – Thìn – Tỵ – Ngọ - Mùi – Thân – Dậu – Tuất – Hợi

Trong đó: Giáp + Ất là là hành Mộc, Bính + Đinh là Hỏa, Mậu + Kỷ là Thổ, Canh + Tân là Kim, Nhâm + Quý là Thủy, cứ 1 âm 1 dương đổi nhau.

Bản thân các từ của Can và Chi đều là quá trình sinh trưởng và phát triển của Cây cối:

12 Chi (Con Giáp)

theo vòng từ Tý đến Hợi

(I). Giáp : nẩy mầm

(II). Ất : nhú lên mặt đất

(III). Bính : đón ánh mặt trời

(IV).Đinh : trưởng thành khỏe mạnh

(V). Mậu : rậm rạp

(VI). Kỉ : dấu hiệu hoa trái

(VII). Canh : thay đổi

(VIII). Tân : hoa quả mới

(IX). Nhâm : thai nghén cho mùa sau

(X). Quý : mầm đang chuyển hóa

(1). Tý : mầm hút nước

(2). Sửu : nẩy mầm trong đất

(3). Dần : đội đất lên

(4). Mão : rậm tốt

(5). Thìn : tăng trưởng

(6). Tỵ : phát triển

(7). Ngọ : sung mãn hoàn toàn

(8). Mùi : có quả chín

(9). Thân : thân thể bắt đầu suy

(10). Dậu : co lại

(11).Tuất : khô úa héo tàn

(12). Hợi : chết đi.

Như vậy nguyên thủy các chi không phải là các con vật như mọi người vẫn nghĩ.

Đến khoảng đầu Công nguyên, người Trung Hoa gán các chi với các con vật. Nguồn gốc của việc gán con vật không hoàn toàn rõ ràng. Có thuyết cho rằng nó gắn với truyền thuyết Phật giáo, thứ tự của 12 con vật là những loài đã đến từ biệt khi Phật Thích ca nhập Niết Bàn, và mới gọi là các con giáp, lần lượt là:

Tí: Thử: Chuột

Sửu: Ngưu: Trâu

Dần: Hổ: Cọp

Mão: Thố: Thỏ*

Thìn: Long: Rồng

Tỵ: Xà: Rắn

Ngọ: Mã: Ngựa

Mùi: Dương Dê

Thân: Hầu Khỉ

Dậu: Kê Gà

Tuất: Khuyển Chó

Hợi: Trư Lợn

*Riêng chi Mão thì ở Việt Nam là mèo chứ không phải thỏ

Chi Ngọ đứng ở vị trí giữa, trong lịch pháp ứng với thời điểm giữa trưa. Ngọ môn mang hàm nghĩa là Sung mãn, trọn vẹn. Tại sao lại là 12 con vật này với 12 cung giờ trong ngày, có thuyết gắn với thời điểm loài vật hoạt động mạnh nhất. Có nhận xét cũng thú vị dựa vào số móng của các con vật, cứ một chắn đi kèm với một lẻ.

Khi đó Can gọi là Hoa, Chi gọi là Giáp, nên Can Chi còn gọi là Hoa Giáp. Từ điểm bắt đầu là Giáp Tí (I.1) cho đến hết vòng là Quý Hợi (X.12), chỉ có số chẵn đi với chẵn, lẻ đi với lẻ, nên không thể có Giáp Sửu hay Quý Tuất.

Trong thiên văn, khu vực của 12 cung còn ứng với 12 nước thời Xuân thu chiến quốc:

Tí : Tề - Sửu: Ngô Việt - Dần: Yên – Mão: Tống – Thìn: Trịnh – Tỵ: Sở - Ngọ: Chu – Mùi: Tần – Thân: Vệ - Dậu: Triệu – Tuất: Tấn – Hợi

12 Chi có ý nghĩa rất quan trọng trong tính Lịch pháp (thực chất là Âm-dương lịch) và thời tiết. Trong 1 năm chia ra 12 tháng, có 24 ngày tiết khí, cứ 1 tháng 2 ngày.

Cùng với Ngũ hành, Can chi hay Hoa Giáp đã tạo thành một tư tưởng khép kín về chu kỳ vận động của Vũ trụ, với chu kỳ 60. Các thước đo thời gian đều được gắn với Can chi. Một ngày chia làm 12 giờ, một năm 12 tháng; 12 năm là một chu kỳ ngắn, 60 năm là một vòng “Lục thập Hoa giáp”, 3600 năm là một chu kỳ lớn của Vũ trụ. Khi viết năm, họ chỉ dùng can chi, nên phải thêm triều đại cai trị tương ứng mới đủ. Không chỉ thế, phương vị trên bầu trời cũng được chia ra 12 cung, khi xác định vị trí ngôi sao thì nói nó nằm trong cung nào.

Sau khi hoàn chỉnh hệ Can Chi với chu kỳ 60 năm, người Trung Hoa gán cách tính lịch pháp này cho Hoàng Đế - vị vua thái cổ huyền thoại, người đặt ra các quy tắc cho con người, và lấy năm 2636 TCN làm năm đầu của chu kỳ này, gọi là Đại Nguyên niên, cho đến nay đã được 78 chu kỳ, hơn một Chu kỳ lớn (60 chu kỳ nhỏ).

Thập: Mười, hoàn toàn. Thập nhị: 12. Thiên can: Can của Trời. Địa Chi: Chi của Đất.

■ Thập Thiên Can là 10 Can Trời, gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí.

■ Thập nhị Địa Chi là 12 Chi Đất, gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi được đặt ra là để tính thời gian và để làm lịch.

Thời gian thì có: Hội, Chuyển, Nguơn, Kỷ, Năm, tháng, ngày, giờ. Làm lịch thì người xưa căn cứ chu kỳ quay của Mặt trăng, nên gọi là Âm lịch, xác định các mùa và tiết trong năm.

Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi được đặt ra vào thời vua Hiên Viên Huỳnh Đế. Vua Huỳnh Đế sai ông Đại Nhiễu chế ra Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi để tính thời gian mà làm lịch cho dân dùng.

■ Tại sao dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can?

Bởi vì trước thời vua Huỳnh Đế là vua Phục Hy tìm ra được Hà đồ, do quan sát các chấm đen trắng trên lưng con Long Mã xuất hiện ở sông Hoàng Hà mà lập thành. Nhờ đó, vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái.

Trên Hà đồ có tất cả 10 con số chia ra đứng theo Ngũ Hành. Do đó, người xưa dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can.

■ Tại sao dùng con số 12 để chế ra Thập nhị Địa Chi?

Bởi vì khoa Thiên văn thời xưa nhận thấy Mặt trời quay xung quanh Trái đất giáp một chu kỳ gọi là 1 năm, Mặt trăng quay chung quanh Trái đất giáp một chu kỳ là một tháng. Một năm có 12 tháng, tức là một năm có 12 chu kỳ quay của Mặt trăng. Do đó, người xưa dùng số 12 chế ra Thập nhị Địa Chi để gọi tên của 12 tháng.

Khi đã có Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi rồi thì người xưa cho phối hợp lại để tính năm, tháng, ngày, giờ.

Sự phối hợp khởi đầu là: GIÁP TÝ, tức là lấy 2 chữ đầu của Can và Chi ghép lại.

Ghép tiếp theo là: Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão,..........

Ghép như thế thì sau 60 lần sẽ trở lại chữ: GIÁP TÝ.

Vậy chu kỳ phối hợp Thập Thiên Can và Thập nhị Địa Chi là 60.

Theo lịch của nhà Hạ (vua Hạ Võ) qui định đặt tên cho tháng Giêng là tháng Dần, gọi là Kiến Dần, bởi vì làm lịch là để cho dân dùng biết mùa màng thời tiết gieo trồng, mà Nhơn sanh ư Dần nên lấy chữ Dần làm tháng giêng đầu năm.

Kế tiếp, tháng 2 là tháng Mão, tháng ba là Thìn,......, tháng 11 là Tý, tháng 12 là Sửu. Tháng giêng năm sau là Dần.

Mỗi một Địa Chi được tượng trưng bằng một con vật rất gần gũi với con người, kể ra:

Tháng giêng gọi là tháng Dần, tượng trưng: con Cọp.

Tháng hai gọi là tháng Trâu, tượng trưng: con Mèo.

Tháng ba gọi là tháng Thìn, tượng trưng: con Rồng.

Tháng tư gọi là tháng Tỵ, tượng trưng: con Rắn.

Tháng năm gọi là tháng Ngọ, tượng trưng: con Ngựa.

Tháng sáu gọi là tháng Mùi, tượng trưng: con Dê.

Tháng bảy gọi là tháng Thân, tượng trưng: con Khỉ.

Tháng tám gọi là tháng Dậu, tượng trưng: con Gà.

Tháng chín gọi là tháng Tuất, tượng trưng: con Chó.

Tháng mười gọi là tháng Hợi, tượng trưng: con Heo.

Tháng 11 gọi là tháng Tý, tượng trưng: con Chuột.

Tháng 12 gọi là tháng Sửu, tượng trưng: con Trâu.

1 person likes this

Share this post


Link to post
Share on other sites